QUÊ NHÀ: Tựa

TỰA

orchid

Ỷ Lan đã đến với chúng ta bằng tấm lòng ưu ái trọn vẹn. Như một làn nắng trong lành nơi tâm tình, vào một buổi mai nguyên sơ nhất. Dường như qua con người ấy chúng ta bỗng tìm gặp quê hương mình, tìm lại chính mình trên lằn ranh chia rẽ, vì chính kiến và tranh chấp.

Ỷ Lan nói ra những điều ta đã biết. viết các lời ta đã thuộc nằm lòng. Thế mà sao ta vẫn nghe ở chị một tiếng nói rất mới, đọc ở chị nhiều lời viết khiến ta kinh ngạc ? Sức mầu nhiệm của văn chương ? Hay sự sống Việt lần đầu tiên được sống, khiến bật dậy nơi đáy lòng một nguồn xưa tiếng cũ ? Soi sáng lại trong ta bức chân dung từ lâu bị mờ ảo – một bản lai diện mục ?

ylan_photoNgười thanh nữ nước Anh này chưa bao giờ được đặt chân lên xứ Việt. Nhưng lại thường “chiêm bao thấy mình về Việt Nam. . . trên chiếc “mơ bay” riêng bằng tốc độ “la-ze” 1. Vẫn luôn luôn “chợt nhớ nhà, dù là một quê nhà mình chưa được biết” 2. Nên chị nắm được một bí quyết : “Mỗi người Việt là một kho tàng kỷ niệm, chỉ cần vặn nhẹ chìa khóa là mình có thể ‘đi du lịch’ ngay trong trí nhớ người ta” 3. Có lẽ vì chị không đến với chúng ta theo thể cách đầu đội trời chân đạp đất. Như những ông tây bà đầm một hai thế kỷ trước. Chị đến bằng tấm lòng, theo bước tâm hồn đi vào thần trí ngôn ngữ : “Quê hương không là lãnh thổ, quê hương là tiếng nói, là ngôn ngữ” 4. “Quê hương là tiếng Việt. Nước non là ngôn ngữ muôn đời của giòng giống Rồng Tiên. Có lẽ người Việt lưu vong cũng thế. Quê quán xa nghìn dặm, mọi người vẫn yên ả sống trên mảnh đất vô hình của ngôn ngữ. Gìn giữ tình ‘đồng hương’ qua tiếng nói đã muôn kiếp cất trong lòng” 5.

Thật kinh khiếp. Ở vào thế đứng thứ 10 trong các ngôn ngữ được đông người sử dụng trên thế giới mà một người ngoại quốc như Ỷ Lan dám bình thản hạ bút như trống lệnh : “Tiếng Việt chữa lành mọi thứ bệnh” “Muốn thành công trên cõi đời này… thì phải biết nói tiếng Việt” 5. Tiên tri chăng ? Nhưng quyết không là lời nói chơi khi thù tạc hay tâng bốc. Nó ngầm chứa một chân lý. Tiền nhân ta đã thát ngôn vào đôi môi Ỷ Lan hòng thức tỉnh ta chăng ?

Đá gạch vô tri, nhưng vẫn chuyển động trong cái vận hành bất tận brownien. Thú vật vẫn sản sinh và lưu chuyển trên mặt đất. Duy con người là có tiếng nói. Tiếng nói chính là sự hóa sinh. Đưa người từ nơi câm lặng – nỗi chết trầm kha – vào cõi sống và hoạt động. Các chế độ độc tài, phát xít là những chế độ bịt họng tiếng nói. hạn chế ngôn ngữ, và độc quyền lời giải thích. Vì Tiếng Nói là ngôn ngữ của tự do, của tư tưởng, của hành động, của những dự phóng đội đá vá trời. Dù có lửa, mà thiếu tiếng nói, văn minh sẽ không thành.

Nỗi đau thương của người Việt hôm nay, nơi linh lạc quê người, hay nơi cảm thức mất quê hương ngay chính trên quê hương của người dân trong nước, là bởi chúng ta đã ngưng nói Tiếng Việt. Ở ngoài thì ta nói tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Thụy Điển, tiếng Ý, tiếng Mỹ… để sinh sống. Trong nước, thì ta nói tiếng Nga, theo tư duy xô viết. Sự bộc lộ Việt ngữ chỉ là cái vỏ, cái máy dịch. Nên cơn bệnh Việt Nam không lành. “Muốn thành công trên cõi đời này, như tiền nhân, thì phải biết nói tiếng Việt” 5. Trong nghĩa sống đời bằng tư tưởng và hành động theo nhân văn Việt – ngôn ngữ Việt.

Chúng ta bơ vơ trên sống núi, vì loạn tưởng. Khiến cho chuyện trong nhà không rõ, để người ngoài ngõ, là Ỷ Lan đã hay, khi chị viết : “Giữ trái tim Việt theo nhịp đập của tiếng trống đồng từ một thuở vua Hùng xưa” 4. Thời đại ta sống, trống đồng chỉ là hiện vật khảo cổ. Không còn ai dùng để đánh lên gọi kêu hồn nước, gọi kêu tập họp, gọi kêu điều hợp. Nói chi tới sự phát hiện Cái Trống linh thiêng ấy đang chôn kín giữa moi trái tim ! Kỳ diệu thay một lời nhắc nhở đơn sơ mà căn bản.

Trong khi chúng ta thậm thụt trên bùn lún của sự so tài cao thấp bằng tuyên ngôn, cương lĩnh, ý hệ, thì ỶLan đi thằng vào chiếc nôi ngôn ngữ của nền văn hiến Việt. Sự mới mẻ của Ỷ Lan là ở đó. Sự mới mẻ ấy thổi vào nền văn học đang dựng của chúng ta một luồng sinh khí. Dù chưa định hình, cũng đã bạt một hướng khai lối.

Bây giờ mà vẫn còn có người, có nơi, chào xáo theo lối ấu trĩ của thế hệ trí thức năm mươi năm trước đây, để cắt đôi văn học thành hai dòng nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh. Lối nhận thức mác xít lỗi thời. dựng trên chủ trương “đấu tranh giai cấp” ấy thật buồn thảm và kẹt lối ! Nó chứng tỏ sự uy hiếp của bọn nằm vùng hay cơ hội đang hóa trang thành khuynh hướng văn học những âm mưu chính trị gian giảo của chúng. Để làm gì ? Để bóp cổ con người : bóp cổ Tiếng Nói ở nơi chúng không có chính quyền và quyền lực. Đẩy người vào cõi lặng câm của ăn, ngủ và lao động (métro, boulot, dodo) như con trùn xoi đất. Bây giờ người ta đang rộn ràng phân chia trường phái, nào là văn học lưu vong, văn học di tản. văn học chính thống quốc doanh. Chẳng thấy đâu là Tiếng Nói, Lời Viết của con người Việt đang sống, muốn sống, hay chiến đấu cho sự sống không bị chôn sống.

Viết để ca tụng thế giới. Viết để thay đổi thế giới. Hay viết để buồn hiu thế giới. Đó chỉ là sự chọn lựa theo tâm cảm. Chưa là chân lý nhân sinh. Chọn lựa không là mẫu mực. Mọi chọn lựa đều quý. Nhưng chưa báu. Quý báu nhất cho đời, vẫn là mối tương quan, tương liên giữa con người, trong hạnh phúc hay bất hạnh, thể hiện qua dòng viết và hành động.

Chúng ta quý báu Ỷ Lan ở mối tương quan vừa nhân đạo. vừa quốc tế này. Hẳn nhiên nhiều nhà văn trong chúng ta hơn Ỷ Lan về sự phong phú từ ngữ, hay tài tình trong câu kéo. Nhưng hình như chúng ta hiếm thấy trong văn chương chúng ta bốn mươi năm lại đây, sự tinh nghịch dí dỏm, và sức cảm động rưng người như trong một số lớn các bài viết của Ỷ Lan ? Đâu đó trong một truyện, một đoạn ký, một lời kể, một hình ảnh hay nhóm từ của Ỷ Lan, chúng ta chạm trán với giây phút chấn động. Xương sống thoắt lạnh buốt, như có ai vừa bắt gặp niềm bí mật ta muốn giấu che. Chúng ta rưng người, chảy nước mắt. Một cái thắt tim kỳ bí. Mỗi lượt như thế, ta như con cá bị sa lưới, vào chơm. Mẻ lưới quê hương đã tóm gọn ta, sau một thời trốn lánh đi hoang, hay phản bội.

Đó là điểm thành công trong văn tài Ỷ Lan. Chị vượt khỏi hai thời kỳ lúng túng của kẻ làm văn : lời đẹp nhưng ý cạn, hoặc ý giàu mà lời thô. Văn chương Ỷ Lan giản di, lấy chân thành làm xương sống, chất dí dỏm làm hơi thở và mối tương quan nhân đạo làm cầu thông cảm. Mọi truyện là sự sống hằng ngày, không cao kỳ, bí ẩn. Nhưng từ đó niềm nhân ái hóa sinh.

“Cái đồng hồ”, bài viết ngắn lúc Ỷ Lan vừa nhập môn ngôn ngữ Việt, đã báo hiệu một tài văn lộng ngát, theo lối lời ít tình nhiều, văn ngắn, ý dài. Hình ảnh người du học sinh nay đã thành tài “dịch giờ trên mặt đồng hồ” 6 mỗi khi có ai hỏi giờ, đã vẽ ra một con người Việt quyết không lìa cuống rún quê hương. Sau này mỗi bài viết là một tiến bộ nhanh và vững. Khiến nhiều bạn đọc không tin là Ỷ Lan có thật. Nhiều người ngỡ Ỷ Lan là sự tạo dựng của tòa soạn Quê Mẹ. Tính người Việt sợ mạo hiểm, ít tin vào người khác : Việc gì mới hay lạ, đều ngờ ngay là vô lý. Lối cảnh giác ấy lạ thay không cứu rỗi được ta vì ta vẫn cứ bị lừa hoài trong lịch sử. Nhưng khi Ỷ Lan bằng xương bằng thịt đứng phát ngôn trước cộng đồng, từ Âu châu, Úc châu tới Mỹ châu, hay sinh hoạt, đối đáp với người Việt, thì chúng ta bỗng nhận ra một châu báu của quê hương. Chúng ta bỗng được an ủi và tin tưởng, rằng Việt Nam là một cái gì không tệ lậu như cái bóng nạn sẩy thai do bọn người mác xít giao cấu với chủ nghĩa hư vô đẻ ra.

Một nhà khảo cứu Việt thiên Cộng ở Paris. đọc xong “Bầy chuột trên đại lộ Champs-Élysées” đã phải thán lên : “Từ việc chuột mà nói lên được cả một đạo lý thì ghê thật!” Và sự khen tặng của bao người khác khi đọc “Giàn bầu Paris”, “Món quà Hà Nội”, “Chiếc ghế ru đời”, “Đường về Cần Thơ”, “Câu chuyện chè chuối”, v.v… đã xác đinh văn tài vững chãi của Ỷ Lan . Sự dí dỏm tươi vui và mới lạ khảy tới thớ nhiệt tình nín kín trong lòng người Việt. Nhiều nhận xét bất ngờ trong sinh hoạt ơ thờ, chán mỏi, đã gọi dậy thành nhận thức cần lưu tâm. Những “sống trong xứ ăn cơm mà phải chịu đói”7 ; “nơi nhiều người Việt quá lại không tìm ra người Việt” 8 ; “học tiếng Việt là ghi tên vào âm nhạc viện. Nói tiếng Việtlà hát trường ca” 8. Đến nỗi bây giờ, khi có dịp cầm món trang sức, hay món quà kỷ niệm nào, ảnh hưởng Ỷ Lan, ta tưởng như “cầm trong tay một khúc lịch sử Việt Nam” 9. Ngay cả các món thực phẩm hằng ngày qua cái nhìn Ỷ Lan đều có liên hệ xa gần với thời sự còn nóng bỏng chất quê hương : “cá từ Thái Lan bay sang bằng đường chính thức máy bay, theo ‘diện’ đoàn tụ con buôn” 10. Cái nhìn của Ỷ Lan đã nhập một với nhịp sống của người Việt theo hướng đi lên, đi tới của một niềm tin đang dần dà thực hiện, chứ không quắt queo không tưởng. Hình ảnh của “dây bầu phóng ra những ngọn râu xanh cuốn quăn đỡ mình vươn lên” 10, của nước liên hệ với cây sửa soạn cuộc tái sinh đang “đổ từng giọt hy vọng vào đất” 2 trước “tiếng ồn làm thành thiên hạ” 11. Khác chi “bàn tay vô hình đang kéo về phía mặt trời” 10. Phía hy vọng. Phía của sự sống.

Có cần thiết viết lời giới thiệu Ỷ Lan chăng ? Dường như hơi thừa. Ai trong cộng đồng chúng ta trong hàng triệu người tại Việt Nam không biết tiếng Ỷ Lan ? Những bài chi viết trên Quê Mẹ mấy năm qua, những hoạt động trong chiến dịch quốc tế “Một chiếc tàu cho Việt Nam” (Đảo Anh Sáng – Ile de Lumière) đi vớt Người Vượt Biên do Quê Mẹ khởi xướng năm 78, chiến dịch chống Hải tặc Thái, rồi chiến dịch cho Quyền làm Người Việt Nam qua Vụ kiện Hà nội trước Liên Hiệp Quốc, chị luôn tiên phong đứng hàng đầu với cộng đồng chúng ta. Còn 10 chương trình do chị thực hiện trên đài BBC phát thanh về Việt Nam năm 85 và mới đây hồi tháng 8.87… đã gây chấn động không ít trong lòng người Việt trong nước. Ai có dịp về Saigon, hay có thân nhân trong nước gửi thư ra, đều bắt được cái dư ba lưu luyến và thương phục về một chị nữ người Anh có cái tên Ỷ Lan ấy. Hàng trăm bức thư nhận được tại tòa soạn Quê Mẹ, hay qua đài BBC càng chứng thực thêm điều này. Có người thương phế binh đi đánh giày trên vỉa hè Saigon đã dành dụm tiền suốt một năm mới gửi được bức thư ca ngợi chị. Anh ý nhị nhắc tới hoàng hậu Ỷ Lan thời Lý đương thân lo việc nước khi vua vắng mặt, khi tổ quốc lâm nguy, để gợi ý cho một động thủ hôm nay. Biết bao là thư từ vùng kinh tế mới Tây nguyên, từ Hà Nội xa lắc, từ Huế kiêu hùng, từ những công trường thủy lợi. . . Có thư nhờ chị lên tiếng khuyên thanh niên bớt uống rượu, vì chỉ có “Ỷ Lan nói họ mới nghe”. Hôm Quê Mẹ tổ chức cho nhà văn Pháp Michel Tauriac nói chuyện ở Paris, một người đến bắt tay ỷ Lan rồi ra về sau câu nói : “Vừa ở Việt Nam sang, tôi không đến để nghe chuyện Việt Nam. Biết quá rồi mà. Tôi đến để xem Ỷ Lan có thật hay không như tôi đã nghe tiếng trên đài BBC mấy tháng trước đây”. Ảnh hưởng kỳ lạ và vô cùng lớn. Giới văn nghệ sĩ, trí thức của ta ở Saigon rất yêu quý và không ngớt bàn bạc về Ỷ Lan. Thi sĩ Bàng Bá Lân, nữ sĩ Mộng Tuyết với bao nhiêu văn thi sĩ khác đã làm thơ tặng, viết lời ca tụng gửi ra. Lần đầu tiên xuất hiện trong buổi nói chuyện tại Lyon năm 77 12, đồng bào đã xúc động tuyên bố: “Mai đây khi cộng sản đổ xuống, chúng tôi sẽ dựng một pho tượng chị tại Việt Nam”. Nhiều đồng bào ở các trại tị nạn Đông Nam Á đã viết thư : “Ngày trở về quê hương, chúng tôi sẽ phát hành một con tem hình chị.” Bụt nhà thường không thiêng. Nhưng với Ỷ Lan thì khác. Xúc động vì sự xả thân hy sinh đời sống riêng của chị mà dân thành York và toàn thể học sinh ở đây nhân theo dõi hoạt động của chị trên đài truyền hình Anh qua chiến dịch “Một chiếc tàu cho Việt Nam”, đã tổ chức một cuộc triển lãm về chị tại Thư viện thành phố, và tôn vinh chị là Elisabeth Fry của thế kỷ XX. Elisabeth Fry là một mệnh phụ Quaker thánh thiện ở thế kỷ XVIII đã hiến trọn đời tranh đấu tại Quốc hội Anh và trên toàn quốc, bênh vực và cứu trợ cho những tù nhân hẩm hiu thời đó.

Tôi có cái hân hạnh được chứng kiến từ đầu sự phát lộ một biệt tài ngôn ngữ, và văn tài Việt ngữ của Ỷ Lan. Đâu đó trong một bài viết của tôi cách đây chục năm đã ghi : “Mùa thu năm ấy, Penelope thi sĩ tới Paris…”

Penelope Faulkner là tên thật của Ỷ Lan. Một đêm vào hai mươi năm trước đây, sau phần thuyết trình về Việt Nam của tôi tại Mount School ở cố đô York bên Anh quốc, có người thiếu nữ duyên dáng, tóc bồng bồng ánh nắng, đến hỏi : “Em có thể làm gì cho Việt Nam?”. Mặt nàng đỏ rần trong niềm e thẹn kín đáo và chân thành. Đó là giây khắc gặp gỡ kỳ diệu. Câu tôi trả lời không mấy quan trọng. Vì điều quan trọng nhất cho tôi cho dân tộc chúng ta, là hành trình của một tâm hồn lớn và đẹp của Tây phương, qua Ỷ Lan, đi vào quê hương Việt. Không bằng cuộn giây thép gai, khẩu A K- Thompson hay ý thức hệ xâm lược. Mà bằng đôi mắt vén trời. Bằng tâm địa Bồ Tát. Và bằng ý chí cứu sinh.

Rồi tôi được dự phần giới thiệu văn hóa Việt và giúp Ỷ Lan học tiếng Việt. Nhưng điều đó cũng không quan trọng. Vì điều quan trọng nhất, là bản thân tôi đã học được bài học thế giới. Không có sự chung sống và trao đổi với Ỷ Lan, có lẽ tôi còn chìm đắm rất lâu trong thứ tự ái và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Tôi sẽ khó hiểu nổi tinh thần dân chủ trong nếp sống hằng ngày, và tinh thần bình đẳng tôn trọng kẻ trước mắt – tha nhân. Tôi sẽ còn bị mê hoặc theo nhận thức phân đôi thế giới tả-hữu, thiện-ác, đấu tranh giai cấp. . . Ở đó, ai cũng chỉ là Việt Cộng, hay CIA. Không thể là con người vô tư, thơ mộng. Vì theo lối tư duy tha hóa ấy, người là công cụ là đinh ốc trong guồng máy. Người là chấn song. Là ngăn cách và ngộ nhận. Người không thể gặp người, nhìn mặt nhau mà thấy cả trời xanh, trăng sao và vũ trụ. Con người của Tình Yêu chưa có mặt trên trái đất !

Đương nhiên sự đón nhận ấy, đã nhờ cái chất Việt trinh tuyền ghì giữ trong tôi làm cho cuộc gặp gỡ thêm dễ dàng và hào hứng.

Sắp bước vào một kỷ nguyên mới. Thời đại của diễu hành. kiến nghị, tố cáo chính trị đang bị đào thải. Nhân loại bắt đầu cuộc cách mạng nhân văn mới, để thi hành cái động tác tối hậu : giải phóng con người bằng vũ khí ý thức của lời viết, đối thoại và tranh đấu cho Nhân Quyền. Nó là sự kế tục và hoàn tất của cuộc giải phóng dân tộc còn dở dang.

Ỷ Lan là bằng chứng của cuộc chiến đấu mới này : ngòi bút và sự dấn thân chân thực làm kinh động lòng người.

Đọc Ỷ Lan, tôi bỗng có niềm tin, là văn học Việt Nam đang rồng mình sống dậy, chứ không đắm chìm, mắc cạn, theo lối mặc cảm ve sầu của những kẻ tự nhận đang làm văn học lưu vong, văn học di tản, hay văn học chính thống quốc doanh.

Phải chăng Ỷ Lan Penelope Faulkner là người ngoại quốc đầu tiên viết văn Việt ? Trả lời câu hỏi này, là thấy ra nguồn hy vọng và niềm bí mật nhiệm mầu của Quê Hương mà ta quên bỏ từ lâu.

THI VŨ

Paris, giáp Tết Mậu Thìn. 11.2.88

Chú Thích:

1. Một nắm tiền bay.

2. Một con mèo cho anh Tống Song.

3. Đường về Cần Thơ.

4. Đi tìm giống Lạc Hồng.

5. Tiếng Việt chữa lành mọi thứ bệnh ?

6. Cái đồng hồ.

7. Giàn bầu Paris.

8. Khoảng đời “trâu đánh”

9. Món quà Hà Nội.

10.Chiếc ghế ru đời.

11. Tiếng nói thâu đêm.

12. do ông Phạm Ngọc Huyền mời và tổ chức.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: