THIÊN ĐÀNG TREO: Tình Yêu Giai Cấp

TÌNH YÊU GIAI CẤP

 Hắn đến phỏng vấn nhằm lúc tôi sốt li bì. Từ Bắc vượt Trường Sơn mới đến nửa đường sốt, bị giao liên “chê” bỏ xó, về tới khu rừng này lại bị sốt truy kích. Vừa ngồi dậy được thì cơ quan phải tản khai để tránh chiến dịch Johnson City, tôi phải đi xuống đồng bằng. Bây giờ ở đồng bằng về, vừa chui vô rừng, tưởng đã được yên thân trong vỏ ốc thì lại sốt. Đã vậy lại còn bị phỏng vấn. Bực mình bỏ mẹ.

Hắn biết tôi nhưng tôi không quen hắn. Mặc dù thấy tôi nằm trùm mền kín mít trên võng, bất động, nhà phóng viên vẫn cứ buông ra câu hỏi:

“Anh vui lòng cho biết tình hình ở đồng bằng?”

“Chạy tuột… dênh về đây là phúc ba đời… hì hì… Tôi không có nhớ tình hình gì hết.”

“Anh có thể phân tích vài điểm lạc quan về tình hình đồng bằng cho thính giả đài giải phóng được không?”

Đã bực mình lại còn bực mình thêm, tôi thò đầu ra khỏi mền nói như quát:

“Lạc quan tếu thì có thừa! Nhưng ai có thì có, tôi thì không.” – rồi lại thụt đầu vào màn. Đáng lý ra gã chào tạm biệt cái đối tượng phỏng vấn ba gai như tôi, nhưng không, hắn kiên nhẫn ngồi lại, móc túi lấy ra tờ giấy đẫm mồ hôi, và nói:

“Đây là tiền thù lao của đài, xin anh nhận cho. Đài mình nghèo, chỉ có năm trăm Rịa thôi. Dạ…!”

Rịa là nguồn sống ở đây. Tôi biết mặt thứ tiền in lậu ấy. Người ta phát ra từng tấm to bằng cái bàn, những giấy 500 Rịa chưa xén rời ra. Nghe đâu in ở Tiệp Khắc. (Sao bây giờ không in đô la kiểu đó để khỏixin xỏ chú Sam?)

Tôi ngủ mê một giấc dài có đến mười năm, giấc ngủ của ông Trần Lực, mở mắt ra tưởng thấy Thiên Đàng như ông ta tiên đoán, nhưng đằng này thì không, vẫn rừng hoang, vẫn vũng nước tang thương lộn trời lấp liếm mớ tro vung vãi của cái bếp giữa lều làm bằng hai chiếc cọc nạn ngã xiêu. Và cái anh phóng viên ngồi đó, quay lưng lại tôi. Hắn đang cào tro bếp như tìm kiếm vật gì. Mà không, có vật gì nằm dưới tro ngoài than đen đâu mà tìm. Hắn có vẻ như sửa soạn nhóm lửa để nấu nước. Từ xa đến, phí nhiều mồ hôi nên hắn khát. Tục lệ ở rừng là vậy, hơi mệt tí là nấu trà uống, vừa giải khát vừa chống sốt rét. Tôi cứ để mặc cho hắn làm gì thì làm. Trong cái lều này không có vật gì đáng kính trọng, ngoại trừ bốn cái cọc lều cong queo và cái nóc bằng ni-lông thủng nát, nhưng nếu vứt chúng đi thì cách mạng không còn chỗ trú.

Hắn loay hoay một chốc thì có trà uống vì nước thì đã sẵn trong lon trời cho từ trận mưa đêm qua, còn trà thì của hắn mua chớ không phải trà xác trong hộp ghi-gô của tôi để dành “kho” khi thắt ngặt.

Hắn đưa tận miệng tôi một chén:

“Anh uống ít hớp cho đỡ đắng miệng!”

Ở trong cái rừng con Mên này mỗi người đều trở thành một thằng mọi rợ cho nên một chén trà như thế có giá trị bằng chén cháo hành của Thị Nở nấu cho Chí Phèo – một bản Tình ca! Tôi bỗng nghe vui và thấy tội nghiệp cho cái thân phận phóng viên của hắn, và vụt nghĩ ra rằng có lẽ mình phải bịa ra vài điểm lạc quan để giúp hắn hoàn thành kế hoạch nhà nước… Miên trong chuyến phỏng vấn này.

Tôi thò đầu ra đưa tay cố kềm lấy cái bát sắt trán men cho khỏi run – vì sốt hơn là vì cảm động – và nâng lên miệng. Ồ, cái chén của tôi dùng dọc Trường Sơn, made in Hungari, đã tróc men, lòi sắt sét ở nhiều nơi nhất là ở quanh miệng mép méo của nó, bây giờ đây lại càng hài hòa với đôi môi khô dộp nứt của tôi. Tôi hớp những ngụm trà mới. Không đắng mà cũng không ngọt, nhưng máu đang đông đặc có tí nước nóng vào, người nghe âm ấm dễ chịu. Tôi uống hết chỗ nước trà, đưa trả lại hắn cái chén để hắn khỏi phải uống trà bằng cái nắp gà-men cũng của tôi, thường dùng lãnh cơm, sạch hơn cái máng cho lợn ăn tí.

Nếu hắn lập lại câu phỏng vấn có lẽ tôi sẽ trả lời “lạc quan” hơn, nhưng hắn chỉ uống trà và dường như không thiết gì đến cái công tác đó nữa. Uống cạn chừng năm lần trà, mỗi lần nửa chén, hắn lại mắc võng trong lều và nằm song song với tôi. Cũng may, một trong bốn cái cọc lều là thân cây sống, cho nên nó gồng nỗi hai đầu võng, nhờ vậy mà chiếc lều không sập khi phải chịu đến hai cây thịt treo tòng teng, thành hình chữ A mà nét gạt ngang là cái bếp.

Hắn hỏi tôi vài ba câu khả hữu khả vô rồi ngồi dậy lục cái ba-lô bao tử trâu của hắn như tìm kiếm vật gì. Hắn tặc lưỡi: “Ủa đâu mất rồi cà!” và tự trách móc đến hai ba lần, làm như vật gì đó quý lắm vậy. Rồi hắn kêu lên: “Ý mà đây rồi!”

Tôi không có đủ sức khỏe để theo dõi xem cái hắn vừa tìm được là vật gì, tuy vậy để giữ lễ độ cần thiết với Thị Nở, Chí Phèo phen này không thụt đầu vào chăn nữa mà chỉnằm yên nhắm mắt tiếp khách.

Một chốc hắn hỏi:

“Anh thấy đỡ đỡ chưa, tôi có ký ninh xanh đây. Thứ này cắt cử thì tuyệt lắm! Xuya cái một!”

Tôi biết quá rồi, cái thứ ký ninh xanh trời đánh đó, nó “tuyệt” đến nỗi thanh niên uống một viên điếc con ráy hai ba ngày, còn con gái thì tắt đường kinh hai ba kỳ, nên tôi làm thinh. Một chốc hắn nói:

“Anh à, có người nhắn hỏi thăm anh đấy!”

Tôi đồ chừng rằng người hỏi thăm tôi kia là cô vợ chưa cưới của hắn, tên Hoa. Cô Hoa là y tá, bị bịnh nằm giữa đường, thời may nhờ tôi cho tháp tùng vào đoàn người tụt hậu què quặt của tôi mà tới nơi. Nên tôi lại vẫn nằm yên cho được việc, không hỏi đến người nhắn thăm tôi là ai.

Nhưng hắn lại nói thêm một cách ngập ngừng:

“Anh có quen ai tên Nguyệt không?”

“Không!” – Đã đến nước không thể im được nữa, nên tôi gạt quách.

Nhưng sự thực thì tiếng “Nguyệt” dấy động lòng tôi. Tôi đáp thế, nhưng không phải thế. Tôi có quen, có biết một người tên Nguyệt chớ sao không! Dù giữa giấc ngủ say, hay ngàn năm sau khi trái đất rụi tàn tôi cũng không quên.

“Chị Nguyệt nhắn thăm anh!” Hắn lại nói tiếp.

Tôi nằm im, mi mắt run run nhưng không muốn mở ra, để khỏi phải thấy gì cả.

Nhưng tôi vẫn cảm thấy hắn nhìn xoi mói tận tâm can tôi. Tôi nghe hắn nói:

“Chị Nguyệt về trong này rồi anh ạ.” – Giọng hắn run run.

“Về trong này rồi à?” – Tôi ngóc đầu dậy như sản sốt, rồi nằm xuống như cũ.

“Chỉ về chừng hai tháng. Chỉ nghe anh đi đồng bằng. Chỉ có ý mong anh…”

Từ đồng bằng về, tin tức mới nhất tôi nhận được là Nguyệt đã “vô” tới trong này rồi, nhưng tôi không hỏi gì thêm. Bữa nay lại nghe nữa.

Tôi vẫn nằm im nhưng lòng tôi đã thấy xao động. Cái chữ “Nguyệt” bấy lâu nay như một đầu đạn vùi lấp trong tim tôi, nay bỗng cựa mình nhức nhối. Hắn móc trong ba-lô lôi ra một gói nhỏ đưa cho tôi. Tôi nhìn trân trân nhưng không lấy. Hắn ấn vào tay tôi mới cầm. Rồi run run tôi mở ra. Đó là một cái khăn tay trắng còn mới nhưng có nhiều đốm vàng loang.

Hắn lại hỏi tôi:

“Anh có biết chiếc khăn ấy không?”

Trước mặt tôi là một áng mây non trôi chập chờn, là dòng nước bạc quê xưa, là một cánh nhạn trắng chao liệng trên biển. Tôi bàng hoàng hồi lâu mới định thần lại được. Trên màu vải trắng những dòng chữ hiện lên xanh thẳm, nhiều nét nhòe đi, nhưng tôi vẫn đọc được. Tôi đọc bằng tâm tưởng hơn là bằng mắt thịt. Cho nên tôi vừa mở ra là xếp lại ngay và trả cho hắn.

Trăng Đồng Tháp vẫn còn sáng mãi

Nước Cửu Long còn chảy cuộn trào

Hai năm cách mặt không lâu

Rồi ta sẽ sống bên nhau đời đời

Bến Chắc Băng, 1995

Những dòng chữ là của tôi còn những đốm vàng làm nhòe chữ kia là nước mắt của nàng. Thoáng đây mà đã mười năm. Lại một lần mười năm nữa trôi qua trong đời. Mười năm kháng chiến tiếp theo mười năm khổ sai xã nghĩa trên đất Bắc tươi đẹp nối dài bằng cái đuôi Trường Sơn khủng khiếp và rừng Miên kinh hoàng.

… Hồi đó tôi gặp Nguyệt ở quân y xá Cần Thơ. Cả hai cùng là học sinh bỏ trường đi kháng chiến chống Pháp. Tôi đi trước Nguyệt. Tôi nằm viện vì bị thương ở chân trong khi hăng say săn đuổi đề tài trong máu lửa để sáng tác. Chúng tôi yêu nhau với mối tình đầu. Giữa lúc đó thì có tin đình chiến rồi tập kết.

Bến Chắc Băng trở thành Sâm Thương lưỡng lộ chẳng phải riêng với chúng tôi mà cho hằng ngàn cặp uyên ương. Tôi phải đi, còn Nguyệt chưa đủ thâm niên kháng chiến là hai năm nên không vói tới cái vinh quang “ra Bắc gặp Bác Hồ”. Vững lòng tin rằng chỉ trong hai năm chúng tôi sẽ gặp nhau như tôi biểu hiện ở bốn câu thơ trên kia, nên chúng tôi gạt nước mắt chia tay ở Bến Chắc Băng một buổi chiều hay một đêm trăng chi đó, tôi không còn nhớ, nhưng hãy cho là bi kịch xảy ra vào đêm trăng cho thêm phần trữ tình và hợp với cái tên tiền định của nàng: Nguyệt!

Tôi ra đến bến Sầm Sơn nhưng trái tim còn ở lại bến nước Chắc Băng chao lộn trong sóng dợn sau lái tàu há mồm của quân đội Pháp. Thôi thì hai năm! Chỉ hai năm thôi!

Sầm Sơn vui lắm! Trống ếch rập rềnh. Chiến thắng khoác đồng phục cùng màu, ở đâu cũng nâu như ở đâu. Chỉ có nỗi niềm của từng kẻ chiến thắng thì mới khác nhau.

Những nụ cười đều giống nhau, chỉ những gì ở sau nụ cười thì mới khác.

Hàng trăm ngàn sự lạ nối tiếp diễn qua trước mắt tôi. Một thớt voi, công thân tải đạn của xứ Quảng được móc lên từ tàu lớn Liên Xô Arkhangels để bỏ xuống thuyền nhỏ đưa vào bờ. Có lẽ biết mình sẽ vĩnh viễn xa xứ, nên chàng bồ tượng rống lên dữ dội, ngoắc vòi quẫy chân, làm sút móc, rơi tòm xuống biển, nước tung tóe rồi khỏa kín. Ai mà vớt cho nỗi!

Một anh chàng dân Nam Bộ tầm vông mùa thu rồi, có lẽ muốn biểu diễn sức khỏe nên đang giữa trời đông giá rét lại nhảy xuống tắm biển. Chập sau phải nằm cán đi bệnh viện, nghe đâu bị sưng phổi và đền nợ nước vài ngày kế tiếp.

Một anh Nam Bộ khác không lạc quan đến mức đó, nên khi vừa lên bờ vội vã lén trở ra tàu chui xuống hầm chờ tàu quay vào Nam rước người chuyến tới để trở lại quê nhà “vĩnh biệt” miền Bắc thân yêu. Chẳng may bị các đồng chí Liên Xô bắt được đem nạp cho cấp trên. Khổ thân cái thằng người tập kết… lộn ngược.

Chỉ vài tháng sau thì xong việc chuyển quân ra Bắc. Biển Đông như cụt đường về. Bây giờ mà ông Tây bà đầm chơi xấu có kéo dài đến mười lần “hai năm” thì dân tập kết cũng ráng chịu lấy. Chỉ tội cái thằng dân Nam Kỳ nhẹ dạ cả tin. Bây giờ mới biết mình cả tin vì nhẹ dạ. Nơi ăn chốn ở xong rồi bắt đầu chỉnh huấn Cải Cách Ruộng Đất. Theo cách mạng, phàm muốn trở thành một người chân chính phải có vô số đức tính, mà tôi thấy, cán bộ lem nhem thì lúc nhúc, còn cán bộ có đạo đức thì đốt đuốc mò mãi mới đụng, nhưng đụng rồi thì than ôi, đó là tên đạo đức giả! Ngoài ra lại còn phải qua đến ba cửa ải như Quan Vân Trường đời Hán quá Ngũ Quan trảm lục tướng vậy. Ba cửa ải đó là: Tù tội của đế quốc. (Nếu bị tù đày thì không khai báo.) Chiến đấu trong máu lửa (Tức là cầm súng đánh giặc) và Chỉnh huấn Cải Cách Ruộng Đất. (Thành khẩn nhận tội và đầu hàng “giai cấp công nhân.”) Người trong cơ quan nhốn nháo bàn tán rằng cái cửa ải này còn gay go hơn cả hai ải tù tội và máu lửa. Có khi phảikêu cả tên cha mẹ ông bà mình ra mà xỉ vả là phản động và chối bỏ nữa. Do đó có nhiều cán bộ cao cấp đã vọt qua hai cửa ải kia rồi mà phải hạ mã trước cửa ải thứ ba này.

Riêng tôi, một học sinh thành, gốc rễ cách mạng không được “cơ bản” lắm, tù tội thì chưa ở, cầm súng cũng không, chỉ chạy theo bộ đội săn đề tài đâu mươi trận, vậy thì đến cửa ải thứ ba này chắc phải rơi đầu dưới lưỡi búa sắt của tướng ác ôn trấn ải là cái chắc rồi.

Chung quanh tôi không thiếu chi những bi kịch và những bi hài kịch. Những người được đi chỉnh huấn cao cấp ở Trung Ương về, kẻ thì lên lon, kẻ lại rớt mão, thằng hóa ông, ông hóa thằng – mếu máo mà không dám khóc. Chỉ vì cái ải này.

Nhưng dù là ông hay thằng, tất cả đều cảm thấy là đời mình bị lùa vào giữa hai gọng kềm của GIAI CẤP.

Một buổi sáng bọn tôi đang đi vác gạo về ăn thì có một tiếng nói quen quen:

“Ê, con Nguyệt đang ở gần Đò Lèn. Đến đó tìm nó!”

Một thằng bạn đã mang tin đến cho tôi. Không hiểu sao tôi cho đó không phải là chuyện đùa. Như vậy là cách mạng chẳng những khoan hồng với tù binh mà còn rộng lượng với những kẻ hụt tiêu chuẩn tập kết như Nguyệt nữa. Cách mạng đã thương tình nên đã cho Nguyệt xuống tàu Tây đi ra Bắc.

Thế là chuyện đi tìm Nguyệt nảy ra trong đầu tôi rồi trở thành một quyết định. Từ chỗ cơ quan tôi đến Đò Lèn trên mười cây số. Cả tuần chỉ nghỉ được có ngày chủ nhật.Nếu giỏi chân lắm thì sáng sớm đi, tối mịt mới về tới. Cho nên tôi tìm cách mượn chiếc xe đạp của anh nhạc sĩ trước kia tôi từng ở chung cơ quan một thời gian. Chiếc xe này do một người tình nhân của anh ở Sàigòn gởi ra trong lúc các chuyến tàu chuyển quân đang còn ra vào. Trong cơ quan không ai có được chiếc xe đạp Pháp mới toanh hiệu Peugeot như anh ta.Ban tổ chức của cơ quan đã đặt thành “vấn đề” trong chỉnh huấn Cải Cách Ruộng Đất. “Người gởi chiếc xe đạp cho anh là ai? Và để làm gì?” Anh ta đã bẩm đi bẩm lại cả chục lần nhưng người ta không tin. Tội nghiệp cho anh nhạc sĩ và cái xe vô tri. Cả hai đều không được làm chức năng của mình: đạp và bị đạp, mà cả hai đều bị khảo tra… Tôi đến mượn chiếc xe giữa lúc anh nguy khỗn – nghĩa là trong khi chờ quyết định của Ban tổ chức, anh không được xài chiếc xe!

Tôi đành phải cuốc bộ. Hai mươi cây số trong một ngày!

Tôi không gặp được Nguyệt, nhưng may được người chị ruột của Nguyệt tên là Loan tiếp chuyện. Chị cho biết là lúc ở Chắc Băng khi Nguyệt sắp sửa về thành sống với má (nhà chỉ có hai chị em, bố mất sớm) thì vào giờ chót, tiêu chuẩn tập kết sụt xuống.

Thương binh bán đổ bán tháo nhà cửa, hủ mắm, cái chõng tre để đi, đàn bà con gái, vợ con du kích xã cũng được đi. Do đó mà má của Nguyệt mừng hụt. Đáng lẽ thân cô đơn được đứa con về hủ hỉ thì lại tiếp tục sống cô đơn.

Bà đành bấm bụng để con đi ra Bắc “gặp Bác Hồ.”

Tôi hỏi chị Loan: “Nguyệt đi đâu,” thì chị chỉ trả lời loanh quanh, làm cho tôi hiểu rằng Nguyệt không phải bận công tác (công tác gì vào ngày Chủ Nhật) mà vì một lý do gì khác. Lý do gì? Liệu không thể chờ đợi được, tôi đành viết một bức thư, không có phong bì, trao cho chị Loan nhờ chị chuyển dùm đến tay Nguyệt rồi về, cố ý cho chị Loan lẫn Nguyệt hiểu lòng tôi đối với Nguyệt.

Tôi lầm lũi đi, cúi nhìn mặt đất. Đây không phải bờ kinh xáng Chắc Băng nữa mà là lưng đê Sông Mã. Nước sông không phẳng lặng và trong trắng có thể uống ngay như nước sông quê tôi mà nó đỏ lòm và cuồn cuộn như có triệu người chết đuối vùng vẫy dưới đáy sông.

Niềm đau xa xứ, cộng với nỗi buồn… tình. Đời càng đi, càng thấy giảm bớt niềm vui. Thằng Tây hèn mạt, đã chạy làng, nếu không, bọn Nam Kỳ đâu có trở thành những cái cây bị bứng khỏi vườn nhà, đem trồng đất lạ, gió táp mưa sa.

Đang đi bỗng nghe nhoi nhói sau ót, tôi quay lại. Có người đi theo sau. Một người con gái tóc bay bay, áo thì áo bộ đội còn quầnthì lại quần bà ba đen. Tôi ngỡ đó là Nguyệt, nhưng không phải. Chị Loan, tôi nhận ra ngay nhờ dáng người nhỏ thó của chị. Nguyệt hơi cao và có da có thịt hơn.

Tôi dừng lại. Chị Loan đi tới. Chị cho biết là Nguyệt giận tôi. Tôi hỏi tại sao? Chị bảo không biết tại sao – hay chị biết mà không muốn nói – nhưng mỗi lần chị nhắc tới tôi thì Nguyệt bỏ lãng đi chỗ khác. Thấy tôi buồn, chị đem lời an ủi và hứa sẽ tìm hiểu lý do của sự giận hờn kia.

Tôi đã bắt đầu nếm vị chua cay của ái tình. Giấc mơ yêu đương đã bị ít nhiều mây đen vần phủ. Về nhà tôi kể lại câu chuyện cho anh Peugeot nghe. Anh ta là người đầy kinh nghiệm trong trường tình. Anh an ủi tôi: “Con gái đứa nào cũng thế. Giận hờn là tính trời cho. Đứa nào không giận không phải là con gái. Khi nó giận là nó yêu mày. Cho nên đừng bỏ, ngay cả lúc nó từ chối tình yêu của mày. Mày chạy, thằng khác nhào vô là đúng thời cơ, sẽ quơ được nó ngay!”

Tôi tin lời ông thầy bàn, cho nên rồi cũng nguôi ngoai dần, chờ dịp đi đến gặp nàng. Chẳng có lẽ mới đây lại thay lòng đổi dạ? Tôi có lầm lỗi gì chăng?

Lúc bấy giờ đã chỉnh huấn xong Cải Cách Ruộng Đất. Những người bệnh hoạn, yếu sức khỏe bị đưa ra khỏi quân đội, đã đành, còn những người khỏe mạnh như tôi và một số bạn bè, vừa trẻ, khỏe, vừa có văn hóa lại cũng không được dùng trong quân đội mà bị đưa ramột đơn vị khác để cởi áo lính đi chuyển ngành. Bọn tôi rất khoái vì muốn bay nhảy xa hơn, vả lại chúng tôi rất ghét cái quân đội của giai cấp vô sản đầy đẳng cấp không phải trong khi làm nhiệm vụ mà ở trên bàn ăn. Mới vừa ở rừng ở bụi với nhau đây, bây giờ lại chiếu trên chiếu dưới, tiểu táo, trung táo, đại táo thì có khác gì lý trưởng cường hào quan lại ngày xưa? Đã đến lúc chửi “địt mẹ” một tiếng và ô-rơ-voa cho rồi.

Các tổ chức từ Nam Bộ đem ra Bắc đều bị xáo trộn tít mù, thay đổi chỗ ở liên tục nên tôi không có thì giờ để đi tìm Nguyệt mà cũng không thể gởi thơ, nhất là thơ tình thì lại càng không dám. Và đối với tôi, một thằng học trò đi theo kháng chiến thành phần xuất thân không “hẫu” với cách mạng mà lại yêu một cô học sinh – thành phần cũng chẳng khá gì hơn, lại vừa hú vía xong sau khi đã chui khỏi ải thứ ba, có dại dột lắm mới viết thơ anh anh em em để gởi đi. Ban tổ chức đọc được, mà chắc chắn sẽ đọc được, – thì có mà đi “chỉnh” lại lần thứ hai! Cái đám đi “chỉnh cú tàu vét” này thì bị người đời ngó bằng nửa con mắt và bị coi là “họ hàng” xa với tụi phản động.

Khi quảy ba lô vê đơn vị mới thì thằng học sinh này đã phí mất nửa năm “không làm gi” trong cuộc đời thanh xuân của nó. Và gần nửa năm sau, khi cởi hẳn áo lính, đám người chuyển ngành, trong đó có gã học sinh, được ân huệ xem một đêm văn công. Nhưng rủi thay trong đêm xem văn công đó tôi lại thấy Nguyệt… Khi màn kéo lên, tôi nhận ra Nguyệt đứng trong ban đồng ca. Và đây là lần đầu tiên, kể từ khi yêu nhau, tôi nhìn kỹ, nhìn lâu người yêu của mình. Từ trước tôi có bao giờ dám nhìn kỹ gương mặt Nguyệt, làn môi, mái tóc của Nguyệt. Nguyệt đối với tôi là ánh trăng gần gũi mà xa vời, có thực mà lại mộng mị. Chưa bao giờ tôi nói được những lời tôi định trước, khi gặp Nguyệt, bởi tim đập loạn làm quên tất cả, cả tôi, bởi sự đến gần làm cho mọi vậtmờ nhạt, xa ra nơi mình đang đứng.

Tại sao Nguyệt lại sung vào Văn Công? Nguyệt hát, Nguyệt ngã đầu, nghiêng vai, Nguyệt ra điệu bộ nữa. Đó là những gì đối với tôi, không khó coi lắm nhưng thiệt là bất ngờ. Và thú thực là tôi không thích chút nào

Văn Công diễn xong, tôi đến gặp nàng. Và chỉ dăm phút sau, tôi được biết rõ lý do của sự giận hờn. Nguyệt nói ngay, không ngập ngừng, cũng không tỏ vẻ giận dỗi.

“Em thuộc thành phần bóc lột. Anh nên tìm nơi khác tiến bộ hơn em.”

“Ai nói với em vậy?”

“Anh đã chỉnh huấn Cải Cách Ruộng Đất rồi chưa?”

Tôi hiểu ra rồi. Và không biết giải thích cách nào, chỉ gượng gạo nói:

“Anh cũng thành phần như em, khác gì!”

“Nhưng anh đi kháng chiến lâu năm. Anh đã thay đổi thành phần rồi!”

“Thì em cũng sẽ…” (Tôi định nói em cũng sẽ đổi thành phần nhưng lại ngưng)

“Anh không thấy đám con địa chủ bị ném đákhắp nơi sao?… Thôi đi… anh!”

Tuổi trẻ giàu tình cảm nhưng cũng chúa tự ái. “Thôi đi anh.” Người ta đã nói “thôi” chẳng lẽ ta đây lại “nữa”. Thôi thì thôi! Thôi vậy! Thôi quách, thôi luôn! Tôi vùng vằng bỏ đi. Nguyệt có gọi một tiếng khẽ sau lưng tôi, nhưng tôi bất thần giơ chân đá xoạc một vũng nước trước mặt rồi đi thẳng, đi tuốt kể từ đó.

Tưởng chuyện giận hờn gì thì tôi còn năn nỉ, nhưng chuyện “lập trường” chuyện qua “ải giai cấp” thì tôi đành chịu thua. Đó là tai nạn chết người.

Sau đó, tôi xin đi một nông trường quốc doanh để tìm đề tài sáng tác. (Lại cũng đề tài! Mãi mê đi tìm đề tài mà quên mất chính mình là một đề tài khá hấp dẫn) Chả là trong kháng chiến tôi rủi có đọc Đất Vỡ Hoang của Sô-lô-cốp và khi ra Bắc thì nảy ra ý định trở thành Sô-lô-cốp. Do đó nên nhảy vào nông trường để lấy đề tài. Nhưng chỉ ở nông trường được một năm thì thấy mình sai lầm nên bỏ về Hànội.

Ở đây tôi lại gặp thằng bạn cũ đang làm nhạc trưởng cho đoàn Văn Công của Nguyệt. Bất ngờ và mừng rỡ vô cùng, tôi ghếch xe đạp bên lề đường. Chưa kịp chào hỏi nhau, thì hắn nói ngay.

“Thôi bỏ mẹ nó đi. Con gái Hà Nội thiếu gì kia chứ!”

“Thì tao có đeo đâu!” – Tôi bị chạm nọc, trả lại nhát gừng.

“Nhưng mày có biết tại sao bản nhạc tình của mày toàn dấu “xị bémol” không?”

“Tại tình yêu trật giai cấp!” – Tôi cười và đáp.

“Nhưng cái sự giai cấp đó, ai phun ra mày biết không?”

“Ôi thôi, bỏ mẹ nó đi!” – Tôi gạt ngang và đèo thằng bạn về nhà.

Vẫn còn hậm hực, hắn kể tiếp:

“Tại vì giai cấp trặt họng một phần, nhưng cái chính là vì bồi dưỡng lập trường giai cấp. Bồi với dưỡng! Tao ớn lắm rồi, nên bây giờ xin thôi “bát pơ luya,” đi tìm một cái xó để dung thân. Mày biết lỗ mô, mách tao với!”

Thằng bạn nói loanh quanh một chốc rồi trở lại chuyện mà hắn vừa xúi tôi bỏ đi:

“Bồi dưỡng gì mà đêm nào cũng bồi. Hắn là chính trị viên kiêm Bí thư chi bộ của đoàn Văn Công, một tên Huế Nghệ An xảo quyệt số dách. Hắn biết con Nguyệt yêu mày, nên làm kỳ đà. Vì nếu hai đứa quấn với nhau thì con Nguyệt sẽ đi theo mày, nó mất nhân viên.Con Nguyệt là hoa khôi của đoàn, con Nguyệt đi, đoàn sẽ sụp. Đám con gái Nam Bộ ra đây chẳng đứa nào chịu làm cái nghề hát xướng đó. – Thằng bạn nhạc trưởng của tôi tiếp – Tên Huế Nghệ biết rõ lý lịch con Nguyệt. Hắn bèn xoáy vào chỗ địa chủ. Hắn bảo: “Đồng chí (Nguyệt) là địa chủ mà yêu nó (tức là mày) cũng nòi địa. Hai bên địa cả thì đời nào ngóc đầu lên nỗi với cách mạng? Đồng chí phải tìm giai cấp công nhân mà yêu. Như thế sẽ bám ông chồng công nhân mà leo lên… Rõ chưa nào?” Ban đầu con Nguyệt lắc lư hoang mang. Hắn lặp đi lăp lại theo tác phong phản phúc của Trung Quốc, nên cuối cùng con nhỏ phải đầu hàng: “Dạ, thưa thủ trưởng, em rõ rồi!” Thế là bốn câu thơ Đồng Tháp Cửu Long của mày trở thành hai câu liễng… mở cửa mã cho công cuộc ái tình của mày. Rõ chưa nào?”

“Dạ thưa thủ trưởng, em rõ rồi ạ!” – Tôi gượng cười pha trò.

“Còn gì chưa rõ để tao đả thông? – Thằng nhạc trưởng vung tay pha trò tiếp – giai cấp công nhân lãnh đạo nhé!!”

“Dạ, thủ trưởng không phải đả thêm em cũng thông tuốt luốt ống cống hết rồi ạ!”

“Nhưng mà đó mới chỉ là dạo nhạc thôi mày ơi! Sau đây mới tới phần chính” – Anh chàng nhạc trưởng tiếp: “Mày biết không, trong một tháng chỉnh huấn, ngày nào thằng Huế Nghệ cũng phản tới phản lui, nào bần cố nông là căn bản, nào công nhân là lãnh đạo, nói mãi, ai không nghe ra cũng phải nghe, ai không thông cũng phải thông, không thông không được! Hừ ! Cách mạng thành công là do bần cố nông và công nhân chớ đám chúng mình là heo thừa vú, bỏ đi!… Địt mẹ, tiểu tư sản vô ích!”

Anh chàng nhạc sĩ có vẻ bất mãn kinh niên nên ăn nói đầy dấu biến thượng biến hạ bất kể sol magiơ hay mi minơ. Hắn tiếp.

“Lâu lâu Văn Công được lệnh đi làm công tác hiếu hỉ thì có hai chiếc xe thùng tới chở đoàn đi. Giai cấp công nhân “lãnh đạo” hai chiếc xe thùng này. (Tôi cười) Hắn lập nghiêm, gắt: “Chớ không lãnh đạo mà xe khỏi rơi xuống hố à? Ấy, bản nhạc Hoa Ka-lina của chú em mày bị giai cấp công nhân dậm cho mấy cái xị bémol vô là vì thế đó.”

“Hả, cái gì?”

“Thằng Huế Nghệ đã đả thông xong tư tưởng con nhỏ, bây giờ tới thực hành. Giai cấp công nhân lái xe thùng đó, đeo vào để tiến bộ! Hừ! Culi trăm phần đầu, đít chai ngắt gõ nghe boong boong, mới biết lái xe sáu tháng đã trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng! Quái gỡ! Vậy mà con nhỏ cũng nghe thông suốt hai lổ tai!”

“Tội nghiệp!”

“Tội nghiệp mày nữa chớ!” – Gã nhạc trưởng tiếp. “Đám trung cấp (từ đại úy trở lên thượng tá) mặt nhăn như da ổi, miệng có nanh, bu con nhỏ dữ lắm mày ạ. Mày nghĩ, một sư đoàn lính, mười ngàn đực rựa mà văn công chỉ có chục rưỡi con gái, cho nên chúng nó ngó lọt tròng con mắt. Con Nguyệt bị tấn công mạnh nhất, nhất là bị đám giày cộp. Do đó tụi nam văn công chế diễu. Thay vì tình yêu giai cấp, nó gọi là tình yêu giày cộp, còn đám từ đại úy trở xuống không có giày da, mang giày bố và giép cao su thì bị chế là tình yêu quai giép. Con Nguyệt xấu hổ nên đá văng hết ráo, chỉ còn lại thằng công nhân thì không làm sao được vì thằng này lái xe cho Văn Công lại được Huế Nghệ tiếp tay. Nó bao vây chia cắt con Nguyệt với mầy hằng ngày.”

“Bao vây chia cắt như thế nào?”

“Thằng Huế Nghệ bịa là mày tiến bộ nhảy vọt trong Cải Cách Ruộng Đất sắp được đi học nước trong nước đục gì đó, rằng Ban tổ chức của cơ quan mày đã gởi công văn cho Đoàn Văn Công bảo con Nguyệt lạc hậu không được léng phéng với mày làm mày mất tiến bộ. Ngoài ra con Nguyệt đi đâu, bất cứ đi… đâu, đồng chí rõ chưa? Huế Nghệ cũng cho mật thám rình. Đồng thời nó tạo hoàn cảnh cho giai cấp lái xe có điều kiện xùy lập trường với con Nguyệt. Mỗi lần di chuyển, nó cho con Nguyệt ngồi ca-bin để trông rõ tài lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với chiếc xe thùng. Một lần thằng nọ đi đâu xuống chợ Thanh Hóa mua một đôi guốc gỗ về không biết nói cách nào để tặng cho con Nguyệt nhận. Huế Nghệ đem đi gói lại kỹ lưỡng, đề giúp hai câu thơ và cầm đưa cho con Nguyệt dùm nó. Hai câu thơ ăn đứt thơ của mày!”

Tôi không thiết nghe nữa nhưng thằng bạn cười khặc khặc và tiếp: ” Thứ thơ đến Bích Báo còn chê ai mà nhớ làm con mẹ gì. Đại khái là Guốc này là guốc công nhân. Mang vào tiến bộ rần rần em ơi! Tình yêu giai cấp đắp bồi…”

“Rồi sao nữa?”

“Từ tình yêu giày cộp, sang tình yêu quai giép rồi trở thành tình yêu đôi guốc. Nhưng mà, chặc, khổ thay, thằng bợm bảy da có khi lại móc túi được vàng và hóa ra phú hộ mày hiểu không? Nó gạ vậy mà dínhchớ! Thế mới tức!”

“Thiệt à?”

“Thiệt chớ! Bây giờ tình yêu cá nhân đã đặt ở bề dưới của tình yêu giai cấp trăm phần trăm rồi: Hứa hôn rồi! Chờ thử thách công tác một thời gian…”

Gã nhạc trưởng lẫm nhẫm một chốc rồi bỗng vỗ đùi đánh bép:

“Nhưng mà cũng chưa chắc. E hèm! Chưa chắc! Có lần thằng… ủa “ông” công nhân làm tổng kết cây số lái xe để báo cáo thành tích bình bầu chiến sĩ thi đua. Ông công nhân lọ mọ ghi ra giấy trông mệt sắp đứt hơi. Bà tiểu tư sản thấy vậy cầm lên xem, mới té ngữa ra. Con số nào con số nấy như mu rùa quạ, em em bánh xe Mô-lô-tô-oa một chút. Bọn thanh niên sẵn ghét ông công nhân nên lại ngạo là tình yêu trẹo ách. Huế Nghệ nghe bèn phủ đầu ngay: “Đảng lãnh đạo cách mạng bằng lập trường chứ đâu phải bằng văn hóa! Đồng chí bí thư Trung ương cục chỉ học hết lớp ba trường làng mà lãnh đạo cả Miền Nam đó thì sao??” Con Nguyệt đành ngậm nghe, chẳng còn cách nào bất mãn được nữa. Hắn còn đem cả chuyện Trung Quốc mà trấn thêm: “Tôi cho các đồng chí biết là ở bên Trung Quốc bây giờ công nhân nấu thép bằng mẽ ơ như bên ta kho cá kèo chứ chẳng có cần Lò Cao Lò thấp, kỹ sư kỷ siếc gì hết ráo. Chữ nghĩa, trí thức đã trở thành phân trâu rồi mà không hay, ở đó mà khoe chữ nghĩa! Mà chữ nghĩa của cô Nguyệt được bao nhiêu? Này, công nhân lái xe đã được cách mạng đánh giá ngang với Phó kỹ sư, các đồng chí biết không? Một cô Nguyệt trình dộ trung học được làm chùm gởi trên thân cây cam quít, làm sên đeo chân hạc mà chưa vừa lòng ư?… ” Con Nguyệt bị chỉnh nặng, khóc sưng cả mắt. Từ đó nó chịu yên một bề, giao trái tim cho ông Phó kỹ sư lái tới lái lui. Gã nhạc trưởng cười khảy – Ai chùm gởi, ai cam quít? Ai hạc ai sên? Khẹc! Thử hỏi, nếu cuộc đời này toàn do thợ rèn, thợ mộc, thợ cối, thợ xạo lãnh đạo thì sẽ ra sao? Nếu không ai chế tạo máy móc thì làm sao có thợ?…” Gã nhạc trưởng bất mãn với ai đâu lại đem đổ cả vào đầu tôi như mưa.

… Riêng tôi thì cho sự đời trôi theo dòng thời gian bèo bọt, chẳng buồn nhớ lại chuyện xưa nữa. Không ngờ bây giờ lại có người khuấy lại đáy sông năm cũ giờ chỉ còn những cặn cáu lắng đọng cứng ngắt. Dòng kinh Chắc Băng đã thực sự trở thành Sâm Thương lưỡng lộ. Bây giờ dù hai đứa cùng đứng một bờ mà vẫn chia ly.

Thấy tôi có vẻ hững hờ với chiếc khăn cũ, gã phóng viên đáng thương cố gợi chuyện dẽo dai:

“Khi tôi đi, chị Nguyệt cũng đang sốt. Nếu không chỉ đã theo tôi rồi. Tại anh làm cho chỉ sốt đó! Tình yêu giao cảm với nhau, anh thấy chưa?”

Tôi vẫn nằm im, trí nhớ xuôi về dòng kinh thời cũ. Những cánh buồm trắng lắp ló trong bom đạn chiến tranh, sau ngày đình chiến đã dựng lên, bọc gió ngược xuôi rợp mát lòng kinh thẳng tắp. Dưới tàng cây bã đậu xanh um, tôi và nàng đứng đối diện. Nàng, thì úp mặt trong khăn, cố nuốt tiếng khóc còn tôi thì chỉ nhìn nàng như nhìn bức tượng Nữ đồng trinh, không cả một lời.

Gã phóng viên cố nối sợi dây đã đứt, nên nói tiếp:

“Anh cho phép chỉ sang đây thăm anh không? Nếu cho, thì tôi về rước!”

“Tôi có phép gì mà cho! Mà người ta đã có chồng! Rước sao được mà rước!”

“Cái hợp tác xã hạ cấp ấy rả bèng rồi anh ạ!” – Gã nói toạc ra – “Chị Nguyệt sau năm năm hứa hôn đã “phăng teo.” Cấp ủy bắt chỉ kiểm thảo cả chục lần, nhưng chị nhất định dứt khoát. Sau đó chị làm đơn tình nguyện đi B, để cho ông công nhân ở lại tha hồ lãnh đạo chiếc xe thùng chỉ có một người khách vừa vọt xuống đất chạy trối chết rồi!”

Tôi hơi ngạc nhiên. (Hứa hôn gì lâu dữ vậy mà không thành hôn?) Nhưng tôi không để tình cảm lộ ra ngoài. Gã phóng viên nói tiếp.

“Từ khi về tới trong này chỉ tìm kiếm anh không ngớt. May chỉ gặp vợ tôi. Cô Hoa kể lại chuyện đi đường và nhờ đó mà chỉ biết anh đang bên này. Lúc đó anh đã xuống đồng bằng công tác. Vừa nghe tin anh về tới, chỉ nhờ tôi tót qua đây ngay. Thực tình là vậy chớ chẳng phải phỏng dấn phỏng diếc gì. Tôi cũng biết thừa, ở đồng bằng chẳng có cái gì vui vẻ mà phỏng với vấn… Hì hì, Rịa đó là của chỉ gởi cho anh đó, với tình yêu… giai cấp!” – Gã nói liên miên – Giai cấp Nam Kỳ chết hụt vì tập kết. Chỉ tâm sự với vợ tôi nhiều lắm. Chỉ còn yêu anh. Chỉ bảo tại người ta đặt tầm bậy vấn đề giai cấp và tình yêu. Hơn nữa chỉ bị bao vây và tấn công từ bốn phía. Chị đơn độc, chẳng biết bám víu vào đâu để chống trả, mặc dù chỉ thấy ông công nhân lái xe như một ông thổ táo chẳng có một chút tình cảm nào, mà vẫn phải nhận cho đúng lập trường. Bây giờ chỉ đã sáng mắt ra rồi, và khôn lên nữa. Lãnh tụ của ta thiếu gì ông lấy vợ địa chủ ở Nam Bộ, có bà địa chủ góa chồng vẫn bị lãnh tụ ta đi xe Volga tới ve vãn. Có mất cái củ… lập trường nào đâu. Do đó mà chỉ từ hôn và phăng teo luôn, chạy một lèo vô đây tìm anh, không ngó ngoái lại ông lái xe thùng nữa.”

Rỗi gã chồm qua võng tôi, rĩ tai, tha nha thiết nhỉ làm như tôi mê ly lắm vậy:

“Chỉ tiến bộ lắm! Bây giờ chỉ đã đeo quân hàm trung úy rồi đấy anh ạ! Không ai còn dám coi chỉ là tạch tạch xè thuộc nòi địa nữa đâu nghe anh. Công nhân trăm phần trăm như anh đấy nhé!”

Gã có làm cho tôi vui lên, nhưng có lẽ nhận thấy gương mặt của tôi lạnh ngắt như cái nóc lều căn thẳng kia, nên lại khoe tiếp:

“Cấp bực của chỉ trong đảng là gì đố anh biết? Rồi lại còn kèm danh hiệu chiến sĩ thi đua nữa.”

Tôi vẫn lặng thinh. Lòng lắng xuống cực độ, không còn chút dư hưởng của buổi chia tay ở Chắc Băng và cũng không xáo động như lúc nãy khi nghe gã nói Nguyệt đã về trong này. Tôi lơ đãng nhìn ra ngoài lều. Một vệt nắng chiều vàng ối cắt ngang thân cây già lùi xùi, vỏ cây nứt toang hoác trong đó trú ẩn một chú rắn mối đen lắp láy. Dường như nó đã nghe lén câu chuyện tự nãy giờ và sốt ruột chờ đoạn cuối. Thấy tội nghiệp cho gã phóng viên tốt bụng, tôi nói:

“Cậu về nói tôi nhắm thăm Nguyệt.”

Gã ngồi bật dậy, tíu tít, như đường Trường Sơn đang bế tắt đã được xoi thông:

“Tôi về thuật lại lời anh chắc chỉ mừng lắm! Được rồi, tôi sẽ đưa chỉ sang đây thăm anh. Rồi anh sẽ thấy sự tiến bộ của chỉ! Mình làm lễ tuyên hôn tập thể đi anh!”

Rôi một cách hồn nhiên gã tưởng như đã nối lại được sợi dây đứt trong tôi, gã tếu hẳn lên, nói huyên thiên:

“Đám tuyên bố của chúng mình sẽ là đám tuyên bố lịch sử, hai cô dâu, hai chú rễ đều là gốc dưa hấu, không có rau muống lai căn ha ha! Anh ở Hà Nội lâu vậy mà không quơ con Bắc Kỳ cái nào đem về trong này cho nó oỏng-ẻng nghe chơi ha ha!! Em – (bỗng nhiên gã xưng em với tôi) Em nói thật với anh nghe, đời em trước nhất là chống Mỹ cứu nước, thứ hai là chống Bắc Kỳ! Em ở ngoài Bắc thì lập trường một cây, nhưng về tới Nam thì phản động cùng mình! Em nhất định chống!”

Thấy gã phóng viên vui tính phổi bò, tôi cũng ráng cười góp vui. Tôi nói:

“Tại cậu chống hung quá nên bây giờ trong rừng này Bắc Kỳ tràn ngập hết cả đó.”

Gã vẫn hăng say:

“Sau khi chị Nguyệt đá giò lái cái giai cấp công nhân, có một anh chàng vũ công rau muống đâu ngoài tổng cuộc chánh trị đưa vào. Anh ta tò vè chị Nguyệt dữ lắm. Nhưng chỉ bảo thẳng mặt: “Tôi có người yêu rồi! Anh ấy đi B!…” Đó, anh thấy không? Người yêu đó là ai, là ai? Chỉ còn yêu anh mà! Anh không thể tìm ai chặt dạ bền lòng hơn chị Nguyệt đâu!”

Tôi gật:

“Chặt dạ đến đổi hứa hôn đến năm năm!…”

“… Với người khác, nhưng đó chẳng qua là bị ép, anh biết chứ. Hứa hôn đến năm năm rồi lại từ hôn! – Gã nói lấp luôn – Vậy là chỉ yêu anh quá rồi chớ còn gì nữa!

Rồi gã lấy chiếc khăn tự nãy giờ chưa chịu cất vô ba-lô, trao cho tôi, nói tiếp:

“Anh đề thêm vô tiếp thơ “Trăng Đồng Tháp Sóng Cửu Long” đi, cho đủ bộ.

Bất giác tôi đọc luôn:

“Khăn này khăn của công nhân, bỏ túi tiến bộ rần rần em ơi, Tình yêu giai cấp tới hồi… Tình yêu giai cấp sáng ngời vàng sao!”

“Hay lắm! Hợp lắm! – Gã kêu lên rồi lại chồm qua võng tôi, lại rĩ tai: “Cấp bậc của chỉ trong đảng bây giờ là Liên Chi ủy viên đó anh ạ! Tiến bộ ghê chưa? Đám đực rựa cũng phải lé con mắt với chị ấy!”

Tôi thấy tội nghiệp cho sự tốt bụng của gã nên không nỡ tưới tắt ngọn lửa phấn khởi mới bốc. Tôi cố giữ vẻ thản nhiên. Sự tiến bộ đó tôi hiểu rồi, hiểu quá đi nữa là đẳng khác. Nó như chiếc xe lửa chế tạo từ thế kỷ trước bằng những mảnh đồng nát, rít còi thì to mà chạy thì cà rịch cà tang, máy ọc ạch khua rầy tay, hành khách bên trong thì muốn vọt ra bất cứ lúc nào, còn kẻ đứng bên lề đường thì tưởng đâu hay lắm nên cố chết nhảy lên. Tôi là khách trên tàu rất muốn trả lại vé mà chưa biết làm sao.

… Tôi trỏ con rắn mối nãy giờ vẫn còn nằm yên trong bọng cây, định bảo gã chụp bắt để kho quẹt cải thiện buổi cơm chiều, nhưng không hiểu sao tôi lại thốt ra một câu bất ngờ, chính tôi cũng ngạc nhiên:

“Con rắn mối này chắc nó cũng không bao giờ đeo kính râm!”

xuanvu_signĐầu 1988.

 

Xin xem tiếp THIÊN ĐÀNG TREO ĐỨT DÂY cùng tác giả

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: