THIÊN ĐÀNG TREO: Trạm Gác Cây Sộp

TRẠM GÁC CÂY SỘP

 Ba Mừng vừa sắp lưng đi thì bà vợ gạn lại:

“Vác mấy cái tấm “Tử địa” đi đâu đó?”

“Người ta đi đâu người ta đi!”

“Ba cái thứ đó chẳng có ai sợ đâu! Người ta càn nhẹp như đồ bỏ!”

“Cái bà này bữa nay mắc chứng gì vậy?”

“Chứng gì? Nè, tôi nói cho biết, hễ còn đi gác nữa tui đem mấy đứa nhỏ về bên má ở luôn cho coi.”

“Đi thì đi, chớ công tác cách mạng tôi không bỏ được!”

“Xí! Nội làng này chỉ mình ông biết mần cách mạng thôi đó.”

“Tôi có nói mìnhtôi là cách mạng đâu.”

“Người ta cũng cách mạng nhưng cách mạng kiểu khác, không như ông.”

“Cách mạng là cách mạng, chớ kiểu khác là kiểu nào nữa?”

“Có thứ cách mạng quần tiều áo cộc, vác súng lêu lêu, xét ghe này, bắt xuồng kia cho thiên hạ ghét, cũng có thứ cách mạng răng vàng đỏ nghế, cà rá đồng hồ mập tay.”

“Thôi ba đừng có nói giọng xốc óc.”

“Xét bắt phía trước, dân nhảy lòn sau lưng, vậy cũng gác!”

Ba Mừng giật mình: Cái đường mòn bọc sau lưng trạm gác đã bằng lộ cái rồi, đến đàn bà cũng biết sao ông Ủy viên quân sự lại mù tịt?

Chuyện buôn lậu, nhảy dù là chuyện muôn năm. Thời kháng chiến chống Pháp đã có trạm này rồi. Cũng canh cũng gác, cũng bắt dân chúng học tập chánh sách bao vây kinh tế địch của Trung Ương Cục ban xuống. Nhưng quán xá đâu đâu cũng bí mật bán thuốc thơm, cà phê sữa, cán bộ lớn thì người nào cũng đeo đồng hồ Uy-le, túi giắt Ba-Ke. Nếu ai dòm được trong ghe mui ống bốn chèo của mấy ổng thì thấy toàn là Ovomaltine, Nestcafé, thuốc Đại bổ thận… và nặc mùi gà vàng Cotab.

Bây giờ lệnh nghiêm nhặt hơn. Ông Lã Công Tâm, Ủy viên quân sự của Mặt Trận xã đã tuyên bố: “Ai đem một con heo ra thành sẽ bị tử hình. Còn đem gà vịt, trứng gà, trứng vịt, đi trại giáo hóa!” Tiếng trại giáo hóa là của thời kháng Pháp có nghĩa là nhà tù Cách mạng. Ông ủy viên quân sự đem ra dọa dân chúng vậy thôi chớ thời chống Mỹ này tình hình “động” lắm. Trực thăng bay nhanh lát mắt, cà nông chỗ nào bắn cũng tới, đất đâu mà lập trại giáo hóa. Hễ ai bị tội nặng thì tử hình, tội nhẹ thì cứ để đó. Vừa rồi, một du kích cãi lộn với chủ lò đường vì ông này không chịu cán mía thuê cho anh ta với giá thấp. Thế là hắn bắn ông ta rồi nhảy luôn ra thành. Lã Công Tâm ở trong này hút gió không kêu, bèn dỗ ngọt, nhắn hắn về sẽ tha tội. Hắn đâu có ngu. Lã bèn dọa: bắt được sẽ tử hình. Hắn nhắn lại: tao tử hình nó trước!

Riêng cái vụ nhảy dù thì có treo cái án tử hình trên cổ người ta cũng nhảy. Nhảy đêm, nhảy ngày, trời mưa tiện lợi cho dân nhảy đã đành, trời nắng cũng có cách nhảy mà không ai bắt được. Có một ngàn kiểu nhảy. Bắt kiểu này xoay kiểu khác, chận kiểu nọ sáng chế kiểu kia, càng bắt dữ càng nhảy hung. Nhảy sướng quá trời mà – trúng một phát ăn một năm, dại gì đi cuốc khoai cụp xương sống. Đạo nhảy dù càng ngày càng thêm người theo. Người trước đây không chịu nhảy – thậm chí coi chuyện nhảy là bất lương – nay thấy dân nhảy khấm khớ nhanh ngó thấy bèn nảy ra ý nghĩ nhảy thử một phát chơi. Tưởng khó khăn ai dè lọt tuốt, dễ dàng – khỏe ru nữa là đằng khác – bèn buông nghề ruộng bắt qua nghề nhảy và phất lên như diều. Rồi được mọi người nhờ cậy, kính nể, được cảcán bộ thân thiện. Bây giờ thì toàn dân nhảy, rồi toàn đảng nhảy. Rủi nhảy mà đứt dây thì bị ông Lã cảnh cáo. Nhưng mà “khai trừ thời này là nói láo, cảnh cáo nói chơi.” Chỉ có cà phê sữa mới là thiệt, nên tối nay bị cảnh cáo, sáng mai lại nhảy. Thế nên Mặt Trận phân công Ủy viên Quân sự đặc trách chống nhảy. Trong cuộc họp nào ông cũng hò hét tử hình, trại giao hóa, cảnh cáo khai trừ v.v… Nhưng nhảy vẫn nhảy, hết nhảy trước mặt đến nhảy sau lưng. Vừa nhảy bằng đường sông vừa nhảy bằng đường mòn. Con đường mòn bí mật không tên như con rắn trun hai đầu, đầu chích đầu cắn, rất nguy hiểm. Không diệt nó thì khu giải phóng đã gầy sẽ càng tọp.

Ba Mừng mới vừa phát giác ra nên tự động đi cắm bảng Tử Địa. Cắm xong bơi xuồng đến quán mụ Chín Thược. Mụ đượcphép của Mặt Trận đi thành hằng ngày để bổ hàng về cho khu giải phóng xài. Dân trong ấp đến quán mụ mua đủ các thứ mặt hàng, nhờ vậy đời sống dân chúng khá mượt mà và nhạt đi mùi bom đạn.

Tuy nhiên theo nhận định của Mặt Trận thì thương buôn không được xếp vào thành phần cách mạng. Bởi thế ông Ủy viên quân sự tới quán hằng ngày. Ba Mừng chắc ông đến đó để dò xét hành động của mụ Chín Thược đồng thời giác ngộ cách mạng cho mụ. Mụ có thằng em trai là thằng Xà Búp cũng đội viên du kích như Mừng. Nó đeo dính Lã Công Tâm như sam nhưng ông Lã nhất định cho nó đứng xa xa vì sợ lẹo tẹo không tốt. Đáng lẽ ông cho nó làm tiểu đội trưởng du kích từ lâu nhưng ông chỉ giữ nó ở chức tổ trưởng và bắt tổ nó đảm nhận nhiều phiên gác hơn tổ của Ba Mừng. Có lẽ nhờ vậy, có tiếng đồn rằng chi bộ sắp kết nạp nó. Nó vô đảng thì sẽ chỉ huy cả Ba Mừng. Riêng Ba Mừng thì lại biết rằng thằng Xà Búp có ăn công ký với chị nó.

Ba Mừng đến quán thì đã thấy Lã Công Tâm ở đó. Giờ này bà vợ đi thành sắp về. Nhà quân sự đang thuyết trình kế hoạch bao vây kinh tế địch của mặt trận cho ông chồng quáng manh nghe.

Mừng đứng nghe ké một chốc rồi đi ra trạm. Chưa có ai đến gác, Ba Mừng vọt nhanh lên ngồi trên cháng ba giữa những chòm lá um tùm với một ý định bất ngờ.

Cây sộp này không biết ai trồng hoặc tự nó mọc lên từ đời nào. Nó là loại cây họ hàng với cây gừa thường thấy mọc ở ven sông hoặc bờ đìa, nhưng to lớn hơn. Riêng gốc cây sộp năm người ôm không giáp. Tàng lá che phủ cả lòng rạch và một khoảng ruộng liền bờ rạch. Hồi đầu kháng chiến chống Pháp, Thanh niên Tiền Phong đã đốn cành lá trống một phía và làm “sân trông” trên nửa chừng thân nó, để canh giặc Pháp từ trong thành kéo ra. Bộ đội và các cuộc mít tinh đều nhờ bóng mát nó. Sân khấu diễn kịch cũng dựng ở đây. Thậm chí mấy ông Việt Gian bị xử bắn đầu tiên trong cách mạng tháng Tám cũng tựa lưng vào gốc nó mà lãnh đạn. Có lẽ ma quỷ lẫn thánh thần đều ẩn núp trên ngọn nó, cho nên bị trời đánh mấy lần, nó chỉ sạt một bên sườn chứ không chết. Không chết mà lại lớn lên cao vút, chọc trời, thân thể mang đầy thương tích của những thời đại qua. Dường như không có gì thay đổi ở nó, ngoại trừ cái miễu thổ thần. Từ 45 trở đi, không ai nhang đèn cúng tế nên ngôi miễu rụi dần và biến hẳn trong đời sống của người dân.

Bây giờ lại mọc ra một cái “miễu thổ thần” mới. Miễu cũ thì khách thập phương tới cúng vái vì lòng tín ngưỡng, nhưng cái miễu mới này thì lại có những ông thần sống đòi ăn món nọ món kia ra mặt. Thần thánh ngày xưa, ai không cúng vái cũng không sao, nhưng mấy ông “thần” bây giờ, hụt ăn một miếng là có chuyện ngay. Đã vậy lại còn tranh nhau miếng to miếng nhỏ. Thôi thì nói quách ra cho xong. Đó là cái trạm gác của ông Ủy viên quân sự họ Lã. Theo thói quen thời đại trực thăng này, cái gì cũng phải bê-em và nhanh chóng nên cách nói năng viết lách cũng thế. Người ta gọi trạm gác Cây Sộp là trạm “Xê-Ếch” (CS) cũng như người ta gọi ông ủy viên Quân Sự là ông Cu-Ếch (QS) vậy.

Ba Mừng bấm bụng ngồi cho tới tối. Trời lại mưa dầm dề. Không phải để chận bắt nhảy dù mà để chộp những kẻ chận bắt nhảy dù. Trời mưa là trời của dân nhảy. Mấy tía du kích chèo queo với nhau mà ngủ khò. Trạm gác nằm ở bờ bên này, còn ghe xuồng lách sát bờ bên kia. Mưa che mắt, mưa át tiếng dầm chèo khua nước. Nếu có tiếng quát nhừa nhựa từ trạm gác vọng sang: “Ghe, ghé lại!… không ré hả…? Bắn bây giờ!!” thì dân nhảy biết là mấy ông thần đang ngủ, lâu lâu hô hoảng cầm chừng đó thôi, chứ chẳng có bắn biếc gì, cứ vững bụng bơi qua khỏe ru đi thôi. Còn nếu có tiếng cu-lát lắc cắc thật tình thì cứ nói: “Tôi bán rau muống cho tụi quốc gia lấy tiền mua gạo cho con ăn chớ không có chở hàng cấm. Mấy ông cho đi làm phước, khi về tui sẽ cúng ốp nhang!” Nếu mấy ổng không khoái ốp nhang thì tăng lên nải chuối. Nếu mấy ổng không thích xực chuối thì nộp đĩa xôi. Mấy ông thần khôn lắm. Cũng như ma, mấy ổng bắt coi mặt người ta. Đã nhẵn mặt và quentiếng dân nhảy, hễ nghe là mấy ổng biết ghe của ai, nên tùy nhang, chuối, hay xôi mà cho đi hay lên giá xuống giá.

Nhờ cái ngấn sân trông cũ hồi 45 nên Ba Mừng vững như ngồi trên váng. Ba Mừng còn dùng những rễ thòng ràngmình vô nhánh cây và ngủ quên một giấc ngon lành. Một tiếng chim cú làm Ba Mừng giật mình. Ba Mừng chắc đã khuya lắm, nhưng không biết là giờ nào. Đêm nay là phiên tổ trưởng Xà Búp. Thế nào nó cũng thả cho chị nó đi. Ba Mừng nhất quyết nắm cho được thành tích công ty với chị nó để báo cáo với ông Lã. Ông ta quá bận những công tác lớn nên cái trạm này đã mọc đuôi tôm mà ông không biết. Nếu không ngăn chặn thì chị em nó sẽ làm hỏng hết chánh sách bao vây kinh tế địch của Mặt Trận.

Bỗng nghe tiếng dầm chèo rón rén khua nước. Giờ này là giờ đi của các cô hồn. Có tiếng léo nhéo của người dưới sông và giọng lè nhè ngáy ngủ của thằng Xà Búp.

“Cho đi nghe ông trạm. Tôi không có chở hàng cấm đâu!”

“Không chở thì đi thành ăn cái gì?”

“Có ba bó cải với mấy gói mòng tơi thôi hè!”

“Một tút gà vàng, đồng ý thì đi!”

“Nửa tút thôi, tội nghiệp mà!”

“Ừ đi thì đi.”

Trời đã tạnh mưa. Trên tầng cao gió ù ù vặn xoáy ngọn cây sộp như ma tru quỷ hú, dưới lòng sông, xuồng ghe lướt rào rào. Rõ ràng có tiếng gà vịt kêu nhưng thằng Xà Búp không xét hỏi gì cả, nó cứ lè nhè ra giá mãi lộ như thế rồi cho điqua cả.

“Phen này tao cho ông Lã hay, mày sẽ rụng nụ!” Ba Mừng khoái chí nghĩ thầm. Cái việc ông Lã làm Ủy viên Quân sự trấn giữ vàm sông này liên tục mấy năm nay là phước lớn cho dân làng. Ông là người cách mạng lộ ra da. Ông chỉ có một cái tật là mưa nắng gì ông cũng đeo kính đen như mắt Thòi Lòi và lúc nào cũng khoe: “Hồi tôi ở ngoài Côn Đảo.” Ổng nói là mắt ổng xốn nên phải mang kính, nhưng người ta đồn ổng là người kinh nghiệm cùng mình, ổng đeo kính để khi điều tra dân nhảy, ổng bắt nhãn, tụi nó không đoán bụng ổng được. Còn cái tật ở ngoài Côn Đảo, anh em phê bình ổng là “công thần chủ nghĩa” thì ổng trả lời rằng “Phê thì tôi nhận nhưng không sửa chữa được, vì tôi phải luôn luôn tự nhắc tôi ngày nào đế quốc còn thì ta còn lầm than đau khổ.” Nghe vậy ai nấy không phê nữa và ông càng “hồi tôi ở ngoài Côn Đảo… ” tợn hơn trước.

Ông càng tỏ rõ lòng căm thù ấy ở cái lần bắt ghe mụ Chín Thược cách đây ít lâu. Lần đó rủi cho mụ, thằng Xà Búp thả lỏng bận đi nhưng bận về bất ngờ lại đụng Ba Mừng.

“Chị cho tôi xét chút chị Chín!” Ba Mừng bảo.

Chín Thược cười nhe hàm răng vàng nghế làm Ba Mừng giật mình. Mới bữa trước răng trắng như răng bò, bây giờ đã vàng nghính như răng chuột.

Chín Thược nói cà rởn:

“Xét ghe thì xét chớ xét chị sao được! Mà ông thần muốn xôi hay chuối nói phức đi!”

“Tôi chưa thành thổ địa chị Chín à!”

“Thôi mà, chú đã ngồi ở cái miễu này mấy năm rồi! Liệu đi, ăn sớm no sớm, chú ạ!”

“Chị đừng có giỡn. Nếu chị lơ mơ tôi niêm ghe và lập biên bản!”

Thấy khó nhét xôi chuối cho Ba Mừng, Chín Thược đánh thẳng:

“Tôi biết chú là người gương mẫu, tôi có mấy hộp Con Chim, chú cầm lấy đem về khuấy cho thằng nhỏ, coi bộ nó thiếu sữa.”

Nhưng Ba Mừng không đáp, cứ điềm nhiên bước xuống ghe chun vô muitrong lúc Chín Thược vẫn lải nhải:

“Tôi có mua mấy thước vải Xiêm láng cắt vừa đủ một cái quần đáy giữa cho Thím Ba. Úi chèn ơi, thím mà mặc vô, chú ngó thấy chú đi hết nổi đó!

“Cho tôi xin được không bà nội?” Ba Mừng quát trả lời rồi liên tiếp giở sạp mủi sạp giữa lên. Ba Mừng chỉ nghó qua rồi đậy lại bảo mụ tránh qua để giở sạp lái.

Mụ Thược năn nỉ như Tào Tháo kể công:

“Mấy chục hộp sữa Con Chim là tôi mua cho Quân Y, mấy cây Cotab là cho đám cưới con ông chủ tịch huyện, còn năm két la-de tôi đem về là để giành mời bộ đội liên hoan chiến thắng, riêng lố xà bông thơm tôi đâu có xài. Chú Ba biết không tôi phải đút cho lính quốc gia bộn bạc mới lọt được đó… ! Tôi được ông ủy viên Quân Sự đến dạy bao vây kinh tế địch mấy… đêm mà chú!”

“Chị rút cột chèo lên coi!” Ba Mừng nghiêm nghị khoác tay ra lệnh.

“Thôi mà chú Ba! Chú để đức lại cho con chú nhờ! Xét gì xét ác vậy?”

“Ừ, thì chị nhổ cột chèo lên, tôi chỉ cái đức cho chị xem!”

“Trời ơi khổ thân tôi quá!” Vừa nói, Chín Thược vừa cầm cái cột chèo rút mạnh lên. Ví rút quá mạnh mụ bật ngửa xuống sông. Mụ đàn bà béo tốt phục phịch chìm ngấm.

Ba Mừng hoảng hốt khom người chồm theo thọc tay xuống nước quờ tìm, và nắm được chỏm tóc nổi phập phều lôi mụ lên.

Mụ đưa hai tay bám chặt be ghe, thở phì phì như cá nược. Ba Mừng cố kéo tuột mụ lên, nhưng vì là chuyến về, ghe nhẹ nổi phêu phêu, phần nữa chân mụ lại mập ngắn nên không gác lên be ghe được, mụ kêu như heo bị chọc tiết. Ba Mừng rối trí nhưng mấy đứa trong tổ gác cứ đứng cười: “Giỏi nhảy, bây giờ nhảy xuống sông.” Ba Mừng rê mụ vòng ra sau lái rồi dìu vào bờ cho mụ đeo mấy cái rễ gừa ở sát mé bờ mà trườn lên. Nhưng mụ vừa bò lên được trọn vẹn trên bờ thì Ba Mừng thất sá hồn kinh, quay mặt kêu:

“Chị tuột xuống sông đi chị Chín! Khó coi quá hà!”

Chín Thược vùng đứng dậy định quát trả: “Tôi vầy mà khó coi!” Nhưng chợt nhận ra quần áo đã rã bèng chỉ còn mấy mảnh vải dính da, trông trên hở dưới, mụ vội vàng bò lê xuống ghe và chui tuột vô mui – may mà ghe có mui – mụ ló đầu ra vừa ọi vừa kêu:

“Mấy chú ơi! Chú nào có dư quần cho tôi mượn một cái.”

“Tụi tui mặc quần tiều không hè.” Một đứa che mắt đáp.

“Quần tiều cũng được!” Mụ van nài. “Đỡ khúc nào hay khúc ấy!”

“Mỗi đứa có một cái dính da, đâu có dư mà cho mượn?”

“Mấy chú có cái mền hay manh chiếu gì cho tôi quấn đỡ cũng được!”

“Đứa nào nhảy xuống lặn mò dùm cái quần cho bả chút bây!” Ba Mừng quát.

“Bộ Bà Thủy mượn quần chị đi ăn giỗ hả chị Chí…ín?”

“Mấy chú ơi, nhảy dù khổ quá mà không biết tại sao ai cũng ham!” Bỗng nhiên mụ Thược kêu lên: “Ý mà thôi! Mấy chú khỏi cho mượn quần tiều, tôi còn bộ đồ cũ bỏ dưới khoan hầm đây.”

Chập sau, mụ Chín lóp ngóp bò ra khỏi mui ghe với thân mình ướt loi ngoi nhưng đã thoát khỏi tình thế bánh tét không còn lá. Mụ nhìn vào cái bỗ chèo lái. Ba Mừng trở xuống ghe xét tiếp:

“Chị còn giấu cái gì trong đó nữa không. Khai thiệt đi!”

“Tôi thề trước miễu Thổ Địa đây. Miễu này ngày trước linh lắm. Ai thề ẩu đều dính hết cả. Tôi có nói gian cho thần móc nhãn tôi đi. Tôi chỉ mua có ba chỉ vàng dút trong kẹt bỗ chèo. Mà mua dùm cho người ta chớ không phải cho tôi…” Đang nói lau lãu bỗng mụ kêu lên: “Trời ơi! Chết tôi rồi, mấy chú coi tôi còn đủ hai hàm răng không?”

“Chị thay răng hồi nào mà không còn đủ?” Ba Mừng cười ngặt nghẹo, hỏi.

“Ủa không, cái hàm dưới kìa…!”

“Hàm dưới kìa là dưới nào…?” Ba Mừng cố nhịn, nhưng vẫn cười phì.

Thằng Tư Lù Đù là đội viên hơi ba trợn của đội du kích, cười ha hả:

“Cái hàm dưới của chị mà mọc răng thì chị nhai tụi tôi ngớu xương hết!”

Mụ Chín Thược không để ý tới mấy câu châm chọc trắng trợn, mụ rên rĩ:

“Chắc rớt dưới sông. Thôi chết tôi rồi! Cái hàm răng vàng tôi mới làm. Tôi bảo thợ nó bịt sơ sơ để về nhà tôi gỡ ra đưa cho thợ bạc. Chắc hồi nãy té đập vô be ghe văng mất rồi. Mấy chú có cây sào dài dài cho tôi mượn tôi rơ chút.”

Tư Lù Đù vọt miệng, bắt chước tiếng Miên:

“Bòn ời, sông sâu sào ngắn khó thọt. Cho thì cho luôn chớ không cho mượn!”

“Rơ sao cho đụng hàm răng mà rơ!” Ba Mừng tiếp.

“Tôi chỉ rơ cái quần. Còn hàm răng thì để tôi nhang đèn cúng vái Bà Thủy rồi tìm sau.”

Ba Mừng thấy thương hại người đàn bà nhảy dù đứt dây.

“Quần áo gì kỳ cục vậy chị Chín?”

“Tôi khổ lắm mấy chú ơi! Tôi nói ra mấy chú đừng cười tội nghiệp. Mỗi chuyến ngoài các món khác tôi còn đem về thêm được một bộ đồ bà ba vải xiêm láng. Tôi mua vải đem xuống ghe giặt liền cho nát mặt, phơi khô rồi cắt quần áo ngay. Vì gấp về nên không kịp may, tôi lấy hồ dán đỡ cho dính tạm. Về gần tới đây tôi thay đồ cũ mặc đồ mới vào. Mặt Trận có xét thì chỉ xét đồ trong ghe chứ đâu có rờ đụng vào người tôi. Lọt được mấy lần rồi. Chẳng ngờ lần này chú Ba làm gắt quá. Rủi cái nữa là té sông. Hồ xuống nước mà còn dính sao được? Mấy chú thấy đó!” Rồi mụ kết thúc bài phản tĩnh: “Chuyến này tôi đem về sơ sơ có bấy nhiêu thôi. Không có gì khác. Thiệt tình mà chú Ba. Bài bao vây kinh tế địch tôi nằm lòng mà! Tôi có khai gian cho thánh thần vật tôi đừng cho về thấy mặt chồng con.”

“Thôi, thôi! Chị đừng thề độc, rủi ổng xuống trạm ổng trông thấy chị như hồi nãy thì ổng đau mắt luôn.”

Ba Mừng lập biên bản kê khai tất cả hàng cấm và phân công cho thằng Tư Lù Đù ngồi ghe đưa mụ về thẳng văn phòngủy viên Cu-Ếch. Nhưng khi ghe vừa nhỗ sào thì một sợi dây kẽm bị vướng ở rễ sộp. Ba Mừng cúi xuống gỡ thì thấy sợi dây kẽm còn mới. Sanh nghi, Ba Mừng bèn phăng lần lên. Té ra một đầu buộc vào lái ghe còn đầu kia dèo một bọc ni lông to ràng thật kỹ.

Mụ Thược bèn thì thào với Ba Mừng:

“Đồ bí mật của Mặt Trận ngoài thành gửi vào!”

“Vậy để tôi nhận tại đâyluôn… được không? Tôi là mặt trận chứ còn ai nữa!” Rồi Ba Mừng cười hề hề:

“Trước miễu linh, tôi hỏi chị một câu, chị trả lời cho thiệt rồi tôi tha. Hồi nào tới giờ chị đã nhảy bao nhiêu heo gà rồi?”

“Đồ quỷ nà, hỏi gì hỏi kỳ vậy?” Đâu còn nhớ mà khai! Sơ sơ chừng chục rưỡi con heo lứa, còn heo bồ thì mới hai ba con thôi. Bộ tính tử hình tôi hả?”

Nhờ chuyến đó, ủy viên Quân Sự Lã Công Tâm lên uy tín như diều. Lã bắt mụ Chín lên ởvăn phòng để điều tra mấy đêm ngày liền. Thằng chồng quáng manh phải đem cơm nước tới cho vợ. Tờ cung của mụ dài mấy trang giấy đặc nghẹt những heo, gà, cà phê, thuốc lá thơm. Trong cuộc họp quần chúng nhà quân sự nghiêm nghị tuyên bố tội trạng của mụ quán như sau:

“Đáng lẽ phải tử hình, nhưng vì mới phạm lần đầu và vì có công vượt bót đồn nguy hiểm tiếp liệu thường xuyên cho mặt trận, ngoài ra người chồng tật nguyền nên Mặt Trận khoan hồng, chỉ tử hình treo, phạt một số tiền nhỏ và cấm không được ra vào thành cho đến khi có lệnh mới.”

Mụ Chín Thược rầu rĩ như cha chết, nhưng chỉ vài tuần thì được lệnh mới ở trên. Lần này không những mặt trận xã, mà cả mặt trận huyện lẫn mặt trận khu cần tiếp liệu.

Và thế là mụ Chín Thược lại chọc trời khuấy nước ngang nhiên ra vào thành, quốc gia mụ chẳng ngán, giải phóng mụ coi như pha. Thỉnh thoảng ông Cu-Ếch lại đến bồi dưỡng lập trường tại quán. “Nè chị Chín, vấn đề bao vây kinh tế địch là huyết mạch của mình…”

Ba Mừng miên man nhớ chuyện “đời xưa” mới xảy ra tháng trước. Mưa tạnh từ lâu nhưng mây còn đen kịt. Một giọng nhói lên từ lòng sông làm đứt ngang dòng hồi ức. Lại xảy ra sự trả giá xôi, chuối với nhau giữa đám dân nhảy và các thần thủ trạm Xê Ếch.

Nhưng chưa ngã giá chuối hay xôi thì nghe tiếng gầm hét om sòm giống giọng ông Sáu trưởng ấp.

Đêm nằm trạm, ngày săn cá. Đó là nghề nghiệp của thằng Xà Búp. Xà Búp ăn no rồi cứ xuống xuồng bơi rểu theo các lùm cây ở ven sông. Buổi trưa, cá bông nổi lên ngớp trong bóng mát. Một phát xà-búp phóng đúng có thể lôi lên một chú cân nặng năm sáu kí lô. Làm chơi ăn thiệt lại khỏi phải đóng thuế cho mặt trận. Do đó hắn cứ làm nghề đâm Hà Bá này và cái tên “Xà-Búp” cũng nảy ra từ đó. Ông Sáu không thích cả hai thầy trò nó. Riêng Xà Búp thì dính líu với con gái ông. Con nhỏ đi thành cũng như mọi người đi thành khác, ông Sáu theo rất đúng chánh sách, nghĩa là không chở những thứ hàng cấm ra thành và khôngmuacác loại xa xí phẩm về trong khu. Nhưng ông Sáu có biết đâu con gái ông đã qua mặt ông. Lần nào chở ra thành những thứ đồ bỗi của khu như rau, cải, dừa khô… cô cũng kèm thứ nọ thứ kia. Một bữa cô giấu dưới sạp lái một cặp gà giò rủi bị Xà Búp xét bắt. Hai bên thương lượng trên nguyên tắc hai bênđều có lợi. Cô nàng thấy có lợi to thiệt, nên từ đó trên rau muống, dưới vài con gà hoặc cặp vịt, rồi cả vịt xiêm cồ và ngan ngỗng đều chui qua tuốt. Sắp tới cô sẽ nhảy tới heo bồ bằng con đường bí mật do Xà Búp hướng dẫn. Nhưng chưa kịp nhảy thì tiếng đồn cô đã mang bị. Bây giờ dù đứt dây, ông Sáu mới té ngửa ra mà kêu trời. Ông chạy đi mét với Lã Công Tâm, nhưng Lã đổ riệt cho tụi lính quốc gia ở bót rìa thành: “Ở ngoài đó chúng cũng xét bắt gắt gao lắm. Chúng sợ giải phóng chở địa lôi lựu đạn vô thành cho nên gởi trả lại cho giải phóng quả mìn cờ-lay-mo chớ du kích của tôi đâu có đứa nào vô kỷ luật vậy.”

Do đó, một trái bầu lại nửa xanh nửa đỏ mà ông Sáu không biết gốc nó đỏ hay xanh. Đã vậy, ông lại còn bị chế diễu:

“Ông làm ông ngoại của quốc gia lẫn giải phóng, sướng muốn chết, còn đòi gì nữa.”

Ông Sáu thù quốc gia thì ít mà hận du kích thì nhiều, nên ông nghỉ chơi với mặt trận. Gần đây ông còn nghe nói chi bộ đang xét việc kết nạp thằng Xà Búp vào đảng, ông càng đâm hơi mạnh hơn: “Đảng viên gì nó! Nó mà vô đảng thì ấp này ai cũng vô Đảng được hết cả và chắc Mụ Chín Thược sẽ làm bí thơ!” Ông còn hăm:

“Tao gặp nó ở đâu thì tao sẽ lụi nó một phát xà-búp!”

Không đợi gặp, ông đi tìm. Ông biết nó gác đêm nay. Ông giả dạng dân nhảy, ông cặp xuồng lại và vọt lên bờ.

Cũng may Xà Búp bị mưa dột ướt không ngủ được nên ngồi co ro ở góc ván.

Dưới ánh đèn dầu lờ mờ, Xà Búp nhận ra… ông Sáu tay xách cái mác miệng quát:

“Thằng khốn nạn đâu? Mặt trận không xử mày thì tao xử!”

Xà Búp nhanh trí đưa chân hất văng chong đèn và biến mất. Tổ trưởng dông thì tổ viên thừa cơ cũng rút dù luôn. Chờ cho sóng lặng gió êm, chập sau Ba Mừng bèn tụt xuống và nhắm các các tổ viên của mình ra thay phiên gác. Cái chòi gác thật thảm hại. Nếu không có tàng cây sộp bên trên thì mưa không có chỗ ngồi, nắng không nơi đứng. Một nửa mái đâm vào thân cây sộp, một nửa nhô ra mé sông. Giường ngủ là một tấm ván kéo mạ cũ đặt trên bốn chiếc cọc chân long lay như răng rụng, phải dùng mấy cái rễ lòng thòng buộc chặt để níu lại cho khỏi ngã.

Một thếp dầu cá treo ở mái trước hứng đầy nước mưa, do đó mỗi khi Ba Mừng muốn xét xuồng ghe chỉ dùng hột quẹt máy bật lên, khi cháy khi không, mà hình như trời cũng thương xót đám dân nhảy nên lửa vừa soi sáng thì gió thổi tắt ngay.

Ba Mừng và các tổ viên kẻ ngồi người nằm trên bộ ván lắc lư như đu tiên. Bị sung công bất ngờ đứa nào cũng càu nhàu, bất mãn.

Ba Mừng nói:

“Phen này nó phải bỏ xứ mà đi!”

“Ông Cu-Ếch mà không phạt thằng Xà Búp thì ông Sáu lụi nó!” Một đứa nói.

“Hai chị em nó thiệt xứng chị xứng em! Cả hai đều bán trời không mời thiên lôi!” Tư Lù Đù nói xong cười vang như lên đồng.

“Gì vậy mậy?” Ba Mừng quát.

“Cái bữa anh bắt tôi chèo ghe đưa bà Chín Thược về văn phòng ông Ủy viên Cu-Ếch thiếu chút nữa tôi chết rồi.”

“Cà-nông có thụt đâu mà chết?”

“Đi tới khúc vắng bả năn nỉ tôi đừng đưa bả về văn phòng. Bả kêu bị cảm lạnh, bả biểu tôi ghé ghe lại lùm cây và lấy ra một lố dầu Nhị Thiên Đường biểu tui cạo gió cho bả.”

“Rồi mày có nạ…ạo bả không?”

“Tôi nói tại bà té sông, rồi bò lên trước miễu kiểu đó, nên ông thổ thần ổng bắt tội bà chớ nóng lạnh gì.”

“Rồi bả nói sao?” Ba Mừng hỏi phăng tới.

“Để tui nhớ cái đã?” Tư Lù Đù ngồi thừ ra. Anh ta có tật ngớ. Chợt nhớ chợt quên. Ai chọc cũng không giận, ai chơi gác cũng không so bì. Nghe Ba Mừnghỏi, Tư Lù Đù phát hứng hăng hái kể tiếp:

“Bả nằm trong mui, bả rên hừ hừ. Tôi thấy vậy nên nghĩ bụng chắc tại bả té xuống nước nên bả phát lãnh. Cảm nặng bả dám chết, tôi mắc nhơn mạng, nên tôi ghé ghe lại lùm cây.”

“Ở khúc nào?”

“Chỗ vịnh thằng Xà Búp thường neo xuồng rình đâm cá, ngay đầu cái đường mòn đó” Tư Lù Đù lại tiếp. “Mới ban đầu bả vén áo bả biểu cạo hai bên sống lưng bằng cái nắp cù là lật ngửa.”

“Mày dại quá, muốn cho bả mau hết cảm, mày cạo bằng cái nắp lật úp hiểu chưa?”

“Nói bậy hoài ông! Cạo lật úp rách da người ta sao?” Tư Lù Đù cười. “Tôi cạo lưng xong… lui ra, nhưng bả biểu bắt gió trước cổ. Bả ngồi dậy nắm hai vạt áo xé tẹt ra văng hết nút. Tôi hoảng hồn, bò thụt lùi ra nhưng không kịp, bả chụp tay tôi lôi vô. Mèn ơi, nó trắng như miếng cái dừa nạo vậy!”

Ba Mừng cười ha hả. Người tổ viên kia cũng cười ré lên làm rung rinh cái ván mạ như thuyền nhảy sóng.

“Mấy ông cười tôi không nói nữa.”

“Ừ, thôi không cười, nói tiếp đi! Trắng như cái dừa nạo rồi sao?”

“Tôi giật tay lại và bò tuốt ra ghe. Bả ngoắc theo và nói: Vô đây chị nhờ cạo chỗ này chút xíu nữa là hết cảm. Tôi hỏi: Chỗ nào? Bả bảo: Vô đây chị chỉ cho. Tôi không vô, bả chửi: Đồ ngu! Thanh niên có mắt mà thua thằng cha quáng manh! Tôi run quá, tôi không dám vô. Bả nghiến răng trợn mắt: Mày không nghe lời tao là mày chết. Tao sẽ báo cáo với ông ủy viên quân sự là mày dụ tao.”

Ba Mừng bật cười:

“Bả báo cáo là mày đ… bả hả?

“Nói bậy hoài cha! Bả nói tôi dụ dỗ chớ cái gì mà đ… Chữ dê không phải chữ đê để đâu cha!”

“Ừ, thì mầy không có đê bả mày chỉdê bả thôi! Dê với đê khác có cái gạc!”

“Tôi không sợ. Tôi có dê bả đâu. Nhưng bả trỏ mặt tôi: Tao báo cáo ông Cu-Ếch mày hộ tống cho dân nhảy chạy hàng cấm. Đây kìa, có xuồng tới kìa, tao kêu lại tao mướn họ làm chứng. Mày đang ngồi trên ghe chở đầy hàng cấm đây. Mầy sẽ bị ông Ếch xử tử hình cho coi! Mồ tổ ơi, tôi sợ quá. Tôi không dám cãi bả nữa. Tôi lồm cồm bò vô. Bả lấy ni-lông che hai đầu mui. Tôi run quá chừng, bả biểu gì tôi làm nấy.”

Ba Mừng vổ đùi nói:

“Vậy mà lâu nay mày giấu riệt tao hé!”

“Mắc cở thấy bà ai dám khai. Con nít nó nghe được nó cười thúi đầu.”

“Rồi sao nữa?”

“Thôi đi cha! Tôi quên hết trọi rồi!” Tư Lù Đù đỗ quạu ngang. Nó nằm im hồi lâu rồi buột miệng: “Tôi chạy tét bả luôn!”

Trời mưa rả rít. Ba cây thịt lịm dần.

Chập sau ghe xuồng lại tới. Ba Mừng thức dậy với tiếng gọi của khách đi thành.

“Ghé lại đi!” Ba Mừng bước chân xuống đất, mắt nhắm mắt mở, quát: “Cho xét cái đã!”

“Xét nhơn tay cho bà con nhờ nghe chú Ba!”

Ba Mừng quay lại rỉ tai Tư Lù Đù. Tư Lù Đù tuột xuống vừa đi vừa càu nhàu:

“Hết canh tới gác! Buồn ngủ thấy mẹ đêm nào cũng bắt nằm trạm bỏ vợ bỏ con!” Rồi biến mất sau cây sộp.

“Chở cái giống gì một đống thù lù kia?” Ba Mừng hỏi chiếc xuồng vừa cập bến.

“Dạ, con tôi đau trái trắng, uống thuốc Nam hoài không hết, tôi xin phép mặt trận chở ra thành trị. Chú mần ơn cho đi dùm mau mau.”

Ba Mừng bật hộp quẹt. Ánh lửa vừa soi rõ mặt bệnh nhân thì bị gió thổi tắt.

“Được rồi, đi đi!” Ba Mừng khoát tay.

Mấy xuồng khác trờ tới. Thấy chiếc nào cũng chở rau cải, cau dừa, không có vẻ khả nghi, Ba Mừng cững cho đi luôn. Kế đến là một chiếc ghe mui. Nghe tiếng rên hừ hừ, Ba Mừng biết đó là gia đình của một du kích, bị chính anh ta hớ hênh làm nổ lựu đạn trong nhà, nên cũng cho đi.

Dứt loạt khách, Ba Mừng quay lên định ngã lưng thì một vệt ánh sáng xanh lè từ sau miễu chọc vào. Ba Mừng biết đó là mắt Thòi Lòi. Y như ông ta rình ở sau miễu tự nãy giờ.

“Thằng mắc dịch trật tay làm nổ lựu đạn bị thương cả nhà.” Ông ủy viên đi vào, với chiếc đèn pin trên tay, quơ quơ. “Ông già Sáu làm bậy quá! Thằng Xà Búp đi là mất một tay trị dân nhảy,” rồi quay sang Ba Mừng: “Người nào chở bệnh nhân ra thành chú cũng cho đi luôn nghe! Ở trong vùng mình hễ bị thương thì xé quần áo băng, còn bệnh thì rễ cau, rễ muồng, ba chén sắc còn lại tám phân, nín mũi uống tuốt.” Lã Công Tâm vừa nói vừa móc thuốc quấn đốt hút và tiếp: “Bây giờ gặp đồng bào ra thành để trị bịnh thì cứ việc cho đi. Thuốc của địch trị bịnh bà con mình mạnh trở lại đánh địch, không có trật chánh sách bao vây kinh tế địch đâu, chú đừng sợ!”

“Dạ. Tôi hiểu ý của ông ủy viên!”

“Hồi tối tới giờ có ai chở bịnh qua đây không?”

“Dạ có, tôi cho đi liền, chỉ xét giàn ngoài sơ sơ.”

“Hễ xuống bệnh không cần xét.” Lã Công Tâm xua tay. “Nhân dân ta trải qua hai mùa kháng chiến đã giác ngộ cao hết rồi!” Ông Ủy viên rít thuốc, hòn lửa nhoáng lên trong hai tròn kiếng mát đen như hai con ngươi đỏ rực.

“Dạ!”

Ông Ủy viên quân sự nói xong bèn rút lui bằng ngõ hậu sau miễu. Ba Mừng nói với theo:

“Ông ủy viên ra đường mòn sẽ gặp thằng Lù Đù. Tôi phân công nó đi bắt đám nhảy ngoài đó! Ông đi coi chừng mấy cái bảng tử địa của tôi cắm ở đầu đường.”

“Tự tay tôi bắt còn chưa thấy gì nữa là cái thứ bảng tử địa!” Nói xong ông ủy viên đi luôn.

Ba Mừng nghĩ thầm: Dân nhảy đi bằng đường mòn đêm nay lọt trụm vô lưới ông Cu-Ếch hết ráo. Ha ha! Ba Mừng hơi tiếc đã cho thằng Tư Lù Đù đi chận đường mòn hơi sớm, không kịp chờ lệnh công tác của ông ủy viên. Ba Mừng lên nằm chưa ấm lưng thì có tiếng lanh lảnhvang lên từ lòng rạch như giọng tiên nữ:

“Xà Búp ơi! Cho chị đi… gấp nhé! Bịnh cứu cấp!”

“Ai đó? Cúu cấp cũng phải xét rồi mới được đi!”

“Chú không nhận ra ai sao? Ủa… ủa. Xà Búp đâu mà chú ở đây?”

“Nó bị ông Sáu rượt chạy rồi chị ơi! Ai bịnh cứu cấp vậy chị Chín?”

“Ơ… bà già ông… ông chủ tịch mặt trận.”

“Bịnh gì mà cứu cấp? Sao bữa nay chị đi ghe lớn dữ vậy chị Chín?”

“Không biết bịnh gì mà bả ói mửa chảy re. Ổng đi hội nghị trên huyện không có ai giúp đỡ. Ông Cu-Ếch nhờ tôi chở đi thành dùm… Ờ ờ đi ghe lớn cho khỏi lắc, bả đỡ mệt!”

“Vậy hả? Ông ủy viên ra đây chắc cũng vì vụ đó chớ gì! Ổng chờ mãi không thấy chị tới, nên ổng quay trở về rồi. Chị làm gì mà để ổng chờ lâu dữ vậy?”

“Chú biết mà chú Ba, ba sắp nhỏ tôi mắt yếu, kêu người lối xóm tới khiêng đưa được bả xuống ghe mất ba tiếng đồng hồ. Thôi, cho đi nghen! Để lâu, bịnh nặng thêm khó trị.”

“Khoan đã! Chị ghé lại lấy cái này. Ông Ủy viên dặn tôi hễ chị tới thì đưa cho chị không được đưa cho ai. Chắc là công tác quan trọng lắm!”

“Quan trong mấy cũng không bằng mạng người, thôi để tôi đi cho sớm!”

“Đây là thuốc bả ngậm đỡ trên đường đi kẻo bả chết!” Ba Mừng chìa tay đưa.

“Cái thằng cha Thòi Lòi này kỳ quá! Ở trỏng sao không đưa cho người ta!”

Sự thực thì Ba Mừng thấy một đống thù lù dựa mui ghe. Đầu đội nón lại còn che dù. Bệnh thiên thời thì phải nằm trong mui, đắp mền cho ấm, chứ sao lại ngồi ngoài mưa, nên sinh nghi. Cái hột quẹt trở chứng. Cứ xẹt xẹt lửa mà không lên ngọn. Chín Thược la bài hãi:

“Chú đừng có đốt đèn. Bả sợ ánh sáng lắm. Thôi cho đi đi mà chú Ba.”

“Vậy hả?” Ba Mừng vừa nói vừa với tay lôi mũi xuồng vô bờ và bước xuống.

“Ấy chết, ấy chết!” Chín Thược kêu. “Đừng có bật đèn, khổ quá!”

Ba Mừng bước thêm bước nữa, tay vẫn xẹt xẹt. Lần này thì lửa cháy nhưng gió thổi tắt.

“Để tôi hỏi thăm bà già ông chủ tịch chút. Tôi có cái mền đây, để tôi đắp thêm cho bả.”

Chín Thược hét:

“Chú đừng lại gần, bả đụng thiên thời, lây chết!”

Ba Mừng giựt mình lùi lại nhảy lên bờ bảo người tổ viên:

“Chú chạy kêu ông Ủy viên lại đây. Nói bà già ông chủ tịch đau nặng, hỏi ổng có cho đi thành không? Nếu là dân thường thì tôi thả lỏng, nhưng đây là bà già ông chủ tịch Mặt Trận, rủi tụi lính nó biết, nó giữ lại thì tôi ở tù. Nghe chưa?”

Vừa đến đó thì ông Ủy viên quân sự lù lù từ sau cây Sộp bước vào, tay cầm cái đèn pin nhưng không bấm lên.

“Bà già ông chủ tịch đau nặng hả Mừng?”

“Dạ! May quá, ông Ủy viên còn ở đây!”

“Ừ, bà già đau nặng. Ông chủ tịch đi họp trên huyện. Nhà không có đàn ông. Thôi cho đi làm phước!” Ông ủy viên vung cái đèn pin, nhưng vẫn không rọi lên.

“Ông Ủy viên cho tôi mượn cái đèn. Chị Chín hứa mua cho tôi hoài mà chưa có!”

Chín Thược kêu lên thất thanh.

“Tôi biết tánh bả sợ đèn dữ lắm! Xẹt đèn lên bả chết ngất cho coi!”

Lã Công Tâm quát:

“Vậy thì đi đi! Bịnh cứu cấp để lâu không tiện. Ở đó mà la!”

Ba Mừng đã nhìn thấy mặt bà già ông chủ tịch trong ánh lửa hồi nảy rồi, nên trong lúc hai bên đối thoại với nhau, Ba Mừng ngồi xuống quơ mò sợi dây ở mũi ghe, quấn vào chân váng cả chục vòng.

Chín Thược được lệnh ông Ủy viên bèn quay ghe mạnh, lôi cây trụváng ngã, tấm ván sập xuống trúng chân ông Ủy viên, làm ông ta nhảy dựng lên. Ba Mừng thừa cơ chụp lấy chiếc đèn pin trên tay ông ta rọi xuống:

“Có sao không ông Ủy viên?” Ba Mừng vừa nói vừa đạp giữ cái trụ đang bị ghe lôi đi.

“Tôi cho đi, cứ đi đi! Bà già coi bộ nguy tới nơi rồi !” Lã Công Tâm quát và sụt lùi về phía sau cây sộp.

Chín Thược khuấy mạnh chèo lái nhưng cái cọc váng bị Ba Mừng đạp chắc cứng nên ghe không rời bến được.

“Để tôi đem mền xuống đắp thêm cho bà già chút làm phước!” Vừa nói, Ba Mừng nhảy phốc xuống ghe và bấm đèn lên rọi thẳng vào mặt bà già ông chủ tịch.

Bà ta bị đèn chói phẫy phẫy hai vành tai và ngó trân trân vào Ba Mừng, khóe mắt ươn ướt, có vẻ van lơn. Ba Mừng cười nói với Chín Thược:

“Nếu là bà già của ông Lã thì tôi cho đi, còn bà già ông chủ tịch thì tôi giữ lại!”

“Thôi mà chú Ba! Chú cho tôi lọt chuyến này, tôi giải nghệ luôn.”

“Giải nghệ rồi ai mua bia cho bộ đội liên hoan?”

“Chú cho tôi đi, chú muốn gì được nấy! Tôi hứa thiệ…ệt!”

“Bộ chị muốn tôi bắt gió cho chị như thằng Tư Lù Đù hả?”

Bà già ông chủ tịch nghe hai bên đối đáp bèn trở mình làm chiếc ghe chòng chành. Người ta chu đáo quá! Thấy bà cầm dù không được, người ta trói hai tay bà lại thật chặt rồi ràng vào mui ghe và cắm cán dù vào đấy! Để bà ngồi được vững vàng hơn, người ta buộc cặp giò bà vào sạp xuồng. Rồi sợ mưa ướt đầu bà, ngoài chiếc dù, người ta còn cho bà đội cái nón bù nhọt che kín cả đầu lẫn mặt bà. Và để cho thân thể nòng nọng của bà khỏi trần truồng, người ta khoác cho bà chiếc áo tơi rách bằng lá chằm. Nhưng vì thân bà nặng nề, xương sống bị đun xuống nên bụng bà chè phè, cái áo bé quá không che nỗi, để hai hàng vú phơi ra.

Bà biết thân nên từ lúc ngồi cái bộ này, cái bộ mà xưa nay tổ tiên bà cũng chưa từng – bà không dám la một tiếng. Mõm bà ngậm kín nhưng nước dãi chảy ròng ròng hai bên mép và lệ thảm tuôn ra từ hai khóe mắt. Bà chỉ còn chờ dao thọc huyết, bỗng người ta rọi đèn vào mặt bà có vẻ muốn giải thoát bà, bà mới rên lên một tiến, một tiếng khẽ thôi, nhưng nó làm cho mụ Chín Thược hốt hoảng. Mụ năn nỉ:

“Chú Ba ơi… Chú cho tôi đi lọt chuyến này,được bao nhiêu tôi đưa cho chú hết!”

Bà già ông chủ tịch không chịu nỗi cái ngồi ác hại này nên lại cất tiếng rên. Ba Mừng nhìn kỹ thì ra, cái mõm dài của bà già ông chủ tịch bị nhét giẻ nên bà không kêu to được. Ba Mừng bèn giật cái mùi giẻ… Tiếng kêu như nước ứ trong thùng lâu ngày phọt ra: Eng éc éc éc… ééc…!!

Ông Ủy viên đứng rốn lại sau miễu nghe rõ tiếng kêu, bèn bước vào nhưng không nổi nóng:

“Chị Chín lại phạm luật nữa nghe! Tôi cho chị đi đó, rồi về tử hình sau! Kỳ này thì không tha… Tôi còn đi bắt một vụ khác!” Nói xong biến theo ngõ sau miễu.

Ba Mừng nói với theo:

“Ông Ủy viên đi bắt đám nhảy đường mòn đi. Tôi e thằng Lù Đù làm không xuể đó!” Rồi quay lại Chín Thược dịu giọng:

“Tôi đâu dè chị nhảy cú to vầy chị Chín! Nếu tôi biết, tôi đâu có xét. Rủi cho chị là ông Cu-Ếch có mặt ở đây. Ổng thấy hết rồi. Tôi có muốn xí xóa cũng không được.”

Giọng Chín Thược trở lại tỉnh queo:

“Chú xét các ghe khác đi, rồi tôi nói chuyện.”

Ba Mừng quất đèn cho cả đoàn xuồng ghe nãy giờ bị ứ đọng đi qua rồi quay lại Chín Thược, giọng thương hại. Bao nhiêu nhiệt tình bắt nhảy dù đều tan biến hết:

“Chị làm chi vậy chị Chín, có mấy chục ký heo mà lâm nạn. Kỳ này ổng không có tha chị nữa đâu. Chị quên lần trước chị chết hụt rồi sao?”

“Nhớ chớ! Ông Cu-Ếch hăm tôi mẻ răng mà!”

“Sao chị không ngán mà vẫn nhảy?”

“Ai nhảy thì mệt còn tôi nhảy khỏe quá mà, không nhảy sao được chú Ba!” Chín Thược không tỏ ra sợ sệt chút nào lại còn có vẻ nhờn oai Mặt Trận. Ba Mừng nóng mũi:

“Chị giỡn hoài chị Chín!”

“Tôi mà tử hình thì tôi sẽ khai luôn một duộc cho vui.”

“Ai bày chị cái vụ bà già ông chủ tịch bịnh Thiên Thời vậy?”

“Còn ai nữa! Ai cao tay hơn… Cái đường mòn có cắm bảng tử địa nếu không có du kích dắt thì ai dám lội?” Chín Thược nghênh mặt. “Sao không ởđây mà tử hình?” Thấy mình hơi lố cồn, Chín Thược dịu giọng: “Tôi cũng là người. Chú tưởng tôi mình đồng xương sắt hay sao mà dám làm như vậy. Chú Ba ơi! Chú mắc chứng chí công vô tưnên chú không biết gì hết. Để tôi nói, chú nghe cho rõ đây: Mỗi chuyến heo lọt, tôi đâu có ăn cả được. Ông lớn nhất thì ngoạm cặp đùi sau, ông lớn kế gặm cặp giò trước, ông thì cạp hai bẹ sườn, ông nơ bộ đồ lòng, tôi còn cái bọng không chớ được gì? Bộ đồ xiêm láng hôm trước là của ông Phó chủ tịch gởi mua cho vợ ổng đó chớ. Tôi phải bấm bụng làm xấu, nếu không, họ kiếm cớ dẹp quán. Chồng tôi tật nguyền làm ăn gì được.” Chín Thược nuốt ực. “Còn bộ răng vàng nữa. Lần nào tôi cũng đem về một bộ nhưng họ gỡ hết, lớp đánh bông cho con dâu, lớp làm cà rá cho con gái họ, chú tưởng tôi ham bịt răng vàng, tôi ham nhảy heo lắm hả?!”

“Bộ heo quay sao thiên hạ cạp gặm dữ vậy chị Chín? Hi hí…!”

“Cứ gì phải heo quay! Heo trắng, heo đứng họ cũng cạp. Cứ gì thịt họ mới cạp. Họ cạp tuốt hết cả!”

Nghe dòng họ bị chạm, bà già ông chủ tịch bất mãn, bà dãy dụa, đầu bả lắc lia, làm văng cả dù lẫn nón. Phơi trần đôi má phị, miệng bà táp lia, mắt bà nhắm tít, bà la to đòi được giải phóng.

Bỗng phía sau miễu có tiếng eng éc vang lên, như một lời đồng thanh tương ứng. Ba Mừng quay đèn ngoắc lại. Người đội viên chứng kiến hoạt cảnh nãy giờ bật cười và nhìn theo.

“Ai? Chắc bà già ông Phó chủ tịch cũng đụng thiên thời đó, đồng chí Mừng!”

Trong vệt ánh sáng xanh lè hiện lên một bệnh nhân bốn cẳng không dù, không áo tơi, không nón, nọng xệ tới đất, mõm đeo rọ thật sát. Thằng Tư Lù Đù đã trở lại, mình mẩy đầy bùn đất. Hắn đá một phát vào hông con bệnh và sừng sộ:

“Tôi giao cho ông đó ông Mừng. Còn hai ba con nữa ở ngoài đường mòn, tôi định dắt về đây luôn, nhưng ông Cu-Ếch bảo cứ để cho đi, về ổngsẽ tử hình cả lũ! Một bầy Ếch con Ếch cái dẫn đầu một dọc dân nhảy, nào gà, nào heo, tôi bắt về một concho ông coi! Ối thôi! Có cả thằng Xà Búp hộ tống nữa mà. Nó càn mấy cái bảng tử địa nhẹp xuống bùn hết ráo!” Lù Đù nổi cáu: “Dẹp mẹ nó cái trạm này cho xong!” Rồi bỏ đi.

“Khoan đã, coi nè!” Ba Mừng quay đèn lại mui ghe Chín Thược: “Thấy chưa mày?”

Bà già ông chủ tịch chừng như đã kiệt sức nên gục đầu, cắm cái mõm vào ngực, khe khẽ rên.

“Ông Cu-Ếch mà cũng thế nữa sao trời!” Bất giác Ba Mừng ném cái đèn phin xuống sông, rồi nhảy lên bờ.

“Hề hề, chú không mang kính đen mà chú chẳng thấy gì hết.” Mụ Thược vờ năn nỉ: “Thôi cho bà già ông chủ tịch đi nghe! Về sẽ tử hình sau…au! Chú đừng lo…o!”

Bây giờ…

Trạm gác Xê-Ếch đã dời về Tân Sơn Nhứt thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng. Dễ thường mụ Chín Thượcđã lãnh đến cái án tử hình thứ 20, nhưng càng tử hình, mụ càng hoạt động mạnh. Bây giờ mặt trận đã dẹp vô xó rồi, nhưng chủ tịch thì đông hơn, do đó nhiều bà già ông chủ tịch đụng thiên thời hơn trước. Nhưng mụ Thược không phải vất vả chở bằng ghe chèo. Mụ đi bằng máy bay, tàu lặn. Năm nay mụ đã già lắm, năm mươi hay sáu mươi gì rồi. Nhưng thiệt ngộ, răng mụ không chịu rụng cái nào mà trái lại, nó còn mọc thêm, mọc bừa ra cả ngoài môilàm như mụ có tới hai hàm dưới. Người đời thường nói kẻ nào già mà còn nguyên răng thì kẻ đó ăn thịt con cháu. Mụ Chín có ăn thịt đứa nào đâu! Ngược lại thiên hạ đều nhờ mụ mà có thịt ăn. Riêng cái trạm Xê Ếch ngày nay to phình thế này và bọn thằng Xà Búp, Lã Công Tâm có nhà cao cửa rộng, nếu không nhờ tay mụ thì tay ai?

xuanvu_sign6/89

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: