NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI: Chương II

CHƯƠNG II

ÔNG THẦY HUẾ:

BẠN THƠ TỪ PHƯƠNG XA CỦA TÍA TÔI

Một hôm bỗng có người khách lạ đến nhà tôi, đầu cúp chải, mặc bộ đồ bà ba trắng, áo cổ bâu đứng, vai ngoéo cây dù, vai mang túi quả mướp.

Tía tôi cũng không biết là ai, nhưng vẫn chào niềm nở. Ông khách nói:

– Tôi nghe thầy làm thơ, nên tìm đến xướng họa chơi.

Tía tôi nói:

-Tôi cũng đang tập làm chút đỉnh. Chẳng hay tiên sinh nghe ai nói vậy?

– Tôi không nhớ là ai nói, nhưng có đúng không?

– Tôi rất hân hạnh được tiên sinh hạ cố. Xin mời vào tệ thất !

Sau này tôi mới biết đó là ông thầy đồ ở Quảng Nam thất chí, đi ghe bầu vào đây bán thuốc cao trà đắng. Tía tôi như phùng tri kỷ. Để có nhiều thì giờ ngâm vịnh với nhau, ưa tôi kêu bà con đến mua mỗi người một món, trong giây lát hết tay nải thuốc của ông thầy.

Rồi bảo má tôi làm gà đãi đằng như thượng khách. Tôi không biết hai người xướng họa với nhau những bài thơ nào, nhưng thấy có vẻ tương đắc lắm, lúc cười ngả nghiêng, lúc lặng thinh không nói.

Mãi tới chiều tối, tía tôi mới tiễn ông bạn thơ ra khỏi ngõ, hai bên quyến luyến nhau. ông thầy hẹn năm sau đến mùa gió nồm sẽ lại vào thăm vùng đất Nam kỳ. Nhưng năm sau không thấy ông tới. Vài bữa tía tôi lại ra ngõ ngóng một bữa, và hỏi những người đi chợ về xem có thấy ghe bầu (bằng nan) bán thúng bán rổ ở bến chợ không?

Người quen đáp: “Ghe bầu đậu hai ba chiếc!”

Ghe bầu ở Quảng có vô, nhưng bạn xưa không thấy đến. Thỉnh thoảng tía tôi lại nhắc ông “thầy Huế nói tiếng trọ trẹ”. Và lấy làm tiếc lần ngâm vịnh tương đắc sao mà ngắn ngủi?

Từ đó tôi mới biết tía tôi có làm thơ, và cũng từ đó tôi bắt đầu để ý tới chiếc tủ sách của tía tôi. Đó là chiếc tủ đứng sơn vẹc-ni màu nâu nhạt, có khóa. Chiếc tủ đứng uy nghi ở gian nhà trước, chứa đầy sách. Mỗi lần mở nó ra lấy món gì cần thiết xong, tía tôi đều khóa lại. Xâu chìa khóa có nhiều chiếc, tủ trong buồng thì khóa bằng khóa chữ. Bây giờ tôi vẫn còn nhớ, không hiểu sao tự nhiên nó hiện lên trong đầu tôi: R.-O.-M.-E.-K. Không hiểu đó là nghĩa gì, nhưng má tôi dùng năm chữ đó để khóa tủ. Không biết hai cái ống khóa chữ mất lúc nào? Muốn mở tủ trước khó lắm, nhưng qua nhiều lần “nghiên cứu,,, tôi biết được chiếc chìa dùng để mở nó. Phải chờ cơ hội.

Lúc này tôi đã lên lớp nhì (Préparatoire). Thầy của tôi là ông Trần Văn Lâu. Ông mất lúc tám mươi hai tuổi. Tôi vừa gửi thư về thăm, ông viết mấy chữ: “Thầy phải đi nhà thương ngay, nên không viết cho con nhiều được. Khí về nhà sẽ viết dài…” Nhưng ông đi rồi không về nữa. Đau đớn thay! Đây là vị thầy cuối cùng của tôi qua đời.

Ông cũng là bạn thơ của tía tôi, thỉnh thoảng ông ra nhà tôi để xướng họa với tía tôi. Hai ông ngồi cả ngày để nói chuyện thơ. Tôi luôn luôn túc trực bên trong cửa buồng để được gọi bưng trà châm nước. Do đó tôi nghe được những tiếng lạ tai vui vui, rồi nhớ thuộc lòng hồi nào không biết

(Bình Bình Trắc Trắc Bình Bình Trắc 
(TrắcTrắc Bình Bình Trắc Trắc Bình v.v…

Sau nhiều lần thầy tôi đến chơi, tôi còn nghe lỏm và thuộc lòng được nhiều hơn nữa – những tử vận của thơ Đường như:

ôi- thôi rồi nồi xôi

ô – rô

thằng ăn măng nhăn răng

qua nhà ta

– voi mòi còi thoi roi

– không chồng trông bông lông v.v…

Trong mấy chục năm trở lại đây, tôi rất ít đọc được thơ Đường trên báo chí, càng ít thấy những bài tử vận kể trên. Vì thơ mới lấn át, hay vì luật Đường thi quá gắt gao?

Tía tôi có làm nhiều bài và bắt tôi chép vào tập. Tiếc thay lúc đó tôi chưa hiểu gì, nên chỉ còn nhớ có mấy câu theo tử vận “ôi thôi rồi nồi xôi. “

Điếu Em Rể (của tía tôi)

Jean Lê Văn Báu ôi!
Phận soạn sao vắn dõi thôi?
Năm ngoái Sài gòn còn ngóng đợi
Ngày nay âm cảnh hết mong rồi.
Một năm hương lửa duyên còn bén
….

hoặc là:

Thế gian lắm chuyện não nề, ôi!
Cuốn lưỡi mùa đời nếm chút thôi!

Nhờ chép thơ và nghe thơ mà thời đó tôi đã thuộc mười bài Thập thủ liên huấn của vợ vua Thành Thái. Bây giờ cũng còn nhớ gần đủ. Xin chép một vài đoạn KHUÊ PHỤ THÁN. (Do nhà thơ Thượng Tân Thị ở Huế thác lời vợ vua Thành Thái làm.)

– I –

Chồng hỡi chồng ơi, con hỡi con,
Cùng nhau xa cách mấy năm tròn.
Chân trời góc biển nơi chim cá,
Dãi gió dầm sương tủi nước non.
Mộng điệp vì đâu cơn lẻ tẻ,
(?)
Hồn quê khiến để thiếp chon von.
Ngày qua tháng tại trông đằng đẵng,
Muôn dặm xa xa mắt đã mòn.

– II –

Đã mòn con mắt một phương Âu,
Có thấy chồng đâu, con ở đâu!
Dẫu đặng non xanh cùng biển cả,
Khó ngăn gió thảm với mưa sầu.
Trách ai dắt mối không lừa lọc,
Để thiếp năm canh chịu dãi dầu.
Hỡi đấng cao xanh sao chẳng đoái,
Tấm lòng bứt rứt suốt canh thâu.

Loại tử vận thì tác giả phải dùng năm chữ ở vận bình, không được thay chữ khác. Còn loại tạp thủ liên huờn thì tác giả phải lặp lại mấy chữ cuối của bài trước để bắt đầu bài kế. Và bài thứ mười phải trở lại đúng năm chữ vận bình của bài đầu. Lại một luật lệ gắt gao khác, khó theo. Phải chăng vì thế mà thơ Đường luật thưa dần trên thi đàn?

Từ khi biết đọc truyện, tôi muốn tìm xem trong tủ đựng những sách gì. Một dịp may đến: Tía tôi đi đá gà.Thế là chàng va không bỏ lỡ cơ hội. Thừa lúc má tôi ở ngoài vườn, tôi đi vào buồng lén lấy chùm chìa khóa. Đã có ý định mở tủ từ lâu, nên mỗi lần thấy tía tôi mở tủ, tôi be be lại gần để xem. Nhờ thế tôi dùng đúng chiếc chìa khóa, không phải mò mẫm mất thì giờ lâu lắc. Tôi mở được chiếc tủ, vừa mừng vừa sợ, có lẽ sợ hơn mừng, vì đây là một việc cấm mà tôi cả gan làm. Nên tôi chỉ dám mở một cánh thôi. Chỉ một bên mà đã thấy được bao nhiêu sách. Những cuốn sách rất cũ, nhiều cuốn rách nát, gáy sách xười xể, nhiều tờ sách cuốn mép. Tôi thấy một quyển to và dầy ước bằng ba cuốn truyện, bèn cầm lên coi, thì thấy ngoài bìa nét chữ rất đẹp của tía tôi: Kim Vân Kiều viết theo lối “écriture anglaise” chữ nghiêng. Tôi giở đại vài trang bên trong. Ôi chao, những hình là hình !

Tôi thích quá, ngồi bẹp xuống đất mà coi, quên hắn mình đang là “kẻ trộm”. Hình của Viên ngoại, của Thúy Kiều và Thúy Vân, ở bên dưới mỗi tấm hình đều có đề thơ:

Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.

Hình Từ Hải đầu đội mão có lông công:

Râu hầm hàm én mày ngài,
Vai năm thước rộng thân mười thước cao.

Hình Thúy Kiều ngồi một mình:

Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa.
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biệt là về đâu.

À, thì ra tía thường vẫn ngâm những câu này, tôi nghe luôn (tuy không hiểu gì hết), nên nay đọc thấy là thuộc liền.

Tôi đang mê mải xem hình Từ Hải, Khuyển Ưng, Khuyến Phệ, thì bỗng có tiếng la:

– Chết nghe? Anh dám mở tủ của tía.

Tôi giật mình ngoảnh lại, thì ra con em gái tôi. Tuy bị dọa méc ưa nhưng tôi vẫn không ngán. Tôi để quyển Kiều vào chỗ cũ, rồi moi thêm một lúc nữa. Tuy ngoài mặt làm bộ không ngán nhưng bụng sợ lắm, nên đóng cửa tủ khóa lại rồi đem chìa khóa bỏ vào chỗ cũ, dưới mí chiếu trên giường ngủ trong buồng, thì lại gặp má tôi. Thấy tôi lính quýnh lấm lét bà hỏi:

– Con có để y như trước không? Kẻo mất dấu tía mày biết!

Thấy má tôi không rầy mà còn có ý che chở, thì tôi vững bụng. Từ đó, cứ có dịp là tôi lén mở tủ. Có nhiều lần không đọc gì hết, mà chỉ lấy cuốn này cuốn khác cầm lên để xuống. Ở ngăn ngoài tủ, tôi nhớ có nhiều sách báo lắm: Lục tỉnh Tân văn, Hà Nội báo, Đuốc Tuệ, Đuốc Nhà Nam (trong một tờ này có một cái hình hài hước vẽ một người nằm tréo ngoải hút thuốc phiện, bên dưới có câu chú thích: Rồng Nam phun khói, đánh đổ nghịch tặc!)

Đến bây giờ mỗi lần nhớ lại, tôi hãy còn tức cười.

Bên cạnh những sách quốc ngữ, có nhiều quyển chữ nho, trang sách vừa vàng vừa mỏng, tôi không dám giở ra, vì sợ chữ nghĩa bể hết. Thủa nhỏ tía tôi có học chữ nho . Lúc tôi học trường làng thì ông nội của tía tôi (cụ Cố) còn sanh tiền. Mãi đến lúc lục sách trong tủ này tôi mới biết cụ làm Phó tổng. Trước kia chỉ thấy lâu lâu cụ tới chở tôi bằng xe ngựa vô làng, chớ không biết cụ làm việc gì.

Tôi thấy giấy tờ của cụ do tía tôi giữ còn một số viết bằng chữ nho. Có lẽ vì thế cụ bắt tía tôi học chữ nho để giúp cụ chăng?

Tía tôi rất có hoa tay viết chữ quốc ngữ lẫn chữ nho đẹp nổi tiếng cả vùng. Ông rất coi trọng chữ viết của tôi, “xem chữ biết người” ông nói vậy. Cho nên mỗi tuần ông đều xem vở tôi, đặc biệt hễ bài “écriture” (tập viết) nào dưới tám điểm là ông rầy, hoặc phạt. Có lần tôi bị phạt phải chép 3, 4 trang Kiều, và một lần khác, tôi bị nặng hơn: tìm tất cả những câu “Mười lăm năm”.

Trời ơi! làm sao đọc cho hết mấy trăm trang sách để tìm ra những câu “Mười lăm năm”? Thằng nhỏ cầm quyển Kiều leo lên võng một chốc thì mắt muốn híp lại, nên chi coi hình Từ Hải, Hồ Tôn Hiến, Bạc Hạnh… rồi ngủ khò. Ba tuần hèn không ớm ra một câu “Mười lăm năm” nào hết. Mỗi lần đi đá gà về, ông ngoéo cây dù lên cột là hỏi: “Mày tìm ra chưa? Chưa ra thì mười lăm roi! Muốn cái nào thì muốn?”

Tôi đành chịu nhận roi, nhưng ông không đánh, mà bảo:

– Lật ra trang có câu:

Những từ sen ngó đào tơ,
Mười lăm năm ấy bây giờ là đây.

Tôi lật ra, đúng y. Ông lại bảo tiếp:

– Lật trang có câu:

Từ con lưu lạc quê người,
Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm.

– Trang có câu:

Những là rầy ước mai ao,
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình!

Tới bây giờ tôi vẫn còn nhớ ba câu “Mười lăm năm” của tía tôi phạt.

Còn mấy bài tử vận tôi nhớ được cũng nhiều. Bây giờ, đôi lúc tôi có thử làm nhưng không làm nổi. Vận voi-mòi -còi-thoi- roi thì có bài Hát Bội (không nhớ rõ của Cử Trị hay của Huỳnh Mẫn Đạt) như vầy:

Đứa ghẻ ruồi, đứa lác Voi
Bao nhiêu xiêm áo cũng trơ Mòi
Người trung mặt đỏ đôi tròng bạc,
Đứa nịnh loe hoe mấy sợi Còi
Trên trình có nhà còn lợp lọng
Dưới chân không ngựa lại quơ Roi
Người ta nói hễ bội thi bạc
Bôi mặt đâm nhau cú lại Thoi.

Tôi nhớ lúc này thầy tôi cho bài học thuộc lòng là “Thơ Đầu Trọc” “Cây Vông”.

(Quên ba câu) . . . . . .
Củ khoai sao lại có hai tai
Khi tưởng sọ dừa ôm ấp giữ
Trẻ ngờ trái bưởi hỏi han hoài
Ai rằng không cán Quỳnh xin cuộc
Hút thuốc mà coi, gáo hẳn hòi.

CÂY VÔNG

Uổng công tạo hóa mấy thu đông
Cao lớn làm chi vông hỡi vông
Càng lớn càng già càng lộp xộp
Ruột gan chẳng có, có gai không.
….
(quên)

Tôi chép về cứ lải nhải đọc vang nhà, không hiểu gì cả Nhưng vẫn nhớ! Bây giờ mới thấy hay mà đã thuộc tự bao ngày. Thời kỳ này tôi cũng thường nghe tía tôi nhắc tới các phương danh như: Thầy Bảy Chiêm, Cô Ba Sương Nguyệt Ánh.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: