NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI: Chương III

CHƯƠNG III

TỪ TRẬN ĐÒN NÊN THƠ

ĐẾN KHO TÀNG TRONG NGÔI NHÀ XƯA

Cũng vì thơ Đường mà tôi bị đòn một phen. Số là một hôm tôi lại mở tủ sách. Lần này tôi mở cả hai cánh tủ ra, và mò vô ngăn trong. Tôi run lên như thám tử tìm được “Kho Vàng Sầm Sơn”. Những sách là sách. Một quyển sách rõ to, có cả chữ Tây lẫn chữ Quốc ngữ và chữ Nho (Tự Điển). Một bộ tiểu thuyết Đôi Uyên Ương (Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà), một chồng báo Đuốc Tuệ, một chồng báo Văn Lang của Docteur Hồ Tá Khanh, và những cuốn sách khác không nhớ tên.

Tôi vừa mừng vừa sợ, lật giở lia lịa. Bỗng thấy một quyển in toàn những hàng ngắn giữa lòng trang giấy. Đúng là thơ. Không biết là thơ gì. Thơ gì thì thơ, tìm chỗ trốn, đọc thử xem. Tôi vừa nghĩ vừa kẹp nách quyển sách và khóa tủ lại, đem trả chìa khóa vào chỗ cũ, rồi nhanh nhẹn leo lên bồ lúa – nơi má tôi thường giú chuối xiêm hoặc chôn ổ cơm rượu, ít ai để ý, nay tôi dùng nó như thư lầu để đọc truyện Tây Du.

Không còn chỗ nào khác tốt hơn nên tôi cứ “đằng vân lên đó, nằm trên manh chiếu mà giở tập thơ ra đọc ngấu đọc nghiến, đọc xong đem trả lại chỗ cũ.

Đến chiều, ngồi vào bàn ăn cơm, tía tôi hỏi tôi ngày nay đi đâu mất biệt? Tôi ú ớ cho qua. Tía tôi lại nói vài ba chuyện, rồi hỏi:

– Ngày mai con trả bài gì?

– Dạ, Qua Đèo Ngang.

– Con thuộc chưa?

– Dạ thuộc rồi!

Tôi thuộc thật, nền nghe tía hỏi, tôi liền đọc luôn để khoe:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà..
Nhớ nước …

Tía tôi khen:

– Con giỏi lắm!

Tôi được trớn, nói luôn:

– Con còn thuộc một bài Đèo Ngang nữa, tía à !

– Con giỏi vậy a? Để ăn cơm xong, con đọc cho tía nghe.

Má tôi thấy tôi giỏi nên cũng khuyến khích tôi bằng một cái trứng cá. Tôi không ăn mà bỏ vào chén đứa em tôi và kiêu hãnh đọc liền:

Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa son đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu .
.

Đọc được mấy câu rồi quên. Tôi nhìn sắc mặt tía tôi, thấy ông không có vẻ gì khen tôi như lúc nãy, nên cố moi óc Nhưng vì gấp rút chỉ thuộc có mấy câu (cũng may mà thuộc có mấy câu). Tía tôi ăn cơm xong, buông đũa xuống, ra nhà trước, rồi trở vô hỏi:

– Bữa nay đứa nào mở tủ?

Ở nhà chỉ có đứa em chưa đi học và tôi, thì còn ai? Đích thị chàng va, chớ ai nữa? Má tôi lo âu, nói đỡ cho tôi:

– Nó đi theo trâu ra đồng tối ngày, đâu có ở nhà.

Tía tôi không nói gì, cứ lẳng lặng xách cây chổi lông gà vẫy một cái:

– Thằng đó lên cúi trên ván mau!

Má tôi lại nói đỡ:

– Thì để cho nó ăn cơm rồi đã !

Nhưng tôi còn nuốt sao vô nữa mà ăn. Tôi buông đũa, nước mắt dầm dề, ríu ríu đi lên nhà trên nằm dài trên bộ ván gõ.

Tía tôi gác cây chổi gác ngang đít tôi. Tôi run từng miếng thịt. Tía tôi bảo:

– Sao tía dặn con không được mở tủ, mà con cãi lời tía?

– Hu hu …

– Từ rầy còn mở nữa hết?

Má tôi đứng trong cửa buồng, trả lời giùm tôi:

– Từ rầy con không dám nữa. Nói đi, rồi lạy xin lỗi tía. Mau đi để khỏi bị đòn!

Nhưng tôi cất tiếng không nổi. Tía tôi nhịp nhịp cán chổi trên đít. Tôi khóc ré lên. Tía tôi bảo:

– Cấm biệt, không có mở tủ nữa, nghe không?

Dạ. — Má tôi cũng đáp thay.

– Sách trong đó con không có đọc được, đừng có rớ tới nghe không?

– Dạ ! — Má tôi vừa đáp vừa bước tới lôi tuột tôi xuống ván. (Trận đòn độc nhất trên đời… vì thơ, rất nên thơ!)

Sau này khi lớn lên, tôi mới hiểu ra rằng tôi bị đòn không phải vì dám mở tủ, mà vì đọc những bài thơ ở tuổi tôi không nên đọc. Nhưng tôi không biết đó là “thơ cấm trẻ con”.

Trong gia tộc tôi đến thời bấy giờ vẫn còn giữ cái lề luật: Trai không được đọc Thủy Hử, gái không được đọc Thúy Kiều. Cho nên trong vô số truyện Tàu của ông Cố tôi mua không có bộ Thủy Hử – Mãi đến năm 1986 tôi mới đọc bộ truyện này.

Bây giờ xin trở lại truyện cậu bé đang bị roi cắn đít. Nghe má tôi nói, tôi lồm cồm ngồi dậy xá một xá và chạy theo má tôi. Xuống tới bếp, ngẫm nghĩ sao không biết, tôi lại co giò phóng một hơi lại nhà ông Cố tôi. Ông Cố tôi lúc bấy giờ đã hưu trí, nhà có một chiếc xe ngựa để đi chợ, tàu ngựa ở bên hông nhà. Trên tàu ngựa luôn luôn có một chú khỉ ngồi, hễ trông thấy ai đi qua là nhóp nhép miệng như nói gì. Thỉnh thoảng trẻ con lối xóm kéo tới ném vỏ chuối cho nó bắt. Khi vớ được cái vật không ăn được thì nó trợn mắt và “chửi” trả thù những kẻ lừa nó.

Bị đòn xong, tôi ù té chạy băng qua tàu ngựa rồi vọt vào nhà, nhào vào lòng bà Cố tôi đang ngồi trên ván ăn trầu, òa lên khóc. Bà hỏi chuyện gì? Tôi không đáp mà càng khóc ngất lên. Bà Cố là người oai quyền nhất trong gia tộc. Tôi nghe nói lại rằng: các ông các bà tôi thủa 20-25 đã có vợ có con cũng bị bà bắt cúi đánh bằng roi như thường, nhưng bà lại đặc biệt cưng các cháu chắt. Đứa nào muốn trốn đòn cứ tới đây ăn vạ là được sự che chở của bà. Bất cứ tội nặng đến đâu cũng được “trắng án”.

Tôi cũng khá khôn ngoan, nên đã tới đây tìm “cây dù’. Bà ẵm tôi ra chuồng ngựa để dỗ tôi. Các cô tôi nguýt háy:

– Cặp giò chấm đất rồi còn mắc ẵm!

Bà lấy chuối ném cho khỉ ăn cho tôi coi, tôi vẫn không nín. Bà hứa sẽ cho tôi đi xe ngựa, tôi càng khóc to làm như vừa bị một trận đòn to bằng trận Xích Bích. Bà để tôi đứng xuống đất, kéo quần xuống xem mông đít in mấy lằn roi.

– Nó đánh con ở đâu?

Tôi trỏ khắp người và còn tức tưới khóc tiếp. Kịp lúc đó, má tôi đến, đem quần áo cho tôi thay. Má tôi biết lạch trốn của tôi. Bà Cố bảo:

– Có một thằng con trai mà ngày nào bây cũng đánh. Đem nó về ăn thịt đi!

– Dạ thưa nội, tía nó đâu đã đánh roi nào, chỉ mới hăm thôi!

– Hăm mà đít thằng nhỏ lằn ngang lằn dọc thế này hả?

Thật ra, bà chỉ trông thấy những lằn roi tưởng tượng qua những giọt nước mắt lâm ly của tôi. Thấy được bênh vực tôi cảm thấy như “mối thù’ được rửa xong. Má tôi thay quần áo cho tôi và năn nỉ tôi về.

Bà tôi gạt ngang:

– Để nó ở đây với tao !

Trời đất ơi! Tôi là dũng tướng đang bại trận khôi giáp tả tơi bỗng nhờ viện binh mà chiến thắng, thật là hả hê.

Bà Cố lại ẵm tôi vào nhà. Bà đem bánh và chuối xoài ra dỗ tiếp. Các cô tôi càng lườm nguýt. Nhưng thằng chắt này đâu có ngán ai? Cậu chàng lĩm một hơi hết mấy trái xoài thanh ca của bà nội tôi vừa đem lên cho ông Cố bà Cố tôi ăn cơm xong tráng miệng.

Như vậy là trận đòn thiệt ngọt hơn chè đường.

Tôi nằm trên ván ngủ một giấc tẩy trần.

Lúc mở mắt ra thì nghe tiếng đọc truyện văng vẳng bên tai. Ở đầu ván đằng kia, cách mép giường của Ông chừng một sải tay, chú Năm đang nằm sấp mà đọc truyện dưới ánh sáng thếp đèn dầu mù u.

Chú Năm là con ông Mười. Ông Mười là con trai út của ông Cố và là em ruột của ông nội tôi, chú ruột của tía tôi. Chú Năm học cùng trường nhưng trên tôi hai lớp.

Chú có nhiệm vụ thường trực là đọc truyện cho ông Cố tôi nghe để dỗ giấc ngủ. Dè đâu sau trận đòn lại gặp tri âm. Chú Năm chơi thân với tôi như một người bạn. Chú Vĩnh tuy cùng lớp mà không thân bằng.

Biết tôi vừa qua cơn giông tố, nên khi đọc xong mấy “hồi” truyện, ông Cố đã ngủ say, chú rút lui êm, không nói gì tới tôi.

Vừa bị đòn vỡ lở, tôi xấu hổ, nên làm như không quen với chú .

Tôi hí hí mắt, khi thấy chú ra khỏi cửa thì mở to ra bình thường, nhìn lên nóc nhà. Khoảng nhà chỗ ông Cố bà Cố tôi ngủ thì lợp ngói có vẽ hình chim cò, bông hoa, trông rất vui mắt. Tôi vốn quen từ lâu nhìn những hình đó nhưng nhìn mãi thì cũng chán, nên tôi đảo mắt khấp phòng. Bất ngờ tôi thấy trên chiếc kệ lớn ở ngay trước mắt có những chồng sách cũ. Tôi ngồi dậy định lấy, nhưng chiếc kệ cao, tôi không với tới.

Tôi hỏi Bà, Bà nói:

– Truyện! Con không đọc nổi đâu!

– Con đọc nổi.

– Thiệt hôn?

– Bà đưa con đọc cho coi?

– Con muốn đọc truyện gì?

Tôi chưa biết truyện nào khác ngoài truyện Tây Du, nhưng đáp bướng:

– Truyện nào con đọc cũng được.

Bà hết sức vui mừng. Bà lấy xuống một chồng để trước mặt tôi. Tôi thấy quyển nào cũng có hai chữ “Diễn Nghĩa”. Tôi lắc đầu phụng phịu:

– Truyện “diễn nghĩa” này không hay đâu bà ạ !

– Truyện gì là truyện “diễn nghĩa”?

Tôi đưa tay chỉ, Bà bảo:

– Đâu phải truyện “Diễn Nghĩa” mà là “Phong thần diễn nghĩa, Thuyết Đường diễn nghĩa, Tây Hớn diễn nghĩa . con à ! Đâu con đọc thử bà nghe.

Tôi nào có biết “diễn nghĩa” là gì, và tại sao cuốn nào cũng có hai tiếng “diễn nghĩa” như vậy, nhưng tôi chắc chắn là đọc được. Tôi bèn tự đắc giở truyện ra, trong lúc Bà khêu đèn lên cho tỏ.

Tôi cất tiếng đọc re re luôn nửa trang, không ngó lên.

Bà đến lay ông thức dậy, bảo:

– Thằng Triết nó đọc truyện nè !

Ông nói:

– Tôi nghe nãy giờ rồi.

Chính cái kệ sách ấy là kho tàng văn hóa của tôi, đã mở ra cho bộ óc non nớt của tôi những điều mới lạ, đã cho tôi những nhân vật, những cốt truyện, những chi tiết kỳ diệu, những bố cục đơn sơ hoặc rắc rối, đã mang lại những say mê cho tuổi thơ, tuổi trẻ lẫn tuổi già.

Lúc về hưu, ông Cố tôi đã mua không biết bao nhiêu truyện Tàu, thơ phú, bài ca, mua sắm máy hát. Tôi không thể đọc hết, nghe hết và cũng không thể nào nhớ hết. Tôi xin cố gắng ghi lại đây những tập truyện và thơ:

Tiết Nhơn Quí chinh Đông, Tiết Đinh San chinh Tây, Thuyết Đường, Tam hạ Nam Đường. Tàn Đường, Nam Tông Bắc Tông, Thập nhị Quả phụ chính Tây, Vạn Huê lầu, Ngũ hổ bình Nam, Ngũ hổ bình Tây, Long đồ Công án (Bao công xử án), Tam Quốc, Phong Thần, Phong kiếm Xuân Thu, Đông Châu liệt quốc, Tây Hớn, Nhạc Phi, Chung Vô Diệm, Xuân Thu anh liệt, Anh hùng náo tam môn giai, Tây Du… (Bộ Tây Du mà chú Vĩnh cho tôi mượn không biết có phải xuất xứ từ cái kệ sách này không?), Chàng Nhái, Trần Minh khố chuối, Lục Vân Tiên, Thạch Sanh chém chằng, Lâm Sanh Xuân Nương. Tôi ít đọc thơ, chỉ đọc truyện. Tôi đã đọc hết tất cả các truyện kể trên trước mười tuổi, không truyện nào tôi đọc một lần, nhất là truyện có đánh phép. Chỉ truyện Tây Hớn là tôi đùn cho chú Năm đọc, vì nó không có “hô giáng hô thâu’. Riêng truyện Tam Quốc thì chỉ gậm cầm chừng, chớ không thích lắm, vì nhiều mưu kế quá, tôi không hiểu.

Cái đầu ván bên cạnh giường ông Cố tôi là nơi biểu diễn tài nghệ đọc của học trò trong xóm.

Bất cứ trò nào, bất cứ lúc nào, muốn đọc truyện đều có thể đến đây để đọc. Cứ mười lăm, hai mươi trang, được ông Cố trả cho nửa xu. Cả người nhà cũng được lãnh lương chớ không riêng gì người ngoài.

Tiền công nhật cuốc đất, cấy gặt lúc bấy giờ là một cắc (lúa hai cắc một giạ) thế mà đọc 15-20 trang truyện được trả nửa xu, kể cũng hậu lắm.

Riêng tôi, chủ nhật ít khi vắng mặt trên bộ ván này.

Tôi nhận ra còn nhiều truyện cũng hấp dẫn lắm, như truyện Phong Thằn, Phong Kiếm Xuân Thu, đánh phép ác hệt. Tôi rất mê Tôn Tẩn trong Phong Kiếm Xuân Thu. Ông có ba bửu bối rất ghê gớm, đó là con thanh ngưu, tức là con trâu của ông cỡi. Ông bị Bàng Quyên phản bội chặt chân, nên còn có tên là thằng Cụt. Ở xứ tôi, hồi kháng chiến chống Pháp, có một chiến sĩ Vệ Quốc Đoàn bị thương ở chân phải mang tật, đi đâu anh phải cỡi trâu, nên đồng bào gọi anh là Tôn Tẩn. Một nét rất độc đáo cho một nhân vật.

Bửu bối thứ hai là cây Hạnh huỳnh kỳ. Đây là cây cờ phép biến hóa vô cùng, có thể đỡ được mọi thứ binh khí của ké địch.

Bửu bối thứ ba là Đôi gậy trầm hương. Đây là món binh khí vô cùng lợi hại.

Còn trong Phong Thần thì có các trận do các giáo chủ bên Triệt giáo và Xiển giáo lập nên để giết hại nhau, đánh phép mịt mù thiên địa.

Xiển giáo gồm những vị tiên gốc người tu thành. Giáo chủ của phe này là Nguơn Thỉ Thiên Tôn và Lão tử. Còn Triệt giáo gồm những vị tiên cốt thú tu thành, như rùa, rắn, ba ba, cọp, beo v.v… Người cầm đầu phe này là Thông Thiên Giáo chủ. Xiển giao thì phò nhà Châu để diệt Trụ, còn Triệt giáo lại chống lại mệnh trời bênh Trụ chống Châu. Vì khác chánh kiến nên Triệt giáo lập trận Tru Tiên để giết Xiển giáo. Số lượng tiên bị giết trong cuộc chiến dài dằng dặc này là 365 vị. Bản danh sách này đã được định sẵn, gọi là

“Phong Thần bảng”.

 

Tôi vẫn thường nghe người trong xóm nói:

– Thằng đó thuộc về Triệt giáo (Chơi không vô !)

Ý nói người nào đó không tốt. (Cốt thú)

Ngoài cái thích đọc truyện ra, như các đứa trẻ khác cùng lứa, tôi cũng còn có những trò vui khác, như tắm vũng, đánh trỏng, rập chim. Nằm đọc truyện bên trong, mà bên ngoài đám bạn hú nhau ra xẻo tắm, hoặc rủ đá banh, rập chim thì mắt đâu còn thấy chữ nữa, bụng cứ nhấp nhỏm, chỉ muốn ngồi dậy dông đi.

Do đó bụng ngầm tính kế.

Một bữa trưa, tôi đang đọc tới đoạn “Hỏa đầu quân Tiết Lễ bị Trương Sỹ Quí cướp công cho rể là Hà Tôn Hiến” – thì bên ngoài đám bạn thò tay vô ngoắc lia. Tôi vẫy tay đáp lại rồi … nhìn qua giường tôi thấy ông tôi đã ngủ say với tiếng ngáy đều đều nho nhỏ. Theo lệ thường thì ai đọc bộ nào tới đâu cứ việc làm dấu bằng một lá trầu, hay một mẩu bao nhang để kỳ tới trở lại đọc tiếp, hoặc có ai muốn đọc thì giở ra ngay đó mà đọc. Ông tôi không kén nghe. Bất cứ đoạn nào của bộ nào cũng được, miễn có đọc thì thôi, không cần liên tục, nhưng ông thuộc hết, những tờ truyện như sắp lớp trong bụng ông. Tôi bèn nhẩy sang đoạn “Lý Thế Dân mộng ứng hiền thần” cách nhau chừng hơn hai mươi trang. Như vậy là tôi hoàn thành nhiệm vụ, có thể đi chơi. Nhưng… tôi vừa nhổm dậy là Ông “ư”‘ một tiếng khẽ.

Chú Năm tôi vẫn dặn tôi chớ có nhảy trang ông biết, nhưng tôi không nghĩ rằng đang ngủ say mà Ông lại nghe. Nào ngờ đâu Ông vẫn nghe trong lúc ngủ. Nghe Ông “ư” tôi bèn lật ngược lại đọc đoạn vừa nhảẩy Vài lần sau tôi lại nhảy, nhưng lần nào cũng bị “ư nên tôi không dám “nhảy” nữa.

Chủ nhật nào tôi cũng lãnh lương được ít nhất là một xu. Trời ơi! học trò trường làng thời đó mà ăn hàng một xu mỗi bữa sáng là oai lắm…

Má tôi chỉ cho tôi mỗi ngày hai xu hoặc một xu rưỡi chớ không hơn. (Vừa rồi anh Phạm Thăng có gửi tặng má tôi đúng một xu rưỡi, và viết: “Con tặng má số tiền này để má nhớ lại thời nhà văn… con của má đi học trường làng.”)

Có tôi thế chân, chú Năm tôi được rảnh cả ngày chủ nhật Chú đi lượm dừa rụng để bán lấy xu, rồi tối lại đọc truyện để lãnh lương thêm.

Vào trường, chúng tôi hùn vốn lại mua đạn bắn cu-li, ăn thêm. Có khi vốn liếng đến năm xu, nhưng cũng có lúc xui xẻo thua phộc túi, phải mượn tiền của chú Vĩnh.

Chú Vĩnh hồi này đi coi hát bộn. Hễ có gánh hát tới thì chú đi xem, không những một đêm, mà xem luôn mãi đến lúc ghe hát nhổ sào mới thôi.

Chú học trung bình, nhưng không bao giờ vắng mặt, và có tật đi sớm. Cả trường ai cũng phải nhận rằng không ai đi sớm hơn Vĩnh.

Vào đến cổng là đã thấy Vĩnh ngồi chong ngóc ở hàng ba rồi.

Đêm nào coi hát, sáng lại chú phải tìm tôi để “tâm sự” về đêm hát hôm qua. Chú Năm cũng đọc truyện, nhưng vào đến sân trường là tìm bồ bắn cu-li trước khi vào lớp Bởi vậy, chú Vĩnh thường tìm tôi.

– Tối hôm qua Bạch Viên bay đứt dây.

– Bạch Viên nào?

– Bạch Viên đi rước Vương Thiền xuống cứu Tôn Tẩn.

– Rồi sao đứt dây?

– Ai biết đâu nè !

– Rồi có bay lại không?

– Té coi bộ nặng nên Bạch Viên không ra hát nữa!

– Rồi ai thay?

– Y chỉ có ra một màn đó thôi! – Vĩnh tiếp – Để chiều mình đi học về ghé lại bến xem dưới ghe hát có y ở dưới không? Báo hại còn một giò thì khốn!

Cứ mỗi lần Vĩnh xem hát là tôi lại được nghe một chuyện vui. Một lần Vĩnh bảo:

– Bữa nay Trương Phi rớt râu? Thằng chả đang nổi giận đùng đùng, quơ xà mâu lên hét ầm ầm và đưa tay vuốt râu, bỗng hàm râu rụng xuống sạp.

-Ủa, sao kỳ vậy?

– Râu giả đeo vô, chớ phải râu thiệt sao mậy! Bữa trưa nào rảnh, tao dẫn mày lén vô phía trong rạp coi râu mão thì mày biết.

Một buổi trưa, ăn cơm căng-tin xong, hai chú cháu lên nhà lồng chợ, lén chui vô phía sau sân khấu. Tôi lóa mắt, một sào treo những mão là mão, trên mão dưới râu. Nào mão vua, mão thừa tướng, mão Vưu Hồn Bí Trọng, mão Hoàng Phi Hổ, rồi đến mão của Lưu Bị. Tôi hỏi:

– Mão Quan Công đâu?

– Quan Công không đội mão, chỉ bịt khăn mày quên rồi à?

Còn râu? Râu ba chòm, 5 chòm, râu Trương Phi, râu Bàng Hồng, Tôn Tú… Râu ngắn, râu dài. Râu bạc như râu Tỷ Can. Râu chết nhát như râu Tần Cối.

Còn sào bên ha là áo bào. Trông mà mê. Áo thêu kim tuyến, áo long bào, áo võ tướng văn quan, áo của quân sư quạt mo. Rồi những gươm dáo giắt đầy giá, bỏ loạn xị dưới đất nào gươm Lục yểm, nào hồ lô của Tiên cô Xiển giáo.

– Mày đi coi ban đêm kia mới hay. Đây là con cóc Thiềm thừ của Dư Hồng Dư Triệu cỡi, đây là con hạc của Bích Vân Tiên cô v.v…–chú Vĩnh ỷ có đi coi hát nên nói ron rót cho tôi nghe, tỏ vẻ món nào cũng rành.

– Mày coi kìa, đấy là cái đầu của Thân Công Báo lúc y cất ra đưa cho con hạc gắp lấy bay đi.

Đó là vốn sống của tôi sau này. Tôi không có thu thập không cố sao chép gì cả, cũng không cả chú ý nhớ những gì, không cần nhớ những gì. Nhưng khi viết thì . những gì cần thiết tự nhiên sẽ đến. Có những nhân vật mình không định có trong truyện, nhưng bỗng nhiên vào tới một đoạn nào đó, nó lại “đầu quân” với mình. Tức thì mình nhận nó, đặt tên nó rồi cho nó vào đội ngũ. Về sau nó lại trở thành người quan trọng trong đám nhân vật của mình. Có khi mình lại thích hơn cả những nhân vật mình sửa soạn trước.

Chuyện tướng đã quên lại sống dậy, còn chuyện nóng hổi lại quên, lại nguội đi. Người viết nào mà không những chuyện tưởng chừng vặt vãnh đó, những cái mà Leon Tolstoi gọi là “Chi tiết nhỏ làm nên tiểu thuyết lớn (Petit détail fait grand roman) .

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: