NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI: Chương IV

CHƯƠNG IV

RỬA CHÂN CHO SẠCH NƯỚC PHÈN

Tôi rời trường làng để lên trường quận với bao nhiêu là luyến tiếc. Những buổi đọc truyện, những ngày hớt cá lia thia, những đêm tát đìa hay canh cá nhảy hầm… Tất cá đều lùi lại phía sau. Cậu bé mười tuổi bắt đầu biết sự phồn hoa đô hội và nhiều ánh sáng, đông người, nhiều xe cộ bụi bậm hơn.

Tôi ăn cơm trọ nhà một người bạn của tía tôi là ông Ba Đạt. Ông Ba chỉ nhận nuôi con cháu của những người quen lớn. Ông rất nghiêm khắc nhưng lại có lối nói hài hước. Thí dụ, ông đi ngang gánh hát Sơn Đông mãi võ bán thuốc rượu trị đau lưng, thì về nhà ông nói: “Tưởng thuốc gì, ai dè thuốc rượu con bìm bịp. Uống thuốc đó vô chưa hết đau lưng, nhưng đã mắc bịnh nói láo”. Hoặc thấy họ mị thuật ra tiền, ông bảo: “Sao không thuật ra xài để đi hát mệt vậy?”

Một hôm có người thanh niên tên Vân đến nhà và kêu ông bằng bác. Không biết có phải đó là Ba Vân quái kiệt sau này hay không? Anh đi theo gánh hát xuống diễn tuồng ở đây và vào thăm ông. Ông hỏi:

– Tao nghe nói mày làm hề hay lắm, có không?

– Dạ, đâu có bác. Cháu chỉ biết chọc cười!

– Nếu mày chọc tao cười thì tao mới đi coi, còn không thì thôi.

Ba Vân bảo:

– Bác nhìn cháu nè!

Ba Vân tự nhiên vuốt tóc, làm lé, gương mặt bỗng nhiên đổi khác hoàn toàn. Nhưng chưa hết, anh làm luôn thằng cùi đi ăn mày, nói lảm nhảm và đưa tay xin tiền.

Cả nhà cười rần rần. Bà Ba nói:

– Bác trai sẽ đi và bác cũng đi coi cháu hát đêm nay.

Ông Ba lại hỏi:

– Đêm nào mày cũng làm có bấy nhiêu sao?

Ba Vân bỗng trả lời bằng tiếng Bắc tiếng Trung và tiếng Nam một hơi dài không nghỉ. Cả nhà lại ôm bụng cười một phen nghiêng ngả. Bà Ba nói:

– Cái thằng nói tiếng “trọ trẹ” giống mấy con mẹ bán vải ngoài chợ ghê !

Nhà lồng chợ quận Mỏ Cày đời ông quận Phước lợp bằng những tấm xi-măng đúc rất nặng chớ không lợp ngói như các nhà lồng khác. Người ta đồn nó sẽ sập, nhưng nó vẫn đứng hoài. Tới sau này tôi lên tỉnh học, đi về qua vẫn thấy nó còn nguyên đó, tuy có nứt và một ít rêu xanh phủ lên.

Ở quận lỵ có một nhóm anh chị bự đứng bến xe thường xuất hiện buổi sáng để giật khách cho chủ, không phe nào dám đương cự. Chủ hãng xe có tới bảy chiếc, thân thế rất lớn. Để được vững vàng làm ăn, ông chủ nắm ngay thời cơ, lúc ông quận vừa mới đáo nhậm, ông ta bèn bưng một mâm lễ vật tới ra mắt, và khúm núm bẩm:

– Xin quan lớn nhỏ “Phúc” cho con nhờ.

Ông quận bèn cười:

– “Phước” thì cứ nói “Phước” chớ “Phúc” gì – Và không nhận lễ vật.

Một buổi sáng tôi đi học ngang bến xe, thấy ông quận đang quát tháo mấy người lính hầu cận:

– Tụi bây lấy cái cưa mập ra đây, tao cưa mấy cái đầu xe này! Tao đã rắc vôi bảo đậu cho ngay hàng mà nó cứ đậu so le.

Ông quận Phước người mảnh khảnh, nhưng rất oai quyền. Thời ông ngồi tại đây, những anh chị bự như thòi lòi rút trong hang không dám ló ra. Nhà lồng chợ là nơi quen thuộc của chúng tôi cả đêm lẫn ngày. Ngày nào mà không đi qua đó vài ba lượt?

Uống nước đá trưa, ăn cháo sáng đều phải ghé đây. Những buổi không còn đồng xu dính túi, đi học bụng đói meo như Michelet tự truyện (nhà văn, tiến sĩ người Pháp, nhà nghèo lúc còn đi học), cũng cứ ngửng mặt hiên ngang “/e nez dans l’azur” (mũi hình lên trời) như thường. Buổi trưa đi học sớm 15-20 phút, tôi có hai chỗ dừng chân, đó là sạp Bazar của thầy Ba răng vàng. Thầy Ba bịt cả hai hàm răng không chừa một cái nào trắng. Sạp hàng của thầy thường có hát máy để thu hút khách hàng.

Thời học trường làng, thì tôi nghe cái máy ở nhà ông Cố tôi Đó là cái máy nặng, muốn dời chỗ, tôi và chú tôi phải khá vất vả. Nó có cái bàn cả cái ống tà-la, món nào cũng nặng 15-20 kí lô chớ không ít.

Hát riết không còn kim mới phải mài kim cũ vào khu tô Còn đĩa nhựa thì bể sứt, hát cà lăm cà lặp, nhưng cũng biết được giọng nào của cô Năm Cần Thơ, cô Ba Bến Tre, giọng nào của cô Tư Sạn, cô Bảy Phùng Há .

Những món đồ xưa như vậy, dần dần tôi quên đi, không nhớ nó bị vứt vào xó xỉnh nào, nói chi ghi ơn nó đã mở mang trí tuệ, bắc cầu cho mình đi lên.

Bây giờ học trường quận, tôi được thấy chiếc máy nhỏ xíu xách tay gọn gàng ở Bazar của thầy Ba, gọi là máy Columbia. Thầy quây dây thiều nhẹ nhàng, máy hát tiếng thanh thao suông chảy, chớ đâu có nghe lọc cọc như cái máy xưa ở nhà. Tôi mê mải nghe, nào là Hoa Rơi Cửa Phật, nào là Quan Công Phục Hoa Dung Đạo, Tào Tháo Kể Công.

Tuồng thì nghe lâm ly muốn khóc, tuồng lại ôm bụng cười nôn.

Thầy Ba chơi điệu, không sợ tốn kim mòn đĩa, trưa nào cũng hát suốt, mà hát đúng bộ chớ không nhảy cóc. Cho nên, hễ nghe máy hát là người ta bu đến. Chị bán tàu hủ, lão chệt già đẩy xe bán bánh mì, đám học trò chúng tôi và những chủ sạp bên cạnh là thính giả thường trực

San Hậu Thành ôi, sao mà bi đát? Hoàng hậu giết vua cho anh em nhà mình soán ngôi. Phụng Nghi Đình sao mà hài hước ! Cha cướp vợ của con, để con uất ức phải giết cha lấy lại vợ.

Thầy Ba vừa điều khiển máy vừa thuyết minh. Chúng tôi mê mẩn nghe cả máy lẫn người, đến lúc trống trường giục lần cuối, mới đâm đầu chạy, vở sách văng tung tóe trên đường. Đó là trung tâm văn hóa thứ nhất.

Còn một trung tâm văn hóa khác cũng hấp dẫn trí óc trẻ thơ không kém những đĩa hát của thầy Ba. Đó là tiệm thuốc Tây của dược sĩ Ngô Quang Thọ, còn gọi là tiệm thầy Thọ. Ông có ba con trai và một người con gái. Con trai lớn học cùng lớp với chú tôi ở Mỹ Tho. Con trai kế học trường quận trên tôi hai lớp, còn con trai út học cùng lớp với tôi. Sau này trở thành tướng lãnh rất có uy tín trong QLVNCH.

Tiệm thuốc Tây có hai tầng, tầng lầu làm tư thất, tầng trệt dùng làm hiệu thuốc. Ở mặt tiền có hai tủ kiếng lớn. Và đó là “trường đại học của tôi.” Anatole France bảo hàng ngày đi học, ông thường dán mũi vào tủ kính của các hiệu sách cũ kỹ, kiếng bám đầy bụi bậm, hoặc đứng lại xem những bà cụ chiên những trái “charognes” trong chảo mà thèm. Ông nói: “Kiến thức tuổi thơ của tôi bắt đầu từ những việc nhỏ nhặt này”. (Anatole France khi về già mới viết truyện ngắn nổi tiếng “Buổi Tựu Trường. “)

Gorki kể lại những ngày trẻ thơ đi làm mướn đến mười bảy nghề. Sống với bà dì khắc nghiệt, hoặc phải vất vả đọc sách bằng ánh sáng trăng phản chiếu từ đáy chiếc xoong nhôm. Ông gọi tất cá những việc đó là “My universities” (Những trường đại học của tôi).

Tôi may mắn hơn Michelet, A. France và Gorki nhiều. Tôi không phải đi ở mướn, cũng không mấy khi nhịn đói đi học, không phải thèm quà bánh. Tôi chỉ trễ lớp đôi khi vì la cà ở chợ hoặc để nghe máy hát, hoặc dán mũi vào tủ kiếng của hiệu thuốc Tây. Ở trong đó biết bao nhiêu là sách. Ôi, những sách là sách bày ra bán. Cả một trời sách.

Bước Đường Cùng của Nguyễn Công Hoan, Rắn Báo Oán của Lan Khai, Tiếng Hát Giữa Rừng Khuya của Tchya, Bánh Xe Khứ Quốc của Phan Trần Chúc, Phan Đình Phùng của Đào Trinh Nhất (quyển này tôi thấy có trong tủ sách của tía tôi). Người Ngựa, Ngựa Người, Kẻ Đến Sau của Lê Văn Trương, Tôi Kéo Xe của Tam Lang, Nắng Đào của Nguyễn Xuân Huy… Hai Thử Khôn sách Hồng của Thế Lữ, sách của Thạch Lam, Đoạn Tuyệt Bướm Trắng của Nhất Linh….

Đó là những dòng chữ in trên giấy và in cả vào đầu tôi.

Chưa bao giờ tôi được nhìn thấy sách nhiều đến thế, chưa bao giờ tôi được đọc những tên sách kỳ ảo đến thế. Ngoài ra còn những sách phân loại classique (cổ điển) và loại truyện trẻ con như Contes de Perrault.

Thằng bạn tôi là chủ của những sách đó, thế mới kỳ lạ Và nó lại cũng cho tôi mượn đọc, thế mới càng kỳ lạ hơn. Nó không dặn tôi phải giữ kỹ như chú Vĩnh cho tôi mượn truyện Tây Du.

Khi tôi đọc xong một quyển thì đưa trả cho nó. Đi học về nó lên lầu, tôi đứng chờ bên dưới, nó ném quyển khác cho tôi chụp.

Ngược lại, khi đá banh thì nó giữ “gôn”, tôi đá cho nó chụp. Có lần gặp phạt “penalty”, tôi đá bay mắt kiếng của nó (nó mang kiếng cận rất sớm). Vậy mà nó không giận, vẫn cho tôi mượn sách như thường.

Trong ba năm học trường quận, tôi đọc hầu hết sách trong tủ kiếng của hiệu thuốc Tây nhờ thằng bạn hào hiệp của tôi. Xin cảm ơn nó.

Mặc dù trong cặp không mấy khi vắng sách, tôi vẫn không lơ đọc truyện Tàu. Thằng Vinh, bạn cùng làng, lên đây học, ở trọ cùng nhà là một con sâu truyện Tàu. Mỗi lần về nhà trở lên, nó đều mang theo vài quyển Phong Thần. Bộ này thì tôi gặm mòn hết cả rồi, nhưng hồi trước đọc mà không nhớ mấy, bây giờ đọc lại thấy như mới. Đêm nào học bài xong, nó cũng đem Phong Thần ra gạo. Mấy đứa không thích, nhờ đi coi hát và nhờ nó “tuyên truyền”, riết rồi cũng mê theo hai đứa tôi.

Lại được một lợi thế là bà Ba, chủ nhà cũng ghiền truyện. Bà bao dầu dừa cho tụi tôi đọc. Ngày thường thì học bài sớm, đọc tới chín giờ thì tắt đèn ngủ, tối thứ bẩy đọc thả cửa, châm dầu hai ba lượt. Gặp đoạn hay, nhướng mắt không lên cũng ráng. Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu Thành, hoặc Đào Tam Xuân xử tội lăng trì Hàn Tố Mai, thì bỏ sao đành? Tru Tiên Trận thì càng không thể bỏ!

Đọc hết bộ Phong Thần, thì thằng Vinh lục lọi đi mượn, hoặc vác Phong Thần đi đổi lấy Mạnh Lệ Quân. (Hồi đó không có những nơi cho thuê truyện). Phong Thần đổi lấy truyện nào cũng được cả, vì nó có đánh phép rất hấp dẫn, ai cũng thích.

Lên trường quận tôi vẫn đọc truyện, nhưng hơn dưới nhà một bậc, là diễn tuồng luôn. Ông Ba có một ngôi nhà bỏ trống ở gần bờ sông, chúng tôi kéo ra đó chia vai. Đứa làm Tôn Tẩn, đứa đóng vai Hải Triều, chuốc kiếm tre leo lên ván đánh nhau ầm ầm. Cũng có Tru Tiên kiếm, hồ lô hô thâu hô giáng như gánh hát thiệt. Nhưng bửu bối làm bằng các-tông dán giấy bóng gói kẹo, đốt đèn cầy. Có khi đang đấu phép, đèn phát lên cháy rụi bửu bối hết trơn, tiên ông tiên bà sợ phỏng nhảy bò càn.

Những hôm gánh hát đến diễn ngoài nhà lồng, thế nào bọn tôi cũng có mặt ngoài chợ, không coi hát cũng đi. Trống đánh rập rình, kèn Tây rao bảng thổi phòm phòm, đít như mọc gai, ngồi học bài sao thuộc! Nhưng ông Ba gắt gao lắm, đứa nào muốn đi, phải học thuộc bài rồi ông mới cho đi. Chưa thuộc cũng thưa rằng thuộc, sáng hôm sau thức dậy, ôm cặp đến trường, vừa đi vừa nhẩm bài.

Tôi có coi những gánh hát sau đây: Gánh Đồng Thịnh, gánh Kim Thành, gánh Kim Thoa, Gánh Tố Như, gánh Đồng ấu Hòa Bình, gánh hát xiếc Hưng Long… Không hiểu sao không có các gánh Tân Thinh Bầu Bòn tới đây?

Gánh Kim Thành diễn tuồng Quan Công hiển thánh. Lúc ông xuất hiện thì rạp hát lặng trang, khi ông vô hậu trường, khán giả rộ lên nói: “Giống quá, giống quá !” Nhưng cũng có nhiều người không thích hát bội, vì nó không có ca muồi, mà chỉ dùng điệu bộ nhiều hơn, nên bỏ ra về, lại còn cằn nhằn: “Không làm gì hết, cứ ư ử,ư ử và vuốt râu!”

Nhưng gánh này quần áo râu mão thật đẹp.

Gánh Đồng ấu Hòa Bình đào kép toàn thiếu niên. Có anh kép thiếu nhi làm hề, tên là hề Paul Sĩ. Gánh này lại diễn tuồng Tây chớ không diễn tuồng Tầu, mà lại tuồng cổ điển của Pháp là Le Cid của Comeille dịch ra tiếng Việt Nam. Tôi xem nhưng không nhớ gì hết. Mãi về sau lên trường trên mới học vở kịch này. Đặc biệt hơn nữa gánh hát có một màn nhạc Cải cách trình bầy bản “C’est à Capri.”

C’est à Capri que je l’ai rencontrée
…Au milieu du jardin de Capri.

Người sô-lô bài này là một cô gái độ 15,16 tuổi mặc đồ ngắn phơi trần hai tay và cặp chân trắng muốt. Cô che dù đầm, vừa hát vừa múa. Đến nửa bài thì phực đèn màu hồng, nên cô nàng càng đẹp chằng khác gì tiên nữ, làm khán giả xuýt xoa chắc lưỡi hồi lâu.

Khí dứt bản hát, khán giả vỗ tay muốn sập rạp và kêu “bis, bis” rùm trời. Sáng hôm sau, bọn tôi có ý tìm xem mặt cô đào non này nhưng không gặp. Gánh Kim Thoa không nhớ diễn tuồng gì, gánh Tố Như cũng vậy, nhưng tôi vẫn nhớ hàm răng trắng như tuyết và cái miệng đẹp của đào Tố Như. Có lẽ đây là cô đào đẹp nhất tôi được xem ở chợ quận này.

Tôi quên kể tới gánh Nhạn Trắng của Lê Thành Các. Tôi cũng có thấy chiếc xe đua của ông ta nữa. Nó nhẹ lắm. Tay đua số 1 của quận thử đưa hai ngón tay nhấc nó bổng lên cho bà con coi. Tôi không nhớ Lê Thành Các đóng tuồng gì, chỉ nhớ là tuồng có đấu “boa nha” (poignard). Hồi này tôi đã trên mười tuổi và quen xem hát, rành các vụ rao bảng, xem vẽ quảng cáo. Bây giờ lại thích mò mẫm vào sau sân khấu để xem những gì khác cơ. Đó là tính tò mò của trẻ con, chớ không có ý gì.

Như trong tuồng Tiết Đinh San cầu Phàn Huê, cô đào đóng Phàn Lê Huê thật đẹp, lại thêm gò má bên trái có lúm đồng tiền, lúc xuất hiện ở Soái đường thật oai phong lẫm liệt. Khán giả phải ồ lên một tiếng, tỏ vẻ tán thưởng.

Một bữa tôi tìm gặp cô (Nhờ cái lúm đồng tiền nên không lầm người khác), thì mới té ngửa ra. “Cô” đang ngồi ăn cơm sau rạp hát với ba đứa con nhỏ và ông chồng. Chồng cô chẳng ai khác, đó chính là Tiết Đinh San!

Bụng tôi buồn tênh, rồi lại tự hỏi: Sao họ ra tuồng đẹp vậy? Cũng chính cặp vợ chồng này đêm sau đóng tuồng Thần nữ dâng ngũ linh kỳ chuộc tội Tiết Ứng Luông. Vợ đóng vai Thần nữ, chồng thủ vai Tiết Ứng Luông. Một cô đào khác thay vai Phàn Lê Huê, một anh kép khác thay vai Tiết Đinh San, vì hai vai này trở thành thứ yếu.

Thần nữ với cái lúm đồng tiền vẫn xinh đẹp vô cùng, tướng đâu là gái son. Ở tại nhà lồng chợ quận này, tôi còn được xem hát bóng tưồng Tam Tạng thỉnh kinh nhưng không giống trong truyện. Tuy vậy vẫn thích lắm, vì Tôn Hành Giả bay trên mây thật xem thích hơn là bay trên sân khấu cải lương. Thời đó chỉ có hát bóng câm (cinéma muet). Mãi về sau lên tỉnh tôi mới được coi hát bóng nói (cinéma parlant). Tôi cứ tự hỏi mãi không biết tại sao họ làm Tôn Hành Giả bay trên mây y như thật được?

Cũng như họ làm sao cho Tôn Hành Giả bay trên sân khấu? Cái mục “tiên bay” và “mị thuật” lôi cuốn khán giả nhất. (Bây giờ ta xem video thấy tiên hoá phép thiên hôn địa ám, hoặc đánh nhau trên mây thì rất là thường, nhưng hồi thời đó, “tiên bay” và “mị thuật” ít gánh hát làm được, nó nguy hiểm chết người, chớ không phải dễ dàng!)

Các tuồng tích tôi đều thuộc cả rồi, nên không xem nữa, mà tôi lại len vào sau sân khấu. Tôi mới tìm ra những bí mật nhà nghề của một vài gánh hát. Thí dụ như:

Thông Thiên Giáo chủ sắp xuất hiện hoặc Qui Linh Thánh mẫu đấu phép với Quảng Thành Tử thì phải có sấm chớp, trời gầm trợ oai. Sấm chớp thì làm cách nào tôi không rõ, nhưng còn trời gầm thì rất dễ; bên trong sân khấu có treo một tấm thiếc Cao Bằng (như tấm “tôn” lợp nhà, nhưng không có gợn sóng) dài chừng ba thước. Khi cần “trời gầm” thì một người nắm đuôi tấm thiếc mà rung, thì ra tiếng “rùng rùng” giống y như trời gầm. Muốn tiếng gầm lớn thì rung mạnh, muốn gầm nhỏ thì rung nhẹ .

Còn tiên bay rất nguy hiểm.

Lúc đánh trận xong, tiên sắp thăng thiên thì lùi lại gần bên cánh gà. Tiên bay phải đeo một sợi dây nịt da thật chắc (như dây an toàn) ở sau lưng có một khoen sắt. Khi tiên sắp bay thì đèn phải mờ mờ. Một người sau cánh gà móc sợi dây vào khoen sắt kia. Sợi dây được luồn qua chiếc rõ-rẽ gắn ở trên nóc nhà lồng. Đầu dây buộc vào một bao cát nặng bằng ba lần vị tiên. Bao cát này đặt trước trên kèo nhà lồng. Khi tiên sắp bay thì một người trèo lên kèo ngồi sẵn đó, khi tiên giậm chân và la:

“Hô, bay!” thì người này xô bao cát xuống. Bao cát rơi, rút vị tiên lên nóc nhà, đồng thời màn cũng hạ nhanh. Thường thường “tiên bay” được dùng làm “cú ri-đô” luôn. Một là nó hấp dẫn, hai là nếu có xảy ra việc gì không ăn khớp hoặc là đứt dây, tiên té nhào, hoặc là anh chàng có nhiệm vụ móc quên móc, nên tiên giậm chân hô bay, bao cát rơi xuống rồi mà tiên lại không bay, – tất cả những chuyện đó, đều được che kín sau tấm màn.

Ở bên ngoài khán giả ngồi nhóc mõ cá kèo xem, bay hay không bay cũng vui lòng vỗ tay, chớ đâu có biết bộ máy không ăn ý ở bên trong. Cũng có khi tiên bay bị đứt dây, lại cũng có khi anh chàng có trách nhiệm xô bao cát lại không leo lên nóc nhà lồng làm nhiệm vụ.

Một vụ tiên bay không phải là dễ. Khán giả đâu có thương giùm cho các vị tiên bay? Đó là mới nói về vụ tiên bay một thân một mình từ góc sân khấu này bay đánh rẹt qua góc sân khấu kia. Còn những vụ khác như Tôn Tẩn bay với con Thanh ngưu, Qui Linh Thánh mẫu bay với con hạc, thì phải rắc rối hơn, nhưng cũng không khó bằng tiên vừa bay vừa đánh nhau trên trời, hai vị bay chớ không phải một.

Trường hợp này, hai đường dây rút phải chéo nhau, hai bao cát toòng teng nửa chừng, chờ tiên đánh xong mới cho rớt luôn xuống đất, thì tiên mới bay tuất lên nóc lồng rồi trèo xuống sau.

Đấy là mấy nét đơn sơ về vụ bay, cậu bé học trò lén nhìn vào sau sân khấu mà biết được. Còn đây là “hô giáng, hô thâu’:

Phàm đánh nhau thì tiên đều có sẵn bửu bối, hễ chỉ tay lên trời “hô giáng” là bửu bối xuất hiện. Địch thủ thường ném “hồ lô” hoặc bửu bối khác lên để hạ bửu bối kia, hoặc phá nó đi. Những lúc này thì sân khấu phải tắt đèn tối um, như vậy mới thấy bửu bối hiện ra trông có vẻ rùng rợn vô cùng. Sởn tóc gáy chớ chẳng phải chơi?

Có gánh thì giăng dây chì ngang sân khấu, còn bửu bối là một mặt cái hộp thiếc có cắt hình “Tru Tiên kiếm” hoặc “Khổn Tiên thằng”, dán giấy màu lên, bên trong có đốt đèn cầy, treo lên sợi dây chì. Khi tiên “hô giáng”, thì bên này kéo cho cây kiếm chạy qua, bên kia tiên “hô thâu” cũng kéo cho chiếc hồ lô chạy ra. Hai bửu bối đụng nhau ở giữa sân khấu, chạy qua chạy lại một chút. Hễ kiếm thắng thì đẩy hồ lô chạy tuốt, còn hồ lô thắng .. thì đuổi kiếm chạy thẳng vào buồng, rồi đèn sáng trở lại. Nhưng như vậy có lẽ không hay, vì hai bửu bối chỉ đụng nhau trên một đường thẳng của sợi dây chì. Cho nên có gánh lại không đấu phép như thế, mà cho hai người ôm hộp bửu bối ra quơ lượn lên lượn xuống, đuổi nhau, tiến thối, linh động hơn kiểu trên.

Nhưng cũng có khi không ăn khớp là như thế này:

Ở bên trong có một cái thùng thiếc lớn, kín các mặt, chừa một mặt hở che bằng những khung giấy màu. Người phụ trách thuộc tuồng biết lớp nào cần màu nào, hoặc sân khấu phải tối om, thì tùy nghi mà phục vụ. Lúc tiên hô giáng thì trời gầm, sấm chớp thì trời đất tối om, người ôm thùng bửu bối chạy ra quơ quơ. Tiên bên kia hô thâu, thì một người khác lại ôm một chiếc thùng khác ra quơ. Hai bên đối chọi nhau, bên nào thua thì chạy tuốt vô buồng, bên kia đuổi theo rồi biến luôn. Những lúc đó, ánh sáng phải được xử dụng ăn rập. Nhưng có khi không hiểu vì lẽ gì anh ta lại cho đèn sáng trở lại trong lúc hai cái bửu bối vẫn còn quơ quơ trên sân khấu.

Nhưng khán giả rộng lượng la lên:

– Lòi lưng rồi! Chạy vô, mau lên!

Rồi cả rạp cười ồ. Hòa cả làng. Chỉ tội nghiệp cho ông thầy tuồng.

Bằng cặp mắt tò mò, tôi đã tìm ra được nhiều bí mật nhà nghề sau sân khấu, nhưng tôi rất thương cảm cuộc sống của những gánh hát. Lâu lâu thấy nhà lồng vắng tiếng trống thì lòng lại thấy buồn.

Ở đây tôi biết tiếng kèn Tây và được nghe chị Oanh (nghe nói là em gái của nhạc sĩ Trần Văn Khê) từ trên tỉnh xuống đây hát bài “Đêm Đông”. Ấn tượng một người đàn bà mặc áo dài trắng đứng trên sân khấu hát theo kèn và đàn đệm mãi mãi sống trong đầu tôi. Gương mặt của chị ra sao, tôi không còn nhớ, nhưng cái dáng thanh thanh của chiếc áo dài vẫn còn phảng phất trong đầu, mỗi khi nhớ lại những kỷ niệm của đứa học trò trường quận.

Tôi cũng bắt đầu học hát theo tiếng kèn “saxophone”. Thầy Vi ở Giồng Tre, Cái Bông cứ vài tuần lại đem kèn đến dạy chúng tôi hát. Thầy Viễn, một người Bắc mang kiếng cận, ngực rất nở nang, mang giày da, mặc áo thung trắng có thêu hình “người phóng lao” trên ngực, có giọng hát rất hay. Trước khi dạy, thầy đều hát cả bài cho chúng tôi nghe trước. Và tôi bắt đầu chép những bài hát vào một tập giấy Cái Chuông đóng tay khổ nhỏ. Madelon, Ce n’est qu’ un aurevoir, Xuân về, Nắng tươi v.v… Tiếng kèn Saxo của thầy Vi đã gợi lên trong tôi một sự ham muốn nghe những âm thanh, gọi bằng tiếng “Solfège “.

Tôi cũng ham hát lắm. Trong đám bạn tôi có một thằng hát rất hay, tên là thằng Đa, em vợ của thầy Trần Bá Hậu. Thằng Đa bao giờ cũng thuộc bài hát trước tôi, và mỗi khi thầy dạy hát, nó đều được hát trước, để làm bài mẫu, hoặc mỗi khi chúng tôi hát sai, thì nó hát lại để chúng tôi nghe mà sửa theo cho đúng.

Tôi cũng bắt đầu nghe thầy hát bằng dấu nhạc “Do -ré – mi – fa – sol…” ở đây. Và tôi đi tìm người có bài “C’est à Capri” để xin chép. Không biết văn nhân nào đã dịch ra lời Việt rất tình tứ:

Vì đâu gặp gỡ em Tuyết Nga một ngày xuân kia
Tình yêu tăng lên hai quả tim nhịp. cùng nhau…

Tôi lảm nhảm hát nửa nạc nửa mỡ như vậy. Và đó có lẽ là bài hát tôi thích. Nào tôi hiểu tại sao? Rồi tôi tìm chép những bài khác như Tango Chinois, mà lời Việt được dịch như sau:

Anh trở về tìm nàng Phi Yến
Cơn gió chiều nhẹ lay khóm trúc…

Hoặc bài La Marseillaise, quốc ca của Pháp:

Allons, enfants de la Patrie
Le jour de gloire est arrivé …

Học cùng lớp với tôi có những người bạn gái lớn tuổi và học giỏi hơn tôi, đó là chị Chuộng và Sương. Hai chị ngồi bàn trên tôi. Các môn học tôi kỵ nhất là toán. Đã lên cours Supérieur rồi mà phép tam xuất tôi rất sợ, phân số càng sợ hơn. Một hôm thầy cho bài toán, đại để như thế này:

“Một trái banh thảy xuống dồng lên được 0,80 m. Mỗi lần dồng thì bề cao sụt xuống 3/5, vậy bề cao của dồng thứ ba là bao nhiêu lần?”

Chỉ có thế mà tôi ngồi bứt tóc mãi tính không ra. Cũng may Sương xề vở qua một bên cho tôi ngó. Từ đó hai người cho tôi cọp toán luôn. Hễ môn toán qua rồi thì các môn khác, tôi coi như pha. Một bữa cũng làm toán, tôi ngó lên thì thấy đáp số lẫn chữ “L’Amour” (Yêu). Nhưng tôi cũng không hiểu ý định của Sương, rồi tôi cũng không để ý nữa. Còn một người con gái khác thường đi chung đường đến trường. Nhà cô có cây đàn dương cầm. Mỗi buổi trưa đi sớm, tôi thường tấp vô tiệm chụp hình Lệ Chơn coi hình. Lúc bấy giờ chưa có phim màu, nhưng có nhiều nữ khách hàng lại muốn hình mình môi son má phấn, nên tiệm phải bôi thêm vào, trông rất đẹp. Có nhiều tấm ảnh đàn bà con gái ngày nào tôi cũng xem mà không chán, (như cụ Vương Hồng Sển mê xem ảnh cô Ba Trà ở hiệu Hương Ký Photo năm 1930 vậy). Trong lúc mắt ngắm ảnh đẹp, thì tai lại được nghe tiếng dương cầm, thật là thích thú, những mạch nước li ti thấm vào đất, mai kia trở thành giọt nước mát chăng?

Ở trên tôi có kể về những quyển truyện trong tủ kiếng của tiệm thuốc Tây. Bên hông hiệu thuốc này có những Kiosques cất bằng gỗ sơn màu xanh nhạt rất đẹp, có thể dời đi được. Ở dọc bến xe và trước các cửa hiệu tiệm lớn có một khoảng trống tráng xi măng từ tiệm nước Hoa kiều tới tận Bazar Mỹ Ngọc. Đối diện với Bazar của thầy Ba đều đặt những chiếc Kiosques này. Người ta thuê làm quán giải khát, hoặc bán hàng lặt vặt. Trong số có chiếc do một họa sĩ thuê để làm tiệm vẽ truyền hình.

Bữa trưa đi học tôi thường đứng lại xem họa sĩ vẽ. Một bữa tôi thấy ông vẽ ảnh Napoléon 1er. Ảnh này tôi thường thấy trong Dictionnaire Larousse, khi học lịch sử nước Pháp tôi giở ra tìm thêm tài liệu. Nay họa sĩ vẽ lớn và rõ hơn, nên tôi thích, cứ đứng xem hoài. Bữa đó hình như tôi trễ học.

Còn một việc nữa, một sự kiện lịch sử của đời tôi mà tôi suýt quên. Tôi đã nói rằng tôi rất yếu toán, còn luận văn thì tôi rất không yếu. Đọc sách Lecture expliquée tôi cũng khá cả về giọng đọc lẫn giải đáp. Vào giờ toán thì tôi co đầu rút cổ, ngồi núp sau lưng hai cô bạn, sợ thầy thấy mặt kêu lên bảng thì nguy to. Cả những bài tôi tự làm được, hiểu rành, tôi cũng chỉ giở tay oam oam, chớ không dám giơ thẳng. Còn giờ luận văn và đọc sách, thì tôi chường mặt ra, giơ tay chồm lên phía trước, để được thầy kêu. Từ trường làng lên trường quận bước vào lớp nhì một năm (cours moyen 1ère année) tôi học lớp A của thầy Cang, tôi trả thuộc lòng bài “Jeanne d’Arc” rót một hơi, được thầy khen “Très bien” cho 8 điểm, là cái điểm mà suốt năm không trò nào nhận được.

Cũng năm đó, có quan Toàn Quyền Đông Dương Decoux xuống tại nhà việc Đa Phước Hội, tôi được thầy chỉ định tôi đọc một bài chào mừng ngắn bằng tiếng Pháp. Đọc xong, một nữ sinh ở lớp B sẽ tặng Ngài “một bó hoa vườn nhà”.

Tuy có mấy câu mà cô giáo phải mất cả buổi luyện cho tôi đọc đúng giọng lên xuống, ở những chấm phết dừng lại bao lâu, và nhìn lên ông Toàn Quyền lúc nào. Tôi đọc xong, được ông khen giỏi và bắt tay tôi trước khi nhận hoa.

Trường Mỏ Cày đã mở ra cho cậu học trò nhà quê một chân trời mới vô cùng rộng rãi và xán lạn, đã rắc những hạt giống lạ, và đã ghi vào lòng cậu ta những vần điệu mà mãi… 60 năm sau mới được ghi ra:

MƠ LẠI TRƯỜNG XƯA QUẬN MỎ CÀY

Tôi đã yêu nàng trong giấc mơ,
Và trong ý tứ những lời thơ.
Trong khóe mắt ai Xuân ửng sắc
Trong lá tình thư chằng dám đưa.

Một sáng bất ngờ nàng lướt qua
Tôi sẵn cành hoa nhẹ ném ra
Dừng lại mỉm cười nàng nhặt lấy
Tôi đứng nhìn theo gót nở hoa.

Như mẻ bắp rang, tuổi học trò
Trắng thơm như giấy mới vừa mua
Đẹp như hoa phượng sân trường nở
Như mắt trong veo chẳng bụi mờ.

Tương cay muối ớt rủ trèo me
Miếng kẹo da trâu tan học về
Những con toán lén cho nhau chép
Roi mây cắn đít khóc lê mê.

Luận văn chính tả khá gay go
Sử ký, địa dư chẳng dễ mò
Vẫn được điểm cao — ai biết nổi
Bửu bối gì hơn những “phép bùa
“.

Hiệu sách trưa nào cũng ghé ngang
Thạch Lam, Thế Lữ, Nguyễn Công Hoan
Cho tôi trí thức thời thơ dại
Bằng những truyện đầu tiếng Việt Nam.

Đang đọc bỗng nghe trống đổ hồi,
Sách Hồng ném trả chạy cong đuôi
Tiếu lâm, tiểu thuyết vùi trong cặp
Tây Du, Tam Quốc thuộc hơn bài

Vú sữa xanh lè cạp rách môi
Bưởi non cũng hái đá tung trời
Ra quân mù mịt sân trường cát
Vào lớp còn mơ quả bóng nhồi

Ngồi bên cửa sổ ngóng tầu qua
Sóng vỗ bờ sông vệt khói nhòa
Tiếng còi réo gọi niềm mơ ước
Làm khách viễn hành đến bến xa

Nóng ran đường nhựa phỏng chân em
Lá điệp im nghe tiếng guốc huyền
Vấn vương tà áo đôi chàng bướm
Nón nghiêng che má lúm đồng tiền

Hoa niên như lá trên cành hát
Trái tim hồng lý dạ sầu riêng
Tóc mượt dừa xanh con mắt phượng
Má đào, môi mật, búp tay sen.

Gót em in dấu con đường nhỏ
Quê ta – còn dính đất nồng nàn
Cho anh nắm chặt tay tiên nữ
Đã viết đời anh thắm những trang

Người qua phố cũ nhớ cô Hai *
Nhan sắc quê mình dễ mấy ai
Tơ thắm se cùng trang tuấn kiệt
Ngờ đâu mẹ ghẻ tráo duyên hài

Cô đem cái chết giữ chung tình
Hồn gái đồng trinh vốn hiển linh
Dân đem bài vị thờ trong miếu
Quanh năm hương khói góc sân đình

Có nghĩa gì hai tiếng “Mỏ Cày
Như đời thở nhẹ, lá me bay
Dẫu biết tuổi thơ lai bất vãng
Mà dạ bâng khuâng nhớ tiếc hoài

Hỡi ôi, tóc liễu muôn năm cũ
Sao còn quấn chặt mảnh hồn tôi
Trường xưa gạch ngói rêu phong Vũ
Giữa bụi thời gian vẫn chói ngời

Mỏ Cày yêu dấu của riêng tôi
Tuy gần mà lại hoá xa xôi
Xa xôi vẫn hẹn ngày tao ngộ
Anh, Mỏ Cày, Em – ở một nơi…

Có ai trở lại thời thơ vắng
Xin hốt giùm tôi nhúm cát nâu
Bên gốc điệp già mình trốn nắng
Má em anh đặt chiếc hôn đầu!

* Giai thoại cô Hai Vàng được truyền tụng qua nhiều thế hệ ở Mỏ Cày. Tôi hân hạnh được nghe em Nguyễn Thị Bửu, một nữ sinh trường Mỏ Cày kể lại.

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: