NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI: Chương VI

CHƯƠNG VI

NẮNG GIÓ
VÀ TIẾNG CHUÔNG CHÙA QUÊ NGOẠI

Trong những năm đi học tôi thường dùng hầu hết những ngày bãi trường để rong chơi ở quê ngoại tôi. Một vùng đất nằm ven con rạch chảy suốt bề ngang cù lao Minh như một sợi đai ngọc nối liền hai nhánh sông Cửu Long, Hàm Luông và Cổ Chiên, và chảy qua hai phố chợ lớn là Tân Hương và Cầu Mống. Sau nhà ngoại tôi là một cánh đồng rộng chạy liền tới xóm Cái bần thuộc làng Đại Điền, một làng trù phú gồm những nhà giàu lớn nhất nhì tỉnh Bến Tre. Trên cánh đồng này toạ lạc một ngôi chùa có cái tên rất đẹp là Oai Linh Tự, do một nông dân thành tính Đức Phật lập nên, từ căn chòi lá lụp sụp. Đến khi tôi lớn lên, đã thấy mái ngói nguy nga ẩn núp trong vườn cây sum xuê hoa lá. Xa trông như một hòn đảo xanh giữa biển sóng vàng lúa chín. Những năm ở nhà hay lên trường quận học tôi cũng vui chơi thích thú, nhưng về quê ngoại thì mới thoả chí tang bồng.

Bên cạnh nhà ngoại tôi lại còn có ngôi nhà thờ cũng như ngôi nhà thờ bên nhà tôi, nó chỉ cách một mương ranh nho nhỏ. Thành thử lúc nào cậu bé cũng được nghe tiếng chuông nhà thờ đổ và chuông chùa ngân. Má tôi sanh tôi ra ở nhà ngoại tôi. Má tôi kể lại rằng bà cho tôi bú đều đặn là nhờ nghe tiếng chuông nhà thờ và chuông chùa, thay vì xem đồng hồ.

Quê ngoại đối với tôi là một bài thơ dài, một thiên hồi ký không viết ra nổi. Tới chết tôi vẫn còn mang những hình tượng đẹp đẽ về một miền quê, nơi tôi khóc tiếng chào đời trong một ngôi nhà xưa u tịch. Chính ngôi nhà xưa này là vườn ươm tâm hồn thơ dại của tôi. Đối với tôi không mảnh đất nào đẹp bằng Quê Ngoại. Nơi đây tôi có hầu tất cả những gì quí giá cho tuổi thơ : sách vở thi văn, trò chơi và tình thương. Tôi viết ra những dòng này để tri ân và tôn vinh Quê Ngoại, một mảnh trời riêng của tôi, không thể tìm đâu ra trên cõi đời này.

Ở trong nhà tôi đọc truyện cho ông Cố tôi nghe, ra đây tôi được nghe các dì (em của má tôi) đọc truyện cho tôi nghe. Dì Năm thì đọc Ngũ Hổ Bình Tây, đoạn Địch Thanh chạy trốn, bỏ Thoại Ba công chúa, công chúa đuổi theo kịp, gọi: “Bớ Địch Thanh! Hãy dừng ngựa!” Dì khóc òa, nghẹn ngào không đọc được nữa, cả nhà cũng khóc theo, trừ cậu Tám tôi. Cậu đang học trường quận, cậu bảo: “Khóc cái gì! Đó là truyện bên Tàu một ngàn năm trước người ta đặt ra, chớ phải thật hay sao?”

Dì Tư tôi thì đọc tiểu thuyết Nửa Chừng Xuân, loại sách khổ lớn. Tôi tò mò cũng đọc cho biết tiểu thuyết là gì . Tuy không hiểu, nhưng cũng đọc hết quyển. Ngoại tôi chẳng những nói thơ Lục Vân Tiên, mà còn chép luôn cả quyển.

Có người ở huyện Đông Thành,
Tu nhân tích đức sớm sanh con hiền.
Đặt tên là Lục Vân Tiên,
Tuổi vừa hai tám nghề chuyên học hành.
Theo thầy nấu sử xôi kinh,
Tháng ngày bao quản sân Trình nắng mưa.

Sau này khi lên trung học, giờ Annamite, giáo sư (Pháp văn) Huỳnh Đình Tràng giảng Lục Vân Tiên bằng tiếng Pháp – ông gọi Nguyệt Nga là fiancée của Vân Tiên – tới hai câu:

Văn đà khởi phụng đằng giao,
Võ thêm tam lược, lục thao ai bì.

Ông lắc đầu, không biết làm thế nào cho chúng tôi hiểu, cực chẳng đã, ông phải nói bằng tiếng Việt, là cái ngôn ngữ đã trở thành xa lạ đối với ông. Chim phụng không có trong tiếng Pháp, còn đằng giao thì dịch làm sao? “Tam lược, lục thao” lại càng khó nữa!

Cậu Tám tôi thì lúc nào cũng nói lối Chiêu Quân cống Hồ :

…Ơn quân vương đáp lại mảy may
Lộc nhà vua no ốm bấy lâu nay
Gặp nạn nước phải liều thân cho trăm họ…

Hoặc kêu Lô-tô:

Nước chảy bon bon
Con vượn bồng con
Lên non hái trái
Tôi cảm thương nàng
Phận gái mồ côi,
Con số một ôi!!

Cậu Bảy tôi đi học ngoài đế đô lâu lâu mới về. Cậu dạy tôi đờn măng-đô những bài hát Santa Lucia, Si tu reviens, Tant qu’il y aura des étoiles.

Nhà ngoại không có tủ sách, chỉ có “buồng gói” là phòng để cất giấu những đồ quí. Ban ngày vào đó cũng phải dùng đèn pin. Và một cái tủ gỗ trắc mun đen, trong đó đựng áo Tây, cà vạt của cậu và áo dài mốt, dầu thơm của các dì. Má tôi không thích những thứ này, nên không bao giờ ngó tới. Ngoài những thứ ấy ra, chiếc tủ còn chứa những cuốn sách rất quan hệ đối với tôi.

Cậu cho tôi nhiều sách lắm: Andromaque, Tartuffe, Le Cid, những sách cổ điển loại khó của Pháp, tôi nhận, nhưng không đọc nổi. Bên cạnh những cuốn ấy còn có: Pêcheurs d’Islande của Pierre Loti, Contes choisis, Contes de la bécasse của Guy de Maupassant, Lettres de mon moulin của Alphonse Daudet. Những quyển này tôi đọc được ngay. Có lẽ đó là những truyện Pháp đầu tiên tôi được đọc tại nhà .Tôi đã khóc khi đọc đến kết luận cuốn Pêcheurs d’Islande: “Người yêu của Yuan ra đi chuyên ấy và không bao giờ về nữa”.

Khi lên trường, tôi trình số sách của cậu tôi cho với bà đầm dạy Pháp văn, bà chỉ cho phép đọc cuốn Pêcheurs d’ Islande, còn truyện của Maupassant, bà bảo:

“Tuổi con chưa đọc được”. Tôi không hiểu vì sao, nhưng tôi đã đọc cả rồi. Có lẽ trong sách mô tả nhiều màn yêu đương quá chăng? Về sau khi ra Hà nội (đã bắt đầu viết văn) tôi lại được chị Mộng Sơn tặng cho một quyển truyện ngắn chọn lọc của Maupassant, Nguyễn Khai cho mượn quyển Miss Harriet cũng của Maupassant. Và tôi lục lọi tìm đọc (có lẽ tất cả) truyện của Maupassant, kể cả tiểu thuyết Une vie của ông nữa. Có thể nói đây là nhà văn Pháp tôi đọc nhiều nhất. Tôi cũng có thử đọc tập Trois Contes của Gustave Flaubert, thầy của Maupassant, nhưng khó quá, đọc không nổi. Cái tủ của cậu tôi đã đóng một vai trò rất quan trọng trong đời học trò của tôi.

Lúc tôi 4, 5 tuổi, mỗi lần ra nhà ngoại thì ông thầy Năm bên nhà thờ sang ẵm tôi về nhà thầy chơi. Thầy để tôi ngồi trên bắp vế và cho tôi phá đờn. Cây đờn harmonium của nhà thờ. Thầy cầm tay tôi ấn vào các phiếm, miệng hát đồ-rê-mi. Có lẽ đây là lần đầu tôi được nghe tiếng đờn. Tôi lớn lên dần, và thầy vẫn còn ở đó giảng đạo, chớ không đổi đi đâu. Thầy dạy tôi đọc kinh và cắt nghĩa cho tôi những tấm ảnh Đức Mẹ và chúa Giê Su. Đến bây giờ tôi đã già, khi viết hồi ký, bỗng nhiên giật mình tự hỏi: Sao mình vẫn chưa giữ đạo? Một hôm tôi đi thỉnh ảnh Đức Mẹ về treo trong nhà . Vẫn gương mặt sầu não ngày xửa ngày xưa. Đôi mắt như nhuốm lệ nhìn xuống trần thế. Ngồi viết mà ngôi nhà thờ cũ Quê Ngoại chập chờn trong đầu. Cậu bé ngồi trong lòng ông thầy dọc phá những phím đờn.

Ngày rằm tháng bảy một năm nào, tôi theo Ngoại tôi đi xuống chùa Oai Linh. Ngôi chùa ở giữa ruộng khoáng đạt với gió với mây. Chiều chiều tiếng chuông ngân nga phủ ấm rặng vườn, ru hồn nhân thế. Thử nghĩ làng xóm không có tiếng chuông nhà thờ và tiếng chuông chùa sẽ lạnh lẽo biết bao? Người đời sẽ không còn biết nương tựa vào đâu mà sống, những cuộc xâu xé sẽ càng khốc liệt hơn, đẫm máu hơn.

Bước chân vào nhà chùa, tôi thấy một cuộc sống khác. Áo nâu, dép mo, những đĩa cà, những hũ dưa. Nét mặt sư cụ trông cũng không giống người ngoài xóm, tiếng nói chậm chạp, giọng nói ôn hòa. Bất giác tôi nhớ lại những trang truyện Tây Du. Tôi đứng trước bức tường vẽ hình Thập Điện U Minh, những hình phạt hãi hùng – nào tội nhân bị cưa hai nấu dầu, nào tội nhơn đầu đội chậu máu, đít ngồi bàn chông, nào tội nhơn bị quỉ sứ lóc thịt xẻ da v.v… Bên cạnh đó, chiếc cầu Nại Hà mịt mù giữa sương khói, dưới dạ cầu nào là rắn rết, hùm beo, tội nhơn đi trên cầu sẩy chân rơi xuống bị thú dữ xé xác. Những trang truyện Tây Du mô tả đúng y như cảnh này. Ôi, thật là khủng khiếp? Tôi sợ quá, chạy tới nắm tay Ngoại tôi, hỏi:

– Còn ông vua Đường đâu, hả Ngoại?

Ngoại tôi ngạc nhiên:

– Ông vua Đường nào?

– Ông vua bỏ nhúm cát trong ly rượu của Tam Tạng.

Ngoại tôi trỏ ngoài sân:

– Ngoài kia kìa.

Tôi chạy ra sân nhìn dọc hàng rào bằng gạch, những ô hình đầy màu sắc. Dần dần tôi nhận ra, đó là những bức hình mô tả những tai nạn của Tam Tạng trên bước đường thỉnh kinh. Đã đọc truyện nên tôi nhận ra một cách lý thú như tái ngộ những bạn đời trên bước đường lưu lạc bơ vơ của tôi hôm nay.

Đây là buổi tiễn đưa Tam Tạng. Vua Đường đang bỏ nhúm cát vào ly rượu. Đây là hình Thái Bạch Kim Tinh giải tỏa cho Tam Tạng Đây nữa Tôn Hành Giả mượn quạt Ba Tiêu. Còn đây là Tam Tạng đến Tây Lương Nữ quốc v v .

Tôi mê mải xem, nhìn lại dưới chân thấy mấy con qui bò bên chân tường, trên vách vẽ hình con ba ba tu lâu năm, chở thầy trò Đường tăng qua Đại Độ hà. Tôi tưởng đây là những chú ba ba con bò lên từ đáy sông ấy. Xem một hồi, tôi vào chùa. Nhìn lên phía phải, trên bàn thờ rất nhiều hình tượng. Tôi chợt nhớ Phật tổ phong cho Bát Giái chức La Hán. Tôi tự nhủ: Chắc ông ấy đứng chung trong hàng những vị này. Tôi cố tìm, nhưng không thấy khuôn mặt nào giống ông ấy cả.

Từ đó về sau, mỗi khi theo Ngoại đi chùa, tôi ở ngoài xem các ô hình trên vách tường. Có tất cả là 81 ô. Đúng ra khi tới Tây phương thì Đường tăng chỉ vượt qua có 80 nạn, nhưng Phật tổ bảo theo nhà Phật thì phải “Cửu cửu bát nhất” nên Ngài “tạo” thêm một tai nạn cho đủ số 81. Đó là tai nạn “Vô tự kinh” – Khi lãnh kinh, Tam Tạng không có hối lộ cho người giữ Tàng Kinh lầu, nên bị ông phát cho những quyển kinh không có chữ. Tam Tạng phải quay trở lại hối lộ cái bình bát bằng vàng, kỷ vật của vua Đường tặng, để lãnh kinh có chữ.

Tôi sợ không dám xem hình Thập Điện U Minh nữa. Nhưng cho tới bây giờ, những hình ảnh đó vẫn in đậm ‘rong đầu tôi. Và mặc dầu được tiếp xúc với thế giới văn minh, tôi vẫn không sao xóa được những hình ảnh đó, cũng như câu kinh Thiên Chúa:

Kẻ lành được lên thiên đàng, kẻ dữ sa hỏa ngục chịu phạt đời đời. Văn hóa quả là… ghê gớm vì sức ăn sâu và tác động lâu dài của nó.

Bây giờ tôi đã già, nhìn lại suốt từ khi đọc trang truyện Tây Du đầu tiên, tôi thấy tôi là đứa bé ham văn nghệ. Gặp truyện là đọc ngay. Rồi mê xem hát. Tờ truyện và tuồng hát đi vào tôi một cách dễ dàng như nước tưới vào gốc cây. Rồi thích ca hát, mê xem hình vẽ. Chưa bao giờ tôi mơ ước trở thành tài tử hay nhà văn. Chỉ biết ham các môn ấy. Và cái môn tôi sợ nhất là toán! Đến bây giờ tôi làm tính cộng vẫn còn trật!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: