NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI: Chương VIII

CHƯƠNG VIII

THI SĨ VÀNG: XUÂN TƯỚC

tức

THI SĨ TÂM ĐIỀN : THẦY TÔI

“ĐÂY BIỂN RỘNG, ĐÂY RỪNG SÂU”

Cách mạng bùng nổ ra, cậu Bảy tôi nghỉ học, lên làm việc trên tỉnh Bến Tre, lúc bấy giờ đã đổi tên ra là tỉnh Đồ Chiểu. Chú tôi đang dạy học ở Trà Vinh, lúc bấy giờ gọi là tỉnh Trần Hữu Độ, thì ở luôn bên đó. Cả hai vị đều lãnh trọng trách trong phong trào. Còn tôi cũng lót tót theo cậu tôi lên tỉnh, vai mang đờn mandoline, túi nhét cây Harmonica, làm ủy viên phụ trách thiếu nhi toàn tỉnh.

Lúc đó thi sĩ Tâm Điền mở lớp huấn luyện thanh niên ở bãi biển Cồn Chim. Đây là một thanh niên khôi ngô tuấn tú. Ông tên thật là Mạch Văn Tư dạy ở trường nhà nước. Tâm Điền là chiết tự từ chữ TƯ.

Chữ “Tâm” nằm trên chữ “Điền” thành ra chữ “Tư”. Khi tôi học trường tư thục Trung Châu thì ông làm hiệu trưởng trường Thể Dục Đông Dưong Esipic toạ lạc ở góc giếng nước giáp ranh xã Phú Khương. (Trường Esipic trong phong trào Thanh Niên Ducoroy, trước 1945).

Mỗi sáng trước giờ học, tôi thường ra đứng bên gốc mãng cầu ta ở hiên nhà trường, mê say nhìn đoàn lực sĩ mặc áo thung ba lỗ, vừa hát vừa đi ăn rập về phía sân vận động tỉnh. Bây giờ phong trào thể dục, thể thao lan tràn khắp ngõ hẻm hang cùng, chớ hồi đó, thể dục thể thao chỉ ở trường học và những nơi công cộng. Đối với một số người, nó còn là một trò cười.

Cậu tôi vào nhà tôi, nói với tía má tôi một câu tôi còn nhớ mãi: “Tôi coi thằng T. có khiếu văn nghệ đó anh Hai, chị Hai! Để tôi dắt nó đi học”. Má tôi không muốn cho tôi đi, còn tía tôi thì không nói gì cả, riêng tôi thì rất ham. Thời buổi đó, ai không đi bộ đội thì cũng là cán bộ . mang ba lô đi chỗ này chỗ nọ, chứ ở nhà thì bị coi như lạc hậu.

Cậu tôi dắt tôi xuống trại huấn luyện của thi sĩ Tâm Điền. Trại có hai phân trại, một dành cho thanh niên, một dành cho thiếu nhi. Tôi chưa đến tuổi thanh niên, nhưng cậu tôi lại đưa vào bên thanh niên. Thi sĩ Tâm Điền, trại trưởng và là bạn của cậu tôi, nên cũng nhận cho tôi vào. Cả hai phân trại tổng cộng chừng 80 trại sinh.

Chương trình gồm có: Thể dục, Đức dục, và Chính trị. . Ban huấn luyện thay phiên nhau giảng bài. Đặc biệt có giờ dạy hát do nhạc sĩ Lữ Sinh phụ trách. Anh có cây đờn violon. Đây là lần đầu tiên tôi được thấy loại đờn này. Các gánh hát chỉ có kèn trống chớ không có violon. Hội trường là một ngôi nhà lá thấp lè tè, ngăn làm đôi, chừng 1/3 làm văn phòng, khoảng còn lại làm lớp học. Lớp học được trang trí với những tấm hình vẽ tay bằng mực Tàu nghè sáp cho lâu phai.

Trước mặt là ba tấm ảnh lớn với những dòng chữ:

Gorki : Kỹ sư linh hồn

Rolland : Bạn của kẻ yếu

Bathusse: Đại tướng chống Phát Xít.

Một tấm ảnh thanh niên ôm súng ra chiến trường: Thanh niên mới.

Ngước nhìn lên trên cây xà ngang có ba khẩu hiệu: DÂN TỘC, KHOA HỌC, ĐạI CHÚNG.

Ngoài ra chỉ có một chiếc bàn đặt trên bục dành cho giảng viên và những bàn ghế bện bằng cây trà không róc vỏ còn lùi xùi. Cọc bàn chôn dưới cát. Băng ngồi rất đau đít, nhưng vì thích thú nghe bài học nên không kêu ca.

Sáng dậy theo tiếng kẻng làm bằng vỏ bom. Đánh kẻng chỉ vừa đủ, nếu đánh mạnh, bót Cầu Ván sẽ nghe. Hồi đó coi giặc như trò chơi, cách nhau có sáu cây số. Trại sinh vừa tung nóp dậy vừa hát:

Anh nghe chăng cung kèn rạng đông
Đang uy linh lừng vang trên không ?
Đang thiết tha hùng hồn khêu cháy gan Lạc Hồng
Cháy lên nhuộm bao ánh hồng . . .

(Hùng Lân)

Hát xong là cuốn nóp xong xếp trên vạt, vọt ra sân xếp hàng kéo ra bãi biển. Vừa chạy vừa hát “Thanh niên Hành khúc” với lồng ngực nở phồng trong gió biển.

Một hôm cũng vào buổi sáng, chúng tôi đang chạy dọc bãi biển, thì thấy những quyển sách lẫn trong bọt sóng và rác rến – Chúng tôi đổ xô đến nhặt lấy, đồng thời báo cáo với huấn luyện viên. Mọi người đều cho rằng đây là một chuyến thuyền đi từ Bắc vào Nam đã bị nạn trên thủy trình về phương Nam. Trại sinh đem vào sân phơi, rồi cẩn thận giở từng trang, không để rách.

Nhạc sĩ Lữ Sinh đem quyển bài ca vào văn phòng giở ra đờn ngay. Và tối hôm đó bọn tôi được học bài “Chiến sĩ Việt Nam” của Văn Cao.

Bao chiến sĩ anh hùng
Lạnh lùng vung gươm ra sa trường.
Quân xung phong,
Nước non đang chờ mong tay ngươi
Hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời..
.

Điệp khúc:

Thề phục quốc, tiến tên Việt Nam . .
Lập quyền dân, tiến lên Việt Nam
Đài hạnh phúc đắp xây Tự do
Việt Nam tranh đấu chống quân ngoại xâm
!

BẮC SƠN (của Văn Cao)
(Kính tặng con Hùm xám Chu Văn Tấn)

Đoạn I

Ôi còn đâu đây sắc chàm pha màu gio
Đau lòng bao năm sống lầm than đây đó .
Ai về châu xưa nhớ hồi máu thấm cây rừng
Còn vang khe núi tiếng quân oai hùng …

Những lời ca hùng tráng, trữ tình và tràn ngập lòng yêu nước, đã mang đến cho chúng tôi sự hăng hái dánh đuổi giặc thù – Ngoài giờ học là miệng hát vang trại. Tiếng hát của những trái tim thanh niên đã phá tan khôn khí âm u của rừng sâu. Có lẽ bọn lính Pháp đóng đồn Cồn Chim cũng phải khiếp đảm vì tiếng hát này. Chúng tôi nào biết cách mạng là gì, chỉ hiểu cách mạng qua bài hát và thơ ca ngợi dân tộc.

Trong số sách nhặt được ở bãi biển còn có quyển Ngọn Quốc Kỳ – tráng khúc của Xuân Diệu.

“Chàng Xuân Diệu năm xưa hay sầu lắm” mà tôi thường gặp ở Mỹ Tho trong bộ đồ Tây trắng phau, với mái tóc quăn lòa xòa trước trán, là tác giả của quyển thơ này chăng? Một đêm trại trưởng thi sĩ Tâm Điền đem ra đọc cho cả lớp nghe:

Gió reo, gió reo, gió Việt Nam reo,
Mây bay, mây bay, mây hồng tươi sáng!
Gió ca trên non, gió ngợi trên đèo
Gió bay đi mà nhạc cũng bay theo
Đưa tin mới khắp trên trời nước Việt
Hoa cỏ đón mà núi sông cũng biết
Cờ Việt Nam oanh liệt gió mừng bay
.

Những lời thơ đẹp như thế, chúng tôi reo trên miệng, chúng tôi nuốt vào lòng. Bây giờ nhớ lại những ngày sống và học ở trại huấn luyện Cồn Chim, tôi hãy còn xúc động, và tưởng như mình là chiến sĩ ở chiến trường.

Sau khi tuyển lựa và dạy hết những bài hát trong tập sách cho chúng tôi, nhạc sĩ Lữ Sinh bèn dạy cho chúng tôi bài hát mới:

CHIẾN SĨ LÊN ĐƯỜNG
(Kính tặng các chiến sĩ Trung đoàn 99)

Với núi sông vừa khi tươi sáng
Lên đường ta quyết tiến
Đoàn quân ta cùng bước đều
Ca rền khắp ngàn nơi xa
Cứu nước non vượt khi nguy biến
Lên đường ta quyết chiến
Dù muôn khó, nguyền lướt qua
Núi sông muôn thu chờ ta
Chân lướt suối băng tràn rừng
Ta chiến đấu qua ngàn trùng
Tim chất chứa bao nguồn sống
Đem sắc máu pha non sông
Ta chiến thắng trên gai chông
Ta quyết đắp xây tương lai
Ngàn tươi sáng
Xông pha mau đi lên
Non sông đang mong ta
Lòng tràn hăng hái lòng đầy cương quyết
Lên đường!

Chiều chiều chúng tôi mượn cây đờn măng-đô bể ở văn phòng và đem những bài hát ra nổng cát để “mò” ..từng câu nhạc. Một hôm, thằng Vịnh (con của chú Hai quản lý trại) hỏi tôi:

– Mấy anh biết bản này ở đâu không?

– Thì ở trong tập nhạc vớt dưới biển chớ đâu!

– Của chú Tư và chú Sinh mới làm đó.

Chúng tôi hết sức ngạc nhiên. Riêng tôi quan niệm rằng những người làm được thơ đăng báo cho mình chép, và làm bài hát cho mình đàn hát là những người phi thường, ở đâu đâu xa lắm chớ không có ở gần mình, thế mà bài hát này lại do thầy trại trưởng và thầy dạy nhạc làm nên mới lạ chứ!

Lâu nay tôi có nghe ai ở trong tỉnh mình làm thơ làm nhạc đâu, những bài C’est à Capri, Đêm Đông, Thu Trên Đảo Kinh Châu đều ở đâu tới.

Nhưng ngày một ngày hai, tôi tin cái việc khó tin đó là sự thật, bởi vì một hôm khác, chúng tôi lại được dạy một bản mới mà bên dưới tên bài có đề tên tác giả.

TỰ DO – CƠM ÁO – HOÀ BÌNH
Nhạc Lữ Sinh – Lời Tâm Điền

Làm sao khắp chúng dân đều Tự do
Làm sao khắp muôn dân đầy cơm áo.
Làm sao khắp thiên hạ hưởng hòa bình
Bao nhiêu năm đói rét và lầm than
Bao nhiêu lần bao nước mắt đẫm máu xương
Đứng lên đều tung gông cùm giam đời sống
Cùng nhau đem sức đấu tranh
Cùng nhau quyết tranh phần sống
Nào ngại tan nát thân mình
Nào ngại cực khổ gian lao
Muôn dân khóc than
Muôn dân nát lòng
Muôn dân căm hờn
Vì đời bất công
Vùng lên quyết tranh phần sống
Tự do hạnh phúc kia rồi
Hòa bình no ấm chào đón ta

(Bài này đài Hà Nội dùng làm nhạc hiệu buổi phát thanh vào Nam trong 10 năm mà không biết tác giả là ai !)

Rồi lại một bài hát mới nữa cũng của Lữ Sinh và Tâm Điền ra đời:

TIẾN LÊN ĐƯỜNG SÁNG

Cùng đi, nguyền đem thân hiến cho đời mới
Tim thấm nồng tiến lên, hét lên, ánh dương chan hòa
Đem thân mình dâng cho đời thêm tươi sáng
Quyết nắm tay tiến lên ngày mai.
Đi đi cùng đi, tiến tiến cùng tiến
Tiến lên!
Ta hiên ngang dù mưa gió không sờn
Nhanh chân bước xông pha nguy nan
Vui chân bước ta luôn hiên ngang

… (quên ba câu chót!)

Bỗng một đêm chúng tôi được nghe một bài thơ. Bạn hãy tường tượng bên ngọn đèn dầu cá gió thổi ù ù suýt tắt dưới mái lá thấp lè tè, những mái đầu xanh, những cặp mắt ngước lên chăm chú vào một thanh niên áo sơ-mi nâu bỏ trong quần cụt đen, say sưa đọc thơ. Giọng đọc cất lên chen lẫn trong gió biển thổi và tiếng sóng đánh triền miên.

Đây biển rộng, đây rừng sâu
Đây mênh mông cao cả
Đây thiên nhiên hòa hợp với lòng người
Đây muôn hồn tươi đẹp giữa hồng tươi . . .

Người đọc chính là thi sĩ Tâm Điền. Anh đọc thơ của anh. Anh làm thơ tặng các học trò của anh. Anh dạy chính trị bằng thơ. Anh tiêm vào đầu óc chúng tôi những vần điệu của thơ giữa cảnh biển rộng, rừng sâu mênh mông cao cả. Những đêm nghe thơ thật say sưa hào hứng.

Thời đó thơ còn rất xa lạ với mọi người, không mấy ai được nghe thơ, càng không có ai là thi sĩ. Thi sĩ phải ở đâu trên Sài gòn gì kia chứ, làm sao trong góc rừng ven biển mà có người làm được thơ? Thơ phải có từ đời xưa, in trong sách rồi ta chép, ta học, chớ làm gì có người làm được thơ ở ngay trước mặt ta, cầm trên tay mà đọc cho ta nghe?

Những bài ca lượm dưới biển, những bài ca của Tâm Điền – Lữ Sinh đã ảnh hướng vô cùng sâu sắc đến tâm hồn cậu bé 17, và đã tiêm vào lòng cậu ta một liều thuốc yêu nước, yêu dân tộc mà từ trước tới nay, những bài học lịch sử chỉ mới là một sự mơ màng.

“Thần dân nghe chăng, sơn hà nguy biến ? “

Câu hát này hay thật, nhưng nó như tiếng loa gọi từ lòng lịch sử xa thẳm mấy thế kỷ qua như trong một cơn mộng. Còn hôm nay, trước mắt là biển rộng, bên cạnh là rừng sâu, phía trên kia là bót giặc trong tầm súng, thì bài ca câu hát rất thực tế, không còn mơ màng xa xôi gì nữa.

Ngay cả tiếng súng của Vệ quốc đoàn cũng hàng ngày vang bên tai và khói đốt nhà của thực dân bốc lên trước mắt cay nồng, thì bài hát “Tự Do Cơm Áo Hòa Bình”, bài “Tiến Lên Đường Sáng”, bài “Chiến Sĩ Lên Đường” là tiếng thét xung phong, viết bằng thơ và âm nhạc của hai nhà nghệ sĩ vĩ đại: Tâm Điền và Lữ Sinh. Đó là tiếng lòng u ẩn, tiếng thét uất hận của dân tộc Việt Nam sau 80 năm nô lệ. Nhạc thơ ấy đã gây ảnh hướng sâu sắc không đời nào phai nhạt trong tôi.

Tôi mãi mãi nhớ ơn thi sĩ Tâm Điền, nhà thơ đầu tiên đã nói cho tôi hiểu rằng: thơ là tâm tình của dân tộc Việt Nam. Mọi người Việt Nam đều làm thơ. Anh làm thơ từ thuở thanh xuân đến nay ngoài “cổ lai hi”. Anh đã hai lần (1991-92) được tặng danh hiệu “Thi Sĩ Vàng” của World Poetry.

Chương 9

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: