NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI: Chương IX

CHƯƠNG IX

TRẬN CẦU MỐNG 1946

HOẠ SĨ DIỆP-MINH-CHÂU
“SẢN PHẨM KỲ DỊ CỦA HOÁ CÔNG”

Cầu Mống là chợ làng Hương Mỹ quê vợ của Thống Tướng Lê Văn Tỵ.

Hồi năm 1946 Tây trở lại. Chúng dùng cái chành lúa của người Tàu gọi là Tiệm Mới, ở ngay đầu cầu trên trục giao thông tỉnh và dùng hằng vạn giạ lúa đã vô bao sẵn mà làm phòng tuyến. Tưởng rằng với những vách thành kiên cố như vậy, chúng sẽ sống muôn năm.

Bọn lính Tây và pạc-ty-dăng rất ác, chúng bắt người về đồn tra tấn tàn nhẫn. Một hôm chúng ra nhà tôi ở Cổ Cò tìm bắt tía tôi về làm hội tề cho chúng, nhưng ông bất hợp tác. Chúng định bắt má tôi, tôi bèn chịu bắt thanh, chúng đem tôi về đồn làm con tin, để tía tôi phải ra đầu hàng.

Sáng hôm sau có một chiếc xe jeep từ quận Mỏ Cày xuống đây. Vì trong đồn không có ai nói tiếng Pháp được, nên tên xếp đồn bắt tôi ra phiên dịch. Có lẽ tên quan ba thấy mặt mày tôi không đến đỗi tối tăm, nên hắn nói chuyện với tôi:

– Tao đến giữ an ninh cho dân chúng, tại sao chúng mày chống chúng tao?

Tôi bật lại ngay:

– Vì chúng tôi không muốn nước Pháp cai trị chúng tôi.

– Ồ, nước Pháp cũng đáng yêu lắm chứ, tại sao chúng mày không yêu mà lại thù?

– Tôi yêu Hugo, Balzac, Jeanne d’Arc, cả mụ đày tớ Nanon, nhưng không yêu các ông.

– Tại sao?

-Thì cũng như dân tộc các ông không thể yêu người Phổ trước kia đã cai trị nước ông rất khắc nghiệt. Và. dân Pháp đã giết người Phổ giành lại độc lập. Nếu ông đọc truyện “Những người tù binh” của Maupassant thì rõ.

Hắn ta có vẻ suy nghĩ hồi lâu, rồi ra lệnh cho tên xếp đồn thả tôi. Tôi chạy bay tóc trán về nhà, thì gặp bộ đội Hai Phải đang đóng ở nhà tôi. Các ông ấy đang ăn cơm, thì nghe tin lính đồn ra bắt gà. Họ bèn buông đũa, xách súng chạy ra đường phục kích tụi lính này, rồi xông vô đánh đồn luôn. Bộ đội hồi ấy chỉ có súng máy (FM) là cao, chớ đâu có súng phá tường, thì làm sao mà hạ cái đồn này nổi?

Dân làng ôm rơm, lá dừa đem đến ném quanh chân đồn, còn chủ tiệm người Tàu thì hiến dầu lửa để tẩm vải đốt đồn. Ngoài ra, người dân ở phố chợ rỡ nhà lấy lá, gỗ đem tới làm bổi. Một biển lửa bao quanh đồn. Cuối cùng ngôi đồn cũng bị sóng lửa tràn ngập. Chỉ vài tên pác ty-dăng liều mạng chạy băng qua biển lửa ra được bên ngoài, còn lại bao nhiêu thì bị cháy thành tro cùng với hằng chục ngàn giạ lúa. Tất cả đã trở thành một quả núi tro bốc khói nghi ngút. Từ trong tro thấy lòi ra những đống xương trắng hớu. Một vài hòn tro quến cục lớn hơn nắm tay nằm lăn lóc bên những gốc cây. Người ta tới xem lấy cây khều, lật qua lật lại và bảo đó là trái tim. ‘Trái tim không cháy”.

Cây bàng già bên mé sông bị lửa táp rụng hết một bên lá, còn bên kia de ra sông thì hãy còn xanh. Cái sân gạch, nơi những người chủ “tiệm Mới” ngồi hút ống điếu bình cũng đã bị tro than phủ lên. Mấy cây me trước cửa tiệm đã biến thành than đứng trơ ra đó, chỉ còn cái gốc không bắt lửa.

Trong khung cảnh đó, một người mặc sơ mi rằn, lưng đeo Colt 12 đứng bên hí hoáy vẽ. Anh vẽ cái núi tro chôn mấy chục tên lính pạc-ty-dăng. Đó là họa sĩ Diệp Minh Châu. Anh người làng Lương Quới, quận Châu Thành, cũng tỉnh Bến Tre. Anh là học trò của họa sĩ Hoàng Tuyển. Cụ Hoàng là người chuyên môn vẽ sơn thủy cho các gánh hát cải lương ở Sài Gòn. Một hôm cậu bé mê say xem cụ vẽ đến quên lớp học. Cụ hỏi: “Cháu có thích không?” Thích lắm–em bé đáp. Rồi hai người trở thành thầy trò trong hội họa. Về sau, cậu bé học hết nghề của thầy, hết luôn trường Gia Định. Ra Hà Nội học Cao đẳng Mỹ thuật và trở thành họa sĩ nổi tiếng của Hà thành, được tặng danh hiệu “Họa sĩ của tóc và mắt” có nghĩa là : Họa sĩ vẽ tóc và mắt đẹp khó ai bì kịp.

Người họa sĩ đó đã đi kháng chiến đánh Tây, đã ra trận với bộ đội của các anh Nhàn, anh Quên, anh Tỷ (cà lăm) và anh Trung … để vẽ tranh. Anh đã dự nhiều trận ở bên cù lao Bảo lẫn cù lao Minh của tỉnh Bến Tre, rồi lên Đồng Tháp Mười dự trận Gò Cát, trận Giồng Dứa, Giồng Dinh, VV… Bộ đội rất quí, mến anh và phục tài anh. Vi ra trận, anh cầm súng bắn và xung phong như lính. Nhiều trận chỉ huy không cho anh xung phong, giật súng lại, nhưng anh vẫn chạy tới. Khi về nhà, anh đưa ra những bức tranh vẽ bằng máu tại chiến trường. Anh lấy máu làm màu. Máu chiến sĩ anh dũng của ta còn nóng hổi – máu của giặc bị ta giết.

Trận Vàm Nước Trong, bộ đội của anh Măng (Romain) hạ đồn Tây, anh cũng có mặt. Bên ta chỉ có một chiến sĩ trẻ hi sinh, đó là anh Phạm Hồng Son – không nhớ quê quán ở đâu.

Họa sĩ Diệp Minh Châu đã chấm bút trong máu của anh Son mà vẽ chính anh trên lụa. Hãy tưởng tượng, ngồi vẽ dưới lằn đạn của chiến trận, thử hỏi ai có thể làm?

Bây giờ tôi gặp Diệp Minh Châu ở chợ làng tôi vẽ bức tranh Xác đồn Cầu Mống, tôi đứng xem thật mê man. Người họa sĩ như có phép thần, anh đang thu nhỏ cảnh vật và đưa lên tấm vải từng mảng. Dần dần nó choán hết tấm vải và toàn cảnh đã ở trên khuôn vải. Quả núi tro với cái linh hồn của nó: làn khói xám mong manh bay lên trong sương sớm.

Khoảng năm 1950, miền Tây tức là các tỉnh Cần Thơ, Rạch Giá, Bạc Liêu, Sóc Trăng hãy còn thênh thang độc lập, quân Pháp chỉ đóng ở thị xã, thị trấn, còn vùng nông thôn thì bỏ cho Việt Minh tung hoành. Bờ Kinh Sáng, Chắc Băng hãy còn những đoạn lộ đá nguyên vẹn, chỉ có những cây cầu, còn đường thủy thì “Buồm ngược xuôi rợp mát lòng sông”.

Một hôm tôi lại gặp anh Châu. Vẫn hớt tóc bum bê, mép tóc vắt lỗ tai, lưng vẫn đeo colt xề xệ. Anh thấy tôi từ xa đã gọi: “ê, mày nhỏ đi đâu xuống đây?” Lần đó tôi được xem tất cả những bức tranh anh vẽ mấy năm đầu kháng chiến và cả trước kháng chiến. Anh chia phòng triển lãm ra làm hai. Một bên là “Nghệ thuật vị nghệ thuật” một bên là “Nghệ thuật vị nhân sanh”. Tôi chẳng hiểu “vị” cái gì là cái gì, cứ thấy màu sắc là xem mê mải. Bất ngờ tôi gặp những bức tranh anh vẽ thời 40-43, khi tôi côn học ở tỉnh.- “Trăng Thu”, “Suối Tóc” anh vẽ lụa chân dung những người đàn bà đẹp nổi tiếng tỉnh lỵ Bến Tre thời bấy giờ. Bức “Ngây Thơ “ thì vẽ một cô bé chơi với mấy con mèo vá. Còn bên “Nghệ thuật vi nhân sanh” thì trình bày những bức vẽ Trung đoàn 99 đánh Tây đi xe ngựa ở Phú Lễ, Phục kích ở Tân Hào, Trận Cầu Mống, chân dung Trung đoàn phó Huỳnh Thế Phương, tranh Máu Phạm Hồng Son.

Lần đầu tiên trong cuộc kháng chiến cả nước, có một luộc triển lãm hội họa. Sau đó, anh đi lên miền Đông, rồi đi ra Bấc lúc nào tôi cũng không biết nữa. Nhưng có thể nói anh là người nghệ sĩ lăn lóc gió sương và trưởng thành trong khói lửa. Anh là người họa sĩ vẽ không ngừng tay, lúc nào cũng có tác phẩm còn dở dang hoặc dự định trong đầu, hiện thực lẫn trừu tượng, ấn tượng. Muốn nói hết về họa sĩ Diệp Minh Châu, phải viết vài cuốn sách. Tiếc thay hiện nay, ở Sài gòn anh sống trong thiếu thốn, chật vật và khủng hoảng tinh thần.

Năm 1958 tôi ở Hà Nội, có ý định viết một quyển tiểu thuyết lấy tên là Lửa Dưới Tro, mô tả việc kháng chiến chống Pháp vào những năm đầu 45-46 ở Nam-bộ. Nhưng muốn chắc ăn hơn, tôi đến tìm anh Diệp Minh Châu, lúc bấy giờ đang làm giáo sư trường Cao đẳng Mỹ Thuật ở phố Yết Kiêu, để mượn tấm tranh “Trận Cầu Mống” đem về treo trước mặt. Khi viết xong, nhà xuất bản giao cho ông Nguyễn Văn Trấn đọc.Ông khen hay. Nhà Xuất bản Quân Đội hứa in rồi không in. Lúc đó Hoàng Văn Bổn vừa ra quyển Trên Mảnh Đất Này, Phù Thăng cho ra Phá Vây. Mỗi người lãnh nhuận bút 4 ngàn, xây nhà gạch hoặc mua xe đạp tốt. Sau này tôi mới biết, sở dĩ nhà xuất bản không in sách của tôi là sợ tôi thành tư sản như hai đồng nghiệp kia ! Kế đến vài ba năm sau, tôi vượt Trường sơn với cái bản thảo trong ba lô, định đem về Nam xuất bản. Nhưng giữa đường sốt rét nặng, nằm lại một mình giữa một nơi không có củi, một cái lá khô cũng không. Tôi lục ba lô thấy những tờ pơ-luya đánh máy, bụng mừng vô hạn, bèn dùng nó mà nấu được một gà mèn cháo húp đỡ dạ để lết tới trên quãng đường vạn dậm.

Ôi thôi rồi, quyển tiểu thuyết! Dưới cái tên tiền định Lửa Dưới Tro, nên nó ra tro. Nếu không thì bây giờ tôi đã in ở hải ngoại.

Xin trở lại với họa sĩ Diệp Minh Châu.

Anh là một nghệ sĩ tuyệt vời, biết đờn vọng cổ, nhạc cải cách, viết chữ rất đẹp. Tôi được hân hạnh xem anh vẽ vài lần. Lúc anh vẽ, anh trợn trừng cặp mắt xoáy vào cảnh vật hoặc vào người như để thu hút cái tinh hoa hoặc nhìn thấu nội tâm để thể hiện nét bút.

Anh có mấy bức tượng lớn đặt ở các công viên Hà Nội, nhưng tội nghiệp anh nghèo quá, lại có tật hút thuốc liền miệng. Gặp ai cũng hỏi: “Ê, có thuốc cho điều!” . Gặp tụi tôi quen cũ, anh bảo: “Thằng nào bao tao ăn tô phở bay !”

Hổng hiểu sao anh nghèo dữ vậy? Một bức tượng của anh giá bao nhiêu? Một hôm tôi đến xưởng của anh chơi. Nói là xưởng nhưng đó chỉ là một cái phòng con với đất sét gạch đá và vài món dụng cụ, dao, compas. . . v.v… Anh đang nặn tượng, không nhớ tượng gì. Tay ôm bụng, tay nhồi đất. Anh đang đau dạ dầy, không có phiếu mua nếp như Văn Cao. Anh có tật khi làm việc thì quên cả bịnh. Làm việc để quên đau, ngồi không sẽ đau hơn.

Anh gặp tôi lúc nào cũng hồi: “Mày đang viết gì? Chừng nào xong, đưa tao coi với, may ra tao có thấy được một cái gì, để vẽ ra tranh, nặn ra tượng?”

Nhớ lại lúc còn trẻ, thấy anh vẽ Xác đồn Cầu Mống, tôi thật mê. Môn nghệ thuật nào tôi cũng thích. Thấy Linh Mục Phạm Bá Trực đờn violon trên tay (không kẹp trên cổ) và hát bài “Chiến sĩ Việt Nam” trong đình làng Vĩnh Đức (quê Ngoại tôi), tôi mê lắm, không biết chừng nào mình làm được như vậy? Thấy ban Tuyên truyền tỉnh diễn kịch, về nhà tôi bắt thiếu nhi trong xóm ra dạy đóng kịch bắt chước theo ban Tuyên truyền đốt lửa trại. Cũng làm Tây, cũng nổ súng. Tôi đóng vai Tây, nói tiếng Tây toàn tên thuốc Tây: Ô là là! Quinine, Strychnine, Prémarine, Quinobleu, Non, non, Teinture d’iode, Mercurochrome, Alcool de menthe ẹt Streptomycine… hả, hả! Đại khái như thế cũng hoàn thành vai Tây trên sân khấu.

Rồi đóng mọi Cà-răng-căng-tai. Cả đoàn Mọi từ trên núi kéo xuống để tham gia kháng chiến, mặt mày bôi lọ đen sì, không mặc áo, toàn thân quấn lá chuối, đi theo nhịp trống cà rùng, cà rùng, nói tiếng Mọi (Tây không ra Tây Tàu không ra Tàu) chẳng ai hiểu, nhưng ai cũng vỗ tay khen.

Gặp thơ thì chép, đọc, học thuộc lòng. Trong ba lô lúc nào cũng có tập thơ. Và lần này gặp họa sĩ Diệp Minh Châu lại muốn học vẽ. Anh có ba thanh niên đi theo mang vác những tác phẩm của anh cuộn tròn, đút trong những ống thiếc hàn kín, hễ gặp Tây ruồng thì đút vô bụi hoặc nhận xuống mương cho khỏi rách, ướt. Tôi muốn tình nguyện đi theo vác đồ nghề cho anh để học vẽ, không hiểu sao lại thôi. Thế là nhạc, kịch, họa đều xa tôi hay tôi không có duyên với nó?

Bây giờ anh Châu đã gần 80, chắc anh vẫn còn vẽ? Biết chừng nào tôi gặp lại anh, để nói với anh rằng có một thời anh và anh Tư Tâm Điền đã truyền chất diệu kỳ của tâm hồn nghệ sĩ sang tôi.

Cái định nghĩa về nghệ sĩ của Thạch Lam rất đúng trong trường hợp hai anh: “Nghệ sĩ là một sản phẩm kỳ dị của hóa công! “

Chương X

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: