NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI: Chương X

CHƯƠNG X

SƠN NAM PHẠM ANH TÀI

KIÊN GIANG HÀ HUY HÀ

Sơn Nam tên thật là Phạm Anh Tài, quê ở làng Đông Thái tỉnh Rạch Giá. Không biết sanh năm nào, nhưng có lẽ anh hơn tôi chừng 9-10 tuổi.

Còn Huy Hà tên thật là Trương Khương Trinh, quê ở Long Xuyên (?), hơn tôi chừng 5-7 tuổi. Khoảng năm 1950 , khi tôi được đưa về tòa soạn Tiếng Súng Kháng Địch đóng ở miệt Ngan Dừa, Ngan Trâu (gần chợ Tà Beng) tỉnh Rạch Giá, thì tôi đã thấy hai anh đã có mặt ở đó.

Ngôi nhà ngói nền đúc đồ sộ, có lẫm lúa, có một dãy nhà ngang làm kho chứa vật liệu, bếp núc. Sau này hỏi ra thì hình như đó là nhà ông nội của nhà văn Hải Bằng.

Cậu bé Bằng lúc đó mới 5-7 tuổi. Nói là tòa soạn nhưng sự thực chỉ có ba ngoe: Văn thì Anh Tài, thơ thì Huy Hà bao sân, còn chủ bút thì có Rum Bảo Việt, tôi gọi là anh Sáu. Anh Sáu biên soạn chính trị, làm thơ và chịu trách nhiệm toàn bộ. Anh có tài viết là ra thơ và không sửa chữa. Tôi rất phục anh và được anh dạy làm thơ. Số báo nào cũng có thơ anh, loại thơ chiến đấu, hừng hực lửa căm thù.

Máu ai nhuộm nước U-minh ngầu đỏ
Xương ai phơi trên choại héo tràm khô
Dật dờ đi trong gió lạnh sương mờ
Hồn tử sĩ . . . .

Tiếc thay, anh lại rẽ sang con đường làm chính trị, lên đến chức Phó ban Tuyên huấn khu 9, rồi dừng lại đó cho đến ngày cuối đời, không làm thêm bài thơ nào.

Bây giờ xin trở lại Sơn Nam Phạm Anh Tài. Anh là người gần gũi và dạy tôi nhiều nhất. Lúc đó tôi chỉ làm mấy đoạn thơ không được đăng báo, phát khùng, tôi làm nguyên cả tập Xếp Bút Nghiên đưa cho anh Sáu xem.

Anh bảo: “Được, nhưng phải chữa nhiều”. Rồi anh cất luôn ở đâu, không trả lại nữa. Giữa lúc đó thì báo ra đều đều, số nào cũng có bài của anh Tài và Huy Hà. Tôi nôn quá, làm sao có một bài để đăng báo và ký tên “Xuân Vũ”

Những chiếc xuồng liên lạc tới bến tòa soạn chở những quyển thơ Địch vận: Quạnh Hiu của Anh Tài, và Mình ơi, Con Nước Lớn Rồi của Huy Hà đi phân phát các nơi. Tôi đọc thấy khó làm thật, nhưng cũng có những đoạn mình có thể làm.

Anh Tài có tài ngâm thơ “Xa lông” rất hấp dẫn. Trong các ngăn kéo mối mọt của chủ nhà, chúng tôi bắt gặp tập Lửa Thiêng của Huy Cận. Anh Tài mừng rỡ vô cùng. Anh lén đem ra đọc và lén đưa cho tôi xem (vì sợ bị phê bình là mất lập trường.)

Chiều chiều anh thường lôi tôi ra mé sông có cội điệp già, ngồi trên những cái rễ ngoằn ngoèo sần sùi, nói hết chuyện mênh mông, lại sang thi phú. Anh thích ngâm thơ lục bát của Huy Cận. Giọng ngâm của anh nghe buồn não nùng và nét mặt của anh trông càng bi thảm. Hình như anh mang một mối sầu thiên cổ trong lòng, nên nó toát ra trong lúc ngâm thơ. Thơ đã buồn, anh ngâm càng buồn hơn, tôi không có nghe ai ngâm thơ như anh Tài. Nhưng anh chỉ ngâm cho vài người thôi, chứ không ngâm ở trước đám đông bao giờ. Tôi còn nhớ một vài đoạn trong “Lửa Thiêng” do anh ngâm:

Qua đêm thuyền đã xa rồi
Người ra giữa biển nghe hơi lạnh buồn
Canh khuya tạnh vắng bên cồn
Trăng phơi đầu bãi nước dồn mênh mang
Thuyền người đi một tuần trăng
Thuyền ta theo gió tràng giang lững lờ
Tiễn đưa vôi núi đợi chờ
Xa nhau buổi ấy bây giờ nhớ nhau

Tôi có bao giờ sống trong một cái cảnh biệt ly như vậy đâu Tôi có chờ có đợi ai đâu, thế mà nghe anh ngâm rồi cũng đợi chờ, thương nhớ bâng quơ man mác.

Ngập ngừng mép núi quanh co
Lưng đèo quán dựng mưa lò mái ngang
Vi vu gió hút nẻo vàng
Một trời thu rộng mấy hàng mây nao
Dừng chân nghỉ ngựa non cao
Dậm xa lữ thứ kẻ nào héo hon
Đi rồi khuất ngựa sau non
Nhỏ thưa tràng đạc, quán còn tịch liêu
Chơ vơ buồn lọt quán chiều
Mái nghiêng nghiêng gửi buồn theo hút người.

(Đẹp Xưa – Đề tranh Tô Ngọc Vân)

… Sắc trời trôi nhạt dưới khe
Chim đi, lá rụng, cành nghe lạnh lùng
Sầu thu lên vút song song
Với cây hiu quạnh với lòng quạnh hiu
…..
Nhân gian e cũng tiêu điều dưới kia.

(Không nhớ tên bài.)

Cách đây 50 năm, nhớ lại mấy vần thơ, tôi vẫn như còn nghe dư âm giọng ngâm não nùng của anh. Chính anh là người dạy cho tôi “cú trung đối” trong thơ lục bát:

Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa in gối chiếc, nửa soi dậm trường.

Anh bảo:

– Mày thấy những chữ đôi, chiếc và hai vế câu tám có tài không? Rồi anh đọc tiếp:

Chăn đơn không ấm người nắm một (Huy Cận)

Chữ đơn và chữ một có thần tình không?

Rồi lại thêm:

Tuổi son đỏ môi hồng

(Nàng Trinh Nữ của Nguyễn Bính)

Anh chắc lưỡi:

– Ba chữ son, đỏ, hồng thật là tuyệt.

Về văn xuôi, kỹ thuật viết truyện, anh dạy tôi cũng nhiều. Nguyên cái việc viết của anh cũng đã tức thì trở thành bài học cho tôi. Học thầy không tày học bạn, anh vừa là bạn vừa là thầy.

Trước nhất, anh bảo:

– Mày viết câu văn phải có bắp thịt. Nghĩa là nó không phẳng lỳ làng nhàng, đọc lên không gây xúc cảm. Anh đem Thanh niên Cận vệ (tức tiểu thuyết Molodaya Gvardiya, 1946) của Alexandr Fadeev đọc và giải thích cho tô i nghe . . .

Tôi không đời nào quên cái hình tượng của Fadeev dựng lên trong chữ nghĩa. “… Khi ta cần một chữ, thì có hàng trăm chữ hiện ra. Cũng như anh chỉ huy cần một tên lính, thì có đến cả trăm xin đầu quân”. Vậy ta phải bắt lấy anh nào cho vừa ý nhất. Cũng như trong chữ, ta phải dùng chữ nào chính xác nhất… đắt giá nhất, độc đáo nhất để diễn đạt cái ý ta muốn diễn đạt. Nghĩa là khi ta dùng chữ đó rồi, không chữ nào thay vào mà hay hơn được

Anh Tài nói: “Mày hiểu không? Cũng như mày lựa vợ vậy, khi mày đã chấm cô A thì cô B dù có đẹp hơn giàu hơn cũng không làm mày hạnh phúc bằng cô A! Hì hì …”

Tôi hiểu lắm! Tôi càng nhớ những bài thơ Đường của tía tôi bắt tôi chép lúc tôi còn ở nhà. Chỉ có 56 chữ mà diễn đạt được cả một… trời!

Nhớ lời anh Tài, sau này đọc sách thì tôi thường chú ý như anh bảo.

Khi ra Hà nội gặp được một ông thầy khác là nhà văn Nguyễn Huy Tường. Một hôm anh nói: – Cậu có đọc Kiều và thấy câu: “Lơ thơ tơ tiễu buông mành” không? Sáu chữ đó tuyệt tác. Nó diễn tả cái mong manh, mảnh mai của liễu. Ba chữ Lơ thơ tơ là những chữ rất thường, nhưng không thể tìm đâu ra được những chữ như vậy. Cụ Nguyễn đã đặt đúng chỗ, rồi ba chữ liễu, buông, mành đi theo Cho nên khi đọc 6 chữ, ta nghe lòng nhẹ nhõm và thấy những tơ liễu rủ mong manh Thơ phải đâu là điều gì khó khăn khúc mắc?

Khi tôi đọc Chí Phèo của Nam Cao, tôi thấy ông tả Chí Phèo sau một trận say, thức dậy nằm trong lều cô độc “Lòng thấy mơ hồ buồn”. Đọc đến chữ “mơ hồ”, tôi buông sách. Đúng quá ! Buồn, nhưng buồn mơ hồ, không duyên cớ. Không có chữ nào hay hơn chữ “mơ hồ “.

Cũng như khi đọc Hà Nội 36 phố phường của Thạch Lam, gặp mấy chữ “thoáng một tí nghi ngờ “ tôi cũng giật mình. Ông tả chị hàng bún chấm cây tăm vào chiếc lọ con rồi lại cho vào bát bún của khách hàng. Người khách nâng tô bún lên, nghe “thoáng một tí nghi ngờ” vì cái hương cà cuống!

Tôi đọc những chữ trên đây hằng nửa thế kỷ mà vẫn còn nhớ. Chữ nghĩa Việt Nam giàu quá như rừng vàng biển bạc, nhưng người viết phải biết dùng. Đó là công việc của nhà văn.

Xin trở lại với anh Tài. Một hôm anh chỉ cho tôi câu. .văn bắp thịt. Nói nôm na ra là như cái bắp thịt con chuột của anh nông dân. Văn là phải như thế đó, chớ không phải suông đuột như bắp tay con gái.

Anh bảo khi mày đọc lại truyện mày viết, thấy nó lềnh lềnh thì nên bỏ cả hoặc bỏ những đoạn đó mà viết lại. Đọc mà buồn ngủ thì ai đọc hết truyện của mày? Đây bắp thịt là thế này:

Anh A và anh B muốn đấu kiếm với nhau. Anh A hỏi:

Mày có đem gươm theo đó không?

Nó không bao giờ rời tao!

Cái câu trả lời rất bắp thịt. Nếu bình thường người ta chỉ đáp:

Có chớ! ta đeo trong lưng đây!

hoặc:

Ta có sẵn đây!

Mày thử tìm câu trả lời nào hay hơn câu thứ nhất xem! Không có câu nào! Mày phải viết những đoạn cuồn cuộn như bắp thịt của một lực sĩ. Như thế mới lôi cuốn người đọc.

Hồi đó khó tìm sách để đọc lắm. Đôi khi đóng cơ quan trong nhà giàu có tủ sách cũ, quơ bậy trong xó hộc tìm được một cuốn Tự Lực Văn Đoàn hoặc Tiểu thuyết thứ bẩy, mới đọc được Khái Hưng, Nhất Linh, truyện ngắn của Ngọc Giao, Hồ Dzếnh, tôi thấy sao văn ngọt ngào thế? Biết bao giờ mình mới viết được như người ta?

Những lúc ông chủ bút đi họp cả tuần lễ, anh Tài và tôi lấy xuồng chèo đi xuống tận Tân Bằng mượn một hai quyển sách của chi hội Văn nghệ. Đường chèo mất ba ngày đi, ba ngày về, chớ đâu phải gần. Nhưng hồi đó tôi còn trẻ lắm, sợ gì chèo chống mỏi mệt. Anh ngồi trước mũi kể chuyện cho tôi nghe. Anh có tài kể chuyện. Chuyện bắt cua bắt nhái ở quê anh, chuyện văn chương nghệ thuật, anh nhớ rất dai. Truyện Kiều đọc hồi xưa, những câu hay nhất, anh bảo nằm ở trang nào, ở đầu hay ở cuối trang.

Lúc anh viết truyện Tây Đầu Đỏ (chủ điền Tây) anh có cho tôi xem. Lúc đó khó tìm được giấy quyến để quấn thuốc, anh phải vô nhà in xin giấy báo (papier joumal) dẻo, về thay giấy quyến. Lúc hết giấy anh xé cả bản thảo hút thuốc. Anh viết đoạn sau, thì đoạn trước đã ra tro rồi. Tôi hỏi rồi anh làm sao viết lại? Anh bảo:

– Tao chép lại y nguyên!

Có lần tôi thử xem anh nói chơi hay nói thiệt. Tôi bảo anh chép lại một truyện đã in báo thử xem nào. Anh chép lại đúng y. Một lần khác tôi lấy bản thảo anh đang viết, và đọc to lên cho anh nghe, cố tình đọc sai một vài chữ, nhảy một vài cái chấm cái phết. Anh tốp tôi lại ngay và “cải chính”. Anh Tài có một trí nhớ và cách làm việc phi thường.

Còn nói về truyện “miệt vườn” thì tôi tin chắc không một nhà văn nào hiểu vùng quê (Bạc Liêu – Rạch Giá) bằng anh. Anh có thể là nhà nghiên cứu sử địa, chứ không chỉ nhà văn.

Một lần anh mô tả một gia đình nọ, ông bố đi chợ về, lượm cái hộp lon sữa bò để làm ống đũa. Về sau khi tôi đọc Tô Hoài, thấy anh tả một ông nông dân ra đường cao su nạy một ít nhựa về gắn lại cái đĩa bể. Anh Tài và Tô Hoài đã dạy lôi như thế mà hai anh nào có biết! Và nhờ những chuyện nhỏ như vậy mà tôi hiểu văn học, viết văn.

Xin trở lại chuyện đi mượn sách ở chi hội Văn nghệ Nam bộ. Ở đây thỉnh thoảng có một quyển sách mới do một phái đoàn từ Bắc vào Nam. Sách mới đó là: Đêm Liên Hoan của Hoàng Cầm, Xung Kích của Nguyễn Đình Thi. Lúc đó ở Nam Bộ chỉ có mấy nhà thơ. Ở khu 8 có Truy Phong và Bảo Định Giang (báo Tổ Quốc), Ở khu 9 có Rum Bảo Việt và Huy Hà (báo Tiếng Súng Không Đích), còn khu 7 thì có Huỳnh Văn Nghệ và Nguyễn Ngọc Tấn (báo Tiền Đạo). Về văn thì ở khu 9 có Anh Tài, khu 8 có Đoàn Giỏi và Minh Lộc, khu 7 có Hoàng Văn Bổn. Nhân tài trong Nam Bộ đúng là như “lá mùa thu.” Ở chi hội Văn Nghệ có tờ báo Lá Lúa, do thi sĩ Hà Mậu Nhai làm thư ký tòa soạn. Ngoài ra còn có “Tam Hoàng”: Hoàng Tấn, Hoàng Phố và Hoàng Thanh Bình. Còn Nguyễn Bính thì ở khu 8 (Đồng Tháp Mười), nhưng bài của anh đăng khắp ba khu.

Xuống chi hội Văn nghệ, anh Tài là người có uy tín mà chỉ mượn được có một cuốn La Tempête của Ilya Ehrenbourg. Mà trước khi cho mượn, anh Nhai bắt phải hứa: 3 tháng đem trả. Anh Tài hứa ngay để được sách. Đem sách xuống xuồng rồi, anh đọc, tôi chèo. Đoạn nào hay anh giải thích cho tôi nghe, và phân tích về cách viết và bảo tôi phải nhớ những chi tiết ly kỳ .

Khi về tới cơ quan thì đã đọc hơn phân nửa quyển La Tempête dày 600 trang tiếng Pháp. Toàn Nam Bộ chi có một bản, mà chỉ anh Tài mới mượn được, và tôi có gan chèo sáu ngày để tới nơi mượn sách, thì đủ biết sự ham mê văn nghệ của chúng tôi cao đến mức nào.

Thuở đó, có lẽ không ai rõ chức nghiệp của nhà văn hơn anh Tài. Có lần anh rủ rỉ với tôi, không nhớ là vào dịp nào:

– Nghề đánh giặc thì tao nhường cho ông Giáp, nhưng viết văn thì ông ấy phải nhường cho tao chớ!

Con người ốm o, ăn mặc xập xệ ấy đã cho tôi hiểu về văn chương nghệ thuật thuở ban đầu và mãi mãi sau này. Những bài học ngắn ngủi, thân ái, nghe qua tướng dễ, nhưng áp dụng cả đời không xong, không được. Sau này tôi có đọc Hương Rừng Cà Mau, tôi thấy anh là một bậc thầy. Văn học Nghệ thuật không có được mấy người như vậy.

Người thứ hai tôi gần gũi là Huy Hà. Anh học trường Bassac và sớm mê thơ Nguyễn Bính. Con gái của anh hiện nay ở Hoa Kỳ, đã cho tôi biết là thuở còn đi học anh đã từng lén nhà xúc gạo đem cho nhà thơ giang hồ nghèo Nguyễn Bính, khi thi sĩ lưu lạc về bờ biển Rạch Giá khoảng năm 1942. Qua kinh nghiệm cuộc đời, tôi thấy hình như nghệ sĩ nào lớn lên trong nghề cũng đều có sự nâng đỡ, dạy dỗ của một người đi trước. Anh Tài: Quách Tấn, Huy Hà: Nguyễn Bính.

Huy Hà đối với tôi còn là một người thân tình. Lúc kháng chiến thoái trào, anh và anh Tài thường khuyên tôi cưới vợ. Anh còn bảo: “Nếu mày muốn, tao sẽ kêu em vợ tao ra gả cho mày!” Nhưng thời đó tôi mới 20 tuổi mộng tang bồng chưa thỏa, đâu chịu để sợi tơ buộc chân chim.

Anh là một người rất khiêm tốn, không thích sự ồn ào Lúc nào anh cũng viết một bài thơ dở dang. Nhiều lần anh gọi tôi bảo: “Ê Xuân Vũ, tao mới làm bài thơ đã lắm, ra đây tao đọc cho nghé!”

Anh rất thích câu hát đưa em. Trong chiếc sắc-cốt da rách nát, hình như lượm ở đâu, chớ không phải mua, lúc nào cũng có cả xấp giấy rọc nhỏ ghi câu hát đưa em mà anh nghe được ở đâu đó.

Ví dầu cầu vốn đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi.

Chú thích: gập ghình chớ không phải gập ghềnh.

Ví dầu cậu giận mợ hờn
Em theo cùng mợ kéo đờn mợ nghe
Mợ nghe tôi kẻo đờn cò
Đứt dây ứ hự quên hò, xự xang.

Chú thích: Kéo đờn chớ không phải kéo đàn.

Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi
Buôn bán chẳng lời chèo chống mải mê
Ví dầu ví dẩu ví dâu
Ăn trộm hái bầu ăn cướp nhổ dưa.

Có lẽ ca dao đã thấm vào hồn thi sĩ từ thời trẻ, cho nên thơ của Huy Hà, nhiều bài mang hơi thở ca dao:

Mười chín tuổi chị lấy chồng
Hai mươi mới có con bồng trên tay
Mỗi lần ru giấc ngủ ngày
Chị ghiền tiếng hát, chị say câu hò
Nếu không vang tiếng ầu ơ
Không văng vẳng tiếng võng đưa thâm trầm
Chi buồn như buổi chợ tàn
Như ngày không nắng như rằm không trăng.

(Mẹ con Tiên nữ, 1958)

Tôi thấy nguồn hứng của Huy Hà triền miên, chớ không phải từng lúc, và đợi có hứng mới viết. Anh viết trong bụng, lúc chèo xuồng, đậu xuồng nằm nghỉ dưới bóng cây ở ven sông, và cả lúc hành quân giết giặc.

Năm 1950, khi chiến khu 9 mở chiến dịch Long Châu Hà (Long Xuyên, Châu Đốc, Hà Tiên), tôi và Huy Hà đi làm phóng viên chiến trường cho báo nhà. Dọc đường gặp nhạc sĩ Quốc Hương, hai người cùng làm bài hát cho chiến sĩ hát, đó là bài “Cười Vui Mà Đi Long Châu’. Nhạc của Quốc Hương, lời của Huy Hà. Huy Hà không biết nhạc, Quốc Hương phải hát bằng dấu “sắc”, “hỏi”, “huyền”, “không” cho anh nghe ở một gò đìa. Sau khí vượt qua kinh Cái Sắn trên đường lên Mỹ Hiệp Sơn, Quốc Hương bảo Huy Hà:

– Mày ráng làm cho xong. Tối nay đốt lửa trại, tao sẽ hát cho chiến sĩ nghe.

Huy Hà vừa lội sình ngang tới cổ, vừa làm lời. Anh biết tôi có chơi măng-đô-lin, nên gọi lại hỏi chữ này chữ khác Lúc đó mệt đến điên người, còn nói sao ra cho được nữa, tôi đáp:

– Anh cứ cho một cục sình vô là xong.

Đêm đó, Quốc Hương cầm giấy nghiêng vào ánh lửa. vừa đọc vừa hát. 46 năm trước, những người đi kháng chiến chống Pháp nếu từng dự chiến dịch này, có còn nhớ dáng điệu hùng dũng của nhạc sĩ Quốc Hương đêm ấy bên bờ Kinh Xáng Mỹ Hiệp Sơn bên sườn núi Ba-thê?

Quốc Hương đã dùng tiếng hát tài hoa để lau chùi lòng súng của chiến sĩ Trung đoàn Tây Đô vào mùa xuân năm ấy. Nay thì tiếng hát đã nằm yên dưới mộ với nhạc sĩ, còn người làm lời ca thì nằm trên giường bệnh…. ở Sài gòn:

Cười vui mà đi Long Châu
Tình thương reo trong nòng súng
Ta về mang theo Vui Mừng
Cầm súng ta đi diệt Tây
Quân về Long Châu! Quân về Long Châu!

Có lẽ đó là bài hát độc nhất của Huy Hà?

Tôi là kẻ đi bên cạnh anh, khi anh nhẩm từng câu. Cũng là người nghe đầu tiên khi anh Quốc Hương hát thử trước khi trình diễn. Cái tâm hồn nghệ sĩ và lòng yêu nước của hai anh thật là hồn nhiên và lồng lộng. Riêng tôi thì thấy mình bước gần tới nghệ thuật thêm bước nữa.

Cũng trong chiến dịch này, Huy Hà đã làm hai câu thơ ca ngợi tình đồng chí nơi chiến trường:

Sặc rằn chia đứa nửa con
Mặn mà, mà nhớ, mà thương nhau hoài.

Chữ điệp vận mới hay làm sao!

Huy Hà làm nhiều thơ lắm, bài nào cũng hay, cũng có thi tứ độc đáo. Người dân Sài gòn, nhất là giới học sinh, còn có ai là không biết bài “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” của anh. Nhiều hãng Vi deo đã trình bày ở Hải ngoại và trong nước. Năm ngoái bất ngờ nghe một nữ ca sĩ hát, bỗng nhiên nước mắt tôi ràn rụa. Tôi vụt nhớ con khô sặc rằn của Huy Hà trong chiến dịch Long Châu, chính chúng tôi đã chia cho nhau.

Hỡi ôi, những kỷ niệm xưa hồ như chôn vùi trong dĩ vãng, bỗng nhiên sống lại nguyên hương nguyên tình. Đây tôi xin chép lại mấy đoạn “Hoa Trắng” của anh.

Chuyện không có gì là ghê gớm, nhưng nó bất hủ là nhờ tài hoa của Huy Hà tiên sinh.

Mỗi lần tan lễ chuông ngừng đổ
Hai bóng cùng đi một lối về
E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
Thẹn thuồng em dừng lại không đi

Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím, người yêu cũ ‘.’
Giữ cả lầu chuông, nóc giáo đường

Ba năm sau, chiếc xe hoa cũ
Chở áo tím về trong áo quan ”
Chuông đạo ngân vang hồi vĩnh biệt
Khi anh ngồi kết vòng hoa tang.

Anh kết vòng hoa màu trắng lạnh
Từng cài trên áo tím ngây thơ
Hôm nay vẫn đóa hoa màu trắng ..
Anh kết tình tang gửi xuống mồ.

“Lạy Chúa, con là người ngoại đạo
“Nhưng tin có Chúa ngự trên trời
.
“Trong lòng con, giữa màu hoa trắng
“Cứu rỗi linh hồn con, Chúa ơi!
” .

Tôi không có ý định viết về thơ Huy Hà, chỉ ghi lại tình cảm xưa của tôi đối với anh qua vài đoạn thơ, nhưng thơ hay không ngừng bút được, xin chép thêm vài đoạn “Đẹp Hậu Giang ” là bài thơ mộc mạc nhưng thâm thúy như ca dao:

Muối Bạc Liêu mặn tình biển cả
Tiêu Hà Tiên nồng ý quê hương
Thơm tho khói thuốc mùi Cao Lãnh
.
Cá cháy bùi ngon và Sóc Trăng
Gạo móng chim thơm mùi rạ ngọt
Nấu nồi hòn Đất hòn Me
Chụm than đượm lửa cây đước
Ôi lửa Cà Mau đẹp bóng quê

….
Trở lại xóm dừa mùa lửa loạn
Ngồi trên bến cũ lắng thời gian
Vô tình tôi vớt trong dòng nước
Giọt máu miền Nam nước Việt Nam
*

Nước chảy một dòng ra biển cả
Vẫn mang tình nước Cửu Long Giang
Sóng ơi! dù nước ra khơi biển
Vẫn nhớ rễ bần đất Hậu Giang.

* Hai câu này lúc chưa in là: “Khêu đèn tôi thấy trong lòng nước/ Có máu miền Tây, máu Hậu Giang.

Bài thơ này Huy Hà làm trước 1950. Anh có đọc cho tôi nghe. Sau đó anh về Sài gòn mới in ra, và đề năm 1956 .

Và một bài thơ làm cùng thời: “Tiền và Lá” tặng thi sĩ Nguyễn Bính để nhớ ngày tá túc ở xóm biển Kiên Giang:

Ngày thơ hớt tóc “miểng vùa
“Ngày thơ, mẹ bắt đeo bùa “cầu ông”
Đôi ta cùng học vỡ lòng
Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh
Đôi nhà cùng một sắc tranh,
Chia nhau từ một trái chanh trái đào
Đêm vàng soi bóng trăng cao
Ngồi trên bờ giếng đêm sao trên trời
Anh moi đất nắn “tượng người”
Em thơ thẩn nhặt lá rơi. . . “làm tiền
Mỗi ngày chợ họp mười phiên
Anh đem “người đất “đổi “tiền lá rơi
Nào ngờ, mai mỉa cho tôi
Lớn lên em đã bị người ta mua
Kiếp tôi là kiếp làm thơ
Vốn riêng chỉ có muôn mùa lá rơi
Tiền không là lá em ơi
Tiền là giấy bạc của người in ra
Người ta giấy bạc đầy nhà
Cho nên mới được gọi là chồng em
Bây giờ những buổi chiều êm
Tôi gom lá đốt, khói lên tận trời.

Thời ở tòa soạn báo với hai anh, tôi được đọc nhiều thơ của Nguyễn Bính, có thể nói tôi thuộc hết thơ của Nguyễn Bính. Đặc biệt là bài Lỡ Bước Sang Ngang, dài trên một trăm câu lục bát. Tôi đã mua mực Waterman để chép thơ. Nếu rủi có chôn xuống mương cũng không phai.Việc chép thơ và thơ đối với tôi thời đó không xa lạ. Nhưng bây giờ nhớ lại, tôi mới thấy tôi đã dần dà đi vào văn chương mà không hay. Lúc còn ở nhà, tía tôi bắt chép thơ Đường, đọc Kiều để tìm ra “Mười lăm năm”, tôi không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ làm thơ.

Khi đi học với thi sĩ Tâm Điền, tôi cũng mới biết làm thơ Khi sống với anh Sáu Rum, tôi cũng chỉ dám nghĩ “sẽ làm thơ”, nhưng mỗi lần thấy anh ngồi xuống, là xong bài thơ đăng báo, tôi sợ quá, nên tôi phải giữ phận “gối rơm”. Nhưng khi đi chơi, trò chuyện với Anh Tài và Huy Hà, thì tôi thấy là “người ta làm được, mình cũng làm được,”. Tuy Anh Tài có chỉ cho cách viết như trên, nhưng tôi không biết làm sao mà viết cho ra chuyện. Và chuyện gì mới được chứ?

Thời gian đó, trên báo chí đăng những bài phóng sự trận đánh, thơ và những bài chính trị, và lâu lâu mới có một vài mẩu chuyện nói về chiến sĩ. Chỉ có Đoàn Giỏi là người đầu tiên viết truyện, đó là truyện “Đường Về Gia Hương”, độ chừng 50 trang, và “Khai Sát Giới”, nói về một nhà sư dùng cảnh chùa làm bãi chiến trường giết giặc pháp, không nhớ tên tác giả. Ngoài ra, Nguyễn Bính viết một truyện bằng thơ là “ông Lão Mài Gươm”. Mãi về sau mới có giải thưởng Cửu Long năm 1950 (?) mới thấy xuất hiện Minh Lộc với Con Đường Sống, và Hoàng Văn Bổn với Vỡ Đất. Rồi đến truyện Xung Kích ở ngoài Việt Bắc vào.

Tôi đọc Xung Kích mới thấy rõ những nét của anh bộ đội có đời sống, có tâm tình, chớ trước kia không dám đưa cuộc sống riêng tư của nhân vật vào truyện vì cho rằng nó không có tính chiến đấu.

Riêng về Anh Tài là người viết truyện tiên phong ở Nam Bộ, nhưng cũng không có nhân vật bộ đội hoặcngười kháng chiến. Anh viết nhiều về những tá điền với chủ điền Tây ngày xưa như: Tây Đầu Đỏ, Bên Rừng Cù Lao Dung. Trong đó anh mô tả nhân vật toàn diện, có tên tuổi có gia thế, hoàn cảnh chống áp bức và hành động rất hiện đại. Bây giờ nhớ lại, tôi thấy truyện của anh viết cách đây 40 năm vẫn còn mới nguyên. Tôi vẫn thích nhân vật Bảy Cần trong Tây Đầu Đỏ ngồi dưới bếp quạt lửa nấu nước. Nước đã sôi mà không chịu lên nhà trên vì hổ thẹn đã đưa con gái mình qua nhà Tây Đầu Đỏ để phụ “rửa chén”…

Anh luôn luôn nhắc tôi phải tránh lối viết và đối thoại “tự nhiên chủ nghĩa” mà có một lúc người ta xúm nhau đi vào cái lối mòn và sai lầm đó. Anh bảo: Văn chương phải là gọt giũa nếu không, ai cần văn chương!

Muốn biết chợ búa ra sao, người Pháp chỉ cần đi chợ là đủ, chớ cần gì đọc chuyện Maupassant. Còn muốn biết lá rụng ra sao, chỉ cần nhìn lá rụng, chớ đâu phải đọc Lá Thu của Hugo cho tốn thì giờ!

Chương XI

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: