NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI: Chương XI


CHƯƠNG XI

NHÀ PHÓNG VIÊN
BẮT ĐẦU BIẾT MÙI THUỐC SÚNG

Tôi làm phóng viên cho Tiếng Súng Kháng Địch đi xuống bộ đội đánh giặc, phục kích giao thông, công đồn. Ban đầu sợ lắm, nằm chờ giặc đến cứ mắc đái hoài, mà đâ có chỗ để đi, cứ tè tại chỗ. Cái chi tiết này, tôi viết lên báo, chiến sĩ thích lắm, nói đó là thực tế. Nhất là mấy anh tân binh thì cho rằng “đúng” vô cùng.

Có lẽ nhờ quen với bộ đội hồi ở Bến Tre, bây giờ gặp bộ độ, tôi “hít” lắm, tôi cho chiến sĩ đánh Tây là những người anh hùng. (Họ tưởng đánh Tây xong, nước mình độc lập thiệt tình. Nào dè sau khi Tây đi, người ta còn muốn Tây trở lại!). À quên, tôi cũng có hụ hợ trong trận Tầm Vu nữa chớ, đâu hồi 1949-50 gì thì phải. Lâu gì lâu dữ, làm sao mà nhớ chính xác ngày tháng, những hình tượng thì không phai mờ. Cái trận đó lấy được “Cà nông xăng xe” tức là cà nông 105, chiến sĩ ta kéo không nổi, phải bắt trâu bò kéo… đến đứt ruột chết. Trâu kéo thì tôi thấy, nhưng trâu đứt ruột thì không, vài mắc lo chạy trước, chớ đâu có ở sau. Về nhà tôi viết phóng sự, thì anh sáu mới thêm cái vụ “đứt ruột” vô. Tôi cãi lại, anh cú đầu tôi: “Mày chạy trước nên không biết”. Về sau tôi mới hay là ảnh “sáng tác” cái vụ “đứt ruột” đó. Thế là tôi học được một bài học trong nghề viết…

Vụ đánh trận Sóc Xoài, cũng trước hay sau vụ Tầm Vu ít lâu thôi, nhưng chỉ lấy được cà-nông “xăng đít” (quatre vingt dix=90), anh em nhại theo “xăng xe” hồi trận trước nên nói là “xăng đít”, chớ kỳ thật không có cà-nông nào 110 ly, chỉ có 90 hoặc 105 ly.

Hồi đó đánh Tây vui thiệt vui, coi cái chết như không. Vì yêu nước mà! Chiến sĩ ra trận ôm súng mút-cờ-tông trong tay mà chưa biết rành, chỉ huy phải bò tới bảo: bắn, lắp đạn, nhắm như vầy, như vầy… Thế mà đánh vẫn thắng như chẻ tre, không có trận nào mà không thắng cả. Liều mạng cũng có khi thắng địch chớ!

Có một trận vui thiệt vui, Tây chết bộn, đốt xe cháy mịt trời. Bỗng từ trong đám lác nhô lên một cái đầu tóc vàng hoe, quăn đớn, mặc áo không phải áo, quần không phải quần. Chiến sĩ không biết, đó là một con đầm. Nó tốc váy lên… ý nó bảo chiến sĩ ta…. rồi đừng giết nó. Bỗng anh chỉ huy tới hét, nó hoảng hồn buông váy xuống và lủi.

Khi về viết phóng sự, tôi cũng ghi ra y như vậy. Anh Sáu gạt bỏ hết cả đoạn này mà không giải thích cho tôi hiểu tại sao.

Sau đó, gặp Anh Tài, ảnh mới bảo:

Tout n’est pas bon à dire! (Không phải cái gì cũng nói ra được!)

Thế là tôi học được một bài học khác, không chỉ trong văn chương mà cả ngoài đời.

Cuộc đời làm phóng viên của tôi, có ai dạy cho ngày nào mà vẫn cứ phóng ào. Tuy vậy cũng oai! Khi xuống bộ đội thì vị chỉ huy giới thiệu đây là phóng viên của khu. Tôi được đi chung với ban chỉ huy, ngồi chung hầm. Trên lưng mang ba-lô, vai đeo sắc-cốt, túi giắt bút máy, ghi ghi chép chép. Bên trong sắc-cốt toàn là giấy trắng, tưởng có thể viết bài cả trăm trang.

Bữa đó đánh đồn. Tôi định bụng sẽ tường thuật một bài thiệt ngon để lấy oai với chiến sĩ. Thường thường những trận đánh không có phóng viên đi theo, ở nhà cứ nghe tin chiến trường rồi sáng tác phóng sự, nên chiến sĩ đọc thấy không đúng sự thật, các vị chỉ huy cự nự rùm trời “nhà báo ở trong tháp ngà”. Lần này thì không thể nữa. Tôi hỏi từng đội từng tên để tường thuật, không chê vào đâu được.

Ngờ đâ khi cây moọc-chê 81 của đại đội trợ chiến mở đợt phá khẩu cho xung kích lại không gầm. Cả nửa tiếng đồng hồ loay hoay ngoài vòng rào không vô được. Lính trong đồn hay, bắn ra như mưa bấtc. Đơn vị (của anh Thiên) phải rút lui. Nhưng khổ cho tôi. Trận đó tôi bò vô với một đội xung kích, ý định sẽ viết cho kỹ việc chiếm đồn. Cho nên khi nghe quân ta hô “xung phong” tôi cố bò tới. Một lúc lâu nhìn lại còn có một mình. Phía sau lưng tôi bộ đội đang rút lui, len lỏi dưới mé mương từng tốp, tôi mới giật mình. Thôi bỏ mẹ rồi! Khi xuất phát, ban chỉ huy có phổ biến:”Xung phong” là khẩu lệnh “rút lui!”. Lâm trận, đầu óc rối bời, tôi quên khuấy đi, cứ tưởng xung phong là xung phong chớ đâu có nhớ đó chính là rút lui!

Ông phóng viên bèn vọt theo, chạy bò càng. May không bị thương nhưng về đến địa điểm thì ba-lô lẫn sắc-cốt còn bỏ bên rào bót. Trận này về đến toà soạn tôi chỉ tường thuật miệng.

Tuy vậy ông phóng nhà ta cũng không ngán. Lần này cũng đi đánh bót nhưng không công đồn mà “nội ứng”.

Bạn biết sao tôi hăng đánh đồn vậy không? Vì tấm ảnh của Chateaubriand, tác giả quyển Mémoires d’outre Tombe – (“Ký ức dưới mộ”). Ông ấy đẹp trai lắm. Có người yêu tên Récamier hay gì đó quên mất. Thuở nhỏ đi học thấy tấm hình của ông ấy chụp đứng bên đống gạch điêu tàn (Ruines) “tóc lộng tơi bời gió bốn phương”. Vẻ mặt sầu thảm, đôi mắt ngó xa xăm, tay phải thọc vào áo gi-lê, chân bắt tréo. Nói chung là rất nghệ sĩ. Cái tấm ảnh đó vẫn còn ăn sâu vào đầu tôi qua khói lửa kháng chiến cũng không mờ. Tôi bỗng có ý định chụp một tấm hình “nghệ sĩ” ‘ như vậy. Đánh đồn xong là đốt. Tôi sẽ đứng bên xác đồn đổ nát hoặc xác xe bốc cháy mà chụp một tấm hình kiểu đó. Cho nên bộ đội đánh xe, đánh đồn gì chàng cũng phóng theo. Lần đánh nội ứng (bót Phán Đặng – ở Cần Thơ) bị nội ứng phản thùng, nhưng quân ta cũng vô được bên trong.

Anh tiểu đội trưởng của tôi chĩa súng vô ngực tên lính đang ngủ trên giường bắn nửa loạt Tôm xông (tức súng máy Thompson). Một tên khác ở đâu không biết, nhào tới giật súng. Hai người giằng co. Tôi rọi đèn pin và kêu một chiến sĩ khác tới bắn. Còn viên đội có súng lục lủi dưới gầm giường. Tôi thấy rõ ràng hắn chĩa họng súng về phía chúng tôi: – Pằng! Tôi nghe đau điếng, tôi buông cây đèn và tìm lối thoát ra bót. Lúc bấy giờ đã im tiếng súng, đơn vị đã rút lui cả rồi (mà không hô xung phong tiếng nào cả).

Một anh bộ đội cõng tôi chạy ….

Trận đó, bài phóng sự cũng không viết được, vì quân ta bỏ lại trong đồn sáu xác chiến sĩ.

Còn nhiều trận lâm ly vui vẻ nữa, nhưng chỉ xin kể mấy trận để minh họa bước đầu viết phóng sự của tôi. Cái tên “Xuân Vui không biết ai đặt cho, được ký trên báo hồi thời đó.

Mới vừa rồi có anh chỉ huy cựu trào chống Pháp, nghĩa là cách đây 46 năm, một trong các vị chỉ huy nổi tiếng là “anh dũng xung phong, nỗi sợ hãi của giặc Pháp” đến thăm tôi. Lạ chưa, như một giấc mơ! Anh năm nay đã 81 tuổi. Hai anh em ngồi uống trà. Anh nhắc lại những trận đánh ly kỳ thời 45-50 mà chỉ những người yêu nước dám phơi gan trải mật dám xông vào. Chính tôi đã đi theo bộ đội của anh trên khắp miền Tây. Đánh không biết bao nhiêu trận. Nào đánh xe thiết giáp. Nào đánh chìm tầu Tây, nào đột nhập thị xã này, thị trấn nọ…

Những trận chiến thắng huy hoàng đem chiến lợi phẩm về triển lãm. Chiến sĩ được đồng bào coi như thần thánh. Tôi hỏi những vị chỉ huy cùng tuổi với anh hiện ở đâu?

– Chết hết rồi! Chi còn tao là đạn chê nên còn đây thôi !

Tôi nhớ lại những ngày lặn lội ở miền Tây 9 tỉnh Hậu giang. Không chỗ nào là chỗ không có dấu chân anh. Anh nhắc lại. Tôi cũng bổ túc thêm.

Bỗng anh hớp miếng trà và cười ha hả:

– Nhưng chắc mày quên một chỗ?

– Chỗ nào vậy anh Tư?

Anh lại hớp trà như để thấm giọng, sửa soạn kể một chuyện dài, và nói:

– Em nhớ hồi mình đánh lấy chiếc xe tăng ở Hà Tiên không?

– Dạ nhớ. Đó là sau trận đánh tầu lấy được vô số đạn dược và cà-nôngt Tôi nói luôn – Trận đó đánh chìm tầu là do ý kiến của anh. Lần trước nước lớn, tầu chạy ngang súng mình bắn không lủng vì hông tầu bọc sắt. Anh tức mình chửi ó trời. Mấy bữa sau anh lại cho phục kích. Chờ nước ròng, mình ở trên bờ bắn chĩa xuống, lòng tầu không có bọc sắt. Trời! Lấy đạn thùng nào thùng nấy đầy ắp, đạn vàng tươi, mê con mắt. Nhưng còn cà-nông thì nó bắt bù loong dưới đáy tầu, không gỡ được, phải đưa thợ lặn xuống cưa đem lên.

Anh tiếp:

– Phải rồi. Sau đó nhờ đạn mới, mình đánh lấy xe tăng. Đánh xong lấy đây xích đem về triển lãm, chớ xác xe tăng quá nặng không chở về nổi. Rồi mình kéo quân từ Hòn Me, Hòn Đất về nghỉ dưỡng quân ở Chưn Qui, Đá Bạc. Để anh Tư nhắc cho em nhớ. Đó là “Chưn Qui” chớ không phải là “Kim Qui”. “Kim Qui” là sau này người ta chữa lại cho văn hoa, chớ gốc cũ nó là “Chưn Qui” vì vùng này có cái rạch rẽ ra 5 nhánh như cái chưn con qui (rùa) xòe ra vầy nè (anh xoè 5 ngón tay để trên bàn). Nhớ chưa ?

Anh tiếp:

– Trong năm nhánh đó, có một nhánh tên là…, anh Tư đố em nhớ là rạch gì?

– Rạch Nàng Chăn.

– Rạch Nàng Chăn ở Cái Tàu. Không phải ở Chưn Qui.

– Rạch Nàng Bèn.

– Nàng Bèn ở Vị Thanh chớ không phải ở đây.

Tôi nhớ ra rồi, nhưng làm bộ quên, để anh Tư nhắc lại thì chắc đầy đủ hơn tôi. Anh Tư lại hỏi:

– Em nhớ ra chưa? Đó là rạch “Độn Lò”.

– Vùng Chưn Qui, Đá Bạc, đâu có rạch nào tên đó anh Tư.

– Như vậy trí nhớ của em thua anh Tư rồi! – Anh kề tai nói nhỏ – Đó là rạch “Đọ L…”

– Đâu anh Tư kể tiếp coi. Em quên rồi.

Anh cười ha hả rồi tiếp:

– Trong bản đồ, sử sách đều không có cái tên này đâu Cũng như đầm Dơi, đầm Cùn, đầm Bà Hính vậy. Đây là tên do người dân cố cư ở đấy đặt ra thôi. Số là vầy: thuở xưa ở vùng này còn là bãi sình lầy mênh mông, muốn đi qua phải dùng một miếng ván nhỏ và một cây gậy Người ta đứng một chân trên ván, còn chân kia thì chòi bùn, trong lúc hai tay cầm gậy chõi nhịp nhàng theo chân chòi để đẩy tấm ván lướt trên sình mà đi tới. Chớ nếu lội thì bùn sình lên ngập tới háng, thì làm sao mà đi được? Anh tiếp: – Em còn nhớ không, bà con mình nghèo lắm, bộ đội đến đó thấy bà con mặc bố tời, phải đem quần áo ra cho. Cuộc sống thật là chật vật buồn tẻ, bộ đội về là cả một niềm vui (tôi không nhớ đây có phải là làng Đông Thái, quê hương của Anh Tài không) Nghề sinh nhai chỉ là đi bắt vọp. Em nhớ con vọp chớ?

– Dạ nhớ chớ anh Tư. Em cũng đã từng đi bắt vọp mà!

Anh tiếp:

– Con vọp nằm ở dưới sình sâu chừng hai gang tay, người có kinh nghiệm, nhìn trên mặt bùn là biết có vọp nằm ở dưới, bèn xủi bàn tay xuống rồi nâng lên, tức thì trên tay có một hai con vọp, mỗi con to bằng nửa cái chén nhớ không nhỏ.

– Luộc nhậu đế đã lắm, anh Tư.

– Phải rồi, nhưng bắt vọp cũng có nguy hiểm, chớ không phải chơi. Muốn bắt vọp phải chuẩn bị; trước nhất là tấm ván như đã nói ở trên. Thay vì đứng, người bắt vọp lại ngồi, và ở đằng sau để một cái thùng con, chân chòi, tay bơi bùn, gặp chỗ nào có dấu thì dừng lại bắt. Nhiều khi bắt vọp nhưng lại quơ trúng cá mặt quỉ. Em nhớ cá mặt quỉ không?

– Dạ nhớ. Em chưa bắt lần nào, nhưng nghe người ta nói nó chém đau la trời ba ngày không hết.

Anh Tư tiếp:

– Nó làm ói mửa, nóng lạnh nữa, chớ phải nhức nhối mà thôi đâu. Không biết nọc gì mà độc vậy? Nhưng có một thứ thuốc thần hiệu, chữa hết ngay, chi sưng sơ sịa thôi.

– Thuốc gì mà em không biết?

Anh Tư cười hắc hắc, đưa tay che miệng:

– Như vậy nhà báo thua già này rồi. Đây này, để anh Tư nhắc cho: hễ đàn bà mà bị thì kêu đàn ông tới “rưới nước cam lồ” lên tay là đỡ nhức liền.

– Còn đàn ông bị, anh Tư?

– Đàn ông bị thì cũng kêu đàn ông tới rót chớ, “cái bình cam lồ” của đàn bà làm sao rót được!

Hai anh em cùng cười. Anh Tư tiếp:

– Để trừ cái nạn cá ma quỉ, bà con mới chế ra bao tay bằng lát. Đeo bao tay thì cá đâm không lủng, vọp bắt đầy thùng mà vẫn an toàn.

Tôi hỏi ngoéo lại:

– Còn rạch… ở đâu, anh Tư?

– Để anh Tư nói cho nghe: đàn bà con gái đi bắt vọp đông lắm. ờ vùng đó không có nghề gì khác làm ra tiền, nên sáng ngày cơm nước xong là người ta rủ nhau chõi bùn đi bắt vọp. Bắt đầy thùng là đúng trưa, lại rủ nhau đi về. Mình mẩy dính bùn sình phải tắm rửa sạch sẽ rồi mới về nhà bưng ra chợ bán được chớ! Chị em đến một cái lạch, hồi đó chưa có tên, cởi hết quần áo ra, lặn hụp một cách tự nhiên. Cô này thấy chị kia, chị kia thấy cô nọ…. Ngày nào cũng vậy, riết rồi quen, không mắc cỡ gì hết. Đôi khi lại còn trêu nhau: Sao của chị như vầy, của em như vậy? – Ừ thì trời sanh như vậy, ai biết đâu nào? – Đồ quỉ đừng có hỏi, biết đâu mà trả lời! Đang khi đọ… với nhau, thì bỗng một đám thanh niên chơi ván đi qua, nhìn vào. Họ la lên:

– Đó mấy bà đọ 1. . . đó , thấy chưa ?

Ngày này tháng khác như vậy, thế là con rạch mang tên là rạch đọ… Nhưng có nhiều người muốn tránh tiếng tục nói lái, thành ra rạch “Độn Lò.”

Một chốc anh hỏi:

– Sao, hồi đó em có viết lên báo không?

– Có viết mấy trận đánh xe tăng và đánh tàu, nhưng không có đem cái rạch đó vô.

– Bây giờ hồi ký đi. Anh thấy em viết hồi ký bộn mà!

– Dạ, để rồi em đem nó vô sách.

Cố sự tân biên. Chuyện xưa nhắc lại, tưởng chừng như mới hôm qua. Cũng chính nhờ những ngày lưu động thích thú với các đơn vị bộ đội, mà tôi làm bài hát Niềm Thương Mến mô tả đời lính, và được tặng giải thưởng Cửu Long Nam Bộ năm 1950 (nhạc của Phan Vân). Tôi làm xong năm đoạn lời trong lúc ngồi cắt tóc trong một quán ở Ô Môn (Cần Thơ). Nếu có điều kiện, tôi sẽ hồi ký về những năm tháng đi bộ đội đánh Tây

NIỀM THƯƠNG MẾN

I

Trải qua mấy mùa thu kháng chiến
Chúng ta là người ở bốn phương.
Cùng thoát ly gia đình ra đi.
Cùng gặp nhau trong đại gia đình:
Vệ Quốc Quân, Vệ Quốc Quân!

II

Tấm khăn rách còn nhường cho nhau,
Giữa đêm trường đầy sương gió reo.
Lòng súng ôm trong bàn tay run,
Cùng chia sớt khi cùng đói lòng
Từng miếng khô, từng vắt cơm.

III

Có những lúc nằm kề bên nhau
Nói tâm tình lòng không giấu nhau.
Càng hiểu nhau ta càng thương nhau,
Càng thương nhau trong đại gia đình:
Vệ Quốc Quân, Vệ Quốc Quân!

IV

Nhớ những phút nằm chung trộn tuyến
khăn mình liền băng vết thương.
Choàng cánh tay ôm người bạn ta
Làn môi xanh chưa tàn nụ cười,

Dòng máu tươi tràn ướt tay.

V

Trải năm tháng đời vui chiến đấu,
Súng bên mình lòng hăng giết Tây.
Dù khó khăn nhưng lòng không nao,
Dù gian nan không một bước lùi,
Nghèo súng gươm, giàu chiến công!

Điệp Khúc

Khi gần bên nhau,
Ta vui sống trong niềm thương mến,
Thêm nặng tình đồng chí, tử sanh không rời.

Về thời gian này, hai anh Anh Tài và Huy Hà ít có mặt ở cơ quan, còn tôi thì “hoạt động” văn nghệ rất mạnh. Ngoài nghiệp vụ phóng viên, tôi còn đi theo đoàn văn nghệ khu. Lúc này có câu lạc bộ Quân nhân ở Ngan Dừa. Ông Nguyễn Văn Trấn, chánh ủy khu thường đến đây nói chuyện về văn học nghệ thuật. Ông nói cả về kịch. Sau buổi nói chuyện có văn nghệ “giúp vui”. Hồi đó nói là giúp vui, chớ không có nói “biểu diễn”, nói là đoànVăn nghệ, chớ không nói là “Văn công” như sau này.

Tôi là cây “chìa khóa” mở cửa nào cũng được. Thiếu vai gì, tôi “mần” vai nấy. Tây thì càng dễ. Chỉ hơi nhỏ con chút thôi, nhưng đóng Tây “Quinine” thì rành, đóng con gái, má chiến sĩ cũng được tuốt. Quay ra kéo màn cũng chẳng thua gì ai. Molière cũng kéo màn cho một gánh hát lưu động khắp nước Pháp, tới 42 tuổi mới viết kịch đó sao?

Nghe ông Nguyễn Văn Trấn nói chuyện, nhà phóng (vò) viên còn lăm le viết kịch nữa đó chớ. May cho khán giả là anh ta không viết vở nào. Cống Quỳnh ngày xưa có làm bốn câu thơ và bị đánh rớt vì bốn câu thơ đó:

Văn chương phú lục đã xong rồi,
Còn giấy làm chi chẳng vẽ voi
?
Nhưng có câu này xin nói trước:
Đứa nào cười tớ, nó ăn bòi!

Còn nhà họ Phóng này, thấy sân khấu có lúc im phắc vì chờ dọn màn, bèn nhẩy lên sô-lô. Ôm ghi ta đánh “móc”(arpège) chớ chơi sao! Và cũng được khán giả vỗ tay bể rạp. Bài tủ là “Về Miền Trung” của Phạm Duy, đôi khi do nhạc sĩ Văn Cử đàn tay trái “ắc-com-ba-nhê !”

Phải nhắc lại: cái anh Văn Cử này đàn kỳ cục lắm. Người ta bấm phím tay trái, đàn tay phải, còn ảnh thì ngược lại. Cho nên những ắc-co, thay vì từ trên đánh xuống, anh lại từ dưới quào lên, nhưng cũng ra rê-đồ-son-mí như ai .

Trên sân khấu này, ca sĩ Quốc Hương là ngôi sao sáng chói nhất. Anh đã 35 tuổi, mặt vuông, quai hàm banh ra, râu ria tua tủa. Nhưng khi anh lên sân khấu thì anh trở thành thần tượng của các thiếu nữ trong khu. Nghe nói có Quốc Hương hát ở đâu là xuồng ghe chật bến.

Riêng tôi cũng mê Quốc Hương như thế. Ngày nay có phương tiện hiện đại, đèn màu, micro tối tân, ca sĩ thượng thặng, nhưng tôi chưa thấy ai hát bài Trường Ca Sông Lô của Văn Cao bằng Quốc Hương.

Có một điều lạ lùng là, anh như một nghệ sĩ ngoại lệ. Anh uống rượu, hút thuốc liền miệng, thức khuya bạt mạng không kiêng cữ thứ gì cả, không cả luyện giọng, nhưng hát rất to, rất hay không bao giờ có micro. Và lúc nào có bộ đội là có Quốc Hương , hát đến mệt ăn thua.

Anh đã gieo vào tâm hồn tôi sự say mê nghệ thuật. Than ôi! Ca sĩ đã mất rồi, nhưng hình dáng của anh đứng trên sân khấu lưng đeo súng lục, đầu đội ca lô (như họa sĩ Diệp Minh Châu) với điệu bộ hùng dũng, anh đã làm say mê cả đồng bào và sông nước Hậu Giang trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chính miền Tây sầm uất độc lập hoàn toàn đã cho tôi thở cái không khí văn nghệ, và tôi đã đi vào như một tia nắng hồn nhiên lúc mặt trời mới mọc.

Chương XII

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: