NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI: Chương XII

CHƯƠNG XII

NHỮNG BẬC THẦY TRONG VĂN XUÔI
TÔ HOÀI – HƯƠNG HOA NGỌC LAN NGÀY NÀO

Thời gian đi quá nhanh, mới hồi nào tôi là thiếu nhi cứu quốc, nay đã là thanh niên 24 tuổi: 1954, tôi xuống tàu đi tập kết ra Hà Nội với bao nhiêu ước vọng mơ màng trong nghề làm báo.

Hồi 9-10 tuổi tôi đã đọc Nguyễn Công Hoan, Nhất Linh, Khái Hưng… Nay ra Hà Nội ắt gặp các vị ấy. Mà thật, khi ra Hà Nội tôi gặp hầu như tất cả những văn nhân mà tôi từng biết trên sách báo, hoặc nghe danh tiếng.

Xin kể cho đầy đủ: Văn Cao, Tô Hoài, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng, Ngọc Giao, Hồ Dzếnh, Vũ Đình Liên, Trương Tửu, Bùi Huy Phồn, Chu Thiên, Mộng Sơn, Vân Đài, Anh Thơ, Xuân Diệu, Thế Lữ , Tú Mỡ, Chế Lan Viên, Huyền Kiêu, Trọng Hứa, Tố Hữu, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Sáng, Hùynh Văn Gấm, Diệp Minh Châu, Trần Văn Lắm, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Bính, Đỗ Nhuận, Văn Chung, Lương Ngọc Trác, Nguyễn Văn Thương, Ái Liên , Phan Tại, Trúc Quỳnh, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân, Tử Phác, Hoàng Cầm, Lưu Trọng Lư, Đào Mộng Long, Hoàng Ngọc Phách, Phan Khôi ….

Điều làm tôi vui sướng nhất là phần đông đã đi kháng chiến trên Việt Bắc, nay trở về Hà Nội, cũng như chúng tôi kháng chiến ở Nam Bộ, nay ra Hà Nội vậy.

Chỉ có một số ít nhà văn tôi đã được đọc mà không được gặp mặt. Đó là Khái Hưng, Nhất Linh, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Phạm Duy. .

Nhưng thôi, gặp được bấy nhiêu cũng đã quá nhiều rồi, mình đâu cần bằng ấy ông thầy, chỉ vài vị là đủ. Trong văn học không phải như toán học hay hóa học, công thức biến hóa vô cùng, một cái dùng cả đời không hết. Hà Nội không rộng lớn lắm, nên muốn gặp ai cũng không khó. Chỉ cần một cuốc xe đạp chưa mỏi chân là đã có cuộc tao ngộ rồi.

Chúng tôi lúc đó được các anh chú ý tới nhiều. Vì bộ môn văn Nam Bộ đi tập kết có vài ngoe: Đoàn Giỏi, Xuân Vũ, Bùi Đức Ái, Nguyễn Quang Sáng, Anh Tài thì không đi. Riêng tôi có bài đăng báo Văn nghệ sớm nhất.

Đã có sẵn chút ít ham mê , nay ra đất ngàn năm văn vật, tha hồ mà… học. Nói đúng ra là tôi có dăm bảy bài bút ký cỡ trung bình, chớ nào có biết viết truyện ra sao. Mối lo tâm phúc của tôi là ở chỗ đó. Lúc bấy giờ chưa có hội Nhà Văn, chỉ có hội Văn Nghệ . Tôi cũng không biết ai làm chủ tịch.

Tôi được nhìn thấy ông Nguyễn Công Hoan ở số 84 Nguyễn Du. ông mặc áo sơ mi, mang dép, đầu đã bạc, nhưng còn tráng kiện. Nói cười vui vẻ, không đạo mạo như tôi tưởng. Kế đó, tôi thấy mặt Văn Cao, người làm ra những bài hát Bắc Sơn, Chiến sĩ Việt Nam mà những trại sinh chúng tôi nhặt được ở bãi biển Cồn Chim năm 1946. Sau đó là Tô Hoài. Anh có cái trán cao tóc ít, tay nhỏ nhắn như tay con gái. Rồi Nguyễn Huy Tưởng mà tôi được đọc những vở kịch dài Những người ở lại Bắc Sơn trên báo Văn Nghệ Việt Bắc khoảng 1948 gửi vô Nam. Giấy báo lùi xùi, nhúng nước là rã béng.

Tôi lại gặp anh Diệp Minh Châu ở đây. Chỉ vài lần, rồi sau đó nghe nói anh được cho đi sang Tiệp học nghề điêu khắc.

Giữa những người đàn anh, tôi hơi ngán không dám sáng tác hoặc không sáng tác được, không rõ lẽ nào. Các anh ấy, ai cũng có cả chồng tác phẩm, còn mình chưa viết dược một truyện nào. Có người (như Nguyễn Tuân) đã đi ra ngoại quốc giao thiệp với các ký giả Tây Tầu, còn mình nhà quê trất, lớ ngớ như dân vô nhà việc, đứng trước mặt hương chức, xớ rớ không biết phải dựa cây cột nào cho đúng chỗ . . .

Tôi sẽ ghi một cách chân thật và đầy đủ những điều ‘ôi học được ở các cụ về phần “nghệ thuật vị nghệ thuật ‘ màthôi, còn nghệ thuật vị… cái gì khác xin gác qua cho độc giả khỏi nặng nề, nếu có đọc những trang sách này.

Một buổi chiều, trong lúc tôi nằm queo rầu rĩ trong cái ga-ra vừa mướn được với giá năm đồng một tháng, thì bỗng có tiếng gõ cửa. Tôi ra mở cửa thì đó là anh Tô Hoài Anh dựng xe đạp ngoài gốc cây bên hè, tay cầm quyển sách đi vào đưa cho tôi.

Tôi đỡ lấy quyển sách. Nhìn trên bìa, thấy hai chữ Mười Năm, tôi biết ngay là tiểu thuyết của anh vừa in, do Văn Cao trình bầy bìa. Giở vào bên trong tôi thấy dòng chữ “Tặng Xuân Vũ”.

– Cậu ăn cơm chưa? Anh hỏi.

– Dạ chưa!… ủa rồi?

– Rảnh không? Đi lại đằng này chơi với tôi một chuyến đi.

Tôi vào thay quần áo và dắt chiếc xe đạp màu vàng hiệu Alpha nặng như sắt khối (của cơ quan), nhảy lên đạp theo anh.

Chạy phía sau, tôi mới thấy rõ tướng của anh: người nhỏ nhắn, xe guidon carré, nên lưng anh thẳng, đầu hơi nghiêng bên trái, mớ tóc lưa thưa, bay bay trong nắng chiều, và bộ đồ nâu của anh hơi bạc màu, làm cho tôi nhớ đến những ngày khói lửa vừa qua.

Anh đưa tôi đến một tiệm ăn ở Hàng Da, kéo ghế bảo tôi ngồi:

– Cậu ăn bíp-tếch nhé !

– Tôi ăn cơm rồi anh ạ ? – Mặc dầu chưa nhưng vẫn trả lời thế.

– Vậy cậu uống một cốc vang với tôi. Nam Kỳ là uống rượu được mà ! Đừng từ chối nữa.

Thế là tôi uống với anh hết một chai vang đỏ suốt buổi tiệc. Anh rất vui tính, nói chuyện huyên thiên, không khách sáo. Anh hỏi tôi đang viết gì, định viết gì v.v.. Tôi nói thật với anh là tôi không viết được, không có ý định gì hết. Chỉ muốn trở về Nam thôi.

Trong câu chuyện rất dài, anh nói liên miên, tôi hỏi anh cũng rất nhiều, tới bây giờ tôi vẫn nhớ như in trong trí xin ghi lại không thiếu một điểm nào.

“Tôi (tức Tô Hoài) viết quyển Dế mèn phiêu lưu ký hồi tuổi đang chơi dế, không có gì ghê gớm cả . Tôi thấy con ếch hay hay, tôi bèn gọi nó là ếch đại vương. Khi trời mưa nghe nó kêu “uệch uệch”, tôi càng tưởng tượng nó là đại vương, chúa tể cả đồng quê. Nó kêu lên là nhái, ễnh ương, cóc, chằng hiu đều khiếp vía, im tiếng.

(Năm 1972, khi qua bên Đan Mạch, tôi có đến thăm nhà lưu niệm của Anderson, nhà viết truyện nhi đồng nổi tiếng thế giới. Khi tôi đứng chụp tấm ảnh trước ngôi nhà này tôi hướng tâm trí tôi về anh Tô Hoài. Nước Việt Nam mình nhỏ bé nên không ai biết tới. Văn học ít được chú ý, chứ nếu Dế mèn phiêu lưu ký được dịch ra các thứ tiếng thì tên tuổi của anh sẽ lừng lẫy khắp thế giới!)

Anh tiếp:

– Để tôi nói chuyện về quyển Quê người của tôi cho cậu nghe: Đây là quyển sách tôi cũng viết lúc quá tuổi chơi dế một chút. Nó như thế này: Một hôm tôi ra Hà Nội, đến tòa soạn báo của anh Vũ Ngọc Phan. Bỗng anh bảo: “Tôi muốn nhờ cậu viết cho tôi một ‘cái tiểu thuyết’ Tôi không hiểu tiểu thuyết phải viết ra sao, nhưng tôi cũng hứa. Anh Phan đưa trước cho tôi 20 đồng.i về nhà mua giấy bút một đồng, còn lại tôi đem về đưa cho mẹ tôi. Một số tiền quá lớn, chưa từng có đối với tôi.

Không nhớ bao lâu sau đó, tôi viết được một xấp, đem ra Hà Nội, đưa cho văn phòng rồi chuồn ngay. Tôi sợ quá, không dám để cho anh Phan gặp mặt.

Tôi (Xuân vũ) hỏi: Tại sao?

– Tôi cũng không hiểu tại sao, nhưng bụng cảm thấy mình đã làm một việc quá sức mình và hình như không phải thuộc quyền mình–còn ít tuổi thế mà dám viết tiểu thuyết.

Rồi từ hôm ấy, tôi cứ nơm nớp lo sợ, không dám ra Hà Nội nữa. Lại sợ! Một hôm tôi liều mạng đi, bụng định sẽ gặp anh Phan, nhưng rồi ra đến Hà Nội lại thay đổi ý định: không dám gặp anh Phan!

Tôi lại hối hả đến bến tàu điện – ở ngã tư Hàng Bông kia kìa – vừa mới thấy tàu ở bờ Hồ tới thì bỗng có người gọi, thì ra anh Đồ Phồn. Anh Phồn lớn hơn tôi 5,7 tuổi, có tiếng tăm từ lâu ở Hà Nội. Anh bảo tôi: “Anh Phan muốn gặp cậu”. Nghe thấy thế tôi càng run trong bụng. Anh Phồn lại hỏi: “Lâu nay sao không thấy cậu ra chơi?” Tôi ấp úng không biết trả lời làm sao, thì may quá, anh lại bảo: “Anh Phan khen cái Quê người của cậu lắm!” Anh nói thế rồi đi. Tôi mừng như được hóa kiếp.

Không nhớ bao lâu sau tôi gặp anh Phan. Anh bảo:

“Viết tiếp nhiều nhiều đi. Tôi đã cho đăng số này rồi!”

Và anh lại đưa tôi tiền. Thế là tôi về viết tiếp. Tôi không có làm dàn bài dàn bị gì cả, cứ ngồi viết y như chép ấy mà. Thực vậy, những nhân vật đã có sẵn trong đầu Đó là những người cùng xóm, đi qua đi lại thấy nhau hàng ngày. Đời sống của họ tôi thuộc như của tôi; chuyện buôn bán, cưới hỏi, đụng thịt chó, nợ nần, đánh lộn, mắng chửi nhau, chứa đầy cả trong bụng. Còn cảnh vật thì ở ngay trước mặt, “cứ chép” ra thôi, có gì mà phải suy nghĩ? Tôi viết không biết bao lâu thì xong, đem ra đưa cả cho anh Phan. Rồi từ đó, anh Phan bảo tôi viết luôn, không ngừng. Anh còn bảo: – Cậu viết khá lắm, đều tay mà lại có duyên. Trang nào cũng đầy sức sống.

Tôi biết quái gì đâu, nghe thấy anh khen thì ham và lại cặm cụi viết. Xong cái Quê người tôi viết nhiều cái khác. Nhân vật là con gái ông Ký rượu, ông chiệc ở làng, những người dân nửa chợ nửa quê ăn trắng mặc trơn và chuyện chuột. Tôi viết đến 3,4 cái chuyện chuột: Chuột thành phố, Đám cưới chuột, O chuột. Không hiểu sao tôi lại “thích” chuột thế?

Đó là mấy nét con đường vào làng văn của Tô Hoài. Anh dạy tôi mấy điều sau đây:

– Cậu đừng có dùng hình dung từ nhiều. Thí dụ cậu muốn tả món ăn ngon, thì đừng dùng tiếng “ngon”, hoặc “rất ngon”, mà phải tả làm sao cho người đọc nghe mùi thơm, nếm được vị mặn ngọt và thèm ăn, thì đó là cậu đã đạt. Chứ nói “rất ngon”, ai biết “ngon” thế nào? Muốn tả một cô gái đẹp thì đừng dùng tiếng “đẹp”, mà hãy tả mái tóc làn môi, nước da, nếp áo v.v… làm cho người đọc thấy cô ta hiện lên đẹp như ý định của mình.

Đừng bao giờ viết: Ngon vô tả, đẹp vô cùng, sợ khó tả‘. Khó tả thì phải tả nó ra cho người ta cùng sợ, cùng thấy ngon, thấy đẹp với mình, chứ nói vô tả thì ai biết nó thế nào. Khó tả mà mình tả ra được mới hay chứ!

– Phải có mắt quan sát. Tôi chú ý thấy những buổi chiều đều khác nhau; mặc dù cũng là mặt trời lặn, cũng trâu về, cũng màn đêm xuống làm cảnh vật mờ dần… Nhlưng buổi chiều mà mình tả phải có cái gì khác hơn một trăm buổi chiều bình thường. Cậu hãy ra đồng, đứng nhìn một lát thì thấy. Sở dĩ người ta viết chung chung chiều ở núi cũng như ở đồng bằng là vì thiếu quan sát.

Cậu nên cho nhân vật sinh hoạt trong đầu, cho ông này nói chuyện với bà kia Hai cô cậu gặp nhau, trước khi viết ra giấy. Balzac đã cho nhân vật đối thoại nhau, ông la om sòm trong phòng như cãi lộn với ai.

– Mỗi chương là một mắt xích đưa độc giả dần tới kết luận. Mỗi chương phải làm nhiệm vụ đó, nếu không, bỏ nó đi.

– Nên có những đoạn dẫn chuyện, không phải chương nào, đoạn nào cậu cũng đặc tả cả. Phải có những đoạn kể phớt để đến một đoạn mà cậu dừng lại để đặc tả; ví dụ trên gương mặt cậu chỉ muốn làm bật cái miệng, hàm răng.

– Khi đặc tả thì như Tolstoi nói cụ thể tối đa. Nhưng cụ thể tối đa không có nghĩa là tả cô kia có mấy sợi lông mày, hoặc cô ta có mười ngón tay. Cậu chỉ tả một ngón có sẹo, và cái sẹo đó có dính dáng gì đến tình duyên hoặc cuộc sống của cô ta thôi

Tôi hỏi anh: Tại sao anh viết quê nhà, lại gọi là Quê người ?

Anh bảo: Tôi cho rằng những người này sẽ bỏ quê mình đi sống ở quê người cả vì nghèo đói.

Tôi lại hỏi: Anh viết nhiều vậy mà anh thích quyển nào nhất?

Anh đáp: – Quyển nào cũng thích. Không thích không viết được. Nhưng quyển thích nhất là quyển chưa viết ra. Anh không dùng hai tiếng “Thai nghén”. Vì tiếng ấy có vẻ ghê gớm quá đối với một kẻ chưa viết gì như tôi.

Có lẽ anh Tô Hoài là người dạy tôi chớp nhoáng nhất Tất cả những điều anh nói gom lại, chỉ trong vòng 30 phút, khi thì đứng ở góc sân, lúc lại trong buổi ăn cơm chung. Anh không uống rượu như Nguyễn Tuân hay Nguyên Hồng, nên tôi không có dịp đi chơi để hỏi nhiều, hễ gặp mặt anh thì cứ hỏi, được bao nhiêu hay bấy nhiêu.

Một lần vào quán Hàng Buồm, trông thấy anh đầu bếp to béo, anh bảo: “Thằng Đ.V. nhà mình!” Tụi tôi cười bò ra. Con mắt anh quan sát nhanh thật.

Lần uống rượu vang ở phố Hàng Da là lần đầu tiên khi tôi ra Hà Nội (1955). Còn lần ăn cơm ở phố Hàng Buồm là lần cuối cùng trước khi tôi rời Hà Nội (1964).

Tôi vẫn xem những lời dạy của anh là quí giá mãi mãi hướng dẫn tôi trong văn nghiệp. Có lẽ anh là tác giả tôi đọc nhiều nhất Chưa có quyển sách nào mà nước mắt tôi tưới ướt những trang giấy như Quê người. Nó ra đời khoảng 1942. Đến bây giờ đọc lại thấy văn chương vẫn mới, và bất hủ. Anh đã đến tuổi 80, vẫn còn viết. Viết từ tuôi 17, đến nay là 63 năm.

Tôi đọc anh hồi 24, nay 68. Truyện của anh sống trong tôi những đoạn, những cảnh, những người 44 năm, gần nửa thế kỷ… Tô Hoài… Tôi vẫn còn nhớ cái mùi hoa ngọc lan của Hời (anh thợ dệt) ném qua cửa sổ của Ngây (cô thợ dệt). Ngây đang dệt, biết là Hời đã tới bên ngoài bèn đứng dậy mở cửa đi ra – cái lối tỏ tình của Tô Hoài chưa thấy ở đâu, đóa hoa ngọc lan trong tay Tô Hoài đã trở thành phép lạ.

Một đoạn khác trong Quê người:

“Anh Từ (anh của Hời) đi Sài gòn. Vô trong đó, ít lâu trở về miệng cười luôn, để người ta thấy hai cái răng vàng. Rồi Từ đi, lần này lâu quá không thấy về. Vô trong cái ‘nước Sài gòn’, lấy cái giống dân đó, như lên miền Thượng lấy vợ Mường Mán, nó bỏ bùa mê thuốc lú, ăn vào quên bàn thờ ông vải mà không về nữa.”

Lại một đoạn khác:

“Anh phu trạm có chiếc xe đạp, tay cầm bằng cây duối, thế mà các cô thợ dệt mê mết. Mỗi lần nghe tiếng chuông kính koong, các cô ngóng ra nhìn. Có cô mơ ước ốm lăn ốm lóc. “

Một cảnh dời nhà:

“Bốn người khiêng cái sườn nhà đi trên đường. Đang đi bỗng hai người cãi lộn, đánh nhau, nên bỏ ngang không khiêng nữa. Cái sườn ngã qua, gẫy vụn.”

Tô Hoài viết câu rất ngắn. Đặc tả của anh cũng ngắn chớ không dềnh dang. Nét bút của anh nhẹ nhàng lướt nhanh. Tiểu thuyết của anh có thể đọc hết trong một ngày, nhưng nhớ cả đời. Trong Mười năm anh mô tả cuộc tình cuối cùng của nhân vật nữ (Nhàn) với người con trai: “Nhàn cắn vào vai chàng rồi lịm đi.” “…mà đôi mắt tiếc đời còn trắng nhởn trên vai áo người yêu”.

Anh Tô Hoài còn cho tôi cái kinh nghiệm này nữa. Anh bảo khi viết truyện bất cứ ở đâu, cứ lôi nhân vật của mình về làng xóm, phố chợ của mình. Như vậy mình thuộc hơn, dễ tả hơn. Thí dụ nhân vật là người Bắc Ninh, Thái Bình, tôi cũng cứ thả họ về làng về chợ Hà Đông hoặc Hà Nội, để họ đi đứng, hoạt động… Bất cứ chợ nào trong truyện tôi cũng là chợ Hà Nội, Hà Đông, bất cứ cánh đồng nào trong truyện tôi cũng là cánh đồng sau nhà tôi. Tôi chỉ đổi nó ra tùy mùa tùy lúc.

Có lần tôi hỏi: Trong nhiều truyện ngắn, anh ký là “Bến Ray 1942-43”. Bến Ray là ở đâu?

– Nam Kỳ ! (Nhưng anh không có vào Nam Kỳ thì phải?)

Từ trẻ đến già, anh làm việc không ngừng, đã được độc giả tặng danh hiệu cao quí: Nhà Văn của đồng quê Việt Nam. Một cây bút mà ai cũng đều đọc một cách mê say. Tác phẩm của anh xếp từ chân cao đến đầu. Đó là bề cao của anh.

Ở trong Nam Kỳ, theo tôi, ba nhà văn có ngòi bút đậm màu đất nước và bát ngát tình quê hương có thể so sánh với Tô Hoài là Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc và Hồ Trường An, những nhà văn mà tôi rất yêu mến và học được rất nhiều.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: