NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI: Chương XIII

CHƯƠNG XIII

NGUYỄN TUÂN
NGƯỜI BÀO CHẾ RƯỢU MƠ

Nhà của Nguyễn Tuân ở một ngõ hẻm Trần Hưng Đạo, ngó ra đầu đường Yết Kiêu, nơi có hiệu phở Tư Lùn, một trong vài hiệu phở nổi tiếng Hà Nội xưa còn sót lại. Tôi và anh có đến ăn phở ở đây một đôi lần. Một hôm tôi đến nhà anh. Không phải tôi đến thăm anh, mà anh bảo đến chơi.

Nhà anh quả là nghèo. Bước vào thì phải nghĩ ngay như vậy. Chúng tôi ở ga-ra, nhưng đó là thân phận của kẻ ly hương, còn dân Hà Nội mà có căn nhà mướn như anh thì thật nghèo nàn, trống trơ không có gì hết. Chỉ có cái lò sưởi là đáng chú ý ; trước nhất là nó không còn làm chức năng của nó, mà đã trở thành cái tủ rượu và nơi chưng bày nhiều thứ khác rất lặt vặt, không thể đếm hết. Nhưng đặc biệt nhất là những chai rượu. Anh thường đi vùng núi, và mỗi lần về đều mang theo một ít món lạ : một chiếc khăn của người Thái dệt tay rất khéo, màu sắc rất sặc sỡ, một ít quả cam quả quýt rừng.

Lần tôi đến, anh khoe với tôi những trái mơ còn xanh. Anh đã bỏ vào một cái chai miệng rộng, nút vặn kín. Khi rót ra, rượu màu xanh nhạt, và có mùi… mơ. Anh uống rượu như một nhà văn nghiện.

Rượu mua cắt từng Ô phiếu, hình như mỗi tháng một lít Nhưng với anh một lít sao đủ? Vậy phải có những người tiếp tế. Một trong những người đó là Nguyên Hồng. Thỉnh thoảng ông Bỉ Vỏ từ Bắc Giang xuống Hà Nội đem theo trong ba lô một chai lít trong vắt làm quà cho ông Vang Bóng Một Thời,. Anh Tuân có hai vật quí, đó là cây bút Parker Canada màu đen và một cái đồng hồ Movado, nhưng chẳng bao giờ thấy anh giắt túi và đeo tay. Cái đồng hồ gói trong khăn, bỏ túi, đôi khi anh lấy ra coi giờ, rồi bỏ lại vào túi. Còn cây bút thì không thấy viết cái gì .

Ở nhà anh có một bộ phản gỗ thô tét đầu, trên đó trải một tấm thảm của người thiểu số, và đặt một chiếc gối vuông to. Nghe nói khi viết anh ngồi trên phản, chớ không ngồi bàn. Tôi thấy rất khó, ngồi như vậy làm sao mà viết được? Tuy chưa thấy anh viết bao giờ, nhưng cứ tin như vậy. Còn chữ của anh thì to, hơi run run, không đẹp như chữ của Tô Hoài. Hình như anh chỉ dùng một màu mực: đen.

Lần đó anh bảo tới chơi. Anh rót rượu mơ mời tôi một cốc nhỏ–có đâu mà mời cả ly? Xong nói năm ba chuyện rồi đưa ra tờ báo Văn Nghệ có bài của tôi. Tôi thấy anh gạch đỏ hết cả, như thầy giáo chấm bài học trò (Khi đem về nhà thấy những dấu gạch thì có cả khen lẫn không khen. Khen ít, không khen thì nhiều.)

Mà thật, khó bề được anh khen. Anh có khen chăng là cũng để khuyến khích mình thôi. Anh coi viết văn gần như một tôn giáo, khi viết phải nghiêm chỉnh phải thiêng liêng, cho nên chữ của anh thật là trau chuốt, cân nhắc hết sức kỹ lưỡng. Nói cũng thế, anh nói như viết, câu kéo mệnh đề rất vững vàng, nếu có máy ghi ra thành văn thì không phải chữa lại bao nhiêu. Anh có tài nói những luyện ai cũng biết rồi mà nghe lại vẫn hay. Một lần xem cái tựa một bài báo Văn Nghệ, anh bảo: dư một chữ. Hỏi anh dư chữ nào? Anh bảo tại sao phải để “Bút Ký”? Ai nấy chưng hửng không hiểu. Vì xưa nay người làm báo có thói quen để như thế, ví dụ: “Lên Tây Bắc, Bút ký của A, B, C…” Anh tỉnh bơ nói:

thì bằng bút, chớ chẳng nhẽ lại ký bằng chổi à? Vật ta nên bỏ chữ bút đi.

Từ đó báo Văn Nghệ bỏ hẳn chữ bút. Đó là cuộc cách mạng của Nguyễn Tuân. Nói đến Nguyễn Tuân là nói đến chữ, chữ của anh cũng như tác phong của anh, chắng ai học được. Tôi nghe anh Kim Lân nói trước 45 anh ăn cơm, gắp cọng rau muống luộc để vào chén, khoanh vòng tròn thật khéo, rồi mới và vào miệng, mà nhai cũng chậm chạp từng tí một như để thưởng thức cái ngon của cọng rau, chớ không ăn nhanh như ta. Anh Kim Lân thì kính trọng Nguyễn Tuân như bậc thầy. Một tiếng đều “cụTuân” hai tiếng cũng “cụ Tuân”. Anh còn bảo: Thời đó, anh văn sĩ nào được cụ ấy gọi tới mà “mắng” cho là hãnh diện lắm! Tôi không hỏi thêm chi tiết, nhưng đồ chừng rằng cái uy tín của Vang Bóng Một Thời, lớn quá, nên mới có chuyện như vậy. Mà có vậy thì cũng chẳng có gì là quá đáng. Một hôm, chính tai tôi nghe, mắt tôi thấy Nguyễn Tuân phát biểu trước toàn Hội Nhà Văn:

– Văn chương của ta nó vừa nhạt lại vừa nhẽo. (Nhạt nghĩa đằng nhạt, nhẽo có nghĩa đằng nhẽo).

Rồi lại nói:

– Còn sách in ra thì không ngồi được, ngồi còn không được, nói chi đến đứng? Cho nên nó chỉ nằm trong hiệu sách.

Đó là chữ của Nguyễn Tuân. Ngoài ra anh còn chẻ những chữ ra, ví dụ: Cái báo, cái chí của ta… Báo khác, chí khác nhưng ta có thói quen gộp chung: báo chí.

Nói đến Nguyễn Tuân là nói đến chữ, sự tưởng tượng và hình tượng. Tôi vừa mới đọc lại Chiếc lư đồng mắt cua, và Vang Bóng Một Thời,. Tôi cho rằng những chuyện trong Vang Bóng Một Thời, là những chuyện bịa y như thật. Một anh đao phủ chém đầu người không cho rụng, vì còn dính một làn da mỏng ở cổ – gọi là chém treo ngành. Nghĩa là cái thủ cấp thay vì rơi xuống đất còn dính ở cổ, lung lơ lủng lẳng. Ở thời nào có cái lối hình phạt lạ kỳ ấy? Thời phong kiến chỉ có các hình phạt đại khái như là chém đầu, chém ngang lưng, xử lăng trì, xử bá đao, chớ đâu có cái lối “chém treo ngành”. Vậy đó là sự bịa tạc của Nguyễn Tuân thôi. Trên 10 chuyện, chuyện nào cũng do óc tưởng tượng, nhưng tưởng tượng có lý căn cứ trên cái vốn sống và cái tính lãng mạn của tác giả.

Chùa Đàn, một tiểu thuyết của Nguyễn Tuân, đọc xong, tôi không hiểu nó có trên mặt đất này không? Nửa người, nửa ma quỉ, nửa hư nửa thật. Đặc biệt nhất tôi phải chú ý là những hình tượng của tác giả dựng lên, có cái rất hiện thực, có cái ma quái một cách rất hiện thực. Tôi xin nói ngay kẻo quên:

Đó là hình ảnh những con rắn từ trong đám mả bò ra đớp những tàn đuốc… đó là ma quái mà rất hiện thực. Còn như Những Chiếc Ấm Đất thì vừa ly kỳ vừa hiện thực. Hình như Nguyễn Tuân có những chi tiết ly kỳ trước rồi mới dựng lên câu chuyện để dùng những chi tiết ấy Cũng như ta có đôi hoa tai kim cương trước, rồi đi tìm một người đẹp để đeo đôi hoa tai ấy cho xứng. Tóm tắt câu chuyện:

Một người uống trà chuyên nghiệp, có những bộ đồ trà rất quí. Uống trà phải nấu với nước xin ở chùa Đồi Mai, ở cái giếng ấy mà thôi, không đâu khác. Mỗi lần xin, người đầy tớ chỉ gánh được một gánh, xa hằng nửa ngày đường. . .

Thời gian qua, một hôm sư cụ chùa Đồi Mai đang ngồi uống trà với một người khách, thì bỗng có một người ăn mày vào xin cơm chùa. Sư cụ thấy người ăn mày có vẻ khác thường, bèn mời một chung trà. Người ăn mày đưa hai tay nâng lấy và uống với cung cách một người sành uống trà. Uống xong, người ăn mày trao lại chiếc chung cho sư cụ, và lễ phép thưa:

– Bạch sư cụ, trong vòi ấm có cái vỏ trấu.

Sư cụ rất đỗi ngạc nhiên, bèn trút xác trà ra, quả nhiên thấy cái vỏ trấu y như lời người ăn mày vừa nói. Phải uống bao nhiêu ngàn bình trà mới có kinh nghiệm ngửi thấy được cái mùi vỏ trấu trong vòi ấm?

Sư cụ hỏi lai lịch, thì ra đó là người bạn đã từng xin nước giếng chùa này, nay sa sút phải đi ăn mày.

Người ăn mày lại cầm lấy chiếc ấm trà úp xuống mặt bàn và nói: Đây không phải là loại Thế Đức hoặc Mạnh Thần, vì “vòi và miệng ấm khi úp xuống không cùng cắn mặt bàn”.

Những chi tiết truyện Nguyễn Tuân đều cầu kỳ hiếm thấy như: chém treo ngành, những con rắn và vỏ trấu …

Chỉ một chi tiết đủ làm cho người đọc không sao quên được tác giả. Trong Chiếc Lư Đồng Mắt Cua tôi đọc lâu lắm mà vẫn nhớ cái việc nhổ cây đinh trên tường. Anh nhổ cây đinh kia đến 5,7 trang sách, thế nhưng dù anh cù cưa mãi, mà đọc vẫn không nhàm. Người thường chỉ nhổ phéng cái là xong, nhưng Nguyễn Tuân nhổ nó mất bằng ấy trang sách. Đó là cái tài nói những chuyện người ta đã biết rồi mà nghe vẫn thích.

Ba quyển của Nguyễn Tuân: Vang Bóng Một Thời, Chùa Đàn, và Chiếc Lư Đồng Mắt Cua như ba người viết, hay đúng ra là ba cái tạng khác hẳn nhau của một người. Cách hành văn thì vẫn như nhau, nhưng quyển trước thì bịa, quyển kế vừa bịa vừa thực, quyển chót thì thực hoàn toàn.

Đó là văn chương Nguyễn Tuân. Tôi rút trong đó những bài học lớn, không biết bài học gì. Nhưng có thể nói đọc Nguyễn Tuân, tôi thấy tôi lớn lên trong nghiệp cầm bút rất nhiều. Có thể bạn khác tạng với tôi, nhưng không thể chối cãi được rằng ở Nguyễn Tuân có nhiều cái ta phải học. Nhất là sự chọn lọc chữ.

Việc học đàn anh hay một đồng nghiệp khác để nâng cái nghề của mình cao hơn lên là cái đáng làm lắm.

” … Một ngày không xa, khi mà văn chương Việt Nam được người Việt Nam yêu chuộng hơn, tôi dám chắc tác phẩm của Nguyễn Tuân sẽ có địa vị xứng đáng hơn bây giờ. ”

Ngày không xa đó là ngày nào?

Câu trên đây nếu tôi nhớ không lầm, là của nhà Phê bình Vũ Ngọc Phan viết năm 1942, nghĩa là cách nay 56 năm. Hiện giờ cả hai vị đã gặp nhau ở bên kia thế giới, không biết ông Nguyễn có hỏi ông Vũ ngày đó là ngày nào hay không?

Tác phẩm của Nguyễn Tuân luôn luôn có địa vị xứng đáng trong lòng độc giả và đồng nghiệp thôi. (Mà như vậy là đủ rồi!) Còn bọn chính trị thì không bao giờ đánh giá cao tác phẩm của Nguyễn vì Nguyễn không phục vụ thứ chính trị độc tài, láu cá, thứ chính trị làm cho văn nghệ thuật diệt vong.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: