NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI: Chương XIV

CHƯƠNG XIV

NGUYÊN HỒNG:
KHI VIẾT, TÔI CẤU THỊT DA TÔI ĐỂ TRÊN GIẤY

Trong các nhà văn tiền bối mà tôi hân hạnh được làm quen, tôi không thấy ai nói chuyện về sáng tác sôi nổi hào hứng một cách kỳ lạ như Nguyên Hồng.

– Anh xây dựng nhân vật Bảy Hựu của anh như thế nào?

Thế là anh nổ ngay. Chỉ hỏi bấy nhiêu thôi, anh có thể nói hằng giờ không dứt mạch. Mà những gì anh nói đều sinh động hữu ích trong lãnh vực nghề nghiệp cả.

Bảy Hựu là một người đàn bà dám hi sinh cho bạn. Anh bảo:

– Tôi quả có thấy một người đàn bà như vậy. Tôi gần như chép vào truyện. Còn sự tô vẽ thì rất ít.

Anh là người viết nhiều, nên kinh nghiệm rất phong phú, hỏi vấn đề gì anh cũng nói xuôi rót hết tất cả, bằng kinh nghiệm của chính bản thân anh, không bao giờ theo sách vở của ai. Trước hội nghị hay trước một người, sự sôi nổi của anh vẫn như nhau. Anh nói sôi bọt mép, lắm lúc lời tuôn nhanh, anh nói không kịp phải cà lăm: T..T…ôi…tô…i… nói…nó..i…thật! Một lần trong một cuộc hội nghị sáng tác, nhà văn Vũ Tú Nam kể chuyện anh ta đánh đứa con gái 3 tuổi rồi sau đó gọi nó không đến. Vũ Tú Nam kết luận:

– Điều đó làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều về tình người trong sáng tác!

Nguyên Hồng đáp ngay:

– Bố đánh thì chạy lại mẹ, chớ tình người cái gì. Cứ viết đi! Suy nghĩ, suy nghĩ mãi, không có tác phẩm! Sốt ruột quá !

Anh có tật trước khi viết, anh nhúng đầu cho ướt, để khỏi bốc mạnh quá. Còn Schiller thì không hiểu sao lúc nào trong ngăn kéo của bàn viết phải có một trái táo, nhưng không phải táo ngon, mà là táo thối. Mỗi người một tánh một tật. Trước khi viết bộ tiểu thuyết Sóng Gầm, anh có cho tôi coi dàn bài.

Bạn thử tưởng tượng: Một tấm giấy lớn như mặt bàn ăn cơm, trong đó kẻ những ô vuông vức đầy bít những chữ và những làn gạch chéo nhau, những dấu ngoặc lớn nhỏ đủ màu xanh, đen đỏ và những chữ thập đánh dấu chỗ nọ chỗ kia tùm lum, nhìn vào tưởng như một bản đồ hình thể của thế giới vậy. Đó là dự án tiểu thuyết của Nguyên Hồng.

Mỗi ô là một chương, trong mỗi chương anh ghi rõ sự việc chính xảy ra với những nhân vật nào. Rồi nhân vật này liên hệ với nhân vật khác ở cùng chương hoặc ở chương khác ra sao. Sự biến đổi của các nhân vật, sự xuất hiện và biến mất của họ, và sự việc nào kết thúc ở chương nào, hoặc tái hiện ở chương nào. Ôi thôi, vô số nét trên tấm giấy ly kỳ này.

Anh cho tôi xem và giải thích, tôi không thể nào theo dõi nổi. Nhưng có cái hay là tôi được biết phương pháp làm việc của một nhà văn trong việc xây dựng một tiểu thuyết.

Nhưng tôi không học làm theo kiểu của anh bao giờ. Sau này tôi đọc một nhà văn thấy cách làm việc khác hoàn toàn, đó là Alexis Tolstoi, tác giả “Les Chemins des tourments” { tức bộ Khozhdeniye po mukam trong tiếng Nga.- Chú của nhà xb} của Liên Xô (cũ). Ông viết:

“Tôi không thể biết ở chương thứ 10 tôi sẽ viết gì, nếu tôi chưa viết xong chương thứ 9.” Điều đó có nghĩa là ông đã có đại cương toàn thể cốt truyện trước, nhưng không có phân chương mục gì cả, viết tới đâu, phân chương tới đó .

Không nhớ nhà văn nào đã viết ra kinh nghiệm của mình như sau:

– Khi viết thì tôi (tức ông ấy) viết luôn một mạch đến xong rồi mới đọc lại toàn bộ và chữa, chứ không chữa từng chương, hoặc cứ vài chương quay lại chữa rồi mới viết tiếp như vậy làm tôi mất hứng.

Khi xem xong bức “địa đồ” đen ngòm của Nguyên Hồng, tôi có hỏi anh:

– Anh vẽ ra chi tiết như vậy, mà rồi anh có theo đúng nó không?

Anh lắc đầu:

– Không mà cũng có, có mà cũng không! – Anh còn tiếp: – Sở dĩ tôi làm như vậy là vì tiểu thuyết quá dài, đến 12000 trang, quá nhiều biến cố, quá nhiều nhân vật, nếu không vẽ ra sẽ không nhớ hết. Rồi có thể nhân vật đã chết ở chương 10, mình lại cho nó sống ở chương 40 không chừng. Và nhiều thứ lẩm cẩm khác mà mình không kiểm soát nổi. Cho nên khi viết, thỉnh thoảng tôi nhìn vào đó để nhớ. Có khi chỉ liếc nhìn qua, mà nảy ra nhiều ý lắm cậu ạ !

Tôi lại hỏi:

– Khi anh định viết một truyện, cái nào đến với anh trước? Cốt truyện, nhân vật, hay một chi tiết nào? Ví dụ như Bỉ Vỏ.

Anh cười:

Bỉ Vỏ? Cái chuyện này rất buồn cười, để tôi kể sau. Bây giờ để tôi trả lời câu hỏi trước kẻo quên: Có khi cốt truyện đến trước, mình nghĩ ra thành truyện, rồi tìm nhân vật, đặt tên rồi viết. Nhưng cũng có khi tôi lại bắt gặp một chi tiết hay rồi bắt muốn viết truyện. Thí dụ như trong tập Địa Ngục của tôi có truyện Sư nữ chùa âm hồn, thì tôi bắt đầu bằng một chi tiết. Là khi tôi nghe một người hàng xóm nói về một bà vãi trẻ đi vô chùa, nhưng thỉnh thoảng còn có những cơn dục tình nổi lên. Thì bà ta bèn dùng móng tay nhọn, cấu véo thật đau vào bắp vế non, như vậy cơn dục tình kia sẽ biến đi. Đó là nét chính làm nên “Sư nữ chùa âm Hồn”. Hoặc một truyện khác, tôi cũng bắt đầu bằng một chi tiết: Một đứa bé trai ở đợ trong hẻm phố, được chủ sai ra đầu ngõ mua hai bát phở. Nó đang chơi với các bạn gái, phải bỏ cuộc chạy về mua phở. Hai tay bưng hai bát phở trên đường về, ngang chỗ các bạn đang còn chơi đùa, nó dừng lại xem, bỗng nhiên cái quần của nó tụt xuống đất. Hai tay bưng phở, không dám để xuống, thì một đứa bạn gái chạy tới kéo quần lên và buộc lại cho nó. Thế rồi sau này tôi cho hai đứa thành vợ chồng, nhờ cái vụ tụt quần đó. Anh tiếp:

– Còn Bỉ Vỏ (Giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn năm 1937) thì dài dòng lắm, nhưng tóm tắt như thế này: Trước nhất là tôi có biết chuyện một cô gái ở gần làng tôi chửa hoang với một anh chàng trên tỉnh về quê chơi. Cha mẹ cô tức giận, muốn giết cô cho mất cái nhục. Nhưng vì không giết được, nên khi cô sanh được đứa bé ra, thì ông bà bán đứa bé. Cô gái đau khổ và hận tình, bèn lén nhà đi ra tỉnh tìm anh chàng kia. Rồi chằng tìm được chàng kia mà lại rơi vào nhà thổ. Đó là mảnh thứ nhất. Mảnh thứ hai là Năm Sài gòn. Tôi quen thành phố Cảng, ở đây có nhiều dân “chạy vỏ” để sống. Hắn là người Bắc, nhưng tôi thấy hắn có dáng điệu ‘Sài gòn” nên đặt cho hắn cái tên ấy. (Tôi không rõ Sài gòn ra sao, nhưng cứ nghĩ thế.) Rồi tôi ráp cô bé với Năm Sài gòn lại nhau. Nhưng như thế đâu đã ra cái chuyện gì. Tôi bèn cho “đất bằng dậy sóng”: Năm Sài gòn ghen, và cô bé ra đi, lấy mật thám. Đó là mảnh Bỉ Vỏ thứ ba. Mảnh thứ tư là Năm Sài gòn bị bắt, cô bé lén lấy chìa khóa mở cổng thả tình nhân cũ. Rồi hai bên tái hợp về Cảng tiếp tục nghề “chạy vỏ”.

Mảnh thứ 5, kết cục. Một hôm cô bé đang ở nhà thì Năm Sài gòn chạy về, trên tay ôm thằng bé đã chết cứng. Anh ta cướp thằng bé trên tàu và nhảy xuống sông lặn, thoát về nhà. Ngờ đâu khi cô bé nhìn cái dấu riêng thì nhận ra chính là con của cô ta, đứa bé cô đi tìm mà không gặp

Câu chuyện thật bi thảm, kết cục thật tài tình. Anh nói tiếp:

– Ở đời đâu có sẵn truyện cho mình chép, cậu phải tạo nó ra chứ? Nếu không tạo thì sao có vụ cướp nhảy tàu?

Sở dĩ tôi cho kết cục như vậy, là vì tôi có biết nhiều vụ nhảy tàu hoả, tàu thủy rất phi thường. Dựng truyện cũng như mình cất một ngôi nhà. Có khi nào ở trên trời rớt xuống cho cậu một ngôi nhà đâu! Cậu phải mất tiền mua sắm gỗ, lá, mua đất làm nền, và cuối cùng là phải tự biết sức thợ để dựng nó lên theo ý của mình. Thợ mộc thì cất nhà giống nhau, nhưng người viết truyện lại khác, có khi lấy đuôi làm đầu, có khi lại bắt đầu vào giữa truyện. Có người thích viết giật gân, làm độc giả đọc chương trước, không đoán ra chương sau, cũng như kịch vậy. Nhưng cũng có người cứ từ từ tốn tốn kể lể theo thứ tự của các sự việc, không nhảy, không lộn ngược lộn xuôi mà người đọc cũng thích thú như thường. Bởi vậy nên người ta nói: “văn là người” là vậy.

Đó là tiểu thuyết. Nó dài nên khó nói nhanh và rõ. Hãy lấy một truyện ngắn, như Chí Phèo của Nam Cao. Anh ấy vô đầu với câu: “Hắn vừa đi vừa chửi.” Hắn nào? Đọc một đoạn mới rõ.

Cũng có người viết đơn giản. Như cụ Hồ Biểu Chánh trong Nam. Cụ ấy viết như nói. Vào đầu, chuyện xẩy ra ở đâu, năm nào, cô gái con của ai, ngôi nhà ra sao, trước sân có trồng trầu, trồng cau… Không giật gân gì hết, nhưng truyện nào của cụ cũng hấp dẫn, hễ đọc là không buông sách xuống được.

Tôi hỏi:

– Anh thích lối nào?

– Lối nào tôi cũng thích cả. Cái điều quan trọng là nội dung câu chuyện. Cậu diễn đạt làm sao cho cái ý định của mình truyền được sang người đọc. Cậu thấy Nam Cao có tài không? Chỉ trong một truyện ngắn mà anh ấy mô tả cả một cái nông thôn thời Pháp. Nghề viết, ai có lối nấy, không ai giống ai.

– Anh cũng tài chớ, cái Bí Vỏ của anh dịch ra tiếng ngoại quốc, thì phải được xếp ngang hàng với…

Nguyên Hồng cười khà.

Một hôm đi nhậu thịt chóvới anh ở Ô Yên Phụ. Ngồi nhâm nhi một chốc, bỗng tôi nhìn vào bếp thấy người nữ chủ quán, tôi trỏ bà ta và nói với anh: “Bảy Hựu của anh kìa, anh Nguyên Hồng?” Anh cười rẻ lên sung sướng lắm, và cụng ly uống với tôi liên miên.

Chúng tôi thường gọi anh là Maxim Gorki Việt Nam. Và nếu có một nhà văn nào đã tả Balzac như sau: “ông ta có một dáng điệu của một anh hàng bánh mì, có nét mặt của anh hàng thịt, và đôi tay của một anh thợ đóng giầy” thì tôi có thể tả Nguyên Hồng: “Anh có dáng điệu của một người nhà quê, thích xoay trần, chân không bao giờ mang giầy, nhưng lại có một tâm hồn nghệ sĩ lớn! Hãy trông kìa: Cái xe đạp thô kệch của anh dựng ở gốc ổi già với chiếc cặp da cũ rách há họng, vì chứa đầy giấy bên trong. Nó được ràng vào poọc-ba-ga bằng một sợi dây thừng cột trâu. Anh sợ chiếc cặp rơi mất. Đó là cặp bản thảo tiểu thuyết của anh! Mất là chỉ có chết, chớ không viết lại được ?”

Không hiểu sao anh khoẻ mạnh mà lại mất sớm thế? Vào lúc 63 tuổi (ngày 5-2-1982).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: