NHỮNG BẬC THẦY CỦA TÔI: Chương XV

CHƯƠNG XV

NGUYỄN HUY TƯỞNG:
“ĐẤT NAM KỲ LÀ ĐẤT TIỂU THUYẾT”

Trước nhất và thường xuyên nhất, anh Nguyễn Huy Tưởng đến chơi với tôi. Và một lần nọ, anh bảo bọn trẻ Nam Kỳ chúng tôi câu nói đó.

Anh chỉ viết tiểu thuyết và truyện dài, chớ không viết truyện ngắn. Cái ngắn nhất của anh cũng 200 trang. Anh viết đủ loại, kể cả tiểu thuyết lịch sử và truyện cho thiếu nhi.

Anh đến với chúng tôi bằng tình cảm của một người anh. Và chúng tôi cũng đối lại với anh bằng sự kính trọng và thương mến của những đứa em. Không hiểu sao anh thương chúng tôi? Vì chúng tôi ngơ ngáo trước ngưỡng cửa nghệ thuật chăng? Vì chúng tôi ly hương chăng? Cũng như anh Tô Hoài nghe tôi than “viết không được” thì đến, đem cả sách tặng…

Anh đi chơi với chúng tôi cũng thường hơn các anh khác. Trong câu chuyện vui, bao giờ anh cũng xen vào vài câu chuyện văn học để dạy chúng tôi một cách khéo léo, không ra vẻ đàn anh.

KHÔNG KHÍ CỦA TRUYỆN

Một hôm đọc xong bản tháo của Nguyễn Quang Sáng, anh đem trả và mừng rỡ nói:

– Nhân vật ông Năm Ịnh kéo đàn cò được lắm, có không khí lắm.

Anh và anh Tuân cũng đều khen Đoàn Giỏi gây không khí rất hay. Cái không khí của truyện là rất cần thiết tức là bối cảnh chung quanh nhân vật làm cho người đọc cùng sống với nhân vật.

Thí dụ khi các cậu tả một bữa tiệc thịt chó, thì sự ăn nhậu phải khác với bữa giỗ, hoặc bữa tiệc mừng chiến thắng. Khác về thức ăn đã đành, còn lời nói, cử chỉ, các nhân vật cũng khác luôn. Tả các món thịt chó cho người đọc thèm rỏ dãi, cho nhân vật cụng ly bốp chát, cười nói rổn rảng. Lúc đầu tiên còn tỉnh táo, lúc quá chén thì ăn nói bạt mạng. Nhậu hết đế chạy đi mua. Đến lúc đã quá thì xách đờn ra mần sáu câu thiệt muồi v.v…

Đó gọi là không khí của câu chuyện nhậu thịt chó. Chứ nếu các cậu mô tả nó nghiêm trang lễ mễ, thì tiệc gì khác chớ không phải là tiệc thịt chó.

Không khí của truyện là cái bể bơi của nhân vật. Và nhân vật về phần nó, nó lại chính là kẻ tạo ra một phần cái không khí ấy. Tôi lấy ví dụ như các cậu tả một buổi rước dâu, vài loạt pháo ở ngõ với trẻ con bu lại lượm xác pháo tịt ngòi dưới hai chữ “Vu Qui” kết bằng hoa treo ở đầu ngõ. Thế là có không khí đám cưới rồi. Kế đố, đàng trai kéo tới, ông trưởng họ bưng khay rượu dừng lại ở ngõ, rót rượu mời trưởng tộc đàng gái, rồi hai bên cùng vào nhà. Bàn thờ tổ tiên được trang hoàng rực rỡ… cô dâu bước ra chào hai họ. Sự xuất hiện của cô dâu thay đổi hoàn toàn cái không khí của gian phòng. Có phải sự xuất hiện đó gây nên cái không khí mới không? Ở ngoài phòng khách bao nhiêu cậu trai liếc ngang, bao nhiêu cô gái núp bên trong nhìn ra v.v… Đó gọi là cái không khí của câu chuyện. Không có nó, chuyện sẽ tẻ ngắt, nhân vật chết khô, như người bơi nằm trong lòng con sông cạn..

LÔ-GÍCH TRONG TRUYỆN

Có cả một quyển sách nói về lô-gích gọi là lô-gích học. Nhưng ở đây tôi chỉ nói nôm na ra đó là sự hợp tình hợp lý trong câu chuyện.. Nghĩa là khi một chuyện dù nhỏ dù lớn xảy ra, độc giả cũng không cho là vô lý, kỳ cục trái cựa.

Tôi đã từng nói với các cậu rằng đôi khi ta đẻ ra nhân vật, nhưng ta không điều khiển được chúng. Tại sao? Tại vì: Một là khi thể hiện được câu chuyện thì nhân vật lại vọt ngoài sự kiểm soát của ta. Hai là khi thể hiện ta thấy ở đoạn nào đố câu chuyện không hợp lý, ta phải thay đổi. Do đó nhân vật cũng thay đổi theo. Khi viết ta định bụng cho cô này yêu cậu kia, nhưng khi viết thì thấy cô ấy yêu cậu kia không lô-gích bằng yêu cậu nọ, thế là ta thay đổi. Điều này không lạ gì. Quá trình viết nó kỳ cục lắm. Có khi ta định ở chỗ này anh A sẽ chết, nhưng tới chỗ đó anh ta không chết được mà phải một anh khác chết. . . Nếu ta cứ khư khư bắt anh ta chết thì câu chuyện sẽ vô lý, nghĩa là không có lô-gích.

Lại ví dụ như trong Chí Phèo. Ở đoạn kết tác giả cho độc giả thấy “cái bụng của Thị Nở u lên” để chuẩn bị cho một Chí Phèo con ra đời. Nếu như ở trước không có vụ tình tự ở vườn chuối dưới chân đê thì độc giả sẽ hỏi: Làm sao lại thế được? Nhưng đã có nhân ở đó rồi, thì cái theo sau là lẽ tất nhiên, không có gì là lạ.

Cũng như ở trong Othello, khi chàng ta bóp cổ Desdemona chết, khán giả không ngạc nhiên vì ở trước đó tác giả đã gieo sự hiểu lầm dữ dội là phó tướng của Othello nhận được chiếc khăn tay của nàng vô ý đánh rơi và đi khoe trong quân sĩ rằng khăn của nàng tặng cho mình.

Chuyện lô-gích là đề tài vô tận bàn cãi mãi không kết luận được trong nhiều trường hợp. Ví dụ như cái tai họa thình lình cho gia đình Thúy Kiều. Cái anh chàng bán tơ Mã Giám Sinh–không ai kịp hiểu nó ra làm sao cả khi hắn bảo: “Phải ba trăm lạng việc này mới xong”. Nhiều người cho rằng không lô-gích, nhưng nếu không có cái tai họa này thì sẽ không có việc Kiều bán mình chuộc cha và do đó không có Truyện Kiều.

Cũng như trong Đoạn Tuyệt, cái chết của Thân không do Loan gây ra, Loan không cố tình hạ sát Thân mà tại Thân vác dao đuổi theo Loan rồi vấp ngã, mà bị dao xốc chết.

Cái chết thật là kỳ lạ ! Trong lịch sử giết người trường hợp này rất hiếm xảy ra. Nhiều người cho đó là một sự bịa đặt, dựng đứng, không lô-gích, nhưng nếu không có cái chết này thì truyện sẽ kết thúc bằng cách nào?

Cũng như Xuân Tóc Đỏ. Từ đầu tới cuối, tác giả bỏ cả luật lô gích để dựng nên một thằng cu con lưu manh trở thành một anh hùng cứu quốc mà cả quan Toàn Quyền cũng phải biết ơn và tặng mề-đay.

Trong ba trường hợp trên cái không lô-gích lại trở thành lô-gích, một loại bút pháp cao cường. Nói tóm lại, lô gích là một thứ qui luật, nhưng ở đời, nhất là trong văn học lại có nhiều điều vượt cả quy luật.

“Tôi ôm thiếu nữ vào lòng
Người yêu bỗng biến thành bông hoa rừng. “
(Thế Lữ)

Hai câu này có lô-gích không? Hoàn toàn phản lô- gích, nhưng lại rất lô-gích. Rất vô lý nhưng lại rất có lý. Nhà văn còn phải hệ lụy về cái luật này, còn nhà thơ thì hầu như không.

VẤN ĐỀ TÂM HỒN

Trên tất cả các vấn đề tôi đã kể với các cậu, là vấn đề tâm hồn. Vấn đề này rất mênh mông, hơn nữa rất trừu tượng. Nó đề cập trực tiếp tới người nghệ sĩ. Người ta thường nói “tâm hồn nghệ sĩ”. Tâm hồn là cái giống gì?

Người không phải là nghệ sĩ có tâm hồn không? Ai cũng có tâm hồn cả. Tâm hồn là sự cảm xúc của một người trước một cánh vật, hay một sự việc. Đứng trước một buổi mặt trời mọc, một đóa hoa đang nở hay một cánh đồng lúa chín. . . , ai mà không cảm thấy vẻ đẹp? Nhưng tâm hồn người nghệ sĩ có khác, ở chỗ là người nghệ sĩ cảm xúc rồi mô tả rồi truyền cảm cho người khác. Hơn nữa, người nghệ sĩ cảm nhận được cả những cái đẹp mà người thường không nhận thấy hoặc thấy mà không mô tả được. Có phải xem tranh “Bên hoa huệ” các cậu thấy thiếu nữ trong tranh đẹp hơn thiếu nữ bên ngoài không? Có phải khi nghe câu hát ” Lá đào rơi rắc chốn Thiên Thai/ Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi” các cậu tưởng mình lạc Thiên Thai không?

Đó là sự cảm xúc và mô tả của nghệ sĩ. Hay đó chính là tâm hồn nghệ sĩ.

Và đây nữa:

Vầng trăng từ độ lên ngôi
Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ
Để tóc vướng vằn thơ sầu rụng
Mái tóc buồn thơ cũng buồn theo
Năm năm tiếng lụa quay đều
Những ngày đông giá, gió vèo thân cây
Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái hiên.

(Lưu Trọng Lư)

Các cậu thấy tâm hồn người nghệ sĩ hiện lên rất rõ. Bài thơ chẳng có gì ghê gớm cả, nhưng mà hay vô tả. Chẳng cần phải leo thang làm chi cho mệt!

Nhưng mỗi nghệ sĩ cố một tâm hồn. Đọc Nguyễn Bính các cậu không lẫn với Thế Lữ. Đọc Thạch Lam, các cậu không lẫn với Vũ Trọng Phụng được. Cũng như khi xem họa phẩm các cậu không thể lẫn Nguyễn Tư Nghiêm với ai khác. Các ông lớn không hiểu rằng sự “cong queo” trong đường nét của anh ta là nghệ thuật, là cá tính, là cái điệu tâm hồn của anh ta. Nếu bắt ai cũng vẽ ngay ngắn đủ mắt đủ tai, đủ hai bàn tay mười ngón thì Picasso là thằng điên chứ không phải là danh họa. Người Pháp mở “sâm-banh” ăn thịt bò hàng ngày, tính tình phóng túng tự do nên đẻ ra một Picasso, còn dân ta nghèo khổ chỉ có Tô Ngọc Vân và Bùi Xuân Phái thôi. Tâm hồn của Tô Ngọc Vân rất chân thực, bình dị. Còn Bùi Xuân Phái muốn vượt ra cái nhỏ hẹp của đời sống nhưng cũng chỉ chừng mực nào. Pavlenko nói: “Văn chân chính phải dám tiêm vào mạch máu của dân tộc những nhân tố mới bằng ngòi bút của mình.” Chúng ta chấp nhận cái mới nhưng không thể nào rời bỏ tâm hồn dân tộc để mô tả người Việt Nam thành một người khác. Chúng ta không thể quên ca dao:

Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu sửa mình

(Nguyễn Đình Chiểu)

Hoặc :

Nhụy vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Đó là tâm hồn dân tộc ta, muôn thuở không thay đổi. Hịch Tướng Sĩ Bình Ngô Đại Cáo là những áng văn bất hủ vì nó mang trọn vẹn tâm hồn dân tộc ta. Các cậu sẽ thấy lòng tự hào của người Nga qua truyện ngắn Bản Chất Dân Nga của Tolstoi. Ông đã tiêm vào tâm hồn dân tộc ông một liều thuốc tự hào. Tôi đã đọc hàng trăm bản thảo viết tay của nhà xuất bản nhờ cho ý kiến. Có những bản thảo rất ngay ngắn, lý lịch nhân vật rất rõ ràng, thành phần cơ bản ra phết, lập trường vô sản không chê vào đâu được nhưng đọc xong tôi không thể cho in, vì nó không mang lại một tý rung cảm nào, chằng khác đọc bình luận của báo Nhân Dân. Ngược lại nhiều khi chỉ đọc vài trang nhem nhuốc lôi thôi, thậm chí trật cả chính tá, nhưng tôi thấy lóe lên khả năng một cây bút viết truyện. Người viết có tâm hồn. Có rung động mãnh liệt, nên mới truyền cảm được. Một cây dương cầm có những phím gỗ điếc thì làm sao đánh ra nhạc làm cho người ta nghe. Chúng tôi đã từng đến sông Lô, thậm chí có đứa dự cả trận đánh này, nhưng có thằng nào viết ra nổi một bài nhạc như Sông Lô của Văn Cao đâu. Phải công nhận Văn Cao là một tâm hồn nghệ sĩ lớn của nước ta. Bài nào của anh cũng hay cả, không một nhạc sĩ nào với tới, cả đề tài hiện đại lẫn đề tài lịch sử. (Thế mà Văn Cao gục ngã Dưới Lá Cờ Đảng, sáng tác năm 1957 sau khi bị “chém treo ngành” – chú thích của X.V.)

Lý Bạch rót rượu ra thơ. Ta có thể uống cả hũ mà chẳng ra câu nào. Lý Bạch nhẩy xuống nước ôm mặt trăng mà chết. Tolstoi bỏ nhà ra đi giữa đêm tuyết xuống và bị bão tuyết vùi chết. Hai cái chết, một tâm hồn nghệ sĩ . Người đời vẫn hiểu, vẫn yêu hai ông. Nếu Thạch Lam nói: “Người ta sinh ra là nghệ sĩ hay không chớ không phải học mà nên, muốn mà được!” Thì tôi cũng có thể nói: “Tâm hồn nghệ sĩ là của trời cho! Đừng nên bắt chước. Hãy làm một cái gì của riêng mình.”

MÀU SẮC ĐỊA PHƯƠNG

Lại ví dụ nữa: Nếu các cậu tả một buổi gặt hoặc một buổi cấy ở miền Nam, thì nên nhớ đừng làm cho độc giả miền Bắc nhầm tưởng là buổi gặt và cấy kia xảy ra ở ngoại thành Hà Nội, hoặc ở Hái Dương, Ninh Bình. Ngoài cái khoáng đạt của đồng quê miền Nam, các cậu còn những cánh cò, những câu hò đặc sắc địa phương và sự rộn rịp của ngày mùa của miền Nam. Tôi không rõ nhiều, nhưng nên nhớ là miền Nam khác miền Bắc, đó gọi là màu sắc địa phương (couleur locale). Cái hơn của một ngòi bút là ở chỗ màu sắc địa phương. Đọc Nguyễn Tuân các cậu thấy bàn đèn khói thuốc phiện Hà Nội, trò đánh thơ, thả thơ, đi võng, đi kiệu của Hà Nội thời xưa, đọc Tô Hoài, các cậu thấy cả làng thợ dệt. Hát Văn Cao, thấy quê hương trong vài nét chấm phá:

Làng tôi xanh bóng tre
Từng tiếng chuông ban chiều
Tiếng chuông nhà thờ rung
Làng tôi xưa đồng quê yêu dấu
Bóng cau với con thuyền một dòng sông. . .

Hoặc:

Sông Lô, sóng ngàn Việt Bắc
Bãi dài ngô lau, núi rừng âm u,
Thu du bến sóng vàng,
Từng nhà mờ biếc chìm một màu khói thu…

Đó vừa là không khí, vừa là màu sắc địa phương. Văn Cao đã vẽ nên bức tranh tuyệt tác lôi cuốn người xem đắm mình vào trong đó một cách mê say.

QUỐC GIA, QUỐC TẾ

Bây giờ nói lý luận nhé: Quốc tế và quốc gia, con người nào trên thế giới cũng có hai tay hai mắt giống nhau. Nhưng ở mỗi quốc gia con người lại khác. Pháp mắt đục, tóc hoe, Việt Nam mắt đen, tóc đen, tiếng nói lại càng khác, không phái khác ngôn ngữ mà thôi. Đây tôi nói cách phát âm, vì phong thổ, địa dư, nên mỗi dân tộc nói giọng khác nhau. L’ Allemand crache, l’ Italien chante, le Français parle. Người Đức (nói như) khạc, người Ý (nói như) hát, chỉ có người Pháp nói như nói, nghĩa là bình thường. Còn người Việt Nam thì nói cũng như nói, có khi hát, có khi ngâm thơ trong câu chuyện bình thường.

Cùng là “nói”, nhưng mỗi dân tộc nói một cách khác. Cùng là yêu, nhưng Pháp, Thụy Điển yêu không như Việt Nam.

Cậu thử dịch:

Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?

Dù dịch thoát mấy đi nữa, dân Âu châu cũng không hiểu được câu ca dao đó.

Danh cầm David Ostrak sang Hà Nội, không đàn bài gì mà chỉ đàn:

Thương nhau cởi áo cho nhau,
Cây trúc xinh xinh…

Nhưng chắc gì anh ta hiểu được những bài ấy? Và chắc anh ta cũng không hiểu dân tộc ta qua những bài hát của các đoàn Tzigane Rumania.

Anh phải mô tả người Việt Nam mà anh yêu mến, sống hay đó chính là bản thân anh. Quốc tế họ sẽ hiểu Việt Nam như anh mô tả. Vậy thì không có con người quốc tế không có nghệ thuật quốc tế. Nghĩa là về mọi phương diện nhạc, văn, họa, không có cái nào gọi là có màu sắc quốc tế cả, mà chỉ có màu sắc quốc gia thôi. Nhiều quốc gia họp lại thành quốc tế, không có quốc gia thì không có quốc tế. Vậy quốc gia là cái nền, chứ không phải quốc tế. Không có một thứ nghệ thuật nào tiêu biểu cho mọi quốc gia. Trong âm nhạc khó nói cho tách bạch, nhưng trong tiểu thuyết thì rõ hơn nhiều. Đọc Sông Đông Êm Đềm [tức Tikhy Don của Mikhail Sholokhov – Chú của Nhà xb) các cậu hiểu con người Nga, vùng này có lối cưỡi ngựa Can Mức (Kalmyk), ngồi nghiêng nghiêng trên mình ngựa, các cậu không thể nhầm anh chàng Gơ-ri-gô-ri với anh chàng André trong Bão Tố hoặc ông Tư U trong Cá Bóng Mú của Đoàn Giỏi ở sông Cửu Long được. Nếu khi đọc một tác phẩm về “Sông Cửu Long” mà dịch ra, độc giả nhầm với Sông Đông là hỏng rồi ! Các cậu sẽ phải viết về Cửu Long Giang chớ ? Johann Strauss viết Danuble Bleu thì sao các nhạc sĩ miền Nam lại không viết được Cửu Long Bleu? Đỗ Nhuận viết Hồng Hà ơi, Văn Cao viết Sông Lô đó, Nguyên Hồng làm thơ “Cửu Long Giang ta ơi!” có mấy câu thật hay: “Ngẫm nghĩ voi đi, Thác Khôn cười trắng xóa”. Nhưng làm sao ảnh viết tiểu thuyết về Cửu Long Giang nổi? Phải chính các cậu viết về Cửu Long Giang thôi, không ai viết thay các cậu được. Hãy cố lên! Nam Kỳ là đất tiểu thuyết, các cậu không viết thì ai? Tôi không thể viết về sông Cửu Long được, có viết thì cũng không bằng các cậu. (Chúng tôi lắc đầu.). Không, tôi nói thật đấy mà! Bây giờ các cậu thử tả cái mưa phùn, cái rét co ro, cái bánh chưng của Hà Nội xem, mười năm nữa, chưa chắc các cậu đã tả nổi những nét bình thường như thế. Nó ở trong máu nhà văn! Sholokhov là dân Cô-dắc (Cosaques) gốc sông Đông, cho nên quyển tiểu thuyết của ông ta đầy chất Cô-dắc mà Ehrenhourg cũng không viết nổi. Văn chương nói thì nghe dễ lắm, nhưng tả một ly rượu Vodka uống với dưa chuột muối được như Sholokhov là không dễ . – Cũng như Hồ Xuân Hương tả một cảnh đánh đu với 56 chữ thì không phải nhà thơ thế giới nào cũng hiểu được, đừng nói chi làm.

Anh cười ha hả, sảng khoái, thích thú:

– Tôi nói ba lăng nhăng như vậy, để nói một điều này: “Couleur locale ! ” Đó là cái mà các cậu phải nhớ. Anh Nguyên Hồng bảo tôi: Trông mấy thằng Nam bộ đập cái “hột vịt lộn” cũng khác mình. Đó là bản sắc của các cậu Hôm nào gặp ảnh, các cậu thử hỏi xem khác ở chỗ nào? Anh ấy thích nhân vật Năm Sài gòn lắm trong lúc ảnh chi mơ màng, không hiểu Sài gòn ra sao cả. Nhưng nội cái tên Năm Sài gòn cũng đã độc đáo vô cùng- giữa một lô nhân vật Bắc, Năm Sài gòn sáng chói phi thường, có thua gì Gơ-ri-gô-ri trong Sông Đông Êm Đềm. Quốc tế hiểu dân Nga là nhờ quyển tiểu thuyết này, không phải nhờ gì khác. Tôi hiểu dân miền Nam là nhờ các cậu. Các cậu đừng rụt rè, tự ti. Hãy viết. Viết và viết. Và nên nhớ một điều là các cậu là Nam Kỳ. Đừng có tự cho các cậu lẫn lộn vào các cụ… Bắc Kỳ. Làm thế nào khi đọc các cậu, độc giả biết ngay: “à, thằng này là dân Nam Kỳ !…”

PHÂN CHƯƠNG MỤC

– Đó là một ước lệ, một sự lo âu tính toán, một con đường mình nghĩ là mình sẽ đi, một cái biển chỉ đường – anh xua tay bảo – Đó chỉ để mà chơi, không nhà văn nào viết đúng ý định của mình ra giấy dù chỉ 60%. Ngược lại, khi viết có khi ra cái khác hoàn toàn chõi ngược lại ý định của mình, mà ngộ thay, mình cưỡng lại nó không nổi, vì mình thấy nó hay hơn cái ý định của mình trước kia. Nam Cao tả thằng Chí Phèo say bằng một câu tuyệt ..

Uống đến đái ra rượu kia mới thích! – Tôi nói.

Anh lắc đầu:

– Đó là câu của Tự Mãn, bạn từ giăng rơi xuống của Chí Phèo. Còn câu của Nam Cao tả Chí Phèo như thế này: – “Có bao giờ một thằng say lại đi đến nơi mà khi ra đi, nó định đến “. Có nghĩa là sao? Là nó định đến nhà thị Nở để làm hung với bà cô của thị, vì bà này cấm không cho thị đến với hắn, nhưng hắn lại đi vào cổng nhà Bá Kiến rồi gây sự ở đây.

Anh Cười, tiếp:

– Tất cả nhà văn đều là Chí Phèo say trong việc thực hiện ý định của mình trên giấy. Không một anh nào đi đúng dàn bài dù tỉ mỉ hay đại khái đến đâu, để tới mục tiêu mình đã định trước. Gogol viết quyển đầu của Les âmes mortes (Những linh hồn chết), được Pouchkine khen là tuyệt tác Nhưng sang quyển thứ hai, thứ ba thì không bằng. In ra xong chìm mất tiêu.

Những linh hồn chết thường bẻ, xoay ngòi bút của nhà văn. Nếu như sau này các cậu viết tiểu thuyết mà bị say như Chí Phèo, thì cứ đi như thằng say, nghĩa là cứ viết tới chớ đừng tỉnh lại rồi đi theo cái dàn bài. Tôi đã bị nhiều lần rồi. Minh định sẽ viết như vậy, có khi lại rất cụ thể. Câu cuối cùng sẽ như vầy, nhân vật này sẽ làm như vậy nhân vật kia sẽ nói như vậy… Thế nhưng chẳng có nhân vật nào nói và làm theo mình, chúng nó nói và làm theo chúng nó – nghĩa là theo cái dòng của câu chuyện. Tôi đành phải xuôi theo. Mình đẻ ra chúng, nhưng lắm khi chúng nó lại chỉ huy mình.

Có lẽ tôi đồng ý với Alexis Tolstoi, viết xong chương trước mới có thể nghĩ tới chương sau. Ngoài ra, chương là gì? Chương cắt riêng ra nên là một chuyện tự nó. Được vậy càng hay, nhưng nếu không được thì hai ba chương liền với nhau có thể tách rời ra toàn truyện mà cũng thành một truyện.

Lỗ Tấn có 9 điều căn dặn, trong đó có một điều quan trọng nhất là “Khả Hữu Khả Vô”, nghĩa là có cũng được, mà không cũng được. Nếu vậy nên bỏ đi cho nhẹ.

Khi các cậu đóng lại một chương thì cũng có nghĩa là mở ra cho một chương khác. Đóng nhưng lại mở. Khi viết các cậu sẽ hiểu.

Trong một truyện dài, thỉnh thoảng nên có một cái cựa gà ! Đó là một chương hoặc một đoạn tách rời ra khỏi cái mạch chính của truyện, vì kẻ viết cũng mệt, mà người đọc cũng mệt, nên cho cả hai đi “xả hơi”, rồi sẽ trở lại. Vậy cái cựa gà là một con đường nhỏ bên đại lộ hay một rạch con bên một dòng sông cái. Những nhà phê bình bảo thế là lạc đề, nhưng họ lắm khi không hiểu đó là sự lạc đường cố ý. Nghỉ ngơi giây lát rồi quay lại, chứ không phải là mất hướng đi.

SÁNG TẠO LÀ GÌ?

– Các cậu giở Les Chemins des Tourments ra, ở chương V quyển I (Sombre matin: Bình minh u ám) các cậu sẽ thấy anh chàng thi sĩ Bessonov đã mê hoặc nàng Katia, đến nỗi nàng phải… bỏ ông chồng mà đi đến khách sạn với anh ta. Xong anh ta lại đến ve vãn cô em là Dacha. Thoạt nhìn nàng, anh ta rủ rỉ:

– Em có những nét giống Katia!

Dacha biết ngay chuyện gì đã xảy ra giữa hai người, bèn lập tức xua anh ta ra khỏi nhà.

Đó là một nét để cắt nghĩa hai chữ “Sáng tạo”.

Ví dụ thêm: Khi Dacha có thai với Sergui, thành phố Mạc Tư Khoa tối om vì chiến tranh, nên không có điện. Sergui đi làm về đem cho nàng một trái chanh, và làm cho nàng một ly nước chanh (rất quí vào lúc này), nhưng nàng nếm một tí rồi nhăn mặt:

– Em không muốn vị chua trong lúc này. (ý nói là hoàn cảnh khó sống).

Hoặc trong văn ta, hai chữ “Tắt Đèn” của Ngô Tất Tố, dù chỉ hai chữ nhưng là cả một sự sáng tạo. Còn nói về một quyển tiểu thuyết đầy sáng tạo thì phải kể Số Đỏ Vũ Trọng Phụng đã sáng tạo nên cả một bức tranh xã hội đương thời bằng một nhân vật Xuân Tóc Đỏ. Nó chỉ có sơ sài phơn phớt ở ngoài đời, nhưng tác giả đã dựng lên cả hồn lẫn xác. Từ một anh cu nhặt banh mướn mà trở thành anh hùng cứu quốc.

(Nhà văn Cộng Sản Nguyễn Khải trong đại hội nhà văn Hà Nội đã nhận định: “Số Đỏ là quyển tiểu thuyết làm danh dự cho mọi nền văn học.” Đỗ Mười hiểu quái gì! Chính hắn là một Xuân Tóc Đỏ xã nghĩa.)

Thật ly kỳ ! Những nhân vật cụ Cố, bà Phó Đoan, ông Minh, bà Văn, cô Tuyết, ông Phán mọc sừng, cụ lang Tỳ, lang Phế, đều là do bàn tay sáng tạo của Vũ Trọng Phụng mà nên cả. Sự sáng tạo này làm kinh ngạc cả văn giới lần độc giả Hà thành thời đó.

Dư âm của nó còn đến bây giờ và mãi mãi. Cái câu “Biết rồi khổ lắm, nói mãi” ngày nay trở thành một thứ ca dao, đi đâu các cậu cũng nghe câu chế diễu đó. Còn nhân vật Xuân Tóc Đỏ có thua gì các ông Trương Phi, Lưu Bị, Tào Tháo không? Hễ ai làm điều gì rởm thì người ta gọi là “Xuân Tóc Đỏ”.

Cái sáng tạo của nhà văn là nhặt một hạt cát làm thành một hạt kim cương. Nếu không thì sự có mặt nhà văn trên đời để làm gì? Cùng một ý này, Gorki có nói: “Nhà văn như cái máy biến thể điện nhận dòng điện từ nhân dân để trả lại nhân dân một dòng điện mạnh gấp 1000 lần.” Đó là sức mạnh và phép lạ của cây bút nhà văn. Những anh thầu khoán giắt bút Parker vàng nhưng chẳng biết viết quái gì cả. Còn Lý Bạch xài cái bút tre, nhưng viết cả thế giới con người và lưu tiếng ngàn đời!

Vì các cậu ‘biết nghe’, nên tôi nói về các nhà văn lớn thế giới cho các cậu nghe. Balzac rất kỳ quái, nhưng kỳ quái thiên tài. Viết một ngày 15-17 tiếng đồng hồ, mà đứng viết, còn cụ Tuân nhà mình thì lại ngồi trên phản. Thực lạ kỳ! Balzac vừa viết vừa uống cà phê, cho nên bản thảo của ông đều đen ngòm cà phê. Nhà ở phía sau có cửa hậu không khi nào khóa, để trốn nợ. Hễ nghe đập cửa là cứ việc vọt chạy, vì đó là chủ nợ,. chứ không ai khác.

Ông ta chết rồi, nợ còn ngập đầu, chánh phủ phải trả. Nhưng sách của ông đem bán đi, chánh phủ lấy lại vốn, còn lời bộn.

Một hôm, một người bạn tới chơi, ông mở cửa ra, và ôm chầm lấy bạn, khóc mếu thảm não:

– Con Marie nó chết rồi!

– Con Marie nào? – Người bạn hỏi.

Thì ra con bé trong truyện của ông, chớ không có con Marie nào ngoài đời cả. Có một giai thoại kể lại rằng: khi ông ta đau nằm trên giường bệnh, ông bảo người đi tìm cho ông viên thầy thuốc tên Jean hay Jacques. Người ta chạy đi sục tìm khắp vùng không thấy ông thầy thuốc nào có cái tên đô cả. Thì ra là ông thầy Le Médecin de campagne (Thầy thuốc miệt vườn)của chính Balzac. Những giai thoại này cho ta thấy tâm hồn của nhà văn vĩ đại cỡ nào. Nhà văn nhập hồn mình vào nhân vật mình mô tả. Tuy hai mà một.

Về Maupassant: Các cậu nên tìm đọc truyện ngắn của ông ta. Nó gần gũi với thực tế như chúng mình đối với cuộc kháng chiến chống Pháp, trong đó có những truyện người Pháp giết giặc cứu nước, như một bà nông dân gạt tên lính Phổ (Đức) xuống hầm rồi khóa cửa, mở nước cho chạy vào, và đi kêu quân đội tới. Có khác gì bà mẹ ở Nam Bộ, em gái ở khu 5?

Flaubert là người dạy cho Maupassant viết truyện. Flaubert có văn pháp cực kỳ trau chuốt, đến nỗi không có một chữ nào của ông ta có thể thay thế được. Tính ông ta rất hay cau có ngay với chính ông, và không chịu cho nhà báo đến phỏng vấn. Một lần nọ, sau khi quyển Madame Bovary của ông xuất bản, người ta đồn rằng ông ta mô phỏng theo bà công tước này, bà bá tước nọ ở trong vùng để dựng nên nhân vật Bovary. Nhiều bài báo đoán mò in lên khắp Paris. Có một bài quả quyết rằng đó là bà Jeanne de Carpentière hay gì đó. Tác giả bèn đến để nhờ ông xác định. ông bảo:

– Không phải bà nào hết. Đó là tôi!

Các nhà báo đều té ngửa ra, không ai ngờ bà Bovary lại chính là ông Flaubert.

HÃY TỰ TIN

Các cậu đừng sợ người khác hơn mình. Ai hơn mình, mình nghiên cứu họ và vượt họ. Đừng có sợ các “ông lớn” Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Hồng đứng sầm sầm trước mặt mình, phải có quyết tâm bắt kịp họ và vượt cả họ nữa. “Rattraper et dépasser!” Ngay cả Nguyễn Du, mình cũng phải tìm cách vượt. Ông ấy sẽ rất buồn, cứ hằng năm mình làm lễ kỷ niệm, ca ngợi ông, mà chẳng có anh nào sờ đụng cái gấu áo của ông cả. Hãy có dũng khí của một viên tướng ở chiến trận, hãy có ý chí làm một sự nghiệp đời trước chưa có, đời sau sẽ không có, thế mới gọi là “dũng khí của nhà văn” chứ! Les coeurs tièdes ne deviendront jamais écrivains! Muốn trở thành nhà văn, chỉ có một cách là viết. Đừng sợ mấy ông phê bình gia – Không phải mấy ông nói gì cũng đúng. Mấy ông không phải là hướng đạo của nhà văn. Một người bạn tin cậy đủ rồi, không nên nghe bất cứ ai.

NHÂN VẬT

Nếu các cậu thấy tốn nhiều giấy bút quá mới dựng lên được một nhân vật, thì hãy xem đây: Tô Hoài chỉ quệt một nét mà nên một nhân vật rất sống:

-… Cai Giắt (trong Mười Năm) nói là đi sang Tây đánh giặc, nhưng sang đó có làm quái gì ngoài giắt ngựa cho thằng quan Ba. Sáng giắt ngựa ra cho nó cưỡi, chiều nó về lại giắt vào chuồng. Hết hai năm nó đá đít cho về với chức cai, hóa ra là cai Giắt.

– Lão Nhiêu Thuộc: Mùa hè lão vẫn mặc áo bông. Từ trước đến giờ, xóm này biết lão tắm có hai lần. Lần thứ nhất khi đức Khải Định ngự Bắc Hà. Lần thứ hai, khi quan Toàn Quyền mới sang đáo nhiệm. Lần nào vợ lão cũng quây màn, nấu nước pha ấm cẩn thận, nhưng lần nào tắm xong, lão cũng ốm suýt chết. (Đọc mấy nét này, độc giả cười bò ra).

VIẾT GÌ?

Viết cái gì cậu thuộc, đừng viết cái gì không thuộc. Thuộc nghĩa là những việc, những người cậu nằm lòng, không cần phải lấy tài liệu ở người khác. (Anh Tô Hoài tả các cô cậu thợ dệt, không phải hỏi ai cả.) Điều đó không có nghĩa là cậu chỉ viết những gì thuộc về cậu mà thôi. Những gì cậu nghe kể mà cậu nắm được chắc như của chính cậu, thì đó cũng là thuộc… Viết những gì cậu không lờ đi được, không viết ra, cậu thấy người cậu nó thế nào ấy.

TRƯỚC KHI VIẾT PHẢI CHUẨN BỊ NHỮNG GÌ?

Cốt truyện, nhân vật, mở đầu, kết thúc. Nhưng có khi chẳng chuẩn bị gì cả. Như cái con dế mèn của Tô Hoài. Anh thấy nó hay hay, thế là phát lên viết. Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng cũng thế. Anh thấy muốn viết, thế là xin tiền mẹ mua giấy về viết, viết trên tấm ván lót ngang góc chuồng lợn… Cái sự viết rất lạ lùng, lắm khi chuẩn bị một đằng, chuyện lại đi một nẻo. Nhưng dù sao có chuẩn bị kỹ, vẫn ít bị động hơn.

CHỮA THẾ NÀO?

Chữa chừng nào thấy không còn chữa được nữa thì thôi. Anh Nguyễn Công Hoan không chữa mấy, nhưng Tolstoi chữa 108 lần. Cho đến đỗi một nhà phê bình nói rằng: Những mẩu văn do ông cắt bỏ, nếu ai ký tên dưới đó cũng sẽ nổi tiếng. Như thế thì ta thấy một nhà văn như Tolstoi đã phải bỏ ra bao nhiêu công sức cho hai pho tiểu thuyết như Anna KarénineChiến tranh và Hòa bình?

Nhà phê bình trên còn nói rằng: Từ truyện đầu tay đến truyện cuối cùng của ông, không có sự khác biệt nhau về trình độ nghệ thuật. Nghĩa là ngòi bút của ông trong truyện đầu vẫn điêu luyện như ở truyện cuối.

Khi đọc lại, các cậu nên thêm ít, bỏ nhiều. Đó là phương pháp của Anatole France, cũng còn gọi là cây kéo của A. France (Les Ciseaux d’ A. France), cũng tương tự như Lỗ Tấn: Khả hữu khả vô ! Cắt câu văn nó đau như cắt ruột vậy.

SỰ SO SÁNH (COMPARAISON)

Mắt em như hồ thu, mày em như lá liễu .. Đó là một sự so sánh, cốt làm tăng sự nổi bật của hình tượng văn học. Như tôi đã nói ở đâu đó về hình tượng của chàng Gờ-ri-gô-ri ngồi dưới cánh cối xay gió như con chim đại bàng đập cánh mãi mà không bay lên được. Sự so sánh ấy nó còn ăn với nội tâm và ngoại cảnh. Tất cả hợp lại làm thành một cái toàn bộ (ensemble)tuyệt vời.

NHỮNG TIẾNG “THÌ, LÀ, MÀ, VÀ…”

Những tiếng “thì, là, mà, và…” coi vậy mà rắc rối đấy, các cậu nhớ coi chừng. Dùng nó thì câu nặng nề ra, dễ trật văn phạm lắm, và nghe chướng tai nữa. Maupassant viết những câu rất ngắn, nhà phê bình Marcel Prévost đã tổng kết: “Những câu dài của ông không phải là những câu hay.” Đó là kinh nghiệm, các cậu nên học ngay, đừng nên để mình có thói quen viết câu dài rồi khó sửa. Bệnh dễ chữa hơn tật, nhất là cái tật trong văn chương. Như ông Thiếu Sơn bị nhà phê bình Vũ Ngọc Phan chế diễu là nhà phê bình “vậy vậy”, vì cứ vài câu thì ông lại “vậy” một phát. Trong văn học Pháp có một nhà văn viết rất đơn sơ, không có một câu nào rắc rối cả, chỉ có một mệnh đề. Đó là Hector Malot, tác giả của 2 quyển truyện En FamilleSans Famille được tặng giải thưởng của Hàn Lâm Viện Pháp. Đừng làm ra vẻ văn chương bằng những câu rắc rối, chế tạo văn chương.

VIẾT VĂN LÀ MỘT SỞ THÍCH
LÀ MỘT SAY MÊ, KHÔNG NÊN BẮT CHƯỚC

Anh Nguyễn Tuân còn coi đó là cái đạo. Ai có cách viết nấy, đừng có bắt chước. Các cậu mới bắt đầu, nên tôi mới dặn thế, đừng tự ái, đừng buồn nhé ? Như trẻ con thấy cái gì ngồ ngộ thì làm theo, mãi rồi thành thói quen mà không hay. Tôi lấy ví dụ thơ Mayakovski (gọi tắt là Maia) Đó là thơ leo thang. Tại sao người ta leo? Một trong những lý do leo, có thể là ngôn ngữ của người ta là ngôn ngữ đa âm (polysyllabique), còn ngôn ngữ của mình là ngôn ngữ độc âm (monosyllabique). Người ta cắt một chữ ra thì còn đọc được, thí dụ:

Mát – xcơ – va.

chớ còn chữ của mình làm sao mà cắt? Cho nên anh em leo thang viết:

những

   
 

con

 
   

người

Nay mai có lẽ sẽ viết như thế này chăng:

nhữ

         
 

ng

       
   

co

     
     

n

   
       

ngư

 
         

ời

Thật là vô lý kỳ cục! Hao giấy vô ích!

Nếu hay, thì mình cũng có thể chấp nhận được, còn đằng này các cậu có thấy gì hay không? Đó là sự lập dị, phá phách chớ chằng phải tìm kiếm sáng tạo gì cả. Thơ hay là thơ có vần có điệu, nếu phá thể thì cũng vẫn có vần có điệu. Không ai hiểu được thơ leo thang VN. Nó lai căng, mất gốc và dị hợm. Các cậu tới nhà ga Hàng Cỏ thấy treo hình Maia thì biết ngay đó không phải là một người VN, và không ai hiểu ông ta tự vận vì lý do gì, và vì lẽ gì ông ta leo thang, cũng không ai rõ. Đó là nói về sự bắt chước hình thức, còn bắt chước nội dung thì càng tai hại. Đọc một tác giả tả tình yêu, hoặc anh bộ đội hay quá, mình cũng nhào vô tả anh bộ đội và tình yêu trong khi mình chẳng có vốn liếng gì trong hai lãnh vực này cả. Đó là chuyện nên tránh.

Lại nói xa hơn: Bắt chước tác phong. Các cậu chẳng lạ gì tác phong và văn chương của anh Nguyễn Tuân: nó đạo mạo, khinh bạc và phớt (ăng lê) đời. Hồi trước cách mạng có kẻ bắt chước Nguyễn Tuân trong cách viết, cách ăn mặc đi đứng hào hoa, nhưng đều trở thành lố bịch. Còn bắt chước lối văn của anh thì càng kệch cỡm hơn.

Tôi ví dụ thêm cho rõ: Có vài người bắt chước Vũ Trọng Phụng tạo ra một Xuân Tóc Đỏ, và một lô nhân vật như cụ Cố, ông Phán mọc sừng, Tuyết, Văn Minh… nhưng chẳng ai thành công cả, trái lại, thất bại hoàn toàn.

HÃY TẠO RA CHO MÌNH MỘT LỐI :
LỐI CỦA MÌNH – CÓ TÍNH CHẤT RIÊNG

Tôi nói riêng đây là do hoàn cảnh sống, hoàn cảnh gia đình, địa dư, phong thổ tạo nên cho con người các cậu. Cũng như cây cô mọc tự nhiên trên đất, chớ không phải những cây kiểng trong chậu do những người thợ tỉa tót, uốn cong bẻ vẹo mà thành. Nhìn cây kiểng, lắm khi người ta không biết đó là cây gì, chỉ thấy vui vui, hay hay vì nó có hình con nầy con nọ .

VĂN CHƯƠNG LÀ SỰ GỌT ĐẼO CÔNG PHU

Nhưng sự gọt đẽo đó không được phá hỏng tính chất hồn nhiên. Hồn nhiên là một trong những yếu tố quan trọng trong văn chương. Tôi đố ai có thể bắt chước được thơ Hồ Xuân Hương! Văn chương phải gọt đẽo, nhưng cũng không nên gọt đẽo đến mức tác phẩm trở thành món đồ thủ công nghiệp, nghĩa là nó khô khan, ngay ngắn, bóng láng, nhưng không có sức sống, vô hồn. Nếu Tô Hoài hấp dẫn các cậu thì đó là do chất tươi mát hồn nhiên của cuộc sống ngồn ngộn trong văn chương, chớ không phải do sự gọt đẽo. Trong văn chương của Tô Hoài nổi bật là Sự Sống, chớ không phải do Khéo Tay. Ảnh không biết thế nào là văn chương, khi viết Dế mèn phiêu lưu ký, nhưng Dế mèn lại trở thành ông voi trong văn học. Nói đến Tô Hoài là nói đến sức sống, chứ không nói đến sự sang trọng của chữ nghĩa như Nguyễn Tuân. Chắc các cậu chưa biết anh Tô Hoài viết tiểu thuyết trong khi chưa biết tiểu thuyết là gì, thế mà thành công. Anh Nguyên Hồng bứt rứt phải xin tiền mẹ mua giấy viết văn, rồi cũng thành công. Cả hai cùng được giải thưởng Tự Lực Văn Đoàn lúc mới 16-17 tuổi. Cái gì làm cho các anh thành công, và trở nên thần đồng trong văn học Việt Nam? ĐÓ LÀ SỰ HỒN NHIÊN.

Nhưng nên nhớ rằng hồn nhiên không có nghĩa là tự nhiên, thô kệch. Trong những quyển đầu của Tô Hoài và Nguyên Hồng, sự sống là chủ yếu. Không thấy có sự suy nghĩ gì cả, cứ “chép” sự thực lên giấy thôi. Tự cái sự thực đó đã là văn chương rồi, và cái sự thực đó nói thay cho tác giả. Đó là nghệ thuật tiểu thuyết.

VIẾT CÀNG NHIỀU CÀNG TỐT

Nói tóm lại các cậu nên viết, viết càng nhiều càng tốt. Thành công càng tốt, mà thất bại cũng tốt. Khi in được một trang, mình đã phải viết mười trang, hoặc cả trăm trang, có ai biết cho đâu! Không có cách nào trở thành nhà văn nếu các cậu không viết. Cứ ngồi mà “suy nghĩ ‘, cứ xem người này ngắm người kia hoài, không trở thành nhà văn được.

VẤN ĐỀ PHÊ BÌNH

Khi viết, đừng thèm đếm xỉa tới các phê bình gia mang kính cận dày 8 ly hay một phân. Họ nói gì mặc họ. Đó là cái nghề của họ. Nếu các ông ấy là khuôn vàng thước ngọc, thì thế giới này sẽ không có văn chương, vì nhà văn nào theo mẫu mực của họ đều hỏng cả. Khi viết, hãy đốt nhang, kính cẩn đặt họ dưới gầm bàn. Hãy chém tất cả bọn phù thủy thì thế gian sẽ không còn ma quỉ. Vì chính bọn phù thủy tạo ra ma quỉ, chớ không ai khác. Các cậu có thấy người ta “xé nát” truyện Bốn Năm Sau (1) của tôi ra thành giấy đi cầu không bằng không? Nếu nghe theo họ thì tôi tự vận quách cho rảnh, chớ viết văn làm gì cho nhục? Thiếu chút nữa họ giật bút tôi mà bẻ đi rồi. Nhưng may mắn thay, tôi có bùa hộ mạng. Một hôm tôi đi phất phơ ngoài phố, để tính chuyện viết cái phim truyện Lũy Hoa, thì gặp anh tiểu đoàn trưởng đơn vị tôi đến lấy tài liệu viết truyện Bốn Năm Sau. Anh ấy vỗ vai tôi hỏi: “Sao, truyện chỉ có thế à? Nhân vật Thống Chế anh em chiến sĩ họ thích lắm. Họ yêu cầu tôi xuống Hà Nội tìm nhà văn đề nghị viết thêm. Quyển I đọc hết rồi? Anh biết không, sách không có đủ, nên cả đại đội chỉ có một quyển. Người phụ trách câu lạc bộ phải chọn các cậu có giọng tốt đứng ra đọc cho toàn đại đội nghe… Thế nào, anh có rảnh không? Lên chơi Điện Biên một chuyến nữa để viết thêm quyển Năm Năm Sau chứ!…” Đó, các cậu thấy không? Mình sống là nhờ những nhà “phê bình” chất phác hồn nhiên này.

Một lời nói của họ là một thang thuốc bổ. Đấy là những lời phê bình giá trị nhất. Văn chương thơ phú là để cho người ta đọc, chớ không phải để cho các ông ấy “làm thịt theo ý các ổng. Khi nào các cậu viết xong tác phẩm, các cậu kêu mấy thằng khốn nạn đó đến và cho nó gặm mấy cái móng… ? Và bảo chúng nó dẹp nghề đi!

Anh nói với chúng tôi rất nhiều, nhớ không hết. Chúng tôi không có thầy nào dạy chính thức một bài nào cả. Toàn những chuyện tâm sự rất quí báu cho nghề viết. Không ghi thành bài, không đăng báo.

Ngày nay đã viết được chút ít, nhớ lại những bài học ban đầu, thì thấy nó “hơi dễ”(!), như học trò lớp nhất nhìn lại bài lớp nhì, nhưng thời gian đó, nếu không có người chỉ cho, thì mò biết đời nào ra? Nhưng những bài học vật lý, toán pháp học một lần thì thuộc, còn bài học văn chương, học được rồi đem áp dụng mãi, thấy nó cứ biến hóa mới hoài. Vì truyện mình viết có khi nào trùng. Đâu phải bài nào cũng đem úp lý luận vào là thành tác phẩm cả !

Thêm những ngón nghề trong việc viết. Anh nói nôm na:

– Các cậu chơi ping pong thì cũng biết có mấy loại cú phải không, “drive”, “revers”, cú “droit”…. trong văn chương cũng vậy, nó cũng có những ngón của nó. Phải biết sử dụng để làm tăng giá trị của câu chuyện. Tôi có thể nói ra một vài ngón để các cậu tùy lúc mà sử dụng.

(1) Chính tên tướng Trần Độ đã có lập trường mạt sát quyển Bốn Năm Sau trên báo Văn nghệ Quân đội. Tên này cũng mò mẫm viết văn để trở thành một trự Cộng sản văn võ kiêm toàn, nhưng tới nay vẫn chỉ viết được chỉ thị.

CƯỜNG ĐIỆU

Đây là một ngón rất thường dùng. Nhất là mấy ông nhà thơ: Mắt em là đại dương sâu thẳm, những quả núi tuyết những cặp đùi giá đáng một huy chương vàng (A.Tolstoi), những ngón tay búp măng nhưng có thể bóp nát quả đất… Trong truyện Tàu, truyện Tây đều thấy ngón này. Trương Phi hét như sấm dậy, ngựa Xích Thố chạy một ngày ngàn dậm. Giở truyện ra là thấy cường điệu, nối nôm na là nói tướng lên, nhân sự việc to lên hằng vạn lần, đến mức gần như vô lý. Mục đích là gây ấn tượng sâu sắc trong đầu độc giả.

VẤN ĐỀ PHỤC BÚT

Những vấn đề tôi nói ở trên tùy lúc, tùy hứng mà các cậu dùng, chớ không có ai định liệu trước phải dùng ngón nào cho truyện nào, cũng như người đàn vọng cổ tùy hứng vậy. Chỗ nào thấy cần nhấn ra mấy tiếng thì cứ nhấn. Không ai viết truyện mà định trước ở đoạn nào sẽ dùng ngón cường điệu, ngón ví von hoặc ngón phục bút. Khi viết tự nhiên thấy cần thì rút ruột tằm ra. Phục bút là gì? Phục bút là dùng nét bút trở lại lần thứ hai. Đó là một lối bỏ lửng mà không sợ độc giả hiểu khác đi. Thí dụ cho rõ: trong truyện Con Cánh Cam của nhà văn cổ điển Rumani Sadovenu. ông tả một cô gái mù đau khổ vì không có tình yêu. Cô có ý định tự vận, cô bèn hỏi các bạn gái chỗ nào nước sâu. Các cô bạn vô tình không biết ý định đó của cô, nên một hôm đi chơi bờ biển, thì dẫn cô đến một vực thẳm có nước xoáy ác hệt, và báo: này coi chừng, đừng tới gần, rủi ngã xuống đó thì chết. Thế rồi tác giả bỏ lửng suốt truyện, chỉ nối những ý nghĩ đau đớn của cô nàng, nhưng không nhắc đến ý nghĩ tự vận.

Mãi cho đến cuối truyện, tác giả cho cô gái đi đến cái vực thẳm ấy, nơi có dòng nước xoáy ác liệt. Rồi chấm dứt câu chuyện. Người đọc không thấy, nhưng biết cô ta sẽ có hành động gì sắp tới.

Lại thêm một ví dụ khác: Một anh chiến sĩ lúc tập trận ở nhà dùng 10 ngón tay bấu vào thân chuối lút cả ngón.

Đến năm ba chương sau, tác giả lại tả một tên giặc bị một anh chiến sĩ bấu thủng cả cổ mà chết. Độc giả biết ngay đó là anh chiến sĩ ở trên kia, chớ không ai khác.

Phục bút là một ngốn nghề rất cao, ít khi thấy trong truyện. Những tác giả nào đã dùng được cái ngón ấy thì chằng khác nào tiên xài bửu bối. Nói khác hơn, cũng như tôi đã nói trước kia, là nói cái đó mà không nói cái đó, không nói cái đó mà lại nói cái đó. Trong văn chương càng tả rõ ràng cụ thể, thì càng có hình tượng. Tuy nhiên không phải chỗ nào cũng phải phơi trần ra hết cả, có những chỗ ta cứ để cho độc giá hiểu ngầm và thích thú lấy hơn là tác giả nói rõ ra. Tình yêu nói bằng mắt. Văn chương nói bằng sự… không nói.

VẤN ĐỀ ĐẶT TÊN

Tên nhân vật là vấn đề rất dễ, nhưng cũng có khi nó gây rắc rối. Thí dụ truyện tả có ba nhân vật nữ, ban đầu ta đặt là Loan (nhân vật chính) và Lý, Lựu (nhân vật phụ), nhưng khi viết được vài chương, thì ta bỗng thấy “Loan” không hay, mà Nga mới thích hợp. Vì trong đó có một cảnh trăng. Người con trai trỏ lên mặt trăng nói: Em là Hằng Nga của anh. Như vậy không bằng nói: Nga của anh kìa ! Cho nên ta muốn đổi Loan ra Nga. Tôi đặt tên nhân vật rất nhanh, nhưng không khi nào tôi giữ nguyên cả viết vài chương thì mới khẳng định và dừng luôn. Điều này không có gì là hư hỏng. Tiểu thuyết Tây thì các tên nhân vật như André, Franẹois hoặc Dasha, Katia, Grigori, không có nghĩa gì cả, nhưng trong văn chương ta, nhân vật Phấn, Hương, Hoa đều có cái nghĩa rất đẹp của nó. Ví dụ một cô gái đoan trang không nên có tên là Bướm, hoặc một cô gái nhà trò không thể có cái tên là Mỹ Đức, một tướng cướp không thể có cái tên là Ngọc Long, hay Huy Ánh v.v . . .

Các cậu đọc truyện Tàu, thấy tên các tướng Phiên: Cáp TÔ Văn, Hồng Mạn Mạn, Hắc Xích Đạt, Tề Cáp Nhĩ v.v… Còn tướng Đại Đường, Đại Tống thì rất đẹp: Triệu Khuông Dẫn, Tiết Nhân Quí, Phàn Lê Huê. .. Đọc cái tên ta có thể hình dung được con người ít nhiều về cả hình thức lẫn bản tính. Nam Cao đặt tên Chí Phèo thật là độc đáo. Tiếng Việt của ta rất phong phú, vậy tên nhân vật cũng mang nhiều ý nghĩa tô đậm màu sắc cho câu chuyện.

VÍ VON HAY LÀ CHẤT THƠ TRONG TRUYỆN

Cách nói nhẹ nhàng, thơ mộng, làm cho truyện thay đổi không khí sau một chương hoặc một đoạn nặng nề. Nói để hiểu như vậy, chứ cũng tùy khả năng của tác giả. Thí dụ trong thơ Nguyễn Du tả nét đẹp của Kiều:

Làn thu thủy nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai.

Hoặc tả tiếng đàn của Kiều:

So dần dây vũ dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu Hán Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư Mã Phượng cầu,
Nghe ra như oán như sầu phả i chăng ?
Quá quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia.
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như nước suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.

Tả sắc đẹp và ngón đàn của Thúy Kiều đến thế thì chẳng ai bằng. Đó là nghệ thuật ví von và cường điệu cùng đi một lúc, nên tứ thơ được nâng lên cao vút tối đa. Trong văn xuôi cũng không thể thiếu cái lối này.

NGOẠI CẢNH VÀ NỘI TÂM

Các cậu tả một cặp tình nhân đang tỏ tình ở bên bờ suối nhé ! Nếu là thường sự thì tả một vài cử chỉ trên làn môi mái tóc, nhưng tay cao thủ thì đi quá tí nữa, tả đôi chim trên cành, hoặc tả con suối cuồn cuộn chảy, tung bọt trắng xóa. Nội tâm và ngoại cảnh hòa hợp với nhau, ăn khớp và nâng nhau lên. Nếu cái bối cảnh của cặp tình nhân là đồng quê, thì các cậu đưa vào dưới chân của họ mấy cái bông hoa dại hoặc mấy tiếng dế gáy ở mô rạ. Còn nếu các cậu tả cặp vợ chồng trẻ yêu nhau, thì cho ánh đèn lờ mờ rồi cho con thằn lằn tắc lưỡi… Không cần phải tả gì hơn nữa.

Một lần nào đó, tôi đã nói với các cậu là một chương, khi đóng lại cũng còn có nghĩa là mở ra. Thì đây tôi xin lấy cái kết của truyện Chí Phèo của Nam Cao để ví dụ: Khi Chí Phèo đâm họng tự sát trước cổng nhà Bá Kiến, thì xóm làng tò mò chạy đến. Thị Nở cũng có mặt ở đó. Mỗi người bàn một câu, còn Thị Nở thì im lặng nhìn xuống bụng mình hơi vun lên. Trong đầu thị thoáng chiếc lò gạch cũ nơi vắng bóng người lại qua. Cái bụng của thị u lên thì rõ rồi, còn cái lò gạch là nơi một gã đặt lươn đã nhặt Chí Phèo đỏ hỏn về nuôi. Cái kết mở ra, sẽ có một anh Chí Phèo con ra đời. Vừa đóng lại vừa mở là thế. Tuy tác giả không nói rõ ra, nhưng độc giả cũng nghĩ thế

NHÂN CÁCH HOÁ

Cũng trong truyện Chí Phèo, lúc hai anh chị gặp nhau trên bãi sông thì trời có trăng. Nam Cao phóng một nét thần bút: “Những tàu chuối ngửa mình hứng ánh trăng bỗng run lên đành đạch như hứng tình.” Cái sự nhân cách hóa này thật vô cùng tuyệt diệu, vì bên gốc chuối có cuộc yêu đương của đôi tình nhân kia. Một truyện hay có nhiều yếu tố, cũng như các cậu cầm vợt thì không thể nào đánh chân phương mãi, khi thì “revers” khi “coupe”, lúc lại “drive”, phải không?

Ngoài ra lại còn những mẹo khác nữa mà tùy cá tánh của các cậu, hoặc tùy mạch chuyện mà dùng cho linh động. Nên nhớ rằng ngón cường điệu hoặc ví von, nếu dùng khéo, tự nhiên thì nó nâng câu chuyện lên, còn nếu vụng về thì nó làm cho câu chuyện “ridicule” (khôi hài). Các cậu không nên quên các tranh của Tô Ngọc Vân, anh ấy vẽ bức “Bên hoa huệ” thật là tuyệt vời. Các họa sĩ đều công nhận đó là bậc thầy. Càng ngắm càng mê mẩn. Cái đẹp tiềm ẩn không thể thấy hết trong một lần nhìn. Truyện cũng vậy, phải biết cách hé mở, khép lại, rồi mở rộng hơn, rồi mới mở hoàn toàn. Nếu vào chuyện mà độc giả biết cả kết luận, thì họ mất ít nhiều, hoặc tất cả hứng thú đọc

KỊCH TÍNH

Trong mạch chuyện các cậu phải biết cách lừa độc giả . Trong kịch gọi là kịch tính ấy mà ! Hoặc như cụ Tiên Điền cho Kiều và Kim Trọng gặp nhau tâm sự y như thật trăm phần trăm. Xong rồi cụ bảo: “Tỉnh ra mới biết là mình chiêm bao?” Đó chỉ là mơ ước thôi, chớ chưa có gì cả. Chẳng khác nào cho độc giả đi quá vài bước rồi giật họ lại thực tế.

Đừng bao giờ để cho sự việc làng nhàng. Phải cho nó linh động đi tới luôn. Bắt độc giả đọc miết, không ngừng lại được. Làm cho độc giả bao giờ cũng tự hỏi: Sắp tới sẽ xẩy ra chuyện gì?

Phải biết nhảy những bước trước xa (cải lương nói là nhân lớp), rồi mình quay lại, bằng hồi tưởng của nhân vật ăn khớp với hiện tại của sự việc, chớ đừng kể anh A đóng cửa, lên nhà, mở cửa phòng, nhắc ghế, ngồi lên v.v…. Nếu cứ thật thà như thế, thì còn phái tả hằng chục cử chỉ khác nữa không cần thiết. Ta chỉ tả những gì nếu thiếu nó thì câu chuyện què đi.

Có khi trong suốt một quyển truyện dài, bạn đọc không thấy một bữa cơm nào cả, là vì bữa cơm không cần cho sự phát triển câu chuyện, mà chỉ thấy những buổi đi câu cá đi bát phố, vì nó cần thiết cho nhân vật bơi lội hoạt động trong những buổi ấy. Sẽ không có độc giả nào thắc mắc sao tác giả không tả đôi vợ chồng ấy âu yếm nhau, mà chỉ thấy họ gây gổ nhau, hoặc ngược lại.

ĐỐI THOẠI LÀ GÌ?

Tại sao phải đối thoại? Tôi cũng xin nói luôn: Đối thoại phải chan chát như trong kịch thì mới hay. Một đoạn đối thoại được đặt ra là khi nào để giúp cho cá tính nhân vật hoặc một đoạn truyện nổi bật lên, chứ nếu Khả hữu khả vô thì nên viết một đoạn thường. Đối thoại tốn giấy lắm.

Trở lại một chút về vấn đề Ngoại cảnh và Nội tâm, tôi lấy ví dụ: ở đầu quyển Sông Đông Êm Đềm Sholokhov có dựng lên một hình tượng tuyệt hay, đó là anh chàng Grigori ngồi dưới chân chiếc cối xay gió cánh đang quay, anh chàng đang bất mãn cái xã hội anh ta đang sống. Muốn đi, muốn làm một cái gì mà không biết đi đâu không biết làm gì. Sholokhov hạ một câu: “Anh ta như con đại bàng đập cánh hoài mà không bay được!” Sự kết hợp ngoại cảnh và nội tâm thật là tài tình. Các cậu phải biết chọn lựa những hình tượng đắt giá để đưa vào chớ không phải hình tượng nào cũng đưa. Nếu chiếc cối xay gió kia dùng làm bối cảnh cho ông già Stephan bố của Grigori đi cày thì nó lãng nhách, vì ngoại cảnh nội tâm không ăn nhập gì với nhau.

Nếu các cậu có những chi tiết thật đắt giá thì phải biết cách đưa nó vào truyện cho đúng chỗ. Nếu dùng sai chỗ thì uổng chi tiết. Ví dụ cô Loan có cái cổ đẹp (cổ lọ chẳng hạn) thì các cậu nên cho cô ta đeo một xâu hột “pẹc” [perle, tức là ngọc trai- Chú của nhà xb]. Hột “pẹc”, sẽ lấp lánh trên cái cổ xinh tươi. Cả hai đều trở nên đẹp hơn tự nó đứng rời ra – Cũng có thể ví một chi tiết đắt giá với một anh kép hoặc một cô đào có tài. Ông thầy tuồng phái biết cho cô cậu xuất hiện lúc nào, và trong bối cảnh nào, thì cô cậu mới trổ tài được, mới ca sáu câu “muồi rụng rốn” được, phải không? Ha ha…. !

SỰ HÀI HOÀ VÀ TƯƠNG PHẢN
(HARMONIE ET CONTRASTE)

Trước nhất là sự hài hòa giữa cảnh vật và nhân vật.

Các cậu đọc Dưới Bóng Hoàng Lan của Thạch Lam, các cậu thấy cái không khí êm dịu của câu chuyện từ ngoài ngõ, trong phòng, con mèo, bộ ghế, chàng trai và cô bạn gái láng giềng. Nét nào cũng êm ái dịu dàng có vẻ cổ kính. Nhân vật và cảnh vật rất hòa hợp với nhau. Nếu trong cái khung cảnh đó mà đưa anh Chí Phèo vào thì anh ta phá bể hết, cũng như nấu chè mà bỏ thêm muối vậy. Các cậu đã đọc Chí Phèo thử đọc Sống Mòn cũng của Nam Cao, các cậu thấy dường như hai người viết, chứ không phải một: Chí Phèo thì rầm rập, phá phách, còn Sống Mòn thì cứ lờ đờ chán ngắt, không có gì xáo động. Không ai ngờ hai truyện đó cũng một tác giả. Đó là sự tương phản của một ngòi bút, nhưng đó cũng là một sự hài hòa của một ngòi bút. Đổ máu xong muốn tìm sự an nhàn, hoặc an nhàn mãi rồi chán, đi tìm cái náo nhiệt, loạn đả. Sum họp chán, ước chia ly (Xuân Diệu).

Trong Tam Quốc các cậu có đọc thấy lúc Tào Tháo kéo quân xuống đánh Đông Ngô. Quần thần Đông Ngô tán loạn, bọn quan văn bàn việc đầu hàng. Chúng dẫn luân lý quân thần phụ tử lăng nhăng đủ thứ, cuối cùng để đi đến kết luận là không nên đánh lại Tào Tháo. Độc giả đang hoang mang không hiểu Tôn Quyền có nghe không? Đùng một cái, Lỗ Túc vác gươm ra quát: “Câm mồm! Chúng bay có đầu thì cứ vác mặt đi mà đầu. Túc này còn một manh giáp cũng đánh! “

Thế là giải quyết xong cuộc bàn cãi. “Đánh!”. Sự tương phản giữa lưỡi gươm và lưỡi bọn nho gàn.

Bộ ba Lưu Quan Trương là một điển hình cho sự hòa hài và tương phản. Tương phản vì mỗi người một tánh, nhưng hòa hài là vì ba người họp lại thành một bức thành kiên cố của nhà Thục. Tác giả thật là một tay bản lĩnh mới có thể dựng nổi những nhân vật hay đến thế. Trương Phi lúc nào cũng gầm hét như muốn ăn tươi nuốt sống người khác. Lưu Bị thì nguội lạnh, trầm tĩnh, nhơn đức và hay khóc, còn Quan Công thì đường đường chính chính, đi đại lộ về đại lộ. Ba người không ai giống ai, nhưng lại rất hòa hợp với nhau trong công cuộc cứu nước. Khi các cậu viết vài chương hoặc vài đoạn phẳng lặng làm cho không khí của truyện chìm đi, thì tự nhiên các cậu lại muốn khuấy động nó lên cho nóng sốt, rầm rộ. Như Tolstoi sau khi viết hằng trăm trang tả cảnh gia đình êm ấm, những ông hoàng bà chúa yến ẩm yêu đương thì bắt sang chiến trường máu lửa ác hệt. Sau những trận ác liệt lại trở về bình thường: cây lá, cơm nước, yêu đương.

CAO ĐIỂM CỦA TRUYỆN

Trong mỗi truyện ngắn hay dài, các cậu phải chọn cao điểm, tức là cái ý định của tác giả, làm cho độc giả khóc cười hay cười đau khóc hận, hay là v.v. . . Có lắm khi định thế này nó lại ra thế khác. Nhưng dù thế cũng vẫn hơn là không có ý định gì cả . Trong Kiều, cao điểm là sự gặp gỡ Kim Trọng và Thúy Kiều. Hạnh phúc tưởng chừng với được trong tay, bỗng sụp hoàn toàn. Rồi tới một cao điểm khác: gia đình tan nát, Kiều bán mình chuộc cha, cao điểm của đau khổ. Độc giả xem tới đây phải sa nước mắt. Rồi sau đó Kiều vào lầu xanh, tự vận v.v đều là những cao điểm tình cảm. Có khi cao điểm nằm ở giữa truyện, có khi lại ở cuối truyện. Tùy bàn tay phù phép của các cậu. Không thể nào đánh một trận mà không có kế hoạch. Cũng như bồi bếp dọn một bữa ăn thì phải có món chánh món phụ. Thịt kho là chánh hay dưa cải là chánh ? Nhưng dù chánh dù phụ cũng đều phải có bàn tay săn sóc của tác giả. Các cậu thấy trong Quê Người của Tô Hoài có hai nhân vật chính, Hời và Ngây – còn các nhân vật khác quan trọng ngang nhau, nhưng đều có nét hết cả. Hãy đọc đoạn tả Bướm và Thoại về làng để thấy công phu chạm trổ của tác giả.

Thị Nở trong Chí Phèo là nhân vật phụ, nhưng thật nổi bật. Nam Cao tả gương mặt cô ta thật thảm hại: “Cô ta ắt phải đau khổ, khi mua chiếc gương đầu tiên”; và là “dòng họ có mả hủi”; cô không hiểu thế nào là “hớ hênh”…v.v… Dù là nhân vật phụ nhưng vẫn có nét của một nhân vật hoàn chỉnh. Họa sĩ có thể vẽ cô nàng lên tranh được. So với nhân vật chính của một số truyện thì Thị Nở còn hơn xa.

Trong Othello, cao điểm là lúc Othello ghen, bóp họng Desdemona chết! Trong Taras Butba cao điểm là lúc ông bố bắn chết thằng con phản quốc; trong Hamlet, cao điểm là ở đoạn kết, tất cả đều chết. Khi viết một truyện, các cậu phải là một vị chỉ huy, một tổ trưởng, một tiểu đội trưởng, một trung đoàn trưởng hay một nguyên soái Mỗi chữ là một tên lính dưới quyền điều khiển của các cậu. Làm thế nào cho họ chiến đấu, lập chiến công rực rỡ nhất.

Không khi nào chiến cuộc xảy ra hoàn toàn theo kế hoạch của người chỉ huy, vậy phải linh động mà xoay xở làm sao đừng bại trận, hoặc tệ hơn nữa, mình bị lính của mình phàn nàn vì họ hi sinh vô ích.

… Tất cả nghệ thuật mà tôi nói với các cậu đều có ở trong Kiều, không cần phải tìm kiếm ở sách Tây sách Tầu gì cá. Kiều còn có nhiều hơn thế, chỉ tại chúng ta không chịu nghiên cứu đó thôi. Tệ hơn nữa, có những người viết lách mà lại chưa đọc Kiều, mà lại đi đọc Tây, Tàu, Ấn Độ, Hi Lạp để học! Trong khi cây nhà lá vườn có sẵn đó và quí báu biết bao! Các cậu phải đọc Kiều, nếu chưa đọc. Nếu đọc rồi, hãy đọc lại, nếu đã đọc nhiều lần rồi vẫn cần đọc thêm. Đó là một áng văn chương tuyệt tác, chứa đựng 1000 bài học cho lũ chúng ta.

Trong văn chương không có ai làm thầy ai mãi, không ai làm học trò ai hoài. Các cậu học ở tôi sự mô tả miền Bắc, tôi học lại các cậu ở những trang mô tả miền Nam! –Anh nói thật, không khách sáo.

Anh Nguyễn Huy Tưởng còn là một nhà soạn kịch. Kịch của anh từng diễn ở nhà hát lớn Hà Nội. Những vở Những Người ở Lại, Bắc Sơn v.v… đều là kịch năm màn, cỡ lớn. Anh luôn luôn mộng mơ đến tầm quốc tế. Tiểu thuyết cũng vậy, mà kịch cũng vậy.

Một hôm có phái đoàn ngoại quốc sang, người ta(!) giới thiệu anh với khách:

– Đây là Polévoi Việt Nam? (Polévoi là nhà văn Liên Xô viết theo lối người thật, việc thật).

Khi khách ra về xong, gặp bọn tôi, anh càu nhàu:

– Tôi mà là Polévoi à? Tôi phải là L.Tolstoi mới được chứ!

Tiếc thay, anh mất quá sớm, 48 tuổi – trong lúc anh đang viết bộ tiểu thuyết về Hà Nội những ngày đầu kháng chiến. Chỉ tả đục tường thông phố và “bom ba càng” đã mất 500 trang. Đọc những trang đầu quả thật anh có ý tưởng vĩ đại khi mô tả người dân thủ đô hùng dũng bước vào kháng chiến. Tiếng đục tường giữa đêm khuya nghe lạnh cả người. Cặp đùi cô Jeannette, cô gái cavalière của hộp đêm tham gia kháng chiến, treo cờ cách mạng ở khách sạn, bị Tây bắn té nhào, những anh khách trú nặn hình con con bằng đất sét ở ven Bờ Hồ, một tên thực dân cắt cổ một cô gái bảo: – Cho mày giỏi “phanh thây uống máu quân thù . . . !

Lần đó tôi đi Thanh Hóa, bỗng được điện gọi hỏa tốc phải về. Về đến nơi… Thì ra thế! Tôi chạy vọt đến bịnh viện mong gặp anh. Nhưng đến phòng bệnh không thấy anh: Trên giường phủ drap trắng. Những bó hoa. Ngoài cửa các anh các chị cũng đang mang hoa tới. Thôi đành gạt lệ đi ra.

Chính tôi và anh Kim Lân thay mặt nhà xuất bản đã đến tận nhà anh lục lấy bản thảo, đem về xếp lại thứ tự để đưa in. Còn một số không xếp thứ tự được. Tôi là độc giả đầu tiên của truyện này.

Cả Hà Nội buồn. Mất Nguyễn Huy Tưởng rồi, sẽ không còn người Hà Nội nào viết nổi những trang tiểu thuyết lịch sử này. Nguyễn Huy Tưởng mang Hà Nội trong lòng như Sholokhov bơi lội trong nước Sông Đông.

Nhà văn! Đó là sản phẩm kỳ dị của Hóa công.Nguyễn Huy Tưởng mất đi mang theo trong lòng những trang tiểu thuyết chưa viết ra, cũng như Thạch Lam mất đi không ai viết tiếp lịch sử Hà Nội cho chúng ta. (Nhất Linh đề tựa quyển lịch sử Hà Nội của Thạch Lam bằng câu cuối cùng bỏ lửng:… “Nếu còn sống, Thạch Lam sẽ viết xong quyển lịch sử này và sẽ làm cho chúng ta. . . “)

Chốc đây mà đã gần 40 năm, Nguyễn Huy Tưởng không có mặt ở Hà Nội. Nếu anh còn cầm bút từ đó đến nay, thì người đời đã được đọc bao nhiêu trang sách lý thú.

Tôi nhớ ngày ấy dãy hàng hoa Hà Nội trống hết, không còn một đóa nào. Chúng được kết thành vòng hoa tiễn biệt nhà văn Hà Nội Nguyễn Huy Tưởng. Một nhà văn mất đi, thiệt đáng buồn. Anh rất giản dị, chân đi guốc, mặc đồ nâu, nếu mặc sơ mi thì chỉ sơ mi trắng, không bao giờ bỏ vô quần. Anh thường kêu chúng tôi là những “thằng cu Nam Kỳ”. Coi chúng tôi như em. Nói năng không giữ kẽ, uống rượu say với chúng tôi, vào giường chúng tôi ngủ hoặc nằm ngay sô pha.

Bây giờ chúng tôi đều trở thành nhà văn cả. Có đứa làm tới Tổng thư ký Hội Nhà Văn. Và đều có sách xuất bản, có truyện làm phim.

Nhớ lại những bài học vỡ lòng về văn chương của anh giảng cho ở mâm rượu, quanh bình trà, tôi không cầm được nước mắt. Bây giờ mới thấu hiểu thêm, chớ hồi đó nào biết văn chương là gì! Nếu không có anh dạy bảo, chắc đâu chúng tôi đã viết được gì ra hồn

“Nam Kỳ là đất tiểu thuyết… Các cậu phải viết, chớ không ai viết thay các cậu được! Sholokhov viết về Sông Đông. Các cậu viết về Cửu Long. Chớ không ai khác, không ai khác! “

Còn về Hà Nội kháng chiến, thì chỉ Nguyễn Huy Tưởng, không ai khác.

Chương XVI

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: