LỚP LỚP PHÙ SA: Chương 1

– CHƯƠNG 1- 

Hò..ơ ờ ơ ớ…
(chớ) Phù sa nước đục khó dòm
Nhớ anh em khóc (ơ ờ)
Hò… ơ ờ ơ ớ..
Nhớ anh em khóc đỏ lòm con (ờ ớ..) ngươi …
Hò …ơ ờ ơ ớ…
Bao phen (mà) quạ nói với diều
(chớ) Cù lao Ông Chưởng (ơ… ờ…)
Hò…ờ ơ ớ…
Cù lao Ông Chưỏng có nhiều cá (ờ ớ) tôm…

Chú Ba ngưng mái dầm một chút chờ cho chiếc ghe cà dom lớn xẻ dòng nước đục băng qua trước mặt chiếc xuồng ba lá của mình và giọng ngân nga của người đàn bà giữ lái dứt câu hò ngọt lịm rồi cúi đầu bơi miết. Chiếc ghe cà dom khá lớn, sơn đen với hai tròng mắt đỏ trắng ngó trừng xuống dòng phù sa cuồn cuộn, bợn đất lợn cợn như huyết cầu phăng phăng trong dòng máu đang chảy xiết. Ghe chở lúa khẳm nặng, mực nước lé đé lằn giáp ranh giữa mui và thân ghe. Người đàn ông chống sào trên ghe đưa tay khoát khoát chào nhưng chú Ba vẫn tiếp tục bơi miết, không đáp lại. Chú không có thì giờ. Vợ chú đang nằm trong khoang xuồng, đau bụng đẻ rên hử hử. Cánh sông quá lớn tách rời cù lao với đất liền, mặt nước vang dội tiếng quạ quang quác kêu chiều. Trời sắp chạng vạng.

Những lượn sóng do chiếc ghe cà dom dấy lên đập lắp tắp vào mũi xuồng làm xuồng lao chao, chú Ba vội xoáy mái dầm để giữ thăng bằng. Bỗng thím Ba rên một tiếng lớn làm chú giật thót:

– Mình! Mình rán lên mình! Sắp tới rồi…

Chú đổi mái dầm qua phía bên mặt xô giề lục bình lớn đang tấp vô xuồng, những chiếc lá lục bình no tròn cạ vào thân xuồng rào rào. Giờ này con nước đang lớn, lục bình từng đám nặng hoặc lẻ tẻ theo dòng nước trôi lền khên vào sông. Nắng yếu dần. Thím Ba rên càng lúc càng lớn. Chú Ba quýnh quáng đổi mái dầm hết tbên mặt sang bên trái, hết bên trái sang bên mặt, nhưng dưới mắt chú chiếc xuồng ba lá vẫn như đứng chết trân tại chỗ.

Tiếng rên thúc bách. Chú quăng mái dầm lên xuồng, chồm tới:

– Mình! Mình có sao không?

Giọng thím Ba yếu ớt:

– Đau…đau quá mình ơi!…

Chú Ba xoè hai bàn tay quạt nước hai bên xuồng như cá lội dòng nước ngược:

– Mình! Mình rán lên! Đừng có đẻ rớt bất tử… Sắp tới rồi.

Chú ngó lên dãy cây lố nhố trên cù lao trước mặt, thấp thoáng có lũ quạ đen sà xuống. Chú chụp lại mái dầm cúi gầm đầu bới dòng sông từng nhát mạnh. Chú không dè vợ mình có thể đẻ sớm như vậy. Chỉ mới tròm trèm có bảy tháng. Dù trước đó bà con có nhắc nhở chú là thím Ba có chửa con so, phải coi chừng, sợ đẻ không đúng ngày. Chú nghĩ bụng chín tháng nếu rút lại tám tháng đi, cũng còn có thể qua được mùa gặt. Chú đã lãnh công với chủ điền rồi, một mình không cách gì làm cho xuể. Bữa nay vợ chồng chú vẫn gói hai mo cơm và mắm sống như thường lệ ra ruộng từ hừng sáng với hai cái lưỡi liềm mới vừa mài lại, bén ngót. Gặt từ sáng tới trưa cũng được bộn, thím Ba không có triệu chứng gì khác lạ. Nghỉ tay hấp tấp ăn trưa xong, thím Ba tự nhiên thấy uể oải. Tuy vậy hai vợ chồng vẫn lội xuống ruộng gặt tiếp. Phải làm mới có ăn. Phải làm, và làm vất vả đổ mồ hôi xót con mắt, như mọi tá điền khác. Mượn mùa trước trả mùa này, mượn mùa này trả mùa sau. Cứ như vậy, nợ kinh niên. Có người đã trốn nợ, dắt vợ con lén qua miệt khác làm ăn. Vợ chồng chú Ba hy vọng mùa này lúa trúng, may ra còn dư chút đỉnh sau khi góp lúa đong cho chủ điền. Nếu cả hai cùng làm, may ra…

Tới xế trưa, thím Ba bỗng đau bụng ngầm ngầm, như mắc mót, nhưng đi không được. Thím thầm nghĩ chắc tại ăn chuối sống còn dư lại từ trưa qua. Dù vẫn cúi lom khom gặt lúa như thường lệ, nhưng khi ngửng lên thím đau thắt ngang lưng khác hơn lệ thường, như thể trặt xương sống, mắt nổ đom đóm. Một hồi, chịu không nổi, thím buông lưỡi hái gọi chồng:

– Mình ơi! Sao tui đau bụng kỳ quá.

Chú Ba ngó cái bụng không mấy lớn của vợ rồi an ủi:

– Ối? Chắc tại ăn không chịu mới đau chớ gì. Mình lợi gốc trâm bầu ngồi nghỉ một lát chắc hết đau. Nhớ ngồi chỗ mát cho ráo mồ hôi.

– Không phải đâu mình à. Tui đau chằng chằng kỳ lắm.

– Thì mình nằm thẳng xương sống chớ đừng ngồi. Tui đương gặt lỡ tay, một chút tui lợi sau.

Tuy nói vậy chớ trong bụng chú Ba cũng hơi lo. Chú chưa chuẩn bi cho việc vợ mình đẻ chửa gì hết. Vợ chồng lại ở ngoài cù lao đơn chiếc, không có bà con với ai bên đó. Gia đình lớn của chú đều ở bên Thới Lai, gia đình bên vợ thì ở làng Cờ Đỏ. Chú gập thím trong mùa cấy, hai bên thương nhau rồi ở với nhau. Chỉ có một bữa ăn sơ sài đãi một ít người quen chớ không có đám hỏi đám cưới gì hết. Một mặt không có tiền, mặt khác phía bên gia đình chú cũng rắc rối lục đục, chẳng ai dòm ngó gì chuyện riêng của chú. Ông Đương, ba chú, có hai đời vợ và hai dòng con. Dòng lớn với má ruột của chú gồm sáu người: Trước, Khuôn, Thung, Dung, Huấn, Đãi. Chú là Ba Khuôn, Dung, Đãi là hai em trai. Dòng nhỏ, vợ lẽ là em ruột của má chú, cũng gồm sáu người: Tân, Xuân, Bằng, Cúc, Đảo, Lai, trong đó Bằng, Cúc, Lai là gái. Xuân hồi lên bảy tuổi đau một trận ngặt nghèo tưởng chết. Khi hết bệnh, Xuân trở thành câm và điếc luôn.

Má chú vì quá ghen với em ruột của mình, nhưng đồng thời cũng quá thương em, không mở miệng nói được, nên đau tâm bệnh ốm o gầy mòn hơn ba năm rồi chết. Lúc đó chú đâu được mười tuổi. Chú chứng kiến sự hấp hối kéo dài năm này qua tháng khác của má mình. Chú rất hận dì ruột của mình mà cũng là má ghẻ của chú, một người đàn bà có nhan sắc nhưng lòng dạ đanh đá, khắt khe, nhỏ mọn. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, má chú còn rán căn dặn chị Hai chú và chú rằng:

– Tụi con là đầu lòng, phải rán lo cho mấy đứa em nhỏ. Phải ăn ở có hiếu với ba của mấy con và tử tế với dì mấy con. Nhứt là Khuôn, con là đứa anh trai đầu đàn, con phải biết…

Bà nhắm mắt ra đi trước khi câu trối trăn chấm dứt. Chú ngậm ngùi chảy nước mắt, không bật khóc thành tiếng, răng cắn vào môi rướm máu. Chú thì thầm bên thi hài lạnh ngắt của má mình: “Má ơi! Con xin hứa”. Sau khi chôn cất chị mình, người dì ghê bỗng đâm ra khắt khe kịch liệt với đám con của chị mình. Bà chửi bới khi thấy chúng nó khóc lóc vì nhớ thương người mẹ đã ra đi vĩnh viễn. Bà muốn tụi nó cũng ra đi cho khuất mặt khuất mày. Ba chú thương đều cả. hai dòng con, nhưng khi có lời can gián dì chú thì lại như đổ thêm dầu vào lửa, bà la hét, dằn mâm xáng chén, trong nhà hửng hực như hỏa ngục. Thét rồi ba chú phải cất nhà cho đám con dòng lớn ở riêng, cũng gần đó. Nhưng đâu đã được buông tha. Bà dì vẫn tìm tới xéo xắc. Có lần bà nắm tóc thằng Đãi, đứa em út của chú và vả vào mặt làm đứa nhỏ sặc máu mũi. Chú đương chẻ củi, cầm rìu chạy tới hầm hầm, bà dì hoảng sợ chạy tuốt về bên nhà, vừa chạy vừa kêu cứu: “Bớ làng xóm! Thằng Khuôn nó muốn giết tui! Bớ làng xóm!…”

Khi chú được mười tám tuổi, chị Hai chú qua bên Cờ Đỏ gặt và cấy mướn rồi ở luôn bên đó. Thỉnh thoảng chú Ba qua bên tiếp tay với chị, rồi nhân dịp làm quen được thím Ba. Chú thường đi ngang nhà cầm cây roi mây quất vào tàu lá chuối bộp bộp khiến thím Ba đang làm cá hay giặt giũ ở sàn nước bên hè sau nhà giựt mình ngó ra, chú mỉm cười tình. Nhắc lại vụ này, thím Ba thường thêm câu thòng: “Cái thằng cha thiệt thấy ghét!” Sau bữa tiệc đãi người quen, chú đem thím về ớ chung với mấy đứa em mình bên Thái lai. Điều đó lại trở thành cái cớ cho bà dì dèm xiểm, nói ra nói vào với ba chú. Bà trách:

– Ông coi cái thằng Khuôn có coi tui ra gì đâu. Nó muốn đem ai dìaa ở thì đem, chẳng cưới chẳng hỏi, hỏng thèm nói qua với tui một tiếng.

Ông Đương giả lả:

– Thì bữa đãi tiệc nó cũng mời tui với bà tới chúng kiến cho tụi nó ăn ở với nhau, tại bà không chịu đi đó chớ.

Bà nguýt ông một cái:

– Xí! Nó nói với ông vậy chớ có mời thẳng tui đâu mà đi với hổng đi. Rủi tui tới đó nó không thèm bắc ghế cho tui ngồi rồi tui xách đít đi dìa mắc cỡ với bà con à?

– Ối cái bà này sao mà khó quá tay! Bà cứ tránh mặt nó hoài làm sao mà nó mở miệng mời bà đặng.

– Cái gì ông cũng binh nó hết. Nó đã qua mặt tui rồi, bây giờ ông bắc thang cho con vợ nó trèo lên đầu tui ngồi luôn đi.

Thiệt ra thì thím Ba cũng có bưng mâm trầu rượu theo chồng mình qua lạy bà dì ghẻ, nhưng đã ba lần, lần nào bà cũng ngoe nguẩy đứng dậy bỏ đi không chịu nhận. Bà xỉa xói:

– Mày với con nhỏ này có muốn lạy thì ra mả má mày mà lạy, đừng có lạy tao còn sống mà làm tao tổn hao âm đức, trù ẻo tao chết sớm tội nghiệp. Tao còn muốn sống để lo cho đám con tao, chớ ba mày thì chỉ biết lo cho tụi bây…

Sau cùng, thấy sự có mặt của vợ chồng mình chỉ gây phiền phức cho ba mình nên chú Ba quyết đinh dời qua cù lao Ông Chưởng cất chòi cho hai vợ chồng ra riêng, khỏi bi lời ong tiếng ve. Và cũng vì vậy mà ở bên cù lao chú Ba chỉ còn biết trông cậy vào chòm xóm, “bà con xa không bằng xóm giềng gần”. Giờ chú Ba cố gắng gặt rút, mồ hôi vã ra dưới trời nắng chang chang, gặt rút để còn tới coi thím Ba ra làm sao ở dưới bóng cây trâm bầu đằng kia.

Thím Ba nằm dã dượi, bụng đau càng lúc càng dồn thúc. Thím có cảm tưởng mình mắc tiểu mắc mót liền liền nhưng không có cách gì giải tỏa được. Thím úp chiếc nón lá rách lên mặt cho đỡ chói nắng, một hồi ngộp quá lại dở ra. Trên trời xanh cao ẩn hiện lờ mờ một con diều đang đập cánh đúng yên tại chỗ rình mồi. Nó đang chực xớt một con chuột dưới ruộng lúa đem về tổ xé ra đút cho con ăn. Bào thai chòi đạp làm thím đau điếng. Thím kêu ú ớ. Cánh diều xẹt xuống ruộng lúa như hòn đá nặng vụt rớt rồi vút lên, dưới bụng có bóng đuôi chuột ngoe nguẩy. Thím muốn lên tiếng kêu chồng mình, nhưng ruộng bỏ ai gặt đây? Thím ôm bụng cắn răng. Bộ con trai sao chòi đạp dữ quá. Vòm cây trâm bầu bên trên vụt chảy ra nhòe nhoẹt, tan loãng trong ngọn gió nóng sốt ùa tới. “Mình ơi! Đau quá “, thím Ba lí nhí trong cổ họng. Bên dưới thân người đàn bà chợt nứt hai, nước ồ ra lai láng. Thím Ba lí nhí…

Gặt được phân nửa công ruộng, chú Ba không yên bụng. Chú vội ngưng lưỡi hái chạy tới gốc trâm bầu. Thím Ba nằm không cục cựa, đôi mắt hé mở lờ đờ. Chú hoảng hốt lắc lắc vai vợ:

– Mình! Mình sao vậy? Bộ bị rắn cắn hả?

Chú ngó dáo dác, chợt thấy quần vợ mình ướt sũng. Thím Ba thều thào:

– Tui đau quá… chắc đau bụng đẻ. Làm sao bây giở?

Chú vội vàng luồn hai tay dưới cổ và nhượng của vợ mình xốc lên rồi chạy băng băng trên bờ đê, chạy riết bất kể quân thần. Người đàn bà rên hử hừ, tóc sút ra dã dượi, mặt mày xanh lét Nắng chiều đã xuống, bóng người đàn ông mấp mô ngả dài, gãy rách trên những gốc rạ mới cắt. Chạy ra tới bờ sông, chú đặt vợ mình nằm dưới khoang xuồng rồi nhổ dầm xô xuồng ra dông sông lớn. Cù lao bên kia biệt mù không ngó thấy, ngoại trừ vệt xanh của rặng cây trong ánh sáng nhá nhem. Dưới sức khuấy động của dầm bơi, xuồng phăng nước ồ ồ. Nước đang lớn, sông càng rộng thênh thang. Nước tứ bề, nước lênh láng. Những cánh chim đen trên cao bay lượn. Bao phen quạ nói với diều…

Thêm mấy nhát dầm xới mạnh, xuồng xáp lại gần bờ cù lao. Chú Ba phóng mái dầm ra phía trước cắm phập vào bãi sình rồi nhảy xuống nước xô lục bình dạt ra phía sau xuồng, đạp chân lên lòng sông đẩy xuồng vào bờ. Phù sa trơn nhớt dưới ngón chân như thoa mỡ. Xuồng vừa ghim mũi vào bờ, cạnh cây cầu bằng thân dừa có khứa nấc, chú Ba cất tiếng kêu lớn:

– Thím Tư ơi! Thím Tư!

Chú kêu như vậy mấy lượt. Một người đàn bà mặt dính lọ nghẹ chạy ra bờ sông ngó dớn dác, rồi chạy cẳng không về phía xuồng chú, la lớn:

– Cái gì vậy chú Ba?

Chú buộc dây xuồng vào mái dầm nói vọng lên:

– Mau đi thím Tư! Mau đí!

– Mau cái gì?

– Đẻ!? Đẻ!

– Hả! Cái gì đẻ?

– Tui nói đẻ, đẻ tới rồi…

Thím Tư ngó xuống xuồng phát thinh la lớn:

– Trời thần quỉ địa ơi! Bộ thím Ba đẻ dưới xuồng rồi hả?

– Chưa. Thím đi rước mụ lẹ lẹ đi, bể nước lồ ối rồi.

Thím Tư vụt chạy đi mấy bước rồi quay trớ lại:

– Để tui tiếp chú đem thím Ba lên đã.

– Tui biểu thím lẹ đi, để mình tui đem bả lên được rồi.

Thím Tư còn đứng xớ rớ. Người đàn ông bồng vợ lao chao trên cầu dừa. Thím la hoảng:

– Trời ơi! Được hông đó cha nội? Để tui tiếp cho. Té một cái là chết hết cả đám.

Chú Ba vừa bước chân lên cù lao, vội vàng thúc hối:

– Lẹ đi thím ơi! Rước mụ lẹ lên, không có bả đẻ trên tay tui bây giờ.

Người đàn bà tất tả chạy đi… Chú Ba bước vào chiếc chòi nhỏ của mình, đặt vợ nằm trên chiếc chõng tre. Trong chòi tối lù mù. Chú cầm con cúi bện bằng rơm qua nhà thím Tư nhúm lửa, đem về bẻ cọng lạt dừa châm ngọn đèn mù u. Ánh sáng tù mù không xô đạt được bóng đêm và đàn muỗi bắt đầu vo ve.

Thím Ba nằm thiêm thiếp không còn đủ sức để rên rỉ. Chú kê chiếc gối bằng cây dưới đầu vợ rồi tháo chiếc khăn bàn quấn trên tóc mình xua muỗi. Gió phất ra khiến ngọn đèn chập chờn. Chú hỏi nhỏ:

– Mình có sao không mình?

Im lặng.

– Bộ mình đau lắm hả?

Chú nắm bàn tay vợ:

– Mình rán thêm chút xíu, thím Tư rước mụ về tới liền bây giờ.

Chú ngó ra cửa chòi bồn chồn. Chú chậm mồ hôi vã ra trên trán của vợ. Trán người đàn bà lạnh ngắt. Thím Ba thều thào:

– Khát nước… minh cho tui chút nước.

Chú dợm đứng dậy thì bên ngoài chòi lố nhố bóng hai người đàn bà.

Chú mừng quýnh chạy ra:

– Lẹ đi mấy bà! Bả đau dữ lắm. Bả đòi uống nước.

Người đàn bà thứ hai, có lẽ là mụ vườn, bình tĩnh nói với chú:-

– Thôi chú ra ngoài kia cho trong này người ta mần công chiện.

Chú còn ngần ngừ:

– Nhớ cho bả uống nước nghe.

– Ờ! Biết rồi mà. Làm cái gì mà quýnh quáng vậy? Bả đẻ chớ bộ chú đẻ sao ? Tui nói chú ra ngoài kia chơi đi. Chỗ này là chỗ đàn bà.

Chú Ba đem con cúi đặt dưới chõng tre cho khói xông lên xua bớt đàn muỗi đói. Rồi chú bước ra ngoài chòi. Trời tối thiệt lẹ. Chú bước xuống cầu dừa buộc lại chiếc xuồng, sẵn tay với lấy bọc thuốc rê lên bờ cù lao ngồi trên một mô đất vấn thuốc hút. Chú bước vào chòi kiếm lứa. Vừa thấy mặt chú ló vào, bà mụ lại ré lên:

– Tui biểu chú ở ngoài kia mà…

– Thì biết rồi bà ơi! Cho tui mồi điếu thuốc cái đã rồi tui ra liền. Có điếu thuốc cho đỡ lạnh và đỡ bị muỗi cắn.

Chú trở ra ngồi ở mô đất, bập bập điếu thuốc. Chú lẩm bẩm :

– Mẹ tổ! Đẻ cái gì mà sớm quá, chưa đầy bảy tháng!

Chú đập cái chát trên đùi – đập muỗi? hay bực dọc? Gió trên sông thổi mát. Chú nhớ tới mẫu ruộng còn gặt dở dang. Mùa này tưởng đâu có thể dư được chút đỉnh mà rồi chưa chắc. Lại phải mượn lúa mà ăn nữa. Nợ. Lại nợ. Trên mặt sông ban đầu còn thấy dạng lục bình trôi lờ đờ. Chập sau, tất cả nhòe nhoẹt tan loãng trong bóng tối. Thỉnh thoảng thấp thoáng ánh đèn le lói của ghe xuồng đi lại trên sông, ơi ới những tiếng gọi nhau, xen lẫn tiếng cười. Có lúc chú cũng muốn đổi nghề, chèo ghe đi buôn bán. Họ cười cợt vui quá. Thay đổi đời sống, thay đổi vận mạng. Ở đây cày mướn gật mướn hoài sao ? Ông nội chú hết một đời, ba chú cũng đã gần hết một đời, công phát, công gặt, công cấy, giờ tới phiên mình, cũng sẽ hết một đời như vậy sao? Con đùm con đống, cày không đủ ăn. Hồi xưa lắm, dòng dõi chú hình như cũng đã có đất vua cấp thời đi khẩn hoang miền Nam Việt. Truyền qua mấy đời dần dà lọt vào tay người khác hết, lý do cũng mập mờ. Hình như tại làm ăn thất bại, hay chơi bời phóng đãng, hoặc bi lường gạt gì đó. Bây giờ trên răng dưới khố, chỉ còn có vậy. Ai hưởng đâu không biết. Ở đây hoài, tá điền hoài, cất đầu không nổi. Thà theo ghe thương hồ, may ra biết đâu gặp thời có thể khá khiển, làm nên sự nghiệp. Mà làm nghề đó phải đề phòng ăn cướp, coi chừng bợm bảy và bối ba cụm. Chú lại đập tay lên đùi cái chát.

Trên sông mái chèo khua nước bì bõm. Trăng lưỡi liềm cong sừng trâu nghé mọc rõ nét cạnh sao hôm vàng lớn trĩu nặng chực sa xuống nước. Nền trời trong vắt, xanh biệt mù, xanh cao vút như một ước muốn huốt ngoài tầm tay. Có giọng hò nữ cất lên rất nhẹ, nhưng quá xa, nghe không rõ, chỉ loáng thoáng rơi lại chút hò ơ ơ… ở đằng cuối. Rồi giọng hò nam đáp lại:

Hò… ơ ờ ơ ớ
Bớ chiếc ghe sau (chớ) chèo mau anh đợi (ờ ờ…)
Kẻo khuất khúc sông nầy (ờ ờ… )
(rồi) bờ bụi tối tăm… (ờ ơ ơ…)

Chú Ba vỗ đùi, thằng cha nào hò ác quá ! Con gái nghe chắc phải mê chết luôn. Chú bập bập điếu thuốc đã tắt ngấm. Chú định trở vô chòi mồi lại nhưng sợ bị bà mụ la nên thôi. Đẻ cái gì mà lâu lắc quá! Thường bể nước rồi thì đẻ luôn chớ có đâu cù cưa cù nhầy. Hay là hết nước như cái hột vịt sát? Nếu vậy thì nguy lắm, hay là phải… ý nghĩ của chú bị cắt ngang bởi giọng hò nữ bây giờ tới gần nghe rõ hơn:

Hò… ơ ờ ơ ớ…
Bên sông này bắc cây cầu mười tấm ván
(mà) Bên sông kia lập cái quán mười hai từng
Bán buôn nuôi mẹ (… hò ờ ờ…)
(chớ em) bán buôn nuôi mẹ
(để) cầm chừng đợi (ờ ớ…) anh (ờ ớ ơ…)

Chèn ơi! Cái giọng ngân nga sao mà mùi tận mạng. Điệu này nếu mà chú cầm chèo chắc sẽ bủn rủn hay cũng phải khoan mái chèo lại để mà nhìn cho rõ mặt con nữ. Hay ác! Chèo mãi, chèo hoài sẽ không biết mệt. Đi buôn bán như vậy không ham sao được? Tiếng hò theo tiếng mái chèo khuấy nước, sóng gợn lấp loáng xa dần. Tiếc quá. Chú rán nhớ “ . . bên này sông bắc cây cầu mười hai nhịp…” hổng phải vậy “bắc mười hai miếng ván…” ờ ờ, hình như còn có “…mười cái quán… ” trong đó nữa, giọng ngọt ngào như khoai lang đương ngọc, mà nhớ không nổi, tiếc hùi hụi. Chú Ba quăng điếu thuốc ướt mèm ra mé sông, đúng dậy phủi đít, bước rón rén trở lại chòi. Cửa khép hờ, ánh sáng yếu ớt phải cố gắng lắm mới lọt được một chút qua khe hở. Chú áp tai vào vách lá:

– Rặn, rặn!… rán rặn đi thím Ba…

Giọng bà mụ. Tiếp theo tiếng rên hừ hử của vợ chú:

– Hết hơi rồi… chắc tui chết quá thím Tư ơi!

Chú sốt ruột, bồn chồn muốn đẩy cửa vào.

– Cái gì mà chết! Con so thì nó đau như vậy. Rán rặn thêm chút nữa. Nó ló cái đầu ra rồi kìa…

Trái tim chú muốn khựng lại.

– Rặn… rặn… chút nữa… chút nữa… nín hơi rặn mạnh… mạnh chút nữa…

Chú Ba chợt thấy mình cũng đang nín thở và ép hơi trong bụng. Trời ơi, ước gì chú được rặn tiếp cho vợ một hơi dài. Chú giật thót theo tiếng la của bà mụ:

– Rồi!… nó ra rồi!

Bên trong có tiếng lép bép rồi tiếng khóc oe oe yếu ớt. Chú mừng quýnh.

– Thím Tư đưa miếng miếng sành cho tui cắt rún thằng nhỏ coi. Lẹ lẹ đi bà!

Tiếng oe oe lại ré lên tiếp theo tiếng bà mụ. Chú thấy đau nhói ở rún mình như bi cây đinh nhọn xốc vô. Lại có tiếng lép bép, oe oe rồi tiếng chân lẹp bẹp. Cứa chòi chợt bật tung ra rồi tiếng thím Tư hét vọng ra bờ sông:

– Con trai! Con trai chú Ba ơi! Vợ chú đẻ con trai!

Chú sướng ran, máu dồn lên đầu rần rần, chú đứng chết trân tại chỗ. Cửa chòi khép lại, nhốt tiếng khóc oe oe yếu ớt bên trong. Chú tưởng chừng như nghe tiếng thằng con trai đầu lòng đang ré gọi mình.

—>Chương 2

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: