Cho Thiếp Theo Cùng

CHO THIẾP THEO CÙNG

Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam

CA DAO

“Ai bảo chăn trâu là khổ?”

“Không, chăn trâu sướng lắm chứ?”

Bài học thuộc lòng trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư đó chắc ai ở lứa tuổi tôi cũng nằm lòng. Tôi chưa hề chăn trâu nên không biết nó sướng đến cỡ nào, nhưng cũng muốn bắt chước theo điệu đó mà nói: “Ai bảo chăn phu là khổ, chăn phu sướng lắm chớ!”. Phu đây phải hiểu là phu trong “xuất giá tòng phu” của thầy Khổng Tử, tức là đấng ông chồng của chúng ta đó mấy chi em phụ nữ. Tôi muốn bắt chước cái điệu vậy thôi chớ tôi không có ý đề quyết “chăn phu sướng lắm chứ” đâu. Cái đó tùy theo kinh nghiệm cá nhân của mỗi người và tùy theo hoàn cảnh cá biệt của mỗi người. Bữa nay tự nhiên tôi thấy cảm hứng muốn giải bày tâm sự của mình với mấy chị em. Đúng hơn, tôi muốn nói cho đã nư.

Trưa hôm qua, thêm một lần nữa, đấng lang quân yêu dấu của tôi lại làm cho tôi mất mặt bầu cua: Chàng la tôi trước mặt mọi người ! Mấy chị em thử nghĩ hai đứa được một gia đình người bạn thân mời tới nhà ăn Tết muộn (Tết con Trâu, thiệt trúng tủ!). Ăn xong, ông già người bạn có hảo tâm biếu chai sâm banh tưới cho lên men ba ngày Tết. Chàng chếnh choáng đứng đậy xung phong mở chai. Bốp ! Bọt rượu trào ra, mọi người vỗ tay. Chàng rót mỗi người một ly rồi mời ông già cụng ly. Ông cụ khoát tay:

– Cho tui xin khước từ vì tui còn phải đi nhà thờ.

– Ôi ! Thì bác cũng nên làm một ly cho mau gặp Chúa!

Chàng buông một câu xanh dờn! Đó mấy chi em nghĩ coi. Gia đình người ta vốn mộ đạo, ông cụ thoáng nghe vụt biến sắc mặt. Cũng may, sau đó ông cũng đành cười trừ. Bà cụ đỡ lời:

– Cậu này coi vậy mà không phải dễ.

Tôi xen vào:

– Tánh ảnh vậy đó bác ơi, uống vô ba cái là khích bác người ta…

Chàng la tôi:

– Chính em mới khích bác anh chớ anh đâu có khích bác ai. Đi nhà thờ không phải để gặp Chúa chớ để gặp cái gì? Anh chỉ muốn giúp…

Giúp với lại không giúp! Có điều là từ bữa đó đấng ông chồng của tui được tặng cho cái hỗn danh là “ông già gàn.” Đáng kiếp! Mà đâu phải đây là lần đầu tiên chàng xía vô tự do tín ngưỡng của người khác. Lần nghỉ hè năm trước, một gia đình vốn cũng mộ đạo mời tới nhà đãi cơm và dĩ nhiên có cho uống rượu. Biết tính khí của đấng “Đực rựa” yêu dấu của lòng em, tôi đã dặn chàng uổng từ từ, chút chút. Nhưng tới đó, cản không được. Rồi rượu vào lời ra. Người ta tin cái gì thây kệ người ta, mắc mớ gì tới mình mà chàng cũng đá giò lái người ta một cái. Thế là tranh luận. Chàng thì lập luận ngang như cua. Tôi kêu cậu con trai trong nhà vặn nhạc lớn để đánh lạc sự chú ý của chàng. Nào ngờ khi nghe nhạc chàng lạng quạng đứng dậy lôi bà chủ nhà tuổi đã lục tuần đòi khiêu vũ (trong bóng mờ) cho bằng được. Đó, mấy chị em phụ nữ nghĩ coi có chỗ nào coi được không? Tôi mắc cỡ quá rứt chàng ra, kẻo tuốt ra xe, xô chàng vào, đóng ập cửa lại rồi phóng về nhà trọ một mạch. Chàng lăn ra giường ngáy ào ào . Còn tôi cả đêm mắt mở trao tráo, tức cành hông. Sáng hôm sau, tôi cằn nhằn về vụ tới nhà người ta làm giặc, không biết điều, không biết lựa lời mà nói. Những mong chàng hối hận. Không! Tuyệt nhiên không. Đã vậy chàng còn la tôi:

– Bộ tới nhà người ta là phải úp mặt vào mâm mà ăn không cho nói một câu nào hết hả? Em không biết, mấy thứ đạo giáo to, chủ nghĩa lớn, lý thuyết bự là mấy thứ nguy hiềm chết người, chết nhiều, có khi chết không còn một móng. Lấy trường hợp thằng du đãng, cùng lắm là nó lụi vài ba mạng thấy máu me tùm lum nó cũng ớn. Đằng này giết người để đưa họ lên thiên đàng, cái kiểu thiên đàng cộng sản hay Da-La-Tô- La là có lý do giết hoài, giết không gớm tay. Đâu phải anh công kích tín ngưỡng hay một tôn giáo nào. Anh chỉ muốn đả phá cái lòng tin mù quáng, cái cuồng tín xuẩn ngốc. Vậy mà không cho anh nói…

Vân vân và vân vân. Chàng có lý luận thế nào tôi cũng không nghe lọt lỗ nhĩ và cũng không chấp nhận. Tôi chỉ thấy chàng ngoan cố, không biết phục thiện. Ăn ở không biết điều, nói chuyện không lịch sự, hành cử không đúng phép.

Cái tính kỳ chướng đó đâu phải mới đây. Nó có từ hồi bên nhà, hồi thuở trời đất nổi cơn gió bụi, thuở người mình với Cộng Sản choảng nhau dài dài xương máu. Đêm nọ. một người bạn nhạc sĩ kẻo vợ chồng tôi tham dự buổi trinh tấu nhạc của Hội Họa Sĩ tại một biệt thự ở đường Phan Đình Phùng, giới nghệ sĩ tới chơi cũng đông. Sau màn ăn xeo-xẹt-quít, tới màn nghe nhạc hòa tấu thính phòng. Giữa lúc vĩ cầm, tiêu, sáo và đại hồ cầm đang réo rắt bên tung bên hứng thì đấng ông chồng vĩ đại của tôi bật ngửa trên ghé ré lên cười “Há! há! há!… há! há! há!” Mọi người quay lại ngó, khó chịu ra mặt. “Há! há! há!…” mặt chàng đỏ ké, trông thỏa mãn ra phết. Có tiếng suỵt suỵt từ phe thưởng ngoạn. Tôi sượng sùng quá kéo chàng ra ngoài hiên, ngồi trên ghế bành. Tưởng êm. Dè đâu thay vì “Xin quí vi vui lỏng vặn vừa đủ nghe riêng mình, để khỏi làm phiền người khác đang cần sự yên lặng nghỉ ngơi,” chàng lại tiếp tục Há! Há! Há! lớn hơn nữa.

Tôi bụm miệng chàng, chàng gỡ tay tôi ra (há! há!), tôi bịt lại, chàng gỡ ra (há! há!), tôi quính quáng, phòng nhạc lao xao không ngớt. Hai đứa còn đang dằn co tranh thủ độc lập thì bỗng một người đàn ông cao dong dỏng đến bên bảo nhỏ.

– Thôi chị cứ để cho anh ấy cười. Giá mà tôi được say như anh ấy thì tôi cũng sẽ cười như vậy.

Rồi vỗ vai chàng, anh ta nói:

– Khi nào cười xong thì ghé nhà tôi lựa vài bức tranh mang về nhà treo chơi.

Đoạn ông ta và tôi kè chàng ra ngoài vườn cỏ, ngồi ở băng đá ái tình gần lộ có tiếng xe cộ ồn ào, cười lớn mấy cũng bi tiếng động cơ chẹt mất. Tối đó chúng tôi không ghé nhà anh bạn họa sĩ tốt bụng để lấy tranh.

Năm sau, hai năm sau, ba năm sau, vẫn không cho mãi tới khi qua bên này, lang thang xứ người, nhân dịp tới viếng phòng triển lãm, anh bạn họa sĩ mới có dịp tặng tôi bức tranh cô gái ôm hộp đàn sơn màu tím nhạt làm quà sinh nhật. Tranh đó tôi thích lắm. Và cảm động dĩ nhiên. Nhưng không phải vì vậy mà tôi cám ơn chàng đã cười “há? há?” đêm xưa ở Sài Gòn. Từ thuở cha sanh mẹ đẻ, tôi chưa thấy ai cười vô duyên như vậy.

Nhưng ác giả ác báo, đời có vay có trả. Không phải trả cho tôi, mà là trả cho anh bạn nhạc sĩ mà đấng ông chồng của tui đã làm mất mặt trong đêm hòa tấu thính phòng.

Anh bạn này đi lính về phép ghé lôi chàng ở sở ra Quán Cái Chùa nhậu nhẹt la cà bia ôm ở bar kế đó. Lúc đã quắc cần câu, anh bạn nảy ra sáng kiến ghé thăm bố vợ bi bệnh đã lâu, nhà ở gần đó. Hai người đèo nhau Solex. Anh bạn vào nhà, chàng dựa gốc me đứng chờ. Qua ngày sau, mới được biết, qua phóng sự chiến trường của bà vợ bạn là anh này đã ân cần nắm tay bố vợ mà cảm động nhắn nhủ: “Toa ơi toa! Nghe toa bệnh đã lâu, đau hoài mà sao toa chưa chịu chết?” Bà vợ khóc bù lu bù loa vì bi ông bố từ không cho gặp mặt nữa; vừa khóc vừa sỉ vả chồng tôi là đã xúi bẫy bạn mình đi thăm bố vợ trong lúc ngất ngư (con tàu đi) như vậy. Một anh bạn văn sĩ rất có thớ trong anh em văn nghệ Sài Gòn và cũng là một khuôn mặt lớn trong số bạn bè của vợ chồng nhạc sĩ bất ngờ bị lôi cuốn vào “Vũng lầy của chúng ta” đã tự động đứng dậy giã từ cuộc chiến, để chàng ở lại một mình chống Mỹ cứu nước.

Quái lạ thay! Chuyện khó tin nhưng có thiệt! Chàng không phản kháng. Chàng lãnh đủ tại chỗ rồi về kể lại tôi nghe rồi còn cười thú vị nữa chớ. Chàng nói:

– Muốn chơi với bạn, phải sợ vợ bạn.

Đó là cách ngôn của chàng. Về bạn bè chàng lại có một định nghĩa quái lạ khác nữa: “Người bạn tốt là người bạn chịu để cho bạn mình lợi dụng. . . chút đỉnh.” Riêng tôi, tôi không bằng lòng, vì dù là vợ mình hay vợ bạn thì cũng là phụ nữ như nhau hết, tại sao chàng đổi đãi khác nhau? Tôi chỉ thấy chàng khôn nhà dại chợ. Càng nghĩ tôi lại càng tức (cha chả là tức!)

Hình ảnh tôi phác họa từ đầu tới giờ có thể khiến cho các chị em phụ nữ nghĩ rằng đấng lang quân của tôi là một gã lưu linh dài dài, cuộc vui suốt sáng, trận cười thâu đêm. Không, con người chàng cũng cách mạng dữ lắm. Bằng chứng, chàng đã theo học hai khóa cách mạng dưới thời Việt Nam Cộng Hòa: một khóa Suối Lồ ô, một khóa Trại Chí Linh.

Lần đầu dưới thời ông Diệm, cố vấn Nhu bày ra khóa học tập “Cách Mạng ấp Chiến Lược.” Chàng đi một tháng tu nghiệp ở bờ suối về, không biết tinh thần cách mạng lên cao tới đâu nhưng thấy mặt chàng nổi miếng lác bằng đồng tiền và kẽ tay nổi ghẻ ngứa. Chàng chưa kịp thực thi những huấn từ của cụ Cổ thì quân nhân làm cách mạng gia đình trị. Ông bạn nhạc sĩ của tôi bi mật vụ bắt giam từ mấy tháng cũng nhân dịp đó được phóng thích. Lần thứ hai chàng học cách mạng ở Vũng Tàu. Cách mạng để tranh thủ với Cộng Sản một khi Hiệp Định Hòa Bình Paris được ký kết giữa một bên là Mỹ và một bên là “chống Mỹ cứu nước.” Lúc đó chàng bi chứng bịnh gì không biết (thất tình? Cô nào?) xuống sắc thấy rõ. Tôi chạy đôn chạy đáo gởi gấm chàng cho bạn bè quen biết với cán bộ trong trại hầu cho chàng đỡ vất vả ở trại. Nhập trại được tuần lễ, đùng một bữa chàng từ đâu lù lù đeo Honda ôm trở về nhà. Tôi vừa mừng vừa lo đấng “đực rựa” yêu dấu trốn tránh nghĩa vụ cách mạng. Sau khi lấy khẩu cung được biết chàng bị chê vì bác sĩ trong trại khám sức khỏe phát giác tim chàng đập loạn cào, sợ đứt tim bất tử ngoài bãi tập. Chàng càng bệ rạc hơn trước. Ốm teo, xếp de, ngơ ngác. Tôi ngùi ngùi thương xót. Tôi dắt chàng vào Sở Thú ở Thị Nghè, mong chàng tìm được khuây khỏa bên mấy con cọp còi lông, mấy con khỉ đỏ đít và mẩy con cá sấu lớn hơn mấy con thằn lằn chút ít. Tôi mua cho chàng hai cục cà-rem úp trên cái bánh kẹp hình nón dài nhọn. Chàng cầm ngó trân trân, cà-rem chảy dọc xuống bàn tay chàng không thèm liếm, cũng không nhúc nhích, không muốn làm gì hết. Tôi tự nhủ: “Coi bộ anh chàng này sắp khùng tới nơi” và thầm lo. Tôi sẽ trở lại cái khùng của chúng tôi lát nữa.

Không biết vì có phải thấm nhuần tinh thần cách mạng qua hai khóa học tập chăng mà hễ ai nghe nhi nhô nói cách mạng là chàng sừng sỏ tấn công sát ván. Một lần gặp một anh chàng chầu rìa sinh viên lưng to mặt mỡ nghiêm trọng tuyên bố: “Bây giờ tôi làm cách mạng?” chàng hỏi:

– Anh biết cách mạng là gì không đã?

Anh kia ngần ngừ. Chàng hỏi tiếp:

– Anh có biết ai tự cho mình là vô địch cách mạng ở nước ta không?

Lại ngần ngừ. Chàng chỉ ngón tay vào đĩa đậu phộng:

– Là Hồ Chí Minh đó! Anh không biết à?

Bận khác trong một buổi họp nhằm tổ chức Đêm Quốc Kháng 30-4, kỷ niệm miền Nam sập tiệm, một hội thảo viên tuyên bố (lại tuyên bố):

– Đêm 30-4 năm nay chúng ta phải làm cách mạng.

Chàng lập tức phản pháo (thế nào cũng có kẻ nghi chàng nằm vùng):

– Anh tưởng nội trong một đêm mà có thể làm cách mạng được chăng? Mà tại sao ai cũng ham làm cách mạng? Làm cách mạng để khổ hơn thì cách mạng làm con mẹ gì? Anh có biết người đàn bà khóc bạo chúa thời Đông Châu…

Ông chủ tọa (cũng là bạn chàng) lên tiếng can thiệp:

– Thôi mà, anh X đâu phải muốn nói như vậy: cách mạng đây phải hiểu là…

Tôi cũng kéo chàng ngồi xuống vì sợ chàng rán qua chuyện Đông Châu lòi ra cái gàn “có sách vở”. Chàng đã kể cho tôi nghe chuyện người đàn bà khóc bạo chúa thứ ba vừa bi giết vì bà ta sợ lãnh tụ (vĩ đại) khác lên thay còn bạo chúa gấp mấy lần hơn nữa, dựa theo kinh nghiệm máu xương đã qua với bạo chúa thứ nhất và thứ nhì cũng đã bi hành thích.

Nhưng ai tới đâu thì chàng cũng tới đó. Quốc Kháng: có mặt. Nhân Quyền: có mặt. Biểu tình: có mặt. Cầu nguyện: không có mặt. Bạn bè thấy chàng có chút hiểu biết nên muốn lôi chàng vào phe nhóm, đảng phái, chính trị, chính em. Nhưng chàng quyết liệt từ chổi. Chàng nói tính khí chàng không thể làm chính trị được. Làm vô là chết cả đám. Làm chính trị là phải hiệu quả. Muốn hiệu quả là phải điếm. Mà điếm là không phải nghề của chàng. Tuy không làm chính trị chàng cũng tham dự Đêm Quốc Kháng. Với tư cách gì? Đâu mấy chị em thử đoán.

Thuyết trình viên? Cử tọa đoàn? Hoạt náo viên? Ngâm thơ? Diễn kịch? Tuyên án? Trật lất hết! Chàng tham dự với tư cách là trưởng ban võ thuật. Phải ? Trưởng Ban Võ Thuật. Nghe qua điếc con ráy, nhưng tôi nói thiệt chớ không nói giỡn. Số là khi ở Montparnasse chàng làm quen với một nhóm võ sư còn trẻ người Việt, cớ tài nhưng không có sân tập riêng. Vẫn ham chuộng võ thuật, chàng đứng ra làm “lãnh tụ anh minh” dìu dắt các võ sư kiếm đất cắm dùi. Sân tập sát bên Trung Tâm Người Việt Tị Nạn, thành thử chàng thủ vai ông bầu hướng dẫn đoàn võ kịch lên sân khấu biểu diễn cho đồng bào tị nạn coi chơi. Đồng bào tán thưởng nhiệt liệt. Trong lúc hăng hái các võ sư choảng nhau thiếu chút nữa đo ván luôn tại sân khấu.

Thật quái gỡ? Tôi là phụ nữ mà lại ham võ nghệ chi kỳ lạ. Chàng đi tập võ, tôi theo coi. Coi riết tôi nhớ. Nhớ riết thấy dễ ợt. Một bữa nổi hứng tôi bước lên thảm tập những mong nhân cơ hội này trả thù chàng đã làm tôi mất mặt bầu cua từ bẩy lâu nay. Tôi đá kiểu võ Thái, phang bằng ống quyền. Cái thứ nhất chàng né, cái thứ hai chàng nghiêng đùi hãm đòn, cái thứ ba đột nhiên chàng đưa ống quyền lên chêm. Bốp. Tôi ôm ống quyển lăn quay xuống thảm, thấy đom đóm lập lòe. Tôi nhăn nhó chảy nước mắt. Vén ống quần lên, ống quyền nổi bướu. Tôi cằn nhằn bắt đền:

– Ui cha đau quá! Tại anh hết trọi đó! Sao em đá mà anh… đỡ, sưng một cục rồi đây nè!

Chàng vừa xoa ống quyển (tôi càng đau thêm) vừa biện hộ:

– Trời ơi, đánh mà không cho đỡ! Sống sao nổi?

Trong tiểu gia đình của chúng tôi (vợ chồng một gái đâu lòng, một con trai út) không phải chỉ mình tôi muốn hạ độc thủ chàng. Hai đứa nhỏ cũng rình rập. Thằng con trai đã có thử chưởng với chàng, thấy khó xơi nên đã dội ra. Tội cho cô con gái cứ phải lãnh đủ dài dài. Mà con bé này cũng làm tôi khổ sở không ít. Tành khí kỳ cục, chẳng khác gì ông già.. ó đâm của nó mấy. Làm cơm cho nó ăn là có một cuộc hành trình hoang mang trong thế giới của hoài nghi. Có thịt, nó đòi ăn cá, có cá nói đòi ăn trứng, có trứng nó đòi ăn tép, có tép nó đòi phải có khóm, có khóm nó khóc rẻ lên vì ăn rát lưỡi. Tôi muốn khùng luôn. Chỉ có bà nội (tức má của chàng) mới chịu nó nổi. Tôi nổi sùng là bà nội bồng cháu di tản chiến thuật gấp. Có lần tôi bực quá cầm cây củi quất nó, trúng nhằm tay bà già chồng đang bao che cho đàn em nhõng nhẽo thế là đổ nợ. Bà không la thủ phạm mà khiển trách đấng lang quân yêu dấu của tôi: “Mấy thị thiêng cho vợ mày đánh con phải không?”. chàng không hiểu ất giáp gì ráo. Bà già chồng tôi tuyệt thực liên tiếp hai ba ngày để phản đối (trước dư luận trong và ngoài nước). Phải năn nỉ mãi…

Mà con nhỏ càng lớn lên càng chướng. Nói chuyện với ông già ruột của nó một hồi là có chuyện. Cha con mở miệng là đối nhau chan chát, như thơ thất ngôn bát cú.

Rất chỉnh, rất nghiêm túc. Chàng nhắc lời người xưa: “Khi 10 tuổi con thấy khôn hơn cha. Khi 20 tuổi con thấy khôn bằng cha. Khi 30 tuổi con thấy khôn thua cha” Rồi hỏi con thấy sao? Con nhỏ tỉnh bơ:

– Con thấy con khôn hơn ba!

Lúc đó nó đâu được 12 tuổi. Lớn lên một chút, học tú tài, có lần lãnh đề luận: “Trò hãy nói cảm nghĩ của trò về thơ,” cô bé thấy bố già của mình cũng mầm non văn nghệ nên tới rà rà để xin đàn anh mớm cho ý kiến.

Cha con thảo luận sôi nổi một hồi con bé la lên:

– Ba xúi con viết như vầy bị không điểm là cái chắc!

– Tao địt bố thằng cho điểm.

– Nhưng con làm bài cốt ý là để được điểm lớn.

– Vậy thì đừng có hỏi tao. Muốn viết gì đó thì viết.

Chàng vứt một số tập thơ cho con nhỏ. Tha hồ mà chọn lựa.

Điều này làm tôi nhớ hồi ở Hàng Xanh, chàng thỉnh thoảng có họp bạn văn nghệ văn gừng:

Trong một bữa ăn xoay ra bàn về thơ và chính xác hơn, bàn về câu:

“Trời không xanh, không tím, không hồng.
Những ống khói tàu mệt lã …”

Người thì nói qua câu trên thấy tác giả muốn tả trời màu vàng. Kẻ cãi lại trời màu xám. Ý kiến thành phần thứ ba; màu trắng trắng đỏ đỏ, đấng ông chồng yêu dấu của tôi lại có ỷ kiến khác hẳn: “Khi viết tác giả không cố ý tả chân màu trời, tác giả bị lôi cuốn bởi màu sắc và nhịp điệu. Tác giả chỉ nhìn thấy màu mà mình không ngó thấy, nhưng cũng không thể viết: Trời không xanh, không tím, không hồng hoặc trời không xanh, không hồng, không tím, tác giả bị lôi cuốn bởi nhạc của lời. Mà thôi, càng bàn thêm càng lãng nhách. Tác giả viết như vậy đó, chịu không chịu thì thôi?”

Đấng lang quân tôi công kích con gái mình, thôi cũng còn chấp nhận được đi. Đàng này anh chàng được đằng chân lên đằng đầu. Một bữa con nhỏ đem về một cô bạn giới thiệu: “Cô này học Triết,” thế là máu đổ trước cửa chùa ! Chàng xề xuống tấn công con người ta liền, con gái chàng mở một cánh quân giải tỏa áp lực bị pháo kích luôn. Chàng đả kích nào là philo-folie, nào là triết học đặt vấn đề nhiều hơn giải quyết, không kể đa số vấn đề đặt ra là hư ngụy, nào là l’ existence précède l’ essence, et le pétrole précède l’ essence également.  

Rồi chàng bắt con nhỏ học triết bình phẩm ý kiến của mình. Không bình phẩm chàng nắm tóc con gái người ta mới lớn dứt dứt bắt phải trả lời, rồi cười khì khì.

Tôi nhột quá nên lại xúi con gái chàng tiếp cứu. Nó nói:

– Con nhào vô là chết luôn cả đám!

Con gái chàng quê quá nên bữa sau nó dặn dò:

– Nói năng theo điệu của ba, con ế chồng là cái chắc. Bà suôi ông suôi tới hỏi con, ba lại đối đáp như rứa là bây chừ mình xa nhau mãi mãi.

Tôi giật mình: ngôn ngữ con bé bây chừ cũng y hệt ba nó. Chàng đáp:

– Thì tụi bây yêu nhau muốn làm gì đó thì làm, đừng có xúi người lớn hỏi tao. Hỏi tao, tao trả lời ráng chịu. Như má mày biểu: bả đánh tao đừng có đỡ, đâu được. Ông nội mày có dặn khi giao đấu với địch thủ: ngóc chơi, ngóc chơi, không ngóc cũng chơi, để nó ngồi dậy nó đánh mình chết.

Nạn nhân có bằng cấp trên chiến trường triết lý của chàng phải kể là ông anh ruột của chàng – ông anh thứ Năm. Ông này qua tuốt tới tận bên Tây để học triết ở Sorbonne. Mê Sartre lắm. Mà nói Sartre là bị đấng lang quân của tôi sạt-cà-rây. Anh Năm bị chàng đả thương nhân trí mạng nhiều lằn. Nói cái gì cũng bị chàng chêm cái tủ đứng vô bảng họng. Bực quá anh Năm la:

– Vậy chớ mày binh vực cái gì?

– Tôi chẳng binh vực cái gì ráo. Cũng chẳng chủ trương chủ triết gì cả. Có điều thấy chuyện nghịch lý thì chửi chơi vậy thôi.

“Chửi chơi vậy thôi!” Đó, mấy chị em thấy ông nói vậy có ngon không. Nói chuyện phang phang bửa củi như rứa, biểu anh Năm không giận tóe khói sao được. Chưa hộc xì-dầu như Châu Du là kể như có phước lớn. Anh Năm bị chàng dụ khi vào bát quái trận hoài hoài. Hai người cãi nhau như mổ bò, hết tiếng Việt đến tiếng Tây. Có lần hăng quá, hét vang dậy cả xóm, khiến nhân dân tự vệ ngang nhà xách súng qua tính can thiệp. Bà má chồng tôi tưởng hai người đang tranh nhau gia tài của mẹ nên từ trên gác chạy xuống hét:

– Tụi bây anh em ruột mà không biết thương nhau. Tụi bây có tính giết nhau thì giết tao chết trước đi…

Tôi tính phựt đèn màu vì trên sân khấu nói lối theo điệu này là sắp vô vọng cổ (xin bà con cho một tràng pháo tay). Rồi bà khóc. Hai ông tướng thấy không êm nên kéo nhau ra quản cốc bên lề đường cãi tiếp. Chàng tâm sự với tôi: nhấm nháp khô cá thiều với bia 33 ướp lạnh để đấu triết lý thì mau thấm lắm. Chàng nhấn mạnh là bia 33 chớ không phải bia ôm. vì ngồi bên bia ôm, bàn tay mắc đi du lịch nên nói triết lý không được nghiêm chỉnh.

 

 Nhắc Nhân Dân Tự Vệ (nhăn răng tự vận?) tôi mới nhớ đây là một chiến tuyến khác của chàng. Bà con còn nhớ sau Tết Mậu Thân phe ta bày ra Nhân Dân Tự Vệ để gìn phường giữ ấp. Ngang nhà tôi là ấp Nhất Trí 7, trụ sở Nhân Dân Tự Vệ ban đêm. Tối nào mấy cậu Nhân Dân cũng đập bồn đập bát, dọng chuông gõ mõ hát ra rít cả đêm khiến tôi mất ngủ trắng dã con mắt. Lối xóm sợ con nít làm quảng làm tiều, nổ súng bất tử (đã có hai mạng Nhân Dân Tự Vệ bị chết lãng nhách) nên không ai dám nói. Chỉ có tôi nhiều đêm “canh khuya thân gái dặm trường” xông ra trước sân nhà nói vọng qua bên kia:

– Thôi thôi mấy cậu hát hay lắm! Tôi đề nghị ngày mai mấy cậu xin lên đài phát thanh bên Thị Nghè mà hát, để yên đêm tối cho tôi ngủ, sáng mai tôi còn đi cày.

Yên được một lát, chập sau bên ấp cũng lại the thé “Ngoài kia súng nổ, đốt lửa đêm nay, tầm đạn hay tiêng. . .iềng… iêng…iểng… em!”

Riết ra tôi thuộc làu hết mấy bản hát cà chớn. Chàng thì đỡ hơn tôi vì tối nào chàng cũng la cà, về tới nhà chui lên giường là mở tiệm cưa khò khò nên ngoài kia có đốt lửa đêm nay hay cháy nhà chăng nữa chàng cũng bất chấp. Duy có điều là trước khi lên giường chàng phải vào nhà, trước khi vào nhà phát de xe trước bót Nhân Dân Tự Vệ. Có lẽ thấy ghét nên mấy cậu này thường bày chướng ngại vật để cản trở lưu thông. Một lần Nhân Dân dựng xe đạp chình ình trên lối về xóm nhỏ. Chàng de xe cái ào, cán bánh xe đạp vẹo thành sổ tám. Từ đó, nghe tiếng xe chàng đều ngõ là Nhân Dân dẹp tiệm gấp gấp. Vậy mà một đêm chợt có tiếng huyên náo lổn cổn lảng cảng. Chàng đi tắm thì tôi nghe có tiếng gọi trước nhà. Tôi ra thấy một cậu Nhân Dân Tự Vệ cầm vật gì có cán, bên trên là một miếng nhôm tròn tròn méo méo. Cậu than thở:

– Bà thử nghĩ tụi tui nghe ông về là đã lo dọn tiệm. Vậy mà ông ào ào chạy vô cán cái nồi để nấu cháo dẹp lép vậy nè, tới nay biết lấy cái gì ăn để thức khuya canh gác đây?

Nghe nói tội nghiệp, tôi bắt đền năm trăm, cậu ta mừng húm. Kề từ đó mối bang giao giữa chúng tôi và NDTV được cải thiện ngó thấy. Nhân dân càng nể hơn nữa khi một buổi tối họp mặt văn nghệ quá giờ giới nghiêm, tôi và chàng được một ông thiếu tá không quân hào hoa đưa từ trại Huỳnh Hữu Bạc về, đi trước là một xe díp hụ còi mở đường có hai ống đèn đỏ to khỏe chớp chớp, đi sau hộ tống là một xe díp bên trên có gắn súng đại liên phòng không hờm hờm nhả đạn. NDTV cử một đại diện ra cõng chàng vào nhà, chàng líu lưỡi lí nhí cám ơn, hai cẳng nhũn như bún thiu, mình tôi kham không xuể.

Đụng NDTV chưa đủ, chàng đụng luôn cảnh sát. Đụng theo nghĩa đen chứ không có bóng gió gì cả. Như đã nói, tối nào chàng cũng la cà đầu đình xó chợ, bia ôm bia yết. Hay một cái là khi còi hụ giới nghiêm, tiếng xe chàng đã nghe đồng vọng ở đầu ngõ. Một tối, sau còi hụ xong hơn năm phút, rồi mười phút, rồi mười lăm phút, cánh chim trời vẫn biền biệt. Tôi càng lúc càng lo lắng. Độ nửa giờ sau chợt có tiếng đập cửa sắt nhà xe xèng xèng. Tôi vội vã chạy ra thấy chàng mặt mày máu me tùm lum, trên tay còn cầm khúc bánh mì. Tôi hoảng hốt hỏi tới tấp:

– Anh làm sao đổ máu vậy? Sao đi bộ? Còn xe đâu? Trời ơi! Làm gì mà thấy ghê quá xá! Anh có sao không?

Chàng tỉnh bơ:

– Xe đụng rồi.

– Đụng ở đâu?

– Đụng ở bót cảnh sát.

– Bót nào?

– Bót Ngã Ba Hàng Xanh. Xe còn dính ở thùng phuy đằng đó.

Tội dắt chàng vào nhà rửa ráy sạch sẽ rồi lấy băng keo dán lại chỗ chân mày bị rách. Không có gì trầm trọng. Tờ mờ sáng hôm sau tôi đã lò dò tới bót thu thập tin tức chiến trường. Quả nhiên đầu xe còn dính trong thùng phuy. Tôi vào bót tự giới thiệu ra hỏi thăm việc gì đã xẩy ra khiến cho thiền môn nhuộm máu. Một anh cảnh sát tường trình:

– Hồi tối tui đương nằm thiu thiu trên võng máng giữa hai cây trứng cá trước bót, bỗng nghe ầm một cái, tui lọt từ trên võng xuống đất. Tui tưởng Việt Cộng tấn công nên chạy ra sau bót núp chờ phản công. Té ra là xe ông lủi vô bót! May là thùng phuy có đổ bê tông chớ không có là xe ông chạy tuốt vô văn phòng rồi. Ý là tụi tui đã có đề cao cảnh giác trước, vì khuya nào nghe tiếng xe ông từ bên Thị Nghè vọt qua bẻ cua thắng rét rét là tụi tui tan hàng dạt vô bờ lề néê hết. Vậy mà cũng không khỏi.

Lúc đó gần Tết. Tôi mua mấy tấm lịch Nhật Bổn và Tam Tông Miếu tặng mấy anh em cảnh sát trong bót nên nội vụ cũng êm. Cả tháng sau chàng phải ngồi xe lam ba bánh đi làm việc.

Trở lại truyện dài NDTV, đối với chàng các cậu này đi từ ác cảm đến nể nang, rồi sau cùng là cảm tình. Giai đoạn thứ ba này xẩy ra vào lúc chàng khoác chinh y đáp lời sông núi. Trong xóm ai cũng đinh ninh chàng là “dân cậu” được hoãn dịch dài dài. Đùng một cái chàng đi lính. “Tôi quyết vì dân quyết đoạn tình” như lời thơ của anh Năm. Một bữa thấy người hùng lù lù về xóm, vai mang ba lô, lưng khoác chiến y, NDTV cảm mến ra mặt. Riêng tôi thấy chàng không khá được, tôi tội nghiệp. Nhưng cũng hài lòng vì ít ra trong thời gian bị cấm trại ở Quang Trung chàng không có dịp lạng tới lạng lui với mấy con nhỏ bia ôm, nhất là với con nhỏ mà chàng cứ khoe với tôi là có cặp vú bự tổ chảng (?) Thằng con trai tôi lúc đó đâu được hai tuổi cũng chê chàng luôn. Chàng về phép bồng nó lên tay, nó ngó chàng trân trân một hồi rồi ré lên khóc. Ông gì lạ hoắc, xanh lè và hôi hám!

Chàng đi lính đen đúa đã đành, phần tôi cũng chăn cà-mum không kém. Số là tuần nào tôi cũng dang nắng đi đón chàng ở cổng trại về phép. Tới giờ bên trong mạnh ai nấy chạy túa ra, rồi cả bọn hơn một chục mạng chiến sĩ hiên ngang nhào lên xe tôi, lớp dở cốp xe ngồi phía sau lểnh nghểnh quá giang đi về thành phố. Tôi phóng xe ào ào sụp ổ gà, phía sau mấy trự bị dằn xóc la chói lói.

Nhưng rồi thú vui của người em gái hậu phương sớm chấm dứt sau 9 tuần: chàng thuộc thành phần chuyên viên, được biệt phái về dân sự, cũng như quý vị thầy giáo. Chính sách này nằm trong kế hoạch bảo tồn nhân lực của VNCH. Đi quân đội mà chàng không bắn ai một phát cũng không ai bắn chàng một phát. Tuy nhiên điều đó khiển chàng bây giờ cảm thấy bứt rứt, cái bứt rứt chung của hai mươi lăm triệu đồng bào dù xa dù gần, dù trực tiếp hay gián tiếp, dù vô tình hay cố ý đã làm cho Miền Nam sập tiệm.

Trở lại cái “sướng lắm chứ” của em bé chăn trâu, nhiều lúc tôi ước ao trại cách mạng hay quân đội chăn chàng giúp đùm tôi. Vì ngày nào chàng còn tự do la cà là ngày đó tôi còn hồi hộp. Nói ra nghe kỳ chứ những lúc chàng điên điên khùng khùng tôi mới cảm thấy chàng thuộc về tôi. Lúc nào chàng ngắc ngoải ngồi dậy được là tôi lại sợ mất chàng. Đã hai lần trong đời chàng phát khùng. Lần đầu tiên nhằm thời kỳ tôi dắt chàng đi coi khỉ coi cọp, coi cá sấu ở Thị Nghè và ăn cà-lem. Bỗng dưng chàng xệ quá sức. Đêm đêm tôi phải gãi đầu cho chàng và ầu ơ một hồi chàng mới ngủ được một giấc ngắn. Tôi ngậm ngùi thương xót trong lòng thương có pha một chút tình… mẫu tử (có lẽ tôi cũng hơi bệnh hoạn ở điểm này.) Lần thứ hai chàng phát khùng sau khi thất nghiệp hơn năm ở Paris. Đêm đêm tôi lại phải gãi đầu ru chàng ngủ. Tôi ngồi đâu chàng cũng be be ngồi bên cạnh như con chó bị bệnh. Tôi đi làm về chàng mừng rơn như con nít mừng mẹ đi chợ về. Chàng bệ rạc quá sức nên phải đưa vào bệnh viện tâm lý. Hôm đưa chàng vào nhà thương, tôi vừa khóc vừa nói: “Anh ráng cho mau lành bịnh, rồi anh muốn cưới vợ bé em cũng sẽ cưới cho anh.” Chàng không nói gì chỉ níu lấy tay tôi cứng ngắc. May quá, hai tháng sau chàng ra nhà thương. Và cũng không nhắc nhở gì tới ba cái vụ vợ bé.

Lần khùng đầu tiên chàng không phải vô nhà thương. Lúc chàng xìu xìu ểnh ểnh tới hồi ngặt nghèo thì bỗng dưng được thăng chức và đổi lên làm việc ở khu kỹ nghệ Biên Hòa- tôi xin nói rõ là Khu Kỹ Nghệ chớ không phải Dưỡng Trí Viện Biên Hòa. Vậy mà rồi từ từ chàng lành bịnh và hăng say làm việc, nhân viên rất cảm mến chàng. Tôi nghĩ sự mầu nhiệm đó chẳng qua là chàng đổi lên chỗ khỉ ho cò gáy, xung quanh không có mấy con hồ ly bia ôm, gái nhảy nên tâm thần chàng lắng xuống rồi dần dần tới bình phục chẳng mấy hồi. Nhưng rồi tôi lại nhẹ dạ nghe lời chàng xúi bẩy, tham dự vào việc giành trụ sở cho chàng trở về Sài Gòn. Trụ sở đó ở đường Hàn Thuyên, nguyên khởi cấp cho công ty mổ thịt ở cầu Bình Lợi. Xếp sòng công ty này là bạn học của chàng ở Canada. Hai vợ chồng đều có cảm tình với tôi, do đó chàng kéo tôi theo nói giúp cho mau được việc. Anh bạn này đề cao cảnh giác:

– Tôi thấy để cho nó ở Biên Hòa chơi với khỉ vậy mà yên bề cho chị hơn. Chi đem về Sài Gòn nó lạng quạng theo gái chị đừng có trách tôi nghe.

Tôi hiên ngang:

– Ảnh mà lạng quặng là tôi cưa cụt hết hai cẳng! Đừng có giỡn mặt khó làm việc.

Thấy tôi nói ngon lành quá, anh bạn cười hề hề giao cho tôi chìa khóa đưa cho chàng hôm sau đi lấy trụ sở.

Quả nhiên, tôi đúng là dân miền Nam thật thà mắc mưu cộng sản. Trở về Sài Gòn như cá gặp nước, đấng lang quân yêu dấu của tôi lại “giang hồ quen thói vẫy vùng”. Lại rà rà mút mùa lệ thủy. Thiệt là quá cỡ con thợ mộc (ba chồng tôi hành nghề đóng đồ gỗ.) Tôi hối hận thì đã muộn. Thét rời tôi cũng hết muốn theo dõi hành tung của chàng luôn. Tôi thường dắt hai đứa con tôi đi xi-nê ở rạp Cao Đồng Hưng cho khuây khỏa. Đi coi cọp vì tôi quen với ông quản lý.

Không muốn theo dõi mà vẫn được biết như thường. Một bữa người chị dâu thứ Ba của tôi nói nhỏ là chàng lẹo tẹo với một con bé làm ở Ngân Hàng Quốc Gia. Rồi bà xúi tôi rủ chị dâu thứ Hai đi bắt ghen dùm. Chi Hai tôi bắt ghen được mề đay anh dũng bội tinh có nhành dương liễu. Chị đã từng căng dây giựt tình địch té lăn cù từ xe gắn máy xuống đất và bận khác bắt ghen dùm bạn, búa lầm vào đầu một người đàn bà lương thiện phun máu, suýt nữa ở tù. Vừa nghe đề nghị của chi Ba tôi đã hồn vía lên mây. Và vái van cho đừng bao giờ tôi gặp chàng đi với bồ.

Vái không gặp mà rồi vẫn gặp. Tôi không thấy nhưng thằng con trai tôi thấy. Bữa đó tôi chở Honda thằng lỏi (lúc đó đâu 6 tuổi) đi học về. Tới chỗ ngã tư đèn xanh đèn đỏ Xa Lộ bỗng nó chỉ qua bên đường la lên “Ba kìa!” Quả nhiên chàng đang đánh công xa chở một cô mặc áo hường, hai bên không biết nói gì với nhau mà cười toe toét. Chàng từ Cầu Sơn (khít bên xóm tôi) chạy ra mới dễ giận chớ! Thiệt là giỡn mặt tử thần. Tôi quành xe trở lại rượt theo chàng qua khỏi Thi Nghè. Tới góc Hồng Thập Tự- Đinh Tiên Hoàng tôi bóp còi qua mặt rồi ngó trở lại khoát tay cho chàng tấp vào bờ lề. Tôi nghe tiếng xe thắng, nhưng khi ngó lại xe chàng biến đâu mất, như mây khói. Vòng vòng một hồi kiếm không ra, tôi vọt ga tiếp tục con đường Hàng Thập Tự, phom phom chạy về Hùng Vương, Chợ Lớn, chỗ anh chi Ba tôi ở. Tôi vượt đèn xanh đèn đỏ, cảnh sát công lộ hú còi rượt theo buộc tôi phải dừng lại. Khi thấy tôi nước mắt nước mũi tèm lem, người bạn dân thông cảm, nhưng cũng khuyên nhủ:

– Bà chạy từ từ vì sợ em nhỏ ngồi sau té xuống đường nguy hiểm.

Bấy giờ tôi mới sực nhớ. Thằng lỏi mặt mày xanh dờn, tay chân lạnh ngắt, nó lắp bắp:

– Má ơi! Con sợ!

Tôi xúc động càng khóc lớn hơn. Nhưng sau đó tôi cố lấy lại bình tĩnh và chạy Honda từ từ về nhà anh Ba. Ông công lộ lẽo đẽo theo sau, cách một quãng xa.

Đâu khoảng một giờ sau chàng xít xe tới, dắt theo anh chị Năm và vợ chồng một cộng sự viên thân tín. Đố mấy chi em chàng đặt ra chuyện gì để chạy tội? Tưởng tượng không nổi! Chàng nói:

– Em đừng có ghen ẩu. Bà áo hường là bạn cũ muốn xin cho đứa em vô sở anh làm nên anh nể bạn mời đi uống nước nhắc chuyện đời xưa, chớ có gì đâu. Không tin em thử hỏi…

Chàng chỉ hết người này tới người nọ. Và ai cũng làm chứng gian tại tòa. Lại gan không? Tôi mệt mỏi quá nên chịu thua, không thèm lấy khẩu cung ai hết. Tôi chỉ muốn tin chuyện chàng nói (dù tôi biết là nói dóc), cho đỡ khổ.

Trời ơi sao tôi khổ quá? Tôi muốn chết và đừng bao giờ đầu thai trở lại làm người, nhất là làm đàn bà, để đừng rủi ro gặp lại chàng bất tử.

Thằng lỏi tôi quả thiệt có cái khiếu điềm chỉ viên trong huyết quản. Một bận khác tôi đèo nó đi học về bằng Honda trên đường Chi Lăng. Bỗng nó chỉ bên đường và la lên: “Xe ba kìa?” Tôi thắng gấp. Quả nhiên xe chàng đậu sờ sờ trước một quán nước. Bên trong quán chàng đang ngồi cười ngặt ngoẻo với Ả Linh, cô thư ký riêng của xếp chàng. Cô nàng đẹp vừa phải nhưng biết điểm trang sắc sảo và liếc tình như dao cạo. Chẳng những tôi ghen mà ông xếp cũng ghen thầm với chàng. Đối diện hai người kia là Khánh, phụ tá của chàng. Tôi kêu lớn cho chàng biết rằng tôi đã thấy hết, rồi vọt xe thẳng về nhà. Mãi tới gần giới nghiêm chàng mới lò dò về .. . Hỏi, chàng đáp:

– Em đừng có ghen ẩu! ông Khánh phụ tá của anh mê cô Ả Linh nên anh mới chở hai người đi chơi chung để khích lệ tinh thần làm việc của đàn em

Nói như vậy đó, chị em nghe coi có lọt lỗ tai được không? Tôi muốn bóp cổ cho chàng chết ngay tại chỗ. Bóp cho tới khi nào le lưỡi cả thước tắt thở luôn, cho hết năn nỉ. Vì năn nỉ tôi lại xiêu lòng. Khổ quá! Tôi đâu có muốn biết mà tôi vẫn biết, tôi đâu có muốn thấy mà tôi vẫn thấy. Tôi quá rõ khả năng và phản ứng của tôi nên tôi sợ .

Hồi còn là học sinh trung học tập tễnh yêu nhau, tôi hết mực tin chàng đã yêu tôi báng mối tình đầu. Tới lúc chàng đi du học, tôi và anh Năm ở nhà tò mò mở cái rương học trọ của chàng. Tôi bật ngửa: trong rương có hình cô gái lộng kiếng, lưng ảnh đề tặng người yêu (Ký tên: Hoa, bến đò Định Tường). Và tập nhật ký chàng viết hồi học lớp đệ Nhị ở Mỹ Tho, tang vật rành rành. Tôi khóc sướt mướt. Anh Năm hoảng quá nên đem ảnh và nhật ký đốt hết cho tôi hài lòng. Nhưng tôi vẫn ân hận và vẫn khóc. Bởi vậy từ đó tôi rất sợ tháy máy các đồ vật riêng tư của chàng mà chàng lại hay vứt bừa bãi, không giấu giếm che đậy.

Lúc đã sống chung, một bữa tôi mở tủ tìm quyển sách mà tôi muốn đọc lại. Tôi bới các kẹt hóc. Sau dãy sách một chiếc hộp thiếc rớt ra. Một hộp đựng kẹo ngậm cho thông cổ. Tôi húy hoáy mở hộp. Tôi khám phá một lọn tóc màu hoe vàng và một cùm lông cùng màu, rồi một lọn tóc và một cùm lông màu nâu óng. Không tin dở hộp ra coi, rau răm ở dưới cá mòi ở trên. Quỷ thần thiên địa ơi! Tôi đã lấy nhằm con quỷ râu xanh! Tôi bủn rủn. Xin ông trời ngó lại mà coi! Dân Gia Nã Đại đóng thuế, chánh phủ Gia Nã Đại cấp học bỗng cho chàng qua xứ người ta du học. Chàng qua xứ người ta rồi chàng cắt lông cắt tóc con gái người ta bỏ vô hộp thiếc mang về xứ mình như mọi Da Đỏ. Thiệt hết cỡ nói! “Ta ngắt đi một cùm lông thạch thảo”. Đến nước vậy, chàng vẫn tìm được lý do để tự bào chữa:

– Mấy nàng tự ý xởn cho, chớ anh đâu có nỡ lòng nào xởn lông, xởn tóc con người ta như vậy. Vã lại, cái màu nâu óng là của Louise Gia Nã Đại, còn hoe vàng là của Diane từ Paris đem về chứ đâu phải của Gia Nã Đại hết!

Của ai thì của, tôi mất ngủ cả đêm. Cả tuần. Chàng lường gạt ái tình tôi trước khi đi, trong khi đi, và ngay cả sau khi đi du học về nước. Quá thể! Tôi không có một kí lô nào trong đời chàng hết. Tôi tủi thân khóc sưng vù cả mắt. Tôi sụt cân, thụt mắt. Bởi vậy tôi sợ biết đời tư của chàng lắm. Như con chim thấy cành cong sợ ná, tôi chọn lựa sự đào tẩu: tôi không muốn biết. Mấy chị em đừng tưởng khi không tôi trở thành triết gia như vậy đâu. Trước đó, tôi đã áp dụng nhiều ngón tuyệt kỷ khác kể cả phương pháp của công an mật vụ. Khuya chàng mò về lăn kềnh ra mở tiệm cưa, tôi thao láo con mắt ngó nóc mùng đâu có chịu nổi. Tôi với tay lấy cây đèn bấm trên đầu nằm, vạch mắt chàng rọi vào lấy khẩu cung. Chàng lè nhè “trời ơi sao ác ôn như việt cộng vậy?” rồi chàng khai hết. Lúc đó tôi mới đâm hoảng, không muốn nghe nữa. Tuốt tuột “con nhỏ nào vú nhỏ, đít lớn, lông nách nhiều, lỗ rún vuông, dầy dầy mỏng mỏng… Thôi thôi tôi không muốn nghe nữa. Tôi tất đèn bấm, khóc thút thít.

Có lẻ trong hoàn cảnh này mấy chị em xúi tui xách va li trở về với má. Tôi đã có lần làm vậy rồi thưa quý vi. Tôi bỏ Sài Gòn về Vĩnh Long đã có hai ba hiệp. Lần nào qua ngày thứ ba tôi cũng nhớ chàng quá chịu hết nỗi nên lại xách va li trở về… và mắc cỡ. Nhưng sau đó, nghĩ cho kỹ tôi thấy ông già chồng tôi có lý: “Tao ghét đứa nào là tao ở lì nhà nó cho nó chết luôn.” Gậy cha đập lưng con. Tôi giận chàng, tôi ghét chàng, tôi tử thủ bên chàng cho chàng hết phương cục cựa.

Hồi mới cưới tôi về, đêm nào chàng cũng đi nhảy nhót tưng bừng, bỏ tôi nằm chèo queo ở nhà một mình. Ức quá tôi đòi đi theo, chàng cho theo. Vừa bước vô tiệm nhảy là mấy con quỷ cái ré lên rồi một đứa xê xuống ngồi lên đùi chàng tỉnh bơ. Chàng cũng bá lấy cổ nó ra rít. Chàng lôi nó ra sàn nhảy, vừa lả lướt vừa ôm lấy eo ếch nó tằn mằn. Tôi ngó muốn lòi con mắt. Tức quá tôi vớ lấy ly rượu trên bàn ực một hơi, mặt mày xây xẩm, tôi ngũ gục luôn tại chỗ. Từ đó tôi từ bỏ chiến thuật “bám trụ chống càn”, nằm nhà ngủ cho khoẻ thân. Tôi biết rồi sẽ có một ngày nào đó người chồng hoang đàng, người cha tội lỗi kia sẽ trở về ngã vào vòng tay âu yếm của người vợ hiền, buông ra những lời ăn năn và viết tờ tự thú.

Nhưng rồi như một nữ minh tinh nhoẽni cười, đã mõi cả miệng mà ông phó nhòm vẫn chưa chịu bẩm nút, tôi dần dần mất kiên nhẫn. Tôi nằm nhà chờ thì chàng đi hoang luôn, ngủ bờ ngủ bụi. Hồi đó mới quen sơ sơ anh bạn nhạc sĩ tôi chưa có dịp nói chuyện. Vì vậy một đêm kia chàng dắt một con qui cái tấp vào nhà anh bạn này, giới thiệu là ý trung nhân của chàng rồi xin tá túc một đêm lý do đã quá giờ giới nghiêm. Sau này vỡ lẽ, vợ chàng nhạc sĩ hòa tấu cho chàng một bản không được du dương cho lắm. Đáng kiếp!

Chàng rượt theo mấy con qui cái là một hành động không có gì khó hiểu. Thể nhưng song song chàng lại có rất nhiều hành tung rất là bí ẩn cho tới bây giờ dưới mắt tôi chúng vẫn còn là kỳ kỳ ảo ảo sau lớp sương mù dày đặc. Lần tôi có bầu đứa con thứ hai (thằng lõi điềm chỉ viên) đâu được sáu tháng, canh khuya nằm chờ chàng tôi ngủ quên luôn ở ghế dài phòng khách. Khi giật mình tỉnh giấc, chàng đã ngồi cạnh tôi từ lúc nào và đang lay lay tôi dậy. Tôi tưởng chàng muốn trêu hoa ghẹo nguyệt. Nhưng không chàng dựng tôi đứng dậy rồi hôn lên bụng chửa của tôi lòng vòng. Hồi lâu tôi cũng nhột mà rứt chàng ra không được. Thêm nữa tôi lại lo bà già chồng tôi nghe rục rịch ở phòng khách bà từ trên gác mò xuống dò la động tĩnh bắt gặp cảnh quái đản này sợ bà sẽ đứng tim ngã ra cho oan mạng. Mà can chàng không nỗi. Tôi phải giả bộ than là bị muỗi cắn chàng mới chịu buông tha cho tôi chui vào mùng ngủ.

Cái đó chưa dị hụ gì mấy. Đêm khác nghe tiếng chàng về nhưng buồn ngủ quá tôi nằm luôn trong mùng. Tôi nghe lãng đãng tiếng lục đục rồi tiếng vòi nước tỏa ra ở nhà tắm. Nhưng chờ mãi không thấy chàng vào ngủ, tôi thắc mắc mò ra trinh sát. Cảnh tượng thiệt hoang đường: đèn nê ông thắp sáng choang, chàng trần truồng ướt mèm ngồi ở bàn ăn… khóc sướt mướt. Tôi hoảng hốt xáp tới ngồi bên cạnh hỏi việc gì đã xảy ra, chàng tiếp tục khóc ngất mà không nói, trông thiệt thương tâm. Một lát, sực nhớ, sợ chàng cảm lạnh tôi lấy khăn lông trùm cho chàng rồi vỗ về chàng đi ngủ. Chàng ngoan ngoãn nghe theo. Đêm đó tôi nằm bên chàng mà đầu óc hoang mang cho đến bây giờ tôi cũng chưa hiểu được vì lý do gì mà chàng ở truồng ngồi khóc tầm tã như vậy.

Khi Sài gòn sập tiệm, tôi xách hai đứa nhỏ chạy rạt gáo qua tới bên Tây muôn dặm tìm chồng (chàng đã mừng rơn tính phen này kiểm vợ khác làm ăn). Tôi những tưởng chàng đã được giải phóng ra khỏi vòng tay mấy con qui cái! Đâu được năm sau đứa cháu gái của chàng (con anh Năm) biên thư nhắn nhe chàng “hãy tội nghiệp người con gái đáng thương ấy và chú đừng quên bổn phận làm cha”

Thế là chàng lòi ra tội… trốn quân dịch. Vậy mà hồi ở Sài Gòn tôi không hay biết gì hết. Người con gái đáng thương ấy chính là Nhung, con nhỏ bồ Bắc kỳ làm ở Ngân Hàng Quốc Gia của chàng. Tôi vừa giận chàng vừa giận con nhỏ cháu. Tôi đã gửi thuốc men quần áo về giúp nó mà nó nỡ nào biên thư qua khuyên chàng một câu xanh dờn. Tôi tức cành hông lấy khẩu cung, đương sự khai là thương con nhỏ Bắc kỳ tại vì cô bé giống Thanh Lan, mà chàng thì khoái Thanh Lan. Tôi cũng thích Thanh Lan, nhưng kề từ đó nghe Thanh Lan hát tôi thấy dỡ ẹt. Tôi thề độc với chàng là chuyện tình gì của anh anh viết em đều đọc chớ còn chuyện tình của anh với con nhỏ Bắc kỳ đó là em nhất quyết sẽ không bao giờ đọc. Con nhỏ biết chàng có vợ rồi mà vẫn còn nhào vô dành dân lấn đất.

Thêm một lần chàng lại độc diễn cái tuồng “tiền dâm hậu thú” với vợ nhà. Nghĩ cho cùng không có cách nào hơn tôi đành mở rộng vòng tay chiêu hồi đón nhận người anh lạc hướng quay về hồi chánh. Tôi thề trong bụng: đây là lần chót ! Sau đó là
the river of no return ! Chàng hãy liệu hồn! Chiến trường Đông Dương coi bộ có mòi lắng dịu thì đùng một cái phe đích từ Bắc Mỹ đánh sang. Đánh bảng điện thoại: Louise, cô bé cũ Gia Nã Đại (đã tự ý xởn lông như chàng nói) tưởng chàng đã chết mất xác trong cuộc chiến tranh dai dẳng ở Việt Nam, nay nghe chàng còn sống sót vội vả gọi sang hỏi thăm sức khoẻ. Cô ta đã ly dị chồng và hiện sống với con gái ở Quebec. Anh Năm vượt biển tị nạn ở xứ này nên nối lại được nhịp cầu tri âm. Khi nàng gọi, chàng bắt điện thoại và trao cho tôi ống nghe phụ. Hai bên trao đổi văn nghệ xã giao một hồi, rồi bắt đầu chia động từ yêu đương “je t’aime, tu m’aimes, nous nous aimons…” tỉnh bơ. Lòng sùn sụt sôi dầu sống, tôi trả lại ống nghe, bước ra phòng khách đóng ập cửa lại cho hai trẻ tha hồ mà tỏ tình nhau qua làn sóng điện – ngót ngét hơn một giờ. Tôi giận run. Chàng giỡn mặt chính quyền quá thể.

Tối hôm đó tôi hát bài Ai Xuôi Vạn Lý điệp khúc “những người mang mền biệt ly”: tôi vác mền ra ngủ ở ghế nệm phòng khách. Tôi chờ, chẳng thấy chàng ra năn nỉ. Qua đêm sau cũng hoạt cảnh như đêm trước. Tôi tức thở không ra hơi. Đêm thứ ba chịu hết nổi tôi mò vô phòng đè chàng xuống vừa bóp cổ vừa ngắt. Chàng vừa đỡ vừa cười… ruồi kiểm điểm. Chàng nói:

– Em đừng ghen ẩu! Cô ta với anh cách trở một đại dương, có cách gì tình qua không gian làm ăn với nhau được mà em ghen? Hồi đó anh lấy cô ta hà rầm em không ghen, bây giờ mới đá bóng một chút mà em phát ghen mới kỳ. Người ta có lòng ưu ái đánh điện thoại xuyên dương hỏi thăm mình, chẳng lẻ anh hất hủi…

Vân vân và vân vân. Mấy chị em nghĩ coi tôi có thể làm gì khác được không? Cắm sừng chàng để trả thù? Tôi sợ thù chẳng những trả không được mà lại còn mang nặng lấy mặc cảm phạm tội suốt đời. Rồi sau đó chàng òn ĩ thế nào không biết mà tôi còn may áo tốt gởi cho nàng Louise mặc trong dịp lễ Giáng Sinh, và nàng cũng có gởi cho tôi món quà đáp lễ nhưng bi thất lạc. Nàng viết thư rũ chàng và tôi qua bên bển chơi trong dịp hè, nàng trả vé máy bay. Nhưng tôi thấy cái tuồng bộ ba ông táo không thể khá được nên cứ khất lần.

Nói tới Gia Nã Đại tôi xin mở ngoặc để nhắc lại chuyện anh bạn xếp sòng Công Ty Mỗ Thịt khi trước. Trên đường từ nước Việt Nam Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa bay sang Gia Nã Đại sum họp gia đình, anh có ghé Paris và gặp lại chúng tôi. Nhắc chuyện trụ sở hồi nẵm, anh ta cười xòa:

– Đó! Tôi đã nói với chị trước đem thằng qui này về Sài Gòn là nó sanh giặc mà chị không chịu nghe.

Nhắc chuyện Việt Nam, được biết anh là một trong những người hiếm hoi được nhà nước xã hội lưu dụng. Lý do: trong chế độ “không có gí quý hơn tự do và độc lập, vàng và thịt lợn còn quý hơn nhiều! Anh có thớ lắm. Cán bộ lớn nể theo lớn, cán bộ nhỏ nể theo nhỏ, ông xếp nhà đèn còn phải dưới anh một bực. Chẳng có gì khó hiểu: cúp thịt thì điện không hư, mà cúp điện thì thịt hư. Mà thịt hư thì ông nhà đèn có chầu được chủ tịch quản lý thành phố Hồ Chí Minh gọi lên trả lời về cái tội phá hoại tài sản nhà nước. Chế độ “lấy thịt đè người”, đúng không chê vào đâu được. Bà con bây giờ chắc đã rõ tại sao cán bộ ỉa lớn đống hơn nhân dân và thúi hơn của nhân dân rất nhiều.

Từ đầu tới giờ tôi chỉ một mực hài tội đấng lang quân yêu dấu của mình hơi nhiều. Dĩ nhiên, không phải con người của chàng chỉ có xấu xa tồi bại, vì như thể mấy chị em thử nghĩ làm sao tôi thương nổi. Có nhiều bữa chàng thiệt dễ thương, và tôi thấy thương chàng đứt ruột.


….

Thỉnh thoảng chàng cũng gảy đờn, ca hát, viết văn, làm thơ; cũng văn nghệ một cây vi vút. Thấy anh bạn nhạc sĩ đặt nhạc để tặng vợ, anh Ba làm thơ ca tụng vợ, anh Năm viết văn khải tấu vợ, ca sĩ Sacha Distel gân cổ bốc thơm vợ, tôi cũng kín đáo gợi ý chàng nên làm thơ tặng tôi một tí. Chàng… dơ hai tay lên trời:

– Anh chưa có khùng mà sao em xúi anh làm chuyện bất nhơn như vậy!

Tôi cụt hứng. Độ tuần sau, vào một tối chàng đặt ở đầu nằm tôi quyển vở học trò trong đó chàng chép tay những bài thơ mà chàng ưa thích. Dở lần tới phần cuối tôi thấy một bài thơ đề tặng tôi, mang tựa “Thời Mới Lớn” và ký tên chàng. Tôi cảm động đọc bài thơ đó, thấy sướng ran:

Trường tan áo trắng hanh chiều
Em qua để lại quá nhiều nhớ thương
Trường tan nón lá nghiêng tròn
Em qua để lại mỏi mòn riêng ta
Trường tan áo mỏng la đà
Em qua để lại sầu ta vô cùng

Nghe muốn rụng rún. Những câu thơ trên mang tôi về căn trường học trò, nơi đó ngày ngày chàng ta ngồi ở đống cây trước nhà (đừng quên chàng là con thợ mộc) đón tôi đi học về ngang ngõ. Tôi lâng lâng trong khung trời hoa bướm mấy ngày. Tôi thấy bài thơ hay ra phết. Ai mà có ý kiến ngược lại là tôi đối lập tới cùng. Bài thơ nói về tôi, viết về tôi và lại để tặng tôi. Hay thấu trời.

Không biết mấy con quỉ cái đó cố tình làm cho chàng ngất ngư hàm tiếu hay không, vì tôi nhận thấy chàng cũng làm tròn bổn phận công dân “đực rựa” đối với xã hội chủ nghĩa: lao động tốt! Rất tốt (tùy mùa). Chàng đã giúp tôi khám phá những tiềm năng ở tôi mà chính tôi không hề ngờ tới. Những lúc đó tôi muốn kiếp sau được đầu thai trở lại làm người, làm đàn bà, và gặp chàng trở lại. Chàng bảo đừng cám ơn chàng mà nên cám ơn những người đàn bà đã dạy dỗ chàng. Tôi không ghen nhưng thấy khó lòng hậu thuẫn ý kiến này được. Khi giận chàng xách gói về với má, tôi gặp lại chị tôi và có dịp tâm sự. Chi tôi sắc nước hương trời, tôi bằng một nửa là may lắm. Chính chàng thú thiệt cũng mê. Đàn bà nửa đêm tâm sự, tôi nói phớt qua kinh nghiệm giữa tôi với chàng. Chi tôi bộc bạch:

– Tao không biết sướng là cái gì hết! Mỗi lần thằng chả về ăn xong cơm tối là ngáp dài. Rồi leo lên tao như gà đạp mái… Nghe mày nói mà ham. Thiệt tao chưa hề biết sướng. Gẫm lại mấy không đẹp bằng tao mà có phước hơn tao nhiều…

Ra đường thiếp hãy còn son,
về nhà thiếp đã năm con với chàng.

Chị tôi giờ vậy đó. Nghĩ cho cùng, phải chăng chẳng qua đó là nghiệp báo. Hồi thời trung học chị đã khiến cho một anh chàng si tình nuôi hy vọng hảo huyền đeo đuổi nhì nhằng, đau tương tư tưởng chết. Rồi cạo đầu đi tu.

Chàng lao động tốt tùy theo mùa, như đã nói. Có lúc cả tháng khi lên giương chàng khư khư ôm theo một quyển kinh dầy mo bìa cứng màu đỏ. Liên tiếp nhiều đêm sau khi coi truyền hình hé cửa bước vào buồng ngủ bước vào, tôi giựt mình vì đụng nhằm khối đen lù lù ngồi bẹp dưới đất. Tôi rón rén khép cửa lại còn nghe chàng kêu “ộp ộp” như âu Dương Tây Độc luyện hàm mô công.

Nhà tôi ở từng mười lăm. Một đêm trăng sáng nọ chàng mở cửa sổ bước ra ngoài không trung cỡi lên lưng con dơi đen bay tuốt lên cung Hằng Nga như chú Cuội. Nếu tình cờ xảy ra như vậy, tôi cũng sẽ không ngạc nhiên. Tuy nhiên, vẫn còn có một điều khiến cho tới bây giờ tôi vẫn còn thắc mắc là vì duyên cớ gì mà năm xưa nọ ở Hàng Xanh, chàng đã trần truồng ngồi khóc tỉ tê dưới ánh đàn nê-ông giữa đêm hôm khuya khoắc!

Trở về Mục Lục

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: