Các Ẩn Số Chánh Trị…: Chương I – Mục II – Phần 2

ansochinhtri

– CHƯƠNG I
– MỤC II

CÁC NHƠN VẬT ĐƯỢC DÙNG
ĐỂ MÔ TẢ MỘT VÀI CHÁNH KHÁCH NỔI TIẾNG
TRONG LỊCH SỬ TRUNG QUỐC CẬN ĐẠI

II- CÁC CHÁNH KHÁCH TRUNG QUỐC
VỀ PHÍA NGƯỜI QUỐC GIA

 

A. PHE BẠCH ĐẠO, TƯỢNG TRƯNG CHO CÁC ĐOÀN THỂ VÀ NHƠN VẬT PHÍA NGƯỜI QUỐC GIA

Trong bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ, Triêu Dương Thần Giáo đã được Kim Dung dùng đểbiểu tượng cho Đảng Trung Cộng thì phe bạch đạo đối đầu lại giáo phái này dĩ nhiên là tiêu biểu cho các đoàn thể và nhơn vật về phía người quốc gia.

1-Lập trường chánh thức của phe bạch đạo biểu tượng cho lập trường chánh thức của người Quốc Gia

Phe bạch đạo rất thù ghét Triêu Dương Thần Giáo mà họ gọi là Ma Giáo. Sự thù ghét này phát xuất từ chỗ Triêu Dương Thần Giáo muốn bắt tất cả giới võ lâm thần phục mình và thẳng tay đối phó với mọi môn phái võ lâm khác, thành ra đã gây những cuộc xung đột đẫm máu giữa hai bên. Phe bạch đạo nhiệt liệt tố cáo Triêu Dương Thần Giáo là có chủ trương và hành động trái đạo lý, lại luyện tập những công phu tàn độc, đồng thời áp dụng những phương pháp quái ác để đạt mục tiêu theo nguyên tắc: cứu cánh biện minh cho phương tiện. Bởi đó, phe bạch đạo đã chánh thức theo lập trường bảo vệ đạo lý và tình trạng đương hữu. Người của phe này thường kết án người của Ma Giáo là tà ngụy bất nhân, và có những chủ trương đi ngược lại nhơn tánh. Vậy, công khai hay mặc nhiên, người của phe bạch đạo tự xem là những kẻ bảo vệ đạo lý và tình trạng đương hữu. Họ cho là họ theo đúng chánh nghĩa và có những chủ trương thuận theo nhơn tánh.

Sự đối chọi nhau giữa Triêu Dương Thần Giáo và phe bạch đạo đã được Kim Dung dùng để biểu tượng cho sự xung khắc nhau giữa người cộng sản và người quốc gia ở Trung Quốc cũng như ở các nước khác trên thế giới hiện tại. Phe Cộng Sản chủ trương làm cách mạng, hủy diệt cả xã hội cũ để thực hiện chế độ cộng tản trên toàn thế giới. Phe Quốc Gia chống lại Cộng Sản vì Cộng Sản gây hấn và không dung nạp họ. Để chống lại phe Cộng Sản, phe Quốc Gia đã binh vực nền văn hóa và chế độ chánh trị xã hội đương hữu và công khai hay mặc nhiên tự xem mình là kẻ bảo vệ đạo lý cùng quan niệm sống bình thường của dân tộc mình.

2. Nhược điểm của phe bạch đạo tượng trưng cho phe Quốc Gia : sự diệt và phân hoá.

Trong khi Triêu Dương Thầm Giáo tượng trưng cho Đảng Cộng Sản Đệ Tam Quốc Tế có một tổ chức thống nhất và chặt chẽ thì phe bạch đạo tượng trưng cho phe Quốc Gia ở các nước lại bi nạn phân hoá trầm trọng với sự đồng thời hiện diện của nhiều cá nhơn và đoàn thể khác nhau; bên trong một số đoàn thể lại còn có sự xung đột trầm trọng.

a. Các cá nhơn và đoàn thể thuộc phe bạch đạo

Trong bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ, ta thấy có nhiều cá nhơn và đoàn thể được liệt vào phe bạch đạo . Về phía các đoàn thể, trước hết là hai tổ chức tôn giáo nổi tiếng về cả hai mặt đạo đức và võ thuật là phái Thiếu Lâm theo Phật Giáo và phái Võ Đương theo Đạo Giáo. Kế đó là các phái chuyên về kiếm pháp được gọi chung là Ngũ Nhạc Kiếm Phái và gồm có năm phái đặt căn cứ ở năm hòn núi lớn là Tung Sơn, Thái Sơn, Hành Sơn, Hoa Sơn và Hằng Sơn. Sau nữa, là các phái nhỏ yếu hơn và ít danh tiếng hơn. Trong số này, chỉ có phái Thanh Thành là có một vai tuồng tích cực, còn các phái khác chỉ được Kim Dung nhắc qua mà thôi.

Sự hiện diện của nhiều đoàn thể trong phe bạch đạo đã được Kim Dung dùng để ám chỉ tình trạng chung của phe Quốc Gia ở các nước, kể cả Trung Quốc. Nói chung thì ở các nước chưa bị Cộng Sản chế ngự đều có nhiều đoàn thể chống lại Cộng Sản, nhưng họ thuộc nhiều loại khác nhau và không thể hợp nhất với nhau. Các chánh đảng gọi là Quốc Gia thường có nguồn gốc, thành phần đảng viên và lập trường khác nhau. Ngoài ra, lại còn có những đoàn thể áp lực như tổ chức tôn giáo, nghiệp đoàn v.v… Ta cũng có thể nhận thấy rằng trong phe Quốc Gia, còn có những nhơn vật nhiều khả năng và có chủ trương chống lại Cộng Sản, nhưng không chịu tham gia đoàn thể nào mà chỉ lấy danh nghĩa cá nhơn để hoạt động.

Một điều đặc biệt đảng lưu ý là trong bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ Cái Bang có được nói đến và đứng về phe bạch đạo, vì Bang Chủ Cái Sang là Giải Phong đã đến chùa Thiểu Lâm để giúp môn phái này chống chọi lại đám người chịu ảnh hưởng Triêu Dương Thần Giáo theo Lịnh Hồ Xung đến để giải thoát Nhậm Doanh Doanh. Tuy nhiên nói chung thì trong tác phẩm này, Cái Bang đã không có vai tuồng tích cực như trong các bộ truyện võ hiệp khác của Kim Dung. Điều này xác nhận thêm dụng ý của Kim Dung là dùng các môn phái thuộc phe bạch đạo để ám chỉ các đoàn thể quốc gia chống Cộng Sản. Phần Cái Bang thì đoàn viên vốn là những người ăn mày, tức là người vô sản. Do đó, tổ chức này chỉ có thể dùng để tượng trưng cho một đoàn thể thiên tả và có chung ý thức hệ với người cộng sản. Kim Dung bắt buộc phải đặt Cái Bang trong hàng ngũ bạch đạo, nhưng không thể đề cho nó tích cực chống lại Triêu Dương Thần Giáo tượng trưng cho Đảng Cộng Sản. Vi thế, ông phải đặt nhẹ vai tuồng của Cái Bang trong bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ.

b. Sự khác nhau trong chánh sách của các đoàn thể thuộc phe bạch đạo.

Vì mỗi đoàn thể thuộc phe bạch đạo đều có nguồn gốc, thành phần và lập trường khác nhau nên chánh sách của họ cũng không giống nhau. Hai phái Thiếu Lâm và Võ Đương bình thường chỉ lo việc tu hành và không có tham vọng lãnh đạo giới võ lâm. Họ chỉ can thiệp vào việc đời khi thấy cần phải cứu giúp những người bi hiếp đáp. Mặt khác, không những chống lại Triêu Dương Thần Giáo, họ cũng không tán thành chủ trương thống nhứt giang hồ của phe bạch đạo. Trong khi đó, một số môn phái có chủ trương tích cực tham dự vào các việc liên hệ đến võ lâm, có môn phái còn nuôi tham vọng thống nhứt cả võ lâm và bắt mọi đoàn thể kể cả hai phái Thiếu Lâm và Võ Đương, phải thần phục họ.

Chúng ta có thể so sánh các môn phái có chủ trương tích cực tham dự vào các việc liên hệ đến võ lâm với các chánh đảng vẫn được thành lập để tranh thủ và sử dụng chánh quyền. Các môn phái âm mưu thống nhứt giới võ lâm là tượng trưng cho các chánh đảng theo xu hướng chuyên chế muốn giành độc quyền lãnh đạo quốc gia và có xu hướng hủy diệt các đoàn thể khác, hoặc bắt các đoàn thể khác phải giải tán và gia nhập hàng ngũ của mình, hay ít nhất cũng đứng vào một mặt trận do mình lãnh đạo và chấp nhận sự điều khiền của mình. Về hai phái Thiếu Lâm và Võ Đương, nó có thể so sánh với các đoàn thể áp lực tổ chức chặt chẽ và có thể lực lớn, nhưng không tham dự trực tiếp vào sự hoạt động chánh trị, tức là sự hoạt động để tranh thủ và sử dụng chánh quyền. Các đoàn thể này chỉ lo bảo vệ một số quyền lợi hoặc một giới người nhứt định trong xã hội. Họ chống lại chánh sách chuyên chế nói chung nên không phải chỉ xem Cộng Sản là kẽ địch mà còn phải đối phó lại các chánh đảng quốc gia có chủ trương độc tài.

c. Sự xung đột nội bộ của một số đoàn thể thuộc phe bạch đạo

Ngoài sự hiện diện của nhiều đoàn thể khác nhau, phe bạch đạo lại còn bị phân hóa vì những cuộc xung đột nội bộ của một số đoàn thể. Theo sự mô tả của Kim Dung trong bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ, sự xung đột nội bộ này có nhiều lý do khác nhau.

– Nhẹ nhất là sự bất hòa vì tánh tình các nhà lãnh đạo không hợp nhau. Tượng trưng cho đoàn thể bị suy nhược vì sự bất hòa này là phái Hành Sơn. Chưởng Môn Nhơn của phái này là Mạc Đại Tiên Sinh với người sư đệ là Lưu Chánh Phong vốn không có thiện cảm đối với nhau. Vì Mạc Đại Tiên Sinh là người nghèo nàn trong khi Lưu Chánh Phong là người giàu có, Mạc Đại Tiên Sinh lấy cớ không muốn nhờ cậy sư đệ để từ chối không bước chân đến nhà Lưu Chánh Phong. Tuy là sư huynh sư đệ nhưng có khi hàng mấy năm, họ không gặp mặt nhau và không nói chuyện với nhau. Trong thực tế Mạc Đại Tiên Sinh không muốn gặp Lưu Chánh Phong là vì tánh nết hai người khác nhau. Cả hai đều tinh thông âm nhạc, nhưng Mạc Đại Tiên Sinh lại thích loại âm nhạc thảm sầu, trong khi Lưu Chánh Phong có tinh thần phóng khoáng hơn và khi chơi nhạc thì không phải chỉ biểu diễn một tình cảm duy nhất như sư huynh mình.

Sự bất hoà do tính tình không hợp đã làm cho các nhà lãnh đạo phái Hành Sơn không gặp gỡ nhau và do đó mà không hợp tác với nhau. Lúc Lưu Chánh Phong tuyên bố rửa tay treo kiếm, các môn phái đều cho người đến chúc mừng, riêng Mạc Đại Tiên Sinh và môn đồ ông tuyệt nhiên không tham dự. Tuy vậy, khi Lưu Chánh Phong bị cao thủ phái Tung Sơn là Phi Bân uy hiếp, Mạc Đại Tiên Sinh đã xuất hiện và giết Phi Bân. Như thế, loại bất hoà vì tính tình các nhà lãnh đạo không hợp nhau có làm cho đoàn thể suy yếu, nhưng chưa đến nỗi đưa đến sự tàn sát lẫn nhau.

– Tệ hại hơn là sự xung đột nội bộ phát xuất từ chỗ các nhà lãnh đạo tranh nhau cướp đoạt quyền chỉ huy đoàn thể.

Tiêu biểu cho các đoàn thể suy nhược vì loại xung đột này là phái Thái Sơn. Trong phái này, Chưởng môn nhơn là Thiên Môn Đạo Nhơn không được các sư thúc của mình tâm phục. Do đó, các vị sư thúc này đã âm mưu với nhau đã đưa một người trong bọn họ là Ngọc Cơ Tử lên làm Chưởng Môn Nhơn thay Thiên Môn Đạo Nhơn. Để thực hiện kế hoạch của mình, họ chẳng những đã lôi kéo một số đệ tử phái Thái Sơn theo họ mà còn ngầm liên lạc với Chưởng Môn Nhơn phái Tung Sơn là Tả Lãnh Thiền để nhờ sự giúp đỡ của ông ta. Việc tranh quyền lãnh đạo này đã làm cho Thiên Môn Đạo Nhơn thảm tử gây ra sự oán hận sâu đậm trong lòng của đệ tử ông ta đối với phe Ngọc Cơ Tử.

– Nhưng trầm trọng hơn hết là sự xung đột phát xuất từ chỗ bất đồng ý kiến về một nguyên tắc căn bản quan trọng làm nền tảng cho sự tổ chức và hoạt động của đoàn thể.

Tiêu biểu cho sự phân hoá loại này là sự xung khắc giữa hai phe Kiếm Tông và Khí Tông của phái Hoa Sơn. Phe Kiếm Tông cho rằng trong việc học kiếm pháp, điều cốt yếu là có những chiêu thức ảo diệu, trong khi phe Khí Tông lại nghĩ rằng việc tập luyện cho có một nội công thâm hậu mới là vẩn đề quan trọng bực nhứt. Vì sự bất đồng ý kiến này, hai phe của phái Hoa Sơn đã đánh nhau kịch liệt đến nỗi nhiều cao thủ bị giết chết và cả phái này phải suy vi. Phe Khí Tông đã thắng thế trong cuộc giao đấu và giành được chức vụ Chưởng Môn, nhưng phe Kiếm Tông vẫn không phục. Một số người trong phe Kiếm Tông còn sống sót sau vụ xung đột đẫm máu này như Thành Bất Ưu, Phong Bất Bình, Cao Bất Hoặc đã mưu đồ cướp lại chức Chưởng Môn này. Ngoài việc bí mật tự rèn luyện, họ còn dựa vào Chưởng Môn Nhơn phái Tung Sơn để đạt mục đích.

Sự phân hoá giữa các phái trên đây đã được Kim Dung dùng để ám chỉ sự phân hóa của các chánh đảng về phía người quốc gia, vì các chánh đảng này trong thực tế đã bi suy yếu vì những cuộc xung đột nội bộ phát xuất từ sự hiềm khích cá nhơn hay vì ý muốn tranh quyền chỉ huy giữa các nhà lãnh đạo, hoặc vì một sự bất đồng ý kiến có tính cách ý thức hệ. Trường hợp sau này đã xảy ra khi những người trong một chánh đảng đều theo một chủ nghĩa như nhau, nhưng lại có những quan điểm khác nhau trong việc giải thích chủ nghĩa ấy hoặc trong việc áp dụng nó ra các hoạt động của đoàn thể mình để tranh thủ và sử dụng chánh quyền.

3) Thái độ thật sự của các phái trong phe bạch đạo tượng trưng cho phe Quốc Gia so với lập trường chánh thức của họ.

Theo dõi các quyết định và hành động của các phái trong phe bạch đạo được Kim Dung mô tả trong bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ, chúng ta có thể phân biệt họ làm hai loại: một số trong đó đã thành thật làm đúng theo những điều mình chánh thức chủ trương, một số khác lại nói một đường, làm một nẻo.

a. Các đoàn thể thành thật làm đúng theo những điều mình chánh thức chủ trương.

Trong các đoàn thể thành thật làm đúng theo những điều mình chánh thức chủ trương, phải kể các phái Thiếu Lâm và Võ Đương. Các nhà lãnh đạo hai phái này lúc nào cũng có một lập trường đứng đắn và đã tỏ ra là những bực tu hành đắc đạo lúc nào cũng hòa nhã và có tinh thần cởi mở khoan dung. Tuy cũng có quyết tâm diệt trừ Triêu Dương Thần Giáo mà họ xem là Ma Giáo gieo đại họa cho võ lâm, và cũng sẵn sàng dùng mưu kế để đối phó với tổ chức đối địch này, họ không nghĩ đến việc phục vụ quyền lợi cá nhơn hay đoàn thể của mình mà chỉ hướng đến việc phục vụ quyền lợi chung. Họ cũng sẵn sàng tha thứ cho kẻ thù và không nghĩ đến việc báo oán.

Ngoài hai đoàn thể lớn trên đây, về phía các đoàn thể thành thật theo chánh đạo như mình công khai chủ trương, lại còn có phái Hằng Sơn là một trong Ngũ Nhạc Kiếm Phái. Đệ tử của phái này là những vị nữ ni, nhưng lại có một tinh thần rất đặc biệt. Vì là phụ nữ họ có bản tánh hiền hòa, không sát phạt. Võ công cá nhơn của họ cũng không cao siêu lắm so với đệ tử các môn phái khác. Tuy nhiên, họ cũng có quyết tâm không kém ai trong việc bảo vệ danh dự của môn phái và phục vụ chánh nghĩa. Mặt khác, họ có tình thân thiết đối với nhau và thường nhường nhịn nhau chớ không tranh giành với nhau. Họ được luyện tập để tranh đấu chung nhau với một thế kiếm liên hoàn lập thành kiếm trận. Nhờ sự đoàn kết chặt chẽ và kỹ thuật tranh đấu tập thể này, nhiều khi họ đã chế ngự được những kẻ địch giỏi hơn và mạnh hơn.

Về phần các Sư Thái lãnh đạo phái Hằng Sơn thì trừ người Chưởng Môn Nhơn là Đinh Nhàn có hình cách từ hòa, còn các vị khác như Định Tĩnh, Định Dật đều là những người nóng nảy. Nhưng tất cả đều rất thẳng thắn. Họ đã cương quyết phục vụ cái mà họ xem là chánh nghĩa, nhưng cũng có sự suy xét để có thái độ hợp lý.

Khi biết rằng Lịnh Hồ Xung đã có công giúp phái Hằng Sơn khỏi bị phái Tung Sơn tiêu diệt, mà Nhậm Doanh Doanh là người yêu Lịnh Hồ Xung đang bi giam giữ ở chùa Thiếu Lâm, hai vị Sư Thái Định Nhàn và Định Dật đã tình nguyện đến chùa này để xin các nhà lãnh đạo Thiếu Lâm tha cho Nhậm Doanh Doanh. Lúc sắp chết, Định Nhàn Sư Thái đã khẩn khoản nài nỉ Lịnh Hồ Xung để truyền ngôi Chưởng Môn Nhơn cho ông này, mặc dầu phái Hằng Sơn lúc ấy chỉ gồm những nữ ni, vì biết rằng trong các đệ tử của mình, không có ai đủ khả năng lãnh đạo môn phái mình trong lúc giới giang hồ đang nổi sóng. Những điều trên đây cho thấy rằng Định Nhàn Sư Thái là người khoáng đạt, biết tùng quyền chớ không phải câu chấp, cố bám lấy các qui tắc lỗi thời.

Ta có thể nghĩ rằng Kim Dung đã dùng các môn phái Thiếu Lâm, Võ Đương và Hằng Sơn đề biểu tượng cho các đoàn thể theo lý tưởng dân chủ trong một nước theo chế độ tự do. Các nhà lãnh đạo các đoàn thể này thường có chánh sách cởi mở và tinh thần khoan dung nên chấp nhận các thay đổi cần thiết về mặt chánh trị và xã hội. Họ cũng noi theo đúng các qui tắc hoạt động của xã hội dân chủ tự do và như vậy, họ đã làm đúng theo những điều họ chánh thức chủ trương.

b. Các đoàn thể không làm đúng theo lập trường công khai mình đã đưa ra.

Bên cạnh các môn phái thành thật làm theo những điều mình chánh thức chủ trương, lại có các môn phái không làm đúng theo lập trường công khai mình đã đưa ra. Nói chung thì với tư cách là một thành phần trong phe bạch đạo, các môn phái này mạnh mẽ chống lại Triêu Dương Thần Giáo mà họ gọi là Ma Giáo. Lý do của sự chống đối này là chủ trương của các nhà lãnh đạo Ma Giáo muốn thống nhứt cả giới giang hồ, bắt buộc các đoàn thể khác phải phục tùng mình, lại theo những nguyên tắc hành động tàn độc, trái với đạo lý và ngược lại nhơn tánh. Việc chống đối Ma Giáo dĩ nhiên là phải có hình cách chánh nghĩa. Bởi đó, các môn phái thuộc phe bạch đạo đều nêu cao vấn đề đạo đức và có chủ trương làm theo lẽ phải, tức là trực tiếp hay gián tiếp có lề lối làm việc khác với Ma Giáo. Nhưng trong thực tế, một số các nhà lãnh đạo các môn phái tự xưng là thuộc phe bạch đạo lại không thật sự làm đúng theo lập trường công khai của mình. Trong các nhà lãnh đạo này, người biểu lộ thái độ rõ ràng nhất về mặt này là Tả Lãnh Thiền, Chưởng Môn Nhơn của phái Tung Sơn.

Trước hết, chúng ta có thể nhận thấy rằng phái Tung Sơn của ông tổ chức rất chặt chẽ và mở những cuộc điều tra kỹ lưỡng về các đoàn thể khác trước khi có hành động đối phó với họ. Các điều này có chỗ giống nhau với tổ chức Triêu Dương Thần Giáo mà phái Tung Sơn gọi là Ma Giáo, nhưng còn có thể xem như là những việc không trái với lập trường chung của phe bạch đạo. Đến việc nhà lãnh đạo phái Tung Sơn có một chủ trương giống hệt các nhà lãnh đạo Triêu Dương Thần Giáo là muốn thống nhứt tất cả các môn phái này dưới sự điều khiển của mình, nó đã khó có thể chấp nhận hơn. Tuy vậy điều này còn có thể biện minh được với lý do là vì Ma Giáo quá mạnh nên phe bạch đạo phải kết hợp nhau lại một cách chặt chẽ thì mới mong nắm phần thắng lợi trong cuộc tranh đấu được. Điều làm cho nhà lãnh đạo phái Tung Sơn hoàn toàn giống các nhà lãnh đạo Triêu Dương Thần Giáo bị ông gọi là Ma Giáo là chủ trương cứu cánh biện minh cho phương tiện mà ông đã áp dụng để thực hiện mưu đồ của ông.

Chủ trương độc tài khắc nghiệt của nhà lãnh đạo phái Tung Sơn là Tả Lãnh Thiền đã biểu lộ trong việc ông lấy danh nghĩa Minh Chủ của Ngũ Nhạc Kiếm Phái về ngăn chặn Lưu Chánh Phong không cho rửa tay treo kiếm sau khi kết bạn với một Trưởng Lão Triêu Dương Thần Giáo là Khúc Dương. Nhà lãnh đạo phái Tung Sơn đã cho người đến bắt quyến thuộc Lưu Chánh Phong và ép ông này phải tiếp tục phục vụ phe bạch đạo và chứng tỏ sự trung thành của mình bằng cách tự tay giết bạn là Khúc Dương. Vì Lưu Chánh Phong không chấp nhận việc này nên phái Tung Sơn đã sát hại hết gia quyến và môn đồ của ông. Trong dịp này, phái Tung Sơn cũng đã áp dụng một chánh sách của Triêu Dương Thần Giáo là dụ dỗ môn đồ và ngay đến đứa con Lưu Chánh Phong chịu quay lại kết án Lưu Chánh Phong để được tha cho khỏi chết, và họ đã thành công với đứa con nhỏ của Lưu Chánh Phong là Lưu Cần.

Ngoài ra. nhà lãnh đạo phái Tung Sơn còn áp dụng những thủ đoạn tàn độc không kém Triêu Dương Thần Giáo. Ông đã khai thác sự xung đột nội bộ của các phái khác bằng cách giúp phe chịu tùng phục mình lên nắm quyền hành. Mặt khác, ông đã cho đệ tử thứ ba là Lao Đức Nặc đến xin học với Nhạc Bất Quần, Chưởng Môn Nhơn phái Hoa Sơn để nằm vùng và điều tra về võ công của Nhạc Bất Quần, đồng thời dò la về hành động của phái Hoa Sơn. Ông cũng đã cho người của mình giả làm người của Triêu Dương Thần Giáo để uy hiếp hai phái Hoa Sơn và Hằng Sơn với mục đích đặt các phái này trong tình trạng phải chấp nhận tự giải tán để gia nhập một môn phái chung cho Ngũ Nhạc Kiếm Phái do ông lãnh đạo. Trong mưu đồ của mình, phái Tung Sơn đã không ngần ngại sát hại hết những người trong phe bạch đạo không chịu tùng phục mình.

Sau khi bị Nhạc Bất Quần đâm cho đui mắt để giành chức chưởng Môn Nhơn Ngũ Nhạc Kiếm Phái, nhà lãnh đạo phái Tung Sơn đã bày mưu độc giết hại hết người của các kiếm phái này, kể cả các đệ tử của chính mình. Nhưng tệ hại hơn hết là việc ông tìm mọi cách đề lấy TỊCH TÀ KIẾM PHỔ của nhà họ Lâm để bí mật luyện tập theo kiếm phổ đó với hy vọng có võ công áp đảo được mọi người hầu làm bá chủ phe bạch đạo và chiến thắng Triêu Dương Thần Giáo rồi lãnh đạo hết cả giới võ lâm. TỊCH TÀ KIẾM PHỔ của nhà họ Lâm và QUÌ HOA BẢO ĐIỂN của Triêu Dương Thần Giáo vốn cùng một gốc mà ra, và muốn luyện được công phu này, trước hết người phải tự thiến. Lúc đầu, Tả Lãnh Thiền chưa biết được điều bí mật trọng đại nhất của TỊCH TÀ KIẾM PHỔ. Nhưng sau khi cứu
Lâm Bình Chi và được Lâm Bình Chi chỉ điểm, ông đã tự thiến để luyện theo kiếm phổ này. Vậy, ông ta đã làm y như Đông Phương Bất Bại là người lãnh đạo của một môn phái mà ông gọi là Ma Giáo.

Xét cách thức Kim Dung mô tả các môn phái bạch đạo đã có hành động giống hệt Triêu Dương Thần Giáo mặc dầu họ công khai lên án giáo phái này là tàn độc, trái đạo lý và gọi nó là Ma Giáo, ta có thể bảo rằng ông đã muốn dùng các môn phái đó để ám chi các đoàn thể Quốc Gia tuy chống Cộng Sản, và chánh thức chủ trương theo chế độ dân chủ, và nền đạo lý nhơn bản, nhưng thật sự lại áp dụng chánh sách độc tài toàn diện và kỹ thuật làm việc trái nhơn tánh y như Cộng Sản.

(xem tiếp tại đây)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: