2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QI – (1-5)

2000ngaydem_bia1

Hồì Ký của Xuân VũDương Đình Lôi

Quyển I /7 : ĐÂY CỦ CHI! ĐẤT SÉT CHƯA THÀNH BÙN

TRỜI NAM xuất bản lần thứ nhất tại Hoa Kỳ năm 1991
XUÂN THU tái bản năm 1998

Tác gỉả giữ bản quyền

Lê Thy đánh máy lại với sự đồng ý của anh Lê Minh Phước
(đại diện gia đình cố văn sĩ Xuân Vũ)

o O o

THAY LỜI TỰA

LÁ THƯ GỞI CHO MỘT NỮ “DŨNG SĨ” ĐẤT CỦA CHI

Hoa Kỳ, ngày 24 tháng 8 năm 1991

Em Bảy Mô thân mến,

Bất ngờ anh bắt gặp một quyển sách tiếng Anh viết về địa đạo Củ Chi trong đó có đề cập tới em và hình em nữa. Xem xong quyển sách này anh cười phì vì nó hài hước và bịp bợm quá lẽ, anh không muốn nêu tên sách và tác giả ra đây vì họ không đáng cho anh gọi là nhà văn, mà họ chỉ đáng được gọi là những thằng bịp. Nếu em đọc được tiếng Ăng-Lê thì anh sẽ tìm cách gởi về cho em xem. Và chắc em sẽ có cảm tưởng rằng tác giả của quyển sách nói về một chuyện giả tưởng trên mặt trăng hoặc dưới đáy biển. Anh tự hỏi tại sao tác giả quá ngây ngô để bị lừa một cách dễ dàng rồi trở lại lừa độc giả của họ một cách vô lương như thế. Nhưng cho dù họ bịp được toàn nhân loại đi nữa, họ cũng không lừa được anh và em., những kẻ đã từng đổ mồ hôi và máu trên mảnh đất này. Riêng anh thì đã tử thủ mặt trận: Hai ngàn ngày đêm, không vắng mặt chút nào. Để nói cho độc giả biết rằng bọn Cộng Sản đã bày trò bịp thế gian một lần nữa, sau vụ đường mòn xương trắng và khuyên những người nhẹ dạ chớ có mắc lừa, anh quyết định viết quyển sách này.

Họ bảo rằng bề dài địa đạo là hai trăm dậm. Em có tin không ? Sự thực Củ Chi có mấy khúc địa đạo còn tạm xài được trước khi Mỹ vô (1964) ? Quận Củ Chi là một quận nhỏ gồm mươi lăm xã cách Sài gòn hai chục cây số đường chim bay, nhưng nó là cửa ngỏ đi vào Sài gòn cho nên có hai bên Quốc Gia lẫn Cộng Sản đều tử chiến ở đây, một chiến trường khốc liệt nhất Miền Nam trong cuộc chiến tranh lần thứ hai của nước ta. Nếu tính bề châu vi thì quận Củ Chi đo được chừng năm mươi cây số. Như vậy bề dài của địa đạo ít nhất bốn lần chu vi Củ Chi. Họ còn viết rằng địa đạo đã lập thành một vòng đai thép bao quanh căn cứ Đồng Dù và người cán bộ mặt trận có thể ở dưới địa đạo nghe nhạc đang đánh ở trên căn cứ này. Cụ thể là ông Năm Phạm Sang ngồi đàn dưới địa đạo mà nghe Bon Hope diễn kịch ở trên đầu hắn.

Quyển sách ma này nói láo, nói bậy hoặc nói nhầm hầu hết về những gì đã xảy ra ở Củ Chi trong vòng năm năm (1965-1970) anh và em có mặt ở đó. Nhưng ở đây anh chỉ nhặt ra vài ba điểm quá ư ngu xuẩn của tác giả mà một người đã dám cầm bút viết nên sách dù kém tài đến đâu cũng không thể có được . Ví dụ họ viết rằng anh Tám Lê và vợ là Thị Thắm mổ xẻ thương binh dưới địa đạo. Xin hỏi: “Làm cách nào để đem thương binh xuống đó ? ” Nên biết rằng miệng địa đạo chỉ hẹp bằng cái khay trầu thôi. Người thường tuột xuống đó còn phải lách chứ không dễ dàng. Thương binh, nếu nặng thì nằm trên cáng, còn nhẹ thì băng bó đầy mình làm sao tụt xuống được? Và nếu có tụt xuống được thì nằm ở đâu, dụng cụ gì, đèn đóm nào dùng cho cuộc giải phẫu. Đó là chưa nói đến cái không khí ác độc ở dưới địa đạo. Người khỏe mạnh bất đắc dĩ phải xuống địa đạo thì chỉ trong vài tiếng đồng hồ là đã mệt ngất ngư rồi: vì không đủ dưỡng khí! Nếu bị kẹt vài giờ dưới đó thì con người đã trở thành miếng giẻ rách, còn khi bò lên được thì đã quên hết tên họ mình. Vậy sau khi được giải phẫu, thương binh phải sống dưới đó làm sao? Đó là chưa kể những việc lặt vặt khác như thương binh phóng uế hoặc thủ tiêu những băng đầy máu me. Những người chưa từng ở địa đạo nghe mấy vị này mô tả chắc sẽ nghĩ rằng cuộc sống dưới địa đạo khỏe khoắn như ở trong nhà lầu có máy điều hòa không khí. Xin thưa câu chuyện không đẹp tai cho lắm: Một lần nọ khi chui xuống địa đạo chúng tôi bị quân Việt Nam Cộng hòa chốt trên đầu không lên được. Rủi thay một nữ cán bộ có đường kinh. Nếu ở trên mặt đất thì dù không kịp dùng băng vệ sinh người đàn bà vẫn không toát ra mùi gì (xin lỗi) nhưng ở dưới địa đạo gặp trường hợp này mọi người đều ngặt mình như sắp chết vì cái mùi uế tạp kia. Người chưa từng ở địa đạo không thể biết rằng đánh một cái rắm dưới đó chẳng khác nào bỏ một trái bom nguyên tử.

Vậy ông anh hùng Tám Lê có lẽ là một Tề Thiên Đại Thánh mới có thể biến thương binh nhỏ lại bằng cái tăm để đem xuống địa đạo và nhổ lông khỉ của mình biến thành dụng cụ đèn đóm để giải phẫu chăng ? Ông Tám Lê quân y sĩ giải phẫu thương binh thì có, nhưng bảo rằng ông ta giải phẫu thương binh dưới địa đạo là một chuyện nói láo bỏ sách vở và coi khoa học là một bãi phân chuồng cũng như ông đại tướng bần cố nông Nguyễn Chí Thanh đem hầm đất ra chống B52 để rồi bị chết thảm thương như vậy. Sức khoan phá của một quả bom đìa là mười một thước bề sâu.

Đây anh xin nhắc lại một câu chuyện mà hai anh em mình cùng chứng kiến: Lần đó anh bị thương miểng đạn M79, em và tổ nữ “dũng sĩ” của em đưa anh vào quân y của ông Tám Lê. Vừa tới nơi anh hết sức ngạc nhiên vì thấy một toán bộ đội rượt đánh hai vợ chồng Tám Lê chạy bò càn trong rừng. Kể cũng tội cho ông. Tiểu đoàn Quyết Thắng đánh ở Lộ 6 Gò Nổi bị thương nhiều quá. Chờ đến sáng mới đem thương binh về tới Rừng Lộc Thuận tức là căn cứ của ông Tám Lê thì bị ông từ chối. May có anh ở đó, anh rầy lính tráng và năn nỉ Tám Lê rán giúp dùm, hòa giải xích mích.

Năm 1967, trong cuộc càn Cedar Falls của Mỹ anh phải điều động một đại đội tới khiêng thương binh chạy dưới mưa bom B52 sau trận đánh Cây Trắc đường I làng Phú Hoà Đông về tới Bến Chùa. Trên một trăm thương binh nằm dầy đặc một khu rừng như củi mục. Tiếng la ó, rên rỉ, chửi bới vang trời. Thương binh nằm phơi bụng dưới bóng cây. Những người may mắn thì được đặt dưới hầm giống như cái huyệt cạn, chờ họ chết là lấp đất rất gọn gàng chứ nào xuống được địa đạo địa điếc gì.

Chiến dịch đó vô cùng khủng khiếp phải không em? Nội vùng tam giác sắt trong vòng một tháng có đến 576 cán binh ra hồi chánh. Nếu có địa đạo như kiểu ông tác giả trên nói thì họ cứ rút xuống đó ăn hút chừng nào Mỹ đi thì bò lên chống Mỹ, lựa là hồi chánh chi cho mệt phải không em?

Những người chưa hề đào một tấc địa đạo nào cứ tưởng rằng đào địa đạo dễ như đào hang bắt chuột vậy. Đào một chốc là có cả chục thước ngay. Than ôi! Nào phải như vậy. Những vùng đất có thể đào địa đạo được phải là vùng đất cao để không bị ngập nước và đất phải cứng để không bị sụp lở cho nên đào một thước địa đạo phải hộc ra máu cục, phải mờ cả con mắt chứ đâu có dễ như ông tác giả vẽ trên giấy. Củ Chi có mười lăm xã, nhưng chỉ có năm xã đào được địa đạo mà thôi. Đó là các xã: Phú Mỹ Hưng, Anh Phú, An Nhơn, Nhuận Đức và Phú Hoà. Năm xã này nằm dọc theo bờ sông Sàigon, có lớp đất cao có thể trồng cây cao su mới đào được địa đạo. Ngoài ra mười xã kia là đồng ruộng làm hầm bí mật đã khó rồi.

Anh và em đã từng đào nên từng biết mỗi tấc địa đạo phải tưới bao nhiêu mồ hôi. Mười thanh niên khoẻ mạnh đào trong một đêm chỉ được chừng vài thước là cùng. Vậy muốn hoàn thành hai trăm dậm địa đạo phải mất bao nhiêu công? Và họ đào ở đâu, lúc nào mà được hai trăm miles. Ông tác giả lại còn phịa ra những chuyện ly kỳ là: địa đạo hai tầng (như nhà lầu) và dưới đáy địa đạo lại có giếng để múc nước (nấu nước trà uống chắc!). Chưa hết, ông ta lại còn bịa thêm rằng dưới địa đạo có kho chứa hàng, có nơi nghỉ ngơỉ, có chỗ chứa thương binh, và còn tài ba hơn nữa, tài nói láo, lại còn có bếp Hoàng Cầm theo kiểu Điện Biên Phủ (có đường dẫn khói luồng trong đất) và nào là đường địa đạo thông ra bờ sông Sàigon…?

Đây là một chuyện phản khoa học tại sao họ có thể viết được. Muốn cho một làn địa đạo có thể chui ra chui vào được và không sợ xe tăng cán sập thì nóc địa đạo phải cách mặt đất ít nhất chín tấc tây nghĩa là khỏi rễ cây ăn luồng , lòng địa đạo phải cao chín tấc và hình chóp nón nghĩa là đáy rộng chín tấc, nóc chỉ bảy, tám tấc, nếu địa đạo rộng hơn sẽ bi lở , sụp. Đôi khi rễ cây làm trở ngại rất nhiều, chặt đứt một cái rễ cây bằng cườm tay phải mất cả giờ đồng hồ. Như vậy muốn đào tầng địa đạo thứ hai ở dưới địa đạo thử nhất phải theo công thức trên nghĩa là phải đào sâu xuống một mét tám tấc nữa rồi mới trổ ngang đào lòng địa đạo cao chín tấc. Như vậy từ mặt đất xuống tới đáy địa đạo thứ hai phải là : chín tấc cho nóc địa đạo I, chín tấc cho lòng địa đạo I, chín tấc cho nóc địa đạo II, chín tấc cho lòng địa đạo II, tổng cộng là ba mét sáu tấc. Tôi nói chi li ra như vậy để thấy rằng sự đào địa đạo không có dễ dàng, đơn sơ như ông tác giả kia tưởng tượng hoặc đã được Võ Văn Kiệt cho xem những hầm đào bằng máy để khoe với các ông ký giả ngây thơ. Nên nhớ rằng đào đất cứng dưới hầm nó khó khăn như gọt gỗ lim chớ không phải giang thẳng cánh mà cuốc như trên mặt đất.

Em đã từng đào địa đạo chung với anh, nhưng em nhớ lại thử xem chúng ta đã xuống đó bao nhiêu lần và mỗi lần ở dưới đó mấy giờ đồng hồ, ngoại trừ lần anh chết ngạt ở địa đạo Bến Mương khi anh được lôi lên, cô y tá Thu ở H6 ban Pháo Binh phải cứu cấp anh bằng nước tiểu. Anh không thể tưởng tượng được rằng họ đã bịa đặt đến thế được.

Em Mô thân mến,

Thời kỳ kháng chiến chống Pháp em chưa ra đời, nhưng anh đã đi bộ đội. Năm 1950, anh xuống Miền Tây để học trường Lục Quân. ở dưới đó anh cũng bị mê hoặc về những đường địa đạo chống giặc ở quê nhà : Nào là cả làng, cả nhiều làng xuống địa đạo. Hơn nữa, dân lùa cả trâu bò xuống địa đạo, giặc Pháp có biết được miệng hầm cũng không làm gì nổi. Ra Hà Nội, anh có gặp anh hùng Nguyễn Văn Song. Anh ta trở thành anh hùng quân đội với huyền thoại “Với một chiếc lưỡi hái cùn, anh ta đã đào hàng ngàn thước địa đạo và cất giấu cả tiểu đoàn. ” Anh vẫn tin như thế. Và cho tới khi đặt chân trở lại Củ Chi năm 1965 anh vẫn còn tin như thế. Nhưng chỉ sau khi đi với em đào một đêm, thì anh mới dội ngửa ra. Anh nghĩ rằng với cái liềm cùn đó, anh Song phải chết đi sống lại mười lần mới có thể đào xong hàng ngàn thước địa đạo kể trên. Anh Song ra Bắc ở Sư Đoàn 338, trốn về Nam rồi biệt tích.

Tác giả quyển sách này đã không biết rằng từ sau khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam ta, hầm bí mật và địa đạo ở Củ Chi nói riêng và ở khu IV nói chung hoàn toàn mất tác dụng. Anh nhắc lại em nghe, nếu em quên, hồi đầu năm 1967, Mỹ mở một cuộc càn lớn vô An Nhơn. B52 vùi lấp cả một khúc địa đạo gần xóm trại Bà Huệ. Những kẻ sống sót không biết đâu mà moi móc, đành để nguyên như thế cho các nạn nhân yên lòng nơi chín sưối với nấm mồ tập thể trên hai chục người của văn phòng Tham Mưu quận.

Sau đó, một cuộc hội nghị Tham mưu gồm có Tư Hải, Sáu Phấn ở H6 và tiểu đoàn 8 Pháo Binh, bàn việc vận tải hỏa tiễn HI2/ĐKB để pháo kích Đồng Dù. Biệt kích tìm được miệng địa đạo, quăng lưu đạn chết không còn một mống. May mắn lần đó anh bận họp chấn chỉnh tiểu đoàn, nếu không, anh đến họp thì đã tiêu tùng rồi.

Còn ở Bến Súc, tại bờ Rạch Xuy Nô, biệt kích Mỹ tìm ra miệng địa đạo của Ban Mật Mã điện đài Quân Khu. Chúng tóm trọn ổ trên hai chục mạng, lấy vô số tài liệu và hai chiếc máy thông tin.

Kể từ đó địa đạo trở thành nỗi sợ hãi khủng khiếp đối với cán bộ và bộ đội. Ông Trần Đình Xu, tức Ba Định, Tư lệnh Quân Khu thấy tình hình giao động của cán bộ, bộ đội nên đã ra lệnh cho bộ đội không được xuống địa đạo nữa. Vì xuống dưới đó là bị động hoàn toàn không còn tinh thần đâu mà chiến đấu nữa. Kẻ nào bất tuân sẽ bị kỷ luật nặng.

Tuy ra lệnh gắt gao như vậy nhưng chính ông trong lúc cùng đường mạt lộ ông cùng ban tham mưu khu cũng phải chui xuống địa đạo. Chẳng may, Mỹ đóng chốt trên đầu. Cô Là, xã đội phó Phú Mỹ Hưng chạy vắt giò lên Trảng Cỏ tìm anh và yêu cầu anh đem quân về đánh giải vây cho ông ở Bàu Đưng Nếu không có anh lần đó ông và cả ban tham mưu đã an giấc ngàn thu dưới lòng đất rồi. Nhưng thoát chết kỳ đó, sau mấy tháng, ông lại đạp mìn mà tan xác với chức Thứ trưởng Quốc phòng của Chánh phủ ông Phát.

Trong những người “anh hùng” mà ông tác giả kể ra, có ông “Thiếu tá Năm Thuận” nguyên là một tên du kích sọc dưa đã bỏ làng chạy qua Phú An (Bình Dương) để làm nghề câu tôm chờ ngày rước vợ ở Ấp Chiến Lược ra sống chung. Ông “Thiếu tá” này đã giác ngộ cách mạng cao nên đã trở lại Tiểu đoàn II thuộc Trung đoàn Quyết Thắng của anh. Lúc đó quân số Tiểu đoàn chỉ còn trên một đại đội nên Thuận mừng húm khi được anh nhận cho làm lính lãi.

Bên cạnh đó còn có một ông thiếu tá khác đặc sắc hơn. Đó là “Thiếu Tá Quợt” chính ông này bị B52 vùi lấp còn ló cổ lên và chính anh với em cứu sống ở rừng Bàu Nổ xã Thanh Tuyền. Ông ta chưa hề đào một nhát cuốc địa đạo thế mà được ông tác giả đề cao là “Anh hùng đã chiến đấu mười năm ở Củ Chi bằng địa đạo.” Chiến đấu bằng cách nào? Cái ông này nổi tiếng nhờ cái tật ỉa chảy và mang chứng binh mắc thằng bố nói nhãm kinh niên, người xanh mét gầy nhom như khỉ già, ngồi đâu chếtt đó. Mỗi lần xuống hầm hoặc xuống địa đạo là ông ta són trong quần. Mọi người rất sợ phải chui chung với ông.

Còn nhân vật “chiến đấu” dũng cảm hơn hết. Đó là ông Võ văn Kiệt, tức là Tư Kiệt Chính ủy Quân khu. Ông được Năm Ngố bí thư Huyện ủy Nam Chi nhường cho một khúc địa đạo để nương náu qua ngày tại Phú Hòa Đông. Nhắc tới việc này, chắc em không khỏi nhớ tới em Lệ tức Tám Lệ, một nữ công tác thành của Ban Quân báo quân khu.

Lệ thường ra vào Sài gòn, Tây Ninh… và về báo cáo các công tác, ăn ở nhờ địa đạo của ông Năm Ngô. Do đó Lệ lọt vào mắt ông Chính ủy khu. Ông ta bèn biến cô Lệ thành liên lạc riêng của ông ta, rồi trở thành “bạn ” thân thiết dưới địa đạo. Chuyện này chắc em không biết đâu. Để chốc nữa anh nói lý do tại sao anh biết cái chuyện ly kỳ này.

Em MÔ thân mến,

Anh hiện nay là kẻ lưu vong, lòng luôn luôn hướng về đất nước . Nhưng không bao giờ mơ trở về đất nước, họa chăng có một biến thiên vĩ đại bất ngờ. Viết đến đây anh không cầm được nước mắt. Nếu như anh với em có duyên phần với nhau nhỉ? Nếu thế thì cuộc đời chúng mình sẽ không biết ra sao…

Thôi chuyện đã qua lâu rồi. Em đã có chồng có con cả bầy, còn anh cũng sắp sữa làm ông nội. Nhưng những kỷ niệm lửa máu thật khó quên. Anh không khỏi xót xa ngậm ngùi khi nhìn thấy hình em trên trang sách. Sao trông em sầu não tang thương quá đổi. Có chuyện gì không vui trong đời em sao vậy? Đôi mắt buồn thảm của em đang ngó tới nhưng chính tâm tư của em lại nhìn ngược về dĩ vãng xa vời phải không ? Một cái dĩ vãng còn loe lói trong đầu một đứa con gái mười tám tuổi được tặng danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ” toàn Miền Nam và cô nữ “Dũng sĩ” ấy đã yêu một chàng .. nhưng chuyện lại không thành mặc dù cả hai người vẫn yêu nhau.

Có một lần ở đâu đó trên đất Củ Chi rực lửa vào một buổi chiều, anh có nói với em một câu và trước đó em đã tặng anh một bài thơ lục bát. Đến nay anh còn nhớ bài thơ này. Anh vốn là một người nhận được rất nhiều tình yêu, từ Hà Nội đến Mã Đà, từ Suối Cụt, suối Tha La đến Củ Chi Trảng Bàng nhưng để rồi chẳng giữ được mối tình nào cả. Bởi vì anh đâu có đứng lại lâu ở một nơi nào để mà nhận lấy. Cái chết đối với anh như bỡn như đùa. Đánh cả trăm trận, bị thương ngót chục lần, chết đi sống lại vài ba lượt. Cái Tiểu đoàn mà anh chỉ huy đã mất ít nhất là ba Tiểu đoàn trưởng. Anh là người thử tư. Nhưng anh là kẻ “thọ” nhất trong các vị Chỉ huy và với anh, nó được mệnh danh là Tiểu đoàn Thép. Bây giờ nhớ lại anh mới thấy rằng cả anh lẫn em đều bị bọn Bắc Kỳ lợi dụng mà không biết. Chúng thí mình như những con chốt lót đường.

Chiến thắng xong rồi, dân Nam kỳ mình được gì ?

Là một người dân lưu vong anh hằng mong đất nước phồn vinh, dân tộc Tự do và những bạn bè cũ của anh, trong đó có em, được hạnh phúc. Nếu như không nhìn nét mặt của em trong sách thì anh đã có thể quên hết Hai Ngàn Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi của anh, nhưng khổ nổi là anh đã gặp lại em quá ư đột ngột.

Anh đã có lần nói với em về Lệ rồi. Lệ yêu anh cũng đột ngột như em. Rồi xa anh cũng đột ngột như em xa anh vậy. Lệ làm liên lạc thành rồi bị ông Tư Kiệt bắt về làm thư ký cho ông ta. Thủ trưởng và nhân viên lại ở chung một hầm. Ông ta quá ư ẩu tả. Để đề phòng việc tệ hại nhất rất có thể xảy ra, Lệ đã dùng giấy pơ luya để bịt cửa mình. Lệ đã nói hết với anh ở Suối Cụt. Lúc đó anh cũng đã chán nản trước tình hình càng ngày càng xấu ra. Lệ bảo thật với anh đây là lần gặp anh cuối cùng. Và Lệ đã cùng anh sống một đêm vợ chồng bên bờ suối… Một trái pháo mồ côi đã nổ rất gần lều, suýt chút nữa là hai đứa rửa chân lên bàn thờ. Hôm sau Lệ đi công tác và không về nữa.

Chuyện Lệ đi, dù anh biết trước nhưng không cản ngăn một lời. Ông ta đã thế thì nàng phải thế. Và anh nữa, anh cũng phải thế. Chứ còn biết làm thế nào ? Anh nói vậy chắc em hiểu mà. Và từ chuyện này em hiểu ra những chuyện khác.

Sau khi Lệ đi rất lâu, em theo du kích quận đánh đồn Thái Mỹ. Trước khi xuất quân, đáng lẽ em phải hỏi ý kiến “Tiểu đoàn trưởng ” chứ. Nhưng em đã đi đánh liều. Nghe súng trận nổ anh lập tức dắt tổ trinh sát chạy đến. Cũng vừa lúc du kích võng em về. Anh đã biết trước các em không đánh nổi mà. Anh chỉ còn biết băng vết thương trên ngực của em bằng tấm áo của anh và cả tấm lòng xót xa quặn thắt của anh nữa. Ngày nay mỗi lần nhìn tại vết sẹo trên da thịt em, chắc em nhớ lại lúc băng bó cho em, anh đã nói với em câu gì.

Sau đó ít lâu anh nghe tin em bị du kích Bàu Me ở Trảng Bàng bắt trói vì em đang mang AK trên đường ra Ấp Chiến Lược hồi chánh. (thì cũng như anh hùng Nguyễn văn Song trốn về Nam. ) Thế nhưng trong chương sách kể lể chiến công của “Nữ dũng sĩ gan góc” Bảy Mô ông tác giả đã giao cho nàng một “Công tác quan trọng ở vùng biên giới Việt Miên” cho đến khi hòa bình.

Đúng ra, em có đi công tác ở biên giới thật, nhưng là công tác cấp dưỡng đặc biệt cho Bà Phó Tư lệnh Ba Định. (Vì là một “Dũng sĩ” nên du kích không dám đụng tới em, chứ nếu là ai khác thì chúng đã bắn chết ngay rồi.) Chuyện Củ Chi dài quá em nhỉ! Định ngưng mấy lần nhưng ngưng chưa được.

Còn một ông anh hùng khác cũng bị nêu tên trong sách này. Đó là Nguyễn Thành Linh. Một tên Bắc Kỳ vô Củ Chi và chiến đấu bằng địa đạo trong vòng năm năm liền. Hắn được tác giả mô tả như một kiến trúc sư của địa đạo chiến. Vậy ra trước khi hắn vác mặt vô đây, dân Củ Chi không biết đào hầm hố hết? Nhưng địa đạo hay hầm bí mật đâu cần phải kiến trúc sư mới làm được. Cuộc sinh tồn mọi người đẻ ra sáng kiến để tự bảo vệ thôi:Anh ở Củ Chi năm năm có thấy tên nào Nguyễn Thành Linh đâu! Nhưng anh biết hầu hết tất cả địa đạo Củ Chi. Chỗ nào anh cũng biết miệng địa đạo, hoặc đã xuống địa đạo thử trước rồi. Anh đã lội nát Củ Chi không sót một mảnh rừng nào mà. Tất cả những tên làng, tên ấp tên người trong quyển sách này là thật. Đây là sự trần truồng không tiểu thuyết hóa một chút nào. Anh có thể điểm qua tất cả địa đạo trong quận Củ Chi cho em nghe: Bến Dược 200m, đồn điền Sinna 500m, Hố Bò 200m, Phú Hòa 200m, Lộc Thuận 200m. Gần đồn điền Sinna 150m, Trà Dơi 150m, Xóm Trại Giàn Bầu 100m, Xóm Bàu Hưng 300m, Xóm Thuốc 200m, 200m, Xóm Chùa 200m, ấp Bến Mương 100m, Góc Chàng 500m, Cây Điệp 150m, Nhuận Đức 100m, 100m, Bầu Tròn 100m. Bào Cạp 100m, 50m, Bầu Diều 100m, Ba Gia 100m, Bên Cỏ 100m, Đường làng II 100m, 50m. Hoàn toàn không có cái vòng đai sắt nào chung quanh hoặc dưới đít Đồng Dù cả. Ông Phạm Sang chỉ có thể nghe Bob Hope hát ở Đồng Dù từ trong hang ếch của ông ta và trong trí tưởng tượng thôi.

Sở dĩ có danh từ vòng đai thép bao bọc Đồng Dù, như em đã biết là do ông Tám Quang, trưởng phòng chính tri quân khu bịa báo cáo về R cùng với sự thành lập đội nữ du kích Củ Chi của tụi em với Bảy Nê, Út Nhớ chẳng qua để quay phim, chụp hình và đài giải phóng tuyên truyền mà em đã cười khi ngồi tâm sự với anh lúc mới quen nhau. Chớ đội nữ có đánh chát cái gì. Toàn do ông Tám Quang sáng tác và đài giải phóng phóng đại.

Nếu như có một hệ thống địa đạo Củ Chi thôn liền thôn, xã liền xã thì tại sao khu ủy khu IV chạy tuột lên tận Preyveng để ăn hút. Me xừ Tư Kiệt còn sống sờ sờ đó hãy bớt nói phéc để khỏi bị cô Tám Lệ nhét mồm bằng giấy… pơ luya.

Chúng ta hãy cùng nhau cúi hôn mảnh đất Củ Chi đau khổ của chúng ta hiện nay đang nhục nhã vì bị bọn Cộng Sản đem ra làm trò bịp thế gian.

Cộng Sản nghĩa là đại bịp. Chúng bịp nhân dân, bịp thế giới và tự bịp chính mình. Anh muốn tự ngưng bút ở đây nhưng thấy còn nhiều sự thực bị bưng bít nên viết tiếp. Hai ngàn trang sách mà anh viết ra đây sẽ vạch trần bộ mặt láo toét kinh hoàng của bọn Cộng Sản Hà Nội mà cả anh lẫn em đều là nạn nhân. Anh muốn nhắc chúng nó rằng thời kỳ Mỹ đóng chốt Đồng Dù, Củ Chi chỉ là một bãi tha ma không một bóng người thấp thoáng, không một gốc cây còn đứng nguyên, không một tiếng chó sủa gà gáy. Tất cả xã ủy đều chết, bị bắt, hồi chánh hoặc ngưng hoạt động. Ông Út Một Sơn bí thư đầu tiên Củ Chi bị pháo Đồng Dù bắn lắp hầm chết ở Bàu Lách Nhuận Đức năm 1966. Chắc em còn nhớ chớ? Nếu địa đạo Củ Chi nối liền thôn xã (theo ông tác giả ngốc này mô tả thì nó chỉ kém đường xe điện ngầm ở Mạc Tư Khoa chút thôi) thì sao quận Củ Chi lại cắt ra làm hai: Nam Chi, Bắc Chi ? Là vì cán bộ không đi lại được giữa hai phần đất này. Người ở đâu nằm chết ở đó. Mỗi sáng lóng ngóng chờ “chụp dù, nhảy dò, xe tăng càn” để lũi. Nhưng cũng không có đất lũi. Chỉ còn một cách độc nhất là làm hầm. Mỗi ông bà có một cái hầm bí mật (nên nhớ hầm bí mật chỉ là một cái hang ếch chứ không phải địa đạo và không có hầm bí mật nào ăn thông ra địa đạo cả ) Sư sợ hãi chết chóc làm tê liệt mọi ý chí. Cán bộ chỉ mong bị bắt sống cho khỏe thân. Cho nên họ ngồi trên miệng hầm ngụy trang với vài cành lá sơ sài như những người câu tôm câu cá ở bờ sông vậy. Do đó có danh từ “ngồi thum. ” Nhưng ngồi thum trong vùng căn cứ cũng không an toàn vì bị máy bay trực thắng cá rô hay quạt hoặc bị ăn pháo bầy dọn bãi trước khi Mỹ đổ chụp. Nên các bà Năm Đang, Hai Xót, khu ủy, quận ủy mới ra tá túc nhà dân ở Ấp Chiến Lược để “chạy lan” như chuột mất hang. Chạy lan có ngày cũng chết như trường hợp của cô Tư Bé, quận đội phó bị lính Mỹ bắn chết ở Đồng Lớn. Hay ông Tám Châu bí thư quận bị pháo bắn mất đầu ở Bố Heo.

Chắc em biết rõ sự chia cắt của các xã trong quận vì tình trạng “ngồi thum” và “chạy lan”. Xã Trung Lập đẻ ra Trung Lập thượng, Trung Lập hạ, An Nhơn nứt thành An Nhơn Đông, An Nhơn Tây, Phú Hòa cắt thành Phú Hòa Đông, Phú Hòa Tây v. v. . .

Tội nghiệp cho Madeleine Riffaud, Wilfred Burchett và mấy ông Giáo sư Liên Xô đã vượt hiểm nguy vô tận đất Củ Chi và rừng Con Mên để coi giải phóng đánh Mỹ! Tội nghiệp, vô tới đây họ chỉ ăn bom và lũi như chuột đến nổi đòi về ngay không biết cái địa đạo là gì. Cũng may cho bọn anh lúc đó. Nếu cặp ký giả ba sồn này ở lại lâu hơn và họ đòi đi nghỉ mát dưới địa đạo ngay ở đít Đồng Dù thì rắc rối to cho các anh rồi.

Đến nay mụ đầm già không biết gì kia đang ở đâu, sao không trở lại xem địa đạo Củ Chi do kiến trúc sư Nguyễn Thành Linh mới vừa xây dựng năm 1985 ? Nhớ tới W. Burchett anh không khỏi phì cười. Lão ta nằng nặc đòi xuống địa đạo và xem các dũng sĩ bố trí địa đạo chiến cho hắn quay phim. Anh và Tư Linh hồn vía lên mây. Địa đạo ở đâu mà coi? Kể từ năm 1965 trở đi, sau khi Củ Chi ăn dưa hấu B52 vài trận, ai cũng thấy những lỗ bom sâu từ sáu thước đến mười một thước cho nên không ai dám cho rằng địa đạo là bất khả xâm phạm nữa. Cực chẳng đã mới chui hầm bí mật thôi.

Tư Linh vốn là cán bộ địch vận, nhanh trí bảo Burchett: “Người đồng chí hơi to, vậy để chờ vài hôm tôi cho làm nắp rộng để đồng chí xuống mới lọt. ” Sau đó khất lần rồi cho qua luôn. Còn vụ xem địa đạo chiến thì anh cho đội dũng sĩ của em bịp hắn một cú thần tình, nhớ không? Hắn rất phục đội dũng sĩ. Đến nay hắn đã chết rồi, hắn vẫn chưa biết địa đạo là cái gì.

Em Mô thân,

Chuyện Củ Chi, chuyện anh và em nhiều vô số kể. Nhắc chuyện này lại nhớ chuyện kia. Nhắc Hố Bò nhớ Góc Chàng, nhắc Bến Mương nhớ Suối Cụt, nhắc Thái Mỹ nhớ Đồng Dù, toàn những kỷ niệm máu lửa không thể quên được. Nhớ cảnh nhớ người khôn xiết. Ba bốn lần anh bị thương ở Củ Chi đều có em băng bó hoặc tới y xá săn sóc. Anh đã tựa đầu vào vai em, anh đã nằm trên xuồng do em bơi qua sông Sài gòn, anh đã cùng em ngồi ở rừng Lộc Thuận ngắm pháo sáng tua tủa trên nền trời Củ Chi. Anh và em đã từng hái những trái sầu riêng trong vườn sau nhà em và ngồi ở bậc đá bên con suối nhỏ. anh thì ăn sầu riêng còn em đàn bản Đứt Đường Tơ cho anh nghe. Anh bảo em: “Tơ đâu có đứt mà đàn bản ấy. “


duongdinhloiChẳng ngờ đó là bản đàn định mệnh của chúng ta. Bây giờ “Tơ đã đứt” và không phương nối lại, đàn một nơi dây đàn một ngả.

Anh chúc em hạnh phúc. Hy vọng một ngày rất gần, chúng ta sẽ gặp lại nhau và sẽ về thăm lại Củ Chi dưới một khung trời mới.

Viết xong lúc tượng con quỷ chúa Lenin bị giật sập ở Mút-cu-oa

Dương Đình Lôi

Hoa Kỳ, ngày 24 tháng 8 năm 1991

Chương 1

Người liên lạc đi rồi tôi cảm thấy bơ vơ. Lạ người lạ cảnh. Bốn bề hoang lạnh. Ngôi nhà mà anh ta bảo với tôi là “Trạm thường trực I/4” chỉ là một cái chòi trống hốc, gió lọt bốn bề. Nó chỉ có cái nóc, gió thổi xước lên như lông chim còn vách thì lưa thưa, đôi tấm lá cũng rung rẩy như răng rung mỗi khi bị luồng gió mạnh đập vào. Theo thói quen đã có từ lâu như một quán tính, tôi ngó quanh một hồi để tìm đường ẩn trú nếu có gì bất trắc xảy ra thì khỏi lụp chụp rồi tôi vô nhà ngồi trên một tấm ván mà gầm ván là một cái hầm. Trong nhà không có bàn ghế gì đáng kể. Tôi biết tất cả gia tài đều dồn xuống đó. Vốn con nhà pháo nên tôi đi đâu cũng có bản đồ để xác định tọa độ và ước lượng lằn đạn của pháo địch, tôi bèn mở nó ra trải trên bộ ván có vài vết đạn như tự dựng lên cho mình một cái bàn giấy. Tấm bản đồ này do Phòng Tham Mưu vẽ lại căn cứ trên những tấm bản đồ cũ của thời Pháp và những thực tế thu lượm được qua cửa miệng đồng bào đi ra đi vào khu giải phóng và tạm chiếm. Sự thực có thể chính xác bảy tám chục phần trăm. Nhưng như thế cũng đã là quí lắm. Vì nếu không có nó, người chân ướt chân ráo như tôi, nhất là pháo binh, cũng như mù.

Quận Củ Chi này, cũng không xa lạ gì với tôi lắm. Thời kháng chiến chống Pháp tôi cũng thường đóng quân ở đây, khi đó mới mười ba tuổi. Bây giờ đã trên ba mươi. Có cái gì giữ nguyên vẻ cũ ? Nhất là đường sá bị bom đạn tàn phá, làng mạc bị san bằng. Từ ngày Mỹ vô đây, không còn một con đường nào còn nguyên vẹn. Dân công, bộ đội, cán bộ và dân chúng toàn cắt đường mới xuyên qua rừng cao su, rừng tràm, trong cỏ mà đi để tránh làn đạn bộ binh pháo binh địch và sự theo dõi của phi cơ Mỹ.

Củ Chi là một quận lớn của tỉnh Hậu Nghĩa, phía Bắc chạy dọc là con sông Sài Gòn, phía bên kia sông là quận Bến Cát tỉnh Bình Dương, phía Nam lấy ranh giới Cầu Bông thuộc quận Hốc Môn tỉnh Gia Định. Còn phía Tây Nam và Tây Bắc thuộc địa phận Đức Hòa và quận Trảng Bàng thuộc Hậu Nghĩa. Củ Chi gồm có mười lăm xả: Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Trung Lập, Phú Hòa Đông, Tân Thạnh Đông, Trung An, Phước Vĩnh Ninh, Phước Thạnh, Phước Hiệp, Thái Mỹ, Tân An Hội, Tân Thông Hội và Tân Phú Trung.

Củ Chi mang trên mình nó một đoạn Quốc lộ 1 chạy từ Suối Sâu (quận Trảng Bàng) tới Cầu Bông (quận Hốc Môn) và tỉnh lộ 15 chạy cặp sông Sài Gòn từ Bến Dược tới Ngả Ba Tân Qui. Tỉnh lộ 7A nằm vắt ngang từ chợ An Nhơn Tây ra tận Suối Cục đến làng Thái Mỹ. Tỉnh lộ 8A chạy từ Bào Trai qua thị trấn Củ Chi nối liền với thị xả Bình Dương. Ngoài ra trên giữa mình của quận có con lộ đất, dân địa phương gọi hương lộ 2, rộng đủ hai chiếc xe bò đánh ngược chiều hay qua mặt nhau, chạy từ Bố Heo (quận Trảng Bàng) xuống Trung Hưng rồi thẳng tới chợ Tân Phú Trung. Ngay tại ngả tư góc đường số 2 và tỉnh lộ 8A là cửa ra vào của một căn cứ Sư Đoàn Bộ Binh 25 Hoa Kỳ, cũng còn gọi Sư đoàn Tia Chớp Nhiệt Đới. Căn cứ hoàn thành vào giữa năm 1966 trên một cánh đồng rộng khoảng một ngàn năm trăm mẫu tây. Trước kia quân đội Pháp dùng bãi đất trống này để tập nhảy dù, nên có tên gọi Đồng Dù. Ban đêm ra lộ số 8 nhìn thì căn cứ Đồng Dù với hàng nghìn ánh neon điện phủ vòng quanh hơn mười cây số, y hệt một thành phố lớn. Một tiền đồn của quân lực Việt Nam Cộng Hòa tợ lưỡi lê thọc vào giữa rún Củ Chi Việt Cộng, nằm trên chóp một ngọn đồi cao trên tỉnh lộ 7A, là đồn Trung Hòa có chuồng cu cao quan sát đến vùng Hố Bò, An Nhơn Tây và tận sông Sàigòn có có bãi pháo 105 ly, súng cối, và sân bay. Đồn này bị bọn Việt Cộng căm ghét nhứt vì như cây kim thọc vào mắt Củ Chi, cả quân khu 4 của chúng. Ngoài ra trên mình Củ Chi còn hàng trăm đồn bót lớn nhỏ đóng thành hệ thống chằng chịt có liên lạc với nhau bằng mọi thứ phương tiện truyền thông nhanh chóng. Bên ngoài quận Củ Chi về phía Tây Nam là thị trấn Đức Hòa, nơi thiết lập căn cứ Sư Đoàn 25 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa. Và về phía Bắc, trong tầm đại bác 175 ly phía bên kia sông Sàgòn trên quốc lộ 13 là chi khu Bến Cát và căn cứ Sư Đoàn 5 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa tại Lai Khê. Còn ở phía Tây trên quốc lộ 1 thì có chi khu Trảng Bàng, bốn nòng pháo 105 ly thường xuyên hướng về vùng Cầu Xe, Trảng Cỏ và các xã phía Bắc của quận Củ Chi. Trong lúc đó có một vùng được khoanh ở giữa nằm cạnh bờ sông Sàigòn, thuộc xã An Phú là căn cứ lưu động của Bộ Tư Lệnh Quân Khu 4 Việt Cộng và trên bờ của con Rạch Sơn, một ấp được gọi tên ấp Bến Mương, thuộc xã An Nhơn là căn cứ của quận ủy và quận đội Củ Chi Việt Cộng, nằm giữa chừng đón làn đạn pháo binh từ bốn phía của quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Đồng Minh Hoa Kỳ.

Cũng cần nên nhớ từ Sàigòn đến Củ Chi, tính đường chim bay thì chỉ là một khoảng ngắn chừng hai mươi lăm cây số cách sân bay Tân Sơn Nhứt và khoảng ba mươi lăm cây số cách sân bay Biên Hòa, nên phi cơ từ đó đến chỉ trong vài giây đồng hồ. Tưởng nên biết thêm quận Củ Chi Việt Cộng, theo sự phân chia lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa có quận Phú Hòa, thuộc tỉnh Bình Dương lại nằm trong phần đất của quận Củ Chi, vì vậy ngoài Sư đoàn 25 Hoa Kỳ, đơn vị chính yếu phụ trách chiến đấu ở vùng lảnh thổ này, còn có các đơn vị của hai Sư Đoàn Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa là Sư Đoàn 5 và Sư Đoàn 25 liên đới phụ trách an ninh của vùng quốc gia hiểm hóc này.

Bạn đọc theo dõi chiến trường này thường xuyên xem bản đồ và chịu khó nhớ địa danh quen thuộc như Hố Bò, Bời Lời, Bến Dược, Bến Súc, Cầu Xe, Nhuận Đức, Phú Hòa, An Nhơn, Phước Hiệp, Đồng Dù, Thái Mỹ, Bùng Binh…Toàn những tên làng tên xóm, không như ở Trường Sơn cả ngàn cây số mà mà không có một cái tên. Với màu đất đỏ, hình thể Củ Chi như một miếng bít-tết cắt vụng. Ở xã Thái Mỹ, mỏm đất nhô ra như mũi Cà Mau. Theo bước chân chúng tôi dần dần bạn sẽ làm quen với vùng lửa đạn ngút trời này. Để xúi dục người dân Nam Kỳ xô nhau nhào vào cái chết, bọn Hà Nội đã kê nó lên thành hình tượng phi thường, nào “Đất Thép Thành Đồng” nào “Dũng sĩ Diệt Mỹ” … Ai không biết vừa nghe mấy tiếng đó thì vô cùng thán phục, nhưng sự thực đó chẳng qua là sự hi sinh phí uổng được thêu dệt thành thần thoại để lừa bịp toàn quốc và cả thế giới, trong đó cả nhân dân Hoa Kỳ, đặc biệt nữa là nhân dân Việt Nam.

Tôi xếp bản đồ và nhanh nhẹn đút nó vào ba lô vì nghe hình như có tiếng động tới gần. Tôi ngó ra tứ phía. Đó chỉ là cái cảm tính, cái cảm tính của một kẻ luôn luôn tránh né đám đông nên lúc nào cũng sợ người khác nhìn thấy mình, chứ thực sự thì chẳng có ai tới cả.

Hố Bò của chin năm kháng chiến không còn giữ một nét quen nào, cả người lẩn cảnh. Hồi năm 1949, 1950 Hố Bò này là nơi ăn dầm nằm dề của anh Ba Tô Tý và đàn em là Đào Sơn Tây, Hồ Thị Bi. Họ đã nổi danh vì tàn sát đạo Cao Đài, chặt đầu lấp các giếng mủ cao su ở Bàu Lách, Phú Hòa, Rừng Làng, Đồng Chà Dơ.

Mới đây mà đã ngót hai mươi năm. Hồi đó anh Ba còn trẻ lắm, mới suýt soát năm mươi tuổi. Tuổi đó được các em gái cháu gái gọi là chú, bác, dễ gì cưa sừng làm nghé, nhung nhờ Hội Phụ Nữ Cứu Quốc Thủ Dầu Một làm ông tơ bà nguyệt khéo xe duyên nên một cô em chưa đầy hai mươi đã khăn áo băng sông Sàigòn qua làm lễ đại tuyên hôn tại rừng Hố Bò này, dưới ánh sáng mấy chục cây đèn măng-xông. Lính tráng tha hồ chén chú chén anh, vật ngã ba con bò và uống không bị “điên đầu” mà hay nổi khùng đập lính, đánh dân, diệt đạo như đồ bỏ nữa. Có lẻ biết cái tính quân phiệt của anh Ba mình nên ngoài Trung Ương gởi vô một ông chính trị gia già dơ để kềm anh Ba lại. Ông ta tên là Đào Công Tâm. Nhưng vừa mới chân ướt chân ráo vô đến đất thành Đồng, ông Tâm đã chui vô mùng cô Thắm con gái ông chủ nhà đóng quân. Việc này vở lở ra làm ông “Công Tâm” hóa ra ông “Vô Lương Tâm” và mất luôn chức vụ Trung Đoàn Trưởng vừa mới lảnh.

(Sau này 1952, tôi xuống khu 9, lại gặp ông Tâm bất lương làm trưởng ban chính trị Cần Thơ. Không biết ông ta còn nhớ tôi không, hay làm bộ quên đi cho đỡ thẹn ? Còn tôi thì làm sao quên được ông Trung Đoàn Trưởng vào cái đêm đó bị chủ nhà bắt được lôi đầu ra, mặt mày tái ngắt, tiếng nói lắp bắp và cặp mắt chớp lia dưới ánh đèn dầu? Ở Cần Thơ ông lại tiếp tục làm chính trị. Lúc đó thấy ông có ghe mui ống, dưới ghe có mười một nường và hai nhóc con. Con đường chính trị của ông xem mòi khá phát đạt).

Tôi không muốn nhớ lại những ngày Hố Bò xưa nên chui ra ngoài đi loanh quanh căn chòi. Ngay sau nhà có một lỗ giếng sâu hun hút. Đáy giếng là một mảng trời sáng chiếu ngược lên .Tôi ngó quanh tìm chiếc gàu, chợt nhớ ra cả ngày nay, bi-đông cạn nên không uống nước. Bây giờ thấy nước mới nhớ ra mình cần nước. Cạnh giếng có một giàn mướp xơ xác với mấy trái đèo cong quắp như lưng đàn ông vác gạo. Trên đầu giàn một chiếc gàu làm bằng nhôm trắng , dễ thường nhặt từ một vỏ bom napalm đâu đây. Chung quanh miệng giếng không thấy nước nhiều ướt đất, sợi giây cuốn chung quanh gàu rất vén khéo, chứng tỏ chủ nhà không có ở đây ít ra là từ sáng tới giờ. Tôi tháo giây chiếc gàu và ném nó vào lòng giếng. Đếm năm, sáu đếm mới nghe nhẹ nhỏm bàn tay: chiếc gàu đã đụng mặt nước, tiếng dội lên thanh thanh.

Tôi múc nước lên rửa mặt gội đầu. Tóc dang ngoài nắng suốt buổi, bụi đỏ bây giờ được gội, nước chảy xuống hồng hồng hòa lẩn trên mặt đất đỏ. Đất bụi lại trở về bụi đất. Tôi múc một gàu uống thỏa thuê rồi đem tưới vào gốc mướp. Chắc nó cũng khát như mình. Bụng tôi no óc nóc, mỗi bước đi nghe khua như trái dừa khô. Với mấy chén cơm lua vội cùng mấy hạt đậu phọng rang ở trạm quân báo, tôi ngồi xe đạp vượt qua khu Bời Lời, vọt nhanh qua vùng Trảng Cỏ, qua cánh đồng cập lộ số 6 đến xóm Cầu Xe theo dọc con lộ 15 mới đến Suối Hố Bò. Bây giờ đói như cào. Mặc dù vậy vẩn nhớ chỉnh trang sắc đẹp tí ti. Tôi móc chiếc gương con gắn trên dây bầu soi mặt và chậm rãi “bừa” lại mái tóc bằng chiếc lược sừng mang từ Bắc về đến đây chưa mất. Tôi nhận thấy cặp mắt có quần đen và sâu hút như hai cái vỏ ốc bưu.

Tôi bỗng giật mình quay lại. Một người con gái. Ờ! Chắc là con gái. Vóc người gọn lẳn. Đầu bịt khăn rằn quấn bít cả cổ, chỉ còn ló cái chót mũi như sợ nắng làm hư hỏng dung nhan. Lưng áo bà ba đen đã bạc mầu, hai ống quần xoắn cao phô đôi ống chân trắng. Đây không phải là nước da nhà nông.

– Chào…. Chị!

Tôi buột miệng nói như máy và hơi gượng gạo vì tiếng “chị” đặt không đúng chỗ. Chị ta không có vẻ xúc động gì với tiếng chào của tôi đã đành, cũng không biểu lộ một sự thay đổi nào trên nét mặt khi đụng đầu một gã đàn ông, loại người tới lui trạm này có lẽ như cơm bữa.

Chị đi thẳng lại lấy gàu múc nước “rửa mặt mèo” qua loa rồi xối lên chân, xong lẳng lặng gác gàu lên giàn mướp và đi vào nhà. À! Ra đây là nhà của chị. Hay chị ta là trạm trưởng? Không rõ. Trạm trưởng gì là đàn bà. Từ trạm 1 Làng Ho tới R, từ R đến đây, có ai là phụ nữ làm trạm trưởng đâu! Trạm viên thì có những chị từ R xuống Củ Chi thôi. Miệt Bình Long Phước Long cũng không có. Điều làm cho tôi thích thú là tôi được gặp được một người con gái của miền quê Nam Bộ thật, nghĩa là người con gái với hai bàn chân đứng trên mảnh ruộng miếng vườn của họ chứ không phải người con gái Nam Bộ bị bốc ra khỏi bản sở ném vào rừng sâu để trở thành người rừng không còn hình hài gì nữa, kể cả dáng vóc dịu dàng lẩn sự nhuần nhị trong ngôn ngữ. Chẳng còn thứ gì trong con người còn nguyên ở những vùng ma thiêng nước độc Trường Sơn, kể cả lối suy nghĩ hằng ngày.

Chị ta có vẻ phớt lờ, không cho sự có mặt của tôi là cái nghĩa gì, nên không hỏi han gì tôi cả. Tôi đứng xớ rớ một hồi lấy cái gương bỏ túi rồi đi theo chị vô nhà.

-Đây là trạm à…chị?

-Phải !

Chỉ vừa đáp vừa chui xuống hầm dưới đít ván lục soạn mấy đồ vật lộp cộp rồi một hồi mới trở lên với cái nồi đất trên tay. Chắc là nồi gạo nấu cơm chiều.Chị ta đã thay chiếc áo bạc màu bằng chiếc áo bà ba màu xám mới hơn, nhung ngắn tay. Chị ta vừa hất hàm vào cái ba lô của tôi để trên góc ván vừa hỏi tôi :

– Đồ đạc của anh đó hả ?

– Dạ. Anh liên lạc quân báo ở Trảng Cỏ chở tôi tới đây.

– Chắc cái anh . …..Ờ! mà bữa nay đâu phải chuyến đi!

– Dạ. Tôi không biết gì hết . Họ dắt đi thì đi, họ bảo nghỉ thì nghỉ. Họ bảo ở đây chờ thì tôi ở đây chờ có biết gì. Chị thứ mấy? Tôi thứ hai. Biết thứ để xưng hô cho dễ ạ!

– Tôi tên Lụa.

Chị ta gạt cơm nguội trong nồi ra và làu bàu:

– Mấy ông nội đó ẩu lắm. Cứ đem bỏ khách ở đây rồi đi. Rủi có chuyện gì ai dắt chạy? Đã xảy ra mấy lần rồi chứ phải chưa đâu.

Tôi hơi bối rối.

– Giao liên ở đâu cũng vô trách nhiệm như nhau. Họ trút khách ra khỏi trạm rồi thì thôi, Không cần cần đếm xĩa tới nữa. Bây giờ chị làm ơn chỉ đường cho tôi về phòng Chính Trị I/4 được không chị?

– Chị gì mà chị! Kêu vậy tội chết. Nhưng tôi đâu có biết chánh trị chánh trọt gì. Ở đây toàn là U60, U80 ..anh ở U nào?

– Tôi cũng không biết U nào là U nào!

– Trời đất ! Vậy anh đi đâu? Ai đưa anh tới đây?

– Cái cậu gì trăng trắng có vẻ học trò.

Lụa có vẻ hơi vui lên, nói huyên thiên”:

– À Chú Lạn. Chú Lạn là người của đường dây. Chú ấy mới lắm! Không biết gì đâu. Học sinh ngoài thành. Ông già công tác trong nầy kêu vô để cho đi Liên Sô học hành gì đó. Rồi không biết tại sao cứ ở đây làm liên lạc chở khách bằng xe đạp! Thôi đã tới đây rồi thì anh cứ ở đây đi, tôi nấu cơm cho anh ăn. Ngày mai sẽ có chuyến giao liên tới móc anh đi. Một người thì tôi giúp được, chớ nếu đông thì tôi chỉ cho ra rừng tìm chỗ nấu cơm lấy.

– Đây là nhà của chị à?

– Biểu đừng kêu chị. Anh còn hơn tuổi anh Hai tôi nữa mà! Nhà của tôi họ lấy làm trạm đó mà!

– Vậy tôi cám ơn cô lắm. Tiền nong tôi tính cả cho

– Hổng sao. Cứ vài ngày thì trạm thanh “tán” cho tôi một lần. Gạo thì tiêu chuẩn mỗi người khách một lít một ngày, còn tiền ăn thì tám cắc nhưng trạm vừa xin lên được đồng hai. Cơm ngày hai bữa. Một cái trứng vịt cũng mất hết sáu cắc rồi, làm sao nấu cho khách ăn ngon. Khó lắm!

– Thời kỳ này có trứng vịt ăn là quí rồi cô ạ.

– Bộ anh là Mùa Thu hả?

– Sao cô biết?

– Gì mà không biết. Thấy tướng là nghe tiếng nói “cả, cả, ạ, ạ. hột vịt lại kêu là trứng vịt”, không lai Bắc là gì. Với cây súng kia nữa. Trong này có súng nhưng khác.

Lụa nói vậy rồi bước ra cửa. Nàng bảo:

– Anh ở nhà coi nồi cơm, đừng cho khói lên khu trục nó phát hiện, nó đến dội bom. Tôi đi xuống xóm mua đồ ăn một chút rồi về.

– Ở đây gọi là gì vậy cô?

– Hố Bò.

– Cũng Hố Bò chứ không đổi tên gì khác. Hồi chin năm (*) tôi cũng có đóng vùng này.

(*) Chín năm: Danh từ để gọi thời gian chiến tranh Việt Pháp từ tháng 9-45 đến tháng 7-54

– Vậy nữa? Nói vậy anh kháng chiến hai mùa à?

– Cũng đâu đó. Đi mút mùa tưởng hết về xứ chớ!

– Ai biểu đi chi rồi bây giờ than. Ai về tới đây cũng than cái giọng đó hết trơn.

– Đâu phải ham hố gì cho lắm, nhưng ra đi rồi quay lại không được.

Câu chuyện cứ kéo dài làm Lụa không dứt đi được. Bỗng nhiên Lụa bật cười hỏi:

– Anh có thấy Tây ăn mắm sống hồi chín năm chứ?

– Hồi đó cô bao nhiêu tuổi mà hỏi?

– Không bao nhiêu tuổi nên mới hỏi anh cho biết.

– Bộ đội tôi có bắt được Tây chứ chưa thấy tụi nó ăn mắm sống.

Lụa cười khoe hai hàm răng trắng và đều. Nàng úp mặt vào bẹ cửa mà cười cười run run đôi vai, một lúc quay ra, quẹt ngang mắt.

– Cười ra nước mắt anh ạ.

– Cười tôi hả?

– Không, cười mấy ông Liên Xô ăn trứng vịt luộc dầm nước mắm!

Tôi sửng sốt kêu lên:

– Liên Xô gì ở đây?

Lụa gật đầu quả quyết .

– Có chớ ! Không có ai đặt chuyện được.

– Liên Xô tới đây làm gì?

Lụa cười ngặt nghẽo .

– Ai biết đâu. Nhưng làm em phải chạy đi mua đồ ăn quýnh quáng. Bữa đó rủi quá, tàu về trể, Bến Dược không có thức ăn. Em phải mua một chục hột vịt về luộc lột vỏ dầm nước mắm cho mấy ổng ăn cơm.

– Mấy ổng ?

– Có một ông mà lo sản hoàng còn mấy ông nữa? Tức cười quá đi. Ông húp một muổng rồi phun phèo phèo đầy râu ria.

– Sao vậy?

– Chắc mặn quá chớ gì?

– Rồi làm sao?

– Chú Lạn, bày ra sáng kiến nhồi cơm cho ổng chấm vô dĩa trứng vịt. Sau cùng ổng ăn được khá, ổng đói nên ăn hết hai nồi cỡ đang nấu trên bếp đó. Ổng lớn quá trời đi. Chú Lạn đèo không nổi. Phải bổ sung thêm một chú nữa. mỗi chú đèo một khúc là phải thay phiên. Trên pộc-ba-ga phải gắn một cái thùng ổng mới ngồi được, ngồi như mình ổng sẽ té! Chú Lạn là tay chạy xe đạp số một trên đường này. Gặp lúc pháo bắn trên đường chú cũng chạy càn. Gặp những khúc nhiều hố pháo chú đều lao lách qua lại nhanh chống mà khách không té, rễ cây chặn giữa đường chú cũng tránh thật tài, nói chung con đường đâu có thẳng và bằng như con đường hồi mấy năm trước, cỡi xe khó lắm, lơ mơ là lăn xuống hố ngay, nhưng chú chạy rất an toàn nên được đặt tên là Lạn đó.

– Lạn chớ không phải là Lạng à?

– Lạn là lao lách chứ không phải lạng là lượng đâu! Do đó mà chỉ có một chú ấy mới được gọi là Lạn thôi còn mấy chú khác cũng cỡii nổi xe nhưng không được gọi là lạn.

Tôi gật gù tán thưởng:

– Nghe cô nói bây giờ tôi mới nhớ lại. Chú ấy lạn tài thiệt. Đôi khi chỉ mười thước đường mà có đến ba cái hố, chú vẫn lạn nhanh và rất an toàn.

– Chở nhẹ thì lạn còn dễ, chứ chở một ông 150 ký lô mà vẩn lạn được mới là tài chứ anh!

– Ông Liên Xô đi đâu rồi?

– Ai biết! Nhưng nay mai chắc rồi anh sẽ gặp ông ấy trong cơ quan chứ gì. Oái trời đất, nếu ổng đi chung với Tây với Mỹ chắc người ta cũng nói là người Tây hoặc Mỹ.

– Thì họ cũng như Tây với Mỹ chớ gì

– Nếu mấy ổng đi lạc vô xóm chắc du kích khìa mấy ổng quá anh à!

– Ai để mấy ổng đi rời xa

– Ở Hà Nội anh có gặp Liên Xô nhiều không ?

– Có, nhưng ít thôi.

– Nghe nói họ giỏi lắm hả anh?

– Giỏi lắm.

– Tức là sao?

– Tức là giỏi chớ sao nữa.

Cả hai cười với nhau thân mật. Cũng may, nếu Lụa hỏi tới nữa thì tôi không biết trả lời làm sao. Tôi chỉ thấy người Liên Xô thôi chứ không được tiếp xúc với họ như đã gần gủi với người Trung Quốc, những sĩ quan đã dạy cho tôi trong vòng hai năm ở trường pháo binh.

Nhưng mấy lần trông thấy người Liên Xô đều để lại trong lòng tôi những tình cảm khó chịu. Lần đó nghỉ phép, tôi đi Đồ Sơn chơi. Đồ Sơn không xa Hải Phòng. Những thằng bạn quen làm ở Ty Hoa Tiêu cảng Hải Phòng đưa tôi xuống Đồ Sơn. Quả là một phong cảnh hữu tình hiếm có. Chiến đấu cả chục năm chui rúc trong rừng với muỗi mòng vắt đĩa, tập kết ra Bắc thì vùi đầu học tập không có thì giờ xem phong cảnh của chính đất nước mình. Lần đầu tiên nhìn thấy núi non hùng vĩ tiếp giáp với biển xanh và những ngọn núi của Vịnh Hạ Long xa xa đắm mình trong sóng bạc, quả là cảnh Bồng Lai tôi chưa hề trông thấy. Nhưng tình cảm say mê trước cảnh vật lạ lùng chưa dút thì tôi bị chạm trán với một chuyện không hay: Số là ở Đồ Sơn có nhiều khu vực A, B, C. Trong mỗi khu còn phân ra 1, 2, 3. Tức là A1, A2, A3 ….. chỉ khu C là không có cấp 1, 2, 3 mà toàn khu dành cho hạng cán bộ cá kèo và lính 36 đường gian khổ. Chúng tôi chỉ được vào khu C. Nơi đây không có tiện nghi gì hết và chỉ là một bãi cát đầy rác rến và xác thú vật trôi tấp dọc bờ. Khu B khá hơn. Nơi đó có băng đá, có vài ba căn chòi xiêu vẹo và một vòi nước không có .… . nước …. Chúng tôi vừa vào tới cổng thì đụng tấm bảng: KHU DÀNH CHO TRUNG CẤP – “Thôi đi về khỏe hơn ! ” Người ta đồn ở khu A thì có đủ cả: Phòng ăn, phòng tắm, vòi nước ngọt. Anh lính gác bảo “Đó dành cho Bộ, Thứ Trưởng”. Một khu vực bên trong gọi là “Bãi chuyên gia” có cái nhà mát vĩ đại mái đỏ lói trên mỏm núi gọi là Pagodon. Ngày xưa chỉ có Thống sứ Toàn quyền Tây mới được đến, bây giờ thì chỉ chuyên gia Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em có đủ tiêu chuẩn để phơi đùi ưỡn rốn ở vùng cát này.

Một thằng hoa tiêu phát cáu, quát om:

– Đấm b .. ..!Thôi, đi về uống la ve quách. Tắm cái gì thứ nước biển mặn chát đó!

Thấy mấy ông bà “chuyên gia” to xù nằm lăn lóc trên cát tôi cũng muốn nán lại “coi” nhưng thằng bạn cứ la ầm lên làm tôi mất hứng bỏ đi luôn.

Ra thế! Trên đường về Hải Phòng, tôi suy nghĩ lung tung. Chế độ này, chế độ không giai cấp là thế đấy. Cởi truồng tắm biển mà cũng phân chia khu vực nghĩa là cái thá gì.

Từ đó, tự nhiên tôi không có cảm tình với cái danh từ “chuyên gia”. Cho nên hôm nay, nghe Lụa nói với mấy ông Liên Xô gì gì đó tới đây, tôi phát rầu. Lại đặc ân, lại khu A, B, C, lại phục vụ bỏ mẹ. Hồi ở Hà Nội tôi có nghe nói loáng thoáng có một nhà báo Úc tên là Wilfred Burchett đi Nam. Hay là ông này lẻn vào đây? Nếu vậy thì mệt lắm. Ông ta, theo cái hình tôi thấy trên báo và và một anh bạn nhà văn kể lại cho tôi (anh bạn này có gặp hắn ở buổi nói chuyện tại Câu Lạc Bộ Đoàn Kết tại Hà Nội) thì ông ta cân nặng ít nhất cũng một tạ hai. Xe đạp phải lấp đôi mới đèo nổi. Đèo cái cây thịt này sau poọc-ba-ga mà lạn làm sao. Tôi tự nhủ.

Lụa nói:

– Anh ở nhà coi cơm, tôi đi quán mua đồ ăn.

– Quán ở đâu. Tôi đi được không? Nghe nói quán, tôi thèm đi mắc chết. Ở R toàn quán căng-tin bán toàn đồ khô mục và muối.

– Cũng gần đây thôi nhung anh không nên đi. Cán bộ về đây mê hàng hóa thành, cứ đi nhan nhản ở Bến Dược. Ở ngoài tụi nó biết hết rồi.

Tôi móc bóp móc tờ giấy 500, loại giấy bạc Sàigòn đưa cho Lụa và nói:

– Chị ủa cô mua dùm cho tôi vài gói mì, mấy lon cá mòi hộp, một chục trứng vịt, có khô mắm gì mua luôn một ít, còn lại thì mua kẹo đậu phọng, đường tán, trà và thuốc Cáp-Tăng hay Ru-bi cũng được.

– Chà ! Anh xài sang dữ he!

– Không vợ con, có chết, ai ăn mà hà tiện.

Lụa ngó tôi sửng sốt rồi quày quả đi ngay. Có lẽ nàng thấy câu chuyện kéo hơi dài. Nàng đi theo con đường rắc đầy lá cao su vàng trút xuống triền xóm. Tôi ngó theo mút mắt. Mười năm rồi, tôi mới thấy được một người con gái Nam Bộ trên quê hương tôi. Tô nhớ đến những cô bạn gái thời kháng chiến ở Tân Bửu mặc quần áo bà ba, nhớ tiếng nói tiếng cười mộc mạc nhưng chân thật và đầm thắm. Ước gì về lại được nhà vài hôm. Từ đây tới đấy không xa mấy mà ngỡ xa xôi như ngoài vạn lý.

Ra đi ra đi bảo toàn sông núi. Ra đi ra đi thà chết chớ lui. Giải phóng quân anh dũng quá nhưng… ra đi rồi không có ngày về!

Tôi ra gốc cao su nhặt củi khô vừa ngó chừng Lụa. Vừa thèm thuốc vừa ghiền trà lại vừa ham nói chuyện. Con gái họ thính tai thật. Mình nói pha có vài tiếng Bắc mà họ đã nhận ra rồi.

Tôi thấy cuộc sống bình thường hiện giờ có hai điều khác hẳn với thời kháng chiến chống Pháp. Hồi đó họa hoằn lắm mới bị một trận bom lưa thưa như đồ bỡn. Cà-nông thì trong một năm mới nghe được một vài phát xa xa. Còn bây giờ, bom đạn nát đất. Mảnh bom trộn lẩn trong luống cầy, hố bom là những miệng đìa nằm ở ven vườn, ở giữa ruộng. Đặc biệt máy bay không khi nào vắng bóng trên nền trời. Đủ loại: phản lực, khu trục, do thám, trực thăng, B52 v.v.. riêng trực thăng cũng có đến năm, sáu loại. Từ lúc đến đây, tôi thấy liên tiếp những chuyến trực thăng Sâu Rọm hoặc Trái Chuối cứ di động từ Sàigòn ra gần đến thị trấn Củ Chi với những kiện hàng đeo tòng ten dưới bụng nó.

Tôi có hỏi chú Lạn. Chú đạp xe đạp mệt nên chỉ nói tắt: “Tụi nó dựng lê cái Đồng Dù”. Tôi không muốn chú phải phí sức vì những câu trả lời cho tôi nên không hỏi nữa. Mặc dù ngồi xe cho người ta thồ, tôi vẫn ngó đường đi của những chiếc máy bay tua tủa từ khắp nơi đáp vào cái mảnh đất gọi là Đồng Dù kia. Nếu không gian là mặt thớt và mỗi đường bay là một nhát dao thì cái mặt thớt kia đã không còn một vùng nào nguyên vẹn.

Tôi vừa ôm củi vào nhà thì có tiếng máy bay đến gần. Tôi đứng nép vào gốc cây và nhìn xuống phía Hố Bò nơi ven sông Sàigòn thưa cây để lộ ra mặt nước loang thoáng. Một chiếc L19 bay rà rà trên ngọn cây. Nó bọc bọc sau lưng tôi vòng qua đường 6 và cứ thế mà đánh thêm mấy vòng nữa. – Thằng này định làm gì? – Tôi vừa tự hỏi thì từ xa xuất hiện hai chiếc Skyraider. Chúng sầm sầm lao tới. Chiếc L 19 vọt lên rồi cắm đầu xuống. Nó bắn tên lửa chỉ điểm cho tụi kia bỏ bom. Tôi dư biết cái thói quen đó của chúng. Bom rơi có thể đếm được từng quả. Tôi nhìn chiếc kim gió trên mặt đồng hồ pháo binh canh tiếng nổ thì biết mình ngồi cách đó chừng năm, sáu cây số nên không lo trốn tránh nữa. Những trận bom như thế này quá xoàng đối với tôi. Tôi nghĩ: cái kiểu này có đại liên 12 ly 8 bắn thì ăn chắc. Bắn máy bay Mỹ thì không khó nhưng bắn hạ nó một chiếc nó sẽ dội hằng trăm tấn bom giết mình cả trăm mạng. Bắn hạ nó rồi chạy đi đâu cho kịp? Nó đến tức thời. Nhiều trận đánh vận động kết thúc nhanh chóng thắng lợi, nhưng lại lại tiêu hao trên đường rút lui vì sự truy kích của không quân Sàigòn. Trực thăng bắn dai như bò đái, ác lắm, ác lắm. Đánh Mỹ không như đánh Tây, đừng có ở Hà Nội kêu dân Nam kỳ thừa thắng xông lên nghe các bố. Tôi đã nghỉ như vậy khi đi vào tới R. Cuộc dội bom chấm dứt, khói bom khói nhà khói rửng cháy chưa tan thì Lụa về tới, tay bưng một rổ quảo, tay dắt một đứa bé gái. Tôi nói:

– Dắt con nít đi đâu vậy bà nội?

– Dắt về đây chớ đi đâu.

– Con cái nhà ai vậy?

– Con tôi chớ con ai.

Tôi ngẩn người ra như Lụa sửng sốt lúc nãy. Thì ra nàng đã có con. Ai mà dè! Không biết có giấc mộng dài nào tan vỡ sau câu nói ngắn ngủi đó không, nhưng tôi cảm thấy hơi buồn. Lụa bảo con:

– Chào cậu đi con.

– Cháu tên gì?

– Tên Rớt.

Tôi xoa đầu đứa bé và hỏi.

– Có đi học không cháu?

– Trường trại cháy rụi hết rồi. Thầy giáo bị thương . Cô giáo hoảng hồn bỏ chạy vô ấp chiến lược rồi ở luôn ngoải.

– Ủa, ở đây có ấp chiến lược nữa sao?

– Có mạnh! Lụa nghênh mặt đáp.

– Vậy hồi còn ở ngoài Bắc tôi nghe đồng bào mình phá hết ấp chiến lược rồi mà. Ba cái ôn binh đó!

– Sao lại ôn binh?

– Tụi nó bắt chước cái lối chống Cộng bên Mã Lai chớ gì. Dân chúng bị lùa vô nhốt trong bốn hàng rào dây chì gai.Trước khi đi ngủ chúng mở cổng lùa ra cho đi đái ỉa rồi lùa vào, đến sáng lại mở cổng lùa ra đồng làm lụng đến tối lại lùa về, hai người xích vào nhau rồi mới được ngủ.

Lụa cười:

– Ai nói với anh cái kiểu ấp chiến lược đó vậy?

– Báo chí nói chớ ai. Tụi tôi cũng học tập nữa mà.

– Xí ! Dóc tổ. Ấp chiến lược ở đây dân sống hơn cha Tây. Bơ sữa, vải sồ dư giã, lại được mua chịu “la-di-ô” nghe vọng cổ có mà tét lổ tai. Ở đó mà còng hai người vô một.

Tôi ngượng quá không biết nói sao. May không chút nữa tôi lại tuyên truyền những cú độc địa cho Lụa rồi. Trước sự hố nặng tôi đành hạ giọng hỏi han thăm dò mong tìm cách “lật” lại.

– Ở ấp chiến lược có cho dân vay tiền làm ăn không cô?

– Có, nhưng trước khi cho vay người ta còn phải coi tài sản của anh.

– Chi vậy?

– Nếu trả không nổi thì người ta xiết trừ nợ chớ sao.

– Tôi nghe không phải vậy!

– Không vậy thì sao?

– Tôi nghe nói hễ chỗ nào quân Mặt Trận sắp giải phóng thì mình xúi dân ra vay tiền thả ga. Tiền dân bỏ túi xong quân giải phóng đến tràn ngập nhổ luôn dồn bót thì coi như “xóa” luôn nợ! Không phải trả mà cũng xong.

– Ai nói với anh cái chuyện khỏe ru vậy he?

– Chịp! Có bài học hẳn hoi mà.

Chiếc L19 cứ bay vòng vòng chung quanh các đám cháy, thỉnh thoảng bấm một quả rốc kết. Lụa nói:

– Bộ nó trông thấy ai ở dưới đất làm cái gì.

– Sao Lụa biết?

– Tụi nó bỏ bom xong thì con đầm già ở lại canh chừng. Cháy thật rụi nó mới đi. Nếu thấy có người thấp thoáng thì nó gọi trực thăng tới bắn hoặc kêu pháo “câu” vào.

– Tụi Mỹ chơi kỹ hơn tụi Tây nhiều.

– Tôi nói để anh cảnh giác! Anh về đây hôm nay thì ngày mốt ở ngoài thị trấn Củ Chi tụi nó biết rồi đấy. Để rồi anh xem, vài ngày nữa sẽ có máy bay rải truyền đơn và kêu gọi trúng phóc tên anh về hồi chánh cho mà coi.

Tôi giật mình:

– Giỡn hoài cô em! Tôi như bị kim đâm một phát nhẹ. Để tránh cặp mắt của Lụa, tôi ngó lên trời theo dõi máy bay.

Lụa cười:

– Bộ hồi nào tới giờ chưa thấy máy bay bỏ bom hây sao mà lạ dữ vậy?

– Xí! Ba cái thứ “dưa chuột đèo” này ăn thua chi! Tôi từng đội “dưa hấu nhứt” kia mà. Mới cách đây vài hôm chứ đâu lâu lắc gì. Tôi và phái đoàn vừa ra khỏi buổi lễ thì ngay tối hôm đó căn cứ bị dội bom như mưa. Thiệt hại chắc ghê gớm lắm. Nhưng không rõ con số cụ thể. Nghe nói cơ quan R đã dời về Lò Gò rồi.

Tôi tốp lại vì thấy mình cao hứng lộ bí mật quân sự có hơi nhiều. Tôi bèn kể sơ qua mấy trận bom ở cầu Cần Đăng và Tà Păng cho Lụa nghe. Nghe xong, Lụa chép miệng:

– Vùng này rồi cũng sẽ ăn bom hằng ngày, anh cứ tin tui đi. Anh có thấy trực thăng Sâu Rọm chở pháo hàng ngày tới Đồng Dù không?

– Có chứ!

– Cả Củ Chi rồi sẽ nát như tương vì những khẩu pháo đó. Anh có bản đổ Củ Chi đó không? Anh mở ra xem chút. Còn em, em nhắm mắt nói cũng đúng trân thôi. Củ Chi giống như bàn tay trái anh xè ra vậy. Ngón tay cái là mũi xã Thái Mỷ, làn chỉ dọc gốc bốn ngón tay là sông Sàigòn. Ba lằn chỉ lớn cắt ngang bàn tay là quốc lộ 1.lộ số 2 và tỉnh lộ 15. Mỗi một khớp xương là một đồn bót lớn nhỏ. giữa gan bàn tay là hai căn cứ lớn. Đó thị trấn Củ Chi và Đồng Dù. Ngoài ra ở phía Đức Hòa thì có căn cứ Sư Đoàn 25 Việt Nam Cộng Hòa, ở phía Bắc tại Lai Khê là căn cứ của Sư Đoàn 5 Bộ Binh Sài Gòn.

Đó là nói theo lối quân sự các anh còn nói theo em nông dân cục mịch thì Củ Chi là một miếng ruộng khô nẻ đất bị be bờ bốn phía không cho tát nước vô. Thử hỏi cây lúa làm sao mà sống được, đừng nói chi trổ bông.

Tôi lấy làm ngạc nhiên về sự mô tả Củ Chi Tổng Quát của một người đàn bà bình thường. Lụa tiếp.

– Dân Củ Chi nay như cá trong lưới. Anh coi cái nhà của em đó. Hồi mới cưới vợ chồng em còn được cái nhà. Có con rồi, nhà hóa ra cái chòi, chồng đi dân công ra đâu Bình Long Phước Long gì đó tới nay chưa về. Cái chòi bây giờ ở không chắc, phải chui xuống hang. Mẹ con em chui xuống hang, trạm đóng ở trên. Vậy đó! Nay mai thế nào cũng ăn một quả Napalm cho coi.

– Thôi dẹp chuyện đó đi. Tính vấn đề cái bao tử cái đã!

Lụa dọn cơm, thức ăn chỉ có cá mòi chiên sả ớt. Cơm xong tôi lấy kẹo đậu phọng cho con bé và móc thuốc hút, ngẩn ngơ trăm mối tơ vò, không biết nghĩ gì và cũng không biết sẽ công tác ra sao. Nghe Lụa nhắc Bình Long Phước Long mà tôi ớn xương sống. Ở đó, dân công binh sĩ chết nhiều quá. Phần lớn dân công miền Bắc bò vô tới đây thì kiệt sức, nằm tại đó sốt rồi theo ông bà. Ba con Rớt ra đó đố khỏi chói nước ôm bụng chang bang như trống chầu về xứ.

Tội nghiệp! Tôi lấy võng ra giăng và bảo cháu lên nằm ngủ. Cháu vừa đưa lắc võng vừa nai kẹo đậu phọng và hát. Mẹ bảo nó: “Bớt cái họng rộng để nghe máy bay,” nên con bé đành hát nhỏ lại:

Mùa xuân về trên chiến khu
Tiếng chim gà vui hát ó o
Áo may xong tiền công chửa tính
Anh lính mừng lính quýnh liền tay
Áo mới may rách hai đường chỉ
Anh lính ngồi rầu rĩ buồn xo

Tôi cười và nói:

“Chiến sĩ ta ngồi đâu ngủ đó. Ngủ không giăng mùng muổi cắn rồi la.” Mới phải chớ!

Lụa ở dưới nói lên:

– Nó thuộc bài hát nhiều lắm đó anh. Mấy tháng trước đây tôi còn cho nó vô đội vũ thiếu nhi ấp nữa. Nó biết vũ Mùa hoa nở chớ chơi sao ! Nhưng gần đây lộn xộn quá, trường học đã nghỉ, tôi bắt ở nhà luôn.

Thấy Lụa mới trên hai mươi đã có con lớn, tôi thấy hơi buồn cho tôi. Ba mươi ngoài rồi, nhỏ nhê gì nữa. Phải chi có một đứa con “để trên đầu trên cổ với người ta”, ông bà mình thường nói vậy. Rủi một viên đạn, một mảnh bom vô tình ….. biết đâu, thế là cụt dòng. Bổng Lụa buột miệng hỏi:

– Anh ở vùng này phải không anh Hai?

– Trước ở Long An, Tân An đó. Bây giờ dời về gần Sài Gòn rồi.

– Đây xuống đó cũng gần.

– Tôi đi bộ đội hồi mười ba tuổi tới giờ chưa về nhà lần nào. Không biết gia đỉnh còn ở đó hay không?

– Mười ba tuổi?

– Đúng mười ba tuổi.

– Làm gì trong bộ đội?

– Làm liên lạc, làm tên sai vặt của ông lớn bà lớn.

– Vậy mà còn sống. Còn anh tôi đi bộ đội hồi 45 có vài tháng thì chết. Ảnh mới mười sáu tuổi thôi.

– Sao vậy! Chết trận nào? Có thể tôi biết ảnh.

Lụa làm thinh. Tôi nghe một mối thiện cảm đối với Lụa dấy lên trong lòng, tôi nhắc lại chuyện cũ.

– Hồi đó đánh giặc liều mạng quá đi. Ai đời chiến sĩ cầm súng ra nằm phục kích rổi mà chưa biết bắn ra sao. Chỉ huy phải bò tới chỉ cho cách lắp đạn bóp cò. Vậy mà cũng đánh cũng thắng rầm trời. Bây giờ nghĩ lại, thiệt tình tôi cũng không hiểu nổi tại sao mình thắng Tây.

Lụa hỏi ngoặc ngang:

– Anh định móc gia đình không?

Tôi ngừng đủa hỏi.

– Ở đây có ai đi không? Tôi muốn móc ngay bây giờ. Tình hình này không còn yên ổn lâu đâu. Cái Đồng Dù đóng giữa rốn Củ Chi sẽ quậy nát hết cả vùng này. Chừng đó muốn móc cũng không móc được. Mà móc này có “chắc” không?

– Cho người ta tiền xe và chút đỉnh ăn đi đường chớ không tính công cán gì. Người của mình mà.

Lụa vui vẻ tiếp:

– Để em lo cho. Anh cứ coi vợ chồng em như em đi. Nếu anh Hai của em còn sống bây giờ cũng như anh!

Lụa nghẹn ngào không nói nữa. Nàng quay ngang quệt nước mắt, hồi lâu mới tiếp.

– Hồi ảnh chết, em còn nhỏ đâu có nhớ mặt mày gì. Ảnh cũng ham vui đi bộ đội vậy thôi, tuổi đó biết Tây tà, súng lớn, súng nhỏ gì mà cũng xung phong vô đồn.

Lụa thở dài, rơm rớm nước mắt, nói bông lông.

– Vái trời cho gia đình bình yên. Cha mẹ gặp con cái.

Chương 2

Chuyện tình cờ, tôi quen với Là, em của Lụa. Là làm đội phó xã Phú Mỹ Hưng. Chiều hôm đó, sau khi cơm nước xong, tôi chơi với bé Rớt còn Lụa sửa soạn đồ lặt vặt dưới hầm. Nàng bảo:

– Tình hình động đến nơi rồi anh ạ!

– Sao cô biết?

– Gì mà không biết. Hể thấy mấy cái trực thăng Sâu Rọm “câu” pháo tới Đồng Dù là có động tới nơi. Không có lần nào khỏi đâu. Anh thấy đó, mười lăm xã trong quận nhưng không biết nó đánh xã nào. Có khi nó đánh một xã rồi nhảy cóc qua xã khác. Có khi đánh và bao vây một lúc hai ba xã đóng chốt năm, bảy ngày không chừng.

Tôi rất ớn, nhưng thật tình không biết làm sao đối phó. Lực lượng, vũ khí đều không có. Ở Củ Chi, nghe nói Mỹ đánh “kỳ cục” lắm chứ không phải như nơi khác. Vì nó là đất thép thành đồng! Lụa hỏi.

– Anh đã xuống hầm lần nào chưa?

– Mới về đây mà xuống hầm cái nổi gì?

– Vậy hồi chín năm anh không có nếm mùi địa đạo à?

– Tôi đâu ở trên nầy! Hồi 50, tôi đã xuống Miền Tây rồi ở luôn đó tới tập kết. Nghe nói địa đạo mình bảnh lắm hả cô?

– Còn phải khen! – Lụa nói giọng trêu tức – Phải anh ở nhà, chui vài lần anh mê luôn không đi đâu nữa.

– Tôi về tới R cũng nghe nói địa đạo mình thần sầu lắm. Tôi nôn nả về đây để xuống nghỉ khỏe dưới địa đạo chơi vài phát! Nghe nói cả trâu bò gà vịt đều lùa xuống đó được hết mà! Có không cô?

– Em hổng có xuống địa đạo lần nào hết vì em không phải là du kích, dũng sĩ gì hết ráo!

Vừa nói tới đó thì một cô gái và một chàng trai vào nhà.

– Cô xã đội phó của em đó, bữa nào rồi nó cho anh tham quan địa đạo.

Là, một cô gái chưa đến hai mươi tuổi, giống y như chị, nhưng ăn nói “thẳng ruột ngựa” hơn, đớp ngay:

– Ừ, bữa nào cho ổng hộc cơm một bữa.

Nhờ Lụa, tôi quen với Là rất nhanh. Là tỏ ra là một thiếu nữ rất hoạt động điểm chút tự kiêu. Cũng nhờ Là mà tôi được khuyến khích trong việc móc gia đình. Là nói:

– Nhờ má đi dùm cho. Chị Tám Khỏe chắc không đi được vì con đau hai ba đứa.

Là quay sang nhìn tôi rồi hỏi bằng giọng rất ít cảm tình.

– Bộ ông muốn móc gia đình hả?

– Phải. – Lụa đáp thay.

– Nhưng móc ai?

– Má ruột.

– Chứ không phải bà chị hả?

– Con nhỏ này, hỗn quá mày.

– Nhiều ông Mùa Thu có vợ về đây không dám móc vợ ra vì có bà bầu ngoài này.

– Thôi mày ơi! Đâm hơi cái kiểu gì vậy? Cái con nhỏ này lảng nhách hè!

– Tôi nói thiệt chớ đâu có đâm hơi. Chị thiệt binh không? Tôi khai cả ổ ra cho nghe!

Anh thanh niên cùng vào với Là tên Sơn. Sơn là trưởng trạm này. Bữa nay chưa phải là chuyến nhưng thấy tôi là khách chờ ở trạm thì Sơn hỏi giấy tờ cho chắc. Tôi đưa cả hai loại. Một giấy thuyên chuyển cho trường pháo binh, một giới thiệu cho đường dây, toàn loại đặc biệt. Xem xong Sơn kêu:

– Loại “kẹ” đây! Chị Lụa phải bảo vệ dủm cho kỹ, mốt mới có chuyến.

– Tôi lấy gì bảo vệ? Nếu nó “đổ chụp” tôi chạy xuống nhà má tôi ở Hố Bò. Động tới nơi rồi đó.

– Ừ, để đó tôi lo – Sơn quay qua Là – xã đội còn khúc hầm nào khá không?

Là nguýt một phát là đứt họng.

– Anh hỏi vô nguyên tắc quá! Hỏi gì mà hỏi vậy?

– Hì hì! Tương trợ chút xíu mà gì cô em.

– Trách nhiệm của ai nấy làm chớ. Anh đãlàm hết sức chưa mà bắt tôi tương trợ?

Lụa nhơn đức đỡ đòn cho anh trạm trưởng.

– Con nhỏ này khó quá! Nay mai nó lên “dũng sĩ diệt Mỹ” chắc hết phương mình lại gần nó được đó chú Sơn!

– Ba cái thứ rởm đó tôi đâu thèm. Hể là anh hùng phải là anh hùng thực chất. Anh hùng rơm ai coi cho?

Lụa cười trêu chọc.

– Hỗng chịu cho nhà báo Liên Xô quay phim chụp hình à?

– Nghỉ ba cái vụ hề đó đi. Đem đi đâu xa xa người ta không biết thì mới dám đưa ra, chứ còn ở Củ Chi này biệt có dám triển lảm đâu.

Thấy em gái, không biết vì lẻ gì quạo quọ như vậy, Lụa càng nhỏ nhẹ:

– Dì con Rớt ở đây phụ với chị cặp nẹp mấy tấm vách, ăn cơm rồi hẳng về nghe!

Sơn dặn tôi qua loa ít câu rồi bỏ đi. Là đứng ở cửa ngó theo một cách giận dữ rồi quay vào nói:

– Thanh niên gì dơ quá!

– Con nhỏ này, mày đụng ai cũng chửi hết!

– Chửi còn nhẹ đó. Đập cây vô đầu mới đáng!

– Hỗn.

– Thanh niên gì có vợ con rồi mà thấy gái còm be be theo ghẹo chọc.

– Sao mày biết?

Là tuôn một hơi.

– Ảnh ở làng Tân Phú Trung chớ đâu. Mấy đứa du kích ở dưới đó, tập trung trên này nói, chứ anh ta giấu như mèo giấu .. vậy. Bởi vậy nên trời cho còn có một mắt.

– Tại thằng cha Tám y sĩ tập kết về mổ ẩu chớ mắt người ta đâu có hư như vậy. Bị thương sơ sơ ở ngoài mi mắt mà thằng chả làm hỏng cả tròng rồi móc luôn.

Là hơi bớt giận nên quay lại tôi dịu giọng:

– Nhà anh ở Bình Dương hả?

Tôi hỏi lại.

– Không, ở Tân An trước kia, bây giờ dời về gần Sài- Gòn! Bình Dương là ở đâu vậy?

– Là Bình Dương chớ đâu. Bộ anh chiêm bao hả?

Lụa bảo:

– Bình Dương là Thủ Dầu Một đó anh ạ! Chắc hồi đó nó chưa đổi tên!

Tôi nói.

– Ờ, hồi nhỏ tôi hayy đòi má tôi dắt đi chợ Khủ.

– Bộ anh cũng nói đớt hả?

Tôi pha trò.

– Tôi nói chợ Khủ không hè. Còn anh em ruột, tôi nói là anh em “guộc”.

Lụa cười. Là cũng cười theo. Cả hai chị em đều có duyên. Vừa đến đó thì một ông già bước vào nhà. Đó là đồng chí bí thư Tư Thiên. Lụa nói ngay vụ móc với Tư Thiên dùm tôi và nhờ chú nói giúp má Lụa đi, nếu không, vùng này sẽ không có ai. Chú Tư Thiên nói:

– Bả phải đi. Người ta là chiến sĩ, bả là má chiến sĩ mà không đi coi được hả?

Thế là ba người cùng kéo nhau đến nhà má Hai, mẹ ruột của Lụa Là ở dưới xóm Hố Bò. Tôi lủi thủi đi sau phái đoàn với bé Rớt. Tôi cố ý đi sau cùng để nhìn hình dáng của chiếc áo bà ba mà nhạc sĩ Trần Kiết Tường đả mô tả trong bài hát Cánh tay miền Nam trên đất Bắc trong đó có câu “phất phơ, phất phơ tà áo bà ba”. Nỗi ước mơ được nhìn thấy lại tà áo bà ba trên quê hương mình, lâu quá lâu bây giờ mới thành sự thật. Chú Tư Thiên đi trước vác hai khúc cây “cò- ke” đốn trong rừng mà chú bảo là sẽ đẽo cho Má Hai cập đòn gánh xài tới già. Hai chị em Lụa Là thì đi gần nhau nói chuyện thủ thỉ mà linh tính báo cho tôi biết là họ bàn tán về anh cán Mùa Thu này.

Qua một khúc dứt có bụi chuối bên vệ đường, bé Rớt nói với tôi:

– Hồi nãy má cháu xô cháu té ở đây!

– Sao má cháu xô cháu?

– Tại vì phản lực tới.

– Cháu sợ máy bay không?

– Ở gần thì sợ, ở xa không sợ. Hễ thấy đầm già thì má cháu la cháu.

– Tại sao má la?

– Má bảo cháu chui xuống hầm. Dưới hầm có kẹo.

– Kẹo đâu mà có dưới hầm?

– Má cháu mua để dỗ cháu. Nếu không có kẹo, chỉ một chút cháu đòi lên.

– Sao vậy?

– Ở dưới hầm ngộp quá mà cậu!

– Cháu học lớp mấy?

– Cháu đâu biết lớp mấy?

– Ba cháu đi dân công hồi nào?

– Không phải, đi thanh niên xung phong.

– Đi ở đâu?

– Má cháu nói đi lên R rồi đi Bình Long Phước Long. Rồi mắc kẹt không về được.

– Không có gởi thư về sao?

– Má cháu nói đường dây bị đứt.

Lụa dừng lại giục:

– Đi mau lên anh. Chỗ này pháo hay rót trúng lắm.

Quả thật, tôi thấy mặt đường sâu hút, những hố nhỏ hố lớn. Cây cối gãy cụp, bật rể ngã ngang đường. Tôi dắt Rớt chạy lúp xúp một hơi qua khỏi vùng pháo rót. (1)

Vừa qua khỏi vùng pháo rót thì gặp hai cô cũng cỡ tuổi và vóc vạc như Là, đang vác gạo đi ngược chiều. Đến gốc cây bên đường thì hai cô quăng bòng (2) gạo xuống và quệt mồ hôi. Một cô rút nút bi-đông ực nước rồi trao cho bạn. Một cô hỏi tôi.

– Anh đi Hố Bò hả?

Tôi chưa kịp đáp thì cô kia cười như nắc nẻ:

– Anh đi bán quán Bà Sáu!

Rồi cả hai cười to lên một cách châm chọc. Tôi không biết chuyện gì nên gạn hỏi Quán Bà Sáu ở đâu nhưng cả hai đều không trả lời. Một cô nói:

– Tụi em đều được điều động về R đây, anh có nhắn ai ở trển không?

– Sao biết tôi ở R?

– Lộ ra da còn hỏi! Anh đi hỏi con nít xóm Dược xóm Bùng Binh coi chúng biết không? Bây giờ nhiều Mùa Thu ở trên đó. Anh là cuối mùa rồi.

Nghe mấy lời nói đùa có vẻ bạo dạn của hai nàng du kích, tôi hơi gờm, định tìm cách ghẹo lại, nhưng một nàng đã hỏi:

– Anh đi năm sông bảy núi chắc anh kinh nghiệm ở đời, vậy em xin hỏi anh một câu nghe!

– Hỏi gì thì hỏi đi.

– Anh có điệu đàng không?

– Điệu luôn khi mà !

– Ừ, nhớ nhé. Em cần một món trong đồ trang bị của ông anh, em muốn mượn xài tạm chống Mỹ!

– Úy, “cây súng ngắn” không được đâu. Ở tù chết!

Tôi kêu lên và cười ý nhị, hai cô có vẻ hiểu. Một cô đáp:

– Ai mà mượn súng của anh.

– Ngoài ra cô muốn gì tôi cũng tặng!

Thật tình thấy tội nghiệp hai cô mặt mũi cũng dể coi mà lại lên R thì kể như “rêm” rồi. Chỉ vài tháng lại trở thành ma “rét” rồi “rụm” . Cô em bước lại sờ cái bi-đông Mỹ trên thắt long tôi và nói:

– Anh ở dưới này cần gì bình toong. (3)

– Ừ! Lấy thì lấy đi.

– Em mượn luôn sợi xanh-tuya-rông Mỹ mới đủ bộ chớ.

Tôi hơi “dội” nhưng đúng ra bình toong USA phải đi đôi với xanh-tuya-rông Mỹ, nên gật khẽ .

– Ừ cứ lấy.

– Cám ơn anh nhé.

Nói vậy rồi cô tước khí giới ông cán Mùa Thu một cách tự nhiên, sửa lại dây nịt cho vừa rồi đeo luôn vào lưng.

Cô kia nãy giờ đứng ngó bạn hoạt động, bây giờ bước đến rút chiếc bi-đông của mình chìa ra cho tôi:

– Mời anh hớp nước tạm biệt Củ Chi.

– Cô tạm biệt chớ tôi đâu có.

– Thì nói là anh em mình tạm biệt nhau ở đất Củ Chi cái đi! Hai đứa em lên Rờ thì ăn B52. Anh ở dưới này thì cũng đội dưa hấu chùm. Tạm biệt là vậy. Thôi uống đi rồi chạy theo chị, để chỉ nghi ngờ chỉ trở lại quơ tụi em chạy không kịp.

– Chị nào?

– Vãy không phải là con anh đó sao?

Một cô vừa trỏ bé Rớt vừa nói.

– Không. Ba nó đi lên R sáu tháng nay. Tôi đâu có vợ con gì.

Tôi vặn nút bi-đông, (bi-đông Mỹ nút đen vặn, còn bi-đông Trung Quốc nút cặc bần) ngửa cổ lên hớp rồi kêu lên:

– Nước gì ngon dữ vậy nè?

– Nước mía lao và rễ tranh.

– Rễ tranh thì ở đây có thể đào được, nhưng mía lao ở đâu mà đào ra?

Cô gái tự nhiên ngọt ngào với tôi.

– Anh hỏi thì tụi em phải nói. Đây là mía lao đường, trồng trên mộ chiến sĩ. Bà vợ đem trồng trên mộ chồng mấy năm qua. Mía lớn thành bụi tùm lum. Cơ quan chúng em lâu lâu lại ra đó đốn về nấu nước tẩm bổ. Tội nghiệp bà vợ ghê! Vài tháng bả vô một lần, dắt theo đứa con mười hai tuổi. Năm ngoái năm nay không thấy vô nữa.

Tôi buột miệng nói.

– Bả lấy chồng rồi.

Cô gái kêu lên:

– Sao anh nói xấu người đàn bà như vậy?

– Đâu có xấu. Chắc bà ấy trên bốn mươi phải không?

– Đâu lối đó.

– Chồng chết thì lấy chồng, chớ ở vậy sao được? Ở ngoài thành, kẻ qua người lại dập dìu. Đàn bà ở một mình đâu có tiện. Miễn là đừng lấy lính Sàigòn mà tủi cho vong hồn chồng thôi.

Cô kia trìa môi:

– Anh lập trường dữ chưa. Sao không bảo mấy ông lớn giữ dùm một chút?

– Ai làm gì bậy đâu nào?

– Còn bác Tư Khanh. Anh biết ổng không? Thứ dữ mà!

– Biết. Ổng đúng là thứ dữ. (4)

– Con gái ổng lấy cán bộ cũng thứ dữ của Ngô Đình Diệm đó anh ạ!

Cô kia háy bạn:

– Thôi mày, đừng tố mấy ổng. Mấy ổng chẳng có hề hấn gì đâu – Vừa nói cô vừa vác bòng gạo lên vai – Chào anh nhé. Cảm ơn cái bình toong đi R vữửng gối. Thiệt ra em cũng có một bộ cước lắm nhưng vừa tháo ra để đó, đi lãnh gạo, trở ra nó biến mất.

Nói xong cả hai chào tôi và đi. Tôi biết cái mả chiến sĩ trên đồi có trồng bụi mía đó. Anh bạn pháo binh của tôi. Anh ta về trước tôi hai năm. Sớm lắm. Lúc con đường Trường Sơn chưa có dấu mòn. Chẳng hiểu trong này nghĩ thế nào lại đánh đồn. Cái đồn Bổ Túc ít ra phải có một tiểu đoàn bộ binh và một đại đội pháo binh mới đánh nổi. Thế mà ở trên lại xách một đại đội non bộ binh đem đi nướng gọn. Anh tên là Út Việt, chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng! Cách đây mấy tháng có người bạn lên R cho tôi hay và bảo tôi có về tới đóng tiện đường thì ghé thăm mộ anh ở gần Trảng Đồng Rùm nơi cơ quan của ông Ba Nhân đóng đô để sản xuất tự túc.

Đợi tôi và bé Rớt tới, Là nghênh mặt:

– Anh biết tụi nào đó không mà quen?

– Không! Tôi đâu có dám làm quen gì?

Là nói xán xã như tôi là bạn thân của nàng.

– Không, sao dám trao bi-đông kỷ niệm?

Lụa bảo:

– Của ảnh thì ảnh cho chứ mắc mớ gì mày, con nhỏ?

– Cho thì cho chớ em có nói gì, nhưng trước khi cho khi cho phải biết mình cho ai.

Tôi cười trước sự giận dỗi của Là. Tôi hỏi:

– Chắc cô ấy là du kích sắp đi lên R. Trên đó gian khổ lắm. Tặng cô ấy cái bình toong có nhằm gì. Vả lại tôi ở đây có nước giếng, nước mưa, nước Rạch Thai Thai, nước sông Sàigòn, uống lúc nào chẳng được mà đeo bình toong làm chi cho cồng kềnh như đeo gông vậy.

Là làm như là không nghe tôi phân trần, nàng nói:

– Con đó tên là Tuyết Trinh ở một xã với ông Sơn và trong trung đội nữ với con Bảy Nê.

– Bảy Nê dũng sĩ diệt Mỹ đó hả?

– Chớ ai? Mấy đứa này về R làm gạc-đờ-co cho chị Ba Định.

– Sao cô biết rành quá vậy?

– Mỹ ngoài Đồng Dù còn biết nữa là ai!

Lụa năn nỉ:

– Anh đừng để tâm. Nó đụng đâu nói đó, không ý tứ gì hết. Nói rồi quên rồi.

– Chị nói bộ em con nít sao. Em có nhận xét từng người một, chị đừng tưởng. Người tốt lộ ra da, người xấu cũng lộ da ra. Tụi này nào có công trạng gì mà được đi R ở gần cán bộ cao, lên trển tha hồ diệt Mỹ kiểu con Nê, con Mô, bà Gừng và ông Cội.

Vừa đi vừa cãi nhì nhằng với nhau, phút chốc chúng tôi đã thấy ló dạng nhà má Hai. Bé Rớt dừng lại nhỏng nhẻo:

– Má ơi, ghé lò đường, xin nước đường cho cậu Hai uống nước chanh đi má.

Đi ngoài đường không thấy dấu dết bom đạn, nhưng khi vào trong vườn thì đụng hố bom pháo lưa thua rải rác khắp nơi. Ít có miếng vườn nào còn nguyên.

Ống khói lò đường như cái lổ mũi nhọn nghếch lên dưới vòm lá rậm của những bờ dừa. Tôi biết ngay ý ông chủ lò là muốn dấu cái lò, nhưng mà làm sao được, vì cái lổ mũi đó thở phì phò. Khói trắng lên, lan ra đầu mấy hàng dừa. Máy bay đâu có đui mù gì.

Bả mía ném vung lên phía sau nhà và mía bó đống chất cao như núi ở trước sân lẩn trong nhà. Hai con trâu mập mạp mình mẩy đầy bùn khô gằm cổ kéo che. Hai ống gỗ có răng xoay quanh nhau hút ngốn những thân mía do hai người đàn bà cho ăn liền tay và nước mía chảy trào ra như suối xuống chậu. Ở ngoài chái rạp là chiếc lò liên hoàn ở trên đó bắc liền ba cái chảo đựng nước mía. Nước sôi như sóng biển ở lái tàu tập kết mười mấy năm trước. Một người đàn ông lực lưỡng đứng khoe bắp thịt ngực, bắp thịt tay như lực sĩ, tay cầm cái chèo to cỡ chèo xuồng khuấy hết chảo này sang chảo khác.

Tôi đang say sưa ngắm cảnh lao động thì có tiếng hỏi:

– Hai đứa bây và chú Hai cũng quẹo vô đây kiếm nước đường tẩm bổ hả?

Thì ra là chú Tư Thiên. Chú đi tắt nên đến đây trước. Lụa nói đỡ:

– Con Rớt nó đòi, chớ ba cái nước này uống gắt cổ, cháu đâu có ham!

– Bây không uống thì để cho chú em nó nếm mùi đường Giải Phóng chút!

Tôi tỏ vẻ hân hoan nói với chú Tư Thiên.

– Dạ, cháu thấy công việc cháu mê quá!

– Thời buổi này làm ăn lớn mệt lắm chú ơi!

– Hợp tác xã này hoạt động được bao lâu vậy chú Tư?

– Hợp tác xã nào?

Tôi sực nhớ ra đây không phải là Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghỉa nên thành thật thú nhận:

– Cháu quên mất!

– Quên gì chú em?

– Cháu ở ngoài Bắc lâu quá nên cái gì cũng tập thể, cũng hợp tác. Cho nên thấy có người làm việc chung như thế này thì cứ ngỡ là hợp tác xã làm đường. Chút xíu nữa cháu chào ông “chủ nhiệm” rồi.

– Hợp tác xã gì đâu! Đây là việc làm ăn của gia đình với sự tiếp sức của bà con lối xóm. Tình hình này bom pháo găng lắm. Tôi đến đây để làm việc ngụy trang cho khỏi bị máy bay dòm ngó. Hồi sáng đến giờ đầm già có bay sang đây nó liếc xéo cái lò hết mấy cái kha khá. Trận bom hồi nảy bỏ cách đây không xa. Miểng bom văng còn vài tầm đất nữa là tới cửa lò.

– Vậy làm sao chú Tư?

– Có lẽ phải chạy ban đêm mới được. Tình hình có vẻ xấu riết tới,. Việc này làm chưa xong đã tới việc khác, cứ ùn ùn lên. Nó đánh mấy lò đường này kể như mình hết ngo ngoe. Chỉ còn ba con bò kéo xe nữa là trụi.

Người đàn ông ngừng tay chèo trong mấy chảo nước sôi bưng ra một chồng tô lá sen và bảo hai chị em Lụa Là:

– Đứa nào rảnh tay múc nước đường vắt chanh đãi chú Tư và ông bạn dùm tao chút. Đường gần tới rồi phải quậy dưới đáy cho đều nếu không, nó khét.

Nước mía tươi vắt chanh uống đã khát quá chừng. Nếu còn cái bi-đông thế nào tôi cũng xin một bình, ngặt đã cho người ta rồi. Chú Tư Thiên hỏi:

– Nghe nói ở ngoài đó hợp tác xã làm ăn khá lắm, tôi trông cho giải phóng mau mau để trong này bắt chước, mần cá nhân lẻ tẻ kiểu này coi bộ huề vốn chớ không có lời.

– Ai nói với chú vậy, chú Tư?

– Thì mấy ổng ở ngoài đó về nói đó chứ ai. Ông nào đi ngang mà không ghé lò này uống nước chanh đường? Ông nào cũng khoe hợp tác xã ở ngoài đó mần ăn tấn phát dữ lắm, tôi nghe, nôn muốn chết.

Tôi nghe rủn chí tơ lòng. Đúng là “láo thiên láo địa láo Bà Rịa láo vô” rồi! Tuyên truyền cái kiểu này là nguy hiểm lắm. Nhưng bây giờ không thể nói sự thật được.

Cái hình ảnh hợp tác xã thu gọn lại và còn ghi mãi trong tâm tư tôi là bức tranh hài hước của tờ báo Văn Nghệ Hà Nội ra khoảng năm 1957- 1958 gì đó. Họa sĩ đã vẽ hai ô tranh: một ô tranh vẽ con trâu ốm nhom kéo cày vừa ho đằng sau là anh xã viên vừa ngủ vừa la trâu, trong lúc ở sau lưng mặt trời lên cao nghiệu. Còn ô kia thì vẽẻ một anh cá lẻ cầm đèn soi cho con trâu đi cày. Con trâu mập ù như thớt voi! Đó là hợp tác và bất hợp tác xã. Nếu chẳng may mà giải phóng xong, hợp tác xã lan vô trong này thì ắt báo Giải Phóng sẽ đi tìm tác giả bức tranh kia để xin sao lại một bản.

Thấy tôi uống cạn tô nước đường, Lụa nói với chú Tư Thiên:

– Thôi về kẻo má tôi trông. Chú Tư qua nói giúp cho ảnh.

o O o

Đêm hôm ấy là một đêm ghi một kỷ niệm sâu sắc của đời bộ đội tôi. Sau khi Lụa, Là thay phiên nhau giới thiệu thành tích hai mươi năm kháng chiến chưa gặp gia đình của tôi, má Hai rất xúc động. Má hứa sẽ đi móc dùm tôi. Lụa ở nhà coi chừng cái quán tạp hóa của má. Nghe tôi nói trước kia cũng có ở vùng Bến Súc má Hai xúc động. Má ngồi gốc ván ăn trầu ngó ra bóng đêm mịt mù và cất giọng run run:

– Con đi hai mươi năm mà quay về được bản thổ, còn thằng anh trai của con Lụa con Là cũng đi bộ đội hồi 46. Mới được mấy tháng đã tử trận.

Tôi hỏi:

– Anh đánh trận nào má?

– Trận Bến Súc.

– Trời đất, hồi 45- 46 mà đánh đồn, đánh bằng súng gì?

Má chậm rãi ăn trầu, xỉa thuốc rồi kể:

– Chuyện lâu rồi mà tao còn nhớ hoài. Thằng Điều nhà tao hồi đó mới có mười bảy tuổi đầu, còn con Lụa hai ba tuổi, con Là mới biết bò. Bộ đội của ông Ba Tô Ký về đóng nhà này, mần heo, mần bò ăn rồi tính chuyện đánh giặc. Đồn Bến Súc ở bên kia sông Sàigòn, lính đông lắm, có Tây u nữa, mấy ổng nhứt định “nhổ “ nó đi. Súng thì không có. Chỉ có được cái lá gan anh hùng thôi. Nghĩ coi, súng mút-cơ-tông mà làm sao bắn thủng vách tường? Do đó mới bày kế đào hầm. Trong xóm có anh Tư Cầm. Anh ta là người ở đâu tới chứ không phải là người ở đây. Nghe đồn ảnh lặn cũng hay mà đào hầm cũng giỏi. Ba Tô Ký bèn kêu đến bàn kế đánh đồn. Tư Cầm bèn bảo Ba Tô Ký đào hầm từ ngoài rừng vô nền đồn rồi châm thuốc nổ, cái đồn sẽ bay tung không cần phải dùng một tên lính. Ba Tô Ký nghe vậy mừng quá bèn cho khởi công đào hầm.

– Bắt đầu ở chỗ nào má?

– Tao đâu có biết, nhưng nghe nói là đào miệng hầm từ trong rừng Bến Súc. Đào cả tháng trời mới đem chất nổ xuống, tưởng là đã vô tới giữa nền bót rồi. Nhưng khi cho nổ thì mới hay là còn cách hàng rào bót cả hai trăm thước. Ba Tô Ký nóng mũi xua quân đánh liều. Lính trong đồn bắn ra, quân mình chết cả trăm trong đó có thằng Điều anh của con Lụa con Là.

Tôi thở dài và ngồi lặng im. Má Hai tiếp:

– Nó ham súng lắm con ơi. Bộ đội về đóng trong nhà nó xin vô liền. Ba Tô Ký bảo gì nó cũng làm hết. Chính nó đem chất nổ xuống hầm đó.

– Rồi Tây Bến Cát có tiếp viện không má?

– Tao đâu có rỏ ất giáp gì. Chỉ biết tụi trong đồn không chết tên nào. Thằng xếp Tây cho hất xác đằng mình xuống sông. Còn bộ đội thì rút lui, đâu có ai vớt xác chiến sĩ chôn cất gì đâu.

Tôi ngồi lặng thinh. Đúng như lời má kể, không sai một chi tiết nào. Lúc đó tôi làm ở Ban Mật Mã của anh Ba Tô Ký. Văn phòng đóng ở trong Đường Long để chỉ huy trận đánh. Đâu có chỉ huy gì. Sau khi châm thuốc nổ và thấy không đạt mục tiêu thì ảnh hô lính xung phong…… Đúng ra không phải do một mình anh Ba Tô Ký mà có trận đánh lạ lùng đó. Ngoài anh ra còn có ông Đào Sơn Tây (hiện giờ là anh Tư Khanh, Chính Ủy Bộ Tư Lệnh Pháo Binh R). Anh Ba Xu tức Trần Đình Xu bí danh Ba Đình.(5)

Những ông tham mưu trận đánh Bến Súc lạ lùng đó nay đều còn sống cả, chỉ có lính là chết sạch thôi, trong đó có anh Điều, con của má. Nhứt tướng công thành vạn cốt khô là thế.

Má ngồi trầm ngâm một hồi lâu rồi vụt hỏi:

– Còn mấy ông Sáu Khâm, Năm Truyện cũng kháng chiến một lượt với mấy ông kia bây giờ đâu hết rồi con?

– Dạ, mấy anh cũng về trong này rồi. Năm Truyện bí danh Năm Sàigòn Sư Trưởng Công Trường 9, còn Sáu Khâm là Sư Trưởng Công Trường 5. Ngoài ra còn anh Hai Bứa, bây giờ lấy tên Hai Hồng Lâm cũng đã về ở trên R.

– Bây giờ mấy ông đó già ngắt hết rồi chớ gì.

– Dạ, tóc bạc ráo trơn.

– Đánh giặc gì hai mươi năm mà chưa xong. Không biết chừng nào mới độc lập được.

Lụa và Là lui cui nấu chè đậu xanh với dừa nạo. Câu chuyện vừa dứt thì Là nói ngang ngang trong trỏng với tôi.

– Bữa nay mừng anh về tới xứ gặp gia đình bằng một nồi chè đường tán nghe. Đậu xanh chưa kịp đãi vỏ, đừng chê.

Má nhận tôi làm con nuôi (thay cho Điều, làm anh của Lụa và Là) thiệt oai vô cùng. Tôi cũng chẳng ngờ có việc đó. Âu cũng là may mắn, một cái ơn, một mối tình cá nước. Bắt đầu từ đó, má đối xử với tôi như một đứa con. Tôi đưa tiền cho má đi Sàigòn, má không nhận, má bảo:

– Tao đi như đi chơi! Tiền gạo gì. Bây đi hai mươi năm có ăn tiền của ai đâu.

Đêm đó có thể nói là một đêm hòa bình hạnh phúc nhất đời lính của tôi với giấc mơ gặp lại mẹ già đãả hầu thực hiện được. Tôi nằm trên bộ ván gõ ở phía nhà trước với bé Rớt. Có lẽ thiếu tình cha nên nó cứ quấn quít bên tôi như quen biết từ lâu. Riêng tôi có tính thương con nít. Hồi cải cách ruộng đất, tôi vẫn thường dắt đám trẻ con chủ nhà ra sông tắm. Tôi chà xà bông trên đầu chúng, chúng thích lắm. Về nhà, chúng khoe cả xóm. Chỉ thương hại cho đám con địa chủ. Nhà chúng bị tịch thâu, bố mẹ chúng đi tù, còn chúng thì đi lang thang, ai cũng có thể chửi mắng xua đuổi và ném đá. Nhiều lần tôi gặp cả như quái vật, tôi bịt mắt không dám dòm. Dòm lâu có thể bị cán bộ xã hội bắt gặp báo cáo cho đơn vị thì trong tổng kết bài học có thể bị quy là “lập trường không dứt khoát”. Công việc vĩ đại nhất của tôi là dám đem cơm lén về cho đám con chủ nhà. Thời đó, dân làm gì có cơm trắng. Nhà nào có cám nấu với khoai là phước lắm. Nhiều nhà còn phải ăn củ chuối nấu. Đó là xã Ngọc Chi, tỉnh Thanh Hóa. Tôi có dám bịa đâu. Mà bịa làm chi cái khổ của đồng bào kia chứ! Nhưng tôi chỉ lén “tiếp tế” cho mấy đứa con chủ nhà được mấy tuần lể thì “bị phát hiện” . Ở trên cho biết chị ủy địa phương báo cáo hành động của tôi. Làm như vậy là “phạm tiêu chuẩn”. Tôi hơi bực mình nhưng không dám cãi. Cãi với cấp chỉ huy lúc này sẽ có thể bị quy là “phản ứng giai cấp”.

Mấy hôm nay, từ trên R xuống đến Củ Chi, tôi đã được dắt qua nhiều thôn xóm, qua cả những nơi trước đây từng là đồn điền cao su. Mười năm rời mảnh đất này, bây giờ trở lại tôi phải ngạc nhiên thấy rằng sinh hoạt của đồng bào quá cao. Quần áo toàn lụa, lảnh, têtôrông, áo trắng, áo màu, cơm gạo phủ phê. Thanh niên, du kích hút toàn Capstan, Ruby. Chế độ Ngô Đình Diệm đã bóc lột dân miền Nam tận xương tận tủy còn Miền Bắc càng ngày càng vững mạnh thì ăn củ chuối và hút thuốc lào.

Một người rất hiểu cả hai miền Nam Bắc là tôi, nhưng không bao giờ dám mở miệng nói rằng Miền Nam chẳng cần giải phóng. Nếu cần giải phóng thì đó là Miền Bắc chớ không phải Miền Nam. Bao giờ thì những bà mẹ ở nông thôn miền Bắc mới bỏ được chiếc váy đụp, cái áo nhuộm củ nâu dày mo có từ thời nào không biết nữa?

Vài ba tiếng pháo xa xa cắt ngang dòng tư tưởng của tôi. Lụa từ bên trong nói vọng ra:

– Hầm ngay đít ván đó nghe anh Hai.

– Cô đừng lo. Nếu nó pháo gần tôi ẵm bé Rớt xuống hầm.

Tôi cảm thấy mặt ván gõ mát quá. Làm tôi nhớ cái nhà của tôi. Nhà tôi cũng có những bộ ván gõ như thế này. Có những chiếc bàn thờ đêm đêm thơm ngát khói hương như thế này. Tôi nhớ những gốc dừa, những liếp chuối vang ầm tiếng chim kêu, nhớ những con nước ròng trong những con rạch đỏ lững phù sa, nhớ những gương mặt hàng xóm bây giờ không biết đã già đến cỡ nào rồi. Trước khi xuống miền Tây, tôi không có cơ hội ghé thăm nhà. Hồi đó, má tôi mới ngoài ba mươi tuổi. Bây giờ đã trên năm mươi, cứ nhìn má Hai thì biết.

Nằm bên bé Rớt, tôi thấy nhớ gia đình hơn bao giờ hết. Lôi ơi! Mi đã ngoài ba mươi! Già thì chưa già nhưng trẻ thì không hẳn là còn trẻ. Tôi thấy ham có một đứa con. Ý nghĩ này luôn luôn đến với tôi mỗi khi tôi thấy một người đàn bà có thai. Ừ! mình phải có một đứa con để bồng để ẵm. Con trai hay con gái cũng được. Nhưng rồi làm sao lấy vợ mà có con? Ngoài Bắc, đơn vị đóng quân trong nhà dân nhưng lính đông quá, mà con gái địa phương lại ít. Hơn nữa, lúc nào tôi cũng đi điều động đi công tác mới. Nay dạy pháo cho đơn vị này, mai dạy pháo cho đơn vị khác. Lần cuối cùng vừa lấy lại hơi sức sửa soạn đi nghỉ phép sưu tầm chất tươi thì lại bị đưa đi Trung Quốc học nghề pháo.

Đi Trung Quốc về gặp may. Trong khóa học có một tên Nam Kỳ, con một ông kẹ loại râu hai tầng. Nghĩa là ổng vô đảng trước cả Trường Chinh, nói đúng ra ông ta là kẻ thành lập đảng tại Nam Bộ. Thằng bạn có đứa em gái kháu lắm. Nó dắt về nhà chơi và bảo: ”Hễ mày đồng ý là tao gả liền. Quyền huynh thế phụ!” Tôi tới lui nhiều lần và hai đứa quen nhau, yêu nhau tha thiết thì chưa bằng Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài nhưng tình đã đậm. Thứ bảy nào tôi cũng đi bằng được Hà Nội. Nhưng một hôm tôi bỗng bắt gặp một việc kỳ lạ trong gia đình. Số là từ ngày tôi và nàng quen nhau, tôi chưa hề gặp “ ông nhạc “ mà chỉ gặp “bà nhạc” thôi. Hôm đó tôi thấy “bà nhạc” ăn cơm ở sau bếp. Còn ông thì ăn trên phòng ăn với một đứa cháu.

Về sau, gặp thằng bạn, tôi gạn hỏi. Nó bảo:”Thì xưa nay vẫn như vậy chứ phải mới mẻ gì? Tiêu chuẩn của ông, ông chén. Tiêu chuẩn của bà, bà xơi. Không ai đụng tới tiêu chuẩn của ai “sợ phạm chính sách”. Hắn tiếp: “Chính tao cũng sợ phạm chính sách, nên tao ít khi về và tao chẳng bao giờ ăm cơm ở nhà. Ngày thường thì cơm thùng nước chậu trong đơn vị, thứ bảy chủ nhật thì ăn quán ngủ đình.”

Tôi bất nhẫn tâm can. Đảng có cái tiêu chuẩn ngay trong gia đình như vậy nữa sao? Cũng may, sau đó tên tôi được ghi vào bảng “phong thần” nên tôi có lý do để đến thưa hơn, rồi trước khi từ giã Hà Nội, tôi gởi nàng một bức thư tỏ ý “việc nước trước tình nhà” để nàng không nghi ngờ gì trái tim lủng lổ của tôi.

Tôi là một thứ bướm. Đáp vào hoa thì nhiều mà chẳng đậu ở cành nào lâu.

Bây giờ, vừa về tới quê nhà đã thấy vườn hương tỏa ngát. Tôi cảm thấy có dính dáng sâu xa ở gia đình này qua những cử chỉ của Là từ lúc sau tôi cho cái bình toong cho cô gái đi R. Là như hờn mát như giận dỗi trách trách móc điều gì.

Tại sao có biết bao ông mùa Đông và mùa Thu đến đây rồi mà cô nàng vẫn còn chân trơn? Vì cô quá kiêu ngạo hay vì mấy ông kia kém tay ấn?

Gia đình này là một gia đình trung nông lớp trên. Nhà ngói ba gian hai chái, ván gõ tủ thờ. Nếp sống rất mực thước theo kiểu đồng quê: chân tình, hào hiệp và hết lòng với kháng chiến. Sự hy sinh của người anh cả được nhắc nhở luôn từ khi có mặt tôi trong nhà. Tôi để ý cô chị thường chăm chú nhìn tôi, có lần tôi bắt gặp thì cô ta bảo rằng tôi có mái tóc giống anh Điều. Riêng Là thì tôi chú ý thấy Là chải đầu kẹp tóc tươm tất hơn lúc ở nhà chị.

Tất cả vẻ phì nhiêu sung túc của vùng giải phóng mà tôi đã thấy qua là hào quang rớt của vùng Mỹ Ngụy. Chúng tôi phải tuyên truyền ngược lại, ở đây sự thực không được phép nói ra mặc dù ai cũng rõ sự thật đó: Miền Bắc xã nghỉa còn lâu mới có “cái” để mà tự hào.

Tôi nhớ lại những kỷ niệm với cô gái con ông kẹ. Nếu không về Nam có lẽ tôi phải đi đến việc vợ chồng. Ở trong một gia đình sống bằng tiêu chuẩn như vậy thì làm sao thoải mái được?? Tôi quả tình dội ngược khi thấy cảnh chồng chúa vợ tôi đó và té ngửa khi được biết các ông trung ương có mậu dịch riêng, các chuyên gia và Bộ Trưởng có bãi tắm riêng, tem phiếu cũng có cấp bậc… …

Thôi, tất cả như trang sách đã lật qua, hãy viết tờ vở mới. Khi vào tới Làng Ho tôi cảm thấy như đã tới nhà. Mải miết trèo, lội, bò, lết. Cố vượt và không để bị bệnh. Quả thật, trời còn ngó lại, tôi không phải nằm lại một trạm nào. Với chức Đoàn Phó của một đoàn cán bộ từ thiếu úy trở lên, tôi chu toàn và đã làm gương tốt suốt bốn tháng hành quân.

Đi bương về nhà để gặp gia đình, để cưới vợ, trong thâm tâm thằng Nam Kỳ nào cũng nghĩ vậy, nhưng thằng nào cũng làm bộ trở về giải phóng Miền Nam.

Trời run đất rủi làm sao khi về, đến khu 6 giáp ranh Nam Bộ thì gặp Sáu Phương, bạn cũ hồi chin năm, trưởng đường dây khu 6, cái gút giữa Nam Bộ và Khu 5. Trong số nữ giao liên có một cô gái tên Thu Hà, người Tân An, quê tôi. Thu Hà là y tá đường dây của Sáu Phương phụ trách. Chặng đường này là chặng đường bò lê, người chết như rạ. Bởi vì từ làng Ho (ho gió) vào tới đây là 38 trạm. Ho gió trở thành “ho ra máu” . Về đến ranh Bà Rịa rồi, còn một bước là đạp lên đất Nam Kỳ thế mà có nhiều người lại gục không ráng nổi.

Anh bạn Trần Chánh Lý của tôi đã sốt rét mấy cữ liền, tôi nhân danh Đoàn Phó bắt anh ở lại dưỡng sức nhưng anh nôn nao không nằm lại được. Tôi đành phải chia đồ đạc súng ống của Lý cho anh em, mỗi người mang giúp anh một ít để anh đi tay không với chiếc gậy. (Bây giờ ngồi viết lại những giòng này tôi rởn óc đầy mình.) Mặt Lý xanh một cách quái gỡ nhưng vẫn ráng lết chỏi cây gậy đi theo. Lên dốc, anh em phải lôi, phải đủn. Anh vừa dướn lên vừa hổn hển nói: “Có chết cũng về tới Bà Rịa rồi hãy chết”. Anh cố đi được một trạm. Hôm sau đi tiếp. Đi một lúc, tôi mới bảo cậu trong đoàn đến giúp đỡ cho Lý. Nhưng cách đó không xa, Lý ngồi dựa gốc cây mà chết.

Lý chết ngon lành. Thế mà chết được. Còn mấy bước nữa là tới Bà Rịa mà nỡ chết, không cố nổi nữa. Cố sao được mà cố. Sốt rừng ba cơn là kiệt sức rồi. Huống chi Lý sốt đã cả tháng trời. Lý quê ở Hà Tiên, Pháo chống tăng 57 và 85 ly.

Chúng tôi chôn Lý ngay bên vệ đường, làm dấu. Về đến trạm Sáu Phương tôi mới thuật lại tình cảnh. Sáu Phương khóc ròng. Anh ta người to lớn, mặt mũi thô kệch nhưng lòng dạ thì tốt đẹp vô cùng. Anh cho giao liên của anh ra đến tận nơi làm rào dựng bia và bảo tôi ghi rõ địa chỉ, gia đình, chức vụ, ngày giờ hy sinh vào quyển sổ của đường dây của đoạn đường này. Anh bảo tôi:

– Đồng chí nhìn đó. Trước đồng chí ấy có bao nhiêu đồng chí đã yên nghỉ nơi đoạn đường này. Đến đây là mọi người kiệt sức. Bởi thế cho nên ở trên cho trạm này ba y tá để tiếp sức anh em.

Sau cái tang đau đớn, tôi được một mối tình. Thu Hà, cô y tá yêu tôi một cách đơn giản: vì tôi là người Tân An. Thu Hà dong dỏng cao, có đôi môi rất xinh. Mặc dù bị sốt rét, môi Thu Hà cũng không tái nhợt.

Chúng tôi ở lại trại này nghỉ ngơi chờ lãnh gạo rồi đi tiếp. Đây là lần lãnh gạo cuối cùng cho tới đất Nam Bộ. Nhờ có thì giờ, tôi nói chuyện với Thu Hà rất nhiều. Thu Hà làm cho tôi xúc động mãnh liệt, không phải với những lời văn hoa của tiểu thuyết mà với những tên chợ, tên làng, tên ấp xóm, tên bến xe, tên bến đò, nơi tôi và Thu Hà từng biết hoặc đến.

Thu Hà trước đây làm y tá ở vùng Tam Biên nhưng đường dây Trường Sơn cần hơn. Càng ngày khách càng ốm và chết ở chặng này nhiều hơn bao giờ hết. Do đó, đường dây mới lập trạm cứu thương nho nhỏ để phát thuốc kí-ninh và băng vết trầy trên chân cho khách và Thu Hà được thuyên chuyển ra đây.

Thu Hà muốn trở về vùng Tam Biên nhưng ở trên cứ khất lần hồi. Thu Hà không nói ra những ý định đó nhưng tôi biết nàng chán cảnh núi rừng. Tôi hứa khi tôi về tới trong này tôi tìm cách rút nàng về. Có lẽ nàng không nghĩ rằng tôi làm được việc đó, nàng chỉ tin rằng tôi yêu nàng, một thứ tình yêu điểm xuyết bằng những cái hôn trên giấy năm, bảy tháng một lần.

Trước khi chúng tôi rời trạm để Nam tiến trạm cuối cùng, Sáu Phương đã chơi một cú tuyệt đẹp để đời. Tôi không bao giờ quên tấm lòng vàng của Sáu Phương. Phương gọi tất cà nhân viên trạm lại và nói như ra lệnh:

– Các đồng chí chúng ta sắp về đến nơi, cần một số đồ ăn để đắp đầu gối. Các em có gì đưa hết ra tặng các đồng chí. Tôi không bắt buộc. Ai muốn làm thì làm.

Giọng Sáu Phương ồm ồm như thùng thiếc bể. Nửa đùa, nửa thật. Phương nói mấy câu rồi nghẹn ngang nhưng nhân viên trong trại lầm lủi về lều trút hết các loại khô voi, khô khỉ, khô nai, khô mển .. đem ra chất đống trước mặt vị chỉ huy của họ.

Tôi thay mặt đoàn đáp lại ngay, tôi nói:

– Thay mặt đoàn trưởng đang ốm, tôi cũng xin cảm ơn các đồng chí, cảm ơn các đồng chí trạm không bằng lời nói suông mà bằng hành động cụ thể.

Tôi vừa nói xong anh em đi moi ba-lô đem ra những gói những hộp chất đối diện đống lương khô của trạm. Đó là những hộp thuốc trụ sinh, kháng sinh, những hộp thuốc bổ, những gói kí-ninh, những bọc quần áo …

Chúng tôi khóc với nhau. Thu Hà đã tìm đến tặng tôi một hộp ruốc nai. Nàng bảo: “Anh cố về đến quê nhé. “ Rồi khóc mùi. Tôi tặng lại Thu Hà tấm vải dù.

– Vải này nhẹ, mỏng, nhưng đắp ấm lắm. Em giữ lấy như thấy anh hằng ngày!

Rồi chúng tôi chia tay. Tôi ra đi cứ quay ngó lại. Ở gốc cây bàng lăng thân trắng và có đốm nâu đậm nhạt, một đôi mắt nhìn theo tôi, một đôi mắt ướt.

Về đến R tôi tìm cách để móc Thu Hà về trong này, nhưng tôi không có quyền hạn gì. Hơn nữa tôi cứ đi hết địa điểm này đến địa điểm khác, công tác này xong lại có công tác mới. Một năm trời, tôi viết cả mấy chục bức thư, chẳng được một chữ trả lời. Tôi nhớ mấy câu trao đổi giữa tôi và Sáu Phương. Tôi nói:

– Tôi về trỏng, tôi xin gởi lại anh hai người: một sống một chết.

Sáu Phương nhạy lắm, trả lời ngay:

– Mộ anh bạn pháo binh tao sẽ cho làm thêm, còn con Hà là con nuôi tao. Mày tìm cách vận động tao sẽ gởi nó về cho. Tao tội nghiệp tụi con gái yếu đuối quá nhưng ở trên bảo vậy tao không cải được.

Bây giờ từ R tôi trôi xuống nằm ở rìa Củ Chi rồi đây. Ngày mai còn dạt tới đâu nữa. Dù tôi đi đến đâu thì cái hôn tạm biệt chúng tôi trao cho nhau vẫn còn ấm trên làn da phong trần của tôi và dư âm của hai tiếng “Thu Hà” vẫn còn rung động trong tim tôi như một chiếc lá con sau trận gió.

Con đường đã qua chẳng đời nào trở lại, đó chính là con đường Trường Sơn. Ở đó không có gì ngoài cái chết. Cái chết hãy còn lởn vởn với tôi đến hôm nay ở quanh quẩn đâu đây bên bộ ván gõ. Bé Rớt nằm im thở đều đều trong giấc ngủũ vô tư.

Bất giác tôi đứng dậy đi ra hàng ba nhìn về bốn phương trời xa. Những đốm quả châu nhấp nháy trên nền trời xa thẳm. Đó là Đồng Dù, kia là Củ Chi. Nọ là Đức Hòa còn đây là Bến Súc, Bến Cát. Xa nữa là Lai Khê. Củ Chi bị bao vây bốn phía. Mười lăm xã nằm gọn trong những dãy hàng rào đồn bót. Củ Chi về đêm như một mảnh khăn đen xé rách từng nơi với những tia lửa xanh đỏ vàng tím, ngắn dài.

Tôi bất giác rùng mình và trở vào nằm nép mình bên bé Rớt như sợ hãi và mong nó che chở cho. Đêm sâu thăm thẳm và lạnh ngắt. Một cái lạnh bất thường, một sự im lặng trước giờ bùng nổ, một cái bẫy hòa bình. Không có một cơn gió lạnh, nhưng tự nhiên tôi rùng mình. Bé Rớt vẫn nằm yên, hơi thở đều đều. Lứa tuổi này đã bỏ trường ở nhà để cút bắt với bom đạn. Phải mình ở nhà bây giờ ít nhất cũng có vài đứa như bé Rớt. Tôi tự an ủi với một ý nghỉ vớ vẩn. Tôi cố nhắm mắt để dổ giấc ngủ. Nhưng đầu óc vẫn tỉnh khô. Trần Chánh Lý như đang ngồi đó lưng tựa vào gốc cây, đầu gục xuống. Hà Tiên của Lý là cái gốc cây đó. Thu Hà núp sau thân cây bàng lăng nhìn theo. Những lá thư không hồi âm. Đôi mắt ướt vẫn còn ướt.

Một năm rồi. Còn mấy năm nữa. Ngán ngẫm vô cùng. Một làn hương nhẹ từ ngoài hiên len qua khe cửa, lan khắp nhà. Mùi bông vú sữa! Bây giờ là tháng mấy mà vú sữa trổ bông? Không biết. Đó là đặc điểm của dân tập kết. Không biết mùa nào trồng cây nào, mùa nào có me, xoài, mùa nào có cam quít, lúa cấy vào tháng mấy, bông điệp trổ bông vào tháng nào?

Trên mười năm ly hương hình ảnh quê hương nhạt dần như một khái niệm …

(1) Sau này xem lại bản đồ pháo binh của R, tôi mới vỡ lẽ ra mà tức cười. Mình là con nhà pháo nên bị đưa đi trấn nhậm một nơi có thể gọi là “rún pháo” . Xã Phú Mỹ Hưng, xã An Phú và xã An Nhơn Tây là nơi ăn pháo nhiều nhất, nếu tính ra mỗi thước vuông là mỗi quả pháo. Pháo từ Bến Cát nã sang, từ Lai Khê xả xuống, từ Trảng Bàng ké vào, mải tận dưới Đồng Dù buồn buồn cũng vói lên tặng vài loạt siêu âm. Kể ra pháo gặp pháo cũng xứng lắm. Ngặt vì pháo Mỹ thì có hệ thống, có thước đo bản đồ nên bắn chính xác vô cùng, còn pháo của tôi thì không có gì hết ngay cả nền đất bằng phẳng để đặt pháo trên vai mà chạy hộc máu ….. mà không khỏi bị truy kích. Chuyện còn dài, tôi sẽ trở lại nhiều lần trong đó có cả một vài lần pháo kích sân bay Biên Hòa.
(2) Hồi kháng chiến chống Pháp thì chỉ có tiếng ba-lô, còn bây giờ thì tiếng bòng tức là cái bòng bột bằng vải thô. Cán bộ lấy làm ba- lô tải gạo, hoặc đựng các thứ thực phẩm khác. Sức chứa của nó chừng ba chục lít.
(3) Bình toong là tiếng mới thay vì gọi là bi-đông
(4) Ba Xu trước làm “thầy su” ở đồn điền cao su Dầu Tiếng nên tục gọi là Ba Xu. Chứ không phải tiểu thuyết ba xu. Tháng 3- 1965 khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam, tình hình căng thẳng, Trần Bạch Đằng và Huỳnh Tấn Phát vốn không phải con nhà binh nên được rút về làm trên Mặt Trận Giải Phóng, Ba Xu từ R xuống đây làm Tư Lệnh I/4.

Chương 3

Sáng hôm sau, má Hai đi móc gia đình cho tôi. Tôi muốn biết thêm một ít sinh hoạt vùng giải phóng 3/4 đất đai và 4/5 dân chúng của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ (thực tình hồi ở Hà Nội, tôi có hơi tin nhưng về đây tôi ngã ngữa ra) nên tôi đi theo Má đến Bến Dược, còn Là thì có công tác xã hội, nên cả ba cùng đi. Lụa ở nhà coi quán với bé Rớt.

Đi ngang một lạch nước, Là bảo:

– Đây là Rạch Thai Thai, nhưng ở đầu rạch người ta gọi là suối Lộc Thuận. Nó phân chia hai quận Trảng Bàng và Củ Chi. Qua khỏi rạch này mình sẽ đi trên một con đường đất đỏ vừa đủ xe bò đi, phóng thẳng lên bờ sông Sàigòn đụng đường số 15, chỗ đó gọi là Ngã Ba Dược. Đường 15 chạy cặp sông Sàigòn xuống tận xã Tân Thạnh Đông. Bây giờ con đường đó đã bị B52 cắt ở khúc An Nhơn Tây. Thời ông Diệm xe hơi chạy vô tới đó.

Tôi cười:

– Lâu đi xe hơi quá! Nếu có điều kiện bây giờ tôi làm thử một cuốc chơi.

Là nghênh mặt:

– Anh có gan không?

– Có dư.

– Anh dám đi tàu không?

– Tàu đi đâu?

– Tàu từ Dầu Tiếng xuống, lát nữa nó sẽ ghé Bến Dược rước khách, anh xuống tàu nghe!

– Tôi đâu có ngán chút nào!

Tôi vừa đối đáp với Là vừa ngó quanh hai bên con đường đất đỏ. Còn khá nhiều vườn cây xanh tươi lúp xúp những nóc nhà ngói nhà lá. Những ngọn cau xanh thẳm in trên nền trời trắng trong. Vài làn khói lên trên mái tranh như hơi thở mỏi mòn của thôn xóm sau những năm chiến tranh dằng dặc. Hòa bình 54 xong, dân Miền Nam được xả hơi chưa được mười năm lại bày ra ba cái thứ giải phóng rởm – chẳng ai cần mày – khiến cho nhân dân tan nhà nát cửa lần nữa. Ở đây đã khởi sự chiến tranh 45 với bài thơ bất hủ của Xuân Miễn đến nay tôi còn nhớ như bài thơ hay nhất của Nam Bộ kháng chiến mà tôi đã chép trong quyển sổ nhỏ của tôi.

An Phú Đông, đây An Phú Đông.
Một làng nho nhỏ ở bên sông.
Một năm chinh chiến, ôi chinh chiến.
Sóng nước Sài Côn nhuộm máu hồng.
Làng ấy như bao làng nước Việt.
Cày sâu cuốc bẩm gái trai lành.
Chiều chiều tiếng hát vương theo gió.
Quyện tóc dừa cau vạn thuở xanh.

Bỗng nghe tiếng gọi từ xa thẳm.
Non nước tan tành ngủ mãi sao.
….
(quên một câu)
Trong lòng đã rộn bóng gươm đao
Làng mạc tan tành thành chiến địa.
Hàng dừa rủ tóc khóc bên mồ.
U hoài gió vỡ trên sông rộng.
Thây dạt vào đây sóng nhấp nhô.
……………………….
An Phú Đông, đây An Phú Đông.
Trả lời tiếng gọi của non sông.
Trẻ già đều biết hi sinh hết.
Biết rửa thù chung đổ máu hồng (*)

Xuân Miễn (1945)

(*) Xin độc giả nào còn nhớ bài thơ An Phú Đông xin vui lòng chép gởi về cho chúng tôi xin để bổ túc. Rất cám ơn (Dương Đình Lôi & Xuân Vũ)

Sông Sàigòn cách đây không xa. Đó một vùng tiếp cận Sàigòn. Đêm An Phú Đông vùng lên chiến đấu dân tự tiêu khổ kháng chiến. Quân Pháp đã đến đây tàn sát triệt để. Ngọn cau phất phơ trước mặt tôi gợi lại cả một trời tang tóc.

Là trỏ tay qua phía bên kia sông Sàigòn và nói:

– Bến Súc ở chỗ đó, má nói hồi mấy ảnh đánh thì đổn còn nhỏ lắm. Sau tụi lính Lê Dương mặt gạch tới đóng nhiều hơn. Còn lính đạo qua đóng đồn gần nhà thờ Rạch Kiến. Nay bên đó cũng như bên mình không còn đồn bót nào nhưng vùng giải phóng mà dân đâu dám qua lại tự do. Lơ mơ thì trực thăng Mỹ đổ trên đầu.

Chập sau đến bìa rừng cao su, Là bảo:

-Chỗ này là ấp Lò Than. Hậu Cần U60 có nhiều kho tàng trong khu rừng này.

Tôi giật mình.

– Sao biết rõ vậy, cô xã đội?

– Mấy ổng làm lộ mặt quá hà! Ai cũng biết chứ đâu phải riêng em. Mấy ông hậu cần đâu có giữ bí mật chút nào. Mấy ổng mua gạo và các thứ thực phẩm khác từ Bến Tranh chở bằng xe bò xuống tới Bến Súc bằng đường số 14, dùng ghe máy chở qua sông Sàigòn cất giấu ở đây, rồi từ đây kéo về Bời Lời bằng đường số 6. Xe đò đi cả bầy suốt đêm, không lõi đêm nào. Người nào mà không biết. Để vài bữa nữa anh lên ở trên này mà nghe nhạc đờn cò và em chỉ cho anh xem những con “đường dứa” nhẩm dấu xe bò.

Là nói một hơi dài như trả bài thuộc lòng rồi dừng lại cười hắc-hắc …. Tôi hỏi:

– Nhạc đờn cò gì lúc này?

– Nhạc phát ra từ bánh xe bò ấy mà! Cò ke cót két như là đờn cò đám ma. Con buôn vùng này mập lắm anh ạ! Bất cứ thứ gì chúng nó cũng bán được. Còn các ổng thì thứ gì cũng quơ mua hết sạch. Anh có biết ông Bảy Hốt không?

– Bảy Hốt nào?

– Cũng ở U60 đó mà! Ổng là thổ địa ở vùng này. Tên thiệt của ổng là gì không ai rõ nhưng trước kia dân Xóm Dược gọi ổng là ông Bảy Hốt, còn bây giờ không gọi Bảy Hốt mà Bảy Hít! Anh biết tại sao không?

– Không. Bí danh của ổng biết sao được!

– Hốt là vì tôi nói đó. Đụng thứ gì ổng cũng mua! Tàu về là ổng đã có sẳn người chuyển hàng vô thẳng địa điểm cho ổng. Các món hàng thường dùng lắm khi cũng ón ngang vì ông Bảy Hốt. Do đó người dân rất sợ ông Bảy Hốt, hễ con nít thấy mặt ổng là con nít chạy dong về nhà lấy chai đi mua nước mắm dầu lửa. Còn Bảy Hít….

– …. là ổng hay thổi tu hít?

– Không có tu hít đâu mà thổi mà bởi vì ổng “hít” dữ lắm!

– Hít cái gì?

– Hít cái gì thì anh biết! Anh coi chừng người ta cũng kêu anh là ông “Hai Hít” thì khốn.

– Bậy nào!

– Ừ, để rồi coi!

Đi ra gần tới mé sông, Là bảo:

– Anh đứng đây nghe. Chốc nữa em trở vào!

– Em đi đâu bỏ anh một mình ở giữa chỗ lạ hoắc này? Rủi có “đổ chụp” anh chạy đâu?

– Em đưa má xuống bến rồi trở lên. Gì mà mặt mũi dớn dác vậy? Đứng lại đây em vẽ cái vòng phép, anh đừng có bước ra ngoài nghe.

Vừa nói Là vạch một cái vòng tròn chung quanh tôi.

– Đi mau mau đi! Anh đứng đây chờ.

Tôi ngó theo Má Hai và Là đi thẳng ra Bến Dược. Chỉ chờ một lúc thôi, nhưng không có người quen bên cạnh tôi đã thấy lạnh xương sống rồi. Là và má vừa đi thì tôi chạy theo. Là xô tôi lại:

– Anh không ra bến tàu được! Ngoài đó có nhiều tên lem nhem lắm.

– Che mặt lại.

Là khoát tay, trỏ vào một ngôi nhà đứng sau khóm cau, và nói:

– Anh ở đây chờ … Nhớ đừng có mua gì hết nghe!

– Sao vậy?

– Ông Bảy Hốt đã mảo hết rồi!

Nói vậy rồi Là vội chạy theo má. Còn tôi thì đi men theo con đường mòn vào ngôi nhà Là vừa chỉ. Ngôi nhà lá, ba căn, cửa ván, nền nhà cao cẩn bằng những tảng đá ong. Cửa trước mở toang, mấy người đàn ông mặc áo bà ba đen hoặc quân phục giải phóng, sơ mi có con đỉa, vạt áo bỏ ngoài, ngồi uống trà và nói chuyện rầm ran. Thấy cái cảnh đó tôi ngỡ mình đang ở giữa rừng giải phóng muôn năm, không biết quân địch là gì. Ngó thẳng qua hai phía thì thấy hàng hóa chất đầy trên ván, Tôi nghĩ rằng đây là trạm của ông Bảy Hốt. Tôi bước vào. Tôi lóa mắt trước những đống hàng hóa vun lên … như núi. Bánh kẹo, trà thuốc, đường tán, lọ hũ v.v. … Ở trong góc nhà là những thùng dầu lửa chưa khui.

Một người đàn bà có da thịt, không đẹp cũng không xấu, mặc áo tê-tô-rông màu hột gà, quần lãnh đen đang xách cái ấm nước từ dưới bếp đi lên, thấy tôi bước vào bà ta dừng lại chào rồi hỏi:

– Anh đến chờ móc gia đình hả?

– Dạ!

Tôi đáp một cách tự nhiên và không chút gì ân hận đã thú nhận một việc quan trọng như vậy cho một người không quen biết.

– Phải anh lên sớm sớm thì tôi cho anh “ké” để đỡ tốn tiền xe.

– Cám ơn chị.

– Mà anh tìm người được chưa?

– Dạ được rồi!

– Dạ gì mà dạ! Trả dạ lại anh đó, anh đáng tuổi anh của tôi.

Người đàn bà bước lại bộ ván đưa chiếc ấm nước cho đám bợm trà rồi quay lại mời tôi:

– Anh uống miếng nước đi. Anh chờ tàu Dầu Tiếng xuống hay Bình Dương lên?

– Dạ chờ tàu Dầu Tiếng.

– Vậy móc mới đi bữa nay. Gần thì mốt về tới. Xa thì bốn năm ngày.

– Dạ chắc đâu đó.

Mấy ông uống trà ngồi vẹt ra chừa chỗ cho tôi chớ không thốt tiếng nào. Đó là điệu mời của nhà binh. Tôi xề xuống ngồi vào. Một người rót một chén lớn:

– Úp một gàu đi rồi hảy tính gì thì tính!

Tôi cầm chén trà uống ngay rồi mốc gói Capstan còn đầy để ra giữa ván gọi là lễ “nhập tiệc”. Một người hỏi.

– Coi có “dèm” nào so với Hoa Nhài Chính Xuân Hà Nội không?

– Cũng gần gần vậy thôi!

– Đồng chí ở “U” nào?

Tôi mới đến chưa quen với ám hiệu ký danh vùng này nên ngớ ngẩn không đáp được. Một người sồn sồn, răng hô có vài chiếc bịt vàng nói ồm ồm:

– U nào cũng nặng cả chẳng có u nào nhẹ. Đứa nào lấy trà Thiết Quan Âm Kỳ Chưởng ra làm một bình coi. Uống ba cái “Con Khỉ Hộc Máu” này gắt cổ quá, ho hoài.

Tuy là trà quý nhưng vẫn bỏ trong bình toong Mỹ vặn nắp rồi nắm cổ rót ra chứ không có bình tích, bình gan gà Thái Đức Mạnh Thần gì cả? Ngoài ra “đồng ca trà” còn được “đệm đàn” bằng “nhạc cụ” đường tán.

Xem những cử chỉ và lời nói của người bịt răng vàng tôi đoán là Bảy Hốt.

Đang uống và nói chuyện ngon lành thì bỗng Bảy Hốt (đúng Bảy Hốt) bảo:

– Tư Thêu ra ngó máy bay chút!

Một người bận áo bà ba quần tiều vừa nói vừa thọc chân xuống đất.

– Đầm già Dầu Tiếng bữa nay xuống sớm! Để tôi ra coi chừng cho. Bà con mình cứ việc “nhậu” đi!

Tôi hơi ngán ngồi trong nhà nên bước ra ngoài đi theo Tư Thêu và hỏi:

– Sao anh biết nó ở Dầu Tiếng xuống?

– Cái mững của mình quá rành! Ông “về nước” bao lâu rồi?

Tôi suýt bật cười, cố nín. Hồi ở Trường Sơn, tôi cũng từng nghe nhà lính mĩa danh từ “về nước” này.

– Còn cha về nước bao lâu rồi?

Tư Thêu xòe tay:

– Tôi đã trải ba Xuân, hai Xuân ở R, một Xuân ở đây. Vùng này ác liệt lắm nhưng bom pháo qua rồi thì khỏe re. Còn ở R mệt cầm canh. Nhất là cái mục kia, thấy khỉ cũng đẹp! Bộ móc hả?

– Ừ, móc!

– Móc chuyên nghiệp hay móc tài tử. Móc chuyên nghiệp mới chắc ăn, còn móc tài tử hay quác lắm.

– Tôi nhờ Má Hai ở Xã.

– Tôi biết rồi. Bà Má của nữ xã đội Là.

Cùng là Thu Vàng nên dể làm thân, hai bên kéo nhau đến ngồi ở gốc cau. Trời đã trưa nhưng chưa nóng nực. Anh bạn tự giới thiệu:

– Tôi ở trạm này với ông Bảy Hốt. Cái ông … đại úy răng vàng…

– Tôi biết rồi. Nội đó ổng gìa nhất chớ ai.

– Gia đình đó tốt lắm. Con trai chết trận hồi 46. Con gái út làm Xã đội phó. Nó gan lỳ. Tụi con Nê, con Mô, con Gừng có ăn thua chi, nhưng nó không chịu chụp hình quay phim.

– Tại sao vậy?

– Chuyện của người ta nên tôi không điều nghiên làm gì! nhưng tôi nghe đồn tụi kia được đề cao rồi lên chưn lên cẳng nên nó không thích. Nó bảo ai “dũng sĩ” ai “dũng khỉ” thì nhân dân sẽ biết, không cần khoe.

Chiếc L19 bay rà trên dòng sông. Tôi quay lại và ngó theo rồi nói với Tư Thêu:

– Coi bộ nó liếc vùng mình quá cha nội.

– Nó sắp đánh đến nơi rồi, chớ còn liếc gì nữa!

– Sao cha nói chắc vậy?

– Đồng Dù vừa nơ vô cả chục cà-nông. Nó sẽ bắn không còn một cục đất nguyên mà. Con đầm già này chỉ làm lính canh cho tàu chạy thôi chứ không ăn thua gì đâu.

– Tàu đò chạy sao lính phải canh?

– Nó canh có hai tác dụng: một là nó xem tàu có liên lạc bốc hàng cho mình không, hai là là nó xem có bộ đội mình dùng tàu hành quân trên sông không?

– Làm gì có cái vụ tàu hành quân trên sông?

Tư Thêu cười:

– Có một lần rồi cha non ơi!

Tư Thêu móc thuốc rê và mỗi đứa quấn một điếu to như con cúi ung trâu, vừa bập vừa tri kỷ nói tiếp.

– Ông nội biết không? Trong hành khách có mật thám lẩn lộn. Mình có răng nó cũng có cựa chớ bộ nó chân suông sao? Thằng L19 bay bọc dọc theo sông liếc cái nào cái nấy bén ngót thấy chưa? Hôm qua nó làm một chầu bom gần nhà mũ (mũ cao su). Mấy lúc gần đây không ngày nào vùng này ngơi xơi bom. Phải chi ông về mấy năm trước thì còn ăn hút được. Hồi đó khúc sông này đồn bót rút hết, giải phóng từ Phú Hòa Đông lên tới Bến Củi. Mấy ông nhà mình không chịu lội bộ mõi chân nên đi tàu từ Bến Đình lên Bùng Binh, Thanh An. Đi ẩu vậy cũng đã làm cho chủ đò teo ruột lắm rồi, mấy ổng còn để nguyên quân phục, mang trường bá đỏ, “oảnh tằm sào” xuống đò luôn.

Tôi hỏi:

– Oảnh tằm sào là súng gì?

– Ông không nhớ loại mút Lơ Ben để phóng lựu của thời Pê-tanh làm trùm à?

– Ờ! ờ!.. nhớ rồi! Nhưng ở đâu mà bây giờ còn những thứ đó?

– Còn chớ!.. khi đồng khởi thì đào mồ cuốc mả lấy bửu bối lên để xài. Nhờ ba cái thứ đó, nếu không có, súng bập lá đánh ai? Để tôi nói tiếp cho nghe mà thương thằng cha chủ đò. Thằng chả như con nhái bị kẹp giữa gọng kềm. Ở trên trời thì thằng Quận trưởng quận Dầu Tiếng ngồi trên máy bay ngó xuống, còn trên sông thì mấy ông giải phóng nhà mình hầm hè. Nhích phía bên nào cũng đụng hết cả. Chỉ còn có một cách là lạy mấy ông giải phóng lui vô mui cho kín!

– Tư Thêu tiếp – Sau lần đó chủ đò không chịu chở hàng cho mình nữa. Bảy Hốt hỏng giò cả tháng, chạy tới chạy lui như đạp lửa. Khu phải ra lịnh cấm lính nhà ta làm cái kiểu đó. Bây giờ chỉ còn gánh tụi nầy được lai vãng ở Bến Dược thôi. Ông có muốn xem tàu không?

– Thôi thì cũng tàu bè chớ có gì mà coi.

– Úy, đừng nói vậy, con gái cạo mũ đẹp như tiên đó nghe. Ra một chuyến mà coi. Có thua gái Hà Nội tôi chết liền!

– Ông đóng đô ở đây lâu chưa?

– Không lâu mà cũng không mau! Tôi ở bên Thanh An thuộc tỉnh Bình Dương tức là Thủ Dầu Một. Đáng lẽ tôi làm thổ địa bên đó hay hơn nhưng vì U60 cần nên bắt tôi ở bên này mua lương thực cho R, nên tôi phải ở Củ Chi này. Ở đâu thì cũng thế thôi. Nhưng năm ngoái thì còn dễ thở, từ ngày Mỹ nhảy vô tối ngày ngồi ở miệng hầm, chiều tối xong công chuyện thì đã mệt nhừ rồi, tiên có gọi cũng lắc đầu.

Vừa đến đó thì nghe tiếng tàu chạy xình xịch. Thêu nhích ra khỏi mé vườn che tay nhìn về phía sông. Thêu nhổ bãi nước miếng rồi nói.

– Tàu tới rồi kìa! Ông coi đó, khu giải phóng con cầy gì, nó chạy giữa ruột mình mà đành đứng trơ mắt ếch ngó! Kìa ông nhìn thử chiếc L19 dưới bụng vẽ cờ ba que, còn mũi tàu thì cũng cờ ba que. Đó, nó chạy qua mấy khúc trống, cây cờ đó thấy rõ ràng chưa?

Tôi gật đầu.

– Thấy rồi!

– Mình làm gì nó?

– Không đánh được à?

– Đánh tàu đò như đàn ông đánh đàn bà còn danh dự gì mấy ông giải phóng, cha nội? Nhưng đánh nó là mình tự vận.

Hồi chin năm mình đánh đoàn công voa dân sự ở La Ngà cũng oai… chớ.

– Ờ, hồi đó dân thành nghe trận đó sợ té đái!

– Mấy cô nữ sinh mần thơ hay ra phết, “Em tủi nhục trong vòng bị chiếm, biết bao giờ nguôi hận chiến khu xanh “.

– Bây giờ mình đánh chim chiếc tàu này thì hận chiến khu càng sâu hơn nữa đó.

Khói đen bay lên đầu ngọn cây ở bờ sông rồi tiếng tu hít từ lòng sông vang lên văng vẳng.

– Tàu đậu vô Bến Dược rồi đó ông!

– Khách đông không?

– Đông chứ.

– Đồng bào mình tiếng là sống trong khu giải phóng nhưng sự thực là như con heo bú vú nhờ. Nó ngưng một chuyến thì ở trong này mình ngáp, ngưng hai chuyến thì mếu, ngưng một tuần thì mình ngất ngư, ngưng một tháng thì mình thành khỉ hết ráo. – Thêu ném cái tàn thuốc, phẹc nước miếng và tiếp – Kìa người ở dưới tàu lên đó. Người của mình.

– Vậy nữa sao?

– Có chứ, ra vô như đi chợ mà! Chủ tàu ớn mình lắm. Sau cái cú “quá giang” của mấy ông “oảnh tầm sào”, mấy ông mình lại làm một phát nữa.

– Sao cấm rồi còn làm “phát” gì nữa?

– Phát này do cấp trên chỉ huy! Ông Tám Quang, biết không?

– Nghe nói nhưng chưa gặp.

– Sẵn dịp có thằng cha “Buột Sét Buốt Sệt” gì đó xuống đây. Ổng định cho treo cờ đỏ sao vàng ở mũi chiếc đò chạy trên sông.

– Sao mấy ổng biết?

– Kế hoạch của mấy ổng là do tụi tôi thực hiện mà.

– Chừng nào?

– Chắc cũng gần. Ông có rảnh giúp ý kiến chút, chứ ông đại úy của tôi coi bộ hơi lúng túng.

– Tôi có biết tình hình ở đây đâu mà giúp.

– Để bữa nào thi hành tôi sẽ đề nghị ông Bảy Hốt bàn với ông. Ông là cán bộ tham mưu tôi biết mà.

– Giởn hoài cha!

– Một Sơn nói với tôi chớ ai. Phải ông ở ngoài trạm cô Lụa không?

– Phải!

– “Chỗ” đó tốt lắm.

– Người ta có chồng có con rồi! Làm bậy mất đạo đức hết.

– Sợ người ta gọi là “thầy hít” hả?

– “Thầy hít” là thầy gì?

– Là thầy hít chớ còn thầy hít gì nữa. Cái vó của cha còn tốt lắm! Mùa Thu mà như ông là ăn trùm phé thôi!

– Con nhà pháo không xông xáo bằng bộ binh.

– Chắc không phải thiếu úy chăn bò như tôi. Nè, cô chị đã một lửa rồi. Còn cô em khớ lắm. Ngặt nó hay gác máy bay. Hồi tôi mới về tôi cũng cà rà mấy ngày, sau hỏi ra mới biết cô Lụa đã có chồng. Tôi bèn cưới vợ cấp tốc bên Thanh An. Còn cô Là xã đội phó phải thế lắm, nhung các ông nhà mình toàn là chưn xanh mắt ếch không rớ được. Ông vô đi.

– Để thong thả!……… Chưa lấy “độ” mà bắn “cấp tập” thì sợ uổng đạn.

– Ông “rùa” thì người ta quơ mất.

Tôi quay lại vấn đề cờ quạt.

– Vụ treo cờ ra sao?

Bỗng có tiếng gọi từ trong nhà, Thêu bảo:

– Ông thầy… gọi đấy. Ổng là Thầy Hít số một vùng này.

Tôi và Thêu vào nhà thì thấy người đàn bà đem treo một sào “chiến lợi phẩm” Mỹ ở trước cửa. Bình toong nhôm chen với dây dù, dây nịt, thi sắc đẹp cùng vải dù toàn made in USA, thứ hàng chiến lược mà ở chiến khu, cán bộ gặp thì giá mấy cũng mua.

Tư Thêu vô nhà còn tôi đứng lại ngoài thềm ba lựa chọn để mua vài món. Trước nhất là bình toong và dây nịt mà tôi mới vừa cho Tuyết Trinh, và một miếng vải dù. Miếng vải của tôi đã tặng cho Thu Hà làm kỷ niệm hồi đi ngang qua Phước Long.

Người đàn bà thấy tôi đang ngắm nghía các món hàng thì bước ra đon đả:

– Anh lấy món gì thì lấy liền đi, để chốc nữa đội nữ du kích đi R sẽ hốt hết đó!

– Bao nhiêu một sợi dây nịt?

– Đồng giá, món nào cũng một ngàn, dây dù cũng vậy, hai lọn một ngàn. mỗi lọn hai chục thước. Hai lọn trở thành hai bộ đủ giăng hai cái võng.

Thêu ở trong nhà nói vọng ra:

– Nhận nó làm em nuôi đi chị Sáu! Bán rẻ rẻ để đức lại cho con cháu nhờ, bán mắc quá mai mốt không có bắt được em nuôi nữa đó!

Thêu lại rủ tôi trở ra bờ cau ngồi dồm tàu chơi, nên chuyện mua bán hoản lại. Thấy hắn vui chuyện tôi mua gói Ruby Queen đi ra, khui mời điếu đầu tiên. Thêu vừa phà khói vừa phàn nàn.

– Tôi không tránh khỏi cái kiếp chăn bò!

– Về đây bò đâu mà chăn?

– Để mặt trời sụp rồi bò vàng bò đen ra chật đường cho mà coi!

– Ông ở ngoải ở Nông Trường Lam Sơn hay Xuân Mai?

– Tập kết mười mùa Xuân chăn bò mất sáu! Suýt nữa lấy vợ Mường rồi!

– Đi đâu trên núi à?

– Không! Có thằng bạn ở Ngọc Lặc Thanh Hóa lấy con vợ Mường. Nó còn con em vợ mười sáu tuổi. Nó muốn gả cho tôi nhưng may quá tôi bị “kêu” đi . Nếu không, ở ngoải giờ này đã cạo đầu làm ma Mường rồi. Thoát cái cảnh đó, bây giờ về đây lại chăn bò. Ông thấy tụi uống trà một ván đó không? Toàn là chăn bò cách mạng! Ban ngày thì ăn hút tối lại mới ra nghề. Xe bò hoạt động cũng có chiến lược lắm. Nếu lơ mơ bị nó nhai đầu. Dân chuyên nghiệp ở đây tản cư vô ấp chiến lược hết rồi. Họ không dám ở đây nữa. Chánh quyền và mặt trận, xì, chỉ còn có ông Tư Thiên đó thôi chớ chẳng có ai khác, bắt họ phải bán bò lại cho xã, không cho họ đem đi để sinh sống.

– Sao kỳ cục vậy?

– Kỳ gì mà kỳ. Nhà cửa của người ta, nhảy vô ăn cướp rồi hô chủ nhà là gián điệp, địa chủ v.v… có gì mà kỳ. Không thấy ở ngoài Bắc đó sao? Ăn cướp có pa-tăng!

– Rồi họ có bán không?

– Dám cải lệnh ông “Trời” à?

– Nhiều Trời quá! Đi đâu cũng gặp, nhất đội nhì trời, nhất trạm nhì trời. Vô đây lại gặp ông Tư Thiên. Ai cũng muốn làm trời cả.

– Trời nhớn trời bé! Tư Thiên cũng là trời ở đâu đó. Dân xe bò ngày trước mần ăn được lắm. Chuyên chở hàng hóa từ đây lên Sóc Lào Bà Nhả mỗi ngày được một ngàn, tệ lắm cũng tám trăm. Mình tới cái là sung công chở đêm. Ban ngày bò nằm ì, chớ có sức đâu mà lôi kéo nữa. Vã lại tình hình này có mình đồng xương sắt cũng không dám cho bò ra đường vào ban ngày. Tụi này bây giờ “quản lý” năm con bò vừa mới mua. Một cổ xe, hai con bò giá cả trăm ngàn, nhưng họ phải gạt nước mắt để giá ủng hộ giải phóng năm chục. Chán lắm ông bạn ơi, dân bây giờ họ hổng có mê giải phóng như Vệ Quốc Đoàn thời kháng chiến đâu. Ông ở đây ít bữa rồi cũng biết. Cái bà Sáu Tiệm chủ nhà này sở dĩ niềm nở với bọn tôi là vì bả là cơ sở của ông Thầy Hít. Ổng hít thì bả cũng hít. Ổng càng bỏ tiền ra xây dựng cơ sở thì bả càng cho hít mạnh. Bình toong Mỹ giá năm, sáu trăm thôi, bả hô một ngàn, các ông nhà mình cũng ngữa cổ cho chém! Cỡ Thầy Bảy thì bả xưng “em”, cỡ ông thì bả xưng “chị” , dù em hay chị bả cũng hốt hồn như thường.

– Còn cỡ như ông bả gọi là gì?

– Cỡ như tôi bả nói trỏng,! – Thêu hỏi tiếp – Ở đây chờ gia đình vô chớ?

– Chưa biết!

– Phải có kế hoạch, dù chỉ đi hay ở đâu một buổi. Nó đổ nó chụp bất ngờ lắm. Không có chạy kịp đâu. Ở đây rừng chồi và hẹp chớ không như trên R. Một cuộc hội nghị gì đó ở bên Bến Cát bị nhảy chụp nguyên con đó nghe cha non. Con nhỏ xã đội phó có hầm. Đeo nó cho chắc mới sống. Thằng Một Sơn phải xin hầm của nó để giấu khách đấy! Đường dây đâu có hầm hố gì. Ông Thầy Hít nhà tôi hỏi xin hầm của nó không cho. Lần vừa rồi, Mỹ nhảy, thầy trò chạy như vịt.

– Sao nó không giúp mấy cha?

– Nó ghét Mùa Thu. Hì hì, hổng biết tại sao nó bảo Má Hai đi móc gia đình cho ông?

– Hổng chừng tôi lại bị ghét.

– Ma bắt coi mặt người ta! Con nhỏ này ba gai lắm. Nhưng chắc nó coi chưn coi cẳng ông được rồi đó! Mà nè, tôi hỏi thiệt ông, ông thích nó chưa? Thích mê rồi chứ gì? Mình don don, bụng eo eo, đít nún trái quit, gò má no nê, còn đòi voi đòi tiên gì nữa? Chả bằng mấy chị hĩm à? Có quịt nợ ai ngoài đó không?

– Không. Còn nguyên chất!

– Băm mấy rồi?

– Băm ba.

– Còn trai nheo nhẻo lại thứ thiệt thì có lo gì! Cứng cạy như tui mà cũng chưa phải “hốt ổ” của người ta, ông coi còn khớ khũm mà. Con nhỏ mới mười tám thôi. Tôi biết con chị nó chừng hăm ba. Chịp, nếu tôi về sớm chút nữa thì tôi quơ con chị, thì bây giờ tôi gả cô em cho ông liền da. – Thêu vui miệng nói liên miên – Nè, ông đừng nghĩ rằng Mùa Thu tụi mình là ưu thế nghe! Con gái không mê Mùa Thu một chút nào!

Tôi cười:

– Vậy hồi ở ngoải tôi nghe Ban Thống Nhất nói là con con gái trong mình trừ cho “anh đội tập kết mười tuổi”. Như tôi vầy thì chỉ còn có hai mươi ba tuổi thôi, tôi mừng quá nên bương riết về…

Thêu cười:

– Họ gạt mình đó cha! Chẳng có con gái nào nói vậy hết. Cũng như hồi ở ngoải tôi nghe đài Giải phóng nói, đã giải phóng 3/4, 4/5 gì đó, bộ đội giải phóng toàn là đi đò máy, tôi nôn ruột, đi về riết để trong này người ta “nơ” nguyên mâm mình không có phần ăn!

– Chịp. Thì cũng như hai năm tập kết vậy cha nội ơi.

– Ra ngoài đó, đứa nào đứa nấy “ôm ống” kêu trời. Mười năm con chim không biết gáy. Hì hì… – Tư Thêu trở lại vụ cô xã đội – Tôi làm thổ địa ở đây, tôi biết rõ. Dư luận ở đây chỉ phục có cái gia đình Má Hai. Biết sao không? Con Lụa được một ông Kẹ hỏi ý kiến. Má không gả mà lại gả cho một thằng đánh xe bò. Vợ chồng nó vẫn đầm ấm. Nè, chỗ anh em tôi thương tôi bảo trước. Nó đối xử với ai cũng thân mật hết, do đó có nhiều ông Mùa Thu tưởng bở, bị phỏng tay đó! – Tư Thêu tiếp luôn – Các cha mình chán lắm. Không có ai còn uy tín ở vùng này. Nếu ông về sớm sớm ông sẽ thấy mấy con sâu Mùa Thu làm sầu nồi canh giải phóng như thế nào. Mấy ông nội mình mới về đây phùng sè dữ lắm ông ơi! Có ông xin dừa của người ta không cần móc trèo gì hết, cứ dưới đất móc K54 bắn.

– Bể hết lấy gì uống?

– Bể không có gì cho ông ta uống đã đành, lại còn bể luôn đạo đức, bể luôn công tác dân vận nữa chớ. Bà con người ta bảo chẳng khác gì bọn pạc-ti-dăng thời Pháp. Nói câu đó còn nặng hơn vác tạ gạo.

– Lính mình bị dồn ép lâu quá rồi nổi khùng vậy thôi. Bắn bậy ít phát thì hết khùng chớ gì mà lo!

– Không phải chỉ bắn dừa thôi ông ơi! Phải có ông bữa đó coi! Tôi thật tình muốn độn thổ, mà dọn đi đâu cho được? Con nít, người lớn nghe súng nổ chạy trốn. Chập sau không thấy lính, lóp ngóp đến. Mấy đứa con nít cười: “Bắn dở hơn Mỹ”. Còn người lớn thì nhìn nước dừa chảy ròng ròng mà cười: “Mấy ông bắn cũng hay đấy chớ! Dừa non nhỏ vậy mà bắn cũng trúng. Nhưng uổng mấy viên đạn, không biết nước nào viện trợ?” Nghe câu đó thấm hơn bài học hả?

Tôi làm thinh. Một hồi mới đỡ gạt:

– Mấy ổng ngứa tay thử súng vậy thôi!

Tư Thêu nói như tố khổ.

– Nhưng chưa hết. Còn nhiều vụ lắm. Ông Ba Kính lùn, nhỏ con nhưng cà xấc lắm, quân hàm thiếu tá. Không biết dẫm vô cái ô nào mà bị hạ từng công tác rồi bị trả về I2 đi ngang qua sông Vàm Cỏ bị tàu bắn chìm ghe. Nhưng cũng không danh tiếng bằng Bảy Huyền. Ông ta đúng là Thầy Hít có hạng ở vùng này. Ông ta có vợ có con ngoài thành. Cứ lâu lâu bà ta vô thăm ở chơi cả tuần lễ. Vậy mà hể vắng vợ là ổng quơ bạc mạng cô hồn. Ổng ngủ toàn lựa nhà có đàn bà con gái. Đêm nào cũng mò người ta! Không ai dám báo cáo vì sợ ổng mất uy tín. Đúng ra người ta ngán ổng vì cây súng với chiếc xe Bờ-Rô mới toanh của vợ mua cho. Nhờ chiếc xe đó ổng ông quơ được bà Hai Mẫn, chủ quán dưới chợ An Nhơn Tây. Bà này thuộc loại đệ nhất hạm đội, hơn bà Sáu Tiệm này xa. Tiếng tăm đồn quá xá, ở trên phải thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi đảng, hạ hai cấp. Ông ta bất mãn hẹn hò với bà kia, hai người dông ra thành. Thế!

Tôi giật mình:

– Có chuyện động trời đó nữa sao?

– Thượng vàng hạ cám, chuyện gì mà không có? Dũng sỉ cũng dông như thường. Nhưng để đó, hạ hồi phân giải. Bây giờ để nói vài trường hợp dẫm vô cái ô thứ hai cho ông bạn nghe mát lổ tai chơi. Mới vừa đây có ông Năm Tiều làm một cú cũng nổi đình nổi đám lắm. Ông ta có vợ có con hồi chin năm Thằng con trai mười ba tuổi. Cơ quan đóng ở nhà bà má có đứa con gái. Ông ta bắt chuỗi rể sao đó mà cô ta mang bầu. Ông ta chịu thiệt. Cơ quan phải tuyên bố. Ở vùng này có câu ca dao:

Tháng này ở dưới Gót Chàng.
Tháng sau thì đến với nàng Hòa Đông.


Cũng chưa hết. Xong vụ Năm Tiền tới vụ Hai Giả. Ông này cũng có vợ con đùm đề ở trên Hóc Môn. Vợ vô thăm mua đài, xe đạp đủ các thứ, toàn thượng hảo hạng, ai trông thấy cũng lé mắt, cứ vài tháng bà vượt Cầu Bông lên đây “dưng dưa” cho bệ hạ vài ngày, nhưng ăn quen nhịn không quen, hễ bả về thì ông ở trên này xả cảng hoạt động. Ổng có tật “súc miệng” bằng Ba Xị Đế. Cho nên ông ta quơ bà Chín Kiểu nấu rượu ở Bến Mương. Nhờ đó ông ta tha hồ “súc miệng”. Rồi bà cũng có thai và phá thai. Hiện ổng đang bị đình chỉ công tác chờ kỹ luật. Nói lằng nhằng mãi cũng không có hết đâu. Nhưng đó chỉ là chuyện mấy ông nhỏ. Còn mấy ông lớn cũng chẳng có thua gì, nhưng phải giữ gìn uy tín cho mấy ổng.

Đến đó thì có hai người đàn bà rẽ vào mối đường. Tư Thêu nói nhỏ:

– Người của mình ở dưới tàu lên! Để tôi tiếp chuyện.

Tôi trở vào nhà đứng trước thềm ba săm soi mấy món chiến lợi phẩm của chị Sáu Tiệm. Chị vồn vả:

– Cậu mua đi, tôi để vốn cho. Ở vùng này cần các thứ đó lắm. Nhất là cái bi-đông. Rủi gặp lúc tụi nó “khui”, ở dưới âm phủ hai ba ngày lấy gì uống?

Quả thật, đồ tốt quá. Thứ nào cũng “ô-rin” cả. Lương thực vũ khí của nómình mua dùng đánh lại nó khoẻ re. Đánh bao lâu mà không được?

– Cậu nhờ người móc gia đình hả?

– Dạ.

– Ở đâu?

– Dạ ở Sàigòn.

– Vậy thì dễ lắm. Ngày đi ngày về. Rước mợ hả?

– Dạ tôi đâu có mợ miết gì.

– Ở ngoài Bắc cả chục năm mà ở vậy được à? Nge mấy ông nhà mình nói con gái Bắc đẹp lắm!

– Đẹp thì cũng có đẹp nhưng ta về ta tắm ao ta vẫn hơn.

– Ao ta có người tắm hết rồi.

– Chị làm mai được không?

– Tôi đâu có biết ai mà mai mối. Ở đây chỉ có một chỗ thôi. Nhưng con nhỏ này gác máy bay dữ lắm. Cỡ cậu chắc…

Vừa đến đó thì y như kịch diển trên sân khấu, nhân vật bước ra.

– Anh Hai ơi! Đi về!

Nghe tiếng quen tôi ngó lại. Thì ra Là. Tôi hỏi:

– Má xuống tàu rồi hả em?

– Xuống rồi. Thôi đi về. Em còn nhiều công chuyện lắm.

– Em coi dùm mấy món này chút để anh mua.

– Tiền đâu mà mua! Ai biểu đang đeo trong mình thấy mấy cô đi R xin là cho ngay.

– Ừ! thì người ta cần mà em!

– Cho người ta nên bây giờ phải mua với giá siết họng!

Thấy Là có vẻ phật ý tôi chỉ mua hai lọn dây dù với lý do là đem về giăng võng cho bé Rớt ngủ. Bị Là phản đối tôi không dám mó món gì khác. Tôi là một người khách vô kỷ luật mất rồi. Từ R xuống trạm, đáng lẽ phải ở tại trạm chờ chuyến đi về cơ quan, đàng này lại bỏ trạm cà nhỏng ra “vùng meo” thế này rủi có chuyện gì ắt bị kỷ luật. Bây giờ sinh mạng tôi nằm trong tay của cô xã đội phó này. Cho nên tôi không dám cãi lời cô. Cô bảo đi là đi, cô bảo chạy là chạy, cô bảo chui là chui mà. Ngoài cái quyền xã đội kia, cô còn có cái quyền em nuôi nữa. Mà là em gái.

Nhưng bà chủ tiệm cứ xơn xớt cái miệng, kéo níu:

– Anh Hai, ủa cậu Hai có chê thì tôi tìm thứ “cước cạnh” hơn cho. Cái bình toong này có móp một chỗ. Móp thì móp, có sao đâu mà! Đựng nước không chảy thì thôi phải không cô xã đội. Thiếu gì cái tốt mã, tròn trịa không móp méo mà đựng nước chảy re. Cậu Hai muốn thứ nào?

Là cười khảy, nói trỏng trơ:

– Ở nhà có rồi còn mang chi thứ đó nữa! Thôi đi về anh Hai!

Sáu Tiệm cười thơn thớt.

– Coi chừng cái ở nhà lâu quá không xài nó thủng rồi mà không hay! Ủa, cô xã đội quen với cậu hồi nào vậy cậu?

– Ảnh là con của má tôi, là anh của tôi.

– À, vậy hả? Cơ khổ, vậy mà tôi đâu có biết! Bị má có nhiều con quá mà! Con mùa Thu, con mùa Đông, con đại tá, con đại úy, còn cô cũng có nhiều anh quá… nên tôi không biết hết. Xin lỗi nghen.

– Con đâu mà nhiều. Má tôi chỉ nhận ảnh là con thay cho anh Hai tôi hi sinh năm 1946 ở trận Bến Súc.

– Vậy nữa, tôi đâu có biết!

– Hồi đó chị chưa ra đời, biết sao được.

– Tôi không biết mà cô xã đội biết, thiệt là tài! Cho nên gọi bằng anh, sợ còn hơn ru…ột đó!

Tôi thấy cuộc đối thoại có mầm bùng nổ to hơn nên can gián, cố ý bênh vực cho cô em gái của mình:

– Tôi được má nhận làm con nuôi đó chị Sáu.

Chị Sáu nhìn chằm chặp vào Là:

– Vậy tốt lắm! Chuột sa hủ nếp rồi đó! Hì hì… thôi đi về đi để cô em hờn mét má đánh đòn! Mai mốt có đi ngang đây thì ghé uống trà. Tôi có rượu nếp than nữa! Cô xã đội bữa nay ăn mặc đẹp quá. Quần áo này chui xuống hầm hỏng hết!

– Nè, cậu hai muốn bình toong không chảy, tôi kiếm dùm cho. Mai mốt ghé lại thì có.

Là đi vun vút như gió bỏ tôi một khoảng xa, tôi kêu hai ba lần mới đứng lại. Thấy nét mặt Là vẩn hầm hầm, tôi kiếm chuyện dã lã:

– Tàu chở đông người không em?

– Đông lắm!

– Bao nhiêu một cái “vé” (Tôi phát âm theo tiếng Bắc)

– “Dé” gi?

– Vé đi tàu!

– Giấy mà nói “óe óe”.

– Ừ thì “dé”, ủa “giấy”.

– Ai có đi tàu mà biết.

Thấy cô em giận dỗi, tôi suýt bật cười. Nếu tôi không vào cái quán này thì mọi sự êm rơ. Đàn bà con gái có những cái giận như vậy đó. Đàn ông phải hiểu. Tôi bèn đánh trống lãng:

– Bữa nào em cho anh xem hầm được không?

– Cũng vậy thôi, có gì mà xem!

– Anh đâu đã xuống lần nào mà “cũng vậy”.

– Để hôm nào tiện.

– Em có bao nhiêu thước hầm?

– Chục rưỡi gì đó!

– Trời đất! Sao anh nghe đài nói là du kích mỗi xã có vài cây số hầm.

– Đài nào?

– Đài nào em biết mà!

– Mấy ông đó biết cái hầm ra sao mà cứ nói. Đào một thước hầm đã gãy tay rồi nữa là mấy cây số!

Đang đi bỗng Là đứng lại nhìn tôi với cặp mắt rực lửa. Tôi khựng lại, nghe như một loạt “tiểu liên” ria ngay vào ngực một cách êm ái:

– Bả mời anh mai mốt tới uống trà, uống rượu nếp than, hút thuốc thơm.

– Người ta mời xã giao mà … em!

– Anh có định tới không, sao không trà lời để bả chờ?

– Chậc! Anh gặp thằng bạn quen về hồi 62 mà. Nó thấy anh đứng xớ rớ ngoài đường nó lôi vô nhà đó chớ, đâu phải tự nhiên mà anh dám bước ra khỏi vòng phép của em.

– Anh quen ông nào?

– Tư Thêu.

Tôi thấy nét mặt Là hơi giản ra nên lại tiếp tục đi tới.

– Ai chớ ông đó thì được. Ổng có vợ con đàng hoàng. Từ đầu Đồng Khởi tới giờ không mang tiếng.

– Ảnh giới thiệu cho anh một người.

– Người gì?

– Người con gái.

– Xí!

Là đang đi bỗng quay lại “xi” một tiếng rồi ngoe ngoải bỏ đi, vượt tới trước! Tôi cười và đi nhanh theo, trêu tiếp:

– Em biết người con gái đó không?

– Hết con gái tới đàn bà, hết đàn bà tới con gái. Các ông thì vậy thôi. Văng râu rớt mão cũng vì ba cái đó.

– Mía sâu có đốt nhà dột có nơi nghe cưng!

– Thì em có quơ đủa cả nắm đâu. Em chỉ nói mấy ông đó thôi.

Là dịu dàng trở lại. Tôi cũng tìm cách bao che cho mấy đồng chí nhà mình và vớt vát cho cái mặt mình bị đen lây.

Tôi nói:

– Em phải thông cảm cho họ. Bốn mươi ngoài cả, xa vợ chin mười năm rồi.

– Xa thì về gặp rồi. Gặp rồi mà còn vậy. Xa thì bậc nào?

Tôi đành lặng im.

Trời mưa nắng gắt. Nắng chớp sao trên cánh đồng còn lởm chởm những mô rạ cùn. Đất cát pha đất đỏ nâu nhạt, khô cứng. Không giống như đất đầy phân lá nâu đen miền Tây hoặc đất màu mở Tây Đô ở những nơi mà tôi đã đi qua. Đất Củ Chi hơi giống đất Bắc Giang Bắc Ninh. Tôi đi theo chân cô du kích mà lòng miên man nghĩ ngợi nôn nao, nhớ nhung, nhưng không biết nghĩ ngợi nhớ nhung ông bà ông vải gỉ mà thấy mình lâng lâng như mây gió bay đi bốn phương vô định.

Nhìn cánh đồng rộng trải ra trước mắt tôi lại thấy tôi trôi ngược về Xuân Mai, Ba Vì, Lam Sơn là những vùng rừng núi chập chùng. Ở đó những người lính Nam Bộ thay vì ở cơ binh quân ngũ, lại đi đón gỗ, chăn bò, nuôi heo, trồng cao su, trồng mía còn hơn tù khổ sai hơn hồi chín năm! Bây giờ ở trên đang cần ngực Nam Kỳ đở đạn, xương Nam Kỳ bắc cầu, da Nam Kỳ bọc ghế để bọn chúa đất Bắc Kỳ ngồi thì dân Nam Kỳ mới được vinh quang rời chuồng bò cũi lợn, rời rừng hoang, vượt núi về quê để đưa ngực ra…

Tư Thêu, tên thiếu úy chăn bò chỉ là một trong cái đội quân Nam Kỳ lốc nhốc đó. Gần bốn mươi tuổi mới được cưới vợ và lại chăn bò. Nhưng chăn bò ở đây dù sao cũng khỏe hơn. Tôi đã từng thấy những chú bò xe đứng trong bóng mát thầm lặng nhơi cỏ. Những con bò béo tốt và khỏe mạnh với “cục cổ” có thể kéo cả quả núi Ba Vì. Khi leo thang ra miền Bắc bằng Không Lực, Tổng Thống Mỹ đã tuyên bố sẽ cho Hà Nội trở lại thời kỳ gổ đá. Thì rõ thật! Ở đây “Ngụy” đi máy bay tàu thủy xe hơi còn mình thì đi xe bò. Nhưng rồi đây xe bò cũng không được tự do thênh thang. Chúng nó đi guốc trong bụng mình. Chúng nó đâu có để bò tải gạo cho giải phóng ăn no rồi đánh lại chúng . Một đồng một cốt như nhau. Mỹ cũng theo chánh sách của Pháp.

Hồi kháng chiến trước, Pháp nó bảo: Bắn chết một con trâu bằng cắt đầu mười tên Vệ Quốc Đoàn. Hồi 1948, tôi ở vùng Rừng Sát xã Lý Nhơn, chúng nhảy dù xuống bao vây Trung Đoàn 300 của Dương Văn Dương, và Tiểu Đoàn 305 của tỉnh Gò Công thuộc chiến khu 8. Hai đơn vị này phải mở đường máu rút chạy, Tây gom tất cả trâu vùng này có đến trên hai trăm con rồi xã súng bắn chết sạch hết. Xác trâu nằm đầy ruộng. Dân chúng lẫn lính Vệ Quốc Đoàn tha hồ mà xẻ khô. Nhiều quá lấy không xuể, thối oăng, lớp thì chất rơm đốt, lớp thì lôi bỏ xuống hố, gọi là Mã Trâu.

Bỗng nhiên tôi hỏi Là:

– Tại sao gọi là Hố Bò hả em?

– Em không biết gì đâu. cũng như Củ Chi, Bến Dược, Sóc Lào vậy thôi.

– Không phải đâu! – Tôi đặt chuyện để xóa đi nét cau có trên gương mặt hồng tươi xinh xinh của cô gái. – Người ta gọi Hố Bò là vì hồi sau khi mình thua trận Bến Súc, Tây nó gom bò lại rồi bắn hết. Chỗ đó là một cánh đồng. Nên người ta gọi là Đồng Bò rồi sau này mưa trủng xuống sâu, ta gọi là Hố Bò.

Là tưởng thật, hỏi:

– Còn Bến Dược?

– Ban đầu nó là Bến Nược. Vì bờ sông Sàigòn có cái bến cá nược thường đến. Hễ người đứng trên bờ gọi to: “Nược, nược, đua bớ nược!” Thế là cặp cá nược nổi lên bơi đua với mình đi trên bờ. Về sau Bến Nược hóa thành Bến Dược.

– Em đâu có biết cái chuyện đó! Còn Củ Chi?

Tôi bí nên gạt nhẹ.

– Chuyện đó dài lắm. Hôm nào xuống hầm nghỉ ngơi anh sẽ kể cho em nghe!

– Vậy em cho anh xuống hầm bây giờ nè!

– Anh thích xuống hầm cho biết.

– Em sợ anh xuống rồi trồi lên không kịp chớ thích gì.

Đang đi trên đường, Là bỗng rẽ vào một lối mòn dẫn vào một khu rừng chồi. Vừa đi, Là nói:

– Hồi Mỹ mới tới Dĩ An, Đồng Dù em ớn lắm, nhưng sau vài trận bom, em thấy tụi nó dở lắm. Nó bỏ không chết gì ngoài ba con cóc nhái với ểnh ương.

– Giởn hoài em. Khúc đường 15 từ Hố Bò xuống tới An Nhơn Tây tan thành bùn thì sao?

Là nghênh mặt:

– Cái đó là B52 mà anh.

– B52 cũng thả bom chớ thả gì?

– Nhưng mà nó thả hằng loạt, chứ không thả như tụi kia. Em chỉ ngán B52 thôi. Hễ B52 trải thảm thì trời cứu! Còn tụi kia, em nói thiệt, L19 bắn trái điểm rủi có ngay em, em cũng phóng khỏi. Vì phải ít nhất hai phút bom từ phản lực mới rơi tới đất. Em đã tập trận giả với tụi con Mô rồi. Hai phút em chạy ít nhất nhất là một trăm thước, nếu đất bằng em chạy một trăm năm chục thước, bom liệng không kịp.

– Rủi bom rơi ngay thì sao?

– Đó là trường hợp rơi ngay.

– Làm sao em biết bom rơi ngay mà chạy?

– Thấy nó như cái dĩa và to lần bằng miệng thúng. Đó là rơi ngay. Còn thấy nó như khúc mía rời, dài bằng cây gậy đó là rơi xa. – Là liến thoắng trỏ về Hố Bò – Anh trông kìa, cái vệt trắng trắng đó là cái nhà Mủ của đồn điền cao su hồi trước. Máy bay đánh nát hết chung quanh, cả rừng cao su cũng nằm mẹp, nhưng cái nhà mủ còn nguyên.

Tôi cười:

– Không phải nó dở đâu. Nó để cái nhà đó làm điểm chuẩn bỏ bom đó.

Là trố mắt:

– Vậy không phải nó bỏ bom trật á?

– Không đâu em.

– Chuẩn là gì?

– Tức là dùng cái nóc trắng để tìm ra những nơi khác. Cũng như em nói “còn một cây số nữa là tới Hố Bò. Hoặc đi khỏi Hố Bò một cây số thì tới!” Vậy đó.

Là cười khoe hàm răng trắng lấp lánh:

– Vậy mà lâu nay tụi em cứ chê lén mấy thằng Mỹ bỏ bom dở.

– Dở gì mà dở. Cầu Miền Bắc nó đánh còn sập tất cả nữa là một cái nhà con đó.

Sẵn dịp tôi cũng cho cô em biết chút khoa học về xạ kích, bắn pháo của tôi:

– Bây giờ nếu ở trên bảo anh pháo Củ Chi anh bắn nát hết cho coi.

– Thiệt không ?

– Sao không ! Đơn vị của anh đã đánh sân bay Biên Hoà đấy. Nói cho cô em biết.

Là ngó tôi trân trân chân vấp mô đất suýt ngã. Tôi chụp lấy tay kéo nàng lại.

– Thời buổi này cái gì cũng phải dùng khoa học hết em ạ. Về trong này chỉ có những con người được huấn luyện chút ít khoa học còn những phương tiện khoa học thì hoàn toàn không có trong tay. Khác nào gà nòi đem đi đá mà cắt đi cặp cựa, võ sĩ lên đài mà bị trói tay.

– Nhưng cũng còn khá hơn chúng em trong này. Mấy ổng xách đầu muốn bỏ đâu thì bỏ, bảo làm gì thì làm nấy, trong tay chỉ có cây CKC thôi, ngoài ra còn mấy hầm chông nữa là hết.

– Nhưng về tinh thần thì các em hơn các anh xa.

Là cười ré lên hồi lâu. Chúng tôi lủi sâu vô rừng. Đất lòi lên những mô đỏ sậm, rải rác những cành cây gãy cúp trên đầu hoặc lỗ chỗ dấu đạn dưới chân.

– Em sẽ cho anh biết mùi hầm Củ Chi!

Nói xong nàng ngồi xuống một lùm rậm, đưa tay vào cào một mớ lá khô.

– Em tìm cái gì vậy?

Là không trả lời. Nàng cúi đầu vào, bị mấy nhánh gai cản mặt, nàng bảo:

– Anh vén ba cái này dùm chút.

Tôi vừa kéo mấy nhánh cây ra thì Là reo lên:

– À đây rồi!

Tôi nhìn qua vai Là nhưng không thấy gì ngoài mấy ngón tay hoạt động của Là, những ngón tay không đẹp cũng không thô. Bỗng chúng dừng lại, Là ngẫng lên:

– Anh thấy nắp hầm không?

– Không!

Là ngồi nhích qua một bên nhường chỗ cho tôi. Tay vẫn đỡ nhánh gai, tôi ngồi xuống. Là đã cào hết đất bùn trên một diện tích vuông bằng cái khay trầu, để lộ ra một chiếc khung gỗ. Là lại lấy ngón trỏ moi moi và lần lượt lôi lên hai cái khoen sắt. Là quay sang, mặt nàng suýt đụng mặt tôi, hơi thở của nàng nóng hổi:

– Hầm này của xã đội xử dụng chung, nhưng cả năm bỏ phế không ai xuống!

Tôi thọc hai ngón tay trỏ vào khoen và lôi mạnh lên. Nhưng ngón tay bị khuyết đau mà nấp hầm không bật. Là nói:

– Bỏ từ Đồng Khởi tới bây giờ, nắp có lẽ đã mục rồi!

Tôi bảo Là tránh ra rồi đứng dậy lấy hết sức bình sanh kéo phát nữa. Lần này thì nắp hầm bật lên để hở một khoảng trống vuông đen ngòm. Từ đó bốc lên một thứ mùi vừa nóng vừa tanh. Tôi phải quay mặt ra ngoài để tránh.

– Đó, muốn xuống cho xuống?

Là hỏi trỏng chứ không dùng tiếng “em” như trước đây nữa.

– Địa đạo gì giống âm phủ vậy?

– Thì nó vậy đó chớ sao?

Tôi thối chí quá nhưng còn muốn biết thêm. Tôi móc đèn pin trong ba-lô rọi rồi nhìn qua…

– Thì xuống đi cho biết!

– Chỉ có vầy thôi sao?

– Thì nó là cái hầm bí mật thôi, nhưng nếu là của tập thể thì đào dài ra, rộng hơn một chút, chớ có gì lạ đâu.

– Vậy sao đài nói là lùa cả bò heo xuống dưới đó được. Cái miệng hầm này có bằng này thì bò chui thế nào?

– Thì bò giấy heo giấy lọt tuốt chớ sao không?

– Hay là có bí mật gì khác, em không muốn cho anh biết?

– Bí mật gì nữa, ba cái hầm bây giờ ai còn xài nữa mà phải giữ bí mật?

– Vậy sao anh nghe nói xuống hầm như ở trên nhà, mát mẽ, khoảng khoác, ngủ trưa đã lắm.

– Vậy nữa?

– Người ta còn nói là hầm có hai ba tầng như nhà lầu vậy.

– Có hai tầng thôi!

– Đó, em giấu thấy chưa?

– Có hai tầng thiệt, nhưng không có mấy ai đào nổi!

– Sao vậy?

– Đào một tầng đã hộc máu rồi anh ơi! Để khi nào chúng em đào hầm mới hoặc chữa lại hầm củ em sẽ cho anh biết. Anh đào thử năm tấc hầm coi có nổi không? Rồi anh sẽ hiểu muốn đào một cây số hầm thì cần bao nhiêu nhân công. Nhưng anh nên nhớ là đào ban đêm lén lút không được dốt đèn không được nói chuyện chớ không phải như phá hoại đường sá ồn ào đâu nghe.

Viết tới đây thì Bagdah bị ăn bom Mỹ. Những tên ngoan cố, ngu xuẩn xâm lược đều đưa quốc gia dân tộc đến một kết quả giống nhau. Năm chục ngàn thanh niên Việt Nam chết ở Cao Miên, Mười ngàn ở Lào để làm gì? Kuwait đã bị chiếm đóng nhưng sẽ được giải phóng trong vài ngày tới. Với cái giá máu nào Iraq phải trả cho cuộc xâm lăng này? Cũng như VC đã trả ở Miền Nam và Cao Miên!

Tôi lắc đầu không chịu xuống hầm. Từ kháng chiến chống Pháp tới giờ tôi chưa bao giờ nếm mùi địa đạo. Hơn nữa nghe Là nói sơ qua, tôi đã thấy ngột ngạt rồi. Lại còn các thứ rắn rết, muỗi, bọ và đặc biệt là “ghẻ”, cái thứ ghẻ có cái tên là “ghẻ xốn” mà tôi vừa nghe nàng nói lúc đi đường, nên tôi cương quyết rút lui.

Đậy nắp hầm, nghi trang trở lại như cũ, Là dắt tôi trở ra đường. Nàng giải thích:

– Đây là cái hầm mấy ổng định dùng để phục kích đánh lính ruồng. Bắn tỉa xong là chạy thụt xuống hang trốn.

– Có đánh được trận nào kgông?

– Đâu có đánh được.

– Tại sao?

– Vì nó đâu có đi bộ mà đánh.

– Không đi bộ thì đi bằng gì?

– Nó toàn “đổ” bằng trực thăng thôi. Có trực thăng thì kể như mình hết ngo ngoe.

– Tại sao vậy?

– Nó bắn như mưa trên đầu. Trước khi đổ nó bắn nát. Trong lúc đổ nó bắn vòng quanh bảo vệ. Trước khi rút nó bắn chận hậu. Mình đâu có phục kích được. Mà có phục kích thì chắc đâu nó đã vào đúng ý đồ của mình? Vì nó đổ bãi trống, có khi nó đổ sau lưng hoặc đổ bên hông, mình co giò chạy không kịp. Vậy cho nên hầm phải bỏ trống. Xài gì được mà xài. Vừa rồi chúng em động viên toàn đội đào ở ngoài đường 15 gần Bến Dược, trên đường xuống An Nhơn Tây. Định sẽ chận đánh một trận nho nhỏ để hâm nóng tinh thần đồng bào nhưng lại bị B52 bỏ

– Trúng ngay á?

– Không, chỉ hơi gần thôi anh ạ!

– Rồi sao?

– Nhưng hầm sụp hết.

– Hầm yếu vậy sao?

– Anh nghỉ coi bom tấn, đất gì chịu nổi?

Là lặng thinh một lúc. Tôi mới vỡ nhẽ ra nhiều điều. Các thứ bửu bối xài thời kháng chiến chống Pháp bây giờ vô dụng hết. Như lựu đạn gài hầm chông…

Là nói đúng ngay ý nghĩ của tôi:

– Lúc nãy em quên, để lần sau, em sẽ dẫn cho anh xem khúc đường 15 bị B52 “cày”. Bùn sục lên như cháo.

– Biết rồi. Anh cũng đã thấy nhiều rồi. Đợi phải cô lên lớp cho sao?

– Anh tính coi bom 200 ký, 250 ký dùi sâu mấy thước?

– Từ ba tới bốn thước.

– Bom tấn dùi bao sâu?

– Chín, mười thước.

Là lắc đầu không nói gì. Hồi lâu, bảo:

– Anh thấy chưa?

– Thấy gì? Bộ trực thăng tới hà?

– Không, em nói chuyện địa đạo kia. Bom khoét sâu từ bốn tới chín thước thì em hỏi anh…

– À…

Là hơi to tiếng.

– Hầm nào chịu nổi. Vậy mà chú Tư Thiên cứ bắt tụi em đào hoài. Đào đã mệt nhưng có đứa nào dám chui xuống đâu. Với bom pháo bây giờ, địa đạo trở thành những cái hòm đất sét. Không biết hồi trước mấy ổng dùng địa đạo như thế nào, chớ tụi em bây giờ chỉ làm hầm bí mật để trốn thôi, không cần dùng để chiến đấu nữa.

– Nhưng tại sao, biết vậy mà mấy ổng bắt mấy em đào hoài?

– Để cho ổng báo cáo lên trên.

Tôi nghe như vỡ ra trong đầu tôi một trái phá. Là tiếp:

– Còn ba cái chông tre nữa. Mấy ổng bắt mỗi nhà phải chuốc một, hai trăm mũi nạp cho xã đội. – Là bật cười ha hả rồi cười ngặt nghẹo – Lính nó đâu có đi bộ nữa mà làm hầm chông? Chỗ nào nó nghi ngờ có hầm có lựu đạn gài nó kêu trực thăng tới bắn dọn đường rồi mới đi, hoặc nó “nhảy cóc”. Tội nghiệp mấy ông bà già ngồi còng lưng chuốc chông!

– Bà con vẫn chuốc à?

– Bí thư ra lệnh là phải chuốc chứ! Nhưng mà họ chuốc mỏng như lá lúa vậy. Hì hì. Ông bí thư có muốn báo cáo thì báo cáo vượt chỉ tiêu, nhưng thứ chông đó chỉ dùng để xỉa răng tốt hơn.

– Trời đất!

– Ở dưới này có cái bệnh báo cáo láo anh ạ. Ấp báo cáo chuốc ba chục ngàn mũi chông, bố trí được hai chục hầm chông và đào được hai trăm thước địa đạo nhưng thực ra chông bó chặt quăng xuống ao “ngâm” hết, địa đạo thì đào được vài chục thước còn hầm chông thì chừng hai ba cái mà làm không bảo đảm. Hồi tháng trước chú Tư Thiên cho bố trí một tuyến hầm chông, không cắm bảng tử địa. Một cô rơi xuống bị chông đâm suốt từ đùi đến mông. Chúng em phải khiêng đi lên quân y viện mất một đêm trời để mổ lấy chông ra.

– Sao bảo chông như tăm xỉa răng?

– Nói cho có trời đất chứng minh, một bó chông trăm mủi, chọn ra được năm, sáu mũi kha khá đem đi cắm được. Nhưng lính bận đồ “trây di” thì chắc đâm trầy da thôi.

– Em nói thật chớ Là?

– Em nói láo mà làm gì? Xã nào cũng thi đua báo cáo cho nên trên huyện tổng kết có đến hai, ba chục cây số địa đạo là vậy đó anh ạ. Em biết mà. Kế hoạch xã đào địa đạo là em đặt ra, em chỉ huy đào chớ ai mà em không biết?

– Rồi em cũng thi đua báo cáo?

Là cười ngất.

– Ai sao em vậy chớ sao… o! Nếu không vậy thì xã em cầm đèn đỏ hoài hoài. Làm sao giữ cờ luân lưu của mặt trận được?

Về tới nhà thì trời đã xế dài. Bé Rớt chạy ra mừng cậu và dì “đi chợ về”. Ở nhà bán quán, bánh trái thiếu chi, nên bé không đòi bánh. Tôi lấy hai lọn dây dù ra xỏ vào đầu võng mắc lên rồi bảo bé lên nằm thử.

Bé Rớt đong đưa cái võng, đạp chân vô cạnh ván lia lịa và hát:

Chiến sĩ ta dầm sương dãi gió. Rét run người, nắng đổ mồ hôi.

Là chọc:

– Chớ không phải “Chiến sĩ ta nằm đâu ngủ đó, ngủ quên giăng mùng muỗi cắn rồi la” à?

Là hỏi chị:

– Cơm xong chưa chị?

– Sao đi lâu vậy?

– Tại anh Hai ghé bà Sáu Tiệm mua dây dù.

– Chèn đéc, có vô đó nữa hả?

Là cười với vẻ mặt không hài lòng:

– Có chớ! Ai tới Bến Dược mà khỏi đặt chân vô đó mua đồ Mỹ?

Mấy ông mùa Thu thấy bình toong với dây dù Mỹ là mê thôi. Xà bông thơm, kem đánh răng… Đồ của Trung Quốc xấu quá. Cái bình toong trông như cái muỗng vừa còn xà bông thơm thì không thơm gì hết.

Tôi hơi nhột, vì các thứ xa xí phẩm này là đồ ưu tiên, đi B và phải là sĩ quan thì mới mua được. Lính chỉ mua đồ nội hóa thôi. Tôi gói kỹ cục xà bông trong ba lô để về quê tặng cho em, cho chúng nó gội đầu biết mùi thơm của xã nghĩa. Hôm qua tôi có cho bé Rớt một miếng xà bông Trung Quốc, hôm nay bị Lụa chê. Nhưng không lẽ cãi lại, Lụa lấy trong quán ra một cục xà bông đưa cho tôi. (Tôi nhận rằng nàng thật tình chứ không phải khoe khoang). Nàng nói:

– Trong này thiếu gì xà bông thơm anh! Còn kem đánh răng thì ôi thôi, thích thứ nào thì mua thứ nấy.

Tôi hỏi:

– Cô thích thứ nào?

Vì nàng có chồng có con, nên tôi gọi bằng cô, còn Là thì bằng em cho phân biệt.

– Chà Và Hynos. – Nói xong nàng đi lấy một cây đưa cho tôi, vui vẻ – Đâu anh xài thử coi.

Rồi Lụa và Là lúi húi dọn cơm. Lụa ở nhà bắt con gà giò làm thịt xé phay trộn với chuối cây bóp dấm.

Là hỏi.

– Ở nhà có ai tìm em không chị?

– Mấy đứa nó tìm mầy đục nước chớ sao không?

– Ai?

– Tư Bò.

Là bật che miệng cười và quay mặt:

– Anh Hai mới vừa cho em nghe sự tích Hố Bò, bây giờ về nhà lại nghe chị nhắc Tư Bò.

Tôi hỏi.

– Rồi sao em cười?

– Kỳ đó đang họp bỗng trực thăng tới bắn. Vì là lần đầu chưa ai quen với sự oanh kích của trực thăng, đứa nào cũng bò lăn bò càn. Nhưng chỉ một mình ảnh là bò giỏi hơn cả bọn. Người ta bò trên bờ, vừa bò vừa chạy ra khỏi làn đạn, còn ảnh thì bò xuống mương, bò tới bò lui không đi tới đâu hết! Đến chừng trực thăng đi rồi, thấy mất ảnh, tụi em trở lại tìm thì thấy ảnh vẫn còn bò lỗm ngỗm dưới mương. Tụi em lôi ảnh lên. Từ đó ảnh có biệt danh là Tư Bò.

Cả tôi, Lụa và bé Rớt cùng cười. Là nói:

– Ở đây ít có ai xài tên thật lắm anh ạ. Như em nói đó, chú Bảy Hốt, rồi chú Bảy Hít, anh Tư Bò là do hoàn cảnh tạo nên. Cũng như trong xã nhiều ông khác có tên kiểu đó. Như: Hai Dợm, Ba Phóng, Tư Đeo, Năm Thỏ, Bảy Lủi, Tám Giỏ, Sáu Sảy… mỗi cái tên nói lên một đặc tính của con người. Từ rày, khi anh được xã giới thiệu ai có cái tên lạ lạ thì anh nên phăng ra tánh tình của họ. Thí dụ như trong trường hợp trực thăng sắp đổ chụp mà anh Sáu Thỏ dẩn đường, anh phải chuẩn bị cặp giò thì chạy mới kịp.

– Còn Tư Đeo?

– Là anh ta đeo anh dính như đỉa vậy.

– Chắc anh giống Tư Đeo quá! Anh mới về đường đi nước bước còn lạ thì anh đeo người ta chứ đâu có ai thèm đeo anh!

Lụa cười:

– Có nhiều người sẽ đeo anh cho mà coi!

– Úy trời đất! Đeo anh đặng mà chết chùm.

Tôi sực nhớ chập tối ngồi nói chuyện với má ở ván trước, tôi có ngó lên bàn thờ thấy một tấm hình bán thân. Vì ánh đèn lờ mờ tôi không nhận ra đó là người trẻ (Anh Điều) hoặc già (có thể là Ba) nên tôi hỏi Lụa:

– Có cúng trên bàn thờ chưa cô?

– Không, má nói anh Điều còn trẻ không có đám giỗ.

– Ba mất lâu chưa cô?

– Hồi chín năm, ổng làm ban tiếp tế, bị Tây ruồng bắn.

– Phải cúng một mâm chớ. Thịt gà xé phay ngon mà.

– Không, gà vịt ăn hoài đâu có cúng. Chỉ cúng ngày giỗ thôi!

– Vậy để anh cúng phần anh. Con cái gì ăn ngon mà không cúng ông bà? Ít nhất anh cũng phải đốt một cây nhang rót một tách nước cho phải đạo. Đáng lẽ anh phải đặt một cái lễ đối với Ba khi bước vào gia đình này làm con của Ba má và làm anh của hai em như anh Điều vậy.

Lụa lẫn Là đều trố mắt nhìn tôi. Có lẽ hai nàng không ngờ tôi làm, nói những lời như vậy. Tôi cũng không hề tính trước. Nhưng bỗng nhiên tôi bật ra ý kiến đó.

Tôi đi xa nhà hai mươi năm không săn sóc cho cha mẹ, không cúng lạy cho ông bà. Khi ở Miền Tây Nam Bộ thì còn thấy đám giỗ trong nhà dân, tôi cũng có hụ hợ bưng mâm rót nước giúp cho gia đình. Nhưng từ khi ra Bắc tôi xa hẳn cái phong tục cổ truyền quý báu đó, hết ở doanh trại đến ra mậu dịch, tiệm nước không còn nhớ gì nữa. Bây giờ về đây tôi được ngủ đêm trên ván gõ, ngó thấy bàn thờ, có mẹ, có em, có cháu. Có bàn thờ, đốt nhang cặm lên. Sung sướng nồng nàn biết bao. Tôi nhớ cái nhà và gia đình của tôi vô cùng. Tôi thấy Lụa quay mặt vào cây cột chùi nước mắt. Chập sau Là bưng lên cho tôi một bát cháo, một dĩa thịt gà, một dĩa rau răm rau thơm và một dĩa muối ớt đỏ tươi trên một chiếc mâm thau nhỏ chùi rất sáng.

– Nè, anh đem lên bàn thờ Ba đi!

– Cảm ơn em.

Tôi bưng chiếc mâm mà ứa nước mắt. Tôi nhớ lại tôi thuở còn bé, lúc còn ở nhà cũng được giao cho việc bưng mâm lên bàn thờ như hôm nay.

Tôi đặt chiếc mâm lên bàn thờ, không biết van vái thế nào, chỉ lẩm nhẩm mấy tiếng: “Xin vong hồn của Ba và anh Hai phù hộ cho gia đình”. Rồi tôi rót rượu, đốt nhang xá hai xá! Là nhắc tôi.

– Phải xá ba xá mới đủ!

Tôi thấy như tôi đã chuộc xong tội lỗi của thằng con bất hiếu trong mấy chục năm trời tha hương. Ngồi lại bàn ăn, tôi thấy mắt Lụa đỏ hoe, còn Là thì chế diểu tôi:

– Anh xá coi không gọn bằng con Rớt.

Tôi cười:

– Anh quên mất hết rồi!

Lâu quá tôi không hề có một bữa cơm gia đình. Toàn ăn giật ăn chạy, ăn đói ăn kém, toàn nhậu nhẹt phá trời phá đất, không hề có được một bữa cơm ở đó má giẻ trứng cá cho con và vợ chan chén cơm đưa cho chồng.

Cơm ngon không chỉ vì thịt cá.
Râu tôm nấu với ruột bầu.
Chồng chang vợ húp gật đầu khen ngon.

Cái triết lý bình dân đó vô cùng vĩ đại.

Lụa gợi chuyện trước:

– Anh là Mùa Thu sao anh không giống mấy anh Mùa Thu khác vậy?

– Ai biết đâu!

– Cái chòi của tôi có cả trăm anh tới lui ăn ở trong nhà, nhưng thấy anh khác hết.

– Khác sao?

– Anh biết lấy. Tôi không nói được, nhưng thấy anh thương con Rớt. Mà nó cũng mến anh. Má cũng thương anh. Hồi nào tới giờ má không có bỏ nhà đi đâu cách đêm. Anh là nhứt thứ.

Cơm xong tôi đem trà rót lên bàn thờ rồi ra sân chơi với bé Rớt. Rớt sún răng chưa tới tuổi thay răng, mà vì nó ăn đường, kẹo nhiều quá! – Tôi đoán vậy – nên siếc ăn gần trụi hết hàm trên. Có lẽ thiếu tình cha, nên nó cứ đeo theo tôi. Nhờ nó tôi biết thêm mấy anh bạn mùa Thu nữa vẫn thường đến đây mua hàng và nhiều chuyện vặt giúp cho tôi hiểu ra những vấn đề lớn. Tội nghiệp, ba nó đi Thanh Niên Xung Phong. Ở trên hứa sáu tháng sẽ về, nhưng đã trên một năm. Xe bò ở nhà không ai đánh phải cho mướn rẻ. Đó là nguồn sống của gia đình của Lụa. Thơm (ba Rớt) đi, nhà cửa bỏ phế, vàch phên trống lổng, cái nhà hóa thành trạm thường trực của đường dây khu IV. Lụa phải đi đốn cao su trong vườn cao su bỏ hoang ở Hố Bò đem hầm than để bán cũng tạm sống được, nhưng từ ngày B52 cày nát đoạn đường 15 gần đó thì việc hầm than bị ngưng, Lụa không có việc làm nên sống đắp đỗi nhờ sự giúp đở của má.

Đang đứng trước sân, bỗng nghe “cụp, cụp” Tôi nghểnh cổ ra nghe để đánh hướng đạn đi. Rớt mau miệng nói ngay.

– Pháo Trung Hòa bắn đó cậu!

– Sao cháu biết?

– Nghe “cụp, cụp” là pháo Trung Hòa. Nó bắn không tới đây.

– Vậy xa tới đâu?

– Dạ tới Rừng Làng, còn pháo Đồng Dù thì mới đi xa và nhiều.

– Làm sao cháu biết pháo Đồng Dù?

– Dạ, nó bắn nghe lụp bụp liền liền chớ không có từng tiếng, hai ba tiếng là hết.

– Nó bắn xa tới đâu?

– Dạ, nó bắn tùm lum, đâu cũng tới hết á!

– Có gần nhà mình không?

– Có chớ, ở sau vườn, đằng góc sân nữa kìa!

Bé Rớt vừa nói vừa lôi tay tôi đến cuối sân. Gần gốc vú sữa có một cái hố con cỏ đã mọc phủ. Thân vú sữa có một vết thương to. Võ cây bay mất lòi xương nhưng cũng đã lành. Một bên tàng lá bị xén ngang như một mái tóc cắt ẩu. Tôi cảm thấy đau. Quê hương là cái gì cụ thể. Là không khí là đất là sông rạch, bờ dừa, hàng cau, mái nhà. Ai có thể hiểu được nghĩa của hai tiếng Quê Hương mà không qua những hình tượng đó.

Khi tôi ra đi sân sau nhà của tôi có hai cây vú sữa trắng do chính tay ba tôi trồng. Nhà tôi có những hàng cam mật vừa đơm trái chiến oằn cành, nhưng tôi không để ý, thậm chí cũng không hề hái một trái cam ăn. Mà chỉ mê đi theo bộ đội. Vì ham hai tiếng Độc Lập Tự Do thiêng liêng.

Một thế hệ đã ngã gục xuống đất, hai tiếng ấy vẩn còn chập chờn trước mặt tôi. Từ xa tới xa. Tôi hỏi Rớt:

– Vú sữa chừng nào chín, cháu?

– Con không biết. Má nói gần Tết hái chưng trên bàn thờ ông ngoại.

– Vú sữa này là vú sữa trắng hay vú sữa tím vậy cháu?

– Dạ cháu quên rồi.

– Cháu có thích ăn không?

Bé Rớt lắc đầu. Tôi hỏi tại sao? Bé nói ăn vú sữa miệng dính mủ má bắt rửa xà bông đau quá hà.

– Vậy cháu thích ăn trái gì?

– Cháu hổng thích ăn trái gì hết, cháu thích ăn kẹo, bánh, kem …

– Gì nữa?

– Nước đá, xá xị.

– Thích gì nữa?

– Cháu thích cái hộp sữa con chim đâm thủng rồi kê lên miệng hút.

– Trường cháu đông học trò không?

– Dạ đông mà bây giờ ra ấp chiến lược hết rồi.

– Sao cháu biết?

– Dạ, lâu lâu mấy đứa về đây rồi trở ra liền.

– Sao vậy?

– Nó nói ở trong này bom pháo chết, còn ở ngoài đó học không phải ngồi dưới hầm.

Trời chiều bảng lảng buồn tênh. Cảnh vật màu chì. Dăm chiếc trực thăng hiện trên nền trời. Đèn chóp của nó tựa hồ những con mắt nheo như chế diễu gã pháo binh: “Ê, muốn chơi thì lên tiếng nhé. Sẽ biết tay nhau!” Vài ba ngọn hỏa châu vụt lên nền trời đứng sửng và tua ra những tia sáng li ti như những mặt trời đêm mọc loạn xạ cùng khắp.

Bé Rớt giơ cánh tay nhỏ xíu trỏ các điểm sáng giáp một nửa vòng tròn:

– Đó là Bến Súc, Bến Cát, Trung Hòa, Trảng Bàng. Chỗ sáng nhất là Đồng Dù.

Vâng, đó là tử thủ của tôi trong vòng năm năm, 1965-1970. Ở nơi cái quận có cái tên là Củ Chi này tôi đã từng sống từng chết, từng thắng, từng bại, từng vui từng buồn, nhưng tất cả đều vô nghĩa lý đối với cái thằng Lôi.

Chương 4

Cơm nước xong tôi lên bộ ván gõ nằm. Lụa đã để sẵn chiếc gối tai bèo mới ở đầu bộ ván. Tôi đưa võng dỗ bé Rớt ngủ và mơ về nhà. Không biết bây giờ cha mẹ sống chết, giàu nghèo ra sao. Cô bạn chí thân thuở nhỏ … chắc đã có chồng con lâu rồi …

Vừa đến đó thì nghe pháo bắn. Kể từ khi về tới đây lúc nào cũng thấy con người dáo dác, lo sợ và sẵn sàng chạy trốn. Từ tối đến giờ nghe pháo nổ tứ tung. Có trái làm ly tách trên bàn thờ khua lạch cạch. Tôi không ngủ dưới hầm không biết vì lưu luyến bộ ván gõ hay vì muốn tỏ ra rằng ”Ta đây cũng con nhà pháo, sợ gì chúng mày!”.

Tôi vừa thiu thiu thì có tiếng gọi ngoài cửa. Tôi ngồi bật dậy quơ chụp khẩu K54, nhưng Lụa đã bảo:

– Khách hàng đó anh ạ.

Lụa vừa dứt tiếng thì có tiếng con gái eo éo:

– Có cô Là ở nhà không?

Có lẽ Lụa nhận ra tiếng quen nên bước ra đốt đèn và mở cửa. Rồi Là củng đi theo ra. Tôi vừa đút súng dưới gối là hai người khách, một nam một nữ đi vào. Tôi nhìn người đàn ông. Hắn cũng nhìn tôi chằm chặp. Hai bên nhận ra nhau ngay.

Đó là trung úy Linh tức Tư Linh bạn nối khố từ hồi học Lục Quân Trần Quốc Tuấn ở Miền Tây Nam Bộ. Linh người Bến Tre, tập kết ra Bắc, có vợ được hai con, về nước năm 1962 được phân công làm phó Ban Địch Vận Quân Khu. Linh nói ngay:

– Tao nghe mày về. Đang bận mà bỏ công việc đi tìm mày để rồi không có dịp. Tình hình động lắm!

– Sao biết tao ở đây mà đến ngay chóc vậy.

– Tao đến trạm, gặp Một Sơn ở đó. Một Sơn bảo mày vừa đi với chú Tư Thiên lên đây nhờ má móc gia đình. Tao không biết nhà nhưng cũng may là gặp cô dũng sĩ nầy ở nhà chú Tư đang bàn chuyện phối hợp đào địa đạo, chú Tư bảo cô đưa tao lên đây luôn, một công hai chuyện.

Tư Linh quay lại cảm ơn cô dũng sĩ. Bảy Bê, tuổi chưa quá hai mươi, tươi cười đáp:

– Em cảm ơn anh thì có. Nếu không có anh, em không dám đi lên đây!

Nói xong Bảy Bê vô buồng với Là. Còn Lụa đứng đó. Vì nàng từng biết tánh mấy ông “cán”. Gặp nhau là nhậu rồi mới nói chuyện.

Tôi hỏi:

– Nhà còn rượu nếp than không cô?

– Còn anh ạ.

Tư Linh lắc đầu:

– Thứ đó uống tráng miệng thôi chớ có “ghé” đâu!

– Ấp sanh nhé. Cô cho “ấp sanh” đi, còn đồ nhậu thì tôm khô, khô cá hố lai rai.

Tôi và Tư Linh ngồi ở bàn ăn cơm cụng ly và nói chuyện thỏa mản dân cày. Vì hai đứa cùng đi kháng chiến, cùng tập kết, cùng gặp nhau ở Hà Nội, cùng về Nam và nhất là cùng đến Củ Chi. Nhờ có biết sẵn tiếng Pháp nên lúc ở Miền Bắc Tư Linh được vào trường ngoại ngữ học tiếng Liên Xô, tiếng Anh. Sau này hắn cai trị cả một gã… tù binh (tên Mỹ say rượu lạc đường bị thộp) cũng là tù binh độc nhất của Quân Khu trong năm năm.

Nói chuyện ba đồng bảy đổi một lát, Linh cười khà khà:

– Phải mày về sớm một chút sẽ được coi một màn kịch vui lắm.

– Ở khu có Văn Công nữa à?

– Văn Công Liên Xô mày ạ!

Vừa gật gù vừa úp cạn ly bầu, Linh bảo:

– Mẹ, tao vừa lập được một chiến công to. Phải có mày ở đây hai đứa mình hợp tác xã, chắc còn to hơn.

Tư Linh rỉ tai tôi, làm tôi nhảy dựng và kêu lên:

– Có vụ đó nữa à?

– Có chớ. Không thì tao bịa được à?

Tư Linh bưng dĩa lên húp dấm và lấy ngón tay vàng khè khói thuốc đùa luôn củ kiệu vô miệng, rót rượu nốc, giương cái cổ gầy như cổ cò ngãn, đặt ly xuống bàn và nói:

– Đúng là dấm có đường cát nên nó vừa chua vừa ngọt, còn “ấp-sanh” thì vừa ngọt vừa cay. Để tao nói cho mày nghe. Cái ông giáo sư toán học ở Mát-xít-cơ-oa đó ở đây dưới quyền điều khiển của xừ Tư Linh này. “Tư Linh” trở thành “Tư Lịnh” được bảy ngày. Toàn những trò coi rởn tóc gáy. Mày đã đi Bến Dược chưa?

– Vừa đi hồi sáng.

– Đó là bờ sông Sàigòn. Mày phải hình dung ra con sông Sàigòn chạy gợn sóng nghe.

– Tao đã thấy tận mắt rồi.

– Mày biết ông Tám Quang, Trưởng Phòng Chính Trị Quân Khu không? Dân Eo ở khúc đầu…

Tôi tiếp ngay một hơi.

– Tức là Bình Định. Thời kháng chiến trước làm gì không rõ, tập kết ra Bắc đóng lon đại úy được đi học Trung Quốc trở về lên lon trung tá làm Chánh ủy Trung Đoàn xe Tăng T54 ở Vĩnh Phúc.

– Vậy là rành! Ổng là tay ăn nói của mình đó. Vừa rồi ổng đạo diển cái màn “Mặt trận giải phóng 3/4 và 4/5” mày ạ. Tài tình thật! Nếu dân Hà Nội coi được thì mê tít thò lò! Còn nếu đem được ra ngoại quốc thì các ông bà xã hội chủ nghĩa sẽ phục lăn bò càn. Ối giao ồi! – Tư Linh gục gặc đầu và rót rượu nốc tiếp – Ối giao ồi! Bố ai cũng không hiểu nổi.

Tôi nhại giọng Bắc.

– Cái gì hở bác xã? Nói nhanh đi chứ lỵ!

– Hôm đó ông Tám Quang cho hai anh cán nhà mình mặc đồ bà ba với một số dụng cụ xuống Bến Chùa. Mày biết Bến Chùa không?

– Ở bên kia bờ sông. Hồi chín năm tao có tới đó.

– Bến Chùa cách Dầu Tiếng không xa. Chỉ mấy khúc sông thì tới. Sau Đồng Khởi, nhiều bót đồn trên đường 15 ở các xã Phú Mỹ Hưng là xã này này, An Phú, An Nhơn Tây, Nhuận Đức rút về Củ Chi, bỏ trống một khúc đường, nhưng xe lam còn chạy vô tới An Nhơn Tây. Còn tàu đò thì cứ đi thông suốt từ Dầu Tiếng xuống Bình Dương. Dân giải phóng năm xã dọc bờ sông đều đi ké tàu Ngụy tha hồ, không có ai xét giấy tờ gì cả, chỉ tốn tiền “óe” thôi. Đó, nhân cơ hội đó, ông Tám Quang bèn có sáng kiến cho hai anh cán nhà mình xuống tàu. Chủ tàu tưởng là khách thường, ai dè tàu chạy gần tới Bến Dược thì hai ông nội bèn rút trong giỏ xách ra một lá cờ giải phóng và xỏ vô cán tre đem cắm trước mũi tàu. Ông giáo sư Liên Xô đã thủ sẵn máy quay phim ở khúc Bến Dược, cứ thế mà thu hình. Cứ thế đem về Hà Nội tráng phim in hình, cắt nối, thêm thắt rồi chiếu thì dân Hà Nội xem mê tít thò lò đi chớ còn gì nữa.

– Tao không ngờ có chuyện như vậy.

– Cứ “phụ đề Việt Ngữ” bảo đây là vùng giải phóng của Mặt trận. Chỉ cách Sàigòn có hai chục kí-lô-mét thôi. Ai mà không tin cho được? Có lẽ Bác Hồ củng tưởng đó là thiệt nữa là ai. Hề hề hề… chỉ tội thằng cha chủ tàu. Mày biết nó làm sao không? Nó sụp lạy hai ông nội giải phóng chớ còn cách gì khác. Xong cái màn lạy, anh ta chơi trò lì xì. Anh ta xùy cho mỗi ông mình một ngàn. Nhưng không ông nào dám nhận cả. – Linh chép chép để lừa miếng khô trong kẻ răng ra và tiếp – Liệu chừng trên bờ đã thu hình xong, hai ông ta cuốn cờ và bảo tàu cặp bờ cho hai ông nhảy lên Bến Dược chuồn thẳng và máy móc trên bờ cũng xếp gọn dông cho lẹ. Chậm trễ có thể bị phát hiện và bị xơi tái. Các ông mình chiến thắng vinh quang bất ngờ leo lên bờ đi thẳng tới quán bà Sáu Tiệm cơ sở của ông Bảy Hốt nhà mình. Hai chàng móc cờ trong giỏ xách, lại tra cán vào và cắm trước sân. Bà Sáu liền chạy ra nhổ tung vứt vô đống rơm chỗ mấy con bò đang nằm. Rủi cờ rơi nhằm vũng phân. Bả chữi cho hai vị anh hùng một trận mất mặn mất nhạt. Bà ta còn xỉ mặt ông đại úy Hốt bảo thẳng: làm như vậy là phá nát cơ sở. Nếu còn tái diễn sẽ không giúp đỡ ông đại úy nhà mình nữa!

– Rắc rối dữ he!

– Tuy vậy nhưng chẳng rắc rối gì. Ngài đại úy hứa sẽ báo cáo lên cấp trên để thi hành kỷ luật hai ông mình “phản dân vận”. Sau đó hai bên vẫn cá nước đậm đà như thường chẳng có ai bị kỹ luật gì. Chỉ tội có cái lá cờ của mình. Có lẽ từ đó nó bị xui luôn nên làm ăn ở đâu thì tàn mạt ở đó! B52, cà nông, trực thăng đổ chụp cứ trúng cơ quan liền liền. Đó là cái màn quay phim vùng giải phóng sát nách Sàigòn! Còn nữa…

Tôi gạt ngang:

– Mẹ đỉ ở ngoài đó sống thế nào?

– Sống thế nào thì sống tao làm sao biết được?

– Hồi mày đi thì bả làm gì?

– Dệt 8/3.

– Hai thằng cu thì sao?

– Thì đứa biết đi đứa ẵm ngữa. Ăn bột khuấy nước sôi mút mùa. Gia tài của tao để lại: một cái xe đạp hỏng ru-líp.

Tôi thấy không nên khơi vào cái mạch sầu của ông “Tư Lịnh” nữa bèn xẹt trở lại vụ giáo sư Mát-cơ-oa.

– Mày đi đón ổng xuống đây bằng gì?

– Ở trên đưa xuống bằng xe thồ. Tới đây mới giao cho tao.

– Thây bồ tượng của ổng ai làm sao đèo cho nổi?

– R phải chọn kiện tướng thồ. Cái poọc-ba-ga đâu có đủ cho cái đít bành bành của ổng đặt lên. Nếu đèo bồ bịt em út thì đạp nhẹ như bông phải không? Đằng này “lai” một cây thịt một trăm hai chục kí lô mà lại đực rựa thì còn cái gì lý thú gì? Lại nữa đường rừng chứ phải đường nhựa hay sao?

– Sao không để ổng quần chúng hóa với mình?

– Quần chúng hóa cái quần họ!! Ông ta đi bộ chừng hai trăm thước đã thở ò ò như trâu rống, mặt đỏ như gấc, mồ hôi tuôn như suối. Vả lại ở trên muốn đánh nhanh rút gọn, để ông lêu bêu ở đây nó đổ chụp được thì vỡ nợ to, mày hiểu không? – Tư Linh hớp ngụm rượu rồi tiếp – Tao khổ vì ba cái tiếng Liên Xô. Vì tao biết nói nên ở trên giao cho tao mọi việc, kể cả việc đèo ổng đi “tham quan” sáu xã vùng bờ sông Sàigòn này. Mày coi cái thân hình cò ma bộ ngực ô-mê-ga của tao như thế này mà phải đèo tạ hai, tạ ba thịt như thế.

– Sao không bắt dũng sĩ đèo?

– Đâu có dám cho chúng nó biết. Hơn nữa lúc hắn ta ngồi ở phía sau, mình đạp hụt hơi nhưng phải “công tác chính trị” hắn, chinh phục hắn. Ông Tám Quang đã được ở trên R chỉ thị rồi ổng mớm lại cho tao, tao phải rù quến hắn!. Thành thử tao phải nói cho hắn nghe hoàn cảnh chiến đấu của mình thiếu thốn đủ mọi mặt mà vũ khí là cần thiết nhứt. Lão Trọc chỉ viện trợ cho mình có bốn ngàn súng trường xài từ thời Nga Hoàng thì làm sao mà chống lại rốc-kết và cà nông của Mỹ? Tao phải tỉ tê, điểm huyệt, bấm gân hắn mày biết không ? Làm thế nào cho hắn xiêu lòng, hắn về hắn tâu lại Lão Trọc.

– Biết Lão Trọc có xiêu lòng không? Lão đã ăn bã Tư Bản Đế Quốc rồi!

Tư Linh lắc lư mái tóc rối bời:

– Khổ lắm. Bánh mì lạp xưởng phải mua ngoài thành, đem về phải bỏ vô bình thủy cho nóng, nước đá, la ve, nước ngọt phải kê tới liền liền. Phục vụ còn hơn ông nội. Coi vậy mà hắn không thông minh như trước đây tao tưởng. Những chuyện rất xoàng, hắn không hiểu, tao cắt nghĩa tầm bậy hắn cũng nghe tuốt. Mỹ nhân kế thời nào cũng có kết quả hết mày ạ!

– Có vụ đó nữa sao?

– Chớ mày không biết mấy thằng chuyên gia Liên Xô, Tiệp, Đức qua Hà Nội một tháng mà không mang vợ theo là mặt nhăn như khỉ ăn bần sao? Còn đám mình xa vợ mười năm thì được các đồng chí ấy khen là “thần thánh”! Hì hì… Mày cũng sắp thành thần rồi đó!

– Thôi thôi, tao không có ham! Tao thích làm quỉ hơn.

Tư Linh tiếp:

– Tao được lệnh trên, tao chạy tìm khắp các nơi không tìm được cái xe đạp nào khả dĩ đèo hắn nổi. Cuối cùng ông Tám Quang phải bóp bụng đưa cái xe Bờ Rô mới toanh của bà má ổng mới đem vô, cho tao xài. Tao biết ổng xót xa lắm nhưng vì cách mạng phải anh dũng tiến lên! Mày biết không, má ổng cho thằng con tám chục ngàn bạc thành xài chơi. Bà già đại tư bản mà!

– Trời đất, bộ ổng không có chính huấn cải cách ruộng đất à?

– Ổng chính huấn chung với đồng chí Chu Ân Lai và Lưu Thiếu Kỳ không hè cha non!

– Rồi mày chở cây thịt đi đâu?

– Tao đưa hắn xuống Phú Hòa Đông vòng ra ven quốc lộ 1, lên Trảng Bàng, qua An Tịnh, Tịnh Phong trở về Lộc Hưng rồi đáo qua An Phú. Như vậy cũng mất năm ngày, đạp lòi con trê, nhưng cách mạng ở đâu gặp khó, ở đó có ông Linh mà mậy! Mấy hôm sau tao đưa hắn vô Rừng Làng, Đồng Chà Dơ, coi bộ đội võ trang của mình. Do chỉ thị của trên, súng AK, CKC dẹp hết, chỉ bày trường bá đỏ tiểu liên 50 của Trung Quốc thôi. Ngoài ra cũng chìa thêm các thứ FM Bren của thời chín năm, đại liên 30 của Mỹ.

– Ở đâu có đại liên 30?

– Không biết. Tao có móc nối với tụi Ngụy mua súng nhưng mà chưa được.

– Tụi đó dễ móc lắm. Thời chín năm mình móc được tụi lính đồn Cầu Bông đánh sập cầu lấy hai triệu bạc. Tụi nó làm thiệt, nhưng ăn chia không đều nên chửi nhau và mách cấp trên đổ bể làm hỏng cơ sở mình hết.

Tư Linh tiếp:

– Nghe tao kể chuyện gian khổ của mình mặt hắn sượng ngắt. Thằng đồng chí nhỏ bé của mình dám đánh Mỹ mà thằng anh cả to đầu lại không viện trợ vũ khí. Một hôm nó bảo tao cho xem quân y viện. Ông Tám Quang bảo tao đưa nó qua Bưng Còng vô y xá của Tám Lê. Ở đây đã được phụ nhĩ trước nên khi hắn đến thì thuốc men của Liên Xô cũng giấu biệt hết. Hắn thấy cô y tá mang xắc-cốt bèn bảo mở ra cho xem. Thì ra toàn là kim và ống chích của Trung Quốc, nó càng sượng sùng. Tám Lê thừa thắng xông lên bảo em út “biểu diển” một màn cưa chân thương binh bằng cưa sắt. Nó có vẻ cảm động lắm. Chỉ biểu diển y như thật thôi.

– Dám cho nó vượt sông Sàigòn để qua Bưng Còng à?

– Phải đi cho nó “thấy” tài đạo diển của ông Tám Eo nhà mình chớ! Ở trên đã bảo thì mình phải uống mật gấu mà thi hành. Số là sau vụ cắm cờ Mặt Trận ở mũi tàu, lính mình thừa thắng xông lên cứ việc mang súng K54, CKC, Oảnh tầm sào (thứ súng xài hồi chín năm) đi quá giang tàu từ Bến Dược xuống An Nhơn Tây cho khỏe cặp giò. Nhưng làm ẩu quá tụi Dầu Tiếng nó phát giác được, mỗi chuyến tàu rời bến nó đều cho L 19 rà theo kiểm soát. Cho nên có chỉ thị Quân Khu cấm ngặt lính đi tàu. Cái thời tao đưa ông đồng chí lớn của mình qua sông là thời chưa có L19 hộ tống tàu Dầu Tiếng nên qua lọt tuốt. Trong lúc ngồi sau poọc-ba-ga cho tao đạp ngài giáo sư cũng tâm sự nhiều câu nghe được lắm. Hắn ta bảo là chủ nghỉa vô sản bị Mao Trạch Đông và Khơ rút sép làm cho thiu rồi. Hì hì… đại khái là như thế. Nó đã thiu nhưng tụi mình phải xực, phải không mậy?

Tôi ngồi lặng thinh. Tư Linh đã ngà ngà say, tôi đi nấu nước châm trà ăn kẹo đậu phọng nói chuyện Nam Tào Bắc Đẩu. Vừa nhai, Linh vừa xổ bầu tâm sự:

– Ăn thép nuốt sao vô. Ăn một ký đậu bằng ăn bốn ký thép phải không mậy? Gảy răng hết. Hề hề. Đi đứng cộng tất cả một tuần lễ gì đó, coi bộ hắn không kham, nên đòi gặp đại diện quân khu để từ giã. Tao biết là hắn “phón” bom pháo nên muốn cuốn gói dông cho mau chớ cỡi ngựa xem hoa mấy ngày có thấy con mẹ gì mà đòi về? Nó xin gặp ông Trà và ông Thọ. Nhưng mà đâu có được. Chỉ có ông Tám Quang đến thôi. Buổi tiệc tiển đưa làm to lắm, chẳng thua gì ở ngoài thành. Sáu Huỳnh trưởng ban Quân Báo Khu cho công tác viên ra thành mua đồ đem về ngay. Khỏe thiệt mậy! Ăn thịt , uống rượu của địch để đánh lại địch! Hố hố… ố ố. Ê, mày nhâm nhi thấy trà này có bằng trà Chính Xuân Hoa Nhài ở “ngoài ta “ không?

– So sánh làm gì. Tao mới tới đây có hai ngày mà tao đã thấy mắc cở thầm trong bụng rồi!

Tư Linh cười khẹc khẹc:

– Đ. Bà! Tao bị đồng bào và quân ta ở trong này hạch hỏi liền tù tì txây dựng xã hội chủ nghỉa ở Miền Bắc. Mới ban đầu tao còn chối hoặc phóng đại tô màu. Đ. Má! (Linh có tật xổ nho. Đôi khi đứng trước quân hàng ra chỉ thị cho lính hắn cũng xổ) Cũng tại mấy cha mình. Nhiều cha bất mãn ngoài đó đâu hồi kiếp trước nên về tới trong này là tuôn ra hết, thành ra tao nói gì củng bị nhân dân “bắt giò”. Cuối cùng tao phải tránh né sơ sơ, cãi tới cãi lui nhưng cuối cùng cũng phải “nhận tội trước ông bà nông dân hết cả đấy ạ! “ Thí dụ như dân ăn củ chuối, đám cưới tập thể, tệ hơn nữa hợp tác xã nuôi trâu bằng cức heo…

Tôi sợ mấy đứa em trong nhà nghe nên gạt khẽ.

– Bậy mày! Nuôi…

– … heo bằng cứt trâu, tao biế…ết, tao biết mà mậy! Lại có phát minh mới là nuôi trâu bằng cứt heo. Nghĩa là anh trâu đi, chị lợn đớp, chị lợn đi anh trâu xơi, hợp tác xã không tốn gì cả, thế mà vẫn có trâu đi cày, và có thịt heo ăn như thường. Nhưng chỉ tội cái là, trâu con nào con nấy bằng con chó và “nợn” bằng con chuột. Do đó mà vợ tao mỗi tháng mua được hai “nạng” rưỡi mỡ “nợn” đấy ạ!

– Thế “nà” thế “lào”?

Hai đứa cười to rồi hạ giọng ngay vì chợt nhớ tới quan điểm nhân dân. Tư Linh lại tiếp:

– Mày còn nhớ hồi ở ngoải chúng mính nghe đồng chí Đỗ Mười đả thông về tình hình kinh tế khó khăn không?

– Nhớ chớ sao không! Tại hội trường nhà pháo binh tao ở Bắc Giang!

– Ổng bảo là mỗi chuyên gia và gia đình của họ ăn thịt bằng một trăm gia đình Việt Nam gợp lại. Mỗi đầu người của họ ăn hai ký lô một ngày, mà thịt ngon đấy, đầu giò đồ lòng vứt đi không tính. Tao có quen với tụi đồ tể ngoại thành Hà Nội, lần nào đi nghỉ phép cũng tới đó đút ra cửa hậu cả bao đem về cho vợ con ăn. Rồi còn làm tiệc kêu bạn bè tới nữa. Có lúc bận quá, tao không đến kịp tụi nó chôn ở ngoài hàng rào, chó moi lên tha đi tùm lum, do đó lộ bí mật, tao mất cái nguồn cung cấp đó. Đ.m. nghĩ mà nhục cho cái đám tụi mình. Đưa ngực đỡ đạn chín năm, ra miền Bắc, ăn của thừa và là ăn trộm chứ không được ăn đàng hoàng.

– Còn đi tắm biển thì đụng bãi biển “chuyên dza!”

– Vô đây cũng lại đụng chuyên dza! Đ.m. ở trong này nó có đòi ăn thịt cọp cũng có nữa, chớ đừng nói là thịt heo. Ăn xã láng, muốn bi nhiêu có bi nhiêu. Ba cái tôm khô này ở Hà Nội còn lâu mày mới ngó thấy, ngó thấy thôi chớ không có liếm được cái dĩa vì xếp hàng cả buổi mới đến phiên mình, nó treo bảng “Hết Hàng”. Đó mày thấy rõ chưa? Trong cái quán cóc này xà bông Cô Ba và rượu Anít cũng có mà. Còn vải hả? Lính mình vô tới đây vứt hết đồ kaki da trâu để bận bà ba lụa tê-tơ-rông, ni lông dầu giặt xong khô liền khỏi cần phơi.

Tôi hơi chói tai vì những lời “tố khổ” của thằng bạn, mặc dầu tôi đã nhìn thấy sự thực, cái cục lập trường của tôi hãy còn dính đâu đó trong tôi chứ chưa chịu rụng hẳn. Tôi hỏi:

– Mày giấu cái ông giáo sư chắc là kỹ lắm phải không?

Tư Linh đốt thuốc rít liền hai ba hơi phà khói xanh um rồi nhướng mắt nhìn tôi:

– Sao mày biết?

Tôi cười:

– Giải phóng như thế rồi mà không thấy nhân dân chào mừng đồng chí ta phát nào hết!

– Cái thằng móc lò tao mậy! – Hắn cười khảy rồi nói – Suốt bảy ngày đi thăm khu giải phóng tao chỉ cho ông ta gặp cán bộ và du kích chọn lọc và đã được giáo dục trước rối. Tất cả trên năm chục mạng, kể cả giao liên. Số người rất hạn chế! Vậy mà cũng không khỏi mắt nhân dân. Anh Ba Tổng bí thư nhà mình có nói một câu bất hủ “Mắt nhân dân là mắt khóm” nghỉa là ngó bên nào cũng thấy, không thể giấu được. Tao đã cho hắn đội nón tai béo, mặc đồ bà ba đen, cổ quấn khăn rằn nhưng rồi cũng có người tò mò đến xem! Đúng là mắt khóm. Nhưng ngược lại một số gia đình chung quanh chỗ đóng quân thì chạy vọt ra ấp chiến lược.

– Tại sao không đến hoan nghênh ông anh cả mà lại chạy bạt mạng ra ấp chiến lược?

– Họ sợ đổ chụp mày ơi. Nếu mà tụi Đồng Dù, Củ Chi, Bến Cát hay thì chỉ trong vòng mười lăm phút là tụi nó tới ngay. Vậy cho nên ngày nào cũng di chuyển. Mười một giờ đêm cũng di chuyển rồi mới cho hắn ngủũ. Đó, cái màn giải phóng 3/4 và 4/5 là vậy. Nếu mày ở Hà Nội thì chắc được xem bộ phim đặc biệt đó. Ngày tống hắn đi khỏi xứ này tao mừng té đái. Vái trời đừng có thằng nào tới nữa. Hôm bữa tiển đưa, nó nói những câu nghe cũng lọc lỗ tai lãnh đạo lắm. Vậy cũng bõ cái công tao đèo.

– Nói gì?

– Nó trỏ mấy đứa con gái “dũng sĩ” 16-17 tuổi và bảo: “Chúng tôi đã từng đánh Hitler nhưng chưa bao giờ thấy trẻ em như thế này cầm súng. Đây là tuổi đến trường”. Ông Tám Quang nhanh miệng đáp ngay: “Đánh xong giặc Mỹ chúng tôi sẽ xây dựng lại đất nước tươi đẹp gấp ngàn lần xưa. Đó là lời của Bác Hồ chúng tôi dạy. Chừng đó chúng tôi sẻ gởi chúng sang Đại Học Liên Xô”. Ông giáo sư Liên Xô cười. Ông xếp mình nói hớ. Bây giờ không học, nữa đi đại học Liên Xô? Ông ta bảo: “Đánh với Mỹ các đồng chí phải rất cẩn thận. Không thể lấy gan dạ mà chống được vũ khí tối tân của nó. Nước chúng tôi mà còn phải chịu rút tên lửa ra khỏi Cu Ba đấy. Tuy nó hơi lép vế một chút nhưng đỡ tốn xương máu đồng chí ạ!” Nói rồi nó òa lên khóc, thế mới bỏ mẹ kia chứ!

Tôi cười:

– Thằng này tao nghi là tình báo của Liên Xô chớ chẳng phải giáo sư đại học con khỉ gì đâu. Nó nói cái giọng “xét lại” bỏ mẹ đi.

– Mày ở đây, sau khi đội vài trận pháo, chết hụt B52 rồi mày sẽ thấy tại sao một nước vĩ đại như Liên Xô mà “xét lại”. Bữa tiển đưa đó cảm động lắm. Nó nghe tụi con gái hát mấy bài Xuân Chiến Trường, Sóc Bom Bo. Tao dịch ra cho nó nghe. Nó lắc đầu. Tao hỏi nó nghĩ gì? Nó không nói. Hồi lâu nó bảo: “Tôi nghĩ về một nhà máy sản xuất cao su. Ở xứ tôi không có cây cao su. Ở đây có rất nhiều mà bị chặt phá hoặc bị bom thiêu rụi. Uổng quá!” – Tư Linh rung đùi một cách khó chịu – Tao giật mình. Tao không hề nghĩ như nó. Tao nghĩ là nhờ cao su mà mình trốn khỏi máy bay. Nó còn bảo: “Cát dưới chân đồng chí là thủy tinh nhưng không có nhà máy thì cát chỉ là cát. Con sông Sàigòn có thể là một nguồn điện vô biên… – Tư Linh buồn rầu – Mình quen đánh nhau, phá hoại lâu quá rồi thành cố tật mày ạ. Mình thấy một cây gãy đổ mình cơ hồ không xúc động, cả đến nhìn người chết bom chết sốt rét cũng tỉnh khô, bởi vì chính mình đang đi vào cái chết bằng cách này hay cách khác. Thanh niên nam nữ ở đây sống rất cuồng rất vội. Mình cứ cười chê tụi thanh niên Sàigòn sống không có lý tưởng, nhưng mình cũng đang mắc cái tội đó. Sống để ngày mai chết. Tao nói, để rồi mày xem. Những con bé mang danh dũng sĩ kia rất đa tình. Chỉ quen vài lần thậm chí chỉ quen lần đầu, các cô ấy cũng có thể rất thân.

Tư Linh lên lớp tôi một cách thẳng tuột về những điều rất sơ đẳng mà hắn đã kinh qua ở đất Củ Chi này trong những năm hắn về trước tôi.

Từ trong buồng vang ra tiếng ca vọng cổ thiệt mùi. Tôi hỏi.

– Ở đâu vậy?

Trái tim khô của tôi như bị một giọt nước Cam Lồ tưới qua.

– Vọng cổ Sàigòn!

– Nghe văn nghệ địch à?

– Ít bữa rồi mày sẽ biết. Đài giải phóng của mình chỉ để phát tin. Còn văn nghệ thì nghe hổng có dzô. Giống in như Đài Tiếng Nói Nam Bộ hồi chín năm vậy. Khi ca cải cách thì có ểnh ương hoà tấu. Tội nghiệp hai bà Xuân Mai và Khánh Vân bị chê khóc mờ.

– Sao kỳ vậy?

– Mày còn lạ gì. Phòng Vi Âm xây trong rừng U Minh trên bãi sình. Cho nên khi người ta bắt radio nghe thì có cả tiếng “ểnh ương” ca! Bây giờ cứ hể giờ Cải lương Sàigòn thì dân cũng nghe, cán cũng nghe. Dân nghe công khai. Chi ủy cũng mê thì còn cấm ai. Còn bọn cán nhà mình thì giờ này ông nào cũng toòng teng trên võng nhắm mắt mơ tiên còn lỗ tai thì nghe Lệ Thủy xuống Lìu.

Từ trong buồng, tiếng phát ngôn viên của đài Sàigòn vọng ra: “Bây giờ là hai mươi hai giờ, giờ Sàigòn. Xin mời quí thính giả vui lòng vặn tiếng nói nhỏ lại để khỏi làm phiền bà con hai bên đang cần sự nghỉ ngơi”.

Tư Linh nháy mắt:

– Đấy, văn hóa Sàigòn đấy! Loa Hà Nội thì sao?

– Cái thằng đâm hơi quá mậy.

– Sợ ít tháng nữa mày là thầy đâm hơi hơn cả tao. Mấy em trong buồng nhắc mình bằng tiếng nói Sàigòn đấy. Tao phải tốp bớt cái họng cá sát của tao nhỏ lại mới được.

– Hổng phải đâu! Tụi em có ống nghe mang vô lổ tai để nghe cải lương mà. Mấy anh cứ việc nói chuyện chơi cho tới sáng cũng được!

– Mấy em vặn to to lên cho hai anh nghe hùn với.

Tư Linh bảo rồi nhích ghế lại ngồi gần tôi. Hắn nom sát mà nói lào khào, hơi rượu phà vào mặt tôi nồng nặc. Ý chừng hắn uống gấp ba tôi.

– Các em dũng sĩ đều anh dũng tuyệt vời hết cả. Để rồi mày coi. Ở trên R mày từng nghe Năm Cội, Tư Gừng, Bảy Nê, Bảy Mô, Tư Cần, chứ?

– Có nghe nhiều.

– Rồi mày sẽ gặp! Cô em đi với tao là Bảy Nê, thuộc Xã Phước Vĩnh Ninh. Trực thăng ria như mưa mà vẫn không nằm, cứ đứng núp gốc cau bắn tỉa đấy. – Hắn rỉ tai tôi – Tội một cái là…

– Còn Bảy Mô?

– Bảy Mô vừa đẹp vứa anh dũng. Hì hì…

Hắn thò tay vào túi quần sau lôi cái bóp ra. Tôi nhìn hắn soạn ngăn bóp.

– Giấy tờ gì thế?

– Chứng minh thư nhân dân.

– Ủa! Ở trong này cũng có chứng minh thư sao?

– Có chớ. Tao luôn luôn thủ sẵn vài cái trong bóp, phòng khi hữu dụng.

– Trong này du kích địa phương xét giấy dữ hả?

– Ừ, nhưng mà mấy cô xét kỹ hơn! – Tư Linh thầm thì vào tai tôi rồi cười hả hả – Tao muốn cho mày vài cái để dùng lúc bất cập nhưng tao sợ mày nổi lập trường chống Mỹ của mày lên bất thình lình, mày chỉnh phong tao thì đường đâu tao rút lui.

Tôi gạt ngang:

– Tao có nhiều loại giấy đặc biệt lắm, thứ của R, thứ của đường dây, kỵ bộ cấp xe bò, kỵ thủy cấp xuống bể, còn đến Củ Chi thì cấp địa đạo.

– Có điều kiện tự do cho Mỹ nữ không?

– Cái đó thì tự lực, hà hà…

Tư Linh đút bóp trở lại túi mà không nói gì. Từ lúc được gặp mặt nữ dũng sĩ Bảy Nê tôi định hỏi Linh một vấn đề. Số là hồi tôi ở R, tôi có xem một vở kịch nói tên là “Mượn Mỹ” rất ly kỳ của đoàn Văn Công giải phóng Trung Ương. Nội dung là ở Cũ Chi, dũng sĩ diệt Mỹ mọc lên như nấm. Con trai không nói làm chi, con gái mười lăm tuổi cũng giết được Mỹ dễ dàng. Mỹ là thứ người gì mà lại dễ bị làm thịt vậy? Một đội nữ du kích gồm Bảy Nê, Bảy Mô, Tư Gừng tự động họp nhau hàng ngày đi săn Mỹ để lập thành tích dâng đại hội Mặt Trận. Anh chị dũng sĩ nào cũng diệt được năm, sáu tên Mỹ cả. Qui định của ở trên là muốn đạt danh hiệu “dũng sĩ” phải diệt năm tên Mỹ. Nhưng có một người mới diệt được đúng bốn tên. Như vậy còn thiếu một tên nữa mới đủ tiêu chuẩn dũng sĩ. Một người bèn nảy ra ý kiến là Bảy Nê hiện đã diệt được sáu tên nên cho đồng đội “mượn” một tên như ta mượn một hào, để mọi người đều đạt tiêu chuẩn. Và như vậy toàn đội trở thành “đội dũng sĩ diệt Mỹ” vì người nào cũng đạt tiêu chuẩn cả. Nhà soạn kịch nổi tiếng nhất Hà Nội là Nguyễn Vũ đã được đưa vào Tiểu Ban Văn Nghệ R để sáng tác. Nguyễn Vũ đã viết chuyện trên thành kịch nói diễn ngay ở đại hội dũng sĩ diệt Mỹ. Khi tôi về thì vở kịch này đã diển ở nhiều nơi cho cán bộ xem, nhưng chưa có dịp đem xuống diễn tặng lại cho Củ Chi. Bây giờ đã đến tận nơi, nên tôi muốn tìm hiểu.

Tôi bèn cạch ngay Tư Linh. Tư Linh nói nửa chơi nửa thiệt:

– Tao hổng biết mấy cái chuyện thần thoại đó, tao cũng chưa bao giờ trông thấy mặt một thằng Mỹ nào, mà cũng chưa được hân hạnh xem cái kịch đó, vậy để tao mời cô Bảy Nê ra đây cho mày hỏi. Cô Bảy ơi, cô Bảy, ra đây có người hỏi thăm chút chuyện.

Từ trong buồng Bảy Nê nói giọng nhõng nhẽo :

– Để em nghe hết đoạn này hả, hay quá trời quá đất đi!

– Bộ vọng cổ mùi rệu hả?

Chập sau Bảy Nê ra ngồi cạnh Tư Linh, mắt hấp háy trước ngọn đèn dầu. Tôi thuật lại câu chuyện “Mượn Mỹ” rồi hỏi Bảy Nê có biết được mấy chuyện như vậy không?

Bảy Nê ngồi chưng hửng hồi lâu. Tư Linh giục. Bảy Nê cười nhẹ nhàng:

– Em đâu có phải là dũng sĩ mà biết mấy chuyện đó. Để bữa nào anh gặp chị Tư Gừng hoặc con Bảy Mô rồi sẽ hỏi.

Rồi nàng đứng dậy đi vô buồng.

Tôi nghĩ vì nàng khiêm tốn nên không muốn khoe trương thành tích. Hoặc là vì đang mê cải lương hoặc vì có điểm nào lộ bí mật quân sự mà nàng không trả lời chăng. Nhưng không phải.

(Một lần khác, khi gặp lại Tư Linh, hắn mới cho tôi biết rằng những chuyện như vậy là do tài sáng tác của nhà viết kịch. Chứ từ khi Mỹ bắt đầu xây dựng Đồng Dù ở Củ Chi này, chưa có người du kích nào diệt được thằng Mỹ. Chỉ có một trận du kích đánh xe tăng ở An Nhơn Tây. Không hiểu sao trong cuộc hành quân đó lại có một chiếc xe tăng đi lạc đường mà loay hoay mãi không ra đường cái được. Năm Cội là du kích xã đã có chí và có gan phục kích nhiều lần để bắn sẻ, nhưng không kết quả. Cội bèn nảy ra ý đào đạn cà-nông lép để đánh xe tăng. Thấy chiếc xe đang tìm đường ra, Năm Cội phỏng đoán đường về của nó bèn đem trái cà nông đặt ở ven đường rồi kêu tổ nữ du kích của Tư Gừng phục kích gần đó. Chiếc xe tăng chạy lòng vòng trong đồng khô một lúc rồi lên lộ, nhè chỗ đặt bom mà bò lên. Trái cà-nông nổ tung. Nhưng chiếc xe tăng quá lớn, đạn cà nông có ăn thua chi. Chỉ một bên dây xích bị hỏng nhưng nó vẫn còn chạy được. Tổ du kích cứ nhắm mắt nhắm mũi mà bắn, vừa bắn vừa chạy. Chỉ chập sau là trực thăng Sâu Rọm tới hốt lính về Đồng Dù.

– Tao chỉ biết có thế thôi. – Tư Linh vừa kể và gục gặc đầu, nhướng mắt nhìn tôi.

– Nhưng có chết thằng Mỹ nào không?

– Theo đài mình thì có chết một thằng và diệt một xe tăng. – Tư Linh cười hề hề – Tỷ lệ phóng đại của mình là từ 1/50 đến 1/30.000. Nghĩa là nếu đã chết một tên và tiêu diệt một xe tăng thì đài phải nói là chết năm chục tên và tiêu diệt năm chục xe tăng theo kiểu các phân số 3/4 và 4/5.

Tư Linh tiếp:

– Bà Gừng có lên R báo công cùng với Năm Cội. Gừng được danh hiệu dũng sĩ. Cội cũng được danh hiệu dũng sĩ, được bắt tay ông Sáu Vi. Gừng nghe đâu làm gác-đờ-co cho bà Ba nữ tướng, còn Năm Cội thì về công xưởng R tiếp tục nghiên cứu bom và cà-nông lép để dùng đánh xe tăng. Trong một lần cưa bom để chế tạo vũ khí, bom nổ bay không còn miếng thịt. Còn về thành tích địch vận thì Quân khu chưa lôi kéo được một tên nào để làm thuốc. Đó là lịch sử dũng sĩ diệt Mỹ của đất Củ Chi mà tao được biết cho đến hôm nay.)

Tư Linh và tôi lên ván gõ nằm tiếp tục nói chuyện, đủ thứ chuyện từ chuyện ngọt đến chuyện mặn, toàn là chuyện tâm giao giữa hai đứa.

– Mình ở ngoài Bắc tưởng trong Nam sắp giải phóng hoàn toàn nên thằng nào cũng nhảy đôn nhảy đáo muốn về cho mau để ở trong này làm sạch láng, mình về lơ láo không có việc gì làm. Chẳng ngờ về đến đây không có đất dung thân. Củ Chi có trên một trăm đồn bót lớn nhỏ. Cà-nông nó đan một lưới lửa đạn bao trùm phủ, không có chỗ nào nó không với tới. Còn ba cái địa đạo mày chớ có tin mà bán lúa giống. Tao nói cho mày biết. Chính du kích nó cũng không có chui xuống địa đạo nghe mày. Chớ có chui vào những quan tài đất sét. Hì hì… Trước đây già Khơ dọa những tàu ngầm của Mỹ, trước vũ khí của Liên Xô sẽ trở thành những quan tài thép chảy thì ngày nay Mỹ nó lại biến những địa đạo thành những quan tài đất sét cho mình. Mỹ vô rồi. Tình hình đen tối sắp đến nơi. Không còn những màn kịch treo cờ như tao vừa kể nữa đâu. Mày đã lo móc gia đình chưa?

– Má Hai đi rồi hồi sáng.

– Ừ, làm sớm sớm đi. Đồng Dù nó sẽ tăng cường hai chục khẩu cà nông nòng dài đấy! Còn trực thăng nó sẽ đem qua hai ngàn chiếc nữa.

– Trời đất!

– Mổi ngày miếng đất Củ Chi sẽ trộn vài miểng đạn mày ạ! Vợ con tính chưa?

– Tính gì kịp mà tính!

– Mày là con trai lớn thì phải lo cho gia đình một mớ cháu nội chớ chẳng lẽ làm cây tre cụt ngọn à?

– Tao chờ bà già vô mới tính được. Coi cô bạn ở nhà có chờ đợi tao không?

– Hứa hồi nào mà chờ với đợi?

– Hồi tao còn ở nhà…

– Ở truồng tắm vũng phải không? Thôi, đừng có mong. Đời chẳng có ai hóa đá Vọng Phu đâu. Mày còn khớ trai lắm. Thiếu gì em út nó đeo. Ở ngoài đó thì “một thiếu, hai thưa, ba vừa, bốn rậm” nhưng về đây con gái nó chẳng tính ba cái thứ đó đâu. Mấy cha về trước làm mất uy tín hết rồi. Bây giờ con gái đánh giá Mùa Thu qua nhân cách, tư cách chứ chẳng qua cái lon có nhiều sao ít sao như mấy năm trước.

Tôi nghe Linh nói thao thao bất tuyệt mà ngán ngẫm sự đời. Bỗng Linh nằm nghiêng qua thò tay móc bóp, rồi rút đèn pin từ xắc-cốt ra, miệng thì nói:

– Để tao cho mày mấy cái chứng minh thư phòng thân!

Linh đưa cho tôi một gói nho nhỏ. Tôi cầm lấy, nắn nắn nghe mềm mềm, chỗ cứng chỗ bộng. Chứng minh thư gì kỳ vậy? Tôi chưa kịp hỏi thì Linh bấm đèn rọi vào:

– Có thứ này giắt trong lưng khỏi lo tai họa mày ạ! Hì hì, nhớ hồi tụi mình học ở Lục Quân đóng tại Cạnh Đền không? Đâu 1952 hả?

– Nhớ nhớ! Tụi mình làm trong Ban Vui Sống của nhà trường.

– Trường đóng ở đó có mấy tháng mà khi nhổ trại để lại cả trăm trái “bom nổ chậm”. Cho nên dân Cạnh Đền tặng cho danh hiệu là Lục Lâm Võ ị chớ không phải trường Lục Quân Võ Bị. Đọ, bây giờ để tránh bị dân khen kiểu đó mày nên dùng món bùa này.

Tôi nhận ra những áo giáp tí hon dùng để “oánh du kích” trong những cơn tao ngộ bất ngờ. Tôi hỏi:

– Ở đâu mày có vậy?

– Mua ở ngoài thành chớ đâu mậy? Ở Hà Nội tại Bách Hóa Tổng Hợp chỉ bán đôi khi thôi, ngoài ra phải mua chợ đen. Mà của Tiệp Khắc hoặc Liên Xô hay rách lắm.

– Tao phục lăn mày đó.

– Đời mà mậy. Anh Ba mình có vợ bé thì không sao cả, lại còn lên uy tín. Anh Sáu Vi thì lâu lâu có bả vô bằng máy bay đáp xuống mi-mốt “nạp thịt” cho ảnh cả tuần. Còn tụi mình chuyên môn vận động chiến, đánh mạnh rút nhanh, không để lại dấu tích nào mới được. Cứ xài đi, hết tao cho. Mỗi tháng tao xài cả tá đó. Các em thấy nó, các em yên trí xáp chiến vì chẳng sợ tai nạn về sau, hiểu chưa? Cất đi, mỗi gói hai chiếc.

– Bộ tính cho mẹ đĩ “dang mi ra”hả?

– Đạo gốc bởi lòng thành mày ạ, không phải ở cái mồm.

Tôi nằm im không nhúc nhích. Linh tưởng tôi ngủ nên không nói nữa. Cái thằng nhớ dai thật. Chuyện thuở trẻ mà bây giờ nó còn nhắc lại rành rành.

Năm đó trường Lục Quân về đóng ở Cạnh Đền gần Chắc Băng – Một vùng lẫn lộn dân Việt lẫn dân Miên. Ở đây có một ông cụ 90 tuổi, con trai của ông đã 70. Hai cha con đều khỏe mạnh. Con cháu của hai ông đều ở liền nhau chiếm cả ấp Phước Trường gần ngót trăm gia đình. Học sinh trường Lục Quân đóng ba tháng. Sau khi rút đi để lại hơn năm chục cái bầu cho con gái, cháu nội cháu ngoại kể cả con dâu góa chồng của hai ông. Ông cụ thấy vậy lắc đầu than thở :”Ấp này ngày xưa Đức Vua Gia Long tẩu quốc chạy vô tới đây xây đồn đấp lũy để chống giặc Tây Sơn, Hoàng Tử Cảnh đã đến đây nên con rạch này gọi là “Cảnh Đền”, tức là Đền của Hoàng Tử Cảnh, lâu ngày nói trại ra thành “Cạnh Đền”, còn truyền tiếng thơm trong lịch sử. Ngày nay bộ đội cụ Hồ đánh Tây đến đây sống với dân, khi đi rồi để lại tiếng xấu trong dân.

– Ông có gieo hột bầu ở Cạnh Đền không ông mảnh?

– Hì hì…

– Nếu có thì nay thằng cu cũng làm liên lạc cho bố nó được rồi đó!

Linh cười khè khè:

– Lính mình đi tới đâu gieo “mạ” tới đó. Bởi vậy cho nên lúa chín hoài gặt không kịp. Mày biết ông Năm Truyện bây giờ được dân vùng này đặt cho cái hỗn danh gì không? Năm Sàigòn! Mày biết ổng chớ. Thượng tá một lúc với Sáu Khâm. Ông Năm Tư Lệnh Công Trường 9, ông Sáu Tư Lệnh Công Trường 5. Lính ông Năm Sàigòn về đây cũng noi gương trường “lục lâm” của mình hồi trước. Đàn bà con gái vùng này đều bị cựa của công trường 9 hết cả. Dọc theo đường số 1, dài theo Phú Hòa Đông cặp đường số 8 sang bên kia sông Sàigòn xã Thanh An, Thanh Tuyền… con nít bốn năm tuổi không cha, đàn bà từ hai mươi đến bốn mươi không chồng mà có con, thiếu gì. Bọn mình muốn hốt mấy ổ mà không có. Chỗ bạn bè tao nói thiệt với mày nghe. Có ít ra là mười ông “rải phóng” chiêu hồi rồi đó. Có cả ông một gạch ba sao. Cũng vì cái vụ này này. Nên tao cho mày chứng minh thư cao su để bảo đảm chiến đấu thắng lợi mà không bị sứt mẻ cây DKZ và không rơi mảo, mày rỏ chưa nào?

Vừa tới đó thì hai cô dũng sĩ từ trong buồng đi ra. Là chắt lưởi hít hà và kêu lên.

– Tuồng cải lương hay quá trời!

Bảy Bê tiếp.

– Mấy anh xuống hầm ngủ, đừng có nằm trên ván.

– Được rồi!

Tư Linh cười và tắt đèn pin trong lúc tôi vội vàng đút gói “chứng minh thư” vào túi. Tư Linh nói:

– Nghe nó đề-pa là tụi tôi lăn xuống đất chớ gì mà lo.

Tôi hỏi cô xã đội:

– Tuồng cải lương gì đó?

– Lương Sơn Bạc xưng hùng! Hai anh chê hả?

Bảy Nê chen vào:

– Hổng phải chê đâu! Tao nghe lóm mấy anh bàn công tác nên không có thời giờ nghe.

– Công tác gì?

Bảy Nê nói hớt:

– Em nghe mấy anh bảo sẽ mở trường lục quân rồi bàn vụ cấp chứng minh thư đến súng ĐKZ. Có đúng không?

Tư Linh bấm tôi cười hớ hớ đáp:

– Đúng đấy tôi bảo thằng bạn tôi muốn khỏi sứt mẻ khẩu ĐKZ thì phải có chứng minh thư.

Là nói:

– Các anh, anh nào cũng có chứng minh thư của cơ quan cả nên dễ công tác, còn tụi em không có, lắm lúc đi qua xã khác, người ta không biết là ai làm khó dễ dữ quá!

Linh càng cười to. Tôi cũng hòa điệu. Tư Linh tiếp:

– Các cô mà không có chứng minh thư thì bị tai nạn luôn, kẹt lắm!

– Vậy chúng em sẽ đòi các ổng cấp cho chứng minh thư giắt lưng mới bảo đảm công tác.

– Nhưng chứng minh thư của mấy anh không giống chứng minh thư của mấy em đâu!

– Tụi em chán công tác ở địa phương lắm. Các ổng không sốt sắng động viên, cứ bỏ công việc cho tụi em. Cơ quan các anh có cần chúng em thì cho chúng em đi với!

– Ừ, để anh về thảo luận với xếp anh rồi sẽ cấp chứng minh thư cho em nghe!… Nhưng mà nên nhớ chứng minh thư của mấy em khó xin lắm!

– Kệ nó, khó cũng được miễn công tác không bị trục trặc thì thôi.

– H hà !… Anh hứa là khi các em dùng chứng minh thư thì mọi công tác sẽ thông suốt không lo tai nạn. Chỉ sợ các em trông thấy rồi các em la oải oải!

– Chúng em không la đâu!

– Muốn coi không, anh cho coi thử chứng minh thư của anh?

– Dạ, cho tụi em coi thử!

Tư Linh móc bóp mằn mằn móc “chứng minh thư” đưa ra cho Bảy Nê. Tôi la:

– Thôi đi cha nội ơi! Đừng cho coi, lộ bí mật hết!

– Lộ gì mà lộ. Trước sau rồi mấy cô ấy cũng biết mà.

Vừa nói Tư Linh vừa bấm đèn lên. Tôi liếc sang và chờ sự phản ứng của các nữ dũng sĩ. Chắc các nàng sẽ ù té chạy trốn. Cái thằng chơi bạo quá. Bảy Nê bước lại gần cầm lấy và đưa lên mắt, lật qua lật lại xem rồi hỏi:

– Chữ gì coi kỳ cục vầy nè?

– Chữ Liên Xô chớ tiếng gì?

– Liên Xô không giống chữ mình chút nào hết!

– Giống sao được mà giống?

Tôi mừng như thoát trận bom bèn ngồi phắc dậy bảo Bảy Nê đưa cho tôi xem. Thì ra tắm cạc “vi-dít” bằng tiếng Liên Xô. Sở dĩ tôi biết đó là tiếng Liên Xô là vì tôi đã từng trông thấy loại chữ nghênh ngang chà chôm không giống chữ mình chút nào, trên các thùng đạn pháo và quân cụ khác. Tôi nói:

– Chứng minh thư này…

– Không phải của tao đâu! Đó là của ông giáo sư đại học Liên Xô. Ổng cho tao và dặn kỹ: chừng nào có sang Mút-cô-oa thì tìm đến nhà ổng uống Vodka chơi. Tao cũng hứa với ổng chừng nào đánh thắng giặc Mỹ và xây lại đất nước tươi đẹp gấp mười lần xưa thì tao sẽ mời ổng sang uống rượu Ba Xị đế.

Tôi hỏi:

– Ông ta không hứa giúp cho mình gì hết à?

– Ổng hứa về sẽ báo cáo lên trên, còn kết quả thế nào thì không chắc! Trớt he chớ gì mà mong!

Hai đứa trao đổi ý kiến về vụ hai phe “Giáo điều” và “Xét lại” phun nước miếng vào mặt nhau bằng các loa quanh bờ Hồ làm ướt đầu thằng em út Hà Nội. Được một chút thì hai cô dũng sĩ đem ra một mâm cổ thơm phức. Cô xã đội nói:

– Chúng em nấu chè đậu xanh đường cát cho hai anh ăn kẻo uống rượu thức khuya xót ruột.

Tư Linh và tôi nhìn nhau như thầm bảo: “Các em ngoan quá trời”. Rồi hai thằng cùng húp. Tư Linh nói với tôi:

– Chè đậu xanh này có vẻ xét lại quá trời!

– Nếu nấu bằng đường mía giải phóng thì mới đúng chánh sách.

– Chắc chừng vài tháng nữa dân Liên Xô sẽ được nghiên cứu hai phân số 3/4 và 4/5 của ông giáo sư “tán” học đem về từ Củ Chi.

Chương 5

Tư Linh vừa đạp ký cách vừa kể chuyện địa phương cho tôi nghe một hồi rồi bảo:

– Ở đây mày phải bám thổ địa đừng có đi lêu bêu mà mang khốn!

– Tao đâu có dám đi đâu.

– Biệt kích nó đánh bạt mạng cô hồn lắm nghe cha non! Ba cái mớ lý thuyết Luận Trìì Cửu Chiến, dao mổ bò giết ruồi, vãy chài nhanh, công đồn đả viện… gì gì của trường lục quân tụi mình ở Miền Tây hối nẵm lạc hậu đã đành, mà các thứ của chuyên gia Liên Xô dạy cũng không có tác dụng gì ở chiến trường này hết!

Tôi nói:

– Tao cũng đã thấy phần nào.

– Biệt kích thời Pháp không giống với biệt kích Mỹ Ngụy đâu. Bây giờ bộ binh chúng nó đến trong vòng mười lăm phút. Pháo bắn trong vòng hai phút.

– Hồi ở ngoài Trường Sơn tao đã nghe mấy cậu giao liên rỉ tai rồi. Nào là Bủa Lưới Phóng Dao, Phượng Hoàng……

– … Vồ mồi, Cọp đen, Cọp xám, Trâu khùng, Trâu điên hầm bà lằn. Thứ nào cũng ác cả. Không biết có bao nhiêu hội nghị cấp ủy xã, huyện, cả khu ủy đã bị chúng giết và bắt sạch. Mày phải xin một cận vệ mới được!

Tư Linh đã đem gởi thằng cận vệ ở một nơi nào đó rồi chở tôi đi nhắm tình hình các xã. Dấu xe bò cắt trên con đường dứa hầu như bằng phẳng trở lại chứng tỏ khá lâu không có xe đi trên những con đường này nữa. Tư Linh đạp rất khỏe. Theo như y nói thì tôi chỉ là con nhái bén so với cái cây thịt của ông giáo sư Liên Xô. Cho nên y vừa đạp lúc lắc vừa tán liên miên. Y bảo:

– Cơ quan lúc này chẳng có việc gì làm đâu. Nấu được bữa cơm ăn đã mệt nhừ rồi còn sức đâu nữa mà phục vụ cách mạng. Bữa nay tao đi vài nơi để kiểm tra công việc và gây cơ sở địch vận thêm. Tao sẽ cho mày biết một số địa đạo hầu sau này mày cần thì có. Mày nên nhớ là không có ông bà du kích nào cho mày xuống địa đạo đâu.

– Sao kỳ vậy?

– Có gì mà kỳ! Vì địa đạo rất ngắn không đủ hơi cho du kích thở lấy đâu cho mày?

– Vậy mà tao tưởng là cô xã đội nói giấu. Vì theo đài Giải Phóng thì địa đạo Củ Chi “thôn liền”…

– … thôn liền thôn, xã liền xã chớ gì. “Thôn liền là thiên l… “ Địa đạo chỉ bằng cái thẹp l… của con nít thôi. Không có cái nào chứa được mười người. Mà có chứa được cũng không ai dám xuống.

– Lâu nay tao cứ tin đài Giải Phóng nên khi được điều động về đây tao thấy đời khỏe ru như cu bà bóng!

– Mày tưởng là dân Củ Chi lùa cả trâu bò xuống hầm. Dân làng ùn ùn xuống địa đạo như đi chợ chớ gì. Nghe mấy ông nội đó mà bán lúa giống hết cha non ơi! Không có địa đạo nào dài tới hơn trăm thước. Và không có cái địa đạo nào có đến mười người chui xuống. Đó là sự thực. Thằng nào ngoan cố gân cổ lên mà cãi với ông, ông sẽ trỏ “kẹc” vào mồm nó ngay. Kể cả những thằng xã đội Bí thư ở các xã từ cái xóm Hố Bò này xuống tận Phú Hòa Đông. Thằng nào dám bảo xã tôi có địa đạo thôn liền thôn xã liền xã đâu xin cho tao biết! Đm. Nói láo dây chuyền. Để tao kể cho mày nghe. Đây không phải là chuyện bí mật cái khỉ khô gì, nên tao nói hết: Hổng chừng tao biết còn ít hơn thằng quận trưởng Củ Chi hoặc thằng đại sứ Mỹ ở Sàigòn. Đây: Phú Hòa Đông có chừng chục rưỡi thước, Nhuận Đức cũng cỡ đó, có thể khá hơn chút vì Nhuận Đức là xứ của con Bảy Mô, dũng sĩ diệt Mỹ. An Nhơn cũng có kha khá. Ở đây có thằng ma cà rồng Bọ Chét tới công tác rồi đòi gái. Tao và xã ủy phải đi tìm,làm vỡ lỡ cả xóm. Chi uỷ địa phương phải đứng ra giàn xếp! Ê cái mặt quốc tế quá trời đi.

– Có vụ đó nữa à!

– Ối giao ồi! Có chớ. Mấy thằng cha nhà văn trên Rờ đâu không xuống đây tao cho một bao đề tài.

– Để tao rủ một thằng cha quen xuống nghe!

– Ừ cho nó nếm mùi địa đạo Củ khoai.

– Rồi bây giờ ông nội chở con đi đâu đây?

– Chịp, tao cho mày gặp con dũng sĩ ở Gót Chàng, tên là Bảy Mô. Dân địa chủ nghe, không phải bần cố như Nguyễn thị Chiên hay La văn Cầu đâu đấy! Mày thấy là mày “hít” liền. Tụi “đội nữ” đang bình bầu chiến sĩ thi đua đặng lên R dự đại hội toàn miền.

– Còn Năm Cội và Tư Gừng ở đâu?

– Để thong thả rồi tao phụ nhĩ cho mày nghe về cái “đội nữ” này. Nói tóm lại một câu: đội này do ông Tám Quang nhà mình dựng lên và sơn phết nặng về phần trình diển hơn là giết giặc.

– Nghĩa là sao?

– Nghĩa là như cái kiểu chiến sĩ thi đua ngoài miền Bắc ấy mà. Ông chiến sĩ Nông Nghiệp không biết cấy lúa ra sao, còn bà thợ dệt thì chưa hề ngồi trên máy dệt. Đội nữ này cũng gần như vậy. Tụi nó để dành cho nhà báo chụp hình. Vừa rồi ông giáo sư Liên Xô quay phim dữ dội nhưng không bằng thằng Bọ Chét. Bây giờ để tao cho mày gặp thì mày tha hồ điều nghiên cô ta.

– Đường còn xa không?

– Mày cứ ngồi khỏe re như bò kéo xe đi. Tao đạp chút nữa là tới.

Được một lúc tôi thấy con lộ đứt ngang, trước mặt và hai bên lề đường cây cối ngã liệt địa, cả một khoảng trống bùn sình bất ngờ trải ra trước mặt. Linh nhảy xuống xe và hất hàm:

– Mày biết cái gì đó không?

Đây không phải là lần đầu tiên tôi thấy sự tàn phá của B52, nhưng là lần đầu tiên tôi kinh hoàng trước sự tàn phá của nó. (Không còn chữ gì đúng hơn chữ “kinh hoàng”). Vì đây là giữa xóm làng không phải rừng hoang. (Khi tôi viết những dòng chữ này thì B52 đang dội bom Iraq. Mỗi chiếc mang từ 17 đến 25 tấn bom. Mỗi quả nặng 750 pounds. Ba tuần nay đất vùng Vịnh không phút nào ngơi ăn bom. Tôi nhìn thấy những cột khói những biển lửa mà rởn ốc. Vì tôi đã từng sống cảnh đó cách đây 20-25 năm. Tôi có thể nói rằng không có thứ gì chịu nổi với B52, kể cả thành đồng vách sắt. Củ Chi đất thép thành bùn là vì B52.

Nhưng cuộc chiến tranh vùng Vịnh chỉ kéo dài vài tháng (theo tôi đoán) là cùng. Vì lính xứ này được lãnh tụ của họ cho chui trốn dưới hầm bunker còn Tổng tư Lệnh thì ở hầm có đủ tiện nghi và có khả năng an toàn cả với bom nguyên tử. Riêng chúng tôi thuở đó đánh với Mỹ có gì? Có thể nói không có gì ngoài sự cuồng tín của lãnh đạo và sự mê tín của cấp dưới. Quân dân Củ Chi không phải chịu đựng một vài tháng mà suốt tám năm 1965-1973. Củ Chi trở thành bình địa, hơn nữa một bãi tha ma đêm đêm chập chờn những oan hồn. Không còn một gốc cây đứng, không còn một bụi cỏ nguyên đừng nói chi một mái nhà. Hễ thấy khói lên là máy bay tới bắn. Hễ thấy thấp thoáng người là pháo thụt diệt ngay.

Bọn Hà Nội trả giá cho công cuộc xăm lăng miền Nam bằng vài triệu sinh mạng trong đó có hằng ngàn cán bộ và nhân dân Củ Chi. Cái chết sẽ được đền bù nếu đó là cuộc chiến tranh chính nghĩa và sau chiến thắng những người còn sống được hưởng những gì xứng đáng? Không có gì tất cả.

Sau khi ăn cướp được Miền Nam, chúng lại lừa đám thanh niên sang Cao Miên để làm nghĩa vụ quốc tế, một thứ nghĩa vụ không ai cần.

Sự ngu xuẩn và cuồng tín của lãnh tụ đưa đất nước đến lầm than và rụi rã. Hỡi những ai ngày hôm nay trông thấy B52 dội bom hằng loạt như đậu đen rơi xuống đất, xin hãy hình dung ra mảnh đất Củ Chi nhỏ bé mềm mại của đất nước Việt Nam đã từng hứng chịu ròng rã hết năm này sang năm khác.

Tôi viết bộ hồi ký này để bạn đọc thấy dã tâm của bọn đầu bò Hà Nội quyết tâm hi sinh dân Nam Kỳ để giành cho bằng được cái ghế thống trị của chúng chứ chẳng phải vì “Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi”.

Tư Linh vác xe đạp lên vai đi loanh quanh theo đường mòn lởm chởm cành cây gạch đá và rải rác có vài mảnh bom sét nhô lên từ một vũng nước bùn đỏ chạch.

Tôi buột miệng thốt:

– Đúng là đất sét thành bùn!

– Ăn thua mẹ gì! Còn nhiều nơi văng cả địa đạo cơ! Đây là đường 15. Mấy năm trước còn xe lam vô chợ An Nhơn. Dưới sông tàu chạy, trên bờ xe lam, vui lắm. Nhưng bây giờ “Dưới sông tàu chạy trên bờ B52.” Đấy mày là con “nhà pháo”, mày xem dùm cái lỗ bom tấn kia rồi phán đoán: Có địa đạo nào chịu nổi không? Thấy cái bãi đất sét thành bùn này rồi, mày có còn dám mon men chui hầm nữa không?

Hai đứa vừa lội vừa luồn và leo qua những thân cây đổ một quãng xa mới đến đầu đường nguyên. Tôi bảo.

– Đưa em “lái” anh đội về nhà cho!

– Có mời anh đội “xơi nước” không?

Hai đứa cười với nhau, vuốt mồ hôi rồi lại tiếp tục cưôc hành quân bằng xe đạp. Tôi đèo Tư Linh. Tôi nói.

– Bỏ lâu quá suýt quên!

– Còn cái vụ kia bỏ lâu mầy có quên không?

– Hì hì! Chắc mày quên rồi hả?

Tư Linh không trả lời, đưa tay vuốt lưng tôi bảo:

– Chóng ngoan em yêu anh đội. Há há… Ba ván liền không bỏ ván nào!

– Bây giờ chắc hết nổi rồi bác nó ơi!

Chập sau tới chợ. Hãy còn khá sầm uất. Người qua kẻ lại nhớn nhác… Dường như ai cũng cố mua bán cho nhanh để rời khỏi khu tử địa này. Tư Linh có vẻ rành sáu câu nên bảo tôi đạp thẳng đến một mái nhà lụp xụp ở dưới một tàng me xanh nhưng một bên đã bị cháy sém. Sân chợ bị cày lên như những lỗ chân trâu. Nhiều vách phố vỡ nát. Dấu đạn chưa cũ lắm. Tư Linh lủi vào quán trước và nói:

– Có phở cháo gì không chị Bảy?

– Không có gì hết chú ơi! Nó bắn quá trời đi, nấu nướng sao được.

– Chi còn kháp rượu không?

– Còn chút đỉnh.

– Ảnh có về không?

– Ối! Tôi mong ảnh đừng có về nữa.

Tôi bước vào. Người đàn bà nói chuyện với Tư Linh trạc ngoài bốn mươi, đang mang bầu. Bên trong có vẻ một cái quán nhưng lạnh lẽo. Tôi và Tư Linh ngồi vào chiếc bàn mốc meo ở góc nhà. Tư Linh hỏi:

– Có gì bỏ bụng đỡ đỡ được không chị?

– Có ba con khô cá đuối thôi.

– Có hột gà hột vịt gì không chị?

– Không có chú ơi! Nếu chú muốn có mồi thì qua bên quán con xẩm kia kìa. Hôm qua máy bay bắn chết con bò của ai. Nó mua mão để xẻ bán. Chắc bữa nay còn nhiều.

– Bò xe hả chị?

– Bò cày.

– Trời đất, lấy gì làm ruộng.

Tư Linh chạy vọt đi. Người đàn bà hỏi tôi:

– Chú ở ngoải mới về hả?

– Dạ! Sao chị biết?

– Thì ở đây toàn là “mùa thu” thôi chớ có ai đâu khác.

– Bộ ảnh cũng ở ngoải về hả?

Người đàn bà ngập ngừng không đáp rõ lời. Trông vẻ mặt bà chị buồn rợi. Tôi đoán chắc ông anh đã hi sinh nên không hỏi nữa. Tư Linh trở về, tay xách xâu thịt đỏ tươi đưa cho chị:

– Chị làm dùm đi. Bậy bạ món gì cũng được không cần kỹ lắm. Nó có bắn, hầm đâu chị?

– Chỉ có một cái trong buồng.

– Vậy khách đến ăn nửa chừng nó đến rồi làm sao?

– Thì né qua né lại đỡ vậy. Mai mốt tôi ra ấp chiến lược nên không sửa sang gì cho lắm.

Tư Linh hỏi.

– Bỏ ảnh ở lại trong này sao chị?

Người đàn bà không đáp xách xâu thịt đi vô bếp. Tư Linh nói vói theo:

– Có gì nóng nóng không chị?

– Có.

Tư Linh rỉ tai tôi:

– Ông Bảy Huyền Mùa Thu nhà mình vừa bị khai trừ vì bà này đấy. Ổng có vợ ở thành lại nói với bả là chân trơn. Hai bên cụp nhau. Bà vợ ở thành vô. Đụng đầu. Vậy đó. Tình Ca muôn thuở vẫn là Hận Ca. Hận Ca trở thành kỹ luật Trường Ca. Mỹ chưa đánh mình đã té.

Chị chủ nhà bưng đĩa thịt xào hành ra. Mùi hương bốc thơm ngát tôi ngạc nhiên:

– Củ hành Tây hả mậy?

– Không! Củ hành Tàu, ủa củ hành Trung Quốc!

– Ở đâu mà có?

– Ở đâu cũng có trừ Hà Nội! Chị làm ơn đi tìm dùm một cây vừa cay vừa ngọt được không chị?

Người đàn bà vọt đi ra cửa trước. Tư Linh đưa đũa chén cho tôi:

– Làm lần đi! Ở đây lắm ông nội văng ống điếu dữ lắm! Bởi vậy tao mới dắt mày đi dạo sơ vài ba mối coi chỗ nào được là cưới quách. Danh chánh ngôn thuận, C. thằng nào nấy vuốt. Thế là êm. Để nhảy dù đứt dây rơi sao rơi gáo hết.

– Tao phải chờ gia đình vô mới được.

– Má Hai đi rước không xong, làm thế nào?

– Tao đang khổ tâm không biết tại sao gia đình dời lên Sàigòn. Má Hai lên Sàigòn mà lại không tìm gặp.

– Không có gia đình thì cơ quan thay mặt cũng được chớ gì. Thời buổi chiến tranh này đâu có ai đòi hỏi phải có đủ cha mẹ đàng trai. Để coi, rồi đây cái vụ ông Bảy Hốt với bà Sáu Tiệm sẽ nổ ra không nhỏ.

– Tại sao?

– Tiền bạc lằng nhằng, quan hệ lem nhem. Con người chỉ có hai cái khoản đó thôi. Bởi vậy tao cấp cho mày chứng minh thư liền da. Đám mình không thằng nào là không giắt trong bóp vài cái. Tao đã bảo mày là thanh nữ thanh niên ở trong này bây giờ yêu vội sống cuồng còn hơn Sàigòn nữa là khác. Tại sao? Chết chóc hằng ngày. Thanh niên thì đi dân công và bộ đội. Có đi mà không có về. Thằng chồng con Lụa đi ra tận Bình Long, nghe nói ngũm rồi, nhưng xã giấu. Còn con gái thì ở lại chống Mỹ bằng súng trường bá đỏ để trở thành dũng sĩ, nếu không thì thăng thiên. Một số khác nhảy ra ấp chiến lược sống rất khỏe. Đi may mướn lệu hệu một ngày cũng kiếm trên năm trăm đồng, may cho quân nhu chỉ được hai trăm.

Tư Linh thở dài, nhưng đưa đũa gắp liền liền. Hắn gầy nhưng ăn khỏe, nhậu khỏe, hút cũng khoẻ. Hồi trước ở Miền Tây lúa gạo nhiều hắn ăn một mình nửa soong cơm lớn. Anh em gọi hắn là Tạ Hầu Đôn. Còn hút thuốc thì hễể ai mở bọc ra là hắn rề lại miệng hỏi tay quơ, lại còn rút vài điếu vắt mép tai để về nhà hút.

– Mình ngồi ở đây chỉ cách các bót ngụy Trung Hòa bảy cây số, bót Phú Hòa Đông tám cây, cách Đồng Dù mười cây, cách bờ sông Sàigòn chừng tám trăm thước. Ông Bảo chánh ủy F330 về làm chánh ủy I/4 này, chưa đến nơi đã bị biệt kích bắn chết ở khúc trên Hố Bò một chút.

Tư Linh ném một miếng bầy nhầy xuống đất và nói:

– Cái Đồng Dù rất nguy hiểm. Tao không nói cái nguy hiểm bom pháo đâu, nhưng là cái nguy hiểm về tinh thần. Mày có biết là hàng ngày có trên ba trăm thanh niên, phần lớn là đàn bà con gái đi vô làm công cho nó không? Từ quét nhà quét bếp giặt quần áo, giặt ra trải giưồng đến thơ ký đánh máy thông dịch, thượng vàng hạ cám không thiếu thứ gì. Ban đầu chỉ thường dân đi thôi, sau đó đến con em cán bộ rồi bây giờ đến cả nữ cán bộ cũng quăng ba lô đi làm sở Mỹ. Từ năm trăm đến một ngàn đồng một ngày, khỏe quá mà, không đi sao được! Ở ngoài khu ăn bom ăn đạn mà chẳng được con mẹ gì lại nay chuốc chông, mai đào địa đạo, mệt bỏ cha. Họ đi là phải. Ngoài lương lãnh bằng tiền mặt hằng ngày còn những thứ lương khác, mày hiểu không? Cao hơn cả lương chính thức!

– Là cái thứ lương gì?

– Lương này này! Mày không hiểu nổi đâu. Nữ du kích, thanh nữ, vợ con cán bộ vô làm trong đó đều mang đồ về bán thả ga. Ngoài ra còn mang bệnh phong tình.

Tôi la oai oái. Nhưng Tư Linh vẫn cứ bình tỉnh tán tới.

– Bởi vì các anh mũi lõ chìa đô la ra là mắt chị em nhắm lại thôi, thế là đưa cái đế cối ra cho chúng nó dập. Để bù lại các cô các bà mỗi ngày đi làm ra cổng nơ theo vô số “chiến lụy phẩm”. Đồ hộp đủ loại, xà bông thơm, xà bông đánh răng, bi-đông, dây thắt lưng, bút bi, kiếng mát, giày dép, mùng mền, vải vóc cả thuốc men. Penicilin còn mang ra được nữa là các thứ tẹp nhẹp như át-pi-rin hay kí-nin. Quán bán các thứ đó dựng ngay ở trước cổng Đồng Dù.

– Tụi Mỹ không nói gì à?

– Nó là thằng thừa mứa các thứ đó. Trong thùng rác của nó cũng có thịt hộp và thuốc men vải vóc. Người ta làm giàu vì rác Mỹ ở đây mày ạ! Ai cần những thứ đó? Chính tụi mình! Chừng vài tháng nữa mày sẽ thấy là trong người mày toàn là đồ Mỹ như tao bây giờ. Từ quần áo, súng, bi đông, thắt lưng, ba lô, xà bông, bàn chải… đều made in USA cả. Thậm chí đến gạo thịt mình ăn cũng của Mỹ. Để hôm nào mày về cơ quan, tao sẽ cho mày coi những thùng mỡ vĩ đại, năm thằng ăn một tháng không hết. Ngoài ra còn những thùng dầu ăn của dân Mỹ tặng không dân Việt Nam mà mình mua một lúc cả xe xích lô ở ngay vĩa hè chợ Củ Chi mày ạ. Đó là sơ sơ ba điều bốn chuyện như vậy đó để ông bạn nắm được tình hình trước, khỏi phải ngạc nhiên khi thấy chuyện trái tai gai mắt.

Hai đứa phá gần hết dĩa mồi thì chị chủ quán về tới. Chị mua được một chai rượu rất đẹp. Tư Linh kêu lên:

– Đúng rồi! Ở đâu vậy chị? Anít mà đi với thịt xào hành thì chỉ có lết thôi.

– Của cô Xẩm Lai. Bên đó bây giờ món gì cũng có. Có cả sách vở nữa. Tôi có mượn một cuốn về buồn buồn xuống hầm đọc chơi đây nè.

Tư Linh vừa khui rượu vừa nói.

– Cuốn gì vậy, đưa tôi coi!

Tôi đưa tay nhận quyển sách. Bìa sách rất đẹp. Tựa sách màu xanh nổi bật lên nền xám Buồn Nôn, ở dưới, trong dấu ngoặc có dòng chữ La Nausée, tôi ngó lên đầu sách Jean Paul Sartre. Tôi không biết ông tác giả là ai và sách thuộc loại gì.

Đã trên hai năm trời tôi không có đọc sách.

Tư Linh liếc sơ rồi hỏi chị chủ quán:

– Sao chị mượn sách này? Đây là sách phản động số dách.

– Nó bảo hay lắm. Tôi tưởng chuyện Tàu nên cầm về. Vây để tôi trả mượn cuốn khác.

– Để tôi mượn!

Tư Linh vừa nói vừa rót rượu ra một cái ly cối và cười hề hề.

– Ở đây không có nhâm nhi nghe chú em. Hễ uống là “cấp tập” không có nã cầm chừng.

Chúng tôi uống rượu với nhau cho tới đúng trưa. Vừa định rời quán thì thấy người ta rải rác đi xuống bến đò. Tư Linh bảo:

– Con đầm già trên Dầu Tiếng sắp xuống thăm chúng mình. Nó đi trước, phản lực theo sau. Đây là giờ tàu chạy. Chắc nó đã đỗ trên Bến Dược cho nên ở đây người ta xuống bến chờ.

Tôi dớn dác nhìn Tư Linh vì khu chợ phơi lưng trần trụi quá và bến tàu lố xố những người. Tư Linh xua tay trấn tỉnh tôi:

– Không sao đâu. Nó còn “nuôi” cái chợ này và Bến Dược để thả gián điệp ra vào.

Tôi ngó qua khung cửa quán. Quả thật chiếc L19 đã lù lù lượn vòng trên mặt sông. Nó nghiêng qua liếc lại và sà xuống ngọn cây. Tôi hỏi.

– Mình không khìa được nó à mày?

– Lệnh khu ủy cấm ngặt không cho lính xuống bến sông và bắn máy bay dọc bờ sông.

– Sao vậy?

– Nếu bắn, máy bay sẽ bỏ bom tàu sẽ ngưng chạy, bọn mình chết đói nhăn răng. Trên Bến Dược có một ổ tiếp tế của mình đặt ở nhà mụ Sáu Tiệm, còn ở đây cũng có một ổ tao không biết đặt ở đâu. Đó là huyết mạch của mình.

Đột nhiên chị chủ quán la lên:

– Trực thăng xúc!

Tôi và Tư Linh chưa kịp hỏi trực thăng xúc là trực thăng gì, xưa nay chưa từng nghe cái tiếng lạ lùng đò, thì chị run run nói:

– Mấy chú chạy đi.

Tư Linh nghễnh cái cổ cò ra xem rồi nói:

– Nó đi về hướng Trung Hòa và Gò Nổi dưới mà chị!

– Nó xúc dân ở Lô 6 đổ vô ấp chiến lược Trung Hòa.

– Sao chị biết?

– Nó xúc từ hôm qua mà. Nó rải truyền đơn kêu gọi, người ta đi chậm nên nó đem trực thăng xúc cho mau.

– Chà! Có cái vụ đó nữa ta!

– Người ta đồn nay mai nó sẽ xúc các xóm Bàu Lách, Bàu Trăn, Gò Đình, Bàu Tròn đổ vô ấp chiến lược Cây Bài để che đạn cho Đồng Dù đó hai chú ơi! Rồi lần lần nó sẽ xúc tới đây chớ không khỏi đâu.

– Chị cứ để cho nó xúc đi, ra ngoải móc lại với tụi tôi.

– Như tôi bây giờ đi cũng dở mà ở cũng không xong, không biết tính lẽ nào.

Nhậu ba sần rồi, Tư Linh cười hô hố, bảo:

– Nóng xong, tới lạnh. Đằng cô xẩm có nước đá không chị?

– Thiếu gì! Cà rem còn có!

Nhậu xong Tư Linh thanh toán mọi món tiền đút nửa chai Anít còn lại vô ba lô rồi hai đứa ngất nghiểu dắt xe đạp đi. Tư Linh nói:

– Mày thấy chiến trường này phức tạp chưa. Đâu phải đội B52 giỏi mà thắng được. Nó còn đánh tâm lý. Mỗi người dân ra ấp chiến lược đều được phát gạo và tôn để cất nhà. Ở với mình, mình bắt đóng thuế nông nghiệp cong xương sống, bò xe của người ta muốn mua giá nào được giá nấy, vợ con người ta muốn mò chừng nào mò. Bà này là nạn nhân của một vụ bịp mùa thu. Còn một vụ nữa, cũng mùa thu. Ông này có vợ ở ngoài thành nhưng lại cũng thiếm xực con gái chủ nhà đóng quân, bị bắt được. Cơ quan bắt phải cưới.

– Sao lại kỳ cục vậy?

– Thì vậy mới khoái. Đã có vợ ngoài thành. Ở trong này cơ quan lại cưới vợ cho nữa. Bởi vậy kỷ luật sắt thành kỹ luật chuối! – Tư Linh tiếp – Tao biết mày về đây thế nào cũng mần cái Đồng Dù một vài phát coi cho đẹp, nên bữa nay tao cho mày xem cái chỗ này. Sớm muộn gì mày cũng tới đây lập nghiệp và có thể xây tổ uyên ương. Chợ An Nhơn này trước đây ăn đạn trực thăng hàng ngày không hiểu tại sao hơn một tháng nay nó không bắn nữa. Tao nghi là nó để đó, lâu lâu hốt một cú tản gà cho coi.

Quả y như rằng khi đến quán cô xẩm thì thấy có khách đến uống nước đá lai rai. Tư Linh reo lên:

– Cô Bảy Dũng sĩ đó hả?

– Ai vậy?

– Anh Tư nè, quên rồi sao?

– À anh Tư, anh đi đâu lọt xuống đây sao không ghé nhà em chơi?

– Thì bữa nay ghé đây. Sầu riêng có trái chín chưa?

– Có rồi! Anh vô em đãi anh một bụng!

– Thiệt nghe! Xứ anh sầu riêng măng cụt thiếu chi, nhưng cả chục năm nay toàn ăn trong mộng. – Quay sang tôi, Tư Linh vui vẻ cười: – Tôi có ông thầy đây xin giới thiệu với cô luôn thể. À mà thôi để uống nước đá cho thông cổ cái đã rồi về nhà sẽ hay. Cô Bảy uống nước đá gì, chanh hay xi-rô? Thôi cho luôn ba ly chanh đi cô em! Ủa, hai ly chanh, một ly xí muội, nghe tiểu muội!

Cô xẩm cười khoe cái lúm đồng tiền trên gương mặt no tròn trắng trẻo không có vẻ ăn với cảnh chiến khu chút nào. Uống xong, Tư Linh móc túi trả tiền. Bảy Mô kêu lên:

– Ý chết! Anh Tư đừng làm vậy. Ai lại để khách bao chủ nhà?

– Thôi được rồi, để kỳ tới chủ nhà sẽ bao lại khách.

Tư Linh nói rồi dắt xe đạp đi. Tôi và nàng dũng sĩ lót tót theo sau. Tôi phóng câu hỏi làm quen.

– Nhà chị gần đây à?

Bảy Mô nũng nịu phản đối.

– Anh đừng kêu em như vậy!

Trong bụng tôi có phần phấn khởi. Cô dũng sĩ trông như là học sinh thành. Da trắng như bông bưởi, môi son, tay đánh đòng xa dịu dàng, chân bước khoan thai. Tóc còn ướt buông xỏa sau lưng, hình như cô mới gội đầu nên thơm ngát, hai tay áo ngắn để lộ hai cánh tay dài trắng như lõi chuối, tấm lưng thon thon. Chưa hai mươi tuổi vậy mà kêu tôi bằng anh. Tôi bèn sửa lại ngay cho hợp tình:

– Nhà em ở gần đây á?

– Dạ ở trong xóm Bưng. Mời anh vào chơi. Ý chết anh có bận gì không?

Tư Linh đang đi ở phía trước bèn dừng lại bảo:

– Bận thì lúc nào các anh chả bận nhưng hôm nay có việc nên anh Tư tìm em nhờ giúp dùm. Chưa đến nhà đã gặp ở đây, thiệt là may. Xin giới thiệu luôn. Đây là ông bạn thân của tôi từ hồi chín năm. Bây giờ về thay cho ông Hai Giả và Sáu Phấn chỉ huy H6 đấy. (1)

Bảy Mô hơi giật mình. Tôi biết Tư Linh chỉ đoán chừng vì chưa có quyết định chính thức, nên nói đỡ:

– Chưa chắc đâu ông bạn ơi!

Bảy Mô nói:

– Bác Hai Giả và chú Sáu Phấn lúc trước đóng ở Bến Mương gần nhà em. Anh có quen với bác Hai và chú Sáu không?

Tư Linh nói tướp:

– Ông này là thầy của hai ông ấy.

Bảy Mô tròn xoe đôi mắt nhìn Tư Linh bảo:

– Về môn pháo, ông ấy là thầy tất cả không riêng gì hai ông đó thôi đâu. Nay mai rồi cô cũng là học trò của ổng mà!

Bảy Mô đỏ ửng má, lí nhí.

– Dạ! Em quên hỏi anh thứ mấy?

– Thứ hai.

– Anh Hai chưa có chị Hai, cô Bảy nó có thấy chỗ nào được, giúp đỡ cho anh Hai chút.

– Anh Tư phá em hoài!

o O o

Nhà Bảy Mô to lớn, nền gạch cột căm xe đen mun chưa bị bom đạnh. Nóc ngói rêu phong như nóc chùa. Ngôi nhà ẩn náu trong một vườn cây um tùm gồm dừa, cau, vú sữa, cam, quít và sầu riêng. Mùi sầu riêng chín lan ra tận ngõ làm khách tha phương ngây ngất.

Nhường cho nữ gia chủ đi lên phía trước vài bước để bước lên thềm. Tư Linh thầm thì với tôi:

– Mày cơi có thua gì Nữ học đường không ?

Bảy Mô bước vào mở cửa cà cất tiếng lảnh lót:

– Mời anh Tư và anh Hai vô nhà.

Tư Linh dựng xe đạp ngoài thềm. Chúng tôi bước lên tam cấp rồi vào bên trong. Không khí mát lạnh vì những tủ cẩn, lư đồng và những tấm liễn sơn son thếp vàng bóng dợn. Bảy Mô từ trong nhà đi ra. Nàng đã thay chiếc áo dài tay màu cánh dán tay bưng dĩa đựng quả sầu riêng.

Tư Linh xua tay pha trò.

– Ôi chao! Không nên “nàm” thế! Không nên “nàm” thế!

– Mời hai anh dùng đỡ một trái trước.

– Chà sầu riêng nở gai nứt vỏ rồi. Nếu cô không ràng lại thì đi hơi hết. Xứ tôi là xứ sầu riêng mà. Tôi đến đây lần này là lần thứ mấy rồi hả cô Bảy’?

– Em đâu có nhớ.

– Anh thấy là nên đem ra ngoài vườn, chỗ cái mội nước trong veo có tấm ván hắc ngang ngồi ăn coi cá đớp dưới lá sen cho khoẻ đồng thời anh nhìn lại vườn sầu riêng cho đỡ nhớ nhà, được không cô Bảy?

– Dạ được chớ. Tùy ý anh. Anh ăn hết trái này rồi ra vườn hái trái khác.

– Ủa nhà đi đâu vắng hết vậy cô Bảy?

– Ba em đi ngoài ấp chiến lược Cây Bài thăm bà con.

Tư Linh nhìn tôi ý nhị : “Thấy chưa mày? Một nguồn suối mà rẽ hai dòng đấy.”

Tư Linh khui sầu riêng. Quả sầu riêng loại nhất, gai nở đều không lép múi nào, bột mịn như nghiền. Tôi vừa ăn vừa ngó quanh. Tôi chỉ thấy có một vết đạn bên chái nhà. Tôi tìm xem viên đạn xuyên những đâu thì bắt gặp một chân bàn thờ chấp bằng thanh tre. Tôi thấy đau nhói như chính mình bị thương. Chiến tranh ác thật không để yên cả người chết. Tư Linh vụt hỏi.

– Trong nhà có nón thiếc không cô Bảy?

– Dạ không. Để làm gì vậy anh?

-Để anh mượn đội đi ra xem vườn chút.

Bảy Mô cười, cái miệng móm duyên giờ này tôi mới được nhìn rõ.

-Ối ! Của người ta trồng mẫu này qua mẫu khác kìa mới dùng nón thiếc. Chớ còn của em có vài chục gốc đâu cần phải đội nón thiếc mới dám ra vườn.

– Bộ cô nói đầu tôi đội B52 mấy keo rồi sầu riêng rụng không lủng hả? Này cô Bảy! Cô đừng có vứt vỏ sầu riêng nghe ?

– Để làm gì anh?

– Để tôi phơi khô rồi đem nghiền ra bột gởi ra miền Bắc cho tụi Nam Kỳ hửi.

– Em tưởng để vài miếng treo dưới giường cho rệp hôi ổ đi hết chớ !

Bảy Mô đi vào buồng một thoáng rồi trở ra đưa cho Tư Linh một chiếc nón sắt Mỹ. Tư Linh leo lên:

– Chiếc nón dũng sĩ này chắc em lượm được trên xác Mỹ hả ?

– Em gởi mua ngoài Đồng Dù chớ trên xác Mỹ gì!

Tư Linh nói rồi đội lên đầu, cười:

– Tôi cũng muốn trở thành dũng sĩ mà sợ cô Bảy chê không nhận! Nè, cô Bảy nên học thêm một luôn pháo kích nữa đi.

– Em lấy gì mà pháo?

– Xin ông Tám Quang trang bị cho súng cối tay.

Nét mặt cô gái trở nên buồn buồn.

– Tụi em đâu có điều động nổi. Đội bây giờ bỏ về nhà bộn rồi, đâu còn nhân lực để khiêng vác.

-Ủa sao vậy cô Đội phó?

– Em không biết.

– Cô có báo cáo lên chị Năm Đang chưa? Chỉ là khu ủy ‘viên trực tiếp với các cô, xin là được chớ gì!

– Dạ, để thong thả rồi tụi em tính tới.

– Bả lúc rày chuyên môn “ngồi thum”.

– Nhiều người nữa chớ không riêng gì chị Năm đâu anh

Tư Linh ngoặc ngang:

– Hầm cũ còn không Bảy? Có bị chụp bất ngờ cho hai anh chui với nghe.

– Dạ được. Nếu nó chụp em nhường cái đó cho hai anh. Em có cái khác.

Tôi hỏi Tư Linh:

– Bộ khu ủy đi chĩa cá ven sông sao mà “ngồi thum”?

Tư Linh lắc đầu:

– Không phải “ngồi thum” như ở miền Tây đâu. Ngồi thum ở đây có nghĩa là tối ngày không dám rời khỏi miệng hầm, ngồi co ro trong bụi chờ nhảy dò là chui. Mày hiểu chưa? Dân yếu bóng vía thời buổi này chuyên môn ngồi thum.

Tư Linh nói xong đưa tay lên miệng mút từng ngón và ngó tôi.

– Trái sầu riêng này đáng giá ngàn vàng. Thầy Hai ăn một múi chắc nhớ đời hả thầy Hai. Hé hé… Để tui ra vườn tui coi có trái nào rụng không, nếu có, tôi hú thì ra nghe!

Tư Linh bỏ tôi và cô dũng sĩ ở lại một mình. Tôi chưa biết chuyện gì thì Bảy Mô bảo:

– Hồi nãy em ra bến đò đón chị Năm em mà gặp hai anh rồi quên mất.

– Chị Năm nào ?

– Em thứ bảy, chị ấy thứ Năm. Anh Năm em đi giải phóng đánh trận Bình Giả hồi đó tới giờ mà không có tin tức gì hết.

Tôi nghĩ thầm:

– Đi Bình Giả và Đồng Xoài kể như “cúng cơm” rồi. Trên đường Trường Sơn tôi đã gặp một Trung tá sống sót từ trận Pleime mhất trí vì đội quá nhiều B52.

Nhưng nơi gượng:

– Ở ngoài đó khó có thư từ về trong này lắm. Các đơn vị đánh Bình Giả đang dưỡng quân trên bờ sông Be. Ít bữa sẽ có thư về chớ gì lo gì mà lo.

Bảy Mô tiếp:

– Chị Năm ra ấp chiến lược ở lâu rồi. Nhà bên anh Năm em ở Trung Hoà. Còn ba em ra ấp chiến lược Suối Cụt nên em kêu chỉ về ở đây coi nhà để em đi công tác.

– Tôi ở trên R nghe danh đội nữ này tôi phục lắm

Bảy Mô cười nửa miệng. Tôi hỏi:

– Em đã diệt được bao nhiêu tên Mỹ rồi ?

– Dạ em không biết.

– Anh nghe nói là tiêu chuẩn của dũng sĩ là diệt năm tên Mỹ.

– Bắn thì có bắn, nhưng làm sao mà đếm được hả anh?

– Vậy thì làm sao mà báo công?

– Báo công thì ở trên làm chớ tụi em đâu có làm.

Tôi đã từng biết trường hợp một anh du kích ở Sóc Trăng tên là Sơn Ton, người Miên lai trở thành anh hùng quân đội do tài báo công của ông Trưởng ban Thi Đua Trung Đoàn, bây giờ nghe Bảy Mô nói, tôi biết có “vấn đề” nên không hỏi tới nữa. Thấy trên bàn có một tập nhạc in rất đẹp và trên vách treo một cây đàn măng-đô, tôi hỏi:

– Em thích bản gì nhất?

– Bản gì em cũng đờn, nhưng không thích bản nào hết.

– Nhạc Sài gòn có hay không’?

– Em hổng biết. Anh muốn biết thì đờn thử.

Chao ôi, ở giữa vùng đất bom đạn bời bời lại có một cô gái như thế này ư? Chẳng khác nào một làn nước mát giữa sa mạc. Hồi mười sáu tuổi khi tôi đi kháng chiến, ở vùng Giồng Luông, tỉnh Bến Tre có một ông điền chủ làm thơ Đường luật. Ông tiếp đãi cán bộ như thượng khách. Cô con gái của ông lại chơi đờn măng-đô tuyệt hảo. Do đó, ngôi nhà nguy nga của ông lúc nào cũng dập dìu tài tử giai nhân trong đó có cả Trần Văn Trà, Diệp Minh Châu nhưng không ai lọt vào mắt xanh của cô cả. Lúc đó tôi hãy còn thiếu nhi ham đờn nhưng chưa biết thường thức sắc đẹp giai nhân.

Bây giờ tôi đã trưởng thành và tái ngộ cảnh cũ ở đây chăng? Tôi lần dỡ tập nhạc và thấy nhiều bài hát lạ lẫn quen: Hồn Vọng Phu, Giọt Mưa Trên Là, Dứt Đường Tơ…

– Em thích bài nào?

– Bài nào em cũng thích cả. Hồn Vọng Phu thì nét nhạc rất dân tộc, còn Giọt Mưa Trên Lá thì có tính chất tôn giáo.

– Tác giả bài Giọt mưa trên Lá từng đi kháng chiến chống Pháp rồi bỏ về thành. Hồi kháng chiến ông làm nhạc rất hay. Đâu em đờn nghe thử coi.

– Em đờn dỡ lắm. Em nhường anh đờn trước.

– Ngón tay anh cứng ngắc cứng ngơ. Hai mươi năm ôm đạn, vác súng, bóp cò, đâu có biết nắn phím đờn là gì.

Bảy Mô cầm đàn nhưng còn nói dè:

– Mấy tháng nay em đâu có mó tới. Đờn rùm lên không nghe được tiếng pháo đề-pa để mà chui.

Bảy Mô vừa so dây vừa nói:

– Em đờn trật anh đừng cười nghe.

Những ngón tay trắng nhưng trầy trụa của cô gái chạy trên.phím đàn. Tiếng đàn dội trong ngôi nhà cổ kính. Nhưng tôi không để tâm mấy. Tôi nghĩ: tất cả những cái này đều sẽ bị tiêu diệt hết. Còn chủ ngôi nhà này, sau giải phóng sẽ bị mang ra đấu như những địa chủ yêu nước miền Bắc trong cải cách ruộng đất. Nếu qua khỏi hai cái ải tù tội và máu lửa thì sẽ không lọt cái “ải giai cấp”, cái ải khốc liệt nhất của người đi theo cách mạng.

Bỗng có tiếng la to vọng vào. Bảy Mô ngừng tay, hốt hoảng:

– Gì như có tiếng báo động đằng xóm vậy? Coi chừng đổ chụp.

Một tiếng hú tiếp theo. Tôi bảo:

– Chắc anh Tư lượm được sầu riêng.

Bảy Mô buông đàn trên bàn và đứng dậy bảo:

– Mình đi ra vườn ăn sầu riêng tiếp đi anh.

Tôi đi theo Bảy Mô, lòng miên man suy nghĩ . Tôi chợt nhớ Thu Hà ở Bình Long. Bây giờ nàng đang sốt. Nước da vàng ẻo. Cặp mắt ướt núp sau gốc cây bàng lăng vẫn dõi theo tôi. Lời hứa còn vẳng bên tai.

Thấy mặt mũi tôi không sáng sủa, Tư Linh hỏi:

– Đờn bản gì đó?

– Hòn Vọng Phu. Cô Bảy đờn, không phải tôi. (Trước mặt Tư Linh tôi gọi Bảy Mô bằng “cô “).

– Sao không đờn bản Giải phóng Miền Nam cho giựt gân?

Tư Linh hai tay xách cuống hai trái sầu riêng cỡ lớn nhất chín nứt vỏ. Mùi hương bát ngát mơ say.

– Nếu tôi không hái thì sóc ăn hết.

Ở góc vườn gần mội nước có một cái bàn mặt đá cẩm thạch và mấy chiếc ghế đai. Tư Linh để hai trái sầu riêng lên đó rồi quay trở lại vườn. Hắn bảo hắn đi lượm thêm vài trái rụng. Bảy Mô kể tiếp câu chuyện về chị Năm Mai:

– Chỉ nói chỉ về thăm nhà chớ không ở trong này được vì chỉ có cháu bé. Chị bảo Ngụy nó cho dân biết là hiện nay Mỹ đang thi hành kế hoạch xúc hết dân ra ấp chiến lược để vùng ven sông Sàigòn từ ấp Sóc Lào của quận Trảng Bàng đếnn Bến Cỏ trở thành vùng oanh kích tự do của máy bay Mỹ . Do đó ba em mới ra ấp chiến lược. Cái bàn này ở trong nhà khiêng ra đây để rủi nhà cháy thì còn chỗ dọn cơm ăn.

– Gì mà bi quan dữ vậy em?

– Em không bi quan đâu, nhưng chiến tranh thì phải đề phòng. Anh biết không? Có một gia đình chết sạch trong nháy mắt. Ngay trong xóm này và mới cách đây vài hôm thôi. Một anh con trai đánh trận bị thương nằm bên Quân Y xá ở Bưng Còng vừa lành về thăm nhà. Ông già bà già mừng quá mần thịt con gà mái đẻ nhậu. Nữa chừng hết rượu, ông bảo thằng em xách chai đi lại quán đong thêm. Khi trở về ở giữa mâm cơm lúc nãy là một hố pháo. Cả nhà bay mất không còn hốt lại được tô thịt.

– Trái pháo mù !

– Nó có mắt chớ anh. Nó không nổ ngoài đất trống.

Tư Linh trở lại với hai trái sầu riêng vừa lượm được. Cả khách lẫn chủ vừa thưởng thức trái chín vườn nhà vừa nói chuyện lan man. Một chập, Bảy Mô hỏi Tư Linh:

– Anh có gặp chú Tám Quang không?

– Có, cô cần gì?

– Khó nói quá hà .

– Cứ cho anh biết, anh sẽ trình bày với ổng.

Ngập ngừng một chập, Bảy Mô nói:

– Em sợ em không đi dự đại hội chiến sĩ thi đua trên R được .

– Sao vậy? Đó là vinh quang của em mà em không nhận à?

– Em thật tình không dám nhận. .

– Trời đất. Cô nói gì vậy cô Bảy? “Dũng sĩ diệt Mỹ” là danh hiệu chói lọi như mặt trời mà chê… ê?

– Em không dám chê, nhưng làm sao em nhận được.

Tư Linh nói một mạch để thuyết phục theo kiểu đả thông của cấp trên:

– “Trung với Đảng, hiếu với dân, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Nhưng Bảy Mô vẫn ngồi trơ trơ không tỏ vẻ xúc động chút nào. Đợi cho Tư Linh “đả” xong, Bảy Mô nói:

– Em không hiểu tại sao chú Tám Quang lại “chỉ định” em là dũng sĩ diệt Mỹ?

– Vì em chiến đấu giỏi chớ sao.

– Chị Nê, chị Nhỡ, chị Bê hơn em nhiều. Riêng chị Nê đội trưởng thì hơn em rất xa. Chỉ bị thương mấy lần và một lần gỡ lựu đạn gài của mình nổ bị cả chục vết thương, Đen cả chân tay mặt mày. Em mà đi đại hội còn chỉ ở nhà thì cả đội cười em chịu sao nổi.

– Em là đội phó, phải làm gương.

– Em được đề bạt lên chỉ huy mấy chị kia em cũng thấy kỳ kỳ rồi. Nhưng mấy chị phục tùng, không nói gì nên em cũng cố gắng, còn vụ đi đại hội thì chắc là … Anh về thưa dùm chú Tám như vậy. Anh có gặp cô Năm Đang thì nói giùm từ ngày em bị bom dập, em ho ra máu luôn nên ở nhà hốt thuốc Bắc uống. Bây giờ em không xuống hầm bí mật được. Hễ xuống hầm xong khi lên là khạc ra máu liền. Hễ đổ chụp thì em phải chạy.

– Như vậy, bỏ đội nữ cho ai chỉ huy ?

Bảy Mô làm thinh một chốc rồi đứng dậy nói:

– Để em vô nhà làm xôi sầu riêng cho mấy anh ăn.

Tư Linh xua tay:

– Thôi, thôi cô Bảy! Hai anh có công tác khẩn, phải đi ngay bây giờ nè.

Bảy Mô đi vô nhà . Tư Linh nháy nháy tôi. Tôi hiểu y làm bộ từ chối vậy thôi chứ chẳng có công tác gì gấp. Bảy Mô cũng thừa hiểu sự từ chối đó có nghĩa gì . Đợi bóng hồng khuất dạng, Tư Linh hỏi tôi:

– Cậu xem có được không?

Tôi ngần ngại một hồi rồi kể qua về vụ Thu Hà ngoài Phước Long. Nghe xong Tư Linh bảo:

– Chim đậu không bắn để bắn chim bay.

– Tao đã hứa với người ta rồi. Có trao kỷ vật nữa!

– Mày thiệt!

– Tình cảm đến có ai ngăn được?

– Thì bây giờ cũng “tình cổm” thôi. Mày đã dạo nhạc chưa ?

– Tao bỏ đờn lâu quá rồi, ngón cứng nên không muốn đờn.

– Không! Tao nói là “dạo nhạ”c kia kia.

– À!…Không ? Tao chỉ hỏi chuyện đời sống trong khu với nàng thôi.

– Đời sống cái con khỉ. Chỗ này tốt đấy. Mày không thể chùng chình lâu được. Mai mốt nó trở cờ kêu bằng “chú” ‘ thì mày hết tấn công “các cháu” được đấy. Hơn nữa tình hình biến động thì mày chỉ còn có nước “hốt ổ” thôi. Thân phận tao như vầy nên gặp các em tao đành phải đàng hoàng, chứ nếu tao mà được tự do như mày thì tao “lấy họng” hết ráo… ‘Chỗ này xứng lăm! Tao coi giò coi cẳng rồi. Cả hai đều tiểu tư sản hơn nữa gia đình nó cần một nơi để nương tựa. Nó nghe bọn mình kể chuyện đấm đá ngoài kia, nó sợ cho bố nó . Mày vô cái là ngon ơ. Tao để ý thấy nó gọi mày bằng “anh” và xưng “en” ngọt.

– Cô ta biết gì về tao mà ngọt?

– Thì tao đã giới thiệu mày vậy là rõ rồi. “Chưa có chị Hai.. Thầy tất cả. Mày sẽ thay Hai Giả và Sáu Phấn”. Nhưng tao cũng nói thêm, mày phải tỏ ra văn minh, chớ có giơ cái lập trường bần cố nông của cải cách ruộng đất ra là hỏng bét. Nó biết đờn măng-đô, thấy chưa? Ngoài ra cũng rất “gác máy bay!”

– Để tao tính.

– Tính gì nữa mà tính? Vừa rồi, có thằng Quân ở tiểu ban Văn Nghệ Khu cũng tò vè dữ lắm nhưng nó không thích nên thằng kia xuống đây lần nào cũng bị mấy cô du kích chế diễu : “Muốn người ta, người ta không muốn. Xách cặp dừa đi xuống đi lên!” nên rút êm lâu rồi.

Bảy Mô từ trong nhà đi ra tay ẵm đứa bé, cùng với một người đàn bà. Bảy Mô vừa đi vừa reo:

– Chị Năm em về nè.anh Tư, anh Hai!

Tôi nhìn hai chị em sánh đôi nhau đi dưới nắng trưa nhung lụa phất phới, giữa hai hàng cam bưởi mà tường mình lạc lối đào nguyên. Cả hai đều đẹp, nét đẹp trong sáng khoẻ mạnh rất Nam Kỳ.

Bảy Mô để đứa bé đứng xuống đất và bảo:

– Chào hai cậu đi Liên. Đây là cậu Tư còn đây là cậu Hai !

Năm Mai cũng vui vẻ và duyên dáng chào chúng tôi rồi bảo bé Liên:

– Con hỏi hai cậu xem có gặp ba con ở đâu không chỉ dùm con. – Chị quay lại bảo em – Mô vô quậy cà phê sữa cho hai anh dùng! Tèng ơi! hai anh ơi, tụi Mỹ nó đang rãi thuốc độc đuổi dân trong này ra ấp chiến lược làm hàng rào chung quanh Đồng Dù bao che cho nó.

– Sao người ta đồn nó xúc dân ?

– Còn một số cứ rị gốc cây ở lại hoặc bị xúc ra ngoài rồi lộn trở về nên nó ném mấy thùng gì bốc khói vàng vàng. Ai thở trúng thì chảy nước mắt và nhảy mũi liền liền, không làm ăn gì được nên cuối cùng phải cuốn gói bỏ đi. Gia đình nào ra đó cũng nhận được thịt hộp, vải vóc xà bông và gạo. Tèng ơi! ăn xài ngoả nguê không hết lại đem đi bán. Họ bảo: cứ ở ngoài này chừng nào giải phóng hãy về.

Có tiếng Bảy Mô gọi từ trong nhà . Chị Mai dắt con chạy vô. Tư Linh cười bảo tôi:

– Mày thấy tinh thần đồng bào cao ghê chưa?

– Ừ cao thật! Ăn đồ Mỹ nhưng vẫn chống Mỹ thả cửa!

– Và ở với Mỹ chừng nào giải phóng thì về ! hề hề ! Nhân dân ta rất anh hùng! (1) Còn nhân dân Miền Nam thì anh “rũng” tuyệt “rời”, “oánh” Mỹ tới gáá.. áo!… Nhưng mà hỏi nhiệt mày nghe ! Mày có dính ăn đính thua gì với cô đại học con gái ông Tướng râu kém chưa?

– Chưa có gì!

– Vậy thì tội gì mà ôm càng tôm hoài?

– Để suy tới nghĩ lui chớ may.

– Tao coi “độ” này mày ăn trùm rồi đó. Cô dũng sĩ coi mòi cảm ông thầy pháo ? Còn cô gái ấp chiến lược mới ra đó, mây coi có kém gái Hà Nội sợi lông… mày nào không? Được chứ hả? Nè, tao bảo nhỏ điều này, nếu nó yêu cầu mày đờn thì nên làm mấy bản Sun set in Vienna, One day, Bến Yêu Đương, Con Thuyền Không Bến, đừng có đập bài Xuống Đường, Chống Mỹ cứu nước nó không có rung rinh trái tim đâu nhé. Đồng ý chớ? H hì. Thôi thà gật đi cho tao lo nhanh nhanh. Mày mũi tao lái, hò dô ta này đôi ta cùng chèo. Chiếc ghe này…

– Mày định gì hả thằng quỉ?

– Đây là phương án dự bị. Phải điều nghiên chờ thời cơ thuận tiện sẽ xuất quân ! Thời buổi này phải sống theo thuyết hiện sinh. Tụi Sài gòn cũng vậy mà mình cũng vậy. Mày suy nghĩ cái giống gì đi nữa thì cũng không có sâu bằng cái hố bom đìa và sắc bằng mảnh đạn cà-nông hết cả. Ở Sài gòn hiện giờ đang hát bài Que Sera Sera và đọc quyển Buồn Nôn của Paul Sartre như điên.

– Nó có nội dung gì?

– Đại khái cuộc đời chỉ là sự rủi may. Và càng sống càng không hiểu con người sống để làm gì. Tại sao lại có sự hiện diện của con người! Rủi may! Đúng lắm, nhất là ở đất Củ Chi này ! Tao càng suy nghĩ càng không hiểu tại sao mình lại phải như thế này và tại sao thằng Mỹ lại vô đây để làm gì?

Tôi quát:

– Thôi mày đừng có “xét lại”!

– Hề hề …ề!

(1) Tên một quyển Hồi ký của Hoàng Quốc Việt tâng bốc đảng Cộng Sản tới tận mây xanh.

—->Chương 6 – 7 – 8 – 9 -10

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: