2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QI – (11-13)

2000ngaydem_bia1sĐây CỦ CHI! Đất Sét Chưa Thành Bùn

Chương 11

Thế là hoàn thành nhiệm vụ. Đoàn pháo binh hùng dũng trở về trường. Tôi bảo thằng Lực đắt Tiểu đội về trước. Còn tôi, Bùi Khanh, Tôn Sứt và hai tội nhân Huỳnh Châm, Võ Sâm ghé trại sản xuất của Sáu Ngọc. Bé Ngà đang chơi trước sân chợt thấy chúng tôi, ù té chạy vô nhà la bài hãi:

– Má ơi ! Má . . . chú kia tới bắn mình !

Tôi biết là bé nhớ vụ Huỳnh Châm đi săn rồi bắn chết thằng Thiếu úy Liêm khiêng về tại đây trước mặt ông chánh ủy Tư Khanh. Cả nhà bàn tán rầm rầm, cho nên bé Ngà nghe hết. Chị Sáu ló mặt ra nhìn chúng tôi rồi nói:

– Mấy chú mấy bác ở trên trường chớ có chú nào bắn mình. Đừng nói bậy bạ ba nghe đánh đòn.

Bé Ngà vẫn cãi:

– Có ! Có chú bắn người !

Huỳnh Châm đi sau cùng. Có lẽ nó sợ thấy lại nơi này. Bây giờ nghe con bé la nó càng lựng khựng. Thiệt là khó giải thích cho con nít. Bữa cơm chiều hôm ấy do chị Sáu Ngọc nấu rất ngon. Mắm kho cá lóc ăn với bông bí và rau muống luộc, không ai uống một giọt rượu nào. Không khí buồn tênh. Ăn cơm xong tôi hỏi qua công việc sản xuất và tình “bang giao” lậu Việt Miên. Sáu Ngọc báo cáo rằng “tụi nó” lúc nào cũng thân thiện nhưng bắt tay phải có “Rịa” kèm theo. (Đó là chuyện muôn thuở đối với bất cứ sự bang giao nào) Tôi nhờ Sáu Ngọc mua một ít pin để dùng trong việc huấn luyện. Sáu Ngọc hứa sẽ có ngay: “Thủ trưởng mua súng nó đang mang trên vai nó cũng bán mà.” Sáu Ngọc cười hắc.hắc:

– Tụi này kỳ cục lắm thủ trưởng a. Lính mà mặc xà rông áo thung trong lúc ngồi gác trên chuồng cu. Tôi lên đó chơi hoài. Tụi nó lên chuồng cu để đánh bài. Nó thua là lột đồng hồ tay ra đặt. Thua đồng hồ tay đặt luôn tiền lương. Thua hết tiền lương đặt tới vợ con.

– Hả? Cậu nói thiệt chớ?

– Dạ tôi không có đặt chuyện mà thủ trưởng. Mà có điều lạ là chúng nó đặt gì chung nấy. Nó thua vợ con, nó đưa vợ con cho thằng kia ngay.

– Tụi gì kỳ vậy?

-Tôi đã thấy tụi nó đi xe máy dầu, rủi bể bánh, nó xách súng bắn bỏ cả chiếc xe. Xe hơi nó cũng làm y như vậy. Tụi nó chơi bời bạt mạng cô hồn lắm thủ trưởng ơi. Bởi vậy lắm khi nhìn tụi nó tôi nghĩ thầm: Tụi này mà cho lính mình càn chỉ một ngày là giải phóng Nam Vang luôn. Chúng nó vô quân đội để buôn lậu không phải để đánh giặc.

– Kệ nó, mình hiện bây giờ sống nhờ cái sự bạt mạng và sự buôn lậu của nó. Nếu không có nó làm sao mình xoay sở giải quyết được các thứ khó khăn. Sắp tới Xóm Mới sẽ bị quét khỏi vùng này. Các đường dây mua đồ lậu Trái Bí, Mỏ Công đều sẽ bị cắt đứt hết.

Sáu Ngọc chưng hửng.

– Thiệt sao thủ trưởng?

– Chúng nó đang chờ mình “lòi lưng” toàn bộ là chúng nó làm một cú dữ dội. Anh nên cho chị và cháu về quê đi !

Không hiểu sao tôi lại nói ra làm chi một ý nghĩ mất lập trường như vậy. Có lẽ tôi thấy bé Ngà không được đi học, sốt rét mặt mũi vàng như nghệ chăng? Bé Hà con của anh chị Ba Chí, bé Rớt con của cô Lụa và bao nhiêu đứa bé khác khắp Miền Nam đã phải chịu cảnh mồ côi, đói rét, bịnh tật, thất học vì cuộc “chiến tranh giải phóng” này.

Ngày mai tôi, Bùi Khanh và Tôn Sứt về trường, Châm và Sâm ở lại đây. Tôi biết chúng nó bơ vơ lắm. Tôi sẽ bảo anh Sáu cất cho chúng một cái chòi ngoài rẫy rau muống và anh sẽ cung cấp hạt giống cho chúng nó.

Tôi rất ngậm ngùi nghĩ tới hai sĩ quan quân đội nhân dân vượt Trường Sơn về đây để lãnh án đày. Có khác gì hàng vạn lính Nam kỳ ở Xuân Mai, Lam Sơn? Trên núi đất bỏ hoang con cháu “Thành Đồng Tổ Quốc” lên đó khai phá mà sống. Trên rừng chưa có dấu chân người, hằng vạn tù nhân ở Côn Đảo mới về được đưa lên đó để tự túc các thứ. Nông trường Xuân Mai, nông trưòng Lam Sơn là những chứng minh hùng hồn nhất về sự “ưu đãi” của Trung ương đối với dân Nam Kỳ . Ở đó họ cùng đường quẩn trí nên đã trốn về Nam, bị bắt bị tù hoặc ở lại cày cuốc làm bạn với thú rừng và cưới vợ Mường vợ Mán. Ở Lào Kay, Yên Báy tù nhân Côn Đảo do Pháp trao trả đã phải đổ máu thêm để làm con đường mang tên Võ Nguyên Giáp, không phải vì họ kính trọng Võ Nguyên Giáp mà vj họ chận đường ông này để nêu kiến nghị. Với Cộng Sản không có lời hứa nào được giữ đúng. Trong lúc gian nan khổ cực thì họ là bạn đồng hành, nhưng khi thành công họ là những tên phản bội, phản bội dân và phản bội lẫn nhau. Họ chỉ trung thành với quyền lợi cá nhân họ mà thôi.

Sau gần mười năm bị lưu đày dân Nam Kỳ lại được đảng xách đầu tống về Nam qua con đường xương trắng và về đây lại trở lại kiếp người rừng. Viết làm sao cho hết những nỗi khổ và niềm đau của dân Nam Kỳ bị lừa bị đày bị giết bởi tay một tên đao phủ khoác áo dân tộc: Hồ Chí Minh. Nó giết dân Nam Kỳ bằng cái “Thành Đồng Tổ Quốc”, bằng tập kết hai năm. bằng nông trường, bằng thuốc độc bỏ trong nước ngọt, nó giết dân Nam Kỳ bằng Trường Sơn, bằng Mặt Trận Giải Phóng, nó nướng dân Nam Kỳ bằng Mậu Thân, và giờ đây nó giết dân Nam Kỳ bằng Đổi Mới Tư Duy bằng răng cá mập. Ôi, tên đao phủ lớn nhất lịch sử Việt Nam! Hắn vẫn còn nằm đấy để nghe chửi bới bằng ca dao từ miệng của chính những kẻ đã từng tôn thờ hắn bốn năm chục năm nay. Cách mạng tháng tám là mẹ đẻ ra một chế độ mọi rợ và vô luân.

Tôi biết thằng Sâm buồn và hận lắm. Không phải hận vì đã quơ một cô nữ thanh niên xung phong đem vào nơi rậm rạp hôn hít. Có gì là tội? Nó chưa vợ cũng chẳng hứa hôn với ai. Nó bỏ ít ra là vài ba cô nhân tình xinh như mộng ở Hà Nội để đi về đây. Cho dù nó đi xa hơn sự hôn hít với cô nữ thanh kia thì đã sao? Nó đâu có cưỡng bức cô nàng. Tối hôm đó, tôi phải lôi nó ra ven rừng để công tác chính trị trước khi chúng tôi về trường. Nó nói ngay:

– Nếu thi hành kỷ luật tôi thì cũng phải thi hành kỷ luật những tên khác!

Tôi biết hắn ám chỉ những tên khác là những tên nào. Nó hơi ỷ thế của anh rể nó là Dương Cự Tẩm đang làm chánh ủy I/3 tức là chiến khu 8, nên phang ngang bửa củi. Hắn nói như gắt.

– Lão râu quặp có vợ rồi phải không anh’?

– Có con gái lớn gả cho mình được rồi ?

– Nhưng nó lại lấy cán bộ cải cách điền địa của Ngô Đình Diệm. Cách mạng à ? Có ai thi hành kỷ luật ổng không?

Hắn hạ tiếng “lão” xuống “ổng” để bớt vẻ phạm thượng.

– Sanh con há dễ sanh lòng mày ạ !

– Thôi được, nhưng còn ổng thì sao. Vụ Ái Mỗ… lấy con gái Việt Kiều!

– Ối thôi, cái chuyện đó đã xử êm rồi.

– Xử chìm xuồng như vậy coi được à ? Nếu lính lãi mà làm như ổng thì khai trừ, lột áo lính hay gì nữa . Ổng trên năm mươi lấy con gái Việt Kiều mười tám. Cô ta có chửa, ổng quất ngựa chuối chuồn vào Nam. Tổ chức không nói gì lại còn phong lên một cấp và vác tiền đến năn nỉ bà mẹ cô ta, xin dược chu cấp cho thằng bé và yêu cầu bà đừng làm to chuyện.. Kỷ luật sắt là như vậy ư? Tôi nói thiệt tôi không phục ổng và ông Ba Nhã chút nào. Làm lớn mà nêu gương xấu.

– Tao lạy mầy Sâm ơi ! Mày muốn yên thân thì phải câm cái miệng và làm khổ sai ba tháng, tao sẽ tìm cách phục hồi đảng tịch cho mày, chứ mày cứ ong óng cái họng của mày nó sẽ cum mày luôn.

Sâm dường như không nghe tôi nói cứ càn tới:

– Còn Lê Đức Anh tôi cũng rành quá sá. Thằng chả…

– Tao rành ổng hơn mày nhiều Sâm ạ !

– Phải thằng chả có vợ ở trong Nam không?

– Đoàn trưởng Bành-xê-cu-đê của tỉnh Thủ Dầu Một (PNCQ). Bà ta tên Nguyễn thị Ót Ét gì đó.

– Sao ra Hà Nội cưới con gái Trưng Vương?

– Mày hỏi ổng chớ sao hỏi tao mậy?

– Cũng chẳng thấy ai nói gì.

– Có chớ! Con gái ổng, con bé Thanh Tuyền hiện giờ đang ở trên R làm thơ ký. Nó không nhìn cha nó. Nó bảo: “ông là người không có tư cách, không đáng làm cha tôi, không xứng danh người cộng sản như tôi được nghe tuyên truyền là rất cao cả, đạo đức.”

– Rồi thằng chả nói sao?

– Mất tư cách thì nó nói mất tư cách chớ còn nói sao nữa. Đó là lời phê bình đích đáng nhất.

– Ổng sắp lên tướng rồi đó.

– Lên tới gì nữa kìa, Tướng ăn thua chi ? Sự đời nó là như vậy, cóc nhái có kêu thì cũng chỉ cóc nhái nghe.

Sâm làm thinh. Tôi vỗ vai nó:

– Thôi, vậy nhé . Cố gắng khớp cái mõm của mày lại ba tháng. Rồi mọi việc sẽ êm xuôi.

Nằm tại nhà Sáu Ngọc hai ngày, chúng tôi được anh mua giúp cho đủ mọi thứ đúng yêu cầu. Có những món quốc cấm cũng lọt tuốt.

Tiếp phẩm của R cũng qua ngỏ Vạch Ruộng này một cách thênh thang. Máy cưa, máy nổ, tủ lạnh, nhiều loại y cụ cao cấp, nhiều loại thuốc men quí, đều qua đây để vào Xóm Mới rồi tỏa ra khắp vùng R đóng. Lính Miên móc nối với cấp chi huy của họ ở Cao Miên, mua chở rần rần vào đây như được phép của thằng vua bò hóc vậy. Có “Rịa” là vua thôi. Chúng tôi một đám quần thần ăn mót của triều đình khỉ đột có cái tên quái gỡ là R. Cái đuôi khỉ sao mà dài thế. Từ Hà Nội trườn vào tới đây. Dân Nam Kỳ sẽ gặm nó đời đời kiếp kiếp.

Đêm đó Tôn Sứt cho tôi biết rằng cuộc hội ngộ giữa bà khu ủy viên và Bùi Khanh:

– “Quân ta toàn thắng. Quân địch cuốn “ró” chạy dài “.

– Kể tỉ mỉ tao nghe để đề ra phương châm chiến lược.

Tôn Sứt cười cạch cạch như miểng vùa bể:

– Thì hai bên mới gặp nhau có mòi mắc cỡ , nhưng tôi giới thiệu gà nhà ngay: Trường chúng tôi muốn liên hệ công tác với địa phương để bàn về việc phòng gian bảo mật. Đây là đồng chí Thiếu tá Bùi Khanh. Rồi quay lại bà ta: Còn đây là nữ đồng chí khu ủy viên có toàn quyền quyết định mọi việc. Hai bên lấm lét chào nhau. Cả hai đâu có biết là đã nằm trong vòng sát thương của pháo nhà mình.

– Thằng Hùng Cối dẫn bả tới hả?

– Bả dùn dằn không chịu đi. Nó bèn dọa bả: Nghe đồn có tin chụp lớn vùng này, chị phải vô cơ quan quân sự để bàn việc tránh né . Thế là bả xách giỏ trầu đi theo nó. Nó dẫn bả tới giao cho tôi. Tôi đem bả đến lều Bùi Khanh mắc võng cho bả ngồi nói chuyện quân sự còn tôi thì cà rà một chút rồi kiếm cớ rút lui.

– Mày thấy bả như thế nào?

– Thì như thế đó chứ còn thế nào nữa?

– Không ! Tao nói con người của bả so với ông anh mình như thế nào kìa !

Tôn Sứt cười to lên và đưa tay bụm miệng như sợ mép rách rộng thêm ra, rồi nói:

– Con người của bả mới nhìn thì thấy hai cái “u điểm”.

– Ưu điểm gì?

– Khó nói lắm. Để cho ông anh mình nghiên cứu trong lúc hai bên cộng tác với nhau. Sau hai cái “u’ là một cái khuyết ! Cái khuyế…ết này khó nhìn thấy lắm. Phải vận dụng nhãn quan cách mạng thật sâu…

– Gì mà ghê gớm vậy? Là người cách mạng, hễ thấy đồng chí mình có khuyết điểm mình phải vạch ra nêu lên cho rõ để đồng chí mình sửa chữa chứ! Sao nhút nhát vậy?

Tôn Sút cười ré lên một hồi rồi đập vai tôi:

– Để cho ông anh mình ổng vạch! Tôi không “rám”!

Tôi vỡ lẽ ra thằng Sứt cà rởn. Tôi gắt:

– Tóm lại mày thấy thế nào cặp gà này?

– Bên ta thì ăn trùm rồi.

– Vậy mình cho nạp đạn liều bảy, ngòi tức thì nhé ?

Tôn Sứt gật và báo cáo thêm:

– Bả phàn nàn mình dữ lắm.

– Mình làm gì mà bả phàn nàn?

– Đó là nói chung các cơ quan và lính tráng. Bả nói mình nghênh ngang vô kỷ luật quá trời. Có người rượt bắn cả du kích của bả. Tệ hơn nữa là nhiều người chiêu hồi chỉ điểm cho biệt kích đánh cơ sớ của bả. Có cả một gia đình tập kết ở trong R dắt nhau ra Ty Chiêu Hồi Tây Ninh.

– Gia đình tập kết là cái thá gì?

– Chậc! Là cán bộ tập kết về tới R, móc vợ con vô ở chung như ông Bảy Hết Ba Giao ở trường mình vậy. Sau một thời gian rù rì, ông chồng cõng con theo vợ về thành luôn.

– Sao du kích bả không chặn lại?

– Nó đâu có đi ngõ chính đâu, nó cắt rừng ra Mỏ Công.

– Đ. m. Còn cái nạn đó nữa ! Lâu nay tao cứ bù đầu với ba cái giáo án đâu có biết gì.

– Coi chừng hai thằng ông nội con nít bị bắt khổ sai bất mãn vù luôn đó.

– Chúng nó đều là đảng viên cả mà.

– Xì! Anh hùng quân đội Nguyễn Văn Song thuộc F338 không đảng à? Hắn trốn mất tiêu, cả F tìm không gặp. Bất mãn rồi việc gì không dám làm, giống gì không dám bỏ.

Hôm sau trên đường về tôi nháy Tôn Sứt đi trước, tôi rà rê với Bùi Khanh. Tôi hỏi:

– Công tác tốt chớ anh?

– Bắn như vậy là bắn ếch nhái chớ tốt gì ?

– Không, cái đó để về bàn lại, tôi muốn hỏi anh liên hệ với bà khu ủy viên kìa.

– Bả có biết con mẹ gì mà liên hệ . Ba thằng du kích gác cái tam giác chết của bả không xong còn làm cái gì.

– Anh thấy bả thế nào?

– Bả là một người rất đáng kính phục, nhưng cũng đáng tội nghiệp.

– Tại sao kỳ vậy?

– Vì bả không biết cái gì cả .

– Biết cái gì là cái gì?

– Cái gì bả cũng không biết. Tao cũng không biết tại sao người ta đưa một người đàn bà như vậy lãnh đạo mấy tỉnh !

– Mình thắng Mỹ họa may là nhờ liều mạng chớ đâu phải nhờ hiểu biết, cho nên loại người như bả là đáng được đưa lên lãnh đạo chớ sao anh!

Bùi Khanh móc trong túi ra một miếng giấy:

– Mày coi đây này !

– Bức thư tình gởi cho ai hả ?

– Gởi cho ông Nguyễn Vô Thọ.

Tôi nhìn qua thấy mấy dòng chữ như sau:

Kín gỏi ông chủ tịt Mạc trận dải phóng.

………..

Than áy chà huyết thắng giặt mỷ xâm lượt..

Vì chữ nghĩa như thế nên tôi chỉ đọc câu đầu và câu cuối rồi xếp lại đưa cho Bùi Khanh. Bùi Khanh lắc đầu:

– Bà này mà ra Trung ương chắc sẽ được xếp trên bà Tạ Thị Kiều và được đề bạt Hiệu trưởng trường Nguyễn Ái Quốc , hơn thằng Nguyễn văn Sơ cần vụ của ông Thanh Sơn ba vợ hụt của mày.

– Ờ, thằng ma-cà-rồng đó nhờ khai man lý lịch bần cố hỉ mà được cho làm hiệu trưởng trường CCRD Trung Cao của quân đội rồi nó quay trở lại nẹt ổng là địa chủ bóc lột.

Tôi không biết tình cảm của Bùi Khanh như thế nào nên gọi Tôn Sứt lại và nháy nháy. Tôn hỏi:

– Nhưng mà anh coi bả được không anh?

– Được cái gì chớ?

Tôn phải nói toạc quách ra:

– Tụi tôi nội ứng với Hùng Cối cáp độ ông với bả đó.

Bùi Khanh làm thinh. Tôi chờ đợi. Nhưng anh không nói gì. Tôn nghĩ là anh đã chịu đèn nên tiếp một cách dí dỏm:

– Ai ơi hãy nhớ lấy câu
Cá ăn thì giật để lâu hết mồi!

Bùi Khanh trừng mắt:

– Giật? Mày coi chừng cái mép của mày rách tới mang tai đó !

Bỗng từ trước có một nhóm người lúm xúm đang đi tới. Họ khiêng võng. Họ dừng lại dọc đường.

Tôi nói:

– Lại sốt ác tính khiêng đi K71-B rồi!

– Mỹ chưa đánh đã chết.

Chúng tôi đi tới. Không phải sốt ác tính. Một anh mặc đồ bà ba lụa đen của miền Bắc, hỏi tôi:

– Đồng chí có biết K71-B ở đâu không?

– Cứ đi thẳng quá cầu Cần Đăng thấy có đường mòn che lấp bằng một thân cây ngã ngang, rẽ vào, đi thẳng chừng ba cây số cứ việc đi hoài, đụng suối, băng qua, lên dốc là tới.

Tôn nhanh miệng làm tài khôn đáp hớt một dây nghe mà điếc con ráy. Người kia la lên và lắc đầu nguầy nguậy:

– Không phải. Đó là L72.

– Không phải thì tự đi tìm lấy. Biết sao còn hỏi?

Tôi nhìn được đít võng. Thấy còn máu tươi, bèn hỏi:

– Bị thương à ?

– Dạ vâng.

– Đánh ở đâu?

– Dạ không đánh ở đâu cả, làm trật tay nổ lựu đạn đấy !

– Bị thương có nặng không?

– Dạ một chết một bị vỡ bao tử có chạm gan.

Đúng vậy. Lựu đạn nổ. Một người chết, một người bị vỡ bao tử chạm gan. Một người con trai, một người con gái. Người con gái là dân ở đồng bằng tên Lai. Người con trai tên là Ái. Hai cô cậu yêu nhau. Trong cơ quan có cả trăm thanh niên nhưng chỉ năm cô gái. Cả năm cô đều có người yêu hoặc đã hứa hôn. Cô Lai yêu cậu Ái. Vì họ đẹp đôi quá chừng mà lại không phải là đoàn viên thanh niên Lao Động. Không biết đám Thanh Niên Lao Động có ganh hay không mà lần nào họp đoàn cũng mang cặp Ái Lai ra phê bình như một gương xấu cá nhân chủ nghĩa, hưởng lạc. Đó là một sự nhục mạ mang màu sắc chính trị còn khó chịu hơn cả lời nhiếc mắng của dì ghẻ.

Cho nên cô cậu chia hai quả lựu đạn để chấm dứt sự nhục mạ đó đồng thời lên thiên đàng hưởng lạc vĩnh viễn mà đếch có mồm loa mép dãi nào chỏ vào.

Sự thực chăm phần chăm em ơi ! Xóm Vịnh, cách trường HL Tân binh 365-A của ông Tư Lê Xuân Chuyên và trường pháo binh ở tại suối Nàng Rà không bao xa. Tôi không bịa nổi một câu chuyện ly kỳ rùng rợn như vậy được !

Chương 12

Dịp may hiếm có ! Mại dô! Triều đình phong kiến tái sinh trong cục R ! Xem chơi không tốn tiền! Nhờ cái dịp may này mà tôi được đi vào tận sào huyệt của cái gọi là hang Pắc Pó của Bộ chỉ huy Giải phóng Miền Nôm, một tổ chức gồm toàn Tướng Bê Ka chỉ huy, còn dân Nam Kỳ thì chỉ hỗ trợ giúp vui . Thực quyền nằm trong tay đám tướng Bắc Kỳ . Tiếng rằng Trần Văn Chè là tư lệnh quân giải phóng nhưng hắn bị hai tên Bê Ka Trần Độ và Lê Trọng Tấn cặp sát sườn không nhúc nhích được. Nên nhớ rằng bọn Hồ Cáo không bao giờ tin dân Nam Kỳ. Khi cần bộ ngực chịu chơi của dân Nam Kỳ thì họ Hồ trương ra nào là “Thành Đồng Thành Đá”, nào là “Anh dũng đi trước về sau”, nào là “Nam Bộ ở trong tim tôi” v.v…nhưng trên thực tế thì Hồ ta sợ dân Nam Kỳ trở cờ. Mà dân Nam Kỳ trở cờ thì hỏng to: Mất miếng thịt nạc chúng nó thèm thuồng mấy chục năm chưa ngoạm được. Thứ nữa, dân Nam Kỳ mà trở cờ thì dân Bắc và Trung Kỳ cũng quay mũi dáo đâm hông Bác. Cho nên dân Nam Kỳ trước sao sau vậy vẫn bị dân Bắc Kỳ cai trị mút mùa. Bây giờ sáng con mắt rồi. Nhưng đã muộn: Nền thống trị Bắc Kỳ đã thiết lập ở toàn cõi Nam Kỳ !

o O o

Sau khi hướng dẫn đoàn DKZ bắn thử ở Bổ Túc, tôi bất ngờ bị ông Trưởng Phòng Chính Trị U80 (tức là Bộ Tư Lệnh Pháo Binh R) xuống tận trường xách cổ lên R dự lễ mừng công pháo kích sân bay Biên Hòa.

Số là 30-10-1964 Tiểu đoàn trưởng Huỳnh Thanh Đồng đem pháo 40 ly Nhựt, Sơn pháo 75 và DKZ làm được một cú . Nhưng sau khi pháo xong, thì cả Tiểu đoàn đi đâu mất biệt không về được U80. Trong lúc đó thì Mặt trận Giải Phóng đã được thành lập được bốn năm mà không có mần ăn ra trò trống gì ngoài mấy cái khẩu hiệu rổng 3/4 và 4/5 trên đài Giải phóng, nên người ta dùng vụ pháo kích này để rêu rao. Nhất là lấy le với đám trí thức u mê ở Sàigòn mới được khiêng bằng võng cói ra khu giải phóng. Chốc nữa tôi sẽ điểm mặt từng tên cho độc giả xem chơi. Bầu cua cá cọp có đủ, âm binh ma quỷ không thiếu mặt nào.

Nhưng cái đơn vị lập “chiến công” kia đã không có một mống về được cho nên ở trên phải thộp cổ những tên ở nhà ấn vào những vị trí vinh quang đó. Cộng sản làm như thế là chuyện thường. Chúng có thể dựng một tên tù có án hiếp dâm con nít lên thành chủ tịch Mặt Trận thì ba cái tên anh hùng cóc nhái này nặn ra có khó gì.

Ngoài ra cũng còn một tiêu chuẩn khác là mặt mũi bọn này phải coi cho được, không có vẻ lâu la rừng rú hoặc bần cố hỉ lộ liễu (đế chinh phục tụi Sàigòn mà!). Ngó đi ngó lại thì chỉ có Lôi này thôi. Lôi được giao nhiệm vụ hết sức thiêng liêng là Đại diện cho Đoàn Pháo binh giải phóng 69 nhận huân chương quân công hạng ba của Hà Nội! (có tréo cẳng ngỗng chưa?)và phát biểu ý kiến luôn trước quan khách.

Trung tá Ba Hải, trưởng phòng chính trị U8O chịu trách nhiệm dắt đoàn “Anh hùng pháo binh” chúng tôi là một tên Huế Nghệ, tiếng nói nặng chình chích. Hắn bảo tôi:

– Công việc cấp bách lắm! Cậu vừa đi vừa viết cái diễn văn nghe.

Tôi phân bua.

– Tôi có biết gì về trận đánh đâu mà diễn văn, đồng chí !

– Đại khái là “vì nhân dân quên mình, quyết tâm giải phóng Miền Nam, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng?” Cứ thế mà làm không sợ trật.

Tôi cười cắt ngang.

– Đánh bại chớ sao lại đánh thắng?

Ba Hải bực mình gắt.

– Ừ, thì đánh thắng đánh bại gì cũng được. Cậu có văn hóa khá, cậu cứ mần đi.

Thế là đi. Dọc đường, Ba Hải còn ghé lại đoàn 69 để bắt thêm hai ông trợ lý Tham Mưu và Chính Trị nữa ghép vào cho thành đoàn “Anh hùng pháo kích” đi nhận huân chương. Đó là Tám Tiến và Thu Mai. Tám Tiến là dân Bạc Liêu có vợ ở Rạch Bà Đặng gần chợ Thái Bình (nằm trên ven sông Trèm Trèm). Còn Thu Mai là dân Eo nhưng không hiểu tại sao lại lọt vô trong này. Anh chàng lại không thích ai nhắc gốc Eo của y.

Đi một quảng đường tôi đã làm quen và chọc ông bạn Eo.

– Sao anh lấy tên kỳ vậy?

– Chịp! Ở trong đơn vị có một ông tên “Thu”‘ nữa. Ông ấy là dân Mùa Đông nên để phân biệt, anh em gọi ổng là Thu Đông còn tôi là Thu Mai. Rồi anh em nói lái là Thai Mu. . .

Tôi cười nói

– Nấu một nồi chè đi rồi tôi đề nghị ông Ba Hải đổi tên luôn trong chuyến đi này.

Tám Tiến thiệt tình:

– Ổng đổi rồi đó chớ!

– Đổi ra gì?

Tám Tiến nói một cách nghiêm chỉnh.- Mai Thu !

Cả ba cùng cười.

– Mai Thu là Mu Thai thì cũng như Thay Mu có khác gì !

Thu Mai cũng cười theo nhưng còn phụ họa:

– Tôi không théc méc gì, nhưng thực ra có mu đâu mà thay!

(Nhờ nói xàm vậy mà đi không mỏi chân. Bạn đọc sẽ bắt gặp những chuyện tiếu lâm còn nặng ký hơn nữa kìa. Đó là sinh hoạt trong R. Vì thiếu “thực tế” nên phải nói cho hả hơi.)

– Tại vì mình là những tên ăn trộm nên mới phải thay tên đổi họ, chứ nếu đàng hoàng thì mắc gì phải thay?

Ba Hải nói một câu rất thất chánh trị. Có lẽ ông nhận thấy điều đó nên nói lướt.

– Thôi, mình cởi tuột quần dài rồi lội suối đến trạm 66 sẽ tròng vào cho đúng lễ nghi!

Tôi hỏi:

– Trạm 66 nào?

Ba Hải giọng tức bực.

– Muốn vào R của các chả, phải qua cái trạm ôn dịch này. Nó xét còn ngặt hơn trạm 66 đường Lý Nam Đế và Phan Đình Phùng ở Hà Nội. Do đó tụi này gọi là trạm 66 chứ thực ra nó chẳng có tên.

– Vậy nữa!

– Chớ sao! Sắp tới Tà Bon, các đồng chí sẽ thấy tụi vệ binh mặt rằn ra chận đường và vạch kẽ từng kẹt của mình ra cho mà coi.

– Nghe đồng chí nói, tôi giật mình. Tôi đã đến trạm 66 Bộ Tổng một lần trước khi về Nam. Các ổng bảo cho tôi đi tàu lặn về Bến Tre hoặc Trà Vinh rồi đổ bộ lên bờ biển. Sau đó lội về R chỉ mất vài tuần lễ. Nhưng nằm chờ đến ngày cuối cùng các ổng lại bảo đường dây bị đứt nên tôi phải cuốc bộ. Không được bồi dưỡng như các ông bà đi Nam.

– Bồi bao nhiêu rồi vô đây cũng tiêu hết thôi.

Đây là Phum Tà Dath cửa ngỏ trạm 66 – cách Kà Tum nằm trên đường đá đỏ TL4 về hướng đông bắc khoảng năm cây số đường chim bay.

Từ trạm 66 phải lội qua một bàu nước tới gối khoảng ba cây số chếch về hướng Tây Bắc mới đụng nhánh suối Tà Bon, từ Suối Mây chảy lên. Suối Mây chảy qua quốc lộ 22 có cầu gọi là cầu Cần Đăng. Cái hang Pắc pó của lũ chồn Bắc Kỳ nằm dựa lưng vào biên giới Miên dọc theo ngọn suối Ta Bon có đường đá đỏ chạy dọc theo biên giới phía Nam, cách đồn điền cao su Minot khoảng mười cây số đường chim bay về phía Bắc. Lũ trộm cướp bao giờ cũng tính đường thoát thân cho nên xây nhà cửa ở đây. Nếu nghe hơi hám gì lạ thì chúng vọt qua ngay đất Miên bất chấp Công Pháp Quốc Tế.

(Bởi vậy cho nên… đại thắng Mùa Xuân đến nay (1991) đã mười sáu năm mà chúng không hội nhập vào Cộng Đồng Quốc Tế là phải lắm)

Rừng cây cổ thụ bạt ngàn. Đất nước ta thật vô cùng hùng vĩ và giàu có nhưng cả bọn tham nhũng xanh lẫn tham ô đỏ tàn hại sạch sành sanh.

Khi đi qua lộ ủi Trần Lệ Xuân, Ba Hải trỏ tay và bảo:

– Con lộ đất đỏ này mới làm xong để cho mụ Lệ Xuân khai thác gỗ vùng này. Các ông thấy cây cối không? Ở đồng bằng mình mấy nhà giàu cất nhà phông tô nền đúc thì phải mua loại cây đó. Nó gọi là gõ (ngoài Bắc gọi là gụ) cam xe, cà chất để làm cột. Nó chắc như sắt không mọt mối nào ăn nổi. Mỗi một cây cột giá cả chục ngàn đồng. Vậy nên mụ Lệ Xuân cho làm con đường này để đốn cây về bán.

Bỗng Tám Tiến kêu to:

– Cái gì nghe ù ù như phản lực vậy?

– Cái gì đâu?

Cả đám đứng nép vào gốc cây, ngước cổ nhìn. Chẳng thấy phản lực gì cả.

Ba Hải kêu lên:

– Mòng voi! Đậy tai bịt mắt lại.

Bọn này không hiểu gì ráo. Ba Hải quát lần nữa. Nhưng muộn rồi. Một đàn mòng đen như một vết khói đáp tới. Cả bọn bị đánh la ơi ới. Đứa ôm đầu chạy, đứa gục vào gốc cây phủi lia lịa. Chập sau, đàn mòng tản đi hết. Kiểm điểm lại, không có đứa nào bị thương. Ba Hải cười hú vía:

– Đám mòng voi này dữ lắm. Nó gặp người là xông tới chui vào lỗ tai, lỗ mũi, miệng mắt, chỗ nào có lỗ thì nó chui cắn bất kể. Còn đáng sợ hơn vắt Trường Sơn nữa.

Thu Mai cười khẹc khẹc:

– Thì ra nó thích lỗ! Kể ra chúng nó cũng không.

Tôi nói:

– Có lẽ nó theo trâu ở dưới đồng bằng lên đây rồi sinh sản thêm.

Tám Tiến phản đối:

– Nếu vậy thì kêu là mòng trâu sao gọi là mòng voi?

Ba Hải giải thích theo tuồng bụng:

– Nó lên đây hút máu voi nên mới to con vậy đó. Đây mấy ông coi. Voi con nào con nấy cao hơn hai thước. Tôi đã từng thấy cả bầy trăm con chạy rung rinh cả mặt đất.

Tôi hỏi:

– Sao anh biết nó cao hơn hai thước tây?

– Đây kìa, các ông xem bùn dính trên thân cây. Đó là dấu voi cạ chớ ai móc bùn trét lên đó làm gì. Còn muỗi nữa. Muỗi vùng này cũng to con. Tụi này đặt là muỗi voi.

– Chắc muỗi này cũng ở dưới đồng bằng theo bà Lệ Xuân lên đây. Vậy đổi tên là muỗi Lệ Xuân.

– Cái con mẹ đó nghe nói đẹp lắm sao ta?

– Ai có gặp đâu mà biết!

– Xấu đẹp gì cũng dzậy thôi, Mỹ nó quơ hết rồi!

– Bữa nào mình ra lộ ủi phục kích bắt mụ ta về lớp làm tái, lớp xào ròn xơi một bữa cho thoả mãn dân cày.

Xế chiều chúng tôi đến trạm 66 Bộ Tổng R còn phải qua một lộ trình gồm có ba tiếng đồng hồ lội nước quá đầu gối hoặc tới bụng mới tới nơi. Tôi vụt hỏi Ba Hải:

– Các chả ở thế này không sợ đổ chụp sao anh Ba?

– Gì mà sợ?

– Trống trơn, không có hầm hố, công sự chiến đấu gì ráo.

– Cậu nói phải đó. Nhưng mấy chả đâu có dại. Bốn hướng đều có canh gác và báo tin bằng điện thoại. Trên ngọn cây có những chuồng cu ngó xa cả chục cây số.

– Theo kiểu “sân trông” thời đầu kháng chiến chống Pháp hả?

– Cũng vậy thôi, nhưng hồi đó canh giặc đi bộ còn bây giờ canh giặc đi máy bay. Hồi đó ngó bằng mắt trần bây giờ ngó bằng ống dòm. Ngoài ra còn có một điếm canh ở sườn núi Bà Đen, cậu hiểu không? Tụi nó đóng đồn trên chót núi chớ từ nửa lừng trở xuống đâu có chiếm được gì. Mình nằm ở đó, xe chạy dưới tỉnh lộ mấy chiếc loại gì biết hết ráo. Hễ có xe nhà binh di chuyển hàng đàn trên tỉnh lộ 4 hướng về Phú Khương thì chúng nó báo về. Từ thị xã đến Phú Khương cũng mất một tiếng. Các chả cứ thong thả nhảy qua biên giới vuốt râu, ai làm gì ai?

Tôi nói:

-Nhưng căn cứ này không chắc bằng chiến khu Giồng Dinh của Nguyễn Bình thời kháng chiến chống Pháp. Giồng Dinh bao quanh là nước với bùn, sau lưng cũng dựa vào biên giới Miên, nhưng thời đó Pháp không có trực thăng và B52.

– Ối, chuyện đó là chuyện số mạng thôi, làm sao mình chống được mà lo!

Dứt lời, Ba Hải chỉ cái nhà nhỏ trước mặt bảo:

– Các cậu vô đó nghỉ ngơi hút thuốc ăn trầu gì tùy ý, tôi vô báo cáo với văn phòng thường trực của trạm 66.

Tôi ngó quanh. Cỏ rác đã dọn sạch trơn như ở vườn Bách Thảo. Tôi buông ba-lô ngồi lên giường bện bằng thân cây không róc vỏ và buộc bằng dây mây còn tươi. Điều đó chứng tỏ rằng mấy cái giường này mới được dựng lên để tiếp khách đến dự đại hội mừng công đoàn Pháo Binh 69.

Một cậu thanh niên mặt non choẹt xanh như lá, từ phía sau ló đầu ra hỏi như gắt:

– Các anh về dự lễ chiến thắng Biên Hoà hả?

Thu Mai chỉ gật. Sự có mặt của chúng tôi làm đứt đoạn ván bài tú lơ khơ của họ, nên họ không niềm nở mặc dù họ biết rằng chúng tôi là những người quan trọng (vào đây phải từ đại úy trở lên). Tôi định lấy chai thuốc rượu ngâm bao tử nhím của thằng Cử cho hôm trước ra bóp chân thì Tám Tiến đưa cho tôi chai dầu Nhị Thiên Đường có nút vặn màu đen (không phải nút bằng mốp dễ gãy vỡ hồi thuở nhỏ tôi thường thấy bà ngoại tôi lấy móc tai cạy ra).

Thấy tôi không dám thoa chân, Tám Tiến bảo:

– Mày cứ xài tưới đi, tao còn thiếu gì. Vợ tao lên kỳ rồi đem cho tao mấy lố.

– Sang vậy à?

– Ở quê tao bây giờ bà con giàu lắm. Mày biết Rạch Bà Đặng ở gần chợ Thái Bình mà Lôi!

– Chợ này có tiệm hủ tiếu chú Xồi, có bàn ping pong, có con xẩm lai rất xinh.

– Rạch Bà Đặng, vợ tao nói bây giờ nhà cửa chẳng thua thị xã chút nào. Ai cũng sắm được đuôi tôm, radio nghe vọng cổ tối ngày sáng đêm. Vài ba nhà hùn tiền lại mua máy cày làm ruộng. Mọi người đều lên trung nông cả rồi. Xứ Bắc Kỳ ở đó mà đấu đá!! Vợ tao nói người đi xuồng dưới rạch ngó lên cũng biết là dân giàu quá cỡ. Quần áo phơi ngoài sân phất phới lãnh mỹ-a, lụa là xanh đỏ chớ đâu có như ngoài Bắc váy vá chằn vá đụp nhuộm củ nâu dày mo. Tội nghiệp đồng bào mình ngoài đó vô cùng.

Tôi quát:

– Nè, “kéo con rít” cái miệng lại nghe cha!

– Kéo con mẹ gì, ai lấy thúng úp voi được mà lo! Một trăm thằng kéo chỉ một thằng không là đổ bể ra tùm lum rồi.

Ba Hải trở lại bảo:

– Được rồi. Ở trong đó vừa điện ra xác nhận năm anh hùng của đoàn 69 đến dự lễ.

– Năm ông anh hùng nào?

Ba Hải trừng tôi:

– Chậc, khổ quá! Vô trong đó đừng có hỏi kiểu trật bàn đạp đó nữa nghe cha!

Tôi bị trừng nhưng còn ráng hỏi:

– Ở đây có điện thoại à? (Ba Hải lại trừng)

Chúng tôi đến phòng thường trực. Vừa đút đầu vô thì nghe chuông điện thoại reo. Một cậu mặc áo thung ba lỗ bốc máy:

– Alô… dạ. Em cho vô liền. Dạ… vô ngay cho kịp cơm chiều – (Anh này tên là Tám Nghĩa)

Tám Nghĩa vừa gác máy quay lại chúng tôi:

– Ở trỏng đang chờ. Vô đó có ưu điểm. Vật heo vật bò mấy ngày nay. Bệ hạ xuống chiếu cho thần dân ăn nhậu ba ngày ba đêm.

– Lễ lớn dữ vậy sao?

– Cả ngàn người lận. Có văn công. Có tụi Sàigòn vô đông lắm.

Chúng tôi lại đi tiếp. Băng qua một cái hồ nước cạn, lội theo ven bờ có mọc những cây vông đồng đỏ ối. Những con cò con diệc trông thấy người cất cánh bay sập sận, giống như ở Tháp Mười. Cảnh tượng làm tôi nhớ nhà nhớ đồng bằng đứt ruột đứt gan.

Tám Tiến vẫn chưa chịu dứt mạch câu chuyện Rạch Bà Đặng. Anh ta tiếp:

– Tôi trông riết chiến tranh kết thúc để về nhà ăn một món. Biết món gì không?

– Món dây lưng rút!

– Món đó xơi rồi.

– Xơi từ hồi còn ở ngoài Thanh Hoá Cống Bàn Thạch hả?

– Thứ dây đó thì ngon thiệt, nhưng ăn một miếng rơi một sao, ăn hai miếng rơi hai sao, ăn ba miếng đi tù! Tôi về được nhà là bảo vợ tôi nấu một nồi khoai lang Dương Ngọc ăn với mắm lóc. Một tay cầm củ khoai, một tay cầm con mắm, cắn bên này một miếng, cắn bên kia một miếng, ăn hết nồi khoai và hủ mắm mới đã. Xong rồi biết hút thuốc gì không?

– Thuốc Craven A.

– Bậy nào! Thuốc “xiêm mẵn” ở Vĩnh Long. Mà phải vấn với giấy quyến.

– Thằng cha này nhớ những thứ ác ôn không he.

Thu Mai xen vào hỏi:

– Thuốc xiêm “mẽn” là thuốc gì?

– Là thuốc xiêm mẵn chớ thuốc gì là thuốc xiêm “mẽn” cha?

– Nó ra làm sao chớ?

– Nó vàng ngậy sợi nhỏ rứt, hút thơm khói và đằm lắm chớ không gắt như thuốc Gò Vấp và hỗn như thuốc “Nào”! Đấy, còn théc méc nữa thôi en hổng en tét đèn đi ngủ

Cả bọn cười vang rừng. Tôi thấy tri âm với anh chàng quê Rạch Bà Đặng nên lại gợi mạch chuyện:

– Quê anh ở Bà Đặng à?

– Không, ở Vĩnh Long. Tôi là lính 307 mà. Hồi ở Miền Trung xuống Miền Tây tôi ghé lại đây rồi mắc gốc luôn gỡ không ra, chớ không phải dân Rạch Bà Đặng.

– Vậy cha có đánh trận thứ ba chớ!

– Có! Hồi đó ông ở đâu?

– Tôi vừa ra Lục Quân Trần Quốc Tuấn, thực tập ở đại đội địa phương Bạc Liêu của Lê Quốc Sĩ.

– Vậy hả? Lê Quốc Sĩ là em Lê Quốc Sủng đại đội trưởng tiểu đoàn 402 Trung đoàn Tây Đô, em của Lê Quốc Sản trung đoàn trưởng Trung đoàn Hải Ngoại. Ông Sản có vợ là bà Minh chuyên môn mặc đồ Tây và cầm súng ra trận với chồng như lính.

Đang đi bỗng Tám Tiến dừng lại rỉ tai tôi:

– Ổng về làm Tư Lịnh I/2 nghe nói cum rồi.

– Thiệt hả? Tôi có nghe đồn nhưng không biết có thật không?

– Bị xe lội nước rượt chạy không thoát.

– Chịp! Trận thứ ba ác quá. Đại đội 932 của ông Sĩ đánh chung với tiểu đoàn 307 tôi. Hoả lực yếu nhưng sợ mất mặt nên cố xung phong cho kịp tụi này. Ác cái nữa là đụng tụi BMEO. Cánh mình chết trăm rưỡi chẳn. Chưa bao giờ tụi này chết nhiều như thế. Một trăm năm chục cái mả ở Vàm Cái Nước ai đi qua nhìn thấy cũng rớt nước mắt. Dân Miền Trung tôi bỏ xác khắp Miền Tây. Trận Bảy Ngàn Ô Môn, trận đánh đồn thứ ba, trận đánh Ba Gà Mổ trên đường Cà Mau, Bạc Liêu, trận phục kích trên đường Tác Vân Cà Mau.

– Còn Huỳnh Thanh Đồng ở đâu?

– Cùng quê với Bùi Khanh! Cái thằng cha không biết mắc cỡ.

– Sao vậy?

– Hôm hai đứa đi Tà Păng móc vợ. Tôi thấy vợ tôi thì chỉ ngoắc thôi, còn Đồng thì nhào tới. Cây đòn dài dưới đò vừa phóng lên bờ là ổng chạy xuống đò ôm lấy bà vợ ẵm lên luôn. Bả mắc cỡ dãy dụa suýt chút nữa hai người văng luôn xuống sông Vàm Cỏ.

– Mười năm xa cách nhớ quá mà, chịu hổng nổi nên mới làm vậy… Đó, bây giờ nó đi pháo kích sân bay Biên Hoà cả tháng chưa về tới. Sống chết ai biết? Mà mình đi lãnh huân chương và đọc diễn văn, khoe chiến công nghe vỗ tay.

Ba Hải chỉnh ngay:

– Đó là sự phân công của cách mạng chớ phải mình muốn mà được đâu!

Chẳng bao lâu chúng tôi tới khu hội trường và nhà khách. Hội trường rộng lớn nóc ba tầng, cột to thằng không bào láng nhưng rất suông, cây cột vỏ trơn tru. Nóc lợp bằng lá trung quân ghép lại rất đều như vảy cá màu nâu xa trông như ngói cũ. Bên trong có những dãy băng đóng bằng gỗ xẻ không bào. Sân khấu rất lớn. Hội trường có thể chứa cả ngàn người. Chỉ có một tầng nhưng rộng không kém rạp chiếu bóng Tháng 8 là rạp lớn nhất Hà Nội.

Người liên lạc trỏ dãy nhà có gần cả chục cái, bảo Ba Hải:

– Đồng chí muốn chọn cái nào thì chọn. Khách chưa có ai đến cả. Để tôi đi báo ban tiếp tân.

Ba Hải dắt bọn tôi đến cái nhà cuối cùng gần giếng nước. Vách nhà làm bằng phên nứa đập dập kẹp rất kỹ. Bên trong cũng vách nứa, nhưng hổng chân, ngăn ra thành phòng, mỗi phòng có một cái giường và kệ để đồ lặt vặt. Chung quanh nhà sạch láng như khu khách sạn ở bờ biển Sầm Sơn. Một công trình như thế mất bao nhiêu nhân công? Và bao nhiêu người đã bị cây đè chết hoặc gãy tay gãy chân? Sở dĩ tôi tự hỏi như thế là vì dọc đường Trường Sơn tôi đã từng gặp những đội công binh Nam Kỳ mở đường bằng bộc phá bị nổ tan xác và bị thương cụt tay cụt chân rất nhiều. Kể ra ăn cướp cũng gian nan chứ không phải dễ như người ta tưởng.

Chúng tôi rất thích nằm giường, bởi cái lưng cong ôm sát võng đã lâu quá rồi, nhờ mấy tháng ở trường được nằm giường, cái lưng đã ngay trở lại, bây giờ lại gặp giường này thì thiệt là đúng mốt.

Ba Hải chiếm một cái gần tôi. Hai đứa vừa rút thuốc ra hút vừa tán chuyện khào. Ba Hải nói:

– Giường này có bà xã thì đóng thuế nông nghiệp mới thoải mái.

– Ông có rước bả vô được đâu mà đóng?

– Tình trạng của tôi giống như các cậu hồi ở ngoài Bắc.

– Hồi ở ngoài Bắc thì cũng như về đây chớ có khác gì.

– Kiếm chưa được mối nào à?

– Chưa!

– Tôi coi bộ ông Tư râu quặp khoái cậu lắm đó.

– Sao anh biết?

– Vừa rồi Sáu Ngọc lên lãnh lương trên “U”, gặp tôi y có thuật lại việc ổng uống rượu thuốc với cậu. Nội trong “U” mình có ai được ổng mời như vậy đâu!

Tôi cười:

– Đó chẳng qua là ổng đền ơn cho tôi đã đem tin ngoài Hà Nội về cho ổng. Hơn nữa tôi có giúp ý kiến cho cấp ủy giải quyết vấn đề của ổng một cách ổn thoả.

– Vấn đề gì?

– Anh không biết à? Không biết thì thôi, tôi không nên nói.

– Không nói tôi cũng đoán ra! Thì cũng loanh quanh hai cái “ô” đó thôi. Chắc ổng muốn bắt ông làm rể đó!

– Bộ ổng cho tôi làm bạn cột chèo với ông cán bộ cải cách điền địa à?

– Cậu lo gì. Lập trường của ổng có ” rư ” để bao trùm cho sinh mạng chính trị của cậu. Nếu thằng nhóc con nào có bà con trong ngụy quyền thì kể như hết ngóc đầu lên. Như thằng Chung Tấn Quyền vậy. Người ta nghi nó là cháu của Chung Tấn Cang. Mãi tới năm nay mới được về Nam nhưng không được thăng cấp.

Tôi cười:

– Nếu tôi có bà con hoặc em út đi lính Sàigòn thì có được làm anh hùng thay mặt đoàn 69 được không?

– Cái đó tôi không quyết định được!

Vừa đến đây thì có một người đàn ông mặc đồ bà ba lụa đen bước vào tự xưng là người trong Cục Tuyên Huấn và bàn công tác với Ba Hải:

– Tôi ra đây đưa cảm tưởng cho đoàn 69. Đồng chí nào đại diện pháo binh đâu?

Ba Hải trỏ tôi. Ông “Tu Hú” (tiếng gọi mỉa mai Tuyên Huấn) nhìn tôi rồi nói ngay:

– Đây là bài của đồng chí. Nên học thuộc lòng đi. Để ngày mai lên sân khấu khỏi bị khớp.

Ba Hải nói:

– Cậu này là giảng viên trường pháo Bộ Tổng ở Sơn Tây đó ông nội. Học trò của cậu từ trung úy lên tới đại tá đó. Ông Chánh ủy U80 từng bị cẩu khỏ đầu… già.

– Thế à? Tốt lắm nhưng dù sao cũng phải đọc đi đọc lại cho làu để đọc không vấp.

Tôi nói:

– Dạ ở trên “U” đã chuẩn bị bài sẵn cho tôi rồi.

Ông Tu Hú xua tay quả quyết:

– Không được đâu. Cảm tưởng của tất cả mọi người lên sân khấu ngày mai đều là do Cục Tuyên Huấn viết cả. Việc này do ông Chín Vịnh giao cho chúng tôi làm. Như vậy mới tránh khỏi loạc choạc, ông nói gà bà nói vịt, có tụi trí thức Sàigòn nó nghe nó chê mình.

Tôi chưa hề đứng lên phát biểu cảm tưởng với ai cả, lần này được phát biểu thì đã có người viết dùm. Tôi biết cái lối đó rồi, nhưng vẫn còn ráng hỏi:

– Vậy bài của “U” bỏ hay sao đồng chí?

– Bỏ, bỏ hết! Đến nổi mấy ông kỷ sư, bà bác sĩ gì gì, ông nhà sư nhà văn ngày mai xin phát biểu nhưng ở trên chỉ cho một bà và một ông thôi. Nhưng cảm tưởng của họ tôi đang cầm ở đây nè. Chốc nữa tôi sẽ phát cho họ và dặn họ không được đọc thêm bớt chữ nào.

Được trớn ông Tu Hú giơ xấp pơ-luya trong tay rung lên rẹt rẹt:

– Cảm tưởng của ông Thọ tôi cũng có ở đây. Ở trên đã duyệt hết cả rồi. Chỉ cần đọc thôi. Trong mấy chục cái cảm tưởng ngày mai, chỉ có cái của đồng chí là quan trọng nhất. Chốc nữa tôi đưa đồng chí lên hội trường để thực tập.

Tôi hỏi:

– Thực tập cái gì?

– Ấy là đọc thử trước để tôi chỉ cho đồng chí chỗ nào phải lên giọng, chỗ nào phải xuống giọng, chỗ nào phải ra điệu bộ.

Tôi chợt nhớ hồi kháng chiến chống Pháp, mấy đứa con gái trong “Ban Rùm Beng” của trung đoàn 300 mỗi lần lên sân khấu đều được các anh lớn dượt trước rất tỉ mỉ. Tôi nói:

– Không sao đâu, mấy vụ đó để tôi lo.

– Tôi phải giúp đồng chí!

Thấy tôi muốn sần sượng, Ba Hải nhỏ nhẹ với ông Tu Hú:

– Đồng chí ấy đã từng lên sân khấu hồi thời kháng chiến chống Pháp đấy, vả hiện giờ là cây ăn nói thuyết trình trước đám đông mà!

Ông Tu Hú nhất định không nghe:

– Đành rằng như vậy nhưng ngày mai quan trọng lắm. Lỡ có sơ sót tôi bị khiển trách. Ngay cả ông Thọ là trí thức cỡ bự mà tôi cũng sẽ rà đi rà lại cho chắc ăn.

Đến đây ông ta nói nhỏ:

– Ngày mai có cả một ông ngang với Đại tướng Võ Nguyên Giáp đấy chớ không phải chơi đâu. Lại có một điều này rất quan trọng, tôi đề nghị các đồng chí đặc biệt chú ý cho. Đó là sẽ có nhà báo Sàigòn. Thế nào họ cũng tò mò tìm đến phỏng vấn đồng chí. Vậy các đồng chí chớ nên đi lại nhiều trong khu vực khách khứa. Rủi họ hỏi nhiều việc lộ bí mất, các đồng chí không thỉnh thị kịp mà trả lời thì hại lắm. Đó là kỷ luật ở trên đặt ra chớ không phải của chúng tôi.

Ba Hải vẫn mềm mỏng:

– Vâng, chúng tôi xin tuân thủ kỷ luật ạ!

– Các đồng chí không nên cho ai biết các đồng chí là ai. Chúng tôi sẽ giới thiệu các đồng chí ở đoàn 69 vừa lập chiến công về. Rõ hết chưa nào?

– Rõ ạ!

Ba Hải nhanh nhẩu đáp như muốn chấm dứt mọi sự dặn dò. Ông Tu Hú đưa cho Ba Hải mấy tờ pơ-luya đã đánh máy rồi đi ra. Ba Hải giao cho tôi. Tôi làu bàu:

– Đọc mấy tờ này mà khó như diễn kịch.

Ba Hải làm thinh với sự kiên nhẩn: Chả kịch là gì. Nhưng anh không nói ra.

Ngó qua bên mấy ngôi nhà gần, tôi thấy lao xao những người lạ hoắc. Tôi ra đứng trước cửa ngó tìm người quen. Người thì bận bà ba đen, người chống gậy, kẻ mặc áo thầy tu đen hoặc nâu, có ông xăn quần lên tới gối ló cặp chân trắng lốp như giấy. Có ông lại đội nón cối và mang kiếng mát, có cả phụ nữ sồn sồn mặc áo xanh quần đen. Riêng một bà thì cười toe toét khoe cái miệng hô hốc như bàn nạo dựa. Tôi quay lại nói với Tám Tiến đứng sau lưng tôi:

– Ê có dân Bến Tre của Bùi Khanh nữa kìa cha!

– Phải bà Định không?

– Không đâu. Đây là tụi trí thức ngoài thành.

– Sao ông biết?

– Coi chân coi cẳng họ thì biết chớ sao.

Bà Hăng Rô chợt nghe tiếng chúng tôi bèn vẫy tay. Tôi vẫy đáp lại. Nhưng Ba Hải gắt khẽ:

– Thôi đi vô các ông con! Mới nghe ông Tu Hú dặn mà đã quên.

Tôi và Tám Tiếng quay vào. Mấy cô mấy cậu phục vụ mặt còn non choẹt bưng mâm qua lại trước nhà, có vẻ như học sinh thành mới nhập môn. Thanh niên xung phong trong rừng đâu có bộ mặt trắng trẻo và lành mạnh như vậy.

Cơm đã dọn sẵn. Ở giữa bàn có một chiếc bình bông cặm nhánh mai vàng. Ái chà! Cái thứ bông này ở ngoài Bắc tìm đỏ mắt không ra, nhưng ở rừng này đốn quăng không hết. Tôi bảo Tám Tiến:

– Bữa nay mình ăn cơm đàng hoàng như ở Phú Gia Hà Nội nghe cha!

– Bò bảy món ở Sàigòn chắc đâu cũng thế này là cùng. Cho bỏ những ngày Trường Sơn cơm thiu muối cục.

Chúng tôi ngồi vào bàn. Tôi hỏi Ba Hải:

– Ăn cơm có được nói chuyện không thủ trưởng?

– Nói nho nhỏ thôi.

Tôi bảo Tám Tiến:

– Thịt heo kho tiêu này chắc là phải do một bàn tay đẹp sáng tác đây hả ông?

– Ừ, nhưng món bò hầm này không phải do bàn tay đẹp. Vì nó chặt khúc “ninh rừ”. Cục nào cục này to tổ bố. Tụi mình bốn đứa mà nó cho có ba cục làm sao chia?

– Một thằng phải chịu thiệt thòi cho ba thằng ăn nạc.

– Thằng thiệt thòi là dân Nam Kỳ.

– Bao giờ cũng vậy! Gặm xương của Trung Ương ném cho là cái chắc.

– Không biết chừng nào mình mới được về nhà ăn cơm với vợ con ngồi bàn như vầy.

Thu Mai đâm hơi không kém phần chua chát:

Miền Nam đi trước về sau. Chừng nào toàn thể đồng bào hưởng hạnh phúc là tới mình lo gì!

Tôi gắp cục bò hầm bỏ vào chén Thu Mai:

– Thưởng ông đó. Đây là củ lẳng bò. Cạp xong rồi bò!

– Răng tôi xệu xạo hết rồi, cạp không đặng, để tôi ăn thịt bò xào măng le dễ nuốt hơn.

Chúng tôi ăn chưa xong thì một cô phục vụ mặc áo sơ-mi trắng tay phùng, quần mỹ-a láng mướt, tóc chải rẽ đường ngôi thẳng tắp như con lộ ủi Trần Lệ Xuân, chân mang dép Thái Lan đem tới một dĩa chuối. Trời đất, chuối xiêm chín vàng tươi, trái mập ú như cườm tay con nít sỗ sữa. Tám Tiến ngó theo cô em vừa đi ra khỏi nhà có vẻ đang mơ mộng. Tôi nói:

– Nè, giống con gái Thái Bình chớ hả?

– Ừ! Mình nhớ quê mình quá đi cha. Mấy đứa em gái của mình hồi tập kết cũng cỡ tuổi cô em. Bây giờ đâu còn… Phải còn tôi bắt cậu làm em rể.

– Hai mươi năm rồi, còn gì được mà còn. Không có gì bền được với thời gian! Nhất là con người. Từ ngày tôi bọc quần áo trong cái choàng tắm của ba tôi đi với ông Tô Ký và ông Trần Đình Xu tới nay đã hơn hai mươi năm mà không về nhà được. Tóc sắp trổ như lúa vôi rồi đó nhưng chưa lần nào nghe được tiếng chim bìm bịp kêu trên dòng sông nước lớn Tân Bửu của tôi. Ông nhắc đến Rạch Bà Đặng hồi nãy làm tôi ứa nước mắt.

Tám Tiến phụ họa:

– Lúa Nàng Tiên Nàng Ớt, gạo Nanh Chồn tôi ăn hồi ở nhà bây giờ còn nhớ mùi thơm. Ra Bắc chỉ nghe nói gạo Tám Thơm nhưng có được thấy mặt nó bao giờ.

– Muốn xơi món đó ông phải đi Mậu dịch Phố Huế! Cơm tấm giò chả !

– Tôi dặn vợ tôi kỳ sau có lên, đem cho tôi một hủ mắm sặc hoặc mắm rô. Mình kho ăn với măng le luộc thay bắp chuối chắc cũng được. Nhưng thiếu rau răm, rau dấp cá !

– Rau húng cây húng lủi nữa chớ !

Ba Hải và Thu Mai ngồi lột vỏ chuối xiêm nhai ngồm ngoàm trào ra cả mép. Ba Hải quệt ngang và nói:

– Quê các cậu lắm thứ này hả?

– Có mà độn vũng.

Ba Hải trợn mắt. Tám Tiến nói:

– Ông vô miệt Thái Bình quê vợ tôi mà coi. Chuối mì vừa bán vừa cho. Khóm Chắc Băng khóm Cầu Đúc ăn ba dao chớ không có gọt xây từng cái mắt đâu.

Cơm no xong nhưng không có “bò cỡi”, chúng tôi đành nằm thẳng cẳng ra mà ngủ. Không biết được bao lâu thì tôi bị đập dậy:

– Này, đồng chí gì ơi!

Tôi mở choàng đôi mắt. Thì ra ông Tu Hú. Ông ta đến để tập tôi đọc diễn văn. Tôi nhất định không tập. Tôi chỉ hứa là đọc không vấp và không ra điệu bộ gì hết.

Ông Tu Hú bảo:

– Ở chỗ “quân đội nhân dân quyết tâm nhiệm vụ nào cũng hoàn thành… kẻ thù nào cũng đánh thắng” đồng chí phải giơ tay lên, để ở dưới này mọi người cùng giơ và đứng dậy. Tôi đã phổ biến cho quan khách rồi. Hai bên phải phối hợp cho ăn khớp.

– Đồng chí phổ biến cho cả người ở Sàigòn nữa à ?

– Chứ sao?

– Họ nói thế nào?

– Họ đồng ý chớ còn nói thế nào nữa !

– Không khéo họ cười mình chết.

– Dám cười à? Vô đây là như vô rọ rồi, bố bảo cũng không dám cười mình.

Thế là ông Tu Hú không dượt được tôi, ông ta vừa đi vừa 1 lẩm bẩm:

– Để tôi qua bên “lán” Chánh Phủ xem họ đã học thuộc chưa. Ấy mà chết, đồng chí là đại diện đoàn pháo binh phải không&

– Bí số là đoàn 69.

– Quái nhỉ, đoàn gì không đặt lại đặt đoàn 69 !

Rồi y bỏ đi thẳng.

Tôi cười thầm. Cái thằng cha Tu Hú này hóm nhỉ! Tám Tiến hỏi tôi:

– Đoàn 69, tại sao y cười?

Tôi không đáp ngay được bởi vì có ông trường phòng chính trị nằm bên cạnh.

(Mất ba năm sau khi gặp lại anh chàng ở Củ Chi, trong lúc đơn vị tan tành xí quách tôi mới có dịp giải thích cho ông bần cố nông 6/9 nghĩa là cái giống gì).

Tối hôm sau mới cử hành buổi lễ . Hội trường giăng mắc đầy những khẩu hiệu nền đỏ chữ vàng choé với hình chủ tịch Mặt Trận Nguyễn Hữu Thọ ở mặt tiền sân khấu to bằng cánh cửa. Còn nhớ sau khi thành lập MTGP, tôi có dịp ra Hà Nội, đi ngang nhà hát lớn tôi bật ngữa khi thấy hình ông ta treo ngang ảnh cụ Hồ. Quái nhỉ! thằng cha căn chú kiết nào đâu vậy? Tôi tự hỏi.

Bây giờ tôi trông thấy lão ta. Không những một mình lão mà cả bầy. Nào là Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát, Dương Quỳnh Hoa, Cao Văn Bổn, Trương Như Tảng, v.v… Cả một bọn theo đóm ăn tàn đông lúc nhúc. Lạ lùng nhất có những nhà tu áo thụng đen đeo thánh giá (Marie Joseph Hồ Huệ Bá). Một tên mặc áo nâu đội mũ ni (Thích Đôn Hậu), một lão râu le the như cỏ chết nước áo dài trắng (Phối đầu sư Phạm Văn Ngởi) và nhiều tên mặt mẹt khác cổ cao nhòng, đầu húi cua hoặc răng vều như Thủ tướng Bắc Kỳ mà tôi không nhớ tên hết nổi.

Nguyễn Hữu Thọ lên khai mạc sau bài chào cờ Mặt Trận Giải Phóng của Huỳnh Minh Siêng. Thọ kính thưa rất lễ phép. Trước nhất là thưa “Vị đại diện chánh phủ Hà Nội” rồi sau đó mới thưa các vị trong ban bầu cua của ông và quan khách .

Bài diễn văn ngắn có trang rưỡi giấy mà ông đọc vấp và ho ba bốn lần, có lẽ vì cảm động quá mức yêu cầu.

Vì là anh hùng nên đoàn chúng tôi được xếp ngồi ghế danh dự hàng đầu. Ngay sau lưng tôi là ông Sáu Vi, ngồi kế ông Sáu Vi là Trần Văn Chè, kế Chè là Độ, kế Độ là Lê Trọng Tấn v.v….. Cỡ Thượng tá, Đại tá ngồi hạng cá kèo. Còn dân Tu Hú, đài Giải phóng, báo Giải phóng, báo Nhân dân Hà Nội (có anh chàng Thép Mới cũng vô đây ăn ké lấy tên là me xừ Chín Hồng Châu) và nghệ sĩ cỡ như Ba Mực (tức là nhạc sĩ Xuân Hồng tác giá Sóc Bom Bo và Xuân chiến sĩ) thì chỉ đứng ôm gốc cột vì là dân dự thính, không phải đại biểu chính thức. .

Rõ cái trò đời. Tôi bỗng dưng được làm anh hùng đeo một đóa hoa đỏ bằng cái tô trên ngực. Sáu Vi tỏ ra rất khoái tôi. Suốt buổi lễ ông ta cứ quèo tôi để hỏi chuyện. Cho nên ba ông Trà, Đô và Tán cứ nhìn tôi hoài. Có lẽ các ông ấy muốn bảo tôi: Mày là cái thằng nhãi ranh mà bỗng dưng lại được ổng chú ý vậy. Chúng tao ngồi bên cạnh ổng đây mà ổng chẳng thèm nói tới ! Tôi dự lễ mà đít nhấp nhổm như ngồi bàn chông vì sợ trong số quan khách giải phóng có người biết tẩy.

Ớn hơn nữa là ông Đại tướng cũng tưởng rằng tôi là anh hùng thiệt nên cứ hỏi tôi liên tục. Tôi cực chẳng đã phải đặt chuyện để nói cho xuôi. Tôi tha hồ đẩy dóc với cả Đại tướng mà chẳng có tội tình gì. Các ông Trà, Độ và Tấn chơi ông Đại tướng một cú ác thật. Có lẽ ông Đại tướng đinh ninh rằng tôi là kẻ đã từng pháo kích sân bay Biên Hòa và nay mai Đại tướng sẽ báo cáo về Hà Nội cho bác Hồ rõ để bác vui mà sống lâu hơn.

tôi đã từng biết ba cái vụ anh hùng này hồi 1956 rồi. Hồi ở Nam Bộ tập kết ra cũng có cái trò bầu bán và gắn huy chương anh hùng quân đội. Ở Trung đoàn tôi có một anh Miên lai quê ở Sóc Trăng chẳng rõ làm thế nào mà được bác tặng cho danh hiệu anh hùng quân đội. Tên anh là Sơn Ton (bà con với Sơn Ngọc Minh?). Khi anh ta vinh quy bái tổ về đơn vị thì có cả một nhà văn đi theo để khai thác viết tiểu sử của anh ta thành sách để giáo dục quân đội. Khi làm việc, anh ta khai rất tỉ mỉ. Thì ra chẳng có cái gì đáng gọi là anh hùng hết cả. Nhà văn bèn trở về báo cáo với Tổng Cục Chính Trị. Tổng cục cho điều tra. Thì ra ban Thi đua trung đoàn vì muốn đơn vị mình có một anh hùng mà đem cả thành tích của huyện Long Phú trong chiến dịch Trung tâm công tác đắp lên cho Sơn Ton. Trách gì anh ta chẳng trở thành anh hùng? Bây giờ lỡ rồi, nếu lột huân chương của anh ta thì bất tiện và bất lợi quá nên cấp trên điều động cho anh ta đi học, rồi đi đâu mất tích luôn không thấy trở về đơn vị nữa.

Lần này tới phiên tôi làm anh hùng rơm chăng? Dù sao tôi cũng là thầy dạy cả đám pháo binh này chứ không phải là hạng cá kèo. Vã lại lệnh vua là lệnh trời nên tôi không dám cãi chứ chẳng phải tôi ham hố gì cái danh hiệu anh hùng… giả.

Sau ông Chủ tịch Mặt Trận, vài ba người nữa lên đọc cảm tưởng, rồi đến tôi. Tôi hùng dũng bước lên chào quan khách và cất giọng rất oai, không khớp như ông Tu Hú lo sợ. Vừa đọc tôi vừa liếc thấy mấy mụ sồn sồn ngó tôi lom !om. Mấy tên mặc áo nhà sư đầu bóng lưỡng thì chậm rãi gật gù. Hóa ra một đám Lỗ Trí Thâm leo cổng chùa vào đây ngã mặn. Chứ không sao lại hoan nghênh kẻ sát nhân như tôi. Cán bộ toàn thứ cao cấp của Cục Tham Mưu, Cục Hậu Cần, Cục Chính Trị ngồi như cá kèo ở cuối hội trường không có dịp ngửi hương phấn của Sè thành se lệ.

Tôi liếc thấy một cô đào hát bóng quen ở Hà Nội. Cô nàng đẹp lắm nhưng tiếc thay cái bông lài đã cặm bãi cứt trâu bây giờ vô đây không biết mần gì mà lại lọt vào hội trường này.

Tôi đọc tới đoạn quan trọng thì lên gân:

– Quân đội là con em của nhân dân, phải tận trung với nước, tận hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng! (sau này chúng tôi nghĩ là: kẻ thù nào cũng “đánh bại” chứ sao lại đánh thắng?)

Tôi biết câu này là do ông Sáu Vi sáng tác nên vừa đọc xong, tôi ngó xuống ngay ông. Ông gật gù và giơ nắm tay lên trước ngực tỏ ý hài lòng, trong lúc hội trường ào ào đứng cả lên vổ tay như sấm dậy.

Mỉa mai thay những tên đặc công đánh trận Biên Hoà sau khi nổ súng rồi bị trực thăng nhảy chụp không có đường rút lui, phải nơ ba cây DKZ 75 lủi như chuột còn kẹt lại ở sông Bé, nghe nói gần phân nửa bị trực thăng bắn chết khi vừa rút ra, còn hai khẩu DKZ rơi xuống sông không mò được. Rõ thật tức cười .

Cộng Sản là bịp. Tất cả đám xôi thịt không phân biệt gái trai già trẻ đều ngồi phải cây cọc Nguyễn Chí Thanh một cách hết sức êm ái nên tha hồ nhún nhảy và vỗ tay.

Khi tôi hoàn thành bài cảm tưởng thì các ông to bà lớn lại một phen đứng dậy vung tay đá chân hoan hô giải phóng anh hùng.

Kế đó là ông Chủ tịch Mặt Trận Nguyễn Hữu Thọ lên sân khấu tặng huân chương Quân Công Hạng Ba cho đội đặc công (gọi là Đoàn pháo 69). Tôi thay mặt đoàn oai vệ lãnh huân chương. Kế đó đến bà vợ ông bác sĩ Phùng Văn Cung trao cờ Luân Lưu (Phùng Văn Cung là tên bác sĩ thiến heo, vô rừng chích toàn gây áp xe cho bệnh nhân). Tôi lại cũng tiến ra thiếm xực luôn lá cờ rồi quay ra trình cho hội trường xem. Bà già cảm động ôm quàng lấy tôi mà hôn. Tôi nghe ớn quá trời vì bả già cóp. Tôi chỉ đáng con bả. Giá được con gái bả hôn thì đã hơn.

Hội trường lại cảm động quá xá ngán. Mấy ông phó nháy chớp lia, mấy ông phó nhòm thì quay ống kính theo tôi bấm máy chạy rè rè.

Tôi la74m liệt oai phong bước xuống sân khấu đến ngồi vào ghế của mình. Ông Đại tướng chồm lên vỗ vai tôi, gật đầu, rồi đưa tay ra cho tôi bắt:

– Cậu khá lắm! Quân đội phải thế.

Phần lễ chính thức tới đó coi như chấm dứt để bước sang phần văn nghệ do đoàn Văn Công Giải Phóng của chị Ba Thanh Loan phụ trách. Trong lúc ngồi xem, ông Đại tướng cứ hỏi chuyện tôi hoài. Ở trong rừng thiếu chất tươi, được xem mấy em văn công ỏng ẻng một đêm còn hơn uống thuốc La Vạn Linh Bổ Thận nhưng bị ông Đại tướng chiếu cố không ngừng nhưng tôi không dám chuồn đi chỗ khác.

Ông vốn là người “đi sâu đi sát” với lính nên hỏi về tổ chức của đoàn, làm sao đột nhập vào vùng tạm chiếm, vấn đề chuyên chở nòng pháo, vấn đề rút lui… Chẳng lẽ mới nhận huy chương đó, bây giờ lại nói “không biết gì”. Tôi bèn bịa và trả lời xuôi rót nên ông Đại tướng tin tưởng tôi là Đoàn Phó đoàn 69 và đã tham gia trận pháo kích thật. Hoá ra mấy tên đầu bò nhỏ bịp tên đầu bò to. Tôi không ngờ chúng lại thủ đoạn với nhau như vậy. Do cái loại báo cáo tô hồng này mà cải cách ruộng đất bét nhoè ra rồi lão Hồ mới hay. Nhưng Sáu Vi không dừng lại ở những nét chung chung đó. Ông ta đi sát đáy quần chúng hơn nữa.

– Anh em ăn có no không?

– Đủ no. (Gạo mục và đói thấy mẹ. Trồng khoai sắn tự túc Mỹ đánh tan hoang hết).

– Có trộn khoai sắn không?

– Dạ không (Không trộn khoai sắn nhưng ăn khoai sắn vì không đủ cơm gạo).

– Mỗi tháng khẩu phần bao nhiêu?

– Dạ ba chục lít chẳn. ( Lắm lúc không có lít nào. Ở Cú Chi đôi khi phải đi ăn chực trong Ấp Chiến Lược hoặc trong xóm)

– Tiền thức ăn bao nhiêu, có tạm đủ không?

– Dạ, tám cắc cho sơ cấp và lính, một đồng hai cho trung cấp (Sự thực ít khi lãnh đủ).

– Không được, phải hủy bỏ ngay chế độ đó. Phải đồng cam cộng khổ mới có tình cán binh. Sinh hoạt phí có phát đều không?

– Dạ có ! (Không mấy khi có)

– Anh em có thắc mắc không?

– Dạ không ạ. (Anh em chửi cha mấy thằng quản lý tham ô thôi chứ không thèm thắc mắc)

– Anh em có ra Ấp Chiến Lược mua sắm không?

– Dạ đơn vị cấm ngặt ạ ! (Sự thực thì cán bộ ăn hút mê man ngoài Ấp Chiến Lược lấy vợ luôn ngoài đó

– Chế độ sinh hoạt đoàn đảng có duy trì tốt không?

– Dạ có ! (Sự thực thì chỉ họp để thi hành kỷ luật các ông dâm ô ngoài ra ai cũng ớn hợp).

– Có kết nạp đoàn viên đảng viên mới không?

– Dạ có ! (Sự thực thì không ai vô đoàn, còn đảng viên thì bị khai trừ nhiều hơn kết nạp).

– Anh em Miền Nam về được quê hương có phấn khởi không?

– Dạ phấn khởi lắm. (Mừng thấy cha nữa là khác! Xin vái cả mũ bác Hồ láo toét)

– Đồng chí có gia đình chưa?

– Dạ chưa ! (Làm sao cưới vợ được mà có ?)

Ông ngưng một chút để cho tôi coi Văn Công. Tưởng lạ gì ai dè đánh Mỹ của các Dũng sĩ Củ Chi. Nào là Bảy Nê, Bảy Mô, Út Nhỡ, Tư Gừng, Năm Cội, v.v… Đến màn “Mượn Mỹ” (tôi đã kể ở trước) tôi mắc cỡ quá chừng. Vì sự thực không có gì hết ngoài cái tổ chức gọi là “Đội Nữ” (gồm toàn nữ du kính các xã) nhảy cóc nháy nhái võ trang bằng súng trường bá đỏ đâu có làm ăn được gì. Lúc đó tôi đã chỉ huy đơn vị võ trang của quận, quân số được một Tiểu đoàn, sau đó quân số leên đến ba Tiểu đoàn lấy tên là Trung đoàn Quyết Thắng cũng do tôi chỉ huy. Đội nữ này nặng về biểu diễn hơn là chiến đấu. Nó do Tám Quang Trưởng phòng chính trị Quân khu đỡ đầu nên rất “nỗi tiếng”. Chính nhiều lần tôi cho đội này đi chiến đấu chung với chúng tôi trong những trận nho nhỏ để tập luyện họ, tôi biết rất rõ họ đâu có diệt được tên Mỹ nào, thế nhưng ông “kịch tác da” Nguyễn Vũ đã đưa mấy cô này lên sân khấu như những dũng sĩ. “Mỗi cô đã diệt được năm, sáu tên Mỹ”.

Ông Đại tướng thích thú cười ha hả, ông bảo mọi người ngồi quanh ông:

– Mỹ vào đông, Mỹ càng chết đông. Ta phải nắm thắt lưng chúng mà đánh.

Rồi ông lại hỏi:

– Ta lấy mấy chống một Mỹ?

Tướng Trà ứng khẩu đáp.

– Dạ một chống một ạ.

– Không! Một chống hai nó! Ta không sợ Mỹ chút nào!

Mọi người tỏ vẻ phục lăn ông Đại tướng, gật đầu hưởng ứng. Ông Đại tướng khen dồi:

– Thành đồng phải thế! Thành đồng phải thế!

Khi vở kịch “mượn Mỹ ” chấm dứt ông lại hỏi tôi một loạt nữa.

– Cậu có gặp mấy nữ dũng sĩ này ở Củ Chi k!lông?

– Dạ có gặp luôn ạ.

– Có đúng như trong vở kịch không?

– Dạ đúng, nhưng vở kịch còn kém so với thực tế.

– Là thế nào?

– Dạ đội nữ anh dũng nhiều hơn. Vở kịch không diễn tả được cảnh trực thăng bắn.

– A đúng, cái đó thì khó đem lên sân khấu. Mỹ có vẻ khờ lắm phải không?

-Dạ không!

– Sao tôi nghe đài Giải Phóng nói thì tôi mường tượng đó là những thằng người làm bằng sáp hoặc bột.

– Dạ tôi chưa bắt được thằng nào nhưng máy bay của nó thì rất… ác.

Tôi không dám đẩy cây với ông Đại tướng về cái khoản “Mỹ khờ” vì tôi đã đánh với nó nhiều trận. Phải nói khi xáp chiến thì 50/50 nhưng khi ta rút lui thì nó cho trực thăng truy kích gây số thương vong gấp năm, mười lần tại trận địa.

Hết vở “Mượn Mỹ” tới vở “Gái Bán Bar hay “US go home” cũng của Văn Công Giải Phóng. Con dào hát bóng Hà Nội đóng vai gái bán bai. Lính Mỹ đến ăn nhậu và bị dán truyền đơn ngay cả trên lưng mà không hay. Con nhỏ mặc váy ngắn rà rê với tên Mỹ. Cặp chân trắng nõn suông như ống chỉ, cặp mông ngún nguẩy làm tướng tá tao nhân mặc khách đều mê tơi, nhưng ông Đại tướng lại quèo tôi hỏi tiếp:

– Này đơn vị bộ binh mỗi khẩu súng trường được bao nhiêu đạn? Du kích được bao nhiêu?

– Dạ súng trường 100, tiểu liên 150-200, trung liên 500-600. (Tôi trở lại miếng đẩy cây lúc đầu)

– Còn pháo?

– Dạ nếu 105 ly thì 10 quả. Cối 120 ly cũng cỡ đó. DKZ75 cối 81, 10-12 quả.

– Đạn 105 vác cách nào?

– Dạ thì Thanh Niên xung phong vác theo bộ đội.

– Làm sao vác nổi.

– Dạ hai người một quả thay phiên nhau.

Ông ngẫm nghĩ một chút rồi hỏi tiếp. Các ông Tấn, Độ, Trà ngồi trơ trơ đó, sao ông không hỏi mà cứ hạch mình. Có lẽ bị một vố Cải Cách Ruộng Đất rồi ê càng, bây giờ bệ hạ không dám nghe các ông bà trung gian tâu lên nữa. Nhưng gặp tôi quả là xui xẻo cho ông. Tôi tô hồng còn quá cha trong CCRĐ.

– Đơn vị cậu mỗi ngày sốt rét bao nhiêu. Có sốt ác tính không?

– Dạ chừng một vài người thôi. (Sự thực trên 2/3)

– Ngoài sốt rét ra còn bịnh gì khác nữa không?

– Dạ phù thủng, kiết lỵ, quáng manh, gan, lá lách, dạ dày, sốt ác tính cũng bộn bàng. (Sự thực thì toàn đơn vị ốm đói)

– Nhiều vậy sao?

Tôi tiếp tục đẩy cây thoa mỡ bò với ông Đại tướng, nên trở cờ ngay:

– Dạ đó là hồi “nẳm” kia, anh em chưa quen nên bịnh nhiều, bây giờ thì không thế nữa.

– Đoàn đồng chí có bác sĩ không?

– Dạ có. (Thực ra là không có. Chỉ có một anh “y tá” vườn biết chích thuốc và băng bó thương binh đế chở đi bệnh xá thôi. Không bệnh xá nào có bác sĩ.)

– Bệnh xá có phương tiện khá không?

– Dạ rất khá . (Sự thực là chẳng có thuốc men gì. Một giáo sư Liên Xô đã vào tham cái gọi là bệnh xá Quân Khu ở Bưng Còng của Tám Lê. Y tá phải biểu diễn một màn cưa chân thương binh bằng cưa sắt như kiểu chín năm chống Pháp. Ông giáo sư lắc đầu méo mặt)

Đấy cái kiểu đi sâu đi sát với lính và dân của ổng đáng cho cán bộ thuộc cấp xanh mặt lắm chớ không đùa đâu. Ba ông tướng ngồi bên cạnh ông nghe tôi trả lời chắc phải nhấp nhỏm như ngồi chông đinh. Biết đâu ngày mai, ông sẽ gọi ba trự này tới mà sạc-cà-rây cho một mách?

Tôi được biết một lần hồi 1960-1961 chi đó, ổng đã cách chức nguyên cả tỉnh ủy Thanh Hóa vì các ông vua con này để gạo mốc ẩm trong kho mà bên ngoài dân đói meo.

Số là ông đang đi đường, xe hỏng máy, ổng đáp xuống ruộng nói chuyện với nông dân và phát hiện ra tác phong quan liêu của tỉnh ủy. Lập tức ông ra lệnh khui kho, đồng thời cách chức mấy ông hoàng đỏ địa phương.

Nhưng vào đây ông không thể sờ đụng thực tế như ở Hợp Tác Xã trên Miền Bắc. Ổng chỉ đi sát tới cây thoa mỡ bò của tên Thiên Lôi này thôi.

Mà dù có sờ đụng thực tế thì ông cũng không làm gì được. Vì ở đây tất cả đều phải giải quyết dưới làn đạn của trực thăng của pháo siêu âm. (Tội nghiệp, ông chi loay hoay cải cách được vài ba chuyện lặt vặt, sửa đối được vài ba cái râu ria của bệnh quan liêu và hưởng lạc của các ông to bà lớn thôi rồi chết!)

Ông ta chết, tướng tá rầu rĩ, nhưng trong lòng họ thì lại mừng rỡ như bầy trâu trên đồng ruộng đã mất con trâu cầm bầy, các con kia đều cùng một lứa.

Hồi đó tôi rất buồn và hoang mang. Nhưng sau khi tìm Tự Do, tôi lại mừng. Vì đó là một sự may mắn lớn cho dân tộc đặc biệt là đồng bào Miền Nam. Tại sao? Xin được nêu lên mấy ý nghĩ của tôi về tên Đại tướng bần cố nông này.

Ông ta là một tên cuồng tín chủ nghĩa Mác lê, cứng ngắt, giáo điều theo kiểu Trung Cộng.

Đó là một con người lạ lùng, ngay cả Võ Nguyên Giáp cũng phải gờm. Ông là con người ít mang tiếng lem nhem nhất trong Đảng (hoặc có mà tôi không biết). Xin nói cho công bằng Nguyễn Chí Thanh không bao giờ mặc quân phục Đại tướng, không mang tiếng đéo bậy như Duẫn, Giáp. Mấy lần ông đến huấn thị chỉ mặc áo sơ mi thường, không có cần vụ đi theo tò tò mang cơm mang nước. Không biết ông học hành tới đâu nhưng bộ dạng của ông giống hệt một anh xã viên hợp tác nhưng nét mặt có phần hung ác, mặt vuông, trán vồ, miệng quai xách. Lão Hồ đã lựa đúng người để đưa vào Nam làm Toàn quyền đỏ khi Mỹ đổ bộ vô Sài gòn. Nghe đồn trước khi vô Nam, ông Hồ đã tiếp riêng Nguyễn Chí Thanh, trước khi chia tay, ông Hồ đưa tặng cho một bao thuốc Con Mèo Đen (Craven A) và bảo: “Vận mệnh Miền Nam là ở trong tay chú.” Tại sao Nguyễn Chí Thanh mà không phải Võ Nguyên Giáp, Phạm Hùng hoặc Lê Đức Thọ?

Giáp đã bị rơi đài về ẩn sĩ, học chơi dương cầm ở Hồ Tây một thời gian. Thời gian này lẹo tẹo với bà thầy đờn xinh đẹp, mang tai tiếng cả Hà Nội. Giáp lại còn có đầu óc chính qui hiện đại, muốn biến quân đội thành một quân đội nhà nghề. Ngoài ra tấm thân phì nộn bộ vó tài tử xi-nê Tàu xì của Giáp không thể che giấu được bộ mặt xâm lược của Bác trên đường Trường Sơn. Do đó Giáp không được chọn vào ghế Toàn Quyền Miền Nam.

Lê Đức Thọ thì không biết tí gì về quân sự mà chỉ lý thuyết suông sợ e không điều khiển nổi đám tướng đầu bò như Hoàng Văn Thái, Trần Độ, Lê Trọng Tấn, Đồng Văn Cống, Trần Văn Trà v..v….

Còn Phạm Hùng? Phạm Hùng làm Phó cối cả chục năm, đội đít Phạm Văn Vều, tuy nổi danh là tay xốc vác, phản ứng nhanh, tuyệt đối trung thành với Mác Lê, nhưng lại cũng như Thọ không biết tí gì về quân sự và tai hại hơn nữa là gốc dưa hấu. Nên nhớ rằng bên ngoài lão Hồ làm bộ đặt tay lên ngực và khóc mếu nói “Miền Nam luôn luôn trong trái tim tôi” nhưng sự thực lão chúa ghét và nghi ngờ dân Nam Kỳ. Lão biệt đãi dân Trị Thiên Nghệ Tỉnh, kế đó là dân Rau Muống, Năm Eo, còn dân Dưa Hấu thì đội sổ muôn năm. Do đó dân Nam Kỳ Thành Đồng Tổ Quốc vẫn không được xơ múi gì ráo, sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh Tây vác thây ra Bắc để “gặp Bác, bắt tay Bác” (vô khám và bị đày lên núi đốn cúi thì có. Dân Nam Kỳ đã tởn tình yêu của Bác…Cáo chưa?)

Do đó, Nguyễn Chí Thanh là tên trùm đầu đỏ họ Hồ giaocho “nắm vận mệnh Miền Nam trong tay”. Hắn vào đây như một Toàn Quyền có quyền quyết định chánh sách mới, thay đổi chánh sách cũ và hành động một cách hoàn toàn độc lập không phải thỉnh thị Trung ương.

Tướng tá, ủy viên Trung ương, dân theo đóm ăn tàn ở Sàigòn “ra khu”, tất cả nghe hắn vào thảy đều khiếp vía. Sự có mặt của hắn coi như chấm dứt mọi sự ăn hút cắm câu ăn tiền của đám này.

Vào đến R, hắn thay đổi ngay “chế độ cần vụ” mà các ông to bà lớn ở trong này tự đặt ra cho mình. Với hắn, nói là làm, không có dằng dai chờ đợi lâu lắc.

Trước nhất hắn dẹp bỏ ngay chế độ huynh trưởng. “Anh Ba, anh Sáu” quen miệng gọi nhau rồi dần dà trở thành nề nếp gia đình hồi nào không hay. Kế đó, hắn sắp lại ba hệ thống quân dân chánh Đảng mà hắn cho là trống dành xuôi kèn thổi ngược cho ăn-giơ với nhau. Kế đến hẳn nói rõ cho bọn xôi thịt Sè goòng rằng đây là công cuộc cứu nước chung, không ai được từ chối hoặc được biệt đãi hơn ai. Mấy ông bà sồn sồn, mấy tên nhà tu nhảy rào, mấy lão thầy chùa lỗ mũi trâu, mấy xừ kỹ sư ba xạo, mấy gã văn sĩ và trí thức tịt ngòi, mấy anh tư sản “yêu nước” không có đồng xu dính túi thảy đều ngơ ngáo nhìn anh Sáu Vi có bằng nửa con mắt.

Đây là do “chánh sách dụ dỗ, tâng bốc” của Năm Quang tức Trần Bạch Đằng từ trước tới nay. Do cái chánh sách này mà mỗi ông bà “trí ngủ ” Sài gòn có cả tiểu đội hoặc bán tiểu đội phục vụ. Chúng sống như tiên. Có lẽ ở thành, chúng nó cũng không được như thế. Tối rượu sâm banh sáng sữa bò đều đều. Giải phóng quân phải giặt quần áo cho các mụ là thường, nói gì chuyện nấu bếp rửa chén, xách dép?

Riêng cặp uyên ương Dương Quỳnh Hoa và Hai Nghị cần phải có chỗ làm tình nên giải phóng quân phải nai lưng ra đốn cây cất nhà dừng vách bốn phía và làm phòng “tân hôn” cho chúng nó ra rít với nhau, trong lúc Giải Phóng quân thì ngủ võng muỗi cắn sốt rét thấy mẹ, còn ăn uống thì muối và gạo ẩm muôn năm.

Trịnh Đình Thảo đi đâu thì Giải phóng quân phải khiêng như quan thái thú đi kiệu ngày xưa. Chuyện phục dịch cái đám “trí thức” này không tả xiết.

Nhưng dưới trào của Dại tướng bần cố nông thì tất cả đặc ân đều bị cắt hết nhưng chúng đều xuôi râu xếp giáp không dám ho he. Hắn tuyên bố một câu xanh dờn thẳng mặt họ rằng :

– Các vị ra đây tiếp tay cứu nước, dân tộc ghi công. Nhưng trong lúc tình thế khó khăn này chúng ta phải cùng chịu gian nan như nhau, cán bộ cũng như chiến sĩ, trưởng cơ quan cũng như anh nuôi chị nuôi không ai được biệt đãi hơn ai. Nếu các vị không chịu đựng nổi, chúng tôi sẵn sàng và vui vẻ để các vị trở về sống tại cuộc đời cũ đáng hổ thẹn như những ai còn ngủ mê kia!

Bố bảo thằng nào dám phản ứng? Về lại Sài gòn ư? Có mà uống mật gấu mới dám? Do đó thời kỳ này Lữ Phương (Thứ trưởng bộ Văn Hoá sau này) được đưa về tiểu ban Văn Nghệ R. Công việc văn hóa duy nhất là nghiên cứu cách làm cho mấy con gà tự túc của hắn đẻ… trứng vàng. Còn Thanh Nghị chẳng biết viết lách gì thì được ở trên phát cho một chiếc xe đạp phế thải để chạy lọc cọc lán này qua lán khác.

Riêng bên quân sự thì cán bộ từ Đại tá trở xuống không được phép có cần vụ. Tướng chỉ được một. Còn từ Thượng tá trở xuống thì phải ôm AK (kèm K54) để chiến đấu khi có biệt kích tấn công bất ngờ. Lê Đức Anh đã đóng lon thiếu tướng thừa lệnh Sáu Vi khui kho súng AK phát cho mỗi cán bộ dân quân chánh đảng răm rắp.

Có một cú Sáu Vi chơi rất ngoạn mục. Cả dân R ai cũng biết và tán nhuyễn ra cười ngã nghiêng trong lúc uống trà. Đó là vấn đề ông trời con Tư Huệ, chánh ủy kiêm tỉnh độ trưởng Tây Ninh.

Tư Huệ trong kháng chiến tên là Nguyễn Việt Hồng , Trung đoàn trưởng Trung đoàn 300. Những năm 60-64, Tư Huệ sống như vua. Vợ chồng y có một Tiểu đội phục vụ. Ở rừng mà xa hoa hơn ở ngoài thành. Nghe Sáu Vi đến, Tư Huệ trà nước tiếp đãi anh Sáu rất đặc biệt. Anh Sáu không màng. Tư Huệ đem các món ngon vật lạ mua ngoài vùng “Ngụy” ra đẵi anh Sáu, anh Sáu cũng không ngó tới. Tư Huệ tưởng anh Sáu tới để thăng cấp cho mình, bèn than phiền rằng: “Các đồng chí dưới cấp tôi được đi tập kết, từ ngoài đó trở về đồng chí nào cũng trên cấp tôi. Tôi lãnh cấp Đại tá thì hơi hẹp bụng nhưng Trung tướng thì hơi cao!” Ý anh Tư nhà mình đòi một sao với cành dương liễu như Lê Đức Anh.

Anh Sáu bảo ngay:

– Cấp bậc chỉ là tượng trưng cho tinh thần chiến đấu không phải nấc thang để bám lấy mà hưởng lạc…

Anh Sáu đã tụng cho một hồi. Tư Huệ hết ý kiến.

Mấy hôm sau, Ban chỉ huy Tỉnh đội Tây Ninh được lệnh “đi nghỉ mát”. Riêng Tư Huệ Đại vương thì từ giã hoàng hậu trở về R làm lâu la dưới trướng của lũ đầu bò Bắc Kỳ.

Đau đớn thay!

Tất cả các cơ quan R đều hả hê và tỉnh Tây Ninh được nhận một Ban chỉ huy mới là Ba Tới và Hai Dương. Ngoài ra ông “xã đội” Kà Tum tức là Trung đoàn trưởng Huỳnh Văn Một có công từ thời chín năm ở mặt trận Rừng Sát, sau 55 phải trốn chui trốn nhủi trong rừng, sau Đồng Khởi rút về Kà Tum thành lập lực lượng võ trang và trấn giữ vùng này suốt năm năm (Đúng ra là QLVNCH coi như đồ bỏ không thèm để ý) nay lại được Sáu Vi cất nhắc cái vù.

Nghe đâu Sáu Vi phong cho Đại tá, nhưng Một không nhận, chỉ xin một trăm AK để cấp cho bọn lục lâm để chốngcác đồng chí Khơ-me đỏ quen thói ăn cướp hoa mầu của rẩy mình.

Với sự cải cách của Sáu Vi, các cơ quan R đã được giãn chính nhẹ nhàng. Đám cò ke lục chốt gom lại lập được một trung đoàn bổ sung cho Công trường 9. Hắn còn tống cả Trung đoàn Bảo vệ Căn cứ R của Tám Lê Thanh ra Công trường 5 và thuyên chuyển Lê Thanh về I/4.

Các độc giả hẳn còn nhớ trong cuộc chiến tranh Bắc Nam, tức chiến tranh ý thức hệ Quốc Cộng, cũng còn được gọi là chiến tranh chống Mỹ, có một “bà Thiếu tướng” không?

Đó là bà Nguyễn Thị Đinh, dân Bến Tre, hồi chín năm chống Pháp làm đoàn trưởng phụ nữ Tỉnh. Chính Sáu Vi cất nhắc bà Định một cách bất ngờ.

Trong một cuộc họp gồm toàn thể bọn xôi thịt Sè-goòng, bọn đầu sỏ các Tỉnh, bọn Tướng đầu bò Bắc Kỳ, Sáu Vi đã tuyên bố quyết định đề bạt “đồng chí Ba Định” giữ chức “Phó Tư lệnh Quân giải Phóng Miền Nam.”

Các tên đực rựa, các mụ nái sề mang danh trí thức tiến bộ yêu nước của Miền Nam, các tên lưu manh đội lớp thầy tu, các tên khoác áo cà sa mang dép râu dùng cánh sen che bộ mặt đỏ loét, các tên luật sư thất nghiệp, các tên viết văn tịt ngòi, có cả tên can phạm hãm con nít được xách đầu lên ghế chủ tịt Mặt Trận nữa v..v… Tất cả, tất cả, đều gục mặt không dám ngó lên.

Bọn này tưởng Sáu Vi sẽ cất nhắc chúng nó vào ghế cao chức lớn, nào ngờ hắn lại cho một mụ đàn bà chữ không đầy lá mít ngồi trên đầu chúng.

Có thể điều này làm cho chúng bất mãn kinh hồn. Bằng chứng là sau Tết Mậu Thân một trong những thành viên Trung Ương của Mặt Trận là kỹ sư Hồ Văn Bửu đã dông về thành thú tội với chính phủ Sàigòn.

(Sau 75, Hồ Văn Bửu đã bị bắt cải tạo ngót sáu năm và khi được thả ra sống không hộ tịch. Nghe nói đã vượt biên. Không biết có đúng không?)

Chương 13

Lễ lộc của nhà Cộng thì cái nào cũng giống cái nào. Diễn văn khai mạc. Hoan hô. Báo cáo thành tích láo. Hoan hô. Cảm tưởng nịnh hót của đại biểu. Hoan hô. Huấn từ của Hồ chủ tịt. Hoan hô dữ dội. Hứa hẹn vượt kế hoạch nhà nước năm trăm phần trăm. Hoan hô kịch liệt. Hội nghị bế mạc thắng lợi hoàn toàn.

Cái “lễ mừng công” pháo kích Biên Hoà này cũng nằm trong công thức muôn năm đó. Không có gì hấp dẫn. Chỉ có một điểm tôi cần ghi lại đây là tôi không hiểu tại sao các tên nhà tu Hồ Huệ Bá, tên thầy chùa lỗ mũi trâu Thích Đôn Hậu và ông Phối sư một mắt Phạm Văn Ngởi bỏ Chúa, Phật, Đức Chí Tôn mà thờ thằng Dao Mác? Bỏ nhà thờ, bỏ chùa, bỏ thánh thất mà theo lũ quỷ đỏ? Chính hồi đó tôi thấy nhờm và tởm quá nhưng không dám nghĩ nhiều. Quả Hà Nội có tài bịp siêu đẳng. Còn đám văn sĩ bác sĩ kỹ sư như Lữ Phương, Thanh Nghị, Dương Quỳnh Hoa, Trương Như Tảng thì học lóm mác-xít được mấy trang mà mê muội vậy. Bây giờ (1991) sau hai mươi bảy năm (1964-1991) phụng thờ tên Râu Xồm đã ngã ngửa ra chưa ? Nếu chưa thì xin phép sang Liên Xô xem cái mặt Stalin ở Kreimlin văng mất cáí lỗ mũi và sang Roumanie xem phim Bucharest dân treo cổ Lénine. Còn con mụ Qùynh Hoa, ngồi phải cọc giải… phóng có êm không mà cười tươi như mếu vậy. Ngài Tôn Thất Dương Kỵ (và ba ngài nữa) sau khi bị tống qua cầu Hiền Lương sống với xã hội chủ ngãi ra sao, sao không viết hồi ký cho đồng bào toàn quốc đọc chơi?

Thôi bỏ mẹ cái đám theo voi không được hít bả mía đó vô giỏ gà toi cho rảnh mắt. Bây giờ xin đi vào cái hậu trường của “lễ mừng công”, nó dzui hơn cái bộ mặt tiền của nó nhiều.

Sau phần văn nghệ, các ông bà đại biểu cũng như đoàn anh hùng 69 chúng tôi và văn công giải phóng cuốn màn rút lui nhanh vì sợ B52. Ngồi dự lễ và xem văn công ai cũng phập phồng, mặc dù bốn phía có trạm gác xa trạm gác gần nhưng làm sao mà chui cho kịp với B52. Vả lại không có hầm hố gì hết. Quân ngũ nào mà đào hầm núp cho đủ một ngàn người ?

Lúc nãy tôi đã để ý thấy một vai kịch đóng bà già có dáng quen quen. Tôi chen vô hội trường để tìm. Thì ra đó là anh Bảy Thiểu, một trong những người hướng dẫn Ban Rùm Beng của Trung đoàn 300 hồi 1947-1948 ở Rừng Sát – Lý Nhơn.

Anh Bảy hình như là anh của Tám Củi ở Văn Công Nam Bộ đang đóng tại Hà Nội. Anh suốt đời mê sân khấu. Những người cùng lứa tuổi với anh thời đó đã bỏ về thành hết rồi trong số có nhạc sĩ Văn Lương, nhưng anh vẫn còn mê cách mạng. Theo Văn Công anh chỉ đóng những vai phụ. Công việc chính của anh là dàn cảnh hóa trang và ánh sáng.

Bây giờ anh già sọm trông thê thảm quá ! Lại có dắt theo thằng con trai mười hai tuổi để hụ hợ những vai kịch thiếu nhi giải phóng. Thấy tội nghiệp và biết anh cần súng nên tôi cởi cây P38 quàng ngang lưng anh: “Tặng anh đó, anh Bảy!”‘

Bảy Thiểu cảm động muốn khóc. Anh không ngờ tôi đã trở thành anh hùng được mọi người nhìn ngó, được các ông bà trí thức Sài gòn tấm tắc khen và được các em nữ sinh Sàigòn mới vô khu bu lại hỏi chuyện thiếu chút nữa thì bắt xác luôn. Bỗng tôi nghe tiếng eo éo từ góc hậu trường:

– Anh Hai, còn nhớ em không ?

Tôi quay lại.

– Kim Chi trường Miền Nam nè!

– Vậy hả?

– Anh nhớ chị Ánh Tuyết chớ đâu có nhớ em làm chi !

– Hồi nãy em đóng vai gái bán bar chớ gì! Anh nhận ra ngay mà !

– Vậy mà hổng tìm người ta!

– Hồi anh xuống Hải Phòng đến trường 6 trường 8 hoài chớ sao không tìm!

– Người ta ở trường 4 mà !

– À vậy hả?

Thấy cườm tay cô bé tròn trỉn lại đeo đồng hồ thớt cối đá của Liên xô, tội nghiệp, tôi nói ngay.

– Cổi liệng đi , anh cho cái Wyler nè ! Còn bắt lỗi hết?

– Rồi anh lấy gì đeo?

– Anh không cần.

Tôi cởi chiếc đồng hồ trên cườm tay sốt rét hơi vàng nhưng còn mềm mại của Kim Chi. Tôi ném cái đồng hồ xuống góc sân khấu rồi cởi đồng hồ của tôi đeo cho nàng.

– Đừng trách anh nữa nghe… cưng!

Kim Chi ôm choàng lấy tôi hôn một phát nóng ran trên mặt giữa sự ngạc nhiên của mọi đào kép giải phóng.

– Chừng nào về Rạch Giá?

– Chừng nào anh về, em về chớ biết chừng nào mà hỏi?

– Chồng con ra sao?

– Thì cũng vân vân… chịp… thôi, anh đừng hỏi. Còn anh có gặp chị Ánh Tuyết không?

– Cô ấy đi học gì bên Trung Quốc! Anh có gặp ở Hà Nội.

– Chừng nào ăn trầu cau cho em hay nghe!

Bỗng có tiếng gọi từ bên ngoài.

– Lôi ơi, ra đây có người gặp.

Thì ra ông Hai Nhơn, ông thầy văn hóa, thầy âm nhạc, thầy đời của tôi từ xưa cùng tuổi với anh Bảy Thiểu. Anh có Tú Tài trước 45, đi theo kháng chiến mút mùa, làm chánh văn phòng Tiểu đoàn Lý Chính Thắng của Ba Thắng. Tập kết ra Bắc không ngóc đầu lên nổi. Đã bảo mà, trí thức cỡ Phạm Ngọc Thuần, Phạm Văn Bạch còn nhẹp xác, Hai Nhơn ăn thua chi. Đã là trí thức lại có made in Nam Kỳ Quốc nữa thì bỏ mạng sa tràng như không. Hai Nhơn mới đóng lon Thiếu úy, dưới thằng học trò cứng đầu này những hai cấp! Anh bảo:

– Anh Ba Thạnh kêu mày vô trỏng ngủ với ổng ?

– Trong nào?

– Ở đây là địa điểm làm lễ, xong rồi ai về cơ quan nấy. Chánh trị về Cục Chánh trị, Tham Mưu về Cục Tham Mưu còn ổng về trong Bộ Chỉ huy. Thôi đi theo tao mau lên để đèn điện tắt không thấy đường mò.

Tôi tạt ngang nhà quảy ba-lô và cho Ba Hải hay rồi đi với Hai Nhơn. Tôi hỏi.

– Anh về hồi nào?

– Hồi nào cũng được, hỏi làm mẹ gì, người sau kẻ trước lao vào giặc sốt rét. Ký ninh mỗi sáng nuốt hai viên thôi.

– Anh ở trong với mấy ông kẹ à ?

– Tao dạy văn hóa cho mấy chả !

– Anh ốm yếu vậy, đi có nằm đường không ?

– Nhờ tao biết thân nên đem theo một bọc Salicylate nếu không thì nằm lại bón gốc sắn ở khu 6 rồi. Còn mày, nhờ đi máy bay hay tàu lặn mà vô đây coi còn khớ tụi con gái bu dữ vậy?

– Đi tàu bò và tàu… lết. Sách đâu mà anh dạy?

– Sách trong bụng chớ đâu. Các ông nội có ông nào học hết lớp 5 đâu mà cần sách. .

Đèn điện bỗng nhiên phụt tắt. Máy nổ ngưng chạy. Rừng trở lại im văng, cái im vắng rợn người . Hai Nhơn lấy diêm quẹt bật lửa đốt cái đèn chai xách tay tự nãy giờ rồi đi tiếp. Tôi hỏi:

– Nhưng ông nào bị ông giáo Nhơn khõ đầu?

– Nguyễn Hồng Lâm là Rừng đỏ Hai Bứa, cục phó Cục Tham Mưu. Nguyễn Chí Sinh mũi to như cái ống cống vừa đánh Nậm Thà bên Lào cũng vừa vô đây. Ba Thạnh bây giờ đổi tên là Ba Thắng dân cu-li hãng xăng Nhà Bè của mày, toàn là dân khu 7 cũ. Thiếu Tám Nghệ. Nghệ bây giờ đổi là Tám Ngã bị cho đi làm kinh tài kiếm “rịa” Miên. Nghe nói Trần Thắng Minh chủ tịch nông trường Lam Sơn Thanh Hóa cũng vô rồi làm Tổng Cục Giao Bưu.

– Đúng! Tôi có gặp ông ở giữa đường.

– Còn mấy ông Độ, ông Tấn, ông Trà, ông Nam không biết chữ nghĩa ra sao nhưng không chịu học. À mà Đồng Văn Chuột cũng mới được vô đây lãnh chức Phó Tư lệnh số 7. Bên cạnh đó còn có bà chỉ huy trưởng đội quân đầu tóc Bến Tre cũng lên làm Phó Tư lệnh (số 8) tức là dưới cùng của Bộ chỉ huy. Bả cũng chẳng học hành gì.

Nghe giọng nói cà rỡn của Hai Nhơn, tôi biết anh bất mãn cao độ. Tôi hỏi:

– Sáu Nam là ai mà nghe lạ hoắc vậy?

– Lê Đức Anh, lão cao nghệu mặt rỗ lấy bà đoàn trưởng Thủ Dầu Một đẻ con gái đầu lòng năm kí lô mày quên rồi à?

– Ai chớ lão đó tôi quên sao được. Tay đó chuyên môn ăn chè đậu đường cát mỗi bữa trưa. Lần nào tôi đem bản mật mã qua cho lão cũng gặp lão húp chè rả rít.

– Ừ, hảo ngọt một cây, tiếng tăm còn rền hơn cả chức Tham mưu trưởng.

– Lão làm gì?

– Cũng lại tha mu… trưởng. Hồi nãy tôi thấy cậu ngồi trước ông Sáu Vi ổng quèo cậu nói chuyện gì hung vậy?

– Ối ! ổng hỏi đủ thứ từ cơm gạo đến vệ binh vệ biếc. Cuối cùng khuyên tôi lập công dâng đảng.

– Mày vô trỏng mà coi. Một cái triều đình không mũ mão được thiết lập ở giữa rừng hoang mà vua chúa đều là dân Bệ Ka . Đi đâu cũng không thoát! Địt mẹ ! Tao về được nhà tao nghỉ luôn. Đéo có đi nữa! – (Anh biết tôi là thằng học trò chân thành không đời nào đi báo cáo kiếm điểm. Vả lại cơn bất mãn đã lên quá cao, phải xì hơi ra mồm) – Từ Thượng tá trở lên thì ăn riêng ngủ riêng có bếp riêng, cơm nước được cần vụ bưng tới miệng. Trung tá ở nhà riêng nhưng hai tên một cái chia làm hai phòng cũng cơm bưng nước rót. Từ Trung tá trở xuống thì phải đi vác gạo, bửa củi. Còn từ Thiếu úy xuống binh nhì thì ăn cơm với lạc rang bí rợ hầm. Tao chán thấy mẹ rồi. Muốn xin đi công tác xuống các tỉnh mà họ không cho đi.

– Ông Bốn Sao vô, không khá hơn chút nào sao?

– Khá gì mà khá. Cũng cái lối huyện binh huyện phủ binh phủ thôi. Ổng còn siết cửa ngỏ chặt hơn trước. Tức là cơ quan này không được qua cơ quan kia. Không được gặp nhau nói chuyện khách quan tư sản.

– Ông Ba Thắng làm gì trong đó?

– Sơ khởi thì làm đầu, ít lâu thì tuột xuống làm mình, khi thành công thì làm đuôi. Đó là qui luật biện chứng ngáp của dân Nam Kỳ nhà mình. Để rồi mày xem nay mai mà cuộc chiến tranh này kết thúc thất bại hay thắng lợi thì lon gáo cũng tụi cá rô cây rau muống luộc nẩng hết thôi, chớ dân dưa hấu chẳng được xơ múi gì. Tới bây giờ có tên nào lên được Tướng đâu. Mấy tên có học thức như Huỳnh Văn Nghệ thì lại dìm xuống tận đất đen cho làm Trưởng phòng thể thao thể dục Quân đội trong lúc đó cùng calíp với y thì đứa trung tướng đứa thiếu tướng, như tên Chè, trung tướng Thứ trưởng Quốc phòng kiêm luôn cả Hiệu trưởng trường Lục quân. Hắn biết quân sự bao nhiêu mà dạy người ta chứ? Đấy mày coi, trong đám đầu nậu này có tên nào Nam Kỳ đâu. Toàn những phó cối phó nháy phó may cho dân mình, còn trên ngai vàng thì vẫn chễm chệ một tên cá rô cây.

Trên đường đi có rất đông người, đi một lúc thì họ rẽ về cơ quan nên thưa bớt; còn tôi và Hai Nhơn đi thẳng một mạch theo con đường lớn. Trước mặt chúng tôi có tiếng cười nói hí hửng của một đám con gái. Tôi níu Hai Nhơn đi sụt lại sau vì sợ chúng nó nghe cái giọng bất mãn của anh.

Hai Nhơn cứ thao thao như không sợ ai:

– Tao biết vầy thì tao đâu có đi tập kết. Ở nhà bây giờ có khi còn được trọng vọng hơn.

– Anh nói sao?

– Bạn bè của tao làm Bộ trưởng, Giám đốc Kỷ sư cả. Có thằng làm tới Trung tướng. Trong đám trí thức Sài gòn, vô đó, có thằng bạn “ca-ma-lố” của tao ở Taberd, nhưng tao đâu có dám nhìn. Tao được danh dự bưng nước cho quan khách giải khát mà ? Lộ cái mặt ra thì bể cách mạng quá làm sao! Hóa ra thằng trí thức đi theo đảng hai mươi năm được đảng phong cho chức bồi bàn. Do đó tao lánh mặt.

– Anh chưa vô đảng à ?

– Còn lâu ! Đâu có ai nhắc tới thằng giáo viên quèn này mậy!

Đi được một khúc tôi nghe mùi khét lẹt. Đường mòn ôm quanh một hố bom nhỡ. Tôi hỏi:

– Gì nghe giống mùi bom napalm quá vậy anh Hai?

– Thì đó chớ gì! Napalm lẫn bom miễng.

– Lộ rồi à ?

– Không biết! Nhưng tháng rồi nó lia cho mấy loạt rồi bay luôn. Không biết thằng phi công say rượu làm bừa hay nó thấy đèn đóm khói khiếc gì mà ném như vậy?

Bỗng nhiên tôi hỏi:

– Anh còn nhớ hai anh gì ở Ban Rùm Beng của mình hồi trước không anh Hai?

– Hai đứa nào?

– Hai anh hay cãi nhau về Mác Xít bằng tiếng Lang Sa đó. Một anh bảo là vật chất có trước, tinh thần có sau. Anh kia bảo vật chất có sau, tinh thần có trước.

– À thằng Chín Thỉ và thằng anh em cột chèo của nó. .

– Họ đâu cả rồi?

– Sau khi thằng U Đa xuống miền Tây dưỡng bịnh, hai đứa về thành cùng với nhạc sĩ Văn Lương. Cái thằng bảo vật chất có trước nằm trong đám trí thức Sàigòn tao kể lúc nãy. Tao không cho nó gặp mặt là thế đó.

Đi một chập thấy một toán vệ binh mang súng ống lình khình đi ngược chiều. Hai Nhơn bảo:

– Tụi nó đi săn.

– Ở đây cũng được săn thú à?

– Không ! Đây là đội săn chuyên môn. Chúng săn đường dài. Có khi đi một chuyến hai ba tuần. Săn được thịt xẻ ra, muối, phơi ép rồi mang về đây. Chớ ở vùng này mà nghe nổ một phát súng là tụi “cấm vệ quân” nó truy lùng cho kỳ ra manh mối.

– Cấm vệ quân à?

– Bây giờ không phải cục muối chia làm hai như thời kháng chiến chín năm ở Rừng Sát nữa đâu mày ơi ? Hồi đó cực khổ mà vui. Cả chỉ huy lẫn lính ăn chung ngủ chung. Một nồi cháo loãng nấu với một lít gạo, một ôm rau sam xăng quần lội qua mà húp ngọt như đường phèn. Còn bây giờ chỉ huy không bao giờ thấy mặt lính. Giống in như dinh toàn quyền vậy mày ơi! Không có Ba Thạnh kêu tới Tết âm lịch Công Gô mày mới vô được tới đây. Tao sở dĩ được ở trong hoàng cung là vì làm chức quân sư quạt mo, gõ đầu mấy tên già học chưa hết ê-lê-măng-te chớ chẳng phải họ quý gì tao. Thịt rừng đem về cung cấp cho các bà hoàng ông hoàng ở trong cung cấm đó.

– Ông hoàng thì phải rồi, còn bà hoàng nào? Chẳng lẽ bà Hoàng Lào? Anh biết bà Hoàng đó không?

Hai Nhơn cười hề hề:

– Mày cũng biết vụ bà hoàng đó lẹo tẹo với ông Tướng Râu Quặp nhà mình ở Hà Nội nữa à?

– Thằng nhóc con này chuyện gì mà không biết anh Hai ! Anh biết tại sao tôi rõ vậy không ? Là vì tôi suýt làm rể của ổng mà. Nhà ổng ớ đường Quan Thánh chỗ tờ báo Việt Hoa chớ đâu. Tôi vô đó hoài thôi. Mấy lúc sau này, trước khi đi B, tôi đến dẫn đám em vợ hụt của tôi đi ăn quán luôn. Chả là tôi được lãnh ráp-pen ba tháng một lúc mà. Do đó tôi rành hết. Bà Hoàng chưa đến năm mươi mà ! Bả ăn toàn thịt bò, thịt cừu Mông Cổ và uống sâm Triều Tiên nên chịu sao thấu. Mà ông Hoàng thì bận công tác ở cánh đồng Chum bên xứ Vạn Tượng. Hì hì!!! Ở bên đó thì quá nhiều Chum nên ổng không ngó ngàng gì tới cái Chum bỏ quên bên Hà Nội. Do đó ông râu quặp nhà mình săn sóc giùm cái Chum của ổng bên này.

– Có lính gác, ổng làm sao oánh du kích được tài vậy?

– Bà Hoàng vác Chum tới chớ. Ông Râu quặp nhà mình phụ trách Ban liên lạc Việt Miên Lèo của Trung ương mà. Bả đi vô dinh của ông với tư cách đảng viên Neo Lào Hắc Xạc chớ phải là thường dân Lào đâu mà sợ người ta dòm ngó ? Mà dòm thì dòm, ngó thì ngó, bả có ông râu quặp bảo kê tú-rít, lính nào dám hó hé? Chỉ có vợ ông râu quặp biết thôi. Bà vợ rất bất bình. Vì hai lý do. Lý do thứ nhất là bả không còn làm chức năng người vợ trong gia đình nữa mà là con ở nấu cơm cho ông tướng. Lý do thứ hai là… vậy đó.

– Mày không có phịa chứ?

– Tôi phịa với anh mà té vàng té bạc gì anh Hai. Chính tôi cũng bất bình dùm bả nữa mà ! Bả không ăn khẩu phần của ổng . Ông bà ăn riêng mâm mà. Bả được trả lương bốn mươi lăm đồng một tháng.

– Lương gì?

– Lương chị nuôi, lương nấu bếp cho ông Tướng mà ông Tướng đó là chồng của chị bếp.

– Kỳ cục vậy ?

– Kỳ cục nhưng tôi biết đó là sự thực. Chính vì thế mà mỗi tối thứ bảy tôi phải đến kèm văn hoá cho bả để bả đủ tiêu chuẩn xin dạy ở trường Miền Nam Hải Phòng.

– Tao biết lắm chuyện đời nhưng chưa bao giờ tao nghe một chuyện như vậy.

– Chưa hết đâu anh Hai ơi! Trong khu nhà Việt Miên Lèo ở đường Quan Thánh còn có lắm chuyện ma quái nữa cơ. Anh biết cái tên Thổ lai Sóc Trăng tên là Sơn Ngọc Minh không?

– Nhớ chớ. Hồi kháng chiến nghe đài mình tuyên truyền rùm beng mà .

– Hồi năm 1951 mình mở chiến dịch Xẻo Me ở Miền Tây đánh vô vùng Miên ở huyện Thạnh Trị để gây thanh thế cho Sơn Ngọc Minh nhưng trung đoàn Tây Đô của ông Huỳnh Thủ bị banh trê chết bỏ xác trong các sóc Miên lấy không được. Hình Sơn Ngọc Minh được in ngang với hình Hồ Chi Minh trên những tấm truyền đơn bươm bướm rải cho Thổ xem. Nhưng tụi Thổ Sóc Trăng biết ngay tên Thổ Sóc Trăng nên nó đâu có nhận là vua của nó.

– Rồi sao?

– Hắn được nuôi như cu cu ở trong một cái biệt thự ở bên cạnh biệt thự bà Hoàng Lèo. Vợ Sơn Ngọc Minh một hôm hô hoảng lên mất chiếc nhẫn hột xoàn và đề quyết con nhỏ ở lấy. Con nhỏ tức mình treo cổ ngay trong dinh. Sơn Ngọc Minh sợ ma bắt bèn xin dời. Hình như xuống Hàng Chuối thì phải.

– Còn bà Hoàng Chum?

– Bà Chum vẫn còn ở đó thỉnh thoảng lại vác chum tới cho ông Tướng quặp thành phần đại địa chủ đóng tô. Hè hè … Đây là chuyện bí mật trong cung cấm tôi nói cho anh nghe chơi rửa cái lỗ tai, đừng thuật lại với ai nghe ! . . .Nè , một thằng bạn bác sĩ của tôi làm ở Bệnh viện 108 nói rằng nó đã từng khám bệnh thấy nhiều chum hũ dữ lắm, nhưng nó chưa hề thấy cái nào đẹp bằng cái của bà hoàng Lèo.

– Bộ có sơn phết vàng hả? Hố hố…ố!

Thấy phía trước mặt có ánh đèn dừng lại và có tiếng cãi cọ Hai Nhơn bảo:

– Cửa ngọ môn ở trước đó !

Chúng tôi đến thì thấy toàn một bầy tiên nữ xiêm y láng mướt, màu sắc lòe loẹt. Tôi nhận ra đây là các cô phục vụ lúc nãy. Các cô bị chận lại trước một cái cổng gỗ hẹp, hai bên có rào tre tua tủa như rừng chông. Anh lính mặc ka-ki vàng súng AK hẳn hoi đứng trong chòi gác giống như ở trạm cửa Đông của Bắc Bộ Tổng Hà Nội.

– Cô nào không có giấy ra vào thì ở lại đây.

– Chỉ có chị Thanh Tuyền là con bác Sáu Nam không có thôi!

– Tôi không biết con ai cả. Lệnh là lệnh!

– Anh cho mượn phôn gọi vô ba em được không?

– Phôn để công tác không phải để dùng vào việc cá nhân.

Hai Nhơn bảo:

– Mấy cô về trước báo cho tía nó dùm chút.

Các cô đi qua mũi súng AK. Hai Nhơn bước tới chìa giấy và nói:

– Đồng chí này là anh hùng pháo binh, ông Ba Thắng kêu vô làm việc.

Anh lính rụt chân chào nghiêm rồi nói:

– Tôi có được lệnh lúc nãy.

Thế là tôi và Hai Nhơn đi qua. Được một quảng, Hai Nhơn quay lại như để chắc bụng rằng mình đã đi xa có nói gì tên lính gác cũng không nghe, rồi bảo tôi:

– Mày thấy tao nói có đúng không? Cả một hoàng cung ở trong này. Hổng chừng còn nhiều chuyện ly kỳ hơn chuyện bà hoàng Chum ở khu Việt Miên Lèo của mày ở ngoài đó.

– Ở trong này có đàn bà con gái nữa à?

– Thì con gái đó, mày không thấy sao? Tụi nó là dân học sinh ở ngoài thành. Con ốm ốm là con Trúc Mai, con tóc kẹp là con Hồng con hiếc gì đó tao không nhớ tên. Chỉ biết mỗi đứa đánh máy riêng cho một ông. Ở trỏng còn đông lắm. Có cả bầy tiên cô có thể lập một đội bóng chuyền.

– Rồi đánh với ai?

– Đánh với đội già dềnh chú bác !

– Ai thắng ai?

– Mấy cháu thắng chớ đám đầu bạc làm một quả là hắc hơi bể trời thắng sao nổi mà thắng! Nhiều chuyện vui lắm. Mày không ở trong này mày không biết đâu. Hì hì, mày mà lọt được vô sân bóng thì tha hồ mày “đập” và “bỏ nhỏ” !

– Mà sao đám đó được vô trong này vậy anh?

– Đó là con cháu mấy ông kẹ hoặc ở bên Mặt trận, hoặc bạn bè cũ của mấy thằng “trí ngủ” làm việc ở Sài gòn mà lại đón gió Cách mạng nên gởi con cháu vô trước để xí phần về sau. Khôn vậy đó! Nhưng chưa chắc! Gởi trứng cho ác mà không hay!

-Tại sao?

– Để rồi mày sẽ hay, bây giờ không nên nói sớm. Mày có con mắt tinh đời mày nhìn đó cũng biết lựa là tao phải nói. Tao hỏi mày, gà trống gà mái nhốt lộn lạo một chuồng như vậy được không? Ba Thắng là Cục phó Tu Hú, được cấp một cái nhà riêng, có phòng ngủ, phòng làm việc và phòng tiếp khách. Ăn uống theo chế độ tiểu táo, có bếp riêng có người nấu bếp riêng mày ơi ! – Hai Nhơn thở dài – Đi làm cách mạng vậy cũng nên đi chớ mày! Ngày trước y làm cu-li ở hãng Shell Nhà Bè bị chủ đá đít cú đầu, bây giờ đi theo cách mạng lên địa vị chỉ huy không ai dám đá đít cú đầu, còn tao ham vui lót tót đi theo, cầm đèn đỏ trên con tàu cách mạng, từ trí thức tuột xuống cu-li. Gần hai mươi năm không biết vợ con mồ mả ông bà. Kể ra theo cách mạng cũng sung sướng lắm!

Tôi muốn nói lãng, để xóa bớt giọng bất mãn của Hai Nhơn nên bắt chuyện khác:

– Ông Ba Thắng về rồi có móc vợ con lên không anh?

– Chị Ba là người hiền thục. Ảnh đi chiến đấu, chỉ ở nhà tăng gia sản xuất. Hồi kháng chiến có lúc ảnh đau ruột dư về nằm lén trong vùng Pháp chiếm đóng để mổ, chỉ lên nuôi cả tháng. Sau đó lại theo ảnh, làm công tác nuôi heo tự túc cho đơn vị.

Hai Nhơn nói:

– Tao không nghe vụ móc vợ con của y. Bả bây giờ tóc cũng bạc hết rồi. Móc lên làm gì. Thằng chả ở đây có người cơm bưng nước rót, móc lên coi đâu có hạp!

– “Tào khang chi thê bất khả hạ đường” mà anh!

Hai Nhơn cười khảy:

-Tào cái con mẻ ! Tào lao thì có. Mày nên nhớ điều này. Tao đã quan sát gần hai mươi năm rồi. Những thằng luôn luôn lải nhải dạy đạo đức cho người khác toàn là những thằng thất đức. Tao nói vậy có vẻ quơ đưa cả nắm nhưng không sai bao nhiêu. Thằng già nào cũng muốn gái mười tám. Thằng Bắc Kỳ nào vô Nam cũng đã có vợ rồi nhưng còn quơ thêm một bà nữa. Có đúng không? Bây giờ cũng vậy. Tao không nói đâu xa, ở ngay cái ổ điểm đực mà người ta thường gọi là Bộ Chỉ huy tối cao Quân Giải phóng này này, ít ra cũng ba bốn tên sống theo kiểu đó . Nếu không thì cũng ăn vụng công khai không cần chùi mép. Trước nhất là thằng cha Thủ trưởng của mày. Hắn ở ngoài Sơn Tây đã làm một tên ma cô mang tiếng khắp cả thị xã phải không? Tao dạy văn hóa cho F338 tao còn lạ gì.

– Vụ đó tụi này giàn xếp êm cả rồi anh ạ !

– Êm theo kiểu chìm xuồng chớ gì? Kế đó là thằng mặt rổ Sáu Nam.

– Là ai?

– Là thằng Lê Đức..Anh cục trưởng Cục Tham mưu. Anh chàng này có vợ ở Thủ Dầu Một hồi 46 phải không? Nó ra Bắc làm một vố bị báo Nhân Dân cảnh cáo.

– Vụ gì?

– Nó quơ cả một con nữ sinh Trưng Vương.

– Tôi nhớ là lão Võ Quang Anh Tư lệnh khu 9 chớ không phải lão ta!

– Tao biết chắc mà! Nếu không có vụ lùm xùm đó thì tại sao khi nó về trong này, vợ nó ở ngoài thành vô giao con rồi về luôn không nói một câu gì sau gần mười năm xa cách? Con nhỏ hồi nãy bị vệ binh giữ lại là con bé hồi sanh ra nặng năm kí lô đó.

Tôi giật mình đánh thót.

– Ủa vậy sao?

– Con bé ở chung với cha nhưng đâu có gọi bằng ba. Nó gọi là ông Sáu như tụi con gái khác. Đã có lần nó bảo thẳng với ba nó là hồi ở ngoài thành nó được má dạy dỗ theo gương ba nó nọ kia…Nhưng đến lúc ba nó lòi đuôi chồn nó ức quá, nó bảo: “Người cộng sản gì tồi vậy!”. Lão nổi doá tát cho nó một cái. Nó la lên đòi về thành. Lão phải năn nỉ nó cả tháng nó vẫn chưa nguôi đó.

– Vậy làm sao ổng yên tâm mà chỉ huy ai được?

– Còn một tên Bắc Kỳ xuất chúng nữa cơ. Mày mới về chưa có hay đâu. Mày còn nhớ tên Sơn Tiêu, Trung đoàn trưởng trung đoàn pháo F330 không?

– Ông ta lấy một bà đan len ở Hà Nội. Ra ra vào vào mùi mẫn liên tục. Suýt rớt lon rớt gáo vì con mẹ đó chớ gì?

– Mày biết một mà không biết hai! Đó là con mẹ tư sản goá chồng. Cái kiểu ông Ba Lắm Bình Xuyên mày biết không?

– Dạ không!

– Để tao nói cho mày nghe! Những chuyện này tao không bao giờ quên. Ba Lắm là tướng Bình Xuyên đi theo kháng chiến suốt chín năm, đánh cả trăm trận, lên đến Tiểu đoàn phó. Ra Bắc bị chuyển ngành vì ông ta lấy một bà tư sản goá chồng. Đó! Cả hai người đều bị tư sản hớp hồn nhưng thằng Bắc Kỳ thì chẳng có bị kỷ luật kỷ liếc gì trái lại còn được thăng cấp, còn thằng Nam Kỳ thì bị tổ chức qui là mất lập trưòng và cho ra rìa. Ba Lắm lên Lạng Sơn đốn nứa rồi về Bến Phà Đen thuê xe bò chở cây để sinh sống. Tao tìm đến nhà thăm chơi, ổng khóc ròng. Ổng nói:” Đéo mẹ! Ủy viên Trung ương mà lấy địa chủ có thằng nào dám phê bình, có chăng thì cũng cho là khuyết điểm về sinh hoạt, chẳng có gì đáng kể.” Mày thử xem có ông Trung ương nào lấy vợ bần cố nông hoặc thợ dệt thợ may không? Còn nếu lính Nam Kỳ mà quơ tư sản địa chủ thì lý lịch bị ghi mất lập trường. Thằng Sơn Tiêu về trong Nam không dám gặp vợ. Vậy mới ngộ chớ!

Tôi chưa kịp nói gì thì Hai Nhơn ngồi xuống, sửa ngọn đèn cho sáng lên rồi vừa đi tiếp vừa kể:

– Mày biết bà Mặn, Bành Xê Cu Đê Rừng Sát hồi chín năm chớ?

– Biết mạnh. Bả là con ông chủ tịch xã Long Thạnh chớ gì?

– Bả ở lại tranh đấu rất dữ dằn. Lãnh đạo đội quân đầu tóc dám lăn ra đường chặn xe thiết giáp đủ thứ. Ở tù hai năm bị tra tấn không khai. Cán bộ tố Cộng của Ngô Đình Diệm bắt ký tờ ly dị bả cầm bút đâm vô mặt tên cán bộ.

– Ghê vậy.

– Ê dân Nam Kỳ mà mậy! Mày nhớ hồi 46 có thằng bé tẩm dầu xăng đến cháy kho xăng Nhà Bè không? Rồi ba thằng nhóc leo lên lầu nước Thị Nghè treo cờ Việt Minh. Chơi tới gáo mà! Đó là bản chất dân Nam Cờ mình. Nhưng khi đã không khoái nữa thì quay 180 độ ngay. Như bà Mặn này vậy. Bả lên tới chức thưòng vụ khu ủy nghe mậy. Bả có thể sánh với bà Ba Định, sợ còn cao hơn nữa đó. Vì bà Định không có ở tù. Khi nghe tên Sơn Tiêu có vợ ngoài Bắc và sắp về, bả lên nằm ở đường dây chận ngang chờ gặp hỏi cho ra nguồn cơn. Mấy tay bồ bịch của hắn cho hắn hay, hắn vừa về tới trạm 66 là ở trên R cho đi thẳng xuống I/4 nhận công tác, không cho ông bà đối diện. Bả bây giờ nằm trong Bộ Chỉ Huy. Các chả đang tìm cách vuốt giận con sư tử cái nhưng bà ta nhất định đòi gặp mặt.

– Cái bà dân Rừng Sát này dữ quá!

– Không phải tại bả!

– Còn ông nào nữa tố luôn nghe chơi!

– Tao phải viết một cuốn sách mới hết. Còn thằng anh nuôi Ba Thắng của mày nữa!

Tôi sửng sốt:

– Ổng về đây chưa lâu mà đã lập thành tích rồi sao?

– Sắp sửa! Nay mai chắc chắn sẽ rơi hầm chông.

– Có mầm mống gì rồi à?

– Nhìn dĩ vãng biết hiện tại, khó gì! Mày nhớ hồi hắn học chính trị ở Hà Nội chớ!

– Nhớ rồi, chậc! Ổng cũng quá tệ đi, anh Hai!

– Ừ, tệ và tồi. Ai đời lấy vợ của thằng Đại đội trưởng dưới quyền mình. Đó là tệ. Rồi khoác áo anh nuôi của vợ nó để làm cho con nhỏ có bầu. Đó là tồi. Thằng Đại đội trưởng biết chắc không phải con mình nhưng ngậm miệng để được yên thân, để khỏi bị thiên hạ chê cười và để cho ông xếp mình lòn tiền về nuôi đứa bé. Thế nhưng sau đó ông ta vẫn được thăng cấp và cho về Nam làm Cục trưởng Cục Chính Trị quân Giải phóng. Mày ngửi có được không? Tao được y lên lớp về Cần Kiệm Liêm Chánh ít nhất là tám chục lần mày ạ!

– Anh vẫn học thuộc bài chớ !

Hai Nhơn tuôn một câu tiếng Pháp:

Làm theo tao nói đừng làm như tao. Tao không làm theo y đã đành nhưng tao cũng đếch nghe y. Vợ y già xọm, xấu xí y đâu thèm nhìn. Y đâu còn nhớ hồi xưa ai đã nuôi y đánh giặc, ai đã nuôi heo tự túc cho đơn vị y. Đó lại là một kiểu thằng cộng sản khác mà mày sẽ gặp và sẽ nghe nói nói nào là lập trường nào là lập công chốc nữa đây.

– Anh có gặp Bùi Thanh Khiết không?

– Về rồi, nhưng đi chỉnh huấn dưới trường Trung Sơ Bộ Binh. Hắn là thầy giáo làng, có chút ít trí óc nên ăn vụng quẹt mép rất tài. Mày biết hắn ra vô cư xá của bà Phụng má con Hải ở Ô Cầu Giấy mà! Từ Liên Xô về y cho con mẻ một cái xe gắn máy rồi vù vô Nam. Vợ y đang ở ngoài trại sản xuất. Hai đứa con gái sắp đưa ra Hà Nội để đi Liên Xô. Vợ y ở Sàigòn thầu cà-phê chín năm là mẹ cả tư sản nhưng lập trường của y vẫn tồng ngồng ra, đã không sứt mẽ tí nào mà y còn vác nó đi chấn chỉnh lập trường người khác. Mày coi có “lọa” không kia chớ. Hơn nữa tên sát nhân, tên bỏ thuốc độc cho đồng chí mình uống lại được tôn vinh là cha già dân tộc mày ạ. Dưới mắt tao đây là một sân khấu của những tên hề. Khổ vậy, tao chỉ mua vé có một lần mà phải xem suốt đời, muốn ngoảnh mặt đi mà nó cứ tiếp tục diễn.

– Anh nói làm tôi thối chí quá anh Hai ơi!

– Tao thối chí mất thần lâu rồi mày ạ nhưng lâu nay tao chẳng biết xì ra với ai, nay bất ngờ gặp mày ở đây mới mở xú-páp cho xọp bớt trái ba-lông vậy mà, chớ tao cũng biết tao chẳng có cách gì vùng vẫy được. Mà có vùng vẫy được thì rồi đi đâu? Đi đâu cũng không khỏi ba cái thằng trọ trẹ này. Rồi sẽ có cải cách ruộng đất, có hợp tác xã đói thấy mẹ cả đám mà vẫn phải hoan hô rầm rầm cho mà coi.

Hai Nhơn dừng lại và bảo:

– Tới trạm gác rồi kia.

– Trạm gì mà trạm hoài vậy?

– Đây là trạm cuối cùng. Nó nhìn mặt thôi không coi giấy.

Thấy Hai Nhơn, anh lính gác cho qua nhưng còn hỏi “anh nào kia?”. Hai Nhơn đáp:

– Khách loại A1 của anh Sáu. Ổng đã điện cho trạm ngòai rồi!

Đi một chập nữa, Hai Nhơn hỏi:

– Mày tính ngủ với thằng chả hay với tao?

– Anh đi với tôi vô coi ổng bảo gì thì bảo rồi tôi về ngủ với anh. Ở chung với mấy cha lớn tôi không quen. Anh biết tôi là thằng học trò lai chăn trâu mà anh Hai, sống với giai cấp cao sang không hợp.

Hai Nhơn dắt tôi đi thẳng vô nhà Ba Thắng. Anh kêu to:

– Khách của anh vô tới nè, anh Ba!

Ba Thắng bước ra ngay:

– Tao chờ mày tự nãy giờ. Vô! Vô!

Nhà có phòng nọ phòng kia, vách vừng kín mít như nhà ở đồng bằng. Trên bàn để một cái đèn bảo ngọn to soi sáng cả nhà.

Ba Thắng giống như một con vượn già, mặc áo thun ba lỗ, tay chân lòng khòng, thân người dài thờng, đầu húi ngắn, tóc đã bạc hoa râm.

– Tao gặp mày lần cuối cùng…

– Vào năm 58 trước khi anh đi Trung Quốc!

Ba Thắng vồn vã mời tôi và Hai Nhơn ngồi hút thuốc. Chập sau một cô gái tay bưng một mâm nào ly cốc pha lê, nào hũ đường và muỗng sắt trắng tinh, tay xách phích nước sôi vỏ tre đan. Tôi hơi giật mình khi cô gái vừa xuất hiện . Ba Thắng nói ngay:

– Con gái ông chủ tích xã Bình Khánh của mình mày nhớ không?

Tôi nhớ ông chủ tịch xã Bình Khánh hồi chín năm nhưng không nhớ cô nào, nhưng cũng gật đầu cho qua. Ba Thắng đãi chúng tôi cà-phê sữa.

– Ở đây chơi rồi mai vào Cục làm việc.

– Ủa! Còn cục nào nữa anh Ba?

– Cục Tham Mưu của ông Sáu!

– Ông Sáu Vi hả?

– Không, Sáu Nam tức là Lê Đức Anh.

– Dạ.

Ba Thắng hỏi thăm việc móc gia đình của tôi. Tôi cho biết tôi đã nhờ móc nhưng móc bị quác. Ba Thắng nói:

– Không sao. Tao có móc đặc biệt cho mày.

Tôi hỏi:

– Bộ anh vô đây bằng tàu lặn hả anh Ba?

– Còn mày?

– Tôi lặn hụt nên đi tàu bò suýt chết.

– Tao phải lội từ Trà Vinh lên đây. Đi tàu cũng khỏe nhưng ớn lắm. Ở giữa tàu có đặt một tấn TNT, hễ gặp giặc là châm ngòi để phi tang! Ông Bảy Đậu đi trước tao một tháng. Hai Khiết cũng về đây rồi. Hai ổng đi chỉnh huấn ở trường Trung Sơ. Sáng mai tao sẽ đưa mày đi CLB gặp dân Trung đoàn 300. Có tên Bắc Kỳ Hai Lơn ở C2694 nữa. Nó cũng ở Liên Xô mới về. À, có cả Hai Bứa nữa. Chỉ thiếu Tô Ký. Tô Ký mới lủng bao tử trở ra vá – Ba Thắng nói với Hai Nhơn – Cậu làm ơn đi báo cơm dùm ở bếp khách. Ngày mai tụi thằng Ba Hải cũng vô đây để nhận chỉ thị về cho U80.

Hai Nhơn vừa xách đèn đi, Ba Thắng nói:

– Bộ chỉ huy muốn tao bàn trực tiếp với mày một vụ rất quan trọng. Mày đã nghe vụ Phùng Văn Mười cháu của bác sĩ Phùng Văn Cung làm binh biến ở Bình Dương rồi chứ?

– Dạ có.

– Ở trên cũng muốn có một vụ thứ hai như vậy mà do mày móc nối lèo lái.

Tôi kêu lên:

– Làm thế nào được anh Ba?

– Mày có thằng em làm Đại úy Thủy Quân Lục Chiến phải không?

Tôi như bị ai bắt trúng tử huyệt, ngồi lặng thinh không biết đáp ứng như thế nào. Ba Thắng tiếp:

– Mày biết cải cách ruộng đất là cái ải khó qua nhất phải không? Có nhiều đồng chí qua nổi cái Ải máu lửa, Ải tù tội nhưng không qua nổi cái Ải giai cấp này. Mày biết ai đã bảo đảm cho mày hồi cải cách ruộng đất không?

– Ai vậy anh Ba và tôi có vấn đề gì?

– Mày là thành phần tiểu tư sản và lý lịch có một khoản không rõ ràng tức là em trai của mày lúc đó có xu hướng theo tụi Sàigòn. Và gần đây thì tổ chức có hỏi mày, mày cũng nhận rằng thằng em đó đã theo Quân đội Sàigòn và làm tới đại úy. Lý lịch của mày có ghi rõ khoản đó. Mày biết thằng Chung Tấn Quyền không?

– Dạ biết!

– Tổ chức nghi nó là bà con với Chung Tấn Cang nên nó được đưa vô khung đi B mà bị ách lại. Còn một thằng nữa là Phạm Cần.

– Dạ, Phạm Cần là con cụ Phạm Thiều mà!

– Phải rồi, nhưng em gái của Phạm Thiều là bà Nhiệm lấy Phạm Ngọc Thảo. Tên Thảo chạy về Sàigòn đầu hàng Ngô Đình Diệm và được cho làm Tỉnh trưởng Bến Tre.

Tôi ngồi run từng miếng thịt. Mới vừa được đề cao là Anh hùng pháo binh, bây giờ lại nêu lên vụ thành phần và liên hệ địch. Vậy là cái nghĩa gì? Ba Thắng tiếp:

– Vừa rồi ở trên có đường lối mới về địch vận, tức là dùng gia đình để móc nối trong hàng ngũ của ngụy quân ngụy quyền. Do đó mày mới được về. Rồi kế đó hai thằng kia cũng được về. Nhưng về để thi hành đường lối của ở trên.

– Tức là sao anh Ba?

– Để tao nói cho mày nghe vài thí dụ. Mày biết bà Lâm Thị Phấn chớ?

– Dạ tôi biết rành vì hồi bà Phấn địch vận đồn Long Tuyền thì tôi ở trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn đi thực tập ở Ô Môn tại đại đội 2089. Bà Phấn con ông giáo Phận ở Câu Đôi Cái Khế. Bà ta có sắc đẹp nên đã thành công trong việc móc một tên đồn trưởng ra khu giải phóng và thành hôn luôn với hắn. Ra miền Bắc bả bị bỏ rơi kêu trời không thấu.

– Mày biết một mà không biết hai. Ở trên đã đưa bà ta về Nam với lý lịch khác để vận động người anh ruột là tên Lâm Văn Phát.

– Có chuyện đó nữa sao anh Ba?

– Cách mạng khai thác mọi khả năng, không từ bỏ một khả năng nào…Nhưng rủi thay, bà Phấn vừa bước xuống sân bay Sàigòn thì bị tụi nó xúc ngay đem về khám.

Tôi lắc đầu:

– Thà là đánh giặc tại trận, tôi không ngán một chút nào nhưng làm ba cái vụ đó có vẻ phiêu lưu tôi ớn quá anh Ba !

– Ớn gì mà ớn. Có tao phụ lực và bảo đảm cho mày. Thôi tình anh em tao cũng không giấu mày làm gì. Tao thấy mày ở Pháo binh hoài khó tiến bộ lắm. Cho nên tao đã đề nghị với Bộ chỉ huy cho mày ra chỉ huy bộ binh để có cơ hội tiến bộ nhanh hơn.

– Anh cho tôi về đâu anh Ba?

– Củ Chi! Cho mày làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn tập trung của quận. Đây là chiến trường găng nhất của quân khu 4. Ở đây cần những cán bộ trẻ như mày. Tao sẽ cho ông Ba Đình hay để Tư Linh hợp sức với mày làm việc móc ngoéo thằng em mày.

– Dạ, tôi và Tư Linh đều là học sinh Trần Quốc Tuấn.

– Tao biết rõ, thằng Linh giỏi tiếng Anh. Hiện nó là Trưởng ban địch vận khu 4. Nếu mày bắc cầu được với thằng em mày thì nó có thể tiến xa hơn, móc với tụi Mỹ. Ngoài ra tao sẽ gởi gắm mày cho Tám Quang, trưởng phòng Chính trị ở đó. Mày nhớ Đặng Quang Long giảng viên chính trị trường quân chính hồi 48 không? Bây giờ đổi lại là Tám Quang. Anh ta là địa chủ nhưng đã cởi bỏ thành phần lâu rồi. Mọi việc ở trên đã sắp xếp theo ý kiến của tao cả. Mày không nên đắn đo. Ngày mai tao báo cáo với anh Chín Vinh coi như đã xong.

– Chín Vinh là ông nào vậy anh Ba?

– Là ông Trần Độ, Thiếu tướng phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị ở ngoài đó.

Tôi làm bộ không biết hỏi cơ:

– Ủa, ổng vô đây rồi sao?

– Vô rồi. Nhiều nữa nhưng giấu mặt, không phải mấy ông mày thấy trong lễ mừng công.

Ba Thắng hớp cà-phê rít thuốc một hơi rồi bắt sang chuyện gia đình của tôi. Tôi kể sơ qua vụ gặp Thu Hà ở Mã Đà và hai đứa đã hứa với nhau. Ba Thắng nói có vẻ chân tình với tư cách một người anh, anh bảo:

– Vấn đề hôn nhân phải đặt trên nền tảng cách mạng thì mới bền.

Tôi muốn hỏi thăm chị Ba đôi câu, nhưng lúc nãy đã nghe Hai Nhơn nói rồi, nên không dám động tới. Anh tưởng tôi không biết gì nên cứ trương lập trường cách mạng để lòe thằng em.

– Mày biết anh Hai Hổ không?

– Dạ biết chớ. Ổng có đứa con gái là Ánh Tuyết, em bé nhỏ nhất của Đồng Tử quân E300.

– Ra Bắc ổng lấy một bà bán quán. Con nhỏ giận nên không tới thăm tía nó nữa. Thượng bất chánh hạ tắc loạn là vậy đó. Ảnh gặp tao ảnh than phiền và nhờ tao nói dùm với con nhỏ. Ra Bắc có hai cha con mà như mèo với chuột. Ảnh rầu nên đều bạc trắng hết. Chị Hai nghe tao về có đến tìm chồng nhưng tao bảo anh Hai yếu sức khoẻ nên không về nổi. Tao cho chỉ biết là con Tuyết đi học Trung Quốc. Chỉ không biết vụ ảnh ở ngoài đó. Còn ông Sơn Tiêu cũng lôi thôi lắm. Tổ chức giải quyết lằng nhằng mấy ngày không xong. Có một mình tao là khoẻ thôi. Chị Ba mày có lên ở ngoài Xóm Rẩy một thời gian rồi về. Bả vui lắm vì thấy tao đàng hoàng một cây. Nếu tao mà lôi thôi thì dễ gì ngồi yên ở cái ghế này?

Tôi lặng thinh. Chứ không lẽ lại vạch mặt ông anh nuôi. Anh tiếp:

– Hồi ở trại Đồng Tử Quân mày có tánh ngang bướng. Mày dám dắt mấy đứa con gái ra ngả Ba Cần Giuộc chận đánh xe tăng Pháp. May mà kết quả, nếu không chết cả đám. Bây giờ mày ra chỉ huy một tiểu đoàn, mỗi khi hành động phải thận trọng, vì một câu nói của mày là có quan hệ đến hằng trăm sinh mạng. Ngoài ra còn phải chú ý tu dưỡng. Ở dưới đó có hàng chục vụ dâm ô tham ô của cả thượng uý, đại uý được báo cáo về đây. Những vụ như vậy khó giải quyết hơn bày binh bố trận nữa! Nếu thi hành kỷ luật thì còn gì công lao kháng chiến hai mùa, còn không thì bà con kêu rêu dữ quá.. Mày xuống dưới đó hãy đề phòng chớ để rơi vào vết xe cũ của họ.

Hai Nhơn đi báo cơm trở về. Anh dắt tôi đến nhà anh ngủ. Nhưng nằm trên giường khoẻ khoắn mà nào có ngủ được. Hai Nhơn nhắc tích thời chín năm. Mới đây mà nghe như tít mù khơi đời nảo đời nao. Anh nhắc chuyện bộ đội ông Ba Ngọt đánh lấy được chiếc tàu Tây, chiều chiều chở đầy lính lẫn dân từ trong Rạch Lá băng luôn qua sông Soài Rạp đi đá banh. Tụi này là dân ở rừng chuyên môn đi cầu chà là như khỉ leo cây, chạy không lại tụi bộ đội 2964, nhưng lội sông thì lại thắng vì trong bọn này có ông Sơn Tiêu là lính thủy của Pháp. Anh nhắc chuyện con Út đạo và thằng Lài. Con Út là tín đồ Thiên Chúa, có gương mặt giống như gương mặt Đức Mẹ, nó là đứa đẹp nhất trong Ban Rùm Beng của Trung đoàn 300. Nhưng bị thằng Lài quyến rủ . Rồi hai đứa bị kỷ luật đưa về nhà. Con Út khóc mù trời. Nó nói nó mê anh Hai Lôi vì cái bài hát Đoàn Quân Đi nên xin gia nhập đoàn. Bây giờ anh Hai Lôi lại thi hành kỷ luật nó.

Hai Nhơn tiếp:

– Con nhỏ lớn lên đẹp quá trời. Hồi tập kết ở bến Hàm Tân nó có đến thăm anh em. Lúc đó mày ở đâu?

– Ở bến Chắc Băng!

– Hừ, toàn là chuyện tréo cẳng ngỗng. Ối mà thôi! Nếu nó đi chung với mày cũng chẳng ăn thua gì!

Nói tới nói lui một hồi rồi Hai Nhơn cũng xì tiếp cái ba-lông bất mãn.

– Mày có gặp Bùi Thanh Khiết không?

– Không!

– Tên thày giáo làng đó ăn vụng chùi mép giỏi nhất.

– Tôi có nghe chuyện cái mô-bi-lết của ổng tặng cho chị Phụng.

– Ờ! con Phụng vợ thằng đếch gì đó… tao quên rồi. Vợ Hai Khiết bây giờ ở đây nè.

– Ở đâu?

– Ở ngoài xóm Rẩy, có ba, bốn tên cần vụ hầu hạ. Cà-phê sữa hai vợ chồng uống hằng buổi sáng đếch có mời chúng nó. Chúng nó về ngang qua đây chửi thề rùm trời! Hai đứa con gái mười hai, mười ba tuổi từ ngoài thành vô cũng ở đó chờ đi Liên Xô.

– Lội Trường Sơn sao nổi?

– Mày khéo lo. Con cái của Thượng tá, Đại tá cả trăm đứa hiện đang ở phòng thông tin của thằng Phong Vân, hồi đó là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 300. Chúng nó chờ có chuyến may bay là đi Nam Vang rồi phóng ra Hà Nội chớ leo núi như mình à! Cha làm quan, con được nhờ là vậy đó. Con tao thì cóc mọc râu mới được đi Liên Xô. Bởi vậy nên hễ hở miệng ra là họ nói lập trường giai cấp, là quan điểm cách mạng rùm trời nghe mà phát buồn nôn.

Tôi sực nhớ quyển sách của cô xẩm lại Tư Linh mượn cho tôi hôm trước, nên hỏi:

– Ở đây có sách đọc không anh Hai?

– Sách thì thiếu gì nhưng toàn là thứ không đọc được. Chỉ có cuốn này thôi mày có ham thì cất lấy mà đọc.

Hai Nhơn đứng dậy vói tay lên kệ rút một cuốn gáy vàng, bìa lấp lánh ném trên mặt bàn. Tôi cầm lấy giơ lên đèn thấy có chữ “Karl Marx” to đậm nên nói:

– Ăng Lê tôi đâu có biết. Sách dạy duy vật biện chứng hả anh?

– Ừ, sách dương vật biện chứng pháp bá láp.

Tôi kêu lên:

– Anh nói gì vậy anh Hai?

– Hì hì … Đây là quyển viết về cuộc đời ba lăng nhăng của ông tổ dâm bôn mặt đỏ.

– Nghĩa là sao?

– Cái thằng. Mày không hiểu đéo gì thiệt à?

– Không!

– Sách ghi lại những chuyện đéo bậy đéo bạ cua lão Râu Xốm! Hó hó…ó!

Tôi nhìn ông giáo già cười giọng xóc óc giơ hai hàm răng xếu mếu như hàng rào mục mà không hiểu.

– Nhưng sao anh đem được sách đó vô đây?

Hai Nhơn châm thuốc phì phà rồi nói:

– Ở đời có những chuyện bất ngờ. Như thế này này. Mấy chả ở trong hang không có việc gì làm. Tối ngày chỉ lo đánh bóng áo quần, cạo râu nhẵn nhụi để ve mấy đứa con gái. Mải rồi cũng chán nên bảo tụi tiếp liệu mua sách Mác về để tao dạy lý luận cho.

– Anh dạy sao nổi mấy ông cao cấp đó!

– Tao đâu có dạy dỗ gì mấy cái đầu bò đó. Tao chỉ dịch ra cho chúng nghe thôi rồi từ đó mà biện chứng biện gì thì tùy ý. Một hôm liên lạc đưa về một gói bằng cái thùng sắt đựng đạn đại liên Mỹ, buộc ràng kỹ lắm. Bên ngoài đề nguệch ngoạc: “Sách lý luận”. Chín Vinh không thèm mở ra, bảo đưa cho tao. Đúng là sách lý luận Marx Engels bằng tiếng Anh. Nhưng trong đó lại lẫn cuốn này: “Những chuyện dâm dục của Karl Marx”.

– Sao họ mua thứ bá láp nầy?

– Tao cũng không hiểu nữa. Tao độ rằng thằng tiếp liệu nó thấy tên “Karl Marx” là cứ mua hết gởi về. Hoặc giả là nó biết mà nó chơi khăm mấy ông Mác xít nhà mình một cú.

– Họ không sợ bị nạo à?

– Nạo gì được mà nạo! Nhưng không phải có một cuốn sách này mà thôi. Còn một bao cạc-pốt nữa chớ. Thứ tốt mày ạ! Mày muốn coi không, tao cho coi!

– Nhưng ba thứ đó để làm gì chớ?

– Cái thằng! Mày ngây thơ cụ hoài mậy! Thứ này ngoài Hà Nội cũng có bán lậu mà!

Tôi nghe lùng bùng lỗ tai, quay quay cái đầu nên không hỏi thêm gì nữa. Hai Nhơn tiếp:

– Lão Mác khoẻ ghê mày ạ! Hồi lão viết cái mani-phét-tô lão đã năm mươi mà còn làm con nhỏ có bầu.

Tôi kêu lên:

– Giỡn hoài cha!

Hai Nhơn chụp quyển sách giỡ ra lật lật, dừng lại rồi dùng ngón gay chỉ vào giữa trang, nói:

– Con nhỏ tên Helena đây nè, mày đọc dùm chút. Pregnant nghĩa là “mang trống”, rõ chưa?

Tôi nhìn theo ngón tay của anh nhưng không đọc được tiếng Anh. Hai Nhơn tiếp:

– Lão đã rình con bé cháu từ lúc 13 tuổi. Đợi cháu lên 18 bác bẻ hoa một phát ngon hơ. Bị bác làm cho phểnh bụng, con cháu hết mê bác, bác bèn cho cháu sang giúp… bác Ăng-ghên. Đó là luật liên quan, chờ ngày bộc phát bùng nổ. Nếu để con cháu trong nhà sợ bà vợ quý tộc đổ ghè tương.

– Bà vợ quý tộc của ai?

– Của Lão Xồm chớ còn của ai nữa!

– Ông ấy có vợ quý tộc à?

– Thì đây, sách vở sờ sờ đây tao có bịa đặt đâu, chuyện thế kỷ 19 mà mậy. Bà ta mê lão ta cũng vì ba cái duy vật biện chứng bá láp, bỏ nhà bỏ cửa bỏ cả đạo đi theo lão. Chuyện đời nó quái lạ thế đó. Ông tổ vô sản lại có vợ quý tộc và đã từng rửa tội ở nhà thờ mà không sai lập trường một tí tẹo nào cả. Còn tụi mày bây giờ cưới vợ tiểu tư sản cũng phải xin phép năm lần bảy lượt và bị tổ chức thiến mất một khúc lập trường. Trong lúc vợ ông trưởng phòng huấn học Cục Chính trị là nhà thầu cà-phê, ông trưởng Cục Tham mưu có vợ bé học sinh thì chẳng sao cả.

Tôi quay lại quyển sách Ăng-Lê:

– Rồi anh nói về quyển sách đó như thế nào?

– Tao cất luôn để dành coi chơi đâu có nói như thế nào. Còn mấy cái cạc-pốt thì tao còn cất kia. Mày đi đồng bằng chắc có khi cần đấy.

Tôi sực nhớ trong bóp tôi cũng có mấy cái “chứng minh thư” của Tư Linh cho đêm ngủ chung trên bộ ván gõ nhà cô xã đội phó xã Phú Mỹ Hưng. Tôi làm lơ và hỏi tiếp:

– Anh có dịch duy vật biện chứng cho mấy ổng học không?

– Mấy chả nghe thì cũng như vịt nghe sấm vậy chớ biết cái gì. Tao muốn dịch thế nào mà không được. Mày ở Miền Tây có nghe tiếng ông Huỳnh Ngọc Diệp người Vĩnh Long không?

– Tôi có nghe mấy thằng bạn làm ở Viện Văn Hoá của ông Hoàng Xuân Nhị nói về ổng.

– Ổng là bạn cùng lớp với tao. Một cây hoạt bát thông minh. Đi kháng chiến mới ban đầu ổng làm thư ký cho Phạm Hùng ở ScanBô. Làm được ít lâu, ổng bảo: “Thằng Tú Tài lại đi làm loong toong cho thằng học chưa hết trung học là cái nghĩa gì?” Ổng bỏ cơ quan đi sang cơ quan Trung Ương Cục. Lọt tọt thế nào lại làm thư ký cho Lê Đức Thọ. Anh ta bảo khi nghe Staline ngỏm, Lê Đức Thọ khóc như cha chết. Làm thư ký cho Lê Đức Thọ còn đỡ đỡ. Trước đó anh ta làm thư ký cho Lê Duẫn kìa chớ. Hồi tao xuống miền Tây dưỡng bịnh với thằng U Đa tao gặp giả, tao ngạo: “Sao? Làm thơ ký cho thằng gác ghi xe lửa học chưa hết ê-lê-măng-te trường làng mới đã chứ ông Tú?” Tú Diệp còn cho tao biết anh ta cũng như tao bây giờ. Nghĩa là dịch mấy quyển DialecticPrincipes élémentaires de la philosophie marxiste cho lão Duẩn nghe để lão nắm ý chánh rồi đi giảng ở trường Trường Chinh. Trường này học sinh toàn là thường vụ tỉnh ủy trở lên.

– Thế cơ à? Vậy anh Ba Duẫn mình phải thông minh lắm mới giảng bài được.

– Mác xít mác xiết… gì cũng không hấp dẫn bằng cái húm của bà Nga. Thôi mày ơi! Kể ra nó dài như con suối Tha La và nó cong queo như con sông Sàigòn vậy. Rồi mắc tội phạm thượng mà bị chém ngang lưng quần chớ không được chém đầu đâu đấy mày tụi.

Đã hơn hai giờ sáng. Hai anh em đồng ý phăng teo câu chuyện để ngủ. Sáng mai còn làm việc. Tôi lấy bàn chải đi ra bờ suối đánh răng. Trời đất bít chịt như trong hũ nút. Nhìn lên như có tấm màn đen giăng phủ không thấy một ánh sao.

Khi trở lên, đi ngang qua bếp tôi thấy ánh lửa chập chờn. Tôi dừng lại ngó qua phên nứa. Tôi thấy một đầu to trên một tấm lưng thon. À, cô gái bưng cà-phê lên phòng khách lúc nãy. Tôi lấy cớ vào bếp xin nước sôi, mạnh dạn bước vào, nói ngay:

– Hồi nãy anh nhận ra em liền, nhưng mắc nói chuyện với anh Ba, đừng giận nghe!

– Em là ai, đâu anh nói coi!

– Nguyệt ở xã Bình Khánh phải hôn?

– Tầm bậy!

– Nguyệt Đồng Tử quân trại Đồng Hoà cùng với con Út đạo và thằng Lài, do anh chỉ huy còn không phải nữa hả?

– Em là Ánh, em của chị Nguyệt.

Tôi sửng sốt. Té ra không phải Nguyệt. Ánh nói:

– Em thứ ba còn chị Nguyệt thứ hai. Hồi đó anh tới nhà em, anh hát mấy bài đời sống mới cho em ngủ trên võng.

– À, nhớ rồi.

– Chị Nguyệt em có chồng ba bốn đứa con rồi chớ đi đâu đây!

– Còn em sao không ở nhà lấy chồng mà đi đâu đây?

– Chú Ba là bạn của ba em. Hồi đó ba em làm chủ tịch xã. Tiểu đoàn của chú về đóng ở ấp em, ba em lo vệc tiếp tế heo gà. Vừa rồi thím Ba có vô thăm chú. Thím nói tình hình ở xã nhà ngụy bố ráp găng lắm, chú Ba bèn nhắn ba em gởi em vô trong này công tác, bảo đảm hơn và được học hành tiến bộ.

Tôi coi Ánh như em nên ngồi xuống băng nói chuyện tiếp:

– Tiến tới đâu rồi em?

– Mới vô đoàn thôi. Đảng còn lâu.

– Cố gắng công tác đến nổi ông táo còn phải bầu em làm cá nhân tiên tiến, còn “trau dồi đạo đức” thì ngày nào cũng “trau” mòn hết móng tay mà chẳng thấy đạo đức ở đâu.

– Chú Ba, ông Sáu Nam, ông Hai Bứa không là nhà đạo đức là gì?

– Ối trời! Em biết ông Sáu.. Nè anh, anh có chỗ nào xin cho em đổi công tác đi. Ở đây em sợ lắm.

– Sợ cái gì. Ở đây là khu an toàn, bảo đảm trăm phần trăm, đi đâu cho bằng.

– Em sợ mấy chú mấy bác lắm.

– Mấy chú mấy bác đầu bạc hết, coi các em như con cháu, ăn thịt ăn cá gì mà sợ dữ vậy?

– Ối trời! Anh đừng nói vậy mà lầm. Mấy chú hay làm trò này trò nọ lắm đó. Tụi bên văn phòng, con Trúc Mai, con Cúc qua đây than với em dữ lắm, nhưng dặn đừng có nói ra. Mà thôi, em không dám nói nữa đây! Rủi anh đi học lại với mấy chú thì khốn. Anh có bài hát gì mới không chép cho em vài bài với.

– Anh thì cũng gà cồ ăn quẩn cối xay có đi đâu mà biết bài hát mới .

– Anh biết không, mấy cô ở bên văn phòng mết anh dữ lắm. Hồi tối anh lên đọc diễn văn gì vậy hả?

– Diễn văn gì đâu?

– Mấy cô đó về ngang đây nói rùm lên em nghe được.

– Nghe thế nào?

– Mấy cổ nói mấy cổ tưởng anh hùng thì phái già khú ai dè trẻ vậy. Mà lại còn bảnh trai không kém dân Sàigòn.

– Thì anh là dân Sàigòn đây còn kém ai !

– Anh ở đây vài bữa thì sẽ bị tụi nó hốt hồn thôi!

– Hốt thì hốt chớ anh đâu có sợ.

– Đó thấy không, chưa gì mà đã ló mòi rồi !

Tôi sực nhớ câu nói của Tư Linh. Ở đây con trai con gái vì sợ hãi bom đạn cho nên sống rất hiện sinh. Con gái không có e lệ nói vòng quanh mà nói thẳng tuồn tuột.

Ánh nói:

– Em biết anh để ý ai và ai để ý anh mà !

– Ai để ý anh và anh để ý ai?

– Con Trúc Mai chớ ai. Con nhỏ đánh máy bài diễn văn cho anh.

– Ối! Cô ta đánh trật cả chục lỗi chánh tả.

– Trật thì trật chớ ăn nhằm gì. Nó đẹp thì lỗi mấy cũng chẳng sao. Như em vầy đời nào mới được hân hạnh đánh máy bài diễn văn cho anh. Anh thấy không, hai giờ sáng mà phải thức dậy nấu cơm rồi. Sáng sớm là phải có cơm lót lòng rồi nấu nước pha cà phê, trà.

– Ủa ở đây mà cũng đều đều như vậy sao?

– Đều chớ. Tập thể dục theo đài Hà Nội, xong mấy chú vào ăn sáng uống trà hoặc cà phê rồi làm việc. Em quay qua nấu cơm trưa. Cơm trưa xong lật bật là tới cơm chiều không có thì giờ học tập. Hồi chưa đi vô đây, mấy chú hứa đủ hết… vô đây rồi chỉ có nấu cơm.

– Đó là phân công của cách mạng em à. Ở ngoài Bắc có những anh hùng lạo động thuộc giới trí thức nhưng cũng có những anh hùng lao động chăn vịt làm phân xanh nuôi heo và đổ thùng. Có anh nuôi nấu cơm tám năm liền được tặng danh hiệu anh hùng quân đội.

– Thôi đi anh, ngạo em hoài !

Ánh có vẻ thích nói và tôi cũng muốn nghe chuyện bà con làng xóm, nên mặc dù đã khuya tôi vẫn ngồi mà không thấy buồn ngủ. Trong câu chuyện tôi thấy Ánh có giọng điệu than thân trách phận. Ánh luôn luôn nhắc một câu:

– Chắc em phải chết ở đây quá anh ạ !

Mỗi lần nghe câu đó, tôi né ngang chuyện khác. Tôi nhắc những người quen cũ rồi hỏi:

– Ánh có nhớ chị Hai Mặn Hội trưởng phụ nữ tỉnh Bà Rịa có lần về đóng ở nhà em không?

Ánh nói:

– Em không nhớ vì hồi đó em còn nhỏ quá, nhưng mới vừa rồi chị gặp em biết em là dân Bình Khánh chỉ mừng ghê .

– Ủa, chỉ có vô đây nữa à?

– Có chớ! Chị ở trong này phụ nấu bếp với tụi em.

– Khu ủy viên đó nghe em không có đùa đâu!

– Do đi sát với đám cu-li cách mạng mà chỉ biết chuyện của ổng ở ngoài Bắc. Chỉ làm dữ quá trời. Chị nói tạt vô mặt mấy ông lớn. Mấy ổng năn nỉ cả tháng mà không xong. Chỉ bỏ ra về không thèm từ giã ai một tiếng.

Có con muỗi chích sau lưng tôi quay lại và vòng tay đập. Bỗng ngọn đèn dầu tắt phụt.

Tối om om. Không có gió tại sao ngọn đèn lại tắt. Ánh hỏi:

– Anh có hột quẹt đó không?

– Có nhưng ở trên phòng chớ ai đem theo đây làm gì. Để anh về lấy.

Tôi nghe bàn tay của Ánh bám chặt vai tôi rồi hơi thở của nàng phả vào mặt tôi nóng như lửa. Ánh thều thào bên má tôi. Ánh nghiến răng ken kéc.

– Em thươ..ơng anh. . !! Em thương anh !

– Đừng làm vậy! anh Ba trông thấy kiểm thảo, em!

Ánh ôm riết lấy tôi.

– Em không sợ.

– Anh có vợ rồi em ạ !

– Dóc tổ.

Rồi nàng nói luôn một hơi.

– Em muốn trở về Bình Khánh. Em muốn sống với anh. Anh đưa em về đó đi rồi anh đi đâu thì đi, lâu lâu về một lần, em sẽ nướng tôm cho anh ăn. Anh đi trể cá em làm khô anh bỏ ba lô đi chiến đấu.

Nàng nằm dài trên băng rồi ôm quặc cổ tôi xuống phủ lên mặt tôi những cái hôn nồng cháy.

– Anh yêu em đi. Anh yêu đi. Em cho anh đó. Yêu đi để rồi lại hối không kịp.

– Sao vậy Ánh?

– Thà cho anh hơn để người khác cướp giật.

o O o

Sáng hôm sau tôi theo Ba Thắng vào trong Cục Tham Mưu để làm việc. Trên đường đi tôi thuật lại về tình cảm của Ánh đối với tôi cho Ba Thắng nghe. Anh bảo:

– Hai đứa đẹp đôi đó. Mày có đồng ý không thì tao giúp cho?

– Tôi cũng thương cô ấy, trước nhất là người bản sở, nhưng mà ngại…

Tôi không dám khai thiệt với anh về vụ Thu Hà ở ngoài Mã Đà vì sợ anh rầy rà nên nói tránh.

– Tôi ngại công tác của tôi, đi đây đi đó linh tinh đâu có ngừng lại được một chỗ mà thành chuyện gi!

– Ờ, thì mày nghĩ cũng phải, nhưng mà làm cách mạng thì nó thế đó. Như tao xa chị Ba mày mấy chục năm nhưng vẫn thủy chung với nhau thì thôi. Có chuyện gì rắc rối đâu.

Ba Thắng nói tỉnh bơ làm như tôi không biết cái vụ em nuôi ở Hà Nội của anh. Tôi thuật lại sự bi quan của Ánh. Ba Thắng gạt ngang:

– Thì con gái nó vậy chớ sao. Ở nhà cha mẹ nuông chiều muốn gì được nấy còn vô đây làm việc có giờ giấc khít khao không được tự do cá thể như ở nhà, nên kêu rêu.

Ba Thắng dẫn tôi vô Câu Lạc Bộ và bảo:

– Ngồi đây chơi uống trà với mấy cây FM đầu bạc rồi chừng mười giờ vô trỏng làm việc.

Ba Thắng giới thiệu tôi với ông chủ tịch Câu Lạc Bộ:

– Đây là thằng em tôi. Còn đây là ông Ba Khoan ủa…ông Ba Dùi.

Tôi bắt tay và reo lên.

– Ê Khoan! Về đây hồi nào vậy?

Tưởng ai đâu lạ, chẳng ngờ là thằng quản lý đại đội của tôi hồi trước.

– Hết chữ rồi sao mà lại lấy tên Dùi?

– Mấy ông đặt chơi rồi thành danh đó chớ ai lấy tên kỳ cục vậy thầy!

– Có gì đặc biệt không bạn?

– Dạ mới về mấy chục cây Capstan và Pall Mall nhưng trong Cục lấy hết rồi. Chỉ còn loại Xa-núc.

– Da đỏ chữ đỏ “khét Thổ” lắm. Lần sau gởi tiếp liệu mua Ruby… là tôi nói chơi vậy chớ tôi có hút xách gì. Cho hai ly cà phê trụn sơ bộ đồ lòng cái chơi đi.

Hai anh em vừa ngồi lại khuấy cà phê thì một đoàn FM đầu bạc kéo vô. Tôi nhận ra ngay. Đó là ông Bảy Đậu, ông Hai Lon, ông Ba Sinh… Bây giờ đều đổi tên mới: Bảy Đậu hoá ra Bảy Mai, Hai Bứa trở thành Hồng Lâm, còn ông Ba Sinh thì kêu là Ba Ngọt. Mấy ông này vào vừa ngồi chung bàn với tôi thì hai ông nữa kéo tới. Đó là ông Năm Tâm và ông Tư Công.

Tư Công vừa đi vừa giỡ mắt kiếng chùi chùi. Tôi biết ông ta có cặp mắt rụng sạch lông nheo từ hồi ông làm Chánh ủy E397. Vừa trông thấy tôi, ông hất hàm:

– Ê thằng nhỏ ! Nhớ tao không ?

– Dạ nhớ chớ !

– Mới hồi nào mày đem mật mã cho Sáu Nam mỗi bữa trưa, bây giờ mày đã làm anh hùng ngon rồi hả?

Vì chân bàn chôn dưới đất không dời ken lại được, hai ông ngồi bàn khác nói sang. Ông Năm Tâm hỏi:

– Mày pháo kích Biên Hòa như vậy là hay lắm. Chốc nữa vào trong tổng kết kinh nghiệm từ cái lông chân trở đi cho tao ghi để phổ biến các đoàn khác nghe. Pháo mình mần trật duột dữ quá !

Tôi quên mất vai trò kịch của mình nên buột miệng nói:

– Cháu đâu có biết gì đâu.

– Giỡn hoài mậy, bắn tan mười mấy phản lực Mỹ mà bảo không biết gì!

Ba Thắng thò chân dưới gằm bàn đạp chân tôi. Biết ý cấp trên, tôi nói:

– Dạ thì ở trên bảo tôi phải thi hành. Biết gì nói nấy!

Hóa ra người ta bịp nhau từ gốc tới ngọn. Chắc ông Sáu Vi cũng không biết tôi chỉ là kẻ đóng vai kịch anh hùng. Còn anh hùng thiệt thì có lẽ chết rục ở sông Lòng Tào hoặc sông Bé hay nằm gục trên hàng rào sân bay cũng chưa biết chừng. 16 chiếc B26 bị trúng đạn có thật không, bố ai biết được!

Cà phê, thuốc lá bốc khói thơm nực. Chỉ một lát các cô bé ở đâu cũng bu tới. Các cô đứng ở trong vách thưa ngó ra cười khúc khích. Ông Tư Công bảo:

– Bây ra đây coi mặt anh hùng hả ? (Mấy cô thụt mất nhưng ông nói với theo) Đứa nào muốn tao gả cho!

Ông là bậc trưởng thượng nên không sợ dám “con nít” phản đối. Ông quay lại tôi:

– Mày đắt hàng lắm đó . Mày muốn đứa nào là được đứa nấy.

Ông Ba Ngọt chêm vào.

– Có lẽ mày phải ném tú cầu chọn vợ mới được.

Nói chuyện qua lại một hồi thì thêm hai ông đầu bạc tới tiếp. Ông đi trước trán hói, đầu gần như không có tóc. Ông đi sau cao nhòng tóc bạc trắng, mặt rổ, lưng khom.

Ông hói hất hàm với tôi:

– Ê con ngựa trời, mày biết ông nào đây không?

– Sao không anh Hai. Ổng là ông Sáu Chè Đậu chớ ai mà không biết. Hồi ở khu 7 ổng cho tôi ăn chè hoài.

Để tỏ lễ độ, hai ba người đứng dậy nhường chỗ và ngồi dạt qua bàn gần bên. Ông mặt rổ vừa đưa tay cho tôi bắt vừa nói với mấy ông già dềnh:

– Mấy cha làm gì ở đây đông vậy? Toàn là dân Rừng Sát của Bảy Viễn.

Tôi nói.

– Chào anh Sáu. Anh Sáu mạnh giỏi? Mười lăm năm rồi mới gặp lại anh.

Tôi nhắc lại chuyện hồi trước, trưa nào tôi cũng vác bản tin mật mã đã dịch clair ra cho ông Tham mưu trường khu 7. Ông có tật hay ăn chè đậu vào buổi trưa nên tôi đợi đúng lúc ông ăn chè thì tôi đem bản tin cho ông. Hồi đó ở trong rừng suốt năm tôi chỉ có hai cái quần tiều và một cái áo blouson nỉ xanh, mặc riết rách như bố tời. Đặc biệt là thèm đường. Nhiều lần ra xóm thấy con nít cầm tán đường ăn mà chảy nước miếng. Không nỡ để thằng bé con ngồi dòm miệng, Thủ trưởng vừa ăn vừa bảo thằng cận vệ múc cho nó một chén.

Nghe nhắc chuyện xa xưa, ông Sáu cười giơ hàm răng vàng lườm xếu xáo.

– Chú nhớ dai dzậy ?

– Dạ chuyện đó tôi đời nào quên được!

Một ông già chọt ngang:

– Ổng bây giờ cũng “hảo ngọt” như hồi trước, nội B2 không ai khoái “ăn chè ” bằng ổng đây !

Vài ba người cười hướng ứng. Còn ông Cục trưởng thì gượng gạo:

– Các cha cũng khoái chớ mình tui sao?

Thấy Sáu Nam không tỏ vẻ quạu mà vui vẻ đáp lại. Cả bàn cùng cười rộ lên vì thực ra không phải một mình Thủ trưởng hảo ngọt mà thôi. Các ông “Thủ phó” cũng đều tít mắt khi nghe mùi chè phất qua. Bữa nay khách đông, hai vợ chồng Ba Dùi phục vụ không kịp, mấy đứa con gái phải vẫn tiếp tay pha cà phê, bưng bánh bao, bánh tiêu, bánh giò chéo quảy. Tôi không hiểu ở đâu mà có bánh trái nhiều vậy? Còn kẹo sữa, kẹo đậu phộng thì thiếu chi. Một tổ chức hết sức chu đáo ngăn nắp được thiết lập ở đây như phân khu mậu dịch Tôn Đãn Hà Nội. Ngoài tiêu chuẩn tiểu táo, đặc táo hàng ngày dành cho các ông đầu bạc còn có cái câu lạc bộ này.

Ba Dùi cho biết thứ bảy có cả la-de nước đá , chỉ rượu là không bán tự do, chỉ cắt phiếu. Tôi thật tình không tưởng tượng được trong lúc ở ngoài kia lính đếm từng hạt cơm khi phân phát khẩu phần thì ở đây cấp chỉ huy sống như những ông hoàng chẳng khác gì miền Bắc, nông dân đói đeo đói đắc mà các ông lớn phè phỡn dậm dật tha hồ.

Ông Tư Công nói:

– Ở đây ông Bảy Mai, ông Sáu, ông Chín Mỹ đều có con gái. Vậy có ông nào định bắt con ngựa trời làm rể không. Tôi coi mòi tụi con gái văn phòng hít dữ đa !

Ông Hai Lâm tức Hai Bứa gật gù:

– Thì phải rồi, gái thuyền quyên sánh với trai anh hùng chớ sao.

Ông Hai Lâm có vợ người Tàu tên Múi. Chị Múi mê cặp giò đá bóng của ông ta. Con gái ông học ở Hải Phòng. Cô nàng trông đẹp lắm. Tôi đã có ý định nọ kia nhưng không có cơ hội. Bây giờ nghe nhắc mới nhớ ra rằng mình bỏ lở quá nhiều dịp tốt để lập gia đình.

Buổi sáng uống cà phê kết thúc nhanh chóng vì ai cũng phải trở lại ghế ngồi làm việc. Tôi lửng thửng theo một cậu vệ binh dắt tôi đến Cục Tham Mưu. Đến bờ suối, tôi dừng lại xăn quần lội qua. Mai nở vàng rực. Ở Hà Nội, vào dịp Tết muốn có một cành mai để chưng trên bàn không biết tìm ở đâu, bây giờ cả rừng thì không biết làm gì.

Tôi vừa bước xuống bãi cát thì mấy cô chạy ùa tới. Mai, Tuyết, Cúc. Không có Thanh Tuyền. Có lẽ cô nàng nín lại với ông cha. Theo Hai Nhơn cho biết thì cô bé mới làm lành với ông Sáu Nam gần đây. Trước kia cha gọi con gái không đến.

Các cô lội ngang với tôi và chế diễu :

– Bộ tính làm rể ông Cục Trưởng hả anh Hai?

– Ờ phải, con gái ông Cục trưởng đẹp hơn tụi này mà !

Tôi bảo:

– Anh không có làm rể ai hết. Đừng có vu cáo người ta.

Cúc liếng thoắng.

– Thôi mà, làm bộ hoài anh Hai. Hồi tối ngồi coi Văn Công anh bỏ đi đâu vậy?

– Tôi đang bận làm cách mạng không có thì giờ làm rể .

Mai là cô bé mạnh dạn nhất bọn, xìa miệng hỏi tôi:

– Ba đứa em, anh không thích đứa nào à ?

Cúc và Tuyệt cười ré lên. Tuyết nói luôn một dây:

– Thích chị Mai. Tuyên bố ngay chiều thứ bảy này này. Sẵn có đoàn văn công diễn luôn một đêm mừng đôi tân hôn. Chịu hôn anh Hai?

Tôi không ngờ các cô lại táo bạo đến vậy nên cũng hết dè dặt .

– Mấy cô định bắt cóc tôi hả?

– Đây là … bảy con nhền nhện giải phóng muốn nếm miếng thịt Đường Tăng tân thời đó !

Lội qua khỏi suối ai cũng ướt mèm! Mấy cô vuốt quần vuốt áo. . Mai chỉ lên ngọn cây:

– Coi có hai con quỉ hôm trước ở trên ngọn cây không?

Tôi hỏi:

– Ở đây mà có ma quỉ à !

Mai đáp.

– Có chớ, quỉ sống.

Mai cho biết là các cậu con trai con của mấy ông cán trong khu vực nghịch hơn quỉ. Chúng bị “giam lỏng” nên tù túng khó chịu, chúng đâm ra phá phách mọi người, nhất là phá các cô gái. Chúng biết ở suối này buổi trưa các cô thường rủ nhau ra tắm giặt. Một cô không dám đi nên phải rủ cả bọn. Các cô tắm xa đường mòn một chút để tránh người qua lại. Nhưng không trốn được bọn quỉ sống kia. Chúng trèo lên trên cây có tàng rậm ngồi phục kích. Chúng đã giỡ trò rửa mắt này không biết bao lâu rồi nhưng bỗng một hôm bất ngờ, chúng bị đám con gái phát hiện.

Số là nước suối hôm đó phẳng lặng, một cô nhìn bóng cây lộn ngược ở ven suối và trông thấy hai ba con quỉ ngồi chò hỏ trên đó nhìn xuống.

Nhưng đã muộn rồi. Các cô đã thoát y nguyên con phơi trọn thân hình ngà ngọc. Các cô vừa ôm ngực vừa kêu rú lên chạy chụp quần áo mặc vào không kịp. Các cô về báo cáo các ông lớn nhưng các cậu chối phăng thành ra chẳng cậu nào bị tội. Từ đó các tiên cô không dám tắm suối nữa.

Nghe Mai kể tôi hỏi chặn:

– Sao các cô không tắm ở nhà tắm trong nhà có phải an toàn không?

Cúc trề môi, không nói. Tuyết xí một tiếng và bảo:

– Chị Mai mạnh miệng nói cho ảnh nghe đi.

-Thôi tụi bây ơi! Ai dám nói lên sự thật! Người lớn đã vậy nên đám nhỏ bắt chước chớ sao.

Vừa đến đó thì có tiếng kêu:

– Anh Hai pháo binh ơi ! Cõng em qua suối chút anh Hai !

Mai nhìn Cúc và Tuyết:

– Con quỉ hà nàm nhỏng nhẽo với anh đó. Anh ra cõng rồi giả bộ té cho nó uống nước mắc dịch luôn đi!

Tuyết lườm tôi.

– Biết mà, hồi tối anh đã… gì với nó nên bây giờ nó đeo theo ?

Cức đổ quạu.

– Thôi, để ảnh ở đó cho nó hốt hồn luôn đi. Con nít mới nứt mắt đã ngựa!

Ba cô lườm Thanh Tuyền đang đứng bên kia bờ suối rồi ngoe ngoảy bỏ đi. Tôi cực chẳng đã phải ở lại. Tôi quát một cách thân ái.

– Lội qua đi, anh cõng không nổi !

– Em sợ quá hà ! Qua mau đi anh.

Tôi đành phải lội qua đưa cái thớt lưng cho cô bé trườn lên. Chao ôi, vừa nóng lại vừa lạnh. Tôi phát nổi gai khắp người . Tôi choàng hai tay ra phía sau nâng khối thịt mềm mại lên và lội từng bước xuống nước còn nàng cứ ôm riết lấy cổ tôi áp má vào mặt tôi. Tôi kêu:

– Nghẹt cổ! Buông lỏng ra!

Nhưng đôi tay ngọc vẫn siết lấy họng tôi rồi nàng thầm thì bên tai tôi:

– Em bảo ba em giữ anh ở lại đây làm việc.

– Bảo buông ra nghẹt cổ… Ở sao được mà ở.

Hai chân của cô gái ngún nguẩy làm tôi lảo đảo rồi bật ngửa ra. Cả hai nhào ùm xuống nước. Tôi không ngờ mà cô bé lại táo tợn đến thế.

Quả thật, đêm qua trong lúc xem văn công, tôi ngồi chính giữa vòng vây của bảy con nhền nhện. Cô nào cũng xinh cả. Học sinh thành mà ! Và khổ thay cái danh hiệu anh hùng pháo binh đã làm cho tôi lên giá . Hơn nữa, mặt mũi tôi cũng không đến nổi như Trương Chi nên các cô càng náo nức. Cô thì đưa cho tôi nước chanh, cô mời kẹo, cô lại ấn vào tay tôi một bức thơ. Nếu tôi không làm anh hùng thì các cô có niềm nở như vậy không? Trong lúc tôi đang ngồi xem kịch thì cô Thanh Tuyền ở đâu không biết lại xuất hiện. Các cô Mai, Trúc, Tuyết đều không thích Thanh Tuyền nên không cho cô nhập bọn. Có lẽ vì cô Tuyền là con ông Cục trưởng nên hơi hách. Tôi đoán vậy qua cử chỉ và cách nói năng của cô.

Tuyền bảo rằng có người muốn gặp tôi. Tôi không biết là ai, nhưng đoán chắc phải là người quan trọng – bố cô cũng nên – vì thế mới đích thân cô đi gọi. Tôi đứng dậy đi theo Tuyền giữa sự lườm nguýt của Mai, Tuyết, Cúc…

Khi ra khỏi vùng ánh sáng đèn điện, tôi hỏi Tuyền:

– Ai muốn gặp anh vậy em? Bộ ông Cục trưởng hả?

Tuyền đang đi bỗng quay lại ôm chầm lấy tôi và hôn như đốt mặt tôi mà không nói gì. Tôi không ngờ lại có một việc bất ngờ như thế nên đứng chết trân. Tuyền lôi tôi đi như một kẻ mất hồn. Đến một cái hầm trú ẩn, Tuyền bảo:

– Xuống đi, bom nó tới bây giờ đấy.

Tôi không kịp nói gì thì Tuyền nhanh nhẹn ấn tôi xuống hầm. Đường xuống có nấc nhưng tôi vấp suýt ngã. Tôi vừa chui vừa nghĩ: Có lẽ B52 sắp dội rồi. Thói thường trước khi B52 đến cơ quan đều được báo trước hai ba giờ, có khi năm sáu giờ . (Về sau tôi mới biết là do Liên Xô mách). Có lẽ Tuyền được ông bố cho hay nên trốn trước, nhưng không phải, Tuyền bắt cóc tôi.

Khi vỡ lẽ ra thì tôi bình tĩnh trở lại. Tưởng chuyện gì chứ chuyện kê thịt vào miệng sói thì sói mấy thuở tha cho.

Tuyền không nói nhiều. Chỉ một câu:

– Em yêu anh vì anh là anh hùng!

Chúng tôi suýt đi đến giai đoạn Tổng phản công nhau thì có tiếng gọi từ trên vọng xuống:

– Tuyền ơi Tuyền! Có người muốn gặp mày.

Tiếp theo là tiếng cười như nắc nẻ.

Tôi hãi quá, sắp nhỗm dậy nhưng Tuyền ghì tôi lại, áp má vào miệng tôi như bảo im.

Quả thật chỉ một lúc sau thì không ai gọi nữa. Tuyền bảo:

– Mấy con quỉ phá em.

– Thôi đi lên! Ba em biết thì anh bị rầy rà phiền lắm.

– Rầy gì mà rầy ! Em sẽ nói với ba em giữ anh ở lại, đừng đi pháo kích pháo kiếc gì nữa. Nguy hiểm lắm.

– Đó là nhiệm vụ anh mà !

– Nhiệm vụ thì để người khác làm không được sao?

Tôi thấy bị động ổ rồi. Nếu có việc gì về U bị nẹt như kiểu thằng Sâm mệt lắm, nên tôi nhất định đi trở lại coi Văn Công. Tuyền vùn vằn sau lưng tôi.

– Coi cái gì ba thứ đó hổng biết nữa.

Tôi tìm chỗ khác ngồi, sợ mấy nàng kia trông thấy mặt mà chế diễu. Tưởng thoát hai bàn tay tiên, nào dè sáng nay lại dính. Tôi biết tôi là thằng rất nhạy. Em nào lấp lững là bị chàng va thôi. Tôi đã ngồi lên được nhưng nàng kéo tôi ngã xuống nước và ôm riết tôi chặt cứng. Tôi cố ngóc dậy và nói:

– Buông anh ra anh nói chuyện này cho nghe.

Nhưng nàng không chịu nghe tôi. Tôi gắt:

– Mấy đứa nó quay lại kìa!

– Quay thì quay. Em không sợ.

– Thôi lên bờ rồi em muốn gì anh cũng chịu.

– Em bắt đền anh đó.

Nàng níu tay tôi và lê bước vào bờ. Tôi nhìn thân thể cô bé bị quần áo bó sát để lộ ra những nét hài hòa của một mảnh trăng liềm, một cặp đồi non và mấy vệt mây Tần. Thật khó dằn lòng.

Nàng phụng phịu:

– Anh đi với em đi.

– Đi đâu?

– Em biểu đi đâu thì đi đấy.

– Ừ đi thì đi.

Nàng bước trước, quần áo khua sột soạt nước từ tóc từ vải chảy xuống ròng ròng đến hai gót chân son tươi đang thoăn thoắt trên lá khô. Tấm lưng ong thật eo, cặp mông tròn ủm, khít rịt và mũm mĩm nhún nhảy trước mặt gã đói tình.

Cô bé đi lẫn vào một bụi rậm và ngoảnh lại bảo:

– Anh đứng ngoài coi chừng dùm em.

– Coi chừng gì?

– Coi ai có đi tới thì cho em hay.

– Em làm gì trong đó ?

– Em vắt quần áo cho khô. Để vầy lạnh quá !

Tiếng nàng bật ra giữa hai hàm răng đánh bò cạp.

– Thôi chết rồi !

Tôi nghĩ thầm. Mình bị lôi đến mé vực lần nữa ! Làm sao tôi nhắm mắt quay lưng, làm sao tôi có thể dằn lòng? Rừng vắng và lạnh nhưng tôi nghe trong người rộn rã và do thịt nóng bừng.

Tôi sợ nàng bảo là kém đạo đức và mắng cho như nàng từng mắng bố nàng: “Người cộng sản gì kỳ cục vậy…?” nên không dám ngó thẳng chỉ liếc xéo liếc ngang. Tôi nghe tiếng vải ướt sột soạt tuột khỏi thân người nàng. Tôi mơ màng nhìn những mảnh trắng lấp loáng qua kẻ lá rung rung. Không hiểu lá rung hay tim tôi rung?

Bỗng nàng kêu lên thất thanh:

– Anh ! Anh! Cứu em với !

– Gì thế ?

Tôi vừa quát vừa nhảy vào.

– Con rắn… con rắ …

– Ở đâu?

– Nó vừa bò qua chân em ! !

Tôi đang lom khom tìm vết rắn bò thì nàng ôm cổ tôi. Tôi bật ngữa và đè lên người nàng. Tay nàng vẫn ôm cổ tôi còn đôi chân thì quặp ngang bụng tôi. Tôi như nằm trên mảnh lụa nhấp nhô. Lá khô trên đất đá lỡm đã trở thành nệm ruột gà. Nàng bảo tôi từng tiếng rõ ràng:

– Anh yêu em đi.

Nàng đẩy tôi ra và nằm phơi như một bài thơ.

– Ấy chết! Em làm vậy không được.

Tuyền quát:

– Anh đừng có làm bộ như mấy ổng vậy. Ban ngày nói chuyện đạo đức. Ban đêm đụng ai cũng mò.

Tôi không còn mơ màng nữa. Sự thực đã rành rành.

– Em không ân hận nếu mai mốt em chết vì một mảnh bom. Hay ngay cả bây giờ!

Nàng ôm ngang lưng tôi và cất đầu dậy hôn mặt tôi, ghì tôi xuống. Đã đến mức này rồi tôi không thể nhịn nhục được mãi. Tôi có chọc ghẹo ai đâu. Chuyện đời nó đã thế thì cho thế. Tôi là kẻ bộ hành trên sa mạc đã từ lâu. Không lẽ bà tiên mưa móc lại không hứng lấy.

Đúng thật thằng Tư Linh nó sành tâm lý con người nên nó mới làm địch vận. Nó rành cả tâm lý của đàn bà con gái nên nó mới gạ gẫm chị Tư Mai và cáp chạng đầu tiên tôi với Bảy Mô ở vườn sầu riêng hôm trước.

Con gái con trai ở đây khủng hoảng sinh lý lẫn tình cảm. Con trai thì làm càn, còn con gái thì sợ mấy thằng cha già tẻng. Chúng sợ chết bất ngờ nên chúng không sợ kỷ luật. Chúng sống vội yêu cuồng có thua gì dân Sàigòn như báo chí nói và người ta đồn đại.

– Nào, anh có chịu ở lại đây không?

Đó là câu hỏi đầu của Thanh Tuyền khi chúng tôi sánh vai bình thường đi bên cạnh nhau trên con đường mòn khô ráo. Thấy tôi đờ đẫn, nàng gắt:

– Anh muốn chết hay sao mà xông vô ba cái vụ pháo kích.

– Gì mà chết. Người ta còn sống nhăn đây!

– Xí! Ba em bàn với mấy ổng em nghe hết ráo.

– Nghe gì?

– Ba em nói kỳ rồi, mở đường gây tiếng vang cho Mặt Trận, ba em cho đánh sân bay Biên Hoà nếu phải chết cả đoàn 69 cũng được. Miễn có tiếng nổ trong sân bay thì thôi.

– Nhưng đâu có ai chết ?

– Chết hết ráo còn không chết. Ông Huỳnh Thanh Đồng đoàn trưởng 69 có về không?

– Anh ấy bận công tác mới.

– Công tác dưới âm phủ hả ?

– Thì anh và bốn người khác về dự lễ Mừng Công không đủ bằng chứng hay sao?

– Xí, anh là anh hùng giả !

– Giả sao còn yêu anh ?

Tuyền nói xon xỏn vào mặt tôi.

– Giả em mới yêu, chớ thiệt thì chết gấp yêu làm gì ! Em nghe ba em bàn mọi việc hết ráo.

– Bàn thế nào?

– Bàn rằng bác Sáu Vi sắp vô, nếu báo cáo rằng pháo kích sân bay mà toàn thể đơn vị hy sinh thì có thể bác Sáu Vi không khen giỏi. Cho nên mới chọn người khác giả đò làm người của đoàn 69.

Tôi nghĩ thầm:

– Nay mai đám nhiếp ảnh trương hình chụp của tôi ra triển lãm thành tích của đoàn 69 và chú thích rằng tôi là anh hùng pháo binh thì bỏ mạng sa tràng ngay. Vì học sinh các tỉnh, có thằng nào không biết rằng khi pháo kích Biên Hoà thì tôi đang nằm chình ình ở trong trường pháo giảng bài cho chúng nó !

Tôi bảo Thanh Tuyền:

– Em phải giữ bí mật, không nên nói lung tung chuyện quân sự đó ra.

– Bí mật gì nữa? Ai không biết mà bí với mật!

Một chốc tôi hỏi:

– Em có gặp bác Sáu Vi không?

– Có.

– Ổng thay mặt bác Hồ vô đây thăm các em đó.

– Ổng gặp tụi em, ổng cứ lải nhải: Các cháu cố gắng học giỏi, lao động tốt để xứng đáng là cháu ngoan bác Hồ. Các cháu phải làm gương cho thiếu nhi ngoài Sàigòn. Chúng em có được học chữ nào đâu mà bác bảo học giỏi.

– Bác Sáu có ăn cơm chung với ba em không?

– Không. Ba em chỉ gặp bác có một lần hồi bác mới vô . Bác ở nhà riêng với cô Quyên không có ai đến đó cả.

– Cô Quyên nào ?

– Anh không biết cô Quyên là ai thiệt à?

– Không biết thiệt.

– Cô Quyên là vợ của chú Trôi chú Trỗi gì đó.

– Ở ờ biết rồi, anh biết anh Trỗi chớ không biết cô Quyên!

– Anh biết chú hồi nào?

– Biết trên đài thôi chớ không có gặp mặt. Cô Quyên vô đây hồi nào?

Thanh Tuyền có vẻ cảm động.

– Lâu rồi. Trước khi bác Sáu vô. Tội nghiệp cô ấy quá anh ạ . Cô ấy còn trẻ . Đâu hơn hai mươi thôi mà lại góa chồng. Anh thấy anh hùng bỏ vợ vậy đó chưa?

– Em có gặp cô lần nào không?

– Có gặp vài lần. Cô ra câu lạc bộ ông Ba Khoan. Cô đẹp ghê ! Bác Sáu cưng cổ lắm. Bác không cho cổ đi đâu hết. Cổ đi một bước là có vệ binh theo canh chừng. Ở gần bác như vậy chắc mau tiến bộ lắm hả anh?

– Mau lắm. Cũng như mấy cô kia ở gần mấy chú mấy bác vậy.

– Ở gần bác Sáu thì tiến bộ mau hơn chớ. Vì bác là nhà cách mạng lâu năm hơn mọi người ở đây mà.

– Được bác Sáu huấn tuyên thì tiến bộ nhanh lắm.

– Vậy chắc mấy thím Ba Trà, thím Lê Trọng Tấn tiến nhanh hơn hả anh?

– Tại sao vậy?

– Vì mấy chú huấn luyện mấy thím liền tù tì mà.

– Sao em biết giỏi vậy?

– Vì lâu lâu mấy thím vô một lần. Bác Sáu gái cũng có vô.

Tôi ngạc nhiên nhìn trân vào mắt Thanh Tuyền:

– Các bà đó có vô đây nữa à?

– Có chớ.

– Mấy bà lội Trường Sơn sao nổi?

– Mấy thím đi máy bay vô Phnom Penh rồi từ Phnom Penh vô sân bay Mimot và từ Mimot vệ binh võng sang đây.

Tôi kêu lên:

– Trời đất, có chuyện đó nữa sao ?

– Có chớ.

– Sao em biết tới những chuyện đó nữa?

– Chuyện gì nữa chớ chuyện đó ăn thua gì.

– Như chuyện gì?

– Thôi, em không nói đâu. Em bị mấy chú kêu là con thèo lẻo số một.

– Còn thèo lẻo số hai là ai ?

– Em hổng biết nhưng em thấy nhiều chuyện hơi kỳ kỳ nên em hỏi ba em. Ba em nạt.

– Như chuyện gì?

– Chuyện cô Quyên buồn bực đòi về thành.

– Thì chồng cổ vừa chết, cổ buồn chớ sao !

– Buồn thì ai chẳng buồn. Ở đây có gì vui đâu mà không buồn được. Nhưng cổ có chuyện gì khác em không biết được.

– Đọ ! em nói giấu anh nghe !

– Em không giấu đâu, nhưng chuyện đó kỳ lắm. Có đem ra để học tập rồi.. Ba em cấm mọi người tuyệt đối không được nói tới nữa.

– Em nói một mình anh nghe được không?

– ……..

Tôi cười và tháu cáy cô bé:

– Ối ! tưởng chuyện gì chớ chuyện đó anh biết trước em lâu rồi. Còn ác hơn nữa cơ!

– Thiệt hả anh?

– Thiệt chớ láo à?

Tôi kéo cô bé dừng lại định hôn nhưng cô đẩy tôi ra.

– Vậy để em nói thêm cho anh nghe xem có đúng không.

– Thôi, đừng có nói. Chuyện đó thì đại khái đâu đâu cũng vậy thôi. Nói ra chỉ thêm mất uy tín thôi.

Hai đứa đi bên nhau. Thanh Tuyền tỏ vẻ người lớn. Nàng thở dài:

– Bên B3 có mấy chị sình bụng anh ạ !

– Ở đâu không có chuyện đó, cứ gì ở trên R này.

– Ở trên đã có kế hoạch cất nhà cho mấy bà bầu ở riêng. Đó là mấy bà có chồng như vợ ông Ba Khoan. Còn mấy chị không có chồng mới ngặt. Em vô đây hai năm rồi. Năm nào cũng có ba, bốn chị bị như vậy, nhưng không hiểu sao ở ngoài thành cứ vô đây.

Tôi lấy làm lạ về cách ăn nói trắng trợn của một cô nữ sinh mới ra khu. Tôi cười:

– Vì cha mẹ sợ con gái ở ngoài thành sống theo thuyết hiện sinh hỏng hết.

– Sợ ở ngoài thành hư hỏng vô trong này thì vậy đó .

Tôi tò mò hỏi.

– Cô Quyên bây giờ ở đâu?

– Thì cũng vẫn ở với bác Sáu. Em nghe các chú các bác nói là bác Sáu sẽ đào tạo cho cô trở thành nữ anh hùng nối gót theo chú Trỗi mà.

– Đàn bà con gái đều có chí lớn cả . Ở Củ Chi thì con gái trở thành anh hùng dũng sĩ diệt Mỹ. Em thấy vở kịch “diệt Mỹ” đêm hồi hôm không?

– Có thấy chớ, nhưng em không có tin đâu.

– Bộ em không muốn làm anh hùng hả?

– Làm anh hùng mà chết chồng như vậy, em chịu thôi. Có ông nhà báo gì ở bên Tuyên Huấn qua lấy tài liệu để viết bài, nhưng bác Sáu bảo thong thả đã, bây giờ cô còn đang buồn. Em yêu anh nhưng nếu anh đi pháo kích nữa thì em cắt.

o O o

Tối hôm đó tôi ngủ ở nhà Hai Nhơn để sáng mai trở về phái đoàn Ba Hải. Thực tình mà nói tôi có linh cảm là cái khu vực hoàng triều này sẽ ăn B52 rất sớm vì nó lộ liễu quá. Chuồn ra khỏi càng sớm càng tốt.

Đêm nằm với Hai Nhơn nói chuyện không ngớt. Kỳ này anh đề cập thẳng vấn đề hôn nhân của tôi. Anh nói:

– Tao cũng có con gái gã cho mấy được, nhưng tao biết hiện giờ không có cách gì, nên tao không muốn hứa hão.

– Tôi đã bỏ bao nhiêu cơ hội rồi anh hai ơi ! Già cái đầu rồi cứ xách xe không chạy mãi, rầu quá !

– Không phải vì xe không có khách mà vì người ta không cho mày cái bến đậu để rước khách. Nhưng mà coi chừng nghe. Tùy bến đó. Tao coi mày như em từ đầu kháng chiến nên tao nói thiệt chắc mày cũng không giận tao.

– Gì mà giận anh Hai.

– Mấy con nhỏ văn phòng đó đứa nào cũng mê mày. Mày chỉ cần gật là tuyên bố ngay!

– Em có gì hấp dẫn đâu!

– Mày xuất hiện giữa đám già nua mà không hấp dẫn à ?

– Đội vệ binh không trẻ hơn em sao?

– Chúng nó trẻ nhưng không có văn hóa. Mày nên nhớ đám con gái đó toàn là nữ sinh Gia Long, Áo Tím hay Couvent des Oiseaux gì đó. Những thằng vệ binh thô kệch trong cử chỉ lẫn lời nói làm sao với tới. Do đó chúng nó mê mày. Tao bắt mạch trúng hết mà. Nhưng mày nói thiệt tao nghe. Mày đã hứa hẹn với đứa nào chưa?

Tôi ngồi im không đáp. Vì trong lúc tình cảm nồng nhiệt tôi đã ưng chịu theo ý của Ánh lẫn Thanh Tuyền. Tôi biết là lời hứa đó không nên có vì Thu Hà đang chờ đợi tôi từng ngày. Hơn nữa, đời tôi chắc chắn không thể bị giam trong cung cấm giữa vùng hoang dại này.

Hai Nhơn nhìn tôi một hồi rồi gật gật bảo:

– Tao có thể nói với mày rằng mèo không bao giờ tha chuột. Mày hiểu chứ ?

– Kể cả chuột Thanh Tuyền.

– Mày ơi! ở đây không ai có thể kiểm soát được. Kỹ luật càng gắt thủ đoạn càng tinh vi. Mày nên biết rằng những người sống trong cái vuông rào này đều bị ức chế khủng khiếp. Người già thì luẩn quẩn vì suốt ngày không có việc gì làm như tao đây. Cả Chín Mỹ, Năm Danh, Hai Bứa, Ba Ngọt, Ba Chè, Chín Hô cũng thế thôi. Đi ra đi vô vài lần là chán ngắt.

– Chín Hô nào?

– Chín Vinh đấy ! Cho nên tóc mau bạc. Còn tụi trẻ thì như gà bị nhốt trong giỏ chật nên tìm cách chui ra. Kỹ luật gì nổi, Chúng nó dắt nhau ra rừng đ.. đứng. Ủa, tao nói thiệt mà . Vì không kịp sửa soạn ổ lá như thằng Sâm.

– Anh biết vụ thằng Sâm nữa à?

– Có thông báo để học tập khắp các đoàn bộ, còn ai mà không biết? Già có thủ đoạn già, sồn sồn có thủ đoạn sồn sồn, con nít có thủ đoạn con nít. Kết cục không có cái gì còn nguyên đâu.

Tôi xác nhận lời của Hai Nhơn nói qua thực tế mấy hôm nay. Đám con gái như bầy nhền nhện cái phủ vây Tam Tạng, có điều khác là tôi không giống Tam Tạng.

Đột nhiên Hai Nhơn cười một cách bí hiểm:

– Mày vô trỏng gặp tình địch của mày chưa?

Tôi hoảng hốt:

– Mấy đứa đó có mèo cả rồi hả anh?

– Mấy đứa nào?

– Con Mai, con Tuyết, con Thanh Tuyền và cả con Ánh nữa.

– Không ! Ở đây chúng nó không được phép yêu. Chúng nó bị theo dõi gắt lắm. Chẳng có đứa nào có tình nhân đàng hoàng. Hể vừa lú ra là bị chém.

– Ủa sao kỳ vậy. Ở trường pháo tôi, tôi cho tự do, yêu nhau cưới hỏi đúng nguyên tắc.

– Tao đã bảo mày ở đây là hoàng cung mà. Chỉ có điều khác là tụi vệ binh này chưa bị thiến như thái giám thôi!

– Còn anh nói tình địch nào của tôi?

Hai Nhơn kề tai tôi nói nhỏ. Tôi sững sờ lặng câm. Hai Nhơn cười khè khè :

– Hôm trước bà Sáu Vi vô đây, mụ ta có đi theo đem cái nồi bể vô cho ông ấy pha chè đâu hai ba tuần gì đó. Khi về Hà Nội, mỗi bà cộ một xe đồ Mỹ Ngụy, một tá đồng hồ viết máy.

Tôi ngồi lặng thinh cơ hồ không nghe gì. Tâm trí tôi ngược về dĩ vãng xa vời. Thời đó tôi từ miền Đông xuống Tháp Mười trong phái đoàn của bác sĩ Trần Văn Du. Đi nửa đường, phái đoàn bị phục kích trên sông Vàm Cỏ đông. Bác sĩ Du bị Tây bắt đưa về thành rồi cho ông ta một tiệm thuốc Tây. Ông ta thích quá ở lại thành và cưới vợ khác trong khi bà vợ có bầu ngoài bưng. Lúc đó tôi đâu chừng mười tám tuổi. Trong lúc chờ đợi chuyến đi xuống miền Tây, tôi được đưa tới một nhà nông dân bên cạnh chòi của luật sư Lê Đình Chi trên bờ kinh Dương Văn Dương. Ông bà ra Tháp Mười nằm cheo queo vì không có việc gì làm, chỉ toàn đọc sách tiếng Pháp. Một lần dân quân nạt nộ và tịch thu tất cả sách.

Hoạ vô đơn chí phái đoàn chúng tôi vừa chết hụt ở Vàm Cỏ Đông, lại bị máy bay oanh tạc. Gia đình ông Chi và tôi chạy ra núp ở gốc cây rơm. Vì hốt hoảng và không có kinh nghiệm nên cứ ôm gốc rơm úp mặt, đưa lưng ra mà chịu trận. Ông Lê Đình Chi tử nạn trong trận oanh tạc đó.

Và liên tiếp mấy ngày liền chúng tôi bị càn quét kịch liệt. Quân Pháp có cả xe lội nước. Sống sót sau trận ruồng, bà Chi và cô gái định trở về thành, nhưng người ta tới can gián và hứa hẹn đặc ân này nọ. Đã trót thì phải trét bà Chi cùng cô con gái ở lại kháng chiến ( !). Rồi người ta đưa bà xuống miền Tây sống yên ổn hơn.

Trong những người tới khuyên bà Chi có ông Tư lệnh chiến khu 8 tức là Trần Văn Trà . Ông Trà nhỏ con, không phải Tướng nhà binh nhưng lại có quyền hành. Gia đình bà Chi nằm trong tay ông ta. Ông Trà cũng không phải là dân Nam Kỳ . Tôi đoán vậy vì nhiều lần ông tới nói chuyện với bà Chi, tôi nghe giọng nói hơi cứng. Bà Chi lúc đó mới bốn mươi, còn đẹp gái. Dân thành thị mà ! Ở đây tôi xin nói lên một sự thực mà người trong cuộc cũng không thể chối cãi. Ông Trà đến là để ve vãn bà Chi. Sau cái chết bất ngờ của ông Chi, ông Trà càng đến an ủi bà thường xuyên và tận tình hơn trước.

Bà Chi có ý muốn bắt tôi làm rể. Cô con gái bà tên Thoa, không đẹp lắm nhưng có duyên và rất quý phái. Đi bắt ốc bắt cua quanh hè lúc nào Thoa cũng gọi tôi cùng đi để bắt đỉa cho nàng. Tôi đến và thân với nàng cũng như đối với hàng chục cô gái khác trong ban Rùm Beng của tôi ở khu 7 và các cô tôi gặp trên đường kháng chiến của tôi chứ tôi nào có định làm rể ai đâu. Nhưng Thoa yêu tôi lắm. Lạ thế cơ. Tôi là thằng ngông nghênh ngổ ngáo vừa là học sinh vừa là chăn trâu, không hiểu tại sao cô nào gặp cũng tặng khăn thêu, tặng hình và tặng thứ nọ thứ kia nữa.

Bà Chi thấy ông Trà xáp với bà hơn mạnh, nên bà tìm cách tự giải vây để thủ tiết với chồng chết mộ chưa xanh cỏ. Thật là xót xa.

Rồi tôi đi xuống miền Tây. Bà Chi cũng xuống miền Tây. Tôi vô học trường Lục quân Trần Quốc Tuấn để mong “da ngựa bọc thân thể trai” như bài hát của Văn Cao mà tôi thích.

Một hôm tôi đến nhà bà Chi ở Kinh 14 thuộc xã Biển Bạch. Thoa nay đã lớn và ra mã con gái rất chững chạc. Chúng tôi yêu nhau. Tóm tắt đại khái như vậy cho nó qua mau đi, chớ nếu viết ra thì dài dòng lắm. Chúng tôi không hứa hẹn gì cả nhưng tôi vẫn tới lui khi có dịp. Bà Chi không ngăn cản mà lại còn khuyến khích.

Thì đùng một cái cô Thoa thở thành bà Tư lệnh Miền Đông Nam Bộ. Lúc bấy giờ tên Tướng Lê Hiến Mai tự là “Lê mái hiên” vừa vào với Lê Đức Thọ. Toàn Nam Bộ được chia ra làm hai: Phân liên khu Miền Tây và Phân liên khu Miền Đông. Miền Đông do Tư lịnh Trần Văn Trà cai quản. Tôi nghe người ta đồn rằng từ trên đó, ông tư lịnh điện xuống bạn bù khú là Võ Quang Anh, Tư lệnh khu 9 cũ . (Ông này cũng rành nghề cướp vợ người. Cô Thu Hồng là vợ của thằng Sơn Lâm bạn tôi bị ông phỗng tay trên. May mà thằng Lâm không sập bẫy của ông ta. Hắn chửi địt mẹ cách mạng rồi dông về thành cưóoi vợ đi học sĩ quan. Sau này lên tới Trung Tá QLVNCH.)

Ông Tư lịnh họ Võ này giúp ông bạn họ Trần đưa nàng Kiều lên Miền Đông động phòng hoa chúc. Nàng đã phản đối bà Chi kịch liệt nhưng áo mặc không qua khỏi đầu. Nàng nhảy xuống sông tự tử ngay hôm xuống thuyền rồng về Chiêm Quốc, nhưng con sông Cáí Lớn không phải là sông Hồ Hán.

Tôi nghe đủ mọi chuyện và nhớ vụ thằng Sơn Lâm, nên càng tránh xa gia đình này. Bà Chi có nhắn một người quen rằng bà gán cô Thoa cho ông Tư lịnh để thủ tiết với chồng. Nếu không làm như vậy ổng cứ rề rà hoài sợ rằng bà ta khó cưỡng. Sự thực là về sau bà vẫn ở vậy không lấy ai mặc dù có rất nhiều ông lớn đến thăm nom săn sóc bà.

Thì thôi, cũng được, tôi tự coi như mình hi sinh cho một tiết phụ. Nhưng tôi ớn cái bẫy sập của “ở trên”: Người ta sẽ có thể bày mưu đưa mình đi mặt trận và nhờ địch giết. Bạn đời ơi ! chuyện đó có xảy ra rồi. Thằng Sơn Lâm chỉ là một trường hợp. Do đó khi học xong trường Lục Quân, nhiều thằng bạn tôi xin về miền Đông còn tôi thì không ! Thù cá nhân, thù tình địch còn nặng hơn quốc thù và quân giặc mà !

Thế nhưng đi vòng vo trái đất, những tên tình địch lại gặp nhau ở đây. Một đằng thì Tư lịnh, một đằng thì anh hùng rơm. Nhưng nếu đem tôi và gã ra trước mặt giai nhân thì ắt tôi đứng trên gã một bậc trong tim nàng.

Nghe Hai Nhơn khêu lại chuyện xưa, tôi đâm ra giật mình. Tôi nghĩ tới vụ thằng Lâm bị tên Tư lịnh đưa đi trinh sát đồn ở Long Châu Hà rồi bảo một tên khác bắn vén ót Lâm. May sao tên này không bắn mà còn báo cho Lâm biết để trốn đi.

Ba Thắng gợi ý cho tôi ra chỉ huy bộ binh ở Củ Chi chắc chắn không phải là cái bẫy sập gài cho tôi. Nếu tôi còn ở pháo binh có thể bị hi sinh cho những trận pháo kích khác do R đặt ra và giao cho tôi thi hành.

Thấy tôi ngồi đờ đẫn, Hai Nhơn hỏi:

– Hồn Bướm Mơ Tiên hả mày tụi?

Tôi giật mình. Dòng tình cảm cũ đứt ngang. Tôi trở lại thực tại. Hai Nhơn cười:

– Trong rủi mà may đó chú em.

– Cái gì rủi, cái gì may ?

– Nếu cuộc tình đó thành thì chưa biết chừng mày đã văng dênh! Hì hì bây giờ rảnh tay mày tha hồ mà “hoạt”. Mụ ta bây giờ đã thành heo nái xề rôi, mày thấy mày cũng không ham nữa đâu. Thôi bỏ qua mọi dĩ vãng. Dù nó có đẹp đến đâu thì cũng là dĩ vãng. Nào, mày đã hái được mấy quả đào thơm, đã tắm ngọc tuyền mấy lần?

Tôi cười:

– Tiên đông quá anh Hai ạ!

– Mày đã đăng ký vô đạo quân nhảy dù chưa?

– Tôi suýt đi học phi công bên Liên Xô, nhưng vì trong mình có mấy vết thương và một cái răng có vết đen nên bị đưa qua pháo binh chớ vô quân nhảy dù hồi nào.

– Mày không biết gì hết. Ở đây có cả một đội nhảy dù răng lung lay, tóc bạc đấy.

– Ai vậy?

– Thì Sáu Nam, Chin Hô, Bảy Mai, Tư Khanh, Ba Thắng, Ba Chè, Năm Lê chớ còn ai nữa.

Thấy tôi ngơ ngác, Hai Nhơn lại cười:

– Mày có thấy đó là một bầy triệt giáo không? Mặt mốc, râu rìa, lỗ mũi lân, mắt lươn, trán dồ, miệng móm, răng bàn nạo, toàn bọn thú đội lớp người và khoác áo đạo đức cầm gậy phép chỉ huy. Mày cứ xem kỹ đi. Có thằng nào có tư cách đàng hoàng thì cạo đầu tao bằng búa.

– Chú Bảy Mai mới về mà cũng đã lập thành tích rồi à?

– Thành tích của chả bây giờ còn sáng chói hơn thành tích hồi chín năm với con Đoàn Thị Chơn nữa. Hồi đó hai chú cháu mê nhau dắt đi ta bà một tháng về đơn vị bị chánh ủy Nguyễn Việt Hồng phạt cơm lạt một tháng rưỡi mày chưa quên chớ?

Tôi hỏi nhỏ Hai Nhơn. Hai Nhơn cười ré lên:

– Đó là một cuộc nhảy dù chưa từng có trong cổ kim lịch sử. Nhưng mày cứ tin đi hễ sanh nghề thì tử nghiệp. Nhảy mãi rồi cũng có ngày đứt dây.

– Ông ấy cưng cô ta như cháu mà.

– Sao mày biết tới chuyện đó nữa?

– Con Thanh Tuyền học với tôi.

– Ừ, đúng đấy, cháu với chú như cha với con. Nhưng chú với chó thì chỉ khác nhau có một chữ.

– Ông ta là bác chớ đâu phải chú.

– Hà…! Chú với bác thì cũng thế thôi.

Sáng hôm sau, phái đoàn anh hùng pháo binh trở về sơn trại. Tôi ngỡ như lạc Thiên Thai cả trăm năm. Bây giờ trở lại đường trần bước chân hơi bỡ ngỡ.

Ba Hải hỏi ngay sau khi ra khỏi trạm 66:

– Cậu có định làm rể ông Sáu Nam không?

– Ai nói vậy?

– Trong đó người ta đồn rùm.

– Giỡn hoài cha nội.

– Nè, bọn cảnh vệ nó theo sát ông nghe.

– Theo sát cái gì?

– Cậu có lội qua suối không?

Tôi giật mình đáp.

– À à… có …ó!

– Rồi sao nữa?

– Thì qua suối vô Cục Tham Mưu làm việc với các ông ấy.

– Làm việc với Cục Tham Mưu tôi biết rồi, nhưng còn cái việc cậu lội qua suối kìa!

– Tôi đi chung với con Mai, con Trúc, con Tuyết tới ngã rẽ…

– Chúng nó đi trước . Rồi ai theo sau?

Thấy chối không được tay già giơ này tôi thú thực nhưng chỉ đưa ra “nửa khúc bánh mì” thôi. Ba Hải nói:

– Cậu sập vô cái hũ nếp rồi đấy.

– Hả!

– Ừ! thì vậy đó!… Không phải khi không con nhỏ lội qua suối một mình. Con nhỏ này đi đâu cũng có cảnh vệ đi theo đó cậu ạ ! – Không đợi tôi nói gì, Ba Hải tiếp – Thôi vậy cũng được. Cậu cũng nên lập gia đình đi. Đã đến tuổi lâu rồi. Con nhỏ mới mười bảy nhưng không sao, các chả đã mọc sừng ba ngấn cả nhưng vẫn cưa phăng đi để làm nghé có sao đâu? Thôi, về huấn luyện hết khoá này rồi lên làm phò mã giữ ngựa cho cô Thanh Tuyền.

– Giỡn hoài anh Ba ! Tôi không có giữ ngựa cho ai đâu.

Vừa đến đó thì có một người đàn bà từ trong một túp chòi đi ra đường. Bà ta tóc hoa râm, mặt mũi bơ phờ, quần áo xốc xếch. Tôi thoáng nhận ra người quen thì bà ta đã lên tiếng:

– Lôi ở ban “Rùm Beng” hả ! Bây giờ làm anh hùng hả?

Tôi đang moi trí nhớ xem là ai thì bà ta tự xưng:

– Hai Mặn đây em. Hai Mặn đoàn trưởng phụ nữ tỉnh Bà Rịa hồi chín năm. Hai Mặn yêu anh Chọn, Trung đội trưởng nhưng mê chức Tiểu đoàn phó của Sơn Tiêu mà ngày nay mới ra nông nổi. Thằng khốn nạn nó không dám về R, nó đi thẳng xuống I/4 rồi. .

– À chị Hai.

– Nhưng chị nhất định phải gặp mặt nó để hỏi tội phản bội của nó. Nó ra miền Bắc ở gần cụ Hồ sao có thể làm bậy như vậy được? Nó lấy con mẹ đan len ở phố hàng Đào tên Lê. Về Nam nó còn trêu gan chị, nó lấy tên là Năm Lê… Phải hồi đó chị lấy anh Chọn…

– Chị quên rồi! Anh Chọn là trung đội trưởng sau đó đánh trận Rạch Vọp, hi sinh…

Hai Mặn gạt ngang:

– Chị quên sao được! Anh Chọn đen đúa xấu trai làm Trung đội trưởng. Anh hi sinh trong trận đánh đồn Rạch Vọp. Chị ân hận lắm!

Thấy tôi gặp lại người cũ, Ba Hải bảo anh em kiếm gốc cây ngồi chờ. Chị Hai Mặn khóc mùi. Chị vừa quệt nước mắt vừa kể lể làm tôi rưng rưng. Chị tiếp:

– Có lẽ vì chị thành hôn với thằng khốn kiếp Sơn Tiêu mà anh ấy hận đời và liều mình chết cho xong. Chị nghĩ như vậy nên chị cứ ân hận hoài. Sau này lúc nghe thằng khốn nạn này lang bang ngoài Bắc chị càng ân hận hơn, nhưng làm sao sửa chữa. Gái đã có chồng thì dù sao vẫn phải theo chồng.

– Sao chị biết ổng lấy vợ ngoài Hà Nội?

– Chị vô trong cái ổ quỉ đó nằm chờ và điều tra mấy thằng cha đầu bạc. Mấy thằng chả không chối được nên khai hết sạch.

– Sao chị vô trong đó được?

– Chị là ủy viên thường vụ Khu ủy bây giờ nè em. Bà Ba Định chỉ mới là Tỉnh ủy và chỉ huy đạo quân đầu tóc lem nhem thôi mà ! Nếu chị không vô được trong đó chị nhất định sẽ phá tan hết.

Tôi bất nhẫn tâm can nên kiếm chuyện đòng đưa cho qua :

– Bây giờ chuyện như vậy rồi, chị có làm gì thì cũng thế thôi. Vợ lớn ông Trung tướng Vịnh, vợ lớn ông Ba Duẫn đánh ghen ở Hà Nội rầm trời cũng chẳng ăn thua chi. Rốt cuộc mấy ổng cũng binh vợ bé chị Hai ơi!

Hai Mặn giận dữ:

– Chị có cách. Chị có cách em à. Chị tức lắm. Khi đình chiến, chị định đi tập kết với hai đứa con trai, nhưng nó bảo chị ở lại đấu tranh hai năm sẽ về, vợ chồng sum họp, sống hoàn toàn hạnh phúc. Chị tin nó, chị ở lại nuôi con. Chị đi tù, chị bị tụi tố cộng bắt chị ly dị nhưng thà chị chịu cực hình chớ không khai báo vì chị nghĩ tới hạnh phúc dân tộc trong đó có hạnh phúc cá nhân. Nào dè bây giờ nó chỉ là thằng đểu thằng tồi như vậy.

Tôi khuyên can cầm chừng:

– Ông nào cũng vậy hết chị Hai ơi ! Không phải chỉ riêng ông Sơn Tiêu đâu!

– Như vậy cụ Hồ sống sờ sờ đó để làm gì ?

– Cụ Hồ trong phủ Toàn Quyền làm sao biết được những chuyện đó ?

– Còn đồng chí Lê Duẫn, còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp chi?

– Hai ông cố nội này há miệng mắc quai làm sao mà dạy dỗ ai?

– Còn Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nổi tiếng là thanh liêm chánh trực làm chi?

Tôi khựng lại hồi lâu vì không hiểu hiện giờ ổng còn thanh liêm chính trực hay hết rồi. Đạo đức có thể là cái váy quá ngắn che không kín những cặp đùi ngon như đùi gà đùi cừu rô ti.

– Rồi bây giờ chị định “ngồi thum” đội trạng kêu oan hay sao?

– Chị nghe nói ông Nguyễn Chí Thanh sắp vô. Chị cất chòi ở đây chờ ổng đòi ổng thi hành kỹ luật cho phân minh. “Tiên hậu kỳ gia rồi mới hậu trị kỳ quốc”. Làm cha làm chồng không xong, làm chúa gì ai? Nếu ông Thanh không xử vụ này chị sẽ ra tới cụ Hồ.

Tôi cười:

– Ổng đang ở trong kia kìa. Nhưng ổng không tiếp chị đâu vì ổng bận huấn luyện cô cháu gái.

– Huấn luyện cái gì?

Tôi lại cười:

– Cái gì ai biết cái gì?

– Huấn luyện cô cháu nào ?

– Vợ ông anh hùng Nguyễn Văn Trỗi ấy mà.

Chị Hai Mặn xì một tiếng mà không nói gì. Tôi cũng không nói gì. Biết nói gì bây giờ. Thấy đám Ba Hải chờ hơi lâu, tôi hỏi:

– Bây giờ chị tính đi đâu?

Chị Hai, mắt đỏ chạch cố nuốt giận:

– Chị cũng không biết đi đâu.

– Thôi thì về cơ quan công tác chị ạ. Bác Hồ dạy: hãy quên việc riêng để lo sự nghiệp.

Chị lại không nói gì nữa. Mắt chị chớp lia, chị có vẽ suy nghĩ điều gì dữ dội lắm.

Tôi chào chị mà đứt đi từng đoạn ruột. Tôi không có quen nhiều với chị trước kia, nhưng bây giờ thấy tình cảnh của chị như vậy, tôi đau đớn vô cùng.

Tôi trở lại. Ba Hải và cả đoàn cùng đi tiếp. Ba Hải nói:

– Các cha to đều như thế cả. Gặp ai thì qua được, chớ gặp bà này thì không xong đâu.

(Quả thật, sau đó ít lâu, khi tôi về Củ Chi chỉ huy Tiểu đoàn Thép nghe tin chị Mặn bỏ về thành lấy ngay một sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và cho hai đứa con học trường Thiếu sinh quân ở Vũng Tàu. Còn Năm Lê ở trong này tiếp tục trò con heo. Hắn có cả con gái nuôi mười bảy tuổi. Hắn ghen với đám thanh niên trong cơ quan và ngủ với con gái nuôi. Quyển sau sẽ kể tiếp)

HẾT QUYỂN I

—->Chương 14-15-16

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: