2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QII – (31-30)

2000ngaydem_bia2Đây CỦ CHI! Đất Sét Sắp Thành Bùn

Chương 31
Những mối duyên và nợ

Bữa tiệc thịt chuột nhậu oắc cần câu. Khách vừa ra về tôi mở ba-lô giăng võng ngay miệng hầm ngả lưng ngay.

Lụa la:

– Anh Hai ! ngủ đó không được đâu !

Tôi lè nhè đáp và nhắm mắt giả ngủ.

– Chừng nào nó thụt anh phóng xuống!

– Đã bảo không được là không được mà . Nó giã gạo anh không xuống kịp.

– Kệ anh, em đi ngủ với con Rớt đi. Lần trước ở nhà má anh ngủ trên ván gõ với thằng Tư Linh đó, có sao đâu!

– Hồi đó khác, bây giờ khác.

– Cũng Mỹ, cũng Đồng Dù chớ khác cái gì!

– Anh say rồi hả ?

Tôi lặng thinh giả ngủ. Lụa đến bên tôi năn nỉ:

– Em lạy anh, anh Hai. Hồi đó nó chưa có pháo siêu âm, bây giờ nó có đủ hết. Nó bắn túm giò chạy không được. Thiếu gì người chết bên miệng hầm rồi đó.

Tôi biết là một tai nạn sẽ xảy đến cho tôi. Tôi cứ nằm lỳ, tâm trí tỉnh queo nhưng giả bộ ngủ. Tôi biết tôi đứng ở bên bờ vực. Tôi cố ghìm tôi lại để khỏi rơi. Mong sao đừng có cơn gió nào thổi ập sau lưng tôi.

Tôi biết tình ý của Lụa và Là . Tôi đã ghì cương con ngựa hoang trong lòng tôi lại bao nhiêu lần rồi. Lần này chưa biết sao. Tôi cố giữ nó lại bằng cách nghĩ tới thằng chồng của Lụa đang đi dân công ở Phước Long. Nếu mình đi như vậy mà ở nhà có thằng…

Tôi lôi cả những bài luân lý giáo khoa thư, những câu cách ngôn học ở trường: Đừng làm việc gì cho người khác nếu mình không muốn người khác làm việc đó cho mình. v.v… Quả y như lời Lụa nói, tôi đang thả hồn phiêu diêu thì nghe giã gạo ình ình. Tôi bật dậy như máy. Lụa gào lên thất thanh: Anh Hai, anh Hai!

Tôi chui tọt xuống hầm nhanh hơn chuột vô hang. Lụa đang ngồi trên giường đầu tóc rối bù. Ngọn đèn dầu rung rinh theo nhịp chày nện. Tôi hỏi:

– Ở đâu vậy?

– Chắc là Gót Chàng.

– Sao nghe xa vậy?

Lựa vừa vén tóc bới lại và nói:

– Có thể là Bàu Lách Bào Trăn gì đó.

– Nó thường bắn lên tới đây không?

– Ít khi ! Ở đây thì nằm trong tầm pháo Trung Hòa.

– Trung Hòa chỉ có pháo 105 không đáng sợ!

– Ở đó mà không sợ. Ở Củ Chi chỗ nào nó bắn cũng tới hết. Nó biết giác này xe bò Hậu Cần chở gạo, đuôi tôm Hậu Cần chạy trên sông nên nó bắn dọn đường.

Tôi ngồi ghé lên giường cách Lụa xa xa. Bé Rớt vẫn ngủ say trong một ngách nhỏ. Nó không giật mình. Có lẽ nó đã quen với loại âm nhạc này. Hiệp pháo chấm dứt. Lụa nói:

– Bữa nay nó bắn ít đó anh ạ . Có lẽ nó bắn cầm chừng. Chớ nếu nó thấy cái gì là nó thả cho hai chục phút. Anh cứ khinh thường là không có được.

Lụa nói xong thọc chân xuống đất vô tình để lộ ra mãng chân trắng ngần. Nàng bước xuống và bảo tôi:

– Anh ngủ trên giường đi, để em vô ngách bên cạnh.

– Sao không để con Rớt ngủ giường? Ngủ trong ngách ngộp chết!

– Để nó ngủ giường có việc gì kêu nó không được. Ngủ trong ngách chắc hơn.

– Dì Út nó ngủ ngách nào?

– Nó muốn ngủ ngách nào thì nó ngủ không có chừng có đổi gì. Thôi, anh còn mệt ngủ đi để sáng mai nó chụp có sức mà chạy.

– Ở nhà không có hầm hố gì hết sao?

– Có nhưng ba cái thứ ôn binh đó chỉ có dì Út nó chui thôi, trời biểu em cũng không xuống.

– Gần nhà hay xa.

– Ngay gần miệng đường thoát thân. Để sáng em chỉ cho. Trước nhất anh vô hầm trốn bom pháo dọn bãi. Kế đó anh theo đường nhỏ chui ra rồi xuống hầm luôn. Em ở trên nghi trang cho.

Lụa nói xong bò vô ngách.

– Sắp tới đợt pháo Trung Hòa rồi.

– Sao em biết?

– Đêm nào cũng vậy mà. Có khi Trung Hòa giã trước rồi tới Đồng Dù, có khi Đồng Dù giã trước rồi kế Trung Hòa.

– Em sợ cái nào hơn?

– Cái nào em cũng sợ, chỉ bữa nay là không sợ thôi.

Tôi biết nếu tôi hỏi tại sao thì Lụa sẽ đáp như thế nào nên không hỏi tới nữa. Lụa nằm ló hai chân ra phía tôi. Cái ngách giống như cái hòm bằng đất, nếu ngồi dậy thì đầu đụng nóc. Tôi nằm xuống im lìm cố không nhúc nhích và nhắm mắt để ngủ . Nhưng ngọn đèn dầu đặt trong lỗ khoét vào vách đất như cái hột đậu xanh cứ chớp chớp trong trí tôi. Tôi vô tình nằm trên chiếc gối của Lụa. Một ít hương tóc của người đàn bà còn rơi sót ở đó. Tôi thở thấy rõ. Cái gì của đàn ông thì đàn bà nhạy phản ứng, cái gì của đàn bà thì đàn ông nhạy phản ứng.

Chưa bao giờ tôi gần một người đàn bà mà trong bụng tôi không khỏi phập phồng. Mai Khanh, bà khu ủy… và bây giờ là Lụa. Tôi đã đi đến chỗ meo nhất của miệng hố. Lụa ngồi dậy quơ tay và đụng vai tôi.

– Anh đưa em cái mền.

– Đâu có cái mền nào ở đây.

– Tấm vải dù của anh ở đâu?

– Anh bỏ ngoài võng.

– Để em lên lấy!

Nàng vọt lên rồi trở xuống ngay, nằm im không nói không rằng. Tôi cho là đã qua ải. Lạy trời cho con một giấc ngủ bình thường. Nhưng một chút Lụa lại gợi chuyện. Nàng kể lể:

– Má nhớ anh dữ lắm. Má được thơ anh, ngày nào má cũng ngóng. Chờ hoài không được nên má mới đi qua dì Ba bên Thanh An. Em cũng muốn đi qua bên đó yên ổn hơn cho con Rớt học hành, nhưng em sợ anh về đây không thấy ai hết, bơ vơ tội nghiệp. Anh đi anh vui với bạn bè đâu có biết người ở nhà lo cho anh.

Nàng sụt sịt khóc. Đột nhiên nàng đổi giọng:

– Em còn biết anh ăn cháo gà ở dưới cô Ba Phi nào đó ở Xóm Giữa nữa. Ăn xong ngủ tới sáng mới về. Anh đâu có nhớ ai.

Tôi cãi lại:

– Người ta đồn bậy chớ anh đâu có ngủ dưới ghe ai.

– Còn không có nữa ? Không có sao người ta đồn?

– Anh với thằng Hùng ra đó mua đồ.

– Rồi còn cô nào đi theo anh mấy trạm liền mới trở về?

– Người ta đi công tác chớ theo gì anh!

Nàng bắt qua chuyện khác:

– May là trái bom nổ ngoài gốc vú sữa, nếu nó trịt vô chút nữa thì anh về đây đâu có ai mà… mà nấu cơm cho anh ăn.

– Bữa đó em ngủ trên nhà má à?

– Em lên rước con Rớt về rồi bị đầm già bắn điểm kẹt lại trong vòng bom. Để mai dì Út nó về dắt anh lên coi nhà cửa có còn cái gì không? Má tiếc cái nhà, má không muốn đi nhưng em đốc má đi qua bên đó ở cho yên. Ba cây cột kèo cháy dở em gom lại làm được cái hầm này.

Tôi bỗng nhiên cảm thấy mình như người chồng đi xa về được vợ ở nhà kể cho nghe những biến cố gia đình trong lúc vắng mặt. Tôi chép miệng, nói một câu rất chính trị:

– Ở đâu cũng vậy hết, nhà cửa tan nát, cha mẹ xa con, vợ lạc chồng.

Chằng ngờ câu nói lại chọc trúng tim người đàn bà sầu muộn. Nàng òa lên khóc. Tiếng khóc trong hầm chật vang to như trong phòng ghi âm của đài phát thanh. Tôi phải nói tiếp một câu chính trị hơn nữa:

– Chừng nào Mỹ thua, mình mới sống bình yên được.

– Xí chừng nào Mỹ mới thua?

– Em giỡn hoài.

– Mấy ổng có đánh chát gì mà nó thua. Có hồi sau Đồng Khởi Công trường 9 của ông Sáu Nhâm về đây làm được mấy trận rồi sau khi rút về R, ở dưới này êm rơ luôn. Đánh cà trật cà duột không ăn ngọt được cú nào hết. Bây giờ có cái Đồng Dù này mấy ổng cũng biến mất.

– Năm nay mình củng cố lực lượng năm tới làm ăn lớn.

– Anh hăng quá ha ! Em nói cho anh biết, ai người ta cũng thả rều, nước tới đâu lục bình tới đó . Một mình anh không đủ đâu. Anh có nghe ông Tư Chuyền than chưa? Quân y mà như vậy, lính làm sao dám xung phong?

Tôi được cơ hội nên rẽ ngang tránh mũi nhọn của người đàn bà. Tôi hỏi:

– Ông ta người xã nào vậy em?

– Hình như Trung Lập hay An Nhơn Phước Vĩnh Ninh gì đó em không rành.

– Sao ổng biết anh về mà tới thăm vậy?

– Giề ! Ổng đi đến nhà bà Khỏe chẳng may gặp anh nên lỡ bộ nói vậy đó chớ thăm gì anh!

– Ông ta vui tính và bình dân chớ em!

– Bình dân nên bà Khỏe phá thai mới có một lần thôi !

-Trời đất! Có thiệt hả?

– Kỳ trước anh nhờ bả đi móc gia đình mà bả đi không được là mới phá thai chớ mấy đứa nhỏ nào bịnh!

– Mấy cha nội đó vậy không!

– Ông nào cũng vậy không phải một mình ổng. Bữa nào dì Út nó về, anh bảo kể cho nghe vụ ông Ba Xu.

– Ba Xu nào?

– Tư lịnh của anh chớ Ba Xu nào?

– Chuyện gì?

– Dì Ba mình là mèo của ổng đấy!

– Dì Ba nào?

– Em của má , dì ruột của em chớ còn dì Ba nào? Dượng Ba chết lâu rồi.

Tôi thở dài. Ở trên đó gặp vụ Năm Lê bị bà Hai Mặn cút bắt tại cổng nhà giời, xuống đây đụng ông Ba Xu léng phéng. Vợ con ông ta đùm đề mà ổng cũng léng phéng ư? Những tên tai to mặt lớn là chúa làm bậy nhưng lúc nào cũng lên lớp huấn từ người khác.

Tôi ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Tôi nghiêng mình qua trở bộ thì đụng một vật gì âm ấm. Tôi mở mắt ra. Ngọn đèn đã biến mất. Hơi thở phà vào da mặt tôi. Tôi nằm nhích ra. Nhưng có tiếng rủ rỉ:

– Em… lạnh… quá hè.

– Tấm đắp của anh đâu?

– Em đắp… cũng khô… ông hế… ết lạnh.

– Em đừng làm vậy con Rớt thấy nó mét má, má rầy.

– Má không rầy đâu! Em biết mà.

– Sao không rầy?

– Ba con Rớt mất tích rồi. Chú Tư Thiên giấu em hơn một năm nay.

Lụa òa lên khóc và ôm chặt cứng lấy tôi.

Sáng thức dậy, tôi ngỡ vừa đầu thai kiếp khác. Tôi không muốn nhớ lại chuyện pháo bắn đêm qua nữa. Tôi đã hèn yếu không cưỡng lại nổi ý muốn nóng bỏng của người đàn bà. Nhưng thôi, 99% tội lỗi của đàn ông là do đàn bà, tôi tài gì. Hơn nữa tôi là kẻ dễ dàng phạm tội. Huống chi đây không phải tại tôi. Có khi không hẳn là tôi mà là phúc. Nghĩ vậy tôi cũng yên tâm.

Tôi thấy hơi lọng cọng như đôi vợ chồng mới ở chung một nhà. Giá con Rớt thức dậy, tôi nói chuyện với nó thì đỡ ngượng hơn. Ngược lại Lụa rất tự nhiên. Nàng khuấy sữa bưng đến cho tôi và nói:

– Anh đừng có khinh thường pháo như vậy nữa nghe.

– Anh sợ hầm chật.

– Mà có chật không?

Tôi đánh trống lãng:

– Để anh đi đằng này chút.

– Đi đâu thì cũng ăn cơm rồi mới đi.

– Đi vô C5 gặp ông Tư Chuyền một chút.

– Em biết anh đi đâu mà !

– Đi đâu?

– Hai con nhỏ đó là đồ yêu tinh chớ không phải đồ tốt đâu. Tụi nó ngủ chung hầm với Tư Chuyền đó. Thằng chả một đứa còn thằng cha Tám Lê bên Bưng Còng một đứa. Bà Thắm ghen muốn hộc máu ra đó. Ai cũng biết bả ghen mà xanh lét như con mắm trở.

– Bà Thắm nào?

– Bữa nào ông Tám Lê qua đây anh hỏi thì biết. Thằng chả dụ khị con Nga nhỏ cho đi học y sĩ. Xí, cái thây thằng chả chưa biết có được y sĩ chưa lại cho người khác học y sĩ.

– Đó là chuyện của họ ăn thua gì tới anh?

– Sao không ăn thua, anh vô đó tụi nó bắt xác anh cho coi. Thời buổi chiến.tranh này, sống chết như nháy mắt, nó gặp anh là nó mết ngay.

– Em làm như anh là . . . gì vậy ?

Lụa xổ một hơi.

– Ừ! để rồi coi ! Đố anh khỏi tay hai con quỉ đó. Con gái gì mắc võng trên mình đàn ông. Ngủ như vậy năm này qua tháng khác không bị sao được.

– Võng gì mà mắc trên mình?

– Anh không biết à? Bộ trên R không có vậy sao?

– Trên R thì ngủ trong rừng thôi chứ làm gì có cái vụ chồng lên như vậy.

– Cũng do ba cái vụ pháo bắn mà ra. Không ai dám ngủ khơi khơi trên mặt đất. Dân thì phải ngủ trong hầm. Còn cơ quan phải đào hầm ngoài rừng mà ở. Hầm đào không xuể, phải ngủ chung. Võng giăng hai ba từng, ông từng dưới bà từng trên, vậy đó!

Tôi dã lã :

– Em nói vậy anh biết rồi. Anh sẽ tránh xa ra.

– Anh mà tránh, tránh tới thì có.

– Ừ, thôi anh không đi đâu hết. Anh cứ nằm ỳ ở đây, dì Út nó về anh khai hết.

– Anh cứ việc khai. Anh khai với má luôn đi. Em thách anh đó.

– Nhớ nghe !

Nàng sụt sịt muốn khóc.

– Chớ ba con Rớt như vậy rồi, em thủ tiết với ai nữa?

– Thôi em! đừng có khóc, anh khổ lắm!

– Em biết anh dòm ngó đâu đâu chớ đâu có chịu nhìn cây cỏ dưới chân anh.

Cơm nước xong, tôi nai nịt đi C5, bỏ cái ba lô ở nhà. Vừa ra khỏi cửa là đụng sứ giả của Tư Chuyền: Bảy Phúc tay cầm cái lồng có mấy con chuột cống lông vàng khè.

– Anh Tư, mời anh vô chơi.

Lụa tuôn một hơi.

– Chơi gì mà chơi. Mới hồi hôm không đã sao mà còn kêu réo? Để cho ảnh nghỉ khỏe rồi đi công tác.

Bảy Phúc cười ý nhị:

– Một đêm chưa có đã nên kêu ảnh vô chơi tiếp. Hè hè .. . Còn một rộng chuột cống trong đó…

– Ăn ba con chuột đó miết trổ phong cùi cho coi.

– Chuột người ta kiếm không ra, chuột gì trổ phong cùi.

– Chuột bị hóa học, chuột ăn thây ma ăn không bị cùi hả? Bác sĩ gì ăn ẩu tả không hè.

Tôi nói:

– Tôi cũng tính đi vô đó để bàn công tác với anh Tư mà còn ngại đường đi, không biết có lựu đạn gài hay không?

– Chỉ ở ngoài đường số 1 , Xóm Mới, Gò Nổi mới có thứ đó thường xuyên. Còn trong này chỉ có ba cái hầm chông gài ếch của cô Út Là thôi. Anh nhảy đầm trên đó cũng không sụp

Bảy Phúc để lồng chuột ngoài cửa, bước vô nhà, ngó ngó một hồi rồi bảo:

– Đêm qua pháo thụt anh ngủ đâu?

– Ngủ hầm chớ ngủ đâu mà hỏi kỳ vậy?

– Ờ hầm của chị có nhiều ngách. Tôi biết mà.

– Anh chui vô hồi nào mà biết giỏi vậy?

– Đứng ngoài miệng dòm cũng biết mấy ngách nữa cần gì vô!

Tôi biết cuộc đấu khẩu này có biểu tượng hai mặt và có mòi găng nên hòa giải bằng cách chỉ cái lồng chuột:

– Chuột này mà ăn thây ma à, Phúc?

– Người ta nói vậy thôi, chớ thây ma đâu mà ăn?

– Có chớ sao không. Ông gì ở Bàu Chứa đi làm đồng bị pháo bắn chết hai ba ngày, bà vợ đi thành về mới hay. Ra đến nơi, cái thây bị khoét mấy lỗ. Tôi nghe chuyện đó, mỗi lần thấy con chuột tôi mắc ói.

Bảy Phúc giục:

– Thôi đi anh Hai.

Lụa ném theo.

– Đi một chút thôi à !

– Một chút rồi tôi đem trả lại, còn nguyên không sứt một miếng… da nào!

Lụa hết quạo, cười xòa, khoe hai hàm răng ngà có duyên hết sức:

– Mấy ông tối ngày có môn nói xầy là giỏi! Mà coi kia, con đầm già trên Dầu Tiếng xuống.

Bảy Phúc khom xuống xách cái lồng chuột, nghễnh cổ lên nhìn và nói:

– Nó rà trên sông Sài gòn kệ bà nó, giỏi thì rải hóa học tiếp bên An Điền chớ bên này còn chỗ nào xanh mà rải?

Nói vậy rồi anh em dắt nhau đi. Tôi không nhìn lại, nhưng tôi biết ở sau lưng, Lụa đứng tựa bẹ cửa nhìn theo và tôi biết ở nhà Lụa sẽ làm gì nữa.

Đi dọc đường thì đụng hai con yêu tinh xuống rước. Hồng Nga (tức Nga hai chục tuổi) hỏi ngay :

– Anh tới gia đình con Là hồi nào mà làm con nuôi má hai?

– Năm ngoái.

– Năm ngoái em mới ra khu, đóng ở Phú Hòa.

Tôi hỏi Huỳnh Nga (tức Nga mười sáu tuổi):

– Em học lớp mấy mà bỏ trường đi đây?

– Em học lem nhem không biết lớp mấy nữa !

Hai cô Nga, cô nào cũng được đến, không biết có như Lụa nói hay không? Đàn bà con gái không ai ưa ai cả chị em ruột trong nhà cũng thế. Hễ có dịp là bêu xấu nhau ngay huống chi tình địch.

Đi qua nhà chú Bảy Xe, ra khỏi vườn cao su là ra đụng bìa rừng chồi. Cây thấp nhưng rậm, Huỳnh Nga trỏ tay, bảo:

– Đường này ra Bàu Đưng đi ngang qua đồng Trà Dơ. Chắc rồi sau này thế nào anh cũng có dịp qua mấy nơi đó.

– Em thích nghề y tá này à?

– Em mới ra, mấy chú đặt đâu ngồi đó chớ biết gì mà lựa chọn.

Đang đi bỗng nàng sụp xuống kêu lên.

– Gì vậy?

Bảy Phúc xách lồng chuột đi phía trước, quay lại ngó rồi đi luôn với Hồng Nga không quan tâm. Tôi đi tới hỏi. Nga ngước mắt lên, cặp mắt đen huyền.

– Em đá trúng cái rể cây nó tách móng chân.

Tôi móc trong túi cứu thương cá nhân đeo từ Hà Nội, lấy vải ra quấn mấy vòng. Máu thấm ướt ra tận ngoài. Nga xuýt xoa. Tôi bảo cố đi về nhà rồi băng lại.

– Em hết đau rồi.

Nga nhìn tôi và nói giọng nhỏ rí. Nga đứng dậy đi. Có lẽ chân đau nên Nga đi chậm, cách xa hẳn Hồng Nga và Bảy Phúc. Bỗng nhiên Nga hỏi tôi:

– Sao anh không tìm chị Hai đi? Nhiều ông mới về tới là đám cưới ngay.

– Anh chân ướt chân ráo biết ai đâu! Em làm mai dùm coi.

– Em sợ anh chê chớ có thiếu gì.

Tôi cười:

– Anh thấy có một người đẹp lắm mà không dám.

-Anh sợ ai mà không dám?

Tôi nói ngay:

– Sợ bị thương sơ sơ mà vô bịnh xá , người ta cưa giò anh.

Nga bật cười:

– Người ta đồn bậy vậy chớ ai mà thèm cái ông già dịch đó ông ta có vợ là chị Ba Thắm có hai, ba đứa con rồi. Ai đui mà lủi vô bụi gai đó.

– Sao anh nghe người ta đồn rùm rằng bà Thắm ghen tuột quần tuột áo.

– Bả nghĩ bậy rồi bả ghen chớ ai làm gì chồng bả? Anh mới về mà nghe ai đồn mà lẹ quá vậy?

– Anh cũng không nhớ ai nói với anh.

– Em đâu có phải là người mất trí đâu anh Hai.

– Anh nghe vậy thì anh nói lại cho em biết chớ anh biết em là người có học.

– Sao anh biết em có học?

– Nghe nói chuyện thì biết. Cũng như nghe pháo đề-pa là anh biết pháo gì.

– Em cảm mến anh từ khi nghe tiếng đồn về ông thầy pháo. Quả thật tiếng đồn không sai.

– Anh nhậu nói chuyện tào lao vậy mà cảm mến cái nổi gì?

– Cùng là dân nhậu, nhưng anh khác.

Đi một quảng nữa, Nga nói:

– Anh của em là Năm Hoa ở Tiểu đoàn Quyết Thắng của I/4 này. Ảnh là tiểu đội trường. Ảnh hứa hôn với chị Tám Mang hộ sinh quận, nhà ở Bến Mương.

– Còn nhà em ở đâu?

– Em ở xã Thời Hòa, quận Bến Cát bên đường quốc lộ 13 từ Bình Dương đi lên. Anh Năm em đánh trận Cây Trộm hồi 63 bị thương, cưa hết hai chân. Gia đình chị Tám lãng ra không nói gì đến chuyện cưới hỏi. Thỉnh thoảng em gặp chỉ, nhưng chỉ không nhắc gì đến anh Năm em. Em vẫn thương chỉ lắm. Nhưng tình nghĩa phai lạt như vậy em biết làm sao bây giờ. Em chờ má em đem tiền vô, em đi lên trại An dưỡng ở Lò Gò thăm ảnh. Đời ảnh bây giờ chỉ còn nguồn an ủi là gia đình thôi.

Tôi nói ngay:

– Em thấy không? Đời chiến sĩ là vậy . Khi còn cầm súng chiến đấu thì kẻ đón người đưa, bị thương nằm một đống, cả vợ chưa cưới cũng quay mặt. Do đó anh không muốn làm phiền lòng ai hết.

Nga nói:

– Đâu phải người nào cũng như chị Tám hết, anh !

– Đã đành là người ta vẫn yêu mình đi nữa, nhưng gặp một ông chồng thương tật như vậy thì sống có thú vị gì.

Nga quay sang chuyện móc gia đình:

– Gia đình anh ở đâu?

– Trước ở Long An, bây giờ nghe nói về Sài gòn rồi.

– Anh có muốn móc chung với em không? Em có cây móc ở xóm Ràng xã Trung Lập. Nhưng có chắc là anh về I/4 không?

– Chắc anh về Pháo binh thuộc phòng tham mưu.

– Tham mưu là K10, K20 là phòng Chánh trị, K30 là Hậu Cần của em. Vậy cũng gần. Chừng nào anh có ý định móc thì anh cho em hay.

Nghe Nga nó chuyện tôi thấy nàng có trình độ như Huỳnh Mai. Tôi nói:

– Thấy mặt em là anh muốn hôn. Cho hôn một cái được không? Cho thì lấy, mà không cho thì cũng đừng cự nự nghen.

– Hồi đó tới giờ chưa ai hỏi em như vậy.

– Vậy chưa ai hôn em à?

– Có nhưng họ hôn ẩu. Em tởm lắm. Em đi rửa mặt và lau đi.

– Còn anh?

– Sao anh đòi kỳ vậy?

– Tại thấy thương chớ sao nữa. Phải hôn em được một cái thì hi sinh mới mát bụng.

Nga làm thinh cứ lầm lũi đi. Tôi nhắc lại:

– Có chịu không? Làm thinh tức là đồng ý .

Nga dừng lại chớp chớp mắt:

– Mà anh phải hứa thì em mới đồng ý .

– Hứa gì?

– Hứa là hôn em rồi không được hôn ai khác.

– Nếu anh đã hôn ai khác rồi thì sao?

– Từ đây về trước em bỏ, chỉ tính từ này về sau thôi.

– Vậy… em là gì của anh à?

– Hổng biết nhưng em không muốn anh hôn ai ngoài em.

– Ừ, anh chịu.

– Mà không được đâu, gần tới nơi rồi. Mấy thằng thanh niên thấy nó cười em.

Tôi thấy Nga dễ thương, khôn ngoan và tình cảm rất phải chăng, không xốc nổi như Thanh Tuyền. Huỳnh Mai chết rồi. Có thể đây cũng là Huỳnh Mai chăng? Nga bảo:

– Anh có nghe tiếng đào đất thình thịch trong rừng không? Đó là căn cứ của C5 tụi em.

– Đâu đưa anh vô xem.

Đi theo một con đường mòn mới lởm chởm gai góc và luồn qua những nhành cây thấp. Nga đưa tôi đến một công trường đào đất gồm có bốn mạng. Tôi ngó qua thì thấy đó chỉ là một loại giao thông hào có nắp đậy. Đưa thương binh xuống đây khác nào chôn sống họ ? Anh nào đã vô nằm trong cái bệnh xá này trở về chắc không dám chiến đấu nữa.

Tôi bảo Nga dắt tôi đến văn phòng của Tư Chuyền. Tôi biết trước là tôi sẽ liên hệ công tác rất nhiều với cái C5 này nên tôi phải đóng góp ý kiến với ông ta.

Đến một quảng rừng rậm, tôi dừng lại hỏi:

– Bây giờ còn sợ người ta thấy nữa hết?

– Để thong thả đã .

– Treo môi người ta đến chừng nào?

– Anh đã hứa với em đâu mà đòi.

– Ừ thôi anh hứa đó. Chịu chưa?

– Chịu nhưng phải chờ.

– Chờ gì nữa.

– Chờ má anh với má em gặp nhau bàn định mới được. Chớ làm ngang vầy sao?

Tôi nghĩ bụng, cô bé này khó tính chớ nhỉ. Nhưng mà làm sao giải quyết vụ Thu Hà? So với bất cứ cô nào quen với tôi từ trước tới nay, Nga cũng không thua mảy may. Tôi hơi tiếc sao một đóa hồng nhan như thế này lại lăn thân vào khói lửa?

Nga đưa tôi đến một cái hầm vuông dài trên có mái lá che lẫn trong những tàng lá rậm. Tôi bước theo những bậc thang đất đi xuống. Tư Chuyền đã ngồi sẵn ở bàn với Bảy Phúc. Tư Chuyền bắt tay mời tôi ngồi:

Sáng sáng trụn lòng trà mậu dịch. Chiều chiều súc miệng rượu quốc doanh. Thầy nhớ câu đối đó ở đâu không thầy Hai?

– Câu lạc bộ F330 ở Thọ Xuân chớ đâu.

Tư Chuyền cười, mắt lấp lánh sau tròng kiếng cận thị:

– Mời thầy trụn sơ bộ đồ lòng buổi sáng cái đi!

– Tình hình chắc êm không?

– Không ngày nào êm. Nó không đổ chụp thì pháo, không pháo thì rải chất độc, không rải chất độc thì đầm già bay tìm mục tiêu.

Tư Chuyền rót trà. Hai đứa vừa ăn đường cát vừa uống trà. Cạn chén thứ nhất, tôi nói ngay:

– Không còn cách nào khác để giấu thương binh hả anh Tư?

– Thầy coi đó thì rõ thầy Hai. Ở trên không cho cả nhân công đào đất mà. Vật liệu là cột nhà cháy tụi tôi thu nhặt đem về, cột kèo chủ nhà quăng dưới mương ngâm tôi cho lấy ẩu hết đem vô làm hàm, không cần đếm xỉa quan điểm nhân dân.

– Cây kim sợi chỉ không lấy của nhân dân, nhưng cột nhà thì rút tuốt.

– Chủ nhà thấy mất là biết mấy con quỉ giải phóng chớ ai vô ! Chuối non tôi cũng đốn, dừa nạo dừa khô cũng không tha, mít sầu riêng cam quít bẽ tuốt.

– Nhưng hầm hố thế này tội cho thương binh quá anh .

– Tôi phải nhắm mắt làm bừa bất kể lương tâm nhà nghề thầy Hai ạ . Chớ nếu chờ ở trên thì không có gì hết. Hôm qua tôi đã tâm sự với thầy đó. Xin một cái móc tăng để che bụi khi mổ xẻ cũng không có mà ! Thầy Hai có tưởng tượng được rằng mổ xẻ không có thuốc tê thuốc mê không?

– Nếu tôi ra đơn vị bộ binh tôi sẽ đưa về đây đào hầm cho anh một thời gian và sẽ nghiên cứu chiến trường đánh cướp một số thuốc men dụng cụ.

– Được vậy tôi phục vụ đơn vị thầy Hai hết mình.

Hồng Nga bưng dĩa khoai mì bốc hơi bước xuống đặt trên bàn:

– Mời chú Tư với anh Hai ăn lót lòng.

Tư Chuyền nói:

– Thầy Hai dùng thử xem có bằng khoai mì Phước Long của ông Ba Cà trồng không?

Nhìn mấy củ khoai nõn nà thơm phức, tôi hỏi:

– Anh có nếm khoai mì của ông Ba Cà nữa à?

– Có thấy nhưng không dám ăn!

– Sao vậy?

– Trong đoàn tôi ăn rồi bị ngộ độc năm, sáu mạng, tôi cứu cấp suốt một đêm mệt muốn chết luôn.

– Tôi ăn no cành có thấy gì đâu !

– Ông có gặp những củ to bằng chiếc gối đệm không?

– Mì gì mà to dữ vậy?

– Đó là những củ bị bỏ quên hai năm không ai đào, ăn như thịt giò voi, không có chất ngọt gì hết, còn lạt hơn củ chuối nữa, nhưng khá hơn đọt cây đớt và lá bép. Cho nên mạnh anh nào anh nấy dồn bao tử. Nhưng loại củ này vô thưởng vô phạt. Còn một loại bị rể tranh mọc xuyên vô rồi trở thành độc địa. Ăn xong ngã ngửa ra, mắt trợn ngược.

– Sao kỳ vậy?

– Đó là hiện tượng rõ ràng. Chỉ biết chữa chạy chớ đâu có thì giờ mà nghiên cứu.

Tôi bẻ miếng mì bỏ vô miệng nhai và nói:

– Mì này không thua mì ở xã Trí Phải Bạc Liêu.

– Ngon thì cũng thấy ngon lắm, nhưng tôi hơi ngại. Như tôi nói hôm qua đó. Sinh vật ở đây đều nhiễm độc. Mình ăn vào không bảo đảm đâu, nhưng đói thì không nhịn được.

Tôi trở lại vụ hầm hố, nói:

– Nắp hầm như thế này may ra chịu được 105 chớ không chịu nổi 155 và 175 đâu.

– Cò ỉa miệng chai thầy Hai ơi! Nếu hầm nào bị pháo trúng lệnh thì đó là trời kêu ai nấy dạ chớ biết làm sao bây giờ.

Tôi bi quan vô cùng, nhưng không biết làm sao cải tiến ngành quân y. Nhớ hồi 47 quân y kháng chiến cũng thiếu thốn vô cùng nhưng thương binh được nằm yên ổn trong nhà, tính mạng không có chông chênh luôn luôn bị đe dọa bởi các thứ như bây giờ.

Hồi trước vẫn có cơ hội để áp dụng khoa học như cấy phi la tốp, như bào chế thuốc chích ngừa bệnh trái mùa, ngừa nọc rắn độc, bào chế vitamine B1, vitamine C, hemogbobine (giống như Hemoglobine Deschiens) còn quân y xá bây giờ cả miền Nam trông thấy mà khóc ròng.

Uống trà xong, Nga dẫn tôi đến xem cái hầm của hai cô Nga. Tôi nhìn thấy mà càng khóc ròng hơn. Đúng là ăn lông chuột và ở hang chuột. Cái hầm sâu ngang đầu người, bề ngang sáu tấc. Võng giăng hai tầng bó chẹt giữa hai vách đất không lắc qua lắc lại được. Tôi bảo:

– Cái nóc thế này chịu nổi đạn gì?

– Chịu nổi đạn gì thì đạn, chớ tụi em không có sức đào nữa.

– Đáng lẽ trước khi đắp nắp, hai em phải lót một lớp ni-lông nước mưa mới không rỉ xuống.

– Ni-lông không có xài lấy đâu lót đất, anh Hai ! Mỗi lần anh Tư xin, ở trên trả lời bảo khắc phục ! Khắc cách nào?

Để phá tan bầu không khí áo não, tôi hỏi Huỳnh Nga:

– Chân em hết đau chưa?

– Nhằm gì cái vết trầy ngoài da anh Hai!

– Vậy vết trầy ở đâu mới nhằm?

Hồng Nga nói hớt.

– Ở trong tim, phải không em Sáu?

Huỳnh Nga quay lại nhìn Hồng Nga. Hai nàng mỉm cười với nhau.

Chương 32
Cô xã đội phó

Nga chưa dứt lời thì một tiếng hét chát chúa như M19 nổ sau lưng tôi:

– Anh Hai đi về !

Tôi quay lại: Là và bé Rớt đứng tần ngần. Cô xã đội phó nói như quát.

– Anh làm gì tới đây?

– Anh vô nghiên cứu công tác.

Là không nói gì quay lưng đi. Được vài bước thì quay lại:

– Trên khu cho người đi tìm anh.

– Ai vậy?

– Không biết. Anh về coi.

Là nói nhát gừng. Tôi dắt tay bé Rớt đi theo. Chợt nhớ mình chưa từ giã hai cô Nga, tôi dừng lại:

– Chào hai em nghe . Chừng nào móc gia đình anh sẽ cho biết.

Đi ngang hầm Tư Chuyền tôi nói:

– Chiều ra trạm chơi nghe ông bác sĩ.

Ra tới đường, Là dừng lại quắc mắt:

– Anh về hồi nào?

– Trưa hôm qua.

– Hồi tối anh ngủ đâu?

Bé Rớt vọt miệng:

– Cậu Hai ngủ ngách của dì.

Câu nói của con bé làm gương mặt nhăn nhó của cô nàng dãn ra. Nàng cười nhưng cố nín. Rồi bảo:

– Anh về đi Bò Cạp với em!

– Đang giờ chụp mà xuống Bò Cạp Bàu Chứa để nộp mạng hả cô xã đội?

– Đó là dưới Nhuận Đức còn Bò Cạp em nói là ở xã Phú Mỹ Hưng mình. Từ nhà má ở Hố Bò băng qua đường 15 là đụng xóm Bò Cạp đó ông thầy ngớ ngẩn.

– Xuống đó kiếm M19 của giang thuyền hay làm gì?

– Anh chết, em chết theo, gì mà lo.

– Để mai không được sao?

– Việc gấp phải đi liền, chậm trễ thằng cha đó vọt mất.

Thấy nàng dịu dịu, tôi phản công:

– Đáng lẽ anh đi hồi chiều hôm qua với Một Sơn rồi, nhưng nghe chú Tư Thiên nói em hội nghị sắp về, nên anh nán lại đây.

– Nán lại sao còn vô C5 làm gì trỏng.

– Xem ba cái hầm chứa thương binh như thế nào để…

– Nghiên cứu hai con hồ ly đó phải không? Thứ đó gặp ai cũng nhận anh nuôi em nuôi. Anh đã làm anh nuôi tụi nó chưa? Tới anh là thứ 1010 rồi đó. Nói cho biết!

– Lần này anh về đây là sống chết với Củ Chi. Nên anh phải xem cách ăn ở hầm hố…

– Vậy kỳ trước em chỉ địa đạo cho anh, quên sao?

– Địa đạo khác, hầm khác, anh phải rút kinh nghiệm cả hai.

– Thôi đi! Em nói không lại anh đâu… Nhưng nếu anh muốn coi kiểu cách làm hầm bí mật ăn thông ra địa đạo thì ở lại đây vài bữa coi chú Tư Thiên làm hầm cho ông Ba Xu thì rõ chớ rút kinh nghiệm gì ba cái hầm cóc nhái đó.

– Ba Xu nào?

– Anh không biết ổng à ?

– À, biết rồi, ông Ba Dì.

Là toét miệng cười rồi xổ luôn.

– Ba Đình chớ Ba Dì gì? Ách giữa đàng mang vào cổ.

– Ách gì mà mang?

Là đã hạ nhiệt độ, chậm rãi kể:

– Em với chú Tư Thiên đi hội nghị ở xã An Phú, trời ơi, tình hình này mà ông Út Một bí thư huyện ủy thuyết trình tình hình mới cả tuần lễ . Ngồi nghe, cái đít có gai mà ổng cứ nói dai như đỉa đói.

– Ổng nói cái gì?

– Có nói cái gì đâu ! Cứ nhai tới nhai lui nắm thắt lưng Mỹ mà đánh. Hết nắm thắt lưng thì xốc tới hoàn thành nhiệm vụ, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng chớ có gì mới đâu !

– Cái đó anh học từ năm ngoái.

– Vậy mà ổng la khẩn trương đó ! Chú Hai Lầu bí thư xã An Phú quèo em với chú Tư Thiên ra hội ý riêng. Tưởng cái gì quan trọng chẳng ngờ cũng hầm hố. Nhưng mà lần này ổng lại muốn chú Tư Thiên lãnh trách nhiệm. Còn ổng và chị Út Lan xã đội phó là con gái của ổng lại bận việc khác. Cứ hễ có đào hầm thì mấy ổng vợ bịnh con đau, y hệt như ông Năm Thuận xã đội trường xã mình vậy. Đáng lẽ Năm Thuận đi họp kỳ này nhưng ổng lại đùn cho em đi với chú Tư. Bây giờ em phải lãnh thêm vụ đào hầm này.

– Đào cho mình thì tốt chớ sao !

– Đào cho ông Ba Đình với ông Tư Trường chớ cho gì em!

– Đào hầm cho hai ông kẹ là quan trọng, người ta tín nhiệm em mới giao cho em.

– Hầm thường không chịu lại đòi hầm ăn thông ra địa đạo kìa! Như vậy là phải có cả chục nhân công. Thời buổi này tìm đâu ra số người đó. Nhưng không phải người nào cũng đào được, mình phải chọn những người đáng tin cậy. Do đó em mới hỏa tốc về nhà và đi Bò Cạp để bắt ngay một số người, nếu chậm trễ thì họ đi mất hết.

– Rồi đèo anh đi làm gì?

– Đào hầm cho ông tư lịnh của anh mà anh không chịu mó tay vào hả ?

– Ổng là tư lịnh của anh nhưng anh không phải là đội viên du kích của em.

Là xuống nước nhỏ:

– Thôi mà anh Hai. Anh giúp em một tay. Có anh, em ăn nói mạnh dạn hơn. Em sẽ bảo họ là anh biệt phái của ông Ba Xu gởi xuống trông coi vụ hầm hố!

– Lần đào với Tư Linh để làm cảnh cho thằng Bọ Chét, anh ớn tới mật xanh, bây giờ bắt đào nữa, chắc anh phải cáo bịnh.

– Sao anh bảo anh vô C5 học kinh nghiệm hầm hố?

– Học cách giấu thương binh chớ không phải học đào địa đạo.

– Nếu anh không giúp em, em bỏ trôi.. Hể có chụp ông Ba ông Tư chạy cà còng rồi bị thộp là anh chịu trách nhiệm. Có đi không?

– Đi thì đi nhưng chỉ một chuyến thôi. Anh bận lắm.

– Ừ ! ra nhà Năm Thuận rồi về !

– Năm Thuận là ai?

– Trước kia ông Ba Cứng làm xã đội trưởng. Ổng vừa cõng vợ con ra ấp chiến lược gần Cầu Ván, chú Tư Thiên mới giao cho Năm Thuận trước kia là ấp đội trưởng ở Bò Cạp. Ảnh có vợ con nhưng còn hăng hái. Ảnh làm ruộng và làm thêm nghề câu tôm câu cá. Nhưng vừa rồi ổng lại than vợ bịnh con đau nhờ em đi hội nghị thay. Bây giờ em xuống em giao ba cái vụ đào hầm này cho ảnh chịu trách nhiệm chính còn em chỉ phụ giúp thôi.

Về tới nhà, nàng bảo như ra lịnh cho tôi:

– Anh bỏ ba cái thứ hộp và đồ phụ tùng ở nhà, xuống bếp lấy cái nón lá của chị Lụa đội lên rồi đi ngay. Ủa mà quên, choàng thêm cái khăn rằn nữa. Rủi tàu lồng cu thả trên sông Sài gòn nó thấy nó tưởng là nông dân làm ruộng. Vùng này là vùng cấm kỵ, hễ nó thấy người thấp thoáng là nó bắn.

Bé Rớt nhõng nhẽo đòi theo cậu Hai. Là quát:

– Xuống đó tàu nó bắn M79 ra-phan mày chạy khỏi không?

Lụa ra đứng ở cửa nói vói theo:

– Đi lẹ lẹ về ăn cơm!

Là quay lại xẳng giọng:

– Tôi hổng dẫn anh Hai đi mất đâu chị Hai.

Lụa nguýt rồi nói.

– Con nhỏ lãng dang. Bữa nay mày mắc chứng gì vậy?

– Chứng gì hổng biết, để má về tôi mét má cho chị coi !

Là ngoe ngoảy bước đi với vẻ mặt giận hờn. Tôi lẽo đẽo theo sau như một thứ cận vệ vừa bất đắc chí vừa tự nguyện.

Đến khúc vắng, tôi mới rủ rỉ:

– Cô nói cái gì nghe trật lất cái lỗ tai vậy cô xã đội?

– Nói cái gì mà trật.

– Anh Hai chị Hai nào?

– Chớ hổng phải hả?

– Phải cái gì mới được chớ.

Là đang đi bỗng quay lại:

– Tôi thấy là tôi biết tẩy liền rồi !

– Thấy gì mà biết tẩy?

– Em hỏi anh tại sao chỉ giặt quần áo của anh?

– Thì anh là anh mà em gái không giặt quần áo cho được hay sao?

Là nói xói xói vào mặt tôi:

– Giặt thì giặt chớ sao còn đưa lên mũi hít hít là cái nghĩa gì! Chỉ có vợ chồng mới làm như vậy thôi.

Tôi dội ngược. Con bé này ranh thật. Nhưng tôi cũng không vừa gì. Tôi nói ngay:

– Tối qua anh nhậu say ói tùm lum, cô Ba Lụa đem áo anh đi giặt, phơi khô chắc là cổ hửi coi còn mùi hôi không chớ gì !

Là lặng thinh không mè nheo nữa. Tôi tiếp:

– Em giận hờn vậy chắc anh phải cuốn gói đi nhanh.

– Em thấy thì tưởng là . . . thôi chớ em có giận hờn gì !

– Tưởng gì kỳ cục vậy mà tưởng chớ !

Bỗng đâu tiếng chuông xe đạp leng keng phía sau. Tôi quay lại thì ra Một Sơn.

Một Sơn đạp trờ tới trước, đưa chân rà xe lại và hỏi tôi:

– Anh tính mai rời trạm chưa anh Hai?

Là hớt ngay:

– Ảnh còn chờ má tôi về mới đi.

– Biết chừng nào má về mà chờ?

– Chừng nào thì chừng cũng phải để ảnh ở lại giải quyết tình cảm gia đình.

– Anh Hai đâu có gia đình gì ở đây?

Là nói xon xỏn.

– Má nuôi, chị nuôi, em nuôi không phải là gia đình hả? Người ta đi mười mấy, hai mươi năm về tới xứ không gặp được gia đình ruột thì có gia đình nuôi, phải để cho người ta nghỉ ngơi trong gia đình chớ. Cách mạng cả đời chớ phải một ngày một bữa gì hay sao?

Một Sơn cười với tôi:

– Con nhỏ này dữ quá anh Hai à ! Anh về anh trị nó dùm tôi coi ! – rồi quay sang Là – Đi lên Bò Cạp coi chừng đó cô em! Hồi sáng tàu trên Dầu Tiếng thả trôi xuống tám chiếc đó, coi chừng nước ròng nó quay trở lên! – Nói xong Một Sơn nhắc chân lên pê-đan nheo mắt với tôi – Thôi tôi để anh Hai ở lại với gia đình vài ba bốn năm bữa nghe !

Là ngó theo xì một tiếng rồi nói với tôi:

– Vợ con đùm đề mà lúc nào cũng be be theo mấy đứa dũng sĩ, nữ du kích! Còn anh, anh phải ở lại chờ má về rồi mới đi. Nếu em không nhận được thơ anh thì em đã theo má qua Thanh An rồi, anh về không có gặp con nhỏ này nữa đâu.

Nàng nghẹn ngào. Tôi không muốn nàng xúc động nên nói:

– Xã đội bỏ cơ sở đi à ?

Là vênh mặt:

– Ông Cứng là xã ủy mà còn bỏ kìa, em là đoàn viên ăn thua gì? Dân đi hết, mình em ở lại giữ ma à?

– Từ rày đừng có nói kiểu đó với chị Lụa em nữa nghe.

– Em nghi anh quá hà.

– Nghi trật rồi !

– Em biết chị Lụa thương anh. Nhưng chỉ không bô lô ba la như em.

Đi ngang qua lò đường, nơi tôi ghé lại uống nước mía năm trước Là bảo:

– Đấy, anh coi có còn gì không? Chỉ trơ lại ba cục gạch. Tất cả đều cháy rụi. Bò che đều tiêu hết. Người đi tứ tán.

Tôi dừng lại ngó qua. Cỏ hang um tùm. Bên đường mòn một cái mẻ lu to đầy nước mưa thế giới riêng của những con lăng quăng. Hố Bò bây giờ không còn là mảnh đất vui tươi nơi anh Tô Ký làm đám cưới với hàng chục ngọn đèn măng sông và khách khứa nhậu rượu Tây suốt đêm nữa. Hố Bò là bãi hoang tàn sau mấy lượt B52.

Đến gần nhà má Hai, cảnh vật càng tang thương. Gạch ngói đã biến hết không còn làm vui cặp mắt của kẻ tha hương như năm nào. Cây vú sữa bị chém đứt ngang, còn đứng đó như người không đầu. Bên cạnh đó là một cái giếng cạn đầy nước lẫn rong rêu. Màu nước nâu làm tôi cảm tưởng đó là dĩa tiết canh đánh với huyết mà gan lòng của kẻ bị trảm thủ kia. Ngôi nhà ngói xưa đã biến mất chỉ còn một bãi than như một cái biển nhỏ mà ở giữa là một cù lao. Đó là cái hầm nổi giữa nhà , nơi ngày trước tôi từng nằm trên bộ ván gõ mát rượi tình gia đình khi vừa đến đất Củ Chi lần đầu.

Tôi nghe quặn ruột gan. Là trỏ ra sau vườn:

– Ba cây chuối cây dừa còn kia là nhờ em còn tới lui, nếu em đi Thanh An với má thì ba thằng du kích đến ăn hết rồi. Lũ quỉ đó phá phách ghê lắm.

Nàng dắt tôi đi ra sau vườn tiếp giáp với sở cao su già trơ trụi ngổn ngang những thân cây, gieo leo mọc chằng chịt.

Nàng trỏ hai cây cột chơ vơ đen thui, bảo:

– Đây là phòng thông tin Hố Bò. Hồi trước thông cáo Mặt Trận dán ở đây. Tối tối tụi em ra đây cầm loa đọc tin tức. Bây giờ thì như vậy đó.

Đi một quãng nữa, nàng bảo:

-Đây là đường 15.

– Sao không thấy gì hết ngoài một bãi sình mênh mông vậy.

– Đã bảo là B52 mà. Ngã Ba Bò Cạp ở trước mặt kia kìa. Chỉ cách sông Sài gòn một quãng ngắn thôi. Nhà cửa quán xá không còn cái nào, cây cối không còn lá, vài khóm chuối non sống sót vượt lên èo uột ngoắc ngoải. Vài ngọn cau ngọn dừa le the. Trái dừa lăn lóc đầy đất như những đầu lâu. Bom đạn đã ác liệt rồi. Chất độc còn ghê gớm hơn nữa. Tược non có thể nảy quanh những vết thương trên thân cây, nhưng chất độc giết tận trong lõi cây gốc rễ. Nàng bảo:

– D8 đóng dọc con đường 15, bây giờ đi mất hết rồi! – Nàng trỏ tay ra giữa đồng – Đó là xóm Bò Cạp.

Tôi nhìn theo. Chỉ có mấy mái nhà đứng co ro nép vào nhau như sợ hãi. Nàng giục:

– Chạy mau qua đồng trống kẻo máy bay !

– Đi chuyến này về anh bạc nửa mái đầu.

– Cho anh quen với sinh hoạt ở đây. Nó như vậy đó ! – Nàng vừa chạy vừa nói – Bạc hết cũng được. Như vậy khỏi ai tranh giành với em.

– Ai tranh anh làm gì.

– Có chớ. Em biết mà ! Em tưởng anh ở luôn trên R rồi chớ.

– Bỏ em dưới này à ?

Đang chạy nàng đứng lại vừa thở hổn hển vừa nói:

– Mới nghe được một tiếng nói…

Tôi trờ tới hôn làm đứt ngang. Nàng ôm quàng lấy tôi. Chỉ một cái siết mạnh rồi lại chạy. Về tới xóm, hai đứa dừng lại. Nàng nhìn tôi:

– Anh ở trển thì em qua Thanh An luôn.

– Về nhà chồng hả ?

– Nếu em lấy thì lấy lâu rồi!

Nàng trở ra bờ sông:

– Khoảng trống đó là sông.

Tôi nhìn kỹ. Thấy những giề lục bình trôi về phía Trung An.

– Rủi nó đổ bộ làm sao chạy kịp?

– Khúc này bờ sông rậm ri, ruộng lại sình lầy. Nó không đổ .

Đi vào đầu xóm, gặp một ông già bận quần tiều, ống quần quá đầu gối, nhuộm phèn vàng cháy. Là kêu:

– Bác Tám! Bác có thấy anh Năm Thuận ở nhà không?

Ông già nhìn Là sửng sốt một hồi mới đáp, tiếng nói rời rạc như cơm nguội:

– Nó đâu mà có ở nhà.

– Ảnh đi đâu bác biết không?

– Nó đi từ sáng hôm qua đâu có ló mặt về !

Là sốt ruột:

– Ảnh đi đâu bác có biết không?

– Nó nói nó đi xuống nhà thằng Sáu Mã Tử bàn công tác công tiếc gì đó . Hình như nó biểu mấy đứa em nó lên coi nhà dùm.

– Vậy là ảnh đi…

Thấy Là đứng lặng thinh Bác Tám bảo:

– Tôi đoán là nó đưa vợ nó ra Bến Thế ở với bà già vợ nó. Xóm này dọn đi hết rồi. Tình hình loạn lạc đến nơi nên ai cũng bỏ đi. Hai cháu đi vô nhà, để tàu xuống trông thấy.

Bác Tám bảo:

– Ngồi kế bên miệng hầm kia cà . Nó hay bắn thình lình lắm. Nó đi thì đi có luồng. Bảy chiếc nhỏ, một chiếc lớn có lồng cu, lính ngồi trên đó bỏ ống dòm nhìn thấy trên bờ rõ lắm. Hầm hố dưới này không chắc như trên Hố Bò, đất thấp đào xuống hai lưỡi cuốc là đụng nước rồi. Nhưng dễ sống là nhờ con Rạch Bò Cạp cho tôm cho cá, cho nước vô ruộng biền cấy lúa trúng. Đặng mặt này thất mặt kia. Bom đạn này giống gì cũng phải bỏ.

Là cứ nhấp nhõm ngó qua ngó lại láo liên. Rồi đứng dậy bảo tôi:

– Anh ngồi đây với bác Tám, em chạy đi nắm óc mấy ông nội đó chút rồi trở lại. Em đi, lỡ tàu có thấy bóng phụ nữ chắc nó không bắn!

Nói xong nàng xách nón ra đi. Tôi ngồi lại hỏi bác Tám qua loa vài câu rồi đứng dậy vạch vách dòm ra mé sông.

Chỗ này có thể phục DKZ đánh tàu. Nghĩ vậy tôi hỏi ông già:

– Nó đi cách khoảng xa hay gần bác?

– Ít lắm cũng một cây số một chiếc.

Vậy muốn đánh cả đoàn phải bố trí mặt trận tám cây số. Quân ngũ nào giàn cho đủ? Nếu đánh một hai chiếc thì mấy chiếc kia nó đổ bộ bọc hậu đan lưới hoả lực không có đường rút. Ruộng ở đây lầy. Vác mấy cái khối thép đó dễ gì chạy được? Bác Tám không có vẽ nồng nhiệt với cán bộ. Bác không vui chuyện mà cứ lầm lỳ tôi hỏi câu nào bác trả lời câu nấy bằng một giọng không vui. Tôi hỏi:

– Bác có anh chị nào đi công tác không bác?

– Có một thằng, cô xã đội kêu đi hoài.

– Ảnh làm gì bác?

– Nó ngày tối đi tìm đạn cà-nông lép đào lên đem về tháo ra làm đạp lôi. Tôi bảo nó dẹp nghề đó đi. Nhưng nó không nghe. Ở trên quận khen nó hai ba lần rồi. Trong xã gọi nó là thằng Năm Đầu Ban.

– Ảnh gài có kết quả lần nào chưa bác?

– Có chớ!

– Mỹ hay Sài gòn bác?

– Mỹ có, Sài gòn có, bồ nhà cũng có !

Ông già lấy mo thuốc banh ra:

– Chú biết hút thuốc, làm thử một điếu. Thuốc trồng ở đây cháy lắm, không thua thuốc Gò Vấp.

Tôi đang rứt thuốc thì bác bảo:

– Con đầm già lên kia kìa. Cháu đừng ló ra nó thấy nó bắn điểm phản lực tới. Nó xuống là có tàu đi theo, mười lần như một.

Tôi phì phà chưa hết điếu thuốc thì bác Tám đưa ngón tay lên miệng, thầm thì:

– Nó xuống rồi kìa. Chú em ngồi xít vô, đừng ló đầu ra bẹ cửa, nó thấy. Chú có muốn coi thì vạch lỗ vách kia kìa.

Tôi riu ríu nghe theo ông già, đến bên vách lá dán mắt vào lỗ hở. Rất tiếc là tôi bị cô xã đội tước bỏ cái ống dòm ở nhà . Ông già không ngó ra sông nhưng vẫn thuyết minh khúc phim ngắn ông thường xem:

– Đó chú em thấy chưa?

– Dạ thấy.

– Chiếc nào cũng cắm cờ trước mũi phải không?

– Dạ cháu mới thấy có một chiếc.

– Chiếc thứ hai tới bây giờ đó.

– Dạ phải. Nó tới rồi.

– Chú có thấy lính đi hoặc ngồi trên tàu không?

– Dạ có.

– Nó thả máy nhỏ mình phải lắng tai cho kỹ mới nghe.

– Nó hay bắn lên bờ không bác?

– Nó thấy việc gì khả nghi mới bắn, còn trên bờ êm rơ thì thôi !

– Cháu thấy một tên đội kê-pi hút ống vố. Thằng bên cạnh mang kiếng mát.

– Chiếc lồng cu cao nghệu ngang ngọn bần tới chưa?

– Dạ chưa.

– Nó đi khúc giữa.

– Dạ chiếc đó là chiếc chỉ huy đó bác.

Sông này bề ngang chừng hai trăm thước. Trong kháng chiến tôi đã vượt qua nhiều lần. Không khó lắm, không như bây giờ. Còn muốn đánh nó phải có cả một kế hoạch, đánh thì khó đã đành, nhưng với trực thăng cà-nông của nó rút lui quả là gian nan. Hèn chi lâu nay D8 bị nạo sát da mà vẫn không làm được cú nào. Ông già nhắc chừng.

– Lồng cu tới chưa?

– Dạ chưa! Ủa mà tới rồi bác.

Con đầm già trên bầu trời vẫn kéo ò e hai cái bản nhạc đám ma. Chừng nửa giờ thì đoàn tàu khuất dạng về phía An Nhơn. Tôi ngó ra sau nhà thì thấy cô xã đội phó đi vô gần tới nhà. Theo sau là hai chàng thanh niên, một mặc áo vải sọc, một cởi trần, cả hai đều xách rộng cá. Ông già quát:

– Đi mau vô nhà. Tàu mới xuống đó, Trương, Hiếu!

– Nó qua rồi, tụi cháu mới dám ló ra đây.

– Bây đem tôm cá đi đâu đó.

– Dạ đem xuống xóm Chùa xóm Thuốc bán cho cơ quan bộ đội.

Tôi vọt miệng:

– Đem vô tôi mua cho.

Hai người vô nhà để rộng cá xuống đất. Người mặc áo sọc hỏi Là:

– Ai vậy chị Út?

Là đáp:

– Anh Hai tôi ở trên R mới về.

Anh cởi trần nhướng mắt tỏ vẻ ngạc nhiên.

– Trời đã quá vậy !

– Anh người ta mà đã cái gì, vô duyên!

– Lâu nay tôi có nghe chị có anh đi R đâu?

– Người ta đi phải báo cáo cho mấy người à?

– Chị này khó quá chưa chi đã sạt người ta rồi.

Tôi hỏi:

– Tôm cá mấy anh bán mấy?

– Mọi lần một trăm một ký . Bây giờ nửa giá thôi.

– Sao rẻ vậy?

– Bà con chê tôm cá bị hóa học, chỉ có bộ đội mua thôi.

– Tôm cá dưới nước mà sao bị hóa học.

– Dạ thấy mình cá sần sần, võ tôm ửng đỏ, bà con nghi hóa học. Cũng như chuột vậy. Hồi trước tụi tôi gài chuột, lột da muối, đem ra chợ bán đắc ghê, bây giờ người ta chê chuột ăn thây ma và bị hóa học nên không mua.

Là nói:

– Ngày mai mấy anh phải tới xã đội lãnh công tác, không có được trốn lánh nữa.

– Bộ địa đạo nữa hả chị út?

– Hổng biết, cứ vô rồi có công tác.

– Hết hầm hố đến chuốc chông, hết chuốc chông đến địa đạo, tôi thấy mặt bà nội là tôi ớn xương sống rồi.

Là nghiêm sắc mặt:

– Ớn gì ! Mỹ vô đầy Đồng Dù hết rồi, ai đi công tác cho mấy người ở nhà cải hoạt cá nhân. Người ta hi sinh xương máu, mấy anh ở nhà hưởng lạc, vậy coi được không?

Bị cô xã đội sạc-cà-rây, hai anh chàng nín khe. Là hỏi:

– Hổm rày có gặp ông Năm Thuận không?

Anh mặc áo sọc cười khoe hàm răng vàng nghĩnh như răng chuột:

– Bây giờ muốn gặp ổng thì ra Bến Thế. Chời ơi chời! Nhà ổng dọn trống hoang ba mươi đời vương rồi. Lu mái chở đi trống trơn, rộng tôm rộng cá đem theo sạch nhách, chị xuống đây có môn vuốt nhớt ba cái cây cột nhà của ổng.

Anh ở trần tiếp:

– Ổng là xã đội trường, là chi ủy nữa đó, ổng chạy sọc dưa như vậy có ai làm gì ổng đâu.

Là càng xẳng giọng:

– Làm chớ sao không làm. Kỳ họp này tôi đề nghị chú Tư Thiên có thái độ cho coi.

– Còn ông Ba Cứng dắt vợ cõng con ra ấp chiến lược Cầu Ván, chú có thái độ chưa?

Là kẹt đạn làm thinh.

Tôi mua cả tôm lẫn cá dồn lại làm một rộng xỏ cây đòn ngang quai rồi từ giã bác Tám, hai đứa khiêng đi. Ra đường tôi hỏi Là:

– Ông già có thằng con…

– Anh Năm Đầu Ban! Ở dưới xóm có anh Sáu Mã Tử. Hai anh chàng này hợp nhau lắm. Họ đi đào cà-nông lép làm đạp lôi. Lại còn phổ biến kinh nghiệm cho các xã cách gỡ hột nổ cà-nông. Anh Sáu Mã Tử bị nổ một lần nám đen cả mặt. Do đó có tên Sáu Mã Tử. Xã này bây giờ chỉ còn Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử là hăng hái thôi. Hai ảnh muốn trở thành dũng sĩ như Năm Cội, Tư Đực ở Nhuận Đức. Hai ảnh đang nghiên cứu gài ở bãi đổ bộ của tụi giang thuyền nhưng tụi nó khôn quá, không sập bẫy mấy ảnh lần nào hết.

– Khôn thế nào?

– Mỗi lần đổ bộ nó bắn M79 lên bờ nát đất rồi bắn cối 106 ly 7, đạp lôi nổ tung hết đâu còn trái nào. Đã vậy mỗi khi lên bờ nó còn cho một thằng cầm cần câu đi trước rà, còn sót trái nào nó gỡ ném xuống sông hết. Tuy vậy mấy ảnh cũng còn đeo dính tụi nó. Mấy ảnh phát minh cách gài cải tiến.

– Gài cải tiến là thế nào?

– Là gài trên ngọn cây chuyền dây xuống đất. Hễ lính bước lên bờ đạp dây là bị nổ chụp xuống đầu.

Đi một chập gặp một ông nông dân đen đúa áo giắt lưng từ đằng kia đi lại, Là kêu:

– Chú Hai !

Tôi nhận ra Hai Tới, tôi chưa kịp chào hỏi thì Hai Tới hất hàm với Là :

– Con nhỏ này đi đâu láng cháng ở đây? Không sợ giang thuyền hả ?

– Đi tìm chú nhờ đóng vài cái đồ nghề.

Hai Tới xua tay, lắc đầu:

– Thôi, thôi, tôi không có công tác cái kiểu năm ngoái nữa đâu.

Là ngạc nhiên:

– Công tác gì mà chú la?

– Đi làm cầu tiêu cầu tắm cho thằng nhà báo còn không có hả?

Tôi nói thay cho Là:

– Đó là công tác của quân khu chớ không phải của xã !

– Của ai thì của chớ tôi không có làm ba cái chuyện tồi bại đó nữa đâu.

– Nó là đồng chí của mình mà chú !

– Đồng chí thì đồng chớ. Qua đây mình sống thế nào nó sống thế đó mới phải là đồng chí chớ. Du kích, dũng sĩ đói thấy mẹ, mà mình phải mua đồ nhà hàng ngoài Sài gòn về dâng cho nó. Đi đâu cũng có xe nước ngọt nước đá theo tò tò. Đã vậy lại còn đòi con gái, chú coi vậy có phải đồng chí không? Chú biết con Hương sau đó ra sao không? Nó xấu hổ nó ra ở luôn ngoài thành.

Tôi muốn độn thổ luôn, nhưng may Hai Tới đổi giọng:

– Tôi biết đó không phải chủ trương của xã nhưng xã phải thi hành. Tôi mong rằng từ rày về sau tôi không phải gằm mặt cúi đầu đóng cầu tiêu cho một thằng đồng chí nào khác của mình như vậy.

Bị một bài học ê mặt, tôi không biết trả lời thế nào, thì Là đỡ gạt:

– Kỳ này không phải đóng cầu tiêu đâu chú Hai…

– Đóng gì thì đóng, bây giờ tôi chạy đuôi tôm cho ông Bảy Hốt. Thôi để tôi đi kẻo trễ.

Về tới nhà, Là bảo:

– Ghé đây bẻ mấy trái dừa nạo về kho cá tôm. Anh đem cái rộng neo dưới mương kia rồi leo cây dừa ở góc mương kia kìa. Có bao nhiêu khô, nạo cứng cạy tuôn xuống hết cho em. Anh biết leo không? Cần dây làm nài thì bứt tay chuối khô kia kìa.

– Anh rành hết mà !

Tôi cởi đồ, chỉ chừa quần tiều và bắt đầu làm chuột, làm sóc. Là còn dặn vói theo:

– Mau đi rồi tuột xuống để nó giã gạo giác chiều xuống không kịp đó.

Tôi leo hái lá bứa bắt ong mật ở Trường Sơn, leo hái me ở trảng Bà Điếc bây giờ leo dừa. Cây gì cũng leo được. Cũng may chưa bị người ta cho leo cây. Chỉ mấy hót là tôi ngồi gọn trên ngọn dừa. Nhớ cái thời ở nhà cởi trâu bắt dế bắt chim. Mỗi lần đi thế nào cũng bẻ cặp dừa xiêm máng trên sừng trâu. Cây dừa này rất sai. Một buồng dừa nạo có đến trên chục trái. Tôi bẻ và ném xuống đất. Bỗng từ dưới đất vọng lên:

– Coi chừng dập hết!

Tôi ngó xuống. Giữa những tấm vách cháy dở ghép lại thành cái nhà tắm tạm bợ một thân hình mỹ nữ lồ lộ không tí xiêm áo trên thân. Nàng vô tình hay cố ý ? Tôi choáng váng mặt mày nhưng làm bộ:

– Em ở đâu nói lên vậy?

– Em trốn mất rồi anh không… thấy đâu. Hí hí…

Cô bé này nghịch ngợm thật. Đứng phơi trần ra đó mà còn bảo trốn mất rồi.

Chương 33
Sợi dây thòng lòng của Đảng thưởng cho mày

Vừa bước vào sân thì Tư Linh đã xuất hiện trong khung cửa.

– Khiêng trái cà nông lép hả ?

– Xuống hồi nào đó con quỷ ?

– Đi thỉnh mày lên niết bàn đây.

Tôi và Là đem cái rộng cá tôm thẳng ra sau bếp, rồi tôi trở lên cởi súng treo trên đầu cột.

– Bộ nhà báo quốc tế tới nữa hả ?

– Ừ, kỳ này quốc tế cái.

– Mụ Ri-fô hả ?

Tư Linh cười hềnh hệch:

– Mầy ơi tao cũng ớn chớ đâu có ham gì cái công tác đó.

Trong nhà chật nức những người: gánh C5 gồm bác sĩ Tư Chuyền, Bảy Phúc, Bốn, Quỷnh, hai cô Nga, cánh Tư Linh có ba người: Tư Linh, Tư Trường, Sáu Ly hai ông cán phụ trách dân vận và thi đua quân khu, Chú Tư Thiên, chú Bảy Xe, chị Tám Khỏe, trong nhà có Lụa, Là và đám con nít.

Đang bàn chuyện linh tinh thì ba ông nhà pháo kéo tới.

Lửa khói mịt mù, ì xèo đớp chát, chén chú chén anh thôi thì không tả nổi. Cái tâm lý chung là làm bộ như ta không sợ gì cả, cứ nhậu tù tì nhưng sự thực thì thằng nào cũng run từng sớ thịt.

Buổi tiệc chưa tàn, nhưng Tư Linh, với lý do hội ý công tác nên khều tôi ra ngoài sân. Hai đứa đến nhà chị Tám Khỏe gần bên cạnh, ngồi trên thân cây cao su bị đạn pháo nổ bật gốc. Tư Linh móc gói Capstan chìa cho tôi và nói ngay:

– Mục đích của mầy vô đây tao đã nắm cả rồi. Trước nhất là mày sẽ bàn việc với tụi Chín Lộc Sáu Huỳnh bên quân báo rồi kế là tao. Mày đi chàng hảng hai chân cho mà khước nhé !

Tư Linh, thằng bạn nối khố từ trong kháng chiến chống Pháp, người Bến Tre là thằng gần gũi và xả láng nhất với tôi. Hắn dám nói mọi chuyện, kể cả chuyện

mất đầu như chơi.

Hắn hít một hơi thuốc và bảo:

– Chuyện ngoéo thằng em đại úy Thủy quân Lục chiến của mầy là vô cùng nguy hiểm.

Hai đứa ngồi lặng thinh và đều rít thuốc phà khói như rồng phun lửa. Tôi đã có ý nghĩ lo sợ về chuyện này từ lâu, nhưng vì Ba Thắng cục trưởng chính trị R và là người anh đỡ đầu của tôi từ thời tôi còn là Đồng tử quân ở Rừng Sát, đốc xúi và quyết định nên cực chẳng đã tôi phải nhận cái con dao hai lưỡi này của cách mạng. Nay nghe Tư Linh nói thì hãy lắng nghe xem hắn bảo sao, vì hắn là trưởng ban Địch vận quân khu.

– Ông Tám Quang có bàn với tao rất lâu. Ổng hi vọng nhờ bàn tay mày mà Mặt Trận sẽ có thêm một.vụ Phùng Văn Mười. Ổng không hiểu tình hình Sài gòn nhiều nên ổng cứ tưởng là làm được cú thứ nhất là sẽ làm được cú thứ hai. Binh pháp Tôn Võ Tử tối kỵ điều đó.

– Vụ Phùng Văn Mười có ảnh hưởng mẹ gì mà ham.

– Mày không biết ông nội Phong Vân đóng ở gần Xóm Mới à? . .

– Có tao có ghé đó ăn chực một bữa trước khi sang trường Trung Sơ chỉnh huấn tình hình nhiệm vụ mới.

– Chính cái ông nội đó khuếch trương chiến quả vụ Phùng Văn Mười. Đài Giải phóng la om tỏi. Chắc ở ngoài Bắc nghe xong các bản tin và bài bình luận của đài, sẽ tưởng rằng toàn bộ lính tráng Sài gòn sắp nổi loạn, hoặc lái xe tăng vô khu hết ráo. – Tư Linh phẹc một bãi nước miếng và tiếp – Cái củ c… họ chớ loạn. Mày cứ tin đi tụi nó sẽ đánh mình trọc đầu không còn một sợi tóc. Để rồi coi. Mấy cha nội chủ quan lắm. Ở ngoài Hà Nội cứ tưởng rằng bọn mình ở trong này ăn hút, mở trường tân binh pháo binh hát xướng như trường Lục quân ở Cạnh Đền hồi

chín năm.

Tôi gạt ngang và hỏi.

– Rồi sao, nói tao nghe vụ móc ngoéo thằng em lợi hại chỗ nào? Nói lan man ho thuốc rê hết rồi ông nội.

Tư Linh lắc đầu :

– Chẳng có lợi cho mày gì hết. Chỉ có lợi cho Chín Lộc và Sáu Huỳnh thôi!

– Lợi gì? .

– Lợi là mấy thằng chả được điểm nếu móc được thằng em mày. Tao biết trước là công việc sẽ diễn biến bước đầu như thế này: Trước tiên họ sẽ bảo mày viết thư cho nó. Ghi địa chỉ, tên tuổi cha mẹ để họ liên lạc tận gốc. Họ nắm cái gốc trước đã. Để sau này nếu mày có ngãng ra họ cũng đã nắm được rồi. Kế đó, sau khi họ nắm được cái gốc, họ sẽ nhờ gia đình mày hoặc chính họ đưa thư cho em mày. Một khi em mày đã nhận thư thì họ đá mày văng ra xa. Từ đó về sau họ sẽ liên lạc trực tiếp và giao công tác cho em mày và không cần tới mày nữa.

– Tại sao?

– Đó là nguyên tắc của Quân báo. Một con mồi không thể có nhiều vòi. Hiểu không? Bao giờ cũng vậy, hể họ nắm được là họ muốn độc tôn chỉ huy, ngoài họ ra không có ai khác. Để mày dính líu vào đó, mày có thể bất đồng ý kiến với họ, mày sẽ xoay thằng em mày theo ý muốn của mày. Như vậy họ khó làm việc.

– Rồi sao nữa?

– Nếu họ thành công thì họ quên mày đi. Còn nếu họ thất bại thì họ sẽ đổ thừa mày không hết lòng. Con dao hai lưỡi của họ trao cho em mày sẽ trở lại đâm mày là ở chỗ đó .

Tôi nổi nóng.

– Củ chi họ ! Tao đếch viết thư.

Tư Linh không nói gì. Tôi vùn vằn đứng dậy định bỏ đi:

– Như vậy thì tao sẽ nói cho ông Ba Thắng biết, tao không chơi cái trò móc ngoéo đó.

Tư Linh kéo tay tôi ngồi lại, hồi lâu mới thở hắt ra:

– Không được! Mày không thi hành là chống lịnh cấp trên. Họ đày mày khỏi có ngóc lên nổi.

– Quyết định của tao ở trong túi đây! Mày muốn xem không?

– Xem mẹ gì ba cái chữ đó ? Lão Sở Khanh làm sao qua mặt được Chín Hô và Sáu Nam!

– Trong quyết định cỏ ghi chữ nào là móc ngoéo em tao đâu.

Tư Linh ném cái tàn thuốc tưng lên. Một vạch vòng cầu đỏ vẽ lên trên không khí. Trời đã tối đi từ lúc nào. Hắn bảo:

– Mày là con nhà pháo nên sống bằng góc vuông, tầm hướng, liều hai liều ba, cứ theo đúng công thức mà hạ lệnh, còn cái nghề địch vận của tao chẳng có công thức con mẹ gì cả. Nói vầy làm khác. Giấy tờ không quan trọng bằng mồm.. . Mày không nhớ vụ ông Tư Mai nghị sĩ Bà Rịa ở Quốc Hội Ba Đình à ?

Tôi gục đầu nhìn xuống đất. Tư Linh tiếp:

– Trên bề mặt thì ông Mai đau tim cấp tính mà chết đột ngột. Đám ma to nhất Hà Nội. Tất cả đều đúng công thức cho cái chết của một ông nghị sĩ, nhưng bên trong là một cuộc thanh trừng nội bộ , giết một anh nghị sĩ xét lại trước mắt hàng ngàn đại biểu quốc hội để bịt miệng họ đừng có lãi nhãi xét lại trong lúc một ông đại giáo điều sắp sang thăm, mày hiểu chưa nào? (Tôi lặng thinh nhưng trong bụng rung rinh cực độ). Vụ của mày cũng vậy thôi, ngoài là công tác móc ngoéo nhưng bên trong là gì ai biết được?

– Mày không biết tao làm sao biết được?

– Đời mà mày ! Chó đẻ ba con. Tao không có tin ai hết. Tao chỉ có tin con tao thôi. Chỉ có con là không giết cha mẹ thôi, chứ còn ngoài ra thì… tout est possible. Coi chừng đảng thưởng cái thòng lọng cho mày.

Tôi nghĩ về vụ An Lộc Sơn Trấn Nhậm Bình Lư. Hồi chín năm trong lúc tôi và cô Thoa con của bà Lê Đình Chi yêu nhau thì tên Trần Văn Chè phổng tay trên. Hồi đó hắn đang làm Tự lệnh Phân Liên Khu Miền Đông. Hắn cưới cô Thoa bằng một bức công điện từ miền Đông đánh xuống miền Tây. Cô Thoa không ưng, đã tự tử mấy lần mà không chết. Rốt cuộc trở thành bà Tư lịnh cho tới bây giờ. Tôi luôn luôn quan niệm ái tình là một loại trò chơi vui vẻ, và con gái là chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn. Nên tôi không hề thù hằn tên Chè và oán trách Thoa gì cả . Hơn nữa, bên cạnh cô Thoa duyên dáng, lúc đó tôi có hai ba cô bạn khác cũng ở thành mới ra, có lẽ xinh đẹp và hơn cô thoa nhiều. Vậy Thoa lấy tên Chè âu cũng là cái may cho tôi.

Vậy thì coi như đường ai nấy đi, c… ai nấy vuốt. Không lẽ nào tên Chè ngày hôm nay còn thù tôi nên tìm cách giết tôi bằng B52 ở Củ Chi. Mà thù gì mới được? Người bạn gái của tôi hắn giật, tôi không thù hắn, hắn lại thù tôi nghĩa là gì? Tư Linh phát thinh lên nói:

– Tao xét một vấn đề gì thường trở qua trở lại xét tới xét lui. Gương sờ sờ ra đó !

– Gương gì mà sờ sờ?

– Mày biết vợ bé xừ Duẫn là mèo của ông Bảy Trấn chứ?

– Con Nga da trắng môi thâm, tao dư… biết. Rồi sao?

– Ông Bảy Trấn là dân Nam kỳ, điệu đàn, tặng cô tình nhân trẻ cho ông bạn vàng chơi đỡ trong lúc xa nhà thiếu thốn tình cảm. Ông bạn vàng mê quá bèn xin. Bảy Trấn công tử Nam kỳ lúc đó đang làm Tư lệnh kiêm chánh ủy miền tây, hét ra lửa, hiến luôn cô tình nhân cho xừ Duẫn lúc đó sắp làm bí thư Trung ương cục như một nấc thang để leo lên cao hơn. Dè đâu, sau đó Bảy Trấn mất cả tình nhân lẫn chức vụ. Hừ! bên ngoài thiên hạ tưởng ông ta không được Trung ương tín nhiệm vì thành phần địa chủ, nhưng sự thực bên trong thì chính là bàn tay của ông bạn vàng.

– Ông ta thù Bảy Trấn à? Sao kỳ vậy?

– Thì vậy mới kỳ, nhưng đời mà mày! Hồi chưa cuỗm được cô nữ sinh thì Bảy Trấn là ân nhân của y, nhưng sau khi ẵm trọn cô nàng rồi thì y hận.

– Hận gì?

– Hận là kẻ đến sau, thằng ăn mót, thằng liếm của thừa.

Tôi nói:

– Tao đâu phải là bảy Trấn mà xừ Chè thù tao?

– Mày biết sao được hả ? Bụng dạ con người là bụng dạ con chó. Mày ngây thơ lắm! Còn vụ mày lăng nhăng với cô con gái của ông Cục trưởng Tha-mu đó đã đồn đi khắp R và xuống tận đây. Có thể lão Sáu Nam không muốn mày làm rễ, nhưng bề ngoài lại tỏ ra thích mày. Hiểu chưa?

– Tao có gạ gẫm gì nó đâu. Tại nó đeo tao chứ.

– Ai đeo ai không thành vấn đề .

– Nó bảo nó sẽ đòi bố nó điệu tao về công tác trên R nữa mà !

– Tao chắc thằng chả không khoái một thằng anh hùng rơm do thằng chả nặn lên để gạt ông đại tướng bần cố đâu. Thằng chả muốn tìm một ông phò mã khả dĩ gắn thêm sao trong cành dương liễu của thằng chả kìa. Do đó hai tên đó tương kế tựu kế đẩy mày xuống Củ Chi. Mày nên biết là một tên giảng huấn pháo binh như mày ở miền Nam này chưa chắc có tới hai mạng, thế mà lão Sở Khanh phải đành bóp bụng cho mày rời khỏi U80 để ra chỉ huy ba cái tiểu đoàn tẹp nhẹp ở Củ Chi này là sao? Điều đó đáng cho mày suy nghĩ lắm chớ!

– Tao không nghĩ là hai lão đó âm mưu hại tao vì những chuyện nhỏ như vậy.

Tư Linh run run cái đầu tóc quăn.

– Thù vặt nặng hơn quốc thù mày ạ ! Nhưng tất cả những điều tao nói chỉ là những xét đoán căn cứ trên duy tâm biện chứng chó ngáp của tao thôi, còn trúng hay trật bao nhiêu thì chờ thực tế trả lời.

– Cám ơn mày thằng bạn chí cốt của tao. Nhưng bây giờ mày bảo tao làm sao?

Tư Linh móc thuốc đốt hút và tiếp:

– Tao thấy rất khó cho mày là mày không thể từ chối. Trước nhất, tụi thằng Chín Lộc sẽ bảo mày để cho nó móc gia đình cho mày. Từ đó nó sẽ phăng ra cái gốc và nó sẽ lèo lái gia đình mày trong việc móc nối với thằng em mày. Nó bảo sao hay vậy. Nếu gia đình mày không thi hành một vài điểm nào đó thì họ sẽ nhân danh mày mà ra lệnh cho gia đình mày, mày đâu có biết ất giáp gì. Cho rằng mày có biết đi nữa thì họ bảo là vì quyền lợi cách mạng và nhân dân hai chữ cách mạng, nhân dân đối với họ là vô tận mày biết chứ? Vì cách mạng, cụ Hồ bỏ thuốc độc giết Dương Bạch Mai, vì nhân dân đảng đấu tố địa chủ, vì nhân dân me xừ Duẫn vác vòi sang Trung Quốc hú hí với mụ Nga, mỗi lần đi máy bay phản lực tốn bằng vài chục mùa lúa của trung nông. Vậy đó. Nhân dân! Cách mạng!

– Chịp !

– Còn thằng em mày chơi một trò rất nguy hiểm. Mày biết vụ Phạm Ngọc Thảo chứ? Rốt cuộc Phạm Ngọc Thảo chết mà chẳng làm nên cơm cháo gì lại kéo luôn ông anh là Phạm Ngọc Thuần đại sứ ở Cộng Hòa Dân Chủ Đức sụp luôn. Gương tày đình đó ông anh ạ !

– Tao thấy vấn đề rồi !

– Trước nhất là mày cứ nhận lời một cách rất tự nguyện tự giác, cách mạng triệt để, hiểu không?

– Được rồi.

– Sau khi họ tin mày rồi thì mày sẽ bảo em mày lãng dần ra và lánh mặt luôn. Chứ lúc đầu mà mày trục trặc thì họ đánh giá ngược lại mày và họ dám cho rằng thay vì mày xỏ mũi được thằng em, thằng em đã chiêu hồi mày. Như thế thì cuộc đời mày sẽ đen như mõm chó… Mày cứ giao kèo với Chín Lộc, Sáu Huỳnh vầy nè: tôi móc cho các ông rồi các ông làm gì làm, tôi không có trách nhiệm nữa. Rõ chưa?

Tư Linh kéo tôi đứng dậy đi trở lại mâm nhậu. Vừa đi hắn vừa nói thao thao bất tuyệt:

– Sau khi về đây, tao nhận định khác Trung ương ngay. Cuộc chiến tranh này không phải là cuộc chiến tranh chống xâm lược mà là cuộc chiến tranh ý thức hệ . Tại sao Đức, Triều Tiên không nước nào chủ trương thống nhất đất nước bằng võ lực mà chỉ có một mình nước Việt Nam mình thôi? Mày về đây mày thấy dân có còn ủng hộ mình như hồi chín năm nữa không. Miền Nam so với Miền Bắc như thế nào? Mình cứ bô bô cái mồm bảo nó phồn thịnh giả tạo. Hừm! giả tạo mà cơm dư, quần áo thừa thải, muốn mua gì cũng có. Ngay ở một cái quán cóc của cái chợ bị bom pháo tơi bời mày cũng tìm được đủ thứ cần dùng cho đời sống. Còn ở xứ xã nghĩa thì muốn mua một gói đường cát kiếm đỏ con mắt không ra. Mình lỡ đi con đường này rồi, không quay lại được, hồi chánh thì nhục nhã, thôi thì nhắm mắt đi tới cùng, còn gia đình mình đã yên thân ở bên kia thì cứ để họ yên thân, chớ chơi cái kiếu bắt cá hai tay này mệt lắm. Rốt cuộc chẳng bắt được con cá nào ngoài mấy con cá mặt quỉ.

Vừa tới sân nhà, Tư Linh bỗng dừng lại. Tôi tưởng y nói câu gì quan trọng lắm. Chẳng ngờ y móc túi quần lấy bóp ra, mằn mằn một lúc rồi ấn vào tay tôi một gói mềm mềm.

– Mày còn chứng minh thư nhân dân hết? khặc khặc…

Tôi cầm lấy, biết ngay là loại chứng minh y cho tôi lần đầu tiên gặp ở đây. Tôi bảo:

– Tao được thằng Hùng tiếp tế rồi.

– Hùng Bến Tre hay Ngô Huy Hùng?

– Hùng Bến Tre. Nó mới cưới vợ. Đúng ra bà già nó cưới ở Bến Tre rồi dắt lên cho nó.

– Ngon he!

– Nó cho tao cái Seiko đây! Gặp ở trường Trung Sơ. Nó dắt ra chợ Long Hoa giải phóng mua đủ thứ ! Có cả loại chứng minh thư này. Hiệu Hồng Kông hay Đài Loan gì đó.

– Vậy là được rồi. Mày nên nhớ đó là bửu bối số 1 để giữ cho lon gáo khỏi rơi nghe. Đàn bà con gái ở đây bạo dạn hơn thanh niên nhiều. Vì chiến tranh ác liệt chúng nó sống vội sống cuồng hơn cả tụi Sài gòn. Bộ vó của mày coi còn vía lắm. Ngoài con gái ông cục trưởng có cô nào nữa không?

– Thì cũng lai rai. Bánh sáp đi bánh qui lại.

– Đi thì cứ đi, lại thì cứ lại, nhưng ông con nên nhớ đừng có quên xài chứng minh thư nghe chưa. Em mà mang bầu tâm sự là em nắm đầu anh đội chạy không có thoát đâu. Ai chớ đụng mày thì em nó không có buông đâu. Liệu cái thần hồn thần xác đấy ông con !

Tôi nghiệm thấy Tư Linh nói đúng lắm. Đúng nhất là trên R. năm cô đeo một lúc. Mệt ứ hơi. Đối phó còn hơn cả trên trận địa. Cô nào cũng muốn làm vợ anh cả. Gần đây nhất là cô xã đội phó. Đúng lúc tôi nghĩ tới đó thì Tư Linh hỏi:

– Mày có ý định làm rễ má Hai không?

– Má Hai nào?

Và vừa đúng lúc đó thì cô xã đội phó lại ló mặt ra, nói rổn rảng:

– Anh Hai với anh Tư đang chiến đấu sao bỏ chạy vậy, bộ sọc dưa hả?

Tư.Linh đáp:

– Sọc dưa hay không rồi sẽ biết! Ba ván niền không bỏ ván lào đấy!

Tư Linh nói giọng Bắc chúng tôi hiểu nghĩa, nhưng Là không biết nên kêu lên:

– Anít còn nửa cây, đế còn một bình tong ở đó mà

oán,oán.

Hai đứa bước vào. Tư Linh còn nói ráng với tôi:

– Coi được đến chớ hả Thầ…. ầy Ha…. ai ! ? Nè , mầy cần Laissez-passer không, tao cấp cho một hộp đặc biệt. Hai cô Nga ở trong Bệnh xá thì không cần, chứ cô xã đội thì cần đó.

Huỳnh Nga nói tung ra:

– Ớ ! tưởng cái gì chớ ba cái thứ bửu bối đó em không có xài đâu. Tụi em biết ngày nào nguy, ngày nào không nguy, như vậy bảo đảm hơn ba cái chứng minh thư của mấy anh.

Hồng Nga xì một tiếng, bĩu môi:

– Tưởng cái gì chứ ba cái bao cao su đó mà cũng nói lóng: chứng minh thư, Laissez-passer. Tụi em rành quá mà anh Tư! Đó là pha học không có gì phải giấu.

Tư Linh nhìn tôi:

– Mày thấy chưa? Tao bảo là phụ nữ nhảy phóng mình không có thua nình bà con gái Xài-gồng mà.

Huỳnh Nga nghênh mặt:

– Tụi em cũng có trong lưng luôn chớ bộ chỉ các anh là đại lý độc quyền à? Tụi em biết nhãn hiệu Tiệp Khắc, Hung cari dỡ ẹc nữa.

– Sao dỡ ẹc?

– Hay rách chớ sao. Nhãn hiệu Đài Loan có người đàn ông và người đàn bà đứng đâu mặt vào nhau mới tốt. Tốt hơn nữa là nhãn hiệu u-êt-a.

– Ở đâu mà có thứ đó?

– Ra chợ Bắc Hà mua lại của lính Đồng Dù rẽ rề .

Tôi thấy sự hồn nhiên cửa mấy cô mà ê càng quá trời. Ông bác sĩ nhảy rào Tư Chuyền nói đỡ cho hai cô nhân viên của mình:

– Khổ lắm thầy Hai ơi. (Ông ta không phải là học trò của tôi, nhưng thấy mấy người khác kêu tôi bằng thầy thì cũng kêu theo.) Bệnh xá chữa cho thương binh đã mệt ngất rồi, lại còn phải phá nạo cho các bà cố nội nữa. Kẻ ăn bánh người liếm lá.

Tư Linh đang đút điếu thuốc vào mồm bỗng rút ra, cười ha hả và nói:

– Mỗi tháng anh liếm được mấy cái… lá?

Hai cô Nga trừng mắt nhìn Tư Linh. Huỳnh Nga bảo:

– Anh nói tiếng gì ác vậy anh Tư.

Tư Linh cười run run mớ tóc quăn trước trán:

– Ai nói gì đâu. Tại ông bác sĩ nói đó chớ đâu phải tôi.

Tư Chuyền đứng dậy kiếu từ:

– Thôi anh em mình nhổ sào để cho thầy Hai nghỉ ngơi.

Cô xã đội phó không thích sự có mặt của hai nàng Nga có vẻ văn minh và sáng sủa hơn mình, nghe ông bác sĩ nói, bèn đưa thêm:

– Ừ, nhổ sớm sớm đi, để chút nữa tới giờ, pháo Đồng Dù nó giã gạo cho mà bò không kịp.

Tư Chuyền và mấy ông trợ lý của ổng ra về, nhưng hai cô Nga còn nán ở lại với lý do tiếp hai chị em Lụa và Là dọn dẹp rồi về sau. Đó là điều trải với ý muốn của Là, nhưng trước thiện chí của hai nàng, Là không thể đuổi khéo được, nên nàng cứ đi ra đi vào như bận rộn việc lớn, ngồi đứng không yên. Bỗng có tiếng Bụp! Bụp! Bụp rồi lụp bụp liên tràng không còn đếm được nữa. Mọi người nhảy lung tung định chui hầm, nhưng Là vẫn tỉnh khô:

– Làm cái gì như khỉ mắc phong vậy?

Lụa ôm ngực nói:

-Chị tưởng là nó giã mình!

– Xí ! chị ở đây cả đời rồi mà cũng chưa quen tiếng pháo.

– Chị hễ nghe lụp bụp là nhảy chớ ở đó mà quen, lạ gì.

Là ngó tôi, cười:

– Còn anh nữa! Thầy pháo gì nhát vậy?

Lụa nói đỡ:

– Ở đây có cả chục làn pháo, đâu phải chỉ Đồng Dù. Ảnh chưa có quen. Cô làm mặt giỏi có bữa lủi không kịp.

Tôi cười bảo:

– Lạ thì cũng có lạ thật nhưng tính tôi nhát lắm. Hễ nghe là nhảy chớ không có lỳ như bà … xã đâu! Nay mai tôi sẽ đeo dính bà xã . . . đó bà xã ơi !

– Xí anh ngạo em phải không? Nói chút vậy cũng tự ái! Ai là bà xã của anh mà kêu bà xã bà xã.

– Bà xã đội không phải à?

Là làm thinh, hơi đỏ mặt. Huỳnh Nga nói:

– Nói trúng ý rồi phải không bà xã ?

Tư Linh cũng sửa soạn rút lui, mang ba lô súng ống lên vai.

– Bà xã cũng được chớ đâu có hại gì, cô em. Tui mà là con gái thì tui ưng thầy Hai liền!

Tôi đưa Tư Linh đi một quảng đường, Tư Linh nói:

– Mày về đây thì ở đâu tao cũng tìm được. Vấn đề tao nói hồi nảy mày nên cẩn thận. Còn chuyện vợ con của mày thì phải nhanh nhưng cũng phải coi tới coi lui. Như hai cô y tướng trùng tên này thì không được. Tụi nó ở trong bệnh xá nó nhàm ba cái vụ đó rồi. Nó nói xàm không ngán miệng mày thấy không? Đó cũng là nữ sinh thành, nhưng ra đây sống trong cảnh chết chóc hãi hùng, tụi nó trở thành rất hiện sinh. À quên, con xẩm lai ở chợ An Nhơn có nhắc mày.

– Con xẩm lai nào?

– Con nhỏ bán nước đá ở chợ An Nhơn. Mày gặp con Bảy Mô ở đó đó.

– À, nhớ rồi. Cô Bảy nó còn không…

– Còn nguyên chớ đâu có thằng nào rớ được. Dân đụ chĩa học sinh thành, tụi bần cố hỉ và mùa Thu mùa Đông đâu có vô ngàm nổi. Chỗ đó thì tốt quá.

– Còn con chị nó mày dzô… chưa?

– Chậc! Mày khỏi có lo. Thôi đi nhe ! – Tư Linh quay đi còn trở lại – Con xã đội coi bộ nó ghen với hai con Nga ra mặt. Mày coi chừng nó đổ ghè tương lùm xùm ra đó. Tao bắt nhãn thấy tụi nó chíp mày rồi. Thủ trưởng nó về mà nó tụt hậu không thấy sao?

Tư Linh vừa bắt tay từ giãtôi thì có hai bóng người đi tới.

Đó là hai cậu du kích của cô xã đội: thằng Bổn và thằng Quỷnh. Mỗi đứa bưng một cái rỗ. Cả hai cùng đi vô nhà. Là hỏi như gắt.

– Gì đó ?

– Khoai mì.

– Đem đi đâu đây? Nhổ trộm nhà ông Năm Sảnh đó hả ?

Thằng Quỷnh nghênh cái mặt đen ngời, nói đả đớt:

– Chời ơi ! chời ! cái chị này nói nghe dô diên thấy mẹ đi ta! Khoai mì người ta mà hỏi bưng đi đâu. Ông Tư Chuyền về chỏng gặp tụi tui, ổng biểu tui đem cho ảnh ăn chơi. Anh ở lâu chên gờ, chắc ảnh thèm dữ lắm.

– Tao tưởng tụi bây nhổ trộm nhà ông Năm. Lần trước ai nhổ rồi không dập đất lại.

– Mấy ông nội đào hầm chớ ai.

– Nhổ lấy củ rồi không cắm hom trở lại cho người ta. Bộ tính ăn một lần rồi thôi.

Thằng Bổn chìa rỗ khoai ra trước mặt Là:

– Xin lỗi đi bà cô ! Coi võ khoai này dính đất sét hay dính phân đen. Đây là khoai ở An Nhơn Tây nên dính đất sét. Của ông Sáu Mã Tử cho tụi tôi một đám của chị Ba ổng. Tụi tui nhổ cho chú Tư, chú biểu chia bớt cho anh Hai đang ở ngoài này. Xí, chị có cái nói ẩu vậy nên mất uy tín với tụi tui hoài.

Tôi đỡ cho Là:

– Cô xã đội đề phòng mấy em làm vậy mất quan điểm nhân dân. Sao không để cho thương binh ăn, đem ra đây chi?

– Chú Tư nói thương binh thì phải uống sữa, không có sữa thì thôi. Ai cho thương binh ăn khoai mì. Làm vậy họ tủi thân. Vết thương lành, họ về nhà luôn không trở về đơn vị nữa.

Thằng Quỷnh còn ức cô xã đội, nó giằn rổ khoai xuống đất một cách giận dỗi:

– Chời ơi chời ! Tụi em gành quan điểm nhân dân quá ể mà anh Hai. Nhà chưa quét chưa đi, nước chưa gánh chưa đi, củi chưa bửa chưa đi, phải không anh Hai?

Tôi cười:

– Mấy em khá quá. Ai dạy vậy?

– Chú Tư Chuyền chớ ai!

– Mấy em biết mấy câu đó của ai không?

– Dạ không.

– Của Mao chủ tịch đó .

– Mao chủ tịt nào?

– Em không biết đâu. Ổng ở tận bên Trung Quốc.

– Trung Quốc là ở đâu?

– Là ở bên Tàu đó.

– Tàu thì kêu Tàu sao kêu Trung Quốc ai mà biết.

– Cách mạng bây giờ kêu khác hồi trước.

– Vậy là mấy thằng chệt phệ ở chợ An Nhơn Tây hồi trước là dân Trung Quốc đó hả ?

– Phải đó, cách mạng gọi là con cháu Bác Mao.

– Con xẩm lai ở chợ bây giờ có phải là cháu ổng không?

– Phải, phe mình cả đó.

– Phe mình gì đập đổ phe mình dữ vậy?

– Đập cái gì đâu?

– Nó bán nước đá nhận trong cái ly nó ém xốp xộp, chế ít giọt xi-gô, vậy là chém mười đồng.

Lụa thấy hai thằng nhỏ quạu quọ bèn bảo:

– Cho khoai mà mặt mày sần sượng vậy khoai cũng sượng luôn anh Hai ăn không ngọt.

– Ai biểu chị xã đội nói vậy chi. Hề hề… nhưng mà anh Hai à, quan điểm nhân dân của Mao chủ… gì đó, tụi em bây giờ không phải giữ nữa.

– Tại sao vậy?

– Nhà chưa quét chưa đi ! Bây giờ tụi em và thương binh ở ngoài gừng chớ có mấy khi ở trong nhà ai đâu mà quét. Nội xóm này đố anh kiếm được một cái nhà còn ở được! Nước chưa xách chưa đi ! Lu mái tỉn hũ đâu mà gánh nước? Cà-nông nó bắn bể hết. Nếu không trúng tệnh thì đất gun cũng nứt hết. Còn củi chưa bửa chưa đi. Củi bây giờ không cần phải bửa. Cứ rút vách, lôi lá trên nóc nhà, ra vườn bẽ nhánh cây bị bom cháy dở chụm thiên niên cũng không hết.

Tôi cười gượng:

– Cái thằng diễu giỏi quá mậy.

Cô xã đội được dịp, phản công ngay:

– Còn hai cái “chưa” nữa, tụi bây quên. Biết chưa gì không?

– Chị đặt chuyện chớ ai mà quên.

Là nói tỉnh khô:

– Ăn chủ nhà chưa mạt chưa đi !

– Chị nói lảng nhách!

– Chớ không phải hả? Cơ quan mà đóng nhà nào thì ăn sạch nhà nấy mới chịu đi. Còn một cái “chưa” nữa. Đó là chưa mò con gái hoặc vợ chủ nhà thì cũng chưa đi. Đúng ra là chưa bị đuổi đi.

– Chị nói vậy tui báo cáo chị bị kiểm thảo mất chức cho coi!

– Tao thèm cái chức này dữ à ? Tụi bây đi kêu thằng cha Năm Thuận về đây tao trả chức xã đội này cho thằng chả.

Hai thanh niên đang ở thế công, bây giờ lại bị đẩy sang thế thủ, nên chới với không biết đỡ gạt cách nào. Thằng Bổn tìm cách né :

– Ổng là xã đội trưởng, chị là xã đội phó. Thằng chả bỏ trách nhiệm đi câu tôm tự túc thì chị đến mà biểu thằng chả trở về chớ mắc mớ gì tôi.

Lụa thấy tình hình coi mòi găng bèn tìm cách hòa giải:

– Thôi mấy em đem khoai ra giếng gửa đi (Lụa nháy tiếng nói đớt của thằng Quỷnh) rồi nấu cho anh Hai ăn thử. Vậy là huề . Đừng có nói ba cái vụ quan điểm nhân dân nghe mắc cỡ cái lỗ mũi con cóc lắm. Chốc nữa hai đứa về nhớ đem cái rộng chuột về làm cho thương binh ăn. Chuột của chú Tư Thiên tặng cho bệnh xá đó. Xã ủy dông hết vô ấp chiến lược, còn có mình chú thủ trại mà chú cũng ráng đội cà-nông đi gài chuột cho thương binh ăn. Đó, mới gọi là quan điểm nhân dân và tình cá nước.

Huỳnh Nga phục kích bây giờ mới nổ súng:

– Chuột ăn bị phong dữ lắm còn thương binh ăn khó lành vết thương.

Thằng Quỷnh quay lại tấn công bồ nhà:

– Phong gì mà phong. Để tụi tôi ăn cho.

– Chú Tư nói chuột bị hóa học ăn nguy hiểm lắm. Ăn nó bị lên phong như phong cùi.

– Cái gì mà cùi. Hóa học rải ở đâu, sao không đem rải trên đầu tui nề. Ai không ăn để tui nuốt hết cho. Hồi nào tới giờ mấy chị không ăn thịt chuột sao cũng nổi mụt thâm đen như vỏ chuối chín cùng mình, không phải phong thì là gì?

Hồng Nga nguýt:

– Cái thằng lãng dang quá hè ta. Ai nổi phong hồi nào?

– Xí ! Thiệt hôn tui khai hết cho coi. Bà nào bà nấy cũng mang vành đai Đồng Dù trong mình còn giấu.

– Giỏi khai đi.

– Hổng nổi phong mà tối bữa nào cũng lén che ni lông dưới hầm để xức thuốc.

Huỳnh Nga trợn mắt:

– Cái đó là ghẻ xốn ông con ơi! Không phải phong gì hết. Toàn thể nam phụ lão ấu đều bị loại ghẻ này chớ phải riêng ai sao?

– Sao tui không có?

– Mấy đứa tụi bây chưa có chui hầm. Để ít lâu rồi biết. Cái vành đai Đồng Dù. Chừng đó đừng có khóc rồi hỏi tao: chị xức thuốc gì cho em xin xức với, nghe chưa?

Là vọt miệng:

– Ghẻ xốn là ghẻ trời cho, ai mà không ghẻ không phải là dân Củ Chi.

Thằng Quỷnh nghếch mặt:

– Thuốc của mấy bà xức, ghê thấy mẹ, ai mà thèm xài.

Hồng Nga hỏi.

– Thuốc gì mà ghê ?

– Mấy chị tưởng tôi không biết hả ? Vôi trộn với nước chanh. Phết! phất, quẹt, quẹt, sột sột, hít hà, ôi cha rát rát, mày làm ơn phết dùm chỗ này. Ừ, ừ chỗ đó đó.

Thằng Quỷnh vừa nói, vừa học bộ lăn xăn, mặt nhăn nhó diễn tả như kịch, làm mấy người kia cười lăn ra. Rồi nó hất hàm:

– Có đúng điệu xức ghẻ xốn chưa?

– Bộ mày rình người ta hả?

– Tui hổng biết. Tui chỉ hỏi mấy chị là có đúng y như vậy không?

Là tham gia ý kiến:

– Thôi đúng tẩy rồi. Đừng có cãi nữa. Nó khui tới cái tầng nhì của địa đạo thì có môn bỏ xứ Củ Chi này thôi. Mang vành đai Đồng Dù đối với mình là chuyện thường chớ có gì lạ đâu mà chối cãi.

(Tôi cũng đã từng bắt gặp mấy cô dũng sĩ xức ghẻ xốn kỳ phục kích địa đạo chiến cho thằng nhà báo Bọ Chét quay phim nên tôi đâu có lạ gì.)

Là nói tiếp:

– Hễ càng nổi danh dũng sĩ thì cái vành đai càng thâm đen thôi. Cả anh Hai nữa, ở đây ít lâu rồi cũng có.

– Vậy chị là xã đội, chắc cái vành của chị phải rộng hơn của mấy chị kia phải không?

Mọi người cười rộ vì câu hỏi của thằng Quỷnh. Là xua tay lia lịa:

– Hồi nào tới giờ tôi chưa chun xuống cái hang chuột đó .

– Vậy sao bắt người ta đào?

– Đào cho người khác không phải cho tôi.

– Cho ai?

Huỳnh Nga nhìn tôi một cách ý nhị. Tôi lắc đầu:

– Tôi đã bị bà xã cho chui một lần rồi. Mệt suýt đứt hơi. Tôi ớn lắm. Có lẽ thứ ghẻ này còn ớn hơn ghé ngứa hồi chín năm. Tụi tôi đóng ở nhà đồng bào vùng Lý Nhơn, Đồng Hòa, vì không có gạo đủ ăn, lại thiếu nước tắm rửa, đứa nào đứa nấy mình mẩy như lươn bông. Thừa lúc chủ nhà đi vắng, tụi tôi cởi quần áo vô bếp hơ lửa cho đỡ ngứa. Bây giờ nghe nói ghẻ xốn, tôi chạy tét.

Huỳnh Nga nói:

– Anh chạy đi đâu rồi cũng không không khỏi chui. Anh cứ bỏ một cục vôi ăn trầu hay một trái chanh vào xắc-cốt sẵn đi là vừa.

Chương 34
Đứa học trò bỏ lớp vì thầy giáo ra Ấp Chiến Lược

Là cầm hai cái bẹ chuối ốp lại từ trong bếp đi ra, đưa một cái cho chị Tám Khỏe, một cái cho Huỳnh Nga và nói:

– Đây là cá ướp sả muối chị Tám với chị Nga đem về chiên ăn sáng mai để sửa soạn cặp giò mà chạy. Tôi coi tình

hình này thì sáng mai có đổ chụp đó.

Mấy đứa con chị Tám còn muốn ở lại chơi với bé Rớt nhưng Là quát:

– Về đi! Ở bên này không đủ hầm chui, pháo Đồng Dù nó cắt họng đó.

Con Lượm đã bước ra sân còn quay lại:

– Mai con qua, cậu Hai chép bài cho con học nghen!

Thằng Quỷnh ra tới sân thấy buồng dừa nạo, nói dèm:

– Dừa này, đào hầm mệt thì uống nước đã lắm.

Là muốn tống thiên hạ đi cho nhanh bèn nói:

– Dừa để cho anh Hai. Tụi bây ở đây uống hoài mà còn đòi

Thằng Quỷnh còn quay lại:

– Đó là sáu chưa. Chưa xin dừa, chưa đi. Mao chủ tịch quên dạy. Hé hé hé…

Là quay trở vô, lằm bằm:

– Thứ gì đi đâu ăn tàn ăn mạt tới đó.

Tôi thấy tội nghiệp cho cách mạng, nên đỡ dùm thằng Quỷnh:

– Kệ nó em, nay mai mình rủi bị thương, vô đó nhờ chúng nó .

– Bị thương thà chết sướng hơn. Anh thấy thương binh trong đó nằm hầm như vậy. Như chôn rồi mà chưa lấp đất. Nội cái hơi đất trộn với mùi hôi thối của vết thương thở vào cũng đủ chết rồi. Khi có đổ chụp em không biết làm sao họ di chuyển thương binh đi trốn?

Khách khứa về hết, nhưng tôi thấy gương mặt của Là vẫn cau có, như chưa hài lòng về một điều gì. Con Rớt không còn bạn chơi nên quay sang vòi vĩnh cậu Hai:

– Cậu Hai phỏng vở cho con đi !

Bé Rớt cầm tập vở rách nát đưa cho tôi. Lụa cắt nghĩa:

-Tập vở mua học chưa hết mà con nhỏ phải ở nhà . Hổng chừng bữa nay chữ đã trả lại cho thầy hết rồi.

– Cháu đọc được chưa?

– Nó mới biết ráp vần thôi anh à .

– Vậy đưa vở đây.

Tôi sắp ngồi trên ghế viết thì bé Rớt bảo:

– Tới giờ tụi Đồng Dù giả gạo, cậu Hai phải xuống hầm mới được.

Lụa giục:

– Xuống hầm đi anh. Lúc rày nó bắn thường hơn trước.

Tôi nói:

– Lần trước anh về anh còn dám ngủ trên ván gõ với chiếc gối tai bèo. Bộ ván đâu rồi?

– Anh ngủ trên nhà má chớ đâu phải nhà em.

– À, anh quên.

– Mà bộ ván cũng tiêu rồi. Cả cái nhà cũng không còn nữa là ván ngựa.

– Mới có một năm mà tan tành hết trơn.

– May mà gia đình còn đủ !

Tôi xuống hầm ngồi trên chiếc ghế đẩu xệu xạo và đặt tập vở trên mặt bàn nám đen mà bồi hồi tấc dạ . Bé Rớt đứng một bên cúi đầu vào xem tôi viết và đánh vần từng chữ theo ngòi bút của tôi. Mái hầm đất thấp, đứng dậy thì đụng đầu, phải đi lom khom luôn. Nhưng tôi không thấy chật hẹp mà thấy ấm áp với tình gia đình. Bé Rớt làm cho tôi chạnh nghĩ tới một mái ấm gia đình. Ba mươi bốn tuổi rồi còn nhỏ nhê gì nữa. Biết bao nhiêu lần dự định, bao nhiêu lần sắp sửa, bao nhiêu lần sẵn sàng để dựng nó lên từ bên sông Tân Bửu quê nhà, Miền Đông rồi đến Kinh 13 bờ sông Chắc Băng, Miền Tây Nam Bộ, nhưng tất cả những mái tóc thề những trái tim thanh xuân hồn nhiên đắm đuối đều phải bỏ lại sau lái tàu tập kết. Với nỗi đau lòng lìa bỏ quê hương với biết bao nhiêu kỷ niệm chiến trường, kỷ niệm yêu đương, kỷ niệm của đồng bào, tôi phải bước chân xuống tàu để đi ra miền Bắc. Nhìn lên bờ, những mẹ già, những vợ trẻ, những bà con cô bác yêu thương hoặc không từng quen, những bạn gái của tôi đứng khóc giơ tay hứa hẹn…

Rồi ra miền Bắc, bao nhiêu cơ hội tốt biết bao đến với tôi, nhưng thuyền cặp bến sắp sửa cắm sào thì sóng gió bất thần lại đến giật phăng thuyền đi. Và bây giờ về Nam bao nhiêu đóa hoa nghiêng chào, bao nhiêu nhụy hồng tươi thắm, nhưng rồi làm sao, làm sao sống được với một người vợ dưới một mái nhà trong cái không khí nhao nháo chờ đợi B52 này?

Tôi là người giang hồ bạt tử chân lội khắp đất nước từ miền Đông xuống miền Tây, từ miền Nam ra miền Bắc leo cả sang nước Tàu, chưa hề biết mỏi chân chùn bước, khói lửa lướt qua, gian nguy đạp càn vượt lên mà sống.

Nhưng hôm nay lòng bỗng thấy bồn chồn nghĩ tới lúc cần phải có một đứa con, cho mình, cho gia đình, cho dòng họ. Cuộc sống của con người ở đây quá mong manh và may rủi. Cái chết đến như một trò đùa.

Bé Rớt mới sáu tuổi mà đã vắng cha ba năm hoặc đã mất cha mà không biết. Một năm qua, tôi trở về đây thấy con người phờ phạc hốc hác, đàn bà thì khô héo, rầu rĩ, đàn ông thì láo liên vội vàng, còn trẻ con thì trở thành ông cụ bà cụ.

Tôi chép cái bài học luân lý Việt Nam mà tôi từng học lúc tôi bằng tuổi bé Rớt.

Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Bé Rớt đọc tới cuối dòng đầu thì hỏi:

– Thái Sơn là gì cậu?

– Thái Sơn là một cái núi bên Tàu giả tỷ như núi Bà Đen của mình vậy.

Con bé đứng ngớ ra. Nó không biết núi là gì. Bên Tàu là ở đâu. Thế nhưng nó rành hết các loại máy bay đầm già, cá nhái, cá rô biết phân biệt tiếng đạn cà nông từ đâu bắn lại và đạn to hay bé, biết cả nhận định tình hình đổ chụp ngày mai và nhiều chuyện nữa mà kẻ chân ướt chân ráo như tôi phải hỏi Rớt. Tuổi thơ trong chiến tranh đã phải chịu quá nhiều đau khổ. Em Xe cầm cờ xung phong vô bót Pắc Sa Ma đã hi sinh anh dũng. Chính tôi và các bạn trai bạn gái của trường Đồng Tử Quân thời kháng chiến chống Pháp đã mạo hiểm tổ chức đánh xe nồi đồng và đã thắng bất ngờ, làm các anh lớn vừa vui mừng vừa hết hồn hết vía cho lũ con nít quỉ.

Tôi bảo bé Rớt:

– Con đánh vần đi, chữ nào không biết thì hỏi cậu.

Tự nhiên tôi gọi bé Rớt bằng con. Tiếng con thốt ra một cách tự nhiên, không có dự tính. Lụa ngồi gần đó cũng không ngạc nhiên. Tuổi tôi làm cha con Rớt thừa sức. Lụa nhìn tôi với đôi mắt như hỏi dò : anh có muốn làm cha nó không.

Nhưng nàng lại hỏi bé Rớt:

– Con có muốn làm con cậu Hai không?

Bé Rớt mở đôi mắt tròn xoe nhìn má nó như muốn nói:

– Con có ba mà má ! Rồi nó hỏi – Sao ông Tư (Thiên) hứa ít ngày ba về mà ba không về hả má .

– Ít bữa nữa ba con về.

– Ít bữa hoài hè.

– Ở đây đâu có đứa nào có ba đâu.

– Không có ba cũng không có cậu như con. Ba tụi nó đi công trường 9, đi thanh niên xung phong ngoài Bình Long Phước Long… không về.

Con bé chợt buồn. Nó định đánh vần tiếp, nhưng bỏ ngang. Nó hỏi:

– Bình Long Phước Long là ở đâu má?

– Hỏi cậu Hai, má không biết.

– Sao ai đi ra đó cũng không về hả má?

– Má cũng không biết nữa.

Bé Rớt quay sang tôi:

– Sao vậy cậu Hai? Ba con đi đâu ở ngoài lâu quá vậy? Chiều bữa nào má cháu cũng đứng ở bệ cửa dòm ra lộ, thấy ai má cũng nói với cháu: hổng chừng ba con về kìa.

Tôi không biết cắt nghĩa sao cho xuôi một câu hỏi đơn sơ của đứa bé, tôi không muốn nói dối mà càng không thể nói thật. Bọn Hà Nội là bọn bịp. Chúng nó bịp dân Nam kỳ với những mỹ từ kêu to, bịp dân miền Bắc với mớ cỏ khô trước đầu ngựa, bịp thế giới với những chuyện thần thoại, chúng bịp cả trẻ con với những mộng ước không đời nào có.

Thấy tôi im lặng, Lụa bảo con:

– Học riết đi rồi đi ngủ. Mai cậu Hai dạy cho học đồ.

– Cây viết đâu còn má !

Tôi móc cây bút bic mua ở Xóm Giữa đưa cho Rớt.

– Cậu Hai cho con cây bút nguyên tử bốn màu nè.

Cô bé lấy làm thích thú rồi chơi với nó mà không học bài nữa. Cái hầm chiếm gần hết hai phần ba căn nhà, ở dưới đó đặt một bộ ván ngay chính giữa. Mỗi bên có một cái ngách như ngách ếch có thể nằm ngủ một người. Đối diện với cửa hầm chính là một lỗ thông hơi lớn cho không khí ra vào khoảng khoát. Bên cạnh lỗ thông hơi đào một cái ngách khác ăn thấu giao thông hào ở ngoài vườn, đề phòng nếu nhà bị cháy người trong hầm có đường thoát, không phải bị thui như chuột. Tôi và bé Rớt chiếm bộ ván giữa, Lụa và Là, mỗi cô thủ trong ngách hai bên. Cây đèn chong đỏ chạch đặt trong lỗ khoét vào vách hầm lên khói như khói tàu và như là con mắt canh chừng đạo đức của cả ba người. Lụa bảo:

– Anh Hai tắt đèn đi, để lâu nóng lắm.

Tôi vâng lệnh cô em gái thổi nhẹ ngọn đèn. Màn đêm phủ trùm. Dày đặc trong hầm. Tôi không có gì lợn cợn trong đầu. Lụa đã có chồng. Chồng đang ở tiền phương không biết còn mất. Là là cô bé nhiệt tình với cách mạng và yêu tôi. Với tư cách là em của tôi, nàng đã làm những chuyện làm tôi bật ngật, choáng váng, hết hồn. Như vụ bảo tôi leo bẻ dừa trong lúc nàng vô nhà tắm ở bên hiên và đứng trong đó chỉ cho tôi buồng dừa… nạo! Suýt chút nữa tôi buông tay.

Nếu phải lấy một trong hai em thì tôi lấy Lụa, mặc dù Lụa đã có con. Lụa điềm đạm thâm trầm và đẹp hơn cô em, với đầu tóc bới kiểu Nam kỳ lũng lẵng sau ót với chiếc áo bà ba quê hương mà tôi hằng ao ước lúc còn ở ngoài xứ Bắc. Với một mẫu người như vậy chắc sẽ có hạnh phúc hơn với cô em mười tám kia. Giống hệt như câu chuyện Hai chị em trong Con Đường Đau Khổ của A. Tolstoi. KatiaDacha. Dacha thì rực rỡ thanh xuân còn Katia thì sầu muộn, tâm tư quằn quại khi cách mạng tháng mười xảy ra. Chỉ có điều khác là tôi không phải là nhà thơ Bessonor mà thôi.

Tôi nằm mơ màng tưởng nhớ những chuyện đâu đâu. Từ Tây tới Tàu. Từ Bessonor tới Liễu Hạ Huệ đời Châu và Quan Vân Tường đời Hán, hai vị anh hùng nơi chiến địa và cả phòng the đứng trước nhan sắc mỹ nhân, không bị cám dỗ.

Bé Rớt nằm nép mình bên cậu Hai. Một chốc tôi nghe tiếng cộp nho nhỏ. Tôi biết là con bé ngủ mê đã buông cây bút nguyên tử bốn màu xuống ván.

Tôi nghe tiếng cựa mình của Là và tiếng thở dài rất khẽ của Lụa. Trong hầm mỗi tiếng động đều được khuếch đại nên tôi nghe rõ mồn một. Tôi đoán rằng Lụa có cảm tình đặc biệt với tôi, nhưng tình cảm vượt quá ranh giới anh em một tí. Nhưng nàng tự chủ. Nàng dừng lại ở đó và nén lòng bằng những tiếng thở dài hoặc những cái liếc rất nhanh, những cái nhìn rất xoáy mà tôi bắt gặp.

Tôi thấy không thể ngủ được giữa tiếng trăn trở và những tiếng thở dài, nên tôi lên trên mắc võng ngủ ngay miệng hầm. Bằng cách đó, tôi đã ngủ một giấc nguy hiểm nhưng lại an toàn.

Tôi đã qua một đêm có thể gọi là dài nhất trong đời và thắng mình một cách âm thầm và oanh liệt. Sáng ngày, vừa thức dậy, Là đã quở tôi:

– Anh không được liều lĩnh như thế nữa.

– Lắm khi phải liều mới được em ạ .

Lụa đang lục đục nấu cơm dưới bếp nói vọng lên:

– Cô Út ngày nay ở nhà hay đi đâu?

Là cau có đáp.

– Đưa anh Hai vô Phu Hò a !

– Đi một mình không được sao mà phải dẫn ảnh đi? Rủi có gì làm sao?

Là vùng vằng:

– Chuyện gì là chuyện gì?

– Tao sợ đỗ chụp, ảnh chưa quen đường đất chớ tao có nói chuyện gì.

Là xí một tiếng rồi vẫn cau có, phang trả lại chị:

– Tụi Quyết Thắng (tức tiểu đoàn Quyết Thắng) ở đầy ngoài đó có gì mà sợ dữ vậy. Ảnh là cán bộ quân sự chớ ảnh có phải là thỏ đế đâu. Dẫn ảnh đi cho ảnh quen đường chớ để ở nhà ru rú có đổ chụp ảnh biết chạy đâu. Hay chị muốn ảnh bắt chước mấy ông mấy bà ngồi thum?

Tội nghiệp, trước sự lấn lướt của cô em, Lụa chỉ trả lời yếu ớt:

– Tôi chỉ sợ phòng hờ vậy thôi cô ạ ! Để… ể ảnh ở nhà dạy con Rớt được chữ nào hay chữ ấy.

Nhưng Là vẫn xon xỏn:

– Tôi hổng để ảnh chết đâu. Ảnh có sứt miếng thịt nào thì con nhỏ này cũng dám liều thân xác để bù đắp lại… Học cái gì. Thầy giáo đã bỏ ra ấp chiến lược, học một ngày được mấy chữ.

Tôi hiểu bụng cả chị lẫn em. Cô chị muốn tôi ở nhà để dạy con Rớt.(!) còn Là muốn bắt tôi đi để giải phóng tôi ra khỏi tầm mắt của chị. Ai có lý của người nấy. Bên ngoài Lụa bị đánh tạt, nhưng dễ gì nàng chịu thua cô bé .

Đêm qua, đang lúc ngủ ngon, tôi bỗng giật mình thức giấc. Một vật gì mềm mại chạm vào mặt tôi. Tôi nằm im, trân mình không dám thở. Tôi biết đó là bàn tay và là tay ai. Bàn tay xòe ra di động trên mặt tôi rồi gan bàn tay úp trên mũi tôi. Có lẽ chờ tôi hít. Nhưng tôi quay mình. Chập sau tôi lên miệng hầm.

Lụa dọn cơm ra. Ở đây bao giờ cũng ăn cơm sớm để phòng động. Có chuyện gì thì cũng đã sẵn ba hột trong bụng để có sức mà chạy hoặc chui. Mọi người vừa ngồi lên thì chú Tư Thiên, bí thư xã ủy tới. Nhìn qua mâm cơm tươm tất: sườn ram, tôm kho tàu, cá kho lạt và soong cơm trắng nghi ngút khói, chú hỏi:

– Tụi bây ăn cơm chụp đổ mà như là ăn giỗ.

Lụa nói:

– Còn mấy con chuột để bữa chiều. Chú qua nhâm nhi nghe chú !

Tôi lấy chai rượu còn đầy trên cù lao rót một ly mời:

– Chú làm một chút cho cứng gối.

Chú xua tay:

– Buổi sáng không nên rớ ba cái thứ này, rủi nó càn mình xuống hang khát nước có mà chết.

Là hỏi:

– Chú Tư bữa nay có ra ông Hai Đời không, cho cháu ngoéo đuôi theo với. Cháu với anh Hai ra ngoài chị em con Trong để bàn chuyện lo cái hang cho chú Ba.

Chú Tư ừ một tiếng rồi nói tiếp:

– Chú phải đi gặp đồng bào mình chạy ra xã Trung Lập để lôi họ về, chứ họ đi sạch láng chỉ còn hai chú cháu mình với thằng Năm Đầu Ban thì còn làm nên cơm cháo gì.

Là bảo:

– Chú đi ruồng bắt ông Năm Thuận về đi. Xã đội trưởng gì mà thụt mất tiêu vậy?

– Nó là gà rót rồi, xài không được nữa. Nó đã cho vợ con nó dông qua Thanh An rồi. Sắp tới là phiên nó nhảy.

– Cháu nghe nói ổng đang câu tôm tự túc.

– À, kế hoạch của nó là vậy đó. Lặn dần dần.

Tôi hỏi:

– Vậy văn phòng xã ủy bây giờ chú đặt ở đâu?

Chú Tư vỗ ngực, vỗ bụng rồi vỗ đùi và cười khặc khặc:

-Đặt ở đây nè, ở đây, ở đây nữa? Hì! Có còn ai đâu mà văn phòng văn phiếc?

Là trừng mắt nhìn tôi:

– Hôm qua em đã dẫn anh đi ngang qua xóm Bò Cạp và xóm Hố Bò cũ, anh thấy có còn cái nhà nào không? Anh muốn tìm văn phòng xã ủy hả..? Ra ngoài các ấp chiến lược Cây Bài, Trung Hòa, Cầu Ván mới gặp. Nếu không thì ra chợ Bắc Hà trước cửa Đồng Dù thì chắc ăn hơn.

Chú Tư tiếp:

– Văn phòng xã ủy cháu hỏi đó là hồi hai năm trước, trước cả cháu về đây lần đầu kìa. Hồi đó con Rớt còn đi học, con Là đêm đêm cầm tờ giấy đọc tin ở phòng thông tin ở xóm Hố Bò, trên đường 15 dập dìu tài tử giai nhân lên xuống Bến Dược, Bến Súc, còn dưới sông thì đò máy chạy xìn xịt tối ngày. Tưởng đã giải phóng đến nơi rồi. Ai dè nó đá ngoéo lại cú này ác quá. Cháu về công tác ở đây rồi sẽ thấy. Nó chơi bom pháo xe tăng gì chú cũng ít ngán, còn cái mửng nó xúc dân, ép dân ra ấp chiến lược bỏ đất trống thiệt là ác. Mình như con cua gãy càng. Bộ đội muốn tìm dân để nhờ lá rau hột muối đều không có . Toàn ở ngoài rừng ngoài vườn hoang. Còn đảng bộ thì Bí thư, thư ký, liên lạc gì cũng chỉ một mình thằng này thôi. Một năm nay chú đâu có bận được cái quần dài nào đâu. Quần cụt cho nó gọn, chạy không vướng chân mà có ướt cũng mau khô.

Nghe chú Tư tố khổ tôi rầu thúi ruột, muốn đi quách về Bộ Tư Lịnh để nhận công tác cho xong, nhưng giao liên chưa đến, sẵn dịp Là chạy lo hầm cho chú Ba (Tôi biết ngay là ông Ba Định tức là Ba Xu Tư lệnh Quân khu mới xuống thay hai ông Huỳnh Tấn Phát và Trần Bạch Đằng). Tôi cũng nhân cơ hội này, trong lúc chờ đợi giao liên đến, đi rảo vài nơi với cô nàng để biết thêm chút ít địa hình địa vật hầu nay mai điều động bộ binh cho khỏi bỡ ngỡ.

Cơm nước xong, chú Tư đi về còn Là sửa soạn dẫn tôi đi xuống Phú Hòa. Chú vừa ra khỏi sân thì thụt lùi trở lại. Chú trỏ qua phía bên kia sông Sài gòn:

– Nó lại đánh bên Thanh An ! – rồi bước lại rỉ tai tôi – Chắc nó biết mấy ông mình dời sang bên đó nên nó đeo dính. Ngày nào nó cũng đánh dọc đường 14. Thằng Năm Thuận cho vợ con về bên đó chưa chắc đã yên thân đâu.

Tôi nhìn về hướng bên kia sông. Khu trục bay liệng hai ba chòm. Khói lên đen kịt. Tôi nghĩ: ông Ba Xu từ bên này vọt về bên đó, hay từ bên đó dông qua bên này? Không biết ông ta ở đâu bây giờ. Bé Rớt chạy ra nắm tay tôi:

– Cậu đi chiều về nghe.

– Ừ, chiều cậu về.

– Máy bay nó bỏ bom bên chỗ ngoại đi đó cậu.

Tôi vuốt đầu bé:

– Con ở nhà má dạy học thuộc bài rồi con viết từ số 1 đến số 100 cậu về xem chấm điểm.

Tôi nói rất tự nhiên như cha dặn con, người lạ nghe ắt nghĩ tôi là ba của con Rớt. Nếu trời đất có phép lạ gì biến tôi thành chủ cái gia đình này một cách êm ái, Lụa là vợ tôi thì chắc tôi không có đau khổ gì hết.

Lụa đứng ở cửa bảo:

– Con vô để cho cậu Hai đi, con! (Tôi vụt nghĩ, sao nàng không thể bảo: Con vô cho ba đi! Chỉ khác có một tiếng thôi mà là cuộc đời hoàn toàn thay đổi. Tôi vụt có gia đình và có con. Tôi sẽ gọi con tôi tối ngày, tôi sẽ dạy nó học. Tôi sẽ ở đây. Thuyền tình sẽ đậu mãi mãi ở bến này. )

– Con vô với má đi con!

Là có vẻ không đồng ý với cách nói năng của tôi, nên nạt ngang:

– Người ta đi tới Sa Nhỏ lận, không ai cõng mày theo được đâu mà hòng đòi.

Thấy con bé quyến luyến tôi phải trở lại đủn bé vô nhà và bảo:

– Con muốn ăn gì, cậu ghé quán mua cho.

– Không con không muốn ăn gì hết, con muốn cậu về mau mau.

Tự nhiên nước mắt tôi rơi lã chã. Tôi quay ngang và trở ra giấu đi, không cho Lụa thấy. Tôi không ngờ rằng một tên lỳ lợm trong lửa đạn như tôi lại có thể khóc trong một cuộc chia tay nhỏ nhen như vậy, và trong phút chốc tôi chợt hiểu nguyên do vì sao Năm Thuận và bao nhiêu cán bộ khác nghỉ công tác mà nín ở nhà .

Tôi và Là vừa ra đến đường cái thì chú Tư cũng từ trong nhà chạy băng ra. Chú bảo chú cũng đi cùng đường với chúng tôi để gặp thằng Hai Trâu an ninh xã Trung Lập để liên hệ công tác, rồi gặp thằng Út Chạy ở Sa Nhỏ, biết chừng băng qua Đồng Lớn để gặp thằng Hai Đời bí thơ. Thế là chú đi trước dọn đường. Chú mặc cái áo bà ba mốc rách vai chưa vá, tay cầm cái rựa ngoéo, khom khom bổ tới, cặp chân khẳng khiu đen đúa như hai ống tre cháy nám lòi ra hai ống quần lỡ nhuộm phèn vàng cháy làm tôi xót xa. Không hiểu ông già này hiểu chủ nghĩa Mác bao nhiêu mà làm bí thư đảng ủy? Bên ngoài vạt áo chú nịt ngang lưng một sợi dây da, bảng to bằng bốn ngón tay rất quen thuộc với tôi từ năm ngoái, mỗi bên có một cái túi nhỏ gài nút bóp để đựng giấy quyến và thuốc rê . Đó là thần dược của chú dùng để chống xe tăng và máy bay Mỹ, ngoài ra không có gì khác. .

Phái đoàn cắt ngang qua suối Hố Bò lên đám rừng chồi mà cách đây một năm khi nàng đưa tôi và má Hai ra Bến Dược móc gia đình, đã cho tôi xem cái miệng địa đạo đầu tiên của Củ Chi. Tôi buột miệng hỏi:

– Địa đạo ở đó, em có phát triển thêm ra không?

Nàng đáp.

– Bỏ luôn rồi anh ạ ! Thời buổi này thiên hạ sợ địa đạo hơn sợ cọp.

– Ủa. sao kỳ vậy?

– B52 nó rắc lên đầu ai dám chui?

– Vậy chắc ba cái hầm của tụi anh đào chắc cũng tiêu hết rồi!

– Hầm nào?

– Hầm của anh và Tư Linh chỉ huy tụi con Bảy Mô đào để diễn tả địa đạo chiến cho thằng Bọ Chét.

Là phá lên cười như nắc nẻ một hồi rồi nói:

– Ổng về tới bên Tây rồi hả?

Tôi lặng thinh vì hổ thầm. Một cô nông dân như Là mà cũng biết tỏng cái địa đạo thôn liền thôn, xã liền xã còn cái thằng trí thức quốc tế lại cắm đầu vào cái hang chuột mà cứ tưởng là nó dài tới hai trăm dậm và bao vây cả căn cứ Đồng

Dù. Qua khỏi đám rừng chồi, đến bìa sở cao su Mây Sắc (Beyssac) cũng còn gọi là sở cao su Phú Hòa. Ở đây cao su còn non, cao độ bốn, năm thước, nhưng vì không có người săn sóc, nên nhiều lô bị đốn phá hoặc lấy thân cây hầm than bán. Đi một đổi nữa thì đến đường mòn cặp suối Lộc Thuận. Bên kia bờ suối nhà cửa vách ván, mái ngói bị pháo bắn sập, điêu tàn. Là cho tôi biết hiện giờ chỉ còn một nhóm du kích ở ngoài đầu suối ngang Sa Nhỏ. Hồi 62-63 vùng này vui lắm. Nào các cơ quan khu ủy I-4, nào gánh Hậu Cần của ông đại úy răng vàng Bảy Hốt. Từ ngày Mỹ vô Đồng Dù căng chiếc tăng đầu tiên, vùng này ăn bom pháo hàng ngày. Nó triệt hạ hầu hết cơ sở bên này, bây giờ nó đuổi sang Thanh An. Chúng tôi đang đi bỗng có một chiếc xe đạp bóng nhoáng chạy ngược chiều. Cô gái dừng lại, nhảy xuống chào chú Tư và chị Là . Cô ta thân hình mảnh mai, mặt tròn có nhiều mụn mà cái vành nón hướng đạo bằng nỉ xám không che lấp được. Cổ cô ta lại quàng một cái khăn tím trông rất hợp với cái dáng nhỏ thó của cô làm cho tôi nghĩ đây là một em bé quàng khăn đỏ ở bờ hồ Hà Nội. Là vồn vã nắm tay nàng ta:

– Chị Nhã Nam đi đâu vậy?

– Đi lấy tài liệu về chống càn của mấy ông du kích ở Sa Nhỏ. Bị kẹt đường nên ngủ tạm ở đó đêm qua.

– Bộ có tin gì hay hay hả?

– Ừ, mấy ổng vừa lập một hỏa điểm trong vành đai bao vây Đồng Dù. Nghe tin đó, ông Tám Quang gởi tôi xuống ngay để lấy tài liệu viết bài.

Tôi và chú Tư đứng cách vài bước. Tôi thấy cô liếc sang tôi và hỏi nhỏ nhưng tôi nghe:

– Chị xã đi với ông nào coi găng xi măng vậy?

– Ông nào? Anh Hai tôi ở R mới về đó ?

Nhã Nam bèn rề xe đạp lại gần tôi, cười duyên:

– Anh về thay ông Hai Giả ở H6 phải không?

Tôi giật mình hỏi.

– Sao cô biết?

– Em là nhà báo mà . Xoi mói một cây. Có chuyện gì mà em không biết?

Nhã Nam xưng em ngọt ngào với tôi một cách tự nhiên.

– Tôi mới về nên không biết gì hết.

Nhã Nam cười nhe cái răng duyên bên góc môi trái:

– Giấu hoài anh Hai. Em nhìn cái ống dòm anh đeo trên vai là biết con nhà pháo rồi mà. Hổm rày em nghe đồn ở cơ quan. Nay gặp anh thì em đề quyết.

Thấy nhà báo này có vẻ ranh mãnh, tôi liên tưởng đến tờ báo Nhân Dân, một cây nói láo. Kể từ lội Trường Sơn đến nay, tôi không hề đọc tờ báo láo này nữa, cũng không đọc một tờ báo nào của đảng mà tôi không thấy thiếu chút nào trong đời sống tinh thần của tôi. Thật vậy, tôi đọc báo không phải với sự ham thích mà với thói quen xấu. Nay bỏ nó đi, tôi nghe nhẹ mình.

– Cô ở đâu.

– Em ở Sài gòn (chữ gòn nàng phát âm theo tiếng Bắc).

– Đừng có qua mặt cái ống dòm của tôi chớ. Con gái Sài gòn đâu có nói lai giọng Bắc như thế – Tôi vừa nói vừa bắt nhãn cô gái – Có thể cô sanh ra ở Sài gòn nhưng bố mẹ ở Bắc Giang phải không?

Nhã Nam cười banh cặp môi mỏng và hai gò má đầy mụn hơi ửng lên:

– Anh đoán tài quá !

– Không tài gì đâu! Nhã Nam là quê hương pháo của tôi ở ngoài Bắc. Tôi đã từng diễn tập kéo pháo qua phố Nhã Nam mấy lần mà !

-Thảo nào!

– Ở Nam người ta nói là hèn chi chớ không nói thảo nào !

Nhã Nam làm duyên:

– Em phục anh quá chời. Anh có thể cho em biết quý danh không? Em sẽ viết bút ký.

– Để làm quái gì. Tên tôi xấu lắm, không nên đưa nó vào văn chương.

– Kệ nó, anh cho em biết đi!

– Thiên Lôi !

Nhà báo bịt miệng cười. Chú Tư giục:

– Thôi, đi kẻo trễ !

– Vâng. Anh đi kẻo trễ mất! Gặp lại khi khác. Chào chị xã…ã! Chào chú Tư!

Nhã Nam thót lên xe đạp vun vút.

Tôi ngoảnh mặt lại ngó theo cái bóng hồng hay hay đang bay xa dần. Bỗng nghe đau điếng ở vai:

– Dòm gì mà dòm dữ vậy?

Cô xã đội vừa nhéo tôi vừa nghiến răng ken kéc.

– Anh nhớ cái thị xã Bắc Giang chút mà !

– Ngó ngoái vậy coi chừng trặc cổ đó ông thầy pháo!

– Gì dữ vậy em!

– Con nhỏ đó, anh khỏi cần tìm, tự nó dẫn xác tới thôi.

– Em không nên nói xấu bạn bè.

– Em đâu có bạn bè gì với nó. Nó là dân thành. Nghe đâu sinh viên đại học văn khoa văn khoai gì đó. Nó là nhà báo của Tuyên Huấn khu.

– Người ta vô đây với mình thì tốt chớ sao. Ở trên R cũng rất trọng đãi trí thức mà.

– Trí thức nào em hổng biết, chớ con nhỏ này viết láo dữ lắm. Nó làm mấy bài Chị Năm Cầu Xe em bất ngờ nghe đọc trên đài giải phóng, em muốn độn thổ luôn.

– Sao vậy?

– Nước lã khuấy nên hồ chớ sao. Cho nên bây giờ mấy ông Tiểu đoàn Quyết Thắng chạy mặt nó rồi.

Tôi đỡ cho cô bạn vừa mới quen:

– Không hẳn là cô ta viết láo đâu. Cố nhiên là làm báo phải nói láo không nhiều thì ít chớ không nhà báo nào lại nói y sự thật nhưng trước khi in, cấp trên còn thêm mắm dậm muối.

Tôi biết trong bụng cô xã đội: không phải cô đổ quạu vì nhà báo nói láo mà vì cô ta nó chuyện với tôi thân mật quá. Biết vậy tôi vuốt giận nàng:

– Anh không bao giờ lấy vợ Sàigon.

Quả nhiên là vui vẻ trở lại. Nàng bảo:

– Anh ráng chút nữa em kiếm nước dừa cho uống.

– Dừa ở đây bị hoá học, lẫn B52 và pháo siêu âm! Uống nước dừa dám bịnh lắm! Hèn chi tụi con Nga sợ ăn thịt chuột nổi phong cùi cũng phải.

– Anh chạy đi đâu rồi cũng không không khỏi chui. Anh cứ bỏ một cục vôi ăn trầu hay một trái chanh vào xắc-cốt sẵn đi là vừa.

Chương 35
Lính cò mửa của “Q” Hai Chòi.
Nữ kiện tướng đào đất.

Đến đứng bóng thì đi ngang nhà mủ. Nhà mủ sơn trắng là một toà nhà lớn của sở cao su Phú Hoà, trải qua bao nhiêu trận mưa bom pháo vẫn còn đứng đó trơ trơ. Cái nóc chòi cao trên đó treo cái chuông dùng báo giờ giấc cho phu cao su. Bây giờ rừng cao su hoang tàn, phu phen biến mất nhưng cái chuông vẫn còn. Tuy nó không còn khua ngân như hồi trước nhưng ai đi qua cũng lấy làm ngạc nhiên. Là hỏi tôi tại sao Mỹ bỏ bom dở vậy?

– Hình như hồi năm ngoái em đã hỏi và anh đã trả lời câu hỏi của em rồi mà! Không phải Mỹ ném bom dở đâu. Cầu Hàm Rồng mà còn bị nó đánh hỏng kìa em! Tàu chạy trên sông Bến Thủy nó vẫn ném bòm chìm kìa em! Đánh sập cái nhà mủ này có khó khăn gì. Nhưng nó để đó để làm điểm, hiểu chưa. Nếu san bằng nó rồi thì không có gì để làm điểm tính toán cho vùng lân cận.

Tôi đã từng leo lên đỉnh núi một ngày của con đường Trường Sơn . Từ trên đỉnh núi cao ngó xuống các con đường mòn, các dòng suối lấp lánh ánh nước ngoằn ngoèo giữa muôn trùng rừng xanh trải phía dưới tợ những con rắn bạc, xanh, đỏ, tím, vàng bò trên tấm thảm thiên nhiên xanh rờn. Nơi khúc uốn éo của con rắn bạc, lấp ló những mái nhà, có làn khói mỏng như tơ lơ lửng bay giữa khoảng không xanh biếc. Đó là những bản làng của các sắc dân, quanh năm đàn ông chỉ có cái khố, đàn bà con gái cởi trần hở ngực, con nít trần truồng chạy nhảy như dê trừu.

Với cái nhìn bằng mắt thường từ trên cao ngó xuống mà còn trông rõ mồn một. Tôi mới nghiệm ra rằng với những bức tường trắng và mái ngói đỏ của mấy cái nhà mủ cao su Hố Bò, Phú Hòa này rõ ràng là những vật chuẩn rất tốt của những tên phi công ngồi trên máy bay quan sát chỉ điểm hay bọn khu trục, phản lực ném bom qua những ống kính quang học tinh vi nên nó mới còn hình thù đứng sừng sửng giữa những khu rừng cao su cháy vàng trụi lá với những lỗ đạn trọng liên chi chít như mặt rổ sảo. Nếu cần phá hủy thì nó chỉ cần hai trái hỏa tiễn của đầm già cũng đủ phá tanh banh rồi. Tôi nhìn bốn bức tường loang lỗ đầy dấu vết đạn nổ, cắt nghĩa những điều tôi biết cho cô em xã đội nông dân. Em nhận ra lý lẽ nên đáp nhỏ.

– Ừ he. Vậy mà lâu nay em cứ chê thầm tụi Mỹ bom dở.

Phía sau triền suối cây cối ngã ngổn ngang. Tường ngôi nhà mủ bị mảnh bom đạn xuyên lốm đốm như tàng ong một mảnh tường sập cho thấy chiếc thang gác bên trong còn nguyên. Ba người đi nhanh qua khu nhà mủ, theo triền dốc. Độ nửa tiếng đồng hồ thì đụng một vườn tre trúc bên bờ suối. Là bảo đây là đầu xóm Phú Hòa. Dọc theo bờ thấy có mấy tấm bảng tử địa cắm ở mối đường vào nhà, toàn là những ngôi nhà vô chủ hoặc sụp đổ. Có cái chỉ còn trơ lại cái nền nhà, chứng tỏ gia chủ đã rời nơi đây từ lâu. Vùng này dù không cấm bảng tử địa thì tự nó cũng là khu tử địa rồi.

Đang đi bỗng Là dừng lại trỏ bên lề đường. Tôi ngó theo. Cái vĩ tre che miệng hầm chông bị đất nặng đè sụp phân nửa để lòi những cây chông tua tủa. Là hỏi tôi:

– Anh biết cái gì không?

Tôi giả đò không biết.

– Không!

– Hầm chông diệt Mỹ đó ông thầy pháo.

Chú Tư cũng đừng lại quan sát. Chú than thở:

– Mấy đứa nó bỏ phế như thế này có ngày giết mình.

Là bĩu môi:

– Chuốc cho tốn tre, ngồi mỏi lưng cho được cái gì. Đào đào lấp lấp, đổ bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu năm nay có làm trầy da thằng nào? Có dính mấy ông bộ đội thì có. Ừ, mấy ổng đói, hay sục sạo vô vườn kiếm dừa kiếm chuối để rồi bị lọt cho coi. Ủa, mà bị lọt rồi chớ gì mà sợ.

Chú Tư động lòng trắc ẩn vì câu nói đâm thẳng vào chủ trương làm hầm chông mà chú là người ra lệnh thi hành kinh nghiệm thời kỳ chống Pháp. Chú nói:

– Tao cũng nghĩ là tụi Mỹ cũng như tụi Tây. Giỏi lắm thì Mỹ thả bom nhiều hơn Tây chút đỉnh thôi chớ có khác gì. Hồi chín năm vùng này ăn hút khỏe ru, đông bào có biết trái bom nào, tao có biết mặt thằng Tây mồm ngang miệng dọc ra sao. Chẳng ngờ bây giờ Mỹ có bỏ bom bắn cà nông hàng ngày. Rồi còn xe tăng, chụp dù, nhảy cóc nữa. Bởi vậy hầm chông và lựu đạn gài mất tác dụng.

– Cháu cũng từng làm hầm chông hồi 1950 khi đi công tác ở Phú Hữu tỉnh Cần Thơ. Du kích thời đó làm chông có mũi bằng thiếc gọi là chông đội nón sắt hễ Tây sụp hầm bị chông đâm, rút chông ra thì cái đầu thiếc ở lại trong thịt, nó sẽ bị phong đòn gánh mà chết.

– Rồi có dính thằng nào không?

– Chẳng dính mạng nào cả, rút cuộc ông xã đội đi o mèo đêm khuya lại bị sụp. Từ đó danh từ sụp hầm chông có hai ý nghĩa.

Là xía vô:

– Bây giờ ở đây cũng vậy. Mấy ông cán lang bang bị kỷ luật, người ta không nói bị kỷ luật mà nói sụp hầm chông. Đó là trường hợp lẹo tẹo với con gái. Còn lẹo tẹo với đàn bà có chồng đi công tác xa thì gọi là sụp hầm hom.

Chú Tư trỏ tay phía trước mặt:

– Đây là xóm ngoài của Phú Hòa. Dân còn bám trụ chút ít.

Là đớp ngay:

– Bây giờ không còn ai đâu chú ! Chú Ba Cứng là người gan lỳ nhất, nhưng vừa rồi cũng đã đưa gia đình ra ấp chiến lược Cầu Ván.

– Ủa thằng Ba Cứng xã đội trưởng Phú Hòa đã ra ấp chiến lược rồi à?

– Mới chừng vài ngày đây thôi. Bộ chú không hay thiệt hả?

Chú Tư vỗ đùi kêu:

– Vậy nó gặp tao nó khoe nó sẽ cùng đám du kích bám trụ chơi Mỹ tới gáo!

– Ổng lùa cả trâu ra ngoải rồi. Nghe nói gia đình được phát tôn cất nhà. Chú đi đánh xe mướn trong vùng quốc gia.

– Tụi lính không bắt tội gài lựu đạn làm hầm chông gì của nó à?

– Cháu hổng biết, nhưng nghe mấy bà đi chợ về nói có gặp chú, chú nhắn thăm bà con mạnh giỏi.

Chú Tư Thiên làu bàu:

– Cái thằng ! – Một chập lại nói – Mẹ ! ba cái ấp chiến lược này hại thật. Phải phá cho tan thì mới đánh Mỹ được, nhược bằng cứ để nó phô trương như vậy mình bị nó hút hết dân.

– Ở đó mà dân. Mấy ông cán to cũng chạy ra đó rồi. Có một ông thượng tá mùa thu.

Tôi chột dạ:

-Vậy nữa à?

Là không đáp mà trỏ vào khu rừng chồi ở sau lũy tre, nói nhỏ với tôi:

– Ở đó có một khúc địa đạo chừng ba bốn chục thước . Tụi Phú Mỹ Hưng của em phối hợp với tụi Phú Hòa đào để phục kích tụi Sài gòn, nhưng ở đây đất thấp, không đào sâu được có lẽ bây giờ đã sụp rồi. Anh nhớ nghe. Sau này có thắt ngặt thì vô đó trú đỡ. Để bận về em ghé vào chỉ nắp cho. Nhưng em không bảo đảm có xài được hay không?

– Vậy thì đào làm gì?

Là trợn mắt:

– Em đã bảo với anh rồi. Thời buổi B52 và xe tăng này không ai dám chui xuống địa đạo nữa. Ở dưới xã Trung An ấp Bào Trân bị lấp cả hầm chết mười mấy cán bộ, ở đó đất thấp họ làm gáy hầm cạn xợt. Người ta giấu không nói ra, chỉ phổ biến bằng công văn mật đến cấp ủy thôi. Em không là cấp ủy nên chỉ nghe lóm. Anh muốn chắc hỏi chú Tư kia cà.

Tôi vừa nghe chuyện vừa ngó vào vườn. Ở đây nhà cửa còn nguyên. Nhà ngói nhà lá còn san sát với nhau. Mùi cát khô bốc lên trong nắng gắt. Vài tiếng gà gáy trưa văng vẳng gợi lên cái không khí của thôn xóm ruộng rẫy yên lành thời não thời nao xa lắc xa lơ. Một nỗi buồn man mác dậy lên trong lòng kẻ lữ thứ xa quê quán đã hai mươi năm.

Nhớ cố hương xao xuyến tấc lòng.
Mau dồn chân!

Câu hát từ thời trẻ thơ mà tôi thường nhại đi nhại lại, không biết của ai (giờ thì đã biết) bỗng nhiên làm run run vành môi và xốn xang tấc dạ .

Từ bóng cây ngôi mộ bên đàng
Từ mái tranh bên đình trong làng
Nhìn qua con đường mòn cũ
Quanh co mấy bụi tà dương mới mong chàng.

Là dừng lại ở một mối đường và nói với chú Tư:

– Cháu đến nơi rồi. Chú đi chiều về qua nhà chị cháu ăn cơm với anh Hai nghen chú.

– Ờ nếu tao còn sống thì tao về, chớ có đi đâu mà bây sợ? Tao qua Sa Nhỏ gặp thằng Út Chạy một chút. Nó chạy không có ai tìm nổi. Rồi phải qua Bàu Sỏi gặp con Siêng nếu hổng gặp hai đứa đó thì tao phải tuốt tới Ràng tìm thằng Hai Đời, chiều tối mới về tới.

– Ở Sa Nhỏ pháo thường bắn buổi trưa lắm, chú coi chừng.

– Nó bắn thì nó bắn, mình đi thì mình đi chớ coi chừng gì được mà coi ?

(Bí thơ xã ủy xã Trung Lập đầu tiên năm 60 đến 65 do Hai Đời nhà ở ấp Đồng Lớn phụ trách. Vợ Hai Đời nấu rượu sinh nhai để nuôi bầy con nhỏ. Hai Đời vướng bịnh lao, cà rề đến cuối năm 65 thì mãn phần. Đề cao vai trò phụ nữ để thúc đẩy mặt đấu tranh chánh trị từ ngày Mỹ vô Đồng Dù, phong trào bị xẹp, khu ủy khu IV đã cất nhắc thị Năm Đang bí thư xã ủy xã Phú Hòa Đông lên làm khu ủy viên. Năm Đang được mấy lão sồn sồn tóc bạc của khu ủy vuốt, y thị không bỏ lỡ thời cơ đề cao giới phái đầu tóc của mình, nên đã đề cao một lô phụ nữ tham gia việc lãnh đạo quân xã. Thị đưa Hai Xót công tác phụ nữ xã An Nhơn vào chưn quận ủy viên quận Củ Chi. Đề bạt thị Út Siêng tổ trưởng đảng ấp Đồng Lớn thay Hai Đời làm bí thơ xã Trung Lập. Út Siêng gần bốn mươi, có chồng ở tù chết ngoài Côn Đảo, mà bà bí thơ xã miệng ăn trầu lại chưa diện một cây, mặc dù đã hai lửa, đứa con gái đầu lòng sắp gã được, đứa con trai lại náo nức tham gia bộ đội. Tuổi đời như hủ mắm đầu giàn, nhưng bà bí có tham vọng trèo cao. Bà bí lên mặt hống hách với anh em bộ đội nên đã bị Hai Khởi, Tham mưu trưởng Tiểu đoàn 7 Thép đòi đá đít bà bí thơ trước mặt mấy bà mẹ chiến sĩ. Mặc dù bà bí thơ lúc đó đã quơ được một anh cán cấp đại úy làm Chánh trị viên Tiểu đoàn, người Liên khu nem. Ông già này khai với tổ chức là vợ ông ta đã bị giặc bắn chết ở quê nhà Quảng Nam, Quảng Ngải gì đó ông đã trên 40. Nồi vun úp vừa khít nên được tổ chức Đảng chấp thuận cho hai ông bà xe duyên. Được một năm thì cái trống bà bí thơ bi bể, bà vịn cớ đó thôi việc, trong khi ấp Đồng Lớn bị bom đạn lửa khói ngày đêm. Ông bà dắt tay nhau qua sông về rừng già Bến Cát Dầu Tiếng để úm đứa trẻ sơ sinh và giao cái gánh xã ủy lại cho ông Út Chạy nhà ở ấp Sa Nhỏ, nguyên là tổ trưởng đảng ấp trước đây. Tình hình sau Tết Mậu Thân quá căng thẳng. Quận Củ Chi phải chia đôi thành hai quận Nam Chi và Bắc Chi. Cái xã của ông Út Chạy cũng bị chia đôi thành hai xã Trung Lập Thượng và Trung Lập Hạ, cắt phân bởi tỉnh lộ 7A ngày đêm bị phong tỏa giao liên khó khăn. Nghe tên Chạy là người ta đoán biết đặc tánh của ông bí thơ mới của xã Trung Lập Thượng này rồi. Nhưng đâu ai dám tưởng tượng ông lấy mười giạ lúa để đổi lấy khẩu “colt đui” của một du kích ấp đã hôi được của lính Mỹ đánh rơi tại đồng ruộng Sa Nhỏ trong trận chống quân Mỹ đổ chụp của Tiểu đoàn Quyết Thắng vào giữa năm 1966. Năm 69, cả xóm Sa Nhỏ không còn một bóng người, vợ con của Út Chạy bị gom ra ấp chiến lược Lào Táo. Còn ông bí thư xã, mang colt đai lủng lẳng dông tuốt qua Miên lánh nạn. Đó là sơ lược thành tích lãnh đạo của các nhân vật ở xả Trung Lập mà chú Tư rỉ rả kể lại cho tôi nghe.)

Chú Tư xách cái rựa ngoéo lủi thủi đi trên đường với cái bóng thu gọn di chuyển trên mặt đất. Là dắt tôi vào nhà, đi ngang qua chuồng trâu ngay sát lộ. Mùi phân trâu khô bốc lên nồng nặc trong nắng trưa càng gợi lên trong lòng tôi những cảnh sinh hoạt đồng quê thuở thiếu thời mò cua bắt ốc cỡi trâu nghênh ngang ngoài ruộng. Cái chuồng trâu bây giờ không còn trâu, không còn nghe tiếng trâu thở phì phì, tiếng móng trâu dậm cộp cộp trên mặt đất.

Trong cái chuồng đặt nghẹt những người. Súng ống, thắt lưng, bình toong treo đầy trên những cây ngáng. Chung quanh chuồng trâu võng xanh treo làng khang giữa những cây cau cây mít. Hồi kháng chiến chống Pháp không có cái kiểu đóng quân lạ lùng này. Bộ đội đi đến đâu dân nhường nhà cho ở và ngã bò vật heo ăn uống tiệc tùng. Bây giờ bộ đội nhảy tới đâu dân phóng mất hết, nên bộ đội ở ngoài rừng và gạo mua từng lít. Đến muối tìm cũng khó.

Tôi đang đứng nhìn cây ớt hiểm trái chín đỏ rực cao ngang ngực. Có lẽ nhờ phân trâu mà nó cao lớn như vậy. Bỗng một tiếng gọi to:

– Ê ! Út Là ! Vô đây biểu coi !

Chà, ai mà lớn lịnh dám bảo bà xã kiểu đó. Tôi vừa nghĩ bụng, thì Là bảo tôi:

– Mấy ông ôn địch đại đội 1 của Tiểu đoàn Quyết Thắng đó anh Hai!

Vừa nói Là vừa đi thẳng vô chuồng trâu. Hai ba ông bộ đội đang nằm võng bỗng ngồi bật dậy, đưa tay chào, cười toe toét Là quạt ngay:

– Nè ông Bính, chưa tối mà ông cho treo võng tùm lum như vậy rồi còn đánh tu-lơ-khơ, uống trà vặn đài oang oang, hổng sợ đầm già nó liếc thấy nó kêu pháo Đồng Dù dập nát xóm Phú Hòa này sao?

Một ông cao cao gầy gầy mặc đồ tê-tô-rông màu xám áo bỏ ngoài, gãi gãi đầu:

– Cô em không phải lo, tụi nó đang bận rộn bên Tam Giác Sắt An Thành An Điền, chưa có rảnh qua thăm mình đâu . Em tới thăm tụi anh thật là phước đức.

Là gạt phắt:

– Ai đi thăm mấy ông. Tôi đi tìm hai chị em Năm Biền và Sáu Trọng. Mấy đứa nó có trỏng không?

Ông Bính, người lùn lùn mặc quần tiều lòi bộ giò chân lư, nhảy lên cây ngáng thò đầu ra hỏi nhỏ Là:

– Cô em đi với ông kẹ nào vậy?

– Anh Hai tui ở ngoải mới gia chớ ông kẹ nào?

Ông cao cao diễu cợt:

– Quê rau muống hả chú?

– Không! Nhà Bè, Phú Mỹ.

– Tưởng chú mày đẩy cây thì bị tôi cho lọt mương rồi. Ê ! biết tui là ai không? ‘

Thấy người cao niên hơn mình, tôi đáp:

– Dạ không.

– Tôi làm lơ xe đò cho ông Đực Lớn, em của Hai Qui ở Phú Mỹ hồi trước đây nè.

– Tôi quê… ên rồi.

– Gặp bà con mà hổng nhận ra sao?

– Dạ tôi đi hồi mười ba tuổi, nay đã hai mươi năm rồi làm sao nhớ nổi a… a… chú?

– Tầm bậy, kêu tao bằng dượng mới đúng. Dượng Chín nghe chưa cháu! Chín Nữa là tao đây.

Người tự xưng là Chín Nữa chui ra khỏi chuồng trâu đến sát mặt út Là, nom vào bảo:

– Nè, cô xã đội, cô đừng có nhận diện tầm bậy nghe! Tôi biết rõ ông này là ai mà. Ổng có mấy đứa em, hỏi tui nè. Anh Hai nào của cô mà nhìn lãng dang vậy cô em?- Rồi Chín Nữa nhắc gốc tích một hơi – Bà già của ổng vợ tôi kêu bằng chị. Vậy ổng phải kêu vợ tôi bằng dì lớn có đúng hông con nhỏ. .Vậy ổng phải kêu tôi bằng Dượng là đúng rắc-lơ-măng-te rồi ! Cô có muốn kêu tôi bằng Dượng thì tôi cho kêu chớ anh Hai tui, anh Hai túi gì !

– Anh hai túi ! . . . – Bính Chân Lư chêm vô – Túi sau là túi tương lai. Túi trước là túi anh Hai gởi về há há…há. Vậy cũng đáng kêu là anh Hai… tui chớ.

Chín Nữa gắt:

– Đừng có nói giỡn kiểu đó. Nó là cháu tôi.

Là được trớn xô một phát, Bính Chân Lư suýt té ngửa. Bính gượng đứng lại và vớt vát:

– Ỷ cháu dâu ông nên nó dám đánh bộ đội của ông thấy chưa ông Chín.

Chín Nữa tiếp:

– Tôi thấy là nhận ra ngay, nhưng để coi nó có nhận ra tôi không. Nó giống ông già như cắt mặt để qua. Ảnh chỉ lâu nay bặt tin nó, tưởng nó chết lâu rồi. – Chín Nữa quay sang Là – Cô xã đội có muốn gặp chị em con Biền thì vô ngay trong nhà. Chị em nó mới đi ruộng về. Còn anh Hai của cô thì để ở đây cho tôi nói chuyện một chút.

Tôi bảo Là :

– Em đi giải quyết công tác đi. Để anh ở lại hỏi thăm ba má và bà con.

Là ngúng nguẩy:

– Tôi gởi anh Hai lại đây, chút nữa tôi trở ra rước.

– Ai mà ăn thịt ăn cá gì đâu mà sợ !

Một ông cho miệng vào.

– Rủi sẩy mất, tui thế thân được không?

Là bỏ đi thẳng. Được một quảng, quay lại dặn tôi:

– Đừng có bỏ đi như hồi nẵm vô quán bà Sáu Tiệm nghen !

Bính Chân Lư chống nạnh và hất mặt lên:

– Để đó tui giữ cho, không có cô nào xớt mất đâu!

Chín Nữa dắt tôi ra gốc rơm trải một manh đệm rách. Hai dượng cháu ngồi bên nhau tựa lưng vào gốc rơm tâm tình. Một chập, bảo phông lông:

– Đứa nào ở trỏng chạy ra tiệm mua mấy cái tép mỡ nghe bây.

Vừa nói vừa móc tiền từ sắc-cốt. Một cậu liên lạc chạy ra. Chín Nữa dặn:

– Chạy qua quán Hai Trâu bắt một gói cáp tăng. Một vài xấp bánh tráng.. . à quên. Đứa nào giỏi chân chạy vô xóm ruồng mua vài con gà. Nhậu tép mỡ xong, chiều ăn thịt gà. Bữa nay chắc tụi nó tha Tào, mình cho khói lửa ngập trời tới khuya. Tôi cho ông bạn trẻ của tôi lết một bữa.

Quay lại tôi, Chín Nữa hất hàm:

– Về đây làm gì?

– Dạ nghe nói ở trên bảo về đây phụ với H6. . .

Chín Nữa vỗ đùi:

– Vậy là mày ! Tao tường ai chớ. Hỗm rày nghe đồn trên R cho một sĩ quan trung cấp pháo binh xuống quân khu, phụ trách cái H6 thay cho Hai Giả . Mày hơn tao xa. Tao ham vui bỏ nghề xe đò vô trong này mấy năm chẳng có làm được con mẹ gì hết. Làm trật nghề cái gì cũng trớt da me. Tao mới quyền Trung đội trường hè ! Thằng trung đội trưởng mới vừa bị pháo Trung Hòa chặt đứt hai chân tối hôm kia, tao vừa lên thay. Khiêng nó vô Xóm Chùa cho Tám Lê băng bó, đại đội mới di quân vô trong này tối hôm qua.

Hỏi phăng gốc tích, tôi mới hay vợ Chín Nữa là cô giáo làng có tiệm may ở chợ Phú Xuân, bà con xa xa với má tôi. Tuy vậy gặp nhau trên xứ lạ quê người, hơn nữa, trong khói lửa thì cũng còn hơn ruột thịt. Bính Chân Lư là đại đội phó (mà tôi không biết, cứ tưởng là lính đơ đềm củi bặp) đem ra một bình toong, bảo:

– Bắn sẻ trước đi, chốc nữa tép mỡ về sẽ xung phong.

Chín Nữa rót trà ra đít bình toong, hai dượng cháu uống chung. Chín Nữa hỏi:

– Mày đã có gì chưa ?

– Chưa, dượng ơi! đi hoài làm sao quăng neo được.

– Mày được tiếng cách mạng lâu năm, nhưng coi kỹ lại, thua tụi cùng lứa tuổi với mày xa! Ở nhà bây giờ đứa nào cũng vợ con đùm đề, đứa có năm, sáu xe đò chạy đường Phú Xuân Sài gòn, đứa là chủ nhà máy xay lúa, tệ lắm cũng có tiệm quán tạp hóa. Hừ, thằng em trai mày không mần ăn nhưng cũng là đại úy Thủy Quân lục chiến. Mày hay vụ đó chưa?

– Dạ chưa?

Tôi né ngang. Chín Nữa ngó quanh rồi nghiêng qua rỉ tai :

– Đừng có dại mà khai ra lý lịch nghe ! Người ta biết cái là nguy to. Nhưng tao đây, tao có vợ là cô giáo, mà tao khai là vợ bần cố nông. Khai thiệt là hết có làm quyền Trung đội trưởng này được.

Hớp miếng trà rồi Chín Nữa hỏi gặn:

– Mà mày không có khai, thật không??

– Dạ không có khai đâu, dượng ạ !

– Họ mà biết được là họ sẽ bảo mày móc nối làm một cú như Phùng Văn Mười là mệt cho mày và cả cho em mày lắm đó.

Tôi thấy nao nao trong bụng, đau nhói trong tim. Em đại úy. Anh cũng đại úy. Một xanh, một đỏ chọi nhau về chủ nghĩa về ý thức hệ . Ai thắng ai thua, cha mẹ cũng phải mang sầu. Chín Nữa cứ triết lý miên man:

– Thời buổi này quan cũng như lính cũng chẳng làm gì cả. Một cái cụp là xuôi tay. Thua mấy thằng thương buôn, lơ xe đò, đạp xích lô… Dốt vậy mà khỏe ra, kiếm ngày nào ăn ngày nấy không sợ làn tên mũi đạn rủi may. Hồi nhỏ mày học giỏi nhất làng Phú Mỹ . Vậy mà hổng chịu học luôn. Bây giờ cũng là người này người nọ với người ta. Chịp! Chịp… Mấy ông nội đại úy thiếu tá của mình về đây cũng nhờ vào cái túi áo khỉ của vợ ở Sài gòn đem đút lót chớ tài ba gì. Tao sợ ở ngoài đó bị bắt lính hổng dè vô đây cũng bị lính bắt nhưng ở ngoải đi lính có xe cộ, có lương mỗi tháng, vô đây toàn xài lô-ca-chưn còn lương thì trớt he. Tháng nào cũng phải thông cảm với ở trên. Đã vậy còn cái nạn tử vô địa táng nữa chớ. Tụi Đồng Dù dữ dằn gấp trăm thằng Sài gòn. Bắn nó một phát chim sẻ, nó trả hỏa một ngàn cà-nông, bắn nó rơi một con cá rô nó rắc tám đợt B52. Hồi 62 tao ăn dầm nằm dề ở Xóm Dược Xóm Thuốc Hố Bò.

– Dạ mấy chỗ đó cháu có biết hồi năm ngoái.

– Năm ngoái là hết vui rồi. Tao có nghe mấy thằng nhà báo vô quay phim. Còn cái gì mà quay. Chắc là ở trên cho nó quay ba đứa con gái dũng sĩ chớ gì.

Tôi hơi nhột trong bụng nên làm thinh. Lòng ủ ê chán chường không phấn khởi nôn nao như hồi còn lội Trường Sơn.

Chín Nữa bảo:

– Mày nên móc gia đình sớm sớm đi! Không nên chần chờ một ngày nào. Nhớ… – Chín Nữa lại ngó quanh rồi nói – Nhớ đừng có cho ai biết em mày làm đại úy nghe chưa?

– Dạ!

– Con nhỏ này thì cũng được, chỉ hơi dốt chút thôi! Ối mà mày cũng đừng nên bắt chước lấy vợ hay chữ như tao. Về nhà nó biểu gì cũng phải nghe.

– Dạ, cháu đâu có định gì. Chân ướt chân ráo mới xuống đây được má Hai nhận làm con nuôi để lấp khoảng trống đứa con bị tử trận hồi 46 khi đánh đồn Bến Súc.

– Xí! Mấy thằng cha Tô Ký Hai Bứa ngông cuồng đào hầm không tới đâu lại đánh làm chết lính.

– Tôi nhớ bà ngoại với cậu Tám tôi quá trời.

– Bà ngoại và cậu Tám đều qua đời hết rồi! Chết nhiều lắm! Tao không muốn kể ra. Rồi cũng chẳng làm gì. Tới phiên mình. Sợ không toàn thây, không mồ mã, không cả hương khói.

Chín Nữa nói phăng phăng như nước chảy, lúc nghiêm trang, lúc cà rởn, nhưng xuyên qua câu chuyện tôi nhận thấy một sự chua chát, tiếc rẻ.

– Bây giờ mày về được gặp lại má mày thì chẳng khác nào bà ngoại mày vậy. Bả giống y bà ngoại chẳng khác một nét nào.

Các cậu đi quán lo đồ nhậu tới. Ông Bính đã cho trải đệm và lá chuối thành một mâm dài ở giữa chuồng trâu. Tất cả mồi và rượu dọn ra. Một chú bé vô nhà mượn mấy cái ly cối.

Chín Nữa ra góc chuồng trâu hái một vốc ớt hiểm đem vô vừa ngồi vừa nói:

– Mời hết nam phụ lão ấu xáp vô . Nó chơi phản lực mình cũng phải nhậu phản lực. Lơ mơ không kịp đó: Đứa nào giỏi giò chạy vô kêu con xã đội với hai đứa kiện tướng ra đây nhậu luôn. Tụi con gái này coi bộ mạnh dạn hơn lính của tao.

Ba cô con gái kéo ra. Ông Bính bảo:

– Ưng đứa nào thì ngồi gần đứa nấy!

– Tui chẳng ưng ai hết.

– Ừ hổng ưng thì ở vậy, chết không biết mùi đời.

– Hổng ưng mơi mốt kiếm không ra con trai phải quơ đàn ông ba bốn lửa cho coi.

– Đại đội đông như vầy, có ba đứa sao đủ?

– Đứa nào chịu thì cho tuyên bố trước.

– Lấy cái chuồng trâu này bao ni-lông động phòng luôn.

Vừa ăn vừa nói vừa uống. Mạnh ai nấy nói nấy ăn nấy uống. Không mời ai, không ai nhường ai và không ai nghe ai. Có thể một trái 175 ly rơi giữa mâm là quân dân bay như bụi. Chuyện đó đã xảy ra ở Củ Chi này rồi.

– Sao gọi là kiện tướng mà không gọi là dũng sĩ.

Bính Chân Lư buột miệng hỏi.

– Dũng sĩ là khi nào bắn chết năm thằng lính Mỹ. Còn kiện tướng thì chỉ đào đất giỏi thôi.

-Vậy chị em bây có đứa nào được đeo huy chương kiện tướng chưa?

Năm Biền đáp.

– Được rồi! Cả hai chị em tôi.

– Kiện tướng thiệt hay giả ? Đừng có làm kiện tướng kiểu con Chín Nhan ở bên Lộc Thuận xứ Trảng Bàng nghe.

Sáu Trong trỏ tay qua phía bên kia bờ suối:

– Nhà nó ở bên đó. Cái nhà ngói ló nóc trong lùm tre. Hổng biết kiện tướng đó ra ấp chiến lược Cầu Ván lập quán chưa?

Bính Chân Lư nói:

– Con nhỏ đó xúc được mấy ki đất mà lên chức kiện tướng? Đào hầm, móc địa đạo chớ có phải làm kẹo đậu phộng hay tráng bánh tráng đâu mà lên kiện tướng mau vậy?

Năm Biền nép vào vai cô xã đội cười sục sục:

– Vậy mà có người mê mới lạ chớ. Hồi trước tôi thấy chiều nào người ta cũng lội suối qua đó, xách nước tưới rau tưới cải dùm để có dịp nói chuyện với cô kiện tướng coi bộ mết lắm.

Chín Nữa cười:

– Người ta mê mết cái chỗ khác chớ phải mê cái kiện tướng hay sao.

Bính Chân Lư bị móc trúng hang cua nên ra miệng:

– Đó là công tác dân vận thôi mà. Hề hề… chớ tôi đâu có ý gì!

Sáu Trong cắt ngang:

– Tại sao dân lại giận bỏ ra tuốt ngoài ấp chiến lược Cầu Ván vậy?

– Tại sao ai biết tại sao, muốn biết thì phải hỏi cô xã đội kìa.

– Nếu tôi là người ta thì bây giờ chiều chiều tôi cũng lội qua suối chổng khu mà hú ra ấp chiến lược để cho cô ta động lòng mà quay về .

– Hồi nẵm thì tôi còn dám chớ bây giờ qua đó lớ huớ là bị cá nhái xúc về Đồng Dù ngay.

Năm Biền vẫn chưa buông tha:

– Anh Bính có nhắc gì chị Bính, ủa chị Chín, tôi chịu khó đi ra Cầu Ván nói dùm cho chớ để bây giờ tôi thấy anh cứ đứng bên bụi ớt ngó qua bên kia suối hoài hà ! Tôi sợ cây ớt giống của tôi rụng hết trái!

– Không có rụng đâu! Ớt đó sẽ trở nên ngọt ngay như đường phèn vậy. Phải không ông Bí… inh?

Bị Chín Nữa bao vây, Bính bèn phá vòng vây bằng cách xoay lại chị em Năm Biền:

– Mất mục tiêu xa, tôi quay họng súng tấn công mục tiêu gần đó.

Mọi người cười ngã nghiêng, chị em Năm Biền bị pháo bất ngờ, lúng túng. Bính tiếp:

– Tôi oánh luôn cả hai đồn một lúc cho mà coi.

Cả mâm rượu la ầm lên khoái chí, vì thủ trưởng của mình chuyển từ thế thủ sang thế tấn công. Bỗng cô xã đội kêu lên:

– Cái gì đen thui trong tép mỡ vầy nè?

– Đâu, cái gì đen thui?

Là giơ miếng tép mỡ lên. Chín Nữa không nhìn nhưng vẫn nói:

– Đó là ba cái lông heo chớ gì. Cứ việc nuốt càn đi. Miểng bom trong cơm tao ăn còn không mắc cổ, sá gì ba cái thứ lông đó.

Tôi quay sang hỏi Chín Nữa:

– Năm ngoái tôi về Củ Chi lần đầu, tôi cũng có nghe đồn cô kiện tướng Chín Nhan. Cô ta là ai vậy dượng?

Chín Nữa đang nhai tép mỡ bèn trỏ tay sang Là. Là háy tôi rồi nói:

– Anh muốn biết sao không hỏi bà Nhã Nam hồi nãy? Em kể tiểu sử vắn tắt của cổ cho anh nghe. Ngồi cho vững để khỏi té ngửa. Cô ta bán quán. Lúc đó trường tân binh của ông Hai Chòi và ông ba Râu đóng gần quán của cổ.

Chín Nữa xen vào:

– Cũng dân mùa thu của mày.

– Cô Nhan đi mua đồ ngoài thị trấn về bán. Nhờ đám tân binh mà bà má của cổ làm giàu nhấp nháy. Bả có ý định bắt rể một trong hai ông mùa thu quá lửa này. .

Bính thêm:

– Phải nói thế này mới đúng dư luận. Trường Tân Binh đó là nơi chiêu tập thanh thiếu niên từ 15-16 đến 19-20. Lớp 19-20 thì R bắt hết để bổ sung cho hai công trường 5 và 9 của ông Sáu Khâm và ông Năm Truyện. Còn lớp 15-16 thì bỏ lại cho khu mình dùng. Con nít mới lớn lên không vác nổi thùng đạn đại liên, ra trận thì không dám ngóc đầu lên, còn đi tải gạo, ba chục lít đã thở hò he. Do đó tụi tôi gọi là lính cò mửa và cho về nhà hết rồi.

Chín Nữa cười:

– Ông nói sự lích tại sao người ta nói Q Hai Chòi kìa.

Tôi nghĩ thầm: lại cũng chữ “Q” của ông Bảy Rừng Sát nữa rồi. Bính tiếp:

– Đó là bí hiệu kiểu H5, H6, nên trường của Hai Chòi mang tên Q1, trường ông Ba Râu mang tên Q2 và do sự muốn bắt rể của má cô Nhan mà bà con chế diễu rằng má cô Nhan muốn bắt Ql lẫn Q2. – Bính gật gù thích thú – Hai chàng Sơn Tinh lẫn Thủy Tinh đua nhau thi tài nhưng rốt cuộc nàng Công Chúa lại dông ra ấp chiến lược theo lính Quốc Gia.

– Tại sao vậy? – Tôi hỏi.

– Tại vì lúc đó ông Hai Tốt Trưởng ban Tài chánh của khu ẵm cả chục triệu nhảy ra Sài gòn. Ở trong này lính đói. Lính đói thì hà hà, Q3, Q4, QIO cũng teo nữa là Ql, Q2. Bà quán thấy không nên để cho cô con gái kiện tướng mình phí sức rót trà châm rượu cho Sơn Tinh Thủy Tinh nữa nên bay ra thành tìm Sơn Tinh Thủy Tinh Quốc Gia. Bởi vậy nên bây giờ Hai Chòi thì dẹp Chòi còn Ba Râu thì rụng râu.

-Ông kể chắc còn thiếu ! – Là đâm hơi – Phải chi ông nghe bài báo của nhà báo trứ danh Nhã Nam phát thanh trên đài Giải Phóng kìa mới đã đời. Bài đó tên là Kiện tướng Áo Hồng nghe mà rùng mình rỡn ốc. Tiểu đoàn 14 Tây Ninh bảo là Kiện tướng thổi phồng. Chuyện Q hai Chòi và Q Ba Râu dài lắm. Nhưng tôi chỉ nhắc thêm một điểm nữa thôi. Đó là thanh niên thanh nữ vô trường, học thì ít mà bắt cặp nhau giỡn hớt thì nhiều. Cho nên dân không để ở trong nhà. Họ phải kéo ra đóng trại ngoài rừng Lộc Thuận. Họ khuyến khích bà con ở vùng Cỏ Ống và Rừng Tre đào địa đạo theo kiểu kiện tướng Chín Nhan. Tức là đào cạn xều. Chỉ một trận mưa là sụp tiêu hết.

– Hầm gì dễ sụp vậy? – Tôi gặn hỏi.

– Hồi nãy em đã nói rồi. Cái gáy hầm phải dầy ít nhất là chín tấc hoặc một thước. Nhưng tụi lính cò mửa chỉ đào 6-7 tấc là trổ ngang. Chỉ mưa một trận lớn, nước ngấm là sụp tuốt không cần gì phải xe tăng càn.

Thấy mặt trời đã xế qua, Là giục:

– Thôi đi về, anh Hai! Mình về còn phải ghé qua thằng Tư Ếch bàn chuyện hầm hố. Mấy đứa này trốn công tác, chui kỹ như ếch, phải moi dữ mới ra. Do đó em phải tìm lâu lắm mới được. Anh coi, một cái hầm quan trọng như vậy một mình em đào sao thấu.

Năm Biền nói:

– Hồi trước chỉ là kiện tướng đứng miệng thí, kéo hai trăm ki . (ki chứ không phải kí, mỗi ki nặng chừng ba chục kí). Bây giờ chỉ bị cụp xương sống nên không đứng nổi mà cũng không đào nổi nữa.

—->Chương 36-37-38-39-40-41

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: