2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QII – (36-41)

2000ngaydem_bia2Đây CỦ CHI! Đất Sét Sắp Thành Bùn

Chương 36
Trên miệng hầm ông Ba Xu

Thấy nắng rọi nghiêng tôi giục Là về trong lúc tiệc còn đang vui. Chúng tôi đi trên con đường mòn. Đi được một quãng, Là quay lại nhìn tôi và hất hàm:

– Có đi cày nổi không?

– Nổi chớ. Hồi ở nhà anh vẫn theo trâu cày ruộng nhà, bắt cá lóc trong lúc cày khoái lắm.

– Ở đây cày gặp miểng cà-nông chớ không có cá đâu.

– Nhưng sao em hỏi anh chuyện đó?

Là quay lưng đi không nói. Một chập mới lằm bằm:

– Nhìn gì dữ vậy?

– Nhìn gì đâu?

– Hai chị em ruột giống nhau như đúc, coi chừng lầm đó.

– Gì mà phải lầm.

Là cười sặc sặc và nói:

– Cô em có cái bớt trên cổ, nhớ nghe thầy Hai!

À ra thế, cô nàng lại lên cơn. Biết thế, tôi móc túi ra đưa cho nàng một gói giấy nhỏ:

– Cái gì đây? Của cô em kỷ niệm hả?

– Mở ra coi!

Là mở ra và kêu lên:

– Ớt! ớt ở đâu vậy?

– Bên góc chuồng trâu. Anh hái hồi lúc em vô nhà.

– Ớt này là ớt hiểm cay hơn ớt sừng trâu.

– Ớt nào mà lại chẳng ca… ay !

– Anh nói móc em há ? Được rồi !

Tôi cười dã lã. Nàng nghiêng mặt sát tôi:

– Anh là anh… của em không ai có quyền…

Tôi ngắt ngang.

– Quyền gì?

– Không ai có quyền động tới.

– Ai động tới anh đâu nào.

– Xí mới con nhỏ Nhã Nam Bắc kỳ lai, lại đến hai bà kiện tướng.

– Anh làm gì mà em la.

– Tụi nó nhìn anh chớ làm gì.

– Nhìn mà cũng cấm nữa à ?

– Tại sao anh nhìn lại?

– Có mắt để làm gì?

Là bí lối đành quay đi với vẻ giận dỗi. Đi được một khúc, Là trỏ tay vào một lùm tre:

– Dượng Chín mua rượu trong quán này ! (Là gọi Chín Nữa bằng dượng cũng như tôi). Quán thằng cha Hai Trâu.

– Tên gì kỳ vậy?

– Thằng chả đánh xe trâu mà ăn tiền mắc hơn các chủ khác nên người ta đặt tên vậy đó. Em ghét thằng chả lắm.

– Anh thấy ai em cũng ghét cả.

– Ừ em chỉ thương có một người thôi. Ai làm gì em nào?

– Em thương người nào chắc người đó phải sợ mất vía.

Là bật cười rồi nói:

– Thằng chả chỉ là cán bộ an ninh xã . Ở Sa Nhỏ này có bốn, năm cái quán, nhưng ổng cứ hạch sách làm khó làm dễ hoài. Ổng bảo chủ quán có liên hệ với lính bót Trung Hòa. Ai ổng cũng nghi ngờ. Vì vậy ổng không cho buôn bán. Để một mình ổng thôi. Vợ ổng ra vô chợ thì không sao cả! Trời bất dung gian đảng, có ngày vợ ổng bị lính bắt vô đồn cho coi. Vậy cho hết nghi ngờ người khác.

Đi với cô xã đội tôi hiểu thêm dân tình và địa vật. (Về sau khi chỉ huy Tiểu đoàn Quyết Thắng tôi rất rành đường quanh nẻo tắt của các thôn ấp.) Tôi hỏi:

– Bà con ở đây làm nghề gì em?

– Cũng ruộng rẩy thôi. Nhiều nhà làm nghề đươn đát, một số khác thì đánh xe trâu. Xe trâu thì cũng như xe bò. Nhưng trâu kéo được xe trong lúc trời mưa, còn bò hễ gặp mưa là phải nằm nhà mất công mất việc.

– Sao bò lại không chịu mưa được?

– Vậy anh không biết là bò sợ mưa à? Vậy mà lúc nào cũng quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng.

Là chỉ tay ra giữa cánh đồng bên phải có mấy cây sộp đứng lơ thơ cô độc, bảo:

– Anh nhớ nhé ! Suối Lộc Thuận ăn ra tới đó. Phía bên kia là Cỏ Ống thuộc xã Lộc Hưng quân Trảng Bàng. Tây Ninh, xứ của bà kiện tướng áo hồng và của bà Bảy Bề cũng kiện tướng áo hồng. Bà này cũng chuyên môn đi thành mua thuốc Tây cho mấy ông Tám Lê, Tư Chuyền, tụi thằng Quỷnh. Chà chà, anh mà gặp bà này thì anh nháy lia thôi.

– Cũng vậy nữa!

(Tuy Là nói chận vậy mà đúng thật. Sau này tôi gặp nàng Bề, một người đẹp.)

Tôi hỏi tiếp:

– Má không quen ai ở ngoài này à?

– Không, Bà con bên ngoại bên nội đều ở bên Bến Cát bên kia sông Sài gòn.

– Rồi sao sang bên này?

– Em không hiểu. Hỗm rày má đi về thăm bà con bên đó. Má đang ở nhà dì Ba… hí hí…

Đang nói bỗng Là bụm miệng cười.

– Cười gì anh vậy?

– Không, em cười ông Ba Xu.

– Ổng làm gì mà em cười.

– Em cười Dì Ba khi không mà được làm bà Tư lệnh Quân khu.

– Sao vậy?

– Thì ông Ba Xu mết dỉ chớ sao!

– Nói bậy đi. Đồn tầm bậy rồi có dư luận, ổng bị kỷ luật không làm việc được. Nghe ai nói, em phải cúp ngay.

Là vẫn lặng thinh, đi nhanh. Hai đứa vừa đi vừa nói chuyện. Ai không biết, tưởng là vợ chồng. Vùng này vườn tược còn xanh. Mít, ổi, vú sữa sai oằn. Chỉ vài dấu đạn rãi rác trên thân cây cau cây dừa. Bên đường, một ngôi nhà lá xập xệ trong đó có bàn ghế. Là bảo tôi vào nghỉ chân. Đây là trường học. Nền đất đã mọc rong và mặt bàn đã lên meo. Xung quanh khu rừng chồi phía sau có một đoạn giao thông hào sâu tới bụng. Có nơi đất sụp lấp lại gần đầy trên mặt.

Là bảo với giọng bất mãn:

– Ông thầy giáo vô ấp chiến lược rồi. Hở là họ chạy ra đó. Mà nếu ở đây cũng chẳng có học trò đâu mà dạy. Ba bốn cái trường nữa cũng y như vậy. Anh thấy con Rớt đó không? Mới bây lớn mà cho đi học rủi có đổ chụp, bố ráp thì thầy giáo làm sao mà cõng cho hết.

– Anh nghe nói Bàn Sõi, vậy nó đâu?

– Kia kìa. Cũng là địa hạt Đồng Lớn đó thôi, nhưng ở rìa Đồng Lớn về phía xóm Tầm Lanh có một cái bàn và ven bàn có nhiều đá sõi nên gọi là Bàn Sõi. Vùng này còn xanh tươi hơn miệt Hố Bò mình. Nhưng em đoán là chỉ nay mai thôi, nó cũng sẽ như Hố Bò. Ở đây chỉ cách bót Trung Hòa đường chim bay bốn cây số thôi, nếu không có vườn cây che khuất thì mình sẽ nhìn thấy cái chuồng cu của nó.

– Còn Đồng Dù?

– Đồng Dù ở phía dưới này, cách nhà mình chừng sáu cây số là cùng. Anh thấy chỗ trực thăng lên xuống là Đồng Dù đó. Cối cũng dư sức bắn tới đây mà. Cần gì đến pháo.

Tôi đứng trên vùng đất này nhìn bốn phía thấy đất khô dễ dàng di chuyển pháo. Có thể dùng xe trâu xe bò, không khổ sở như ở Trường Sơn. Bắn thì dễ rồi, nhưng bắn xong chôn giấu pháo ở đâu cho kịp? Chúng nó phản pháo chỉ trong vòng nửa phút. Và phản công bằng bộ binh trực thăng vận thì mười phút là cùng. Vườn ở đây mỏng và sạch sẽ. Chúng nó chỉ cần chấm tọa độ rồi đổ quân lục soát là tìm ra vũ khí của mình ngay. Tôi ngồi hút thuốc mà suy nghĩ miên man.

– Anh mơ cô nào vậy?

– Cô Hòa. Nhưng anh chán cô Hòa rồi.

– Nữ… a! Hòa nào?

– Anh mơ cô Đồng Dù !

Là cười khoe hai hàm răng trắng đều. Là cũng có duyên. Chỉ phải cái tánh bộp chộp và xốc nỗi như trẻ con. Là đến ngồi gần tôi:

– Anh làm sao oánh cho tiêu cái Đồng Dù thì mình mới sống được.

– Ừ để coi.

– Nếu không thì anh cũng phải quét thằng Trung Hòa. Để nó cứ đâm hông mình hoài khó làm ăn quá !

Nàng hỏi nhỏ.

– Anh cho ông ầm xuống đây em giấu cho.

– Ừ để xem đã !

Tội nghiệp cô bé mộc mạc ngây thơ này và các nường dũng sĩ. Các cô tưởng pháo bắn dễ lắm. Học sói đầu chưa biết có hiểu nỗi cái binh chủng pháo này chưa. Các cô mới đánh dăm trận làm rụng vài cái lông chân thằng Mỹ thì đã tưởng diệt được nó dễ dàng. Bởi thế bọn Hà Nội mới lợi dụng sự ngây ngô này mà đốt đít các cô các chú thừa thắng xông lên, chết bi nhiêu bi, miễn sao mấy thằng Trung ương cơm gà cá gỏi đều đều, Volga chạy tét mắt, vợ bé tì tì, miễn sao con cháu của họ đứa đi Đông Đức đứa đi Tiệp Khắc thì được rồi. Chồng cô Lụa, cô Tư Mai, và bao nhiêu thanh niên khác bỏ vợ con, ra đi biền biệt Phước Long, Bình Long không thấy về bởi họ tin rằng Trung ương yêu mến họ lắm lắm.

Tôi sắp châm điếu Capstan khác thì Là giục đi. Đi mút xóm Sa Nhỏ thì đụng một ngôi nhà đứng giữa vườn cau tơ. Đó là quán của Chín Khuân, con gái của Dì Hai tổ trưởng xe bò Sa Nhỏ chuyên môn tải gạo cho Hậu Cần R. (Tụi này hễ đi tới đâu là tổ chức người tới đó để nắm cổ họng không cho nhúc nhích) . Tuổi độ ngoài bốn mươi, Dì Hai người cao lớn tốt tướng quân sự hơn bà Ba Định nhưng chỉ làm chỉ huy trưởng mấy chiếc xe bò, Chín Khuân chừng mười sáu tuổi nhưng cao lớn như gái hai mươi. Đêm đêm tổ vận tải của dì hoạt động không nghỉ. Xe của dì đi đầu kế đó là một đoàn năm, sáu chiếc nối theo. Hai bên vài anh giải phóng vác súng đi theo hộ tống. Chúng sợ ăn cướp hay sợ máy bay? Chính chúng là một lũ ăn cướp còn sợ ăn cướp nào nữa. Còn nếu máy bay đến thì ba cây súng này bảo vệ được đoàn xe, hay chờ cho bò bị đạn rồi nhào tới xẻ ? Ghé vào quán Dì Hai, tôi mua đủ thứ. Như để trả thù những ngày mua phiếu ở ngoài Bắc. Cái quán cóc bị đe dọa hằng ngày mà mua gì có nấy. Chỉ thiếu máy bay tàu lặn là không có thôi.

Chín Khuân thấy Là cầm không hết bèn tìm cho một chiếc giỏ xách để đựng. Thoạt nghe radio nói oang oang, tôi lắng tai nghe. Thì ra đài giải phóng. Là cũng lắng tai một chút rồi nhăn mặt:

– Cũng ba cái US gô hôm nữa. Phát lúc này ai rảnh mà nghe. .

– Mấy ông bà trong Sài gòn đang uống cà phê buổi trưa nghe chớ !

– Uống cà phê thì phải nghe cải lương Minh Vương Lệ Thủy chớ nghe cái đó, uống mắc cổ chết.

Chín Khuân khịa vào hỏi Là. .

– Bộ miểng cà nông sao mắc cổ. Ông này ở đâu mới tới, coi bộ lạ hả chị Là ?

– Anh Hai tôi đó.

Tôi mua hai chai nước cam uống nước cho mát bụng, hút hết một điếu thuốc mới rời quán.

Ra đến đường, Là hất hàm:

– Coi được không?

– Cái gì được không?

– Con nhỏ mới lớn, anh kêu dì Hai bằng má không xứng đâu.

– Lúc nào em cũng coi anh là hạm đội cả.

Là cười hả hả .

– Anh vô nhà này vừa bán quán vừa đánh xe bò làm nhân viên của ông Bảy Hốt ở Xóm Dược được đó

– Ổng còn ở đó không?

– Đặng anh đến mua bình toong của bà Sáu Tiệm hả? Ổng nhảy qua Thanh An rồi. Bỏ bà Sáu lại đó còn trống chân, ủa, mà không phải, có một ông mùa thu khác trám vô rồi.

Đi hết xóm Sa Nhỏ chúng tôi đi vòng sang phía sở cao su Sinna, một hồi thì đụng con lộ đá ong đỏ chạch. Mỗi cơn gió qua làm dấy lên một ít bụi hồng. Đứng xa nhìn màu hồng đẹp mà xông đó thì hôi hám dơ dáy quá chừng. Mặt mũi quần áo đều đẫm bụi. Là kéo tay tôi đứng nép vào một gốc me, trỏ tay về phía bót Trung Hòa:

– Anh nhìn kỹ thì thấy lính ngồi trên chòi gác.

Tôi núp vào bụi lấy ống dòm ra nhìn thì độ chừng khoảng cách là bốn cây số.

– Gì mà sợ vậy anh ! Tụi em cứ đi nhan nhản như thường.

Tôi bảo:

– Mình thấy nó là nó thấy mình. Cũng có thể nó thấy mình rõ hơn mình thấy nó .

– Sao vậy?

– Vì nó có ống dòm, còn em không có .

– Pháo 105 của Trung Hòa bắn tới Bùng Binh, nhưng chỉ khi nào có trực thăng đổ chụp, pháo mới bắn dọn bãi. Còn súng cối nó chỉ thụt tới Ba Sòng, Gò Nổi, Tầm Lang, Bàu Sỏi hay Ràng, Trung Hưng.

Là vừa nói vừa chỉ tay các xóm trước mặt.

Nhìn thấy những người lom khom dưới ruộng thấp, kẻ cuốc người cày. Tôi hỏi:

– Đó là dân trong xóm này hả em?

– Họ gốc ở trong này, nhưng gần đây chạy ra ấp chiến lược Trung Hòa, Lào Táo, ban ngày về làm ruộng, ban đêm ngủ ở ngoải.

– Dân mình khổ quá. Ở ngoài kia thì bị cải cách ruộng đất ở trong này thì bị chiến tranh.

– Anh đem ông ầm, ký ở đây nã vào bót đó được không?

– Được chớ.

– Đó là bót lớn nhất ở vùng này. Nó có nhà việc cho hội tề các xã làm việc. Dân trong này ra, xã nào tìm hội tề xã nấy. Đến đó xin giấy tờ, xin tôn làm nhà, xin gì cũng được. Nó còn phát cho đài để bắt tin tức.

– Radio mà cho không à?

– Radio một làn sóng chỉ bắt được đài Sài gòn thôi. Nhưng bà con chê, không lấy, để đi mua Sony, Hitachi bắt được cả BBC và VOA.

(Vậy ta giải phóng Miền Nam làm cái gì?)

Đi một quãng nữa, Là bảo:

– Đây là xóm Trại Giàn Bầu. Có lẽ ở đây trồng nhiều bầu bí, nhà nào cũng có một giàn trước hoặc sau nhà.

Đi qua những lô cao su, tôi thấy tiếc vô cùng. Nhớ thằng giáo sư Liên Xô nó rươm rướm nước mắt hôm nó từ giã Củ Chi: “Các đồng chí phá cao su như thế này uổng quá . Nước tôi không trồng được”. Uổng con mẹ gì giáo sư ơi ? Bác Hồ không biết cả quý trọng con người. (Ông không thấy thanh niên phơi xác trắng Trường Sơn đó sao?) Cây cỏ thì sá gì? Đốn lớp này Bác trồng lớp khác. Có điều là chẳng ai thèm trồng, vì trồng xong Bác lại chặt phá. Là bảo tôi:

– Hồi sáng tới giờ anh em mình đi thành vòng chữ O. Bây giờ đi thẳng đường này vô Bàu Đứng.

– Anh biết rồi. Huỳnh Nga có chỉ cho anh.

– Anh đi với con nhỏ đó hồi nào?

– Thì hôm bữa anh vô bệnh xá ông Tư Chuyền rồi em vô kêu anh đi luôn Bò Cạp chớ hồi nào!

– Anh đi một mình với nó à?

– Thì cũng đi như đi với em bây giờ chớ mấy mình.

– Hứ! Đi với nó là khác, đi với em là khác chớ sao như đi với em được.

– Ừ, thì khác !

– Con nhỏ đó là con quỉ. Đừng có thấy nó làm bộ con nít mà tưởng nó hổng biết gì.

– Anh có nói nó hổng biết gì đâu ?

Là quay mặt nhìn tôi và dừng lại.

– Hả ? . . . Bộ . . . bộ anh mê nó rồi hả ?

– Anh không mê ai hết, ai có mê anh thì mê !

– Cả xóm Hố Bò đều biết nó léng phéng với thằng cha Tám Lê y sĩ. Mụ Thắm vợ thằng chả ghen bỏ ăn bỏ uống, ốm xanh ốm xao như con mắm trở. Em thấy mòi cả hai con yêu tinh đó chíp anh rồi. Một ngày vô hai lần tìm anh. Trưa vô chiều vô. Làm bộ công tác dân vận. Ai cầu mà tới dân vận tôi? Em bắt thóp tụi nó mà.

– Còn ai bắt thóp em?

Là bật cười:

– Em hổng có thóp thép gì hết.

– Để anh nói cái thóp của em cho em nghe.

– Thôi đi em không muốn nghe.

Đến ngả ba Bàu Đứng, Là bảo:

– Hồi 62 ở đây có cái trường học. Xóm này vui lắm. Bây giờ tản lạc hết.

– Từ đây có đường về Hố Bò không?

– Có chớ! Vùng này chỗ nào em cũng lội tới. Bây giờ còn ghé một chặng nữa rồi về nhà. Em phải tìm cho được thằng Tư Ếch và con Út Nào. Hai đứa đều là kiện tướng đào hầm cả . Em bắt tụi nó ngay. Nếu không, làm xong ruộng, tụi nó sẽ ra ấp chiến lược Trung Hoà, trời kêu không về !

Tôi kêu mỏi chân. Là bảo ngồi nghỉ, để một mình nàng vô nhà kiếm Tư ếch. Một lát trở ra, nàng bảo Tư Ếch không có ở nhà Vừa quay ra thì gặp Út Nào.

Út Nào đon đả hỏi:

– Đi đâu đây ta? Lại hầm với hố phải không?

– Lần này thì hầm to mày ơi.

– Ai vậy?

– Anh Hai tao ở R mới về .

Người con gái nguýt ngang cười, che miệng rồi quay sang tôi giọng dí dỏm:

– Chào anh Hai ! Thôi mời anh chị vô nhà .

Là càu nhàu và đấm lưng bạn:

– Tao đã nói là anh Hai tao mà mày hổng tin thật hả con quỉ?

– Ái uôi da! Mày đấm tróc phổi tao! Tin chớ sao hổng tin. Đào hầm gì nữa đây ông nội?

– Ông Ếch lặn ở đâu?

– Ổng đi lò rèn gần bìa sở Đất Thịt lấy cái lưỡi hái về cắt cỏ cho bò ăn.

– Hỗôm rày xe có hoạt động không?

– Tổ của dì Năm sắp rã rồi.

– Sao rã vậy.

– Ông Bảy Hốt trả tiền thấp quá. Ba chủ xe đã vô ấp chiến lược Cầu Ván rồi. Còn một chủ thì bò bị chặt chân. Còn lại một mình dì Năm. ..Ối mà thôi, .nhiều chuyện lẹo tẹo lắm.

– Vận tải gạo thì ông Bảy ổng trả tiền, nếu thấp thì đòi thêm. Cách mạng thì phải hi sinh mỗi người một chút, tiền đâu có nhiều mà trả nhiều như thời trước.

– Thôi đi bà nội. Bà lập trường cao thì đi xe vài chuyến thử coi. Ngồi xe chai đít, lại còn bom pháo dội trên đầu, trả một đêm hai trăm, coi được không? Nhưng cũng không phải chuyện đó mà tổ xe bò rã đâu.

– Vậy chuyện gì nữa.

– Mày hỏi con Chín Khuân, nó nói cho nghe.

– Thôi thôi tao biết rồi. Xếp nào lính nấy. Bữa nào rảnh mình xốc một bữa lo xong cái hầm cho…

Là kề tai nói nhỏ. :

-Được không?

– Hổng được đâu. Vùng này nhiều người ra ấp chiến lược dữ lắm. Họ nói tùm lum ra tụi Trung Hoà biết nó gởi đạn vô đây cũng đủ tiêu rồi. Lại nữa đang lúc mùa mưa, ai lại đi đào hầm?

– Khẩn cấp mà mậy !

– Hễ công tác thì cái nào ở trên cũng khẩn cấp. Ông Trâu ở nhà bán quán cũng khẩn cấp như thường.

– Nói vậy rồi mày không tiếp tao một tay à cô kiện tướng.

– Tiếp thì tiếp nhưng phải có ông Ếch chớ hai đứa mình làm sao thấu. Mày cụp xương sống rồi, bây giờ đâu có kéo đất nổi nữa.

Là bàn bạc với bạn một lúc rồi về. Ra đường, nàng sừng sộ với tôi:

– Anh thấy không? Ở trên đổ xuống cho em. Cái gì cũng em hết. Nhưng em đâu có chỉ huy được ai?

– Nhưng tại sao ở trên bắt em phải đào hầm cho ông Tư Lịnh?

Là cười khúc khích:

– Vụ này cũng tại Dì Ba.

– Dì Ba nào?

– Dì Ba Tư lịnh quân khu.

Tôi ngớ ra một lúc rồi nhớ ra. Là nói tiếp:

– Các ông lớn đều như thế cả . Có ông nào thiếu bà nhỏ đâu. Ông Ba Xu ở với Dì Ba lâu rồi.

– Sao em biết rõ vậy.

– Mấy đứa cháu trong nhà nó bắt gặp ổng bả nằm dưới hầm ló hai cặp chân ra.

Tôi lặng người ra, không nói gì được. Là búa thêm:

– Em thấy chỉ có mình anh là đàng hoàng thôi đó. Bởi vậy nên em thương anh!

Một chập Là tiếp:

– Dì Ba nói em làm xã đội bên này. Ổng bảo: hiện giờ đồng chí cũng không dám tin. Nay đồng chí mai chiêu hồi. Nó về khui hầm bỏ mẹ. Chỉ có bà con, cha mẹ không phản mình thôi. Do đó ổng bảo em tìm hầm cho ổng.

Đó là một chân lý mới trong gian khổ chết chóc ở Củ Chi. Là tiếp:

– Ổng có nói với Dì Ba cái vụ Hai Tốt ôm cả chục triệu bạc ra Sài gòn nữa. Dì Ba phải bỏ tiền ra cho ổng nuôi cơ quan. Làm bà Tư lịnh để nay mai sạt nghiệp cho coi.

Cái chân lý của ông Ba Xu nêu ra có khi đúng. Cô xã đội phó Là có thể chiêu hồi trở về chỉ hầm của ông Tư lệnh Quân khu nhưng mà cháu Là không thể chỉ hầm bắt Dượng Ba mình. Chân lý đã rõ ràng, Cộng sản còn tìm đâu cho mệt. Sách vở nào hơn. Dượng cháu là quốc gia. Đồng chí là quốc tế . Cái quốc nào cao hơn đáng tin cậy hơn?

Đến lúc mặt trời xuống thấp ngang ngọn Rừng Chồi, Là mới rẽ vào rừng. Nàng cho tôi xem một cái hầm cũ và hỏi:

– Anh còn nhớ cái hầm này không?

– Có chớ. Nay cũ quá rồi. Làm sao ở được.

– Hổng sao đâu. Các ổng bắt đào vậy thôi chớ không bao giờ xuống.

(Chẳng ngờ Là đoán sai. Về sau bị đuổi nột quá Ba Xu phải chui xuống hầm. Rủi thay bị Mỹ trên đầu. Chính Là phải vượt qua sông Sài gòn kêu tôi đem quân về nhử cho Mỹ ra khỏi chốt. Thầy Xu Ba Đình bò lên được ngất ngư. Chuyện này tôi sẽ kể sau.)

Trời chiều mát mẻ, lá rừng lao xao. Là kêu:

– Em mỏi chân quá trời.

– Ngồi nghỉ một lát rồi về.

– Em đi hết nổi rồi.

Tôi móc tấm ni lông trong lưng ra trải xuống đất. Là để cái giỏ xách đầy những hàng hóa mua ở quán Dì Hai. Nàng lấy bánh in ra đưa cho tôi. Chúng tôi ăn và uống nước chung một bi đông. Là rủ tóc, lau mồ hôi, thấm một ít nước trong bi đông vào chiếc khăn nhỏ lau mặt. Bỗng nàng nhìn tôi:

– Em sượng quá trời.

– Ai làm gì mà sượng?

-Đứa nào gặp anh cũng tưởng anh là…

– Gì… của em phải không?

– Dượng chớ không phải là dì.

Rồi Là kề mặt nàng sát mặt tôi, nghiến răng nói.

– Em móc mắt anh mới được!

– Em không cho anh lấy cự ly bắn pháo à?

– Em cho anh bắn pháo nhưng không cho nhìn ai hết.

– Nhìn có chết ai đâu mà em làm dữ vậy.

-Trong cái nhìn còn có cái khác nữa chớ phải nhìn suông thôi sao?

– Cái khác là cái gì?

– Em ghét con Nhã Nam nói bóng nói gió… ơ gặp lại anh sau. Sau là chừng nào? không có gặp gì nữa hết.

Là nói như có Nhã Nam trước mặt.

– Con nhỏ Bắc kỳ lại nói láo tổ bà . Chín Nhan mà tưng lên làm kiện tướng hứ! Rồi hai chị em con nhỏ Năm Biên nữa. Làm gì mà nhìn anh dữ vậy, như muốn hốt hồn người ta ấy. Bộ hồi đó tới giờ không gặp Mùa Thu sao? Rồi đến cái con Út Nào nữa.

– Em nghi tất cả mọi người.

– Ừ, đúng đó . Em dè gặp nhiều đứa như vậy thì em nhốt anh ở nhà đóng cửa hầm luôn, không cho đi một bước.

Rồi nàng ngã lên ngực tôi, rủ rỉ:

– Anh biết chị Lụa cũng thương anh không?

– Tầm bậy nào!

Tôi quát khẽ và muốn quay ra nhưng nàng càng giữ riết.

– Em thấy mà .

– Thấy gì?

– Em thấy hồi sáng chỉ nhìn theo anh đi.

– Nhìn thì sao? Con Rớt cũng nhìn vậy.

– Trong cái nhìn có cái khác.

– Nói bậy, cái miệng cứ lãi nhãi không để kéo da non.

– Em còn thấy chuyện khác nữa.

– Chuyện gì?

– Em thấy chị Lụa giặt quần áo anh. Chỉ vò thiệt lâu. Xong rồi chỉ đem phơi, chỉ căng ra thật kỹ. Khi quần áo khô chỉ lấy vô chỉ xếp rồi chỉ đưa lên mũi chỉ hít hít hai ba lần.

Tôi biết Là nói đúng, nhưng tôi gạt ngang:

– Đó là tình cảm của một người em đối với người anh cả trong gia đình thôi.

Là càng dựa hẳn vào tôi ôm chằm lấy tôi là như nàng là… của tôi vậy. Tội cố tránh né, nhưng da thịt con gái quá ư hấp dẫn. Tôi chỉ có thể ngăn tôi một cách ất vả trước những chuyện Là đòi hỏi. Nàng lục túi áo và ví của tôi lôi ra những chứng minh thư nhân dân tôi mua và thằng Hùng tặng ở Xóm Giữa. Nàng vứt tung và nói trong hơi thở dồn dập:

– Em không sợ có con với anh. Em muốn có con với anh.

– Anh có vợ rồi.

Là như không nghe, nàng cứ trườn lên người tôi và làm mọi cử chỉ táo bạo rồi hỏi:

– Anh muốn con trai hay con gái đầu lòng?

– Khoan! Để chờ cưới hỏi đã, em!

Chương 37
Hội ve chai chống Mỹ:
Hai ngày ba tiệc lớn.

Tôi vừa bước vào sân thì thằng Lũy, con Lượm, con của chị Tám chạy ra kêu:

Gớt ơi Gớt! ! Cậu Hai mày về kìa !

Thằng Lũy nói:

– Tao thấy trước.

Con Lượm cãi lại.

– Tao thấy trước mày.

Bé Rớt chạy vấp ngạch cửa té, nhưng không khóc lồm cồm đứng dậy chạy nhào ra ôm lấy tôi và khóc mùi làm như tôi đi vắng lâu lắm. Là lững thững theo sau với cái xách hàng, với vẻ mệt mỏi và chán nản. Nàng nạt con Rớt:

– Làm gì dữ vậy hả?

Tôi giơ tay lấy chiếc giỏ, lấy bánh kẹo ra phân phát cho đám trẻ. Lụa đứng trong cửa nói vọng ra:

– Rớt để cậu Hai vô nhà con!

Tôi bế bé vào. Thấy cái radio trên vai tôi, Lụa hỏi. Tôi thuật lại chuyện gặp dượng Chín Nữa . Ổng chê cái radio cồng kềnh, nên cho tôi. Kỳ tới sẽ bảo vợ mua cái khác. Bé Rớt cầm bánh kẹo nhưng không ăn. Nó vừa quệt nước mắt vừa nói lia lia:

– Ở nhà có người đi kiếm cậu, một ông có một mắt, còn ông kia đầu bạc. Hai ông chờ.

– Chờ lâu chưa?

– Chờ hồi còn nắng. Vừa mới đi.

Con Lượm đáp. Lụa bảo:

– Một Sơn và Út Tiêu chớ ai ! Mấy ông dưới Gót Chàng nghe anh về cho người lên đón.

Vừa đến đó thì hai người lót tót vào. Là nạt ngay:

– Đây xuống đó ảnh đi lấy không được sao mà phải rước?

Một Sơn nói:

– Bà nội không biết chuyện nhà binh, đừng có xía vô !

– Nhà binh thì nhà chớ. Ảnh mới về, ảnh ở nhà chờ má tôi gặp mặt rồi đi đâu mới đi. Anh đi đánh giặc mấy chục năm rồi không phải mới đi. Mấy ông không coi tình mẫu tử ra cái gì hết sao lại lập Hội Mẹ Chiến sĩ làm gì? – Là quen mặt mấy người này nên nói càn ngang – Mấy ông làm quá đáng, tôi giấu đồ đạc của ảnh hết cho ảnh đi mình không.

Tôi không nói gì, bảo Lụa nấu nước châm trà. Và tôi rút gói Capstan ra mời khách. Vừa rót trà thì một ông khác tới. Một Sơn giới thiệu là Chín Tiền, người ốm ốm, mặt thỏn, dân mùa Đông được rút vào, làm trợ lý Ban Cán bộ. Chín Tiền xoa xoa tay nói:

– Thưa anh, ở trên nghe nói U80 gởi người xuống đây khẩn cấp, nên cho tôi ra trạm đón. May quá, gặp anh vừa tới.

– Tôi tới hôm qua nhưng nhân dịp chờ giao liên, tôi đi với cô xã đội phó một vòng xem thực địa và giúp cô ấy mấy ý kiến bố phòng thôn ấp.

Chín Tiền nói:

– Dạ, anh Tám Quang Trưởng phòng Chánh trị Quân khu đã nhận được điện trên R báo cách đây một tuần rồi. Anh Tám chưa thấy anh xuống thì rất sốt ruột định cho người đi đón khúc trên Trảng Cỏ. Anh Tám dặn anh Bảy Tùng cho người ra hờ sẵn ở đây hễ anh đến thì rước về liền để mười giờ sáng mai anh làm việc với anh Tám.

Là nói ngang ngang:

– Đây đó đạp xe chỉ một tiếng, còn cuốc bộ thì hai tiếng. Tôi đã nhờ anh Tư Thêu qua Bến Chùa rước má tôi chắc cũng sắp về tới. Để anh tôi ở lại một đêm cho má con gặp nhau hổng được sao? Có gì quan trọng dữ lắm sao anh Chín?

– Gì thì tôi không biết chớ tình hình này căng lắm. Bên anh Chín Lộc cho hay, tụi Sâu Rọm đã câu vô Đồng Dù năm khẩu 155 và 175.

Lụa biết tâm lý mấy ông cán hễ gặp là nhậu, nên không năn nỉ thêm Chín Tiền mà cứ tự nhiên bày tiệc ra và mời mọi người. Lụa còn bảo Một Sơn mời chú Tư Thiên qua chứng đám nữa. Chú Tư đi ba đồng bảy đổi về nhà hồi xế. Vừa bước tới cửa chú đã nói:

– Rượu chưa đi hết mùi lại rượu tới.

Tôi ngồi tránh qua một bên dành chỗ cho chú.

– Hai ngày ba tiệc phải không chú? Không cần mồi nhiều có ba cái nước cay là đủ rồi.

Chú Tư cười khè khè :

– Nuốt ba cái thứ đó vô rồi, cà-nông nổ bên hè cũng không chạy.

Chín Tiền hít vô rồi, nhưng làm bộ than:

– Chà, kiểu này thì khuya mới đi được đó anh Hai.

– Khuya mấy tôi cũng đi!

Vừa nói tôi liếc mắt nhìn Là đứng ở gốc cột. Là hỏi ngay:

– Bên nhà chú còn cây dầu vuông nào không chú Tư, cho cháu mượn đỡ đi. Anh Chín bắt gắt quá chắc anh Hai cháu không nán lại chờ má cháu về được. Bữa tiệc này coi như bữa tiệc tiễn chân anh cháu.

Chú Tư đáp ứng ngay:

– Đứa nào giỏi giò vọt qua nhà tao lấy luôn một cây với một xị đem qua đây mình đánh úp luôn. Để dành đến mai biết có còn sống mà uống hay không? Leo lên bàn thờ rồi, ai có rót ngự tửu vua ban mình cũng đâu có uống được.

Đốn ngã mấy cây của chú Tư, Chín Tiền nằm tại mâm. Một Sơn ôm gốc cột cho chó ăn chè. Chú Tư đi ba xí ba tú về nhà, vừa đi vừa nói thơ Lục Vân Tiên, coi pháo Đồng Dù Trung Hoà Bến Cát chẳng ra cái dem nào.

Tôi định đi nghỉ cho khỏe để ngày mai áo mão vào chầu thì bốn trự nữa kéo tới. Toàn là học trò pháo vừa mới vừa cũ của tôi. Ba Tố, Năm Đừng, Hai Chi, Út Lộc. Trường pháo vừa bãi khóa, họ về địa phương hoạt động bằng AK, CKC chớ pháo tép cũng không có, lấy gì mà hoạt động. Mỗi người mang một cái radio, Năm Đừng và Hai Chi mỗi người xách một con gà. Radio thì hát, gà thì kêu rùm trời. Lụa quát.

– Vặn nhô lại để nghe tiếng pháo đề pa các chú ơi !

– Đề pa đề bốn gì mặc kệ. Cải lương Sài gòn buổi tối nghe mùi rệu, bỏ uổng.

Ba Tố vỗ vai, bắt tay tôi, cười hắc hắc, nói như la:

– Nghe thầy về dưới này tôi khoái quá ! Ở đây, người ta chê pháo binh mình mạt cọng. Có thầy về mần vài cú cho thiên hạ lát mắt coi!

Năm Đừng tắt radio máng trên đầu cột rồi nghiêng mặt nhìn vào miệng hầm:

– Có đủ chỗ chứa không?

Tôi nói.

– Dư sức mà . Hổng ấy tôi quay lưng ra. chiu cho !

– Hồi kháng chiến thì thầy đã chịu một phát che đạn cho nhị tẩu Tô Ký và Ba Xu rồi, bây giờ tính làm phát nữa hả.

Hai Chi vừa cởi súng để lên nắp hầm vừa nói:

– Kỳ này thì mình phải đỡ đạn cho thầy. Ông Tố dày cơm dùng làm cửa hầm được lắm. Còn mỏng cơm như tôi đạn

xuyên tuốt.

Là háy:

– Người chớ bộ dừa khô hay sao mà mỏng cơm dày cơm.

Chi chập sau là khói lửa lại mịt trời. Tôi phải chầu ba (Chín Nữa, vừa xong tiệc, bây giờ lại tiếp) có hơi khẳm, nhưng cũng ráng múa để học trò cười. Ba Tố hỏi tôi:

– Bùi Khanh đã tuyên bố với ai chưa thầy?

– Khi tôi sắp đi thì ổng vô bệnh viện rồi. Trường mình tản lạc hết. Sắp sát nhập với trường Trung Sơ (Trường Lục quân của Giải phóng). Tôi kể lại chuyện anh em ăn dưa hấu hụt, ai nấy nghe đều cười lăn.

– Còn bà Mai Khanh đã thành bà Chánh ủy pháo chưa?

– Chuyện đó còn trong vòng bí mật.

– Bí mật cỡ vụ Ái Mỗ không? Nó nổ ra, thầy lại phải đi điều đình.

– Kỳ này nếu sắp nổ thì ổng cho bả đi Sài gòn đánh đặc..công.

Tôi nói với Ba Tố:

– Bữa nay tôi đi một vòng để quan sát địa thế. Bào Cạp, Sa Nhỏ, Bàu Đứng tiêu điều quá. Dân đi gần hết Củ Chi.

– Nó vẫn đó thầy. Không giống hồi thầy về lần trước hụ hợ với Tư Linh trong việc đón tiếp ông nhà báo. Hồi đó tàu chạy từ Dầu Tiếng xuống Bình Dương hàng ngày. Bây giờ chỉ có tụi Giang thuyền thôi. Nó chơi cú độc nghe. Lơ mơ vọt qua sông là bị nó đấy. Cán nhà mình bị rồi. Còn tụi Trung Hòa ỷ có Đồng Dù đã dám bung ra tới Gò Nốc, Tầm Lanh, Ràng, phục kích rượt bắt du kích giữa ban ngày. Còn trên trời thì đầm già khu trục chơi đều đều từ Phú Hòa Đông trở lên Bùng Binh. Vụ pháo kích Biên Hòa coi bộ không đủ làm cho nó bớt đi các vụ oanh tạc.

Ba Tố gặp tôi như được dịp xổ bầu tâm sự, nên tuôn thêm:

– Ông đầu hói Năm Thủ bị ông Năm Lê nạo sát ván, đi đâu không dám ngó mặt ai, cái Ban Dân Quân của ông già Sáu Nâu và Năm Cai có làm rụng lông thằng Mỹ nào, nhưng nhờ ba cái hầm chông ẩu, địa đạo láo, lựu đạn gài suông cựa mà báo cáo được một số thành tít, nên không đến nổi gục mặt dọc đường 15 chứ cái H6 của mình lâu nay mọc rễ ở Bến Mương bị coi là đơn vị co cụm số 1 Quân khu.

– Chớ mấy ông mình ở đâu?

– Ông Sáu Phấn thì tối tối đạp xe về nhà vợ, còn Hai Giả thì ăn dầm nằm dề ở nhà bà Má Mười vì con dâu của bả mới góa chồng. Vậy đó. Đại đội phòng không 12/8 của tôichui kỹ chớ dám ló ra bắn máy bay à? Muốn bắn một chiếc máy bay phải có pháo yểm trợ dập tụi Trung Hòa và Đồng Dù, thì mới dám khai hỏa, chứ nếu để nó rảnh tay thì nó nện mình tan tành xí quách ngay. Tụi này bắn ác hơn bất cứ tụi nào từ trước tới nay. Du kích Bến Mương nổ có một phát vào chiếc trực thăng bay qua mà nó gởi một trăm trái pháo.

– Sao ông biết một trăm?

– Thì dân họ đếm từng lỗ pháo, tính hết mọi thiệt hại để thưa xã ủy tụi du kích…

– Ê, ông đừng có kêu tụi này tụi nọ nghe, mai mốt có chuyện cần đừng có kêu.

Thấy cô xã đội sân si, tôi quắc mắt:

– Anh Ba nói sự thực để rút kinh nghiệm nội bộ em à. Làm người lãnh đạo, em cũng nên lắng nghe nhân dân phản ảnh chớ. Đây là những người có 15-20 năm cầm súng không mà!

Tôi vụt nhớ và kêu lên:

– Tôi quên cho bồ nhà pháo mình hay. Một ông thượng tá su hào mới được đưa vào làm phó tư lệnh bên cạnh ông Hai Nhã và Tư Khanh.

Ba Tố nói:

– Bọn Nam kỳ mình bao giờ cũng đóng vai trò dọn ổ sẵn cho người ta đẻ. Mấy năm trước dân mình lót đường. Năm nay đường suông tụi nó mang lon mang gáo vô ào ào. Mấy ông không nhớ hồi ở ngoài F330 à . Một thằng su hào trẻ măng hai sao hai gạch đại diện Bộ Tổng vào truyền lệnh gì đó. Ông Hai Nhã nhà mình hồi đó là Hai Nho tóc bạc tuổi đáng bố nó lại phải đến chào nó cái cụp và nhận lịnh cái rụp.

– Thì nhà binh phải vậy chớ kêu cái gì.

Ba Tố hăng hái hầm hàm hậm hực xổ nguyên ra phang:

– Thì phải thế rồi. Nhưng coi chướng mắt quá. Nó là trung tá hồi nào? Còn ông Hai Nho quần với Tây chín năm mới lãnh lon Trung tá? Đây rồi khi cách mạng thành công Bắc kỳ sẽ ngồi hết các ghế từ Thủ Tướng cho tới tổ trưởng Hợp tác xã không trống cái nào. Còn dân Nam kỳ mình thì càng ngày càng bất mãn càng chưỡi thề càng bỏ về nhà, rốt cuộc thằng còng làm thằng ngay ăn.

Tôi gạt ngang vì sợ mâm rượu trở thành cuộc họp chống Bắc kỳ và chết vì Bắc kỳ . Cũng may, giữa lúc đó có tiếng hò nghêu ngao từ phía nhà chú Tư vọng lại:

Sông Sài gòn vừa trong vừa mát.
Đất Hố Bò thơm ngát sầu riêng
Ai về tới xóm chú Tư Thiên.
Hò xem cô xã đội còn trùm mền đợi ai. . . ơ. .ơ

Bé Rớt chạy ra cửa nhìn rồi vỗ tay reo:

– Chú Tư chăn bò! Chú Tư chăn bò !

Lụa rầy con hỗn. Là ngó ra:

– Bộ chưa ăn cơm chiều hay sao mà hát như bò rống vậy ông thiếu úy đánh xe bò?

– Nè đừng bắt chước con nít hỗn với người lớn nghe ! Dù sao tôi cũng là bạn với ông anh Ha… ai của cô nghe ! Tôi đến đây để cho cô biết bà già không có về được vì giang thuyền hàn ngay khúc Bến Dược.

– Tụi nó ngăn cả bà già sáu mươi nữa hay sao?

– Cô biểu bà Năm Đang đem đạo quân đầu tóc của bả ra mà đánh trâu chí trạnh đòi tụi nó rút về chớ tui hổng mần gì được. Gạo của ông Bảy Hốt mua xong rồi mà còn nằm ỳ đây không chở về bên đó được ! Ủa mà quên chớ ! -Tư Thêu giơ cái cà-ròn lên – Bà Sáu Tiệm (hay Sáu Tĩnh cũng thế) nghe thầy Hai về, bả nhắc lên lấy cái bình toong của bả tặng.

Là trố mắt:

– Thứ bình toong bể, hổng thèm!

– Còn đây là hai kí lươn bông bả gởi cho thầy um sả nước cốt dừa tẩm bổ.

Là phóng tới giật chiếc bao ném ra giữa sân và hét:

– Trả cho bả ? Bộ ở đây không mua nổi ba thứ đó sao?

Tư Thêu cười hắc hắc nhìn tôi nháy mắt. Tôi hiểu ý nói:

– Ông thiếu úy giỡn chơi đó mà ?

Tư Thêu cười:

– Ba trăm đồng lương của tôi tháng này đó bà cô !Tôi mới lãnh xong định gởi về cho mẹ đĩ đang ở cữ, nhưng thấy lươn vàng nên mua xách lên đóng góp nhậu chơi chớ bà sáu đâu có thơm thảo dữ vậy mà cô em nổi tam bành?

Ba Tố xoa tay:

– Vậy ra thằng em mày có một cục để trên đầu trên cổ rồi hả? Bẹp hay ngỏng? Đặt tên gì chưa? Nhớ lớn lên đừng có cho đi tập kết như bố nó nghe. Chết cũng ôm gốc dưa mà chết ở trong này.

Bị Ba Tố dồn một hơi chới với:

– Tên thì tôi đề nghị đặt là Thùa nếu gái . Bố Thêu con Thùa thì vô đề rồi. Còn nếu trai thì đặt là Chui, Phóng, Dông, Sảy… !

Mỗi người góp một câu làm bữa tiệc vui loạn. Ba Tố nói:

– Bữa nay mình thành lập hội Ve Chai Chống Mỹ như hồi ở Sơn Tây được đó ông Thầy.

– Phải ! Nhưng thiếu quán bà Ba Cạo và thiếu tá Phụng!

Tôi kêu lên:

– Tôi gặp ổng ở trên R. Ổng đang đi giải quyết vụ Phùng Văn Mười. Bữa đó, tụi này với Bùi Khanh đi bắn thực tập DKZ ở Bổ Túc. Lính của tôi thấy bầy heo, tưởng là heo rừng. Nó để một phát con heo mẹ nằm ngay chừ. Xách dao tới xẻ thịt thì té ngửa ra. Đó là heo của cơ quan tự túc. Thằng thủ trưởng đến khóc, cái miệng méo xẹo như cái 1…bị bão. Tôi rút tiền ra thường. Thì ông Phụng tới. Hỏi ra cớ sự, ổng bảo: Tụi này cũng thèm thịt bỏ bố. Đem về chia ra nhậu rịu chớ thường bồi cái đếch gì. Thế là thay vì mất tiền lại được bữa thịt no tới cạnh tai.

– Ổng là thủ trưởng cơ đó à?

– Ổng không phải là thủ trướng nhưng ổng cao cấp hơn thằng thủ trưởng.

Tàng dân Bắc cờ tôi chỉ chấm có thằng cha đó là chơi được thôi !

– Bậy nào! Nói vậy sai chánh sách Nam Bắc một nhà.

– Nình bà con gái Bắc kỳ bỏ cho ai? Há há…

Tiệc rượu lại bùng lên với đề nghị lập Hội Ve Chai chống Mỹ, mỗi người một câu, mỗi kiểu ca ngợi cái tổ chức bán hợp pháp này mà tiền thân nó là Hội Nhậu trường Pháo Sơn Tây gồm những chiến tướng của làng nước ngược và trụ sở đặt tại quán bà Ba Cạo. Tôi hỏi Ba Tố:

– Ông nhớ hồi mãn khóa “I” mình liên hoan ở quán bà Cạo, ông nội nào say rồi vô mùng bả không?

– Nhớ chứ sao không. Bả đâu có la lối gì. Một tiểu đội dzô bả còn không la nữa là một đứa. Hừ hừ! Thời Pháp bả cũng bán quán, bán cả nọ kia với tụi sĩ quan Pháp nữa mà.

Năm Đùng bỗng rót rượu tràn ly cối và chắp tay nói với giọng run run không biết cảm động giả hay thiệt:

– Ông Ngai ông Địa vong hồn Tư Quảnh và Ba Tô Đê sống khôn thác thiêng về phò hộ anh em.

– Hai thằng trưởng phòng leo bàn thờ một lượt không kịp nhắn nhủ gì lại hết với vợ con.

Ba Tố gạt phắc:

– Ê! Hội của mình phải ra điều lệ mới là khi tác chiến không được nói chuyện buồn nghe. Hể nổ là xốc tới không có khóc khóc mếu mếu nghe.

Hai Chí tán thành:

– Ừ đúng! Hội của mình chiến đấu tới gục thôi, không có la áo áo như gà rót.

– Nay mai rồi cũng tới phiên mình thôi.

– Nữa xin các bạn cúng tôi một cặp giò gà nghe !

– Giò gà cạp không đã bằng đùi…

– Ê, đừng khai ra chuyện bê em cu ếch (BMQS) nghe cha. Thằng Chín Tiền nó ghi vô lý lịch bỏ mẹ !

Chín Tiền đã tỉnh dậy ngồi tóp ve bên góc cột, khúm núm:

– Dạ, mấy anh nói vậy chớ em đâu dám ạ !

– Ghi thì ghi nhiều nhiều một chút. Đổ luôn lọ mực Ba-ke (Parker) lên đó cũng được.

– Ê cậu nào có đi đắp đê kể lại chuyện tắm sông nghe chơi ta !

Ba Tố bảo:

– Cậu đi chớ ai nữa.

Út Lộc bảo:

– Tôi đi có một lần, ông đi thường xuyên! Đê vỡ cũng đắp. Đê không vỡ cũng đắp. Đắp đê là phụ, tắm sông mới là chánh, phải không ông Tố.

– Ừ, tắm sông lặn mò cá rô mới đã . Hễ bữa nào mò trúng thì bữa sau bắn pháo đạt 100%.

– Mấy cô nàng cũng thích tắm sông với anh đội miền Nam rữ rội chớ hả . Há há . . .

– Anh đội khỏe ngư… ời lại xinh trai, ba ván liền không bỏa ván lào!

– Xạ giàn ngoài vậy thôi chớ có cậu nào đột nhập vào trong thâm được đâu.

– Thôi dẹp đi ! Nhắc mấy cái chuyện xa vời đó uống rượu gắt cổ lắm. Chuyện hiện giờ mới hay.

– Chuyện bây giờ phải rữ Bem!

– Ông nào có xuống địa đạo chưa?

– Hà hà… Bây giờ tới phiên ông thầy khai pháo hả?

– Cái địa đạo nó ra nàm thao thầy tỏa cho tụi này nghe với để rút kinh ng…ẹm.

Cả mâm rượu cười rần. Là đứng nghe lóm chuyện BM nãy giờ, ra miệng:

– Anh Hai đừng có bị mấy ổng kích nghe chưa?

– Anh Hai không có bị kích thích đâu cô xã đội. – Ba Tố gật gù – hay là . . .

– Chắc ổng bị kích thích nên mới xuống địa đạo đó chớ. Thiệt là hay. Ngoài Bắc thì đi đắp đê, còn trong này thì đi đào địa đạo. Toàn là chữ đê.

Là quát:

– Mấy ông say rồi nói bậy nghe !

– Hổng phải toàn là chữ “đ” à?

Đắp đê đã đời đi đào địa đạo đã đời.

– Ai mà nói cho lợi mấy cái miệng của mấy ông pháo.

– Miệng pháo cũng là miệng sao nói không lợi?

– Thôi thầy Hai kể chuyện xuống địa đạo đi!

– Tôi mới coi hồi chiều chưa có xuống.

– Địa đạo của ai mà thầy coi được, giỏi vậy hả?

– Của cô xã đội chớ còn của ai!

– Nói vậy thầy được cô cho xuống địa….

– Không mới coi thôi!

Cả thiên hạ cười rầm lên. Út Lộc phun cả rượu ra ngoài.

– Há há.. . Thế là thầy biết cái địa đạo của cô xã đội rồi !

– Ừ ừ cổ giữ kín lắm! Không ai biết nổi đâu. Thiên hạ chỉ đoán chừng thôi.

Là gắt yêu:

– Anh Hai ! Bộ anh nói gì với mấy ông trời đó hả ?

– Anh đâu có nói gì đâu.

– Hổng nói sao mấy ổng… cười em?

– Thì anh chỉ nói là em cho anh coi…

– Mới có coi thôi mà, cô xã..ã.. đội! Đừng sợ mất màu.

Tôi nhìn Là:

– Em giỡ ra cho anh coi hồi chiều không có à?

– Anh đòi coi chớ không phải em….

– Ừ thì anh đòi coi rồi em cho… coi chớ sao.

Mọi người cười ngắc ngơ. Bàn tay đập vào vế, vỗ vào mặt ván ly chén nhảy tưng lên. Một chập, im lại. Ba Tố hỏi:

– Thế thầy đã thấy cái miệng địa đạo rồi phải không?

– Thấy rõ rồi !

– Nó ra nàm thao thì thầy phải nhớ nghe.

– Nhớ chớ đâu có quên.

– Anh Hai ! Là thét – Em có một cái đó thôi. Lâu nay em giấu biệt. Chỉ mình anh biết thôi. Lần trước anh đòi coi, nhưng rắp quá em không cho coi, lần này mới cho…

– À, vậy ra thầy Hai đòi coi hồi năm ngoái kìa à?

– Ừ, lúc nào ảnh cũng muốn coi cho được mới nghe.

– Vậy mà thầy Hai giấu tụi tôi nghe.

– Chưa có kết quả nói ra làm gì.

– Năm nay thì có kết… ỏa rồi. Hí hí…

Lụa đứng ở bếp nghe ngóng nãy giờ. Nàng bưng dĩa lươn um lên nói:

– Đây là um sả ớt nước cốt dừa ! Mời mấy anh.

Là vẫn còn trả treo với Ba Tố về vụ địa đạo. Lụa quát:

– Đồ khùng. Người ta nói chuyện khác, hiểu không? Ở đó mà cãi giống!

Là cứ cãi giống:

– Anh Hai đòi xem địa đạo thì em cho coi địa đạo chớ chuyện khác nào?

– Thôi, đi xuống múc thêm dĩa lươn um đem lên đây.

Là đang đi xuống bếp, bỗng quay lại:

– Nhưng mà em quên, em chỉ cho ảnh xem cái hầm cá nhân của em chớ đâu có cho cái gì khác.

Ba Tố chụp lấy câu nói:

– Vậy là hay lắm rồi. Cô em cho xem cái… cái cá nhân của cô chớ không cho xem cái của tập thể.

– Em chỉ cho xem thôi chớ ảnh chưa có dùng, anh nghe chưa?

Năm Đùng gật gù:

– Thì mới có xem thôi, chừng nào gặp hoàn cảnh thuận tiện ổng sẽ dùng.

Hai Chí tiếp:

– Từ coi tới dùng mấy hồi.

– Ảnh chê !

– Chê sao?

– Chê là hầm hẹp ngột ngạt, ảnh không thích.

Cả mâm tiệc lại cười ré lên. Lụa đẫy Là đi xuống bếp.

– Đi đi bà ơi ! Người ta nói lóng mà cứ rống lên cãi !

– Lóng gì?

Tôi bảo:

– Để bữa nào anh nói cho nghe cô xã !

Ba Tố nói:

-Thôi dẹp địa đạo đi nghe thầy Pháo. Bây giờ xoay qua Hội Ve Chai chống Mỹ của mình. Chiến đấu cho đúng luật. Không được chạy làng. Bỏ trận địa thình lình phải phạt.

– Phạt cách nào?

– Uống ba cống một phát.

– Chưa ngon! Uống bằng lỗ mũi! Để trong bình toong mà trút!

Tiếng nói của ai từ ngoài của vọng vào.

– Không được ! làm như vậy mất sức khỏe…

À ! ông bác sĩ nhảy phóng Tư Chuyền với một bầy ết coọc: hai cô Nga, thằng Quỹnh, thằng Bốn. Năm Đùng tuyên bố:

– Đi đến trễ phải phạt.

Tư Chuyền cười:

– Phạt gì thì phạt! Sợ gì!

– Hổng sợ thì tui cho ông phải sợ !

Năm Đùng và út Lộc nhảy xuống ôm đè Tư Chuyền, đầu ngửa trên cạnh ván. Hai Chi đè chân. Ba Tố lấy bình toong rút nút đổ vô miệng. Tư Chuyền nuốt ực hai ba cái rồi sặc phun tứ tung. Y quặc đầu qua một bên làm rượu tràn ra ngoài ván. Ba Tố chìa bình toong cho tôi bảo:

– Thầy Hai đổ dùm. Tôi kềm cái đầu y.

Tôi cầm bình toong:

– Thằng chả chết, ai săn sóc thương binh?

– Thằng chả sống thằng chả cũng không săn sóc được vì hổng có thuốc men. .

– Làm như vậy thằng chả thù, nay mai bọn mình bị trặc tay trầy chân sơ sơ, vô bệnh xá thằng chả cưa bỏ mẹ!

Mấy người nghe tôi nói cười ồ và thả ông bác sĩ ra. Tư Chuyền ngồi dậy, nước mắt nước mũi ròng ròng, tóc tai xơ xài, vừa quệt lia vừa ho:

– Các cha chơi ác hơn tụi ma-rốc hồi kháng chiến.

– Tha vụ này, còn phạt vụ khác. .

– Ừ, phạt đi.

– Ông phải nộp hailít đế.

Tư Chuyền cười khảy:

– Đế tui không có. Tui thế rượu cồn 90 chữ được không?

– Rượu cồn là rượu gì? Rượu 1… hay rượu cồn? Cồn nào Cồn Lớn hay Cồn Lăng?

– Rượu cồn là rượu dùng trong nhà thương để sát trùng, chứ cồn lớn cồn lăng gì ?

– Có cay không cha nội!

– Cay rách phổi chớ sao không cay. Tui sẽ mang ra nộp cho bữa tiệc một tĩn bốn lít.

– Ừ được rượu gì cũng uống, miễn cay thì thôi.

Một ông già đột ngột ló vô ngực trần với sợi dây nịt to bản, tay cặp nách cái chai. Hai Chí reo lên:

– Chú Tư! Mời chú vô! Bữa nay có đủ mặt quân dân chánh đảng đủ hết.

Tôi hỏi:

– Bộ chú hết chết rồi hả .

– Cũng đang ngất ngư thôi, nghe bên này hát bội thì mang qua một lít giúp vui. Cái này tui trữ lâu lắm. Để dành chống bịnh thời khí.

– Bịnh đó, đừng lo. Cà-nông bắn chạy mất hết rồi. Đem vô đây cho Hội Nhậu chống Mỹ.

– Tụi mình bầu chú Tư mần chủ tịch Hội Nhậu đi!

Út Lộc đứng lên cao gần đụng nóc nhà vung tay.

– Ừ chủ tịt ranh rự hội nhậu chống Mỹ muôn năm.

– Chủ tịch rêm xương oải cốt lắm, chỉ muốn nằm thôi.

– Ừ nằm lãnh đạo cũng được. Đề nghị hoan hô ông chủ tịch nằm bằng cách cụngn ly úp gàu cho cạn nè!… Hội Nhậu chống Mỹ muôn năm muôn năm!

– Muôn năm! Muôn năm!

Lụa bảo:

– Các chú la nho nhỏ để nghe pháo đề-pa mà lủi!

Chín Đùng quát:

– Đả bảo là Hội Nhậu chống Mỹ mà pháo thụt thì lủi là cái gì?

Lụa bảo thằng Quỹnh và Bốn:

– Hai em ra ngoài sân ngồi canh dùm chị. Rồi chốc nữa vô ăn sau. Chị để dành lươn um cho. Quỹnh canh pháo Đồng Dù, Bốn canh pháo Trung Hòa. Hễ nghe nó đề-pa thì la lên cho trong này lủi mới kịp.

– Dạ ! Mấy ông cứ việc nhậu chống Mỹ đi ! Để tụi em canh cho.

– Phải sánh tai nghe.

Lụa vừa dứt tiếng thì… Hụp! Hụp!… Hụp.

– Chun hầm! Chun! Nó thụt.

Mọi người nhào lăn xuống đất. Vài người chui vô hầm.

Tiếng nổ rung rinh mặt đất. Đèn bị đạp đổ. Trời đất tối om. Đầu đụng cột lộp cộp. Trẻ con khóc như ri. Lụa kêu:

– Rớt ơi ! Rớt !

Mấy tiếng nổ không xa lắm, nhưng đủ làm cho mọi người rối loạn. Tôi ngồi nép bên mình hầm nhìn lửa lóe qua kẹt vách. Tôi quát:

– Chui vô hết đi. Nó đang thay đổi tầm hướng khác đó.

– Thầy Hai khóa chốt à?

– Bậy nào, để thầy vô trong.

Tiếng nổ ngưng. Trong không khí có tiếng e e e kéo dài.

Trời như vỡ ra từng mãnh. Một tiếng hỏi.

– Đồng Dù hay Trung Hòa.

– Trung Hòa. Đây là pháo 105 không phải cà nông của Đồng Dù.

Một loạt tiếp rơi xa hơn. Tôi bấm đèn pin và đốt đèn lên.

Lụa bảo:

-Nó quay họng lên Bùng Binh, Rừng Tre rồi!

Tư Thêu chép miệng:

– Hổng biết mấy con bò tôi có sao không.

– Chắc là đạn đi trớt lớt lên tới đường số 6.

– Nó có bề gì thì không có xe tải gạo, lính đói cả bầy.

Chập sau, sóng lặn gió im. Mọi người lóp ngóp bò lên.

Chú Tư Thiên cười khoe cái miệng móm:

-Thôi dẹp đi cái Hội Nhậu chống Mỹ ! Tại các cha thành lập nên nó chào mừng đó.

Ba Tố phủi đất trên đầu:

– Dẹp sao được mà dẹp chú ? Nó làm cữ này rồi là mình tha hồ múa lân tới sáng. Bắt gà làm thêm chớ.

– Ba con lươn bò lển nghển ra ván kìa.

– Ai có u đầu chảy máu gì thì kêu bác sĩ có sẵn ở đây.

Là nói giọng quạu đeo:

– U đầu chảy máu gì. Nó cho một trái ngay nhà…

– Thì hốt thịt xương về làm ruốc, lo dữ hôn cô xã đội ?

Một giọng nào phát ra từ hầm, giống như giọng Năm Đùng.

– Ê lên! tiếp tục chiến đấu chớ nằm vạ ở dưới đó sao cha!

– Hổng giỏi hô Hội Nhậu muôn năm nữa đi !

Chương 38
Vành đai thép:
Chục rưỡi hang ếch!

Qua một đêm thức trắng, tôi ngồi sau bọt-ba-ga như một bao cát cho Một Sơn đèo đi. Con đường ngoằn ngoèo vạch qua rừng Hố Bò rồi ra Trảng Bàu Bưng băng xuyên Sở Đất Thịt tới Xóm Trại Bà Huệ . Hai đứa ngồi nghỉ tại bìa Rừng Làng gần chợ An Nhơn. Một Sơn chỉ vào lùm tre dọc đường lộ 7, bảo nhỏ:

– K10 của ông Năm Lê nằm ở chỗ đó, anh Hai!

– Sao ổng ở gần đường lớn quá vậy? Ổng không sợ tụi Trung Hòa thọc huyết sao?

Một Sơn lắc:

– Tụi Trung Hòa chỉ bung tới bìa ruộng Gò Nổi, ít khi đi xa hơn. Ở Lô Sáu vững lắm. Ở vùng này chỉ sợ Mỹ đổ chụp mà thôi. Ở đó mấy ông dựa vào địa đạo của thằng Ba Xây xã đội phó xã An Nhơn.

– Nó có địa đạo khá lắm à?

– Thì cũng dăm ba hang, mỗi hang vài chục thước. Nếu gặp trường hợp cấp bách thì chui xuống đỡ chừng mười người trong vòng nhiều lắm là một ngày thì được.

– Rủi nó chốt trên miệng thì sao?

– Chưa bị lần nào nên chưa biết anh à ?

Hút tàn điếu thuốc, hai anh em lại tiếp tục cuộc hành quân. Một Sơn đạp băng qua đường 7 xe hố qua đường xe dứa Gót Chàng tới nhà má Ba là phòng thường trực của Ban Cán Bộ. Chín Tiền đã vọt về trước báo cáo rằng đêm qua tôi ốm nên không thể đi được. Chín Tiền lật đật đưa tôi đi ngay:

– Nếu ổng có hỏi tại sao về trễ thì anh cứ nói như thế nghen!

– Công tác gì mà gấp dữ vậy?

– Tôi không biết nhưng thấy ổng có vẻ sốt ruột lắm.

Vừa đạp xe, Chín Tiền vừa kể chuyện:

– Phải chi anh về sớm sớm thì còn ăn sầu riêng măng cụt xứ Gót Chàng đã đời! Bây giờ anh thấy không, toàn là cây cụt đọt, một trái dừa khô cũng khó kiếm. Dân đi hết. Người nào gan góc lắm thì đứng lại nhưng dỡ nhà lấy cột làm hầm. Như vậy mới chịu nổi cà-nông. Nói thì nói vậy thôi vì chưa có hầm nào bị đạn nhểu ngay, chứ rủi nó nhểu trúng thì không biết thế nào !

Chín Tiền dắt xe đi vòng vo qua nhiều mương vũng, dưới nước còn lều phều những mảng chất cháy của bom na-pan kho như bọt nước vàng khè hoặc đen thui thì đến một túp lều.

Chín Tiền rỉ tai tôi:

– Ổng kia kìa.

– Ai ?

– Ông Tám Quang.

Coi cái vẻ khúm núm của ông cán bộ mùa đông mà tôi suýt bật cười. Từ trong lều chui ra một ông nữa. Thế là hai ông. Một béo phị, một gầy như khô cá lẹp. Tôi bước tới đứng nghiêm xưng tên chức vụ nhưng không giơ tay chào theo lối chánh qui. Ai lại chánh qui nửa mùa như vầy được. Hai ông đều mặc đồ bà ba mốc cời. Không có quân đội nào ăn mặc như vậy. Tám Quang vỗ vai tôi cười hắc hắc:

– Cậu còn mang tác phong chánh qui quá hả. Tốt lắm! Tôi đang chờ cậu sốt cả ruột đây.

Tôi nhớ ông hồi 47 trẻ quá. Giảng viên trường chánh trị mê chị Dưỡng, con gái ông Ba Dương… Bây giờ đầu bạc trắng! Đứng bên cạnh ông là một ông già gầy gò lưng khom khom, miệng móm mặt mũi hom hem. Tám Quang giới thiệu với tôi:

– Đây là anh Tám Hà, phó phòng, mới về nhận trách nhiệm. Cậu ở đây một chốc Chín Lộc sẽ đến rước cậu về làm việc. Cậu có quen Chín Lộc không?

– Dạ có nghe tên.

– Ổng là chính trị viên kiêm Trưởng ban Quân Báo. Còn Sáu Huỳnh là Phó Ban.

Tám Hà cũng vỗ vai tôi:

– Bỏ ba lô trong hầm đó nghỉ chút. Có động thì hầm ngoài vườn kia. Còn nếu nó chụp thì có người dắt mình đến chỗ lặn. Vậy là yên tâm rồi chứ?

– Dạ, mấy anh sao tôi vậy. Tôi cũng quen vùng này ít nhiều từ 1946.

– Ủa, dữ vậy lận à.

– Dạ hồi đó tôi đi với anh Ba Tô Ký . Hồi năm ngoái tôi cũng có về đây một thời gian ngắn.

Tôi đứng hầu chuyện với ông Phó phòng chưa ráo mồ hôi thì một cô bưng mâm trà đi qua mặt. Tám Hà bảo:

-Đi xuống hầm uống trà.

Tám Quang đã ngồi sẵn ở bàn. Ông hỏi tôi ngay:

– Cậu coi tôi có khác trước nhiều không?

– Dạ không khác bao nhiêu. Tôi thấy anh là nhận ra thủ trưởng liền!

(Đã tiếp xúc nhiều lần với mấy ông lớn, nên tôi thuộc tâm lý của các cha. Ông nào cũng già khú rồi nhưng muốn cho mình nói trẻ, để các ổng tưởng rằng mình còn có khả năng với các bà Bành.)

Tôi tiếp:

– Hồi ở Rừng Sát thủ trưởng khoảng ba mươi.

– Gọi bằng anh cho thân mật!

– Lúc đó anh Hai Huy làm chính trị viên Phân khu miền Duyên Hải còn ông Năm Hà, tức Dương văn Hà em ruột ông Ba Dương, tức là Dương văn Dương làm Tư Lịnh. Anh làm giảng viên Trường Quân Chính đóng ở Chiến khu Bà Bông Vũng Gấm. Lúc đó anh hay mặc áo ba bà, tay rộng theo kiểu các nhà chính trị thời bây giờ. Còn tôi ở trong Ban Rùm Beng của Trung Đoàn 300 Dương văn Dương đi lưu động khắp miền Duyên Hải để diễn kịch và hát cho Vệ quốc đoàn nghe. Ban này có đến hát ở Bệnh Viện ông Bảy Viễn, trường Quân Chính của anh và các Chi Đội thuộc Bình Xuyên. Hồi đó anh Ba Thắng làm tiểu đoàn trưởng trong trung đoàn 300.

Tôi dẫn chuyện đến chỗ giáp mối giữa hai ông Thắng và Quang thì ngừng lại. Tám Quang tiếp ngay:

– Ảnh đã điện cho tôi cách đây một tuần lễ, nói tóm tất về công tác của cậu. Cậu sẽ móc thằng em làm đại úy Thủy Quân Lục Chiến. Chắc cậu rõ rồi chứ gì?

– Dạ rõ .

Tám Hà đã rót trà, Tám Quang vừa dứt lời thì ông mời ngay. Ông nói ngang ngang không có vẻ tôn trọng cấp trên là Tám Quang trẻ tuổi hơn ông:

– Mời bà con làm liền cho ấm bụng!

Tám Quang cũng lễ độ mời lại. Cả ba uống trà. Tám Quang chép miệng:

– Gần hai mươi năm mới gặp lại cậu. Nếu không có thơ Ba Thắng thì tôi không nhận ra cậu. Mới là Đồng Tử Quân nhõng nhẽo mà bây giờ đã là giáo viên sĩ quan Pháo Binh.

– Thì cũng bằng tuổi anh hồi đó, anh Tám.

Tám Quang ló đầu ra hầm la:

-Mấy đứa con gái coi chừng khói lên um đó.

– Ủa, ở Trường Sơn sợ khói, ở đây cũng sợ khói nữa sao anh Tám?

– Ở đây còn sợ hơn ở Trường Sơn nhiều vì Đồng Dù và Trung Hòa gần lắm! – Rồi ông la – Cơm nước có gì dọn lên đi, trưa rồi. Nó có đổ chụp mang bụng đói.

Hai cô gái mặt tròn nhưng xanh xao bưng cơm lên. Tôi liếc sơ thấy có đậu phụ và đậu phộng kho. Hai thứ đậu họp lại chẳng ra cái thứ gì.

Tôi ngồi trước mâm cơm cầm đủa mà ngẩn ngơ. Không phải vì sự gian khổ trong thời chiến (ăn thế này có gì là khổ. Còn sướng hơn dân xã nghĩa miền Bắc bội phần là cơm trắng.) mà vì cái sự bịp đời của ông Trưởng Phòng Chính Trị Quân Khu. Ai ai cũng biết rằng bà má của ông vừa vô thăm và cho con tạm 80 ngàn đồng, vì chưa kịp thu lúa ruộng. Ngoài ra các thứ cầm tay khác, như xe đạp Pờ-rô, đồng hồ, radio, bút máy và vàng lá… Cái xắc-cốt của ông Trưởng phòng treo trong góc hầm kia không chỉ đựng kế hoạch chính trị mà còn đựng bạc Sàigòn. Vừa rồi, để thi hành công tác đón tiếp các nhà báo Liên Xô, Pháp, Úc, ông trưởng phòng đã phải đứt từng đoạn ruột đưa cho Tư Linh chiếc xe Pờ-rô mới tinh để đèo thằng Bọ Chét nặng tạ hai, và xùy ra một số bạc chiêu đãi các em dũng sĩ để Tư Linh và tôi đạo diễn cái màn địa đạo chiến cho hắn quay phim trình bày ra quốc tế.

Thế nhưng cơm nước đãi chú em đồng tử quân thì toàn là đậu kho. Nhìn mâm cơm này ắt hẳn những xấp bạc Sàigòn trong xắc-cốt ngứa ngáy lắm thì phải. Nuốt những miếng cơm nhai với đậu phụ đậu phộng như kéo chà tre qua cổ mà tôi nhớ bữa tiệc của Hội Nhậu chống Mỹ tối qua. Thịt gà, lươn um còn thừa bộn bàng. Rượu thì đủ để đổ lỗ mũi năm ông bác sĩ như Tư Chuyền .

Và tôi liên tưởng tới bác Hù vô giàn kính yêu. Bác có hai loại thuốc bỏ túi: một là Craven A, hai là thuốc lá quốc doanh sợi đen như cứt chó. Thằng nào khỏe mấy hút hết một gói cũng phải đi nhà thương ho lao. Craven A thì dùng để hút trong nhà sau, còn quốc doanh thì để dành mời cán bộ. Cũng như thằng nhà thơ bịp Tố Hữu, thằng phê bình mạ kền Hoài Thanh ca ngợi bữa cơm đạm bạc của bác chỉ có bát canh rau và hai con cá lòng tong kho! Vâng, bác ăn xong rồi thì nốc nước sâm đặc Triều Tiên và xơi “bòi” cừu dái bò Mông Cổ, Hoài Thanh và Tố Hữu làm sao ngửi được?

Tám Quang cũng thế. Cháu của bác mà ! Có điều lạ (nhưng rất thông thường) là ở Các Cơ quan từ R xuống khu, các ông thủ trưởng đều dùng thiếu nữ để phục vụ cho mình. Đám nữ sinh Sàigòn ham theo Cách mạng vô khu bị nhốt trong cái chuồng đầy những cọp già và đói thịt mông thịt đùi. Xuống đến trường Trung Sơ cũng thế. Bây giờ lại cũng thế, cũng cứ muôn năm như thế.

Để tỏ vẻ biệt đãi ông cán bộ trẻ và quen biết cựu trào, Tám Quang lấy cái nhạo kiểu (chắc của chủ nhà bỏ lại) và mấy cái ly pha lê (không rõ lượm ở đâu) rót rượu mời:

– Anh Tám và chú em làm chút. Có thứ này tôi mới bớt oải gân mà làm việc và chạy mà lủi và ăn cơm thấy ngon hơn.

– Anh Tư Khanh đi đâu cần vụ cũng mang theo trong ba lô cho ảnh.

– Cậu còn trẻ uống vô coi chừng nguy hiểm.

– Dạ không sao ! Rượu của anh Tư ngâm cả lộc nai bao tử nhím mật gấu tôi uống vô cũng không thấy nguy hiểm gì hết.

Tám Quang cười:

– Thứ lộc nai, trẻ như cậu uống vô coi chừng nứt da đấy.

Tám Hà cười khẩy:

– Cậu ta không có em nuôi hay chị nuôi thì lấy gì mà nguy hiểm.

Tám Quang có lẽ hơi thấm rượu nên đỏ mặt làm thinh. Đang cưa qua cứa lại thì có tiếng đờn cò của con đầm già lửng lơ trên không trên mé sông Sàigòn. Tám Hà chưa quen thủy thổ hỏi .

– Nó ở đâu tới vậy?

Tám Quang buông chén cơm đứng dậy ló đầu ra miệng hầm rồi thụt vô bảo.

– Chắc từ Đồng Dù ! Hổng tốt rồi anh Tám! Nó phăng phăng đâm thẳng tới đây.

– Mấy đứa có coi chừng khói kỹ không?

Tám Hà tái mặt hỏi. Tám Quang không đáp. Ông ta quơ súng ống và xắc-cốt chui ra hầm.

– Dông anh Tám và chú Lôi !

Tám Hà cũng nhanh tay lẹ chân không kém, tóm thu đồ đạc và vọt theo. Ba người chạy ngang bếp, thấy bếp còn bốc khói, Tám Quang dậm chân:

– Dập đi..i!

Tôi lót tót theo sau, tay còn bưng chén và cơm, mắt ngó con đầm già trên trời. Một tiếng quát không biết của ai.

– Nó quần trên đầu không thấy sao?

Tôi đi tới cái hầm ở bên gốc me thì thấy hai cô đang đứng nép vào thân cây và cười khúc khích:

– Bộ chưa ăn hỏa tiễn lần nào sao ông rờ?

Tôi vẫn ăn cơm như thường, cười đáp:

– Hoả tiển thì chưa ăn còn rờ thì cũng chưa!

– Bộ ở trển không có đầm già à?

– Toàn là đầm trẻ .

Tiếng hỏa tiễn xé không khí khào…ào…khào…ào nghe hơi gần. Một cô hỏi.

– Nó bắn đâu vậy?

– Đâu phía ngoài Cây Điệp – Cô kia đáp – Xa lắc !

– Chỉ hơn hai cây số, xa gì ! Mình ở đây hay lên hầm bác Tám?

– Ở đây thí thân với nó. Bom đìa thì hầm nào cũng vậy thôi.

Thấy tôi lua hết chén cơm, một cô hỏi:

– Anh ăn nữa hông, em xúc thêm cho.

Tôi gật. Cô gái đến lấy chén chạy vô bếp rồi trở ra với cơm và thức ăn đưa cho tôi. Tôi vừa ăn vừa ngó chừng. Hai chiếc thần sấm lao xuống, tiếng rít xé trời. Bom nổ rung rinh vách hầm. Bụi đất đổ rào rào. Tôi ném ba lô xuống đất ngồi lên, hỏi:

– Hai cô không sợ à?

– Kêu bằng em coi được không? Em tên Thảo, con nhỏ đó tên Thơi. Bị hoài nên cũng bớt sợ.

– Nhà này sao còn có cái nền trơ vậy?

– Chủ nhà dỡ xuống, bỏ cột kèo dưới mương, rồi ra ấp chiến lược. Cả Xóm Gót Chàng dài ra Xóm Bưng hễ thấy nhà là đầm già phóng hoả tiễn. Có người chỉ dỡ nhà trên, còn giữ lại nhà dưới để ở nhưng lại không ở được rồi cũng ra ấp chiến lược luôn.

Thảo thấy tôi tém chén, hỏi:

– Ăn nữa thôi, đưa em bới.

– Tôi ăn hết nồi không còn cho mấy em.

– Ừ ăn hết thì ăn. Tụi em nhịn cho eo eo cái mình một chút.

Tôi để chén đũa xuống đất, quệt miệng rồi lấy thuốc rê ra hút
(chơi theo kiểu cụ Hồ. Gói Capstan tôi còn trong túi nhưng trước mặt thượng cấp thì tỏ vẻ đạo đức.)

Phì phá khói thuốc, nhìn hai cô em, tôi sực nhớ đến Ba Ánh trên R. Dân Bình Khánh, em của Nguyệt đồng tử quân. Thời gian đi nhanh quá. Cô Nguyệt đã có chồng con đùm đề . Cô em giống hệt chị. Không biết bao giờ mới gặp lại nhau và về nhà ăn tôm nướng với nàng. Tôi lại nhớ vụ khi Tà Bon ăn B52 hôm nọ mà đau lòng. Bức thư Ba Ánh tôi nhận được sau bức thư Thanh Tuyền hai ngày. Ánh cũng nói cái kiểu đi công tác xa, vô bệnh xá. .. Sau vụ đó, không ai được gởi thơ. Ngoài phong bì đề người gởi là Ba Thắng. Bên trong, Ánh nhắc lại công tác. Dưới cùng có mấy dòng chữ của Ánh. Bức thư tôi vẫn còn giữ trong ba lô, bao nhiêu chữ của Ánh tôi thuộc lòng… Anh ơi, em buồn lắm! Không biết anh ở đâu?…Tôi cũng không biết tại sao Ánh thoát chết và ở đâu bây giờ.

Thảo hỏi tôi:

– Anh về công tác văn phòng hay ra đơn vị chiến đấu?

– Anh chưa biết. Tôi đáp và hỏi lại – Cây Điệp có gì mà nó ném bom?

Thơi đáp:

– Nó có nhiều bom nên đụng đâu thả đó. Tại ngả ba đâu có nhà cửa gì. Chỉ có con đường đi thẳng xuống Sở Cao Su Bàu Lách rồi có lối rẽ ra đường 15 xóm Bà Thiên gần Sở Cao Su Đỗ Cao Lụa toàn là cây cao su già . Có lẽ nó thấy cây cối um tùm ở bìa Xóm Bưng gần nhà chị Bảy Mô nên nó muốn cào cho trống. Bên này bây giờ cũng y như An Thành. Ở bển lớp khu trục, lớp bị trực thăng chuồn chuồn lồng kẽm (trực thăng của Tân Tây Lan) chỉ huy pháo bắn tan nát hết. Bà con chạy xuống Bình Dương không còn nhà nào.

– Sao em biết rành vậy?

– Em ở bên đó chớ đâu phải dân Củ Chi.

– Ở bên đó mà vùng nào?

– Gần tiệm Dì Ba Láng, anh biết không?

– À! Dì Ba của tôi đó.

– Nói thiệt chơi đó ông Rờ?

– Thiệt mà ? Má tôi là má Hai ở Hố Bò .

Thơi đấm lưng Thảo. Hai cô cười khúc khích. Thảo nói:

– Vậy thì anh mau lên chân lắm.

– Tại sao?

– Anh hổng biết tại sao à?

– Không – Tôi ngơ ngác.

– Vậy anh kêu ông Ba Xu bằng gì?

– Bằng Thầy Xu.

– Chớ hổng phải là Dượng Ba à ?

Tôi vỡ lẽ ra rồi. Thơi cãi lại:

– Anh này không phải con má Hai ở Hố Bò đâu.

Tôi nói.

– Con nuôi chớ không phải con ruột.

Thơi “A ? ” lên một tiếng to rồi im bặt. Tôi ngạc nhiên nên hỏi gặn. Hồi lâu Thơi mới nói:

– Anh vừa đi với cô xã đội Là tới nhà Chín Khuân phải không?

– Phải.

– Chín Khuân bà con với tôi, ủa với anh cô cậu của tôi. Ảnh về phép gặp Chín Khuân hôm qua. Chín Khuân bảo ảnh: con xã đội nó đi cặp kè với ông nào bảnh lắm. Nói vậy ông đó là anh đây chớ gì. Hèn chi ! – Rồi Thơi tiếp – Chị Nhã Nam cũng quen với anh hả? Chị ấy ở đây mà. Chỉ tới đây làm việc với bác Tám rồi đi. Ít ngày lại trở về.

Tôi nghe hơi bất ổn trong lòng. Những chuyện dọc đường dọc sá của mình đều có đường dây móc nối với nhau hết. Không khéo đây rồi dư luận lan ra. Tôi nói:

– Hôm qua tôi đi quan sát địa hình với cô xã đội phó, dọc đường có gặp nhà báo Nhã Nam, chớ đâu có chuyện gì mà hai cô hỏi gắt vậy?

– Thì tụi em đâu có nói chuyện gì..ì!

Thảo quay lại hỏi:

– Anh coi con gái An Thành có khác con gái Củ Chi không?

– Khác khác nhưng không biết khác chỗ nào.

Thơi cướp lời:

– Chỗ nào cũng khác hết. Con gái Củ Chi đẹp hơn con gái Bình Dương.

-Thiệt à?

– Để khi nào anh gặp chị Bảy Mô, Tám Phụng, Tám Mang coi anh có lé con mắt không mà ?

Tôi đóng kịch:

– Tôi nghe đồn nữ dũng sĩ Bảy Mô lâu rồi mà chưa gặp.

– Chỉ biết đờn nghe anh, không phải lủi vô đít ông Táo như tụi này đâu. – Thơi tiếp – Anh mà xuống Phú Hòa thì anh phải biết. Con gái ở đó…

– … đẹp như con Thơi vầy nè.

– Ủa Thơi ở Phú Hòa à ?

– Dạ. Công trường 9, d7, d2 về đóng ở đó mắc rể bộn hè ! Sụp hầm chông cũng kha khá . Anh muốn đi em chỉ đường cho, em giới thiệu cho nữa.

– Thôi ! Anh có vợ rồi !

– Láo đi ông nội! Anh có vợ thì má Hai nhận anh làm con nuôi để làm chi?

– Con nuôi là con nuôi chớ để chi?

– Con nuôi hóa ra con rể mấy hồi phải không?

– Nếu anh không chịu thì em giới thiệu cho chị Bảy Mô hay chị Tám Mang.

– Bậy nào, chị Tám Mang người ta có chồng rồi.

– Chỉ vừa hứa với anh Sáu Hoa, anh của chị Nga bệnh xá của ông Tư Chuyền thì bị thương cụt hai chân về R an dưỡng còn chỉ ở lại đây tìm mối khác. Vậy anh vô cũng tốt chớ có sao.

Câu chuyện hào hứng làm cho chúng tôi quên cả phản lực nhào lộn trên trời. Không biết nó đã ném hết bom chưa mà con đầm già cun cút lủi đi trong mây xám.

Một chú bé chạy đến:

– Bác Tám bảo anh ra ngoài hầm làm việc, còn chị Thảo nấu nước đem ra.

Tôi đứng dậy theo chú bé, Thơi nói vói theo:

– Nhà em ở xóm Phú Mỹ gần thất Cao Đài kế bên nhà chị Bảy Mô đội trưởng dũng sĩ nghe! Khi nào có dịp ghé đó.

Cậu bé quay lại:

– Chị ở đây mà bảo ảnh ghé nhà làm gì? Há há…

– Cái thằng lãng dang nà !

Cậu bé nói với tôi:

– Bác Tám Quang cưng hai bả dữ lắm. Bà Má của bác mới vô cho tiền, bác xuất ra mua may cho hai bả mỗi người hai bộ đồ láng mướt còn em chạy hiệu mòn chân chỉ có cái quần tiều và cái áo thung ba lỗ. Toàn phòng này có hơn hai chục bà , bác lựa hai bà số dách đem về đây. Anh chưa có chị thì đặc cọc với bác Tám trước đi. Con gái nuôi của ổng đó. Ở đây ông lớn nào cũng có con nuôi mà con gái mới nuôi, còn trai như tụi em là con ghẻ. Hí hí…

Tôi đỡ đòn dùm cho thượng cấp:

– Mấy ổng đáng chú đáng bác cả rồi, đừng nói vậy, em!

– Anh khéo che đậy. Bên K10 Tham mưu còn động trời hơn nữa.

– Chuyện gì động trời?

– Mấy bác hay vỗ mông mấy chị lắm. Mấy chị lom khom thổi lửa mấy bác đi qua là vỗ bép một cái. Mấy chị bất mãn nhưng không dám nói. Có một chị đi nói tùm lum ra, tức thì bị đưa đi phục vụ chiến tường (cậu bé nói đớt) Phước Long. Đi ga đó là kể như hết có thấy mặt tía má ông nội bà nội ông ngoại bà ngoại nữa đi! – thằng bé lãi nhãi – Có bác nói: cha con nhỏ này làm dâu tao được đó. Mai mốt tao con tai tao cho.

Rồi thằng bé đọc một lô danh sách các con dê cụ! Tôi nghe mà té ngửa. Trong số đó có lắm ông quen. Đứng đầu bảng là Năm Lê tức là Sơn Tiêu chồng bà Hai Mặn tôi gặp ở trạm 66 R hôm nọ . Bị Sư Tử Hà Đông quơ hụt, xuống đây với chức trưởng phòng, me xừ vẫn chứng nào tật nấy. Kế đó là ông Bê Ka Hai Phán, ông dưa hấu Bảy Thành, xếp kế là ông Năm Eo, Ba Hải (không phải Ba Hải ở U80 đi R với tôi) Cầm đèn đỏ là Sáu Nâu và Năm Cai đều là những chú bác đáng kính của các chá… au cả !

Thằng bé giao tôi cho hai bác xong thì trở ra. Tôi khom người để chui vào hầm. Cái này rộng hơn cái trong nhà lại có lỗ thông hơi. Vào bên trong không đến nổi tối lắm. Lại có ngách trổ ra, đề phòng khi hầm sụp thì có lối thoát thân.

Tám Quang trỏ cái ghế mời tôi ngồi còn hai ông thì ngồi ngang nhau trên chiếc vạt cau để sát vách hầm. Ở góc hầm dựng chiếc xe Pờ-Rô trên cao ngay đó máng cái xắc-cốt. Ông hỏi tôi:

– Cậu là dân nhà pháo, cậu xem cái hầm này có chắc không?

Tôi nói ngay:

– Không chắc đâu anh Tám.

Tám Quang nhảy nhổm lên.

– Tại sao?

– Không chịu nổi pháo 155 và 175 đâu.

– Tôi cho lót tre, trúc trên nóc rồi đổ trên một thước đất. Thấy chưa an toàn tôi cho thêm năm tấc nữa.

– Nhưng cột và đà ngang toàn là cây dừa cây cau là hai loại cây ruột rổng xốp mau mục.

– Ờ ! ờ cậu nói tôi có ý gẩm. Nhưng mà ở đây tìm không ra cột nhà, nên dùng ba cái cây bị bom pháo phạt ngã. Chỉ mấy ông Tư lịnhh ở An Phú mới dám móc cột nhà của dân lên cưa ra làm cột hầm rồi trả tiền chớ tụi này đâu có tiền?
(Tám chục ngàn để làm gì?)

Tám Hà lúc nào cũng châm chọc hoặc chỏi Tám Quang, cười:

– Hầm là để che chở khỏi ba cái miểng thôi anh ạ. Chứ khi bom rớt ngay thì chẳng có hầm nào chịu nổi. Trái 50 ký cũng khoan xuống ít nhất hai thước, bom đìa thì bê tông cũng không ăn thua.

Tám Quang ngồi im. Thấy thế tôi gỡ gạt cho ông:

– Anh dán giấy nhật trình trên vách coi sạch sẽ giống tường quá !

– Ừ! nhưng mà lũ bò cạp núp trong đó chơi tôi mấy phát đau điếng. Mấy đứa con gái cũng bắt chước tôi nhưng thấy tôi bị nạn, tụi nó gỡ hết ráo. Chắc tôi cũng sẽ gỡ.

Tám Hà trỏ vào tấm giấy ở đầu giường, cười:

– Gỡ thì gỡ nhưng chắc ông chừa tấm đó để giải trí.

Tôi ngó kỹ thì thấy tấm hình con đầm mặc xì líp xú chiên lòi cả ngực cả đùi. Tôi phục tài châm biếm móc ngoéo của ông Tám Móm lắm lắm. (Có lẽ ông không ưng ngồi ghế thấp hơn anh chàng trẻ tuổi hơn ông. Khi ra Bắc ông đã là chánh ủy Trung đoàn bây giờ phải ít nhất là Tư lệnh hoặc chánh ủy Sư đoàn như Năm Sàigòn hoặc Sáu Khâm, đằng này ở trên chỉ cho chức phó Phòng chánh trị!)

Tám Quang quay qua gọi thằng nhỏ bảo:

– Cháu xuống bếp hỏi mấy đứa nhỏ coi còn kẹo bánh gì không đem lên uống nước.

Tám Hà rót nước hớp liền, không mời tôi lẫn Tám Quang. Tám Quang vô đề ngay:

– Chốc nữa Chín Lộc sẽ bàn với cậu. Còn vấn đề tôi muốn nói với cậu bức thiết lúc này là vấn đề đạo đức của người cán bộ. Cậu nên biết là mấy ông khu ủy khu này đều là dân ở lại sau 54. Họ thành kiến với Mùa Thu ghê lắm. Ở trên R không có bị cái nạn đó vì toàn là Mùa Thu nên trong sự sắp xếp cán bộ không có ai phân bua mùa thu mùa đông. Ở đây Mùa Thu đụng nhằm Mùa Đông mệt lắm. Các ông ấy cho rằng các ổng dọn ổ, mình về đẻ.

Tôi kêu lên:

– Có vậy nữa à anh?

– Ở trên R thì có vấn đề gốc Dưa và gốc Rau, nhưng không rõ lắm vì Rau nắm cả ngọn ngành. Tôi và anh Tám là gốc Eo nhưng eo tôi chiến đấu ở Nam Bộ thành ra anh em coi tôi là gốc Dưa. Đọ ! Rau Dưa ở đây vẫn thành vấn đề. Bên cạnh đó lại còn vấn đề Thu-đông. Điều qua tiếng lại rầy tai mệt óc lắm chớ không khỏe đâu. Lệnh ở đây đưa ra cấp dưới chỉ thi hành chừng 50% có khi bỏ quên luôn. Hỏi tại sao, họ bảo là hoàn cảnh khó khăn không khắc phục được. – Anh nói lan man quên cả vấn đề nêu ra lúc đầu – Cũng may, anh Ba Xu phó bí thư khu ủy là phu cao su lại sinh sống ở đồn điền thời trước và chiến đấu ở Nam Bộ nên tiếng nói của anh coi như trung dung hai miền.

Tám Hà chêm vào.

– Trung dung không phải là ba phải nghe !

Câu nói làm cho Tám Quang nhớ rằng mình đi xa đề . Anh trở lại:

– Mùa Thu đi về làm tiếng xấu nhiều quá. Dân mất tín nhiệm. Còn bên mùa Đông thì nhân đó mà củng cố thêm thành kiến. Vụ Sơn Tiêu trên R ở đây giữ kỹ lắm, nhưng rồi cũng không bụm được. Tánh quân phiệt là đánh lính bớt đi nhiều nhưng vụ kia lại tái phát.

Tám Hà lại chọt:

– Thời khí mà tái phát là kể như đi luôn theo ông bà .

Tám Quang làm như không nghe:

– Tôi tin cậu, tuy còn trẻ nhưng không vô Ê kíp của ông Tiêu. Tình hình này căng lắm. Giặc đánh mình văng không đau, mình tự làm mình ngã mới đau. Thời kỳ chiến tranh đặc biệt đã qua rồi. Bây giờ là chiến tranh cục bộ. Đảng chủ trương giữ triệt Mỹ ở miền Nam không cho thò ra Bắc. Ở ngoải, chúng chỉ leo thang bằng không quân là cùng. Nếu chúng đưa quân ra Bắc thì ông anh Ba mình sẽ vu hồi đưa đại quân xuống vùng tam biên cắt ngang đường về của chúng. Chắc chắn chúng không dám liều lĩnh, đúng y như anh Sáu (Vi) nhận định. Tháng ba vừa rồi, Mỹ vô Đà Năng. Thằng chỉ huy của tụi nó tuyên bố sẽ kéo dài biên giới Mỹ đến vĩ tuyến 17. Riêng ở cửa ngỏ Sàigòn thì chúng đóng chốt Đồng Dù và Dĩ An đưa hai Sư đoàn Bộ binh vào Nam Bộ để giữ chặt cửa vào Sàigòn. Quân khu ta là tuyến đầu đánh Mỹ, là nơi chạm trán với lực lượng Mỹ ác liệt nhất. Chúng ta đã không chụp được thời cơ năm 63 hai anh em Ngô Đình Diệm bị giết.

Tám Hà lại đâm hông:

– Lúc đó nếu ở trên sáng suốt thì bọn tôi chạy việt dã chắc là khỏe cặp giò nhái lắm.

Tám Quang chữa ngượng:

– Dám lắm chớ anh Tám. Các cơ quan đoàn bộ đã quảy soong chão nồi ơ chạy ra đường nhựa rồi kia mà . Còn bộ đội khu thì đã phóng tới Suối ông Hùng rồi kia mà. Các Q 761 – 762 – 763 của công trường 9 (Q là Trung đoàn) đã thọc về tới Củ Chi, Bến Cát, Dầu Tiếng rồi chớ đâu có đùa. Đã tới quốc lộ 1 và đường 8 rồi, nhưng được lệnh trên R ngưng ngay và quay trở về căn cứ cũ cấp tốc. Và phải ém quân kỹ hơn trước.

Tám Hà không nói gì, chỉ cầm cái tách hắt cặn trà ngang qua mặt Tám Quang. Tám Quang tiếp.

– Các Q này nằm lại Củ Chi giúp đỡ địa phương mất một năm. Cho đến cuối 64 mới kéo ra đánh Phước Long, Đồng Xoài Bình Giả .

– Bị tiêu hao quá nặng ở các trận này cho đến bây giờ còn choáng váng. Nếu hôm nay có một vụ như thế ở Sàigòn thì có còn ai mà..chạy nước rút nữa. – Tám Hà mở nút chiếc bình thủy rót nước vào bình, rót trà ra và tiếp – Cơ hội như vậy khó bề có nữa.

– Mình phải tạo ra chớ anh Tám.

Hèn chi hồi mới về trường pháo, tôi cũng đã nghe con Tiến con Huê kể chuyện vác soong chảo chạy về Sàigòn, tôi không tin, tôi cho rằng chúng nó châm biếm cách mạng. Tôi dọa phê bình chẳng ngờ chúng nói thật.

Tám Hà đưa ra nhận định nghiêm chỉnh, lần đầu từ sáng đến giờ:

– So với tụi BMEO (Brigade Mobile Est-ouest: Lữ đoàn ứng chiến Miền Đông và Miền Tây) thì quân đội Mỹ cũng không tinh nhuệ hơn đâu, nhưng so về mặt vũ khí thì Mỹ hơn cả trăm lần. Cho nên anh Sáu chủ trương nắm thắt lưng Mỹ mà đánh là vậy. Chứ nếu vạt ra xa thì sẽ ăn bom pháo của nó mà chết ngay. Cậu về đây nếu chưa thấy thì sẽ thấy, nội cái nó dùng bom pháo thôi chúng ta cũng đã rất gian nan trong việc đóng quân, chuyển quân rồi, chưa nói đến tác chiến. Cậu rồi đây sẽ chỉ huy bộ binh. Sự khôn ngoan của người chỉ huy trên đất Củ Chi này không nằm trong sách Trì Cửu Chiến, Du Kích Chiến của Mao Trạch Đông nữa. Chiến thuật Dao mổ bò, lấy thịt đè người, chặt đứt ngón tay hơn đánh dập một bàn tay đều không thể áp dụng được với chiến thuật trực thăng của Mỹ được nữa. Đây, tôi lấy ví dụ: Chúng ta tấn công căn cứ X. Nó không cần đối phó mà nó cho đổ quân bằng trực thăng ngay sau lưng ta. – Tám Hà cười khẹc khẹc – Ngay như Hoàng Thọ có tái sinh cũng không dám liều nữa. Hồi đánh Tây, Hoàng Thọ nướng sạch quân rồi trở về ngồi ăn cơm tỉnh bơ. Mấy bà má hỏi bộ đội đâu hết rồi. Thọ bảo còn nằm ngoài trận. Sao không kêu chúng nó về. Thọ bảo: không về được. Có nghĩa là rụi tèng hen cả đơn vị. Nhưng y không nao vì y còn sống. Chứ bây giờ gặp Mỹ thì y cũng nằm luôn ngoài trận với lính chớ đừng hòng về ăn cơm.

Tám Quang định sửa mũ mấn Tám Hà, nhưng ông này nói tiếp một cách hùng hồn:

– Các nhân tố lớn nhất của chiến tranh du kích là Thiên Thời, Địa Lợi và Nhân hòa, cậu rõ quá rồi. Nhưng về đây cậu sẽ chỉ thấy một bất lợi thôi, cái bất lợi lớn nhất là Nhân Hòa. Dân vùng Giải Phóng ra ấp chiến lược hết trơn rồi ! Tôi gặp ông chủ nhà này. Ổng ra ấp chiến lược rồi trở về nhà lấy đồ đạc để trở ra. Thấy tụi tôi khổ sở quá, ổng khóc, ổng nói: “Tôi thương mấy em lắm, nhưng tôi phải ra ngoài kia. Trong này bom đạn bời bời, tôi không sống nổi. Chừng nào mấy em giải phóng xong thì tôi trở về . ” – Tám Hà cười chua chát – Như thế đó !

Rồi lặng im. Tôi giả đò hỏi:

– Mình còn địa… lợi là địa đạo, anh Tám.

Tám Hà phì cười:

– Địa đạo không phải là địa lợi của ta đâu cậu à.

– Tại sao vậy, thưa anh.

– Trước nhất mình không dám xài nó nữa. Mà cũng đâu có nhiều như trên đài giải phóng và đài Hà Nội ! Kẹt lắm mới phải chui. Nhưng Bộ Tư Lệnh sẽ ra một quyết định cho các lực lượng võ trang không được xuống địa đạo nữa.

– Ủa, tại sao vậy anh? Mình không dùng địa đạo chiến nữa à ?

Tám Hà tiếc Tám Quang. Tám Quang nói ngay:

– Địa đạo chiến thì giỏi lắm cũng như các trận Tư Linh đạo diễn cho thằng Bọ Chét quay phim lần trước. Nay mai cậu sẽ biết địa đạo là cái gì.
(Tôi cười thầm: con đã nắm chắc lâu rồi các bố ơi!) :

– Xã đội bảo họ đưa cả làng xuống dưới đó được. Trâu bò cũng lùa xuống tuốt.

– Ừ, có đấy ! Xã đội đó đáng được bác Hồ tặng cho huân chương! Mà cậu nghe ai tuyên truyền vậy?

– Ông Hai Thi.

Tám Hà hỏi.

– Hai Thi nào?

Tám Quang trả lời.

– Anh không biết Hai Thi đâu, anh Tám. Hai Thi tức là Nguyễn Văn Thi thời kháng Pháp làm trung đoàn trưởng Trung đoàn đặc công gồm có 12 ban công tác thành lừng danh trong các vụ ám sát hồi 1946-47. Một trong những công tác viên xuất sắc là Chín Heo bị bắt và kết án tử hình. Sau vụ đó Hai Thi định nhảy ra khu bằng xe jeep nhưng trên đường đi, tên tài xế ruột của ảnh lại lái thẳng vô bót Ca-ti-na nộp cho phòng nhì Pháp. Ông ta lên đài Sàigòn nói om om ba cái vụ địa đạo thời bây giờ là như thế.

– Còn vụ địa đạo bây giờ?

– Dạ bây giờ thì tôi chi nghe trên đài Giải phóng và đài Hà Nội.

Tám Hà nhìn thẳng mặt tôi:

– Nếu cậu tin, tôi cũng không trách gì vì đó là đảng nói. Nhưng nếu cậu có sang vùng Bến Cát, Dầu Tiếng, Trảng Bàng là những vùng đất rừng cao hơn mặt Thủy Bình từ 15 đến 25 thước thì cậu sẽ thấy. – Tám Hà móc trong xắc-cốt lấy bản đồ trải ra trên bàn, bảo – Cậu xem đây, một vùng rộng lớn cao ráo như thế sao cấp ủy không động viên dân chúng đào địa đạo, mà chỉ có Củ Chi mới làm. Sự thực, mảnh đất Củ Chi là cái cửa ngỏ án ngữ Sàigòn nên tụi Hà Nội đề cao đủ mọi cách làm cho dân, quân đảng vùng này hăng hái lên, nhào vô xốc tới. . . đưa ngực ra hứng đạn để sau này chúng vào ăn cổ. Chứ đám anh hùng dũng sĩ rởm có được cái xơ múi gì.

Tôi nhìn xuống bàn đồ để có khái niệm về mảnh đất được gọi là I-4 tức Quân Khu 4.

(Cái quân khu này hình thành từ sau cái gọi là Đồng Khởi năm 1960 do bộ ba ông Pháo Huỳnh Tấn Phát phụ trách Hành chánh, Trần Hải Phụng cũng còn gọi là Hai Phụng tức là hai Phón vì ông này sợ Mỹ kinh khủng và Trần Bạch Đằng xếp về đảng. Chưa có Bộ Tư lệnh nào vì không đủ người. Lãnh thổ thì gồm có các quận ven đô Sàigòn Chợ Lớn và nội đô. Các quận ven đô gồm có Củ Chi, Bến Cát, Dầu Tiếng, Nhà Bè, Bình Tân, Thủ Đức, Gò Vấp, Hốc Môn và Dĩ An. Cho đến 1964 mới manh nha thành Bộ Tư Lệnh gồm có ba phòng Tham mưu, Chính trị, Hậu cần do Tư Trường làm Bí thư khu ủy. Mãi đến nay (65) mới có đủ Bộ Tư Lệnh gồm : Trần Đình Xu (tức là Ba Xu) Tư lệnh, Trần Hải Phụng (Hai Phẩm Phó Tư lệnh, Tư Trường Chánh ủy. Toàn bộ là dân Bê Ka, thủ giềng mối lãnh đạo.)

Tám Hà là cán bộ của đơn vị chiến đấu nên có nhiều kinh nghiệm thực tế, còn Tám Quang là tay chánh trị thuần túy, ra Bắc được đi học Trung Quốc, về được đề bạt Chánh ủy một Trung đoàn xe tăng ở hai tỉnh Vĩnh Yên và Phú Yên nên không thực tế bằng Tám Hà . Vì thế khi Tám Hà nói, y không thêm thắt hoặc thọc ngang được.

– Chúng ta sống rất tiếp cận địch. Đây là một tình thế hiểm nghèo. Có thể di chuyển nhanh để tránh biệt kích, nhưng không mang theo những cái hầm như thế này được, cho nên không thể tự bảo vệ mình chống bom pháo. Cho nên đành ở trụ một chỗ, thà bị biệt kích còn bom pháo. Quân khu có phê bình cái H6 của ông Hai Giả rằng ông ta không triển khai được lực lượng. Nhưng khi tôi đến tận nơi thì thấy quả thật là tội nghiệp ông ấy vô cùng. DKZ 75 cối 120, trọng liên 12/8 mà đóng trong vùng này, gián điệp biết được thì chi mười lăm phút là tất cả đều bị hết về Đồng Dù. Do đó họ phải vô thùng rồi đút xuống địa đạo, loại địa đạo miệng rộng không dùng cho người. Cứ chôn miết. Nếu cần chiến đấu cấp thời thì không thể nào đáp ứng được. Mà có đánh rồi vác chạy sao cho kịp trực thăng? Đến đổi bộ binh nhẹ nhàng mà cũng phải phân tán ém quân trong rừng. Lính bị bệnh yếu sức không vận động được, bị thương không có cách cứu chữa hoặc bảo vệ được chiến thương… – Tám Hà đang nói bỗng thở dài – Thằng Tư Chuyền xin có một cái dù Mỹ để che nóc hầm khi mổ xẻ, nhưng ba tháng nay Hậu Cần chưa cung cấp được nói chi các thứ khác?

(Vậy mà Trung ương cứ thúc giục thừa thông xông lên! Có thắng đâu mà thừa!)

– Vậy trước đây tôi nghe danh từ Tam Giác Sắt và mật khu Hố Bò tôi tưởng là ghê lắm.

– Đó là những cái tên do tụi Sàigòn đặt chớ đâu phải do mình. Rồi từ đó mình mới la lên và hù trở lại tụi nó chớ nếu tụi nó làm già thì mình đã nhảy qua hết bên kia sông Sàigòn rồi

Tôi hỏi tiếp:

– Còn cái vành đai Đồng Dù nữa. Nó là cái gì vậy anh Tám? Dân trên R nghe phục sát đất.

– Tôi mới về, để anh Tám trả lời cho cậu.

Tám Hà quay sang Tám Quang nói.. Tám Quang hớp ngụm trà rồi cười tủm:

– Đó cũng lại là cái mồm đánh giặc, cũng như kịch Mượn Mỹ của Văn Công R vậy mà.

Tám Hà trở lại bản tính móc lò.

– Ông này là chú đánh giặc mồm, cậu chưa biết à?

Tôi nói:

– Nghe đài Giải Phóng tôi mường tượng như những chiến hào của Giải Phóng quân Trung Quốc ở Thương Cam Lĩnh.

– Ở đây, trong nội bộ tôi nói cho cậu nghe để cậu học tập cái nghề mần chính trị theo kiểu ông Bảy Phong Vân nghe. Cậu nên rút kinh nghiệm, chớ có lộ bí mật! – Tám Quang tằng hắng kỹ càng rồi cất giọng – Đó là tôi bày đặt cho bọn con Tư Gừng, Bảy Mô – ông rút bút khoanh vòng đỏ rồi tiếp – Đây là Đồng Dù. Cậu xem đây: Từ Truông Viết thuộc xã Phước Hiệp đến Bàu Tròn thuộc xã Nhuận Đức rồi qua ấp Cây Sộp thuộc xã Phú Hòa Đông là bao xa. Nếu động viên du kích thanh niên ba xã đào một vành đai giao thông hào quanh Đồng Dù thì mất mấy chục năm? Ấy là chưa kể các vụ đánh bom pháo làm ngưng trệ sự đào đấp. Tôi biết là từ cái vành đai mồm bay lên thành vành đai thép trên đài Giải Phóng. Ai nghe qua cũng nghĩ là địa đạo bao quanh Đồng Dù dài 200 dậm là vậy đó. Ai cũng tưởng là các dũng sĩ du kích Củ Chi bao vây chặt đến nổi lính Mỹ đi đái đi ỉa cũng phải núp lén. Thật ra đó chỉ là vài ba cái hang ếch thôi ! Mà hễ ếch kêu một tiếng nó dộng một trăm trái cà nông.

Tám Quang cười đắc chí:

– Tôi bảo cậu là phải chú ý khai thác tâm lý địch. Chúng nó hay la hoảng để cường điệu hóa sự gian khổ của chúng, cậu hiểu không? Để tôi kể gốc ngọn cho nghe. Có nước lã mới khuấy được hồ . Số là hồi trước cái Sân Dù này là bãi tập của tụi Sàigòn từ thời Pháp cơ. Du kích thấy chúng nó nhảy dù lơ lửng trên trời thì vác súng ra khía bậy vài phát. Không ngờ đạn trúng một cây dù, một thằng Tây rơi vắt trên bụi tre. Chẳng chết chóc gì, nhưng thói đời nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột cậu hiểu không. Chỉ có mỗi một việc là móc thằng lính xuống đem nó về Sàigòn cho nó uống bia, mai trở lên nhảy tiếp, nhưng chúng nó lại đem xe nồi đồng thiết giáp càn quét và báo Sàigòn được dịp la ong ỏng lên. Thế là một phát súng vu vơ của du kích là náo động tới bên Tây. Chúng nó đem một trung đoàn càn quét khắp các xã chu vi. Nào có tìm ra cóc nhái gì.

Tám Quang thích thú kể ron rót:

– Rồi tới thời Mỹ vô chốt Đồng Dù. Mới tới, các chàng chưa có nhà trại nên căng tăng ra sống tạm, thì gặp tụi thằng Năm Cội con Tư Gừng, Bảy Mô vác CKC ra khía, khuấy rối. CKC làm sao bắn tới Đồng Dù, nhưng trúng mấy thằng Mỹ o gái đem ra bìa rừng mần ăn. Tụi con gái đi dân công, làm du kích nửa chừng bỏ về nhào vô đó làm công kiếm mỗi ngày từ 500 đến 1000. Đôi khi quơ được đồ đạc đem ra bán bừa cho chợ Bắc Hà ngay cửa Đồng Dù đó, lắm cô móc được một anh công tử bột rồi đem nhau ra ngoài rừng. Chẳng may bị bọn mình phục kích, chúng xách quần vừa chạy vừa la vi xi, vi xi. Thế là một vài phút sau pháo bắn, trực thăng quần, có khi một tên Mỹ trầy da thì nó đổ chụp. Tụi du kích mình cứ nổ súng như gởi đạn về làng là thích rồi, không cần biết trúng trật cứ đem vỏ đạn về báo công. Bắn lẻ tẻ không có tiếng vang, ba xã Nhuận Đức Phú Hòa, Phước Hiệp, có khi lôi được cả Phước Vĩnh Ninh phối hợp, cùng nổ một lúc. Phước Vĩnh Ninh bị ấp chiến lược Cây Bài áng phía ngoài Đồng Dù nên không bắn được. Thế là Mỹ la to: Việt cộng đã lập vành đai thép, mấy tiếng súng nhép vang tới bên Mỹ . Nhà báo Mỹ sang điều tra và trương luôn lên đài một cái vành đai thép. Thế là đài ta chụp lấy phóng đại ra 500%. Cái vành đai mồm phút chốc trở thành sự hãi hùng cho nhà báo Mỹ và gia đình tụi nó bên Mỹ . Nhờ vậy mà mình mới vận động phản chiến được. Rồi mới có tự thiêu, mới có con đào lộn hột sang tận Hà Nội gặp tù binh Mỹ chớ. Nếu không nhờ tụi nó mình la làm sao thấu bên kia?

Tám Hà cười khoe bộ răng mất trật tự:

– Bao giờ cũng vậy, tụi nó đánh tụi nó khỏe hơn mình đánh nó. Thời Tây có Raymondienne Henry Martin nằm lăn ra đường cản quân xa, thời này có đào hát bóng và tên Mỹ khùng tự thiêu. Con Phổng đá Phổng điếc và thằng Ê mi Ê miếc gì đó .

Tám Quang tiếp:

– Bây giờ mình mới thấy tác dụng của tuyên truyền. Sự thực bốn xã chỉ đào có chục rưỡi cái hang ếch thôi. Nhưng bây giờ không còn nữa. Xe tăng càn nhẹp cả rồi. Bây giờ chính chúng nó lập vành đai trắng bao vây mình đấy. Chúng nó phát quang tất cả rừng rú chung quanh Đồng Dù, cây cỏ thì rắc hóa học, người thì bốc hết ra ấp chiến lược. Đây mới là vàng đai nguy hiểm cho mình.

Tôi nhắc lại:

– Vậy là tôi tưởng như vành đai ở vĩ tuyến 38 ở Thượng Cam Lĩnh bên Triều Tiên bao vây quân Mỹ.

Tám Quang tiếp:

– Vụ ném bom vừa rồi ở Ngã Ba Cây Điệp là nằm trong kế hoạch lập vành đai. Đồng Dù đây – Tám Quang trỏ xuống bản đồ – Mình đây, nó đây. Mình với nó cách nhau không quá năm cây số nhưng nhờ con Suối Bà Cả Bảy mà mình dám trụ ở đây. Xe tăng có càn cũng phái vòng lên Ngã Ba Cây Trắc rồi mới xuống đây được. Như vậy mình có đủ thời giờ cuốn gói. Còn nếu nó đổ chụp thì trên núi nó cũng đổ được ở đâu cũng thế thôi. Cứ mười lăm phút là nó đến nơi.

Tám Hà nói:

– Bây giờ cậu về đây đem áp dụng pháo nhẹ thử coi. Đó là hi vọng của ở trên. Nếu khống chế khuấy phá được tụi Đồng Dù thì Củ Chi mới mong ngóc đầu nổi. Chỉ ngóc đầu thôi, còn tiêu diệt nó thì không thể.

Tôi hỏi:

– Vậy còn đạo quân đầu tóc của bà Năm Đang, anh?

– Xù lâu rồi. Cậu đã từng đạo diễn cái đạo quân hồi năm ngoái cho thẳng Bọ Chét quay phim, cậu biết nó như thế nào rồi. Sau vụ Đồng Khởi 1960 tụi nó đang choáng váng mình mới được đám quân vận yếm mang ra chận đại bác, nhưng chỉ vài tháng là tụi nó tỉnh lại, tụi nó đối phó hữu hiệu ngay. Đàn bà con gái láng cháng ra đó nó bắt nhốt bỏ đói một ngày, rồi trước khi thả, nó vẽ khẩu hiệu trên áo trên nón cho về.

– Khẩu hiệu gì anh?

Tám Quang lắc lư, Tám Hà bảo:

– Thì anh cứ nói cho cậu ấy nghe chớ có gì mà giấu?

Nhưng Tám Quang vẫn lặng thinh. Chuyện đánh trâu của các bà các cô tôi đã nghe cô Là nói đầy tai rồi. Chúng nó kẻ khẩu hiệu bằng dầu hắc Đả đảo Hồ Chí Minh. Đả đảo Mặt Trận côn đồ, nhưng tôi làm bộ ngớ ngẩn chơi thôi. Đi với cô xã đội tôi còn được nghe nhiều việc lạ hơn nữa cơ!

Tám Quang bắt sang chuyện công tác:

– Tôi đã bàn với Năm Lê tức là Sơn Tiêu, cậu nghe lâu rồi mà !

-Dạ!

– Tạm thời cậu về nhận trách nhiệm ở H6 tức là Ban Pháo binh. Hai Giã trưởng ban đang bị kỷ luật, đưa về R cũng khó coi cho ổng, nhưng để ở lại chỉ huy thì lính không phục, nên Năm Lê cho ổng đi công tác các quận một thời gian nguôi nguôi rồi sẽ tính sau. Cậu về đó tuy với trách nhiệm phó ban nhưng thực ra là Trưởng ban vì ông Sáu Phấn chỉ làm công tác đảng chứ không biết pháo binh. Tôi chắc cậu không thắc mắc gì!

– Dạ không.

– Cậu về ráng quậy cho H6 lên lên một chút, để ông Ba Xu ổng rằn ri quá sá. Còn vụ móc thằng em thì có Chín Lộc Sáu Huỳnh tiếp sức. Cậu chỉ phụ một tay thôi.

Chương 39
Con chích choè liếng khỉ

Ra đường xe dứa, Chín Lộc chở tôi phăng phăng chạy về hướng Xóm Bưng. Tưởng ai đâu lạ, ai dè cũng là dân Rừng Sát. Hồi đó Tám Quang mê chị Dưỡng con gái ông Ba Dương nhưng có lẽ vì ông ta nói chuyện chính trị nhiều quá nên chị không chú ý mà lại đi yêu một anh vốn là lính Nhựt. Còn Chín Lộc thì ở trong tổ chức Liên Hiệp nghiệp đoàn của ông Mười Thìn. Chín Lộc còn có biệt hiệu là Chín Rổ hoặc Chín té thùng đinh vì anh bị đậu mùa hồi nhỏ.

Tôi ngồi sau poọc-ba-ga ôm ngang eo ếch anh. Anh vừa đạp vừa nhắc chuyện cũ với tôi. Một chập, khi chạy ngang qua một vùng đất còn mùi cháy khét, tôi hỏi:

– Hồi sáng này nó đánh ở đâu vậy anh Chín?

– Gần Gót Chàng, chỗ nhà con Bảy Mô ?

– Cô ấy có sao không?

Có lẽ nghe giọng hoảng hốt của tôi, anh Chín đoán là tôi có quen, nên hỏi:

– Bộ cậu biết Bảy Mô à?

– Dạ… ạ, có quen.

– Nó đánh gần đó thôi, nhưng miểng văng vô tới chỗ tôi ở nghe rẹc rẹc.

Rồi anh nói ngay không giữ miếng thủ thế gì cả :

– Cậu là Trưởng ban Pháo binh, tôi là Trưởng ban Quân báo, ngang cấp với nhau. Coi bộ cô Thảo có cảm tình với cậu lắm.

– Dạ, tôi mới về đây đâu có quen nhiều anh Chín!

– Nó là con nuôi của ông Eo đó, đừng có mó vào mà bị thịt.

Eo nào?

– Tám Quang là dân khu nem. Nghe nói tiếng mà không biết à ?

Chín Lộc đưa tôi vào một ngôi nhà trống hốc không còn vách phên, bên trong chỉ thấy một bộ ván gõ ba, kiểu ván gõ nhà má Hai tôi nằm ngủ năm ngoái, nhưng chỉ còn hai tấm. Một tám chắc bị khênh đi làm nắp hầm. Mái ngói đã bay hết một phần trông thê thảm quá.

– Có quen với Sơn Tiêu, F300 ở Thọ Xuân không?

– Tôi biết ổng lâu hơn nữa mà !

– Lủy và Tám Eo có vẻ không ăn giơ với nhau. Một tay là quân sự, một tay là chánh trị, tôi là quân báo bị kẹp ở giữa lắm lúc không biết ai là xếp của mình.

– Về mặt tổ chức thì anh ở bên ông Năm Lê chứ!

– Phải rồi, nhưng Tám Quang thì có chân trong khu ủy, còn Năm Lê bị một cái ô đeo trên cổ nên đứng giàn ngoài, bị lép vế hơn Tám Quang.

– Vậy anh đi hàng hai bẹt giò mệt quá hả?

– Tháng nào cũng họp nghe báo cáo tình hình nội bộ mà nhức cả óc, toàn ô một không thôi. Cậu biết vụ vợ Năm Lê làm rùng beng trên R chứ?

Tôi chối bức.

– Bà ta đi về thành một mạch, tuột bỏ chức khu ủy viên, lấy sĩ quan Sàigòn ngay và cho hai thằng con trai đi học Thiếu Sinh Quân ở vũng Tàu. Có lẽ để chúng nó trả thù cho má chúng chắc.

Vừa đến đó thì xuất hiện một cô gái xinh xinh loắt choắt như con chích chòe, đạp xe tới. Chín Lộc hỏi:

– Con Ua đó hả? Có công tác đây nè. Chuẩn bị đi mau lên.

– Ai biểu chú đi lâu quá, cháu đợi hoài không được, nên cháu qua nhà chị Mô chơi.

Cô gái dựng xe nhảy xuống rứt một trái trong nải chuối máng trên ghi đông xe đạp, lột võ đút vô miệng nhai nhồm nhoàm vừa hất hàm với tôi:

– Ông thầy pháo là ông này đây hả?

– Người ta về thay ông Hai Giả đó nghe con, đừng có giỡn mặt!

– Coi như con ổng vậy!

– Ủa! Tuổi trẻ tài cao mà con!

– À phải phải. Tài không đợi tuổi. Napoléon làm xếp mấy ông già dềnh lúc mới ba mươi hai tuổi. Napoléon về đây cũng trở thành Nã-pồ-lê-dông thôi!

Cô ta phát âm rất đúng. Chín Lộc bảo tôi:

– Nó như con trai vậy, cậu đừng chấp nhứt! – Rồi quay lại cô bé, – Mày đèo ông này về nhà trước. Tao còn phải đi qua ông Năm Lê . Nè , chở cẩn thận nghe ! Có chuyện gì mười cái đầu mày cũng đi đứt. Trường ban H6 đó !

– Bự quá dzậy, con không có dám đèo đâu.

– Để tôi chở cho.

– Xí bộ coi thường con nhỏ này hả?

Chín Lộc ra góc nhà cầm cái gáo múc nước trong khạp da bò ực một hơi rồi bảo:

– Nay mai mày là nhân viên của ổng đó !

Chín Lộc nói rồi quay đi. Cô bé tên Ua đưa nải chuối cho tôi bảo:

– Đói bụng ăn vài trái đi. Chị Bảy Mô cho… đó.

– Bữa nào chở … qua đó làm quen được không?

Cả cô gái lẫn tôi đều không biết xưng hô như thế nào cho đúng vai vế nên cứ nói ngang ngang.

Tôi móc trong xắc-cốt ra một gói kẹo
(của Thảo cho lúc nãy chưa kịp ăn)

– Ăn kẹo đậu phọng không ?

– Ừ đưa coi! Bộ người ta không có tên sao mà phang trơn trơn vậy?

– Tên gì?

– Không nghe ông Chín kêu hồi nãy à? Nhắc lại nè: Ua! Thôi Ua ăn một miếng thôi.

Bỗng nhiên Ua kêu tôi bằng cậu.

– Cậu dìa hồi nào vậy? Chắc là Mùa Thu thứ dữ.

– Có ăn thịt ai không mà dữ?

– Mấy ông Mùa Thu về trước cậu, ông nào ông nấy đầu bạc phếu hoặc sói sọi còn cậu sao mà tóc đen mun vậy? Mà Ua coi cậu hơi giống…

– Giống ai? Giống má Ua hả?

– Giống sĩ quan Sàigòn!

– Trời! giải phóng mà bảo giống sĩ quan Sàigòn!

Ua bước tới đập vai tôi:

– Ua nói vậy tức là nói cậu coi đẹp như người Sàigòn.

– Bộ Ua ở Sàigòn mới vô hả?

– Ua có đi học ở ngoải. À, mà cậu có mợ chưa?

– Mợ gì mà mợ?

– Nếu chưa Ua dắt cậu qua nhà chị Bảy Mô. Hai bên coi bộ xứng dữ.

Nghe Ua nói, tôi như thấy góc vườn sầu riêng thơm bát ngát, bờ suối róc rách hai đứa ngồi ăn sầu riêng mà đờn măng-đô. Ừ, cách đây không lâu, lúc Tư Linh tiếp thằng Bọ Chét.

– Chỉ có nhà không?

– Ở bển chớ đâu. Muốn qua không ? Ua tạt qua đó rồi hãy đi không trễ.

– Thôi, để khi khác.

– Khi khác là khi nào. Tình hình này hễ nói là làm, cho cái kiểu khi khác là đi tuốt. Nói cho cậu biết người Rờ, người Khu, người Công trường bu chỉ dữ lắm!

– Bu thì bu chớ Ua bảo tôi làm gì?

– Thì cưới liền đi! Rồi dắt đi chỗ khác chứ ở đây không có thọ được đâu.

Tôi cười ha hả, rồi tôi dắt xe ra đường, và nói.

– Thôi đi. Đừng có ở đó mà nói bá láp.

– Cậu thứ mấy ! Chắc là thứ Hai. Cậu Hai nhận Ua làm cháu được không?

– Thì cũng được nhưng tôi không có tiền đâu mà cho.

– Ua không cần ba cái quần áo, đồng hồ gì đâu. Ua chỉ cần cậu thương cháu như ba cháu thôi.

– Vậy thì được .

Ua đưa tay cho tôi.

– Được thì ngoéo tay đi, không có quác nghe!

Ra khỏi mối đường Ua nhảy lên xe gọn gàng, tôi ngồi lên poọc-ba-ga nhưng không dám ôm eo ếch. Biết tôi ngại, Ua bảo cứ ôm mạnh đi không sao đâu. Đạp đi một khúc, Ua bảo:

– Thôi, mình làm anh em đi cho nó thân mật.

– Muốn gì thì muốn.

– Nhưng không có cái kiểu em nuôi như mấy ông già ó đâm đâu đó nghe.

– Anh không chơi cái trò đó đâu.

– Vậy chốc nữa về nhà em biểu ngoại nấu chè cho hai anh em mình kết nghĩa với nhau. Ôm chặt đi. Gần tới khúc đường bị pháo nổ lởm chởm, em lạn nhanh lắm, không thua gì anh Lạn đâu. Ôm lỏng coi chừng lật gọng đó.

– Biết cậu Lạn nữa à?

– Ba ảnh kêu vô đi học Liên Xô, không biết sao cả năm nay cứ làm giao liên.

– Còn Ua?

– Hà hà . . . anh hỏi trúng tẩy, em hết chối. Em cũng được kêu vô đây đi học… Liên Xồ… ồ!

Ua cười lớn, chiếc xe chạy loằn ngoằn, tôi suýt bật ngửa.

– Em học đệ thất rồi đó.

– Sao ông Chín dời xuống Bàu Chứa gần Đồng Dù vậy?

– Ở xóm Bung thì gần Trung Hòa. Chỗ nào cũng vậy thôi ! Hay dở là ở cặp giò và thính cái tai, ông Nắp Bồ Lê dông ạ ! Có lẽ ở gần Đồng Dù chỉ sợ pháo thụt thôi còn B52 thì khỏi lo. Nếu ở Xóm Bưng và Gót Chàng thì sợ đủ thứ vì nó xa Trung Hòa và Đồng Dù pháo bắn cũng tới, bom bỏ cũng dễ mà B52 thì càng dễ hơn.

Chạy một quảng, Ua trỏ về phía tay phải, bảo:

– Nóc chuồng cu bót Trung Hòa kia kìa. Quái nhỉ, cái bót này đi đâu cũng trông thấy nó đi theo mình.

Đạp một lúc, Ua lại bảo:

– Xuống đây đi anh. Tới rồi!

– Tới đâu?

Tôi vừa nhảy xuống vừa hỏi, nhưng hỏi xong thì nhận đây là nhà… Ua bước lên thềm nhà, vừa đi vừa réo.

– Ghé nhà chị Bảy chơi một chút đi anh. Hồi nảy em qua chị Bảy chơi, chỉ xôi sầu riêng cho em ăn. Nhưng em sợ ông Chín Lộc về không có em ở nhà ổng la, nên xôi chưa chín mà em phải rút lui. Đi vô đi anh. Chị Bảy ơi, ra có khách.

Từ dưới bếp Bảy Mô chạy ra.

– Khách nà . . . o ?

Vừa trông thấy tôi, nàng khựng lại. Tôi cười nói.

– Khoẻ không em?

– Anh đi đâu đây?

– Thì đi đây chớ đi đâu!

– Em nghe nói anh về R rồi mà !

– Về rồi chớ sao! Nhưng nhớ… Củ Chi quá nên phải trở lại. Thế nào, em có bắt được thêm Mỹ không?

Bảy Mô làm thinh hơi ngó xuống, đôi má ửng hồng vì lửa than trong bếp hay vì thẹn. Ua cười ré lên.

– Hai ông bà quen lâu rồi mà hồi nãy em hỏi, ảnh làm bộ không quen.

Rồi Ua cười khúc khích.

– Mời anh vô trong nhà ! Mời anh Bảy vô nhà !

Tôi đi theo Mô. Bên trong, bàn ghế vẫn còn nguyên tại chỗ. Chiếc tủ thờ khảm xa cừ vẫn còn đứng đó. Một chiếc bị đạn xuyên qua bên hông. Bất thần tôi ngó lên nóc. Một vùng ngói vỡ để hở một khoảng to trên nóc.

Tôi vừa đi vừa ngó. Không khí có vẻ vắng vẻ lạ lùng. Tôi không thấy cây măng-đô treo trên vách nữa. Tôi hỏi:

– Chị Tư Mai có về không em?

– Chỉ được tin anh Tư sao đó, chỉ rầu lắm.

Tôi đoán biết là chuyện gì rồi. Cũng như chồng cô Lụa và nhiều thanh niên khác đi Bình Long Phước Long vậy thôi, nên tôi không hỏi thêm nữa. Tôi hỏi ngang ngang.

-Ba không về à?

– Dạ không.

– Cây đờn đâu?

– Em giấu trong hầm, dây sét hết rồi.

– Lúc này chắc không thể đờn như trước nữa.

Bỗng Ua la lên:

– Em quên bỏ công văn quan trọng rồi chị Bảy ơi, để em trở lại lấy. Anh Bảy ủa anh Hai ở đây chờ em chút nghe.

Nói xong Ua chạy đi, nhưng còn quay lại – Có gì, chị dắt ảnh chạy xuống hầm dùm em nghen. Em giao ảnh cho chị. Ảnh là con cưng của mấy ổng đó !

Nói xong chạy biến đi. Bảy Mô nói:

– Con nhỏ đó lanh lắm anh ơi!

– Nó cũng bỏ học ra đây hả ?

Tôi vừa đi song song với Bảy Mô ra sau bếp vừa trò chuyện. Bảy Mô nói:

– Má nó bán hàng ngoài chợ Củ Chi. Bả là đầu mối của ông Chín Lộc. Con nhỏ này ra vô chợ dễ dàng. Lính quốc gia thấy nó bé nhỏ, loắt choắt nên coi thường. Nhờ vậy nó lấy được nhiều tin tức của mấy ổng.

– Tình hình dũng sĩ bây giờ ra sao em?

Tôi ngồi trên bộ ván ở nhà bếp. Đây không phải là chỗ ngồi của khách, nhưng Bảy Mô coi tôi như người thân, có thể vượt qua mức đó .

– Anh đi hội mừng công hả?

– Ừ| Mới lụi hụi đây mà đã một năm.

– Đội đặc công nào đánh sân bay anh biết không?

– Anh không biết!

– Anh đi dự mà sao không biết? Đài Giải phóng nói hằng ngày. .

Tôi không muốn Bảy Mô biết rõ cái danh hiệu anh hùng rởm của tôi nên đặt chuyện nọ chuện kia nói lãng ra, nhưng Bảy Mô cứ hỏi tới. Bực mình, tôi bảo:

– Chẳng có thằng nào còn sống mà về dự cả nên ở trên bắt anh đại diện đấy, hỏi nữa thôi!

– Vậy anh là anh hùng à?

– Thì cũng xém xém như vậy !

Bảy Mô cười, cái cười mỏi mệt nản chí:

– Kỳ này anh về , có anh Tư Linh không?

– Hắn bận!

– Em sợ ảnh quá đi! Vái trời ảnh đừng có dắt thứ nhà báo tới đây nữa ? Ảnh bày đặt nhiều chuyện làm cho đội của em quay mòng mòng.

– Từ khi Mỹ vô Đồng Dù đội em có lập thêm thành tích gì không?

– Đang xây dựng cái vành đai thép. Anh có gì giúp tụi em không?

– Biết giúp cái gì bây giờ. Em phải đề nghị cụ thể lên ông Tám Quang. Ổng đỡ đầu tụi em mà.

– Ổng có hứa, nhưng chưa thấy cho thêm gì hết.

– Nếu có cối 60 ly anh sẽ dạy cho các em sử dụng.

– Bắn chính xác không? Hay trái nào cũng lọt vô trường học cho dân bất mãn đó nhà pháo?

– Bộ có xảy ra rồi à?

– Chưa xảy ra, nhưng em sợ trường hợp đó lắm.

– Trước nhất em phải có một bản đồ chính xác.

– Cái gì chớ cái đó thì vô phương rồi !

– Thôi để thong thả anh lo.

Nhận thấy trong đôi mắt người con gái đượm một vẻ buồn áo não, tôi hỏi:

– Tình hình đội bây giờ ra sao em?

Bảy Mô lặng thinh hồi lâu mới đáp:

– Đang xốc tới dữ lắm, nhưng không có điều kiện!

– Vấn đề đó không đáng ngại. Em cứ giữ vững tinh thần đội, rồi tình hình mới này sẽ có trang bị mới rất hiện đại.

Tôi thấy bếp không có lửa khói gì. Xôi sầu riêng thì phải nghe mùi từ ngoài cửa chớ ! Con Ua lừa mình vào đây. Cũng tốt thôi? Tôi ngó ra cửa sau. Tôi hoảng hốt kêu lên:

– Sao vườn sầu riêng như vậy Mô?

– Nó rải chất độc!

– Vậy à? Cả vườn tược đều thế này à ?

– Chỗ nào xanh xanh rậm rậm là nó rải. Vậy con Ua chở anh qua mấy lô cao su, mấy khu vườn, những miếng rừng chồi anh không thấy dấu vết hóa học à?

– Có thấy chớ ! Anh thấy từ trên Trường Sơn kia mà . Gần đây nhất là Trảng Cỏ.

Tôi đến đứng ở bệ cửa nhìn ra vườn. Sầu riêng đứng rủ lá như những mái tóc bạc bị cắt cạo nham nhở. Tôi trở lại ngồi ở góc ván và thở dài:

– Tiêu hết vườn rồi.

Hình như câu nói động đến tâm can người con gái, nên nàng né qua cho đỡ đau. Nàng hỏi:

– Không hiểu ông nhà báo gì đó về tới ngoải chưa?

– Về tới lâu rồi chớ.

– Rồi làm sao?

– Làm sao cái gì?

– Ổng quay phim địa đạo mà chỉ quay cái miệng địa đạo thôi, không quay được lòng địa đạo thì tuyên truyền cái gì được hả anh?

Tôi bí nên hút thuốc lấy oai. Bảy Mô tiếp:

– Cái trận địa đạo chiến ổng quay kỳ thấy mồ mà ổng khen nức nở. Em nhớ lại thấy mắc cỡ quá trời.

Tôi nhìn Bảy Mô. Nàng gầy sút đi nhiều. Mắt sâu, gò má nhô lên, tóc tai xơ xác trông như một người đàn bà trung niên. Tôi suýt nói câu gì, một câu thật vô nghĩa, nhưng Bảy Mô đã tiếp:

– Anh Tư Linh thiệt là sáng kiến đầy mình. Cái địa đạo chiến của ảnh chắc nay mai tụi Mỹ phải nghiên cứu dữ lắm.

– Em cũng biết, đó là tuyên truyền mà Mô !

– Nhưng quay phim như vậy đem ra thế giới người ta tưởng thiệt, người ta lại gởi thêm nhà báo đến phỏng vấn tụi em rồi tụi em làm sao?

– Tám Quang sẽ dạy cho mấy em cách trả lời, lo gì.

– Rồi rủi người ta muốn quay phim địa đạo chiến nữa rồi làm sao?

– Thì các em cứ đánh địch kiểu đó cho người ta quay chớ sợ gì?

– Sự thật du kích có bao giờ đánh giặc kiểu như thế đâu. Miệng địa đạo có bao giờ gần đường cái như vậy để khi rút lui chúng em có thể dỡ nắp mà chui như anh Tư Linh đã bố trí. Nếu miệng địa đạo gần đường như vậy thì tụi lính nó tìm thấy ngay. Tụi nó có chó đánh hơi mà ! Nếu không bị chó thì xe tăng cũng cán nhẹp. Hơn nữa đánh giặc mà chạy chui hầm kiểu đó thì họa may chúng em có phép thần thông và thằng địch đui.

Tôi biết chuyện địa đạo chiến là kiệt tác của ông Tư Linh phỏng theo địa đạo chiến của các ông cố nội biên tập đài Giải Phóng và đài Hà Nội, cố nhiên với Tư Linh nó có mùi đất và lá khô hơn. Do đó nó làm cho tên Bọ Chét, mụ đầm già và các giáo sư Liên Xô tưởng thật. Chứ bạn đọc thử nghĩ về hai điều này: kẻ địch là mục tiêu di động còn địa đạo là một vật cố định. Làm sao có thể bắt địch đi theo ý đồ của mình được? Những người phịa ra địa đạo chiến không hề biết chiến trường Củ Chi trong giai đoạn Mỹ vào Việt Nam, đặc biệt khi có cái chốt Đồng Dù ở ngay giữa rốn Củ Chi. Trong chiến tranh chống Pháp, sở dĩ các trận Là Ngà Bầu Lá (khu 7) Giồng Dinh, Phong Phú (khu 8), Tầm Vu, Sóc Xoài (khu 9) đem lại thắng lợi vẻ vang là vì chúng chỉ có một con đường Huê Dung Đạo mà ta đã nắm được trước. Do đó các trận Vận động chiến kể trên hoàn toàn thắng lợi.

Các ông chiến thuật gia nằm trong dinh thự Hà Nội không biết Mỹ là cái gì, cứ cong lưng xúi giục dân Nam kỳ thừa thắng xông lên để làm vui lòng Bác. Sự thực, nếu bác biết được bác càng buồn. Nổ súng đánh Mỹ đã khó rồi. Khi nổ súng xong còn khó và nguy gấp trăm. Nó xúc quân chỗ này đổ qua chỗ khác, gọi là nhảy cóc, mình không đối phó được. Trực thăng có thể đổ ngay sau lưng mình, hoặc chúng bỏ hẳn chiến trường, rồi về nhà uống la de cho bom pháo dập mình tan tành. Nên nhớ rằng Củ Chi có thể bị khống chế bằng nhiều giàn Pháo từ các phía Đồng Dù, Trung Hòa, Củ Chi, Bến Cát, Lai Khê… Đánh xong, rút lui càng khó. Trực thăng nó đuổi theo. Thường thường số tử vong trên đường rút lui lại cao hơn số tử thương tại trận địa. Làm thế nào một trung đội du kích đánh xong chạy chui hầm được? Nếu chui xuống hầm mà không ngụy trang kỹ, chúng sẽ tìm ra miệng hầm ngay. Hoặc không cần khui hầm, chúng cho pháo bắn, hoặc máy bay bỏ bom. Cuối cùng, xin nói cho ông Đại tướng cù lần Sáu Vi rõ là đếch có ông bà du kích nào dám dùng chiến thuật địa đạo chiến hoặc nắm thắt lưng Mỹ mà đánh cả ! Hoặc quát thẳng vào những lỗ tai trâu: Ở Củ Chi không cái gì gọi là địa đạo chiến. Đánh Mỹ khó hơn đánh Pháp một ngàn lần.

Cho nên nghe Bảy Mô phàn nàn ông Tư Lịnh nhà tôi, tôi tìm cách chống chế. Nhưng Bảy Mô là người con gái có học chứ không phải con cái bần cô nông, nàng không chịu im.

Nàng nói:

– Kỳ sau có ông nhà báo ngoại quốc nào tới thì em xin vắng mặt.

– Chắc không có ông bà nào đến nữa đâu. Họ ớn cái Củ Chi này thấy tía rồi. Đó là tình hình năm ngoái, hồi Đồng Dù mới thành hình, năm nay nó xây dựng xong xuôi rồi. Dù có ông bà nào uống mật gấu mà xin đến coi… cái đầu tóc của bà Năm Đang ủa, xem cái đội quân đầu tóc của bà Năm Đang anh cũng không dám nhận. Lỡ nó nhảy dò, nó bắt được một ông mũi lỏ hoặc một bà tóc vàng trong khu ta thì bỏ mẹ !

Bảy Mô lẫm nhầm một chốc rồi lại hỏi:

– Cái ông Bọ Chét đó là đảng viên Cộng Sản hả anh?

Tôi đáp với vẻ tự hào.

– Đúng! ông ta là đảng viên Cộng sản Quốc tế đó.

– Vậy nên ông mới dám lũi vô đây chớ tụi đế quốc nhát hít. Quốc tế Cộng sản được mấy ông đảng viên như vậy, anh?

– Chắc nhiều lắm!

Bảy Mô cười:

– May mà chỉ có một ông đến Củ Chi !

– Sao vậy?

– Chị Hai Khương bỏ việc làm ở xưởng may của Quân Nhu rồi.

Tôi nhìn Bảy Mô, cô bé này ác thật ! Hai Khương là người đàn bà có chồng đi Giải Phóng quân biệt tích ở Bình Long. Năm ngoái, khi Bọ Chét đến đây lấy đề tài địa đạo chiến thì Hai Khương được dùng về phương diện phục vụ nhằm giúp đồng chí ta nếm biết mùi Việt Nam nguyên chất. Sau đó cả làng, cả quận đều hay. Hai Khương phải bỏ xứ, cô ta đi đâu không ai biết. Viết đến đây tôi muốn thét lên: “Địt mẹ mày thằng Hồ tặc. Mày đã làm cho cả dân tộc này điếm nhục không ngóc đầu dậy được”.

– Cô ta đi đâu?

– Không biết anh à !

– Tại sao lại bỏ việc làm mỗi ngày kiếm được 200?

(Tôi quả là thằng đóng kịch đại tài.)

 

– Em không biết.

Nàng biết chớ sao không. Nhưng nàng chỉ muốn nhắc lại cho tôi nghe đến đó thôi. Để trách móc chăng? (vì lúc đó tôi được ông Tám Quang chỉ đinh hụ hợ với Tư Linh) Nếu nàng trách móc thì cũng phải. Vì việc đó làm xấu mặt phụ nữ giải phóng và nhục cả triều đình nhà Hồ. Ai có thể ngờ rằng thằng nhà báo chó chết đó sang đây lại đòi biết mùi Việt Nam. Bọn quân báo sợ nó đổ bệnh cho Hai Khương, hoặc bỏ con trong bụng nàng rồi quất ngựa chuối dông mất, nên đã khuyên khéo hắn nên dùng áo mưa, hắn trân tráo bảo: Tôi muốn biết mùi Việt Nam nguyên chất!Nhục ngập đầu Hồ chủ tịch vô vàn kính yêu ơi ! Bây giờ đây hắn đã gặp Bác ở suối vàng. Hắn có thể cho bác ngửi tí mùi Việt Nam mà hắn mang theo khi rời Củ Chi. Khi tôi viết đến đây thì Đỗ Mười (cái tên mà tôi cho là có bộ mặt tướng cướp và ăn nói hồ đồ nhất trong cuộc đấu tố Nhân Văn Giai Phẩm ở Hà Nội), Tổng bí đao Việt Cộng đang quì dưới háng Đặng Thánh Chúa để dâng hàng sớ. Rồi tôi bỗng nhớ đến mấy câu thơ của tên Tố Bịp:

Liên Xô nở trước đời tôi ba tuổi.
Hai mươi năm gội nhục ướt đầu xanh.

(Hắn sanh năm 1920)

Nay tôi xin họa lại:

Liên Xô nở như một loài hoa cứt chó.
Bảy mươi năm đội nhục ướt đầu thằng ngu.

Nhục từ tổ tiên nhục tận đến con tận cháu. Bây giờ đây cái nhục được phân phát bằng từng ô phiếu cho mỗi người Việt Nam. Tôi không biết nói gì nữa. Cũng may vừa lúc đó lại có tiếng máy bay.

– Sâu Rọm tới Đồng Dù anh ạ !

Tôi vừa bước ra cửa vừa hỏi.

– Sao em biết?

– Nghe hoài mà sao hổng biết. Nó chở cà-nông tới Đồng Dù đó .

– Sao em biết nó chở cà-nông?

Bảy Mô đứng dậy ra ngoài rồi bảo:

– Anh ra đây coi. Cái cục đen dưới bụng nó dài dài thì đó là cà-nông. Vài bữa nữa sẽ có bố ráp vùng này.

– Sao em biết?

– Em linh cảm và lần nào cũng đúng cả !

– Chứ không phải có tin gì à?

– Lắm khi cũng có bà con đi làm ngoài đó về trong này nói lại.

– Bà con mình đi làm cho nó đông lắm sao?

– Đông lắm vì lương cao. Như chị Hai Khương làm cho quân nhu chỉ có 200 một ngày, còn ngoài đó bét cũng 500.

– Làm gì?

– Đủ thứ từ thợ thầy, thư ký, giặt quần áo, quét nhà và làm gái điếm.

Tối kêu lên. Bảy Mô nói.

– Vợ ông X… đại đội phó cũng đi làm cho nó mà.

-Kỳ vậy!

– Như vậy mới có tiền nuôi con và tiền cho chồng xài trong khu chớ anh.

Thôi vậy là hết. Lại một thứ nhục khác.

Tôi quay vào nhà. Thấy lạnh lẽo quá, không ngồi được nữa, tôi trở ra đi về phía vườn. Bảy Mô bảo.

– Anh vào đi, em đóng cửa! Đóng cửa im ỉm ngộp quá nên em mở ra một chút cho thoáng hơi, nhưng không khí ở ngoài vườn tràn vào, em thở nãy giờ nghe tức tức ngực, anh có nghe thấy không?

Tôi sực nhớ lúc vượt các trạm giáp ranh khu IV băng qua các vùng bị khai hoang bằng hóa học tôi cũng thấy ngực hơi tức. Nhưng ở đây chưa bị nặng nề nên chưa thấy tức lắm.

Bảy Mô đóng cửa lại, hai đứa ngồi ở phía trước. Trong nhà không có ai ngoài chúng tôi. Tôi chờ đợi ở Bảy Mô một câu gì. Và có lẽ nàng cũng chờ đợi tôi thốt ra một câu gì. Nhưng không ai nói gì cả. Mặc dù thế, ai cũng biết câu chưa nói ra đó là câu gì, một câu ngoài công tác.

– Rồi cây đờn đâu?

– Em bỏ luôn rồi.

– Ban đêm em ở nhà một mình vầy à?

– Có vài ba cô nữa đến ngủ với em vì nhà em có hầm chắc. Ba em về làm hầm rồi bỏ đi ra ấp chiến lược, vì ba bảo hầm không chịu nổi cà-nông.

Tôi nói láo với Mô.

– Chú Tám Quang nói cái vành đai thép của mình bao quanh Đồng Dù bảnh lắm hả em?

– Ừ! bảnh lắm. Anh muốn coi không?

– Để hôm nào rồi đã !

– Muốn đi xem anh phải chuẩn bị cặp giò để chạy.

– Tại sao vậy?

– Có khi tụi Mỹ nó ra nằm ở mấy hang ếch của mình trước. Mình vừa lú ra nó ria cho chạy tét quần rồi nó kêu pháo dập.

Bé Ua đã trở lại. Chiếc xe đạp hiện ra trước ngỏ với mái tóc cắt ngắn như học trò.

– Sao, hai ông bà đã cơm nước xong chưa?

– Nước thì đang uống còn cơm đã ăn rồi, bụng dạ đâu mà chứa nữa?

– Vậy sao chị Bảy hứa cho em ăn xôi sầu riêng?

– Chị tưởng là vườn sầu riêng của chị còn nguyên chớ.

– Ừ, chị chiêm bao giữa ban ngày!

– Còn em có chiêm bao không mà quên công văn?

– Công văn gì? Để khoan em ăn hết vĩ xôi sầu riêng của chị Bảy rồi mới nhớ ra công văn gì.

– Em ngạo chị hả Ua?

– Em bắt chước mơ chị đó chớ. Chị chưa vo nếp mà em tưởng mùi sầu riêng nực mũi ! – Rồi Ua quay lại tôi – Thôi từ giã chị Bảy rồi đi,… anh Bảy .

– Con quỉ, mày đưa cái miệng mày đây, tao vả cho tét lá mía!

Mô trợn mắt đỏ mặt quát. Tôi rời ngôi nhà. Chỉ nói một câu:

– Anh đi nghe Mô ! có dịp nào anh đi ngang ghé chơi !

Bảy Mô ra đến ngõ thì dừng lại, ngó theo. Con Ua đạp ù ù. Mớ tóc đuôi gà bay ngược lại ra sau. Mùi hương quất vào mặt tôi, tôi ngồi sau poọc-ba-ga nhìn lại Bảy Mô. Chắc đôi mắt của nàng dũng sĩ cũng như đôi mắt của Thu Hà lúc nọ. Tôi vụt cảm thấy trong Mô tất cả Thanh Tuyền, Huỳnh Mai, Ba Ánh, Là v.v… chỉ trừ Thu Hà. .

Ua quay lại:

– Anh chịu chưa, hả?

– Đạp đi. Coi chừng lọt xuống hố pháo kìa !

– Em thấy chỉ mết anh rồi đó.

– Thôi, cô thầy bói ! Bị người ta hăm vả miệng mà chưa sợ hay sao?

– Hắc hắc… Em làm bộ quên công văn chớ đâu có quên cái gì. Vậy mà cũng tin. Xí.!

Chương 40
Đấu tranh chánh trị: Ra đồng đánh trâu

Xe chạy boong boong. Bỗng Ua trỏ tay về phía trái:

– Mình ghé bầu trâm uống nước dừa, luôn tiện mình kiếm bậy cặp dừa khô đem về tối nay ngoại em nấu chè….

– Cúng đầy tháng cho em hả?

– Cúng ông bà nhìn nhận anh là anh của em chớ.

– Ba em đâu?

– Em đâu có ba. Ba em đâu em cũng không biết.

Tôi không hỏi thêm gì về gia đình của cô bé nữa. Tôi vụt nhớ vụ ông Nguyễn Văn Thi bị tài xế chở thẳng vô bán cho bót Catinat nên đùa:

– Đừng có chở anh vô tuốt bót Trung Hòa nghe.

– Bậy hoài hè ông mãnh!

Một chút Ua lại hỏi:

– Anh có biết tại sao ông Hai Tốt ôm mười triệu bạc dông vô thành không? Tên Tốt mà không Tốt!

– Không!

– Xí vậy mà cũng lãnh đạo! Tại ông muốn khỏe cái thân chớ sao!

– Nếu ai cũng tính như ông vậy thì còn ai đánh Mỹ ?

– Bây giờ không còn nhiều người chống Mỹ như hồi trước. Họ ra ấp chiến lược chống Mỹ khỏe hơn.

– Bộ cô cũng muốn chống Mỹ kiểu đó hả?

– Em là thiếu nhi mà anh! Em đi đâu cũng được, lính Sài gòn hay Giải phóng đều chịu hết.

Tôi nhìn ra đồng thấy một chòm cây, bèn hỏi:

– Bàu Lách ở đâu còn Bàu Trăn ở đâu?

– Bàu Lách gần Bến Đình kia cà còn Bàu Trăn thì mình cứ đi theo con đường đá đỏ này chút nữa thì đến Bàu Trăn, kế đó là Bàu Tròn rồi tới Bàu Chứa là gặp nhà em.

– Sao gọi là Bàu Trăn, Bàu Tròn, Bàu Chứa? Những Bàu là Bàu!

– Gọi là Bàu Trăn vì nó ngoằn ngoèo như con Trăn, ủa không phải, vì ở đó có nhiều trăn rắn. Còn gọi Bàu Tròn là vì nó hình tròn như cái bụng chữa, còn Bàu Chứa…a..a,. là vì nó giống cái bụng chửa hình tròn. Hắc hắc hắc, hỏi nữa thôi. .. Nhưng bây giờ không ai xài mấy tên đó nữa. Người ta gọi Bàu Trăn là Bàu Tăng, Bàu Tròn là Bàu Bom và còn Bàu Chứa là Bàu Pháo vì mấy cái bàu này chuyên môn bị xe tăng càn bom bô pháo bắn.

– Từ Bàu Pháo đến Đồng Dù bao xa?

– Không quá một tiếng đồng hồ . Để em chỉ cho. Chừng nào anh muốn đi thì đi khỏi lạc đường.

– Bộ em nói anh sắp theo Mỹ sao hả ?

– Em không nghĩ như vậy đâu.

(Chẳng ngờ năm 1970 tôi làm Nâp-bồ-lê… .dông thật!)

Ua tiếp:

– Nếu đi thẳng đi qua suối Là tới Xóm Cầu Mới rồi đụng đường Hai Làng là thấy mấy cái tăng của Mỹ lố nhố rồi. Bên đó là chợ Bắc Hà ngay trước cửa Đồng Dù. Cái chợ này nằm trên đường số 8 đi chừng một cây số nữa thì tới ngã tư Củ Chi. Nếu anh vọt xuống thì chỉ một tiếng rưỡi là tới Sài gòn. Bay lên thì ba tiếng tới Tây Ninh, chạy thẳng thì một tiếng rưỡi tới tỉnh lỵ Hậu Nghĩa. Anh dám ra Củ Chi chơi không? Thay quần áo, anh với em đi bây giờ nề !

Nghe con bé nói mà chua chát trong lòng. Từ Tà Bon về tới đây ít nhất tôi phải lội một tuần lễ , đạp xe đạp đường nhựa thì ba tiếng đồng hồ, còn trực thăng chắc mười lăm phút. Đó là tốc độ hành quân của địch và ta. Từ đây mà về nhà tôi thì có lẽ mất bốn tiếng đồng hồ xe đạp. Ý nghĩ đó làm tôi nôn nao tấc dạ :

– Đưa anh đạp cho một hồi!

– Em còn đủ sức đạp tới Sài gòn mà, lo dữ hôn!

Chúng tôi qua một khu rừng cao su, chạy trên con đường mòn bọc quanh một cánh đồng đến một xóm còn nhiều tre trúc ba quanh những ngôi nhà ngói xưa như nhà của Má Hai ở Phú Mỹ Hưng. Nhiều nhà vách lá, vách ván cũng còn nguyên. Những cây rơm vàng cao nghệu nhắc cho tôi những kỷ niệm thắm thiết ở quê nhà . Trâu buộc ngoài bờ tre hai bên lỗ tai lúc nào cũng hoạt động xua muỗi mòng. Ước gì tôi bỏ hết ba cái thứ lỉnh kỉnh trên lưng tôi để nhảy lên lưng trâu phóng ra đồng hò hát nghêu ngao như một ông tiên con có trăm phép lạ trên cành roi tre cầm trong tay. Ôi những tiếng dế gáy ran trong mô rạ của tuổi thơ, những ổ chim trên buồng cau sau vườn, những lụi cá nướng trui ăn vội bên bờ đìa.. Tất cả đều lùi lại phía sau. Bây giờ tôi chỉ còn một con đường: đi hoài, đi đã hai mươi mấy năm chưa thấy tới. Ua bảo tôi:

– Bên đó là Xóm Mới ăn thông với lộ 6 chạy ra đụng đường số 7 – Ua chỉ tay – Đó là lồng cu bót Trung Hòa. Cối nó thụt không tới đây, ở đây cây cao su còn nhiều nhưng dân phu đã bỏ đi hết từ lâu rồi. Vì mình vô đó lập căn cứ, đào hầm hố lung tung beng.

– Anh không ngờ ở đây có nhiều cao su như ở Hố Bò ! Mà ở đây có địa không em?

Địa gì ở đây mà địa. Đất thấp ngang mặt ruộng. Nếu có đào thì mùa mưa hóa thành ống cống. Du kích và mấy ông cơ quan chỉ đào hầm bí mật thôi, nhưng mùa mưa cũng ngập nước linh lĩnh. Tụi lính Trung Hòa đã bung ra tới đây, nó khui được vài ba cái hầm, nhưng không bắt được ai, vì hầm ngập hết, ai mà ở dưới đó ! Mấy năm trước em còn ở ngoài chợ, em thấy nói một trung đoàn Sài gòn càn vô đây phá nhiều cơ sở trong rừng và ngoài xóm, bắt sống được cả ban chỉ huy tiểu đoàn thuộc công trường 9. Em có chạy ra coi thấy tội nghiệp quá hà. Người nào người nấy ốm tong. – Ua ngưng kể đưa một tay lên che miệng cười khúc khích. – Sau đó vài hôm vô tình em gói đồ cho khách, em thấy một tờ báo vẽ cái hình và chú thích: Ba tên Việt Cộng đeo không rụng một tàu lá đu đủ .

Ua vừa dứt lời thì chiếc xe rẽ vào mối đường, hai bên là lũy tre. Mấy chú trâu nằm im dưới tàng lá xanh rì. Một chú cò trắng đang nhảy trên lưng trâu chĩa những con mòng. Ua chạy vượt qua suýt cán một bãi cứt trâu, rồi lướt nhanh vào một sân gạch rộng. Sát thềm nhà có mấy gốc kiểng nhánh cây quăn queo. Chúng làm tôi nhớ những chậu kiểng ở nhà ngoại tôi, mỗi cội đều trồng trong một chậu sành lớn. Thềm nhà bằng đất, tấn bằng những tảng đá ong nâu sậm mang những vệt rong xanh. Hai bên hiên nhà là những bụi chuối già với những quày trái sai oằn gần đụng đất. Vài vết đạn lốm đốm trên vách bổ kho. Vậy là coi như hạnh phúc hơn những nhà bị pháo bắn trúng lệnh. Ua réo to.

– Nhà chị Tư Bé nè anh. Chị Tư ơi, chị Tư!

– Chị của em chớ chị của anh đâu mà !

– Chị của em, nhưng là em của anh thôi. Anh muốn uống dừa xiêm, để em xin. Làm gì mà nhìn người ta trân trân vậy?

– Để coi cái miệng dân vận uống nước dừa xiêm của em tài giỏi đến mức nào.

Một ông già khỏe mạnh với tấm lưng dài và chiếc quần lỡ quá gối buộc ngang eo ếch bằng một sợi dây lạt, bước ra, đưa tay che mắt:

– Đứa nào đó?

– Dạ , con Ua !

– Con Bé nó đang xắt chuối cho heo ăn ngoài sau. Bộ có chuyện gì sao cháu?

– Dạ có anh Hai trên khu muốn bàn công tác với chị!

Tôi nhìn cái miệng ba xạo của cô bé. Ông già vừa quay lưng vô, thì Ua cũng dựng xe vào thềm còn tôi ngồi xuống, xem qua một lượt hai chiếc lốp xe đạp và cặp vành coi có chỗ nào bị thương không? Xong rồi ngắm kiểng. Những cái cây cổ thụ con này chắc phải đứng đây tới chết chứ ai mà dời cho nổi. Còn đang tần ngần không biết cái vẻ đẹp của những nhánh nhóc cong queo ở chỗ nào. (Lâu quá toàn ở rừng, đâu có thấy gì hơn ma sốt, mặt khỉ và cứt voi. Ý niệm về thẫm mỹ không còn nữa) thì một bàn tay vỗ nhẹ lên vai tôi:

– Anh Hai, chị Tư nè !

Tôi giật mình quay lại. Một người con gái đứng kế bên, cao hơn Ua một cái đầu. Nàng có cặp mắt đen láy và gương mặt trắng trẻo của một cô gái miệt vườn ít ra nắng. Ua nói:

– Anh ở rừng lâu nên thèm dừa. Nhà chị có dừa xiêm thiệt.

– Ừ, có hàng dừa đàng sau nhà !

– Có bị bom pháo gì chưa?

– Mới sơ sơ!… Bị đạn thôi, chưa trúng bom pháo.

– Chung quanh đây không thấy dấu bom.

– Trực thăng nó ria chơi vài loạt cho đã ngứa.

Ua quay sang tôi:

– Kìa anh Hai, anh muốn uống nước dừa thì hỏi mua sao đứng chết trân vậy? Bộ chỉ ngộ lắm hả?

– Con quỉ này ! Vậy mà lúc nãy nó bảo em là có cán bộ khu xuống giúp đỡ địa phương xây dựng vành đai thép bao Đồng Dù… Anh Hai chịu khó ra sau em móc cho anh vài trái uống chơi chớ bán chát gì. Vườn dừa này hổng lẽ đốn hết ngay, nhưng để nguyên thì nay mai cũng ăn hóa học hoặc bom thôi. Nó bắt đầu rải các vùng chung quanh đây rồi.

Tôi theo Tư Bé đi ra sau nhà. Hàng dừa xiêm, thân cây nhỏ nhắn, không to như dừa ta, mọc thẳng một hàng bên mé mương, nhiều buồng nạo nằm phơi trên bẹ mũm mĩm dễ thương trông thấy phát thèm! Bé đưa câu liêm cho tôi và bảo:

– Anh muốn mấy trái thì cứ móc. Để em vô nhà lấy dao.

Đứng bên hàng dừa tôi vụt nhớ vụ trèo dừa ở nhà xã đội phó hôm trước. Cô ta rắn mắc thật. Mà cũng tại vì cô ấy thương mình chứ con gái dù rắn mắc cũng không đến nổi đó. Cô ta bảo mình trèo bẻ dừa ở dưới này, cô vô nhà tắm thoát y ra rồi kêu mình hỏi: Dừa đã nạo chưa? Suýt chút nữa mình buông tay xuống đất.

Ông già (ba của Tư Bé) cũng ra trông chừng. Ông dùng chiếc gàu mo có cán bằng tre múc nước dưới mương dừa tưới rau, hành, bạc hà trên mấy liếp vườn sau nhà bao bọc bằng lá dừa nước. Rồi tưới gốc bầu xanh tươi mà mỗi lá to bằng chiếc mâm, còn dây của nó thì leo lên giữa nóc nhà với ngọn tua tủa bốn phía. Đất cát ở đây có vẻ màu mỡ hơn đất vùng nhà má Hai. Tưới xong, ông đến nói với tôi:

– Chú em ở trên khu mà sao ít xuống đây quá vậy?

– Ảnh trên R mới về đó bác. – Ua đáp hớt.

– Hèn chi tôi chưa gặp, chớ mấy chú Sáu Nâu, Năm Cai, Năm Ngó… đâu có lạ gì cái nhà này. Mấy chú đó xuống đây huấn luyện dân quân làm hầm chông, gài lựu đạn. Còn mấy chú Ba Luân, Hai Mỏ tới đây càng thường hơn.

– Anh Hai này xuống thay ông Hai Giả là ông lấy bà Chín Kiểu nấu rượu ở Bến Mương đó bác Tám?

Tôi trợn Ua. Ua cũng trừng lại tôi. Đã không rút lui mà còn thừa thắng xông lên:

– Chứ không phải à? Cán bộ gì có vợ ở Hốc Môn hàng tháng đều vô thăm mà ở trong này lại đi ở với đàn bà giá cho đến nổi cái bụng bà ta chang bang.

– Con nhỏ thèo lẻo chuyện người lớn! – Tư Bé quát.

– Em nghe chú Chín Lộc và chú Sáu Huỳnh nói hành nói tỏi dữ lắm. Còn ông Năm Cai, ông Sáu Nâu ra sao em cũng biết. Tên Nâu bể rồi bây giờ đổi ra Sáu Tiến.

Tôi thấy hơi nhột cho bạn mình nhưng không bụm miệng nó được. Từ lúc gặp nó tới giờ tôi có nhận xét là con bé này khôn hơn người lớn. Tư Bé bảo:

– Mày bớt bớt cái miệng này lại nghe, Ua !

– Ừ! để mai mốt, còn bây giờ em phải nói để bác Tám biết là không phải cán bộ nào của khu cũng thứ thiệt đâu!

– Nói vậy anh Hai này cũng không thiệt hả?

Ua lúng túng nhưng đỡ gạt ngay:

– Mấy ông đó khác còn anh Hai tôi khác !

– Anh Hai của mày đây à?

– Ừ. Anh Hai của tôi đó, rồi sao? Sẵn dịp chị cho xin vài trái dừa khô đem về tối nay ngoại nấu chè…

– Cúng mụ cho mày hả ?

– Nấu chè để cúng ông bà cho ảnh làm anh Hai tôi!

Bác Tám thấy đám trẻ vui chuyện bèn vác câu liêm móc liền mấy trái dừa, có một trái lăn xuống mương. Tư Bé đưa dao cho tôi bảo vạt mặt dừa. Tôi nói:

– Tôi là dân xứ dừa. Nhưng từ hồi thoát ly tới bây giờ hình như không có uống nước dừa trong trái lần nào. Đây là lần thứ nhất. Cô Tư muốn tôi chặt dừa kiểu nào?

– Dừa thì chặt có một kiểu thôi chớ mấy, anh?

– Có hai kiểu, một là kiểu của mấy bà bán dừa theo các bến xe đó. Tức là cầm trái dừa trên tay mà vạt từng lát, và lát cuối cùng làm cho miếng sọ dừa văng ra.

Ua bĩu môi:

– Xí, có vậy mà cũng gọi là kiểu.

– Khó lắm nghe cô em. Vạt văng cái miếng sọ nhưng miếng cơm dừa bên trong còn nguyên. Nước dừa chưa có đổ ra giọt nào. Để như vậy đưa cho khách, khách cầm tự khui lấy cái màn cơm đó mà uống.

– Còn kiểu thứ hai?

– Kiểu thứ hai gọi là ăn dừa ba dao. Đó là chỉ chém có ba phát là uống, chứ không được chém nhát thứ tư.

Tôi vạt cái môn dừa để trái dừa úp xuống và chém ba nhát rồi gỡ cái đít dừa ra. Nước dừa sóng sánh bên trong không đổ chút nào. Tôi nâng lên mời bác Tám. Bác lắc đầu:

– Tôi ở nhà uống hoài, chú uống đi cho đỡ nhớ quê !

Đợi tôi uống xong, ông già vui vẻ nói.

– Tôi có kiểu khác đặc biệt hơn nhiều. Hồi còn con nít, tôi đi chăn trâu, lâu lâu bẻ trộm được của nhà giàu một trái, đâu có dao mác gì. Tôi dùng răng cạp như chuột, cạp hết vỏ xanh thì cắn cái môn non rồi bẻ cọng rạ chọc vào cái mắt mềm rồi hút. Thiệt ngon trần đời.

– Mắt mềm là mắt gì hả bác? – Ua hỏi.

– Mày hỏi để nay mai đi ăn cắp dừa hả ? – Tư Bé gắt.

– Em không biết mắt mềm là mắt gì thiệt mà !

– Trái dừa có ba mắt trên đầu. Hai mắt cứng hơi trũng, còn mắt mềm thì lồi. Phải xoi cho đúng mắt mềm thì mới thủng còn nhè mắt cứng mà đâm thì dao cũng không thủng.

Uống nước dừa xong, tôi thẻo hai trái dừa khô buộc chùm lại để choàng qua poọc-ba-ga cám ơn bác Tám rồi đi với Ua ra ngỏ. Tư Bé đứng ở thềm nhà nhìn theo chớ không đưa như Bảy Mô.

(Mãi một năm sau tôi mới lại gặp cô gái này ở trong đạo quân đầu tóc tả tơi của bà khu ủy viên Năm Đang. Năm 1968, Tư Bé theo Tiểu đoàn Thép của tôi tấn công quận ly Củ Chi. Sau khi cuộc tấn công thất bại, Tư Bé được đề bạt làm quận đội phó Củ Chi. Đáng lý ra Bảy Mô lãnh chức này nhưng ở trên chê thành phần nên Bảy Mô tuy rủi mà may. Trong cuộc đổ chụp phản công của quân Mỹ tại Đồng Lớn xã Trung Lập Thượng, cô bị truy đuổi và bắn chết lúc tuổi chưa đầy hai mươi. Tôi sẽ trở lại ở những chương tới.)

Tôi bảo Ua để tôi đèo, nhưng Ua vẫn kiêu hãnh:

– Em thừa sức.

– Em ăn nói như vậy không sợ ông Chín Lộc la hay sao?

– Mười lăm tuổi rưỡi em đâu còn bé nữa. Nhiều đứa lớn xác nhưng đầu bằng đầu tép. Còn em bé xác nhưng lại….

– … đầu dồ, hì hì!

– Anh mắng em hả? Em hổng thèm ăn chè cho anh coi!

Ua chạy theo con đường nhỏ băng qua cánh đồng đến xóm Bàu Tròn. Tại ngã tư có cái chòi Thông tin ngã xiêu ngã tó giống như Hố Bò. Trên một tấm ván con lung lơ như cái răng rụng, một tấm giấy bay giật rèn rẹc theo gió. Tôi hỏi:

– Giấy gì vậy em?

– Thông cáo mời đi đấu tranh ngoài Củ Chi.

– Mời ai?

– Mấy bà cụ ăn trầu. Con gái đàn bà tởn hết rồi.

– Đấu tranh thắng lợi to lớn mà sao lại tởn?

– Bà ngoại em là chì lắm mà cũng lắc đầu rồi.

– Sao vậy?

– Mỗi lần đi mất một cái áo một chiếc nón.

– Nón mất đã đành, còn áo sao lại mất?

– Nó vẽ khẩu hiệu bằng sơn dầu trên lưng chớ sao! Nó còn bảo chừng nào ông Một Sơn bí thư quận ủy ra chợ đấu tranh thì nó chịu thua. Nó nhân đạo không tuột quần mấy bả là may phước! Nhưng nó bảo: cấm tuyệt có đánh trâu thì ra đồng mà đánh, còn léo ra nữa mà nói lải nhải thì đi tù rục xương. Mấy bà già gân đòi đền áo và nón, nó bảo đi về bắt thằng Bí bo đền cho cả quần.

– Em có đi không?

– Có chứ. Em chở bà ngoại ra đó . Em xách giỏ trầu cho ngoại để đề phòng khi bị lính bắt giữ thì ngoại có trầu nhai đỡ buồn miệng. Còn em thì dựng xe đạp ở cổng quận xong em chạy theo đoàn. Đoàn bị lính lùa vô cổng rồi đóng cửa lại. Nó thấy em, nó nhìn một hồi rồi bảo: “Con đ… hà nàm này năm ngoái còn học ở đây mà. Vô khu hồi nào mà đạp cứt Giải phóng vậy?” Nó lôi em ra. Em cự lại: “Để tôi đi tranh đấu.” “Đấu má mày, đồ con nít đẽn?” Em không chịu ra, nó bảo: “Tao cho mày biết mặt.” Rồi nó xắp một mớ tóc: “Đó mày về mà đấu tranh với thằng già hãm con nít của mày.” “Thằng già nào? Trong khu đâu có thằng già nào làm chuyện tồi bại đó ? ” Em nói tỉnh bơ. Chỉ có mấy ông lớn tuổi xa gia đình lâu năm nên nuôi con nuôi thôi. Ua hỏi tôi:

– Hổng lẽ nó nói bác Hồ sao anh?

– Không bác Hồ suốt đời ở giá và đạo đức vô cùng.

(Tôi sực nhớ ra rồi. Cái thằng cha già được treo ảnh ngang ảnh cụ Hồ ở Nhà Hát lớn Hà Nội có lần tôi trông thấy. Nhưng không tiện nói ra cho cô bé. Tụi Sài gòn này độc địa thật, chuyện gì trong khu nó cũng biết).

Ua tiếp:

– Bởi vậy tóc của em một bên ngắn ngủn như cánh gà tre bị vặt hết lông.

– Rồi cuộc đấu tranh ra sao?

– Nó phơi nắng từ sáng tới chiều rồi phát bánh mì, nước ngọt cho ăn uống rồi bảo: “Con lạy mấy bà nội, hổng có gạo nấu thì ra đây tụi tui kiếm cho, đừng có nghe lời bọn khỉ đột ra đây khuấy rối mệt tụi tui lắm. Kỳ sau còn ra, hổng có tha nghe ! “

– Vậy tịt luôn à?

– Còn đi nữa chớ. Nhưng nó không nhốt. Nó bắt lên xe chở đi xa mười lăm cây số rồi đổ xuống bảo: “Cho mấy bà ở đó mà đánh trâu đánh chó gì thì đánh.” Mấy bà lội bộ về muốn rụng giò. Ngoại em về gần tới nhà ngất xỉu. Hai ba ngày sau mới lợi sức. Từ đó tới sau bà Năm Đang kêu đi đấu tranh ít có người theo.

– Bả có đi không?

– Có vài lần, nhưng kể từ khi em bị cắt tóc, bả chỉ ở trong này chỉ đạo ra. Em hổng biết sao tụi nó biết. Nó nói nhắn: ,’Kêu con đ. già đó ra đây nói chuyện, đừng có ở trỏng mà xúi giục người ta.”

– Rồi bả thụt luôn à?

– Thụt chớ ló ra đặng bị bắt. Nó bắt được bả thì có mà đi Côn Đảo chớ không phơi nắng đâu.

Hồi lâu Ua lại nói:

– Mấy ông xã ủy bày chuyện quá trời hè ! Mỗi lần đi mất một ngày cấy của người ta.

– Không có ai bị lính hãm hiếp à ?

– Ối ổi ! Tụi nó đâu thèm dân ruộng của mình. Vợ tụi nó toàn đi dép guốc sơn móng tay, đi ngang qua thơm phức.

Câu nói của con nhỏ làm tôi chợt nhớ tới thằng em. Nó đại úy tôi cũng đại úy. Nhưng nó Quốc gia, tôi Cộng sản. Gia đình nó hẳn là sung sướng vợ con đùm đề. Còn tôi lang bang từ Nam ra Bắc, từ Bắc qua Tàu, từ Tàu về Nam chưa đứng được một nơi nào để nghỉ chân suốt hai mươi năm. Con Ua bỗng hỏi bất ngờ:

– Gia đình của anh ở ngoài đó mà ở đâu?

– Nhà Bè !

– Anh có anh em gì không?

– Có ! – Tôi xốn xang buông một tiếng đơn độc.

– Có ai đi lính quốc gia không?

– Khô…ông!

– Vậy là khỏe đó anh.

– Sao khỏe?

– Nếu anh mà có anh em đi lính quốc gia thì hết mong lên cấp. Kế đó là ở trên biểu anh vận động làm binh biến như Phùng Văn Mười.

(Tôi giật mình. Sao con nhỏ này biết đến cả chuyện đó. Tôi vụt nhớ tới thằng Chung Tấn Quyền, sĩ quan cùng binh chung với tôi. Nó bị tù vì cái họ “Chung Tân” của nó có ăn chịu với Chung Tấn Cang Thủy Quân Đề Đốc của Sàigòn. Mãi không “được” về Nam. Sau này về nhưng lại không được thăng cấp. Tôi tự hỏi: nếu nó có liên hệ với Chung Tấn Cang sao không bảo nó về móc?)

– Em biết vụ đó nữa à ?

– Hồi đó em còn đi học ngoài Củ Chi. Vụ đó ở bên Bình Dương chớ đâu .

Ua nói chuyện không ngớt. Nó biết những chuyện người lớn khá nhiều. Có lẽ nó biết cả chuyện thằng cha già… trên kia nhưng nó không muốn nói ra thôi. Vì đó là cái nhục cho cả lũ, trong đó có nó . Nó hay nói tía lia nhưng nó biết chuyện nào nên nói chuyện nào phải giữ kín. Chỉ tội nghiệp là chuyện nó giữ kín thì cả nước biết từ lâu nữa là anh Hai nó. Nó đạp chậm lại rồi bảo:

– Đây là chuyện bí mật, em nói cho anh nghe, anh đừng học lại cho ai nghen!

– Ừ !

– Ông Tư Minh bắc kỳ xâm lược.. .

– …. nói bậy rồi! Sao nói thế? – Tôi cúp ngang.

– Đó là mấy ổng nói chớ em đâu có . Ông nào người Bắc cũng bị gọi như vậy cả. Nhất là trong lúc uống trà.

– Rồi mấy ông Bắc kỳ nói sao?

– Mấy ông cười hề hề chớ đâu có nói sao ! Ông Tư Minh Bắc kỳ xâm lược di cư hiện làm quản lý của ông Chín Lộc, có vợ làm tiệm may ngoài Sàigòn.

– Rồi ăn thua gì mà em hài ra?

– Có ăn thua chớ. Hàng tháng bà vợ đi vô trong này đem tin tức cho ông Chín Lộc.

– Sao em biết bả vô đây để đem tin?

– Sao hổng bi… iết!

– Bộ em có đi Sài gòn cho ông Chín Lộc nữa à?

– Đâu đâu có!

– Vậy là má em ở Củ Chi cũng có liên lạc với vợ Tư Minh chớ gì?

Tôi chận đầu. Con bé chối phăng, nhưng trong cách chối của một đứa bé ngây thơ dù khá lém lĩnh cũng để lộ sự thú nhận. Công tác quân báo của Việt Cộng luôn luôn đặt cơ sở gia đình chứ không có kỷ thuật chuyên môn. Nhất là quân báo ở thành. Chúng luồn vào cả gia đình sĩ quan cao cấp Sàigòn. Ua tía lia:

– Má em bán vải chớ đâu biết gì mấy chuyện đó. Má em chỉ đường cho vợ Tư Minh vô đây hoặc đôi khi tối cho bả ngủ nhờ. Rồi má em nhắn em ra rước bả vô gặp Tư Minh.

– Ngoại làm sao có gạo nấu cơm cho em hàng ngày?

– Của chú Tư Minh cho. Chú nói ngoại với em ăn như mèo hửi, để chú lo. Ngoại cứ nấu cơm dùm chú và thỉnh thoảng chú cần thì em ra Củ Chi gặp má hoặc đi xuống Sài gòn dùm chú, cầm một cái thơ hay cái áo cái khăn gì đó đưa cho một người nào.

– Thôi được rồi, anh biết hết rồi.

Ua đang đạp bỗng quay lại làm xe đạp sắp lật ngang:

– Anh biết gì?

– Nói đùa, chớ anh không biết gì đâu!

Cả nhà Ua đã làm nhân viên quân báo của Chín Lộc rồi mà không hay. Đó là cách hoạt động tình báo của Cộng Sản. Tuy không ghê gớm lắm, nhưng lại nguy hại cho người cộng tác vô cùng. Lỡ ăn xôi chùa thì phải ngậm miệng. Họ trả lương bằng nhiều cách, nhân viên lãnh mà không biết. Lãnh rồi thì khó từ chối. Đi vào vòng rồi thì khó nhảy ra.

(Tôi sẽ kể trường hợp của một nữ nhân viên tình báo rất đẹp đem tin tức trực tiếp cho Võ Văn Kiệt, về sau bị tên này cưỡng hiếp dưới địa đạo nên bỏ về thành làm quân báo R phải hoảng vía, thay đổ cơ sỡ lung tung.)

– Em có biết vợ của chú Sáu Huỳnh không?

– Sao không?

– Mặt mày thím Sáu ra sao?

– Còn trẻ giống như là…à con gái của chú vậy.

– Con người trắng trẻo cao lớn như cô Tư Bé phải không?

– Anh cũng biết bả nữa à ?

– Hồi hai mươi năm trước !

Ua kêu lên rồi tiếp:

– Em dắt bả với anh Thức, là con trai của chú, từ nhà má em vô trong này.

– Chị ấy học chung lớp với anh nhưng lớn tuổi hơn anh! Chỉ nhỏ tuổi nhưng lớn con. Lấy chú Sáu Huỳnh hồi mới mười sáu. Lúc đó chú Sáu làm ở cơ quan quận Nhà Bè.

– Em ớn anh luôn.

– Đừng có nói lép bép. Công tác quân báo mà nói nhiều là dễ lộ , rõ chưa .

– Với anh thôi, còn mấy ông nội Năm Cai, Sáu Nâu, Hai Giả, Năm Tiều, Hai Nhứt, Bảy Nô… em đời nào lộ ra. .

– Sao khai hết với anh?

– Anh là thứ dữ mà ! Nay mai anh có cần gì bảo em nghe ! Đồ hộp, bánh mì, xanh tuya rông, bi đông USA, chó có lát, bút chì nguyên tử, cà phê, thuốc lá… Bản đồ, địa bàn, súng Colt, đạn Colt hoặc P38. .

– Đạn cà nông có không . . . .

– Thứ này thì em không biết. Nhưng các thứ kia thì nếu anh muốn buổi sáng, buổi chiều hoặc ngày mai em đem về cho anh. . . .

– Ở đâu mà tài vậy?

– Ở chợ Bắc Hà trước của Đồng Dù.

– Mỹ nó bán súng Colt và P.38 à?

– Nó không trực tiếp bán nhưng có mối chạy cho n.

Trên đường đến cơ quan quân báo của Chín Lộc, qua miệng một cô bé tập tểnh làm tình báo, tôi biết được bao nhiêu là chuyện về Củ Chi, về Đồng Dù và về nước nhà . Tôi phải dấn thân vào hai trận địa một lúc: khói lửa và tâm lý. Vừa đánh giặc vừa móc em trai từ phía giặc.

Ua rẽ vào một đường mòn giữa hai đám khoai mì cao khỏi đầu đạp tới một ngôi nhà lá nhỏ chung quanh um tùm những bụi chuối và những cây mít sai trái. Vùng này mít rất nhiều và ngon nổi tiếng: mít nghệ Bàu Chứa. Ua bóp chuông leng leng, kêu:

– Ông Sáu, khách của ông về tới ! – rồi quay lại tôi – Anh vô đi. Ổng ở trong nhà . Em đi quán mua đường về nấu chè .

Chương 41
C.. cô hồn, L… nhà nước

Một người đàn ông đen đúa đầu bạc trắng nhe răng cười y hệt như anh Bảy Chà Hynos in trong tuýp kem đánh răng, bước ra sân đưa tay cho tôi:

– Đi vô nhà ! – rồi réo theo – Ua, con đi quán hả ? Mua cho bác vài bao Capstan và hộp sữa.

– Cà phê còn trong bếp !

Ua quay lại bảo rồi đạp thăng. Người đàn ông lôi tôi vào nhà , vừa đi vừa nói :

– Mày là con trai lớn của thầy Chín ở Tân Bửu đây hả? Nếu không được ông Tám Quang cho biết trước chắc tao không nhận ra mày!

Tưởng tôi không nhận ra ông ta, ông ta tự giới thiệu:

– Tao là Sáu Huỳnh chồng cô Tịnh, rể ông Cả Giác đây mày còn nhớ không?

– Anh tưởng tôi quên được chợ Tân Bửu của mình dễ dàng như vậy à?

– Bả hỏi thăm mày hoài mà tao đâu có biết mày ở đâu!

– Anh về năm nào?

– Năm 63. Tao chỉ gặp mày có một lần ở Mậu dịch ăn của thị xã Hòn Gai. Sau lần đó tao dông.

– Chị Sáu còn ở đó hay dời đi dâu?

– Đi đâu mà đi. Gốc rể mắc ở Tân Bửu còn đi đâu nữa?

Một nét mặt quen thân làm tôi thoáng nhớ tất cả người và cảnh quê hương. Hồi năm 1947 tôi có về nhà ở Kinh Bà Vụ một lần và là lần độc nhất. Hồi đó anh Sáu làm Huyện đội trưởng Trung Quân Chợ Lớn, tên là Sáu Trầm. Ba tôi, ông Cả và Sáu Trầm uống rượu suốt một đêm bàn về tình hình chiến tranh đang lan tràn. Ba tôi trưởng ban y tế tỉnh nhưng ý kiến của ông có ảnh hưởng trong giới Việt Minh cầm quyền lúc bấy giờ. Lúc các ông uống rượu thì tôi bị cô Dung bạn tôi bắt cóc sang nhà cô, Dung cũng cỡ tuổi Ua bây giờ, nhưng cao ráo và không môi mép như Ua. Hai đứa còn trẻ quá biết gì đâu, chỉ nhảy cóc nhảy nhái qua loa.

– Anh đổi tên hồi nào?

– Từ lúc về trong này.

– Hồi năm ngoái khi giúp cho Tư Linh tiếp thằng Bọ Chét, tôi có nghe nói tên anh nhưng không biết đó là ông cựu huyện đội trưởng Trung Quận ngày trước.

– Vụ đó Tư Linh lo giàn trong, tao chạy giàn ngoài chớ đâu. Lạy trời ở trên đừng có cho lũ ôn dịch đó vô đây nữa. Lo ăn, lo ngủ, lo tắm giặt cho nó còn mệt hơn lo tiếp tế cho một chiến dịch hồi đánh Pháp. Mẹ kiếp, lại còn lo cả cái vụ đó cho nó nữa .

-Tôi phục anh luôn!

– Phục gì! Cơ sở mật của tao đó. Tao phải nói gạt là vô trong phòng phục vụ một sĩ quan Mỹ mình vừa địch vận được. Nó tưởng thiệt nên vác xác vô. Xong rồi nó cự nự quá tay. Nó bảo vừa nhìn thấy là nó biết không phải Mỹ rồi. Thôi, bỏ qua đi, kệ mẹ nó, c… cô hồn 1… nhà nước. Thứ đó thì đụng vô thứ đó là vừa. Mày đi tắm cái cho khỏe rồi bàn chuyện. Mà này, vợ tao vô lần rồi nói là bà con bình yên cả. Chỉ có gia đình mày là dời đi đâu không ai biết!

– Tôi có nhờ má Hai ở Hố Bò đi móc nhưng sau hai ngày tìm kiếm rồi trở về cũng nói như anh.

-Chắc về Nhà Bè quê ngoại mày!… Cái giếng gần cây mít. Lấy gàu múc lên. ở đây không có sông rạch như xứ mình.

Tôi đi ra giếng, ngang qua bếp, thấy Ua đang lui cui nhóm bếp, tôi hỏi:

– Nấu chè hả cưng?

– Nấu nước pha cà phê đãi khách bự!

Tôi tắm xong vô nhà thì gặp một người đàn ông nhỏ thó trẻ hơn Sáu Huỳnh, sơ mi trắng, quần ka-ki xanh. Sáu Huỳnh cười bảo:

– Đây là anh Tư Minh, một tên Bắc kỳ di cư kiêm Bắc kỳ xâm lược. Sau này mày sẽ liên hệ nhiều. Có cần gì cứ níu thắt lưng của hắn nại đòi.

Di gì nữa mà di. Tôi ở trong này hai chục năm rồi. Tôi trở thành dưa hấu từ lâu. Bố bảo cũng không dám uề ngoài đó nữa. Sợ nhất là đói như hồi bốn nhăm!

Sáu Huỳnh hỏi.

– Bác Chín đi đâu Ua?

– Bác nói bác đi qua ông Năm Lê chút nữa về !

– Vậy thì đủ tứ trụ rồi. Phò một chầu tú lơ khơ chơi. Công tác mai tính! – Sáu huỳnh vỗ đùi – Quên nữa, có thằng Cúc quê ở đâu không rõ, nhưng hồi trước nó hoạt động vùng Nhà Bè. Để tao cho kêu nó lại đây, mày hỏi thăm chắc nó biết tin tức gia đình mày. Trong nhà còn con gà mái ấp. Để tao nài lại của bà ngoại, luộc xé phay, vừa nhẩm xà vừa oán lơ khơ. Mày ở nhà nghỉ, tao đi rồi thêm vài món cầm tay để đãi mày. Không gì thì cũng là đồng hương cố cựu!

Tư Minh nói với theo:

-Đàng quán sợ không có Anít, nếu cần tôi cho đi Trung Hòa! Mà quên nữa! Tôi còn hai chai sâm banh tôi giấu lại kỳ đón thằng cha nhà báo Bọ Chét Bọ rận gì đó, tới nay chưa biết dùng vào đâu.

Sáu Huỳnh gạt:

– Ba cái thứ đó uống lạt nhách. Để tôi đi tìm đế uống cháy cổ họng mới đã.

– Ừ, anh đi cho mau. Giờ này khả năng đổ chụp thì ít, nhưng còn lo bom pháo . Ngang ngả ba Cây Điệp phải vọt cho nhanh. Và phải coi chừng cá rô rỉa. .

Sáu Huỳnh gạt phắc.

– Thôi ông Bắc kỳ xâm lược ơi! Tôi đã ăn cả chục trận bom pháo rồi chớ phải dân thành mới ra khu sao mà ông lo dữ vậy!

Nói rồi lấy xe đạp vọt đi. Tư Minh lắc đầu:

– Tôi ớn lắm. Nhất là đám cá rô. Mình đang đi đường mà đụng nó là kể như núa nuôn (lúa luôn – tiếng “lúa” của cán Nam kỳ hồi chín năm có nghĩa là hỏng bét, xù, tiêu tùng.)

– Bộ mình bị rồi à?

– Ông Chín Mành phó ban tài vụ R với thằng cận vệ đang đi ở Trảng Cỏ. Nó tới, nó sà xuống. Hai thầy trỏ lủi đại xuống hầm bên vệ đường. Nó đáp xuống đất, ném lựu đạn vào miệng hầm rồi lôi xác ra lột một K54, một AK và mấy triệu bạc.

Bà ngoại Ua, người nhỏ bé lưng còng, đến bên tôi, hỏi:

– Nghe con Ua nói chú em ở trên Rờ trên khu gì về phải không? ở trên đó chú em có nghe chừng nào hết giặc không?

– Dạ cái đó là do ngoài Bắc chớ đâu phải do tụi cháu, thưa bà !

– Sao trong Nam oánh giặc mà do ngoài Bắc?

– Dạ vì ngoài đó là chỉ huy còn trong này không phải chỉ huy.

– Vậy thì vụ đạo quân đầu tóc cũng do ở ngoải chỉ huy nữa hả chú em?

Nghe hỏi, tôi không biết bà thật tình hay lắc léo, tôi đang lựa câu trả lời thì bà tiếp:

– Tụi lính Củ Chi này nó hiền, chớ nếu gặp mấy chú, chú không để nhủng nhẳng vậy đâu ! Nếu tôi làm quận trưởng thì tôi chở người của bà Năm Đang đi ba chục cây số chớ không phải mười lăm cây.

– Sao vậy hả bà?

– Cứ theo phá đám hoài, phải trị chớ sao !

– Có bà đi nữa mà ?

– Bây giờ tôi mới rõ ra ! bà Năm bả xúi đàn bà con gái đi ra quận để cản mũi cản lái lính quốc gia. Cản gì được mà cản. Có bữa họ đang hành quân, đằng này kéo ra cản đầu xe thiết giáp. Lính họ nạt: “Tránh ra, không tránh cán bỏ mạng ! ” Mấy bà làm gan, níu tay lại với nhau thành hàng trước mũi thiết giáp. Một người lính hét: “Các bà dang ra! Tôi thổi ba lần tu-hít nếu các bà không tránh thì tôi cho xe chạy ! ” Rồi nó thổi tu-hít vừa dứt hồi thứ ba, nó cho xe chạy.

Tư Minh nói.

– Quân dã man.

– Nhưng xe chạy mà đâu có chết ai.

– Sao vậy cụ.

– Xe vừa nhích tới thì mọi người buông nhau ra tản mất hết – Bà cụ chép miệng – Khổ quá ! Hồi trào trước thì Việt Minh đánh với Cao Đài, thằng cha con Ua và thằng cha con Chia đi theo Cao Đài bị Việt Minh bắn chết. Rồi bây giờ mấy ông Cộng đánh với mấy ông Quốc gia không biết chừng nào mới thôi. Nhà tôi rộng lắm. Bây giờ còn có bơ lớn đây. Hai thằng rể chết, hai đứa con gái góa chồng, hai đứa cháu ngoại mồ côi. Tôi bây giờ muốn trồng mấy nọc trầu xà lẹc để ăn mà không trồng được, muốn có trầu tươi ăn hàng ngày cũng phải ra chợ Củ Chi. Tôi bây giờ có tài nhịn trầu là giỏi nhất.

Tư Minh nháy tôi không biết với ý gì nhưng tôi thấy câu chuyện của bà cụ đã bộc lộ rõ tâm tư của người dân vùng này, nên tôi gợi tiếp:

– Chắc bây giờ mình còn đấu tranh mạnh nữa hả bà ?

– Còn ai nữa mà đấu tranh. Hồi nẵm thì mạnh lắm, nhưng có ăn thua gì. Thằng quận trường Củ Chi bảo: “Các bà muốn chúng tôi ngưng bắn pháo vào làng thì các bà phải đuổi mấy thằng Việt Cộng đi về Bắc.” Bà con bảo: “Các ông dùng súng còn đuổi không được chúng tôi tay không thì làm sao?” Thằng quận trưởng khôn lắm chớ đâu có ngu. Nó bảo: “Các bà chứa Việt Cộng trong nhà, tôi bắn nó mà lỡ trúng các bà chớ đâu phải tôi bắn các bà. Nếu các bà tránh xa chúng nó hoặc đuổi chúng nó đi thì tôi đâu phải bắn làm gì cho uổng đạn! Nếu mấy bà ở trong đó không yên thì ra đây tôi cho ruộng làm, cho tôn cất nhà, cho gạo ăn…” Thấy nó nói vậy nhiều bà ngãng ra không muốn đi đấu tranh nữa. Bây giờ thì không ai đi nữa!

Bà vô buồng lấy ra một cái nón lá và một cái áo đen. Nón lá trắng thì mang chữ đen áo đen thì in chữ trắng. Hai dòng chữ khác nhau nhưng cùng một nghĩa: Đả đảo Hồ Chí Minh! – Đả đảo mặt trận côn đồ.

– Đó bây giờ cậu coi, từ đầu năm (65) B52 dập các xã ven sông Sàigòn, bây giờ có gom dân lại cũng nấu không ngọt nồi cháo, lấy gì đấu tranh! Tụi nó không nhẹ tay như trước nữa đâu mà hòng ra ra vô vô đòi này đòi nọ.

Tôi và Tư Minh ngồi nghe bà cụ tố khổ mà chết điếng. Một chập bà tiếp:

– Tôi ở đây quạnh quẻ một mình với con Ua . Tôi muốn về ở trong chợ với má nó, nhưng nó không chịu đi. Nó lỳ lắm. Pháo bắn, tôi lôi nó vô hầm nó không vô, cứ nằm ngủ. Sáng nay nghe bom bỏ ở miệt trong, nó chưa về, tôi lo ngồi đứng không yên. Mà nó về mặt mày tỉnh bơ. Tôi hỏi nó: “Có ai làm sao không? ‘ Nó nói: “Chết ba con cóc!”

Bà đứng dậy lụm cụm vô bếp bảo Ua:

– Gà chín rồi! Dọn ra ăn đi! Để chiều tụi Đồng Dù giã gạo không có ăn uống được!

(Tiếng giã gạo rất phổ thông ở đây. Không ai bảo ai, mà từ cán đến dân ai cũng nói một kiểu.)

Bà cụ cứ lằng nhằng kể lể hoài làm như tôi là người có thẩm quyền giải quyết mọi chuyện.

– Nhà cửa bây giờ còn gì đâu. Chú Huỳnh với chú Minh đào một cái hầm, tôi và con Ua làm một cái. Bữa nào có vợ chú Huỳnh hoặc chú Minh thì dắt lại nhà con Tư Bánh Bò ở nhờ. Ván gõ lấy làm nắp hầm, liễn thờ lót nằm, giường thì xếp lại quăng xuống mương. Tủ bàn khiêng ra bỏ ngoài vườn, đậy bằng lá chắn và rơm, nếu bom bỏ trúng thì cháy hết.

Lên mâm lên bát xong thì Sáu Huỳnh về tới dắt theo một tốp xe đạp như đoàn cua rơ trong đó có cả ông Chín Lộc. Sáu Huỳnh bảo:

– Vô mau! để đầm già trông thấy mình là hết có nhậu!

Sáu Lễ, Sáu Cúc mỗi người cầm một chai đế còn Chín Lộc xách một bọc giấy. Chín Lộc nói:

– Buổi sáng nó oánh Ngã Ba Cây Điệp, xế qua nó chơi Rừng Làng, không biết buổi chiều nó viếng chỗ nào.

Sáu Huỳnh giới thiệu tôi với Sáu Lễ:

– Đây là người cùng quê với vợ mày đó Sáu Lễ.

– Ở đâu vậy?

Sáu Lễ hỏi ngang ngang tôi cũng đáp ngang ngang:

– Ở Cầu Đúc Mỹ Phú .

– Biết Dì Tư Quán ở tại Cây Keo Một không?

-Lạ gì! Con gái của bả chơi nhà chòi với tôi hồi nhỏ.

-Trời đất! Vậy ông cất nhà chòi với vợ tôi trước tôi rồi!

Sáu Huỳnh cười hô hố:

– Té ra nó cất nhà chòi đúng vợ mày sao?

– Còn gì nữa, bà Tư Quán là má vợ tôi.

Mọi người cười rộ lên. Tôi xua tay:

– Hồi đó tôi mới bảy, tám tuổi mà anh Sáu. Còn vợ anh mới có năm tuổi thì nhà chòi đâu có ăn thua gì. Tôi với chỉ thích ngồi chung trên cái tàu mo cau để đám bạn kẻo chạy trước sân nhà giả bộ làm xe hơi chơi thôi mà !

Sáu Lễ nói:

– Tôi nói chơi vậy thôi chớ nhà chòi của bả tôi chiếm lĩnh trước nhất mà ! Hà hà . . .

Tôi hỏi.

– Nè, có móc gia đình chưa?

-Tôi về năm 60 tôi có móc bả vô được một lần. Thằng con trai đầu lòng lúc đình chiến nay đã mười hai tuổi. Nay được một đứa con gái bốn tuổi. Má vợ tôi chết lâu rồi.

Sáu Lễ tiếp:

– Hồi ở Xuân Mai tôi thấy ông vô căn-tin ngồi uống trà với ông Ba Tô Ký hoài mà đâu có ngờ ông là người bản sở với vợ tôi. Lúc đó ông thường tập lái xe jeep với bọn Sáu Thưa, Hai Thùng trên đường Ba Thả – Hòa Lạc phải không?

– Đúng rồi ! Sáu Thưa thiếu úy em Bùi Thanh Khiết còn Hai Thùng là em ruột của cô Kim Quít. Cô Kim Quít ra Bắc bằng đường Cao Miên gặp chồng cô ta là Nguyễn Đắc Nam, ông có nghe vụ đó không?

– Có chớ. Thằng Nam lúc bấy giờ đang ở bên Lào xin về gặp vợ một tuần lễ . Lâu ngày mới được ăn bánh bẻng mê quá nên tự ý tăng gia hạn phép một tuần. Trở lại Lào bị phạt. Sau đó cho về Nam, không được lên chức. Tội nghiệp nhất là bỏ cái bề hê ở lại đất Bắc mà vác con tí ngẵng về Nam một mình. Đau khổ quá chừng.

– Bây giờ ông biết nó ở đâu không ?

– Nghe nói nó về rồi mà không rõ nó ở đâu.

Sáu Lễ hỏi:

– Ông móc gia đình chưa?

– Móc quác.

– Ông có bà con bên vợ tôi không?

– Hình như bà con bên ngoại. Tôi gọi bà Tư bằng bà.

Sáu Lễ cười đắc chí:

– Vậy ông phải kêu vợ tôi bằng dì, kêu tôi bằng dượng.

– Phải đó. Tôi mới nhìn ông dượng là Chín Nữa ở đại đội 6.

Chín Lộc giục:

– Thôi ngồi vô, vừa nhậu vừa nhìn bà con.

Sáu Huỳnh nói:

– Ở đây tụi mình cũng đủ thành lập hội Nhậu chống Mỹ rồi. Dễ gì chịu thua tụi Ba Tố Năm Đùng.

Tôi hỏi:

– Hội Nhậu mới thành lập tối hôm qua mà anh biết à?

– Biết chớ. Cái nghề của tao ai địt một cái bộp tao cũng biết lựa là cái Hội Nhậu hát bội sáng đêm hôm qua. Nghe nói mày hát cũng khá lắm.

– Dạ thì ai tới đâu, em tới đó vậy anh Sáu. Hồi ở ngoài trường Pháo tụi này cũng đã thành lập Hội Ve Chai ở quán bà Ba Cạo rồi mà.

Sáu Huỳnh vừa rót rượu đưa cho tôi vừa nói:

– Hậu sánh khả quý. Mày hồi đó là con nít, nhưng bây giờ mày hơn tụi tao, bữa nay tao mừng mày. Nè, cắn một miếng đầu coi cho được coi. Xong rồi đưa cho Chín Lộc Bắc Kỳ xâm lược. Phải uống liền liền không được để ly xuống.

Sáu Lễ nói:

– Nếu muốn đua với tụi Ba Tố Năm Đùng mình phải nêu khẩu hiệu:

Một ly còn nhớ tên nhớ tuổ
Hai ly gật gù, bước đi chúi lúi
Ba ly ôm gốc cột cho chó ăn chè
Bốn ly bom bỏ chẳng thèm nghe
Năm ly pháo bắn coi như cứt ỉa
Sáu ly cá rô tới tha hồ cho nó rỉa.

Chín Lộc hớp xong đưa cho tôi:

– Cậu còn trẻ phải chầu đôi. Làm miếng nữa ! Mặt mũi sáng sủa chỉ phiền một nổi là chữa vợ.

Chữa vợ hay vợ chửa đó ông mãnh ?

Sáu Cúc nảy giờ mới khai khẩu lần đầu. Sáu Huỳnh khui thêm chai A-nít và nói:

– Tôi tiếc hai đứa em vợ tôi lấy chồng sớm, nếu còn tôi gã hai đứa cho nó một lượt để bù công lao tập kết và vượt Trường Sơn.

Sáu Cúc trỏ Chín Lộc và hỏi tôi:

– Cậu biết ông Bắc kỳ xâm lược này là ai không?

– Tôi mới quen ảnh từ sáng tới giờ thôi.

– Ổng là chỉ huy phó 12 đội công tác thành. Chín Heo ám sát cò Bazin bị bắt ở Sàigòn là chỉ huy trưởng đó. Ổng bị kết án tử hình sau giảm còn tù chung thân, bị đày Côn Đảo rồi chết ở ngoải.

Tiệc rượu hôm nay toàn là tay gộc quân báo: Chín Lộc ra Bắc được phong làm Cục phó Cục Bảo Vệ Quân Đội tức là Cục An Ninh chuyên môn theo dõi tình hình quân đội. Được đi học Quân báo bên Liên Xô ba năm. Hiện làm trưởng ban Quân báo Khu. Sau này về làm Phó ban Quân báo R, dưới quyền Phạm Xuân Hoàng. Sáu Huỳnh lên làm Trưởng ban thay Chín Lộc trong chức vụ Trưởng Ban Quân Báo Quân Khu. Sáu Cúc làm Trưởng ban Quân Báo Phân Khu 1 phụ trách điện đài, mật mã trực tiếp liên lạc về R báo cáo tình hình hai Sư đoàn Anh Cả Đỏ và Tia Chớp Nhiệt Đới.

Tư Minh là quản lý, phụ trách một đường dây quan trọng ở Sàigòn. Năm 66 Mỹ càn Bàu Chứa bắn chết Tư Minh. Năm 68 tiệm may vợ Tư Minh bị khám phá có cả đại liên.

Năm 66, các cơ quan Quân Báo Quân Khu chuyển qua đóng ở Bến Cát – Dầu Tiếng.

Sáu Huỳnh có một bộ phận nằm tại ấp Vườn Trầu xã Phước Thành bên đường số 1 đo Ba Xuyên chỉ huy. Chính con Ua làm giao liên cho cụm quân báo này.

Năm 67, Mỹ càn vô Bàu Rô xã Thanh Tuyền bắn chết Sáu Lễ .

Năm 70, Sáu Huỳnh đem vợ ra khu lên Gò Dầu rồi qua Miên, chuyển qua là Phó phòng Hậu cần R Phân Khu I.

Chín Lộc nói oang oang:

– Tao thiệt là tên Bê Ka chính cống, cựu phu cạo mũ Dầu Tiếng, có lai du côn Cầu Ông Lãnh chút đỉnh, vô đảng đàng hoàng. Còn thằng Hoàng Thọ cũng là dân Bê Ka như tao nhưng nó là du côn Xóm Củi, Cầu Muối, chống đảng nên bị anh Ba Duẫn phăng teo!

– Thôi uống đi ông Bắc kỳ xâm lược! ở đó mà nhắc chuyện đời xưa, rượu thiu hết bây giờ. Xong tiệc này còn một ván tu-lơ-khơ nữa. Thức sáng đêm nay! Sáng sớm phải lo chuẩn bị !

Tư Minh nói:

– Chà ! Tiệc này chi coi bộ mạnh dữ đà anh Sáu. Sợ e khó vô sổ chi tiêu.

Chín Lộc nheo cặp mắt bù lạch không còn lông nheo:

– Chú cứ ghi vào khoản tiếp tân.

Sáu Huỳnh gật gù:

– Anh Chín là công thần hồi chín năm lại là phó bí thư đảng ủy phòng Tham Mưu. Năm Lê là Tham Mưu trưởng nhưng lại không có chân trong đảng ủy vì đang mang cái ô số 1 trong cổ. Thằng chả ngán anh Chín thấy mẹ. Anh Chín ký tên đưa lên là thằng chả ký duyệt thôi chớ dám ho he.

Rượu vào rồi lời ra. Cấp trên cũng như cấp dưới, cấp dưới coi cấp trên lem nhem như thảo giái, nên sẵn nhậu lấy rượu làm nư, khui hết hồ sơ của ông Tham Mưu trưởng khu làm món mồi tinh thần đưa cay cho ngọt.

Chín Lộc gợi ý trước nhất:

– Thằng Bắc kỳ này gốc lính thủy Tây có công đánh mấy trận ở sông Lòng Tào hồi chín năm ra Hà Nội được phong thiếu tá, về Nam mang lon Trung tá. Hắn cưới một bà Bành tên Hai Mặn năm 47, lại còn cấy rau muống ở Hà Nội, về Nam lại gặp bà già trầu tình cũ nghĩa xưa. Vụ đó vở lỡ cả R. Cậu đi hội trên R có nghe chớ?

Tôi giả vờ tỉnh khô .

– Dạ không! Tôi không biết gì hết!

Chín Lộc lườm tôi.

– Ở dưới này còn hay, đi lên đó lại không biết.

Sáu Huỳnh tiếp:

– Nay mai anh phải họp đảng ủy ba ngày đêm liền để bàn vụ thi hành kỷ luật ông ta.

Chín Lộc cười: :

– Kỷ luật mẹ gì được. Mình có đề nghị cảnh cáo khai trừ thì ở trên cũng xếp xó thôi. Thói đời huyện bênh huyện, phủ bênh phủ mà, ai hơi đâu ngồi họp cho đau xương sống, để nhậu chơi còn khỏe hơn. Ở trong này sướng thật, muốn nhậu giống gì cũng có cả.

Chín Lộc có mòi hăng máu, nói chuyện bao sân. Một chập có lẽ sợ lố cồn, nên quay sang nói chuyện công tác:

– Sáng sớm mai phải chuẩn bị, thằng Trung đoàn Hoàng Gia Úc đã vô Củ Chi. Nó câu vô thêm sáu khẩu 105 và một đại đội 106/7, chắc sắp làm ăn vùng này.

Chín Lộc quay sang tôi.

– Loại 106/7 trùm trùm tới đây không ông thầy pháo?

Tôi đáp ngay:

– Loại này có rảnh xoắn bắn tương đương với pháo 120 ly của mình. Khoảng cách sáu cây số.

Chín Lộc đăm chiêu:

– Vậy nó bắn khỏi mình rồi. Có thể tới Bàu Tròn.

Sáu Huỳnh lùa mấy dĩa thức ăn qua một bên, trải bản đồ ra xem, rồi kêu:

– Mẹ nó, chạy ô mồ mắc ô mã. Ở Xóm Bưng sợ pháo siêu âm 175 Đồng Dù và B52, Utapao, Hạm đội 7.

Chín Lộc kêu lên.

– Say rồi ! Say rồi ! Không phải Hạm đội 7 mà Guam tía thằng Thức ơi!

– Ừ Guam thì Guam! Mình dời về đây lại bị rảnh xoắn của Hoàng Gia Úc. Đ. mẹ thằng Bọ Chét năm ngoái tới đây nói mép. Nếu năm nay nó trở lại, tôi sẽ cho nó ngửi cái rảnh xoắn của con Bốn. Xong tôi trói nó vô chân giường cho nó xơi vài quả 106/7.

Tôi hỏi Chín Lộc :

– Tôi nghe nói tụi sư đoàn Tia Chớp Nhiệt Đới chuyên chống du kích. Nó đã thực tập ở Phi luật Tân rành rẻ rồi mới tới đây có không?

– Vụ đó tôi không biết nhưng nắm chắc là nó chỉ vô Đồng Dù có một trung đoàn thôi. Nó nặng về pháo binh yểm trợ hành quân, chớ không càn hoặc hành quân bộ binh nhiều.

– Vậy thì không lo lắm!

Chín Lộc gạt ngang:

– Chú em chưa bị 175 nện trúng lệnh, nên chưa rõ. Coi cái đầu của tôi và Sáu Huỳnh nề. Tóc rụng hết có khác gì đám mạ nhổ sạch không. Còn loe hoe vài khóm lưa thưa. Đó là kết quả đội mấy trận 175. Mẹ cha nó bắn nổ như đại liên vậy Một lần nó lau nòng súng là nửa giờ. Ít nhất năm trăm quả. Ngồi trong hầm đất rung như đưa võng. Chỉ còn biết cầu trời thôi. Nói thiệt với cậu, hồi chín năm một tay bụm dái một tay đánh Pháp mà thắng khỏe ru. Bây giờ mình có mọc ra ba đầu sáu tay cũng khó địch với tụi Mỹ này. Bây giờ mà đụng với BMEO là mình ăn gỏi nó cái một, còn gặp tụi Đồng Dù thì ớn tới họng. Tiên sư nhà nó. Đ. mẹ nhà nó giàu thật!

Sáu Huỳnh cười khà khà hơi rượu nặc nồng:

– Ông ngày nào cũng cong lưng đ.. nên nó càng đẻ ra nhiều.

– Nước uống mà nó chở đâu từ Hawaii sang chớ không thèm xài nước phông tên Sàigòn.

– Vậy mà ở xứ mình có một thứ nó khoái nhất ? Biết cái gì không?

Chín Lộc nháy nháy cặp mắt bù lạch:

– Thì ba cái lạng thịt bầy nhầy đó chớ cái gì? Đâu phải Mỹ mới mê mà toàn thế rới đều hít. Hít và rụng tơi bời!

Tư Minh giục.

– Thôi uống đi các cha ! Uống cho đả để mai có rửa chân leo lên bàn thờ thì khỏi đòi của cúng. Còn anh Sáu thì kêu chị Sáu vô ở vài bữa để lấy cho đủ vốn để có bề gì thì khỏi có bị người ta chê là sống thì khát mà chết thì thèm.

Tôi cười:

– Chết khát chết thèm là tôi đây chớ đâu phải mấy anh!

Sáu Huỳnh nhìn thẳng mặt tôi:

– Mày là con quỉ chớ chết thèm gì, mày tưởng cái vụ mày trèo dừa ngó xuống con Là tao hổng biết hả? Mày tính chừng nào cấy mầm sống mới cho con bé dũng sĩ hả? Con nhỏ đó tao coi được nhứt vùng này đó. Mày dạo măng-đô vói nó rồi phải không?

Bỗng tiếng cười nổ lên dòn dã trong bếp. Rồi con Ua ló mặt ra:

– Cháu đồng ý với bác Sáu đó!

Sáu Lễ trừng mắt:

– Con nít hỉ mũi chưa sạch biết gì mà xía vô. Chạy đi quán lấy một chai nữa coi!

Sáu Hùynh đỡ gạt:

– Ý, đừng nói vậy, nó là con dâu tương lại và con nhờ con cậy của tôi đó.

(Sau này, Ua đem mìn đặt trong Câu Lạc Bộ lính Mỹ ở Đồng Dù, sẽ nói ở một chương sau)

– HẾT QUYỂN II –

—->Chương 42 – 43 – 44- 45- 46- 47

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: