2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QII – (14-20)

2000ngaydem_bia2Đây CỦ CHI! Đất Sét Sắp Thành Bùn

Chương 14
…Chú đĩa trâu đeo …chân ngọc

Thanh Tuyền, cô gái bé bỏng ở Sàigòn mới vô khu nhưng lẻo mép và biết nhiều chuyện bí mật vì cô ta là con của Sáu Nam, Cục trưởng Cục Tham Mưu R, tức Lê Đức Anh, Tham mưu trưởng khu 7 trong thời kháng chiến chống Pháp. Cô cứ nói thao thao, tôi cố can, nhưng cô bất chấp. Cô cong cặp môi mỏng lên:

– Kịch gì lãng nhách vậy? Hồi em ở Sàigòn, Tướng Westmorland đã đổ bộ trăm ngàn lính Mỹ lên Đà Nẵng mà đoàn Văn Công Giải phóng lại dọn cái menu US go home thì khán giả nào xực cho vô.

Ông trán hói Đoàn Giang, chánh trị viên đoàn Văn Công kéo tay cô ra xa đám đông và bảo:

– Đừng có phát ngôn như vậy cháu! Ba cháu nghe được rầy chết! Cháu chớ phải ai nói là đã tù rục xương!

– Xí, tù gì mà tù. Rày lên mấy ông đến đây có diễn tuồng gì thì diễn chứ đừng đem cái US go home tới nữa. Coi mắc tức cười quá hà.

Tôi lấy tư cách là tình nhân mới hôm qua của Thanh Tuyền, đưa tay bịt miệng cô lại:

– Thôi, đừng có rộng họng. Chuyện sân khấu khác, chuyện chiến trường khác, cô em!

– Khác thì khác vừa vừa thôi chớ chỏi nhau như vậy chẳng hóa ra mình tuyên truyền láo à?

em>(Tôi suýt phì cười nhưng kềm lại được. Thì chính cái đại hội mừng công này là một sự láo toét ngoại cỡ rồi, ba cái màn kịch ăn thua gì t Vậy mà đám “trí ngủ ” Sàigòn vẫn lủi đầu vô đây nhắm mắt hoan hô. Tôi là đại diện cho đoàn pháo binh 69 đánh sân bay Biên Hòa, đứng ra nhận huân chương Quân Công Hạng Ba của Hà Nội, nhưng tôi đâu có biết đầu cua tai nheo của trận đánh đó ra sao! Chính ông Sáu Vi, tức tướng Nguyễn Chí Thanh ngồi chong ngóc làm chủ tọa đó, cũng tin rằng tôi là Đoàn phó của đoàn 69. Nhưng sự thực khi súng nổ thì tôi đang đứng giảng bài cho học sinh pháo binh của tôi ở Suối Nàng Rà. Cái Cục R này là một tổ chức bất hợp pháp đầu trộm đuôi cướp, do Hà Nội nặn ra nhưng lại bảo là của Mặt Trận ông Thọ. Danh chẳng chánh mà ngôn cũng chẳng thuận. Tất cả đều láo!)

Vì không có thời giờ cãi vã nữa, nên Thanh Tuyền ngưng ngang để tiễn chân tôi ra khỏi cái hang sói này. Nàng âu sầu hỏi tôi:

– Bao giờ anh trở lại?

– Số mạng của anh là do ba em quyết định chớ đâu phải anh mà em hỏi.

– Em sẽ bảo ba em bắt anh về đây để….

– Sống trong cái hũ nút này à ? Mấy ngày đại hội đủ rồi. Anh thấy ở đây thiếu không khí ?

– Xí! Anh chê hết các thứ, chê hết mọi người!

– Trừ em !

Tôi nói và khẽ hôn môi nàng. Thanh Tuyền nhoẻn miệng cười vì câu nịnh đầm đúng tâm lý và đúng mốt nữa. Nàng dẫy nẩy:

– Anh không chịu về đây thiệt hả ?

– Anh đã bảo là ba em. . .

– Ừ thì ba em sẽ ký quyết định điều động anh về đây.

– Không có chuyện đó đâu! Anh đang có trong túi cái quyết định về Củ Chi chỉ huy Bộ Binh đây nè.

– Đưa em coi.

– Em không tin anh sao? Ông Ba Thắng là anh kết nghĩa của anh từ thời chống Pháp và là cục phó cục Chính Trị đã quyết đinh rồi mà .

– Ổng dưới quyền ba em.

– Nhưng chính ba em đã đồng ý nên ổng mới quyết định.

Lẳng lặng đi bên nhau một lúc, Thanh Tuyền lại hỏi:

– Mình có đánh Pháp nữa hả anh?

– Có chớ.

– Sao em không biết?

– Hồi đó em mới ra đời ở Chiến khu Long Nguyên khóc oe oe làm sao biết được.

Thanh Tuyền thở dài:

– Oánh gì mười mấy năm cũng còn oánh.

– Em bao nhiêu tuổi là anh oánh giặc bấy nhiêu năm!

Đi một quãng nữa tôi bảo:

– Thôi, em quay lại đi, anh vọt cho kịp đoàn.

Thanh Tuyền vênh mặt cho tôi hôn, rồi bảo:

– Anh không được léng phéng với con Huỳnh Mai đó.

– Hề hề ! Anh bận công tác điên đầu, không có thời giờ đâu mà léng phéng.

Kể ra Thanh Tuyền dặn vậy cũng phải thôi. Vì trong mấy ngày ở đại hội mừng công tôi được các cô Trúc Mai, Huỳnh Mai, Cúc, Ánh tặng cho rất nhiều tình cảm, nhiều đến nổi tôi không biết chọn lấy cái tình nào. Tôi cứ chơi nước cờ trung lập Thành ra khi được thì được cả, nhưng khi mất thì cũng mất trắng.

Thanh Tuyền xoè bàn tay trắng như ngọc cho tôi. Từ ngày rời khỏi Hà Nội tới giờ tôi chưa thấy bàn tay nào đẹp đến thế. Trên gan bàn tay nàng tôi còn trông thấy nét chữ tôi viết đêm qua Anh yêu em. Thanh Tuyền hỏi:

– Của anh còn không?

Tôi sực nhớ, xòe tay ra. Thanh Tuyền kêu lên:

– Anh xóa sạch rồi phải không?

– Anh đâu có xóa, tại anh rửa mặt rửa tay nên mực trôi đi hết

– Anh phải nhớ chớ ! Điều này chứng tỏ rằng tình cảm anh mau phai lạt. Đưa tay đây cho em viết cái mới.

Tôi ngoan ngoãn đưa tay cho nàng. Nàng rút bút trong túi áo tôi viết Em yêu anh, rồi hỏi:

– Lần này anh giữ được bao lâu?

– Ba ngày !

– Ba năm nghe chưa?

– Ừ ba chục năm!

Thanh Tuyền cứ llẻo đẻo đi theo tôi. Tôi bảo trở lại thì nàng lần lữa đi thêm khúc nữa. Bỗng tôi nghe tiếng chân chạy xình xịch phía sau lưng. Thì ra thằng Tường trưởng ban bảo vệ các cơ quan R. Tường đuổi theo kịp, vừa thở hổn hển vừa nói:

– Ông Sáu bảo cô về.

– Tôi đi thêm chút nữa, anh về nói với ba tôi dùm.

– Không được, ông Sáu bảo bắt cô trở lại ngay.

– Ừ thôi được để tôi về, không phải bắt.

Nàng bất thần ôm quàng lấy tôi và khóc nức nở . Tôi đứng chết trân, nghe nước mắt người ngọc thấm qua vai áo. Tưởng năn nỉ:

– Cô về đi rồi mai mốt ảnh trở lại công tác.

– Mai mốt anh trở lại.

Thanh Tuyền hiểu tôi nói gì, nhưng nàng lắc đầu:

– Vĩnh biệt tình yêu !

Rồi lặng lẽ quay lại. Nàng đi một mạch, mái đầu gằm cúi không ngoái lại nhìn.

Tôi đuổi theo đoàn. Khi gặp lại, Tám Tiến mới bảo:

– Bao thư gì lòi ra kìa?

Tôi móc bao thư trong túi. Thì ra của Thanh Tuyền. Nàng nhét cho tôi lúc nào tôi không biết. Tôi mở ra: một lá thư, một tấm hình có lời đề tặng với chữ ký sau lưng và một ít tiền. Tình yêu ơi, sao mà khổ vậy. Mới đến lại đi. Con chim bắt cô trói cột kêu đêm qua, dư âm còn não ruột đến giờ này. Sao nó không trói cô vào tôi?

Cùng với phái đoàn Pháo Binh 69, có một lô các ông của cục R đi xuống giảng bài chỉnh huấn hoặc hụ hợ giúp cho trường Trung Sơ cấp Bộ Binh của thượng tá Nguyễn Việt Hồng. Trong số này lại có Huỳnh Mai. Mai đi theo để đánh máy tài liệu. Mai là địch thủ gay gắt nhất của Thanh Tuyền. Mai trầm tỉnh và sâu sắc hơn Thanh Tuyền lại rất có duyên. Thanh Tuyền chỉ được nước da trắng và cặp môi son. Nếu xây dựng gia đình thì tôi ngã hẳn về Huỳnh Mai. Thanh Tuyền sợ tôi yêu Huỳnh Mai. Do đó nàng cứ căn dặn và làm đủ mọi cách để giữ tôi. Quả thật làm anh hùng (giả) như tôi cũng khổ, nhưng không khổ bằng bị những bàn tay ngà cào cấu, rứt xé. Tôi hỏi Ba Hải.

– Mình không đi đường cũ hay sao?

Ba Hải bảo:

– Mấy ông này rành đường hơn mình, nên họ dắt mình cắt rừng đi nhanh hơn.

– Vậy không phải đi qua lộ ủi Trần Lệ Xuân à..

– Không! Nếu đi kiểu đó phải ra Sóc Ky, qua Xóm Mới ra Lộ Ủi đi mười cây số mới tới Cầu Cần Đăng. Bây giờ mình ở đây cắt xéo về hướng cầu Cần Đăng thì đụng đường 22 rồi. Tới đó tắp vô bìa rừng, căng lều ngủ một đêm, sáng mai đi vào Trảng Bà Diếc rồi lội tuốt ra Xóm Rẩy. Ba giờ khuya thức dậy đi thì mười hai giờ tới trại Sản Xuất của Sáu Thiệt. ở đó nghỉ ngơi lấy sức. . .

Tôi không muốn cho mọi người cãi lẫy nên móc bản đồ trải trên mặt đất. Quan sát xong các điểm chính, tôi hỏi:

– Sao mình không cắt ra đường 22 gần Xa Mát để đi .

Ba Hải bảo:

– Đất cấm. Ban Bảo vệ đã đốn cây ngã bít hết đường. Đó là lãnh thổ của ông Hai Xe Ngựa. Cái ông nghễnh ngãng tóc bù xù mình gặp hôm nọ, tôi không kịp giới thiệu cho cậu. Mà ổng không muốn ai biết ỏng là chúa sơn lâm vùng này. Mé bên này cầu Cần Đăng có treo tấm bảng đầu lâu với hai khúc xương gác tréo, ai bước qua tấm bảng đó là bị thộp cổ ngay. Họ nhốt kỹ, không phát gạo. Ráng nằm chờ họ gởi giấy tờ về cơ quan xác nhận, có mà rủ xương. Thời buổi này, rừng nào cọp nấy, không ai chịu lép hơn ai.

Tôi nói:

– Hèn chi có lần đi qua cầu Cần Đăng, tôi nghe đánh morse tít te trong đó mà không dám lủi vào xin ngủ nhờ.

– Đó là căn cứ phòng Thông Tin của B2 ! – Chín Mỹ nói – Để chiều nay mình tạt đại vào xin cơm ăn. Tôi quen với anh Bảy Phong Vân là chúa đất ở đó. Thằng Phước con ông Thọ đang ở trong đó học làm hiệu tín viên.

Tôi kêu lên:

– Tưởng ai chớ ông Bảy Phong Vân tôi quen từ xưa.

– Thiệt à ?

– Ổng là chánh trị viên tiểu đoàn Trần Phong hồi chín năm mà . Anh Năm Thiện làm tiểu đoàn trưởng; năm 1949 kiêm luôn quận đội trưởng quận Cần Giuộc. Ảnh qua sông Soài Rạp bị tàu Tây bắn chết ở Lò Than xã Phước Hiệp. Trong tiểu đoàn này còn có một ông Vân khác nữa là Hồng Vân. Ông Vân này trẻ tuổi hơn, cấp đại đội. Không biết ổng về thành làm gì?

Ra tới khúc trống, Ba Hải nhắc mọi người phải bẻ cây che lên đầu để ngụy trang.

em>(Cái kiểu ngụy trang tài tử này ở trên đường Trường Sơn cũng phổ biến lắm. Một phi công Mỹ bị bắt đã cho chúng tôi biết: “Đó chỉ là trò chơi trẻ con. Chúng tôi nhìn thấy cả dấu chân trên bờ suối và chiếc đồng hồ đeo tay của các ông”)

Tuy biết cái lối ngụy trang này là vô ích, nhưng ai cũng bẻ lá làm dù . Đó là một thói quen chứ không phải là một kỷ thuật. Sắp lội qua bàu nước, mấy ông mấy chú đực rựa thì tuột quần dài quấn cổ để trần những cặp ống quyển đen đúa đầy vết sẹo, còn máy cô thì xăn quần lên khỏi đầu gối. Cha chả, toàn là học sinh thành nên cặp đùi nào cũng trắng nõn,ngó mà rủn chí tơ lòng. Nhờ đó mà đám già và bọn trung niên lội đỡ mệt chăng? Không hiểu sao giữa đất liền lại có một vũng nước mênh mông như thế này, mà ở giữa nước lại mọc lên những đám cây lưa thưa, thân cây to hai ba người ôm không xuể. Có lẽ đây là nơi giải trí của mấy ông Bồ . Bất thần các ổng tới đây thì cả đoàn tan xác. Tôi vừa nghĩ tới đó, thì Thu Mai nói:

– Đang lội thế này mà mòng voi đáp tới thì thậm chí nguy .

Tám Tiến bảo:

– Mòng oi đâu chưa thấy chớ coi chừng đỉa trâu tới đớp bây giờ nghe!

Tôi cười:

– Các chú có từng lội,khúc Trường Sơn nào mà lấy thủy làm bộ không?

– Ai lại không qua mấy khúc đoạn trường đó. Bọn đàn ông mình thì bất quá nó hơi… teo một chút. thôi, tội nghiệp mấy bà mấy cô. Có bà đang kinh nguyệt ngâm mình dươí nước thấy đứt ruột đứt gan mà làm sao giúp ! Thiệt là tán tận !

– Thì chỉ mang dùm ba lô thôi!

– Ba lô mà nhúng nước còn nặng hơn đeo đá.

– Đeo đá hay đá đeo?

– Cái nào thì cũng đeo rồi đá hoặc đá rồi đeo thô!

– Coi có tai bèo nào trôi lênh đênh ở đây không?

– Đừng có đá bèo nghe!

Mỗi người góp một câu. Rồi cười ầm lên. Mấy ông thành phần bần cố hỉ cười to nhất lại còn khuếch trương chiến quả :

– Bèo đâu có ở đây mà đá.

– Đá giác trưa này mệt lắm nghe các cha!

Các cô cố nín cười. Cô nào cô nấy đều đỏ mặt, cúi gằm.

Nước chỉ sâu đến đầu gối, nhưng mấy nàng tiên mới hạ san chưa quen lội sình, cứ té lạch ạch và kêu oai oái liên hồi. Mấy chú mấy anh rất tự nguyện đến đỡ các cháu các em đứng dậy rồi mang hộ ba lô, hoặc dắt tay qua những vũng lầy. Tôi bảo Huỳnh Mai đưa ba lô cho tôi mang dùm và chặt cho nàng một nhánh cây để làm gậy chỏi đi đỡ té. Nàng hỏi tôi:

– Anh nói chuyện gì với Thanh Tuyền lâu vậy?

– Chậc! Thì cũng bàn công tác thôi.

Mai cười khảy:

– Chắc công tác khẩn cấp lắm nên bàn ở ngoài đường hả anh?

Mai không gay gắt như Thanh Tuyền mà chỉ nói mát.

– Đúng đấy ! Ông Sáu bảo cô ấy chạy theo bảo anh mấy việc trước khi về Củ Chi.

– Ừ quan trọng quá nên ông Sáu đưa cho anh cái bao thơ bí mật .

Thấy không chối được, tôi ngoặc lại:

– Sao em biết ổng đưa bao thơ cho anh?

– Người ta khoe với em trước khi đưa cho anh chớ sao! Thơ ảnh và tiền có đúng không?

– Chậc ! thì em đưa cho anh, anh cũng nhận hết mà .

– Còn nữa !

Vừa lội lõm bõm, Mai cứ dùng dằng:

– Hồi hôm anh uống cà phê ở nhà chú Ba có ngon không?

Tôi biết Mai sắp khui tới vụ Ba Ánh, nên gạt ngang:

– Anh quen với chị nó là Nguyệt, hồi hai đứa ở trại Đồng Tử Quân tại Rừng Sát. Nó lại là người cùng quê, ba nó biết ba anh.

– Rồi sao nữa?

– Anh coi nó như em !

– Hèn chi cô em tặng ông anh chiếc khăn thêu hai con chim đâu mỏ.

Tôi hơi hoảng nhưng còn chống chế:

– Ánh là con người tình cảm. Nó bảo nó nói chuyện với anh, nó đỡ nhớ nhà . .

– Thôi đi, anh đừng có nói loanh quanh. Chỉ nói với em là chú Ba Thắng sẽ giúp chỉ xây dựng với anh. Có không? Còn nữa, đứa nào, em cũng biết.

Thôi bỏ mẹ rồi. Cô nào cũng khai hết cả bí mật. Ánh là cô gái chân tình, có thể lấy làm vợ. Anh Hai Nhơn cũng đã bảo như thế, nhưng nàng bị kẹt trong hang sói không tài nào móc ra được. Bây giờ nếu có ngắm nghía thì đối tượng là Huỳnh Mai, nhưng nàng này đã biết tỏng hết rồi làm sao mà hé môi. Có thể nào một người con gái lại yêu mình trong tình huống chia cắt đó chăng?

Đang hì hục lội, bỗng Mai kêu lên thất thanh rồi chạy nhào tới đứng trên một rễ cây to nhô lên khỏi mặt nước và la to lên, còn mặt thì úp vào thân cây mà một chân thì đá lia lịa trong không khí. Chín Mỹ quát:

– Coi chừng rắn độc cắn nó !

– Rắn độc không có ở dưới nước !

Tôi vừa đáp vừa bước lại nhìn quanh và tìm thấy một chú đỉa trâu đen ngời đeo vắt ngang bắp vế non của nàng tiên. Thứ này thì ăn thua gì. Tôi đưa tay nắm chắc và giật ra. Nhưng hai ba lượt, con vật vẫn còn nguyên ở đó. Mai càng la ráo riết làm tôi rối trí. Nếu nàng đứng im thì tôi rứt ra dễ hơn, nhưng nàng cứ quẩy cái chân nên tôi không chụp con đỉa được Có lẽ bao nhiêu năm sống trong vũng nước loang, nó chưa từng gặp một làn da ngon thế này, nên nó quyết bám. Bất thần tôi khom vào áp miệng phủ kín con đỉa. Lập tức nó nhả ra và rơi và vào trong miệng tôi . Bình tĩnh, tôi phun nó xuống rễ cây và rút dao găm chém đứt làm đôi như Thạch Sanh chém lìa cổ chằng tinh. Mai mặt mày xanh lét, nàng thở hồng hộc như vừa chạy việt dã hằng chục cây số. Chín Mỹ bảo:

– Còn một quảng ngắn nữa, ráng đi con gái !

Một ông già bảo tôi:

– Chú em có thể cõng nó luôn cho kho… ỏe !

Chín Mỹ lắc đầu:

– Con nhỏ này mà lội qua vương quốc vắt trên Trường Sơn thì có môn ngồi mà khóc. Ở đó, nó đeo một lúc một trăm con, chớ không phải một hai con vầy đâu!

– Vắt là cái gì nữa hả anh?

Mai vừa nhìn thân con đỉa đứt làm hai đầy máu me mà lắc đầu Tôi nhìn Mai, cười:

– Máu của em đã vô bụng anh một ít rồi !

Cuối cùng cả đoàn cũng vượt qua bàu nước và lên ven rừng. Mai buông hai ống quần xuống và vắt khô mà vẫn còn rùng mình. Vừa lúc đó thì đụng đầu một cô một cậu đi tới. Cậu cầm cần bẫy, cô xách con cò, loại cò ma lông xám ốm tong chứ không phải cò ngà ở đồng bằng. Chín Mỹ kêu lên:

– ThằngTuấn hả ?

-Dạ!

– Có anh Bảy Phong Vân ở nhà không?

– Dạ có.

– Dắt tụi này đi vô gặp ảnh chút!

– Dạ hổng được… Mấy chú chịu khó ngồi đây chờ để cháu vô báo cho bác Bảy hay, bác có cho phép thì cháu mới dám dẫn mấy chú vô.

Chín Mỹ nạt vùi:

– Riết đi mày nhỏ. Chần chờ tao vô bắt trói hết cả thầy trò mày bây giờ.

Hai đứa bé chạy đi. Tôi hỏi:

– Bộ thằng con ông chủ tịch ở trong này hả anh Chín?

– Nó ở đây phá làng phá xóm vậy chớ có học hành gì.

– Tại sao không đưa nó ra miền Bắc.

– Đi đâu cũng vậy thôi. Nghe nói nó hơi khật khật. Không biết có đúng không. Và còn quơ đứa nấu bếp nào đó có bầu. Nhưng cơ quan giấu dữ lắm. .

Tôi nghĩ thầm: Rau nào sâu nấy. Thấy Huỳnh Mai mặt còn thất sắc, Chín Mỹ bảo tôi:

– Mày lại an ủi nó đi. Con nhỏ này được nhất trong đám.

– Nhưng rồi làm sao mà thành chuyện được anh?

– Ừ, đúng đấy. Mấy thằng già dềnh như bầy đỉa trâu, dễ gì buông nó ra. Mỗi thằng tư lệnh, phó tư lệnh, cục trưởng, cục phó đều giữ một đứa để đánh máy. Tao thấy tao ớn quá mà không thể nói được. Phải tao còn đứa con gái nào tao gả phức cho mày. Có đứa con gái lớn mà má nó gả mới cách đây một năm.

Tôi đi đến bên Mai lấy dầu Nhị Thiên Đường của Tám Tiến cho hôm nọ để xức chỗ đỉa cắn cho Mai. Quả là nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột. Mai cầm chai dầu bảo tôi quay mặt đi chỗ khác rồi tự xoa lấy. Một chốc nàng đưa chai dầu lại cho tôi. Tôi bảo:

– Sợ đỉa thì đừng có đi vô khu.

Mai hỏi ngoặc lại:

– Anh không sợ đỉa à ?

– Sợ cái gì, thứ đó kho khô ăn béo lắm.

Mai nhắm mắt che mặt kêu eo ôi. Thừa cơ địch không phòng ngự tôi nghiêng đầu qua hôn trên tóc nàng. Nàng buông tay ra nhìn tôi. Tôi sợ nàng phản đối nên nói trớ qua:

– Anh bắt con sâu trên tóc em!

Mai nhoẻn miệng cười:

– Anh không yêu em à?

Tôi ôm nàng hôn luôn. Nhưng thấy từ đám đông đang ngồi nghỉ dòm, nên tôi lại ngồi dang ra.

– Ai bảo em đi vô đây mần chi vậy?

Mai ngó ra xa, chập sau mới đáp:

– Em không biết tại sao em vô đây.

– Có ai rủ rê gì không?

– Bạn em rủ.

– Em học đến lớp mấy rồi bỏ?

– Còn hai năm nữa thi tú tài.

– Sao đánh máy bài diễn văn cho anh trật hết vậy?

– Mấy chú viết sao em đánh vậy. Mấy chú bảo không được đánh sai một cái phết.

– À ra thế. Anh tưởng tại em.

Mai trở lại câu chuyện vào chiến khu:

– Bạn em bảo trong khu giải phóng vui lắm, người ngoài Sàigòn vô đó gần hết. Một hôm bạn em nó bảo hai ông giáo sư Chí và Chì đều ở trỏng hết. Hai ổng là thầy của ba em mà. Hai ổng vô thì chắc là đúng. Rồi một hôm khác nó lại bảo: Mặt Trận Giải Phóng lấy đất vô tới của ngỏ Sàigòn rồi. Mình ở trong này, nữa họ về họ kêu mình là Việt Gian.

Tôi cười:

– Rồi có thấy giải phóng đất rộng không?

Mai làm thinh, một lát lại bảo:

– Thôi anh đừng có hỏi mỉa!

Đến đó thì cậu bé gài cò chạy trở ra. Chín Mỹ ngoắc. Tôi và Mai trở lại nhập đoàn và đi theo cậu bé dẫn vào căn cứ.

– Ai dạy anh bắt đỉa kiểu đó vậy?

– Đâu có ai dạy. Thấy em la tội nghiệp nên làm càn.

– May hông thôi đỉa chạy tọt vô họng anh rồi làm sao?

– Thì nó tiêu xác luôn chớ sao.

Một chốc tôi nói:

– Hồi ở nhà đi ra ruộng lần đầu tiên. ..bị đỉa đeo anh cũng la điếng như em hồi nãy vậy. Ông nội anh làm kiểu đó. Anh nhớ đến bây giờ. Hồi trước anh đi xuống Tháp Mười, anh là chuyên gia bắt đỉa cho mấy cô ở thành ra như em bây giờ.

Mai quay lại xỉ lên trán tôi và nói:

– Anh đi đâu cũng có cô này cô kia hết á !

– Bây giờ cô Huỳnh Mai là chấm dứt. Hì hì!

Chương 15
Nếu tôi biết vụ đó…. như thế,
thì tôi đâu có phí hai dưới cái xuân xanh!

Chị Bảy Phong Vân cạch hỏi tôi:

– Hồi đó ổng có bao nhiêu bà ở Cần Giờ, Đồng Hòa, Long Thành? Có bà nào làm đoàn trưởng phụ nữ như bà Hai Mặn, vợ ông Sơn Tiêu không?

Cha chả, tôi nghĩ thầm: Cái bà này ghen dữ ha. Ai bảo lấy ông.đầu bạc làm chi! Thiếu gì thanh niên mà không quơ lại hốt cái thằng cha gần ngũ tuần hết xí quách này rồi bây giờ mới sáng mắt ra. Cô lẽ cũng vì cái lon thượng tá và cái chức trưởng phòng thông tin chớ gì. Thiếu gì đóa hoa lài cặm : bãi cứt trâu cũng vì ba cái lon cái gáo đó, khi giật mình ra thì đã muộn màng rút lui không kịp nữa. Tôi thấy tội nghiệp cái đám con gái ngây ngô trong đó có con Tiến ở trường Pháo Binh của tôi. Tôi không muốn dính vô câu chuyện lăng nhăng của ông Bảy Rừng Sát, bèn hỏi ngược lại:

– Chị cũng biết bà Mặn nữa à ?

– Biết chớ!

– Đẩy cây đi bà nội. Hồi kháng chiến chống Pháp chị còn ở truồng…

Chị Bảy đấm lưng tôi ình ịch:

– Anh quỷ này!

Nhưng tôi vẫn nói bừa:

– Còn ở truồng tắm vũng không phải sao mà oánh tui?

Chị Bảy đỏ mặt:

– Tôi mới biết bả gần đây thôi!

– Nói dóc! Bà Mặn xuống đây hồi nào? Bả nằm phục kích trên R chờ ông Tiêu xách càng cua về là bả a-lát-xô ! Chị làm sao biết bả được .

– Tôi biểu anh bỏ cái tiếng chị đi làm phước. Người ta mới có hăm lăm mà chị cái gì. . . Tôi biết chuyện đó là qua dư luận. Các ông léng phéng kinh hồn ông nào cũng vậy hết. Ra ngoài Bắc là có bà nhỏ.

– Tôi bảo đảm với chị là anh Bảy còn nguyên…xi!

– Tôi hổng tin. Ông Sáu Mặt Rỗ (tức Sáu Nam, tức Lê Đức Anh) cũng dếnh một bà . Ổng về trong này, bà lớn vô giao con Thanh Tuyền rồi trở ra Sàigòn tức khắc, rồi ông Đào Sơn Tây cũng quơ một cô Việt Kiều ở Ái Mổ phải không? ‘

– Ủa? Sao chị cũng biết Ái Mổ nữa?

– Ông nhà tôi khai với tôi chớ sao. Rồi ông Năm Lê (tức Sơn Tiêu) nói.

– Chưa có hết đâu chị Bảy ơi ! Cái bảng Phong Thần còn dài lắm! Tới 365 tên lận đó.

– Ai đứng đầu, ai đứng cuối?

– Tui lạy chi, chị đừng có tra hạch hoài, tui ngứa miệng, tui khui ráo nạo rồi tôi đi Tây đó !

– Ừ thôi không khai hết, khai một mình ông Rừng Sát của tôi thôi.

Tám Tiến rót trà cho mọi người rồi nói:

– Chị làm như công an lấy khẩu cung tội nhân vậy. Tôi nói cho chị biết cậu này là anh hùng Pháo Binh vừa lượm cái Quân Công hạng ba trên Rờ nóng hổi vừa thổi vừa ăn đó nghe. Chớ có làm hung mà không toàn tánh mạng.

Cả mâm trà cười rộ lên. Ba Thu Mai chen vô:

– Tôi hổng biết lý lịch ông Bảy nhưng cứ theo duy vật liệu chứng pháp thì ông nào cũng lọt cái hầm chông tí tẹ …ẹo đó thôi. ông Bảy của chị chạy đâu cho khỏi.

Tôi móc túi áo lấy hai viên ký ninh xanh bỏ vào mồm rồi tu nước trà, chép miệng:

-Đắng tới mật… đỏ! Hì hì .

Rồi ngó thẳng chị Bảy.

– Chị bắt nọn hoài thì tôi khai hết, nhưng chị đừng có oán tôi nghe ! Hứa đi ! . . . Chị có biết ông Hoàng Thọ không? Hồi đánh Tây ông đó số 1 còn ông Bảy Rừng sát số 2.

– Sao số l ?

– Ông Hoàng Thọ phá mấy bà Bành Xê Cu Đê chạy… tuột áo

Bành Xê Cu Đê là cái gì?

– Là Phụ Nữ Cứu Quốc! PN là Bành, C là Xê, Q là Cu, Đ là Đê. Đó là tiếng của mấy ông trời đánh dùng để gọi mấy bà thánh đâm. Riêng ông Bảy thì không thèm xài tiếng đó, ổng đặt ra tiếng khác hay hơn nhiều.

– Tiếng gì mà hay dữ vậy?

– Bà con ngồi cho vững để tôi nói ra khôi bật ngửa !

Chị Bảy hất hàm.

– Ừ, nói đi.

Mấy người khác chờ nghe. Còn Tám Tiến và Thu Mai thì dựa vào gốc cột cười hắt hắt. Tôi nháy Thu Mai và nói:

– Anh Ba Hoàng Thọ là tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 303 là người mà Tây lẩn mấy bà Bành đều sợ. Ảnh đánh Tây như ăn gỏi còn phá mấy bà thì bất cứ lúc nào. Mấy bả đang hội nghị, thì ảnh mặc xì líp mang súng hiên ngang đi vào làm mấy bả chạy trốn.

– Ổng làm như vậy ai thương cho nổi?

– Vậy mà một cô gái trẻ đẹp nhất Sàigòn mới ra kháng chiến yêu ảnh và làm vợ ảnh đấy chị ạ.

– Anh Bảy mà làm vậy là tôi bỏ luôn!

– Hì hì! Anh Bảy là người văn minh có chữ nghĩa, đâu có làm như vậy. Ảnh chỉ ra báo in bột nếp thôi. Tờ báo đó chỉ xuất bản vài chục số mỗi kỳ. Lấy tên là Phá Nò.

Chị Bảy kêu lên:

– Tên gì kỳ vậy?

– Ấy! Thong thả tôi kể cho nghe. Phá Nò là nhại theo tiếng Phờ Nờ ấy mà. Số 1 ra mắt với lời Phi Lộ do ông chủ bút Bảy Rừng Sát viết với tựa đề : Con Cua Phá Nò cắn Q. Cái Nò là đồ để bắt tép bắt cá trên mương rạch nhỏ . Ông Bảy chơi ác. Viết toàn chuyện nhắm vào mấy bà trong Chấp Hành Phụ Nữ Huyện và Tỉnh. Thí dụ như bà X tướng đi ển ển thì cái hồng tâm nằm chỗ nào, chị Y đi ngoáy ngoáy thì cái giếng nước ngọt sâu hay cạn, còn bà A đi hai hàng thì cái mương cau có nhiều cỏ lan chi hay không? Mấy bà được báo dở ra đọc rồi giấu luôn, nhưng ông Bảy Rừng Sát cứ tiếp tục ra báo, đến số thứ ba thứ tư gì đó thì bà Hai Mặn lúc bấy giờ là đoàn trưởng Phụ nữ Bà Rịa lên gặp ông Tư Huệ là Chánh ủy Trung đoàn khóc lóc: “Anh coi nè, mấy ông vệ quốc đoàn ra báo như vầy mà ai dám đọc ! Anh biểu họ dẹp đi, nếu không, tụi tui bỏ về nhà hết để cho mấy anh kháng chiến một mình. “

Tư Huệ kêu Bảy Phong Vân lên xạc cà rây một mách, bắt ảnh đóng cửa tờ báo. Anh cười hề hề: “Tui nói con cua nó phá nò cắn… Q chớ có động gì tới họ đâu ! “. Ông Tư Huệ nói: “Tôi lạy các cha ? Họ hăm bỏ về nhà hết không ai tiếp tế để bọn mình chết đói nhăn răng!”

Chị Bảy hỏi.

– Tại sao ổng ghét Phụ nữ vậy?

– Ai biết đâu nào! Có lẽ ổng thấy chuyện gì đó. Khổ cho ổng sau cái vụ con cua Phá Nò ổng bị mấy bà Bành ghét cay ghét đắng nên ổng không cưới vợ được. Ra Bắc ổng lại càng không có địa bàn hoạt động nên ổng lên núi Ba Vì cạo đầu đi tu sắp thành phó quả thì bị gọi về Nam.

– Tu mà về Nam với lon thượng tá? Nói vậy mà nghe được !

Thu Mai cười nhe bộ răng chuột vàng khè:

– Tu hú đó chị Bảy.

Tám Tiến tiếp: .

– Tu đâu cho bằng tu đây. Tu chùa một cột đá xây hai hòn.

Cả mâm trà đập bàn cười ầm lên. Chị Bảy thẹn thùng:

– Mấy anh đồ mắc dịch không hè ! Đi tới đâu phá làng phá xóm tới đó !

– Nói xấu gì tôi vậy hả?

Một tiếng nói rổn rảng từ ngoài sân vang vào. Mọi người ngó ra. Một người cao lớn, tóc bạc mặc áo thung ba lỗ : ông Bảy Rừng Sát!

– Mời anh Bảy vô uống trà nghe chuyện cái Nò!

– Nò gì mà đặt ở đây được? Ở đây chỉ làm Su thôi..

Mọi người cười ầm lên. Chị Bảy xỉ xỉ về phía chồng, nghiến răng vui vẻ :

– Ông quá chơi quá đất ngheo! Tui mới vừa nghe kể về tờ báo con cua Phá Nò của anh hồi trước!

Ông Bảy cười ngất:

– Thôi bỏ qua ba cái vụ xưa đi. Mấy chú kể rùm, bả nghe bả véo bắp vế non tôi bầm hết!

Chị Bảy nguýt:

-Vậy mà tu!

– Ừ tu cũng có nhiều kiểu tu chớ ! Bà thấy không? Nhờ tôi tu nên bây giờ mới được phước lớn là được bà… Thôi, bây giờ hỏi qua một chút. Phái đoàn có bao nhiêu để tôi lo tiệc tùng thết đãi ông anh hùng phá…á ao binh R…rr coi nào.

– Ủa anh đã hay vụ đó rồi hả anh Bảy?

– Vụ gì tôi còn hay nữa là ! Nè , tôi nói cho biết, tôi đã đưa tin về cái đại hội mừng công đó trước khi nó họp đó!

Ba Hải ngạc nhiên hỏi.

– Ủa sao kỳ vậy anh Bảy?

Bảy Rừng Sát cười khè khè, gục gặc mái tóc bạc phếu:

– Mấy chú làm chính trị mà khờ ịt hè ! Phải phóng lên làn sóng điện trước khi nó xảy ra. Hơn nữa, thắng một phải nói một trăm. Đó là nguyên tắc thông tin của mình. Thiệt thà như tụi Sàigòn thì ai làm không được lựa là phải một tên phá nò như tôi!

Bảy Rừng Sát hớp trà rồi hất hàm với tôi.

– Nè, chú nói thật đi, chú có đến hàng rào kẽm gai sân bay Biên Hòa không mà bắn hư 26 cái Bê oảng xít?

Tôi chống chế.

– Có ba chiếc chớ đâu 26 anh Bảy?

– Chậc! Tôi đã bảo chú em rồi, sao cứ thiệt thà? Hừ, thiệt thà bắt con gà đổi con vịt! Há há…

Bảy Rừng Sát coi tụi này như em út về mọi mặt nên nói văng tê . Anh tiếp:

– Cả năm chỉ được vài ba cái tin giật gân như đại hội mừng công vừa rồi. Ngoài ra thì tụi này có làm gì đâu. Đây là trạm nghỉ mát của các công tử công nương.

Tám Tiến nhạy miệng hỏi:

– Công tử công nương nào anh Bảy?

– Đám con ông cháu cha của mấy ông trên R từ ngoài thành mới vô. Mấy ổng tống xuống đây ở nhờ để sửa soạn đi Liên Xô học. Làm quan cả họ được nhờ là vậy đó. .

Tôi hỏi.

– Tụi con nít bắt lội Trường Sơn sao nổi anh Bảy?

– Xì! Chúng nó chỉ đi từ đây qua Mi Mốt thôi. Rồi từ Mi Mốt đi Nam Vang, ra Hà Nội đi bằng máy bay . Cũng do đường hàng không bí mật này các bà tướng thầy bà ở ngoải xách cái hổ phệ cho các ông thầy trong này ếm đó các chú ơi. Tụi lính mình tới cóc mọc râu cũng chưa sờ được đuôi máy bay.

Thu Mai hỏi tiếp.

– Cỡ anh đã sờ . . . đụng chưa ?

– Cũng còn lâu. Tụi này đi tàu lặn. Suýt chút nữa lặn luôn xuống âm phủ.

– Vậy cũng khoẻ .

– Khoẻ nhưng mà đứng tim từng phút. Các chú biết không? Chuyện đã qua giờ mới dám nói. Giữa tàu có đặt một tấn TNT. Hễ sắp bị tàu địch bắt thì thằng thuyền trưởng châm ngòi. Mẹ! Hồi trước mình nghe tụi Nhật lái máy bay nhào vô ống khói tàu Đồng Minh hoặc lấy gươm rạch bụng mình rỡn tóc gáy. Bây giờ tới phiên mình, coi cũng xoàng thôi. Các chú nghĩ hồi trước mình đánh đồn Tây chỉ năm kí TNT là mở đợt phá khẩu xong, thế mà bây giờ một tấn, thì hỏi cái thằng người mình còn được cái gì chớ?

Bảy Rừng Sát quay sang vợ.

– Hồi tôi mới gặp bà này, tôi đâu có nghĩ là móc ráp được với bả. Nhưng tui làm liều. Trâu già nào nệ dao phay. Một hôm tui tấn công đại. Tui sợ bả thưa mấy thằng Ban Tổ Chức quá trời, nên nói xong, bỏ đi thẳng. Quả thật, hôm sau thằng trưởng Ban Tổ chức của cơ quan tôi mời tôi lên. Tôi nghĩ là nó sẽ xài xể tôi như một tên mất đạo đức. Nó hỏi tôi có quan hệ nam nữ gì với “nàng” không. Tôi quát: “Tôi tu lâu rồi, chẳng quan hệ với ai cả . Không tin tôi dỡ ra cho xem. ” Tôi cự nự một hồi sắp bỏ ra về. Thì nó bảo: “Vậy mà có người để ý tới chú Bảy đó . ” Tôi hét: “Ê ! Tao tên Phong Vân nghe mậy. Bảy Đó là Bảy nào?” Hắn cười hề hề…Té ra tôi ném có mấy câu mà dính. Tôi chẳng ngờ bả lên Ban Tổ Chức bả báo cáo rằng bả thương tui. Mới bỏ mẹ chớ ! Vậy mà thằng tổ chức làm tôi lên ruột.

Cả mâm cười ngã nghiêng. Chị Bảy trừng mắt:

– Chuyện đó ai khảo mà khai?

– Hổng khai làm sao mấy chú biết. Để cho mấy chú biết kinh nghiệm khi gò mấy cô. Thấy mấy cô cự nự, vùn vằn , chống chỏi cũng đừng có sợ. Cứ nhào đại vô !

Bảy rừng Sát cười sặc sặc.

– Về sau tôi hỏi bả tại sao bả thương tui.

Ba Hải đưa tay chận ngang:

– Chuyện này nghe hấp dẫn lắm. Nhưng khúc này phải để cho chị Bảy kể thì mới hay. Chị Bảy nói đi, tại sao chị thương anh Bảy.

– Tôi đâu có thương ảnh. Tôi thương là thương cái tấn thuốc nổ TNT đó !

– Sao chị biết?

– Thì ảnh kể cho anh em nghe, tôi nghe lỏm được.

– À ra thế.

Cả mâm lại cười. Ba Hải tiếp:

– Nghĩ cho cùng cái tấn thuốc nổ là ông Tơ bà Nguyệt.

– Chừng có con, anh chị nên đặt cho nó là TNT.

Bảy Rừng Sát cười tươi như mếu:

– Kể ra sự liều mạng của mình cũng có ý nghĩa lắm.

Chị Bảy nghiêm nét mặt, chị lắp bắp.

– Ý nghĩa gì hổng biết. Tôi chỉ yêu cầu ông có một điều là không được có cái vụ dính líu ở ngoài Bắc như mấy ông kia. Tôi nói thiệt, ông mà như ông Tiêu, ông Nam, ông Tây là tôi …Tôi không có bỏ về như bà Mặn bà gì đâu đó. Tôi theo tận ổ chớ không chịu thua.

Tôi nói:

– Tụi tôi bảo đảm với chị là ổng còn con trai mà.

– Bả tin rồi ! Bả tin rồi mấy chú ơi !

Được trớn Tám Tiến nói luôn:

– Bữa trước mấy ông Ba Ngọt, Hai Bứa có kể chuyện về anh. Bọn tôi nghe cười mắc chết.

Bảy Rừng Sát hỏi:

– Chuyện gì mà cười dữ vậy?

– Ông Ba Ngọt nói anh cưới chị Bảy xong rồi.. . anh khóc, có không?

Chị Bảy háy:

– Mấy anh cứ đặt chuyện riết tới. Đàn ông gì cưới vợ rồi khóc.

– Vậy mới kỳ chớ ! Sẵn có anh Bảy ở đây, anh Bảy xác nhận cái coi. Có khóc không anh Bảy?

– Có!

Sau tiếng đáp dứt khoát, gọn lỏn, cả mâm trà đồng loạt cười cái rần rồi kẻ đập bàn, người này đập lưng người kia cười ngã nghiêng, phun cả trà ra bàn. Ba Hải hạch tiếp

– Đó chị Bảy còn giấu nữa thôi? Nhưng anh Bảy thành khẩn cho anh em biết tại sao anh khóc.

Bảy Rừng Sát nói không chút ngượng ngùng:

– Tại sướng quá nên khóc. Nói thật mấy chú đừng cười. Trước kia tôi cũng định tu quách theo kiểu bác Hồ cho xong. Tôi nghĩ rằng cái sự đó cũng thường thôi chớ có gì ghê gớm lắm đâu mà mấy ông mình rơi mão rớt lon cũng vì nó. Chẳng ngờ rằng sau khi gặp cô Bảy rồi tôi mới sáng mắt sáng lòng.. .

Ba Hải cắt ngang:

– Chị Bảy thấy tên đầu sỏ qui hàng ông bà nông dân khai hết ráo chưa?

Chị Bảy đôi má đỏ lên, lườm chồng:

– Ông thiệt à !

Nhưng Bảy Rừng Sát cứ thao thao:

– Tôi không ngờ cái sự đó nó hay như vậy. Nếu tôi biết nó hay như vậy, tôi đâu có phí mấy chục cái xuân xanh noi gương bác Hồ. Vì vậy tôi khóc sau đêm tân hôn.

– Bây giờ còn thấy hay nữa hết?

– Còn chớ ! Càng ngày càng thấy hay hơn lúc mới.

Chị Bảy đứng dậy thò tay qua ngắt anh:

– Xin tốp ông đi !

Thu Mai cười:

– Thôi đủ khẩu cung rồi anh Bảy. Không khéo tối nay chỉ treo Miễn chiến bài thì anh hút gió không kêu.

Sau buổi trà, Bảy Rừng Sát bố trí chỗ ngủ cho chúng tôi. Phải nói là bố trí vì có nữ giới lộn xộn lắm. Mấy bà mấy cô đi đến đâu là gây rắc rối đến đó. Tôi nói với chị Bảy:

– Tôi có cô em đi đường vấp rễ cây sứt cái móng chân, chị có thuốc gì không cho nó xin quệt một miếng.

– Em gì đây?

– Dạ thì em.. chớ em gì chị Bảy!

– Tôi ớn mấy ông lắm! ông nào cũng có em nuôi, chị nuôi, con nuôi hết ráo. Rốt cuộc rồi…

– Thôi chị Bảy ! Em cũng tu một chùa với anh Bảy mà !

– Muốn gì thì nói, tôi biểu ảnh đứng ra làm tuyên bố cho. Bên K71 người ta làm đám cưới tập thể rần tần kia.

– Em (mặc dầu chị yêu cầu đừng xưng hô như thế, nhưng tôi không nghe) không có làm tập thể đâu chị ơi! Không làm thì thôi, hễ làm thì làm một mình. Ở ngoài Hà Nội, em đã dự nhiều đám rồi. Khách vô ngồi lơ láo rồi chào cờ, một ông cán bộ công đoàn đứng lên nói năm ba câu, căn dặn các ông các bà tân hôn vui duyên mới không quên nhiệm vụ, hoặc đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên. Vỗ tay lẹt đẹt, khách uống nước vối rồi ra về . Đó là ở Thủ Đô , còn ở nông thôn chắc còn tệ hơn nữa.

– Không phải lo. Ở đây anh Bảy bảo đảm có thịt nai nhậu hai mươi bốn tiếng đồng hồ, uống cả rượu Tây nữa. Ba thằng Miên ở vùng này đều là tay chân của ảnh hết. Ảnh bảo chúng nó lên trời lấy gan rồng chúng nó cũng leo. Miễn cho nó Rịa kha khá.

Huỳnh Mai xấu hổ nhìn xuống, chị Bảy vừa băng vừa hỏi:

– Em ở đâu?

– Dạ ở Chợ Lớn.

– Còn chú.

– Dạ em ở Tà Bon, ủa ở Sài gòn.

– Rồi tính chừng nào làm lễ .

– Dạ để em oánh thêm vài chục máy bay nữa đã !

– Ổng là kẻ bán trời không mời thiên lôi. Tin gì ổng cũng nhơn lên gấp bội hết. Có một nói mười cho nên trời phạt đó.

– Trời thưởng ổng chớ có phạt gì đâu!

– Thưởng gì mà thưởng.

– Chị vầy ổng vậy mà không thưởng à?

– Ừ, phải đó, thưởng ổng mà phạt chị!

Chương 16
Lọ mực tím nhuộm áo tình địch.

Sáng hôm sau, cơm nước xong, đoàn lại lên đường nhắm hướng trường Sơ Cấp Bộ Binh trực chỉ. Ông Bảy Rừng Sát tháp tùng với đoàn chúng tôi cùng đến đó chỉnh huấn tình hình nhiệm vụ mới. Đó là cái mửng của bọn Cáo Hồ. Trước khi xua quân ta vào lò sát sinh, bao giờ cũng có một màn học tập để cho những con thiêu thân cháy cánh rã thây được mát lòng. Ông Bảy Rừng Sát mặc áo bà ba có túi trên, đầu bạc trắng, kéo ngọn. Bà Bảy Rừng Sát tiễn chân anh tận bến thuyền, để dài thêm hạn cuộc tình duyên. Ra đến bờ suối, con suối chảy qua cầu Cần Đăng, thì mọi người dừng lại để nói lời tạm biệt. Nước suối chảy ào ào xói vào bờ tràn lên cả mặt đất ở nhiều nơi rễ cây lòi ra như rể đước rẻ vẹt ở miền Tây.

Trước mặt chồng, chị móc túi lấy một gói ấn vào tay tôi:

– Cậu cất để xài!

Chị gọi tôi bằng cậu thân mật, theo vai vế của chồng.

– Tôi đâu có mua gì, chị Bảy!

Ông Bảy Rừng Sát nói:

– Cất đi. Sao lại không mua. Bả cho chú để làm đám cưới đấy !

Chị Bảy nói thêm:

– Tôi thấy con bé tôi thương. Mới chừng ấy tuổi đầu đã chịu gian khổ.

Ông Bảy pha trò:

– Nay mai con cua nó phá nò rồi cần đấy chú em !

Thế là chia tay. Từ đó tới sau tôi không gặp lại anh chị Bảy Rừng Sát nữa.

Đường đi lòng vòng trong rừng cây cao rậm rạp một chập thì ra tới quốc lộ 22. Mặt đường nhựa đen mun, láng lẩy, đi bước nào khoẻ bước ấy, thân xác nhẹ nhàng như sắp thành tiên. Thằng Tửng trỏ ra phía trước, bảo tôi:

– Cái vật đen đen đó là cầu Cần Đăng đó anh!

Còn Huỳnh Mai lẩm bẩm:

– Chị Bảy thương tụi mình quá. Hổng coi chi nhét bao nhiêu?

Tôi đút gói tiền vào túi Mai:

– Em cất đi để dành đám cưới.

Mai đỏ mặt phụng phịu:

– Anh kỳ quá hè .

– Chút nữa tới Xóm Giữa mình mua một ít đồ xài ! Ngón chân còn đau không?

Tôi và Mai cố tình đi thụt lại sau. Mọi người thông cảm cho hai đứa nhỏ nên cứ việc đi trước một khúc xa.

Mai ỉm lặng một hồi lâu, bỗng quay lại hỏi tôi:

– Anh tính sao? Em muốn tuyên bố gấp gấp.

– Anh còn nhiều công tác cấp trên giao cho quá , thì giờ đâu mà đứng ra làm lễ?

– Một ngày cũng không có nữa sao? Cách mạng cả đời chớ một ngày một bữa à?

– Ừ để rồi anh tính!

Thiệt là trời dung đất rủi. Trong mấy nàng ở trong Bộ Chỉ Huy có cảm tình với tôi, tôi chấm hai nàng. Một là cô Ánh con nuôi của ông Ba Thắng. Hai là Huỳnh Mai. Nhưng cô Ánh thì…kẹt làm con nuôi của người ta. Mặc dù Ba Thắng thương tôi từ hai chục năm trước, và ông cũng hứa giúp đỡ cho hai đứa có điều kiện yêu nhau, nhưng chỉ hứa xong thì ông giao tôi công tác ở I.4. Kể như xù rồi! Có yêu thì chỉ yêu trên giấy ! Còn Huỳnh Mai thì tuy kẹt ở Bộ Chỉ Huy nhưng có cơ hội thoát khỏi cái động yêu quái này nhờ có Chín Mỹ và Năm Danh là những người Nam Bộ rất thương tôi. Nhưng còn Thu Hà ở Mã Đà? Đôi mắt ướt sau hàng cây bàng lăng vẫn còn theo dõi tôi. Tình mới vừa nồng đã vội dập tắt ư? Có thể nào làm như vậy được. Bất ngờ nàng về tới đi tìm rồi mình ăn nói làm sao. Thu Hà lại hóa ra bà Hai Mặn thứ hai à ? Tâm sự của gã pháo binh thật bời bời.

– Bộ anh chê em hả? Hay muốn làm phò mã cho con Thanh Tuyền?

– Không bao giờ. Anh chỉ yêu em!

– Chỉ yêu em sao còn bỏ xem văn công đi đâu với nó. Rồi bữa sau còn cõng nó qua suối nữa.

Tôi lặng thinh, không biết chống đỡ cách nào. Mai tiếp:

– Nó về nó nói um lên trong cơ quan rồi đó ! Nó nói nó sẽ bảo bác Sáu Nam kêu anh về công tác trong Bộ Chỉ HUy để cho nó được gần.

– Kêu gì được ! Hơn nữa chính ông ta tống anh đi xuống Củ Chi đây mà, em thấy không?

– Gì thì gì. Em muốn anh làm mau mau kẻo em thua nó . Nó có thế hơn em.

– Anh không cưới nó đâu !

– Với em thì anh nói vậy. Với nó anh nói khác.

Mai sắp bắt bí tôi thì may quá, đoàn phía trước dừng lại. Chúng tôi đã đi được chừng hai cây số trên đường nhựa. Ông Bảy Rừng sát đợi tôi đến rồi trỏ tay vào một lối mòn có nhiều thân cây ngã ngang trên đó có một tấm bảng sọ người và hai ống xương gác tréo với hai chữ đen to: Cấm vào.

Thổ địa Tửng cắt nghĩa cho tôi:

– Đường này lên bầu Lùng Tung, đi thẳng thì tới Xa Mát, Sóc Xoài Đó là biên giới Miên. Vượt qua đó là Plum-suông rồi tới đồn điền cao su Chip.

Lòng tôi rộn lên bồi hồi . Mười bốn năm trước, tôi có người bạn gái bệnh sốt rét chết nơi này. Không ngờ bây giờ bước chân tôi đi khắp xứ lại trở về đến điểm xuất phát. Nhưng làm sao tìm được mộ nàng? Chẳng còn ai nhớ tới nàng, một người con gái bỏ thành thị vào rừng để đánh máy cho cơ quan như Mai bây giờ. Tôi im lặng đi sau Mai, len lõi trên đường mòn đầy những cây vú bò (giống như cây cao su, trái giống như vú bò nên gọi là cây vú bò, trông vàng tươi rất ngon nhưng không ăn được như trái bứa). Qua một khu rừng chồi, nắng rất gay gắt, thở hồng hộc, đoàn tới một con đường đầy dấu xe bò từ phía sông Vàm Cỏ cắt lên. Ông Thổ Địa quay lại:

– Đây là xứ của tụi Hậu Cần Xe Bò.

– Sao có danh từ Hậu Cần Xe Bò?

– Tụi này chuyên môn chở gạo bằng xe bò ban đêm. Còn một tụi Hậu Cần khác cũng chở gạo và đi đêm nhưng bằng đuôi tôm nên gọi là Hậu Cần Đuôi Tôm. Tụi Hậu Cần Xe Bò rất dễ tìm. Anh cứ đi hoài theo vết xe thì thế nào cũng gặp kho, bến của nó . Nó không thể nào giữ bí mật được. Đó là chưa nói đến cái nhạc đờn cò của nó. Đi ngoài đường lúc nãy vẫn nghe cò ke cót két như nhạc đám ma. Bởi vậy nó bị Biệt kích Mỹ, máy bay Mỹ đốt kho luôn.

– Xe bò từ đâu lên?

– Chỉ từ Tà Păng thôi. Còn đò máy thì từ Tây Ninh chở khô muối và các thứ xuống đây. Mình đánh giặc Mỹ nhưng Mỹ và Sàigòn nuôi minh. Tụi nó mà tìm ra mối thì nó sẽ phong tỏa, tụi mình đói nhăn răng ăn lá cây như khỉ. Anh ngoài Bắc vô đây, có vác theo hột gạo nào? Mình ăn toàn gạo Mỹ và gạo miền Nam.

Đến một ngã ba lớn, ông Thổ Địa lại giải thích:

– Từ đây đi thẳng xuống thì đụng Băng Đang, xuống một đổi nữa thì tới Tà Păng. Còn bây giờ mình rẽ sang phải là đến trảng Bà Điếc. Từ đó sẽ băng qua Sóc Chà Ruột rồi đến Xóm Rẫy.

– Sóc gì nghe tên kỳ cục vậy?

– Chà Ruột cho sạch như phèo heo vậy anh à. Tụi phản lực Mỹ nó lấy phèo bọn mình bộn rồi. Trước kia vùng đó vui lắm. Từ ngày Mỹ vô, bom bỏ tan hoang hết rồi. Đồng bào tản cư ra Tây Ninh, chỉ còn lại loe hoe vài mống mà mình hồ nghi là gián điệp nằm lại để thu nhặt tin tức. Nếu muốn đi chợ Xóm Giữa thì phải đi ban đêm mới vui. Ban ngày ghe thương hồ họ tắp qua núp phía bên miền ngọn sông Vàm Cỏ Đông, chiều tối họ mới qua bên mình để buôn bán. Xong rồi lại trở về bên đó ngủ bảo đảm hơn.

– Vậy cũng còn chất tươi chớ chú em!

– Dạ cũng còn nhưng mà chất tươi đi kèm với chết tươi vì lơ mơ là bị nó ngay !

Tửng quay lại khoát tay bảo mọi người chuẩn bị băng trảng Bà Điếc. Bẻ lá ngụy trang che đầu. Ba lô phải buộc siết ngang lưng cho chắc. Chạy lúp xúp không được đi. Qua càng nhanh càng tốt. Tôi còn ráng hỏi:

– Nó dài không mà coi giống như cánh đồng chó ngáp từ Nam Thái Sơn lên Núi Dài vậy? (Đây là vùng Long Châu Hà)

– Nó tới Lò Gò lận anh ơi. Chạy rụng cặp giò mới tới.

Tôi nhìn thấy con đường mòn cắt giữa lát đỏ đầu cao vút, không có cây to bóng mát. Chạy một hồi Huỳnh Mai ngồi sụp xuống thở dốc. Tôi xốc ba lô của nàng và kéo tay nàng chạy tiếp. Tuy gian nan nhưng ăn thua gì so với đường Trường Sơn. Vì ở đây có chạy mệt một khúc rồi sẽ có tẩm bổ trà, đường táng kẹo đậu phộng… Độ hơn nữa tiếng thì thấy có nhiều người chạy ngược lại. Hai bên chỉ nhìn nhau mà không hỏi gì nhau cả. Một chập nữa thì ông Bảy Rừng Sát bảo cho đoàn tắp vào rừng nghỉ xả hơi. Chẳng ngờ vô đó lại đụng nhằm một bầy Bắc Kỳ con chói nước mặt mũi vàng khè , bụng binh rỉn như độn trái bí đao. Chúng mặc áo cổ vuông, quần rộng thùng thình bỏ con chó vào cũng lọt. (Trung đoàn này lấy bí số Q16 thuộc Sư đoàn 325 là đơn vị đã từng đánh Điện Biên, vào Nam do bà Định đỡ đầu. Trong Mậu Thân định sẽ làm con bài chủ trong việc đánh chiếm Sài gòn, chẳng ngờ bị nướng sạch)

Tôi nói.

– Các ông mảnh đã vô tới đây rồi. Đó là điềm xấu cho tụi mình.

– Sao vậy anh?

– Để rồi chú sẽ thấy.

– Khúc này đông lắm. Quần áo vàng khè , xa trông giống như Mỹ ! Đặc điểm của chúng là ở đâu hò hát om tỏi tới đó và đốn cây trống hết cả rừng. Nay mai lòi lưng Mỹ nó chơi cho sạch láng.

Nghỉ ngơi một chập lại lết tới nữa. Độ mười hai giờ trưa thì tới một ven rừng có vài ba mái chòi. Một ông già và ba bốn người trung niên hiện ra. Chung quanh chòi có những liếp cà tô-mát và những bụi chuối, mía. Lâu quá mới trông thấy cây mía. Bên bụi chuối gần hè có một miệng giếng với cây cần vọt chõng gọng lên trời. Không biết cơ ngơi này thuộc về cơ quan nào? Tửng bảo:

– Đây là cơ sở sản xuất của cơ quan dân chánh.

Mọi người thấy nhẹ lòng như bước vào cảnh tiên. Ai nấy đều vứt lá ngụy trang bừa xuống đất. Ông già bước tới nói:

– Các ông làm ơn bỏ thành đống để tôi hốt, chớ bạ đâu vứt đó, ngày cả trăm người qua lại, làm sao tôi hốt cho xuể?

Đang ngồi xã hơi thì Tửng chỉ tay về phía vườn chuối:

– Coi me chín kìa !

Mọi người ngó theo. Một tàng me xanh đơm đặt những chùm me xám mốc. Một làn gió thổi qua làm những trái me chạm vào nhau khua lộc cộc. Tôi bảo:

– Mày vào xin một mớ ăn chơi!

– Tôi không biết leo đâu.

Tám Tiến ra miệng.

– Hồi nhỏ ở nhà tôi trèo dừa như chuột, nhưng từ khi ra Bắc tới giờ tôi quên rồi.

Tôi bảo Tửng:

– Mày vô xin đi, hể chủ nhà cho thì tao trèo.

– Anh cũng biết trèo me à?

– Tao là học trò. nhưng có bộ giò ăn cướp mà mậy.

Tửng vào chòi một chút rồi trở ra với chiếc rựa trên tay. Tôi đi bức tay chuối khô làm một chiếc nài rồi giắt rựa vào lưng phốc một hơi lên tới ngọn. Tôi mé luôn ba, bốn nhánh đầy đặc trái chín, ở dưới gốc bà con tha hồ lượm lặt.

Ông Bảy Rừng Sát cười hắt hắt:

– Có đem tàu Loubert đến chở cũng không hết ! Tao phải lột vỏ một mớ cất đem về cho bà y sĩ.

em>(Đây là chiếc tàu Pháp Laubert Bié bị E300 đánh chìm ở sông Lòng Tào vào năm 1949 trọng tải mười ngàn tấn)

– Bộ chị thèm chua rồi hả anh Bảy?

– Mới bắt đầu có cứt chuột thôi. Mẹ kiếp tuổi tao người ta có cháu nội rồi, tao chưa có con. Đó là tội bất hiếu lớn nhất trong bốn tội bất hiếu.

– Vậy em đây thì sao anh Bảy!

– Cậu mới ba mươi ngoài. Tôi bốn mươi chín rồi?

Cuốc luôn một mách nữa, khoảng một giờ chiều mới thấy trước mặt tấm thảm vàng lúa chín. Ven đồng bên kia lúp xúp một xóm nhà. Đi bươn một hơi nữa thì tới xóm. Lá mì lá mít xanh um tùm. Tửng bảo:

– Chòi tăng gia sản xuất của chú Sáu Thiệt B2 mình ở đó. Còn mấy cái chòi cheo leo kia là của mấy ông nội Sài gòn trốn quân dịch hay bị tôi gì đó vượt ngục vô đây không rõ.

– Vậy cái Sóc Miên mình qua lúc nãy là đâu?

– Đó là Sóc Chà Ruột. Trước kia dân Miên ở đông lắm.. . .

– Đó là xứ của họ hay sao?

– Ở đây không có ranh giới rõ rệt. Qua lại lại qua chẳng có ai ngăn cản gì. Nhờ vậy mình mới sống được. Nếu không nhờ ba anh đui cà then này thì mình tắt nguồn sống ngay. .

Mai hỏi tiếp:

– Trái gì họ hái, em coi không phải trái dừa cũng không phải trái cau.

– Đó là trái thốt nốt. Họ đem hơ lửa uống cho ngọt. Nếu không, nước nó chua lét. Bây giờ thưa rồi. Họ thấy mình đến đông, họ tránh đi xa gần hết. Bây giờ chỉ còn cuốc một tiếng thẳng thét nữa là tới trường Bộ Binh Trung Sơ do ông Nguyễn Việt Hồng trước làm tỉnh đội kiêm chính trị viên tỉnh Tây Ninh mới được ông đại tướng Sáu Vi điều động về làm chánh ủy nhưng coi bộ còn théc méc.

Tôi hỏi:

– Ổng thắc mắc gì anh Bảy?

– Thì hồi đó ổng làm chánh ủy Trung đoàn, Ba Sinh là trung đoàn phó nay là đại tá cục trưởng cục tác chiến. Ba Thạnh (tức là Ba Thắng bây giờ) thời đó cũng mới tiểu đoàn trưởng, lại trên ảnh một cấp làm cục trưởng cục chính trị. Tệ nhất là thằng Trần Sơn Tiêu, tiểu đoàn phó, ra Bắc đớp thêm con vợ lẻ mà nay cũng thượng tá như mình.

– Vậy ổng muốn cỡ nào?

– Cỡ nào? Ổng cùng lứa với Tô Ký , ổng cũng muốn tướng chớ sao mậy – Bảy Rừng Sát chặt lưỡi – Cái tội của ổng là tội tày đình, muốn làm chúa sơn lâm của cái chiến khu Tây Ninh này. Trên trời, dưới Tư Huệ , ổng coi Đảng chẳng ra cái gì. Cái phốt thằng Tiêu coi vậy chứ đâu có hệ trọng bằng tư tưởng hùng cứ nhứt phương như ảnh. Mai mốt đừng gọi tao Bảy Rừng Sát nữa, mấy thằng Bắc kỳ nó lại hiểu lầm.

Tôi cười:

– Tưởng anh là chúa sơn lâm của rừng Chà Là chứ gì?

Anh Bảy xoa đầu tôi cười:

– Cậu em phá tao hoài. Các cậu ở ngoài này chơi cho khoẻ đi. Dạo chợ Long Hoa giải phóng thỏa mãn dân cày để rồi nay mai nó đánh tan không còn chỗ rửa mắt.

Anh Bảy là người cao cấp hơn Ba Hải, đã phán vậy thì không còn ai có ý kiến gì khác. Tám Tiến tỏ vẻ phấn khởi:

– Anh Bảy đánh trúng tâm lý tụi tôi đó. Để cho tụi quỉ này phá nhà chay một bữa để rồi học tình hình nhiệm vụ xong là hết có thì giờ.

Anh Bảy Rừng Sát, Ba Hải, Chín Mỹ, Năm Danh là mấy ông cấp tá , nên giữ gìn kỷ luật khít rịn, quảy ba lô đi thẳng vô trường. Tôi bắt tay anh Bảy:

– Anh vô trường có gặp ông Sương Mờ Rơi nói thằng Đoàn Quân Đi gởi lời thăm.

Bọn này ở lại, kiếm chỗ treo võng nằm dưỡng già. Tôi vừa ngã lưng xong thì có tiếng gọi:

– Thầy Lôi !

– Ê, Hùng thằng quỉ mày đi đâu đây?

– Thì tôi bảo vệ toàn khu mà thầy quên rồi sao? Chỗ nào động dao động thớt là tụi này tới. – Hùng lôi tôi dậy – ông về hồi nào?

– Mới năm nay, còn mầy?

– Sáu mươi, một chuyến với Bùi Khanh. Quần áo đâu mà bận đồ tèng xí chuột vậy?

– Ăn hết dọc đường rồi chớ đâu.

– Thầy móc gia đình chưa?

– Rồi nhưng quác.

– Tôi hiện vừa đi phép, đưa bà già và cái đĩ về Bến Tre sáng nay.

– Hèn chi coi bộ mày mướt quá ! Cưới vợ hồi nào vậy?

Hùng xắn hai tay cườm tay chìa ra, mỗi bên chớp loé một cái đồng hồ.

– Hai cái đều Xây Cô, đều có cửa, bên trái của bà già cho năm rồi, bên phải là của vợ tặng. Cả cái Sony máng ở gốc kia cũng của nàng. Bây giờ tôi hết có xin tiền thầy hút thuốc như hồi học pháo ngoài Bắc rồi. Nếu có bà Cạo ở đây, hùn nhậu chiều thứ bảy, tôi cũng có thể bao vài chầu.

– Tao có gặp thiếu tá Phụng chịu chơi.

– Tôi đi rảo cũng gặp ông rồi. Ổng đang ở trại sản xuất của cơ quan quái quỉ nào đó để giải quyết vụ thằng Phùng Văn Mười.

– Giải quyết xong chưa?

Hùng nháy mắt:

– Em hổ…ông hiểu được việc quan chọng thầy ơi!

Nói xong Hùng đưa hai tay ra.

– Nè, thầy tuột cái nào thì tuột.

– Mày giỡn hoài.

– Thiệt mà thầy. Thầy tuột đi.

– Thôi tao lấy cái cũ, để cái mới cho mày đeo lấy hơi. Tao vừa cho cái Wyler cho cô đào hát bóng trên R… Mày về xứ hồi nào mà cưới vợ vậy?

– Đâu có về! Ở đó cũng khó mà về. Bà già nóng ruột có cháu nội nên cưới đem lên.

– Mày có biết trước không?

– Bà già thương thì bả cưới. Làm dâu cho bả chớ cho tôi đâu mà tôi lựa chọn? Thấy cô em cũng được nên tôi không rám từ chối! Nói có trời, thấy cô em tôi ham bỏ mẹ, từ chối nổi gì. Đêm đó tôi động phòng huê chúc ngay.

– Ba ván liền không bỏ ván nào hả anh đội miền Nam ?

– Tôi bắn luôn nửa tháng, không biết có sữa chưa hay cũng cái điệu thằng Phạm Cần tinh trùng loãng bồi dưỡng hoài mà không đi tới mô tê gì hết. Vái trời cho nàng ta phễnh bụng mau mau. Tôi dầu có rửa chân leo lên bàn thờ bà già cũng có cháu.

– Bậy hoài mày! Cái thằng!

– Thì đề phòng vậy chớ ai muốn chi vậy thầy. Còn thầy thì sao? Pháo 152 chưa có chỗ đặt hả ? Lúc nãy tôi thấy có cô em coi khớ quá. Có phải bà thầy tương lai không?

– Không! Em kết nghĩa thôi.

– Nghĩa gì. Anh thương em vì bởi chữ u bỏ thêm dấu nặng chữ đê đứng đầu, phải nghĩa đó không?

– Học sinh ngoài thành đó, đừng có nói lăng nhăng. Tao còn lưỡng lự, chưa dám quyết định.

– Cho nạp đạn ngòi tức thì như tôi cho rồi, ở đó mà lưỡng lự. Thời buổi phản lực này yêu thương kiểu xe thồ không được đâu thầy ạ Nói giỡn vậy thôi chớ thầy là thầy mà . Thôi, thầy nghỉ cho khoẻ, tôi chạy đi đây chút rồi trở lại. Đơn vị tôi đóng ở bìa rừng kia kìa!

Hùng móc bóp lấy đưa cho tôi .

– Thầy cầm tạm hai tờ. Nếu chiều nay tôi ra được thì dắt thầy đi chợ Long Hoa Giải Phóng chơi. Tôi có cô em nuôi ngoài đó.

– Thôi mà tiền gạo gì!

– Cầm đi, để ra ngoài đó rủi đạp bánh tráng không có tiền đền!

Nói vậy rồi quay đi. Tôi nhìn theo nó. Nó thọc tay túi quần, một bên mang radio, một bên xề xệ cây K54, miệng huýt gió vang rừng. Tôi đi vào chòi. Thấy Thu Mai ngồi nhai nhóp nhép:

– Ăn gì đó bố?

Thu Mai cười nhăn răng như con khỉ già :

– Khoai mì.

Tôi đi thẳng vào bếp, vì biết Mai nấu nướng trong đó.

– Em nấu món gì đó ?

– Canh chua với bắp chuối. Me anh đốn ngoài trảng Bà Điếc hồi trưa..

– Gì nữa ?

– Cá sặc chiên.

– Thôi dẹp đi. Ai mà nuốt cho vô ba cái thứ đó.

– Ăn vậy mà còn chê?

– Để anh đi chợ Long Hoa quơ một số chất tươi về nhậu.

Mai vừa nói vừa móc túi đưa tiền cho tôi.

– Tiền đây nè ! Thím Bảy cho anh tới hai ngàn !

– Em cất đi ! Anh mới có người ta dúi cho. Nè, coi thiệt không. Cả đồng hồ nữa. Em đi tắm đi kẻo mấy ổng quậy đục giếng em múc cát xối lên đầu vàng khè đó !

Tám Tiến lôi tôi ra vườn, rỉ tai:

– Ông có định làm thật không?

Tôi ậm ờ:

– Tình hình găng quá. Làm thiệt rồi để ở đâu?

– Ừ, tôi nói cho mà liệu hồn. Nếu định ăn thua đủ thì hãy xông tới chớ làm chơi thì không có được. Thầy mà ếm nó một cái, nó đeo dính là lôi thôi lắm đó.

– Tôi còn phải rước bà già vô mới có ý kiến được chớ cha !

Tôi thuật lại cho Tám Tiến nghe việc thằng Hùng cưới vợ Tám Tiến lắc đầu:

– Tôi hết có hiểu nổi ! Nhà lính mình cưới vợ còn ly kỳ hơn Lưu Bị nữa.

Rồi Tám Tiến nhắc lại câu chuyện thực tập pháo ở Sơn Tây vùng Hòa Lạc, huyện Thạch Thất.

– Trong lần thực tập đó, có hậu cần theo nấu cơm. Ban chỉ huy dùng ngôi đình làm bếp. Trong ban hậu cần có hai cô gái địa phương tên Lý và Điểm . Lý thì có nhan sắc, còn Điểm thì mặt rổ hoa mè. Một chàng pháo, trong khi ra. vào bếp đã tò tí với cô Lý và cuối cùng móc nối được cô ta. Hằng đêm, vàn khoảng nữa đêm chàng pháo mò xuống bếp quèo cô ra đê để tâm tình chuẩn bị tiến tới hôn nhơn. Bất ngờ đêm nọ, chàng vào thì cô Điểm còn thức, chàng ta đành ém quân ở góc đình chờ cho cô Điểm ngủ mới vào. Lần này chàng ta định lấy vốn cho chắc tay vì lính tráng qua lại đá lông nheo tơi bời không ai kiểm soát nổi . Chàng ta mò vào chỗ nằm của cô Lý và nạp đạn ngòi tức thì nói theo con nhà pháo là loại đạn bắn ra chạm đất là nổ ngay. Trong khi nạp đạn, chàng pháo bỗng nghe trên lưng ướt ướt như mưa. Chàng biết là có người phá liền chạy dông ra ngoài. Xem lại thì là mực học trò. Chả là ngôi đình cũng được lấy làm trường học. Khi hậu cần pháo đến thì trường tạm dời nơi khác. Cho nên tìm một lọ mực không khó lắm. Chàng ta chạy về trại lén ra giếng tắm rửa rồi lên giường nằm im, như không có chuyện gì xảy ra. Sáng hôm sau, Ban Tổ Chức đơn vị mời chàng lên. Chàng nhận thật rằng chàng có yêu một trong hai cô công nhân quốc phòng nhưng không dám nói tên. Ông trưởng ban tổ chức vốn cũng đã chíp cô Lý nhưng bị anh chàng pháo kia kỳ đà. Phen này định chơi xỏ tình địch bèn nói:

– Việc yêu đương đảng không cấm cản đồng chí. Vậy đêm qua đồng chí có đến gặp người yêu không?

Chàng pháo binh liệu bề chối không trôi bèn khai thiệt. Anh trưởng ban thấy dấu mực tím rửa nham nhở trên cổ trên vành tai thì biết rằng cô nàng báo cáo đúng, bèn hỏi:

– Anh có bằng chứng gì không?

Chàng pháo bịa chuyện.

– Đêm qua tôi có đến kèm văn hóa cho nàng. Lúc sắp về nàng làm đổ mực vào áo.

– Áo ai?

Anh tổ chức gạn hỏi.

– Dạ, áo tôi lẫn áo nàng.

Anh tổ chức cười:

– Nếu tôi gọi nàng lên đây mà trên áo nàng còn dấu mực thì tổ chức sẽ xác nhận tình yêu của anh.

Chàng pháo rất hồ hởi . Đã không bị kỷ luật lại được người yêu bèn ưng chịu.

Tám Tiến hỏi tôi:

– Cậu còn nhớ chuyện đó không?

– Làm sao quên được.

– Tội nghiệp cho thằng nhỏ bị anh chàng tổ chức phổng tay trên. Anh ta cho gọi cô gái có dấu mực lên văn phòng. Thằng nhỏ ngã ngửa ra. Không phải là cô Lý mà là cô Điểm. Thế mới chết một cửa tứ. Người bên ngoài không hiểu tại sao cái kết cục lại kỳ cục như vậy.

Tôi nói:

– Lúc đó tôi bận điên với ba cái giáo án rồi cũng không tìm hiểu tại sao?

Tám Tiến cười:

– Là vì con Điểm cũng khoái chàng pháo đẹp trai nhà giàu lại học giỏi nhưng chàng ta lại không để ý mình bèn sinh ra thù oán. Cho nên cái đêm hôm đó mới nảy ra âm mưu. Khi chàng pháo đến thì cô ta biết. Cho nên lúc chàng ta rút lui ra góc đình chờ tái ngộ thì ở trong này nàng ta đổi chỗ nằm. Hai cô ngủ cả dưới gạch chớ đâu có giường ván gì. Khi trở lại, chàng pháo đã nạp đạn sẵn rồi. Phen này quyết lòng chiếm lãnh trận địa. Cô nàng cũng để cho mặc tình. Đang lúc chàng ta hùng hục trên giàn hỏa thì nàng trút cả bình mực lên lưng rồi đi báo cáo ngay cho tổ chức, trong lúc cô Lý ngủ bên cạnh. Cô ta vẫn biết tất cả hành động của hai bên nhưng trong bụng lại căm thù cả tình nhân lẫn tình địch. Cô cho rằng chàng đã phụ nàng nên cứ mặc cho chàng chiếm lãnh trận địa cô Điểm mặt rỗ ! – Tám Tiến cuộn thuốc hút và tiếp – Cuối cùng, cái món ngon lại rơi vào mồm anh tổ chức không đợi chờ.

Tám Tiến phì phà điếu thuốc rê rồi kết luận:

– Lính mình cưới vợ nhiều cú bạt mạng quá chừng. Mỗi trường hợp bạt mạng một kiểu. Thằng Hùng đây là một kiểu, phải không? Nếu bà già đem con nhỏ ở Bến Tre lên mà nó hoặc con nhỏ không chịu thì giải quyết bằng cách nào. Của anh anh xách, của nàng nàng bưng à? Trường hợp ông Bảy Rừng Sát cũng vậy. Chị Bảy chỉ thương ông vì cái tấn thuốc TNT. Chỉ cho rằng ảnh xứng đáng là một đấng nam nhi gan to bụng lớn, nhưng làm chồng đối với một người đàn bà trẻ như chị ấy lại là một chuyện khác, đâu phải người anh hùng nào cũng là chồng tốt! Như Nguyễn văn Trôi Nguyễn văn Trội gì đó, làm chồng bỏ vợ góa giữa lúc xuân xanh để làm một việc mà anh ta thừa biết là bất thành, vậy có tốt không? Và riêng tôi nữa, bỏ vợ ở nhà nuôi con, đi biền biệt mười mấy năm trời rồi về đến còn đòi tiếp tế, có tốt không?

– Làm chồng khó thiệt. Bởi vậy tôi đã đi năm sông bảy núi mà chưa dám làm chồng ai hết.

Hai đứa cười trừ với nhau. Tám Tiến bảo:

– Ông coi chừng đó !

Chương 17
Đi chợ Long Hoa Giải Phóng.

Tắm xong, Mai vô nhà cằn nhằn với tôi:

– Mấy ổng múc hết trơn nước giếng. Tới phiên em nước đỏ chạch, em không dám gội đầu.

– Đã bảo lúc nãy rồi không nghe! Thôi được để ra chợ Long Hoa gội. Ở ngoài đó có sông.

Mai sửa soạn một chút rồi cả đoàn lên đường đi chợ giải phóng Long Hoa. Tôi cứ nhớ mãi thằng nhà báo Bọ Chét mà tức cười hoài. Nếu hắn tới đây thì hắn sẽ thấy mặt trận giải phóng đã chiếm 40/4 dân chúng và 50/5 đất đai chớ không phải chỉ 3/4 và 4/5 dân. Tội nghiệp hắn công ghe bè bạn qua đây để nói láo hoặc được nghe nói láo về Địa đạo Củ Chi Thôn liền Thôn Xã liền Xã và quay phim chợ Giải Phóng An Nhơn với chục rưỡi đàn bà con nít ăn nước đá bào của cô xẩm lai và cuộc đấu tranh của đạo quân đầu tóc đi xe lam do bà Năm Đang lãnh đạo. Bây giờ hắn đã ra tới quốc tế để trình bày các phân số ly kỳ đó với mấy ông trí thức lớn cỡ Bertrand Russel hoặc lớn hơn và đám đào kép phản chiến Mẽo. Chắc là hắn được bác Hồ hôn cho mấy cái đã đời. Tôi tiếc rằng không được đón hắn tới đây để cùng đi chợ Long Hoa giải phóng cho vui. Ra tới ven rừng thì gặp thằng Hùng đứng chờ ở đó. Hắn khoa tay:

– Thầy muốn gì cũng có từ cây tăm xỉa răng tới thuốc bổ Bévitine, kháng sinh Peneciline hầm bà lằn xán cấu không thiếu thứ gì. Muốn coi vợ cũng có.

Tôi trừng mắt, ý nói có Mai không được nói thế. Hắn lém lĩnh nói ngay bằng giọng miền Bắc:

– Anh chị đã ăn giầu ăn cau chưa? Bao giờ thì nàm nễ tơ hồng đấy ạ? Mai đỏ mặt cúi gằm. Tôi đỡ lời:

– Bao giờ giải phóng xong.

– Úi chà, thế thì anh thua em còn… khứ…ớc! Nào, bữa nay coi như đám đánh tiếng cho anh chị nhé ! Anh muốn sắm những gì, em lo cho cả.

– Có ba đồng tiền vợ mới đem lên, xài tung rồi đi xin thuốc lá từng điếu, hút ké thuốc lào từng liều như hồi ở ngoài trường pháo cho coi.

Hùng cười khè khè:

– Đời chó đẻ ba con mà thầy. Mình vốn là vô soản có tiền xài hết thì trở lại giai cấp bần cố có sao ! Chỉ tội cho mấy ông to được vợ, mẹ tiếp tế. Trong sắc cốt có cả trăm ngàn mà không dám xài sợ bị qui mất lập trường mới khổ chớ!

– Chợ bán thịt gì?

– Bò heo thì chỉ có khi nào cơ quan hoặc tiệm hủ tiếu đặt trước thì họ mới làm.

– Vậy đi chợ làm gì!

Thầy khỏi có lo mà ! Tôi có má nuôi, em nuôi ngoài đó. Mấy thằng chệt chủ tiệm tôi cũng quen. Muốn mấy có mấy, muốn gì có nấy, muốn bao nhiêu có bấy nhiêu.

Mai cười ngất:

– Coi cái miệng của anh kia, sao mà lanh vậy.

– Hì hì, nhờ cái miệng mà con gái Bến Tre mê tôi hết ráo. Má tôi gom lại cả chục cô đẹp nhất, bả hỏi cô nào muốn làm dâu tao? Thế là cả chục cô giơ tay một lượt. Úi chu choa bả suýt đem lên cả chục cô cho tôi chọn đó chớ. May mà bả chỉ đưa lên cô xấu nhứt.

– Chớ nếu bà già đem lên cả chục cô thì mày làm sao?

– Thì tôi khoẻ ru chớ sao thầy. Mười cô trông thấy cái mặt vàng ẻo của tôi sẽ bỏ tôi cả mười.

Mai bịt miệng cười:

– Cái anh này vô văn công mới đúng.

– Ồ văn công giải phóng hả? Họ mời tôi hoài mà tôi chê tuồng tích dỡ tôi không đóng đó chớ ! – Hùng trở lại vấn đề chợ búa – Ngoài thịt ra còn có lươn, ếch, cá lóc, cá trê trắng, cá trê vàng, cá rô, cá sặc lòng tong cá chốt đủ thứ. Bởi vậy người ta gọi cái xóm giữa này là chợ Long Hoa B mà!

Tôi nói:

– Tao dự định bữa nay bắn năm đợt. Xung kích 1 : Bò xào lá lốt. Xung kích 2: Lươn um. Xung kích 3: Gà xé phay. Xung kích 4: Cá rô kho tiêu. Xung kích 5: Canh chua cá trê trắng. Được không?

– Được. Thầy muốn là trời muốn mà. Nhưng cho tôi thêm. Trước khi mở màn xung kích 1 cho pháo thủ mình trụn sơ bộ đồ lòng với tôm khô củ kiệu được không?

– Tôm khô thì có thể tìm được, nhưng củ kiệu đào ở đâu?

– Tôi đã nhắn cô em nuôi lùng mua rồi!

Nói xong, hình như hiểu ý tôi muốn nói chuyện riêng với Mai, Hùng đi ngang tôi và chúi một gói nhỏ vào túi tôi.

– Đây ra chợ không có khúc nào tử địa xin anh chị cứ tự nhiên cho ạ !

Tôi sờ thấy một vật gì mềm mềm láng láng thì hiểu ra là loại chứng minh thư của thằng Tư Linh cho lúc trước.

Mai nhắc lại lời của Hùng rồi hỏi tôi:

– Anh đồng ý với anh Hùng không?

– Đồng ý gì?

– Còn đồng ý gì nữa? Sao anh cứ lừng khừng hoài vậy?

Tôi sực nhớ đến lời Tư Linh. Bọn con trai con gái ở đây bị khủng hoảng tinh thần lẫn vật chất. Chúng nó sống cuồng sống loạn còn hơn trai gái Sài gòn vì hoàn cảnh chết chóc kề bên. Đám nữ dũng sĩ, thanh niên xung phong, trước khi ra trận đã hiến thân cho nhau để được nếm mùi đời trước khi chết…

Sự tế nhị vốn có của tâm hồn Việt Nam đã hầu như biến mất đi nhường chỗ cho sự sổ sàng, liều lĩnh và thô bạo. Lời nói trên như của một triết lý đã được thực tế chứng minh. Mấy cô thơ ký trên Bộ chỉ huy R đeo tôi như sam là một thực tẽ. Các cô bị mặc cảm lúc nào cũng có thể bị B52. Ngoài ra, một mối sợ hãi triền miên khác cứ ám ảnh các cô. Đó là các ông già đầu bạc. Nỗi sợ hãi này còn lớn hơn nỗi sợ hãi B52. Mười lần như một, khi nghe Mai giục quân thì tôi nêu lý do tình hình sôi động, chờ rước má vô. Lần này sốt ruột, Mai nói:

– Anh sợ em đã yêu ai hả?

– Không! Em yêu ai cũng được. Miễn bây giờ yêu anh thì thôi.

– Em không khi nào bị dính bẫy mấy ông đó đâu. Chị bạn nào của em cũng làm con nuôi của mấy ổng, nhưng em không nhận. Em biết mấy ổng lừa cho vô bẫy sập. Nhất là ông Chín Hô . Ông ấy thô lỗ và hèn hạ lắm. Ối trời! Mấy ông Bắc kỳ nói mép ghê quá hà !

– Chuyện gì?

– Em không tiện nói ra. Ông ta tưởng em như mấy chị Thanh niên xung phong ở Mỹ Tho Bến Tre lên đây nấu bếp. Hễ cho một cái đèn pin là tiến một mức tình cảm. Cho một cái bình toong Mỹ là tiến thêm một mức nữa. Cuối cùng cho cái đồng hồ là kết thúc. Đeo đồng hồ ít lâu là đi bệnh xá nạo thai rồi đi công tác khác không dám ló về cơ quan cũ nữa.

Đột nhiên tôi hôi.

– Em thấy cô bé Ánh, con nuôi ông Ba Thắng thế nào?

– Chị ấy tốt thôi, nhưng chuyện gì thì cũng que sera sera thôi anh ạ.

– Anh Ba hứa giúp đỡ anh xây dựng với cô ta đấy.

Huỳnh Mai cười ngặt nghẹo:

– Ừ thì anh xây dựng đi em làm bánh ăn mừng.

Đi bên nhau lặng thinh, hồi lâu Mai mới nói:

– Em muốn làm vợ anh ngay bây giờ. Muốn có con với anh ngay bây giờ nè. Hổng có vắn dài gì hết.

– Trời đất !

– Em nói thiệt! Để cho mọi người dang ra đừng có dòm ngó tới anh nữa. Và cũng đừng có ai lại gần em nữa. Thối quá đi! Em muốn ra khỏi cái rừng Tà Bon mà không có cách.

– Ai ngó anh?

– Còn ai nữa ! Con Thanh Tuyền không biết mắc cỡ. Anh mà cưới nó thì anh chết sớm. Nó ỷ ba nó làm lớn nó không coi ai ra gì. Vợ chồng chú Ba Khoan nó coi như đày tớ.

– Còn bác Sáu Vi…

Tôi chưa kịp dứt lời thì Mai trám miệng tôi:

– Đó là một nhà đạo đức trứ danh.

– Bởi vậy ổng mới có đủ uy tín mà thay mặt bác Hồ lãnh đạo miền Nam.

– Xì… ì!

Tôi nhìn Mai, cố đọc trên nét mặt nàng những ý nghĩ bên trong về ông đại tướng. Một chốc Mai nói:

– Vụ của ổng thì con Thanh Tuyền biết hết ráo. Vì nó là con ông Sáu Nam. Khi cần đưa thơ cho ổng, ông Sáu bảo con Thanh Tuyền đi, ngoài ra không ai được héo lánh gần chòi ổng.

– Rồi sao nó biết?

– Nó qua bất ngờ nên bắt gặp chớ sao.

em>(Tôi đã nghe Thanh Tuyền nói rồi, nhưng làm bộ không biết)

– Bắt gặp gì?

– Chớ anh không biết gì à ? Ông Sáu Vi ở chung một chòi với vợ ông Trỗi ông Trội gì đó.

– Là ai?

– Là chị Quyên.

– Ổng ở chung để ổng huấn luyện vợ anh hùng thành anh hùng để phục vụ nhân dân chớ sao em.

Mai phá lên cười:

– Phụ…c vụ nhân dân!

Tôi nhìn ánh mắt rực lên và làn môi cong của Mai mà hiểu cái sự đời của ông đại tướng.

em>(Việc “huấn luyện” này đã xì ra trong vòng hẹp. Nhưng theo Thanh Tuyền nói thì ông Sáu Nam đã nêu ra thành vấn đề kỹ luật: ai bàn tới sẽ bị… ! nên từ đó chẳng ai dám xầm xì công khai)

Con đường đá đỏ khúc gần chợ Long Hoa đã bị cắt ngang bằng nhiều hố bom. Bùn đất văng lên lá cây hai bên đường trắng như giấy, một lỗ to như cái ao làng. Thằng Hùng đứng đợi tôi ở dưới một tàng cây. Nó vừa trỏ tay vừa cắt nghĩa:

– Máy bay Mỹ nó khôn lắm. Đây thầy xem. Mấy trái này là nó bỏ cảnh cáo. Cảnh cáo không kết quả (nghĩa là khách cứ đến ào ào). Nó giáng cho một loạt giữa chợ. Vẫn không kết quả Nó vừa nện cho bay cả nửa cái chợ. Bây giờ có lẽ nó nuôi Nhưng ai đi qua phía bên kia làn ranh thì kể như cá vượt Vũ Môn. Ở đó nó không bom không pháo. Còn bên này là nó bằm cho nát hết. Thầy biết không, ở vùng quanh đây, dọc đường đá đỏ, đá xanh, cầu Cần Đăng, lộ ủi Trần Lệ Xuân, tụi nó rành hết. Pháo thảy lỗ nào trúng lỗ đó. Đàng kia, đạn cà nông 20 ly nó thảy ngay phố chớ đâu có lọt ngoài đất. Nó để mình trẩy hội vài bữa rồi nó cho B52 cày một phát là hộc gạch ra đằng đít thôi thầy ạ.

Tôi lắc đầu:

– Thôi mau mau rồi về . Tao ớn quá t

– Ớn gì mà ớn! Tôi lạo vùng này như cơm bữa mà. Thời đại B52 này, tử sinh hữu mạng thày ạ. Đấy! có thằng Ban Bảo vệ của tôi sợ chết, xin về cơ quan cũ. Về tới nơi, vừa đút đầu vô lán là B52 tới cả đơn vị văng hết.

– Hồi nẳm, tao từ Miền Đông xuống Miền Tây đi ngang Tháp Mười, tao ghé qua chợ Mỹ An và Thiên Hộ. Vui lắm chớ đâu có phập phều như bây giờ. Xuồng ghe đậu san sát như bến Nhà Bè Thủ Thiêm. Mua gì cũng có. Tha hồ ăn hủ tiếu uống cà phê.

– Thì ở đây bây giờ mua gì cũng có nhưng phải nhanh chân.

– Vậy hủ tiếu cà phê bán cho ai.

– Thì cũng có những ông mình đồng xương sắt coi B52 như thảo giái, chết như lông… hồng, cứ ngồi uống cà phê phin. Sống.thèm không bằng chết no.

Đứng nghe ông trời con Hùng nói láp dáp một hồi thì trời đã nhọ mặt. Đèn khí đá ở dãy nhà lá cặp theo mé sông đã bừng lên. Đâu chừng chục rưỡi ngọn thôi, nhưng tôi tưởng mình đang đi đến một phố Hà Nội. Gần hai năm mới thấy được một chút sinh hoạt nhân dân rộn rịp thế này. Hùng vừa đi đầu vừa nói:

– Tôi bảo đảm với anh chị là đứng đó cả ngày cả đêm cũng không sao ca!

– Thôi đi ông cố nội .

– Đó là mé sông. Nó chưa có cảnh cáo mà.

Dọc mé sông, những chiếc ghe hàng nghếch mũi lên chào đón khách hàng. Chủ ghe tay quơ tiền, chân bò vào mui lấy hàng trao cho khách. Hầu như không có trả giá. Nói nhiêu mua nhiêu. Hùng dắt tôi và Mai đến một chiếc ghe mui vuông đậu ở giữa chợ, nhưng nó xua tay:

– Khách đông quá, quay lên nhà gặp má.

Tôi vừa đi vừa ngoáy lại thì thấy một ông già và một cô gái ở mũi ghe. Chắc cô em nuôi của hắn. Đi qua năm bảy ngọn đèn khí đá, Hùng dừng lại trước cửa một mái chòi lá lụp xụp và kêu:

– Má ơi má ? Hùng về nè!

Một bà cụ tóc bạc hấp tấp chạy ra. Hùng nói ngay:

– Con ra kiếm đồ về đãi anh chị của con. Má đó anh chị ! – Hùng nói tía lia cái miệng – Má coi tiệm nào có thịt đi hoạn dùm con vài kí thịt heo vài ký thịt bò, nếu có gan lòng phèo phổi má cứ đem về luôn. Đây má cầm tiền. Mua cho hết thì thôi.

Bà má bảo:

– Tiền để con xài. Mà về gấp hay ở chơi?

– Dạ về gấp, nhưng nếu có con Phi má bảo nó xé phay một con gà dò thì con ở nán lại.

– Ừ còn con gà trống để dành cho con đó . Để tao đi mua thịt ghé qua ghe bảo nó lên làm gà.

– Thôi được, để em bán hàng phụ với ba. Con gà nào đâu má chỉ con làm cho cũng được. Cọp beo con còn cạo lông nhậu mà sá gì con gà.

– Con uống rượu gì, má ghé ghe lấy cho.

– Gì cũng được má ạ ? Đây ba cái bình toong má đong đầy đế cho con! Rượu Tây lạt lắm.

– Con ra sau chuồng gà muốn bắt con nào bắt. Thôi anh em ở nhà, má đi nghe.

Bà má tất tả chạy đi. Tôi nói với Hùng:

– Mày có phước quá. Tìm được bà má thương mày.

Hùng cười:

– Quân đội nhăn răn vì nhân dân quên mình nên được nhân dân mến yêu chớ sao thầy. Nhất là quân đội này chi tiền sòng phẳng không có lấy cây kim sợi chỉ của dân.

– Kim chỉ lấy làm gì…

Hùng cười hố hố.

– Nếu bà già tôi lên chậm một chút thì tôi kêu bà má bằng bà nhạc rồi.

– Rồi sao?

-Tôi có vợ cô nàng vẫn vui vẻ, coi tôi như anh.. .ruột dư.

Vừa đến đó thì một cô gái đi qua mặt tôi bát ngát mùi dầu Hồng Lạc (không biết dầu gì nhưng tôi nghe giống mùi dầu Cao Thiên hoặc Hồng Lạc hồi thuở bé tôi vẫn thấy người ở chợ tôi xài). Cô nàng không đẹp cũng không xấu, bới tóc, nước da trắng trẻo. Hùng gọi:

-Phi! Em chào anh Hai chị Hai đi. Ông Thầy của anh ngoài Bắc mới về.

Cô gái quay lại cúi đầu rồi đi thẳng. Hùng bảo tôi và Mai đi theo xuống bếp. Phi nói:

– Má biểu về mần gà xe phay ! . . . .

– Để đó. Em xuống ghe lấy hàng cho anh. – Hùng kéo ghế cho tôi và Mai ngồi rồi nói – Để vụ gà qué đó cho anh làm – Hùng chìa ra một tấm giấy con, tôi liếc thấy ghi một dọc dài, và dặn tiếp – Nhớ cái món anh có đánh dấu không được quên. Càng nhiều càng tốt.

Phi cầm tấm giấy nhìn qua rồi cười nói:

– Anh quỉ không hè. Lần nào cũng đòi ba cái đó.

– Đâu phải anh xài. Mấy ông kẹ sợ mất mặt không dám đi mua.

Tôi biết ý Mai nên bảo:

– Em đi với cô Phi xuống ghe hàng của má, muốn mua gì cứ mua. Để mai mốt về trển khó lắm. Tiền đó em xài đi. Không phải hỏi anh. Anh có quới nhơn phù hộ hoài hoài.

Phi dắt Mai đi ra khỏi cửa, Hùng còn dặn vói theo:

0 Bảo vệ chị Hai tôi cho kỹ nghe. Người ta sắp tuyên bố rồi đó.

Tôi la hắn:

– Mày không sợ nó phản ứng sao, cứ nói xoèn xoẹc cái miệng.

– Ông thầy đã khai pháo chưa.

– Đã bảo im.

– Má tôi đưa lên là tôi làm tái ngay. Không có hỏi oỏng đơ gì cả. Mẹ, khẩu pháo sắp rỉ gặp cơ hội không lau chùi còn ở đó kén chọn.

-Mày nói ai.

– Tôi nói tôi. Cám treo để heo nhịn đói à. Thầy cũng thế. Ở đó mà tu.

– Dẹp cái tiếng thầy dùm tao đi. Tao không tu nhưng để coi đi coi lại chớ.

– Coi cái gì? Tôi nói không lẽ anh cười. Chớ đêm đầu tiên tôi mừng mắc chết.

– Sáng thức dậy có phát khóc….

– …Như ông Bảy Rừng Sát không hả ? Tôi không có khóc như con nít như ổng đâu. Vì tôi biết cái chuyện đó hồi còn ở nhà đi chăn trâu kia mà. Ra ngoài Bắc tôi cũng lai rai chớ đâu có gìn giữ con tí ngẩn như mấy cha nội có vợ trong Nam.

– À bây giờ mới khai hé ! Hèn chi mấy lần nhậu tập thể ở quán bà Cạo mày giả đò say mày vô mùng bả chớ gì! Trời đánh mày nghe!

– Tôi nói thiệt với anh là hồi ở ngoải ai cũng lầm tôi là thằng nhu mì nhủ mỉ, nhưng tôi trở khu đĩ lên trời, đâu có ai biết. Tôi còn bà khác nữa cơ.

Hai đứa làm gà và nói chuyện mặn tha hồ. Hùng hỏi:

– Cô em nuôi coi được không anh?

– Nè , có vợ con rồi, phải đứng đắn lại nghe thằng quỉ.

– Thì tôi có làm gì đâu. Da thịt nó mát rợi đấy.

– Sao mày biết? . .

– Nhìn thì biết cần gì phải trắc nghiệm đo đạc bằng khí tài như con nhà pháo.

– Dân buôn bán không có hiền đâu.

– Nhưng mà nó khoái dân phải gióng mình. Nó thích cây súng đeo xề xệ của tôi.

– Súng nào?

Hùng cười ré lên. Tôi cũng bật cười.

– Ông thầy tâm lý thiệt. Vậy mà hổng cho người ta kêu bằng thầy! Chắc nó thích cả hai. .

Bỗng dưng Hùng đứng dậy bảo:

– Tôi với thầy đi lại quán ông Bảy Hẹ làm bậy tô hủ tiếu về đường đi.

– Rồi con gà này bỏ cho ai.

– Thầy lo dữ hôn. Túm ni lông đem về .

– Làm vậy coi sao được.

– Mình trả tiền là coi được tuốt hết cả thầy ạ .

Tôi coi cái tình thế chợ này cũng cheo leo như cái chợ An Nhơn có cô xẩm bán nước đá lạnh cho Tư Linh mượn cuốn Buồn Nôn. Nó đã bắn pháo tới đây rồi, nó sẽ không có để chợ búa giăng giăng thế này lâu đâu. Nó chẳng dại gì để cho mình lấy hơi sức để đánh nó. Bữa tiệc liên hoan hôm nay có thể là bữa cuối cùng. Đêm qua tôi nghe đài Giải phóng lặp lại chiến công Bình Giả Đồng Xoài mà rỡn tóc gáy. Các cha phóng đại 1000% cũng như các phân số 3/4 và 4/5 vậy.

Tôi thú thật với Hùng là tôi không có bụng dạ nào mà đi ăn hủ tiếu ở quán ông Bảy Hẹ, Bảy Hành gì đó, nhưng hắn lôi tôi đi cho bằng được:

– Ở đó có nhiều món đưa cay hấp dẫn lắm. Như bao tử khìa, phèo quay chão nước dừa.

Quán đông nghẹt khách. Toàn là nam thanh nữ tú thuộc mặt trận của ông Thọ. Một vài ông bà nhân sĩ có dự đại hội mừng công vừa rồi trê n R cũng về tắp ngang đây tìm lại hương vị Sàigòn đã mất. Một ông thầy chùa lỗ mũi trâu tôi nhận ra mặt nhưng ông ta tưởng tôi không biết nhờ bộ đồ bà ba mốc thếch và chiếc nón tai bèo úp lên đầu. Còn cái bà Hăng Rô đang cùng một gã mắt kính trắng ngồi húp xì xụp một cách hồn nhiên, vừa chạm trán ông anh hùng bèn cụp mặt xuống tô phở làm như không thấy gì. Tôi hỏi Hùng:

– Còn quán nào nữa không mày?

– Anh không chịu quán này à?

– Ở đây có Lỗ Trí Thâm.

-Lỗ Trí Thâm nào?

Thằng Hùng hỏi to lên rồi kéo tôi lại góc quán. Tôi cực chẳng đã phải ngồi quay lưng ra còn nó thì chiếm một lúc ba cái ghế đẩu, ý không muốn cho ai ngồi ké.

– Cho hai tô đi ông già !

Hủ tiếu đem ra, tôi lua nhanh. Hùng hỏi:

– Biết thịt gì đây không ông thầy.

– Thịt bò !

– Bò gì đố thầy biết.

– Thì bò chớ bò gì.

– Bò kéo xe đấy. Pháo bắn chết hôm kia. Một đoàn xe gạo sáu chiếc. Nó nện chết mất bốn con bò. Mẹ kiếp không biết sao ban đêm mà nó biết. Còn hai con sống sót, một con què một con bị thương ở cổ, không còn công tác được. U60 phải cấp tốc đi mua bò mới, chớ lơ mơ thì lính đói. Tụi Bắc Kỳ mới vô đóng trong ven rừng Trảng Bà Điếc ăn như bào. Rước nó vô chạy gạo cho nó ăn không nỗi nó la ó om sòm… Tụi nó ăn ở bừa bãi lắm. Thế nào rồi cũng ăn dưa hấu thôi.

– Thây kệ ráng chạy gạo cho nó ăn rồi nay mai nó chết thay cho mình.

– Có tên xâm mình sanh Bắc, tử Nam đó thầy !

– Ừ tụi con nít trung học nghe nói giải phóng miền nam thì tưởng bở lắm nên xung phong. Dọc đường không gạo ăn nó địt mẹ bác Hồ rùm trời mà, cậu còn lạ gì.

– Vô đây tha hồ địt!

Trở về nhà gặp cả má, Phi và Mai. Tất cả những gì ghi trong tấm giấy của Hùng đều có đủ: thuốc rê, Capstan, dầu Nhị Thiên Đường, lưỡi cạo râu, xà phòng thơm, áo nịt, xì líp, áo thung, đường sữa và cái món không được thiếu nữa. Hùng cầm lấy nhìn qua rồi đút túi và khen:

– Hiệu Mỹ thì tuyệt, không bị rách.

Chúng tôi ra về như đoàn quân chiến thắng tha hồ mang vác. Toán bên kia cũng hoàn thành kế hoạch nhà nước 500%. Đặc biệt có một giỏ lươn bông, con nào con nấy thật to, sắp thành chồn đèn. Tôi thèm nhất cái món lươn um sả với nước cốt dừa này từ hồi ở ngoài Bắc nhưng không sao tìm được.

Mai khoe với tôi:

Em mua được cái đèn pin.

– Bộ khó kiếm lắm sao?

– Em ước ao cả năm rồi nay mới có.

– Em mua được gì nữa?

– Vài cái đồ lót. Mấy thứ này ở trên đó không tài gì gởi mua được. Tụi em khổ lắm.

Trên đường về, tôi và Mai lại lẽo đẽo đi bọc hậu. Đang đi bỗng bất thần Mai thọc tay vào túi quần tôi. Tôi chặn tay nàng và gắt:

– Làm gì vậy cô nương?

– Anh Hùng cho anh cái gì hôm qua.

– Đâu có cái gì đâu.

– Anh chối hả. Đưa cho em xét túi.

– Không có gì…à à… Nó đưa anh cái chứng minh thư để đi trong vùng này khỏi bị bảo vệ bắt.

– Anh nói gạt em ! Chứng minh thư thì đưa trước mặt chớ việc gì phải lén lút? … Nhưng mà em biết. ở trên R mấy ông già dềnh bí mật gởi tiếp phẩm mua về làm bùa hộ mạng, em còn lạ gì.

Tôi bị lật tẩy, không chối được nhưng cũng không muốn thú tội với nàng, nên chỉ làm thinh. Mai lôi tay tôi đứng lại rồi ngước nhìn tôi và cặp mắt van lơn:

– Anh không muốn có con với em à? Sao anh còn dùng thứ đó ?

– Anh chưa muốn có con bây giờ. Anh không muốn cảnh vợ goá con côi.

– Tại sao anh nói vậy?

– Anh cảm thấy như vậy. Anh thú thật với em, em đừng buồn nhé.

– Anh nói đi ?

– Anh yêu em nhưng không thể cưới em được.

– Tại sao?

em>(Tôi không thể nói về vụ Thu Hà nên trớ đi)

– Công tác mênh mông. Anh như con chim bay không bao giờ đậu lại để xây tổ. Ngoài ra có thể tử thương vì một mũi tên ở giữa lưng trời.

– Em không muốn về Ta Bon nữa. Đó là cái hang đầy hùm beo mang mặt nạ người.

– Em đừng nói vậy.

– Sự thực nó là như vậy. Con Thanh Tuyền nó còn chửi cả bố nó nữa là ai. Nếu anh không cứu em ra khỏi chỗ đó thì sau này anh sẽ ân hận.

– Anh chỉ có quyền lực của một người yêu, không có quyền lực của một ông tư lệnh.

– Quyền lực của người yêu đối với em cao hơn quyền lực tự lệnh.

– Nhưng trong hoàn cảnh chúng ta thì quyền lực tình yêu là vô nghĩa.

– Em hiểu anh. Em không trách anh. Em chỉ hận cho đời em.

… Về nhà sau mấy tiếng đồng hồ nấu nướng mịt mù khói lửa, các món ăn được dọn ra. Sáu Thiệt bảo tôi:

– Đồ ăn ngon mà đũa chén toàn muỗng vùa ca nhôm ăn cũng mất ngon. Vậy chú chịu khó qua nhà ông Ngụy mượn ly pha lê, chén kiểu, đũa mun về đây dùng, sẵn dịp mời ổng sang chén với tụi mình. Ổng thành thật và có vẻ trí thức nữa.

Tôi sang ngay. Ông Ngụy chừng bốn mươi tuổi. Ông mang các thứ sang với tôi. Vừa đi, ông bảo:

– Mấy chú xài rồi cất luôn bên đó để liên hoan. Tôi ít khi dùng.

Bữa tiệc quá ư linh đình và vui vẻ.

Nhưng tôi không thiết gì. Vì trước mặt tôi là sự chia ly với Hùynh Mai. Những lời nói của nàng làm tôi ray rứt triền miên. Thằng Hùng rót rượu và nâng ly mời khách, rồi quay sang tôi:

– Làm một cái cho cụp đi thầy! Sao thầy lơ lơ láo láo như ốc mượn hồn vậy?

Đây CỦ CHI! Đất Sét Sắp Thành Bùn

Chương 18
Pháo binh đấm lưng bộ binh ta hơi mạnh.

Đường vào trường Trung Sơ Cấp Bộ Binh không xa. Băng qua một trảng tranh chừng bốn mươi lăm phút. Ở đây đã tập trung cả ngàn người từ các cơ quan và đơn vị R để chỉnh huấn tình hình nhiệm vụ mới. Ở đây tôi gặp rất nhiều bạn bè mà suốt mười năm ở ngoài Bắc không biết họ lặn ở đâu. Ngoài ra có gặp mấy ông già trong kháng chiến chống Pháp. Trong số này có ông Trần Thắng Minh. Ông là một đảng viên kỳ cựu từng là bí thư tỉnh ủy Gia Định thuộc loại đàn anh của ông Hai Bứa, Ba Ngọt, Bảy Đậu, Tư Khanh… nhưng từ khi ra Bắc ngôi sao này lu mờ dần. Trong khi người cùng ca-líp với ông lên chức rần rần thì ông chỉ đóng lon thượng tá và cho phụ trách đoàn 79 là cái đoàn ăn hút của cán bộ quân sự Nam Bộ chuẩn bị cởi áo lính đi phá rừng, đào mỏ, cạo muối v.v… Đoàn 79 có một thành tích vĩ đại làm cho Bộ Tổng Tư Lệnh phải mất hồn vì cái tính khí ngang ngược của dân Thành Đồng Tổ Quốc.

Trong số cán bộ nằm an dưỡng ở đây có một anh tên là Lữ Sĩ Tân. Anh này bất mãn kinh niên. Trong lúc anh hùng Nguyễn Văn Song của Sư Đoàn 338 trốn về Nam rồi biệt tích thì ở đây Lữ Sĩ Tân tổ chức một đơn vị võ trang hành quân thẳng vào giới tuyến để về Nam. Đồng Văn Cống phải cho một tiểu đoàn đuổi theo bắt cả lại.

Sau vụ này ông Minh được (hay bị) đưa lên vùng rừng núi để chỉ huy mười ngàn lính Nam Kỳ xây dựng cái gọi là nông trường Quốc Doanh Lam Son . Trong số lính này có ông Dương Văn Nhựt là em ruột ông Dương Văn Minh. Người ta lầm rằng ông Nhựt đóng lon đại tá hay thiếu tướng gì đó. Sự thực ông ta chỉ là đại úy thôi và là một đại úy đã cởi áo lính đi cuốc đất. Sau khi nông trường Lam Sơn hoàn thành kế hoạch nhà nước 500% tức là không sản xuất được bất cứ món nông phẩm nào ngoài ba cái gốc lim có từ thời Bình Định Vương, lính tráng được gọi tái ngũ để vào Nam, thì ông Minh được đưa về làm tới chức Đại tướng Tổng cục giao bưu miền Nam và bây giờ thì, đáng lẽ nằm trong Bộ chỉ huy R, đi chỉnh huấn cho thiên hạ, ông lại được cho đến đâu ngồi chung với cán bộ trước kia đứng dưới ông ít nhất là ba cấp. Đáng tội nghiệp cho ông hơn nữa là trong số giảng bài cho ông nghe có Bùi Thanh Khiết hiện là Phó phòng huấn học Cục chính trị quân Giải phóng, một người chưa vô đảng khi ông đã là tỉnh ủy viên.

Tôi đang trò chuyện với ông thì một tiếng gọi từ phía sau lưng. Tôi quay lại. Tôi đang bỡ ngỡ thì một người đi tới tự xưng tên. Tôi reo lên:

– À Hải!

Anh chàng đến sát bên tôi rỉ tai:

– Kêu tôi là Trường Sơn. Bỏ tên cũ đi.

Nhờ cái chức giảng huấn mà tôi đi đâu cũng gặp người quen. Tôi dạy đâu bốn, năm khoá, mỗi khóa vài trăm. Tính ra cả ngàn học trò nên đi đâu cũng nghe gọi thầy, thầy.

Tôi quen với Hải từ thuở nhỏ . Lúc tôi làm mật mã ở phòng Tham mưu Nam Bộ thì Hải là thư ký hồ sơ. Lúc đó ăn uống thiếu thốn, ở rừng mất vệ sinh, đứa nào cũng ghẻ chóc đầy mình, nhưng Hải bị nặng nhất. Ghẻ mọc đến cả trên mặt có giề như cơm cháy . Hai môi dày ra và miệng rộng như ông Hạnh Hô ở Tuyên Huấn (ông này sau xuống miền Tây cũng làm Tuyên Huấn). Sáng nào cũng thấy Hải đầu bù tóc rối ngồi trên rễ cây rừng xoè bàn tay ra lể bắt sâu ghẻ. Tôi vô đảng trước nó vài ba năm và khi tôi là tiểu đội trưởng, nó còn là lính trơn.

Ông Minh thấy tôi gặp bạn cũ nên lảng đi chỗ khác. Tôi bắt tay Hải:

– Về năm nào?

– 62. Tôi làm giáo viên trường này từ khi thành lập đến nay. Đừng kêu tên cũ bà xã tôi ớn.

– Ủa cưới vợ rồi à ?

– Dạ. Bả là lính Q Hai Chòi, dân chính gốc Củ Chi. Mới cưới năm rồi. Ngày mai mới vô học. Anh vô nhà tôi chơi đi. Nhà riêng. Hai đứa tu chung mà.

– Tao còn nghe trưởng đoàn phổ biến kế hoạch. Chiều ăn cơm xong mày vô tìm tao.

– Ông phải diện vô, o lại gà mới được. Con gái ở dưới đồng bằng lên nhiều lắm. Ông phải cưới vợ mới được. Cứ lêu bêu hoài sao tiện. Thoát khỏi cảnh cấy su hào về đây phải trồng dưa hấu chớ. Ta về ta tắm ao ta mà. Ao sẵn đó lẽ nào không nhảy xuống!

Thằng Hải cũng nói tía lia nhưng không hài hước như thằng Hùng. Hải tiếp:

– Tôi nhất định sẽ tìm cho ông một cô cước cạnh ngay trong kỳ chỉnh huấn này.

Hải vừa quay đi thì hai trự khách lại tới. Tôi kêu lên:

– Phùng! Quang! Sao trông khác dữ vậy? Suýt nữa tao không nhìn ra.

Phùng hỏi.

– Bộ tụi tôi già lắm à?

– Trông giống Năm Sàigòn quá hà !

– Ông Năm Sàigòn đang UTQ đằng đầu lán. Có ông Năm No, Năm Cương, Út Thới nữa.

Thằng Phùng đi chung Ban Rùm Beng của E 300 với tôi. Còn thằng Quang hồi đó chèo xuồng cho ông Ba Thạnh. Khi về Nam hai đứa đang ở cấp trung úy làm nhiệm vụ Phó chánh trị viên đại đội, còn trình độ pháo thì chúng nó chỉ mới học xong lớp xử dụng pháo địch ở trận địa tức là quay pháo địch bắn địch hoặc phá vỡ nòng pháo địch một khi đã chiếm được.Việc này mấy ông bộ binh chỉ học một tuần là làm được. Hai đứa dắt tôi đến chỗ Năm Sàigòn, tức là Năm Truyện, sư trưởng công trường 9. Vừa đi, thằng Phùng nói:

– Ông coi tụi tôi tưa tai, trọc đầu hết ráo, nên không nhìn ra là phải.

– Sao dữ vậy.

– Dự hai trận liền Bình Giả lẫn Đồng Xoài !

– Tao có nghe.

– Chết quá xá. Một ngàn là ít chưa kể dân công.

Quang tiếp lời Phùng:

– Mấy trận lớn của khu 7 mình thời xưa so với Đồng Xoài Bình Giả chỉ là một cuộc dạo mát. Nội cái nó rắc bom trên đường rút lui của mình cũng sánh bằng trăm lần Pháp.

Phùng nói:

– Thằng Pháp hễ đánh xong thu chiến lợi phẩm là xong. Còn bây giờ sau khi giải quyết, mình rút lui, nó cho bom pháo bắn như trải trấu vô bụi tre. Đánh trận, hi sinh một, rút lui hi sinh năm, sáu ông thầy ơi. Nay mai ông ra chỉ huy một trận rồi biết. Đại đội tôi còn sống sót chừng già một trung đội, trong số sống sót này bị bịnh thần kinh một phần ba.

– Bịnh thần kinh gì?

– Cả chục thằng cứ ngơ ngơ ngáo ngáo nói nhảm tối ngày, ngoài ra còn đi bậy ngoài rừng y tá phải tìm bắt lại. Như vậy có nghĩa là mất sức chiến đấu. Còn Ban chỉ huy đại đội sót lại mình tôi.

– Ông Hai Nhã không làm gì được sao?

– Pháo của ông đấm lưng bộ binh thiệt hại bộn bàng.

– Lỗi không phải tại ông đâu, mà tại nhiều lý do khác. Chốc nữa gặp ông Năm Sàigòn tao sẽ nói cho ổng mấy kinh nghiệm.

Tôi nói tiếp:

– Tụi bây có chiến lợi phẩm gì không. Tao cần một món nho nhỏ để tặng một người bạn.

Phùng vọt miệng nói ngay:

– Có có tôi có một món ngộ lắm, ông lấy tặng cho bạn cũng được mà cho người yêu càng tốt.

– Món gì đó.

– Một mớ tóc thanh xuân !

– Thằng giỡn hoài mày.

– Tôi nói thiệt mà. Sau hai ngày đội bom, đơn vị về một nơi có suối để tắm giặt. Tôi vừa cởi áo ra nhúng xuống nước thì từ trên nguồn trôi xuống một vệt đen ngòm uốn lượn trong nước. Mới đầu tôi tường một mảnh khăn rằn.

– Của bà Ba Định? – Tôi thêm vào.

– Tôi tưởng vậy thật đấy, nhưng không phái. Tôi đưa tay vớt lên, thì ra một mớ tóc dài. Tôi thấy thương quá nên đem về phơi rồi bỏ trong ba lô . Không biết cô thanh nữ xung phong nào đã hi sinh, cha mẹ có biết không ? Kiểu này thì như lính trên Trường Sơn rồi. Chết chẳng còn ai biết mà báo tử.

– Thôi đi! Không được đâu. Ai dám nhận mà tặng.

Quang nói.

– Nếu ông không nhận mớ tóc, tôi sẽ tặng món khác.

– Món gì?

– Một mảnh bom B52.

– Sao mày biết mảnh bom B52?

– Thì tôi dắt đơn vị chạy trong trận mưa bom đó mà, không mảnh bom B52 thì bom gì?

– Sao lại chạy mà không nằm?

– Là vì lúc đó điên cái đầu rồi, không nhớ là phải nằm để tránh miểng bom nữa. Hai là đối với B52 nằm cũng như ngồi, chạy cũng như đứng, kết quả đều như nhau. May rủi thôi anh ạ. Bộ anh chưa bị trận nào vỡ lòng sao?

– Chưa.

– Rồi anh sẽ biết. Nếu anh nằm anh sẽ văng lưng lên. Còn anh chạy thì anh có cảm tường anh là con vịt con chạy trên cái sàng gạo đang lắc tối đa – Quang tiếp – Khi đến chỗ đóng quân tôi mở ba lô ra thì thấy cái miểng bom nằm giữa ba lô, trong một cái áo cổ vuông.

– Nó chui vô bằng ngỏ nào?

– Nó phang đứt ba lô, xuyên mấy lớp quần áo. Nếu tôi không mang ba lô thì nó chém ngọt cái xương sống tôi rồi.

– Bao lớn?

– Bằng nửa ngón tay thôi.

– Hồi trước tao cũng có nghe một chuyện như vậy, nhưng thay vì mảnh bom, thì lại là đầu đạn mi-trai-dết Sten. Cái thứ này thì dễ hiểu thôi. Bắn chừng hai băng thì đạn rơi ngay trước mặt vì cái lòng súng đã rộng tàng oạc rồi.

Đi một chập, sực nhớ chuyện thằng Sâm, tôi bèn hỏi:

– Mày có biết vụ thằng Sâm không?

Phùng mau miệng:

– Chuyện đó là chuyện râu ria ăn thua mẹ gì. Ở ngoài đó , ngày mai đánh trận, đêm nay tụi thanh nữ thanh niên xung phong nằm đeo nhau khắp rừng nghe vọng cổ Sàigòn rồi chiến đấu. Cái tâm lý của chúng nó là nếm mùi đời trước khi chết. Không có kỷ luật nào ngăn cản nổi. Thằng Sâm chỉ mới mở màn thôi chứ chưa khai chiến, nhưng vì mấy cú trước ông Hai Nhã nhà mình làm trật duột, pháo ta đấm lưng bộ binh nhà mình, nên ổng quạo ông giận cá chém thớt thôi, chứ đâu có gì đáng gọi là vi phạm kỷ luật chiến trường như ổng lên án nó.

– Nó về gặp tao. Nó than phiền dữ dội. Tao cho đi sản xuất để đoái công chuộc tội.

– Xí ! Ổng nện chết lính mình cả đống mà không ai bắt tội ổng, còn thằng nhỏ mới có định cho đời lên hương tí chút đã bị khai trừ.

Chúng tôi đến đầu lán. Phùng trỏ ông đầu bạc:

– Ông Năm Sư trưởng công trường 9 đó . Ông hỏi ổng thì biết pháo của ông Hai Nhã chơi ác như thế nào.

Rồi giới thiệu tôi với ông sư trưởng.

– Đây là thầy pháo binh chính gốc nè anh Năm. Anh đề nghị ở trên cho ổng về công trường mình đi.

Quang giới thiệu tiếp với tôi các ông Năm No, Năm Cương, Út Thời toàn là cán bộ Trung Đoàn thuộc Công trường 9. Năm No thấy tôi mang bi-đông thì biết ngay, bèn hỏi:

– Nước ngược hả ?

– Dạ.

Tôi vừa đáp vừa ngồi xuống kẽ hở ở vòng tròn mấy ổng vừa nhích rộng ra nhường chỗ cho tôi.

– Kiếm đâu hay vậy?

– Dạ ở ngoài chợ Long Hoa B.

– Dễ kiếm không?

– Dạ hễ ra tới đó thì có, xe bò chở cũng không hết.

– Lính tráng cán bộ ỳ xèo hết chê ở ngoài hả?

– Dạ cũng hơi đông.

– Quần nát cả chợ chớ hơi đông gì: Bộ Tư lệnh và ban chi huy các cơ quan đã ra chung một cái thông cáo cấm đi ra chợ rồi mà họ vẫn cứ đi rào rào

Út Thời có vẻ rộng lượng hơn:

– Thì chúng nó đi tìm chất tươi mà cấm sao được. Anh không nhớ một anh lính trẻ bị cảnh cáo về tội lang bang với nữ dân công à. Anh ta nói một cách hồn nhiên: “Cảnh cáo thì cảnh, miễn tôi đánh Mỹ hăng thì thôi. Còn hơn mấy ông không phạm mà nhác như thỏ đế”. Đó là một triết lý mới! Nghe nó nói, tôi rất phân vân, không biết nó nói đúng hay sai.

Đang nghe Út Thời nói chuyện thì một ông đen đúa kịch cợm bước tới, xoè bàn tay như những rễ cây già, đập trên lưng tôi làm tôi suýt chúi lúi và nói to:

– Ê, cha nội pháo mới xuống cựa tụi tôi ở Bình Giả đây hả?

Phùng hớp vội chung trà và xua tay:

– Không, ổng mới về còn cắt chỉ chưa ra trận nào.

Tôi cười dã lã :

– Tôi mới thử DKZ bắn gián xạ thôi, và mới huấn luyện pháo thủ thôi.

– Còn pháo để đâu?

– Đâu có cây nào ngoài ba cây Sơn pháo, pháo Nhật niên kỷ cao hơn tôi.

Tôi không nhận ra anh ta là ai, thì anh ta tiếp: .

– Hồi ở ngoải, tôi có tham quan mấy ông nhà pháo bắn thử ở Ba Thả, có chuyên gia Liên Xô Trung Quốc dự và một lần bắn ứng dụng ở gần cầu Xuân Mai, tôi tin tưởng quá sá, sao về trong này, pháo cối trung đoàn, cả pháo của R do ông Hai Nhã chỉ huy làm ăn coi bộ ịch đụi vậy?

Anh ta ngồi xuống tự châm trà, rót uống chép miệng thật kêu rồi tiếp.

– Bây giờ lính tôi ngán mấy ổng lắm rồi. Sắp ra trận thì họ hỏi có pháo yểm trợ không. Nếu tôi nói không có thì họ mừng lắm. Có người bảo: “Chết vì đạn Mỹ thì còn lên đài tử sĩ được, còn chết vì đạn ta làm sao mà lên đó?”

Ông Hai Nhã là Tư lệnh Pháo binh R còn ông Tư Khanh là chánh ủy đều là xếp lớn của tôi. Nhưng ông Tư Khanh khi học bài của tôi, ông ấy chỉ học lấy lệ vì ổng mang lon thượng tá còn tôi mới là đại úy. Còn ông Hai Nhã thì có học khá hơn, nhưng phần lớn chỉ là công tác làm Tư lệnh chứ không làm chỉ huy tại thực địa. Mà trên chiến trường Miền Nam, vấn đề quan trọng nhất là biết xử dụng từng loại pháo một chứ không phải ra lệnh. Lắm cái mệnh lệnh của ở trên đưa xuống không thể nào thi hành được mà người chỉ huy ở thực địa phải tùy cơ ứng biến, như tôi đã dùng ống kính của pháo Pháp gắn sang DKZ để dạy ở trường Pháo binh R. Mặc dù biết những sơ xuất này là do ở ông tư lệnh pháo, nhưng tôi cũng liều mình cứu chúa và vớt vát danh dự cho binh chủng của mình.

Tôi nói:

– Xin các anh thông cảm cho như thế này. Chắc không phải anh Hai (Nhã) đo đạc cự ly sai đâu. Nguyên nhân sai lệch có rất nhiều. Thí dụ địa hình phức tạp, đế cối không vững chắc, vì sự bảo quản, lau chùi nòng pháo không kỹ lưỡng, vì thời tiết bất thường, pháo thủ lấy phần tử không chính xác…

Ông to con gầm lên:

– Không chính xác thì vài chục thước hoặc một trăm thước là cùng chứ làm gì mà sai tới ba trăm thước lận. Thậm chí có trái sai cả nửa cây số thì bỏ mẹ tụi này hết rồi.

Tôi biết ngồi ở đây toàn là cấp trung đoàn trở lên nên nhỏ nhẹ đáp:

– Khẩu pháo là cô con gái nhà giàu, động một tí là kêu sổ mũi, nhức đầu. Mình không cho uống át-pi-rin thì cũng phải xức dầu Nhị Thiên Đường cho cô ấy. Pháo của người ta hành quân phải xe kéo, pháo nặng phải có xe xích kéo, còn pháo Trường Sơn mỗi lần di chuyển pháo mình đều rêm mình. Nội cái đó thôi cũng đã góp phần lớn vào sự mất chính xác. Trước khi bắn một quả pháo người khẩu đội trường phải đo đủ thứ, kể cả đo độ ẩm của không khí, đo sức gió, chiều gió. Ở đây tôi biết chắc chắn các khẩu đội trường đều không có đủ khí tài hoặc đủ trình độ để làm việc đó.

Út Thời thở dài, nói to:

– Vậy là hiểu rồi chú bé ! Không phải giảng bài cho tụi già dềnh này nữa. Vấn đề là ở trên phải khắc phục nhược điểm để tránh đấm lưng bộ binh.

Sẵn dịp may ít có, tôi bồi thêm:

– Tôi đang dạy ở trường pháo binh R, chỉ mong học viên đạt được khái niệm cơ bản thôi, nhưng đó là cả một vấn đề. Muốn bắn chính xác người chỉ huy phải có trình độ tính toán và bắt buộc phải tính nhanh như chớp, chứ không thể ở đó cắn bút ngẫm nghĩ 2 nhơn cho 3 là mấy hoặc 100 chia cho 5 ra bao nhiêu. Thế nhưng vì cố chấp ở lập trường và thành phần mà các khu gởi học viên toàn lớp ba lớp tư. Làm thế nào học được, nhưng ở trên bắt tôi phải dạy cho được.

Năm Sàigòn nghễnh cổ lên kêu to:

– Ê, có Hai Nhã ở đó không, kêu thằng chả lại đây nghe.

Một tiếng đáp vọng lại.

– Ổng đang họp với hiệu ủy nhà trường!

Năm Cương làu bàu:

– Cứ chỉnh huấn hoài còn chuyên môn thì bỏ phế.

Tôi tiếp luôn chùy nữa:

– Tôi được biết mỗi đơn vị pháo Trung đoàn đều có trợ lý pháo binh của R gởi xuống để giúp đỡ về chuyên môn, nhưng trong hoàn cảnh của mình, tôi tin chắc ông đại tướng pháo binh Trung Quốc có sang cũng chịu phép thôi.

Út Thời quát:

– Tại sao vậy?

– Đây tôi chỉ nói một điểm nhỏ thôi. Bắn mục tiêu che khuất mà mình luôn luôn thất bại…

– Vậy sao tụi Sàigòn nó nện mình bá phát bá trúng?.

– Là vì nó có học đúng mức, không có huấn luyện kiểu tôi. Vì nó có đủ khí tài cần thiết chứ không có dùng DKZ bắn gián xạ như tôi dạy. Và vì nó có bản đồ pháo chính xác một trăm phần trăm. Pháo và B52 là bắn theo các ô kẽ trong bản đồ. Nó đã bắn thử hết cả rồi. Cho nên khi được lệnh diệt ô nào, kiểu nào, bao nhiêu quả là nó nã không có trật một phát. Tôi đi chợ Long Hoa để xem lỗ đạn pháo đấy chớ đâu phải để mua đồ. Các anh ra đó mà xem thì mới rùng mình rỡn ốc. Nó bắn nát chợ cũ nhưng nó chừa chợ mới dọc mé sông. Tôi nghĩ là nó không muốn diệt ghe thương hồ hoặc nó nuôi tụi mình cho béo rồi làm cỏ một phát là sạch sẽ . Hai cái chợ mới và cũ chỉ cách nhau hai trăm thước, mà đạn pháo rớt không leo qua chợ mới một phát nào. Y như đạn có mắt vậy.

Năm Sàigòn thở hắt ra từng chập, Út Thời khoanh tay rế lắng nghe, còn Năm Cương thì uống trà liền liền ra vẻ sốt ruột. Năm No nói:

– Thời đánh Tây mình xài Trom-lông VB bắn bằng cái quặng cắm ở đầu súng mút Lơ Ben. Cứ dùng cánh tay trái co dản làm thước đo hễ hạ xuống nhiều thì đạn rớt xa, cất lên cao thì đạn rớt gần. Vậy mà bắn xe nồi đồng cũng chạy toé khói.

Tôi đỡ lời:

– Dạ thời đó tôi mới ra trường lục quân đi thực tập ở Ô Môn, cũng có đôi trận bắn kiểu đó anh Năm. Nhưng bây giờ không được nữa. Pháo là một binh chủng rất phức tạp. Đây tôi xin nói một điểm rất nhỏ.

Năm Cương vừa rót trà vừa nói.

– Điểm nào cũng nhỏ cả ! Nhưng bắn trật thành ra lớn.

Tôi hớp tí trà rồi tiếp:

– Nội cái việc bảo trì đạn pháo của mình thôi cũng đủ chết rồi anh Năm ạ . Sự bảo quản này không do người chỉ huy mà lại do hậu cần.

Út THờI trợn mắt nhìn tôi.

– Hậu cần chỉ lo tải đạn thôi chớ ăn nhậu gì vô đó?

– Tôi đã đi trên đường Trường Sơn gặp nhiều toán dân công vác đạn pháo. Tôi nghĩ ngay thế này thì chết cha mấy thằng bộ binh rồi . Từ Bắc vô Nam ít nhất cũng sáu tháng, trải qua biết bao mưa gió, đút cất trong hầm hoặc để ngoài trời thậm chí có nhiều người lội qua suối bị ngả, đạn chìm xuống nước…v.v.. và v.v…… Thuốc bên trong bị ẩm khi cháy không phát sinh hết sức phụt làm cho đạn rơi gần lại. Đó là may mắn. Có nhiều trường hợp không may mắn…

Năm No nói với ít nhiều chua chát lẫn hài hước.

– Là sao nữa. Chà cái môn pháo này rắc rối quá các cha ! Càng nghe càng mịt mù thiên địa. Chơi như bộ binh mình khoẻ hơn. Chẳng có đo đạc ngắm nghía cái gì cả . Giống như nông dân phát cỏ, cứ chém bừa. Xong về nhà nhậu.

Năm Cương hỏi:

– Chú em nói trường hợp không may mắn là sao?

– Dạ là… đạn nổ tung nòng pháo chết cả khẩu đội.

– Có vậy nữa sao’? Tại sao vậy?

– Dạ vì độ ẩm thuốc biến chất không vọt ra được nên nổ tung, như là pháo tịt ngòi chỉ xì mà không nổ vậy.

– Úi cha cha ! Đủ thứ phức tạp!

– Dạ, nó phức tạp và tinh vi lắm các anh. Ở ngoài Bắc có kho bảo quản đạn pháo, có gắn hàn thử biểu bảo đảm từ 37 đến 40 độ C, như vậy khi xử dụng mới an toàn.

Năm Sàigòn lắc đầu:

– Ở đây đành chịu chết thôi. Làm sao mà xây kho?

Tôi hỏi:

– Pháo ở Bình Giả là pháo gì vậy anh Năm?

– Tao có biết pháo gì là pháo gì. Thằng Hai Nhã nó bảo tao là kỳ này có pháo yểm trợ. Nó còn nói thêm: “Pháo là linh hồn trận địa còn Bộ binh là vua chiến trường”. Tao đáp: “Ừ mày là hồn tao là xác. Gì cũng được miễn đánh thắng thì thôi..” Chẳng ngờ ra trận cái hồn nện cái xác tơi bời. Lính bị đấm lưng, cóng giò cóng cẳng đâu có xung phong được.

– Anh Năm à ! Lỗi ở anh Hai chỉ một phần nhỏ thôi mà lỗi lớn là của bộ Tổng cơ. Ở ngoài đó không nắm được thực tế trong này cũng như thực tế con đường Trường Sơn. Tôi là dân pháo binh mà gặp các đoàn pháo tôi không dám nhìn. Đế cối vứt đầy đường. Anh nghĩ, lính đói mà khiêng nòng pháo 75 ly leo dốc thì làm sao? Pháo của mình so với pháo Mỹ là pháo tép. Đã vậy còn thiếu phương tiện quá sức tưởng tượng anh Năm ơi. Tôi về dạy trường pháo, thú thực với anh tôi muốn khóc. Tôi nghe thằng Sâm nói về tình trạng pháo của anh Hai ở Bình Giả, không phải tôi nói phách, tôi biết kết quả sẽ như thế nào rồi. Tình trạng đó bắn gì được mà bắn ! Ở trên thường bảo phải khắc phục. Khắc gì được mà khắc ! !

Vô tình tôi đã giảng một bài sơ đẳng về pháo binh ở quanh mâm trà. Nghe tôi thuyết người ta đến càng đông. Toàn là những cán bộ gộc được chọn về đây để chỉnh huấn. Tôi lấy ngón tay trỏ chấm vào chung trà của tôi và vẽ trên tấm ni-lông trải dưới đất làm mâm trà.

– Xin các anh xem, đây là trái đạn. Thuốc ở sau đuôi gọi là thuốc tống hoặc phóng cũng thế. Còn thuốc trong đầu đạn gọi là thuốc nổ như TNT chẳng hạn. Đó là đạn cà-nông. Còn đạn súng cối thì ngoài liều tống chính nó còn liều phụ để rời ở ngoài Pháp gọi là relais, trước khi bắn thì móc vào các cánh sau đuôi. Có khi các ảnh dùng cối mà quên dùng liều phụ relais này cho nên bắn không chính xác. Nên nhớ là tất cả đều để trong thùng cạc-tông khằn và đặt trong thùng cây

Bất ngờ kẻng ăn cơm khua lên, nhưng chẳng ai muốn nhúc nhích. Tôi nói:

– Thôi để các anh ăn cơm. Chuyện pháo dài lắm nói không hết được.

Út Thời nhìn Năm Sàigòn:

– Anh bắt thằng bé này nói mới được anh Năm. Đem nó về làm chủ nhiệm pháo cho mình.

– Không được đâu. Ông Tư Khanh dễ gì thả nó ra.

Ông to con kịch cợm nãy giờ đứng nghe rất chăm chỉ, buột miệng:

– Ông con nít này nói không sai một điểm nào. Tôi đã chứng kiến ổng bắn xe tăng (giả) trên đường gần Xuân Mai. Đó là mục tiêu di động rất khó bắn, mà ổng để mỗi phát banh một chiếc. Mấy ông Liên Xô khen nức nở.

Lúc xách chén đi ăn cơm, tôi lại gặp thêm vài người quen nữa, trong số đó có Mười Khuê, Trí O…gốc 307. Dân cán bộ của tiểu đoàn lừng danh Nam Bộ này bị BMEO đẻo rụng gần hết. Xuống miền tây đánh mấy trận Hộ Phòng, kinh Nhựt Nguyệt để ra mắt đồng bào, lại bị gọt bớt một số nữa. Dân Bến Tre, Mỹ Tho bỏ xương khắp Nam Bộ.

Thuở trước khi ra trường Lục Quân tôi đến công tác ở đại đội Trí O. Cổ ảnh hơi to nên gọi là Trí O. Tôi bắt tay ảnh, mừng rỡ . Sau vài câu, tôi hỏi ngay:

– Có chị Hai chưa anh hai.

Trí O cười rung rung mảnh da dưới cắm:

– Chờ cho cái màn chèo này vãn họa may mới kiếm được.

– Tóc bạc bộn rồi anh.

– Ừ thì ăn cơm chúa phải múa suốt đời chớ sao. Và múa không được trật bài bản. Còn chú?

– Em cũng còn chân không anh à.

Suýt nữa tôi hỏi thăm Nhàn Râu. May quá, tôi tốp kịp nên né qua chuyện khác.

– Anh Tiên đi đâu mất biệt hả anh?

– Hồi mới ra, được phong thượng tá. Đi học Trung Quốc ba năm về, lên đại tá chỉ huy sân bay không biết sau đó đi đâu

– Hay là đi… đoong rồi?

– Bậy chú ! Ảnh là một cây lập trường mà !

Tôi nhìn cái đèn pin cổ cụp đeo ở lưng anh, hỏi:

– Bộ chiến lợi phẩm trận Bình Giả đó hả anh?

– Còn lâu. Chạy sút trứng non trứng già, ở đó mà thu chiến lợi phẩm.

Vừa đi xuống nhà ăn với tôi, anh tâm sự vụn:

– Đánh với thằng Mỹ này mệt lắm. Hồi trước tao chơi thằng Pháp một trận Phong Phú chớp nhoáng xơi tái của nó một tiểu đoàn. Rồi hạ luôn đồn Xẻo Me trong vài tiếng đồng hồ. 307 trở thành thần thánh. Bây giờ không được! Không được tao nói không được là không được. Cái Luận Trì Cửu Chiến của lão Mao lúc nào tao cũng có trong xắc-cốt, bây giờ nếu đem áp dụng với trực thăng vận và B52 là trật hết.

– Anh nói đúng đấy. Nó tới trong vòng năm phút và rút khỏi trận địa trong vòng ba phút ở đó mà du hồi, thanh đông, kích tây.

– Mày đeo đế quốc đó hả ? Tao nghe mùi hăng hăng.

– Dạ . Tôi múc nó ngoài chợ Long Hoa ! Anh có súc miệng một phát rồi ăn cơm cho ngon miệng không?

– Đưa tao coi. – Trí đưa tay cầm, lấy bi đông, mở nút, ngửa lên tu vài ngụm liền rồi phà một cái – Có mùi nước đái xẩm !

Tôi cười. Trí bảo:

– Chú mày có cần cái đèn pìn thì lấy đi. Tao không xài. Đeo ba cái thứ này lỉnh kỉnh khó chạy lắm.

Tôi hỏi sơ qua cấp đại đội mới được đề bạt lên sau Cải Cách Ruộng Đất, anh cho biết người thì rửa chân leo lên bàn thờ, người còn sống, kẻ bị thương bỏ đơn vị.

– Còn mình tao với Mười Khuê là cựu trào 307.

Lúc ngồi ăn cơm, tôi không thể tự ngăn mình nữa, nên buột miệng:

– Còn anh Nhàn Râu ở đâu anh?

– Mày biết rồi, còn hỏi.

– Tôi chỉ biết đến đó thôi.

– Ừ, biết đến đó thôi cũng đủ rồi. Không nên hỏi thêm nữa.

Nhàn Râu là người Bến Tre, là kẻ thành lập bộ đội võ trang trong những ngày đầu kháng chiến cùng với Tỷ Cà Lăm, Romand, Hồng Minh Quang, một lúc với Phan Văn Phải (Hai Phải) và Đồng văn Cống (Bảy Cống). Từ một nhóm nhỏ, anh đã tiến tới thành lập tiểu đoàn 308 và làm Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn này trong suốt chín năm kháng chiến Nam Bộ. Danh tiếng 308 chỉ kém 307 một ly thôi. Ra Bắc, trong lúc Nguyễn Văn Tiên, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 307 được đề bạt Trung tá, Nhàn Râu chỉ được Thiếu tá. Vì Nhàn Râu thuộc thành phần địa chủ (con Hội đồng, một loại Hội Đồng ủng hộ kháng chiến hết mình. Khui lúa vựa ra nuôi quân. Địt mẹ Cộng Sản ăn xong quẹt mỏ như gà. Không có địa chủ, tụi nó hốt cứt vô mà ăn!) Đã là con địa chủ lại còn có học thức cao. Cả hai thứ này là điều cấm kỵ của đảng. Trong cải cách ruộng đất, Nhàn Râu không chịu phản tỉnh. Anh nói trước hội trường Trung Cao cấp Quân đội rằng anh không có tội gì mà phải phản tỉnh, ngoài cái tội yêu nước. Và bố anh cũng không có tội gì mà bắt anh phải gọi là phản động. Ông chỉ có một tội là ủng hộ kháng chiến triệt để. Chỉ vì vậy mà Nhàn bị qui cho tội tày trời: Phản ứng giai cấp. Đây là cái tội rùng rợn nhất trong chế độ nhà Hồ (nhưng lão ta là con quan lại thì không có tội gì cả và cũng không có ai dám bắt lão ta xỉ vả bố lão). Thế là Nhàn Râu bị lột áo, đi tù …

em>(Cho đến sau 1975 nghe đồn Nhàn Râu mặc quần xà lỏn, áo bà ba cụt tay về quê. Đó là tiêu biểu tươi đẹp nhất của một người trí thức đi theo đảng).

Nghe anh Trí bảo thế, tôi đành im, sợ lây cái tội phản ứng giai cấp. Tôi biết Trí O là thành phần xuất thân tiểu tư sản học sinh (anh có bằng Thành Chung khi kháng chiến vừa bùng nổ) nên anh rất sợ qui thành phần bóc lột. Hồn ai nấy giữ, nên anh không muốn dây vô chuyện của Nhàn Râu.

Gần hai mươi năm cầm súng mà một cán bộ đại đội xuất sắc như anh chỉ mới lên tới cấp Trung Đoàn! Kể cũng lạ. Nhưng thôi, đó cũng là cái may. Anh không ở tù như Nhàn Râu hoặc bỗng dưng tụt chức từ Trung đoàn trưởng xuống đại đội phó như ông địa Ngô Hồng Giỏi là giỏi rồi. Ngược lại có những tên địa chủ lém khai thành bần cố nông và được đề bạt mút mùa như Nguyễn Văn Sơ: Hiệu Trưởng trường CCRĐ quân đội, Nguyễn Hoài Pho: Tư Lệnh Miền Tây! Ông này trên đường về nhậm chức bị Mỹ chụp chết ở dọc đường.

Chương 19
Lá hồng thư viết bằng nước mắt

Cơm chiều xong tôi về sạp ngồi hút thuốc nhớ Mai. Không biết nàng được bố trí cho ở đâu. Thì may quá ông Hải Trường Sơn đến. Hải thấy cái đèn pin cổ cụp của tôi máng ở đầu giường thì biết là của tôi nên nói dèm. Không đợi hắn nói tới hai câu, tôi bảo:

– Của xếp cũ tao vừa cho đó, mày cần đi đêm diễn tập thì lấy mà xài.

Hải cám ơn rối rít và lột lấy đeo vào thắt lưng ngay. Hải dắt tôi về nhà. Vừa đi, tôi bảo:

– Tao nhờ mày một chuyện.

– Chuyện gì?

– Mày nói mày có cái thum riêng phải không?

– Đúng.

– Cho tao mượn được không?

Hải biết ngay vấn đề, nên hỏi:

– Để dựng sân khấu hát tuồng Thạch Sanh chém chằn phải không ông nội? Tìm được công chúa đâu mà giỏi vậy?

– Công chúa ở trên Cục Chánh trị xuống đây đánh máy phục vụ hội nghị.

Hải nói quá yêu cầu của tôi:

– Gì chớ chuyện đó dễ ợt. Vợ tôi cũng đánh máy trên văn phòng.

– Ừ coi vậy chớ có lắm kỳ đà cản mũi!

– Tôi hứa với ông là nếu tôi không đưa nàng tới đây cống Hồ được, tôi chịu xử trảm.

– Nàng ta tên là Mai.

– Tôi biết, tôi biết mà.

– Sao mày biết hay vậy?

– Vợ tôi nói bữa nay có cô nào ngộ ngộ lạ lạ ở đâu đến.

– Bây giờ nghe ông nối thì biết ngay là đối tượng của ông chớ nội đây có ai xứng đâu. Nếu không tóc bạc thì cũng loại bần cố hỉ, cù lần, có ai mà xáp với cô ta xứng được?

– Được rồi hễ cô ta tới thì hai vợ chồng cậu dắt nhau đi tiệm mua…

– Mua gan rồng mật gấu gì tôi cũng chạy ra cả.

– Không, tao chỉ cần vợ chồng mày đi mua nước mắm.

– Thứ đó tôi có sẵn ở nhà .

– Mua bằng cái dĩa, hiểu chưa?

Hải thấm ý cười rẻ lên và nói:

– Tôi giao nhà cho ông sáng đêm.

Câu chuyện tới đây thì Hải trỏ tay:

– Cái am của tôi đó.

Hai đứa bước vô cửa. Cái nhà bằng bụm tay giống như nhà chòi của con nít. Thấy một người đàn bà đang ngồi trong bếp hẹp té, không đợi Hải giới thiệu, tôi cất tiếng:

– Chào bà Sáu Vi hai.

Người đàn bà đứng dậy.

– Anh Lôi đây hả ? Em nghe anh Hải nói. Sao anh không đến nhà tụi em ăn cơm. Ăn trên cơ quan chỉ có đậu phộng rang với muối. Sao anh gọi em là bà Sáu Vi, tội chết.

– Thì chồng là Trường Sơn, vợ là bà Sáu Vi chớ sao nữa.

Hải cắt nghĩa cho vợ nghe về bí danh của hắn:

– Ông đại tướng lấy tên Trường Sơn nhưng không có vượt Trường Sơn ngày nào, còn tôi lội mòn đầu gối, tôi lấy tên Trường Sơn cũng được chớ sao.

Hải đả thông cho vợ đi móc Huỳnh Mai công chúa. Vợ đi rồi Hải ở nhà mọc đuôi tôm ngay với tôi. Hắn khoe hắn tài giỏi như thế nào mới giành giật được cô lính của ông Chòi về đây xây tổ uyên ương rồi bắt tôi khai trường hợp nào móc được Mai. Hai đứa bù khú được một lúc thì có tiếng giả gạo xa xa của B52. Tôi hói hướng nào. Hải bảo hướng Mặt Trận hay Giao Bưu. Tôi nói:

– Lúc này nó giả đều dữ. Không bữa nào là không có.

– Trước kia, nó giả mạnh nhất vào hừng đông, nhưng bây giờ không giờ giấc gì nữa. Ban ngày không đủ tranh thủ ban đêm, thứ bảy chủ nhật làm nốt.

– Mày trụ hình ở đây lâu quá, không sợ hay sao?

– Ai mà không sợ nó giả, nhưng ông coi cơ ngơi đồ sộ như vậy, nhổ đi đâu?

– Ông Lê Xuân Chôm có dễ chịu không?

– Ổng xuề xòa, không gắt gao, ai nấy cũng dễ chịu.

– Tao biết ổng hồi ở ngoải.

– Ổng là em nuôi ông Chín Hô. Nhờ vậy lên thượng tá mau hơn mấy người cùng ca-líp ổng. Nhưng nay mai ổng sẽ tuột xuống binh nhì là cái chắc.

– Sao vậy?

– Ông rõ quá mà còn hỏi.

– Lại em nuôi con nuôi chớ gì!

– Không, ông này không hát cái tuồng đó . Ổng đi thẳng vô trung tâm điểm thôi.

– Bộ ở dưới này cũng có món đó nữa à?

– Sợ còn đông hơn trên R. Đám thanh niên nghĩa vụ xung phong áo đen từ đồng bằng lên ngang đây bị ổng gạn bắt một mớ ưu tú còn bao nhiêu mới đưa đi phục vụ các cơ quan. Coi bộ ổng hảo ngọt dữ đa !

– Ông nào lại không hảo ngọt mậy!

– Sớm muộn gì cũng lọt hầm chông thôi. Sao ông mới tới mà cũng biết tên ổng là Chôm.

– Tiếng lành đồn xa mà mầy!

– Tiếng lành trên R cũng đồn xa xuống tới đây.

– Tiếng lành gì?

– Đủ thứ!t Nghe ớn thấy mẹ .

– Cái trường này đào tạo tân binh mấy khóa rồi?

– Vài khóa gì đó . Mấy khóa đầu còn đông. Hai năm nay, ban giảng huấn nằm khễnh ăn hút hoặc đi cuốc đất trồng rau muống, su hào.

– Giỡn hoài mày. Su hào đâu mà trồng?

– Có chớ. Ông không thấy đầy rừng gần Trảng Bà Điếc đó à? Tụi này càng vô đông càng khỏe cho mình. Tôi nghe đài Sàigòn nó kêu là Bắc kỳ xâm lược, tôi cười mắc chết. Mấy tháng nay chiêu sinh không có ma nào dưới đồng bằng lú lên nữa.

– Đường dây đứt à ?

– Đào tạo bao nhiêu đưa ra ông Sáu Khâm với ông Trăm Truyện nướng hết, nên thanh niên tởn không chịu làm nghĩa vụ quân sự nữa. Ngoài Bắc phải gởi tụi xâm lược vô thay.

– Bậy ! Cái đám ở Trong Bà Điếc là Trung đoàn Q16 đã từng đánh Điện Biên đó, không phải lính nghĩa vụ đâu.

Lúc đó thì vợ Hải về tới, không thấy ai đi theo, Hải hỏi:

– Móc hụt rồi hả ?

– Bữa nay bận, mai mới được. Tài liệu quá tay, em phải lên làm đêm. Anh ở nhà bắt con gà làm cho ảnh tẩm bổ với.

Cơm xong, vợ Hải đi. Hải vào buồng lấy cho tôi một cái hộp giấy. Tôi cầm lấy xem. Thấy có hình người đàn ông và người đàn bà đứng đâu mặt vào nhau, thì biết là loại chứng minh thư đặc biệt. Hải nói:

– Thứ này của Hồng Kông cũng khá lắm.

– Tao được thằng Quang cung cấp hôm qua rồi. Bộ mày cũng dùng thứ này nữa sao?

– Tôi không dám có con ông ạ. Thấy mấy cô bên K71 mang cái bụng thè lè, mặt mày vàng ngắt ớn quá. Con vừa đẻ ra đã bị sốt rét. Thà tụi mình bị chẳng sao, còn con nít mà sốt run lên, cặp mắt trợn ngược, ngó không đành.

Sáng hôm sau, toàn thể học sinh lên hội trường. Cái này lớn hơn cả hội trường mừng công. Độ chừng 800 nam phụ lão ấu có mặt để nghe Bác nói láo về tình hình nhiệm vụ mới qua mồm mấy tên Bắc kỳ thống soái trong này. Ông Bảy Đậu phổ biến cách học tập mới là không có giảng viên. Học sinh chỉ đọc tài liệu ở tổ, thảo luận, nêu thắc mắc rồi tổ báo cáo lên, .Ở trên sẽ đả thông một lần một.

Sự thực là B52 tới viếng hàng ngày, nay khu này mai khu khác có khi rung rinh cả hội trường nên ở trên muốn rút bớt số ngày học tập. Kéo lằng nhằng không khéo lại lãnh ba-toong vỡ sọ cả đám. Ông Bảy Đậu cho rằng Mỹ vào mạnh để thay quân Sàigòn. Rồi ông lặp lại lời ông Sáu Vi nói ở đại hội mừng công: “Mỹ vào càng đông, chết càng đông. Quân đội nhân dân khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. .” Một chữ ông.ta cũng không dám nói khác đi.

Bùi Thanh Khiết, ông thầy giáo làng từng làm Phó phòng chính trị khu 7, ra Bắc được cho làm chủ nhiệm chính trị Sư Đoàn 330, sau đó được đi học Liên Xô, nghe nói đỗ bằng Phó Tiến Sĩ gì đó , rồi về Nam làm phó phòng huấn học Quân Giải Phóng, thành tích dâm ô được ém rất kỹ chỉ có các tên thân cận biết thôi. Ông ta lên lớp phần Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Học sinh vừa nghe vừa ngáp sái quai hàm, chỉ mong cho ông ta chấm dứt để đi uống trà . Phần kế là Phương châm chiến lược chiến thuật do thiếu tướng Trần Độ ngoài Bắc vô lên lớp. Khi nhìn thấy bộ răng bàn nạo của ông ta thì học sinh toàn R mới sáng mắt sáng lòng tại sao ông có cái hỗn danh là Chín Hô. Chuyến tàu vét do Nguyễn Chí Thanh đảm trách. Ông ta được Chín Hô giới thiệu với hội trường là Anh Sáu không có tên Trường Sơn hoặc Sáu Vi gì cả. Ông cũng làm một phát bổn cũ soạn lại của đại hội mừng công vừa rồi: Một đánh một, nắm thắt lưng Mỹ mà đánh. Trong ba ngày đêm liền, có đến 700 học sinh xài hết 7000 La Vạn Linh bổ thận hoàn để chống bệnh đau lưng.

Khi ra hội trường, thằng Hải lôi tay tôi, rỉ tai:

– Tình hình khẩn đến nơi rồi.

– Gì đó mậy?

– Tôi nghe mấy ông Sư mòng xầm xì với nhau.

– Xầm xì giống gì?

– Lớp học phải kết thúc sớm hai ngày.

– Đm. bộ sắp lãnh dưa hả ?

– Tụi tôi được lệnh tổ chức chống càn.

– Chống càn gì.

– Có thể nó đánh to. .Nó đã ngửi mùi đại hội mừng công rồi chắc.

Tôi đi tìm gặp Năm No. Anh là người Trảng Bàng có người em là Sáu Bụng, nhà ở ấp Chánh xã Lộc Hưng. No Bụng đó là ý nghĩa của tên hai anh em mà ông già đặt cho. Tôi có liên hệ công tác vài lần với Sáu Bụng.

Năm No đang ngồi gật gù nhậu với me mà tôi đốn ở Trảng Bà Điếc và cho anh. Rượu để trong bình toong, không rót ra. Cứ ăn vài mắc me lại tu ngụm rượu. Tôi hỏi:

– Tình hình biến chuyển hả anh Năm?

Năm No nói toạc ra.

– Chuyển con mẹ gì. Nó sắp đánh, mình phải tản ra, không thì chết chùm – rồi ghé tai tôi – Ổng dông rồi !

Tôi biết Năm No đề cập tới ai. Tôi ngẩn người ra một phút rồi hỏi:

– Bây giờ mình tính sao anh Năm?

– Tính mẹ gì được mà tính. Hễ nó đến thì ngay cổ ra chịu. Nó không đến thì cứ lội nước ngược rồi chổng cẳng ngủ .Vậy thôi.

– Tôi sắp về Củ Chi. Anh có nhắn gì với anh Sáu không?

– Nếu chú gặp nó thì bảo nó kiếm cho tôi miếng đất. Nay mai tôi về trồng cà trồng ớt.

– Sao vậy anh Năm?

– Thì đề phòng cụt tay cụt chân vậy mà .

Trời đã tối. Tôi trở lại nhà Hải. Hải nói ngay:

– Hụt rồi thầy ơi !

Tôi choáng váng mày mặt, suýt kêu lên. Vợ Hải móc túi đưa cho tôi một mẫu giấy. Mép phong bì dán cộm mấy hột cơm. Tôi không hỏi gì, biết là của Mai. Tôi xé ra đọc.

Anh thân yêu,

Tình hình động nên sau khi lên lớp, chú Bảy Đậu liền cùng chú Chín Mỹ và chú Năm Danh dắt tụi em trở lại R. Vì quá khẩn cấp nên em không có thì giờ đi tìm anh nữa. Đành gạt nước mắt mà rời địa điểm với mấy lời ngắn ngủi gởi lại anh. Em cắn môi mà lê ngòi bút trên trang giấy. Em rất lấy làm sung sướng được anh yêu. Và tuy chưa thành vợ chồng, em tự xem em như đã là vợ của anh rồi. Hôn anh vô tận.

Huỳnh Mai

Chữ nhỏ rứt viết trên giấy pơ-luya hồng nhạt. Đọc xong, tôi ngẩn ngơ. Vợ Hải nói:

– Nay mai còn gặp mà anh. Tôi với anh Hải cũng trải qua năm cơm bảy cháo rồi mới thành.

Tình yêu có trải qua gian nan mới có giá trị. Đó là công thức muôn thuở, nhưng mới vừa gặp lại phải chia tay. Tôi mơ màng, xốn xang tấc dạ. Tôi có linh tính đây là lời vĩnh biệt của Mai. Tôi lạnh lùng nói với Hải:

– Thôi tao trở về lán nhe !

– Ở đây làm ba sợi đã thầy. Con gà hôm qua còn đó.

– Để tao về coi đoàn có quyết định gì không?

Nói vậy rồi tôi lủi thủi ra đi. Về đến nơi thấy Năm No vẫn còn cù cưa với bình toong nước ngược nhưng mâm nhậu thì mở rộng hơn với nhiều người lạ và khách của buổi trà hôm trước Tôi ngồi vào mà không uống hớp nào. Anh Sáu Bưng chánh ủy công trường 9 ngồi bên cạnh tối hỏi:

– Nghe chú em nói về pháo nên tôi tìm đến đây. Sao, chú nhắm có về với tụi tui được không?

– Dạ còn tùy ở trên, nhưng bây giờ tôi phải về I/4 nhận công tác.

– Cha cha, bắt hụt con cá này thì uổng lắm.

Năm No mắt đỏ lừ, nhìn tôi:

– Ê, mày có biết tiếng Lang sa không mày nhỏ?

– Dạ cũng nói được quọt quẹt.

– Hôm trước có con đầm già tới thăm Bộ Tư lệnh công trường, con mẹ nói xù xì xục xịt ba cái gì, tao cũng gật đại. Chạy tìm một thằng để phiên dịch mà không ra.

Tôi cười ngất:

– Chắc là bà Ri-fô tức là chị Chín Hồng, người ốm ốm cao cao chừng năm chục tuổi chớ gì.

– Hỏng chừng đâu đó. Mặt nhăn như da ổi không biết tuổi tác bao nhiêu.

Bữa sau phái đoàn do Ba Hải lãnh đạo gồm Tám Tiên, Thu Mai và tôi kéo trở ra, qua chòi sản xuất, Sáu Thiệt cho biết ông Bảy Đậu dẫn Mai đi thẳng về Tà Bon trong ngày. Tôi dắt cả đoàn trở ra chợ Long Hoa mua đồ đạc cho đầy bòng và được bà má của cô Hai Phi thưởng cho một nồi cháo gà giằn bụng. Cả đoàn chia tay nhau, ai về cơ quan nấy.

Tám Tiến bắt tay tôi thật lâu, đi chung với nhau một đoạn đường rồi mới xa nhau. Anh ta nói giọng xúc động.

– Không biết mình còn gặp nhau nữa không?

Tôi gượng gạo vuốt.

– Bao giờ về được Rạch Bà Đặng mình sẽ chèo xuồng trên sông Trèm Trẹm hứng mát.

Tôi tắt một hơi ra Trảng Mua gần lộ 22 rồi từ đó đi thằng đến cầu Cần Đăng, cuốc hơn một tiếng rưỡi nữa tới xóm Mới. Dù không thân, tôi cũng đi thằng vào văn phòng của bà Út Tức mà trước kia tôi đưa Bùi Khanh đến xem mặt trong lần thực tập DKZ ở nền đồn Bổ Túc.

Tôi gặp thằng Hùng ở đây. Hắn nói ngay:

– Tôi biết trước khi dông, thế nào anh cũng ra đó xúc một số lớn hàng hóa, nên tôi nhắn cô Phi.

– Ừ nó bảo tao rằng mày về đây.

– Còn cái rờ-moọc đâu rồi?

– Về Tà Bon.

Hùng vỗ đùi dậm chân.

– Thầy thiệt, mồi kề miệng lại để sẩy.

Tôi chống chế gượng gạo:

– Rồi cô ta trở xuống.

– Dễ gì ! Thôi để tôi kiếm mối khác cho.

– Cô em nuôi của mày thành phần đó không hầu đâu.

– Không! Ai lại làm mối cho thầy chỗ đó.

– Không đó thì đâu?

Hùng nháy nháy về phía bà khu ủy đang nấu nước rồi nói to và lôi tôi đi ra sân:

– Ra đây, cho tôi thỉnh thị thầy vài ý kiến về cuộc chống càn sắp tới. Đây là chị nuôi của tôi. Thầy phải giúp đỡ chị về hoạt động ở ấp chiến lược.

Ra đến gốc cây hắn nói ngay:

– Ông thầy làm khu ủy viên đi !

Tôi gạt ngang:

– Bậy hoài mậy!

Hùng cười khẹc khẹc:

– Bả chê Bùi Khanh ít tình cảm, Bùi Khanh chê bả chính trị khô khan. Vậy là độ đó không có đá chọi gì hết. Bả lại khoái thầy cơ đấy!

– Mày nói chuyện trên trời dưới đất không hà.

– Tôi coi chưa coi cẳng rồi, độ này thầy ăn trùm.

Tôi gạt ngang, nói sang chuyện tình hình:

– Nước tới trôn rồi mày tính sao?

– Tính gì được mà tính. Nếu nó đổ chụp thì mình còn đánh đấm được, đằng này nó rắc bom mà là bom B52 thì mình cua tay chớ có cách gì?

– Tao phải về trường gấp.

– Để làm gì? Lệnh trên cho học sinh mãn khóa sớm tản đi hết rồi. Bây giờ chỉ còn đàn bà con nít cũng đang lui ghe.

– Dù sao tao cũng có trách nhiệm.

– Thầy cứ ở lại đây với tôi. Coi như công tác của thầy đã hoàn thành, thầy đang trên đường về chẳng có ai bắt lỗi thầy được ! Trước khi chuồn về đây, tôi đã làm một bòng đầy. Hai thầy trò mình hát chập hát chèo vài ba ngày liền cũng không hết. Nếu nó đến thì mình chết no, còn nếu nó không đến thì mình sống… cũng no phè . Mình cũng phải yêu cuồng sống vội như tụi Sàigòn.

Hùng lôi tôi vào, nói oang oang với bà khu ủy viên vẫn còn ngồi ở bếp nấu nướng.

– Ông anh của tôi vừa chỉnh huấn về, bà chị có gì đãi ổng không?

– Cậu có gì không?

– Tôi thì dư xăng, nhưng tôi muốn bà chị đãi ổng cơ! Ổng sẽ có nhiều liên hệ với chị sau này đấy!

– Tình hình động đến nơi, cậu ở đó mà lề mề .

Hùng cười hí hí rồi hỏi:

– Mấy ông du kích áo cứt ngựa của chị đâu, kêu chúng vô đây cho tôi bố trí kế hoạch.

– Tụi nó đi ruồng ngoài ấp chiến lược, chiều mai hoặc sáng mốt mới về.

– Vậy chị có đứa nào ở nhà để sai bảo không?

– Có một mình thằng Trứu thôi.

– Còn mấy cô tóc kẹp?

– Mấy đứa đó trên khu bắt đi công tác thành hết rồi.

– Xí ! Cái mặt bơ bơ ra ngoài đó đạp bể bánh tráng của người ta chớ công tác thành gì?

Hùng quay sang tôi:

– Thầy coi quân đội nhân dân của mình tiến nhanh tiến mạnh lên chính qui hiện đại ghê chưa?

– Thôi mày ơi! ở đó mà múa rối.

– Thằng Trứu này là một trong đám du kích bộ hạ của chị tôi. Tụi nó mặc áo cổ vuông màu cứt ngựa nên bà con trong xóm gọi chúng nó là lính cứt ngựa. Ở ngoài Bắc làm lính chánh quy, nhưng vô đây thì làm chính rùa. Từ một đơn vị lớn hóa thân thành du kích. Cái trung đoàn cứt ngựa ở Trảng Bà Điếc nay mai rồi cũng ra du kích ban đêm đi rình mò ngoài ấp chiến lược thôi. Mới vô chưa ăn cỗ nhớn còn gáy dữ lắm: “Các ông vào rãi phóng Miền Lam“. Để xem bị một trận rồi còn phỏng rái nữa không? ‘

– Mày để cho cái miệng mày kéo da non chút Hùng.

Hùng nhìn tôi nháy nháy và nói với chị Út:

– Em giao anh cho chị đấy nhen.

Út trừng mắt có vẻ vừa hài lòng, vừa bất mãn với cách nói năng của thằng em nuôi trời đánh.

– Cậu đi đâu?

– Đi đâu không biết đi đâu. Thôi, em lặn anh chị nhé !

Út nói ngay:

– Anh về đây lâu mà không mấy khi liên hệ công tác với tụi này. Bộ ở nhà giặt tả cho con hả?

Thằng Hùng vừa sấp lưng đi, quay ngoắc lại:

– Tả gì mà giặt. Ổng lên trên R con gái Sàigòn bu, ông phủi không kịp đấy.

Nói xong đi thẳng.

Văn phòng của bà khu ủy viên núp dưới tàng cây rậm. Bên cạnh là một cái hầm vĩ đại xây bằng cột nhà và nắp đất dày hơn thước tây, miệng hầm có bậc chắn đề phòng bom bi. Út mới trên ba mươi nhưng bị coi như bà già trầu. Dưới trướng bà khu ủy viên này có cả một đám nam nữ lâu la.mười bảy, mười tám tuổi và một tiểu đội em nuôi cỡ Hùng. Ở trên giao cho bà cai quản cái quận Tân Biên (do họ đặt ra) gồm vài xóm lèo tèo mấy cái nhà một vùng đất hoang dọc biên giới Việt Miên mà Sàigòn không để ý . Ngoài ra còn một đội xe bò tân lập ngày ngủ đêm thức để chở gạo cho R. Họ sống trong những lều trại dựng tạm ỡ ven rừng như một bầy chuột mà cuộc sống may rủi được đếm từng ngày. Đáng lý ra họ đã chuồn mất về vùng tự do để sống bằng nguồn lợi của chiếc xe bò đem lại, nhưng họ không được chánh quyền quận cho phép. Họ ở lại để phục vụ cách mạng với tiền công rẻ mạt. Nếu họ trốn đi, chánh quyền sẽ giữ bò và xe của họ. Nhưng cũng đã có nhiều người bất chấp bỏ cả bò lẫn xe để làm lại cuộc đời ở một nơi khác tự do hơn. Trận bom vừa rồi đã cho chúng tôi thịt bò trong tô phở ở tiệm ông Hai Hẹ trong chợ Long Hoa và đã làm tê liệt đội ngũ vận tải của bà khu ủy.

Chỉ còn có hai người trong nhà, út lườm tôi, nói trỏng:

– Bộ chê con lộ ủi này sao mất biệt mấy tháng nay?

– Bận quá chị Út! Lần này tôi tới đây để…

– Bàn công tác hả? Để đó đít Tôi còn nhiều kế hoạch lắm.

– Không, tôi không có công tác như ông anh tôi đâu, tôi đến từ giã chị đấy.

– Bỏ tiếng chị được không?

– Bỏ thì bỏ, nay mai tôi không còn ở đây nữa.

Út lườm yêu.

– Đi đâu?

– I/4.

-Đi làm gì xuống đó.

– Đội pháo Đồng Dù.

– Bộ ở dưới thiếu người hả? Từ rày bỏ tiếng chị nghe!

– Ai biểu ăn trầu coi già ngắt.

– Tui muốn tui già để những con quỉ không có gắm ghé.

Tôi biết mà vẫn hỏi.

– Quỉ nào?

– Ghét lắm mà cứ áp áp vô.

– Tôi đi bây giờ.

– Sao vậy?

– Đuổi tôi tôi đi chớ sao.

– Ai đuổi anh.

– Anh nào?

– Tôi biết hơn tôi một tuổi. Tôi điều tra mấy cậu ấy rồi.

– Vậy mà tôi tưởng Út gần bốn mươi.

– Tôi muốn người ta tường tôi bốn lăm cơ.

Út bảo tôi đi mua hàng với nàng. Nàng đi trước, tôi lẽo đẽo đi sau, cách xa ra, còn nàng thì cố đi chậm lại cho gần, rồi thốt nhiên nàng nói:

– Đi vầy người ta tường mình là…

Tôi vừa hỏi vừa bước tới gần nàng.

– …là gì?

– Gì thì biết ấy !

Nàng ngoẻn môi cười khoe những chiếc răng đều như hột bắp còn sót ít vết cổ trầu, đôi mắt long lanh.

Tôi cúi xuống hôn khẽ trên môi nàng. Nàng gục vào ngực tôi, hai tay quấn ngang lưng tôi. Tôi chờ đợi cái cử chỉ ấy nhưng vẫn bất ngờ. Tôi hôn trên tóc nàng và bảo:

– Có người đi tới.

Nàng vừa buông tôi ra, vừa thì thầm:

– Người thì người. Em sợ gì ai?

Từ phút này trở đi nàng Út nói chuyện huyên thiên. Nàng bảo tôi một cách ngọt ngào:

– Em đi mua con gà tẩm bổ cho anh. Bộ làm việc dữ lắm sao mà mắt sâu má hóp vậy. Nè, đến nhà má, em giới thiệu là anh chú bác….

– Chú bác lật, bạn dì xeo hả?

Nàng đập vai tôi.

– Quỉ nà ! Nói là anh tập kết mới về ghé thăm em nghe. Anh mà tuyên bố với em thì em hổng có cho anh làm động móng tay. Một mình em nuôi anh cũng đủ. Anh chịu hôn?

Tôi cười:

– Thôi đi bà nội! Bà trù tôi thành thương binh cụt tay què giò ngồi một chỗ hả?

Út lườm yêu muốn tôi hôn Tôi ôm ngang eo ếch nàng lôi nhanh qua lộ rồi đi sát mé lề đề phòng có máy bay thì lủi.

Quảng đường này không xa chỗ đoàn xe bò ăn bom là mấy. Ban ngày vẫn có đầm già liếc xéo liếc ngang. Út dắt tôi vào một lùm rậm. Tôi la lên:

– Vô đó làm gì.

– Quán ở trong này. Xóm nhà má cũng ở trong này. Trước kia ở ven lộ có nhiều khách hơn, nhưng bây giờ khách toàn cắt rừng nên quán cũng tản cư vô rừng.

Quẹo vô một khúc, đến một cái chòi xệu xạo, thấy có một nhóm đàn ông ngồi bó rế bộ mặt buồn nghiến. Thấy Út đến, một người đàn ông bịt khất khăn đầu rìu đơn đả:

– Chị Út! May quá ai đưa chị tới đây.

Một người ở trần, tóc tai xụ xộp, nói giọng thảm thiết:

– Bò xe tiêu hết, bây giờ đi cày cần cụp bắt kỳ đà . Chị mua cho vài con đi!

Tôi ngó theo tay người đàn ông. Một cái rộng bằng nứa trong đó nằm im mấy chú bò sát đen thui. Út bảo:

– Sao không đem ra đường cái cho bộ đội họ mua.

– Bây giờ còn sớm họ chưa có ra.

Người bịt khăn nói:

– Bây giờ tụi tui muốn xin chị Út cái giấy.

– Giấy gì mà xin.

– Giấy đi ra ngoài đó sinh sống.

– Ai đi cứ đi chớ tôi không có quyền cấp giấy.

– Chị không cho giấy thì mấy ông du kích bắt lại tụi tôi còn nguy khốn nữa.

Út nạt:

– Cái ông Tư Ó này có tư tường giao động lâu rồi. Phục vụ cách mạng chưa được một năm đã muốn chạy về thành.

Người đàn ông kia thấy bị quở nên nói lãng:

– Anh Út đi công tác mới về hả chị Út.

Út cự nự:

– Đây là anh… chú bác của tôi ở ngoài Xã Hội Chủ Nghĩa mới về chớ anh út nào? Nói lãng dang chưa?

Tôi thấy bà khu ủy sắp đổ quạo bèn đỡ lời:

– Người ta không biết, em bắt lỗi sao được. Kỳ đà bán bao nhiêu một con, để tôi mua.

Người đàn ông mừng húm đáp.

– Cả thảy là bốn con, tôi biếu không một con cho chị Út đem về nấu cháo xé phay hay cari đãi ông anh một bữa, tôi chỉ ăn tiền ba con thôi.

Út bảo tôi:

– Anh đứng đó, tôi lại quán mua đồ gia vị rồi trở lại. Anh đừng đi loanh quanh vướng lựu đạn gài nghe anh.

Nói vậy rồi biến đi. Các bà các cô gớm lắm. Thằng Tư Linh đã bấm đúng mạch mấy cô mấy bà hết ráo ! Họ thờ chủ nghĩa hiện sinh không phải chủ nghĩa Mác. Con bé Là đã từng khoanh vòng phép cho tôi trước quán bà Sáu Tiệm ở Củ Chi như thế. Tôi móc tiền đưa cho Tư Ó và hỏi:

– Sao mấy chú lớn tuổi hơn lại kêu cô ấy bằng chị?

– Bả thích làm lớn.

– Ừ, bả là bà lớn… ở đây chớ còn gì nữa.

Một người đàn ông ngậm tăm nãy giờ bật ra tiếng nói.

– Nhất bả nhì trời đó ông ơi!

Tư Ó xua tay không nhận tiền. Tôi hỏi:

– Sao bán mà không lấy tiền?

– Tiếng rằng bán thôi, chứ không lấy tiền của bả. Bả bảo nhớ đó rồi lần sau trả.

– Lần sau là lần nào?

– Ông cán bộ coi như trả tiền rồi là xong. Thì nói quách cho ông cán bộ hiểu. Đây là lo lót bà lớn để bà cho cái giấy. Trước đây, hồi còn bò còn xe thì lo lót để bả giảm bớt phiên canh ở nhà đánh-xe kiếm ăn, còn bây giờ cả xe lẩn bò tan tành hết rồi, lo lót để xin cái giấy.

– Các chú không đi được sao?

– Du kích gác ở gần mõ Công khít lắm. Hễ ai ra đó lớ quớ là bị bắt đem về phạt. Mõ Công là ấp chiến lược gần thị xã Tây Ninh ấy mà. Mấy ông nhà mình hồi chánh phần lớn bằng ngã đó. Vừa rồi có một ông to…- Tư Ó nói đến đó rồi ngưng, đưa mắt nhìn quanh – Tôi nói cho ông biết ông kín miệng dùm nghe. Bả mà hay được tôi nói là tôi đi tù.

– Nói đi tôi bảo đảm!

Tôi nghi là Ba Chí ở trường Pháo Binh của tôi. Có thể ông trung úy này lắm. Tư Ó tiếp:

– Một ông to dắt vợ ra Tây Ninh thật.

– Ờ, tưởng chuyện gì chớ chuyện đó thường thôi. Có gì mà ở tù. Mà kỳ đà sống lâu không? Tôi muốn đem về cho mấy người bạn tôi.

– Ối, ông khỏi lo nó sống thiên niên. Cần bẫy sập gãy xương sống vẫn sống nhăn.

– Nghe nói ăn thịt kỳ đà xui ba năm có không chú?

Tư Ó đáp:

– Cũng có thể có mà cũng có thể không. Tôi không dám nói chắc. Tụi tôi đi gài kỳ đà sau khi bò và xe bị bom chớ phải trước kia đâu.

– Để tôi bảo cổ cho mấy chú giấy về trong đó làm ăn.

Cả bọn sụp lạy tôi. Tôi xua tay:

– Mấy chú đừng làm vậy. Cán bộ địa phương lắm khi làm sai chánh sách.

Tư Ó nói:

– Tụi tôi, đứa nào cũng con cái cả bầy. Chúng nó đã về ngoài đó, bọn tôi ở trong này ngày đêm muốn khóc mà khóc không ra tiếng – Chú bảo tôi – ông có muốn đi quán thì theo con đường mòn này đi chừng trăm thước rẽ trái là đựng. Không có lựu đạn gài, hầm chông gì đâu. Đường trống mà! Ở sau quán có bụi sả, nhưng bà chủ chỉ chọn mặt mới cho, không phải ai xin cũng được. Ông nhớ xin bả tờ giấy dùm, tụi tôi đội ơn ông lắm..

Chương 20
Ăn thịt kỳ đà xui hay hên?

Tôi đến quán không gặp Út ở đó. Một cô gái có da có thịt mặc áo bà ba đen mốc mốc, mặt tròn trịa vui vẻ hỏi:

– Anh là anh Út hả?

– Tôi là anh của cô Út chớ không phải anh Út. Bộ cô ấy nói tôi là anh Út hả?

– Không! Ấy là em bói thế thôi.

– Sao dám bói vậy?

– Ở đây hễ đàn ông dắt đàn bà đi toòng teng vậy là bồ bịt vợ chồng thôi chớ không ai khác. Ví lại trông anh cũng xứng với chị quá hà!

Cô nhìn cái rộng kỳ đà và kêu lên:

– Anh không sợ xui hả?

– Tôi không tin dị đoan.

– Mấy ông bộ đội ăn dữ lắm! Nhứt là mấy ông cứt ngựa.

– Ông nào mà ông lính cứt ngựa.

– Mấy ông nói tiếng trọ trẹ ở lềnh trong rừng, anh không biết à?

– Người ta ở ngoài Bắc mới vô đó, phải giúp đỡ họ như tình cá nước.

– Bộ mình oánh không lợi Mỹ sao phải kêu họ vô vậy?

– Vô đông đánh thắng mau hơn.

– Mấy ổng dùng mìn đánh cá dưới suối dân xe bò sợ lộ ăn bom, tản cư hết ráo.

– Còn mấy ông đằng chòi kia kìa chớ đâu mà tản cư hết ráo.

– Mấy ông đó bị bom ăn hết xe và bò nên đang rầu thúi ruột ở đó chờ ngày vô thành.

Nét mộc mạc của cô gái làm cho tôi nhớ đến Bảo, em vợ của Trần Bá Xài. Không phải Xoài ở Miền Tây Nam Bộ . Hồi đó tôi mới hai mươi ngoài, trẻ quá: Tôi vừa ra trường Lục Quân xuống công tác ở trung đội của ông. Ông ta là một người Bắc rất đặc biệt. Thấy tôi dễ thương mặt mũi coi cũng được lại có chữ (chuyên trách dạy văn hoá cho trung đội). Một hôm ông bảo tôi về nhà ông già vợ chơi . Tôi ngồi xuồng theo ông. .Về tới nhà gặp lúc gia đình có đủ mặt. Ông nói oang oang: “Bố a, bố, con dắt thằng này về gả cho con Bảo đó . Nó được lắm” . Ông già cười và nhìn tôi: “Hễ mày chấm thì tao chấm!” Bá Xài kêu: “Bảo đâu, ra coi chồng em nè !” Cô Bảo trốn biệt trong buồng, chỉ có bà Xài ló ra. Bà ngó tôi rồi bảo: “Chú này coi được đến!” Thế là gia đình nhận tôi là người nhà.

Lúc gần tập kết, tôi đến gia đình Bảo ăn ở như con trong nhà , trừ chuyện chăn gối với vợ tôi. Bá Xài là người Ninh Bình nhưng không chịu tập kết. Ông ta đúng là một loại Hoàng Thọ ở miền Đông. Chỉ khác một điều là Bá Xài không chọc phá phụ nữ như Hoàng Thọ và vợ con đàng hoàng. Ra trận Bá Xài hét xung phong và bay tới trước. Lính nào nhút nhát về nhà ông bảo: đánh giặc dzậy không được nghe chú em! ” Gặp tôi ở Bến Chắc Băng ông bảo: ” Ra ngoài đó ăn cái đếch gì Quê tao, tao biết. Đói thấy bố cho coi”. Tôi nói: “Ráng chịu đói hai năm rồi về ” . Ông xùy một tiếng rồi quát: ” Mày tin thằng đế quốc à?” Tôi nói tôi tin Trung ương chớ. ông vùn vằn: “Nhưng Trung ương lại tin thằng đế quốc nên mới hứa hai năm. Để rồi mày coi!” Và ông nhất định không đi mặc dù lúc đó ông là đại đội phó.

Tôi về Nam gặp nhiều người ở miền Tây lên hoặc trên đường về đó, tôi đều nhờ tìm dùm gia đình Bá Xài nhưng đều không có hồi âm. Tới bây giờ tôi vẫn còn yêu cái anh Bắc Kỳ lạ kỳ đó. Chao ôi chiến tranh làm tan nát đất nước bằng bom đạn. Còn tập kết làm tan nát tim người bằng những lời hứa hão. Nếu không có tập kết thì bây giờ tôi và Bảo đã con đùm con đeo.

Từ sau mối tình hụt đó, tôi cứ hụt luôn cho đến vừa rồi: Huỳnh Mai. Tôi đang đứng ngơ ngẩn dưới bóng cây thoáng nhớ dĩ vãng thì có tiếng nói sau nhà đi tới. Cô gái ngó ra và bảo:

– Má tôi với chị Út. Chị ấy nài má tôi con gà mái.

– Úy! gà mái để nuôi đẻ trứng chớ đem ăn thịt sao?

Út đi tới tay cầm mấy tép sả và mấy củ nghệ còn tay kia xách con gà xoè cánh la quác quác. Nàng cười phấn khởi:

– Má cho anh đó. Má nói anh lội Trường Sơn gian khổ má cho anh để bồi dưỡng.

– Má có mấy con gà để má nuôi cho vui nhà vui cửa. Anh có rộng kỳ đà đây mà.

Nàng không trả lời tôi mà bảo cô gái:

– Tám! vô lấy cho chị một gói bún, hai cái củ hành Tàu, một gói trà và hai hộp sữa. Ghi sổ cho chị nghe em. Kỳ sau chị trả luôn một thể. À quên hai gói cáp tăng nữa.

Cô Tám ngoan ngoãn lấy hàng bỏ vào một cái túi ni lông (chắc chắn hàng hoá lẫn chiếc túi này đều từ Sài gòn ra đây, chứ không phải của trong vùng giải phóng 3/4 đất đai của ông Thọ) buộc lại cẩn thận.để trên bàn rồi lấy tập sổ nợ ra, lật từng trang, đến chỗ chị Út thì dừng lại. Tôi nhìn vào thấy đặc nghẹt từ đầu đến cuối trang. Nhưng chưa hết, Tám phải dỡ sang, vẫn chưa dứt.

– Đâu em cộng thử coi chị thiếu bao nhiêu rồi.

Tám cầm cây bút nguyên tử hí hoáy một hồi rồi ngẩng lên nói:

– Nhiều quá, em cộng lâu lắm mới xong.

Tôi bước lại cầm tập vỡ lật xem thử. Thì ra bà khu ủy chiếm gần hết nửa tập giấy. Hàng hóa đủ loại, đủ giá được hài ra lễnh nghễnh như một bầy bò tí hon ngay hàng thẳng lối sửa soạn vào chuồng. Tôi hỏi nàng:

– Em mua hồi nào mà thiếu ấp lẫm vầy nè!

– Thì từ hồi em về đây tới giờ.

Có lẽ nhìn cặp mắt phiền trách của tôi, nàng hơi sợ, nên vội đính chánh:

– Nhưng đâu có phải một mình em dùng.

– Không dùng sao mua?

– – Mấy ổng đi qua đây…

Tôi cắt ngang.

– Ổng nào?

– Còn ổng nào nữa. Hội nghị năm bảy ngày, ưu điểm liền liền cũng bắt em mua ghi sổ, một ông đi lẻ tới đây than tới cơn ghiền đòi vài ba rê thuốc Gò, em cũng phải chạy cho ra, vài ông muốn UTQ cũng bắt em tìm cho được . Không mấy ngày là em không có khách. Tiền thì mấy ổng có phát cho đâu. Em toàn ăn chực ăn nhờ mua chịu mua thiếu. Nếu không đến quán này thì đi đâu?

Tôi nhìn qua suốt lượt, tính nhẩm hơn một ngàn đồng. Tôi bảo Tám:

– Anh trả cho chị một nửa trước, kỳ sau anh sẽ trả tất.

Bà má mừng ra mặt, nhưng không nói gì . Còn Tám thì lắc đầu, cười giả tạo:

– Không sao đâu anh cứ để đó , chừng giải phóng rồi trả cũng được mà!

Tôi rút tờ giấy 500 đặt trên bàn. Đây là tiền của thập phương cúng chùa. Của thiên trả địa. Chẳng sao. Má vui vẻ:

– Cô Út ở gần đây, gấp gì!

Tám xếp sổ lại và nói:

– Anh Út… ủa, anh có đi đâu, ghé qua quán em nghen!

Út lườm.

– Ảnh không có rảnh mà đi đến đây ! – Nói xẳng xong, lại dịu giọng. – Em có rượu không. .

– Má còn một lít để dành cho mấy ông Tư Quảnh và Ba Tô Đê gì đó.

Út bảo:

– Kệ mấy ổng! Mấy ổng thì cũng ghi sổ thôi chớ tài ba gì. Đưa đây cho chị. Rượu có đúng chữ không hay lạt nhách kháp bằng khoai lang như ở ngoài Bắc?

– Sao bà biết chuyện đó nữa bà nội?

– Cũng mấy ông cố về trong này tà loa cái miệng cho tụi xe bò nó cười xã hội chủ nghĩa chớ ai.

Trên đường về tôi cằn nhằn:

– Em làm vậy mất nhân tâm hết. Mấy người đánh xe bò…

– Nhân tâm gì tụi xe bò.

– Em nói vậy, lập trường để đâu?

– Người ta đi chống Mỹ rần rần, còn đám này ở nhà núp né để kiếm lợi.

– Em nói vậy mà không sợ mất quan điểm nhân dân sao?

– Cái đó em cũng học hoài, nghe cũng hay nhưng nếu ở đây mà mình xuôi chiều theo họ thì Cách Mạng chết ngay. Quận Tân Biên này sẽ không còn một người dân, Cách mạng lấy đâu mà dựa. Anh cũng biết, nếu em không cho du kích canh gác ở gần Mỏ Công thì đám xe bò này đã ra Tây Ninh hết rồi.

– Vợ con họ đã ra ngoải rồi phải không?

– Sao anh biết?

– Thì họ nói chớ. còn sao nữa.

– Cái đám này không chịu tuân kỹ luật. Em đã cho chúng nó học tập rồi. Bảo công tác vận tải là công tác vinh quang. Nếu không có gạo bộ đội và cơ quan sẽ chết đói. Họ đều thấm bài và giơ tay tán thành hết cả rồi, bây giờ than vãn với anh. Em phải cho cái đám này học tập thêm mới được .

Tôi thấy tội nghiệp nàng Út, một con người có một địa vị quá cao mà không hiểu gì hết, cả chính trị lẫn nhân tâm. Ở ngoài Bắc thì mắc cái bịnh thành phần. Trong cải cách toàn là đề bạt vượt cấp. Những ông trung đội trưởng cố nông lên tiểu đoàn phó, hoặc chánh trị viên tiểu đoàn. Đứng nói chuyện trước đơn vị không ra tiếng, lên giảng bài càng tệ hơn. Về trong này cũng lại thấy cái bịnh đó lan tràn. Một khu ủy viên như bà Năm Đang ở Củ Chi, chưa đủ lại thêm bà Út này. Khu ủy là một tổ chức đảng chỉ dưới Trung ương thôi. Nó nắm mọi công tác Quân, Chánh, Đảng của 8 tỉnh của cái gọi là khu 4, gọi theo bí số là I Bốn. Bí thư khu ủy đầu tiên của khu này là Trần Bạch Đằng, sau này là Võ văn Kiệt (ủy viên Trung ương kiêm Bí thư khu ủy). Bà Út này là một ủy viên trong cái khu ủy đó thì thử hỏi quyền hạn mênh mông tới đâu. Và bà ta được cắt cho làm chủ tịch cái huyện Tân Biên bây giờ còn không trên hai trăm dân, thì dân nào lọt qua nổi cái lưới sắt của bả? Tôi bảo:

– Em phải nhìn thấu tâm can họ chứ không nên chỉ thấy sự vỗ tay, giơ tay mà tường rằng họ tán thành. Miệng hoan hô mà bụng hô hoán đó em ạ.

– Ba cái đám này nếu ra ngoải thì cũng đánh xe bò thôi, giỏi lắm là chạy xích lô chớ làm gì được? Ở trong này phục vụ cách mạng chẳng vinh quang hơn sao? Không thấy bác sĩ kỹ sư ở ngoài Sài gòn còn vào đây phục vụ cách mạng đó à?

– Được mấy ngoe?

– Em không biết nhưng mà có thì thôi.

– Đó là loại trí thức cò mữa. Chúng nó nghe hơi nồi chõ tướng sắp ngồi vô mâm cao cỗ đầy rồi nên nhào vô đây kiếm chác huênh hoang chớ chẳng phải giác ngộ giác nghiếc gì.

Út cười:

– Anh chê quan điểm nhân dân của em, còn quan điểm nhân dân của anh thì sao?

– Em không có dự đại hội mừng công nên không thấy sự tẻng tuồng của họ. Họ tưởng họ được trọng vọng lắm. Chẳng ngờ vô đây bị ông Sáu Vi mắng như tát nước vào mặt mà ngồi im rơ như gà chết.

– Có vậy nữa à?

– Đi với đảng, trí thức bị sĩ nhục vô cùng. Anh ở ngoài Bắc anh biết mà. Đảng mượn trí tuệ của họ để lót đường chiến thắng thôi. Chiến thắng xong a lê ra ngoài hè ngồi chơi. Anh biết ông Bạch, ông Thuần bị đối xử ra sao mà. Để rồi em xem đám trí thức hùa này cũng sẽ lãnh cái số phận đó thôi.

Út ngó nhìn tôi, tròn xoe đôi mắt:

– Sao chuyện gì anh cũng biết hết vậy?

– Anh đi chỗ này chỗ nọ thấy nhiều chuyện. Dân Nam Kỳ mình còn một cái tai nạn riêng nữa. Đó là nạn Bắc Kỳ đỏ, đỏ đít.

– Anh nói gì vậy?

– Em biết lính Q16 đóng gần Trảng Bà Điếc chớ gì. Để rồi em xem, đám lính cứt ngựa này, nếu tên nào còn sống sót cũng làm quan to cả. Còn anh và em chẳng được xơ múi gì sau khi giải phóng. Cũng giống y như sau ngày ký kết hiệp định Giơ-neo vậy. Khi cần ngực đỡ đạn, cầm đầu đội bom có dân Nam Kỳ. Chiến thắng rồi lon gáo ai mang, ghế cao ghế thấp ai ngồi, chớ dân Nam Kỳ không có mó được đâu. (sẽ trở lại cái đám tàn quân này)

Út nhìn tôi càng tròn xoe đôi mắt. Tôi tiếp.

– Anh đánh giặc xong lần này là về vườn trồng cây nuôi cá, chấm dứt cách mạng luôn.

– Anh nói thiệt à ?

– Nói chơi làm chi bà khu ủy !

út kéo vai tôi thật đau, bảo:

– Vậy sao còn lội Trường Sơn chi cho mệt?

– Ở ngoài còn mệt hơn lội Trường Sơn em ạ !

– Anh chỉ đâm hơi không hè. Người ta bảo bà Hồ thị Bi ra ngoải được Bác Hồ cưng lắm.

– Ừ, cưng lắm!

– Bà ấy được Bác Hồ cho ăn cơm chung mâm một tuần hai ba lần, bác Hồ còn thưởng huân chương cho mấy cái liền. Bác Hồ còn khen bả là con gái của Thành Đồng Tổ Quốc, có không?

Tôi gật. Út tiếp:

– Đến nổi chị Út Tịch ở trong Trà Vinh mà bác còn gởi áo lụa tặng. Có không?

– Ừ có, có hết. Bà Bi có thành tích kháng chiến tư thời anh Ba Tô Ký mới cưới vợ hồi 1947 tới bây giờ. Bả được phong chức đại úy rồi lên thiếu tá.

– Ghê vậy à .

– Nhưng đã trên năm mươi mà chưa ai dám mó tới. Cái mặt bả như miếng cau khô, còn thân hình như con cá hô. Ngực đeo huân chương đỏ nghế, em có mê không.

– Không! em không mê đâu.

Tôi tiếp:

– Còn bà Út Tịch ở Trà Vinh được bầu là dũng sĩ diệt Mỹ toàn Miền nam. Bả bỏ bầy con đói ở nhà để đi lùng diệt Mỹ . Và cuối cùng đã rửa chân leo lên bàn thờ bỏ con mồ côi bỏ chồng ôm cột nhà kêu trời không thấu, em có thích được làm bà Út… Tịch không?

Út lắc đầu nguầy nguậy.

– Thôi đi Em không chịu đâu.

– Vậy chịu gì.

Ú nhìn tôi tình tứ, mắt long lanh.

– Em chỉ thích . . .

Trong giây phút ấy, tôi thấy Út trở lại con người bình thường của nàng. Tôi khẽ hôn lên má nàng. Nàng chìa má khác Thấy nàng vui vẻ, tôi bèn nhân dịp tốt, uốn nắn luôn:

– Em nên trả hết số nợ cho bà má đi. Để vậy khó coi lắm. Người ta buôn bán cần vốn.

Út lại sòng sọc nhìn tôi vì cái lập trường bị chạm. Nàng vênh váo:

– Đó là con buôn. Mình phải dứt khoác như vậy mới đối xử đúng chính sách.

– Chính sách gì ?

– Chính sách đối với con buôn. Đó là hạng người bóc lột như địa chủ .

– Thương buôn không phải là dân Việt Nam à?

– Em được học về giai cấp rồi. Thương buôn là tư bản nhỏ. Khi nó làm giàu nó sẽ trở thành tư bản lớn, bọn cá mập. Vậy mình phải chặt vi lột vảy nó ngay từ bây giờ.

– Ừ lột được hai cái vãy của nó là con gà này và cuốn sổ nợ kia phải không?

Út tịt luôn, không nói nữa. Tôi bảo:

– Anh đi nhiều nơi, anh thấy nhân tâm không còn ngã về chúng ta nữa. Họ muốn xa lánh chúng ta, vì đi theo chúng ta lúc nào cũng sợ bom đạn và bị chúng ta bắt nạt. Hồi kháng chiến chống Pháp, bộ đội đi tới đâu dân mần heo mần bò đón rước linh đình tới đó, có đâu mà ăn muối ở ngoài rừng như bây giờ. Nhờ sự tin yêu đó mà ông Tô Ký đầu đã hai thứ tóc mà cưới được cán bộ PNCQ 18-20. Dân là nước, quân là cá. Quả thời đó có đúng, còn bây giờ…

– Cũng cá nước chớ không à. Má và con Tám thương em lắm, không cá nước thì sao được vầy.

– Ừ cũng nước nhưng nước sôi, cũng cá nhưng cá luộc.

Út gạt ngang:

– Thôi anh đi, nói toàn chuyện bất mãn không hè !

– Đó mới là lót lòng sơ sơ chưa phải bữa ăn chính.

Về tới nhà, tôi bỏ rộng kỳ đà xuống đất, Út treo con gà lên nhánh cây. Một cậu bé mặt vàng khè, bạnh ra như phù thủng chạy ra nhìn tôi trân trối. Tôi cũng nhìn cậu ta. Út hỏi:

– Anh muốn ăn kỳ đà hay ăn thịt gà trước anh?

– Có một con bị bẫy đập gảy xương sống của ông Tư Ó biếu, nên làm trước để nó chết.

Út dẫy nãy:

– Bộ anh trả tiền ba con kia hay sao?

– Vậy em bảo anh giựt của người ta à ?

– Em đã nói thằng cha Tư Ó là cầm đầu nhóm xe bò bất mãn đó . Anh làm vậy từ rày trở lên, nó được mợi em phải trả tiền kỳ đà cho nó .

– Vậy lâu nay bắt ngang của người ta à?

– Em cho nó nghỉ gác, chỉ đánh xe bò còn muốn gì nữa.

Thấy cậu bé nhìn tôi trân trân, Út bảo:

– Anh của tôi ở ngoài xã hội chủ nghĩa mới về đó. Hôm nay tôi đãi ảnh một bữa. Cậu bắt con kỳ đà làm lông đi rồi đem vô cho tôi xào nấu.

Cậu bé “vâng” làm tôi nhận ra cậu là người Bắc. Cậu mở nắp rộng nắm đuôi con kỳ đà bị thương ra ngoài, tôi đậy nắp lại và hỏi:

– Em biết làm không?

Út nói to:

– Nó làm hoài thôi anh đừng lo.

Tuy Út nói vậy, nhưng tôi vẫn theo thằng bé ra bờ suối:

– Em vô đây hồi nào?

– Dạ mới đây thôi.

-Bộ sốt hả?

– Dạ em sốt cách nhật. Hai ngày một cữ.

– Chưa cắt được à?

– Dạ chưa ? Lại thêm chứng phù. Anh coi chân em nè.

Cậu bé đưa ngón tay vào bàn chân trái rồi rút tay lên

– Ăn ba cái thịt này càng hại.

Tôi thấy một lỗ.

-Đúng là bệnh thũng đến nơi.

Bỗng cậu nói:

– Em có gặp anh ở ngoài Bắc.

– Ở đâu?

– Ở thị xã Sơn Tây. Tại nhà ông chủ tịch thị xã.

Tôi sực nhớ ra:

– À phải! Tôi có đến đó.

– Em đến chơi, gia đình hỏi anh đâu lâu quá không thấy tới.

Tôi cười:

– Hồi đó tôi cũng gấm ghé định cấy su hào rồi chớ!

– Chị ấy tên Oanh phải không anh?

– Đúng.

Út ra thềm nhà gọi. Tôi vào. Nàng bảo:

– Anh coi đủ mọi thứ chưa?

– Bộ em tính nấu kỳ đà hả ?

– Tùy anh. Ăn rồi rủi có chuyện gì xui xẻo anh đổ thừa cho em.

– Hồi lội Trường Sơn anh cũng gặp kỳ đà. Cả đội làm thịt đắp đầu gối xong rồi đi khoẻ ra phết, có thấy xui xẻo gì đâu.

– Anh lấy thịt kỳ đà đắp đầu gối thật sao?

– Đã bảo vậy mà còn hỏi.

– Đắp vậy một chút rớt làm sao?

Tôi cười xòa:

– Cái cô khu ủy này khờ quá đi. Nói vậy chớ ai mà đắp? Cũng như mình nói đội pháo, đội bom chớ có ai đội bao giờ đâu.

– Sao không có. Nó rãi trên đầu như rãi lúa cho gà vịt ăn không đội là gì.

– Em có đội lần nào chưa?

– Sao mà không có. Cả chục lần rồi.

– Vậy đầu em cứng quá hả. Đội bom mà cái đầu còn nguyên. Nay mai chắc còn đội mạnh hơn nữa!

– Sao vậy?

– Mỹ vô.

– Vô Đồng Dù em biết rồi. Anh về Củ Chi gian nan lắm đó.

– Ở đây cũng có khoẻ gì?

– Bây giờ còn hơi yên yên, nhưng chắc vài ngày nữa tình hình sẽ động liên tục. Tụi nó cho một lữ đoàn đến Tây Ninh rồi.

– Do đó anh phải về Củ Chi gấp gấp. Nếu không nó cắt đường không có lối về .

– Anh định ở luôn dưới đó hay sao?

– Anh đâu có định được việc gì cho anh đâu.

Út đã làm xong con gà. Nàng bảo:

– Để con kỳ đà ở đây cho chúng nó . Anh với em ra phía sau này chút.

– Ở đây có sẵn bếp còn đi đâu nữa?

– Anh vào chỉ cách em làm một ít bảng thuế.

Tôi đoán là không phải thuế má gì. Nàng dư biết tôi là con nhà đánh đấm, biết quái gì mà làm thuế. Nhưng tôi cũng phải đi theo cho đúng khẩu hiệu cá nước chi tình.

Nàng bảo cậu bé mọi việc, cuối cùng còn dặn:

– Có ai đến tìm, nói chị Út sáng mai mới về nghe cưng! Chị xuống văn phòng nhờ ông anh chỉ cho mấy công tác quan trọng!

Nói xong, Út quảy ba lô, tay xách giỏ trầu tay xách con gà và các thứ lặt vặt vừa mua ở quán. Nàng dắt tôi theo đường mòn đến một ngôi nhà nhỏ khuất phía sau. Vừa bước vào tôi hơi ngạc nhiên: Đúng là một cái nhà xinh xắn có đầy đủ tiện nghi. Nàng cười, nhìn tôi một cách tình tứ:

– Anh muốn làm chủ cái nhà này không, em cho anh đó .

Tôi ứng khẩu đáp ngay:

– Làm chủ của chủ nhà mới thích chớ làm chủ cái nhà thì không thích.

Út trừng mắt:

– Ừ thì làm chủ ai cũng được.

—->Chương 21 – 22- 23 – 24 – 25

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: