2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QII – (21-25)

2000ngaydem_bia2Đây CỦ CHI! Đất Sét Sắp Thành Bùn

Chương 21
Một chút tiểu sử và cái lập trường của bà khu ủy.

Bà khu ủy Út là một phụ nữ thôn quê, sinh sống ở vùng Trảng Bàng. Năm đó Mặt Trận Giải Phóng đang túng thành tích bèn bày đặt ra ba mũi giáp công địch vận, chính trị và vũ trang. Mũi chính trị thì gồm có mục đẩy đàn bà con nít ra nói chuyện và eo sách các đồn lính Sài gòn, khởi đầu là đạo quân đầu tóc ở Bến Tre. Nghe đồn như vậy nên từ ngoài Bắc tôi rất nao nức về để viết tiểu thuyết. Khi về đến nơi, gặp mấy tên tỉnh ủy gốc chăn bò và ăn trộm trước kia, tôi hỏi tài liệu thì họ chẳng biết gì cả. Lục lọi tìm kiếm mệt ngất tôi mới tóm được bà tỉnh ủy viên vốn là cán bộ Phụ Nữ tỉnh, và là em của bà Ba Định. Tôi hỏi bà này thì bả bảo đó là chuyện có ít xít ra nhiều chớ đạo quân đầu tóc là do Đài Giải phóng phịa ra rồi đài Hà Nội phóng đại tô màu đến nổi bà ta nghe mà mắc cỡ quá trời . Thì cũng trùng hợp với vụ 3/4 và 4/5 và địa đạo chiến ở trên kia . Tôi ngẩn tò te ra, bèn cong lưng bịa.

(Nói cho ngay, cũng có dăm ba nhóm lẻ tẻ đi thành mua những hàng quốc cấm như pin đèn, thuốc tây đem ra khu, bị lính đồn bắt bèn la lối ra để đòi lại. Mấy ông lính không chịu thua, bèn bắt nhốt một số. Số này càng làm dữ. Mấy ông lính chơi ác, đè đầu xén mẹ nó cái bí bo rồi thả về, bảo: “Về trỏng mà đánh trâu!” Thế mà khi lên đến cái loa Giải Phóng thì mấy chị nầy trở thành “đạo quân đầu tóc”, rồi đến đài Hà nội thì đạo quân đầu tóc trở thành trùng trùng điệp điệp có sức mạnh lật đổ chánh quyền Sàigòn và cán nhẹp Quân Lực VNCH)

Sự phóng đại tô màu nầy đã làm cho nhà báo quốc tế Bọ Chét vác xác tới tận Củ Chi để quay phim như tôi đã kể ở tập I. Ngoài ra nó cũng làm xúc động quả tim vàng của các nghệ sĩ Hà Nội, trong đó có hoạ sĩ Hùynh Văn Gấm, đại biểu Quốc Hội tỉnh Tân An. Anh đã bỏ công tạo ra một bức sơn mài thật to lấy tên là: Trái Tim và Nòng Súng. Anh vẽ một phụ nữ quỳ gối giăng tay đưa ngực bịt họng súng cà-nông của quân đội Sàigòn, mục đích là ngăn cản cuộc hành quân.

Lúc bấy giờ tôi phục anh ấy lắm. Anh là chú ruột của hoạ sĩ Đức, sau này về R tôi có gặp ở tiểu ban văn nghệ. Hoạ sĩ Đức được hứa cho đi học hội hoạ ở Liên Xô nhưng khi ra khu thì toàn là đi săn thú và bửa củi, nên Đức bất mãn đến mức độ chúa bất mãn. Không biết bây giờ cậu ta đã học Liên Xô xong chưa, và nếu có sang Liên Xô ắt sẽ được mục kích bức tranh Trái Tim và Nòng Súng của dân Liên Xô trong cuộc biểu tình chống đảo chánh vừa qua. Đúng là trái tim cản được xe tăng, trái tim của nhân dân chống bọn phát xít Liên Xô.

Chuyện đời tôi lằng nhằng dữ lắm, cứ viết cái này lại nhớ cái khác. Bây giờ xin trở lại bà khu ủy viên đang lui cui luộc gà. Bà ta đi theo con đường của chị Tư Cầu Xe ở vùng này. Chị ấy cũng đấu tranh chánh trị ghê lắm. Tên tuổi của chị suýt được đẩy lên ngang hàng với các bà dũng sĩ Út Tịch, Tạ Thị Kiều … (Tôi cũng có đến tận nhà cô bé Kiều gần chợ Thơm nhưng cũng chẳng thu thập được tài liệu gì để viết … tiểu thuyết!) nhưng rủi thay chị Tư chết trong một trận bom. Chị Tư chết, không biết có được “bác” gởi cho kí gạo nào không , nhưng lũ con của chị thì nheo nhóc sau khi mất mẹ. Chị chết, em Út tiến lên. Lúc bấy giờ Út sắp đám cưới. Chàng ta là một nông dân cục mịch ở cùng xóm, có bò có xe đang làm ăn khấm khá. Một hôm Út đi đánh trâu ở trên quận. Chị em bị xe cây xúc đổ thật xa cho tha hồ cuốc bộ về nhà. Do đó anh chàng sốt ruột bèn đến gặp ông ấp đội trưởng phàn nàn. Mãi tới tối cũng chưa thấy nàng về bèn vác dao ra vườn với ý định đốn một cây chuối vào để xắc cho heo ăn, nhưng nghĩ thế nào không biết, anh chàng lia một hơi sạch cả vườn chuối.

Việc này đến tai ông ấp đội. Hôm sau, Út về. Ông bắt anh chồng kiểm thảo trong một cuộc họp dân. Bị xỉ vả nặng nề, sau đó anh ta bỏ ra chợ, thành thử cô dâu bỗng dưng lại goá chồng. Nhân dịp này, ở trên bèn đề cao Út như nữ anh hùng cấp ấp. Út buồn tình lao vào công tác rồi thoát ly lên huyện, huyện lên tỉnh, tỉnh lên khu rồi trở thành lãnh tụ của đạo quân đầu tóc không còn quá chục rưỡi người. Tuy vậy Út vẫn có uy tín lớn với cấp trên. Và được bầu vào khu ủy, đặc trách công tác đấu tranh chính trị kiêm chỉ đạo quận Tân Biên.

Tôi thấy có cái giường xưa rất đẹp, bèn hỏi:

– Giường ở đâu mà tốt vậy?

– Của dân bỏ nhà mình mượn về xài đỡ.

Trên giường thấy có cái gối tai bèo. Tôi mới sực nhớ rằng từ hồi đi theo ông Tô Ký kháng chiến tới bây giờ mình không có nằm gối mà chỉ dùng ba-lô thay cho gối, ngoại trừ lần về nhà má Hai được em Lụa cho nằm gối tai bèo một lần trên ván gõ. Chiếc gối trắng gợi biết bao nhiêu tình cảm. Út mở cái xách tay bằng ni-lông (thay vì mang xắc-cốt). Đây là cái xách tay trứ danh cả cán bộ lẫn dân chúng ở vùng này đều biết. Út soạn ra những lá trầu, một nhánh cau có mấy trái còn tươi, cười:

– Anh tưởng dễ mua cau dày ở xứ này lắm à?

– Mua ở đâu?

– Gởi mua tận ngoài ấp chiến lược Mõ Công đấy ông tướng!

Nàng soạn ra một lọ pénécilline trắng toát và hỏi:

– Anh biết cái gì đây không?

– Cái gì vậy?

– Vôi

– Ừ. Có trầu có cau thì phải có vôi, mới nên miếng trầu.

– Cũng như có nhà mà không có đàn ông thì không ra cái nhà.

Tôi biết nàng muốn xốc tới. Tôi hơi ngại. Chỉ có hai người thế này trong nhà . Đây rồi dư luận tùm lùm cho mặc sức mà nghe. Nhưng rồi tôi chợt nghĩ: sắp về Củ Chi rồi. Củ Chi đi dễ khó về. Có gì cũng chẳng làm chi. Làm chi cũng chẳng làm gì! Tôi nói:

– Tôi không phải là đàn ông à?

Út háy tôi một phát suýt đứt cổ.

– Ghét cái mặt! Làm bộ đạo đức nữa đi. Ban ngày thì lên lớp giảng đạo đức, ông cố nội ai nghe không hết, tối lại mò bà này nơ cô kia.

Tôi gắt.

– Bà nói ai vậy?

– Em nói người khác chớ không phải nói anh đâu. Em nghe người ta khen anh lắm cho nên em mới cho anh vô cái nhà này, nếu như mấy ổng thì em để ở nhà ngoài suối.

– Anh tốt ở chỗ nào?

– Chỗ nào cũng tốt hết.

-Thôi đi bà nội! bà khen tôi rồi mai mốt bà báo cáo lên trên rằng tôi mò bà.

Út vả miệng tôi:

– Cái miệng có duyên quá trời hè !

Tôi lôi cái xách móc hết các thứ trong đó ra sắp lên giường, nào giấy má, sổ tay, nào khăn rằn, xà bông thơm. Dưới đít cái xách, quả tình như thiên hạ đồn, là cây K54.

– Cho coi cây súng chút được không?

– Coi cái gì nữa còn được là súng!

Tôi thấy cây súng bị sét vàng khè:

– Nòng súng ăn trầu như vầy thì bắn ruồi chớ bắn ai.

Tôi lấy giẽ lau và dầu trong bao súng của tôi lau chùi sạch sẽ rồi hỏi:

– Hồi nào tới giờ có bắn phát nào chưa?

– Em sợ súng gần chết mà bắn ai?

– Vậy ôm làm gì cho mệt?

– Em đút tuốt dưới đáy bị, không thấy sao?

– Còn cái bao đâu? Súng ống bà để dưới trầu cau, lại trần trụi không có bao hỏng hết.

– Em đeo coi dị hợm quá nên liệng rồi.

– Sao em ăn trầu chi vậy?

– Đã hỏi, em trả lời rồi mà cứ kẻ vạch hoài hè. Anh không muốn thì em bỏ cho coi. Nhưng em cũng nhắc lại để anh biết là . . .

– Em muốn làm bà già để không bị người ta để ý và đi họp cho hòa với dân chớ gì. Đó chỉ là bề mặt thôi. Cái quan trọng là em có hiểu tình cảnh sinh sống và nguyện vọng của họ hay không chớ không phải ba cái trầu cau này. Thí dụ như mấy ông xe bò.

– Đám đó ở đây mỗi đêm đánh xe, Hậu Cần trả cho hai trăm còn ức hiếp gì nữa. Có ai trả cho anh và em số tiền đó không? Ở đây có mấy cái cửa khẩu bao quanh thị xã Tây Ninh, nhờ xe bò đi các tuyến đường Trại Bí, Mõ Công, Suối Đá, Bàu Bắc, Bàu Cỏ mà mình có gạo ăn, nhưng cũng nhờ mình mà họ có việc làm, họ còn than van cái gì. Ấy hỏng ấy em cho họ nghỉ . . .

– Được như vậy họ lạy em luôn!

– Cho nghỉ nhưng bắt gác quanh ấp chiến lược như du kích chớ đâu có để cho họ ở nhà gài kỳ đà bán cho bộ đội, bóc lột ngược lại cách mạng à ? – Nàng đứng dậy – Để em đi tắm rửa. Tối ngày đi rảo, đầu cổ hôi như cú ấy. Anh coi chừng soong cháo lơ mơ con gà nhảy ra đất nghe.

Khi nàng trở vào, tôi rất đổi ngạc nhiên, tưởng mình là Tề Tuyên Vương gặp lại Chung vô Diệm sau khi thăm địa huyệt về. Nàng Út bây giờ là một nàng tiên đã lột xác khu ủy viên ném đi đâu rồi. Út mặc quần Mỹ A đen, áo tê-to-rông màu hồng mỏng lét để thấy cái quai tréo của chiếc áo nịt bên trong. Và kỳ diệu hơn nữa, bộ ngực lép kép của bà khu ủy đã biến mất để nhường chỗ cho cặp đào tơ mũm mĩm. Tóc nàng còn ướt thơm phức xoả dài xuống quá lưng đung đưa theo mỗi bước chân đi. Vài giọt nước còn sót lại ở đuôi tóc như sương rỏ xuống thấm vào nền đất cát pha. Nàng không đẹp lắm nhưng cũng dễ coi. So với lúc nãy nàng trẻ đi mười tuổi. Nàng lấy chiếc khăn bông trắng ra nghiêng đầu lau tóc và bảo:

– Anh đi tắm cho khoẻ .

– Anh muốn coi em chải tóc một chút.

Út lại ngồi gần bên soong cháo. Con gà luộc giơ cặp chân lên như kẻ nhào dưới nước. Tôi bước lại ngồi gần bên Út.

– Giá mà anh được mãi thế này ?

Út lặng thinh. Tôi thấy bóng dáng hạnh phúc của một gia đình bất chợt trờ tới như một sự thực. Sao ta không có được một cái gia đình nhỉ? Bao nhiêu cơ hội đã qua. Từ ở miền Đông xuống miền Tây rồi từ miền Tây ra Bắc, rồi lại từ Bắc về Nam nếu ta chịu ngừng cánh chim lang bạt thì giờ đây đã có một mái ấm ở nơi nào đó rồi. Làm cách mạng là một cái nghề thảm khốc. Nó lôi cuốn người ta phi thường nhưng cũng giết người tàn nhẫn. Ngoài ba mươi thì chưa già nhưng cũng không còn trẻ. Chừng nào giải phóng để ta có một mái nhà con con?

Tôi đi tắm vào thì cơm đã dọn ra tươm tất trên bàn, chiếc bàn xinh xinh chắc cũng mượn của dân. Trời chiều bảng lãng, rừng vắng lạ lùng. Chỉ nghe tiếng nước đổ ào ào xuống những gộp đá một thứ âm thanh làm cho không khí càng hoang vắng rừng rú. Út gắp thịt bỏ cho tôi, tôi chan cháo cho Út. Chúng tôi vừa thân thiện vừa bỡ ngỡ như vợ chồng mới cưới, có điều là không ai nói ra. Cơm nóng, thịt gà, cháo ngọt, chuyện tâm tình. Tất cả đều như ý. Chúng tôi hầu như cảm thấy câu ca dao:

Canh tôm nấu với ruột bầu
Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

Có ý nghĩa hơn bao giờ hết nữa là trên mâm cơm toàn thịt gà. Không khí chiến tranh, sinh hoạt bát nháo, tôi như trút bó bên ngoài. Sự lạc lõng của cái chòi giữa rừng hoang này là một cõi tiên. Đột nhiên Út hỏi tôi.

– Anh chưa có chị Hai thiệt sao?

Tôi không đáp, gắp một cục thịt đút cho Út. Út vừa nhai vừa tiếp:

– Em biết mà ! Anh chưa có ai hết.

– Rủi anh có một bà ngoài đó rồi sao?

– Mấy ông Năm Lê, Tư Khanh, Sáu Nam bết quá . Muốn giấu cũng không giấu được đâu.

– Em nghe tin ở đâu vậy .

– Anh tưởng em không biết chị Hai Mặn vợ ông Năm Lê à?

Tôi giật mình. Đường dây thông tin chằng chịt với nhau những mối bất ngờ.

– Chị ấy là khu ủy viên thường vụ và là chị nuôi của em mà . (Thôi thế thì bỏ mẹ các chả rồi. Không khéo mấy bà bành này lập đạo quân đầu tóc quay lại chơi gà nhà).

Tôi nói:

– Mấy ổng chịu thật hết rồi.

– Chị Hai Mặn đang phục kích trên Tà Bon chờ ông về.

– Sao em biết?

– Trước khi chỉ đi, chỉ ở đây, hai chị em tâm sự một đêm rồi sáng lại mới đi. Chỉ bảo em con gái không có chồng thì không được, nhưng có chồng rồi thì khổ lắm. Gặp trường hợp như chị thì chết còn sướng hơn. Em thương chỉ lắm. Ở trong này chịu đựng đủ thứ nọ kia, mười năm trời. Chỉ hi vọng có được ngày sum họp chồng con, đến chừng mấy ông về thì vậy đó

Tôi bảo:

– Anh không bao giờ hư hỏng như thế. Không lấy vợ thì thôi. Lấy rồi thì chấm dứt mọi sự lem nhem.

– Bây giờ anh đã có vợ chưa?

Tôi nhìn nàng. Câu hỏi ác thật. Tôi làm bộ kêu lên: “hết cháo” rồi bước xuống đi múc thêm. Tôi trở lại ngồi, nàng nói:

– Mấy anh khôn lắm. Cho nên đàn bà cứ phải mắc mưu.

– Thì em cứ điều tra đi, coi anh có gì ở ngoải không?

– Ở ngoải thì em biết rồi. Sợ ở trên Tà Bon kia. Anh nói thiệt đi! Anh có cô nào đeo không?

Tôi lắc. Nàng nói ngay:

– Ít nhất ba cô bu anh.

– Ở đâu mà đông vậy.

– Anh đừng có tưởng em không biết. Mấy ông đi trên đó về ghé đây xin cơm. Họ nói chuyện với nhau em nghe hết. Họ kêu là thằng cha thầy pháo tốt số. Thầy pháo là anh chớ còn ai nữa.

Tôi sợ như tội nhân sắp bị kêu án. Trong ba lô và trong bóp tôi đang lễnh nghễnh những thư từ của các nàng Tà Bon.

Nhưng Út nói tiếp:

– Tại em thương thì em thương, em không có kể gì hết! Còn em không thương thì trời gầm trên đầu em cũng không thương.

Đến nước này thì tôi không cầm lòng được nữa. Từ chối sẽ có tội với nàng. Hơn nữa, tôi tự cho tôi cái quyền của một tử tội sắp lên máy chém nên được quyền hưởng mâm cỗ sau cùng. Chúng tôi đang ăn cơm thì B52 giả gạo ầm ầm rung rinh cả mâm cơm. Từ sau khi cuộc chỉnh huấn giải tán, hầu như B52 nện liên tục cả đêm lẩn ngày. Mặt mũi mọi người nhớn nhác thấy rõ. Điều này làm cho tôi cả quyết đi vào lối Thiên Thai để thử lạc đường một chuyến…

Trong lúc gối tay nàng, tôi hỏi:

– Sao em không lấy chồng?

– Có ai đâu mà lấy.

– Mấy ông qua lại đây thiếu gì, mùa đông mùa thu mùa hè đều có đủ.

Nàng bụm miệng tôi và bảo:

– Em chỉ thương anh. Em muốn anh ở lại đây với em.

– Đâu có được em!

– Em muốn anh với em tìm một nơi để mình sống với nhau.

– Em nói thiệt chứ?

– Em đùa làm gì! Em hết ham rồi.

– Vậy trước đây em ham?

– Ham chớ . Người ta hoan nghênh dữ quá , em thấy hăng hái đi hằng ngày bỏ việc gia đình và bị người ta bỏ em cũng không màng, tưởng như vậy là bảnh lắm.

– Thì bây giờ lấy chồng cũng chưa muộn.

Nàng vả miệng tôi. Tôi cười bảo:

– Làm bà khu ủy, nay mai lên thay thế bà Ba Định không khoái à ? Làm đuôi rồng không bằng đuôi cá chạch phải không? Thà làm chủ tịch huyện Tân Biên chớ không làm phó tư lệnh?

– Chỉ huy ba chiếc xe bò này mệt lắm chớ anh tưởng dễ sao. Thôi bỏ chuyện đó đi. Anh cứ trêu em hoài. Em giận cho coi.

Nàng nhũi đầu vô ngực tôi, thủ thỉ:

– Em không sợ chết.

– Chết mà không sợ, sợ gì?

– Em chỉ sợ không có con.

– Lấy chồng đi thì có con.

– Chồng em đây nè, còn lấy ai nữa. Anh! Em muốn có với anh một đứa con !

– Anh cũng muốn có một đứa con.

Chúng tôi lặng im. Nước mắt nàng đổ ướt dầm ngực tôi. Nàng siết chặt lấy tôi.

– Mai anh đi rồi, em làm sao sống nổi.

– Anh cũng buồn lắm. Nhưng nhiệm vụ cách mạng…

– Cách mạng gì hai chục năm rồi chưa xong.

Tiếng xe bò cót két ngoài đường. Bánh xe nghiến dai dẳng phát ra một bản nhạc độc điệu rền cả rừng hoang. Trên trời thì máy bay phản lực phóng rầm rầm. Nhưng chúng tôi làm như không biết gì. Tôi thấy nàng đã lột bỏ các thứ giả dối mà lâu nay người ta gắn đắp cho nàng, nào khu ủy, nào anh hùng v.v… để trở lại người đàn bà bình thường có chồng có con với những mơ ước đơn sơ nhất

Rồi việc gì không tránh được xảy ra. Nàng rên rỉ :

– Chắc em chết quá anh ơi!

o O o

Tôi thức dậy khi mặt trời đã lên cao. Tôi thấy thằng bé đứng xớ rớ ở cửa, tôi gọi nó vào, mặt mũi nó thê thảm quá.

– Sao em không đi K71 ở đây.

– Người ta bảo hiện giờ chiến thương không có chỗ nằm nên không nhận bệnh nhân thường – rồi nó biện luận – Em không phải là bệnh nhân thường, em bị thương ở Đắc Tô ráng vô tới đây tưởng có chỗ an dưỡng. Ông Tám Lê cho em vào bảo vệ R. ông bảo đó là an dưỡng.

Út ở dưới bếp đang nấu nước, hỏi vọng lên:

– Có việc gì đó chú ?

– Dạ, ông Tư Ó muốn gặp cô.

– Bảo ổng tôi bận làm thuế.

– Dạ ổng nói với em là ổng xin cô giảm bớt phiên gác cho ổng.

– Ai cũng muốn giảm hết thì biệt kích nó phá sạch vùng này! Mấy tổ công tác ngoài ấp về chưa?

– Dạ về được một số.

– Có kết quả không?

– Dạ mấy chị ấy nói là mấy chị không vào được vì hôm trước có một ông mình chiêu hồi chỉ lối nên lính phục kích.

– Có sao không?

– Dạ, mấy chị không rõ, chỉ nghe súng nổ thì rút lui không đột nhập nữa.

– Em bảo các cô ấy chờ đấy, chốc nữa chị ra giải quyết công việc.

Thằng bé đi, Út quay lại:

– Khu ủy phân công cho em tổ chức chi bộ trong ấp chiến lược

– Bằng cách nào?

– Em chưa- biết, nhưng hiện giờ nội cái việc ngăn chặn đừng cho dân nhào ra ấp chiến lược đã là chuyện khó rồi, lại bảo tổ chức chi bộ thì họa có thánh. Dân họ chạy về trú ngụ chung quanh Toà Thánh. Tòa Thánh nhận nuôi cơm họ, tìm cả việc làm cho họ nữa. Đêm nào cũng có vài chiếc xe bò chở gia đình ra đó. Mình bịt đường này họ mở đường khác! – Út gầm lên – Tòa Thánh cho người ra tận các mối đường để đón. Em mà vô được ở trỏng thì em đốt cái Tòa Thánh đó ngay.

— Bậy nào ! Cô nói một câu thất chánh trị quá !

Út pha sữa bưng lên cho tôi và bảo:

– Nay mai anh có đem pháo về, anh làm ơn pháo cho tan cái Thánh Thất đó dùm em.

Nàng ngồi bên tôi, tỉ tê:

– Em muốn đổi tên em mà không biết tên gì, anh có chữ, giúp dùm em được không? Vì em ở gần lộ ủi Trần Lệ Xuân nên người ta ghép cái tên phản động đó vào tên em, hoặc họ kêu em là con Út lộ ủi, nghe chói tai quá hè.

– Người ta kêu anh là Thiên Lôi đấy, có sao đâu.

– Em thích như Hồng Lâm, Thu Cúc… nghe ngộ ngộ.

– Ừ để anh suy nghỉ ít lâu, khi nào có tên hay anh sẽ nói cho em.

Đến giờ chia tay. Nàng đi với tôi một quãng trên đường đá. Mắt nàng đỏ hoe.

– Anh trở lại nhé .

– Ờ. Anh sẽ trở lại vào chín giờ sáng ngày mai. Em đứng ở đây chờ anh.

– Anh đừng nói gạt em nhé .

Nàng bịn rịn mãi, không buông tay tôi ra. Một chốc nàng nói:

– Anh đừng đến trễ nghe. Em chờ anh ở đây. Nếu anh không đến, em đứng hoài cho cọp tới ăn thịt em.

Nàng sụt sùi: .

– Anh đã tin là em chưa hề yêu ai chưa .

– Tin rồi:

– Anh là chồng em đó .

Tôi hôn nàng thay câu đáp…

– Em mà có một đứa con với anh thì mười khu ủy em cũng bỏ.

Chương 22
Học giả ở chuồng chó Bẹc-giê.
Kỷ sư nghiên cứu cứt gà
Triều đình đỏ được mùa dưa hấu.

Tôi lững thững đi trên đường lộ đá lởm chởm những mô đất bị bom pháo đào xới. Lòng ngổn ngang trăm mối tơ vò Nước mắt của Thanh Tuyền chưa khô đến nước mắt Huỳnh Mai. Nước mắt Huỳnh Mai còn nóng hổi rồi đến dòng lệ của cô Út. Tình yêu ơi! mi không có cánh mà sao cứ bay vuột đi hoài. Gã giang hồ này có phải chăng là anh chàng lữ khách trong chuyến xe đêm của Paoutowski? Ba cánh cửa mở ra một lúc chào đón bước chân chàng nhưng chàng chẳng vào để rồi sau đó lại ân hận khi tuổi tác chất chồng, nắng chiều đời đang vàng nhạt, mùa đông sắp đổ xuống đời mình.

Một đứa con ! Đó là ước vọng của cả ba nàng, cũng là của tôi nữa. Bao nhiêu lần khi còn ở Hà Nội, tôi nhìn thấy những người đàn bà có thai ở ngoài đường, ở hè phố mà ước ao đó là vợ mình. Mình sắp làm cha. Bây giờ về đây, cái chết lúc nào cũng gần kề chập chờn trước mặt thì nổi ao ước đó lại càng nóng bỏng hơn.

Tội nghiệp nàng Út. Nàng cũng như tôi: ham một đứa con. Tôi lại nhớ tới con Huê. Lúc tôi đi, nó đã vô K71-B để sửa soạn sanh. Tội nghiệp ở rừng mang thai tẩm bổ toàn bằng thịt cắc kè , kỳ nhông, dế nhủi, thằn lằn. Không biết đứa bé sẽ ra làm sao. Làm sao thì cũng được, miễn có con thì thôi.

Lúc ở trên Trường Sơn, tôi có gặp một anh trung đội phó người Hải Dương. Anh ta sốt nằm lại dọc đường, không nấu cháo nổi ăn. Bọn tôi tuy cũng bò la bò lết, nhưng cố gắng giúp đỡ anh ta với tình đồng đội. Bỗng một hôm, sau khi ăn hết một gà-men cháo, anh ta khoẻ hẳn lại. Anh nói chuyện leo lẻo . Anh bảo: “Tôi bây giờ có chết cũng không sợ.” Tôi hỏi tại sao. Anh ta nói: “Tôi đã có bốn con rồi! Dù sao cũng có con nối dòng dõi họ Hoàng”.

Không hiểu sao trưa hôm ấy, chúng tôi đang ăn cơm, thì nghe một tiếng “ò” từ phía tăng của anh. Chập sau, tôi đến để hỏi thăm xem anh ta có cần gì không thì mới hay anh đã chết. Câu trăn trối của anh dội lên trong đầu tôi hôm nay: có con nối dòng. Còn mình, nếu có bề gì thì trụi lủi.

Đang vừa đi vừa ngẫm nghĩ thì có tiếng kêu từ sau lưng. Tôi quay lại, thì ra là thằng Hùng. Nó đi tới, thở hổn hển:

– Chị Út nói anh mới vừa đi, tôi chạy theo muốn đứt ruột. Sao về gấp vậy thầy?

– Phải về để nhận quyết định chớ sao.

– Khoan đã. Tôi có việc này quan trọng cần có ý kiến của thầy.

– Ba cái bảo vệ của mày, tao ý kiến gì .

– Tôi có mấy cây cối chứ thầy.

– Thứ cối lép đó làm gì được ai.

– Để giành bao rượt mấy thằng đảng Rồng Xanh.

– Đảng Rồng Xanh nào?

Hùng đẩy lưng tôi vô mé rừng và bảo:

– Anh vô đây chút.

– Vô đâu?

– Vô chòi thằng Cử rồi hỏi nó chỉ cứ của U80 cho. Bây giờ về vùng Suối Dây không gặp con ma nào ở đó hết đâu? Họ dời đi hết rồi.

– Sao vậy? Chỗ đó ở tốt quá mà . Gần suối, đất lại cao.

– Vì thế họ sợ B52. Họ dời xuống một cái trủm bốn bên là nước ngập. Ở chỗ đó chúng nó không ngờ được, tuy vất vả nhưng an toàn hơn.

Hùng bắt quyết tôi phải vô chòi thằng Cử.

– Nó dời về vùng này để phối hợp với tôi lùng ba thằng Đảng Rồng Xanh.

– Rồng Xanh là đảng gì vậy?

– Anh ở đây thì phải coi chừng tụi này. Tụi nó chính gốc là tụi Sáu Bèo anh biết không?

– Tao có nghe nói man mán thôi.

– Nó mặc quần áo y như mình, bất ngờ nó chơi mình lấy đồ hết và dông.

– Mình không làm gì được à ?

– Nó moi được cả kho súng. Vừa rồi nó đón xe bò lấy gạo. Hễ động là tụi nó nhảy qua biên giới vỗ bụng cười hề hề chớ mình làm gì được. Một tên tiểu đoàn phó làm đầu đảng mà . Nên chiến thuật của mình, nó biết hết. Khó diệt tụi nó lắm.

– Thằng Cử còn ở với ông Một không?

– Còn trong hệ thống nhưng khác khu. Ông Một bây giờ yếu quá rồi, ở trên cho ổng dưỡng lão luôn ở Kà Tum.

Tôi nói:

– Lần lên R tao có gặp thằng Cử. Nó cho tao chai thuốc rượu đặc biệt.

– Ối ! không có thuốc gì bằng đế cả anh ạ !

Chập sau vô tới chòi thằng Cử. Mới nhìn tôi tưởng là ông Một . Râu ria, tóc tai như người rừng. Tôi hỏi Cử:

– Ông Một dời đi đâu? Ổng có mang bức tượng Phật theo không?

Cử cười hì hì. Tôi máng ba lô trên cành cây. Trông cái chòi tum húm không bước vô được, nhưng ngoài bếp thấy treo mấy xâu thịt khô.

– Nai hả?

– Đủ hết. Anh ở chơi vài bữa! U80 dời rồi. Nếu họ kẻ vạch, anh bảo là địa điểm mới không tìm được nên trễ vài ngày chớ gì.

– Ông Ba Thắng gởi quyết định xuống ngay hôm đó.

– Anh sao cứ gương mẫu hoài. Cứ xập xệ như tôi mà sống dai. Chức không lên, cấp ủy không làm, nhưng thịt gạo có rư luôn khi.

Cử xăng xớm nướng khô. Tôi bảo:

– Để nghỉ chút đã. Chiều hãy nhậu.

Hùng nhìn tôi cười ý nhị:

-Để ông thầy nghỉ cho phẻ chút mày. Ông thầy đá trận bóng vừa qua có hơi mệt.

Cử hỏi:

– Bộ trường Trung Sơ tổ chức được sân bóng cho đại biểu chơi à? Bóng gì?

Hùng phá lên cười.

– Bóng rổ! Phải không thầy?

Tôi bảo:

– Cái thằng phá tao hoài mậy !

Hùng lại cười ngặt nghẹo:

– Ông thầy đã trả thù dân tộc chưa?

– Bậy mày. Ở ngoài thì mới…

– Ba ván liền không bỏ ván nào hả?

Ba đứa cười với nhau.

– Ông thầy có được khen anh đội khoẻ rứa không?

Ba đứa lại cười nghiêng ngã và cùng nhớ thời ở ngoài Bắc vui đáo để. Tôi nằm trên võng định ngủ một giấc nhưng chuyện nàng Út cứ làm tôi lâng lâng khó nghĩ. Chuyện ân ái xác thịt là đã đành rồi. Nó được đánh thức và được thỏa mãn tối đa. Mười năm trên đất Bắc, nhịn khát nhịn thèm. Nhưng chuyện làm cho tôi khó nghĩ là bà khu ủy viên. Tôi tưởng trong con người đó không còn một sự nhạy cảm nào nữa. Chẳng ngờ cái vỏ khô chứa một cái ruột tươi tắn ngọt ngào. Té ra nàng cũng có những ước mơ của một người bình thường bên cạnh những cư xử cứng rắn hằng ngày đối với đám xe bò và những người khác.

Nhưng còn một vấn đề khác làm cho tôi mất tin tưởng ở đảng rất nhiều. Đó là vấn đề cư xử của đảng đối với những người trí thức, nhất là trí thức Nam Bộ mà tôi được biết.

Trong kháng chiến tôi đã từng gặp những kỹ sư, bác sĩ. Thực sự thì chỉ có bác sĩ là hữu dụng còn kỹ sư vô khu thì chẳng làm gì. Như kỹ sư Kha Vạng Cân được phong cho chức giám đốc Sở Nông Nghiệp. Ông chỉ có một bầy trâu ở Bạc Liêu. Ông phân cho đám học sinh ở Sài gòn ra canh giữ và làm mấy chục công ruộng hoang ở vùng Bà Hích. Suốt chín năm không biết ruộng của ông có trổ được bông lúa nào không. Một ông kỹ sư khác là Trần Văn Ấm. Không có việc gì làm, ông đi khắp xóm tìm xin cứt gà để trồng ớt – như ông đã thí nghiệm – cho ớt cay hơn trồng với phân thường. Cho nên dân chúng tặng ông danh hiệu kỹ sư cứt gà. Nếu đổ thừa rằng trong khu không có điều kiện thì có thể nghe được. Nhưng xin hỏi khi ra Bắc, một kỹ sư đỗ đạt bên Pháp như ông Kha Vạng Cân thì sao lại được giao cho chức Bộ trưởng bộ Công Nghiệp Nhẹ – nghĩa là coi ba cái vụ đan áo len mướn, đan rỗ rá, làm phân chuồng, làm phân Bắc. . . – còn một tên dốt đặc cán mai, gốc thợ nhà in Ming-Sang ở phố hàng Bông lại được phong chức Bộ trưởng Bộ Công Nghiệp Nặng. Cho nên nền Công nghiệp Xã Hội Chủ Nghĩa trong vòng hai mươi năm không có luyện được một cục thép nào. Và cho đến ngày nay thì khu Gang Thép Thái Nguyên, niềm hi vọng to nhất của Xã Hội Chủ Nghĩa miền Bắc, đã trở thành một đống thép gang rỉ mạnh ai nấy gỡ lần đem đi bán với giá sắt vụn. Còn hai ông đại trí thức Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần thì lãnh chức gì ? Một ông làm Chánh án toà án nhân dân, chỉ để dành đọc những bản án mà tên Lê Duẫn đã thông qua rồi. Riêng ông Phạm Ngọc Thuần thì bị đày đi Đông Đức với chức hàm Đại sứ. Cụ Ca Văn Thỉnh, một học giả danh tiếng của Miền Nam bút hiệu Ngạc Xuyên thì được lãnh chức giữ Thư Viện Khoa Học nhà nước gồm 3/4 sách tiếng Nga cho nên một năm chưa có đến mười người mượn sách. Ngoài ra cụ còn được một cái đặc ân hết sức to lớn. Đó là cụ và gia đình được ở một cái nhà trong khuôn viên thư viện, trước kia là chuồng chó Bẹc-giê của Pháp. Riêng nhà bác học Lương Định Của vốn tốt nghiệp bên Nhật và làm việc ở xứ này đến một trình độ mà các kỹ sư Nhật gọi là “tiên sinh”, thì làm Viện Phó Viện Nông Lâm Súc dưới quyền của kỹ sư Bùi Huy Đáp vốn thần phục học thuyết của Mitchourine và Lyssenko, cho nên bị chèn ép đến hết ngóc đầu lên nổi, đến bất mãn. Sau 75, ông vào Nam. Trên một chuyến máy bay gồm những cán bộ Nam Bộ bất mản, chuyến bay này phát nổ nửa đường. Ai cũng biết đó là bàn tay Bộ Công An đặt chất nổ cũng như cái bộ này đã từng bỏ thuốc độc cho Dương Bạch Mai uống năm nào ở Hà Nội v..v…. .

Tôi viết những dòng này khi tôi đã già, đã bỏ Hà Nội và lấy nước khác làm quê hương cho nên ngoảnh nhìn lại tôi thấy rất rõ ràng và viết ra hết sức vô tư.

Trí thức đi theo đảng không còn là trí thức nữa. Đảng đã mượn lưng trí thức để làm nấc thang bước lên ngai vàng, khi ngồi vững rồi thì dùng trí thức làm chân ghế.

Vừa rồi tên Đỗ Mười đến nghe trí thức tố khổ. Đảng lổ tai trâu, biết gì mà nghe mà trí thức nói cho uổng miệng. Nếu có tai thường thì 45 năm nay đã biết nghe!

Ngược lại những tên chăn trâu chăn bò thì được quyền cao lộc c cả. Cái bệnh “vô sản” đã phá nát trí thức dân tộc, đã dìm những mầm non không mọc được và những cổ thụ thì rụi tàn. Về miền Nam tôi càng trông rõ những trường hợp “thành phần cơ bản ” được đề bạt và trọng dụng, như các học sinh pháo binh bần cố nông của tôi, bà khu ủy bạn của tôi đây. Bà ta có quyền sinh sát không phải riêng cho cái huyện Tân Biên này thôi mà còn cả bảy tỉnh Miền Đông kia đấy.

Làm sao một cô gái quê như thế lại hiểu biết dân tình, hiểu biết khoa học để giải quyết công tác cho có kết quả. Cũng y như bà Định. Nguyễn Chí Thanh đưa bà ấy lên là để sỉ nhục quân đội Đồng minh và QLVNCH “đánh với đàn bà ” để gây dư luận quốc tế và trong nước, chứ mọi việc đều do các tướng đầu bò Hà Nội quyết định. Bà ta chỉ có thể là một cán bộ cấp tỉnh. Thế mà bây giờ lại làm tới Phó chủ tịch Hội Đồng nhà nước. Nhà nước gì ? Phải chăng cái “nhà ” không có nước cho dân xài ? Tôi chỉ là một học sinh hồn nhiên đi theo kháng chiến giành độc lập, nhưng càng đi thì càng thấy những chuyện kỳ cục cho nên tôi phải suy nghĩ tìm nguyên nhân tại sao nó thế này, nó thế kia. Và cuối cùng tôi phải công bằng với tôi mà kết luận rằng: Đảng là một sự kỳ cục vĩ đại. Một trong những sự kỳ cục đó là cái Bộ chỉ huy R, một bọn ăn cướp chính danh được mệnh danh là giải phóng. Giải phóng ai? Ai cần giải phóng. Một bọn chọc cứt không nên lỗ, bây giờ đang đánh đá nhau để tìm đường chạy hoặc tìm cách bịp.

Xin trở lại với cái chòi của thằng Cử. Thằng Hùng hỏi tôi:

– Anh ở đằng bà Út, anh có thấy thằng Bắc kỳ con mặt vàng lườm đó không.

– Có!

– Nó ở huyện Hùng Thiện, nó biết trường pháo của mình và ngôi nhà thờ trước cửa trường.

– Cả cô Oanh, con ông chủ tịch huyện nữa. Sao một mình nó lạc vô đội du kích của bà Út?

– Nó thuộc Q16 ở Trảng Bà Điếc…

Thằng Cử chọc vô ngay:

– Mấy thằng Sáu Bèo đó ăn ở mất trật tự lắm. Có ngày ăn dưa hấu bỏ mẹ .

– Nó ăn mình lại khỏi à?

– Ở đâu nó kéo vô đó vậy?

– Thì ở ngoải chớ đâu cha?

– Còn Q nào dự trận Bình Giả?

– Công trường 9 hay công trường 5 của mình.

– Mẹ ! hai cái lò nướng đó xơi một lúc cả trăm, cái lò ướp 365A của ông Lê Xuân Chôm không cung cấp kịp.

– AK của mình nổ to nhưng lưới lửa không dày bằng M16 của Mỹ.

Tôi hỏi.

– Sao mày biết?

– Thì mấy ông Tham mưu và Tác huấn bảo thế.

– Từ thời kháng chiến chống Pháp tới bây giờ, mình chưa bao giờ cân bằng lực lượng với kẻ địch. Nó một trăm mình có một. Ông Sáu Vi bảo mình nắm thắt lưng Mỹ mà đánh đó tụi mày!

– Nắm thì nắm, nhưng có điều là nắm được hay không? Mình chưa bao giờ thấy mặt thằng Mỹ mồm ngang miệng dọc ra sao mà đã bị nó chơi bom cho sảng hoàng rồi. Nó mà đổ chụp nữa thì có lẽ mình xếu mếu hết. Cho đến nay, tụi tôi đã lội nhẫm dấu hết vùng này rồi. Từ các sóc Miên đến làng người mình đều bị bom hoặc pháo. Từ Tà Păng lên Xóm Vịnh, dọc đường đá đỏ, tỉnh lộ 13 chạy cặp sông Vàm Cỏ Đông, biên giới Miên Việt, đến bìa Trãng gần bệnh viện K71-B, trường Huấn luyện tân binh đều có nếm mùi bom đạn sơ qua một vài lượt hết cả. Khu trường pháo của mình vừa ăn đạn cà nông của trực thăng, xưởng may bao đạn của Hậu Cần cũng bị đầm già rà liếc liên tục. .

Thằng Cử nói một hơi như trả bài, vừa dứt thì thằng Hùng tiếp theo:

– Ban Bảo vệ toàn R đã chỉ thị cho các cơ quan đào thêm hầm hố để chạy tránh bom. Xóm Giữa, Xóm Rầy dài dài lên tới Lò Gò nhà cửa dân tanh bành hết cả. Họ thấy mình đến họ nhìn với cặp mắt căm thù, như bảo: tại tụi bây mà chúng tao mới ra thân thể này. Nhất là dân Miên, họ cõng con dắt vợ chạy đi hết. Nhiều ông già đen thui như cột nhà cháy chỉ đóng khố che chỗ kín, những người đàn bà trần trụi để lộ hai trái mướp lép kẹp, gùi con sau lưng gặp mình họ nói xầm xì với nhau như chửi thầm.

Tôi thở dài:

– Tất cả những gì tụi bây thấy tao đều biết!

Thằng Cử nói tiếp:

– Thỉnh thoảng tôi có ra Sóc Chà Ruột để mua trái thốt nốt uống nước. Tôi có thấy một hố bom đìa. Mẹ cha ơi! Nó như cái ao sen Chùa Phật làng tôi vậy. Dân ở đây đã bỏ đi sạch hết không còn một móng để mình nhờ cậy khi mua con gà khi xin tép sả, trái bí trái bầu.

Tôi bảo:

– Thôi dẹp đi. Tụi bây có ý kiến gì hỏi tao thì hỏi đi !

Thằng Hùng cười khẹc khẹc như vịt cồ bị bóp họng:

– Hỏi anh cái vụ chứng minh thư tôi cho, anh đã xài mấy cái rồi.

– Cái thằng, cứ điều tra tao hoài mậy.

– Hỏi để biết DKZ của anh bắn thẳng hay bắn mục tiêu che khuất.

Thằng Cử xen vào:

– DKZ của ổng gắn ống ngắm pháo Pháo bắn mục tiêu gì cũng đạt cả .

– Biết rồi, nhưng chỉ ngại là đạn của ổng bảo quản không kỹ thuốc tống bị ẩm mốc, nạp liều ba mà nó ra liền tức thì chớ.

Vừa đến đó thì nghe tiếng giả gạo run run mặt đất. Tôi ngồi bật dậy:

– Sao nghe gần quá tụi bây.

– Ừ, kỳ này coi bộ sát bên mình.

Tôi hỏi quặc lại:

– Phong trào em nuôi, con nuôi coi bộ phát triển mạnh. Ở dưới này nào có kém trên cái triều đình Bắc kỳ đó.

Cử cười:

– Anh muốn một đứa không, thằng Hùng nó chia cho.

Hùng bảo:

– Ổng có em nuôi cao cấp rồi, mày còn lo. Ủa, mà em rối ruột chớ không phải em nuôi. Hí hí….

Lại một loạt tiếng chày gạo phình phình, rung rinh cả hai đầu võng. Thằng Hùng láo liên:

– Đừng có chơi ở đây nghe cha. Con mới cưới vợ đó. Để cho con hưởng chút mùi đời ! Hiện giờ tôi có hai em nuôi rồi. Em Hai Phi và em Tám. Em nào coi cũng khớ khũm.

– Ừ khớ như cái thằng gì hồi thực tập ở đình Sơn Tây không. Coi chừng mà lọ mực tím đổ đầy lý lịch.

– Ai ngán chớ tôi đây kể như không đi ông thầy ! Tôi hưu trí mất mười năm trên đất Bắc, bây giờ về nước được rồi, em phải truy lãnh chứ ạ. Má tôi cần có một lúc ba đứa cháu nội. Càng nhiều càng tốt, không có hại gì cho xã hội cả.

Cử bảo.

– Chỉ hại ban tổ chức ngồi kiểm thảo đau lưng thôi ! Kiểm thảo tao, tao kiểm thảo lại bỏ mẹ. Mấy thằng tổ chức là chúa lem nhem. Từ tổ chức Trung ương là Sáu Thọ đến tổ chức ấp tất cả đều đáng lãnh một lọ mực, nhưng ngược lại đảng cho nó cái quyền đổ mực vào lý lịch người ta. Có ai kiểm thảo Năm Lê, Sáu Nam, Tư Khanh không?

Rùng… Rùng… Rùng…

Loạt chày giả gạo thứ ba lại đến. Thằng Hùng tiếp:

– Thế là mình sống sót. Nội ngày nay mình chưa chết vì nạn B52.

– Sao mày chắc vậy?

– Thường thường nó chỉ chơi buổi sáng. Còn kỳ dư trong ngày ít chơi. Và khi chơi thì tối đa là ba đợt. Vừa rồi là đợt thứ ba. Ai còn ngoắc ngoải bò lên được thì lột vỏ sống đời.

Tôi hơi nghi là R ăn dưa hấu, nên móc bản đồ và lôi hai thằng ra mé đường. Nhìn về hướng có tiếng nổ, tôi thấy khói đen bốc lên một dãy dài. Hùng bảo:

– Đúng rồi! Thôi bỏ mẹ rồi.

– Đúng cái gì?

– Tà Bon.

Tôi trải bản đồ ra trên đất xoay hướng Bắc (N) trong bản đồ cho ăn với hướng Bắc ngoài thực địa, rút thước ra đo. Xong tôi xếp tất cả đút vào túi.

– Có đúng chưa ông thầy?

Tôi lắc đầu nguầy nguậy.

– Không. Trật xa !

Thằng Hùng cười.

– Dề! Ông thầy làm bộ hoài. Tôi không cần bản đồ gì hết. Tôi ngó cái là xác định ngay. Nếu trật con nít Miên ỉa bao nhiêu tôi ăn hết đó thầy, không cần con nít Việt. Tôi canh hướng bằng mắt bằng tai ở khắp vùng này mà . Tôi đang nằm ngủ mà có tiếng bom nổ, thầy đập dậy hỏi ở đâu, tôi nói ngay chóc.

Cử hưởng ứng.

– Đúng đó thầy Nó là con quỉ ở vùng này, nó hơn tôi xa về cái mặt… em nuôi… hà hà… và cái mặt đó nữa.

Tôi và hai đứa về lều. Tôi ngã nhoài ra trên võng. Tôi biết thằng Hùng nói đúng nhưng tôi không muốn công nhận, không phải vì tôi lo cho bọn đầu bò hoặc đám đón gió Sài gòn. Mà vì ở đó có Ánh, có Thanh Tuyền, có Hai Nhơn, Ba Thắng những người thân thiết của tôi.

Tôi nằm úp mặt vào mép võng. Hình ảnh Huỳnh Mai hiện rõ trong đầu tôi. Nàng bị đỉa đeo đang đứng ở gốc cây giữa bàu nước. Nàng đang ngồi viết thư cho tôi. .

Khi rời trường, Bảy Mài đã đắt cả đoàn về thẳng trên đó. Lạy trời cho họ ghé lại dọc đường hoặc táp vào chỗ ông Bảy Phong Vân chơi. Nếu đi một mạch thì chắc chắn cả đoàn đã đút đầu vô cái biển lửa hôm nay rồi. Trời đất ơi! Tôi không dám nói ra sự sợ hãi đó cho Cử và Hùng biết.

Rùng… Rùng… Rùng!…

Lại giả gạo. Thằng Hùng quát đùa:

– Mẹ kiếp ! sao kỳ này nó phá qui luật? Thường thường chỉ ba nhát là thôi.

Rùng… Rùng… Rùng!..

Tôi bảo.

– Nó từ hạm đội 7 vô . Rồi từ Utapao qua nữa mày ạ !

– Sao kỳ này mình không được báo trước như những lần khác?

– Có lẽ ông Anh Cả mình quên.

Rùng… Rùng… Rùng!…

Không những ba loạt mà ba ngày ba đêm liền.

Chương 23
Bức thư của Thanh Tuyền: R lãnh trọn

Xa trường mới đây mà đã mấy tháng trời. Phí bao nhiêu sức khoẻ vì một cái chức anh hùng rơm. Tuy không phải là gia đình ruột thịt nhưng đi lâu vẫn nhớ. Bởi vì ở đây ai cũng mến tôi. Từ ông già Năm Kiên tóc bạc trắng đến vợ chồng Năm Chí, con Tiến con Huê, Bùi Khanh đều dành cho tôi những tình cảm đậm đà. Tôi đi lâu chắc họ cũng nhớ tôi lắm. Tôi vừa về tới ai nấy ùa ra: Bé Ngà con gái Ba Chí mới mười hai tuổi lên rừng với mẹ để thăm cha rồi ở luôn đây. Tư Thịnh muốn đưa về quê nhưng chị không chịu. Bé Ngà chạy ra ôm tôi khóc mướt. Nó nói ngay:

– Ở nhà ông Tư cắt khẩu phần của cháu rồi cậu Hai

Con Tiến, con Huê đang nấu bếp cũng chạy ùa ra khoe bộ mặt lọ lem.

– Anh Hai về đó hả ?

– Em tưởng anh mần anh hùng rồi đi luôn hổng về nữa chớ.

– Anh không có muốn đi đâu hết. Sao ở nhà có đứa nào đau ốm gì không?

Bé Ngà nói hớt.

– Hổng có ai đau ốm gì hết, chỉ có sốt rét sơ sơ thôi, cậu Hai.

Tôi móc trong ba lô ra lũ khủ các món tôi mua ở ghe hàng của cô Hai Phi ném ra giường, nào là xà bông thơm, kem đánh răng, vải, dầu cù là, cả đồ lót phụ nữ nữa, và bảo:

– Cho tụi bây đó, chia nhau xài.

Con Tiến lườm tôi khi thấy mấy cái áo nịt.

– Anh thiệt à ! Anh thông cảm với tụi em quá trời. Ba năm xài có một cái.

Tôi quát khẽ:

– Coi chừng nghe! Có giặt phơi thì phải tìm chỗ kín kín, để người ta bắt tội khiêu dâm bắt kiểm thảo rồi bây đổ thừa cho tao đó .

Con Tiến còn lãi nhãi:

– Ai mà ưng anh thiệt là có phước! Em có thơ chị Thu Hà, anh muốn coi không?

– Bây moi ruột rồi thế ruột khác phải không?

– Lần này em không có cà chớn vậy nữa. Vỏ ruột gì của chỉ em cũng để nguyên cho anh hết cả.

Con Huê khệ nệ ôm một bó cũi đi vô bếp và nói:

– Coi nè, anh đi có mấy tháng mà ở nhà em tiến bộ ghê hôn?

– Ừ lao động càng nhiều sốt rét càng ít.

Con Tiến tiếp:

– Chỉ còn một cái tiến bộ ghê nữa kìa.

– Gì đó , bộ vô đảng rồi hả ? Mới là cảm tình viên có mấy tháng mà được kết nạp, ắt phải có thành tích gì xuất sắc hả ?

Huê chưa kịp đáp thì Tiến hớt:

– Nó có thành tích số một của trường. Mày về vác lên cho anh Hai xem.

– Thành tích gì mà đến phải vác?

Huê trở lại bô bô cái miệng:

– Thành tích này nè! – Nó đưa thằng bé bụ bẩm cho tôi và bảo con – Cậu Hai nè con ! Cậu Hai mua xà bông thơm cho con đó.

Tôi bế đứa bé, thằng nhỏ nhìn tôi khóc oé lên. Tôi bảo:

– Chắc nó hổng chịu anh!

Tôi vừa dứt lời, thằng bé tè rưới thành vòng cầu làm mấy người đứng quanh nhảy tránh xa. Tiến nói:

– Anh hên lắm đó. Bị con nít tè vô mình chứng tỏ sắp có con.

– Ừ, chắc có con đến nơi rồi.

– Xí ! Hổng kiếm mau mau đi ở đó mà đến nơi.

Thằng bé mặt tròn tóc đen có vẻ bặm trợn và cù lự. Tội nghiệp, mẹ nó có bầu tẩm bổ toàn là thịt rừng như dế, thằn lằn, cha nó đi liên tục không về được.

– Thằng cha già tía nó biết chưa hả Huê ?

– Em có gởi thơ. ảnh nói chừng ba tháng nữa mới về được. Em muốn chớp một cái hình gởi cho ba nó mà hổng biết làm sao. Thiệt là không tìm đâu ra cái máy chụp.

– Để hôm nào anh tìm cho.

Nói chuyện một hồi, tôi lôi Bùi Khanh ra ngoài, rỉ tai:

– R lãnh nguyên con rồi, cha ! Tôi xem bản đồ thì không sai đâu.

– Tao cũng đoán vậy. Nhưng mày đừng có nói ra, ở tù cả đám. Bây giờ mày về đây thì ráng phụ với tao làm công tác chống càn.

– Càn ở đâu mà chống?

– Ở trên biểu thì phải làm. Tức là họp các cơ quan trong vùng thành lập một ủy ban chống càn. Quên nữa, đi lãnh huy chương mà có lãnh được không?

– Được chớ sao không được !

– Bự cỡ nào?

– Bằng cái mẹt của chị hĩm Điện Biên vậy !

– Mỗi thằng một cái hay là chung cho cả đoàn?

– Chung.

– Chung rồi làm sao mà đeo?

– Có ai muốn đâu mà anh phải lo chuyện đó cho mệt.

Bùi Khanh kéo tôi về lán uống trà. Anh hỏi:

– Mày có gặp bà Ba bàn nạo của tao không?

Tôi ngờ ngợ không biết bà Ba bàn nạo nào, có lẽ là bà khu ủy viên. Tôi vọt miệng nói:

– Có, tôi có ghé thăm. Bả nhắc anh dữ quá ! Coi bộ chịu đèn rồi!

Bùi Khanh hắt cái cặn trà trong chén rồi hứ một tiếng:

– Tao đã bảo với mày là bả chỉ nên làm khu ủy rồi chừng bằng tuổi bà Thập thì làm Trung ương ủy viên bù nhìn thôi, chớ làm vợ cho ai cũng không được. Bả gắt gao kiều đó có ngày tụi Miên nó cáp duồn bả hoặc đội bảo vệ của bả gài lựu đạn dưới chân giường bả cho mà coi.

Tôi mừng vô kể. Nếu anh nói anh cũng hi vọng thì tôi phải đau khổ vì đã phá vỡ cái hạnh phúc của đồng chí mình.

Bùi Khanh tiếp:

– Ban giám đốc cho đám học sinh đi về địa phương hết rồi. Phải! Tình hình này mà ở đây thì không có ai mà chôn xác cho nổi.

– Anh nói tôi nghe rỡn tóc gáy quá trời!

– Tao cũng đang rỡn cầm canh đây. Cả ngàn con người ta tập trung, nó rắc một phát là sạch.

– Trước nhất phải cho đào thêm hầm hố, chiến hào dọc để khi bị bom mình có thể di chuyển được dưới mưa bom. B52 lướt qua một phát là mình nhảy qua trái hoặc qua phải. Chiến thuật rải thảm của nó là chiếc sau rải nối tiếp chiếc trước, không rải bên trái hoặc bên phải.

Bùi Khanh hỏi:

– Ai bảo mày đó?

– Trên Cục Tham mưu. ‘

– Tao vái các chả cả mũ. Mới vừa rồi cơ quan binh vận làm theo kiểu đó lại tổn thất nặng nề.

– Là sao, tôi không hiểu?

– Là sau khi nó rải một loạt đầu xong, ai còn sống vọt lên chạy lên qua hai bên. Chẳng ngờ loạt sau nó rải luôn một

lúc hai bên loạt trước.

-Thế cơ à.

– Thế thì thế chớ còn cơ à cơ è gì nữa.

– Tại sao nó đối chiến thuật.

– Tao đoán là thằng cha Hai Tốt, trưởng kinh tài I/4 trốn ra Sài gòn mang theo cả chục triệu bạc, lại còn báo cáo việc chống B52 của mình nên tụi Mỹ nó biết.

– Ờ ờ! hèn chi bà khu ủy viên bắt du kích gác kỹ quá.

– Kỹ gì được mà kỹ. Hễ ai muốn đi là đi được.

– Vậy anh còn bảo thành lập ban Chống Càn làm gì nữa?

– Ở trên bảo làm là phải làm. Chớ nó bỏ bom mà chống cái nổi gì?

Vài hôm sau Ban Chống Càn được thành lập. Trưởng ban là một ông trong Ban Giám Đốc trường Pháo, phó ban gồm có đại diện của các trường Bộ Binh, Ban Binh Vận, Xưởng may quân trang, K71-B tức là bệnh viện chung cho vùng này, tôi gặp lại Hải Trường Sơn..Vừa chạm mặt, tôi hỏi ngay:

– Mày có tin tức gì ở R không?

Nó lắc đầu và chỉ đáp bâng quơ:

– Tôi nghi là bữa đó ông Bảy Đậu dắt phái đoàn đi thẳng một mạch về R. Nói vậy là hiểu rồi.

Tôi làm thinh. Sau đó tôi đi gặp Lê Xuân Chuyên, vô K71-B, xuống xóm Rẫy để hỏi dò tin tức nhưng ai cũng nói không biết (hoặc biết mà không nói). Tôi ở đây chờ quyết định chính thức của ông Tư Khanh để về Củ Chi. Trường trại, sau khi học sinh đi, trống hoang trồng thật là buồn thảm. Chúng nó còn ở thì sợ B52, nhưng chúng nó đi rồi thì buồn vô kể.

Tối ngày tôi chỉ đến chỗ con Huê để chơi với thằng bé. Nó tên Bình. Tôi đoán là bố nó , thằng Tỷ, chán ngán chiến tranh (hai cuộc) nên khi nghe vợ đẻ thì bảo đặt tên Bình tức là Hòa Bình. Tôi bế nó. Tôi càng thấy hạnh phúc của kẻ được làm mẹ làm cha. Nó không nói gì với tôi cả. Chỉ ư e nhưng tôi nghe ra hình như nó muốn hỏi: Ba cháu đâu? vậy. Tôi nhớ ra người chiến sĩ bất hạnh trên đường Trường Sơn. À, hắn tên Hoàng Đình Khiếu, quê Hải Dương. (Đến nay đã ba mươi năm rồi, không biết gia đình anh có nhận được giấy báo tử chưa?) Tội nghiệp! chắc hồi đó trong đám bốn đứa con của y đã có một đứa hỏi mẹ nó: Ba đâu? như bé Bình bây giờ. Bé Ngà con Sáu Ngọc, bé Rớt con cô Là, bé Ngà con Ba Chí, tất cả trẻ con trong chiến tranh Miền Nam đều như thế cả . Không đói khổ thì cũng mồ côi. Bọn Hà Nội không chịu thấy việc này của dân Miền Nam. Chúng nó ở trong villa, trong dinh Toàn quyền nhắm mắt xúi dân Miền Nam nhào vô giải phóng trong khi thực sự nó đã được giải phóng rồi. Còn Hà Nội vào thì chỉ đem lại xiềng gông.

Một hôm Bùi Khanh đi săn đem về được hai con mễn. Anh bảo đám thanh niên đi theo anh ra rừng. Tôi cũng đi theo, tưởng rằng ngoài đó có nai to. Quả thật ra đến nơi thì gặp một chú nai nhưng là nai tơ. Nó nằm bên gốc cây mà thấy người tới không chạy. Bùi Khanh bảo:

– Nó vừa đội B52 chắc.

– Giỡn hoài anh!

Bùi Khanh trỏ tôi xem con nai chỉ có ba chân. Anh nói:

– Nó bị thương ở đâu không biết rồi lết tới đây kiệt sức.

– Ba chân mà chạy được à ?

– Nai là chúa chạy ba chân. Tao kinh nghiệm thấy khi mình đuổi nó thì nó phóng có ba chân còn một chân thì co lên cầm lái. Với cái bộ chạy này mình vô phương đuổi kịp.

Tôi ngồi xuống xem. Cái chân phải bị cắt ngang đầu gối. Vết thương còn mới, máu chảy đầy đất. Tôi nói:

– Hổng biết nó bị thương ở đâu?

Một cậu thanh niên giục:

– Thôi mình khiêng về làm một bữa.

– Đừng ! Đừng ! B ù i Khanh khoát tay – Muốn ăn tao bắn con khác cho mày ăn. Còn con này mình phải thả.

Nói xong anh lấy băng cá nhân (mỗi người đều có một cuốn đeo trong lưng) bảo cậu thanh niên băng vết thương cho con vật.

Anh bảo:

– Tao muốn đem về nuôi cho nó lành rồi…

– …ăn thịt hà? – Cậu thanh niên hỏi.

– Không, nuôi cho lành rồi thả nó đi.

Tôi chợt nhớ, một lần Bùi Khanh tâm sự với tôi rằng ông ngoại anh là điền chủ, bác anh là Cai tổng. Ông ngoại anh đã cất ra một cái thánh thất Cao Đài. Phải chăng tinh thần tôn giáo đã ăn sâu vào anh từ thuở bé mà tới giờ vẫn còn đọng lại và chủ nghĩa Mác không xoá được. Chúng tôi nghe lời Bùi Khanh, chặt đòn khiêng chú nai về nhà và săn sóc.

Chuồng nai trở thành cái câu lạc bộ con con cho đám con nít. Huê cũng bế thằng Bình ra cho nó xem con nai. Trong balô tôi còn một hộp sữa quảy từ trên Xóm Giữa về đây, định bụng cho Bùi Khanh bồi dưỡng. Đúng ra anh đâu có già cả gì. Chưa đầy bốn mươi, nhưng đầu tóc bạc sớm và cuộc sống ở rừng ác nghiệt quá, nên trông anh như năm mươi. Tôi đưa hộp sữa cho anh và nói đùa:

– Bà khu ủy gởi tặng anh đấy.

– Của ai chớ của bả uống chua lòm! Đem ra con Huê nó khuấy cho thằng nhỏ uống. Từ đẻ ra tới bây giờ có biết miếng sữa nào vô miệng.

Một buổi tối hai anh em ngồi uống trà, anh lại nhắc:

– Mày lên trển không có gặp bà bàn nạo của xứ tao à?

– Bà bàn nạo nào?

– Cái thằng! Lên R mà không gặp thì còn gặp ai. Trên đó có một bà thôi chớ mấy bà?

Tôi mới vỡ lẽ ra. Tôi cười:

– Có thấy nhưng không có tiếp xúc.

– Chỉ đứng xa xa nhìn thôi hả?

– Cũng như hồi ở trong Nam mình tưởng ra Bắc chắc gặp cụ Hồ, cụ sẽ vò đầu từng đứa. Chẳng ngờ ra Bắc cũng như ở trong Nam, từ xa tới xa, xa hơn nữa. Bộ anh quen với bả à?

– Có chớ sao không !

-Nói vậy anh cũng được lây chút hơi hám… hắc hắc xì!

Không rõ con bồ hóng nào bay vô mũi làm tôi nhảy một phát muốn đi luôn cái nắp nhạo. Bùi Khanh nói:

– Hồi đó bả làm đoàn trưởng Phá Nò Cắn Q của ông Bảy Phong Vân.

– Ủa ở đó cũng có một ông giống Bảy Rừng Sát nữa à?

– Không. Xứ tao không có Rừng Sát, chỉ có rừng Chà Là. Nhưng không có ông Bảy Chà Là. Chỉ có tờ báo Hi Sinh do ông Hồ Văn Thoại làm chủ nhiệm. Ông này cưới bà Sáu Nết cán bộ của bả . Khi bả lên làm chức Phó Cối của R thì bà Nết thay chân bả.

Tôi hỏi:

– Tôi nghe nói chồng bả cấp dưới bả hả anh?

– Ông ta chỉ là cán bộ Nông dân Cứu Quốc tỉnh thôi.

– Hồi đó bả có làm khó chồng bả không?

– Làm khó cái gì?

– Người ta đồn là ổng đến thăm bả , bả không cho vô văn phòng, phải chờ ở ngoài trạm.

– Họ thấy ông cù lần thì bày chuyện vậy thôi ! Cũng như bây giờ họ lại bịa ra một chuyện là có lần ông nông dân lên R thăm bà phó tư lệnh. Bà Phó bảo căn cứ bí mật, không cho vô ông ta đành ôm… hận trở về.

– Có chuyện đó nữa à?

– Người đời lắm mồm bày đặt ra để nói xéo bả chơi. Là vì bả là loại quần vận yếm rơi… ủa, quần vận yếm mang mà lại ngồi chò hỏ trên đầu bọn mày râu, cả đám trí ngủ Sài gòn chắc là bất phục bả, nhưng không dám nói ra. Theo tao nghĩ bả có một cái khuyết điểm lớn…

– Sao anh thấy được?

Bùi Khanh trừng mắt:

– Mày lại lái câu chuyện vào tiếu lâm, một khuyết, hai u hả ? Bả chỉ có một khuyết điểm là nhận một nhiệm vụ mà bả không làm được, nhưng vẫn cứ lãnh như thường.

Tôi cười:

– Anh binh gà nhà quá đi, tôi không dám động tới bả nữa, nhưng còn một chuyện vui lắm. Trên R ai cũng biết nhưng làm bộ như không biết.

– Chuyện gì?

Tôi rỉ tai Bùi Khanh. Bùi Khanh gật lia:

– Chuyện đó thì tao hết có binh nổi.

– Nhưng anh đừng có nói với ai mà tôi đứt đầu nghe !

Bỗng nhiên nghe như bão tới. Tôi nhào xuống đất và kêu:

– Bê năm…

Ầm… ầm… ầm!… Tiếng nổ như pháo tre tiếp theo. Tôi lúc nào cũng chuẩn bị đội bom B52 nên rất nhạy và rất bình tĩnh. Rồi nghe như trời đánh trên nóc nhà, tôi nắm chân bàn, chân bàn run. Tôi bò trên mặt đất, mặt đất sàn qua sàn lại như đưa võng. Tôi la: Chạy ra hầm! nhưng tiếng bom càng nổ liên tục chát chúa cả màng tai. Tôi thò tay vào ba lô móc được cái đèn pin. Xẹt lên và chạy ra hầm. Những tuyến hầm dài do học sinh đào trước đây, nay trống trơn. Chỉ vài ba chục nhân viên và mấy gia đình như cái nồi chỉ có mấy hột gạo.

Vừa dứt loạt bom, tôi la lên:

– Chạy ra hầm. Có ai bị thương không?

Không có tiếng trả lời. Vài ánh đèn pin nhoáng lên. Có tiếng quát: Tắt đèn . Tiếng con nít khóc ré . Tiếng la í ới không rõ nghĩa gì. Có tiếng chửi thề: Đ.m. Bê năm hai!

Chỉ vài chục giây lại… ầm… ầm…

Tôi đã vượt được ra giao thông hào, bò dưới đáy hào ngập nước. Mệt muốn đứng tim. Đất rải trên lưng từng mảng lớn. Tôi lại bò, không đụng ai cả.

Lại dứt loạt. Tôi ngóc lên. Không khí khét nghẹt. Nghe e… e… e… trong lỗ tai. Một tiếng kêu bật lên :Chạy! chạy! tránh làn bom. Tôi quát: Biết đâu mà tránh! Nằm lại đó.

Từ trên đồi nghe ào ào như bão đến. Cây lá cuốn răng rắc. Bom hú như xé lụa. Lại ầm ầm. Tôi không còn nghe gì, không biết tôi đã làm gì trong đợt thứ ba. Một chập. Không biết bao lâu. Không nghe gì nữa ngoài tiếng e e trong không khí và tiếng rơi của đất đá lộp độp . Tôi bò lên. Một bàn tay kéo chân tôi, một giọng run run:

– Khoan đã anh Hai. Nó còn bỏ nữa đó.

Tôi sụt xuống. À ra thằng Thới Giám đốc Công xưởng đẽo máy bay gỗ. Thới run lập cập như bị mắc mưa.

– Mình chạy được không anh?

– Chạy đi đâu?

Tôi chụp đèn pin xuống đáy hầm, bấm công tắc

– Hả hả…

– Anh em có xuống hầm được không?

– Tôi chắc nó còn bỏ nữa.

– Gò má sao chảy máu vậy?

– Má tôi đâu có lên….

Tôi biết thằng Thới bị vỡ tai rồi nên trả lời ăn trét. Bỗng nghe tiếng Bùi Khanh:

– Đi tìm coi ai có bị thương không?

Đèn pin quất qua quất lại loạn. Tôi nghe rõ tiếng Tư Thịnh quát:

– Tắt đèn! B52 nó trở lại bây giờ.

– Ông nội ơi ! B52 nó bỏ bom theo ô trên bản đồ chứ nó không có cần đầm già chỉ điểm đâu!

– Không được bấm đèn.

Tôi đành nghe theo ông Hiệu trưởng gốc đánh xe ngựa ở Hốc Môn. Trời tối ngửa bàn tay không thấy. Tiếng đàn bà léo nhéo lẫn tiếng khóc nổi lên như ri làm cho cái hoạt cảnh B52 càng thêm hãi hùng. Tôi rứt tay thằng Thới bò lên. Bùi Khanh la to:

– Đi tìm coi ai bị bom vùi móc lên trước.

– Có sao không?

– Có đứa nào bị gì không?

Những câu hỏi nổi lên rân ran. Ba Ân, phó hiệu trưởng, đi tới trước mặt tôi, bảo:

– Thằng nào có đèn xẹt lên coi.

Tôi bấm đèn lên. Trán Ba Ân rách một đường ngay chính giữa. Máu chảy xuống mặt đỏ lòm. Tôi quát.

– Y tá đâu?

Ba Ân xua tay:

– Không nặng lắm.

– Anh bị thương ở đâu vậy?

– Tôi cũng không biết ở đâu!

Ba ân vừa thở hổn hển vừa nói. Rồi cứ để mặt mày như vậy đi quanh các hầmh và giao thông chổng mông xuống, gào:

– Có đứa nào bị thương dưới đó không? Có thằng nào dưới đó không?

Tôi xách đèn pin đi sau lưng rọi cho Ba ân bước. Y càu nhàu:

– Xài đèn như vậy nguy hiểm lắm.

Tôi không trả lời. Đi một lúc thấy có hai người đàn bà ngồi ở gốc cây sau văn phòng, người này phủi đất trên lưng người kia. Chợt nhớ tới con Huê và con Tiến lúc nãy đang nấu nước cho tôi uống trà, tôi bỏ Ba Ân, đi vô bếp. Tôi suýt bật cười. Con Tiến chui vô cái lò dùng nấu cơm. Còn con Huê thì chui vô cái lò dùng nấu nước. Hai bộ chân còn thò ra ngoài. Tôi quát:

– Đi ra, hết bom rồi!

Kêu ba bốn lần mới thấy hai cây thịt nhúc nhích. Tiến lùi ra trước rồi tới Huê. Đầu cổ đầy tro than, mặt mũi lọ lem.

– Chui đi đâu vậy.

Tiến nhào tới ôm tôi. Tôi biết cô nàng vùn vằn với thằng Quân, không chịu xáp mạnh, mặc dầu đã hứa trước mặt ông Năm Kiên, trưởng ban tổ chức của nhà trường rồi và lại có cảm tình đặc biệt với thầy Hai, nhân cơ hội này nàng có thể tỏ tình táo bạo, nên tôi né sang bên. Huê ngơ ngác:

– Con tôi đâu rồi?

– Trời đất, con mày mà mày vứt đi đâu?

– Em còn không nhớ em nữa mà .

Tôi quất đèn pin chung quanh bếp. Thằng bé đang nằm dưới bàn ăn hai tay kềm chân mặt vào mồm để bú ngón cái. Thấy ánh đèn nó cười nhe cái nướu đỏ tươi. Tôi quát Huê:

– Lại ẵm nó. Sao đứng chết trân đó, con quỉ.

– Hả .

– Con mày kia kìa.

Huê từ từ bước lại khom lưng bê thằng bé ra. Nó không khóc la gì hết ráo. Nó không sợ B52 chút nào. Hóa ra nó anh hùng hơn các chú các bác nó.

Tôi đi xuống phân khoa DKZ. Ban huấn luyện đang ngồi tán gẫu. Thấy tôi, một cậu hỏi:

-Nó bỏ ở đâu thầy?

– Không biết. Nhưng trong địa điểm mình không bị một quả nào. Nếu ban ngày tôi nhìn đồng hồ có thể biết khoảng cách là bao xa. Nhưng ban đêm nghe tiếng nổ cũng biết được nó bỏ cách đây chừng năm cây số.

– Năm cây số mà vậy đó, nếu ngay thì cỡ nào?

– Nếu ngay thì hết xương chớ cỡ nào. Đốt đèn lên coi!

– Ông hiệu trưởng cấm. Ổng bảo đốt đèn B52 ngó thấy nó chụp hình.

Tôi suýt bật cười:

– B52 không có làm ba cái vụ đó. Nó rải bom theo tọa độ nó không hề thấy mục tiêu nó bỏ bom mà nó cứ chơi theo ô trên bản đồ . Xong rồi là nó đi luôn không có chụp hình chụp ảnh gì đâu mà sợ. Có sợ là sợ nó chơi tới mình đấy thôi.

Bỗng có tiếng bàn tán ngoài đường:

– Bà bầu xảo thai!

– Hai ba bà, biết bà nào?

– Nghe nói vậy, không biết bà nào!

Thôi cũng được chưa đến nỗi gì cho lắm. Cũng như nó dượt sơ cho mình vậy. Lần tới, nó có đến thì mình bình tĩnh hơn. Đây là một sự thử thách Ban Chống Càn hay Ban Bò Càn cũng thế. Ai nấy đều biết vùng bị bom cơ quan nào đóng, nhưng không ai nói ra. Đêm đó không ai ngủ. Từng nhóm, từng nơi, người người xanh mặt, nhà nhà dớn dác, ngành ngành hoang mang, ta nhất định mếu, địch nhất định phang. Mặc dù cái chết lởn vởn trước mắt, tôi mừng vô kể: học sinh đã tản đi hết rồi. Mong sao đầm già biết rõ điều đó để báo cáo với hạm đội 7 đừng bỏ bom xuống đây giết đám đàn bà trẻ con và đám đàn ông đã mất vía này.

Theo cấp bậc, tôi được ưu tiên ngủ giường và có phòng riêng, nhưng đêm nay tôi không dùng cái ưu tiên đó. Tôi ra ngoài giao thông hào mắc võng ngủ gần Bùi Khanh để tâm tình về đại hội trên R và về những chuyện tôi cần nói với anh trước khi tôi lãnh công tác Củ Chi. Vừa nằm xong, tôi nói:

– Tôi đi kỳ này cũng như An Lộc Sơn đi trấn nhậm Bình Lư anh ạ .

– Sao vậy?

– Thì vậy chớ sao!

Tôi kể anh nghe về tình cảm của tôi với Thoa hồi thời kháng chiến và các cô nữ sinh ở R vừa rồi. Bùi Khanh bảo:

– Con trai tốt mã như mày cũng sướng mà cũng khổ lắm. Như tao vầy khoẻ ru. Chẳng con khỉ cái nào thèm ngó nữa là đàn bà con gái.

– Anh kén quá trời mà .

– Lấy vợ thì phải chọn người cho vừa ý chớ đâu có thể quơ ngang bắt hụt được chú em.

Tôi định gạ lại vụ bà Chín Việt, vợ của một tiểu đoàn trưởng chết ở trận đánh đồn Bổ Túc năm 1963 nhưng biết anh khó tánh trong vấn đề phụ nữ, vậy hốt ổ là chuyện không thể chấp nhận được với anh, nên lãng sang chuyện săn bắn. Hai anh em đang nghiên cứu về vết thương của chú nai thì bỗng có tiếng la thất thanh, không cần biết lý do gì, hai đứa nhào đại xuống hào. Bùi Khanh còn ló đầu lên.

– Chắc B52 quá mậy.

Thấp thoáng trên mặt đất những bóng người lao xao và tiếng kêu hốt hoảng. Nhưng một chập, không thấy gì hai đứa bèn vọt lên bờ tìm lý do. Thì ra một anh chàng đang ngủ rồi mớ. Mấy người bên cạnh cứ vùng dậy vừa chạy vừa la: B52, B52. Thế là cả khu vực chạy thục mạng nhảy xuống giao thông hào. Trở lại võng, tôi nói với Bùi Khanh:

– Hồi ở trên Trường Sơn tôi từng gặp một chiến sĩ sống sót sau trận B52. Trong khi hành quân, đồng đội cứ phải buộc dây vào tay anh ta rồi dắt đi theo. Nếu không anh ta cứ chốc chốc lại kêu lên: B52! B52! rồi chạy ào vô rừng. Phải gian khổ lắm mới bắt anh ta lại được.

– Ối! những trường hợp như thế có thiếu gì ở trong K71 của mình. Bữa nào rỗi, mày hỏi con Huê nó kể lại cho mày nghe. Nó vô nằm trong đó có một tuần để sanh thằng nhỏ mà bị chạy xịt B52 ba bốn lần. Đó là các cha đánh Bình Giả bị thương về nằm trị thần kinh.

– Tụi mình rồi cũng sẽ đau thần kinh như vậy hết.

Qua một đêm kinh hoàng, sáng ra mặt mũi người nào cũng phờ phạc như già đi cả chục tuổi. Tới trưa, sau khi cơm sáng xong, con Tiến đem cho tôi hai bức thư. Nó cười bảo:

– Không có thơ chị Thu Hà đâu.

– Cô không phá tôi nữa chứ?

– Em biết anh dính với chỉ chắc quá rồi, không thể gỡ ra được nữa, nên em hết phá.

Tôi nhìn phong bì, một của Thanh Tuyền và một của anh Ba Thắng. Ba Thắng nói gì thì tôi đã đoán biết rồi nên tôi khui thư Thanh Tuyền đọc trước. (Đến nay đã ngót ba mươi năm mà khi nhớ lại, tôi thấy như những dòng chữ còn lao xao trước mặt tôi.)

Anh thân yêu,

Anh bây giờ ở đâu? Còn em thì hú hồn hú vía. Em vừa trải qua một cuộc lội rừng gai quào nát mặt hết trơn. May mà còn sống để viết mấy dòng này cho anh. Tại anh pháo kích Biên Hòa cho nên nó mới trả đũa như vậy đó. Ông Tưởng cháy hết mặt mày. Chi Ba Khoan sẩy thai nhưng còn sống. Chú Năm Danh, chú Chín Mỹ, chú Bảy Đậu, chị Hai Nhơn đều đi nhà thương chắc lâu lắm mới khỏi.

Riêng chị Huỳnh Mai, chị Trúc, chị Cúc đều đi công tác xa chắc không trở lại nữa. Tội nghiệp chị Huỳnh Mai biết bao nhiêu. Chỉ về đem theo quà của anh tặng cho mỗi đứa em. Em không ngờ anh tế “nhụy” đến như thế. (Thanh Tuyền viết sai chính tả chữ nhị”) Chúng em vui vẻ nhận quà và từng món nhận được mà đoán xem anh thương đứa nào nhiều. Riêng chị Huỳnh Mai thì không tranh giành tình cảm của anh. Chỉ biết anh đã yêu em. Chúng em chỉ vui với nhau được ba ngày rồi sau đó, . . . . bây giờ thì còn lại có mình em.

Anh yêu, em biết anh ở cách em chỉ một ngày đường thôi. Nhiều lúc em muốn đi đại ra khỏi chỗ này để tìm anh, nhưng em sợ rủi ro, tụi Đồng Thổ nó bắt được con gái thì nó không tha. Em đòi ba em kêu anh về trên này công tác, ba em cứ bảo để thong thả… Hổng biết bao giờ anh trở lên đây. Nếu anh trở lên, anh sẽ không về được nữa. Em dại quá, hôm nọ giá mà em đi với anh có phải bây giờ không hối tiếc không!…

Tôi không đọc nổi nữa. Hôm nọ tôi đã đoán trúng, nhưng trước mặt thằng Hùng và thằng Cử, tôi cố gạt phắc. Bây giờ thì vĩnh biệt Huỳnh Mai rồi. Người con gái hiền lành, thâm trầm và duyên dáng. Nếu Thu Hà có mệnh hệ nào thì tôi sẽ cưới Huỳnh Mai, không ngờ Huỳnh Mai đã không còn trên cõi đời này nữa. Ôi! Huỳnh Mai sao em vắn số vậy? Mới ngày nào đây anh vừa bắt đỉa cho em.

Tôi đã mất hết hồn vía. Tôi nằm vùi và bịnh luôn. Cơm nước không ăn, cũng không ngồi dậy. Bùi Khanh tưởng tôi sốt nên bảo y tá đem quinine đến cho tôi. Tôi nhận nhưng khi hắn vừa đi thì tôi vứt. Không có ai hiểu căn bệnh của tôi.

Không có ai trị được bệnh tôi. Chiến tranh ác thật. Thế mà bác đảng tưởng vui lắm, nên cứ ở trong villa mà hối thúc dân Miền Nam: Thừa thắng xông lên! Xông đến đâu nữa chứ?

Nước mắt tôi ứa ra . Tôi muốn vùi mình trong biển đau thương.

Một buổi chiều, khi tôi tỉnh dậy thấy một chén cháo bốc hơi ở đầu giường. Một người đàn bà xuất hiện. Tôi khẽ gọi:

– Chị Chín !

– Anh bịnh thương hàn đó . Vì dầm sương quá nhiều nên ngã bịnh. Em nấu cho anh chén cháo bỏ tiêu thật nhiều. Ăn xong anh trùm khăn kín, đổ mồ hôi, lau khô là nhẹ mình lắm.

Chị Chín Việt, người đàn bà có người chồng là tiểu đoàn trưởng chết đã ba năm. Lúc đó bà có thai. Sao hôm nay trẻ thế? Và lại xưng em với một kẻ luôn luôn coi chị là bà chị lớn. Từ hôm tôi về đây, chị không hề xuất hiện. Và tôi cũng không còn nhớ là chị đã từng ở đây và quả tình tôi cũng không có để ý tới người đàn bà bất hạnh này cho lắm.

– Anh đừng gọi em bằng tên cũ nữa. Gọi em là Mai Khanh. Đó là tên của em. Anh ăn cháo nóng đi.

Tôi cố húp vài muỗng, thấy ngon và ăn hết chén cháo.

Quả tình tôi thấy khoẻ lại. Ăn xong thì võng đòn tới. Bùi Khanh bảo:

– Lên võng cho tụi nó đưa đi nhà thương.

Tôi chống chế, nhưng Bùi Khanh nhất định cho tôi nếm mùi bệnh viện:

– Mày bị thương hàn. Tao biết. Y tá bảo nhiệt độ mày cứ lên cao hoài hoài. Hồi trước tao đã từng bị một trận ở U Minh. Sốt đến độ bò ra mương uống nước rồi nằm đó luôn. Mày vô trỏng cho y sĩ săn sóc, thằng Hoàng Anh y tá ở 307 hồi trước về làm y sĩ trường. Nó nhắc mày luôn. Ở nhà ăn bậy bạ lũng ruột chết.

Mai Khanh gói ghém ba lô và đỡ tôi lên võng. Ôi bàn tay của một người đàn bà goá chồng. Ôi chén cháo cay mà ngon quá chừng.

Năm sau, Mai Khanh tìm tôi ở tận Củ Chi trong cảnh khói lửa bời bời. Những cái hôn khét lẹt mùi thuốc súng và không còn một chỗ để nằm yên. Tâm tình trong tiếng gầm của B52.

Chương 24
Về triều đình lãnh thánh chỉNhạc sĩ Chô-pin ???

Một buổi chiều nắng nhạt tôi từ giã bệnh xá của thằng Hoàng Anh trở về trường nằm chờ quyết định của U80 đặng về Củ Chi. Tôi đi thất thểu theo con đường rừng. Lá cây non trổ xanh mướt hai bên đường. Lá thư của anh Ba Thắng cho tôi biết quyết định của Bộ chỉ huy R đã ký xong đang trên đường xuống trường pháo.

Dưới cùng tờ giấy có mấy đòng của Ba Ánh:

Anh Hai thân yêu,

Em suýt bệnh kỳ vừa rồi. Cơ quan bị bão to làm sập hết. Mấy chị đều đi công tác ở xa chắc không bao giờ trở lại nữa. Chỉ còn có một mình chị Thanh Tuyền ở lại đó mà thôi. Em sẽ đi theo chú Ba về I/4 nhận công tác mới.

Mong gặp lại anh ở vùng đất Thép Quê Hương.

Em: Ánh.

Lại gặp ở Củ Chi. Lại cùng nhau đội B52 ở Củ Chi.

Mới xa nhau đây tường chừng như cả năm đã trôi qua. Ông Đồng bảo là ở chế độ ta một ngày bằng hai chục năm mà. Họ nói phéc không thể tả được. Có thể chữa lại là miền Bắc xã hội chủ nghĩa sống hai chục năm chỉ bằng một ngày ở nơi khác. Bằng chứng là mười năm xã nghĩa có bước tới được bước nào đâu. Còn miền Nam trong thời chống Mỹ, ăn bom đạn một ngày bằng mười năm kháng chiến chống Pháp.

Tôi về đến trường pháo thì đã tối mịt. Ban Giám Đốc quyết định làm một bữa liên hoan tiễn chân tôi. Nhưng tôi bảo khoan đã vì tôi muốn đi ngay lên U80 để lấy cái quyết định, kỳ thực là tôi muốn lên đó gần R hơn để hỏi thăm tin tức về vụ nọ .

Thế là hai hôm sau tôi vác ba lô đi U80. Nhà trường cho Huỳnh Châm và Võ Sâm đi theo tôi để lãnh đạn pháo. Hai ông con mắc tội khổ sai này đã lao động sản xuất đoái công chuộc tội ở rẫy tự túc của Sáu Ngọc. (Châm thì bắn chết một chuẩn úy mới ra lò trong một cuộc săn thú ban đêm để lấy thịt đãi ông Chánh ủy Tư Khanh. Sâm thì mắc tội hoa lá cành với một cô em dân công tiền tuyến ở Bình Giả). Nhờ tôi tích cực bênh vực mà cả hai chàng được phục hồi chức vụ cũ .

Như thằng Hùng nói, U80 đã rời Suối Dây về đóng ở một cái trủng nước để tránh sự dòm ngó của B52. Cho nên bây giờ phải đi lên cái nhánh của sông (suối Tha La).

Huỳnh Châm bảo:

– Mình lên đến ngã ba suối đi lên chừng ba trăm thước có đường mòn bên trái cứ đâm thẳng lên chừng một buổi thì đụng căn cứ mới.

Tôi hỏi:

– Ở dưới trủng như vậy làm sao đào được lò Hoàng Cầm mà giữ khói? Đất ướt càng ung khói, sớm muộn gì cũng bị phát hiện.

Hai đứa nó vào xin chữ ký của Tham mưu trướng Năm Kiện rồi qua hậu cần lãnh đạn. Năm Kiện vốn là Trung tá từ ngoài Bắc, nhưng là học trò pháo binh của tôi nên vẫn gọi tôi bằng thầy. Thấy ông nay đầu bạc trắng nên tôi gọi ông bằng chú. Mới vừa chạm mặt ông đã khôi hài:

– Thầy Hai về F351 của tôi hả ?

– F351 thì ở Lý Nam Đế Hà Nội chớ sao ở đây chú Năm.

– Thầy ở trường pháo nên không hay những sự thay chủ đổi ngôi. Ngoài kia là F351A, còn đây là F351B. Tôi mới mua mấy con kỳ đà…

Tôi nói cắt ngang.

– Thứ đó ăn xui thật chú Năm.

– Tôi cũng tin như vậy nên tôi thả hết rồi. – Chú khom tới rỉ tai tôi – Dân ngoài triều đình vô đông lắm rồi. Chốc nữa thầy xuống dưới lán thì thấy bọn nó nằm lễnh nghễnh như chuột trong hang.

Nghe chú nói, tôi chán ngán quá chừng. Đó là công thức. Bước đầu khai phá là dân Nam kỳ đi trước càn bờ lướt bụi. Khi thành khoảnh rồi thì dân cá rô cây và rau muống nhào tới. Thời kháng chiến chống Pháp, dân Nam kỳ đã tạo lập xong lực lượng vững chắc thì dân Pắc Bò Lạc được gởi vô cầm chánh quyền. Không có một anh Nam Kỳ nào làm được tư lệnh hoặc chánh ủy. Bây giờ cũng thế. Những người đầu tiên mở đường Trường Sơn là dân Nam kỳ . Trong đó phải kể Lê Quốc Đăng, khi xây dựng xong cơ sở thì các cục quan trọng nhất nằm trong tay Bắc Kỳ . Cuối cùng, bây giờ toàn bộ chỉ huy quân giải phóng là dân Triều Đình. Nay mai giải phóng xong, từ chủ tịch thành phố Sài gòn đến tổ trưởng hợp tác xã cũng lại là giống dân đó. Nam kỳ chỉ được cái chức phó thôi. Phó cối, phó nhòm, phó nháy, phó may, phó ngáp…

Nếu bất mãn bỏ đi, thì chúng sẽ thiếm xực luôn. Thế.là thằng còng làm thằng ngay ăn.

Chú Năm tiếp:

– Cao xạ đã tách ra thành phòng cạo xạ do ông thiếu tá Bạch làm trưởng phòng. (Nói cho oai vậy thôi chớ tôi biết có vài ba cây 13/2, 12/3 cũ từ thời Pháp bỏ lại). Một ông thượng tá được bổ sung làm phó tư lệnh U80 mình. Ông ta tên Phúc, mới học ở Trung Quốc về . Ngoài ra còn hai chục dân đằng mình được R bổ sung về đây để nắm toàn bộ binh chủng pháo. Ba cái anh học trò của trường pháo thầy vừa đào tạo và cả thầy lẫn bọn Nam Cờ của mình cũng y như cái F351 ngoài kia thôi, nghĩa ‘là ngồi chơi xơi nước.

Chú Năm là một ông già bất mãn kinh niên trước sự lấn lướt của dân triều đình, nhưng từ ngoài Bắc vô đây chú không bao giờ hở miệng. Bữa nay phát ngôn trắng ra như thế là đã quá lắm rồi. Chú lấy bình toong rót cho tôi miếng trà còn âm ấm, đưa cho tôi:

– Uống đi, rồi tôi bảo tụi nó đưa cái quyết định cho thầy. Ông Tư Khanh vừa ký xong. Thầy bỏ túi rồi vọt nhanh đi, càng sớm càng tốt. – Chú lại rỉ tai tôi – Còn ông Tư Khanh chắc cũng sẽ ra rìa. Nè ! Tư Quảnh và Ba Tô đã rửa chân leo lên bàn thờ ở Phước Long rồi.

Tôi đứng dậy bắt tay chú Năm và hỏi:

– Cả hai ông Tham Mưu phó của U đi một lúc? Rồi ai thay?

– Ai vô đây mà hỏi! Thôi đi đi. Thà là đầu gà hơn là đuôi rồng.

Tôi đi theo con đường mòn ven bờ suối theo sự chỉ dẫn của chú Năm. Thấy một ngôi nhà lá chấn song có vẻ khang trang lắm thì tôi chắc là ông tân Phó tư lệnh U80 đang nghiên cứu hất cẳng ông Tư lệnh Nam kỳ Hai Nhã ở trong đó . Đúng như tôi dự đoán. Đó là văn phòng của thượng tá Phúc. Ông ta tóc hoa râm hớt cao mà bọn tôi thường chế diễu là kiểu su hào. Tóc hoa râm, râu quai nón cạo nhẵn nhụi, mũi cao da trắng, chứng tỏ ông không lội Trường Sơn hoặc bị muỗi đòn xóc ban cho nhiều liều ân huệ. Đang viết, nghe tiếng động, ông ngẩng lên:

– Cậu ở trường pháo mới về phải không .

Tôi bước tới còn cách ông năm bước thì đứng lại dập chân, giơ tay chào theo lối chánh qui xưng tên, cấp bậc và nhiệm vụ ông đứng dậy bắt tay tôi và nói:

– Tôi, Nguyễn Bá Phúc, vừa đảm nhiệm chức vụ Phó Tư lệnh của U mình. Anh Tư và anh Hai công tác, giao quyết định cho tôi giao lại đồng chí.

Ông nói dăm câu khen ngợi trường pháo và khả năng của tôi, ông tiếp:

– Ở trên điều động cán bộ thì Bộ tư lệnh phải thi hành. Chứ thực ra, lúc này mà biến một giảng huấn Pháo binh ra chỉ huy Bộ binh thì quả là… chúng tôi tiếc quá.

(Tôi nghĩ thầm: Thôi ông nội ơi! Chúng con thừa biết chánh sách của ông mà. Ông đẩy tụi Nam kỳ ra chiến trường cho Mỹ khìa hết, để mấy ông chiếm ghế cho dễ chứ tiếc gì. )

Nói xong, ông móc túi lấy ra hai phong bì nhỏ và hỏi tôi:

– Cậu biết Trần Sơn Tiêu chứ?

Ông đã bỏ tiếng đồng chí để gọi tôi bằng cậu.

– Dạ tôi quen anh ấy hồi tôi còn là thiếu nhi. Lúc đó ảnh đã là tiểu đoàn phó .

– Vậy thì tốt quá Tôi biết thế nào cậu cũng đến phòng Tham Mưu I/4. Sơn Tiêu bây giờ tên là Năm Lê và làm Tham Mưu trưởng dưới đó. Đây là bức thư của tôi gởi gởi gắm cậu, còn đây là bức thư của vợ ổng ở Hà Nội nhờ tôi mang vào trao lại dùm. Anh Tư nói với tôi là cậu quen với Sơn Tiêu. (Sau này gặp Sơn Tiêu mới biết Phúc là anh vợ của ổng)

– Vâng. Chức vụ cuối cùng của anh là Trung đoàn trưởng Pháo binh F330.

– Cậu chưa có gia đình phải không?

– Dạ chưa.

– Thế mà khoẻ hơn bọn già này. Tôi có ba đứa con gái học ở Trưng Vương. Lúc tôi đi thì dân Hà Nội di tản về các tỉnh không biết mẹ con chúng nó đi đâu ! Tình hình găng lắm chúng nó đánh ra tới Hà Nội rồi. Cầu sập, phà hỏng hết cả. Hành quân khổ lắm. Toàn đi đêm nhưng phải cảnh giác triệt để. Chúng nó đánh cả ban đêm. Cầu Hàm Rồng, cầu Ninh Bình vừa mới bị đánh sập. Phà Ròn, Phà Sông Gianh, Phà Bến Thủy là điểm chúng tấn công thường xuyên . Trường Đại học Vinh đã bị đánh. Ga Vinh cũng. điêu tàn. Bao nhiêu năm xây cất đều tan nát hết.

Ông bắt tay tôi đưa tôi đi một quảng và dặn dò:

– Tình hình trong này sắp tới sẽ ác liệt vô cùng. Mình phải đương đầu với cả Sài gòn lẫn Mỹ. Mà phương tiện của mình thiếu quá sức. Tôi nhận nhiệm vụ nhưng tự hỏi: Làm sao thi hành?… Cậu đã rõ quá rồi chớ cần gì tôi phải nói ra…

Ông để lộ vẻ buồn trên nét mặt khi bắt tay từ giã. Ông vỗ vai tôi:

– Cố gắng nhé. Cẩn thận tối đa.

Tôi hứa hẹn khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng rồi đi. Về gặp lại chú Năm. Chú bảo ở lại sáng hãy về. Chú nói:

-Đi ban đêm gặp B52 nó rắc là nguy to.

Nhưng tôi cương quyết đi cho sớm, Châm và Sâm cũng đã xong công tác. Ba đứa trở ra. Lội qua con suối, Châm hỏi tôi:

– Anh có vô thằng Ngô Hùng không? Nó làm chủ nhiệm trinh sát của U mình.

Sâm gạt:

– Thằng đó chơi hổng vô, ghé làm gì? Từ hồi nó về Trung đoàn 204 pháo 152 đóng ở Ba Thá, nó nhập tịch Bắc kỳ luôn. Chơi với nó, nó toàn thủ thế. Kỳ này Bắc kỳ vô đông chắc hợp rơ nó lắm.

Tôi bảo:

– Không nên thành kiến như vậy. Lựa bạn mà chơi. Chơi bạn phải tùy tánh ý của bạn. Không nên bắt bạn phải theo mình.

Thế là ba đứa kéo vào. Trời đã tối, gặp bạn cũ lại có chỗ nghỉ ngơi thì còn gì bằng. Ngô Huy Hùng còn có biệt danh là Hùng móm, không phải Đoàn Hùng người Bến Tre ở đội Bảo vệ R tôi gặp vừa rồi ở trường Trung Sơ. Ngô Huy Hùng hỏi tôi ngay:

– Thầy định về R công tác hả ?

– Đi đất thép đây, R gì?

– Sao nghe người ta đồn thầy sắp làm rể ông Sáu Nam.

– Đồn vậy thôi.

– Không có lửa sao có khói?

– Lò Hoàng Cầm đâu có khói lên để đầm già phát hiện mậy!

– Nhưng mà thằng trinh sát này biết hết ráo.

Chợt thấy một hàng ống dòm máng trên vách, tôi hỏi:

– Ở đâu mày có thứ đó nhiều vậy?

– R mới cấp.

Châm hỏi:

– Cho mỗi người một cái được không?

– Có hai loại. Loại dành cho Tư lệnh, một dành cho cán bộ. Tao cho tụi bây loại cán bộ, còn thầy loại Tư lệnh.

– Tao mà tư lệnh ai?

– Nay mai thầy về Củ Chi chỉ huy Bộ binh thì là Tư lệnh chớ gì nữa ?

– Ừ, lấy cho tao đi.

Hùng lấy ba cái đưa cho mỗi người và bảo:

– Ở đây chơi một đêm thầy.

– Không được. Dân triều đình hay xài nguyên tắc lắm. Ở đây nhậu mang tiếng.

– Ở, thầy nói phải. Lâu nay tụi tôi cũng khớp mõm rồi. Thầy về I/4 coi có ghế ba chân nào trống xin tôi về hủ hỉ cho vui. Ba tên cọc cạch này sẽ tràn ngập cái U này nay mai đó.

Chúng tôi từ giã ông bạn trinh sát. Ra đến đường, Sâm móc đưa cho tôi một phong bì.

– Của ai vậy?

– Đọc thì biết.

Tôi xẹt đèn pin lên. Phong bì bằng giấy học trò dán cơm nguội, hột cợm lên. Không có tên người gởi cũng không có tên người nhận. Tôi xé ra, lấy thư vừa đi vừa đọc.

– Bộ anh nói gì với nó hay sao?

Tôi quát om lên:

– Nói gì? Tao như vầy đi phá đám tụi nó hay sao. Hôm trước nó ló mòi với tao, nó lấy thơ Thu Hà móc ruột ra và thay bằng lá thư của nó. Tao đã cảnh cáo nó rồi. Bữa nay lại còn bày đặt gởi thơ.

Thằng Sâm nói:

– Hôm anh đi vắng có thư của cô nào tên là Diệu Thúi.

– Mày không biết con Diệu Thúy à?

Sâm cười hềnh hệch. Tôi bảo:

– Vậy chắc mày cũng không biết cái hoa Champa luôn hả?

– Nếu tôi không vô đây thì tụi tôi đã có con rồi. Tôi tưởng cô ta ưng thằng trung tướng Koong Le rồi chứ. Ai dè cô vẫn xẻ trái tim cho tôi.

– Sao lại xẻ?

– Thì Văn Công nó vậy mà. Có bao giờ nó yêu ai trọn vẹn đâu anh.

– Bộ mày bảo người ta bắt cá hai tay à?

– Không phải vậy. Tôi muốn nói nàng ta chỉ dành một nửa cho tình nhân, một nửa cho nghệ thuật như đồng chí Tố Hữu nói trái tim anh chia làm trăm mảnh, chia cho mỗi em một mảnh gặm chơi vậy mà, hí hí!

– Thằng xuyên tạc nhà thơ dân tộc mậy!

Thằng Sâm trở lại vụ Diệu Thúy:

– Con Tiến mở ra nó xem coi con nhỏ Văn Công viết cái gì cho anh. Nó thấy con nhỏ xưng em nuôi của anh, nó hầm lắm. Rồi nó thấy tập nhạc con nhỏ tặng cho anh, nó càng hầm hơn nữa. Chắc nó nhóm bếp chớ nó không có đưa cho anh đâu. Nó cứ theo cạch tôi hoài. Nó nói bộ anh dính với mấy bà Văn công rồi hả?

Cà rịch cà tang, mấy hôm sau mới về tới trường pháo thì thấy nhà cửa trống hoang. Hỏi ra mới hay rằng tất cả đã sát nhập vào K71-B của thằng Hoàng Anh. Bọn tôi bèn kéo vô đó luôn. Có cái quyết định bỏ túi rồi muốn đi ngao du mấy ngày mà không được? Tôi rành đường nhờ chuyến dưỡng bịnh kỳ rồi nên đi thẳng một hơi tới đó. Dọc đường thằng Châm mua mấy con kỳ đà và mấy con gà . Tôi bảo kỳ đà ăn xui lắm, nhưng nó bảo ăn thịt nai cũng xui vậy, bằng chứng là nó bắn chết thằng Liêm và bị khổ sai mấy tháng. Cho nên nó cứ mua. Bọn đàn bà con gái cho vô bệnh xá học y tá. Tiến, Huê và Mai Khanh ở chung trong một cái nhà nhỏ ở ngoài này đi vào đụng ngay. Tôi hỏi Tiến:

– Ở nhà có bị trận B52 nào không?

Tiến cười:

– Anh hổng có biết gì hết trơn á .

– Thằng Quân nó về anh mét nó cho em biết!

– Em không có sợ đâu. Em sẽ nói ảnh trước.

– Nói cái gì?

– Nói gì nói kệ em.

– Đừng có đứng núi này trông núi nọ ! Em không thấy con Huê với thằng Tỷ đó sao? Hai đứa có con sống hạnh phúc với nhau.

Tiến bĩu môi:

– Hạnh phúc… dữ… ữ!

Thằng Sâm xen vào:

– Ông thầy sắp làm rể ông Cục trưởng trên R rồi ! Ở đó mà buông hình bắt bóng !

Tiến biến sắc, khựng lại hồi lâu, mới hỏi:

– Có vậy không anh Hai.

– Không. Anh không có làm rể ai hết.

– Đó thấy không? Anh Sâm cứ đặt chuyện hoài!

Tiến vui vẻ, nói huyên huyên trở lại. Huê và Mai Khanh đi học về. Huê bồng con đi coi bộ vất vã. Thấy tôi. Huê bước nhanh đưa thằng Bình cho tôi và bảo:

– Cậu Hai trở lại nè con. Sao anh chưa đi, anh Hai.

– Bùi Khanh đâu?

– Ảnh nằm bệnh xá rồi.

– Sao vậy?

Mai Khanh đáp.

– Anh đi ảnh buồn sanh bịnh chớ sao !

– Bịnh gì?

– Thất tình, tương tư.

Tôi biết Mai Khanh nói cấn nên tôi nói lãng ra:

– Xưa nay ổng đâu có mơ huyền ai.

– Ảnh không mơ ai, nhưng người ta mơ ảnh.

– Ai vậy?

– Ảnh biết mà ảnh còn làm bộ không biết.

– Hề hề … vậy để tôi nói cho ảnh biết có người mơ ảnh nghe.

Mai Khanh háy tôi một cái bén như miểng bom B52.

– Ghét cái mặt.

Bữa nay thằng Châm và thằng Sâm hợp tá xã với giới Phá Nò ở đây tiễn biệt tôi bằng thịt ba con kỳ đà và hai con gà mái. Sáng mai giới Phá Nò sẽ đãi tôi tiệc cuối cùng bằng canh chua và cá nướng.

– Tối nay bọn quỉ mình phá nhà chay một bữa. Ăn phải ói ra và nhậu phải say bò càn mới được.

Thằng Châm và thằng Sâm ra tay làm gà và kỳ đà với sự tiếp tay của Tiến và Huê. Còn Mai Khanh được phân công tác đi triệu ông y sĩ trưởng bệnh xá ra chơi. Còn tôi là thượng khách thì được giao cho nhiệm vụ giữ thằng Bình.

Mai Khanh vừa đi thì con Tiến nói ngay:

~ Anh phân công cho bà ấy đi mời ông Hoàng Anh thì chắc chắn ông ta không thể chối từ.

-Tại sao vậy?

– Vì bả trên ổng chớ sao.

Tôi bế thằng Bình đến tham gia câu chuyện.

– Ông mà ở dưới bả à? Sao kỳ vậy?

– Vì bả sắp được đề bạt lên làm chánh trị viên K71-B.

-Ai đề?

– Ai có quyền đề bả thì đề.

– Sao không thấy bả làm le gì hết vậy?

– Bả chán thấy mồ còn le gì được.

– Sao làm lớn vậy mà chán?

– Ai biết! Chỉ thấy bả càng có thêm em nuôi thôi.

– Tôi đi có mấy ngày mà thay đổi quá xá .

– Anh đi chừng một tháng, trở lại sẽ thấy tụi này mọc đuôi tôm hết ráo.

Cả bọn cười rộ lên. Con Huê nói:

– Thôi bỏ mấy chuyện đó qua bên lề chiến dịch đi. Sẵn anh Hai về đây, tụi em muốn nhờ một chút.

– Nhờ gì?

– Ông Bùi Khanh làm hiểm lắm. Mỗi lần tụi em bí, tụi em hỏi ổng, ổng bảo: tụi bây về nhà học đến bằng cấp rút rơm trâu ăn mê thì mới học nghề y tá được còn bây giờ một chữ di-ta-minh cũng không đọc được thì làm sao? Rồi ổng bỏ luôn không chỉ.

Con Huê chạy vô nhà lấy tập giấy ra đưa cho tôi:

– Anh coi nè, nào là Bê-di-tin, Mẹc-cua-lô-côm, ế-trít-minh, xa-nia-mạc-kia là cái giống gì, trong tiếng mình đâu có ba cái ngữ đó.

Tôi biết ngay là những tên thuốc tây. Chúng nó làm sao mà đọc được. Viết chính tả mười chữ trật hết năm, nói gì đến thuộc mặt thuốc. Hồi trước tôi bị cô y tá Lan chích cho áp xe một phát thất kinh tới bây giờ. Mấy cô này không khéo vác cyanure de mercine tiêm thịt thì bỏ mẹ bệnh nhân.

Hồi ở Hà Nội, có một chuyện rất buồn cười. Số là trong buổi phát thanh giới thiệu nhạc sĩ Frédéric Chopin người Ba Lan, ông biên tập viên không phiên âm ra tiếng Việt Frê dê ríc Sô panh nên cô phát ngôn thuộc thành phần cơ bản đã đọc ra là Fré đé rít chô bin một cách ngây ngô. Hôm sau, đại sứ quán nước xã nghĩa anh em gởi một tùy viên văn hóa đến phản đối: chúng tôi không có nhạc sĩ nào mang tên đó cả. Bộ văn hoá ông Hoàng Minh Giám hay Việt Nam thông tấn xã của ông Hoàng Tùng gì đó phải đánh công văn hoặc gởi người lên xin lỗi.

Cái nạn thành phần chủ nghĩa thật vô cùng tai hại. Đáng lý bọn con Mai, con Trúc, con Cúc, con Thanh Tuyền ở trên R phải được gởi đi học y tá thì đỡ hơn nhiều, nhưng các tên già dềnh lại giữ triệt để làm thơ ký đánh… máy cho họ, để cho đám bần cố nông này đi học chữ Tây. Một chữ như cyanure de mercine, chúng nó học cả năm cũng không thuộc, mà có thuộc cũng không hiểu nghĩa là gì.

Tôi hỏi Huê :

– Còn chữ nào khó nữa không?

– Chữ nào cũng khó hết. Đêm nào tụi em cũng chong đèn cạn hai ba thếp mà mò mẫm mà không ra.

Thằng Sâm vọt miệng:

– Ông Tỷ về bảo ông mò thì ra ngay. Hì hì! Ổng mò ra thằng Bình rồi đó.

Cả bọn cười ầm lên, con Huê mắc cỡ, gượng gạo chống đỡ:

– Vậy chẳng hơn mấy ông mò hoài mà chẳng ra ai thì sao?

Vừa đến đó thì Mai Khanh về tới dắt theo một duộc, đi đầu là Hoàng Anh.

– Ông nội bữa nay hết chết rồi sao mà tổ chức nhậu đó ?

– Ảnh đâu có bịnh gì phải không ông y sĩ.

Hoàng Anh cười nói.

– Ừ, ổg chỉ bệnh nội tâm. Tôi đâu có cho ông viên thuốc nào. Tự nhiên ổng khoẻ lại rồi vác ba lô ra về.

Mai Khanh vọt miệng:

– Ảnh nhờ ăn chén cháo đặc biệt mà hết đó ông y sĩ.

– Cháo gì, ai nấu?

– Tôi hổng biết. Ông y sĩ hỏi ảnh coi!

Tôi bảo:

– Đó chỉ là một trong những lý do làm tôi ra viện sớm. Còn một lý do khác nữa là tôi sợ nằm trong đó lâu ngày ông y sĩ ổng tìm ra chứng bịnh đau ruột dư của tôi rồi mổ bằng lưỡi cạo râu như tôi đã từng gặp trên đường Trường Sơn nên tôi trốn trước.

Châm nói:

– Bệnh nhân nào mà sắp lên bàn mổ là hết bịnh ngay.

Sâm tiếp:

– Chuyện đó ăn thua gì với việc cưa giò thương binh bằng cưa thợ mộc và không có thuốc tê thuốc mê gì hết.

Tôi hỏi:

– Mày nghe ở đâu cái chuyện đó.

– Ở dưới Củ Chi. Ông bác sĩ nửa mùa Tám Lê đã biểu diễn cái màn đó dưới địa đạo cho ông giáo sư Liên Xô coi để cho ông này động lòng khi về nước sẽ kêu nài với Liên Xô xin viện trợ thuốc men và vũ khí cho mình.

– Mổ xẻ không thuốc mê thuốc tê và bằng cưa thợ mộc thực tế đã xảy ra hồi thời kháng chiến chống Pháp trong bệnh viện của ông bác sĩ thú y tên là Lê Văn Thầm tôi biết. Chuyện đó dã man vô cùng nhưng tôi biết là có thật, còn mổ xẻ dưới địa đạo thì tôi không thể hiểu được. Trước nhất là làm sao đem thương binh xuống địa đạo?

Nói xong tôi xoay qua y sĩ Hoàng Anh:

– Ông dạy những bài gì mà học sinh của ông kêu trời dữ vậy?

Hoàng Anh gạt ngang:

– Thì cũng như học sinh của ông toàn là du kích xã hoặc bộ đội chưa rành bốn phép toán vậy thôi.

– Nhưng học sinh của tôi phải mất ba tháng mới xong chương trình còn y tá của ông thì có được vậy không?

– Thời kỳ chiến tranh này, chương trình cấp tốc của tôi là sáu tuần lễ.

Tô i pha trò :

– Khoá tới pháo binh chắc cũng học cấp tốc sáu tuần lễ .

– Để bắn mười phát vô nhà dân hết mười một phát hả?

Tôi phục mấy ông y tá luôn. Lúc nào cũng đưa ra sáng kiến. Sao, các ông về trong này có áp dụng hoặc tuyên truyền kinh nghiệm nuôi heo bằng cứt trâu và bồi dưỡng trâu bằng cứt heo chưa?

Cả Tiến, Huê, Mai Khanh đều la lên. Mai Khanh hỏi:

– Sáng kiến gì kỳ vậy anh Hai?

Hoàng Anh nói:

– Cái đó là của Bộ Nông Súc… vật chớ không phải của Bộ Y Tế nghe cha nội !

– Vậy còn Bộ nào phân chất rồi kết luận sữa trâu bổ hơn sữa bò ?

– Cũng Bộ… Súc vật!

– Chớ không phải của Bộ Y Tế à? Nay mai Bộ Y Tế sẽ đưa ra một phát minh mới cho mình áp dụng đấy. Đó là măng le, đọt choài, vỏ cây bằng lăng bổ hơn nhân sâm và nước suối Tha La có tác dụng hơn Vitamin B12 cho mà coi.

– Thì cũng như ở ngoài Hà Nội, trước khi tụi mình đi B, một ông tướng đến nói chuyện, ông chế diễu lính Mỹ là đám công tử bột không biết bắn súng. Ừ, đúng thật nó không biết. . .

– Nó không biết bắn súng ngựa trời thật đấy chứ! Hấc ..hấc…

– Mấy chả ở ngoải tưởng tượng trong này đánh Mỹ khoẻ ru một tay giắt lưng quần, một tay đánh cũng thừa sức thắng, còn B52 thì bỏ chỉ chết cóc nhái thôi.

Sợ hai đứa tôi đối đáp thêm một hồi nữa coi bộ lộ bí mật quốc phòng lẫn chính trị, Bùi Khanh cắt ngang. Anh hỏi Hoàng Anh:

– Ở đây có trái thốt nốt đó ông y sĩ. Ra xóm Mới chịu khó điều đình với tụi đui cà then rồi nó bán cho.

Tôi hỏi.

– Đem về nấu chè à?

– Không? Thay xê-rum!

Hoàng Anh cười ngất:

– Ông anh sẽ được Bộ Y Tế thưởng cho 100 viên Vitamin C đó.

– Không! Ổng không cần vitamin C mà cần vitamin F đấy cơ!

Hoàng Anh nghe tôi nói Vitamin F, anh không hiểu hỏi :

– Vitamin F là loại gì?

Tôi cười:

– Ông này ! Đó là Vitamin Féminin (đàn bà) đó!

Bùi Khanh tỉnh bơ:

– Hồi kháng chiến chống Pháp, mấy ông thú y sĩ lấy nước dừa xiêm tiêm vô mạch máu chiến thương thay cho xê rum đấy, mày quên rồi à ? Đó là vitamin D hoặc vitamin Đ.

Hoàng Anh vẫn không hiểu gì hết, gật đầu:

– Ờ ..ờ! Anh nhớ dai thật. Để bữa nào tôi nghiên cứu ba cái thứ vitamin này coi.

Tôi nói:

– Nếu thành công chắc mày sẽ được thưởng một chiếc huy chương to bằng cái bánh xếp! Hà hà… nhưng mà trước khi thành công ắt phải có vài ba chục thương binh chết.

Bùi Khanh tiếp theo:

– Còn cái vụ Bogomoletz của Liên Xô thế nào?

Hoàng Anh đáp:

– Hồi ở trong Nam tôi nghe đó là một thứ thuốc cải lão hoàn đồng, tôi mê lắm…

Tôi cắt ngang.

– Nếu có thì Bộ chính trị mua mão hết rồi. Có đâu tới lính.

– Nhưng sau khi ra ngoài bắc, tôi hỏi bác sĩ Trần Hữu Nghiệp, anh biết ổng không?

Bùi Khanh xổ một hơi.

– Ông Chín Nghiệp ở nhà tao ăn cơm uống nước mòn cuống họng sao tao không biết. Ổng đào tạo y tá ở đó chớ đâu Bây giờ ổng là Thanh tra Quân y toàn quốc, nghe oai hết hồn hết vía, nhưng mà khi ra Bắc thì ổng ra rìa, ổng được cho làm ủy viên đảng xã hội, ăn cơm hợp tác xã với tao và đi xe đạp tòng tọc chớ đâu mà không biết. Thằng chả có nhà thương tư ở Mỹ Tho, tao còn rành tới vậy nữa mà !

– Rồi mày được ổng trả lời làm sao về vụ Bogomoletz?

– Ổng bảo đó là chuyện nói nghe cho vui chơi thôi.

Chương 25
Ngưòi đàn bà goá chồng ba năm đột ngột bị cảm

Hoàng Anh hỏi tiếp:

– Anh còn nhớ vụ Filatov không?

Tôi vén quần lên cho mọi người xem và nói.

– Sao lại không? Chính tao cũng đã được cấy cho hai nhát, một ở đùi, một ở bắp tay. Nhát ở đùi thì kết quả, còn nhát ở tay thì lòi ra.

– Tại sao vậy?

– Không biết? Nó lòi ra tôi tiếc quá bèn nuốt luôn. Vô bụng nó sẽ tan ra và cũng kết quả như cấy thôi… Hồi đó ở quân y viện khu IX vui lắm. Ông Trương Công Trung, ông Thuận và ông Hòa phụ trách cái bệnh viện này. Ông Trung đào tạo một khóa y tá lấy tên là Juliot Curie ở đây.

Hoàng Anh nói:

– Tôi là học sinh khoá đó chớ ai. Nó kéo dài mười hai tháng. Sau khi tốt nghiệp tôi về 307 gặp ông ở đó.

Tôi tiếp:

– Vụ cấy phi-la-tốp được đồn đãi như một phép lạ học từ Liên Xô. Phái đoàn của Huỳnh Kim Trương, Lý Văn Sinh thuộc đảng dân chủ bị gạt cho đi hội nghị Thanh niên dân chủ thế giới ở Calcutta rồi đi không được, trở về bị hỏng giò, có ghé qua đây. Tôi đang đến để viết phóng sự cho tờ Kháng Địch về vụ Filatov này. Mắt được trông thấy cảnh vui vẻ như chợ Tết trên sông. Ghe xuồng các tỉnh tới đậu chật cả một bên kinh xáng Chắc Băng chờ đến lượt mình được cấy, có khi mất cả tháng trời.

Tiến hỏi:

Phi-la-tốp là gì, chúng em không hiểu !

Bùi Khanh bảo.

– Hồi đó tụi bây còn là tinh trùng của tía bây mà làm sao hiểu được. Đó là cái nhau của đàn bà đẻ , cắt nhỏ ra bằng đầu mút đũa ăn, sấy khô rồi rạch da nhét vào. Trong một tuần nó sẽ tan và làm cho người ta khoẻ lên, ăn mạnh, uống đậm và chèo xuồng không biết mệt.

Mai Khanh bảo:

– Vậy thì dễ quá, mình có thể làm được. Thay vì mua thuốc bổ ở thành.

Hoàng Anh lắc đầu:

– Thôi đi bà chính trị viên tương lai! Nếu mà cấy như vậy thì Hậu Cần họ chửi mình tắt bếp.

– Tại sao?

– Vì họ không chạy gạo nổi cho bệnh nhân ăn chớ sao !

Bùi Khanh nói:

– Đúng ra thì cũng không có tác dụng như báo Kháng Địch tuyên truyền đâu! Tờ báo này hồi đó có đăng một bài tên là Rủ nhau đi cấy của ông phóng viên Anh Tài khuếch đại cái kết quả của Phi la tốp nên đồng bào tưởng thật.

Mai Khanh hỏi.

– Nói như vậy Phi la tốp chỉ là chính trị à ?

Bogomoletz, filatov, sữa trâu, cứt trâu đều là do báo Nhân Dân phết to ra thôi chớ không có tác dụng gì hết, nếu có thì cả miền Bắc sẽ không tìm thấy một người nào tóc bạc và toàn dân sẽ rủ nhau đi cấy thay vì trồng rau muống và ăn mắm cáy cà muối.

Bùi Khanh xua tay:

– Thôi bỏ đi tụi bây ơi, bới lại cái đống rác. . . cũ tao nghe thối quá đi. Đảng mình có truyền thống phóng đại tô màu, tụi bây còn lạ gì nữa. Hễ đạt được một thì đài loa ra một ngàn, còn thất bại thì giấu nhẹm luôn. Cái gì của Liên Xô cũng là số dách cả còn của đế quốc thì đều là rởm. Mẹ kiếp, B52 nó bỏ cho trọc đầu mà cứ ở đó đòi nắm thắt lưng thằng Mỹ mà đánh. Thôi dẹp đi. Đem thịt kỳ đà vô xào gừng trước lai rai ba hột để B52 tới mà mất ăn đấy.

Hoàng Anh cười khè khè:

– Ông anh sợ vậy cũng đúng, nhưng mà sách có câu Trời đánh tránh bữa ăn. Dù nó có tới mà nó thấy mình đang nhậu nó sẽ tha tào.

Tiến nói:

– Mấy anh lúc nào cũng nói tới B52, ăn cơm ăn nước, ngủ nghê không được.

Tôi hỏi:

– Vô bệnh xá mấy hôm rày chạy xịa được mấy lần?

Hùng đáp thay.

– Mới vài ba lần thôi. Bây giờ tụi em kinh nghiệm rồi. Khi nào nghe gió hú ào ào mới nhảy hầm.

Mai Khanh trề môi:

– Ở đó mà chờ gió hú.

Buổi tiệc dọn ra vào lúc mười giờ tối. Thực khách gồm trên mười người. Chén thì dùng toàn chén hứng mủ cao su được chủ đồn điền đế quốc bỏ lại, đũa thì chuốc bằng gốc le, rượu đựng trong bi đông chớ không có đồ pha lê chén kiểu mượn ở nhà ông Ngụy như bữa tiệc trên chòi sản xuất của Sáu Thiệt. Tuy vậy món ăn cũng không kém phần thơm tho sợ còn hơn ở Mậu dịch quốc doanh ăn số 1 Hà Nội đường Tràng Tiền, thời kỳ sau khi Mỹ tấn công Vinh, dân Thủ đô ăn toàn phở không người lái. Đang nhậu ngon lành, bỗng Hoàng Anh cao hứng đứng lên ôm vỏ chai rượu Anít làm đờn sô-lô bài Trao Lòng của Thẩm Oánh, để thực hiện lời cấp trên: Tiếng hát át tiếng bom!!

Lá vàng bay theo gió. Hoa tàn rụng bên sông.
Ôi một chiều u buồn. Ôi một chiều nhớ nhung.

Giọng hắn ồm ồm như thùng thiếc bể, vang lên giữa rừng sâu gây một âm vang buồn não lạ lùng. Tôi cũng không hỏi hắn có vợ hay chưa? Nhưng nghe nó hát thì biết nó không vui. Chẳng cố ai vui. Ra Bắc tôi không gặp hắn lần nào. Có lẽ hắn cũng như thằng Tư Linh đã cấy một củ su hào và đã có vài thằng Cu, cái đĩ. Vợ nó được chiếu cố cho làm xưởng dệt 8-3 hay đi đổ thùng cầu, một chân xã viên làm phân xanh… Thằng Nam Bộ đã đi theo kháng chiến mà tập kết là chỉ có khổ thôi. Bị đày như con chó, không cởi áo lính đi phá rừng Lam Sơn, Lương Sơn Bạc thì đi cạo muối ở biển Thái Bình Trà Cổ. Đến chừng cần cái ngực của dân thành đồng thì đảng lại gọi. Tụi Nam Kỳ liều chết đạp Trường Sơn về nước, lớp bỏ xác lớp tới nơi là để từ bỏ cái xứ xã nghĩa chó đẻ chứ chẳng phải để giải phóng Miền Nam cái đếch gì. Về tới đây là họ đã thấy ngay rằng Miền Nam không cần mặt nào tài khôn giải phóng. Thằng nào về móc gia đình cũng được vợ, mẹ cho radio, đồng hồ, bút máy, xe đạp phủ phê, những thứ mà quân Bắc mãn đời cũng không rớ tới được. Một anh chàng thiếu tá như Bùi Khanh, ra đi từ Mùa Thu rồi, ngày hăm ba, theo tiếng kêu sơn hà nguy biến tới nay tóc đã bạc, toàn ăn cơm chậu uống nước thùng, muốn kiếm một bà vợ không kiếm được . Ba cá i thành đồng thành đất đem ra nhử đám Nam Kỳ hồi kháng chiến chống Pháp nay hết hiệu lực rồi, Trung ương đảng lại trương ra câu nói trơ trẻn: Miền Nam đi trước về sau. Đi trước để làm gì nếu không để cho ngực mình làm bia đỡ đạn cho bọn triều đình Bắc kỳ mũ cao áo rộng? Về sau? Hừ về sau thì chỉ gặm được ba cục xương.

Đấy, chồng bà Mai Khanh từ Bắc về Nam gặp vợ. Rồi được R phân công cho đánh đồn Bổ Túc để mở rộng khu giải phóng của ông Thọ. Súng phá tường không có, anh ta xung phong, lãnh nguyên trái đạn M79 tan xác trong lúc bà vợ đang có bầu. Bà ta lên thăm chồng và đã chứng kiến cái cảnh liệm chồng bằng cách bó ni lông buộc từng mận như bó củi. Nấm mộ nay đã bị mưa gió lũ lụt san bằng ai còn tìm ra được giữa rừng này? Một lần nhờ anh em dẫn ra thăm thì hởi ôi, cái mô đất đắp vội hôm nào đã bị heo rừng ủi tan hoang. Người đàn bà chỉ còn gào lên lạc giọng, nhưng cỏ cây vô tri nào có biết nghe. Biết nghe chăng là đứa con trong bụng. Bà đã về nhà sanh con. Sau khi cứng cát lại gởi con cho mẹ chồng rồi đi trở vào tìm cách khôi phục mộ chồng. Công việc cắm bia đắp nấm hoàn tất, bà định trở về thì cơ quan bảo khéo rằng bà nên ở lại nối chí chồng, nhưng thực sự là người ta nghi ngờ, sợ bà về thành làm lộ bí mật cơ quan. Bà biết vậy nhưng phải đành chịu. Bà nấn ná ở lại, được cấp trên tín nhiệm giao cho mọi thứ việc lặt vặt. Bà cũng vui lòng làm. Đến nay đã ba năm, mãn tang chồng. Một người đàn bà góa chồng lúc mới nửa chừng xuân, sống giữa một đám đàn ông đói tình, khát sinh lý, mà bà lại không mang tiếng gì với ai. Kể cũng là một thứ anh hùng mà không cần phải đánh Mỹ.

Bữa tiệc rừng hôm nay có rất nhiều ý nghĩa: Tiễn chân một người thân đi vào Củ Chi đất Thép, một nơi đi dễ khó về và ăn mừng cuộc chết hụt vì B52 vừa qua. Ai cũng thấm nhuần điều đó nên ăn uống rất thả giàn. Thức ăn có thừa cho hai chục miệng đói mà ở đây chỉ có mười cộng thêm thằng bé con. Tôi đã bảo lóc hai cái lường nấu cháo cho nó húp nước. Thấy người lớn cười vui, có lẽ nó cũng vui lây nên không ngủ. Tôi thấy mà tội nghiệp cho mẹ lẫn con. Mẹ nó cũng như đám thanh nữ thanh niên bị lùa vào cái lò sát sanh tên là Thanh niên xung phong. Một mớ bị lùa ra Bình Long, Phước Long, Bình Giả, Đồng Xoài làm mồi cho B52, một mớ bổ sung vào các cơ quan nấu cơm và làm trò xiếc với các thủ trưởng cơ quan. Đứa nào may lắm không bị chửa hoang, đi lén nạo thai thì có chồng đỏ con như con Huê hoặc quơ ẩu một anh táo Tàu rồi bất mãn như con Tiến.

Con Tiến bữa nay uống rượu bộn bàng và nói tiếng Tây văng mạng. Xít-trích-min, mẹc-cua-lôm-chôm, pê-nê-xi lin nói tiếng Tây xong lại khóc. Khóc xong lại dọa.

– Chắc em phải tự tử quá hà !

Bùi Khanh cười cười bảo.

– Ừ, nếu muốn tự tử thì bảo thằng thủ trưởng của mày nó tặng cho một trăm viên ký-nin xanh, mày nuốt năm chục viên thôi thì vi trùng sốt rét sẽ tiêu ra tro còn mày sẽ tan ra nước. Rồi thằng Quân nó về nó uống năm chục viên còn lại. Vậy là tụi bây tuyên bố ở dưới Thiên đàng.

Con Huê cự nự:

– Chú nói cái gì nghe ghê quá hà !

Buổi tiệc kết thúc vào lúc một giờ đêm, một đêm tiễn biệt và ăn mừng chết hụt. Đêm nay chắc cũng là đêm bác không ngủ đây. Bác đâu có ngủ trọn đêm nào. Bác lo cho nông dân, lo cho nhi đồng miền Bắc và bác soạn thảo kế hoạch vĩ đại nướng trọn dân Nam kỳ sớm đầu tối đánh này. Bác sẽ vào thành phố Sài gòn lúc đó đã đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh, nhưng dân thành phố Hồ Chí Minh hoàn toàn là dân Bắc kỳ, còn dân Nam kỳ thì đã theo ông vãi hết cả không còn một móng. Chừng đó bác mới ngủ yên.

Bùi Khanh và phái đoàn của Hoàng Anh trở về bịnh xá. Tiến và Huê phải vào làm nhiệm vụ canh gác chiến thương. Mọi ngày thì Huê phải bồng con theo nhưng hôm nay có cậu Hai, nên bé được ở nhà với cậu Hai. Còn Mai Khanh thì kêu nhức đầu rồi lên cơn sốt từ lúc nửa tiệc. Bây giờ bà ở nhà với lý do chân chính. Bùi Khanh hứa sáng mai sẽ ra tiễn chân tôi.

Ngôi nhà trước đây dùng làm trạm thường trực cho bệnh xá tức là để cho thương binh tạm trú trong khi chờ đợi bệnh xá chuẩn bị hầm cho thương binh nằm, cho nên cũng khá rộng. Tôi mắc võng ở căn cuối cùng. Nam nữ thọ thọ bất thân mà ăn ở như thế này rõ thật bất tiện, nhưng mọi người đều cho rằng tôi và Mai Khanh lâu nay không có cảm tình gì với nhau, nên sự có mặt của tôi là vô nghĩa. Vã lại một người đang sốt . . .

Tôi nằm lim dim nửa say nửa tỉnh với ba cái đế bộn bàng trong máu. Bỗng tôi nghe tiếng Mai Khanh rên. Rồi một lúc sau nghe bước chân nàng đi xuống bếp. Sợ nàng mê sảng bò xuống bờ suối nên la:

– Chị đi đâu vậy?

– Đi nấu nồi xông.

– Lá lú đâu mà nấu?

– Còn ba cái lá sả nấu thịt kỳ đà còn dư lại đây !

– Sả không đủ. Phải có lá bưởi, lá ổi nữa chớ, nhưng ở đây tìm đâu ra. Chị sốt mà xông cái gì?

– Em cảm anh… ạ. Nấu lá sả rồi đổ một chai dầu Nhị Thiên Đường vào.

Nghe Mai Khanh nói tôi lật đật đi nhóm bếp nấu nồi xông. Nấu xong tôi bưng lên để trên giừơng cho nàng.

– Anh có vải dù không? Tôi cũng có nhưng mà nó hơi hẹp khổ sợ trùm không kín hơi ra hết.

Tôi đi lấy tấm vải dù của tôi đem đến:

– Lâu quá không giặt chắc hôi lắm.

– Không sao anh à. Anh trùm lên dùm em đi.

Mai Khanh xưng em với tôi lần đầu. Tôi phủ tấm rằn ri lên. Mai Khanh kêu: “Ấm quá ! ” rồi bảo:

– Anh lấy dùm em chiếc đũa để em khựi nắp vung lên.

Tôi đi lấy chiếc đũa lên, đưa vào. Mai Khanh cầm chiếc đũa nắm cả tay tôi và kêu:

– Tay anh ấm quá !

Tôi rút tay ra và bảo:

– Hé nấp vung từ từ, đừng giở luôn hơi bốc phỏng mặt!

– Em biết.

Tôi nghe tiếng nắp vung lụp cụp. Hơi sả và dầu hòa vào nhau bốc qua lớp chăn thơm phức. Có lẽ trong đó không thiếu hương tóc đàn bà, cái mùi lạ lạ tôi chưa nghe bao giờ. Tôi vừa quay lưng đi thì Mai Khanh bảo:

– Anh ở đó giúp em bưng nồi xuống bếp đun thêm, xông lần nữa thì mới hết.

Tôi đứng xơ rớ không biết ngồi vào đâu thì nàng bảo:

– Anh nằm trên võng đó. Võng của em.

Việc người này ngồi nằm trên võng người kia ở rừng là chuyện thường, nên tôi làm theo nàng bảo.

– Anh có nghe thiên hạ dư luận gì về em không?

– Sao chị kêu tôi bằng anh và xưng em với tôi vậy?

– Không xưng vậy thì xưng sao?

– Tôi nhỏ tuổi hơn chị mà .

– Nhỏ thì nhỏ chớ ! Anh có nghe dư luận gì không?

– Không nghe gì hết.

– Anh mà không nghe. Anh nó dấu em đó nghe. Người ta bảo em sắp làm bà chánh ủy.

– Ừ, thì Mai Khanh làm chính trị viên của Bệnh xá giúp thằng bạn tôi một tay cũng tốt thôi.

– Bà Chánh ủy chớ không phải chính trị viên bệnh xá.

– Chánh ủy nào?

– Ở U này có mấy chánh ủy hở anh?

Tôi hiểu ra rồi. Lão già mắc dịch Đào Sơn Tây lại be be nữa rồi. Vụ Ái Mỗ do tôi thu vén cho vừa xong về Nam được lên lon đại tá mà không bị bắt tội, nay lại rơi vô cái ô này. Lão ta lẫm rẫm vậy mà hay bỏ món bất ngờ lắm. Nghe thế tôi biết rồi, nhưng làm bộ ngơ ngẩn:

– Muốn làm tới chánh ủy phải đảng viên thâm niên, nhất là Chánh ủy pháo binh thì phải có trình độ chuyên môn. Hai điều kiện đó phải song song, không thể thiếu…

– Xì anh giả đò hoài. Người ta bảo em gác máy bay ông già họ Đào. Xí… thằng cha già dê, cái mặt cóp như hộp lon bóp dẹp. Em không có cho đụng tới ngón tay em!

– Vậy sao có dư luận.

– Vì ông cứ tới bịnh xá hoài. Mỗi lần tới, ổng hỏi thăm chiến thương qua loa rồi kêu em tới hội ý cả giờ đồng hồ , ổng nói nhưng em đâu có nghe gì. Ổng là chánh ủy, bỏ đi ổng cảnh cáo thấy bà !

– Ổng nói chuyện công tác thì cố gắng nghe cho vững cái lập trường.

– Toàn chuyện tào lao bắc xế chớ công tác gì. Ổng hỏi em thích mặc áo tê-tô-rông, quần lãnh a không. Ba cái thứ đó đối với em là đồ bỏ mà ổng đem ra nhử em chớ. Ổng cho em đi thành mua thuốc Tây. Để có dịp về thăm con. Đi chuyến nào về ổng cũng rà rê . Em cũng đối đáp mập mờ và cười với ổng. Ổng tường em mê cái chức chánh ủy của ổng. Thèm vào! Em nói thiệt với anh là sở dĩ em còn ở đây vì mộ chồng em bị bỏ bê không ai chăm sóc, em về ngoải không đành chớ không phải ham ba con khỉ rừng xanh.

– Đừng nói nặng cách mạng Mai Khanh à !

– Em có nói nặng gì đâu. Em nói khỉ là khỉ trên cây đó mà. Khỉ với nai, với mển, chồn mình săn để ăn thịt chớ đâu có sống chung được. Con nai B52 lành vết thương mình thả nó ra nó chạy mất chớ đâu có ở với mình. Anh đừng nghĩ quanh co. Nồi xông hết hơi rồi anh ạ !

Nàng dỡ chăn ra và bảo tôi đi đun dùm, vô tình nàng để lộ một mảng vai. Tôi khuân nồi xông xuống bếp nhóm lửa rồi trở lên. Mai Khanh đang trùm thân mình bằng vải dù, một tay lau mặt. Gương mặt hơ trong hơi lửa đỏ hồng, hai gò má ửng lên như thoa phấn hồng. Nàng tiếp:

– Còn ba cái vụ em nuôi người ta dư luận đó, em cũng có nghe, nhưng em không đính chánh. Mấy đứa nhỏ thiếu tình cảm nên làm thân với em vậy thôi, chớ em coi chúng như em út! Em không phải là loại đàn bà hễ đàn ông mò là được đâu. Em cũng nghe Bùi Khanh chê em là Phụ Nữ Cộng Hòa có bầu, tánh tình lang bang nên ổng không hốt ổ, để ông đi coi mắt bà khu ủy viên. Rồi sao êm rơ không thấy tuyên bố?

– Ổng khó tính quá hè !

– Em chỉ tội ngiệp ổng! Sở dĩ em không tái giá vì hai lẽ : một là chưa mãn tang chồng. Hai là nếu em lập lại cuộc đời để dưỡng nuôi hòn máu của chồng em nên người thì em sẽ lấy người Sài gòn. Như em vầy kiếm chồng không khó . Nhưng em sợ tủi vong linh chồng em. Chồng đi giải phóng mình lại lấy người Sài gòn. Anh hiểu bụng em chớ? Do đó em nấn ná . Nhưng nếu em lấy chồng giải phóng thì ở đây có ai?

Tôi lặng thinh.

– Những người có tài ở đây đều không có đức. Càng làm lớn càng thất đức. Em biết tất cả mấy cái vụ lùm xùm trên R và ở chung quanh đây nữa, nhưng con Phụ nữ cộng hoà này đâu dám hé môi. Em coi rồi, ở đây không có ai cảm hoá được em cả . – Nàng nhìn thẳng vào tôi – Chỉ có một người nhưng chắc người đó không thích tôi.

– Ai vậy?

– Em không tiện nói ra bây giờ.

Tôi đi xuống bếp đem nồi xông lên. Mai Khanh trùm khăn một lần nữa. Tôi đi ra, ngã người trên võng. Tôi biết người đó là ai. Quả thật bất ngờ. Sao đời tôi lại quá nhiều trắc trở, éo le? Bao nhiêu bến nước có trăng có sóng dợn mà con thuyền cứ bềnh bồng trôi không cắm được sào.

– Anh lại đây, em nhờ chút.

Tôi trở vào, nàng đã mặc áo đang xếp vải dù của tôi.

– Anh giữ lấy đừng giặt nhé .

Tôi vừa đưa tay run run cầm lấy thì nàng ôm chầm lấy tôi và hôn tôi như mưa. Nàng buông tôi ra nhìn trân trối. Hai cái bóng theo ngọn đèn dầu đỏ chạch lắc lư trên vách. Cả trái đất như cũng rung rung theo ngọn đèn.

– Mai này nếu anh có nhớ em, hãy nhắn một câu em sẽ có mặt bên anh, một ngày một tháng hay một đời cũng được.

Nàng lại ôm tôi nước mắt ràn rụa.

– Yêu em đi. Em biết em không còn gì tặng anh, nhưng em muốn được anh yêu một lần trước khi em không còn ở đây nữa. Yêu đi, đừng ngần ngại. Và đừng khinh em.

Nói xong nàng đưa tay quạt tắt ngọn đèn. Tôi nghe một cử chỉ nhẹ rồi như có một mảnh lụa rơi dọc chân nàng.

—->Chương 26 – 27 – 28 – 29 – 30

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: