2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QII – (26-30)

2000ngaydem_bia2Đây CỦ CHI! Đất Sét Sắp Thành Bùn

Chương 26
Đi trấn nhậm Bình Lư. Vĩnh biệt tình yêu!

Mặc dù lệnh của ông Sáu Vi là từ đại tá trở lên khi đi công tác mới được đem theo cần vụ. Nhưng tôi vẫn có đến hai ông con của trường pháo đưa tôi đi. Ra một khúc đường tôi bảo:

– Tao giải phóng cho chúng mày đó, đi chơi đâu cứ đi, hai ba ngày thì trở về. Tao có sợ ai mà bây phải bảo vệ.

Hai cậu bé khóc ròng, một cậu mếu máo:

– Thủ trưởng đi khoẻ , tới nơi gởi thơ về .

Tôi móc cho mỗi đứa một trăm, rồi đi một mạch. Gần đến sông Bà Hảo thì lại đụng đầu bà khu ủy viên, bà ta phàn nàn:

– Em chờ anh mắc chết.

Tôi lơ lửng như bị ai hốt hồn thật.

Phải hồn tôi còn ở lại phía sau với Huỳnh Mai, Thanh Tuyền và Mai Khanh. Da thịt Mai Khanh còn thơm nồng đêm qua. Người đàn bà bất hạnh và bất mãn bỗng nhiên dâng hiến cả cuộc đời cho tôi như một sự trả thù… Nàng bảo với tôi như thế, nhưng chính nàng không biết trả thù ai?

Tôi còn biết làm thế nào khác được. Có ai có thể từ chối một -ly nước mát giữa lúc mình đang chết khát không? Tôi đã phải vâng lời nàng, giúp cho nàng trả thù vậy. Tôi mới hiểu ra rằng yêu một người đàn bà mới là tuyệt mỹ, kể cả thể xác lẫn tâm hồn. Nàng như cây đàn trong tay nhạc sĩ thần là tôi.

Những tiếng chưa khảy đã ngân, những tiếng chưa đánh xong còn ngân hoài.

Mai Khanh đã rên rỉ những lời âu yếm bên tai tôi mà không một cô gái nào đã thốt ra được. Tôi hỏi nàng:

– Em muốn lấy món gì trong người anh để làm kỷ niệm thì anh để lại tặng em.

Mai Khanh quấn lấy tôi và bảo:

– Em muốn tất cả anh. Ngoài ra không gì khác, không ai khác!

Thì ra lâu nay nàng sống trong sự khủng hoảng tình cảm. Không ai lấp bằng cái lỗ trống đó trong người nàng.

Sáng ra nàng buồn rời rợi. Người ta đã đoán được sự gì đã xảy ra giữa chúng tôi đêm qua, nhưng không ai nói gì để trêu chọc hoặc biếm nhẽ nàng. Dường như ai cũng cho rằng như thế là phải. Một mảnh ruộng khô, một trận mưa rào.

Tôi sửa soạn đi, các cô các cậu cũng đi làm việc. Nàng đi theo, nhưng không vào Bệnh xá. Nàng đi với tôi ra đường cái. Khi ra tới bìa trảng thì chúng tôi dừng lại. Nàng tựa lưng vào gốc cây và nói bằng một giọng lâm ly:

– Anh đi nhé ! Biết bao giờ mới gặp lại nhau !

Tôi đứng trước mặt nàng, nhìn vào đôi mắt ngấn lệ:

– Sao em lại nói thế?

– Chẳng thế thì còn sao !

Tôi ôm nàng quàng luôn cả thân cây. Chúng tôi, người lẫn cây trở thành một. Tôi nghe nhựa trong thân thể tôi chạy sang nàng. Tôi đã yêu nàng một cách man dại. Nàng bảo:

– Anh đi qua trảng này.

– Đi băng không sợ trực thăng xớt hay sao?

– Chưa có ai bị bao giờ.

– Anh muốn em đi với anh.

– Xa lắm, em đi rồi không dám về một mình.

– Em đi luôn với anh.

Nàng gục đầu vào vai tôi và khóc nức nở. Tôi cũng mềm lòng nói một câu lãng ra: :

– Hoặc là trực thăng có xớt thì xớt luôn hai đứa.

Hạng Võ biệt Ngu Cơ khi xưa cũng đến thế này là cùng. Nàng lau nước mắt và tiếp:

– Anh qua trảng rồi cứ theo đường mòn cắt ngang rừng già đi một hơi là đụng đường đá đỏ rồi quẹo trái, nhớ quẹo trái là đụng lộ ủi, nếu quẹo mặt là lên Kà Tum, rồi đi Bổ Túc đó, tới Tây Ninh.

Nàng cứ lẽo đẽo theo tôi, cứ bảo “thôi anh đi” mà cứ không chịu rời. Cuối cùng đến một khoảng rừng thưa, nàng dừng lại nắm vai tôi và gục vào ngực tôi:

– Em mong em có một đứa con với anh.

Tôi lặng thinh. Nàng tiếp:

– Khi em đi Sài gòn công tác, thế nào cũng sẽ đến Củ Chi tìm anh.

– Đến chi cái xứ gai góc đó.

– Em muốn đi thì em đi. Em sẽ bồng con đến gặp ba nó chớ ạ!

– Ừ! Ba sẽ chờ con!

Chúng tôi cười héo hắt và chia tay một cách lặng lẽ. Tôi quay lưng đi, cứ vài bước quay lại nhìn. Nàng đứng tựa vào gốc cây, tay giơ lên vẫy nhẹ nhàng. Tôi vẫy đáp lại, chân không nỡ bước. Gương mặt nàng lồng trong gương mặt của ai và của ai nữa.

Đời tôi không bao giờ vắng những cuộc chia tay. Chia tay với Duyên từ thuở còn đi học bên dòng sông Tân Bửu, chia tay với Bảo, Diệu… ở Chắc Băng, chia tay với Ánh Tuyết ở Hà Nội, chia tay với Thu Hà ở Mã Đà, chia tay với Thanh Tuyền, Huỳnh Mai, Ba Ánh ở R, chia tay với Út, rồi bây giờ với Mai Khanh ở đây. Trái tim của tôi như quả bóng được âu yếm ném từ bàn tay ngọc này sang cánh tay ngà khác. Tội thay, nó không xẹp đi mà lại càng bị ném càng căng phồng lên và nảy tưng tưng lên mãi…

….

Tiếng nói bên tai làm cho tôi tỉnh lại:

– Em chờ chút nữa anh hổng tới thì em…

– Bỏ về hả?

Út phụng phịu.

– Bỏ đi đâu? Em ngồi hoài ở đây cho cọp tha mất.

– Tha đi đâu anh cũng tìm bắt lại được.

Bỗng có tiếng máy bay. Tôi vừa ngước lên thì nó đã tới ào ào như sấm dậy trên đầu. Mạnh tôi tôi lủi, mạnh nàng nàng chui. Đây là vùng tự do oanh kích. Bất cứ lúc nào máy bay Sài gòn cũng có thể bay ngang tặng cho vài quả dưa thừa hoặc vài chùm me dốt vì nó là ranh giới của rừng và đồng bằng, nói tóm lại cái cửa ngỏ của R đi xuống vùng đồng bằng Củ Chi, Trảng Bàng hay đi thẳng ra thị xã Tây Ninh.

Tôi biết là nó bắn ngay khu vực chúng tôi. Đạn nổ chan chát, lửa nhoang nhoáng trước mặt. Không khí cay nồng. Không có hầm hố gì hết, may là cây rừng ở đây thân cây lớn hơn cả vòng tay. Cứ chạy bừa hoặc đứng lại để tránh né đạn. Bây giờ nhớ lại mới kinh hồn. Và thấy rằng câu nói đùa bọn lính chúng tôi vẫn kháu nhau là đúng: Đạn nó tránh mình, chớ mình đâu có tránh đạn.

Quả thật. Chúng xả xui vài chục loạt rồi vút qua coi như con chim ỉa nhẹ bụng cứt rớt đâu rớt rồi bay qua. Trong làn khói mịt mù, tôi vừa càn lướt vừa kêu như điên, còn hoảng hốt hơn trận B52 vừa rồi.

– Út ơi Út!

– Anh Hai hả ?

– Em có sao không?

– Anh có sao không?

Chúng tôi chạy lại và ôm nhau. Thế là chưa chết. Mặt đất gai góc này vẫn còn đáng yêu. Tôi hôn lia lịa lên hai gò má khét lẹt thuốc súng của bà khu ủy. Nàng càu nhàu:

– Tại anh đó!

– Tại gì mà tại?

– Anh làm gì trong đó mà lâu dữ vậy. Hẹn sáng sớm ra mà gần mười giờ rồi.

– Tụi nó chia tay bịn rịn chớ đâu có làm gì .

– Ở trong cái bệnh xá đó có nhiều đứa y tá, em biết mà !

– Y tá của người ta chớ đâu phải của anh.

– Thôi đi về !

Nàng lôi tay tôi đi làm như vợ chồng thiệt. Mà chính nàng cũng không biết. Nhưng đi được một quãng thì nàng giật mình kêu lên:

– Ý chết, người ta trông thấy.

– Thấy thì thấy.

Tôi nói liều. Nàng vừa đi vừa cúi xuống định lượm những vỏ đạn cà nông rải rác khắp lối đi. Nhưng vừa đụng một cái thì nàng kêu:

– Nóng quá !

– Chỉ âm ấm thôi. Miểng bom kìa mới nóng. Bốc là phỏng tay.

– Sao anh biết hết vậy?

– Bị hoài mà không biết thì làm sao?

– Ba cái võ đạn này đem ra ấp chiến lược bán được tiền dữ lắm. Người ta mua kí lô . Anh có sợ không mà mặt tỉnh bơ vậy?

– Sợ chứ sao không? Chết mà ai không sợ. Nhưng chẳng lẽ lại khóc om lên?

Nàng nắm tay tôi đặt lên ngực nàng và áp mạnh vào.

– Anh nghe tim em nhảy bình bịch nè.

– Ờ anh nghe. Ờ, anh đụng nó nữa.

Nàng nhìn tôi cười . Tôi cũng cười. Con chim nào trên cành vừa chết hụt cũng cười hùn. Chúng tôi đi về nhà như sau khi chiến thắng một trận nho nhỏ, hay như một đôi vợ chồng mới cưới nhìn thấy hạnh phúc của mình ở dưới mái lá đơn sơ kia.

Tôi hỏi:

– Có đứa nào ở nhà không?

– Em cho ra ấp chiến lược vài đứa để nghe ngóng tình hình, còn bao nhiêu cho qua bên Trà Vong đào hầm và sửa soạn căn cứ. Tình hình này em không bám trụ ở đây lâu được. Tụi nó sắp đánh tới đây rồi.

– Làm gì mà ra ấp chiến lược hoài vậy?

– Hễ Mỹ sắp càn thì dân ngoài đó hay, họ cho bà con ở trong này biết trước để ra ngoài lánh nạn. Do đó mình biết mà tính toán công việc của mình, hoặc mình tuyên truyền, hoặc phá hoại, hoặc thu thuế.

– Phá hoại gì?

– Như đồng bào xem Ti vi công cộng, mình đặt chất nổ.

– Có làm chưa?

– Có chứ. Kết quả lắm.

– Kết quả thế nào?

– Thì đại khái vài người chết, chục rưởi người bị thương. Từ đó họ không đám tụ tập lại nữa.

– Còn thu thuế gì?

– Thuế chứ thuế gì . Hổng thu thuế lấy đâu tiền mình xài.

– Người ta ở ngoài kia, sao mình thu thuế.

– Họ muốn có an ninh họ phải đóng thuế cho mình. Họ đóng, mình chi biên lai đàng hoàng và hứa khi giải phóng rồi mình trở lại và tặng bảng vàng Gia đình có công với cách mạng. Nhất là những chủ tiệm và chủ xe lam thì tự nguyện đóng rất nhiều.

Vừa đi vừa nói chuyện, hai đứa tới suối Sóc Ky. Tôi bảo:

– Đây là căn cứ của hai ông nhà pháo Tư Quảnh Ba Tô và Thu Mai. Kỳ đi R anh có ghé ngang.

Nàng nói:

– Mấy ông này em quen biết.

– Mấy ổng phủi chân lên bàn thờ rồi.

– Ba ông một lượt à?

– Không, trừ Ba Thu Mai. Nếu ông này không đi R với anh chắc cũng lúa rồi. Mới đây anh về U80 lãnh quyết định mới hay tin.

– Hở hở là lên bàn thờ. Nhất là ra miệt Phước Long.

– Ở đâu rồi cũng vậy thôi. Mỹ vô đây rồi Củ Chi cũng trở thành Phước Long.

– Mình hi sinh dữ quá mà ngoài Bắc có biết không?

– Biết chớ sao không?

Chúng tôi hạ trại nhóm bếp nấu cơm ăn. Đã hơn mười hai giờ rồi. Thấy phía bên trái đường có bãi trống của khách nghỉ dọc đường. Tội ghịt tay nàng tạt qua bìa rừng, làm nũng như đứa con nít:

– Cặp giò của anh muốn ra rồi hết rồi nè !

Ở đây có cột mắc võng sẵn và trụ treo lon guy-gô để nấu cơm của khách thập phương bỏ lại. Tôi định ngồi xuống đống lá cây khô để nghỉ chân. Nàng bảo:

– Coi chừng con ve. Ở rừng bạc tóc không biết gì hết.

Nói rồi nàng lấy khăn trải ra hai đứa cùng ngồi. Nàng nhìn tôi, đồ phụ tùng chỉ còn cây súng ngắn thì hỏi:

– Bi đông, ni lông… đâu hết rồi?

– Bị tụi nó tước hết chớ đâu.

– Ai muốn gì anh cũng cho hết. Nay mai họ lột tới cây súng chắc anh cũng mần thinh.

Tôi nhìn nàng ý nhị.

– Cây súng thì để dành cho em chớ. Cho cây súng rồi lấy gì chiến đấu.

Nàng đập vai tôi:

– Quỉ đâu không hè !

Nàng không trẻ như Mai, Tuyền, không đầy sức sống như Ba Ánh nhưng có chút duyên. Tội nghiệp con gái già, cái động đào nguyên khóa kín, vừa bị bướm lọt vào, cứ là mê tít.

Tôi kể chuyện uống rượu tối qua với đám con gái trong bệnh xá cho nàng nghe và bảo:

– Thức sáng đêm nên dậy trễ lại phải chờ thằng Châm trở về U lấy cái ống dòm cho.

Nàng bèn lấy cái hộp ống dòm bảo tôi mở ra cho xem. Tôi chỉ cho nàng cách điều chỉnh độ âm dương. Nàng thích thú lắm. Nàng bảo thằng Hùng cũng có một cái nhưng xem không rỏ bằng cái này. Tôi cười bảo:

– Cái này thuộc loại đặc biệt. Có thể xem thấu suốt mấy lớp vải .

– Anh giỡn hoài.

– Ban đêm xem như ban ngày, thiệt mà. Hổng tin đây anh xem em thử.

Nàng đập vai tôi và kêu oai oải:

– Dẹp đi, dẹp đi.

Tôi cầm ống dòm đưa lên mắt, dí vào nàng. Nàng co rúm và gục đầu vào hai đầu gối để tránh. Tôi cất vào hộp và hỏi:

– Bữa nay về nhà ăn cơm với gì?

– Cá mua của tụi Tư Ó .

– Họ còn ở đó à?

– Em đâu có cho đi đâu mà không còn. Ở đây không có người, anh dạy em bắn chút.

– Bộ muốn làm xạ thủ hả?

– Hồi ở trên phát cho cây K54 tới giờ em đâu có bắn phát nào.

– Trời đất! Vậy cũng mang cho nặng!

Sẵn có cái hộp guy-gô nhôm trắng méo treo ở đầu mắc võng, tôi cầm lấy ném tung lên và móc súng lẫy luôn mấy phát. Chiếc lon rơi xuống. Tôi đến nhặt lên đưa cho nàng xem. Nó bị lũng mấy lổ. Sẵn ngứa tay tôi vứt ra xa rồi bắn luôn mấy phát nữa. Đất tung lên. Chiếc lon quay lia. Nàng xuýt xoa:

– Anh giỏi thật. Cái gì cũng biết.

– Từ nhỏ đến giờ chuyên môn ba cái vụ đó mà không giỏi sao được.

– Anh bắn máy hay được không?

– Được chớ sao không, nhưng phải có cao xạ.

– Ừ thì em nói cao xạ , chớ em đâu có nói súng này. Mấy ông Hai Quảnh và Ba Tô Dê chắc cũng giỏi lắm.

– Họ là học trò của…

– Định nói là của anh, nhưng tôi ngưng ngang và rẻ sang chuyện khác.

– Mai anh bảo mấy đứa nhỏ làm bia rồi anh dạy cho em bắn. Ít nhất phải biết yếu lĩnh cơ bản chớ bắn rừng thì chết ai.

– Anh ở lại dạy cho mấy đứa của em dùm với.

– Tụi nó là lính mà không biết bắn à ?

– Đám thằng Trứu là tân binh miền Bắc. Chúng nó bảo bị động viên đi vô bộ đội lãnh súng đi Nam ngay không có học hành gì hết. Còn mấy đứa kia là dân địa phương cũng đâu có tập luyện gì ! Chỉ biết lắp đạn bóp cò thôi. Vậy mà ra đường, đi quán, vô ấp chiến lược, tụi nó le lắm.

Tôi bảo:

– Bởi vậy trong này R mới tổ chức trường Huấn luyện Tân binh 365A và 365B do ông trung tá Bắc kỳ Lê Xuân Chuyên phụ trách. A là tân binh miền Nam. Còn B là Tân binh miền Bắc.

Út chớp chớp mắt:

– Em biết! Họ ở trên ngả ba xóm Vinh, gần bệnh xá K71-B. Thứ lính Bắc kỳ ở đâu như ong bể ổ có ngày B52 thả rụm nụ cả đám!

Chiều hôm đó về tới nhà bà Khu ủy, cái nhà thụt sâu trong rừng, cách con lộ ủi độ một trăm thước. Chỉ có thằng Bắc kỳ con thủ trại. Trứu thấy tôi đến thì reo to. Hắn coi tôi như người Sơn Tây của hắn vì kỳ trước tôi đến, tôi kể chuyện trường pháo của tôi đóng gần nhà hắn, hắn nhận ra tôi. Đi xa quê mà gặp người đồng hương quả thật là một hạnh phúc lớn.

Hắn bắt chước tiếng Nam kỳ, nói tía lia.

– Thủ trưởng đến chừng nào đi. Đưa võng đây em giăng cho. Thủ trướng đi em buồn oá tay chân.

Tôi ngồi lên võng hút thuốc, còn hắn đem ba cây nan tre ra chuốc làm bẩy gài chồn.

– Thủ trưởng ở chơi với em ít hôm đã đi đâu mà vội ! Tối nay em xin phép chị Út dắt thủ trường ra ấp chiến lược uống nước đá…

Hắn bỗng ném dao chạy vút đi. Một chốc trở lại, thở hổn hển bảo:

– Em quên xách nước cho chị Út tắm.

– Bả có tay chớ phải cùi hay sao?

– Đó là chế độ mà thủ trưởng – thằng nhỏ chuốc nan trở lại vả tiếp – Ở ngoài ấp chiến lược vui lắm thủ trưởng à. Em hứa với thủ trưởng một câu xanh dờn, thủ trưởng ra tới đó là hết có muốn về trong này luôn.

– Gì mà dữ vậy ?

– Nhà nào cũng có la-dô kèn hát vui lắm. Con gái đầu quăn, mặc quần áo toàn là vải náng không có xù xì như ngoài ta.

Tôi trừng mắt, hắn hiểu ý, nói nhỏ lại:

– Dân trong mình sung sướng quá thủ trưởng ạ . Sao đảng ta bảo là họ bị Mỹ Ngụy bóc lột tới tận xương tủy, bắt mình vô giải phóng.

Tôi bảo:

– Coi bề ngoài vậy thôi chớ bề trong là nát lắm. Đó là phồn vinh giả tạo cậu hiểu không?

Thằng bé trố mắt nhìn tôi, tưởng tôi nói thiệt nên cãi lại:

– Em xin phép thủ trưởng phát biểu ý kiến được không? Phồn vinh giả tạo gì mà thịt heo mua tha hồ, gạo trắng như bông không phải độn ngô, quần áo lòe loẹt. Con gái làm đồng cũng mặc áo đẹp thế? Còn ở ngoài mình phồn vinh thiệt mà từ ngày em lớn lên chưa bao giờ thấy gia đình ăn một bữa cơm trắng là sao?

– Ra ấp chiến lược cậu để ý cô nào chưa ? Tôi biết chung quanh đây có mấy cô đẹp lắm. Nhờ chị Út làm mai cho.- Tôi đánh trống lãng sang chuyện khác.

Trứu xua tay:

– Ối già ! đẹp thì đẹp thật, nhưng toàn cao xạ 20 ly không đó . Cỡ em không có dzô được đâu, láng cháng mấy cô đá cho văng lên tới ngọn cây. Có khả năng là gái ấp chiến lược cơ. Em ra đó gặp một gia đình Bắc kỳ. Em lân la làm quen, biết là ông bà ấy ở Phú Thọ vào đây hồi 54. Một gia đình khác ở Thái Bình vào đây hồi bốn nhăm. Họ nghe tiếng em nói thì hỏi gốc. Em nói trớ là gia đình ở Tây Ninh. Một ông bảo: “Tây Ninh cái đếch. Chú mày mặt mũi mét trằng mét ưỡnrãi phóng đứt đuôi con nòng nọc đi rồi, còn phịa nữa. Không có kêu trưởng ấp đâu mà sợ. Bỏ cái nón tai bèo đi vô đây tao giúp cho mần ăn. Đừng có dại dột lũi trong rừng bị B52 nghe chữa?”

Tôi cười:

– Rồi cậu trả lời làm sao?

– Em không trả lời làm sao cả . Em chỉ ừ è cho xong rồi dút nui.

– Rồi không tới nữa à?

– Em về báo cáo với chị Út. Chị bảo coi chừng bị mua chuộc nên em không dám tới nữa. Câu nói không biết chơi hay đùa nhưng làm em suy nghĩ quá chừng.

Đi vào cách mạng mỗi người mỗi bi kịch. Càng đi lâu, bi kịch càng có nhiều màn.

Chiều hôm đó, nàng kêu cả nam nữ lại phân công đi tứ tán, nhưng trước khi chúng lên đường nàng dặn kỹ:

– Đây là anh Hai của tôi, không ai được nói lén gì, nghe chưa ?

Mấy đứa nhỏ dạ răm rắp, rồi lĩnh mất, để cho anh Hai ở lại với bà chị kính mến của chúng. Tôi leo lên võng nằm lắc lư với điếu thuốc, miên man suy nghĩ: Đời mình ở cung Nhâm nên lúc nào cũng có quái nhơn phò hộ. Cái bi kịch của tôi là luôn luôn được yêu mà không bao giờ được ngừng chân để tận hưởng bất cứ cuộc yêu đương nào.

Lần này cũng thế. Tôi ở lại đây ba ngày. Tôi dạy nàng cách viết công văn, cách đề ngày, dạy một ít con toán và dạy xử dụng K54: tháo, ráp, lau chùi và bắn. Nàng luôn luôn tỏ ý muốn thành vợ thành chồng một cách công khai, còn tôi thì cứ nại cớ chiến tranh ác liệt, tình hình không ổn, không thể tiến hành hôn nhân. Vả lại, tôi đã báo cáo việc của tôi và Thu Hà với tổ chức và nhờ can thiệp gởi Thu Hà từ Mã Đà về công tác trong này rồi. Nay lại ló cái cạnh này ra thì tổ chức đâu có phê cho.

Cuối cùng tôi phải bất đắc dĩ làm Tiết Ứng Luông gặp Thần Nữ vì phải đi về phục lịnh soái gia. Chỉ có điều khác là giữa chúng tôi và cặp tình ly kỳ trong truyện Tàu là tôi không bị soái gia bắt tội chém và Thần Nữ không phải đem Ngũ Linh Kỳ chuộc tội cho tôi.

Buổi sáng hôm đó, nàng tiễn tôi đi đến tận bờ sông Bà Hảo, nhưng không để cho đứa nào đi theo hộ vệ. Nàng bảo đám lâu la:

– Tôi đi công tác với anh Hai, các cô các cậu ở nhà cứ kế hoạch tôi đã vạch ra mà thi hành cho tốt.

Thằng Trứu quyến luyến vô cùng:

-Thủ trưởng đi em không biết nói chuyện với ai nữa.

– Ở đây thiếu gì bè bạn.

– Đâu có ai biết chuyện Sơn Tây, thủ trưởng. Nó mếu máo muốn khóc. Tôi thấy thương nó thật. Đang học cấp ba bị đưa vô đây, sống với muỗi đòn xóc, sốt ác tính lúc nào không biết, có vùi thây nơi đây thì gia đình được giấy báo tử hay không?

Nàng đi với tôi như vợ chồng. Nàng nói hết chuyện này tới chuyện nọ rồi càu nhàu:

– Đánh gì đánh hoài. Chỉ thị nào ở trên đưa xuống cũng biểu thừa thắng xông lên. Không xông lên thì xông xuống à? Vài năm nữa đâu còn ai mà xông lên. Dân thường lớp chết lớp ra ấp chiến lược. Cán bộ lớp chết lớp hồi chánh. Anh hùng dũng sĩ cũng không còn.

Nàng làm như tôi là người đẻ ra những chỉ thị ấy.

– Còn bà Năm Cầu Xe bây giờ tê liệt nằm một chỗ.

– Năm Cầu Xe là ai?

– Thì cũng đội quân đầu tóc như em trước đây, nhưng bả đã xồn xồn bốn mấy rồi.

em>(Bà này nhờ mồm mép khai láo, được cảnh sát VNCH thả ra, về nhà lại báo công thành tích. Được Ba Bê, bí thư quận ủy Trảng Bàng, cho làm bí thơ xã Đôn Thuận và quận ủy viên. R nghe “nhạy cảm là điển hình tốt cho đấu tranh chính trị”, nên đưa phóng viên xuống tận nhà bà nông dân để thổi phồng. Tên Năm Cầu Xe sau đó vang vang trên đài giải phóng mỗi ngày. Được ông Sáu Vi đánh giá không thua gì “anh hùng” Võ thị Sáu người con gái đất đỏ Bà Rịa năm xưa, hay ông Nguyễn Đức Thuận, người tù từ Côn Đảo trở về được Hà Nội cho đi khắp miền Bắc khoe thành tích ở tù của ông ta và các đồng chí Trung ương, sau đó được phong cho chức phó chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao động Việt Nam, dưới Hoàng Quốc Việt một phé.)

Út bĩu môi rồi tiếp:

– Bả có thành tích gì. Ăn nói hỗn hào bị trưởng đồn Cao Đài ở Cầu Ván tát cho một bạt tai, giải lên xe đưa về quận. Bả lọi giò khi xe chạy tự bả phóng xuống chớ bị ai đánh mà khoe. Trong tù bị chí, bả tự cạo đầu, chớ ai nào cạo. Biết bả đâu phải loại chánh trị lãnh đạo nên tụi Sài gòn mới thả ra. Vậy mà về tới nhà, ông Ba Bê vẫn tán thưởng cái họng rổ sảo của bả… cho bà là một đảng viên trung kiên – Út cười gằn – Ba Bê nâng đỡ bả lên. R lại bợ thêm… nay bả ngồi trên đầu ông… Tỉnh ủy viên Tây Ninh rồi đó.

Tôi cười:

– Em ganh với người ta hả? Tỉnh ủy chứ đâu bằng cái khu Tân Biên của em? Hay em tức vì không được lên đài?

– Em không ham lên đài đâu ! Có mười cái huy hiệu anh hùng gắn cho em mà bảo em làm như nó, em cũng không nghe. Bây giờ tàn phế rồi. Cha mẹ thì không nuôi được còn chồng con thì không có. Bây giờ không biết bả sinh sống ra sao?

– Chẳng thuốc men gì à?

– Một anh cán bộ vừa ở Trảng Bàng chạy lên đây cho biết có gặp bả . Anh ta thình lình vô nhà xin nước rồi gặp chớ không phải là đến thăm. Bả bò lết không có đi được. Bả là đầu đàn của đội quân đầu tóc Trảng Bàng nên mới bị tra tấn dữ vậy. Chớ mấy đứa kia chỉ bị vài bốp tai sơ sơ rồi được thả về.

– Hồi đó em không gia nhập đạo quân đó à ?

– Có chớ, nhưng em đi đằng sau. Nó chỉ vẽ khẩu hiệu đả đảo Hồ Chí Minh rồi tống về.

– Sao bây giờ lên tới khu ủy được?

– là…là do mấy chú mấy bác nâng đỡ !

Nàng đưa tôi đến bờ sông Bà Hảo, một ngánh sông Sài gòn. (Ngánh này chảy lên đến đường đá đỏ (liên tỉnh lộ 13) ở ấp Tân Thiết, xã Lộc Ninh (đi ra lộ độ mười cây số đụng bót Suối Đá), thì rẽ làm đôi. Một gọi suối Mây Tàu. Nhánh bên trái gọi là SuốI Đôi. Suối Đôi chảy qua Trảng Đồng Rùm lại chia làm hai, nhánh nhỏ gọi là Suối Dây, trạm đường dây T14 và căn cứ của cơ quan U80 Bộ Tư Lệnh Pháo Binh giải phóng sống nhờ nước con suối Dây này. Còn nhánh lớn là suối Tha La chảy ngoằn ngoèo giữa rừng già ăn tận biên giới Việt Miên tới đồn điền cao su Mi-mốt. Muốn đi khu IV phải qua con sông này, đây là nơi lính Suối Đá thường ra phục kích các đoàn cán bộ từ R xuống khu IV hoặc từ khu IV lên R. )

Đang đi, bỗng nàng quay lại nghiến răng:

– Em mà có quyền gì em sẽ thiến mấy thằng cha đó.

– Mấy thằng cha nào?

– Năm Lê, Sáu Nam.

– Mấy bả dông hết về thành rồi còn thiến làm gì nữa.

– Dông hồi nào?

– Bà vợ Lê Đức Anh (tức là Sáu Nam) thì sau khi giao con Thanh Tuyền cho ổng, ra Bình Dương đếch tham gia mặt trận. Đã vậy bả còn gọi Mặt Trận Lưu Manh. Thằng chủ tịch mang án hảm con nít, còn đám lâu la thằng nào cũng lem luốc mặt mày.

– Bả chửi ghê vậy cơ à ?

– Bả sợ gì ai? Còn bà Hai Mặn chơi còn ác nữa. Bả về thành cho hai thằng con trai đi học thiếu sinh quân của tụi Sài gòn ở Vũng Tàu, riêng bả thì quơ một thằng sĩ quan Sài gòn.

– Rồi ông Sáu Nam làm sao?

– Thì ở trong này làm Tha mu trưởng và kiếm con gái nuôi giải buồn.

– Anh coi chừng, anh mà làm kiểu đó thì biết em !

Mặc dù chưa ăn thua đậm, nhưng nghe nàng hăm tôi vẫn run gân, gượng gạo chống chế:

– Mấy ổng khác, anh khác.

Chúng tôi ngủ lại gần bờ sông Bà Hảo một cách hết sức phiêu lưu. Đáng lẽ tôi phải vọt qua sông ngay để đi một mạch xuống I/IV nhưng nàng bịn rịn mãi tôi đi không đành, vì đây là khu tử địa thường bị biệt kích ghé thăm (lính quốc gia giả làm VC, chủ quán đâu biết, vì ai cũng có nón tai bèo, dép râu, súng AK).

Ở đây cũng có những cái quán bên đường tiếp nhận khách của cả hai bên: Quốc gia lẫn Việt Cộng. Bên nào có tiền là khách tốt. Nàng đi vào một cái quán thu hình kín đáo dưới lùm cây le, nếu nhìn thoáng qua thì không thấy.

Đây cũng là đối tượng thu thuế của bà khu ủy. Thấy bà vào, chủ quán, một người đàn bà sồn sồn, niềm nở mời:

– Chị Út đi công tác hả ? Uống miếng nước ngọt rồi hãy đi. Tình hình bữa nay êm.

– Có ai qua sông không?

– Dạ mới có một chuyến qua thôi. Dạ , thuế của em để thản thản được không chị Út?

– Thản là bao lâu?

– Dạ vài tuần. Biệt kích vô hoài, hàng họ ế quá .

– Mình sắp mở chiến dịch, bộ đội cần tiền mua súng đạn.

Nàng đanh sắc mặt và xổ chính trịư túi bụi, đến nổi bà chủ quán không đỡ kịp. Rồi không chờ bà chủ phân trần thêm, nàng bảo bà ta lấy lạp xưởng, trà, thuốc, tôm khô, khô mực, bánh ngọt, kẹo, dầu Nhị Thiên Đường v..v… Bà chủ dồn tất cả vào túi rồi đưa cho nàng. Không nói không rằng, nàng xách chiếc túi đi ra. Vừa đi vừa nói:

– Chốc nữa tôi trở lại thanh tán ba cái thuế.

Dưới mé sông có sẵn xuồng. Một loại xuồng độc mộc khoét bằng thân cây rồi đóng bít hai đầu bằng hai miếng be. Nước vô ngập bộn bàng. Nàng càu nhàu:

– Ghe xuồng như thế này thà bơi còn chắc ăn hơn.

Tôi đứng nhìn con sông mà ngao ngán. Nước chảy như ngựa chạy, nhìn phát chóng mặt…

Nàng bước đến trước mặt tôi, hai tay đặt lên hai vai, rưng rưng nước mắt thì thầm:

– Bây giờ anh tin tưởng em chưa?

– Tin chớ sao không! Em là một cán bộ tốt!

Nàng háy tôi.

– Không! Vụ kia kìa.

– Vụ nào?

Nàng tát nhẹ vào má tôi.

– Banh da xẻ thịt người ta, bộ không biết à?

Tôi hôn nàng như một sự biết ơn.

– Sao không !

– Em sẽ giữ mãi cái khăn bàng lông đó !

– Cho anh đem theo được không?

– Không đâu, để anh giữ anh làm mất! Đó là kỷ niệm của em.

– Không phải là của anh à ?

Nàng gục đầu vào ngực tôi, khóc rưng rức.

– Em biết anh sẽ không trở lại. Em sẽ lấy ra coi mỗi lần em nhớ anh.

Tôi thấy mềm lòng thực sự, như chưa lần nào, trong những phút chia ly. Tôi không còn muốn đi đâu nữa. Sao tôi không có thể sống ở đây với người yêu tôi, trong một túp lều bên suối với một trái tim đã dâng cho tôi trọn vẹn. Tôi không ngờ một người con gái – đã được tôi biến thành đàn bà – yêu tôi đến thế. Còn tôi thì tự coi mình như chỉ là một kẻ nghỉ ngơi trên sa mạc dưới bóng cây hiếm hoi giữa trời nắng lửa. Nàng tưới nước mắt ướt đẫm ngực tôi, càng lúc càng khóc to lên như tiếng suối gần, chấn động cả tâm can tôi.

Tôi đi không đành. Tôi dìu nàng đến một vùng lá khô, trải ni-lông ra. Hai đứa cùng nằm. Tôi lại yêu nàng. Nàng không muốn cho thân thể tôi rời khỏi thân thể nàng nữa. Nàng cứ siết chặt mãi và rên rỉ bi ai như bị một vết tử thương.

Lần này tôi không cần đè đặt. Tôi cứ để con suối lòng tôi đổ rốc vào nàng, bất cần hậu quả. Có con cũng tốt, tôi sẽ nhận là con của tôi. Tội gì? Tôi cần một đứa con. Tôi tha thiết muốn được làm cha. Tôi muốn có một đứa bé mà tôi gọi là con như bao người dân thường khác gọi con. Cái tiếng thắm thía vô cùng: Con! Cách mạng: vô nghĩa.

Nàng bình tĩnh trở lại, thủ thỉ:

– Anh yêu em bao nhiêu lần, chẳng lẽ không có con?

Tôi làm thinh. Mắt ngước nhìn tàng lá che trên đầu. Một khung trời xanh có mây bay lớt phớt. Nàng rờ rẫm khắp mặt mủi, thân thể tôi và bảo:

– Em sẽ không quên anh bất cứ thứ gì. – Nàng sờ mắt tôi và tiếp – Con sẽ giống anh như đúc.

Rồi cũng phải chia tay. Tôi ngồi dậy cuốn tấm ni-lông. Bất ngờ tôi nhặt được mảnh bom trong đống lá nát. Nàng cầm lấy và bảo:

– Còn ấm anh ạ ! Còn ấm !

– Có cấn lưng em không? Coi chừng đứt thịt mà không hay đó !

Tôi vừa nói vừa vạch áo nàng lên xem, bất thần hôn vào mảng da ngà ngọc. Nàng rùng mình và ngoặc tay ôm lấy đầu tôi.

– Em sẽ gói với chiếc khăn.. . Anh ạ ! Nếu em có bầu thì em sẽ về nhà luôn để nuôi con. Anh đi cho cẩn thận. Xuống dưới đó gởi thơ về .

….

Tôi bước xuống xuồng…

Quả là một chiếc xuồng bát nhã đưa Tam Tạng qua sông đi Tây phương thỉnh kinh Phật. Nó ọp ẹp, bệ rạc, không có dầm bơi. Đúng ra không phải là một chiếc xưồng. Tôi gắng gượng bảo:

– Thôi em về đi! Đứng đây lâu không có lợi!

Nàng đứng trân trân. Tôi bơi xa đần. Cái dầm bơi là một tấm be ngắn. Xuồng lướt chậm rì. Đây là ranh giới rừng rú và đồng bằng, giữa cái sống và cái chết. Tôi đã cởi áo rừng xanh để đối diện Thần Chết. Bờ sông Bà Hảo nát nhừ dấu bom đạn. Đã ngót ba mươi năm, nó vẫn còn kia với bức tượng đá Vọng Phu.

Chương 27
Giặc giả gì “oánh” mấy chục năm chưa dứt!

Đi về phía rừng Bời Lời tôi càng thấy cô đơn. Tôi đi ẩu quá không theo đường dây giao liên mà cũng không mang theo một cậu nhóc để đỡ tay đỡ chân. Nếu tôi bắt thằng Bắc kỳ con đi với tôi thì nó thích lắm (Thay vì ở lại phải xách nước cho bà khu ủy tắm) Và chắc là bà khu ủy cũng cho nó đi ngay để giữ mối dây tình giữa tôi với bà.

Bên này sông Bà Hảo tôi không sợ biệt kích bót Suối Đà nữa, nhưng lại phải căng tai trố mắt ra mà canh chừng máy bay. Một vùng rộng mênh mông đã bị cày láng không còn một gốc cây trải ra trước mặt tôi. Tôi móc súng ra lắp đạn lên cò nhỏ và tìm một mô đất để ngồi, nhưng sực nhớ đến con ve mà nàng Út nhắc hôm nào tôi chỉ đứng tựa vào gốc cây Tội nghiệp thân cây bị một vết đạn xé ra kinh khủng. Nếu có gió to nó sẽ gãy cụp.

Tôi ngoảnh nhìn lại. Rừng cây che khuất bờ sông, nhưng tôi vẫn còn trông thấy người đàn bà đứng đó . Rồi thấy cả Mai Khanh ở ven rừng. Rồi thấy Huỳnh Mai, Thu Hà ở sau thân cây bàng lăng. Tôi giã từ tất cả những gì thân yêu sôi nổi nhất của đời tôi để lăn thân vào gai góc chết chóc.

Bỗng dội lên tâm trí tôi câu nói của nàng Út: “Nếu em có bầu em sẽ về nhà luôn để nuôi con! “. Câu nói đó làm cho tôi xốn xang và thấy thương nàng vô cùng. Nàng như một thứ ngợm bắt làm anh hùng. Đã là anh hùng được tung hô inh ỏi mà vẫn không hiểu anh hùng để làm gì. Và cuối cùng chỉ mơ ước có một đứa con để làm cái cớ bỏ công tác. Không phải chỉ một mình nàng mang nổi ước mơ đó mà Mai Khanh, Huỳnh Mai và những người con gái khác yêu tôi cũng muốn có con. Tôi mới hiểu ra cái tâm lý của họ là họ sợ chết thình lình mà không có chồng có con. Đúng ra, họ muốn sống cuộc sống bình thường: một mái nhà, một cái giường ngủ, một cái bàn ăn và một người đàn ông mà họ gọi là chồng, một đứa bé mà họ gọi là con.

Tôi cũng thế. Tôi ngao ngán đến cực độ cái cuộc chiến tranh này. Ba mươi ba tuổi, chưa già nhưng không phải là trẻ. Người ta nói tuổi tam thập là tuổi lập thân. Tôi đã làm nên trò trống gì ngoài ba cái kiến thức pháo binh. Đi đâu cũng được gọi là thầy nhưng rồi ngó đi ngó lại, đời tư trống không. Bao nhiêu cuộc tình qua là bấy nhiêu chua chát và đau khổ. Ly biệt Thu Hà, vĩnh biệt Huỳnh Mai, tạm biệt Ba Ánh, Mai Khanh, Út…

Một đứa con! Đã từ lâu, từ lâu lắm cơ, tôi cũng mơ ước có một đứa con. Đứa con là hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời. Do đó vợ chồng không con đi xin con nuôi. Con người ngày xưa cũng thế mà bây giờ cũng thế. Vua chúa cũng thế mà thường dân cũng thế. Tại sao Triệu Tử Long đoạt ấu chúa? Tại sao Tạ Nguyệt Kiều phải rời cung để về San Hậu thành. Tại sao Quách Hoè ly miêu hoán chúa? Tất cả chỉ vì đứa con. Tôi đã sống trong cảnh gia đình êm ấm, có mẹ có cha, có anh chị em. Cha mẹ tôi chỉ mong tôi lớn lên là cưới cô bạn cùng lớp của tôi cho tôi. Nếu không có cuộc cách mạng tháng 8 thì bây giờ tôi có một bầy con. Nhà cửa chắc là vui lắm.

Tôi rời gốc cây đi theo đường xe bò cắt ngang qua một khu rừng thưa. Đất nhảo quấn vào dép nặng nề, tôi phải lột ra xách tay và lội chân không. Gan bàn chân cứ nhờn nhợn sợ dẫm lên mảnh bom. Ở Trường Sơn mong được đến R. Đến R thì lại ước được về đồng bằng. Thì đây là đồng bằng. Tầm mắt không còn bị chắn ngang nữa, nhưng tâm trí lại nặng nề những ưu tư, những dằn vặt, khổ tâm.

Củ Chi là xa xa kia chứ gì? Cái thân bé mọn này sẽ đem ra đấu với những khối thép khổng lồ trên chiến trường đó: những phản lực thần sấm, B52, những cá nhái, cá rô, đầm già, cà nông đủ cỡ sẽ chĩa vào tôi, trong khi tôi chi có hai bàn tay với một tâm trạng của một An Lộc Sơn trấn nhậm Bình Lư, một An Lộc Sơn rời bỏ Dương Quý Phi với nổi uất ức lật đổ hôn quân chiếm lại người yêu, còn tôi thì mong gì? Bọn râu rìa mặt đỏ từ Hà Nội vào ngập cả Bộ chỉ huy. Làm sao tôi chống lại được dù rằng đã thấy trước đất Nam kỳ sẽ là thuộc địa vĩnh viễn của lũ đầu bò Hà Nội, một thứ đế quốc xâm lăng ngay cả dân tộc mình.

Khu rừng Bà Hảo không lớn lắm. Chỉ lội chừng hai tiếng đồng hồ là ra khỏi. Lần trước đi theo Ba Tố về trường pháo binh tôi đã đi ngang qua đây. Mới đây mà đã một năm rồi. Hồi trước cây lá còn xanh tươi. Bây giờ chất độc đã làm cho nó thành những bộ xương đen nám chơ vơ. Tôi thấy hơi khó thở nên cố vượt qua nhanh. Xóm Lò Than đây rồi. Đường đất cát pha nâu sậm như ở vùng Quảng Xương Thanh Hóa. Tôi bẻ một nhánh cây khô cháy vì hóa học, định sẽ dùng gọt đất dính ở dép nhưng giật mình: không biết chất độc có ăn vào da không, nên quăng đi và tìm nhặt một hòn đá nhưng lại bắt gặp một mảnh bom vùi trong cát. Tôi nhặt lên. Mảnh bom bằng hai ngón tay và dài một gang giống như miếng thịt hai lạng rưỡi mua ở phố Huế Hà Nội. Tôi dùng nó như con dao cạo hết đất ở dép và thọc chân vô. Bước đi nhẹ nhõm.

Xóm Lò Than ngày nay chỉ còn lưa thưa vài mái nhà với vườn tược xơ rơ vài gốc mít vài bụi tre nhưng không cây nào nguyên lành. Năm ngoái khi Mỹ chưa vô thì đây là nơi đông dân cư. Dân làm nghề hầm than để chở ra bán ở Cần Khởi, Rỗng Tượng, Cẩm Giang. Nay họ đã tìm cuộc sống ở ngoài vùng quốc gia. Chủ nhà nào gan lỳ mới còn nấn ná ở đây.

Tôi đi trên con đường xe bò bọc theo ven rừng. Ra khỏi xóm nhà Lò Than thì thấy khu vườn Cần Khởi ở bên kia cánh đồng mênh mông với những mái nhà san sát, ống khói nhà máy bên cạnh những mái ngói đỏ au. Chỉ cách một cánh đồng mà bên kia là cuộc sống còn bên này là cái chết. Tôi có cảm tưởng như đó là dãy phố Khâm Thiên, Ngã Tư Sở Hà Nội. Tôi thấy khát nước nhưng bình toong đã cho rồi. Làm biếng vào nhà dân xin nước nên tôi ngồi phệt dưới gốc cây, không sợ con ve cắn nữa. (Ve là một loại rận rừng ác lắm. Nó cắn và chui vô da làm sưng tấy lên nhức nhối chớ không phải như ve thường. Muốn bắt nó phải mổ. Vào Trường Sơn thì bắt đầu gặp anh chàng này).

Tôi đang hồi tưởng lại cuộc sống hạnh phúc ba ngày với nàng Út vừa vuột khỏi tay thì nghe có tiếng leng keng rồi một chiếc xe đạp từ khúc quanh trước mặt tôi trờ tới. Tôi nghĩ: có lẽ nó bảo mình ngồi xít vô tránh đường cho nó chạy, nên đứng dây sụt vô rừng. Chiếc xe đạp vừa tới thì tôi kêu lên:

– Ê, Lạn!

Người cởi xe đạp đang cụp cổ, nghe kêu bỗng ngước lên.

Tôi trêu luôn:

– Bộ đi thồ heo hay đi đâu mà gấp vậy?

Thằng Lạn – kẻ cởi xe là Lạn – đưa chân lên thắng bánh sau. Chiếc xe vẫn trờ tới trước.

– Ai vậy?

– Hai Lôi nè.

– Trời đất . Anh Hai !

Nó vừa kêu vừa nhảy xuống, hạ chiếc xe xuống đất rồi nhào tới ôm tôi rối rít:

– Anh đi đâu đây. Sao đi có một mình vậy? Đây là khu oanh kích tự do của Mỹ.

– Oanh thì oanh chớ.

– Anh có thấy B52 cày bên kia sông Bà Hảo không? Rùng rợn quá hở anh – Tôi chưa kịp nói gì Lạn đã tiếp – Hàng trăm con gái, thanh niên, xác vùi luôn dưới mấy hố bom đó anh.

– Sao không chôn cất đàng hoàng mà làm gì như nhận mắm vậy?

– Trời! cả hai trăm mạng, mất đầu, mất tay, thịt xương bấy bá . Du kích ở đó phụ cho là phước. Cứ lượm xác rồi tuôn xuống hố bom lắp lại thôi.

Tôi bảo:

– Tối qua anh căng võng ngủ một mình với đống lửa, phía bờ bên kia cách sông vài trăm thước.

Lạn quay mặt lại, cau có giận tôi:

– Anh ẩu quá, chết một mình anh mà còn tội nghiệp người khác.

– Ai ?

– Chiều em đưa anh về Trảng Sa thì biết. Thôi, lên xe cho em chở đi ra khỏi nơi đây rồi anh muốn gì sẽ tính.

Vừa nói nó đỡ chiếc xe đạp đậy. Tôi như được gặp tiên. Tôi phóc lên poọc-ba-ga ngồi. Thằng Lạn đạp thật nhanh.

Tôi trêu nó.

– Bộ mày mới đi Liên Xô về hay sao coi bảnh vậy?

– Ừ, em ở Mạc Tư Khoa về đây.

Hai anh em cười xòa. Tôi đưa tay cầm chiếc bình toong đeo bên hông nó, lắc lắc. Nó biết ý, lột ra đưa cho tôi. Tôi nốc một hơi, nhét nút đeo vào vai rồi hỏi:

– Nước nào ngọt vậy?

– Nước sông Bà Hảo chớ nước nào.

– Mày đi tới đó à?

– Trạm trên R đặt ở bên kia sông. Anh đi đường nào mà hỏi vậy?

– Cũng đi đường đó chớ đường nào!

– Sao không chờ giao liên mà đi cu ki như thế này.

– Tao không thấy giao liên đâu hết nên nóng ruột đi bừa.

– Ông nội ơi ! Từ rày đừng có đi hoang mang tạc lộ vậy nữa nghen. Đó là tử địa ! Bây giờ em đưa anh ra xóm nhà ngồi nghỉ chân chờ em lên giao công tác và rước khách rồi trở về đưa anh đi. Đừng có đi lang bang nữa nghe ông nội! Được không?

– Không có khách khứa gì trên đó đâu.

– Nếu vậy thì để mai em sẽ đi công văn cũng không muộn. – Vừa đạp, nó vừa tỉ tê – Bây giờ găng gấp mười lần hồi anh xuống kỳ trước. Bây giờ mình chỉ còn sống về đêm. Rừng Bời Lời vừa bị B52 vừa bị chất độc. Cơ quan bây giờ như chuột bị cháy nhà chạy tán loạn ra đồng. Thằng Mỹ chơi ác thật anh ạ . Nó vừa mới đến mà tình hình thay đổi hẳn. Củ Chi bây giờ toàn là ở hầm.

Tôi buông một câu ba phải.

– Coi bộ khó khăn nhiều hả?

– Ở Trảng Cỏ bây giờ họp chợ ban đêm, người ta ngồi chồm hỗm ở ven rừng, ở ngoài ruộng. Tối nay em sẽ dẫn anh đi. Cả một cánh đồng, ở chỗ nào có ánh đèn, có tiếng radô thì chỗ đó là chợ. Đủ mặt bá quan hết. Nào hậu cần 83, nào tỉnh đội, tiểu đoàn 14 Tây Ninh, các cơ quan hành chánh, cấp ủy địa phương, rồi một cơ quan quân khu cũng tham gia vô, sau cùng là đám cóc nhái giao liên tụi em – Lạn vừa thở hổn hển vừa khoe tình hình mới – Bây giờ, ló ra một bước là phải coi chừng đám cá rô.

– Là cái gì nghe lạ vậy?

– Là trực thăng quan sát đầu tròn như cái gáo, có khả năng bay đứng một chỗ hay sà xuống ném lựu đạn vô miệng hầm hoặc lính nhảy xuống bắt người rồi tưng lên trong nháy mắt. Bộ ở trển không có loại đó sao anh?

– Không thấy.

– Nếu đi một mình thì anh đi theo đường xe bò, tức là anh phải đi băng qua rừng Bời Lời. Phổi của anh sẽ vỡ ra mất.

– Sao vậy?

– Em đã bảo Bời Lời bị hóa học. Trời nắng mà anh lội suốt bốn tiếng đồng hồ hít thở ba cái thứ đó hỏi phổi phèo nào còn được? Tụi Mỹ này chơi nhiều cú độc hại lắm anh ạ .

– Còn gì nữa?

– Nội cái pháo của nó mình cũng đủ khùng rồi. Em nghiệm ra Thần Sấm bỏ bom là trò chơi. Đầm già vừa bắn điểm là em chạy tuốt ba chục công bề đứng rồi. Tha hồ mày bỏ bom bi bom đìa. Còn thằng pháo, nó nện nghe cái phụt mình có biết đạn rớt ở chỗ nào mà tránh. Tường nó rớt đâu đâu, ai dè nó rớt ngay mâm cơm hay giường ngủ mới bỏ bà chớ. Đồng bào ở Củ Chi bảo pháo là thằng đui. Cứ đập bừa nhưng mình không đỡ được.

– Bộ chú tưởng tôi không biết ba cái ngữ đó à?

– Ý quên, quên, anh là thầy pháo.

– Tao ớn nhất là hóa học. Tao đã từng chạy nín thở qua nhiều khu vực bị rải hóa học rồi.

– Trên R cũng bị à?

– Không ! Trên đường Trường Sơn, khi qua hai con đường 13, 14. Y như mình lủi trong khu nhà cháy. Mắt cay xé, mặt nóng bừng, mũi chảy nước. Phải nín thở chạy bạt mạng. Đồ đạc có sút văng ra cũng bỏ không dám dừng lại lượm. Tụi nó mà chơi mình bằng hóa học ở đây tức là nó chiếu cố mình số một đó em. Bây giờ cậu tính về Trảng Cỏ bằng đường nào?

– Em sẽ không qua suối nhánh Bời Lời mà em đi đường suối ông Hùng để xuống Bà Nhã. Em đạp xe trên đường lộ khoẻ re thôi.

Tôi bảo:

– Cậu đừng có khinh thường lính Dầu Tiếng. Chúng thường trà trộn trong dân cạo mũ qua Bến Củi. Chúng thường phục kích trong vườn cao su. Bộ cậu tính đèo tôi nộp cho chúng nó hả ?

– Sao anh rành hết vậy?

– Trước khi đi tôi phải hỏi các ông đi I/4 về R chớ bộ nhắm mắt mà đi à? Vùng đó tôi cũng biết hồi chín năm.

– Anh tin em đi. Mới vừa rồi, em đèo ông Tám Thanh (Quân báo I/4) đến làm việc với ông Ba (Quân báo cục R)cũng bằng con đường này. Bữa nay em sẽ đưa anh đến trạm nghỉ ngơi rồi mai em sẽ đưa anh xuống I/4. Tình hình lúc này găng lắm. Anh không nên đi một mình nữa . Cá rô nó rỉa mình hằng ngày đấy. Rủi bị thương làm sao?

– Tao biết tình hình găng nhưng không ngờ nó găng đến thế.

Tôi trỏ tay về bên phải hỏi:

– Xóm nào vậy Lạn?

– Đó là Truông Mít phía quốc lộ I. Đường đó đi xuống đụng Trảng Bàng.

Lạn chạy bon bon như bay. Quả không hổ danh thằng Lạn. Có lúc nó chạy trên đường ngoằn ngoèo trong rừng chồi, có lúc nó phóng qua đồng trống. Qua những khu vườn thấp nó khom mọp xuống như cua rơ đến nước rút. Một lúc, đến bờ suối, nó bảo:

– Đây là suối ông Hùng – rồi dừng xe lại giục – Qua mau anh !

Rồi vác xe lên vai. Tôi vọt nhanh qua suối. Lại phóng tiếp. Chập sau đến một xóm nhà. Nó bảo:

– Đây là xóm ông Hùng ! Trước kia có quán bán hủ tiếu. Thời ông Diệm có xe hơi đi Dầu Tiếng chạy qua con đường này. Từ ngày Đồng Khởi, đồng khô luôn.

– Mày nói điên cái gì vậy Lạn.

– Em nói thiệt mà ! Bà con bảo thế đó . Số là mình phục kích xe đò bắn chết lính lẫn dân, rồi đốt xe. Cho nên con đường này bỏ hoang cho tới bây giờ. Tuy vậy chủ xe vẫn phải đóng thuế cho cả hai bên. Từ ngày Mỹ vô, vùng này và bờ sông Bà Hảo bị chụp mấy lần tiêu hết.

Qua mấy cái nhà có vẻ ủ rủ, tôi thấy trước hàng ba treo vài nải chuối hoặc một xâu bánh ú. Tôi hỏi:

– Đói bụng chưa Lạn?

Lạn vẫn đạp trối chết và đáp:

– Đói nhưng không ngừng xe được đâu anh. Nó chụp bất tử lắm.

– Bộ nó biết đường dây của mình à?

– Biết tỏng đi rồi!.. Du kích ở đây còn có hầm hố lẫn hầm bí mật để chui. Còn mình như cá thòi lòi không hang, lớ ngớ là bị nó tóm gọn thôi. Mới vừa rồi một đoàn cán bộ từ R xuống. Các ông các bà từ rừng xuống thấy quán xá thì khoái bèn ghé lại ăn hút và căng võng ngủ phè phè. Sáng không chịu thức dậy. Thình lình một bầy cá nhái tới đổ quân …ụp hết ráo. Lớp bắn chết lớp bắt sống. Mấy chục.

– Không chạy kịp à?

– Nó không dọn bãi như thường lệ nên đâu có biết mà chạy. Do đó bây giờ, đi qua xóm này không ai còn dám nghỉ chân nữa. Chỉ còn vài cái quán mà cũng thập thò chớ không dám mở to như trước. Vì nếu mở to thì cán bộ đi vào. Hễ thấy đông là nó chụp. Tụi nó có điệp viên nằm đâu đây anh ạ.

Tôi sực nhớ vụ Cọp ba móng ở khu 7 hồi chín năm. Chúng ngụy trang bằng áo da cọp, đào hang nằm trong rừng. Cán bộ đi qua nó ám sát và lấy tài liệu. Tụi Mỹ này còn lắm ngón nghề hơn thế nữa. Bỗng nghe tiếng động cơ. Tôi bảo:

– Nó tới kìa. Đ… bà, tới nhanh thế!

– Kệ nó, mình đã lọt vô rừng rồi.

Bầy trực thăng bay thấp. Tôi nhìn thấy những cái đầu đội nón sắt qua cửa sổ. Lạn bảo:

– Bây giờ ở dưới này tụi nó đổ chụp như cơm bữa, hơi đâu mà lo. Hễ nó đổ thì mình chạy, có chỗ chui thì chui, không có chỗ chui thì lũi, không khỏi thì bị bắt. Cần nhất là nếu liệu chạy không khỏi thì đừng có chạy nó bắn chết. Thế thôi.

– Tụi này đi hướng nào vậy?

– Củ Chi đó .

Lạn vẫn thuyết trình liên miên:

– Ở dưới đó bây giờ dân đi ra ấp chiến lược hết rồi. Ai còn ở lại thì giỡ nhà để xây hầm. Làm gì cũng ở dưới hầm. Ló lên mặt đất là sợ pháo. Pháo ác lắm anh ơi. Lần trước anh về nó cũng đã ác rồi. Bây giờ gấp trăm. Nó có thứ pháo gì bắn đạn tới mình nổ rồi mới nghe tiếng đề- pa vậy còn tránh né làm sao được.

Tôi biết đó là pháo nòng dài siêu âm 175 ly, nhưng không nói ra. Lạn chạy một lúc nữa thì bảo:

-Đây là thuộc đất Bà Nhã. Đó anh coi có đúng như lời em nói không. Tất cả đều điêu tàn. Rừng cao su bỏ hoang mấy năm nay bây giờ lại ăn bom lẫn chất độc. Mấy ông tiểu đoàn 14 của tỉnh Tây Ninh và Hậu Cần 83 bấy lâu nay trú ngụ trong đó, bây giờ hết ở được rồi phải ra ngoài dân. Dân bỏ đi hết rồi, mấy ổng cứ vô nhà ở đại.

Lạn trỏ tay về phía trước:

– Chạy thẳng chừng vài cây số nữa là tới bờ sông Sài gòn.

– Vậy tới Củ Chi rồi sao.

– Cũng gần. Nhưng ở đây còn thuộc Tây Ninh. Anh coi đó ruộng ở đây thuộc loại đất tốt nhưng dân đi hết, cỏ lác lên ngập đầu.

Chạy một lúc nữa thì đến một xóm nhà nằm lẫn trong vườn cây xanh tươi không có dấu vết bom đạn. Tôi chưa hết ngạc nhiên thì Lạn bảo:

– Đây là vùng rìa của tụi nó, máy bay pháo đều không đánh. – Rồi Lạn dừng xe lại – Mình xuống nghỉ chút rồi đi Nếu có lính rượt thì mình lũi vô rừng cao su bên kia đường. Tụi nó không đuổi theo kịp.

Từ lúc vào đường Trường Sơn đến nay, đây là lần đầu tiên tôi được đi giữa một xóm nhà nguyên lành, tuy không an ninh lắm cho mình, nhưng cũng thấy thảnh thơi, cái thảnh thơi phút chốc của một tên đạo tặc dừng chân bên chiếc quán bên đường uống nước nhưng mắt láo liên sợ làng nước đuổi bắt.

Lạn rẽ vào một lũy tre rồi đến một khu vườn rất đẹp. Thoạt nhìn tôi biết đây là một cái quán cóc. Phía trước bắc một cái băng dài. Lạn chạy rà tới bên chiếc băng rồi nghiêng xe cho tôi xuống. Lạn vừa dựng xe xong thì một bà cụ đầu bạc bước ra, miệng móm mém nhai trầu. Bà cụ làm tôi suýt kêu lên Bà ngoại ! Đây cũng là lần đầu tiên tôi được gặp một bà cụ xứ tôi từ sau tập kết đến giờ. Một bà cụ ăn trầu với gương mặt hiền đức. Lạn trỏ bánh ú và chuối, hỏi:

– Bánh cuối này bán sao má?

Bà cụ bảo:

– Chuối bán theo nải, tùy nải lớn nhỏ còn bánh thì năm cắc một cái.

Tôi hỏi:

– Nhưn ngọt hay mặn vậy bác?

– Mặn có, ngọt có.

Tôi nói:

– Vậy bác để cho cháu một xâu mặn một xâu ngọt và hai nải chuối to trái nhất.

Lạn trố mắt:

– Ăn gì hết anh Hai.

Tôi lại hỏi giá thuốc rê vàng tươi như thuốc xiêm mạng Cao Lãnh để trong thùng kiếng. Bà cụ không nói giá mà bảo:

– Thuốc này mấy chú bộ đội kén lắm mà cũng phải khen. Chú em rứt thử một điếu hút rồi biết. Tôi không có tiên triền đâu!

– Vậy bác gói cho cháu hai rê với hai ngọn giấy huyến.

Mua xong, hai anh em ngồi trên băng lột lá bánh ú ăn.

Tôi nói với bà cụ:

– Bánh này bác gói hay đếm lại của ai mà ngon quá. Nếp dẻo mà nhưn cũng vừa ăn.

Bà cụ đáp:

– Con gái tôi nó gói ? – Bà nhìn tôi và tiếp – Chú kia thì tôi quen mặt, còn chú em đây thì tôi mới gặp lần đầu.

– Dạ cháu mới tới đây bác ạ !

– Bộ chú ở ngoài Bắc mới vô hả?

– Dạ không, cháu ở đây.

– Tôi nghe tiếng nói pha của chú thì tôi biết. Tôi cũng có thằng con đi ở ngoải mà sao không thấy về . Bộ đội đi qua đi lại đây hoài mà tôi không thấy nó.

– Dạ chắc ảnh sắp về rồi đấy bác!

– Nghe nói hai năm tôi mới để cho nó đi. Hai năm gì lâu dữ vậy!

Tôi làm thinh. Bà cụ tiếp:

– Phải nó ở nhà thì bây giờ tôi đã có một bầy cháu nội rồi.

Vô tình bà cụ lại khêu động mối thương tâm trong lòng tôi. Tôi đã về đây mà không làm sao cho ba má tôi được một đứa cháu. Chiến tranh đã phá tan hết mọi thứ, từ ngoài mặt đất đến trong lòng người.

Ăn xong, chúng tôi chưa kịp xin nước uống thì bà cụ đã đem ra một tô nước mưa. Cái tô Ông Rồng to sao mà giống cái tô ở nhà tôi để dành uống nước mưa, úp lên nắp mái đầm. Một bác nông dân lực lưỡng làm đồng mệt thì uống mới hết một tô.

Tôi ực một nửa, còn một nửa đưa cho Lạn. Lạn uống xong trao cái tô lại cho bà cụ . Bà cụ tính tiền. Tất cả mất mười tám đồng. Bà cụ bớt cho năm cắc nhưng tôi đưa luôn tờ giấy hai chục (của bà khu ủy mới cho). Bà cụ thối lại, nhưng tôi bảo:

– Cho cháu gởi lại đó khi nào thằng em cháu lỡ đường ghé lại thì bác cho nó bánh ăn.

Nhìn quần áo chúng tôi lấm lem, bà cụ thở dài:

– Giặc giả cái gì mà oánh mấy chục năm chưa dứt!

Chương 28
Ấp Chiến Lược thiên đàng

Lạn bảo:

– Bây giờ mình đi về phía Sóc Lào.

Chúng tôi bỏ lại phía sau khu vườn xanh nguyên vẹn để dấn bước vào vùng bom đạn. Hố bom sâu như giếng: Lũy tre cháy đen thui. Lộ bị phá hoại từ thời Việt Minh tới nay chưa đắp lại được. Nhiều khoảng nước suối tràn qua, không có cầu Lạn phải vác xe đạp lội lõm bõm. Có quảng sâu đến bụng. Nước ở đây ngâm mình lâu cũng không cảm thấy bịnh như nước Trường Sơn. Khi qua hết khúc đứt, bắt đầu chạy xe, Lạn mới thuyết trình tiếp:

– Xóm vừa qua là toàn tín đồ Cao Đài đó anh. Nhà còn nguyên vậy chớ họ không cho bộ đội đóng đâu. Vừa ló mặt tới họ chỉ ra ngoài rừng mà ở.

– Mày biết tại sao không?

– Không !

– Tại vì hồi trước mấy ông nội Hai Búa và Tô Ký giết dân đạo ném chật giếng ở vùng Hố Bò chớ sao.

– Sao bà già có con tập kết.

– Chắc bả ở chỗ khác tới. Dân đạo thù Việt Minh thiên niên, không đời nào đi theo kháng chiến đâu. Có thể ở xóm đó còn cơ sở gián điệp cho nên bom pháo nó mới chừa ra. Cũng có thể nó dùng xóm này để chiêu hồi bộ đội.

Lạn gật đầu:

– Anh nói hổng chừng đúng! Ở vùng Bà Nhã nó không đánh nhưng vùng Sóc Lào thì nó đánh chịu không thấu. Ngoài bom pháo ra nó còn bỏ máy dò tiếng động. Đi qua đây không dám nói chuyện lớn. Sợ máy nó phát về hay được là mình bị pháo dập chết tươi.

– Có ai bị chưa?

– Có chớ sao không. Có một đoàn lãnh gạo gồm những thanh niên thanh nữ xung phong, đi ngang qua đây trửng giỡn om sòm bị pháo bắn chết hết trơn. Nghe nói đến trên hai chục mạng.

– Có lượm được máy phát tiếng động chưa?

– Chưa lượm được, nhưng có chỉ thị ở trên đưa xuống học tập vấn đề này.

– Ở ngoài Trường Sơn cũng đã bị rồi. Một chiến sĩ ta thấy cái máy ngồ ngộ bèn lượm bỏ ba lô chơi. Cho nên đơn vị đi đến đâu ăn bom đến đó.

– Rồi làm sao biết được?

– Cuối cùng anh ta chết. Đơn vị moi ba lô lấy đồ để liệm, mới tìm thấy vật lạ, bèn báo cáo lên trên, ở trên mới cho biết đó là máy phát tiếng động, phi cơ hoặc đồn bót ở gần có thể bắt được.

– Đánh với tụi Mỹ này ghê quá anh ạ .

Về tới trạm khoảng ba giờ chiều. Tôi trình cho trạm trưởng hai giấy đặc biệt, một của Bộ chỉ huy R, một của Phòng quân báo R. Trạm trưởng tên là Thái, người khu nam, nhưng không biết sao lại dạt vô đây. Trạm đang thiếu gạo, nên chuối và bánh ú của tôi mua trên quán bà cụ được xử dụng như một bữa tiệc. Ăn xong, Lạn tìm chỗ cho tôi mắc võng đặc biệt rồi rỉ tai tôi:

– Ông trạm trường này khó chịu lắm, anh coi chừng.

– Ở đâu thì cũng nhứt trạm nhì trời thôi, coi chừng cái gì được mà coi!

– Ổng hay bắt bẻ nguyên tắc. Lần trước có một ông khách K54. Khi qua sông Bà Hảo bị biệt kích bắn suýt chết, mất hết giấy tờ, đến đây, mặc dù cả đoàn khách cũng xác nhận như vậy, nhưng ông ấy không cho vô trạm.

– Rồi làm sao?

– Hai bên đánh nhau. Ông khách đập cho ổng sặc máu mũi – Lạn lại nhắc – Kỳ trước anh ghé đây trạm đóng chỗ khác, có con Thanh anh còn nhớ không? Nó nhắc anh hoài.

– Ủa còn ở đây sao? Nghe nói nó được đi Liên Xô mà ?

– Đi cũng như em vầy nè . Đi Mạc Tư Khoai mới về . Nó ở đây nhưng không làm giao liên. Thỉnh thoảng chú nó về. Anh biết thằng chả mà .

– Biết nó là thằng Phạm Duy Nam….

(Nam trước kia ở trong Ban Rùm Beng của E300 với tôi. Anh nó là Phạm Xuân Hoàng là tên quân báo chuyên nghiệp từ thời Nguyễn Bình. Sau khi Bình chết, Hoàng đeo Trà, Trà tập kết, Hoàng đeo Duẫn. Bây giờ đeo Cục R đóng lon thượng tá ngầm ít ai biết cấp bậc của y. Hoàng có đứa con gái đầu lòng sanh ở chiến khu Long Nguyên hồi chín năm. Bây giờ con bé lớn cũng đi vào cái nghiệp quân háo của bố nó: tức là bé Thanh. Thanh ở trạm này. Thỉnh thoảng thằng Nam chú nó từ Sài gòn vào. Rồi hai chú cháu đóng vai tình nhân để qua mặt đồn bót ra khu dễ dàng như đi chợ. Nam khoe với tôi rằng hồi nó đi kháng chiến, nó có con đào tên Thanh. Lúc đó Thanh còn bé, nên chưa tính chuyện nọ kia được, cũng như tôi và cô Duyên ở Tân Bửu. Nó còn khoe là Thanh sau này trở thành ca sĩ Sài gòn. Sau 75 nghe nói ca sĩ Thanh Lan có chồng là cán bộ quân báo thì tôi nghi là thằng Nam, không biết có đúng không ? Nhưng chuyện đó không quan trọng gì, kể ra cho thấy một cái dây mơ vậy thôi. Bây giờ xin trở lại trạm.)

Thằng Lạn tiếp:

– Sau khi anh đi rồi, con Thanh cháu nó , (không phải Thanh Lan) cứ so sánh anh với chú nó. Nó bảo rằng cùng đi kháng chiến mà anh lên tới chức tiểu đoàn trường còn chú nó thì mới có trung đội phó, không có tư thế gì cả. Tối ngày cứ hát ngắt ngơ ngắt nghéo Lá vàng bay theo gióHoa tàn rụng bên sông. Đầu bù tóc rối. Lúc gần đây, ổng lại bày đặt ca: Em Lan ôi, em có tội tình chi mà phải chịu đọa đày cho khổ sở kiếp hồng nhan.. Lần nào đi Sài gòn về, ổng cũng như kẻ mất hồn. Nó bảo nó nghe anh hát bài Chiều mưa biên giới. Kỳ đó, nó khoái ông lắm.

– Sao khoái?

– Ai biết đâu ? Trạm trưởng này chính là con Thanh chớ không phải già Thái đâu. Con nhỏ sai bảo gì thằng chả cũng chạy mờ đầu. Bữa nay nó đi Sài gòn vô tới, anh gặp nó coi!

Lạn tiếp:

– Chỗ này gọi là Trảng Sa đất thấp nước ngập, bẩn chật lắm, nhưng Trảng Cỏ bị D14 Tây Ninh và Binh công xưởng chiếm hết rồi. Họ ở đặt nghẹt từ xóm Cây Da tới Cầu Xe.

– Cầu Xe !

Tôi sực nhớ tới chị Năm Cầu Xe mà bà khu ủy vừa kể hôm nọ.

– Cầu Xe có bót mà dám ở nghênh ngang vậy sao?

– Gần bót càng ít sợ pháo và B52 anh ạ !

– Có vụ đó nữa !

– Để anh xuống Củ Chi rồi xem! Cơ quan bộ đội bây giờ dời địa điểm về cận bót hết ráo.

Nghe tiếng chân đi tới, Lạn nhìn ra.

– Đứa nào đó? Ủa, con Thanh hả?

– Có anh Hai ở đây không?

Lạn nhìn tôi:

– Anh thấy không? Nó đi Sài gòn về đó. Vừa về là tìm anh thấy chưa?

Lạn bảo tôi im và đáp:

– Không có anh Hai anh Ba nào ở đây hết á !

– Anh giấu ảnh phải không?

– Vô đây coi phải anh Hai này không?

Thanh bước vào lều làm tôi giật mình. Mới có một năm mà nàng lớn mau như thổi. Lại ăn mặc kiểu Sài gòn nên coi thật lạ. Thanh reo lên:

– Em tưởng anh đi đâu rồi chớ ?

Lạn chặn ngang:

– Nè, ảnh là bạn của chú bây, bây phải kêu bằng chú nghe hôn?

Thanh nguýt ngang.

– Công tác cách mạng không có chú cháu gì hết! Ông Tái ổng cằn nhằn anh tại sao trạm hết gạo còn dắt khách về làm gì ở đằng kia kìa.

Lạn cự nự:

– Thằng cha Liên khu nem này nói mới loạ chua? Hết gạo là một chuyện, còn khách là một chuyện khác. Lấy cớ hết gạo bỏ khách bơ vơ hay sao? Công tác cái kiểu gì vậy? Để tao ra tao cự thằng chả một mách cho coi!

Lạn nháy tôi rồi chạy đi.

Tôi kéo gốc cây ngồi lên, nhường võng cho Thanh. Thanh đứng xớ rớ không chịu ngồi. Rồi bỗng nhiên nàng thở dài:

– Em nghỉ thôi anh ạ !

– Nghỉ gì ?

– Nghỉ công tác chớ nghỉ gì.

– Sao vậy?

– Công tác gì mà công tác kỳ cục vậy.

– Kỳ cục là sao?

Thanh suýt khóc. Tôi gạn hỏi cách gì cô cũng không nói. Tôi đứng dậy nhưng không dám bước tới một bước. Cái oan khiên nàng Út vừa trút khỏi vai còn nặng trĩu đây, lại sắp hứng một cái khác nữa rồi. Hồi con bé khóc oe oe chào đời ở chiến khu Long Nguyên thì tôi làm mật mã cho Lê Đức Anh. Thanh Tuyền cũng mới vừa ra đời. Tôi vừa gặp Thanh Tuyền ở cục R. Bây giờ lại gặp Thanh ở đây. Cuộc đời của tôi cứ như quả bóng chuyền từ tay người (con gái) này tới người (đàn bà) khác, chẳng mấy lúc được thênh thang trên sân cỏ.

Tôi nhắc lại chuyện chiến khu Long Nguyên:

– Hồi đó anh ưa làm mọi cà răng căng tai nhát má em.

Thanh dường như không nghe gì, nàng cứ tỏ vẻ giận hờn với thằng chú nàng. Tôi hỏi:

– Còn thằng Nam đâu?

– Chú ở ngoài Sài gòn. Em không ra ngoải nữa đâu.

– Tại sao vậy?

Tôi vừa hỏi vừa bước lại gần nàng.

– Có gì thắc mắc nói cho anh nghe xem anh có thể góp ý kiến cho không.

Thanh ngó thẳng vào tôi:

– Chú em bảo em học nhảy twist. (Nàng phát âm rất đúng)

-Trời đất! để làm gì?

– Để chú cài em vào Đồng Dù lấy tin tức.

Tôi hơi ngạc nhiên: thằng quân báo chú lại hi sinh đứa cháu ruột đến thế sao? Quả là trung thành tuyệt đối với cách mạng. Vào Đồng Dù nhảy twist với Mỹ thì còn gì con bé học sinh này. Nó chưa đầy hai mươi tuổi. Tôi dặn lòng: Thôi, phen này đừng có gì nữa để rảnh rang mà lao vào chiến đấu. Nhưng anh hùng ngộ thuyền quyên ở giữa rừng có trời mà cản được.

…. Chiều hôm đó chúng tôi (Tôi, Lạn và Thanh) đi ra ấp chiến lược mua gạo. Tôi muốn đi cho biết chuyện đời. Ở nhà với trạm biết đời nào khôn! Vừa đi, Lạn vừa kể lể:

– Lúc này Hậu cần không phát gạo cho trạm nữa anh ạ. Họ đưa tiền rồi liệu lấy. Con buôn chém thả cửa nên mỗi tháng tiêu chuẩn sụt chừng hai, ba lít. Lần nào con nhỏ này đi Sài gòn tôi cũng dặn ghé ấp chiến lược cõng về hai ống quần gạo mà nó cứ đi không về rồi.

Thanh đang đi trước, ngoảnh lại cự:

– Người ta ngồi xe từ Sài gòn về đến Suối Bà Tươi đã mệt đừ rồi, còn bắt vác gạo hả?

– Không vác gạo thì đói nhăn răng.

– Tôi đi chuyến tới tôi ở nhà luôn.

Tôi bảo:

– Thôi đừng có chọc con nít. Nó khóc rùm lên không có ai dỗ.

Thanh ưỡn người lên phản đối.

– Người ta như vầy mà la con nít?

– Ừ, hổng con nít thì người lớn được không?

Lạn cười như nắc nẻ:

– Ở đời lạ thiệt, con nít ham làm người lớn còn người lớn lại thích cưa sừng làm nghé:

– Ai ở đâu mà thích cưa sừng làm nghé ?

– Ngào hết, ở đâu mà không có . Chú chú cháu cháu, anh anh em em. Vài bữa kiểm thảo.

Thanh thấm ý nguýt ngang:

– Xí! nói chuyện lãng nhách.

Thanh đi nhanh nhanh phía trước, mái tóc thề xỉa chấm nửa lưng, đôi vai gầy gầy, dáng thanh tú, không đẹp bằng Huỳnh Mai, nhưng nhanh nhẩu nói năng bặt thiệp. Nếu gương mặt đầy đặn thì hao hao giống Thu Hà. .

Ra tới ngoài trảng thì đã thấy rải rác những ông bà cán đi tìm cái ăn ngoài ấp chiến lược. Áo xanh áo trắng, kẻ đeo súng dài người diện súng ngắn, người lại chỉ vác bao hoặc cầm đèn chai. Ai nấy coi có vẻ thảnh thơi không có vẻ gì lo âu cho cuộc sống trong chiến tranh đang độ căng thẳng. Bất đồ tôi lột súng tròng vào cho Thanh.

Thanh hơi ngạc nhiên nhưng cô bé cười:

– Anh làm vậy, người ta tường em là cán bộ đại đội.

– Ừ đại đội hay tiểu đoàn cũng được.

Tôi hôn khẽ lên đôi mắt chan chứa ánh chiều. Thanh đi tụt lại nắm tay tôi đi song song để cho Lạn tiến lên phía trước.

Có lẽ cậu học sinh này không thành công trong việc ve vãn cô nữ quân báo, nên thấy cái cử chỉ thân mật đó bèn phóng lên trước và càng lúc càng xa chúng tôi ra. Tôi hỏi nàng:

– Ở ngoài đó có bán gì ăn không, anh đãi cho hai đứa một bữa.

– Thứ gì cũng có. Cả món bún riêu ngoài Bắc, ăn ngon lắm.

– Tại sao em ăn bún riêu ngon biết không?

– Anh ngạo em gốc rau muống hả?

– Em là rau muống lai rồi.

– Ngoài ra còn cháo lòng, chuối chiên, bánh cam.

– Em có lần nào thử chưa?

– Em đi chợ nhiều lần nhưng không ăn, vì bộ đội ngồi chen chúc ăn nhai ngồm ngoàm húp rột rột coi kỳ thấy trời.

– Ăn thì đến vua cũng vậy chớ kỳ gì!

– Nhưng em không thể nào ngồi ăn được.

– Có bán thịt heo không?

– Có nhưng tụi em đâu có mua nổi! Em thèm thịt heo khô muốn chết luôn mà không có.

– Về Sài gòn không ăn à?

– Ăn nhưng đâu có tiền ăn cho đả . Anh ở ngoài Bắc chắc tha hồ ăn đủ thứ hả ?

– Sao em biết?

– Thì em nghe đài nói. Ngày nào em cũng nghe nói xây dựng chủ nghĩa xã hội giàu mạnh.

– Ừ! chủ nghĩa xã hội giàu mạnh chớ sao.

– Em chờ ba em kêu lên R đưa ra ngoài đó cho khỏe thân. Em còn thằng em trai nữa. Ba em cũng muốn bắt ra ngoài này nhưng nội em không cho.

Thanh vừa đi vừa kể chuyện gia đình. Thanh nắm tay tôi chặt cứng, chỗ nào nàng thấy tôi không để ý thì gặt mạnh. Thanh không anh dũng như Thanh Tuyền nhưng mạnh bạo hơn Huỳnh Mai và Ba Ánh. Chắc khi dắt nàng ra Sài gòn, thằng Nam đã tập cho nó dạn dĩ tiếp xúc với mọi tình huống. Nghề quân báo lắm khi phải liều lĩnh. Đột nhiên Thanh hỏi tôi:

– Anh có móc gia đình chưa ?

– Có nhưng không kết quả !

– Sao không kiếm chị Hai đi?

– Kiếm chưa ra.

– Xí anh làm cao chớ gì chưa ra.

– Làm cao với ai mà làm?

– Như anh vậy thiếu gì người bu. Mùa Thu về đây toàn đầu bạc hết ráo. Mà ông nào cũng chỉ đại đội là cùng. Tiểu đoàn thì già khú. Còn trung đoàn thì đáng ông nội của em.

Tôi vã miệng Thanh:

– Nói bậy hoài.

– Thiệt chớ bậy. Có mấy ổng làm bậy thì có.

Trời tối nhá nhem. Người đi ngoài chợ càng đông. Những bóng người xen lẫn những bóng đèn dầu màu đỏ và đèn khí đá xanh, di động nhộn nhạo khắp trên cánh đồng rộng giống như nghĩa địa với những ma trơi. Thanh càng đi sát vào tôi.

Đột nhiên nàng nói:

– Anh muốn chị Hai không, em giới thiệu cho.

-Ừ, giới thiệu đi.

– Sợ anh chê.

– Anh không chê đâu. Em giới thiệu thì anh chịu liền. Cô ta ở đâu.

Thanh nghiêng nhìn sang tôi.

– Ở gần đây nè!

Tôi muốn hôn để tỏ ý hiểu nàng nhưng tôi ghìm lại. Nếu nàng nói thêm câu nữa chắc tôi sẽ buông cương, nhưng may quá có tiếng thằng Lạn kêu ở phía trước. Chúng tôi đi tới, nhưng Thanh vẫn không thả tôi ra. Thằng Lạn gắt:

– Làm gì đeo cứng ảnh vậy. Ở đây có ma đâu mà sợ?

Rồi Lạn nói với tôi.

– Chợ bữa nay đông quá anh Hai. Em ớn quá.

– Ởn cái gì?

– Ớn nó chụp hoặc nó kêu pháo dập chớ ớn gì?

– Chợ họp như vầy lâu rồi chớ phải mới hôm nay sao?

– Nó nuôi lâu lâu nó mới thọc huyết hiểu chưa cô quân b… – Lạn tốp ngang – Biết đâu nó có thả máy báo tiếng động! Pháo Lai Khê. Dầu Tiếng đều bắn tới đây cà . Lai Khê chơi pháo đìa.

Tôi gạt phắt:

– Nếu sợ thì đi mau mau rồi về !

Vừa đi Lạn lại kể tiếp:

– Trước kia chợ họp tới ngả ba chỗ giáp ranh Trảng Sa với Trảng Cỏ kìa anh. Đèn khí sáng một vùng như đèn điện vậy. Bây giờ đã thu hẹp chiến trường rồi đó.

– Tại sao?

– Bị bom một trận kinh hồn bạt vía anh ơi ! May quá , gặp thằng phi công mù. Nó ném bom trật lất. Đàn bà đàn ông chạy bò càn. Hàng hóa ném bừa, thiên hạ đạp nhầu lên tìm đường thoát. Đâu có hầm hố gì. Cứ phóng như nai bị cháy rừng. Rốt cuộc mấy cha D14 tha hồ hôi của.

– Có cái mững đó nữa à?

– Có chớ! Của trời cho mà.

Tôi nói:

– Không phải thằng phi công mù đâu. Nó cảnh cáo đấy.

– Mong nó cảnh cáo thêm vài lần nữa cho bộ đội đỡ khổ.

Thấy một đám đông vây quanh ngọn đèn khí đá, Lạn lôi tay tôi đến xem có gì lạ. Cô hàng xén bán đủ hết: xà bông thơm, kim chỉ, nút áo, trà thuốc, vỡ học trò, bút máy, áo thun, ba lô, vải, lụa, v.v… Cô hàng xén còn trẻ măng đeo khuyên vàng tay đeo xuyến vàng, ngón tay chớp loé nhẫn vàng nhận hột, coi chẳng khác nào tiểu thư. Có lẽ đám đông phần lớn là lính bu lại vì cô ta hơn là mua hàng. Một chàng trai mặc áo con đĩa đang hỏi giá áo thun. Một anh chống một tay trên đầu gối khom xuống, một tay bốc mấy sợi dây dù lên rồi vạch vạt áo bà ba ướm vào khẩu K54 đeo trong lưng. Đó là một cách tự giới thiệu mình khéo léo. Một anh chàng khác mặc áo sơ mi popelin màu cứt ngựa, đầu khấc khăn rằn đỏ bỏ hai mối dài ra sau lưng.

Thanh lôi tôi đi và nói nhỏ:

– Mấy ông nội D14 nổi tiếng là đi o gái đó. Anh không thấy họ làm le à ?

– Anh muốn mua một xấp giấy với mấy cây bút máy.

– Thứ đó trấu gì. Gánh nào cũng có. Anh muốn mua gì nữa? . .

– Thịt heo.

– Em dẫn tới ngay lò, anh mua mấy chục kí cũng có.

– Gạo?

– Sợ anh không có sức cõng.

– Sao ông trạm trường than hết gạo?

– Là vì Hậu Cần không phát tiền và ổng làm biếng chớ gạo mua lúc nào, mua bao nhiêu cũng có.

Bỗng một bàn tay đập vào vai tôi đau điếng và nghe:

-Ê! thầy Lôi.

Tôi quay lại:

– Thầy về hồi nào?

Một chàng nhảy lại ôm xiết lấy tôi hôn lia lịa trên mặt tôi rồi buông ra. Một con người lùn lùn với bộ mặt tròn trịa hai má phính như mặt con nít sổ sữa, tóc cắt ma-ninh cua xanh dờn theo kiểu chúng tôi thường gọi là tóc su hào hồi còn ở ngoài Bắc. Một đám lính lẫn cán bộ đến vây quanh tôi. Anh chàng trỏ tôi và bảo:

– Đây là ông thầy pháo binh Trung Quốc.

Thanh gạt ngang một cách máy móc:

– Ảnh là anh Hai tôi chớ có phải cắc chú đâu mà kêu Trung Quốc.

Cả đám cười cái rần. Anh chàng hỏi tôi:

– Con bé nào coi khó dữ vậy thầy? À mà quên, ổng đi học Trung Quốc chớ không phải chệt.

Cả đám cùng cười.

Tôi nhớ hắn rồi. Chín Hung! Học trò của tôi ở Sơn Tây

– Mày về hồi nào?

Chín Hung đáp:

– Năm 1962 thầy. Thầy về năm nào?

– 63.

Một anh mặc đồ nhà binh vải popelin màu lá cây khô có bộ chân mày chổi xể hất hàm về phía Thanh, nói giọng Bắc:

– Còn cô bé này là công an Hà Nội sao mà mang súng kiểu đó?

Thanh cười:

– Tôi là gạc-đờ-co của ảnh.

Một anh chàng cao cao nói giọng rặc miền Nam nhảo nhẹc pha trò:

– Chời ơi chời! xưa nay tôi chưa từng thấy gác-đờn-cò là thanh nữ đẹp như thế này.

Thanh hổ thẹn quay mặt cười. Một người khác sồn sồn chêm vào:

– Cô ta nói là anh Hai của cổ chớ không phải là gác cây đờn cò của ổng đâu.

Thanh gạt ngang:

– Ảnh là anh ruột của tôi thiệt mà.

-Thôi đi cô em, oa nhìn qua là oa biết liền mà . Anh ruột hay anh nối ruột?

Thấy thiên hạ bố con nhỏ, tôi bảo.

– Đừng có chọc nó khóc mắc mua kẹo dỗ đó các cha !

Rồi quay lại Chín Hung.

– Ê mày còn ở pháo không?

– Dạ còn chớ thầy. Từ thuở hạ san tới giờ vẫn ôm cái cẳng pháo!

Chín Hung quay sang mấy người kia.

– Nãy giờ mừng quá quên giới thiệu. Đây là tên Bắc kỳ xâm lược Ba Nhị, quê ở Hà Nội Hà Lam Linh Bình, chính trị vò viên dê 14, còn đây là Năm Sơn biệt hiệu Nam Sơn tiểu đoàn trưởng dân ta, mới về nước, mới cưới vợ là thợ may An Tịnh.

Năm Nam Sơn cười:

– Còn mày sao không tự giới thiệu luôn?

– Tôi hả, tôi là dân bàn nạo Bến Tre.

Năm Sơn nói.

– Chưa đủ, phải thêm! Dân bàn nạo Bến Tre bây giờ là tư sản yêu nước có vợ làm chủ nhà máy xay gạo bán cho giải phóng.

Ba Nhị tiếp:

– Ông dê trưởng nói vậy cũng chưa đủ . Phải nói là Chín Hung dê phó vừa mới cưới vợ mười sáu tuổi chủ nhà máy xay lúa bán gạo cho giải phóng giá hời.

Tôi cười:

– Vậy là ở đây nhiều quá !

– Ông dô luôn cho đủ một bầy. Có lẽ ông là Bắc Thảo đó!

Cả bọn cùng cười. Chín Hung trỏ cái ánh đèn xanh lét, bảo:

– Mình đi lại đằng kia làm một bụng cháo lòng tiết canh rồi nói chuyện tiếp.

Vừa đi Hung hỏi tôi:

– Thầy đi đâu mà lạc xuống đây? Dạo nọ nghe nói thầy dạy ở trường pháo mà.

– Có dạy, nhưng tản khai rồi!

– Bây giờ về đâu?

– I/4.

– Được đó ! Có thầy về thì pháo mình mới nghễnh cổ lên được! Lâu nay bị pháo Mỹ dập gục cần. – Chín Hung quay sang hai ông dê trưởng dê chánh – Hai anh ở ngoải có coi tụi này biểu diễn bắn súng cối không? Hồi đó tôi chỉ vác đạn thôi. Còn ông Thầy thì ôm nòng bắn bốn tư thế: đứng, quì, ngồi, nằm. Hổng cần máy nhắm gì cả. Bắn ban đêm mà đạn vẫn lọt vô lỗ châu mai như thường!

D trưởng Năm Sơn nghi ngờ:

– Súng cối mà làm sao bắn đạn vô lỗ châu mai?

Chín Hung nhìn sang tôi. Tôi bảo:

– Được chớ đồng chí. Mình đặt nòng súng cối nằm bắn đìa-réc như súng trường vậy.

D chánh Ba Nhị gật gù:

– Tôi mới nghe lần thứ nhất. Nhưng xin hỏi nòng pháo nằm làm sao bỏ đạn cho đề-tô đụng kim hỏa.

– Tôi có cách đồng chí à . Để gặp cơ hội tôi sẽ thực hành.

Chín Hung bồi thêm cho ông thầy:

– Ổng còn dám ôm nòng súng cối bắn phản xung phong nữa đó. Đạn chỉ rớt trước mặt năm chục thước.

D trưởng Năm Sơn gật gù:

– Súng cối mà bắn được như vậy thật là sáng tạo. Về đây chơi với Mỹ phải có kỷ thuật cao. Lơ tơ mơ như hồi chín năm là không ăn thua !

Tôi cười:

– Nãy giờ ông Dê phó bốc thơm tôi nhiều quá , tới phiên tôi giới thiệu ông D phó chút tẻo được không? Đây là ông Cù Lự 105 nổi tiếng khắp các đơn vị pháo đấy.

Chín Hung xua tay lia lịa:

– Thôi, thôi thầy ơi! thầy giới thiệu chắc cái mặt tôi xà búp đâm không lũng đó . Hồi đó tôi mới được đề bạt lên Trung đội trưởng pháo 105. Về khu tập kết, ở trên bỗng đưa tôi làm giáo viên để huấn luyện pháo 105 cho anh em về Nam. Thật chẳng khác nào múa rối. Tôi mới trình độ lớp ba làm sao lập nổi giáo án. Vậy mà cũng cứ lên lớp như thường. Phải là dân có xâm gồng mới dám làm. Bài đầu tiên, tôi giảng giải các bộ phận pháo. Các bộ phận khác thì tôi thông suốt. Đến cái trục pháo thì tôi quên. Dòm vô giấy tối om không tìm ra danh từ tôi bèn phang bừa là cái cù lự pháo. Học viên cười cái rần. Tôi luýnh quýnh bèn sửa lại là cái củ tỏi. Chả là nó giống cái củ tỏi mà ! Học viên cười rần rần. Từ đó học viên gọi tôi là ông thầy củ tỏi hay giảng viên cù lự.

Bọn dê chúng tôi cười ngả nghiêng. Tôi tiếp:

– Coi vậy chớ ông Dê Cù Là có uy tín với anh em. Dốt nhận mình dốt để học thêm chớ không dấu dốt. Còn đặc biệt một điểm nữa là Cù Là uống rượu bằng tô chớ không xài ly.

D trưởng Năm Sơn bổ túc:

– Còn một điểm đặc biệt nữa là Cù Là 36 xuân xanh lấy vợ có 16 tuổi thôi hè – rồi kề tai tôi – con bé này coi cũng xứng với cha lắm.

Bé Thanh vọt miệng:

– Ông dê trường nói gì tới tôi đó?

– Tôi nói là cháu gác cây đờn cò cho ông anh tốt lắm! Ráng nắm cho chặt nghe. Cây đờn của thầy là loại đờn khó kiếm.

Trời tối, nhưng đồng khô chỉ còn gốc rạ , cả bầy dê chúng tôi cứ giăng hàng ngang mà đi như dậm cù bắt chuột. Thanh đi bìa, tay xách cây đèn chai mang đi từ nhà nhưng không đốt, tay nắm tay tôi. Thanh bị trêu nên phản ứng:

– Tôi đã nói ảnh là anh ruột của tôi mà mấy ông cứ chọc hoài.

– Là gì thì là. Nhìn qua biết rồi. Cần gì đính chánh cô em! Mai mốt có cần tôi cho lính tới dựng rạp cho đám tiên bố. He ! he! ….

Cả bọn đến một cái nhà lá ba căn rộng thênh thang. Chín Hung đi thẳng vào trong. Tụi này cứ đi theo như vô mậu dịch ăn ở Hà Nội. Bên trong bàn tròn năm bảy cái, ghế đẩu băng dài ngổn ngang. Khách ngồi hai ba cụm. Chín Hung đi thẳng tới một ông ở trần đang cầm dao xẻo thịt con heo đang treo dộng đầu, còn một mớ thì bày trên bộ ván.

– Anh Tư làm coi bộ xôm hả ? Có gì lạ không anh Tư?

– Có cháo lòng tiết canh lòng luộc.

Chín Hung quay ra:

– Ê ông Bắc kỳ xâm lược ! Có nòng nợn nuộc, làm một ván cho đả tỷ .

Anh Tư nói:

– Chuyện đó đã đành, còn thịt thì lấy bao nhiêu.

– Cho năm bảy kí gì cũng được. Buộc dây sẵn để nhậu xong xách về nghe.

Chúng tôi chiếm một bàn tròn. Vừa ngồi xong tôi nói:

– Lâu quá tôi mới ăn mậu dịch một bữa.

– Không có mậu vịt đâu nghe thầy. Thầy muốn bi nhiêu thì bi. Không sợ cắt phiếu chờ tháng sau. Không lo phiếu hạng B, C, D gì ráo trọi. – Chín Hung vẩy tay ông chủ quán đến bảo – Nè, cho tôi đóng cửa quán được không?

– Chi vậy chú Chín? (trước mặt người lạ, hơn nữa y cũng là dê phó, dân vùng này hẳn là biết rõ, nên tôi không gọi bằng mày.)

– Mình chơi kiểu ngoài trường pháo có quán Bà Cạo, nhớ không thầy?

Tôi cười ngất, nghĩ thầm: cái thằng ra Bắc mười năm còn mang về Nam trăm phần trăm máu Nam kỳ .. Nhưng tôi bảo:

– Ở ngoài đó mình bao quán thì được vì chiều thứ bảy các anh em người Bắc người ta về gia đình chỉ còn có bọn sanh vô gia cư, tử vô địa tán Nam kỳ mình thôi, cho nên mình làm vậy được, còn ở đây anh em cán bộ và lính toàn là người xa gia đình, mình đóng cửa quán chỗ đâu anh em xổ tình cảm?

– Phải đấy.

D chánh Ba Nhị gật gù. Rồi D trưởng cũng hướng ứng:

– Chú làm vậy lính nó nổi loạn đốt quán đó.

– Ừ thôi được nhưng mình phải keng hai bàn làm một. Tôi mừng ông thầy tôi về xứ. Làm ở đây xong còn kéo về nhà tôi làm tới sáng luôn. Sáng có chụp, chơi một trận có rửa chân lên bàn thờ cũng khoái.

Một cô gái, trạc hai mươi tuổi, bưng ra một mâm bảy tám dĩaa tiết canh, trên mặt mỗi dĩa có lót mấy lát gan và rắc đậu phộng lẫn rau răm rất đúng luật cổ điển. Chín Hung nói:

– Bữa nay ăn quán nên mình uống rượu bằng ly cối nghen thầy. Chốc nữa về nhà mình sẽ uống bằng tô phở xe lửa.

Năm Sơn nói:

– Uống bằng gì thì uống miễn đừng cho chó ăn chè thì thôi.

Chín Hung lắc đầu:

– Anh Năm cho tôi phá kỷ luật một bữa. Lâu quá mới gặp ông thầy. Có cho chó ăn chè cũng không sao, được không anh Năm và anh Ba?

Ba Nhị nói tiếng Bắc pha Nam:

– Chú em cứ dô thả cửa, nhưng cố gắng đem cái cù lự dề cho bà xã nhờ. .

– Cái củ tỏi em giắt lưng đây chớ có rớt đi đâu anh Ba !

Màn tiết canh vừa hạ đến màn cháo lòng và lòng heo. Chín Hung vẩy tay:

– Cho thêm rau sống, chuối khế.

Một dĩa lòng vung chùng và bốc hơi như núi lửa được đặt giữa bàn. Rau sống như một ngọn đồi xanh đứng bên cạnh. Một lít đế mới đứng chính giữa như tên lính canh cầu Hiền Lương. Chín Hung khai pháo, rút nút rót một lượt vào các ly đã cạn quá nữa chai, và nâng ly mời theo ngôn ngữ nhà pháo:

– Bữa nay tôi tự phong là khẩu đội trưởng, chỉ huy bắn đìa réc vào mục tiêu tiết canh xin mời thầy, anh Năm, anh Ba và các em các cháu.

Ông cù lự, có tật cà lăm, giơ cao ly rượu, ngó tôi rồi quay mặt giáp vòng, dỏng dạc hô:

– Đạn nổ ngòi tức thì, liều 7, cao thấp 0, độ hướng 0, góc tà 3 không (3-00), góc tầm một năm mươi (l-50). Một phát nạp đạn!

Anh chàng đưa ly cụng vào ly tôi. Tôi quay qua cụng vào ly của Năm Nam Sơn và Ba Nhị.

– Đế độ 90.chữ, bắn…. . . .

Năm Sơn nâng ly cụng với tôi và Ba Nhị. Thanh ôm mặt kêu:

– Mấy ông uống rượu còn hơn Mỹ . Thấy ghê quá hè ! . .

– Ê ở đây là đâu, có an toàn không Chín Hung?

– Ông thầy khỏi phải lo! Đây là rìa ấp chiến lược. Nhậu xong về nhà tôi ở giữa ấp chiến lược uống cà phê sữa hiệu U Ết A. Trưởng ấp chiến lược là thằng anh cô cậu của vợ tôi có ba xe lam chạy đường Lộc Khê ra Trảng Bàng. Thằng chả khôn thấy mẹ, thằng chả khôn thấy bà . .

– Sao vậy?

– Quốc gia thằng chả cũng theo, giải phóng thằng chả cũng chơi, nhưng không ngã hẳn bên nào. .Chỉ lo làm giàu. Sắp mua thêm chiếc xe đò, định chạy đường Trảng Bàng đi Hậu Nghĩa. (tức Bào Trai) .

Chương 29
Chuột mất hang

Tôi như gã lử khách trong Chuyến Xe Đêm của Pauoutouski. Hạnh phúc cứ đến trước mặt, rơi cả vào trong tay nhưng cứ quay lưng để, có lẽ, cuối cùng hối tiếc.

Vì đường đi mệt nhọc lại uống rượu bằng tô với Chín Hung nên ngủ đến trưa mới trờ dậy. Nhìn thấy bé Thanh đứng bên vách hầm mặt mày bí xị, tôi hôn khẽ trên má nàng và lôi nàng lên mặt đất.

– Em ở lại ráng công tác.

Thanh xì một tiếng rồi bảo:

– Em theo anh được không? Ở đây công tác kỳ cục lắm, em không thích.

– Anh ra đơn vị chiến đấu, làm thế nào em theo được? Cố gắng vô đoàn rồi sẽ tiến bộ.

Thanh bĩu môi:

– Em thèm vào cái đoàn của ông Thái à?

– Sao vậy?

– Ổng thích ai thì kết nạp nấy chứ có tiêu chuẩn gì?

– Em cứ than phiền hoài như vậy làm sao công tác được.

– Em có muốn nhận cái công tác này nữa đâu. Chú em bắt em học nhảy Twist để nhảy với Mỹ.

– Với Mỹ?

– Thì em đã nói với anh rồi mà.

– Không còn công tác nào nữa sao?

– Chú bảo không đứa công tác viên nào chịu nhận nên chú bắt em.

Tôi không biết nói sao vì không phải phạm vi công tác của tôi. Tôi chỉ nói gượng một câu:

– Ráng ít lâu rồi đi Liên Xô.

Lạn đã dắt xe tới. Tôi đưa tay vuốt giọt nước mắt chảy ròng ròng trên má cô bé, không hôn. Rồi lẳng lặng đi theo Lạn. Thanh đi theo tôi ra tận bìa rừng. Tôi lại gượng đùa:

– Thôi vô đi cô công an Hà Nội !

Thanh tới ôm tôi, áp hai gò má non còn thơm mùi sữa vào gương mặt phong trần của tôi mà nức nở. Tôi nghe hết cả ý chí lên đường. Nhưng rồi phải gỡ tay nàng ra như cái máy.

Lạn đã đèo tôi đi. Tai tôi còn nghe phía sau:

– Viết thơ cho em đó !

Tôi vẫy tay đáp lại.

– Ừ!

Nhưng như bao nhiêu lần hứa khác ở buổi biệt ly, tôi chẳng bao giờ viết thư cho Thanh mà cũng chẳng bao giờ gặp lại nàng. Cả một mẩu tin con cũng không có. Thằng Lạn vừa đạp vừa nói:

– Nếu nó là em của em thì em chẳng bao giờ cho nó cái công tác đó. Bố nó chú nó ác quá!t Bẹo dạng với Mỹ, đố khỏi!

Buổi trưa, lộ đá đỏ như một vệt máu đứt, vỡ từng quãng. Mùi hóa học hăng hắc bốc ra từ những cụm tre và cỏ cây cháy ở ven đường. Càng đi về phía Củ Chi càng nghe thấy mùi chết chóc phủ vây. Lạn chỉ tay và bảo:

– Hồi hôm mình ăn cháo lòng trong ven ấp chiến lược đó Còn ở đây là căn cứ D14 của mấy ông Ba Nhị và Năm Sơn.

-Nhà Chín Hung ở đâu?

– Đó ! Chỗ ngọn tre cao chót vót. Ở đó ngoài vòng Mỹ rải chất độc.

– Cách nhau có một cánh đồng mà cuộc sống khác hẳn.

– Đi xuống, anh càng thấy khác nữa. Bộ đội toàn ở ngoài rừng. Nhưng cũng không ở trên mặt đất mà ở dưới hang như chuột vậy, khổ lắm anh ơi! Nhiều địa điểm cơ quan, đơn vị bộ đội bị rải chất độc không còn rừng nữa, mà ở phải chạy như chuột mất hang.

Câu nói của Lạn vô tình gợi cho tôi một hình ảnh quen thuộc ở Tháp Mười vào mùa nước nổi. Nước mưa cộng với nước trên Biển Hồ Cao Miên tràn xuống làm cho cánh đồng trở thành một cái biển mênh mông. Chuột, khỉ, rắn trăn bò lên chót ngọn tre để sống. Dân trong vùng cứ việc cầm chĩa ba, tay chống xuồng quanh các lùm bụi, một lúc là đầy xuồng rắn chuột. Mùa này tha hồ ăn chuột rô ti, rắn hổ nấu cháo. Lũ chim trích không có gò đậu, bay một quãng rồi lặn xuống nước cắn gốc năng để khỏi phình lên. Thấy nước sôi tim, người ta chỉ cần thọc tay xuống là nắm cổ lôi lên một trự bỏ vào giỏ. Nhưng bộ đội ở vùng cận Củ Chi này ở trong rừng chồi và rừng cao su không có thú rừng chim chóc đãi ngộ nên phải đi vào xóm mua từng miếng thịt, từng lon muối.

Ăn uống thiếu thốn, lại dang nắng dầm mưa nên bộ đội bệnh hoạn rất nhiều. Có đơn vị ốm đến 30% nhưng khi trả lời cho ông Sáu Vi ở đại hội mừng công, tôi đẫy cây thoa mỡ bò tuốt luốt. Không biết ông có tin tôi hay không. Có lẽ ông cũng không lạ gì tình trạng bộ đội trên đường Trường Sơn. So với ở đây cũng không khác mấy: 100% sốt rét.

Những xóm nhà yên vui trù phú, hồi năm ngoái tôi có dịp đi qua khi về trường, năm nay không còn nữa. Vừa tới đầu xóm cây Da đã thấy một ngôi nhà ngói đổ nát, chỉ còn hai cây cột cháy đen thui như hai cánh tay khổng lồ khẳng khiu của một người bị B52 dập, cố ngoi lên kêu cứu. Bỗng Lạn dừng lại. Tôi vừa chấm chân xuống đất thì nó bảo:

– Anh vịn xe, em lượm cái này.

– Coi chừng bom bi hay máy báo động?

Lạn nhặt ngay một hộp hình hột xoài và nói:

– Đây là thịt heo cửa Mỹ bỏ lại.

– Sao mày biết?

– Vừa rồi nó đổ ngoài Cầu Xe rồi đi vô tận đây. Khi nó rút đi dân ùa tới lượm đồ hộp. Mấy người tới trước quơ được cả bòng.

Lạn đưa hộp thịt cho tôi rồi đạp tiếp. Đây là hộp thịt còn sót lại. Người ta đem bán cho quán. Quán bán lại cho bộ đội.

– Sao mày biết là thịt heo?

– Em ăn hoài mà. Có cà phê, sô-cô-la nữa. Con Thanh nó thích sô-cô-la nhất.

Qua một quãng đồng trống đến một con đường. Lạn bảo:

– Đạp về phía bùng binh sẽ gặp cái quán của du kích có bán trà, thuốc lá và đường.

– Sao không lên đường 15 đạp cho khỏe.

– Hổng được! Ở đó tụi Mỹ hay đổ bộ ban ngày. Trước khi đổ nó dọn bãi bằng pháo bầy. Còn hơn B52 nữa anh ơi. Cho nên em phải đổi đường. Đây là Rừng Cả Chúc nhưng ở ngoài đồng bào gọi là Bùng Binh. Mình đi cặp bìa đồng xóm Ba Cụm để xuống Rừng Tre (Đây là nơi xảy ra tấn bi kịch lớn nhất đời tôi sau Mậu Thân). Qua khỏi Rừng Tre đến Xóm Cỏ Ống. Hồi trước ở dọc bìa Rừng Tre có một xóm nhà ba, bốn chục cái, nay họ đã tản đi hết nhường lại vườn không nhà trống cho các cơ quan quận Trảng Bàng, quân y quận, xã Lộc Hưng, mấy ông Hậu Cần 83, một bộ phận D14 cũng ké vô đây. Từ đây về tới Củ Chi anh không còn gặp người dân nào trên đường đi nữa. Phải tìm kìa mới gặp.

Đạp một chập, Lạn bảo:

– Đây là xóm Rừng Tre nè . (Sau này Rừng Tre trở thành nơi xây ra bi kịch tình yêu lớn nhất đời tôi và sau đó tôi vứt súng về Sài gòn). Mỹ cũng thường đổ ở đây. Bây giờ vùng này nằm trong sự kiểm soát của sư đoàn Nhiệt Đới Mỹ. Trung đoàn 49 của F25 Sài gòn chỉ hành quân dọc Quốc lộ I ở đường số 6, bót Cầu Ván coi như là Tiền đồn của quân Sài gòn, còn dưới đường số 7 là bót Trung Hòa. Anh về dưới đó sẽ đụng hai bót này thường xuyên. Chung quanh đây là vùng oanh kích tự do. Hễ nó thấy bóng người là cứ bắn. Ở đây còn có khi yên tĩnh, chứ lọt qua khỏi suối Lộc Thuận rồi thì bom đạn không ngưng lúc nào hết. Anh về tới Phú Mỹ Hưng, Hố Bò, An Phú, An Nhơn thì đừng có mong ăn no ngủ kỷ như ở trên rừng. Không có phương gì đi chợ ăn cháo lòng uống rượu như đêm qua đâu.

Nghe thằng Lạn kể tôi mới thấy những ngày sống với nàng khu ủy là hạnh phúc và tiếc thầm: phải chi nán lại ít lâu cũng chẳng sao. Tại mình hăng công tác và nóng lòng giải quyết vụ thằng em. Chưa biết kết quả nó sẽ nghe mình hay không nhưng tôi sốt ruột rất muốn gặp nó.

Đạp thêm gần hai tiếng đồng hồ nữa, Lạn ghé lại một cái quán ở ven bờ tre. Mấy con bò nằm nhai cỏ dưới bóng tre bọt mồm trắng xóa. Thằng Lạn giải thích:

– Đây là bò xe gạo của Hậu Cần chớ không phải bò của dân.

– Dân còn dám đánh xe à ?

– Ở đây họ ăn giá đặc biệt 1000 đồng một đêm nhưng Hậu Cần vẫn phải trả. Và nếu bò của họ bị nạn thì Hậu Cần phải đền, người bị thương Hậu Cần phải cho vô bệnh viện còn chết thì Hậu Cần phải trả tiền tử tuất.

Lạn đi vô nhà gọi to:

– Chị Tám ơi !

– Ai đó, Lạn hả?

– Em có hộp thịt nè, chị mua hôn?

– Bao nhiêu?

– 100.

– Gì dữ vậy.

– Chị hổng mua em để dành ăn cơm chiều.

– Ừ thôi đưa đây

Xin nước uống xong Lạn lại chở tôi đi. Nó bảo:

– Bả làm bộ vậy chớ bộ đội mua bả chém 200.

Lạn trỏ tay ra trước mặt:

– Đó là xóm Cỏ Ống thuộc xã Lộc Hưng quận Trảng Bàng.

(Đây là quê của Năm Bụng, em của Năm No công trường 9 tôi gặp ở trường trung Trung Sơ. Sau Tết Mậu Thân Năm No sư phó Công trường 9 bỏ về nhà sản xuất, cục R kêu trở lại hạ cấp còn đại đội phó).

Còn đồng ruộng trước mặt chạy thẳng ra ấp Đồng Lớn, bên trái có tre trúc um tùm là Sa Nhỏ thuộc xã Trung Lập quận Củ Chi. Trảng Bàng và Củ Chi được phân ranh bằng con rạch Thai Thai ăn thông ra sông Sài gòn. Ở gần vàm rạch có bến cho dân xuống tàu đi Bình Dương gọi là Bến Dược. Nhưng bây giờ tàu ngưng chạy rồi. Tôi sực nhớ hồi năm ngoái tôi đi với Là ra Bến Dược gặp Tư Thêu ở nhà bà Sáu Tĩnh. Tôi hỏi:

– Ông Bảy Hốt Hậu Cần còn ở đó không?

– Đi qua Thanh An cả rồi. Chỉ còn Tư Thêu lọc cọc đánh xe bò thôi.

Đến đây thì tôi rành đường. Lạn biết vậy nên không thuyết trình nữa. Tôi hỏi Lạn:

– Cái nhà mũ trắng phiếu đâu mất?

– B52 bỏ tan rồi! Hố Bò bây giờ không còn một cọng cỏ.

– Nhà má Hai ra sao?

– Đi qua Thanh An. Chỉ còn có cô xã đội phó ở lại thôi.

– Còn cô Lụa.

– Còn bán tại đó.

– Chồng nó về chưa?

– Về âm phủ thì có .

Tôi lặng thinh. Tình hình thay đổi hoàn toàn theo chiều hướng xấu. Tôi không có cuỗm cô Dương Quý Phi nào của Thánh Hoàng cả mà vẫn phải bị đày đi trấn nhậm Bình Lư.

Bỗng Lạn dừng lại, đưa tay lêan coi đồng hồ rồi bảo:

– Tới trạm rồi đó anh, mới hai giờ chiều. May quá. Chuyến này trót lọt không sượng khúc nào.

Thấy không có người trong nhà, tôi hỏi:

– Nhà ai mà không có người vậy?

– Anh không nhớ nhà ai à ? Hì hì. Anh nhìn không ra cũng phải.

Tôi đưa mắt chung quanh. Đâu có nét nào quen, từ mái nhà đến cây cối chung quanh, tất cả đều xơ xác. Bỗng một em bé gái mặc quần xà lỏn, ở trần từ nhà bên chạy sang, miệng kêu bài hãi:

– Rớt ơi Rớt, có nhà không? Qua tao chơi đánh đũa.

Tôi sực tỉnh giấc Nam Kha. Từ trong nhà một đứa bé gái mặt bầu bầu tóc hớt bom bê bước ra nói:

– Má tao không cho ra khỏi hầm. Giờ này là giờ cao điểm pháo hổng biết hả .

Tôi nghẹn ngào. Có cái gì vướng trong cổ họng, không kêu to được.

-Rớ… ớt!

Con bé nhìn tôi một nhoáng rồi chạy ào ra ôm lấy tôi vừa kêu vừa khóc òa lên.

– Cậu Hai! Cậu Hai!

– Má đâu?

– Hu hu.

– Ngoại đâu?

– . . Hức..hức.

– Dì Út có nhà không?

– …Hu..hu..

-Ba về chưa?

– Hụ hụ…hụ!

Bé rớt khóc càng lúc càng to. Nước mắt tôi cũng tuôn xối xả lên mái tóc của bé. Ôi chiến tranh. Giải phóng giải nghĩa gì, hãy dẹp ngay đi. Mi đã cướp của đứa bé bao nhiêu tình thương. Tình cha!

Bé Rớt ngước lên, quệt ngang mặt rồi nhìn tôi bằng cặp mắt trách móc:

– Cậu đi đâu lâu dữ vậy?

– Ừ cậu đi công tác.

– Công tác gì mà không về. Má, ngoại, dì Út nhắc cậu hoài.

Tôi bế nhấc nó lên. Con bé có lớn chút ít nhưng già đi nhiều. Tôi ôm bé vào nhà. Tất cả bên trong đều thảm não . Bàn ghế ván giường đều mang vết cháy. Thúng mủng lọ hũ vứt tùm lum trên ván dưới đất. Mấy đứa bé khác chạy tới.

Tôi đặt bé Rớt xuống đất và hỏi:

– Mấy cháu làm gì tới đông vậy?

Một đứa đáp:

– Đánh búng ăn hột ô môi.

Thằng Lạn đem giỏ thịt heo treo ở sau bếp. (Đêm qua tôi mua nhiều cho Nam một ít còn lại mang theo vì tôi dự định sẽ ăn cơm nhà Lụa). Lần quay trở ra, tôi móc túi đưa cho nó một trăm:

– Em cầm lấy mua bánh đắp đầu gối để có sức mà đạp.

– Để anh xài.

– Anh có cái khác.

Lạn cảm động:

– Em bán được hộp thịt tiêu cũng được vài chuyến.

– Thôi em đi đi để trễ.

– Em phải ra Bàu Đưng, xắt qua Rừng Làng tới Sở Đất Thịt băng ra lộ 7 vô gót Chàng để đưa công văn cho ông Chín Lộc. Hổng biết ổng còn đóng đó hay dông rồi!

Lạn thót lên yên xe đạp chạy bay. Tôi ngó theo mút mắt. Đang học, bị kêu ra đi Liên Xô rồi bây giờ thế đó.

Tôi quay vào hỏi Rớt:

– Hổm rày cháu có xuống nhà ngoại không?

– Bom bỏ tanh bành rồi, đâu còn mà xuống.

– Rồi ngoại ở đâu?

– Ngoại qua bên bà Ba ở Thanh An.

– Dì Út đâu?

– Dì Út đi công tác với ông Tư Khiên

– Tư Khiên nào?

– Cái ông đi với cậu lên nhà ngoại hồi nẵm đó.

– À ông Tư Thiên.

Con bé nói đớt chợ Thủ ra chợ Khủ, thịt heo ra khịt heo.

– Hội nghị mấy bữa chưa về .

– Má cháu đi đâu?

– Má đi lên nhà ngoại bứng rau về trồng để ở trển không ai tưới khô hết.

– Nhà ai bên cạnh đó Rớt?

– Nhà ông Tư Kiên, nhà ông Bảy Xe đánh xe bò, nhà cô Tám Phẻ má con nhỏ này.

– Hồi trước cậu đâu có thấy.

– Họ mới dời về ở gần đặng có ai bị thương tương trợ nhau.

Tôi suýt bật cười khi nghe miệng đứa con nít nói danh từ, Rớt tiếp:

– Bom bỏ, cà nông dập, ông Bảy nghỉ xe bò, đi làm lò đường, lò đường bị bom sập, bây giờ ổng đi chạy ghe máy ở dưới sông. Nhà ổng có mấy người quân y ở trong đó, nhưng chỉ nhờ chỗ nấu cơm thôi, còn ban ngày thì ra hầm ngoài rừng.

– Sao phải ở hầm?

– Pháo nó dập hoài hoài mà ! Còn máy bay nữa. Cá rô nó rỉa rát lắm.

– Gạo còn không? Cậu đi nấu cơm.

– Còn ở trong khạp dưới hầm.

Tôi chú ý thấy cái hầm kiên cố hơn trước nhiều.

– Nhà bị cháy hồi nào vậy?

– Hồi cậu đi một tháng rưởi.

– Má và cháu chạy đâu?

– Ở trên ngoại, nếu không chết rồi. Nhờ mấy người khách chữa lửa nếu không cháy rụi rồi.

Tôi chui xuống hầm quơ tìm hũ gạo, hốt vài lon rồi chui lên đem ra sau giếng múc nước vo. Cái gàu vẫn còn nguyên. Chỉ có giàn mướp thì đã biến mất.

Con Rớt nói:

– Cậu nấu cơm đi, con canh đầm già cho.

– Đầm già tới thường lắm à?

– Hễ nó thấy là thụt gốc kết liền. Lò đường bị hai trái gốc kết mà cháy tiêu chớ đâu phải bom.

Con Lượm bạn Rớt cãi lại:

– Đầm già thụt gốc kết rồi phản lực mới bỏ bom.

– Ừ, ừ phản lực bỏ bom tiếp theo.

Tôi bảo:

– Ở gần đây có sả không, kiếm xin cho cậu vài tép.

Con Lượm xung phong đi ngay. Một chốc nghe tiếng chân bên ngoài. Tôi ngó ra thấy một người đàn bà trung niên, nước da bánh ếch, mặc đồ bà ba bạc màu. Chị bước vô cửa sau bếp, tôi chưa kịp hỏi thì chị đã lên tiếng trước:

– Cậu Hai con Rớt đây hả? Dữ ác hôn. Nghe nói một năm rồi, nay mới biết mặt. Định xắt sả ướp thịt hả em. Đưa đây chị làm cho. Chị là Tám Khỏe nè. Năm ngoái em nhờ móc gia đình mà hai đứa nhỏ đau, ba nó đi dân công, chị đâu có đi được.

– Anh Tám về chưa chị.

– Ảnh đi một lượt với ba con Rớt, tới nay đâu có tin tức .

– Rồi chị làm sao nuôi mấy đứa nhỏ?

– Vùng này ai đi chuyến đó đều không có về hết chú ạ !

Tôi muốn trấn an chị, nói:

– Hổng chừng thấy ảnh công tác tích cực, ở trên đề bạt làm cán bộ trung đội đại đội. Đến chừng ảnh về mang K54 chị nhìn không ra đó !

Chị Tám gạt ngang:

– Cán mùa thu về đây còn coi bò kia kìa. Ở đó mà mang K54. Mà dầu có mang K54 K55 chị cũng không có ham. Chị muốn ảnh về làm nuôi sắp nhỏ thôi. Ví lại chị cũng không mong gì ảnh làm cán bộ. Chỉ ít lâu là rửa cẳng lên bàn thờ thôi. Ở vùng này thiếu gì. Vợ chồng mới cưới nhau, rồi bà vợ trở thành đàn bà góa, nhiều đứa nhỏ sanh ra không biết mặt cha. Tiểu đoàn pháo của ông Hai Giả đánh mấy trận ở đường số 1, trận nào cũng bỏ xác không lấy về được.

Chị Tám như xúc động can tràng xổ một hơi:

– Hồi đó hội mẹ còn hoạt động, còn tổ chức đám ma chôn cất tử tế. Có bà mẹ đem gà ra cúng mở cửa mã. Bây giờ mẹ chạy hết, con chết hổng biết có chiếu mà quấn thân hay không?

Ngừng một chút, chị hỏi:

– Cậu về đây công tác một thời gian hay ở luôn dưới này?

– Dạ ở luôn! Chắc rồi cũng bỏ xác ở Củ Chi thôi chị Tám ạ!

– Cậu đừng nói vậy không nên! Cậu đi xông pha khói lửa mấy chục năm mà không hề hấn gì, mạng cậu ắt phải lớn lắm.

– Chị biết coi tướng nữa à ?

– Không ! Nhưng chị thấy cậu có cái gì khác khác người thường mà chị không nói ra được. Mấy đứa nhỏ mới gặp cậu lần đầu mà cũng kêu cậu là cậu Hai ngọt như con Rớt.

Chị nhìn tôi cười cười:

– Chị thấy cậu với con nhỏ xứng lắm. Sao cậu không tấn tới đi. Cậu mà nói một tiếng là má Hai ừ liền.

– Bận công tác quá chị Tám ơi!

– Công thì công cũng phải có tư chớ. Nhiều ông một chân công tác, một chân lo gia đình. Chờ cho chiến tranh chấm dứt thì biết đời nào. Coi được thì làm luôn đi, để lâu nó nguội. Dì Út con Rớt chữ nghĩa không bao nhiêu nhưng nó giỏi dang. Việc nước việc nhà đều làm rành hết.

Bỗng mấy đứa nhỏ kêu rầm lên:

– Má con Rớt về kìa? Má con Rớt…!

Lụa đi tới, nạt:

– La um không để nghe tiếng pháo đề-pa !

Lụa bước vô nhà sửng sốt nhìn tôi hồi lâu mới bật lên tiếng.

– Anh Hai! Anh dìa hồi nào vậy?

Chị Tám cười:

– Cẩu mới dìa chớ dìa hôm qua được hay sao?

– Chời ơi ! em thiệt không ngờ.

– Anh cũng không ngờ.

– Hèn chi gặp chú Lạn, chú biểu em đi riết về, có người lạ tới nhà. Em tưởng là ba con Rớt chớ !

Nói xong nàng quay ra sịt mũi.

– Thôi đừng có khóc ăn thịt không ngon.

– Thịt mua ở đâu mà anh mua nhiều vậy anh Hai.

– Anh mua ở Trảng Cỏ tối hôm qua. Ở đó có chợ chồm hỗm vui lắm.

– Dưới này bây giờ hột muối cũng khó mua anh ơi, nói chi thịt. Anh chưa móc gia đình được, tiền đâu mà mua đủ thứ vậy?

– Bạn bè của anh ở khắp miền Bấc vô tới miền Nam.

Tôi đưa tay lên:

– Có đứa còn cho anh cả đồng hồ nữa đây !

Lụa nói:

– Mấy người đi với anh đã về dưới này cả tháng rồi. Má hỏi thăm anh. Họ nói anh sẽ về sau. Em nghe nói anh đi đại hội nhận huân chương. Sao không ở trển luôn. Về dưới này chi cho cực khổ. Nhà tan hoang hết rồi. Má sém chút nữa…

Lụa rơm rớm nước mắt rồi nghẹn ngang.

Chị Tám la lên:

– Đọ đọ ! Anh Hai em về , không có được mít rệu nghe hôn?

Chương 30
Chủ tịch tỉnh Bến Tre mười năm kháng chiến.
Ông Đốc Huệ Giồng Trôm tức ông Nguyễn Văn Huệ,
ra Bắc được Bác Hồ ” ưu đãi ” như thế nào ?

Trí thức Nam Bộ được Hồ coi như giẻ lau chân,
lau xong quăng vô sọt rác.

Lụa bảo tôi xuống hầm ngủ cho khỏe rồi thức dậy lên ăn cơm chiều. Con Rớt thì canh chừng đầm già ở phía sông Sàígòn, con Lượm lắng tai nghe tiếng đề-pa của pháo. Hễ nghe động thì la lên cho ai nấy chui xuống hầm, còn chị Tám và Lụa mắc làm bếp, chặt thịt nấu cơm có khi không để ý, đến chừng có việc thì không chui kịp. Tôi ngoan ngoãn vâng theo lời cô em gái xuống hầm. So với cái hầm năm ngoái thì bây giờ khác xa. Kiến trúc mới hoàn toàn. Trước nhất là sự kiên cố, vách đất bốn bên dày hai thước nóc hầm dầy một thước rưỡi. Ngoài lớp đất còn có gạch đá chất lên trên. Tôi lấy đèn pin soi thì thấy những cây cột in như cột nhà. Những cây đà ngang là kèo nhà. Tôi hỏi Lụa cây gỗ ở đâu, Lụa bảo lấy trên ngôi nhà lớn của má sau khi bị bom.

Một đời người đổ mồ hôi nước mắt mới làm nổi cái nhà phút chốc tan ra tro bụi. Đó là do sự tài khôn của lão Hồ : giải phóng miền Nam. Miền Nam nào cần giải phóng. Chính miền Bắc phải được giải phóng mới đúng ý nguyện người dân.

Tôi thấy những tấm liễng chữ vàng khắc trên sơn mài đen cháy dở lót dưới sàn hầm mà rơi nước mắt. Những gì cao quý nhất trên bàn thờ đã rơi xuống chân. Là do cái chủ trương khốn nạn giải phóng miền Nam của già Hồ tàn ác.

Hầm gồm có lòng hầm chính và nhiều ngách như bàn tay xoè, mỗi ngách có thể đủ cho một người lớn nằm thẳng chân ngủ. Ngoài ra lại còn mấy cái lỗ thông hơi như hầm bí mật, ăn ra ngoài cho gió thổi vào làm cho hầm thoáng khí. Nhưng quan trọng hơn cả lỗ thông hơi là lỗ thoát thân. Đây là một loại hang chuột trổ miệng ra vườn đề phòng khi cháy nhà thì cả nhà luồn ra. Thời buổi này Hồ Chí Minh đã tặng cho mảnh đất Củ Chi danh hiệu Đất Thép Thành Đồng để biến dân Củ Chi thành loài chuột, sống chui rúc và chết quay như chuột.

Nói chung xây cái hầm công lao không kém cất một cái nhà . Tôi nằm trên giường ở giữa lòng hầm. Nghe mùi tóc và hơi hám đàn bà mà khó ngủ chăng? Không! Tôi không thiếu cái hương vị đó. Nàng khu ủy còn để lại trên tôi bao dấu vết. Cô bé quân báo vừa tưới nước mắt lên mặt tôi… Tôi không ngủ được là vì thằng Chín Hung. Gặp lại nó bất ngờ vui quá là vui. Chưa bao giờ tôi vui đến thế. Nhưng sau cơn vui về nằm trong chiến hào của trạm giao liên, nửa tỉnh nửa say, tôi nhớ nó và nhớ bác nó là ông Mười Huệ . Phải, nếu không gặp Chín Hung thì có lẽ tôi đã quên mất rằng trong đời tôi có một ông già mà tôi coi như một cụ Hồ thứ hai trong đời niên thiếu nồng nhiệt yếu nước của tôi.

Hồ ơi! Nay mi đã chết rồi nhưng tội mi đâu đã trả xong. Tao phải vạch ra, chỉ riêng với dân Nam kỳ thôi, tội mày cũng không xe tàu nào chở hết. Dân Nam Kỳ vì mê say yêu nước mà đã bị mày lợi dụng mà trải mật phơi gan trong chín năm trời chống Pháp. Khi tập kết ra Bắc dân Nam kỳ mới trông rõ bộ mặt lưu manh của Bác Hồ. Những tên chủ tịch Bắc kỳ thì mũ cao áo rộng còn những ông chủ tịch tỉnh ở Nam Bộ ra Bắc bị mày quên một cách êm ái. Tỉnh ủy Bắc kỳ thì vô trung ương ở nhà lầu đi xe Volga đớp vợ bé. Tỉnh ủy Nam kỳ ra Bắc đi cạo muối và ngủ garage. Chức tước ban cho dân Nam kỳ quăng cho chó đói cũng không thèm gặm.

Điển hình nhất là ông Đốc Huệ và ông Đốc Thỉnh của tỉnh Bến Tre. Một học giả uyên thâm có bằng cử nhân Văn chương Pháp thời Pháp thuộc có được mấy người. Nếu ở lại với Pháp thì ông đã vinh thân phì da vào hạng nhất Nam kỳ, nhưng ông đã đem cả gia đình đi kháng chiến. Ra Bắc về Nam hai lần. Khi hiệp ước Hòa Bình 54 được ký kết ông Thỉnh bị bỏ quên. May sao một tên nào đó nhắc nhở Hồ chủ tiệm. Chủ Tiệm Hồ bèn ban cho ông một cái chức vô cùng cao cả: Giám Đốc Thư Viện ủy Ban Khoa học nhà nước. Cái thư viện này có chừng chục rưỡi quyển sách Liên Xô mà khách đọc duy nhất là ông Giám đốc. Hại thay ông giám đốc không biết tiếng Liên Xô ! Tôi đã viết chuyện này ở một chương trước nhưng cũng xin nhắc lại vài dòng.

Riêng ông Mười Huệ chủ tịch tỉnh Bến Tre chín năm liền, ra bắc được phong cho chức Thư ký của Hội Việt Pháp Hữu Nghị ở đường Lý Thường Kiệt và được cho ở trong một cái garage tồi tàn dột nát đầy sách nát của Tây vứt lại trước khi chúng chuồn. Ông Mười có bệnh cánh tay phái, không được săn sóc, không có cả bếp để nấu cơm phải đi ăn vất vưởng ở hợp tác xã bữa có bữa không hoặc bằng những ổ bánh mì nguội nài nỉ mua bằng những hào bạc hiếm hoi còn sót lại của tháng lương chết đói. Ngồi viết những dòng này tôi còn trông thấy ông trên những nẻo đường kháng chiến của Ba Tri, Giồng Trôm, Tán Kế mà tôi kính yêu như một thần tượng. Ôi kháng chiến mà chi. Anh dũng mà chi. Thành Đồng Đất Thép để làm gì? Tất cả đều đút vào mồm con sói mặt đỏ Bắc kỳ tên là Hồ Chí Minh thôi. Một tên sát nhân, một thằng bịp lớn nhất lịch sử Việt Nam.

Tôi trăn trở không sao ngủ được với những kỷ niệm đau thương của các nông trường Xuân Mai, Lam Sơn với hằng vạn lính Nam kỳ nai lưng khổ sai mà gọi là xây dựng nông trường, những nông trường trong vòng tám năm không trồng được một cây lúa. Những người lính đó mang thương tật đầy mình sống lây lất trong rừng núi suýt biến thành dã thú nhưng khi cần lót đường xâm lăng thì hắn lại đem họ ra làm gạch sỏi trải trên Trường Sơn. Bây giờ về đây họ làm gì? Vẫn phơi gan trải mật cho cái gọi là trung ương đảng, để sau này khi chiến thắng xong, lại cũng Bắc kỳ ngồi chiếu nhất còn dân Nam kỳ đứng chầu rìa y như hồi 1954 (mà quả thật vậy, sự tiên đoán của tôi có sai đâu). Hiện giờ cái Mặt Trận Giải Phóng chỉ là một trò hề. Nguyễn Hữu Thọ tên luật sư gà mờ được treo hình ngang với Hồ Chí Minh ở nhà hát lớn Hà Nội thì thích lắm, tướng mình là lãnh tụ thứ thiệt, có ngờ đâu đó là trò bịp của lão Hồ. Chiến tranh xong rồi, Thọ sẽ lãnh mang chiếu rách vác đi Cần Thơ lãnh cái án xưa. Bọn tướng tá mặt đỏ Bắc kỳ đã vô nắm hết Bộ chỉ huy R. Trần Độ, Lê Trọng Tấn, Trần Văn Trà , rồi Nguyễn Chí Thanh. Quân Hà Nội ồ ạt tiến vào mở đường cho bọn triều đình Hà Nội tiến vào. Tôi nữa, tôi cũng là một con vật bị hi sinh cho cái tham vọng vô cùng đó. Từ R về đây, tôi thấy khắp nơi, cơ quan, đơn vị nào cũng do Bắc kỳ nắm giữ. Tôi không hài lòng, nhưng không làm gì được. Như hột lúa bị đổ vào cối xay, chờ lọt xuống răng cói để bị nghiền ra đem nấu tấm heo hay nấu cơm tùy theo hạt gạo nát hay còn nguyên. Phải được thế thì còn may. Dân Nam kỳ chỉ là võ trấu. Trong lòng mỗi tên cán bộ hoặc một tên lính Nam kỳ đều mang một cái bi kịch, mà màn cuối chỉ chấm dứt khi nào tụi mặt đỏ Bắc kỳ không có trên đất Nam kỳ.

Đang lơ mơ suy nghĩ bỗng nghe trên nhà có tiếng rổn rảng và tiếng trả lời của Lụa:

-Thầy Hai đâu rồi?

– Ảnh ngủ dưới hầm.

– Bị mặt trời đè chớ ngủ gì giác này.

– Ảnh mới về tới để ảnh ngủ chút. .

– Ngủ mấy chục năm rồi hổng đã hay sao?

Tôi ngồi bật dậy, dụi mắt nhìn ra cửa hầm thì thấy mấy bàn chân trắng phau trên dép cao su và một ống chân đen thui. Tôi bò ra hỏi:

– Ai đó?

– À thầy Hai hả. Tư Thêu đây. Nghe thầy về tôi đem hai mỹ nữ tới ra mắt.

-Đồ quỉ, nói bậy không hè.

Tôi chui lên thì quả tình, có hai mỹ nữ thật. Một nàng chừng hai mươi, một nàng độ mười bảy đang đứng ké né bên gốc cột. Tư Thêu nói:

– Kìa ổng đó, coi mặt đi, để lâu nay ấm ức.

Hai nàng không mắc cỡ nhìn thẳng vào tôi. Tư Thêu bảo:

– Ổng là thầy đó. Mùa thu nhưng còn ô-rin chưa có xệu xạo cu-lát như tôi. Xin giới thiệu với thày Hai đây là hai cô Nguyệt Nga cống Hồ. Cô lớn tên Nga, cô nhỏ cũng Nga. Ông thầy nhìn cho kỹ kẻo lộn.

Tôi hôi Tư Thêu:

– Ông nghe ai nói tôi về đây vậy?

Tư Thêu múa tay quơ chân.

– Ối! Ai cũng nói hết. Nam phụ lão ấu hay chim cò đều biết, hổng chừng Đồng Dù cũng rõ , nó sẽ đốt pháo ăn mừng.

– Ông ngồi chơi chút nữa ăn cơm với tôi. Tôi về đây chuyến này ở luôn Củ Chi.

– Ối trời vậy thì còn gì bằng.

– Ông còn công tác cũ không?

– Đổi rồi. Hồi trước chăn hai con bò, bây giờ bốn con. Hồi trước cỏ còn đầy đồng không phải đi cắt, bây giờ chất độc bỏ tràn lan, bò không còn cỏ ăn, tôi phải đi cắt từng bó, bữa nay đi qua lò rèn lấy cái lưỡi hái đặt hôm trước về cắt cỏ gặp má con con Rớt đi lên Hố Bò. Con Rớt nó thèo lẻo khoe cậu Hai nó về. Do đó lấy cặp lưỡi hái xong rồi quẹo xuống đây.

Tư Thêu bô bô cái miệng:

– Sao, bắt tay đại tướng có khoái không?

– Cũng thường thôi.

– Bà Phó chủ tịch hun có rủn chí tơ lòng không?

– Ở dưới này cũng biết chuyện đó nữa à?

– Biết ráo nạo ông thầy ơi! Cóc nhái ểnh ương nó kêu oang oang chỗ nào không tới. Rồi còn bảy con nhền nhện bao vây ông thầy nữa. Dũng sĩ xứ Củ Chi này bất mãn thầy lắm đó. Cây nhà lá vườn đem đi cho người khác vậy không tức sao được. Rồi cái huân chương đâu?

– Lãnh dùm người ta cho bộ của tôi sao?

– To bằng cái miệng tô không .

– Bằng cái bánh xe bò của ông vậy !

– Rồi chừng nào làm Phò mã ? Nghe nói ông chịu miệng với công chúa rồi mà !

– Ai đồn ác vậy cha?

– Ra-dô sáu đèn phát tin tùm lum hết còn chối nỗi gì, phen này ông về đây là nữ dũng sĩ Củ Chi xẻo thịt, không mong gì thoát lên trên đó nữa đâu.

Tôi ngơ ngác nhìn Lụa như muốn hỏi: Tại sao có những tin đó? Lụa đáp ngay:

– Ông sáu Lực, ông Ba Tân nói chớ ai.

– Sáu Lực Ba Tân nào?

– Mấy ông đó không có đi chung với anh, nhưng ở chung với ông Tám Tiến và Thu Mai. Ông Tám Tiến là người có vợ Rạch Bà gì gần Thái Bình đó, phải không?

– À đúng rồi! Hèn chi chuyện trên R của tôi, tôi chưa về dưới này mà bà con biết hết.

– Ông Sáu Lực nói còn có cô học sinh gì đi theo anh một khúc xa nữa kìa.

Tôi sực nhớ Thanh Tuyền theo tôi tới trạm 66. Tôi đáp:

– Đó là chuyện trong cơ quan R, chớ đâu có…

– Không, nó theo anh hai ba trạm kia mà .

– À, Huỳnh Mai,… nó đi đánh máy cho Ban chỉnh huấn ở trường Trung Sơ.

– Huỳnh Mai Huỳnh Mốt gì hổng biết nhưng mà có thiệt chớ không ai đặt chuyện.

Bỗng có tiếng ngoài sân:

– Bộ mấy người là công an hay sao mà tra hạch thầy Hai dữ vậy?

Tôi ngó ra hỏi.

– Ai đó ?

Tư Thêu kêu lên.

– Ông bác sĩ! Vô đây làm chứng. Bữa đó Sáu Lực kể chuyện trên R có ông nghe nữa phải không.

Cô Nga lớn lên tiếng:

– Em có nghe với chú Tư.

– Vậy sao nãy giờ không lên tiếng dùm chút cô nương?

Bác sĩ Tư Chuyền chừng bốn mươi tuổi, làm xếp C5 tức quân y của Hậu Cần Quân Khu, cũng là dân đằng mình và đệ tử là Bảy Phúc còn trẻ, vào nhà. Tư Chuyền nói:

– Tôi nghe tiếng ông thầy pháo đã lâu, nay nghe ông về tôi tới chơi và đặt cọc trước một chuyện. Đó là cái tăng, hoặc cái dù Mỹ để giăng trên nóc hầm che bụi bặm. Tôi đã xin Hậu Cần khu từ hồi cái C5 này mới thành lập, bây giờ nó sắp giải tán rồi mà cũng chưa có.

Tư Thêu hỏi:

– Bộ tinh giải tán hả ông bác sĩ?

– Mổ xẻ cưa tay chân không có thuốc mê thuốc tê, vết thương thường cũng không có thuốc, nhẹ thành nặng, có ngày thương binh nó đập tét nước, không giải tán thì để làm gì.

– Rồi thầy Hai có dù đâu mà cho ông?

– Thế nào ổng cũng chỉ huy đơn vị chiến đấu, nên tôi bỏ hàng rào thưa trước.

Tôi lấy trà thuốc bày ra mời khách. Một cái xe đạp rẽ vào sân, một ông mang kiếng đen phóng xe thẳng vào cửa:

– Làm gì mà giống đám cưới vầy nè hả?

Rồi quay sang tôi anh chàng cúi mọp.

– Hạ thần xin nhận tội muôn chết. Nghe bệ hạ giá lâm mà đến trễ không kịp tiếp nghinh.

Tư Thêu khoát tay:

– Làm trạm trưởng mà bỏ khách bơ vơ là đáng móc mắt đui luôn. Nhưng tôi chỉ phạt xuống bếp nấu nước uống trà.

Trạm trưởng Một Sơn nghênh mặt:

– Còn chăn bò mà để bò bị máy bay bắn thì tội gì.

Tư Thêu đưa tay tự cứa cổ.

-Chém ngang đầu… ngang đầu!

Bác sĩ Chuyền cãi lại:

– Máy bay bắn cả bầy mà chết có một con là phải phục tài thằng chăn bò chớ sau lại đòi chém, phải không Tư Thêu?

Chị Tám ở dưới bếp đang xào nấu nói vọng lên:

– Hơn nữa cả xóm Dược xóm Hố Bò có thịt ăn khỏi phải ăn thịt chuột là nhờ Tư Thêu.

Một tiếng nói từ ngoài sân vọng vào.

– Nói cái kiểu đó, nay mai nó kêu máy bay tới làm một con nữa đó !

Mọi người nhìn ra. Đó là chú Tư Khiên. Lụa nói ngay:

– Con Là đi hội nghị với chú, nó chưa về à chú?

– Nó còn ghé bắt mấy đứa du kích đi đào hầm đào hố gì đó. Tao mới về, tao nghe rần rần bên này, tao qua coi có chuyện gì không?

Tư Chuyền nói:

– Bữa nay coi mòi Hòa Bình chú Tư ạ, cho tụi này hát bội một bữa được không?

– Hát tuồng gì đó thì hát, nhưng liệu cái hầm của con Lụa có chứa đủ bấy nhiêu người đây không? Để rồi khi nó thụt thì chạy tán loạn như chuột mất hang.

Tư Thêu nói.

– Chật chật thì đủ mà chú Tư.

Lụa nói:

– Hầm của cháu mới đào thêm hai ngách.

Tư Chuyền bảo:

– Nếu là đàn ông thì rộng, ngặt có đàn bà con gái xen vô thì chật.

Vừa đến đó thì con Lượm ngoài góc nhà la lên:

– Má ơi má !

Chị Tám quát:

– Máy bay tới thì đi vô, la cái gì?

– Không phải đầm già mà vịt bầu.

– Tưởng đầm già thì sợ còn vịt bầu không lo.

Vịt bầu ở đâu?

Vài ba người ló đầu ra cửa ngóng. Một đàn máy bay giăng hàng xa xa phía bên kia bờ sông Sài gòn.

Tôi hỏi chú Tư Thiên:

– Nó đi về hướng An Thành phải không chú Tư?

– Phải đó ! Bên này nó làm sạch bờ sông rồi. Bây giờ nó rắc qua bên kia! Phải nó lại gần đây chú coi. Mình mẩy nó sơn rằn ri giống như tụi thủy quân lục chiến hoặc Trâu Điên Sài gòn. Nó bay rà ngọn cây phun chất độc như mưa trắng xóa. Chỉ vài tiếng đồng hồ thì đu đủ, sầu riêng, mít, dừa, cụp ngọn còn tre trúc thì hai, ba ngày mới xụ đọt.

Tư Thêu ré lên cười:

– Chú Tư nói gì vậy? Xụ đọt là nghĩa gì?

-Tầm bậy ! Cái thằng chăn bò. Thứ thuốc này độc thiệt. Nó đi qua một phát là lá cây rụng sạch. Nó đi lại phát nữa là cây cối cháy đen. Cá rô rỉa qua cơn rồi mình ngóc dậy ngay, nhưng vịt bầu ỉa thì mạt đầu luôn. Vườn thì trụi còn ruộng thì hết cấy lúa được.

– Sao gọi nó là vịt bầu, chú Tư.

– Kìa nhìn coi, nó giống con vịt mập, cái đít no tròn.

– Nó bay thấp vậy sao không cho du kích khìa nó?

– Có mần thử rồi, nhưng lườn nó có bọc thép. Trúng đạn chỉ nháng lửa thôi. Chọc nó giận nó càng ỉa cục to chết mình chớ ích chi! Bây giờ mấy ông mình lòi lưng hết ráo, không có chỗ ở, cứ chạy đầu này trú ba ngày, lủi đầu kia ngụ bốn bữa, vất vả lắm. Nhiều nơi nó còn chơi ác, rải chất độc xong vài ngày, nó ném bom xăng đặc cháy rụi hết rừng. Cắc ké kỳ nhông cũng không còn sống sót. ..

Chú Tư nói luôn:

– Trên bờ đã vậy, dưới sông chúng cũng làm lung. Tàu Dầu Tiếng đi Bình Dương ngưng chạy rồi. Bây giờ trên sông chỉ còn Giang Thuyền. Vừa rồi mấy ổng đem DKZ ra bắn cháy một chiếc. Chỉ năm phút sau cá nhái tới cả bầy. Nó bắn nát không còn một ngọn cỏ xong rồi nó cho phản lực tới dện bom. Bom xong rải chất độc. Cái thằng Mỹ này đã đánh là đánh nhẹp không có đánh nữa chừng.

Ông bác sĩ Tư Chuyền xua tay:

– Thôi đừng nói nữa ông thầy pháo bi quan. Bây giờ mình bàn xem hát tuồng gì đêm nay. Lâu lắm mới được một buổi chiều bình yên như thế này, mình không nên bỏ qua.

Chị Tám vọt miệng đáp ngay:

– Cậu Hai có đem về mấy kí lô thịt và sườn heo đây. Mình có gì đóng góp vô. Tôi còn mấy con chuột ướp sả, để tôi biểu con Lượm về đem qua.

Bảy Phúc tiếp:

– Trong quân y tụi tôi có một lồng chuột chưa xài, Nga ! Em về xách đem qua đây.

– Em ghê chuột lắm? Em không đi đâu!

– Rô ti nước dừa rồi có ghê không?

Lụa trỏ ở góc bếp:

– Tôi vừa bẻ mấy trái dừa nạo về kia kìa!

Tư Thêu phản đối:

– Chuột rô ti ăn không đủ đâu. Tôi đề nghị xào lá cách xúc bánh tráng, ông bác sĩ nghĩ sao?

Tư Chuyền ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói:

– Món nào cũng ngon cả, nhưng tôi ngại nhất là ba cái thịt chuột. Bởi vậy nên gài được cả mấy chục con mà tôi còn để đó chưa cho xử trảm.

Tư Thêu nói.

– Tụi tôi không có ngại gì hết. Bữa nào mua không được tương chao thì gặp thịt cóc cũng quơ, thịt chuột tôi cũng nuốt. Mấy lúc gần đây vườn bị hóa học, chuột chạy hết ra ruộng nên dễ gài vô cùng. Có bữa tôi chỉ gài một lồng thôi mà bắt được hai chục con.

Bảy Phúc cười:

– Anh gài có một gì?

Một lồng chớ một gì!

Bác sĩ Chuyền nói một hơi.

– Cái lồng của ổng là lồnggiê , không phải lồng không giê đâu chú em ơi ! Cái lồng không giê của ông ấy đặt ở bên Thanh An kìa, lâu lâu chuột nhà lội qua sông Sài gòn mới về một chuyến. Chú em hiểu không?

Hai cô Nga đỏ mặt nhìn nhau. Chị Tám ở dưới bếp nói vọng lên:

– Lồng gài chuột là lồng kẻm chớ lồng có lồng không là lồng gì? ai nuôi trong lồng?

Bảy Phúc cà khịa.

– Có chớ chị Tám! Lồng có hai thứ, một thứ có giê còn một thứ không giê. Thứ có giê để dành gài chuột còn không giê để dành gài người ta.

– Người ta ai mà chui vô lồng?

Lụa trừng mắt:

– Họ nói trây với nhau hơi nào chị cãi!

Bác sĩ Chuyền trở lại chuyện thịt chuột:

– Tôi ngại ba con chuột ăn cỏ bị chất hóa học. Mình ăn thịt nó vô không biết có hại gì không? Trước nhất nó là chất độc. Chất độc thì làm hại bất cứ loại sinh vật nào. Tôi sợ rằng mình xài nước sông Sài gòn cũng có hại, những cái giếng ở vùng này phải làm nắp đậy. Hoặc tốt nhất là đào giếng mới. Nhưng không có nhân công!

Chú Tư Thiên nói:

– Vậy thì mình ăn cái gì bây giờ? Rau cỏ, nước nôi, gà heo có thứ gì không bị nhiễm chất độc đâu! Ngay như mình mình cũng hít chất độc vô phổi hàng ngày mà !

Một Sơn nảy giờ thủ khẩu như bình bây giờ mới lên tiếng:

– Cứ quất bà nó hết thôi . Nếu cứ nghe lời ông bác sĩ thì chỗ nào cũng có vi trùng, mình không dám ăn món gì hết ráo thì làm sao mà sống? Cắn một miếng đùi chuột, nốc một hớp đế, mẹ hóa học cũng tiêu, sợ gì. Tôi đề nghị một nửa rô ti, một nửa xào lá cách xúc bánh tráng, còn mấy con ướp sả của chị Tám thì nướng lửa than.

Tư Xẹ xuất hiện thiệt đúng lúc. Chú bước vô và nói ngay:

– Cây cách đằng tôi nhiều lá lắm. Chắc chưa bị hóa học đụng tới. Để tôi về hái và đem ơ cá tra kho qua đóng góp.

Chú Tư Thiên nói.

– Ý cha cha! Ba con cá tra ở dưới vũng ăn chất hóa học của anh còn ác hơn hóa học của Mỹ nữa đó.

Chập sau, Tự Xe bưng nồi cá kho qua. Chị Tám lấy đũa trở qua trở lại mấy khứa cá úc núc, lườn cá béo ngậy rồi nói:

– Cá này là cá câu ở sông Sài gòn không phải cá trong ao – Bỗng chị kêu lên – Còn cá này là cá gì hả chú Tư.

– Cá tra tôi mua ngoài sông chớ cá gì.

Chị Tám gắp một miếng đen sì, cong cong dẹp dẹp giơ lên. Chú Tư nghiêng qua nghiêng lại nhìn rồi đưa tay cầm lấy, kêu lên:

– Thấy bà chưa? Cái miểng cà nông.

– Cà nông gì mà thụt vô ơ cá?

Tư Xẹ đưa cái miểng đạn cho bác sĩ Chuyền rồi giải thích:

-Đêm qua tôi chạy đuôi tôm cho Hậu Cần đâu có ở nhà . Bữa chiều tôi kho ơ cá rồi gắp một khứa bỏ trong mo cơm, để ơ cá trên giàn. Đi sáng đêm về tới nhà ngủ vùi tới hồi nảy nghe tiếng rốt ráo bên này mới chạy qua đây, chưa cơm nước gì hết. Khi về bưng ơ cá tôi thấy cái hông ơ bị thủng một lỗ, tôi cũng hơi lấy làm lạ, chớ cũng không nghĩ là miểng đạn cà nông xuyên qua.

Chị Tám hỏi:

– Trái cà nông nổ chỗ nào?

– Tôi đâu có biết.

– Chắc là gần nhà chú lắm!

Một Sơn xua tay:

– Không phải đâu, con cá này nó đói nó ăn miểng đạn dưới đáy sông đấy.

Chú Tư Thiên lắc đầu:

– Không! Thằng cha lái cá nó bị đạn bắn bể xuồng, nó lượm miểng đạn nhét vô miệng cá bàu cho nặng cân để lấy vốn đó chớ !

Tư Thêu nói:

– Mấy lúc mình ớn chất tươi như thế này, tôi chỉ mong Mỹ nó chụp cho một phát là mình có đồ nhậu ngay.

Lụa vều môi:

– Anh trù mạt không hè . Ngồi yên không muốn lại muốn chạy hộc máu ra.

– Chạy rồi trở về có một đống đồ hộp Mỹ nó bỏ ở lại, nào thịt heo, nào thịt bò, sô cô la cà phê đường sữa, lượm về ăn hút không đã à?

Tư Chuyền lôi tôi vào góc nhà tâm sự:

– Anh thấy trên R tình trạng hậu cần có khá không?

– Tôi không có tiếp xúc với bộ phận đó.

– Ở dưới này bết quá ông thầy pháo ơi! Bác sĩ gì mà ở thời đại chống Mỹ lại dùng cưa đục thợ mộc như thời kỳ đầu chống Pháp. Tai hại hơn nữa là giải phẫu ở dưới hầm đất rơi vào cả vết thương.

– Giải phẫu dưới địa đạo à?

– Hầm, tức là chiến hào chớ không phải địa đạo. Làm sao đem thương binh xuống địa đạo được mà giải phẫu? Đào hầm cho thương binh nằm mà còn không đủ nhân công, nói chi địa đạo. Mà dù có địa đạo, cũng không đem thương binh xuống được.

– Tại sao?

– Ông chưa xuống địa đạo à?

– Có!

– Bao lâu?

– Chừng nửa giờ.

– Sao không ở chơi lâu lâu.

– Chịu gì thấu mà ở chơi.

– Vậy nếu đem thương binh thì ở làm sao? Nội cái mùi hôi vết thương cũng đủ chết người rồi. Ai cũng tưởng là tôi đem thương binh xuống địa đạo làm việc khỏe ru. Ông biết địa đạo là cái gì rồi, ông thử nghĩ xem thương binh xuống bằng cách nào? Miệng địa đạo có phải là cái cổng trạm 66 của Bộ Tổng ở đường Lý Nam Đế đâu mà đút thương binh xuống dễ vậy. Miệng nó có bằng cái khay trầu, mình muốn xuống phải nghiêng mình lách qua thì mới lọt. Nhỏ hẹp như vậy mà Mỹ nó còn tìm ra, nếu nó rộng để đem lọt thương binh thì xuống địa đạo chẳng khác nào nộp mạng cho nó…. Vừa rồi bộ đội đánh ở đường số 1, có mấy ca bị thương rắc rối phải mổ ruột, mổ sọ, tôi đành bó tay.

– Vậy tôi nghe đồn ông Tám Lê bên Bưng Còng giải phẫu tất cả mọi ca dưới địa đạo rất kết quả. Tôi nghe trên Cục Chính trị đề nghị Bộ Tổng thưởng huân chương kia mà.

Tư Chuyền xua tay:

– Mổ kết quả 100% trên đài giải phóng, 200% trên đài Hà Nội, tôi còn lạ gì!

– Chiến đấu mà không giải quyết được vấn đề thương binh là binh sĩ không chiến đấu hết mình.

– Đúng vậy. Nhưng mấy ông nhà mình lại không chịu thấy như vậy.

– Địa đạo không có tác dụng gì với các ông à?

– Có ! là thế này : Chúng tôi dùng để cất giấu dụng cụ thuốc men. Còn người ngợm thì tuyệt đối không có xuống ở dưới đó. Nói đúng ra là không còn ai dám trốn dưới đó một khi trên mặt đất có đổ chụp.

– Vậy hồi tôi ở trên R. Khi gặp mấy ông trong đoàn Văn Công giải phóng Trung ương, mấy ổng có khoe với tôi là mấy ổng sắp xuống biểu diễn dưới này. Tôi hỏi làm sao dựng được sân khấu? Mấy ổng bảo là ở dưới này có ông nhạc sĩ Phạm Sang biểu diễn cho đồng bào coi dưới địa đạo. Có khi vài trăm khán giả tới dự. Đặc biệt rùng rợn hơn nữa là ông ta biểu diễn ngay dưới đít Đồng Dù trong khi Bốp Hốp làm trò cho lính Mỹ trên mặt đất.

– Bốp Hốp nào?

– Tài tử Mỹ .

Tư Chuyền nổi nóng ngang.

– Đ. bà thằng nào nói láo bỏ sách bỏ vở vậy cho tôi biết để tôi rạch họng nó. Con đ… mẹ nó chớ biểu diễn dưới đít Đồng Dù . Thằng Phạm Sang là thằng nào ông biết không? Nó là thằng cán bộ thông tin ấp mới biết ca lem nhem ba cái bài Bình Bán Kim Tiền theo lối xóm kiếm bánh ít bánh tét ở các đám cúng mụ nó mới quọt quẹt làm được vài bài hát, con nít cũng không thèm nghe.

– Vậy mà tôi tưởng Phạm Sang là Xuân Hồng thứ hai !

– Bữa nào rồi tôi kêu nó vô quân y hát cho ông nghe. Tôi muốn biểu nó vô hát vài bài cho thương binh nghe đỡ sầu, nhưng tôi sợ quá.

– Sợ làm rùm beng bị chụp hả?

– Không! Sợ thương binh nghe rồi ngất luôn.

– sao mà ở dưới này có nhiều chuyện thần thoại về địa đạo quá vậy mà tôi không biết. Kỳ trước tôi vừa đến đây bị ở trên chỉ định giúp cho Tư Linh tiếp thằng nhà báo Burchett. Tôi đã phải một phen mất hồn về ba cái địa đạo chiến rồi, lần này nghe ông nói tôi mới hiểu thêm tài của ông Tám Lê .

Tư Chuyền vẫn chưa hết giận:

– Củ Chi này là xứ gốc của tôi mà chỗ nào tôi không lội tới. Tôi về đây hồi năm 61 kia mà. Phải nói cho công bình là hồi đó sau khi bót An Nhơn Tây rút, đồng bào mình phấn khởi lắm. Mấy ông làng địa phương kêu đi làm gì cũng làm. Cả trăm người đào địa đạo cả tháng liền từ Bến Mương vô Gót Chàng gần nhà con Bảy Mô bây giờ đó. Gần hai cây số chớ ít ỏi gì. Nhưng đào rồi để đó chớ có ai xài. Đến khi cần dùng thì nó đã sụp đã hư hết rồi. Ba năm liền bỏ phế, còn sao được mà còn! Rồi đến năm ngoái năm nay Mỹ vô bom pháo nó bắn tróc mô lưng hết. Lại thêm ba cái B52. Không địa đạo gì chịu nổi. Tôi quạ bên C3 cũng hệ thống quân y, đóng bên An Phú tôi thấy lỗ hang trống phộc như ống cống. Người thường còn không dám chui thì làm sao chứa thương binh, làm sao hằng trăm khán giả tới xem văn nghệ? À! quên thằng Phạm Sang nghe nói bị Mỹ bắn chết rồi, không biết có đúng không?

– Tôi vừa đi qua Bời Lời, Trảng Cỏ tôi thấy cơ quan bộ đội đều ăn ở hầm.

– Bời Lời là chiến khu của mấy ông nội Tây Ninh đó, bây giờ Mỹ nó phát quang rồi, mấy ổng bò sang Trảng Cỏ, nhưng Trảng Cỏ vừa nhỏ lại vừa thưa cây không ở được đâu.

– Nó còn họp chợ chồm hổm vui lắm.

– Thì còn ngoắc ngoải đó chờ B52 hoặc bầy vịt bầu kia đi qua một phát là xong. Cái C5 của tôi vừa bị một phát nên dời về đây mới đào được chục rưởi hầm mà số thương binh có trên năm chục. Vừa ngóc dậy được là tôi cho về đơn vị, kha khá một chút tôi gởi về R an dưỡng.

Nghe ông bác sĩ tố cáo tôi ớn quá, nên bảo:

– Để tôi ra phụ với đám chuột một tay. Cha chà! Mỡ hành thơm nực.

Tư Chuyền lẽo đẽo theo tôi:

– Ông có về trên I, nói tận tai ông Ba Xu dùm tôi, rằng ở dưới này tôi không có đủ bông băng cho thương binh. Quần áo xé ra dùng hết rồi. Ông làm ơn nói câu đó dùm tôi với ông Ba Xu. Tôi lạy ông trước một lạy.

—->Chương 31 – 32 – 33 – 34- 35

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: