2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QI – (6-10)

2000ngaydem_bia1sĐây CỦ CHI! Đất Sét Chưa Thành Bùn

Chương 6

Tư Linh lại đóng vai trò quan trọng trong việc đón tiếp một nhà báo ngoại quốc khác. Cái tiếng Anh tiếng Pháp của nó quả là hữu dụng. Ông Tám Quang ra lệnh đào một số địa đạo dọc đường 15 giữa An Nhơn và Nhuận Đức do đội nữ của Bảy Nê thi công. Từ ngày ông Tám Quang chỉ định Bảy Mô đi báo công trong đại hội chiến sĩ thi đua ở R thì đội trưởng Bảy Nê bất mãn bỏ về nhà. Việc đó kéo theo sự bất mãn của nhiều đội viên và cán bộ khác trong đội cho nên tinh thần chiến đấu của đội sa sút nhiều. Nê ở nhà ít lâu rồi trở lại làm chị nuôi cho tiểu đoàn võ trang của tỉnh. Tôi biết cô gái này. Đúng là một nữ chiến đấu viên dũng cảm và siêng năng lao động. Trong những cuộc hành quân, Nêề thường vác súng và mang một bọc soong chảo sau lưng. Anh em đều cảm mến chị nuôi nhưng không ai tỏ tình với Nê . Đạo đức tính thần rất cao nhưng nhan sắc lại đi theo tỷ lệ ngược. Cho nên đã trên hai mươi lăm tuổi mà Nê chưa biết đến tình yêu.

(Năm 1969, tức là sau Mậu Thân, tình hình vô cùng ác liệt ở trên cất nhắc Nê lên làm Huyện đội phó huyện Củ Chi sau khi Huyện đội trưởng bị lính nhảy dù đuổi nột bắn chết ở Đồng Lớn, không đầy hai tháng cô Huyện đội phó lại cũng bị phục kích chết ở ấp chiến lược Cây Bài thuộc xã Phước Vĩnh Ninh. Nê là linh hồn của đội nữ. Sự vắng mặt của Nê đã làm cho đơn vị này sút hẳn và sau khi Nê chết mặc dù Nê không chỉ huy nó nữa đội nữ cũng tan rã hoàn toàn. Sẽ xin nói đến tình hình vô cùng bi đát ở chương sau)

Bây giờ trở lại vụ đào hầm. Vì đội trưởng Nê ở nhà nên đội phó Bảy Mô được ông Tám Quang đôn lên thay thế đồng thời chỉ định Bảy Mô làm dũng sĩ diệt Mỹ đi hội nghị R bất chấp luôn sự phản ứng của toàn đội. Tám Quang tên thật là Đặng Quang Long, cha mẹ là người Bình Định vô Bà Rịa làm giàu. Quang tập kết mới gắn lon đại úy. Đi học Trung Quốc về lên trung tá. Về Nam làm trưởng phòng chính trị. Năm ngoái mẹ ruột vô thăm cho xe đạp Peugeot, bút máy Parker, đồng hồ vàng và tám chục ngàn “xài đỡ” vì chưa kịp thu lúa ruộng! Bà cụ đi đâu có đày tớ xách dép và quạt hầu. Mặc dù xa cách mẹ già mười năm mới gặp lại nhưng Quang lật đật cho mẹ xuống tàu về ngay hôm sau lấy cớ là tình hình sôi động, nhưng ai cũng biết hắn sợ lộ bí mật lý lịch (Có lẽ y khai là thành phần bần cố nông trong cải cách ruộng đất) sẽ mất chức. Con tư sản địa chủ thì lãnh đạo vô sản làm sao?

Với con mắt của một anh tiểu tư sản, Tám Quang đã nhìn thấy sắc đẹp của Bảy Mô trên cả thành tích của Bảy Nê, Út Nhở và các cô khác. Tám Quang lại dùng Bảy Mô như một hình tượng dũng sĩ giả để biểu diễn thành tích của toàn thể du kích Củ Chi và bịp các nhà báo ngoại quốc. Khi họ cần quay phim chụp ảnh thì Đội trưởng Bảy Nên, Chính trị viên Út Nhở đều mờ nhạt mà Bảy Mô được đưa lên cận ảnh để quay phim. Trong dịp tiếp nhà báo “quốc tế” sắp tới, Bảy Mô sẽ chẳng khác nào một đào hát bóng của chiến khu.

Bảy Mô là chỉ huy trưởng cuộc đào địa đạo hôm nay.

Toàn đội chừng mười ngườì. Chia làm hai toán dưới quyền thống lãnh của ông Tư Linh mà tôi gọi là ông “Tư Lịnh”. Không biết ông Tư tâu rỗi thế nào mà ông Tám Quang lại bắt tôi đi nghiên cứu chiến dịch đào đất này. Có lẽ nhà pháo chưa có pháo, chưa có học sinh, còn trường pháo binh thì mới sửa soạn cất nhà. Riêng về nhà pháo thì có mấy cái “khí tài” của pháo binh giấu trong ba-lô để đem về nhà làm ăn, nhưng trước khi lên đường, công an của nhà trường đã moi lấy lại cả. Tôi cãi vã khá gay gắt để giữ lại. Vì tôi biết pháo binh mà không có các thứ “mắt” này thì bắn chỉ gởi đạn về làng mà thôi, nhưng ở trên bảo:”Vào đó sẽ có trang bị mới của Trung Quốc!”. May mà tôi còn giữ được bộ thước Tổng hợp của nghề pháo. Ngoài ra chỉ có hai tay không và tuồng bụng. Trong lúc đợi chiêu sinh, tôi đi giúp cho Tư Linh. Đây là một dịp tìm hiểu địa đạo “thôn liền thôn, xã liền xã” của Củ Chi. Ở ngoài Bắc thì nghe chuyện giải phóng Miền Nam thật phấn khởi. Đứa nào đứa này cũng tưởng mâm cỗ đã sẵn sàng, bương về tới là chỉ còn hụ hợ rắc tiêu nêm hành là nhảy lên nhậu. Nhưng khi về đến R thì chẳng thấy gì ngoài rừng xanh và khỉ với lọ nồi, lọ nồi trên ngọn cây và lọ nồi dưới mặt đất, khỉ bốn chân lẫn khỉ hai chân, còn rừng xanh trở thành rừng đỏ vì những trận B52.

Nhưng bụng bảo dạ chắc ở các tỉnh tình hình lạc quan hơn nhiều. Lại thêm nghe đài phát thanh giải phóng đưa tin nên ai nấy phấn khởi trở laị. Riêng tôi được phân công đi vùng đất thép thì theo dõi tin tức Của Chi. Nghe các dũng sĩ diệt Mỹ mà ganh mữa ruột. Bây giờ về đến đây rồi, công tác bắt đầu bằng cuộc tiếp rước nhà báo… ngoại quốc.

Tập trung dũng sĩ diệt Mỹ và du kích xã lại thành một đơn vị để chỉ huy thống nhất quả là một việc thiên nan vạn nan. Nếu đài giải phóng mà chịu khó gởi người xuống đây để mở to con mắt ra mà nhìn thì ắt cái mồm loa của họ phải tốp bớt lại.

Cô dũng sĩ này thì mắc bán quán không bỏ đi được, nàng anh hùng kia thì bận nấu cơm cho cơ quan, anh du kích này bận cán mía, cô dân quân nọ đang mang một “cái bị bất hợp pháp” nên không tiện gặp đồng đội.

Cuối cùng chỉ còn đội nữ của Bảy Mô. Gồm chưa đến tổ rưỡi tam tam . Nhưng việc đã thế thì đành phải thế.

Ông “Tư Lịnh” Tư Linh luôn luôn có sáng kiến. Ông chia ra làm hai, một nửa do đội trưởng Bảy Mô chỉ huy đào ở Đồng Trà Dơ. Cố nhiên là Tư Linh cho tôi đi theo tổ này. Còn nửa kia thì do Chánh trị viên Út Nhở điều khiển đào ở xóm Cây Điệp thuộc xã An Nhơn dưới quyền điều động, chỉ vẽ của y. Y rất sành tâm lý (dân địch vận mà!) nên y cách ly Bảy Mô và Năm Mai trong lúc công tác. Bảy Mô không thể về nhà hằng đêm để hủ hỉ với chị. Còn chị thì cũng không thể bỏ nhà trở vô ấp chiến lược trong khi em bận đi công tác. Như vậy trong lúc thống lãnh tổ dũng sĩ cuốc đất, y có thể chạy tới chạy lui giúp đỡ người đàn bà cô đơn kia. Kể ra y cũng ma lanh dữ dội.

Tôi coi công việc này như đi tắm bể Đồ Sơn nên cứ lên xuống nhà Lụa Là. Má Hai đi móc gia đình dùm tôi không kết quả tỏ ra lo lắng cho tôi. Bà cứ nhắc đi nhắc lại: “Tao tới hai lần đều thấy nhà đóng cửa. Tao đi loanh quanh cả ngày nhưng đâu có dám hỏi người hàng xóm, sợ bị lộ…”

 

(Tôi đành noi gương bác Hồ: Gia đình tôi là cả dân tộc Việt Nam! Chị ruột tôi đến tôi vẫn không thèm nhìn. Còn ông anh của tôi, tôi cũng không ngó ngàng tới. Thằng “con em” nào “trong gia đình” Việt Nam ngo ngoe, tôi bỏ tù thấy mẹ! Bác Hồ coi gia đình có ra cái cóc khô gì. Còn Bác Tôn ở tù từ hai mưới tuổi đến sáu mươi tuổi, gia cư bất biết, có ai chê trách gì. Mình phải noi gương hai Bác vĩ đại, gác bỏ gia đình để mưu sự nghiệp chung. Nên tôi không nhờ má Hai đi nữa!)

Thấy dũng sĩ và du kích đào địa đạo mà cô xã đội phó cứ ở nhà giúp mẹ bán quán, tôi lấy làm ngạc nhiên. Một hôm tôi hỏi:

– Em không nằm trong đội nữ à?

Là ném trả lại một cách chanh chua:

– Ai mà thèm vô cái đội bá láp đó anh!

Tôi cố giấu ngạc nhiên, bảo:

– Sao em lại nói vậy?

– Nói vậy đúng chớ sao anh. Mấy con nhỏ đó đánh giặc đánh giả gì. Đi đâu cũng nghênh nghênh cái mặt. Bây giờ là đỡ đỡ rồi đó. Hồi mới thành lập còn “le” ác nữa kia. Cũng tại ông Tám Quang tâng bốc, chìu chuộng cấp cho mấy “bả” súng trường bá đỏ, dép lốp, nón sáu múi, bao đạn, nai nịt vô coi cho giống giải phóng quân.

– Hồi thành lập tới giờ thành tích họ cũng khá chớ em!

– Khá gì mà khá. Ừ cũng có khá một chút là hồi chị Tư Gừng làm đội trưởng. Chỉ có sáng kiến phối hợp với anh Năm Cội gỡ cà-nông lép đem gài ở đường làng I gần Bò Cạp làm nổ lật một chiếc xe tăng bị thương hay chết một tên Mỹ gì đó.

– Vậy cũng gioỉ chớ sao em kêu là bá láp.

– Em đâu có nói chị Tư với anh Năm. Nhờ đó đội nữ có lên được một lúc. Anh Năm Cội và chị Tư Gừng được đi R dự hội nghị Chiến Sĩ thi đua. Bà Ba Định giữ chị Tư lại để huấn luyện hay gạc-đờ-co gì cho bả đấy, em không rõ. Nên chỉ có mình anh Năm Cội trở về dưới này. Ảnh được huyện đội đưa vào công xưởng của huyện để sáng chế bom gài xe tăng.

– Công xưởng huyện mà làm bom?

– Có chứ! Tức là đi đào cà-nông lép chở bằng xe bò về rồi cưa ra lấy thuốc nổ!

– Trời đất!

– Bởi vậy nên ảnh bị nổ chết rồi!

– Thế là một cặp dũng sĩ chỉ còn có một.

– Cũng đâu còn.

– Cô Tư Gừng ở luôn trên R à?

– Chỉ về dưới này rồi. Nhưng “bể” rồi.

– Ở trên đó lại được gần bà Phó Tư Lệnh thì học tập được nhiều sao lại “bể”?

– Khó nói lắm anh à. Thôi, anh đừng hỏi nữa.

Là muốn bỏ đi, nhưng tôi cố tìm hiểu thêm tình hình:

– Sao em không ra tiếp địa đạo với các bạn em?

– Ối chời! Ở nhà nghỉ có phải khoẻ hơn không anh? Má em rầy hoài! Mà bảo em đi như con heo “rượng” vậy. Làm cái gì ba thứ địa đạo, hầm chông với lựu đạn gài. Chỉ giết dân thôi. Má bảo em nghỉ cái chức xã đội, ở nhà đi cán mía mướn hoặc đốt than cho má nhờ.

– Má nói tới vậy nữa à?

– Có chớ! Từ hôm đi rước gia đình dùm anh về, má càng rầy tợn. Má quạt thẳng cả mấy ông cán bộ khu và chú Tư Thiên. Má nói: Mỹ nó ở trên đầu mình nó nhảy xuống. Mình gài lựu đạn hầm chông dính ai? Nó liệng bom tấn, địa đạo ở Hố Bò sụp hết, đào nữa làm cái gì mà nai lưng ra đào? Má còn hờn cái vụ đào hầm đánh đồn Bến Súc của ông Ba Tô Ký làm chết anh Điều hồi 46 đó anh ạ. Má định gả em cho một anh đánh xe bò như anh Thơm, ba con Rớt rồi ở nhà làm ăn. Má nói nhiều cái tức cười lắm.

– Má nói thế nào nữa?

– Má nói sở dĩ hồi Đồng Khởi tụi bót An Nhơn chạy là vì bất thần mình “hù” nó, nó hoảng hồn rồi mình la ó, nó tưởng quân mình đông nên nó sợ. Bây giờ nó tỉnh hồn đứng lại rồi, mình hù nói đâu có sợ nữa. Hồi đó mình đưa đội quân đầu tóc ra đấu tranh chánh trị, nó thấy tội nhiệp nên nó đấu dịu, bây giờ nó biết Nga Tàu giúp đỡ mình, có ngoài Bắc vô phụ để đánh nó, nó đâu có nhượng bộ nữa. Hồi đó mình không làm được thì thôi, bây giờ Mỹ vô làm sao mình oánh lợi?

Tôi gượng gạo bảo:

– Em phải giải thích cho má nghe, “uốn nắn” “tư tưởng”.

– Em giải thích nhưng má không nghe. Má nói tại miền Bắc vô nê Mỹ mới vô làm tan tành hết nhà cửa. Anh Thơm đi dân công gì cả năm chưa về?

Là không tham gia địa đạo nhưng không cản tôi đi. Buổi tối Bảy Mô kéo quân ra đồng Cà Dơ để khai chiến với đất. Xin thú thật với các bạn khi tôi cuốc nhát đầu tiên thì tôi muốn vác cuốc đập vào cái mồm loa Giải phóng lẫn cái mép dãi Hà Nội. Cách mạng chỉ là một sự bịp. Bảo thằng Hồ Chí Minh, thằng Võ Nguyên Giáp, thằng Lê Duẩn và cả thằng Nguyễn Chí Thanh hiện đang ở R nữa, hãy câm ngay cái mõm. Đừng có sủa bậy, xúi giục dân Nam Kỳ chết vô ích. Ba đời tam tộc nhà chúng nó có sống cả dậy cũng không đào nổi một trăm thước địa đạo mà. Tôi không nói quá đáng đây: Đất cứng như đá. Sức trai của tôi đào cật lực, nửa giờ chỉ được năm ki đất. Đó là đào lỗ như lỗ trồng cây. Xuống chừng sáu tất đất thì đụng nhằm vô số vấn đề. Cuốc không dùng được nữa. Phải dùng vá xắn, phải khom người xuống moi đất đùa vào ki rồi chuyền nhau đi đổ ở xa để phi tang. Không phải bạ đâu đổ đấy, cũng không để cho đất rơi rớt dọc đường. Địa đạo càng phải giữ kín hơn hầm bí mật. Rồi rễ cây bắt đầu lòi ra. Phải dùng dao cứa. Nhưng, bạn nên biết rằng chặt một cái rễ to bằng ngón tay dưới hầm bề kính bốn tấc Tây còn khó hơn bửa một gốc củi già trên mặt đất, vì bạn không thể vung dao tự do như ở trên sân được. Chặt đứt một cái rễ bằng ngón tay mất ngót một tiếng đồng hồ. Nhiều nơi đất cứng phải gánh nước tưới cho mềm để đào dễ hơn.

Tôi hỏi Bảy Mô:

– Sao em không chọn nơi nào gần suối? (Bây giờ tôi gọi Bảy Mô hẳn bằng em)

Bảy Mô nói:

– Tụi em đã nghiên cứu hai ba chỗ rồi anh ạ. Ở trên yêu cầu phải đào gần đường 15, nhưng Hố Bò thì bị B52, còn từ Xóm Thuốc tới Rừng Làng An Nhơn thì đã có địa đạo cũ lẫn mới rồi. Một số bị sụp, một số bị lộ. Mỗi cái chừng vài chục thước. Muốn chứa mười người xuống cho khoẻ thì phải đào một trăm mét. Em chọn chỗ này là đất chưa có dấu. Phía sau là đồn điền Phú Hoà, bên trái là rạch Thai Thai, bên phải là sông Hố Bò. Nếu đào gần mé sông rạch để phi tang đất và múc nước tưới thì đất lại thấp. Ngoài ra còn có một cái lợi khác là pháo Đồng Dù ít bắn mà chỉ bị pháo Trung Hoà thôi. Trung Hoà chỉ bắn pháo 105 hầm có thể ít sụp. Em nói sụp đây là đất bị chấn động sụp chớ không phải pháo bắn trúng mà hầm không sụp đâu. Bị nhểu ngay thì hầm nào cũng không chịu nổi..Hễ lở một mảng thì lở cả địa đạo.

Mõi tay, tôi đưa cuốc cho một người đào tiếp để đứng vào hàng chuyển đất đổ ra xa.

Thấy nhiều tia lửa nháng theo lưỡi vá, Bảy Mô bật lửa soi xuống lỗ:

– Nhiều sỏi qaú! Sỏi cứng nhưng không bó với đất nên nóc hầm hay rã.

Một đội viên hỏi:

– Cô Bảy đã lo nắp sẵn chưa?

– Tôi đã cho người đi liên lạc để mua rồi!

– Mua thứ gỗ mít nghe cô!

– Gỗ mít tới một ngàn đồng một cái, tiền đâu mà mua?

Tôi chen vào:

– Sao phải liên lạc mới mua được, em?

– Mấy ông thợ mộc trước kia ở trong này, nay ra ấp chiến lược hành nghề. Mấy ổng còn nghĩ tình nên đóng nắp hầm lén bán cho mình. Phải là thợ mới đóng được. Vì khi ráp phải thật triến mí. Nếu tay ngang, đóng không khéo, dễ bị phát hiện lắm.

Thấy lỗ rộng toang hoác, tôi nói:

– Miệng hầm mà như vầy thì đâu có khó phát hiện em!

– Đây chỉ là “miệng thí” anh à!

– Nghĩa là sao?

– Mình đào xuống chừng nào đứng dưới đó giơ tay lên không đụng mặt đất nữa thì mới “trổ ngang”. Phải đào cho đến phần đất thịt rễ cây ăn không tới. Cái gáy đất phải ít nhất là một thước tây mới bảo đảm xe tăng chạy qua không sụp.

– Trong rừng mà xe tăng cũng vô tới nữa sao em?

– Chỗ nào nó cũng càn hết. Xe tăng, bom, pháo còn nguy hiểm hơn bộ binh .

Bỗng Bảy Mô bắt sang chuyện khác:

– Hồi đội nữ mới thành lập sơ khai là ở tại cánh đồng Chà Dơ bên kia sông Hố Bò, như đội giải phóng quân của ông Võ Nguyên Giáp ở rừng Tân Trào vậy.

– Sao em biết giải phóng quân ở Tân Trào?

– Em đọc sách chớ sao. Hồi đó chị Tư Gừng làm Đội Trưởng. Đội có đến ba chục người. Tập bắn bia ở đây này. Chị Là xã đội phó xã Phú Mỹ Hưng bây giờ, hồi đó bắn bia được điểm cao nhất. Mười phát bắn trúng hồng tâm ba phát. Còn chị Gừng sau đó đánh lật xe tăng, được đi R báo công. Đài Giải Phóng nói liền cả tuần lễ.

– Tư Gừng đâu rồi?

– Bây giờ chỉ ở nhà.

– Tại sao vậy?

– Em không … biết!

Bất cứ ở đâu tôi cũng nghe nói về Tư Gừng một phách đó, nhưng khi tôi hỏi tại sao Tư Gừng không chiến đấu nữa thì ai cũng nói không biết.

Hầm đã sâu ngập đầu. Ki buộc quai mới lôi đất lên nổi. Bảy Mô bảo:

– Thay tay đứng miệng thí và tay đào đi.

Người đứng miệng thí là người mệt nhất vì phải lôi ki đất đầy nặng chừng ba chục kí-lô từ dưới đáy hầm lên. Sau đó mới chuyền cho người đứng kế. Độ vài tiếng đồng hồ thì phải thay người “đứng” miệng thí. Bảy Mô nói:

– Chị Là cũng là người đứng miệng thí cừ khôi nhất, thanh nhiên cũng phải chịu thua, nhưng dịp này chỉ lãng ra.

Đào một chập nữa, hầm sâu lúc đầu người. Bảy Mô bảo:

– Trổ ngang được rồi đấy, bà con.

– Cô Bảy gọn người xuống khoét đi.

– Ừ, đưa cuốc ngắn đây cho tôi. Bây giờ đi chậm chớ không có nhanh như đào miệng thí nữa.

Nói xong Bảy Mô lấy khăn bịt đầu chuẩn bị. Người ở dưới leo lên. Bảy Mô tuột xuống. Tôi bấm đèn pin. Đất cát, rễ cây nham nhở trông thật ê hề. Bảy Mô nhìn lên bảo:

– Đào xong địa đạo thì lấp cái hố này lại cho nên gọi nó là “miệng thí”. Cứ đào thí, thí xe, thí chốt, thí cô hồn, thí mạng… anh rõ chữ “thí” chưa?

Tiếng cười gượng gạo của những dũng sĩ mệt nhừ cất lên hiu hắt. Một cô bảo tôi:

– Anh có chuyện gì vui vui ngoài miền Bắc kể nghe động viên chị em tôi, anh Hai! Sao anh hà tiện tiếng nói quá vậy?

– Biết chuyện gì bây giờ?

– Anh có gặp cụ Hồ không ?

– Không!

– Có gặp Đại tướng không?

– Không!

– Có gặp trung ương không?

– Cũng không nốt!

– Vậy chúng em tưởng anh gặp cụ Hồ và Đại tướng một tháng hai ba lần.

– Mười năm không gặp lần nào.

– Anh nói thiệt hay nói chơi?

– Nói chơi làm gì cho mất sức khoẻ .

– Vậy sao tụi tôi nghe mấy chú Tám Quang, Ba Kiên kể lại rằng cụ Hồ thương dân miền Nam mình hơn cả dân miền Bắc và miền Trung vì dây miền Nam “đi trước về sau”?

Tôi không biết nên nói sự thực hay nói láo theo kiểu lãnh tụ, chỉ cười trừ:

– Đúng, cụ Hồ thương dân Nam Kỳ nhất! Nhưng vì dân Nam Kỳ tập kết đông quá nên cụ thương không xuể nên cụ cho một nửa lên rừng đốn củi, một nửa xuống biển cạo muối. Hơn thế nữa cụ rất chăm tưóoi cây vú sữa của dân Nam Kỳ tặng hàng ngày. Các cô biết cây vú sữa của dân Nam Kỳ tặng cụ không?

– Có nghe nói.

Bảy Mô ngước lên:

– Chắc mười năm cây vú sữa đã có trái dữ rồi hả anh?

– Không có trái nào hết!

– Tại sao vậy?

– Ai biết! – Tôi tiếp – Cụ Hồ đặc biệt thương người Nam Kỳ mình. Người được cụ thương nhất là một ông nghị sĩ Quốc hội tỉnh Bà Rịa.

– Chắc cụ cho ông nghị sĩ gặp cụ hoài hả anh?

– Không biết gặp hào hay lâu lâu mới gặp một lần. Nhưng một hôm có cuộc khoáng đại Quốc Hội cụ bảo một cô gái tặng cho ông ấy một chai nước ngọt Hồng Hà.

Bảy Mô lại ngước lên, đôi mắt lấp lánh như hai ngôi sao nhỏ dưới đáy hầm:

– Đào đất đang khát nước mà anh nói tới nước ngọt, em đào hết muốn nổi.

Một cô thêm:

– Phải cụ cho mình mỗi đứa một chai trong lúc này thì đỡ khổ quá chừng.

Tôi muốn bật cười. Chúng đâu có ngờ lão già đã bỏ thuốc độc trong chai nước? Hỡi dân Nam Kỳ ngây thơ khờ khạo! Hỡi bọn cán gáo bị lừa đau như hoạn nhưng không dám kêu. Sau mười năm sống dưới sự kềm kẹp và chèn ép của bọn Bắc Kỳ bản xứ, mười năm ròng không dám than van, bây giờ mang một khối hận về nước vẫn không dám thốt ra thực của lòng mình. Đã vậy lại còn đặt chuyện ca ngợi lão ta để bịp dân Nam Kỳ mình lần thứ hai.

Các cô bé ngây thờ Năm Bi, Ba Định, Mười Kiều, Út Tịch nào biết lão Hồ dùng họ như những lá bài để lừa dân Nam Kỳ. Bọn họ được “gặp Bác” được Bác xoa đầu, sướng mê. Mụ Út Tịch ở Trà Vinh được “bác” tặng áo lụa, vinh dự to bằng cái bánh bẻng của con nít, nên hăng say diệt Mỹ bỏ cả bầy con đói ở nhà.

Bọn con gái Củ Chi ngây ngô này có biết đấy là đâu nên liều chết đem tấm thân liễu bồ ra chọi với xe tăng đại bác để được may sau bắt bàn tay nhái của bác Hồ. Thật đáng tội nghiệp.

Tôi thấy không tiện nói ra sự thực cho mấy em nghe. Có thể chúng nó không tin và mình gặp rắc rối, nên tôi chỉ cười vuốt đuôi, đợi lúc có thời giờ nhiều hơn sẽ bảo.

– Cố gắng đi rồi sẽ có nước ngọt của bác Hồ mời.

Bảy Mô thở ào ào như trâu cắt cổ. Tiếng thở dội lên nghe rõ mồn một. Tôi bảo:

– Thôi, đi lên cô Bảy, cho tay khác thay! Lên đây uống nước ngọt.

Tôi vừa nói vừa bấm đèn. Bảy Mô đưa tay, tôi níu và lôi nàng lên. Mồ hôi nhoè nhoẹt đất cát khắp người. Nàng lột khăn rủ lia lịa, đất văng tứ tung. Nàng lau gương mặt lấm lem. Bùn đất làm cho nước da nàng trắng lên. Nhìn nàng, tôi không hiểu vì sao cô bé này bỏ học mà đi đánh Mỹ?

Bỗng có ánh đèn nhấp nhoáng từ phía ngoài đường đi vào. Tất cả đều ngó lom lom theo dõi. Biết chắc là người mình, nhưng ai lại đi thẳng vào địa điểm như thế này. Tôi bảo tất cả tản ra còn tôi núp vào gốc cây móc súng lên đạn và quát:”Ai?”

– Ai, đứng lại! Phải thằng Bảy đó không?

– Dạ, cháu đây chú Hai.

Trước khi đi công tác, tôi và Tư Linh có cho ám số cộng tròn 9 để liên lạc giữa hai toán. Nghe giọng quen đáp trúng ám số, tôi biết là thằng Lẹ, cận vệ của Tư Linh.

Thằng bé đến, nói:

– Anh Tư mời anh về hội ý.

– Có việc gì vậy?

– Anh Tư đi thỉnh thị ông Tám vừa về bảo đi tìm anh ngay.

Tôi về tới nhà má Hai thì gặp Tư Linh ở đó.

Tư Linh có vẻ hân hoan. Tôi đoán không ra việc gì.

– Tao vừa khoèo được một mớ bạc!

– Ở đâu vậy?

– Đố mày ở đâu? Hì hì…ở cái xắc-cốt no phè của ông Trưởng Phòng Chính Trị.

– Ông nội rít chúa đó mà bữa nay xì cho mày à?

Hai đứa ngồi vào chiếc bàn quen, nơi nhậu tôm khô cách đây không lâu. Tư Linh hạ giọng và nom sát mặt tôi, nói:

– Mày phục tao chưa. Ông bê cho tao năm xấp.

Tôi kêu lên:

– Năm ngàn! Thiệt hả?

Tư Linh xua tay và hạ giọng nói luôn:

– Tao biết tiền đó là của bà má địa chủ đem vô cho ổng mà. Tao khều một phát là ổng nhảy nhỏng ngay. Tao nói công việc tiếp khách ngoại quốc quan trọng nếu không động viên đội dũng sĩ tới mức thì địa đạo sẽ không xong. Tụi nó cần một ít để tổ chức cháo lao nước nôi đèn đuốc, dao cuốc, quần áo… Dù gốc eo nhưng ổng cũng thức thời và lém lắm! Tám chục ngàn bạc thành và chiếc Bờ-Rô của bà già đem vô cho, cả khu Tư này đều biết. Gia đình địa chủ là không ổn rồi. Không biết ổng có “ém” thành phần trong chỉnh huấn không? Bây giờ nếu lời ra tiếng vào thì cấp trên nghe thấy! Mày nên biết ông Tư Lệnh Ba Xu của mình là gốc “thầy xu” được coi như lớp nghèo thành thị. Ổng mà hay được ông trưởng phòng chính trị là thành phần địa chủ, lại nhận tiền thu mua lúa ruộng bỏ vô xắc-cốt để tiêu dùng trong cuộc chiến đấu chống Mỹ do giai cấp vô sản lãnh đạo thì rất là không đúng. Vậy nên ổng cần phải đấm mõm em út đồng thời để phi tang số bạc kia, hà hà… Tao khều đúng lúc nên ổng xùy ra ngay. Ổng đã ký rất nhiều hoá đơn ba trợn của tao trong kỳ thằng cha giáo sư Liên Xô. Kỳ này nếu thành công, ổng sẽ lên chưn với cấp trên. Các thứ luật liên quan mâu thuẩn đều thể hiện cả trong đường lối móc hồ bao của tao.

– Tao phục mày luôn.

– Nè, cô Bảy dũng sĩ mày coi có được không? Nếu chưa ưng thì tao giới thiệu một em khác cũng dũng sĩ cỡ cô Bảy. Đó là Ba Cầm ở xã Trung Hưng hiện đang đào đất trong tổ của Út Nhở. Cô ta có một đứa em gái tên là Lan nằm trong ban công tác của tao. Tao “cấy” ngoài Đồng Dù! – Tư Linh hạ giọng – Ở trên cần rủ rê một tên Mỹ về với mình. Cho nên tao mới xài Mỹ Nhân kế. Tụi Mỹ dư tiền nhưng thiếu gái, dại gái. Đưa thứ đó vô là nó hít thôi.

– Để làm quái gì. Bắt được một thằng, nó bỏ bom, nó nhảy dù tìm kiếm hỏng nát cơ sở hết.

– Ậy, kế hoạch ở trên mình phải thi hành. Thằng nhà báo này nó đòi quay phim tù binh. Mình lo quá cỡ nhưng sự thực năm nay có bắt được tên “mẽo” nào đâu. Mày có ý kiến gì giúp tao chút!

Tôi cười:

– Nếu mày muốn pháo kích Đồng Dù, Trung Hoà hay Bến Cát thì tao sẵn sàng, chớ còn cái mục binh vận của mày tao bù trất.

Cô Là đem ra để trên bàn hai chiếc hộp lon rồi trở vào. Tư Linh bảo:

– Thuốc tiên đấy ông bạn.

– Là cái gì?

– Một hộp là nước vôi, một hộp là nước chanh.

– Để làm gì ba cái đó?

– Trị ghẻ xốn!

– Ghẻ xốn là ghẻ gì?

– Nay mai mày sẽ biết! – Tư Linh cởi áo ra đưa lưng đưa ngực cho tôi xem – Mày thấy những vết sẹo thâm đen đó không? Đó là thành tích tao đánh giặc ghẻ xốn.

– Tao chỉ nghe nói ghẻ hờm chớ chưa nghe nói ghẻ xốn bao giờ.

– Ghẻ xốn là đặc sản của địa đạo Củ Chi. Mày chui xuống vài lần rồi sẽ lập thành tích cỡ tao vậy. Nó ngứa ngáy, nhức nhối và chảy nước vàng khó chịu lắm. Nên mỗi lần xuống địa đạo xong trở lên phải phết một lượt nước chanh khắp người, chờ cho nó rút khô rồi phết tiếp nước vôi. Chịp! – Tư Linh kề miệng sát tai tôi- Tội nghiệp mấy đứa con gái. Tụi nó kêu trời dữ lắm. Ghẻ xốn lại ác, toàn mọc ở những nơi hiểm hóc. Con gái Củ Chi này hễ đứa nào chui xuống địa đạo vài lần thì kể như mình mẫy giống lươn bông hết! Đó là lý do cô xã đội phó nín ở nhà.

– Chết chưa!

– Bởi vậy nếu có lấy vợ Củ Chi, khi ấy … đừng có để đèn. Hấc hấc…hấc.

Tư Linh nâng vạt áo lên xỏ ngón tay trỏ thọc vào mũi ngoáy ngoáy rồi đưa cho tôi coi và cười há há:

– Mày coi lỗ mũi tao có như hai ống khói tàu chưa?

– Sao đen ngòm vậy?

– Khi đào vô sâu thì phải dùng đèn. Nếu không, thấy đường đâu mà cuốc? Được đèn cầy thì còn đỡ đỡ, không có đèn cầy, đốt đèn dầu thì cái mũi mày như thế này này – Tư Linh móc viết vẽ trên bao thuốc lá cắt nghĩa – Lòng hầm cao từ tám tới chín tấc, ngồi gần đụng nóc hầm. Nóc hầm hình chóp nón để tránh đất sụp.

– Bề ngang bao nhiêu?

– Bốn tấc là rộng. Nghĩa là muốn qua mặt nhau phải chen vất vả mới lọt.

– Vậy nếu ông muốn qua mặt bà thì làm sao?

– Thì bà phải ngồi nép vào vách cho ông bò qua. Thế này này… Bởi vậy nên mới có vấn đề.

Tôi nghe trong ký ức bật lên chuyện cũ. Tôi hỏi:

– Mày có đi dự đại hội anh hùng Quân Đội ở Câu lạc bộ Quân Nhân Hà Nội hồi 1955 không?

– Chi vậy?

– Để tao nhắc mày nhớ bản báo cao của anh hùng Nguyễn Văn Song dân khu 7 mình.

Tư Linh xì một tiếng rồi nói:

– Tao có đọc trên báo. Mày muốn nhắc cái đoạn ông anh hùng “đào cả cây số địa đạo bằng chiếc lưỡi hái cùng” chớ gì? Tới chết tao còn chưa quên.

– Mỗi lần tao nhớ tới đó, tao cười thầm. Chỉ qua một đêm đào móc. Tao đã thấy thực tế trâu bò và người ngợm “xuống địa đạo” như thế nào rồi. Trâu bò thì chắc bằng con bọ hung , còn người thì bằng chàng nhái.

– Còn dũng sĩ thì nghe lệnh đào địa đạo trốn sạch trơn!

Tôi sực nhớ đến Tư Gừng bèn hỏi Linh. Tư Linh rỉ tai tôi:

– Cô nàng mang “bị” nên “bị” gởi trả về. Tội nghiệp con nhỏ buồn rầu rồi trốn mất tiêu. Vụ đó cả huyện này biết nhưng không ai dám nói ra. Vì cổ là gạc-đờ-co của bà Phó Tư Lệnh. Chẳng lẽ bả lại làm ra dũng sĩ con? Những kẻ đến họp hành với bả là những tên râu rìa mặt mốc nào. Đám cá kèo đâu có tới gần bả được. Cho nên bây giờ ai sửa soạn đi R cũng bị chế diễu! Tội cho cái chữ R trong vần quốc ngữ của ta. Rờ là gì? Rừng rú, rét ru, rầu rĩ râu ria ra rậm rạp, rờ râu râu rụng, rờ rún rún rung rinh hay là rờ ……?

Tư Linh cười bảo tôi:

– Mày nhớ mang “chứng minh thư” theo mình luôn luôn nhé é hé…é! Nhớ chưa! Có khi đắc dụng đấy!

Chương 7

Một hôm vào buổi trưa đồng bào Hố Bò chạy rầm rập tán loạn. Họ vừa chạy vừa la “Mỹ tới! Mỹ tới!”. Họ sợ trực thăng đổ chụp mà liên lụy. Nhưng có người không chạy. Một thằng người lùn bụng phệ, mặt đỏ như đít khỉ có tháng, mũi nhọn mà quấu như mỏ két, tóc hoe lòi ra vành nón tai bèo, đi dưới nắng chói chang có hai người mang súng AK kèm hai bên. Đặc biệt hơn nữa là hắn mặc đồ bà ba đen hở hai nút cổ, lòi ngực đầy lông lá và chân hắn đeo dép râu.

– Không phải Mỹ. Mỹ không ăn mặc kiểu này. Vậy tên mũi lỏ này là ai và đi lạc vào đây?

Hắn là người thuộc xứ chó rừng hai chân trước ngắn hai chân sau dài, chạy như bay. Trong khi quân đội của nước hắn sang giúp Sàigòn đánh Cộng Sản xâm lược Bắc Kỳ thì hắn lại nhảy sang Hà Nội nịnh bợ bọn này. Hắn có cái tên dài nhằn, tôi vẫn còn nhớ, có thể viết ra đây được nhưng ghét không muốn ghi ra. Thôi, hãy cho hắn cái tên “Ăn hết Bọ Chét” gọi tắc là tên “Bọ Chét”. Hắn làm nghề cầm bút bịp. Hắn sang Hà Nội đâu vài lần gì đó. Năm 1966 hắn được vào Phủ Toàn Quyền ở Ba Đình yết kiến Hồ Chủ Tiệm cùng với đồng chí Tố Bịp. Hắn xin vào Nam để lấy đề tài viết về “Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Miền Nam” Hồ Chủ Tiệm khoái run gân nhưng làm bộ lo lắng cho sinh mạng đồng chí mình:

“Đồng chí không sợ nguy hiểm sao?”

Bọ-Chét lém hỏi ngược lại:

“Năm đồng chí chủ tịch vào tuổi tôi, đồng chí chủ tịch làm gì?”

Hồ chủ tiệm đáp:

“Tôi ở Việt Bắc!”

Bọ-Chét bắt được mạch, tấn công luôn:

“Ở Việt Bắc còn gian khổ hơn bội phần, ở trong hang núi ăn uống thiếu thốn, giặc giả bốn bề, vợ con lại không có. Thế mà đồng chí còn kham nổi hàng chục năm, tôi vào đó chỉ như đi dạo … Vì khu giải phóng của Mặt Trận bao gồm 3/4 đất đai Miền Nam…” (Không biết hắn chế diễu họ Hồ hay hắn nói thật).

Có lẽ Hồ Chủ Tiệm nhột nhạt nên khen ngợi đồng chí Bọ-Chét anh dũng nên liền cho đồng chí vô Nam và chúc đồng chí viết nhiều và hay để “phục vụ” thế giới ngờ nghệch đang nhắm mắt tin một thằng nhà báo bịp. Thế là Bọ-Chét hiu hiu tự đắc ra về. Hắn được đưa vào Củ Chi bằng một phương tiện tốn kém trị giá hơn cả quyển sách hắn viết về Miền Nam được bán cho một nhà xuất bản Pháp (?) chưa kể máu của quân đội nhân dân Việt Nam và giải phóng quân Miền Nam đã phải đổ ra để bảo vệ một tên bịp.

Hắn có bộ mặt đỏ như gấc khi tôi gặp hắn. Với cái mũi khoằm và cặp mắt tí hí, hắn có vẻ một tên láu cá đánh bài cào bốn lá hơn là trí thức. Hắn lùn lại có cái bụng phệ nên mới nhìn hắn tôi có cảm tưởng đó là một anh hàng thịt. Những ngón tay chuối mẳn bóng lưỡng của hắn dùng để cầm dao búa hơn là cầm bút.

Tám Quang là người tiếp hắn đầu tiên. Hắn đúng là một tên láu cá. Vừa nghe chương trình “cỡi ngựa xem hoa” của hắn do Tám Quang đặt ra, hắn cười và xin phép “sửa đổi vài điểm nho nhỏ”. Không phải “sửa đổi vài điểm nhỏ” mà hắn thay đổi toàn bộ kế hoạch của ông Trưởng Phòng Chính Trị Khu. Hơn nữa, hắn vừa là diễn viên vừa là đạo diễn của vở kịch cương ẩu “Thăm vùng giải phóng của luật sư Nguyễn Hữu Thọ”.

Bọ-Chét hết lời khen giải phóng quân. Trước nhất hắn xin ông Tám Quang chọc thử máy bay đến để cao xạ phòng không bắn cho hắn quay phim. Ông Tám Quang lém không kém đồng chí mình:

– Mỹ rất sợ cao xạ ở Miền Bắc cho nên ở đây chúng không dám khinh thường giải phóng quân. Chúng tôi hứa sẽ bố trí trận đánh cho đồng chí quay tha hồ.

Rõ đúng bịp gặp bịp. Hắn đưa ra một chương trình nhằm bịp thế giới một cách hết sức khoa học. Ai xem cũng phải lầm. Nhưng hắn đã bị ông Trưởng phòng Chính Trị già tay bịp hơn nên đẩy cây thoa mỡ bò với hắn tuốt luốt.

Hắn chưa bị bom pháo dập lần nào. Cũng chưa bị “cá rô rỉa ” phát nào, nên còn háo thắng. Có lẽ vụ trương cờ trương quạt của thằng giáo sư Liên Xô đã lọt ra ngoài Củ Chi nên chỉ sau khi hắn đi là các nơi hắn đặt chân đến đều bị bắn phá. Từ đó tới nay tình hình càng ngày càng căng thêm. Ông Chín Mành Phó ban Cán bộ Quân Khu đang di chuyển ở ven rừng bỗng bị “cá rô” rà. Hai thầy trò đều có súng nhưng bị nó cướp tinh thần nên tha hồ mà lủi. Nó sà xuống ném lựu đạn giết cả hai người.

Bây giờ ai cũng ngán thứ cá rô này. Tư Linh thấy thằng Bọ Chét hiu hiu tự đắc thì bảo tôi: “Vái nó bị một phát đái ra cây, hết phách lối”. Ông Tám Quang khoáng trắng mọi việc cho Tư Linh. Sau buổi tiếp đón, ổng bảo Tư Linh toàn quyền hành động muốn chở hắn đi đâu thì chở miễn sao đừng để nó chết hoặc bị bắt thì thôi. Tôi biết ổng phải thi hành lịnh cấp trên chứ chính ông cũng không phấn khởi. Qua cuộc tiếp xúc với anh chàng giáo sư Liên Xô có lẽ ổng thấy tình đồng chí vô sản bây giờ thì vui gượng kẻo là “Ai tri âm đó mặn mà với ai!”

Không hiểu tại sao hắn không chịu đạp xe lấy mà bắt người ta chở cái tấm thân bồ tượng của hắn như vậy. Tư Linh tâm sự với tôi rằng y muốn xin đổi công tác vì suốt ba măm không gò được anh Mỹ nào nhưng vì biết ba cái tiếng Anh mắc dịch nên không gỡ ra được. Toàn khu không một người nào khả dĩ nói được tiếng Anh thông thường. Vì công tác quá nhàn rỗi nên ở trên cứ dồn cho anh ta việc tiếp đón các nhà báo quốc tế. Một hôm tôi bảo nó:

– May cho mày đó, nếu bà Chín xuống đây mày đèo thì mày nhảy mũi liền liền.

– Bà Chín nào?

– Bà Chín Ri fo ri fô gì đó.

– Sao mày biết?

– Thì hồi tao ở trên tao gặp bả chớ sao.

– Bả đi đâu vô đây?

– Bả cũng là nhà báo.

– Tao cũng nghe nói về bả. Bả viết Đôi Đũa Ngọc (Baguettes de Jade) chớ gì? Cũng như mụ già Mỹ Ana aniếc gì đó sang tận Diên An ca ngợi Mao chủ tịch. Và hồi năm 1962 lại sang Hà Nội để ca ngợi Mặt Trận Giải Phóng. Tụi Đế Quốc chuyên môn chơi cú tiêu lòn như thế. Chính phủ thì gởi quân ủng hộ một bên, còn đám nhà báo lại đi ca ngợi một bên chẳng khác nào chúng chống lại Chánh Phủ của chúng.

– Chống hẳn chớ còn “chẳng khác nào” gì nữa! Thằng Bọ Chét này vác mặt tới đây ca ngợi Mặt ttrận trong lúc quân đội của nước hắn là đồng minh của Sàigòn.

– Mày còn nhớ hồi chín năm Raymondienne và Henri Martin nằm lăn ra đường cản xe chở vũ khí sang Việt Nam không? Mấy thằng Tây chưa phải cuốn vó ở Điện Biên Phủ đâu, nhưng tại cái đám đó làm cho chúng thua.

– Tụi đế quốc thiệt là kỳ cục. Hễ mình gần thua thì tụi nó nhảy vô cứu nguy.

Tư Linh hỏi:

– Mụ đầm già ở đó làm gì?

– Mụ cũng nằng nặc đòi xuống đây, nhưng ở trên không cho. Mụ ở trên đi Mã Đà coi mấy cái rẩy khoai lang còm của mình. Mụ chụp ảnh mấy cậu nhà mình. Tha hồ mà khoe xương sườn xương sống. Mụ khen: “Các cậu thiệt là anh dũng. Nếu con gái tôi đến đây chắc nó thích các cậu lắm.” Coi bộ mụ đi bộ không nổi. Ở đó đâu có xe đạp để thồ được. Phải leo lên dốc và lội suối vượt sông nữa. Mụ ta ốm nhách như khô cá lẹp nhưng rất trường túc. Tóc cắt ngắn để lòi cái cần cổ vịt bầu. Hai má cóp như cái thùng thiết móp. Có lẽ bị mặc cảm già nua trước đám trẻ chúng mình nên đi đâu mụ cũng khoe “Con gái tôi, con gái tôi” nó thích các cậu!

– Bảo mụ ta cho nó vô đây cho giỏi mà thích. Gặp tụi lính đói một ngày… là chạy tét thôi!

Tôi tiếp:

– Tao gặp mấy thằng đi ết-coọc cho mụ về kể lại mụ qua suối quần áo ướt, tuột ra một cách tự nhiên trước mặt tụi nó làm tụi nó chết đứng con nai chà.

– Thì tụi đầm nó vậy mà! Có khi đi lâu ngày trong rừng vắng cái sự đó mụ muốn nếm mùi B40 của giải phóng mình.

– Tao hổng biết đảng Pháp gởi bả sang đây làm gì cho nó mệt cái thân đầm vậy hả?

– Các đồng chí đó hết chuyện làm nên gởi đàn bà vô rừng. Tao gặp ở U80 của ông Tư Khanh.

– Tư Khanh là thằng cha nào?

– Là Đào Sơn Tây, cái ông nội quơ con nhỏ Việt kiều Thái Lan bán căng tin có bầu rồi quất ngựa chuồn về Nam. Má con nhỏ vô Bộ Tư Lênh thưa gởi tùm lum. Bộ Tư Lệnh phải chịu tiền “thang thuốc” há há. Thượng cấp mà nhảy dù thì an ninh trăm phần trăm, còn lính lãi mà lớ huớ thì khai trừ cảnh cáo. Mụ đầm già bắt tay tao và nói tiếng Pháp, tao đáp lại. Mụ chìa má cho tao hôn, tao hôn rồi chìa má cho mụ hôn lại. Hai Nhả lấy làm ngạc nhiên sao cái thằng oắc con này lại lém thế. Mụ hỏi tao học hồi nào mà nói tiếng Pháp khá vậy. Tao nói học hồi nhỏ, cũng sơ sơ vậy thôi. Mụ ta cười, cặp môi son mõng dính bành ra làm duyên rồi lại ôm đầu tao ép chặt vào cặp dừa khô của mụ. Tao rùng mình vì lâu quá không có ai làm vậy. Khi qua suối Tha La mụ bị phản lực kính viếng, mụ nhanh nhẹn lủi vô bụi lấy máy ra thu tiếng bom và tiếng đạn rít. Sau khi đi Mã Đà về, mụ đi thăm công trường 9. Thấy anh em ta sốt rét la liệt, mụ hỏi có thuốc không? Chỉ hỏi vậy chớ không có hứa sẽ về đề nghị đảng Cộng Sản gởi quinine qua cho. Vô quân y viện thấy chiến sĩ không có thuốc cũng tỏ vẻ xúc động nhưng cũng không hứa gì. Khi trở về R ghé qua U80, ông Tư Khanh nhà mình tặng cho cái vỏ DKZ 75 ly được chùi bóng sáng trưng có khắc vòng chử “Đoàn Pháo Binh 69 kính tặng”. Mụ ta cười thích thú ôm cái ống không và nói: “Tôi sẽ dùng làm bình hoa ở phòng khách nhà tôi để cặm… “

Tôi đang hăng trớn kể chuyện mụ đầm già thì Tư Linh ngắt ngang:

– Bây giờ mày tính cho thằng cha râu rìa thưởng thúc món gì trước?

– Mày có tất cả là mấy cái rồi?

– Bít-tết xác mía, ra-gu mủ cao su, sườn xe lam hầm rục, gỏi khăn rằn, rôti K54, la-sét chuối già rốc-kết. Hì hì… Mấy món này đều nấu chung cả, chỉ còn dưa chua coọc-sê là khó kiếm thôi!

– Sao mà khó?

– Thằng này là gốc Kam-pu-chia hay sao ấy! Nó uống Ba xi đế, hút thuốc rê, uống cả nước mắm cho nên nó muốn nếm mùi Ruốc Củ Chi.

– Sớm muộn gì nó cũng xơi một mách pháo Đồng Dù mầy ạ. Lơ mơ lộ bí mật dám bị chụp lắm!

– Không phải món đó đâu! Món kia cơ!

– Món kia là món gì. Củ Chi có món đặc sản nào ngoài đường mía và xe bò đâu!

– Cái món chả xéo này này ông nội con nít ơi!

– Vậy nữa!

– Nó nói với tao. Tao trình ông Tám Quang. Ông bảo để ổng giải quyết.

– Hết chỗ nói!

– Tao thú thiệt với mày, tao hết phục nó rồi. Tưởng nó dày sành đạp sõi tới đây đội bom đạn để tìm đề tài chiến đấu, nào ngờ nó đòi tới cái mục đó nữa bây giờ tao mới tá hỏa tam tinh. Tụi nó coi mình như một thứ nô lệ bắt phục vụ bất cứ thứ gì. Nhưng đó là lệnh của cấp trên mình không cãi được.

– Bây giờ mày đãi nó mấy món khai vị “Trường Bá đỏ, CKC, nón tai bèo, dép râu” trước đi!

Trưa hôm ấy, Tư Linh cho Bọ Chét thưởng thúc món dũng sĩ tuyệt vời để lấy oai Củ Chi. Đội Nữ do Bảy Mô chỉ huy tập hợp trước sân một ngôi nhà lá đã được dọn dẹp trước rất sạch sẻ và mát mẻ không có ghẻ. Các nữ dũng sĩ nai nịt rất gọn gàng và oai phong chẳng khác nào Phàn Lê Huê Lưu Kim Đính. Nón sáu múi bo xụ bịt mặt, tóc le the tỏa ra bốn phía, áo bà ba vạt ngắn bị dây nịt Mỹ bó ngang eo ếch xòe ra như tà váy mini của đám vũ khỏa thân nhờ có cái quần bà ba dài cứu trợ, nếu không sẽ phơi cặp đùi đầy sẹo thâm đen do “ghẻ xốn” lưu lại ngàn thu. Cô nào cũng mang một khẩu súng CKC trường bá đỏ. Riêng đội trưởng Bảy Mô thì quảy cây AK to sồ không xứng với thân hình mảnh khảnh của cô.

Mặt mũi cô nào cũng tỏ vẻ hậm hực diệt Mỹ để cho nhà báo quay phim, nhưng bữa nay vì bọn xâm lược “co vòi” ở Đồng Dù nên các cô đành biểu diễn súng không, như một đội quân danh dự để cho nhà báo duyệt bằng ống kính thu hình.

Tư Linh giới thiệu rất hùng hồn và văn hoa bằng tiếng Anh khá lưu loát:

– Đây là những người con gái ruộng rẫy tằm tơ quanh năm chỉ yêu lũy tre và mái nhà mình. Họ sinh ra trong lúc chiến tranh chống Pháp và lớn lên trong khói lửa lan tràn. Nếu quân Mỹ không đổ vào đây với những vủ khí tối tân để tàn phá đất nước của chúng tôi thì những người con gái này đã yên bề gia thất vui sống với chồng con chứ đâu phải ôm súng đánh giặc!

Hắn ta nhấn mạnh với Bọ Chét:

– Xin ông hãy nói với toàn thế giới rằng chúng tôi kiên quyết chống Mỹ đến cùng. Mỹ vào đông, Mỹ bỏ xác càng đông. Thực tập lời dạy của lãnh tụ, chúng tôi nhất định khó khăn nào cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

(Tư Linh lặp lại lời nói của Nguyễn Chí Thanh nhưng không dám nêu danh tác giả sợ bị ló cựa).

Bọ Chét nghe Tư Linh thì gật đầu lia. Mặt hắn đỏ gay, mắt hắn long lanh nhìn đám nữ dũng sĩ như ó nhìn lũ gà con. Đến phiên hắn “đáp từ” Hắn lù xù một hồi rồi Tư Linh phóng tác lại cho các nữ dũng sĩ thấm bài. Họ đâu có biết gì. Chú Tư phiên dịch sao thì họ nghe vậy. Cũng như hồi kháng chiến đồng chí Ba Duẫn giảng bài Duy vật biện chứng Pháp ở trường Trường Chinh trong Nam vậy vậy mà! Đồng chí đâu có đọc được Pháp văn. Đồng chí phải nhờ ông thầy của tôi có trình độ tú tài dịch ra Việt ngữ cho đồng chí nghe, nhớ tuồng bụng rồi đi giảng lại cho học viên toàn là thường vụ tỉnh ủy trở lên.

Tư Linh có phóng đại tô màu cỡ nào các dũng sĩ cũng không biết. Họ chờ Tư Linh dứt lời là vỗ tay. Bọ Chét nói xong đến đội trưởng Bảy Mô “cảm tưởng”.

Bảy Mô đã được Tư Linh gà hồi tối thuộc lòng, lại dạy mấy tiếng Ănglê để nói ở đầu và cuối câu nữa. Bảy Mô vốn là học sinh thành nên nói năng trôi chảy và dễ thương. Mắt Bọ Chét càng sáng lên. Ống kính của hắn lia nhanh qua toàn đội rồi dừng lại ở Bảy Bê, Ba Cầm, Ba Bảnh, Ba Màu, Chín Hòa, Út Thi,…là những ngôi sao của đội nữ. Hắn dừng lại lâu và lấy cận cảnh Bảy Mô. Hắn lấy máy ghi âm phỏng vấn Bảy Mô và vài người khác, nhưng chăm chú nhất vào Bảy Mô. Xong màn “duyệt binh” đến màn chiến đấu bằng địa đạo. Tư Lịnh bảo hắn chuẩn bị dụng cụ quay lưu động. Tư Linh bảo tôi.

– Mày thấy hắn chưa? Coi chừng con gà giò bị diều xớt!

– Đâu có dễ vây.

– Trái sầu riêng vườn nhà mày không hái để nó khui mất một múi thì uổng lắm.

– Sầu riêng có gai chớ đâu phải như cam quít mà dễ lột vỏ mậy!

– Biết đâu được! Rủi ông Tám Quang kêu xã ủy ra lịnh. Mày có nhớ vụ cưới vợ của anh Ba Trà của mình không?

Câu nói của Tư Linh làm tôi ngẩn ngơ tâm sự. Trần Văn Trà Tư Lệnh khu 8 cưới cô Kim Thoa, con gái ông bà Lê Đình Chi (luật sư Sàigòn đi kháng chiến) bằng điện từ khu 7 đánh về khu 8. Thoạt tiên, sau khi ông Chi bị bỏ bom chết ở Đồng Tháp Mười, Trà tới ve vãn bà Chi, nhưng vì muốn thủ tiết với chồng nên bà dâng con gái cho êm chuyện. Tư Linh bảo:

– Mày nên nhớ đảng là trên hết nghe! Mày cứ như rùa bò lên núi ấy. Tao đã bảo mày là tụi trai gái ở đây sống vội yêu cuồng còn quá cha dân Sàigòn nữa. Mấy đêm vào hầm hố như vậy mà mày không làm gì hết. “Chứng minh thư” đã sẵn trong lưng còn sợ gì?

– Làm áp quá sợ khê!

– Nói cho mày biết, chỉ trong một cuộc chạy ruồng tụi nó đã cụp với nhau rồi. Sống nay chết mai đâu có biết, để “chúng nó” nhịn thèm sao? Kề bên đó không “thịt” còn đợi chừng nào?

Tư Linh dắt cho Bọ Chét xem cái xe tăng Mỹ bị Tư Gừng và Năm Cội bắn cháy. Chúng bỏ luôn. Cả làng Nhuận Đức bị huy động để cõng nó vô rừng Bàu Lách rồi đào hầm chôn phi tang luôn. Bây giờ dân làng, mười nhà tản ra ấp chiến lược hết bốn năm rồi, còn lại bao nhiêu thì lo đào hầm thủ thế hoặc dợm nhảy đi, khó bề động viên để lôi nó lên cho Bọ Chét quay phim.

Khổ cho đội nữ! Lực lượng yếu quá không đủ sức móc cái khối thép đó lên. Đành phải moi đất chung quanh cho Bọ Chét thu hình rõ một tí. Hắn chỉ quay đống sắt vụn không cử động. Hắn hỏi Tư Linh:

– Tại sao Mỹ không đem cái xác xe về Đồng Dù?

– Có lẽ chúng nó còn quá nhiều đem về không có chỗ để! Mổi lần hành quân chúng chạy như bọ hung ấy!

Bọ Chét khoa tay:

– Không phải đâu! Tại chúng nó khiếp oai các “dũng sĩ” này đó!

Tư Linh dịch lại câu pha trò nhưng chẳng ai cười.

Đến màn biểu diễn đánh xe tăng địa đạo thì cả hai tác giả là Năm Cội và Tư Gừng không thể xuất trận được. Tư Gừng đang ở trong nhà bảo sanh còn Năm Cội thì đã bị tử nạn trong trong lúc cưa cà-nông lép. Tuy vậy, Bọ Chét bảo:

– Tôi xin học tập các đồng chí, khó khăn nào cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành.

Buổi thu hình xe tăng ở Bàu Lách kết thúc thắng lợi hoàn toàn. Rất tiếc Tư Linh không địch vận được tên Mỹ nào để bắt nó đứng trên xe tăng bắt nó giơ tay đầu hàng cho oai. Ngày mai quay tới địa đạo chiến.

Tư Linh đưa Bọ Chét về ngủ ở nhà Út Cường ở xóm Chùa. Đội nữ thì đóng ở một nhà trong xóm khác để mai tiếp tục “công tác” trong lúc hai trung đội võ trang đóng ở nhà Hai Tới – bà con của Út Cường, để canh gác ban đêm, bảo vệ Bọ Chét.

Út Cường là trưởng ban tuyên huấn xã An Phú. Y có ngôi nhà rộng lớn sạch sẽ nền gạch có hầm nổi hầm ngầm rất vững chắc. Tám Quang cho người tới điều đình trả cho Cường một số tiền, không rõ là bao nhiêu. Kết quả rất mỹ mãn theo luật cung cầu của Mác. Út Cường dời gia đình đi nơi khác để Bọ Chét tạm trú và làm nhiều công tác bí mật khác nữa cấm quay phim viển cảnh cận cảnh nhất là đừng có bật đèn chớp thì người ta sẽ thấy rõ cái bộ mặt của đảng cộng sản râu ria đen ngòm.

Sáu Huỳnh, phó Ban Quân Báo đã lo mua các thứ vật dụng cho đồng chí Bọ Chét. Tôi thấy mà hết hồn. Đời tôi từ khi theo cách mạng tới nay chưa thấy một người nào được chiêu đãi đến như thế, kể cả ở Hà Nội chỉ thua có cái nhà. Ở Hà Nội các đồng chí uy viên Trung ương ở Villa thật nhưng mấy khi ăn được thế này? Quan Vân Trường được Tào Tháo biệt đãi năm ngày tiệc nhỏ, bảy ngày tiệc lớn, có khi còn thua.

Nhà có bộ ván gõ đặt ở giữa. Bên chái phải là bộ ván dầu, trên đó chất đầy những chiếc thermos xanh đỏ sáng choang, những thùng cạc-tông vừa lớn vừa bé nhãn hiệu lòe loẹt chắc chắn không phải made in China hoặc URSS. Dưới gầm bàn thì lủ khủ những thùng bia Budweiser và Coors.

Bên bộ ván kê một chiếc bàn tròn không có trải thảm, trên đó nằm phơi phới những chiếc dĩa to mà thuở nhỏ tôi thường nhìn thấy ở những nhà hàng Tây và những chiếc muỗng nỉa sáng loáng đến rợn người hơn cả ánh kền mạ của những huân chương anh hùng quân đội.

Một chiếc ghế dài bằng gỗ lên nước bóng láng có lưng dựa và ba chiếc ghế đẩu để quanh bàn. Đó hẳn là chổ ngồi của một nhóm người được bốc ra từ một xã hội không giai cấp. Bất ngờ hiện ra một cô gái rất xinh có vẻ thành thị, rất thạo việc phục khách hàng không biết từ đâu tới chứ không có ở vùng này. Khi cô bắt đầu dọn bàn thì tôi biết tất cả là do anh quân báo Sáu Huỳnh xếp đặt.

Sáu Huỳnh bảo Tư Linh gọi cô ta là Bốn. Cô Bốn như từng chạy bàn ở nhà hàng. Từ những bình thủy, cô lấy ra những con bồ câu quay, những miếng thịt quay, một con vịt quay, trút ra những món xào nấm Đông Cô và cơm rang. Hẳn là các đồng chí ta đấm mõm con bọ chét bằng cái mở-nuy Tàu trước nhất. Suốt ngày chiến đấu bằng địa đạo, Bọ Chét đói và thèm ăn rỏ dãi, Tư Linh vui vẻ mời đồng chí Bọ Chét… đi tắm cho khỏe cái đã.

Vì dang nắng mặt mũi đỏ lơ đỏ lưỡng, da tay đồng chí xùi lên như vỏ con trúc, đồng chí cần tắm một phát tẩy trần. Chiếc nhà tắm được đóng cấp tốc bằng gỗ thông mới chở bằng xe bò từ ấp chiến lược về. Cấp chỉ huy rất sành tâm lý của dân Âu Mỹ. Thà là ra bãi biển phơi đùi phơi rốn cho thiên hạ xem chứ không để để cho người ta dòm lén qua kẻ cửa nhà tắm như mấy cô đầm bị Xuân tóc đỏ coi. Tấm thân bồ tượng của đồng chí ta cần được giữ kín. Cho nên cấp trên không dùng ni-lông quây màn sơ mà đóng hẳn một cái nhà tắm bằng gỗ khít rim.

Tư Linh phải đích thân xem cái nhà tắm coi có đủ tiêu chuẩn quốc tế chưa? Một cục xà bông Camay chưa bóc giấy, một chiếc khăn lông mới, một tấm kiếng lớn, một chiếc lược đồi mồi, một chậu nước giếng thơi. Tất cả đều đạt yêu cầu của cấp trên, chỉ có một điều là cái chậu không đủ kích thước để cho nhà báo trầm nguyên con vào như bồn tắm hiện đại ở khách sạn.Sau khi tắm xong, Bọ Chét được mời uống rượu khai vị: Thịt xá xíu nóng với rượu vang đỏ và bia. Nhưng Bọ Chét không khoái thứ này mà đòi ba-xi-đế.

Màn khai vị qua nhanh như bọt bia tan. Boốc! Sâm banh nổ. Bọt trào miệng chai trắng xóa như giấc mơ giải phóng Miền Nam của già Hồ, nó vừa cay lại vừa chua nhưng lão cứ tưởng là ngọt.

Bọ Chét dẹp muỗng nĩa, dùng đũa để hòa với nhân dân. Một chập, buông đũa dùng dao lắt hai miếng lườn, rồi dùng tay bẻ cặp đùi gặm luôn. Như thế là con vịt đã bị thải ra rìa chiến trường. Hắn ăn rất tự nhiên hồ hởi.

Hắn bắt sang thịt heo quay và xào. Rồi hắn xơi cơm rang. Hắn ăn loạn xị như chưa bao giờ được ăn ngon như thế. Tôi và Tư Linh rất kinh ngạc cho tinh thần tốc chiến tốc thắng của hắn. Cô Bốn phải trút đến cái bình thủy thứ tám để rội thêm món nấm đông cô xào. Tôi thông cảm với đồng chí mình chắc chưa từng ăn đồ Bắc Kinh nên ngon miệng.

Khi tiêu diệt hầu hết kẻ địch trên chiến trường, đồng chí ta mới bắt đầu gợi chuyện. Trước nhất đồng chí khen đội nữ dăm câu. Rồi khen cô đội trưởng vừa anh dũng vừa đẹp.

– Lịch sử của dân tộc Việt đẻ ra nhiều nữ anh hùng hơn bất cứ dân tộc nào. Mà ở thời đại Hồ Chí Minh thì có nhiều hơn hết: Hồ thị Bi, Nguyễn thị Chiên, Tạ thị Kiều, Út Tịch và các dũng sĩ Củ Chi.

– Xin cám ơn đồng chí.

Tư Linh vừa nói vừa nâng ly. Bọ Chét đắc ý cũng nâng ly. Tôi cũng làm theo. Ba người đồng cụng. Tiếng ly pha lê khua leng keng nghe như dấu nhạc lạ lùng quốc tế ca.

Bọ Chét hỏi Tư Linh:

– Đồng chí có thể cho tôi biết thêm về thành tích diệt Mỹ của một số cá nhân trong đội, đặc biệt của nữ đội trưởng không?

– Dạ, chúng tôi rất hân hạnh.

Miệng nói tay vói cái xắc-cốt ở góc ván, nhanh nhẹ móc một xấp pơ-luya và dỡ ra đọc tờ đầu.

– Thành tích của toàn đội trong hai tháng……. diệt 62 Mỹ, 114 ngụy. Có năm đội viên đạt tiêu chuẩn dũng sĩ. Một đội viên chỉ diệt được bốn tên Mỹ, thiếu một tên nữa đủ tiêu chuẩn, nhưng một đồng đội diệt được sáu tên bèn cho mượn một tên, thế là đội có năm dũng sĩ. Toàn đội nữ đều là dũng sĩ diệt Mỹ.

Bọ Chét không hiểu “mượn” nghĩa là gì trong trường hợp này ngừng bút ghi chép và hỏi:

– Mượn như thế nào?

– Mượn nghĩa là vay không có lời. Tôi thiếu, đồng chí dư, tôi mượn của đồng chí. Tôi mới diệt được có bốn tên, hụt tiêu chuẩn một tên, còn đồng chí diệt được sáu tên, dư tiêu chuẩn một tên, tôi mượn của đồng chí một để đủ tiêu chuẩn. Thế là cả hai đều là dũng sĩ. Mai mốt, tôi diệt được một tên, tôi không tính cho tôi mà tôi trả cho đồng chí, thế là huể, không còn nợ đồng chí nữa.

Bọ Chét buông đũa và đập tay trên bàn cười ha hả:

– Các đồng chí thiệt là anh dũng tuyệt vời. Tụi Mỹ đúng là những con cọp giấy.

Tư Linh được dịp đưa Bọ Chét lên mây xanh:

– Hôm nào tôi mời đồng chí đi bắn tỉa với đội dũng sĩ. Tha hồ cho đồng chí quay phim.

Cô Bốn khui bia rót đầy ly đặt trước mặt khách. Bọ Chét nâng ly hớp khẽ như suy nghĩ về câu mời. Tư Linh ranh mãnh tấn công luôn:

– Hôm nọ đồng chí Tám Quang có bảo tôi bố trí một trận cao xạ bắn phản lực cho đồng chí quay phim. Nhưng tôi nghĩ là một trận địa như vậy rình rang lắm. Phải điều động cả bộ binh để bảo vệ pháo chớ không đơn giản. Rồi có thể nó nhảy chụp nữa. Như vậy mình phải đối phó. Mặt trận sẽ nổ to. Còn bắn tỉa thì dễ lắm. Chúng tôi sẽ đưa đồng chí đến sát hàng rào căn cứ Đồng Dù, tôi sẽ ra lệnh cho đội dũng sĩ bắn tên lính gác trên chuồng cu cho đồng chí quay phim. Đó có thể là một tài liệu sống thay vì đồng chí quay cái xác xe tăng. Nếu đồng chí đồng ý tôi cho chuẩn bị để tiến hành ngày mai.

– Đồng Dù cách bao xa?

– Dạ cách đây chừng mười lăm cây số. Pháo 175 ly của nó bắn dư sức tới đây.

– Nó có từng bắn vùng này chưa?

– Vùng này nằm trong tầm pháo của Trung Hòa. Đồng Dù chỉ bắn khi có hành quân lớn.

– Làm sao mình đến đó?

– Dạ thì lội bộ.

– Mình có bao giờ bắn tỉa nó chưa?

– Dạ chúng tôi để dành cái Đổng Dù khai pháo chào mừng đồng chí đấy.

– Tại sao để dành cho tôi?

– Dạ vì đây là căn cứ của Sư Đoàn Bộ Binh thừ 25 của Hoa Kỳ còn gọi là Tia Chớp Nhiệt Đới. Lính tráng là một lũ công tử bột. Lần này chúng tôi cần lập thành tích để đồng chí đem về tặng cho nhân dân thế giới. Ít ra chúng tôi cũng mần được vài chục tên.

– Làm sao đồng chí kiểm chứng được số thương vong của địch?

Tư Linh trả lời ron rót y như thật:

– Chúng tôi có người trong đó!

– Trong quân đội Mỹ?

– Vâng, ngay trong quân đội Mỹ chứ ạ!

– Các đồng chí tài thật! Các đồng chí đã áp dụng ba mũi giáp công của Mặt Trận một cách tài tình.

– Bắn tỉa, hoặc pháo kích xong chừng vài tiếng đồng hồ là chúng tôi biết kết quả.

– Có pháo kích nữa?

– Vâng! Chúng tôi đã từng pháo kích cả sân bay Biên Hòa cơ đấy!

– Ồ! Tôi có nghe, tôi có nghe thành tích của đoàn 69 lúc tôi đến thăm U80 ở Suối Dây. Đồng chí chính ủy Tư Khanh tiếp tôi với một nữ đồng chí Pháp.

Có lẽ Tư Linh thấy mình đi lố cồn hơi xa nên muốn đổ gánh nặng cho tôi. Hắn quay sang tôi và nói:

– Xin giới thiệu với đồng chí. Đây là linh hồn của chiến thắng vĩ đại đó.

Bọ Chét nhìn tôi, trố mắt kêu lên một tiếng rồi buông ly bia chìa tay cho tôi:

– Xin hân hạnh! Vậy mà tôi không biết! Đúng như lời đồng chí Trần Bạch Đằng nói “Ra ngõ gặp anh hùng!”

Bọ Chét chăm chú khai thác tôi. Nhưng tôi chỉ trả lời một cách khiêm tốn:

– Tôi chỉ là người dạy kỹ thuật pháo kích các chiến sỉ đoàn 69 thôi ạ!

Tưởng nói vậy (mà đúng vậy, chính tôi dạy ở trường pháo U80) là qua ải, nhưng Bọ Chét lại càng reo to:

– Thế cơ à! Đồng chí là giáo sư pháo binh?

Tôi lắc đầu và xài cái công thức muôn thuở của các lãnh tụ:

– Không chúng tôi chỉ học trong nhân dân thôi ạ!

Từ đó cho tới cuối bữa ăn, Bọ Chét bỏ lửng vụ các nữ dũng sĩ để hỏi tôi về chiến công pháo kích sân bay Biên Hòa. Nhưng Tư Linh không chịu bỏ qua chuyện bắn tỉa. Hắn hỏi Bọ Chét:

– Như vậy là đồng chí đồng ý đi theo chúng tôi bắn tỉa Mỹ ở Đồng Dù rồi chớ?

– Ơ ơ… — Bọ Chét ấm ớ một chút rồi đáp — Việc này lớn quá tôi phải thỉnh thị đồng chí Tư Lệnh Quân Khu mới được.

– Dạ đồng chí Tám Quang có toàn quyền thay mặt Bộ Tư Lệnh quyết định vấn đề này.

Bọ Chét chớp chớp mắt:

– Để tôi hỏi ý kiến đồng chí Sáu Vi!

– Đồng chí ấy đã được Trung Ương ủy nhiệm hành xử mọi vấn đề của Miền Nam.

– … Trước khi đi vào đây, tôi có được vinh dự yết kiến đồng chí Hồ Chí Minh… Đồng chí ấy không muốn cho tôi đi, nhưng thấy tôi cương quyết thì đồng chí bảo là vào trong này nếu có vấn đề gì cần kíp thì phải báo cáo thỉnh thị đồng chí.

– Dạ. Bắn tỉa Mỹ tụi dũng sĩ coi như trò đùa đâu có gì phải báo cáo tới Bác Hồ ạ!

Thấy hắn để lòi cái đuôi thỏ ra ngoài quần, tôi nháy Tư Linh, nên Tư Linh không dồn hắn vô góc tường nữa.

Sau bữa ăn no nê, trên đường về nhà riêng nghỉ ngơi, tôi trách Tư Linh:

– Mày chơi ác quá!

– Cho nó giỏi nó anh dũng với Mỹ. Chạy một trận tét ghèn thì không còn rấm rớ tới đây quấy rầy tụi mình nữa! Bận bỏ mẹ lại phải để thì giờ hầu hạ bọn nầy như vua.

– Mầy biết con Bốn kia ở đâu tới không?

– Của Sáu Huỳnh bắt đâu ngoài thành đưa vô, làm một công hai việc.

Tôi hỏi tiếp:

– Rồi mày cho nó xơi cái món ca-ri-chà địa đạo chiến ra sao?

– Chậc! Tới đâu hay đó. Nó chỉ huy ông Tám Quang chớ đâu có chỉ huy tao được. Phép vua thua lệ làng mà mậy!

Sáng hôm sau ngó chừng tình hình yên tỉnh, tôi và Tư Linh lại đến Tổng Hành Dinh của Bọ Chét. Hắn dậy trễ. Chúng tôi đứng ngoài sân, sợ làm tiếng động đánh thức lão già. Tư Linh bảo:

– Tối qua tha hồ cho lão pháo kích con Bốn.

– Lão pháo kích nó hay nó “chụp” lão tơi bời? Chắc con nhỏ này là dân thiện chiến. Để sáng nay lão hắc hơi bể trời cho mày coi. Sáu Huỳnh chơi ác quá!

Tư Linh móc thuốc thơm hút phì phà:

– Tao vái trời thằng Mỹ nó “tha” ít bữa để lão xong công tác, mình tống quái cho khỏe.

Tôi càu nhàu:

– Sao mày đổ cái vụ pháo binh cho tao vậy?

– Nếu không nó sẽ đòi phỏng vấn con Bảy Mô mà. Tao biết cái ghế đẩu dư đó là ý hắn giành cho con nhỏ nhưng tao chặn trước bảo là con nhỏ bận bố trí trận địa. Tao coi bộ hắn tiếc dữ đa. Kỳ rồi thằng giáo sư Liên Xô khen dân tộc mình có Phù Đổng Thiên Vương đuổi giặc Ân, kỳ này hắn khen thời đại Hồ Chí Minh sản xuất nhiều nữ anh hùng trong đó có Bảy Mô. Chắc thế nào nó cũng tìm cách phỏng vấn riêng con nhỏ. Mày liệu thông nòng pháo của mày mà bắn “cập tập” đi, nếu không bị con Bọ Chét chích đấy.

Chúng tôi đưa nhà báo đến trận địa đạo chiến đã được bố trí. Đó là “tuyến địa đạo” do ông “Tư Lịnh” Tư Linh chỉ huy đào mấy hôm trước khi hắn đến.

Bữa nay hắn đội nón cối, loại nón rộng vành do Quân Báo của Sáu Huỳnh mua ở Sàigòn đem về cho bệ hạ dùng, vì nón tai bèo bo xụ không đủ che cái mặt thịt to bằng sàng của hắn để nắng táp phỏng da mặt. Tư Linh và tôi đi xe đạp riêng, một kiện tướng thồ thì chịu trách nhiệm điều động cái cây thịt viết báo kia. Còn một chiếc khác thì thồ bia nước ngọt, đá và thức ăn đi theo.

Đội trưởng Bảy Mô đã cho các dũng sĩ lủi xuống “địa đạo” chờ lệnh từ lâu. Bọ Chét vừa đến, Tư Linh cho Bảy Mô điều khiển các cô vọt ra chiếm lãnh từng gốc cao su rồi chạy từ gốc này sang gốc khác bắn đạn mã tử bụp bụp và hô xung phong to lên. Máy thu hình thu cả tiếng xung phong như ở giữa trận thiệt, ngặt một nỗi là không có Mỹ Ngụy chống cự.

Trên hai mươi nữ du kích chiến đấu rợp trời đạp nát không biết bao nhiêu là lá cao su khô bằng những chiếc dép cao su. Không khí yên tỉnh của đồng quê bị quậy lên bằng thuốc súng rỡm và những nhánh cây rừng Trà Dơ rung rinh vì những cái mồm xinh xắn hét “xung phong” lãnh lót.

Xong trên mặt đất, nhà báo đòi được xem địa đạo.

Tư Linh cho gác mấy vòng bao quanh rồi vui vẻ “mời” ông nhà báo xuống địa đạo. Tôi sợ quá. Tôi biết chắc chắn rằng địa đạo này Tư Linh đào cấp tốc, dài đâu chừng thước rưỡi, đâu có cái mà coi. Hay là Tư Linh muốn cho “ghẻ xốn” xơi hắn làm kỷ niệm chuyến đi Củ Chi này? Bọ Chét mang cái bụng phệ è ạch đến miệng hầm. Tư Linh bảo:

– Đồng chí phải cởi áo ra. Giả thuyết là chúng ta đang bị giặc đuổi!

– Ủa!…

Hắn có vẻ ngạc nhiên nhưng vẫn vâng lệnh. Cởi áo bà ba chỉ còn đồ lót như sắp đi tắm biển.

Tư Linh tự tay mở nắp hầm rồi trỏ tay:

– Đồng chí thọc hai chân xuống trước. Nhanh lên. Chúng nó sắp chụp!

Bọ Chét thọc cập giò lông lá vào miệng hầm và tụt xuống. Hắn cố tụt quá mông nhưng đến bụng thì mắc kẹt. Cái bụng mập ú phè tràn nắp hầm, cái lưng nung núc thịt nạc cũng đùn ra mép hầm làm hắn không tụt được nữa. Tư Linh giục:

– Cố lên! Giặc đang chụp trên đầu.

Thằng nhà báo thở è è cố ấn tấm thân bồ…liễu xuống hố, nhưng không tài nào. Giá mà cái miệng hầm rộng gấp đôi hoặc tấm thân hắn phải gầy ngay đi một nửa!

Hai khả năng đó đều không thể có. Chỉ có khả năng thứ ba: Trồi ngược trở lên. Nhưng lúc nãy vì cố tụt nhanh… thân người hắn khít cứng dính vào miệng hầm bằng gỗ bây giờ hắn chòi mãi mà không sút ra. Tư Linh và tôi mổi đứa nắm một tay hắn lôi lên mới vuột.

Mép gỗ bén cạo sướt cả da bụng da lưng hắn những đường dài rướm máu.

Tư Linh bảo hắn mặc quần áo vô. Hắn vừa thở hổn hển vừa gắt gỏng:

– Tôi nghe địa đạo lùa trâu bò xuống được và thông thương từ xã này qua xã khác kia mà đồng chí!

Tôi tưởng Tư Linh “kẹt đạn” nhưng hắn đáp ngay:

– Dạ, đó là sự thực! Nhưng từ một năm nay trâu bò các xã không còn. Một số chết vì bom pháo trực thăng, số còn lại thì nông dân lùa ra ấp chiến lược thành ra chi ủy địa phương không cho làm miệng hầm rộng như trước. Miệng hầm rộng địch dễ tìm thấy. Bây giờ tất cả địa đạo đều làm miệng nhỏ như thế này. Chúng tôi nghe nói Mỹ có đem chó qua đây để đánh hơi miệng hầm. Chúng tôi rất tiếc là đồng chí không xuống được để xem tận mắt địa đạo của chúng tôi. Ở dưới đó đồng chí có thể đi thênh thang như trên đường cái.

Bọ Chét nhìn miệng hầm tun hút, đen ngòm và gật gật cái đầu tóc bạc:

– Dù không xuống được dưới đó nhưng tôi đã đến đây nhìn thấy tận mắt các dũng sĩ và địa đạo thần thánh. Đánh giá một người đàn bà đẹp ta không cần phải xem xét tất cả các bộ phận mà chỉ nhìn gương mặt hoặc bàn tay, cặp đùi là đủ biết rồi.

Tư Linh tán thưởng:

– Đúng! Đúng! Như đồng chí thấy đấy! Địch có thể bị giết sạch mà không biết chúng ta xuất hiện từ đâu. Tiêu diệt chúng xong, mình xuống địa đạo, chạy sang làng khác trổ nắp lên đánh bọc sau lưng chúng nó một phát nữa. Chúng dù có tìm được miệng hầm cũng không dám xuống để truy lùng. Địa đạo là thiên biến vạn hóa đồng chí ạ! Chúng tôi còn có kế hoạch đánh các căn cứ địch bằng đường hầm.

Tôi chêm ngay vào:

– Năm 46 chúng tôi đã từng có sáng kiến ấy rồi. Kết quả rất to lớn và bất ngờ. Chúng tôi đã hạ một đồn ở phía bên kia sông Sàigòn giết bảy chục tên Pháp còn bên ta hoàn toàn vô sự. — Sẵn trớn tôi đẩy luôn — Chính tôi có tham dự trận đó. Chúng tôi đào một địa đạo dài chừng năm cây số, liệu chừng đã đến giữa đồn chúng tôi châm thuốc nổ. Xác Tây tung lên rơi xuống sông Sàigòn.

Tư Linh hỏi:

– Phải đồn Bến Súc có con trai của má Hai tham gia không?

Tôi nháy Tư Linh. Bọ Chét đã mặc quần áo xong, gục gặc lia:

– Dân tộc Việt Nam là một dân tộc phi thường!

Tối đó sau bữa ăn thịnh soạn hơn cả bữa ăn hôm trước, đồng chí Bọ Chét còn được nghe Tư Linh thuyết trình về “Địa đạo chiến”. Chắc chắn hắn sẽ cho dân tộc Viêt Nam càng phi thường hơn nữa.

Tư Linh trải tấm bản đồ Quân khu ra, chỉ cho Bọ Chét thấy rõ vị trí của Củ Chi và con đường xâm nhập của quân chánh qui Hà Nội. Củ Chi là cửa ngỏ của Sàigòn. Xong, Tư Linh lại trải bản đồ Củ Chi với chi tiết đầy đủ: sông rạch, lộ đá, đường đất, đồi, ruộng, vườn và đồn bót. Ngoài ra còn căn cứ Đồng Dù sầm sầm ở phía Nam Cũ Chi như cái chốt cài chặt cửa ngỏ vào Sàigòn. Sau cùng, giải thích cái hệ thống địa đạo “Thôn liền thôn, xã liền xã” cho đồng chí mình rõ. Từ Rừng Cả Chúc băng qua xóm Lộc Thuận đến mé Rạch Thai Thai. Rồi từ bên này bờ Rạch Thai Thai địa đạo lại triển khai đến Hố Bò chia ra làm hai ngánh, một ngánh ăn vào Đồng Chà Dơ, một ngánh rẽ vào đồn điền Phú Hòa và dừng lại ở đó. Trước kia ở đây là miệng hầm có có thể lùa trâu bò xuống địa đạo. Còn ngánh kia thọc thẳng xuống xóm Thuốc xuyên qua dưới đường 15. Tư Linh cứ nói thao thao như thuyết trình viên giải thích trận Điện Biên Phủ trên Sa bàn trong viện Bảo tàng Hà Nội.

Tư Linh ngưng lại đưa tay chỉ vào bản đồ:

– Hồi sáng đội nữ chiến đấu ở đây. Giả thuyết là địch hành quân trên đường 15. Ta đánh và rút xuống địa đạo ở Đồng Chà Dơ. Rất tiếc miệng hầm bé quá… nên chúng tôi phải để đồng chí ở trên.

– Tại tôi hơi to con.

– Nếu không, chúng tôi đưa đồng chí đi ngao du dưới địa đạo không một tí nắng chạm da mặt. Sau đó trồi lên xã Phước Thạnh nghỉ xả hơi một chút rồi trở xuống tiếp tục đi.

– Vẫn ở dưới địa đạo à? – Bọ Chét ngắt ngang.

– Vâng. Đi ở dưới khỏe và nhanh hơn trên mặt đất lại không nguy hiểm nữa! – Tư Linh tiếp – Xong rồi chúng ta đến xã Phước Hiệp là xã tiếp cận với Đồng Dù. Nằm dưới địa đạo, đồng chí có thể thu tiếng xe tăng chạy trên đầu. Vâng, xích xe tăng và cái sọ đầu chúng ta chỉ cách nhau có hai thước đất. Đây là bàn đạp tấn công Đồng Dù. Chúng ta sẽ trồi lên. Nếu có cơ hội chúng ta sẽ bắn tỉa rồi rút trở xuống, ngủ khỏe ru. Ngủ xong thức dậy nấu cơm chiều ăn. Ăn xong lại đi tiếp…

– Vẫn dưới địa đạo đấy chứ?

– Vâng, đây là cuộc sống dưới địa đạo. Chúng ta có cả kho gạo và lương khô ở dưới đó. Cả tiểu đoàn sống phây phây trong một khu địa đạo trong vòng mười lăm ngày mà không sợ thiếu bất cứ món gì kể cả cây tâm xỉa răng hay bao thuốc lá. Nếu các bà má cần ăn trầu cau, chúng tôi đều có đủ!

Bọ Chét trố mắt to ra tỏ vẻ thán phục:

– Không ở đâu tổ chức chiến đấu ly kỳ như các đồng chí. Kỳ tới có lẻ chúng tôi phải sang Liên Xô đề nghị hãng Mosfilm sang hợp tác quay mới xuể.

Tư Linh say sưa kể tiếp:

– Cơm nước xong chúng ta cắt ngang Đồng Dù sang xã Tân Thông Hội.

Bọ Chét kêu lên:

– Cắt thế nào mà cắt?

– Dạ, đấy là tôi nói địa đạo luồn dưới lòng đất xuyên qua căn cứ địch đấy chứ. Ở dưới nền Đồng Dù chúng ta có thể nằm nghe sinh hoạt của quân Mỹ trên mặt đất. Thí dụ như nghe nhạc rốc hoặc tiếng xe tăng thiết giáp tiếng trực thăng v..v…

– Ghê thế cơ à?

Tư Linh gật gù mím môi làm ra vẻ bí hiểm:

– Rồi một ngày nào đó khi về bên xứ, đồng chí sẽ nghe tin BBC rằng chúng tôi đã đánh tan căn cứ này mà không tốn một giọt máu. Mười tấn thuốc nổ sẽ đặt dưới địa đạo ngay dưới Đồng Dù.

Bọ Chét mê man như nghe truyện thần thoại.

Tư Linh rút thuốc hút rít khói vào bộ ngực oméga của mình như để có thì giờ tìm thêm ý mới nối dài câu chuyện địa đạo. Hắn tiếp:

– Chúng tôi xây dựng một hệ thống địa đạo là để chiến đấu trực tiếp với giặc chứ không phải để rút lui hoặc nghỉ ngơi. Không! Địa đạo là một phương tiện quân sự làm cho các loại vũ khí tầm thường cũng có tác dụng cao. Do đó địch hoảng kinh. Chúng tôi không muốn láo khoác huênh hoang để lừa bịp nhân dân chúng tôi và nhân dân thế giới. Nay mai chúng tôi sẽ xây dựng những khu chợ dưới đất và mời đồng chí tới tham quan. Bọn Mỹ biết chúng tôi ở dưới đất mà không làm gì được.

– Chừng đó nắp hầm sẽ rộng hơn bây giờ? – Bọ Chét ranh mãnh ngắt ngang.

Nhưng Tư Linh ma lanh không kém:

– Có lẽ đồng chí phải uống thuốc xổ liền một tháng!

Cả hai cùng cười. Tôi cũng cười ké. Tư Linh lại tiếp (Không biết công tác Địch Vân đã dạy hắn nói phéc hồi nào mà bây giờ hắn phịa tài thế.)

– Rất tiếc là bây giờ đồng chí không xuống địa đạo được. Chúng tôi không biết làm sao để đồng chí hình dung được ở dưới đó sinh hoạt như thế nào?

Tư Linh vẽ mấy kiểu địa đạo và giải thích tiếp: (Tôi ngồi nghe mà điếc con ráy luôn)

– Đây là địa đạo hai tầng. Và đây là địa đạo ba tầng.

Bọ Chét lại kêu:

– Hai tầng? Ba tầng? Ô …ô …ô!

– Vâng cả bốn tầng nữa. Khi đào xuống hai thước, chúng tôi cho địa đạo đi một đường rồi rẽ ra nhiều ngánh. Đó là chuyện dễ dàng. Nhiều nơi chúng tôi làm cả tầng thứ hai. Nghĩa là đào sâu xuống hai thước nữa, một thước cho nóc hầm, một thước cho lòng hầm. Riêng ở những nơi đặc biệt chúng tôi làm cả tầng thứ ba. Nghĩa là đào sâu thêm hai thước nữa. Vị tất là sáu thước bề sâu tính từ mặt đất. Cứ nóc hầm dưới cách đáy hầm trên một thước đất. Lòng hầm cũng caomột thước.

Bọ Chét chặn ngang:

– Hồi nãy đồng chí nói là chúng ta “đi” trong lòng hầm như vậy nếu lòng hầm chỉ cao có một thước thì làm sao mà đi?

Tôi thấy thằng già này khá thông minh. Có thể Tư Linh kẹt đạn phát này. Nhưng Tư Linh rít thuốc chậm rãi phà khói gạt tàn vào dĩa và nói:

– Đồng chí thắc mắc là phải. Lòng hầm chỉ có một thước là ở những nơi đất xốp, không thể mở rộng được vì sợ đất lở. Những đoạn này lúc hành quân chiến sĩ phải bò nhoài, nhưng không xa. Mỗi quãng chỉ chừng trăm thuớc còn ngoài ra lòng hầm cũng có đoạn đi khom lưng nhưng phần lớn là đi xổng lưng, bởi thể tôi mới nói là “đi” . Nếu không, tôi phải nói là “bò” dưới địa đạo chớ!

Bọ Chét gật đầu lia lịa:

– À ra thế! tôi đã nắm chắc vấn đề rồi. Nghĩa là từ mặt đất đến đáy tầng thứ ba ở những quảng ta đi xổng lưng, đo gần chín thước, phải không đồng chí’?

Tư Linh gật đầu một cách quả quyết, lại còn thêm:

– Chúng tôi có những cái bùng binh để điều trị cả chiến thương, những nơi để uống trà đào lõm vào vách hầm. Ở những chặng này chúng tôi dùng cột để chống sụp.

– Vậy là cả một thế giới ở dưới mặt đất.

– Ước gì đồng chí có thể thu mình nhỏ lại để xuống dưới chơi vài ngày.

– Đồng chí có bao giờ ở dưới quá ba ngày không?

– Tôi ít xuống dưới đó, ngoại trừ một lần xuống để dự lễ thành hôn của một cặp thanh niên xung phong.

– Lễ thành hôn ở dưới địa đạo?

– Vâng ! Chuyện đó có gì lạ đâu. Chúng tôi vẫn có những cuộc vui đông đúc từ thời chống Pháp kia mà ?

Bọ Chét tỏ vẻ tư lự hồi lâu rồi bảo:

– Thế này thì tôi phải tìm cách xuống dưới đó mới được. Xin đồng chí trình lên đồng chí Tám Quang rằng tôi cần có hai cán bộ quay phim. Lúc ở R tôi không nghĩ là ở dưới này lại có những “đề tài ngầm” vĩ đại như thế, nên tôi chỉ xin người mang máy giúp tôi chứ không xin cán bộ chuyên môn quay phim.

– Theo tôi biết ở khu không có cán bộ điện ảnh đồng chí ạ! Phải ở R mới có.

– Bởi vậy tôi nhờ đồng chí Tám Quang điện về R xin gởi gấp cho tôi hai cán bộ quay phim.

– Vâng, chúng tôi sẽ trình lên đồng chí Tám Quang ngày mai.

Như thế là Tư Linh đã cho nhà báo những phần có thể nhìn thấy bằng mắt ở trên mặt đất và những phần không thể nhìn thấy ở giữa đất, cái mà chỉ có thể tưởng tượng theo hình vẽ trên giấy kèm theo sự giải thích của mình.

Đêm nay trong giấc ngủ dưới gầm ván bốn bên có vách đất đày và cao ngang ngực, bên cạnh cô Bốn chạy bàn, nhà báo ngoại quốc sẽ có những giấc mơ tiên về địa đạo thần thánh của Củ Chi.

Tôi và Tư Linh ra về nhà má Hai nghỉ ngơi. Trên đường đi, tôi lại càu nhàu như lần trước:

– Đẫy cây vừa thôi cha !

– Gì mà sợ hả bố non?

– Nó “bắt giò” mày mấy phát đó thấy không? Chút nữa là lộ tẩy rồi !

– Tao chấp nó đấy. Tao chỉ huy nó chứ nó có chỉ huy được tao đâu. Nó mà còn hăng hái tao cho nó chạy một bữa tuột quần, mữa cả đằng mồm lẫn đằng đít cho mà coi.

– Mày làm như vậy hư công tác tuyên truyền hết. Nó đến đây như làm mướn không công cho mình. Nếu nó bỏ ngang thì mình bị thiệt.

– Mày đừng có lo. Tao sẽ làm cách nào mà nó vẫn tận tâm phục vụ và phục lăn mình mà?

– Nó đòi cán bộ điện ảnh R xuống để quay dưới tầng hai tầng ba lòng địa đạo có nơi chứa chiến thương và chỗ uống trà thì mày từ chối làm sao?

Tư Linh cười khè khè:

– Mày là dân nhà pháo cứ lấy góc độ lấy thước nhắm rồi bắn, còn tao không có dụng cụ gì ngoài cái mồm. Đảng mình chiến thắng nhờ mánh khoé. 3/4 và 4/5 là cái nghĩa gì? Có lẽ cái anh chàng này nghe thế rồi tưởng thiệt nên đâm đầu tới đây. Té ra không phải. Như gái ngồi phải cọc mà không dám kêu. Để tao kể một cái chuyện nói láo dây chuyền cho mày nghe. Chẳng là hồi 1955 tao đi Hải Phòng chơi. Một hôm tao nghe đồn rằng Quảng Yên có một đứa bé nửa người nửa đười ươi. Tao bèn hỏi phăng ra thì có người thuật lại rằng hồi năm 1954 có một chị dân công đi lạc đường vào rừng không quay ra được nên bị một con khỉ đột hiếp và đẻ ra thằng con trai..v.v.. Hiện giờ cả hai mẹ con và con khỉ được chưng bày ở thị xã cho nhân dân tới xem. Câu chuyện dài dòng lắm nhưng tóm tắt như thế. Nghe chuyện lạ tao tức tốc lấy vé xe đi Quảng Yên coi cho biết. Đến nơi, chẳng có mẹ gì cả . Đấy, những người mắc lỡm không chịu mình bị mắc lỡm để người khác đi chung xuồng cho vui. Cho nên khi xem về, hễ ai hỏi thằng bé nửa người nửa đười ươi có thật hay không’? Thì trả lời: “Xuống đó khắc biết?” Xuống đó biết rồi về vẫn không nói sự thật cho nên ai muốn biết thì cứ xuống Quảng Yên! Thằng Bọ Chét này đến đây một là vì bị mình lừa, hai là vì nó biết rõ mà muốn lừa người khác. Và mình trả công cho nó. Có lẽ vì lý do thứ hai. Cho nên khi gặp ông Tám Quang nó đã đề nghị chương trình của nó và loại bỏ một số điểm trong chương trình của mình.

Đang đi bỗng nghe có tiếng xe bò cót két. Hai đứa đứng nép bên đường, chờ chiếc xe tới gần. Tư Linh quát.

– Ai’? phải anh Tám không?

– Hí hí…!

Tiếng cười rúc rích đáp lại câu hỏi. Tư Linh bấm đèn pin. Một người ngồi trên xe. Tôi nhận ra là Tư Thêu ông bạn cố tri ở nhà bà Sáu Tiệm. Tư Thêu hỏi.

– Anh Tư đó hả ? Anh chơi gì ác vậy? Ám số cộng tròn chín thì anh hỏi anh Bảy, anh Tư anh Ba chứ anh hỏi anh Tám, chẳng lẻ tôi đáp “anh Một”?

Tôi hỏi.:

– Chở cái gì giống cối 81 vậy Tư Thêu?

– Ừ, cối của Sáu Huỳnh nhờ ông Bảy Hốt chuyển cho anh đây.

Tôi và Tư Linh đến gần. Cối gì mà đựng trong thùng vuông? Không phải nòng cối cũng không phải đế cối.

– Mấy anh không biết cái này sao?

Cả tôi và Tư Linh đều chưa từng trông thấy. Tư Thêu bảo:

Nhà ông nội “báo” ở đâu? Tôi chở ngay giao phức. Còn bao nhiêu là gạo chưa di chuyển kịp. Còn có mấy con bò mà phải chuyển cả trăm tấn gạo, chuyển xong rồi chắc ăn thịt bò luôn.

Tôi và Tư Linh nhảy lên xe bò chỉ đường cho hắn tới Tổng hành dinh Bọ Chét. Tư Linh bảo hai anh giải phóng quân đang gác trước sân và sau nhà khiêng cây “cối 81 ” xuống. Tôi mới vỡ lẽ ra… Tư Thêu xin thuốc hút, đoạn vỗ vai tôi và nói:

– Xong nhiệm vụ nhé! Tôi phải trở về Bến Dược để đi chuyến đêm. Bữa nào rảnh ghé chơi. Bà Sáu Tiệm nhắc ông hoài. Bả có để dành cho ông cái bình toong… mớ… ới !

Tư Linh hớt ngang:

– “Bình toong” của bả đã nửa sạc rồi ! Nhắn bả là thằng bạn tôi cần cái mới cắt chỉ cơ!

Tư Thêu rít vội thuốc lá và trỏ vào thùng gỗ:

Các ông đã chuẩn bị chỗ đặt cổ pháo này chưa?

– Xong cả rồi!

– Mấy bữa rày ông làm sao?

– Mấy thằng nhỏ đào lỗ cho ổng “bắn” tạm.

Tư Thêu ném cái tàn thuốc nhảy lên xe còn nói với với tôi:

-Ông đã móc được gia đình chưa?

– Móc rồi mà chưa kết quả .

– Nhanh nhanh đi chớ tình hình rắp nhíu rồi đó. Đài Sài gòn cho biết Mỹ sắp chở qua hai ngàn trực thăng và mười ngàn máy truyền tin. Sân bay B52 ở Utapao đã mở rộng. Điệu này tụi mình phải tính gấp mọi chuyện. Nó đâu có đi xe bò như mình. Vút cái là tới ngay!

Tôi cười :

– Hai mươi năm còn không xong được, ông biểu tôi làm trong một ngày hay sao?

– Cô xã đội phó nó mết ông rồi mà , ông còn đòi voi đòi tiên gì nữa?

Tư Linh xen vào.

– Còn nhiều cô nữa, có cả “vũng sĩ” cơ đấy ? ông thầy pháo còn điển trai, lo gì!

Tôi đấm vai Tư Linh:

– Nếu gấp rút thì đám tuyên bố của tôi sẽ làm dưới “tầng lầu ba” địa ‘đạo ông vừa “đào” xong đó !

Tư Thêu cười khắc khắc:

– Bộ ông tinh ông muốn chôn cặp tân hôn sao vậy?

Chiếc thùng đựng một chiếc cầu tiêu máy để phục vụ cho cái bụng to phè của Bọ Chét. Mấy hôm trước hắn đến đây đã than phiền về chỗ đi “nghĩ mát”. Hai đồng chí giải phóng quân phải hì hục đào hố lót cây ngang tử tế. Mục ỉa đồng mà được như thế là phúc đức rồi, nhưng đối với các đồng chí ngoại quốc thì không ổn. May mà chị Chín Đầm già không xuống chơi đây, chứ nếu xuống thì chúng tôi phải bỏ ra cả đại đội để bảo vệ và huy động cả nhân dân một xã để phục vụ cặp “bài trùng” này.

Tôi thấy hơi phiền, nhưng không dám cãi lại cấp trên. Nếu họ là đồng chí của ta thì khi đến với ta, thăm chiến khu của ta, “Ta sống sao.họ phải sống vậy”.-Đó mới là tình đồng chí cao quí chứ. Sao ta phải bỏ quá nhiều thì giờ để hầu hạ một thằng tự xưng là đồng chí của ta

Ở Hà Nội, các chuyên gia Liên Xô, Đông Đức, Tiệp Khắc sống như vua. Lương tháng của mỗi ông bằng lương ba năm của một công nhân. Mỗi khẩu phần hàng ngày cũng được hưởng tiêu chuẩn đó là hai ký lô thịt nạc heo cho mỗi đầu người gia đình của họ, trong lúc nhân dân thủ đô ăn cơm trộn khoai sắn 3/4 cán bộ đói rách và ăn mày ngủ chật đường Tràng Tiền. Ở đây tên Bọ Chét cũng thế.

Việt Nam ta có câu: “Nhịn miệng đãi khách” rất đẹp, nhưng họ tự xưng là đồng chí vô sản của ta kia mà ! Vã lại nếu có nhịn thì cũng nhịn một bữa một ngày thôi, đâu có ai nhịn miệng đãi khách đến mười năm! Bạn ở Hà Nội đã từng thấy những ông bà mũi lõ mắt xanh đồng chí của da vàng mũi tẹt đi vào hiệu vàng bạc ở đường Tràng Tiền mua một lần cả nón đồng hồ Omega, bút máy Parker và nữ trang chưa? Tôi đã thấy. Xin nói lại: Chính mắt tôi trông thấy quân mọi rợ đó khinh miệt người Việt Nam tại Hà Nội.

Bây giờ về Nam tôi tưởng đã giải phóng cặp mắt được khỏi cái “Bức tranh xã hội” đó rồi thì lại đụng nhằm một “Bức tranh xã hội” khác không kém phần xám xịt.

Mặc dù đã khuya, Tư Linh phải cho một cậu giải phóng quân đi gọi Hai Tới là bà con của út Cường và là gã thợ mộc (giai cấp công nhân) đã đóng cái nhà tắm cho Bọ Chét dùng, đến để ráp cái cầu tiêu máy này vào một sàn ván đặt trên một cái hố đã đào sẵn và có ống thông ra ao cá sau nhà . Sau mỗi lần Bọ Chét xổ những thứ rác ra khỏi cái trống chầu của hắn thì một cô nữ du kích phải đi múc một thùng thiếc nước dội thật sạch và rắc vôi để bảo đảm vệ sinh cho lần phóng sau.

Ngoài giải phóng quân canh gác, bồi bàn, còn có chừng năm sá u cô gái coi khá khủt làm việc lặt vặt trong nhà của Bọ Chétt như giặt quần áo, rửa chén, nấu nước pha trà hoặc nước cho hắn tắm khi hắn muốn tắm nước nóng. Ngoài ra còn có một cô đâu ở trên đưa xuống chuyên môn tẩm quất cho hắn. Mẹ kiếp! Làm báo mà như vậy thì cũng nên đi làm.

Hồi ở Xuân Mai, khi đoàn xiếc Liên Xô biểu diễn, giờ phút cuối cùng không phải là vấn đề lập trường mà cũng lại là cái “đế cối 81 ” . Các đồng chí nam thì thì dùng pháo phóng lựu nòng dài nên không gặp rắc rối, nhưng các đồng chí nữ thì chỉ xài pháo lòng bầu dục nên phải có bệ đặt sẵn mới phóng được.

Đồng chí Tư Lệnh Sư Đoàn Ba Tô Ký cho mười hai xe Molotova công binh vù về Hà Nội để xin Bộ Chính Trị xuất cho mười hai cái bệ phóng mang về tức khắc…

Chao ôi là chao ôi !

Đợi đặt xong cái đế cối cho đồng chí Bọ Chét, tôi và Tư Linh lại lầm lủi về nhà má Hai. Chúng tôi định “tắm gà” sơ sơ rồi chui xuống hầm dưới bộ ván gõ ở trước nhà mà đêm đầu tiên đến đây tôi cả gan ngủ trên ván như thằng điếc không sợ cà nông.

Vừa thiu thiu thì cô xã đội phó lại quấy rầy. Cô ta đứng ở miệng hầm gọi:

– Anh Hai, anh Hai lên má nói chuyện này một chút.

Ngỡ là má định đi móc chuyến nữa nên bỏ mặc Tư Linh ngáy o o, tôi bò lên và ra sau bếp. Má đã ngồi sẵn ở đó, nét mặt nghiêm nghị như sắp nói điều gì quan trọng. Tôi suy nghĩ và giật mình. Thằng chăn bò miệng ăn mắm ăn muối hổng chừng nói đúng: “Cô xã đội phó mết mày”, nên có chuyện. Má bảo:

– Con ngồi xuống đây má nói chuyện này. Má biết con công tác mệt nhưng má không muốn chờ tới sáng mai. Rủi sáng mai con đi công tác gấp má không kịp nói rồi ai giúp đỡ cho em con.

Má vừa nói vừa chậm rãi têm trầu. Thôi đích rồi. Thằng chăn bò mắc dịch! Trong trí tôi vẫn còn đậm nét Thu Hà. Kẻ chen lấn với nàng có thể chỉ là Bảy Mô thôi. Nhưng tôi muốn gửi một tấm tình chung thủy với Thu Hà . Nhiều đêm tôi chợp mắt, vẫn thấy đôi mắt Thu Hà đẩm ướt dõi theo tôi sau gốc cây Bàng Lăng ở Phước Long.

Má nói, giọng trầm trầm:

– Cách nạng có từ 45 phải không con?

– Dạ !

– Thằng Điều hi sinh ở trận Bến Súc. Má không có con tr:ai, chỉ có hai đứa con gái.

Tôi lựa lời nói quác ra.

– Dạ gia đình mình là gia đình có công với cách mạng đó má !

Má như không nghe lời nói của tôi, tiếp:

– Má tin tưởng cách mạng là tốt, nhưng má không dám gả con Lụa cho cán bộ vì sợ con trai chết, rồi lại mất rể.

– Dạ!

– Bởi vậy cho nên có nhiều cán bộ đi hỏi nó mà má không chịu, má chỉ gả nó cho thanh niên xóm

– Vậy cũng tốt chớ có sao đâu má ! Dượng nó là Thanh Niên Xung Phong.

– Ở trên bảo đi bốn tuần về. Bốn tuần không thấy về. Bốn tháng cũng không về. Nay đã một năm, nghe nói nó ra đâu tới ngoài Phước Long.

– Dạ..

– Con vợ nó ở nhà đâu có làm ăn gì được. Trước đây đốt than chập chủm kiếm sống nuôi con. Nhưng từ ngày B52 bỏ tiêu vùng Hố Bò, nó nghỉ luôn. May nhờ con Là tới lui hủ hỉ. Nhưng từ ngày chú Tư Thiên giao chức xã đội phó cho con Là, con Là chạy chân không bén đất…

– Dạ. .

– Con Lụa ở nhà . . .- Má ngập ngừng rồi tiếp – làm ba cái việc lặt vặt của Phụ Nữ giải phóng còn tao Chấp Hành Hội Mẹ. Vậy là cũng tròn nhiệm vụ của gia đình. – Bỗng nhiên má đằng hắng và lên giọng – Vừa rồi chú Tư Thiên có đến bảo tao cho con Là đi đào địa đạo gấp. Tao bảo: “Nó mắc làm việc nhà để hoãn lại ít bữa đã”, kỳ thật nó không chịu đi. Nó nói: “Đào như lỗ mèo quào rồi bỏ đó chớ ai mà chun, đào chi cho uổng công.” Chú bèn bảo tao cho con Lụa đi đến địa điểm phục vụ cho ông nào đó ở trên R mới xuống. Con nhỏ đi tới đó, đêm đầu chỉ rửa chén và lau bàn. Nó về nó nói với tao hình như là có ông Liên Xô ờ đằng đó. Nó mừng lắm. Nó nói với tao là nếu có Liên Xô vô đây thì Mỹ phải thua mau, chồng nó sớm về nhà . Cho nên nó không than phiền về việc lau bàn rửa chén cho ông Liên Xô. Nhưng hồi tối này…

Má ngưng ngang giây lâu rồi tiếp:

– Chuyện kỳ cục quá con à !

Tôi nhảy dựng lên:

– Chuyện gì vậy má !

– Nó nói nó thấy nhiều chuyện trái tai gai mắt quá hè.

– Á à ạ ! mình đãi đằng họ như vậy là để họ giúp mình cũng như thả con tép bắt con tôm má ạ !

– Lần trước cũng Liên Xô, lần này cũng Liên Xô. Lần trước tao chỉ nghe xầm xì thôi, nhưng tao bảo không thấy thì đừng có đồn bậy bạ. Nhưng lần này…

Tôi rụng rời tay chân và không biết trả lời ra sao. Tôi không biết là cô Lụa đã thấy chuyện gì? Nếu chỉ thấy chuyện cô Bốn với lão Bọ Chét thì không ăn thua. Vì cô ta không phải là người ở đây. Nhưng nếu lão bỏ ngón tới mấy cô cây nhà lá vườn thì mất uy tín quốc tế lắm. Má nói:

– Vậy con có gặp chú Tư Thiên thì con nói với chú là má xin chú miễn cho con nhỏ phục vụ ở đó luôn. Nói với chú thương dùm chồng nó phơi gan trải mật ở tận ngoài Phước Long. Chồng phục vụ cách mạng như vậy chẳng lẽ ở nhà người ta bắt vợ nó ” phục vụ “cách mạng như vầy sao?

Tôi chui xuống hầm nằm im như con chó bị cắt tai, không nói một tiếng với Tư Linh . Quả đáng tội, hắn ngủ như chết bụng dạ thảnh thơi, đâu có hay chuyện gì.

Tiếng trêu chọc của cô xã đội phó xoáy vào tai tôi.

– Anh chỉ huy đội nữ đánh được mấy” trận địa đạo chiến rồi anh .

Tôi đáp.

– Mới được một trận thôi.

– Còn mấy trận nữa?

– Không biết.

– Anh đừng có chui xuống mấy cái hầm cũ nghe không? Ghẻ xốn nó ăn thịt anh đấy. Mấy “con nhỏ” hồi nãy đến đây mua vôi và xin chanh, em cho, không bán.

– Để làm gì ba cái thứ đó?

– Trị ghẻ xốn chớ làm gì. Nếu anh lỡ chun phải ngừa trước. Để trể nó ăn đen mình hết.

– Em không phải lo!

– Ừ để rồi không lo!

– Có hầm hố gì mà chun với chiếc ?

– Vậy ổng quay phim cái gì? Chẳng lẽ công ghe bè bạn tới đây để quay “đội nữ” và mấy cái hang chuột bỏ hoang?

– Ai biết đâu. Chương trình này là của anh Tư, anh chỉ phụ tiếp thôi.

Tôi phục Tư Linh thiệt. Hắn chỉ ém mỗi cô xuống một cái hầm cạn xợt. Khi Bọ Chét đến, hắn cho giở nắp trồi đầu lên tay cầm súng lắp đạn lắc cắc cho lão quay xong rồi “xung phong” vô vườn cao su, mỗi cô chiếm một gốc. Thừa lúc Bọ Chét chú mục quay phim, hắn cho những toán khác núp sẵn trong rừng nhào ta tấn công “địch”. Bọ Chét cứ tưởng đó là những dũng sĩ từ địa đạo thần thánh chui lên chớ đâu có ngờ rằng họ “địa đạo chiến” trên mặt đất!

Khi “tiêu diệt địch” xong hắn cho họ rút xuống “hầm khác”, ở sâu trong rừng, Bọ Chét đâu có vác cát thùng nước lèo, chạy theo kịp. Thế là trận “địa đạo chiến”‘ kết thúc: Địch bị tiêu diệt hoàn toàn, bên ta vô sự.

Cô xã đội biết tỏng cái màn địa đạo ehiến của Tư Linh nên ra trêu tôi chơi.

Sáng hôm sau, phước trời, tình hình vẫn yên lặng. Trực thăng kéo hàng hàng đi vào miệt Bến Cát Long Nguyên và đường 30. Chúng đánh hơi được sự chuyển động ở vừng đó nên đổ quân và bắn pháo liên miên.

(Quả thật một Trung Đoàn Công Binh của Tư Cường đã về vùng này để xây phòng tuyến đặc biệt cho Bộ Tư Lệnh Tiền Phương cuộc Tổng công kích Mậu Thân 1968. Nguyễn Chí Thanh đã chết tại đây trước khi chiến trận bắt đầu và cũng chính Tư Linh chạy vắt gìò lên cổ băng qua sông Sài gòn và gặp tôi ở Củ Chi kể cho tôi nghe về cái chết rùng rợn của Nguyễn Chí Thanh).

Một hôm chán ngấy, tôi bèn hỏi Tư Linh:

– Bữa nay ông đạo diễn cho hắn hát tuồng gì? Riết riết cho xong đặng tao về cơ quan tao.

– Cho hắn đi quay những hợp tác xã đan rổ rá, xem lò đường và nông dân cày ruộng. Kế đó xem chợ An Nhàn “giái phóng”. Hừ, quay cái xe nước đá bào của con xẩm cho tao mượn cuốn Buồn Nôn đó nhớ không?

– Đội Nữ như vậy là hoàn thành nhiệm vụ hả?

– Tất cả đều hoàn thành, trừ mày với nữ đội trưởng.

Tôi kể lại câu chuyện đêm qua của má Hai cho hắn nghe. Nghe xong hắn “xùy” một tiếng to:

– Xin phép Tư Thiên làm cái gì. Muốn ở nhà cứ ở. Nhưng con nhỏ có bị đụng chạm gì chưa?

– Theo cô xã đội phó nói thì… Nó chỉ thấy ông nhà báo “hát chèo” với con Bốn còn lão chỉ mới be he với nó thôi… Nè, cái chợ An Nhơn còn giống gì mà quay?

– Xã ủy đã được lệnh tập trung đồng bào tới. Mình mau lên đó, kẻo họ về hết – Tư Linh tiếp – Sau khi quay chợ, vào xóm quay vài cảnh sinh hoạt. Được cái gì quơ cái đó chớ mong ước gì?

– Có sinh hoạt gì mà quay’? Trường học dẹp hết rồi, các đội thiếu nhi ca vũ cũng giải tán thì còn có nước quay đàn bà nấu cơm thôi.

Tư Linh quào quào đầu, tóc rối lên như bùi nhùi:

– Kệ nó, nó muốn thì nó cứ quay.

– Còn trâu bò cày đâu còn ở ngoài ruộng? Người ta giấu cả dưới hầm để sửa soạn ra ấp chiến lược. Hay là bắt thằng Tư Thêu làm nông dân cày sơ sơ vài đường cũng đủ mà!

– Chíp! Mấy cái đó không khó, chỉ có một màn khó nhấ thôi. Tao ớn thấy mẹ !

– Là cái màn gì? Chắc là cái vụ cạo mủ cao su chớ gì. – Tưởng mìmh nói đúng, tôi tiếp luôn – lần tên giáo sư Liên Xô sang, nó thấy ba cái rừng cao su bị cháy nó tiếc lắm. Nó ước gì nước nó được giống cây quí giá này. Tên Bọ Chét ở xứ lạnh chắc thấy cây cao su cũng ham chớ gì. Nó muốn quay phim công nhân cạo mủ thì mình bắt tụi con Bảy Mô làm nữ công nhân. Còn thùng, chén, dụng cụ làm việc thì trong nhà mủ Hố Bò có thiếu chi. Chỉ bảo tụi nó sơ sơ là dàn xong cái cảnh cạo mủ khó gì!

– Chuyện đó dễ thôi ! Cái chuyện kiếm búp bê cho hắn bế mới khó !

– Còn cô Bốn’?

-Đó là gái bán bar hay gái bao gì đó của Ban Quân Báo Sáu huỳnh dụ khị bắt vô. Hắn bảo vô đây phiên dịch cho một đại úy Mỹ vừa rả ngũ Nhưng vô đây chỉ đượcchạy bàn. Ngoài ra còn cái vụ kia nữa. Chỉ một đêm con nhỏ chạy tét, không phải nó ngán chạn Bọ Chét đâu. Nhiều thằng Mỹ cao hai thước cũng chả thấm gì nó, nhưng nó chạy vì nó bảo thằng này không phải Mỹ. Sáu Huỳnh hỏi tại sao nó biết? Nó bảo Mỹ không làm như vậy, không kẹo như vậy và không hôi như vậy. Mỹ gì hôi như cú.

Tôi cười:

– Hôi?

– Nó nói thằng này hôi heo quá chừng. Nó không chịu được chớ không phải nó sợ thằng say rượu… đâu.

– Còn kẹo?

– Ai biết đâu. Tao về trên ông Tám Quang báo cáo thì gặp Sáu Huỳnh. Y phụ nhĩ với tao như vậy.

Rồi ông Tám chỉ thị thế nào?

– Ổng bảo tao cố liên lạc địa phương tìm một đứa sạch sẽ dễ coi, giàu đức tính hi sinh cho cách mạng!

– Mày đã liên lạc với ông Út Cường chưa?

– Thằng Bọ Chét đã cho tao biết nó “chấm” con nhỏ nào rồi!

– Sao nó có quyền “chấm”?

– Mày không nhớ lời ông Tám Quang đả thông hay sao? Nó ra thế giới, nói tốt cho mình thì lời nó nói bằng diệt một sư đoàn Mỹ. Sá gì một đứa con gái?

– Nó chấm đứa nào?

– Đứa nào nó khoái thì nó chấm!

Tôi hơi cáu.

– Nó muốn gì được nấy sao?

Tư Linh thấu cáy tôi:

– Hễ mày thấy đứa nào đẹp nhất nội bọn thì nó chấm đứa đó . Hè hè . .hè !

Thấy tôi phát cáu, Tư Linh bảo.

– Tao kêu mày cứ “hạ mục tiêu” đi mà mày không nghe để cây nhà lá vườn bị thiên hạ quơ mất.

– Vậy mà ở trên cũng đồng ý. Kỳ nhỉ!

– Hà hà hà… mày sợ cô dũng sĩ của mày rơi vào miệng sói hả?

Tư Linh không muốn trêu tôi thêm nữa nên nói.

– Cái thằng Bọ Chét cũng biết liệu cơm gắp mắm, nó tự biết cái thân già nên không dám động tới đội nữ, nó chỉ mơ con Hai Khương Quân Nhu. Nó thấy con nhỏ bữa trước.

– Hai Khương làm gì mà cũng xạo vô đám này?

– Ở trên bảo nó vô đo may cho hắn vài bộ bà ba để cho nó mặc và mang về làm kỷ niệm. Con nhỏ chừng hai mươi lăm có đứa con gái năm tuổi. Chồng nó đi Công trường 9 đánh ở Đồng Xoài Bình Giả gì đó, tới nay biệt tin. Con nhỏ ở nhà nuôi mẹ già con dại bằng tiền may mướn cho Quân Nhu hai trăm một ngày. Mày thấy nó mày sẽ tưởng nó là con gái còn son đó .

Tư Linh bảo:

– Bữa nay mày ở nhà lo công việc giúp hắn. Tao đi gặp Út Cường điều đình. Nó kêu Út Cường bằng chú họ. Út Cường lại có uy tín với bà già. Tuy vậy tao phải rủ chú Tư Thiên Bí Thư xã Phú Mỹ Hưng đi để nói tiếp – Tư Linh thở dài – Cũng may con Lụa trốn ở nhà nếu không hắn chấm con Lụa thì khốn cho mày.

– Tại sao khốn cho tao?

Tư Linh móc thuốc hút, rít mấy hơi dài liên tục.

– Vì mày là con trong gia đình mày phải có ý kiến thuyết phục má. Thôi tao đi nhé !

Nói vậy nhưng Tư Linh vẫn chưa đi. Y nói:

– Tao ớn quá !

Tôi lặng thinh. Tư Linh lắc đầu khe khẽ làm rung rinh chõm tóc trước trán. Bữa nay tôi mới thấy hắn có tóc bạc. Nét nhăn trên trán hắn cuộn lên như sóng cồn. Hắn nói, giọng khác thường:

– Thú thiệt với mày hai chục năm nay, vào sinh ra tử, đảng bảo đi đâu làm gì tao cũng không ngần ngại, sống chết coi thường, nhưng hôm nay tao thấy sợ hãi, dường như không dám bước tới… Lạ thật, đi kiếm gái cho đồng chí mình chơi, mà gái đó lại là vợ của đồng chí mình: Mày hiểu vì sao tao sợ chớ? Và nhục. Chưa bao giờ tao thấy nhục như hôm nay.

Tư Linh đi, tôi ở nhà lo công việc. Bữa nay tên Bọ Chét được tôi dàn cảnh để quay một cuộc đấu tranh chính trị của “đội quân đàn bà ‘ do nữ đồng chí Năm Đang, Huyện ủy viên kiêm khu ủy viên dẫn đầu. Năm Đang là một người con gái quá lứa, ốm o như con cá lẹp, tính hay cau có, quen tánh xúi giục kẻ khác hoạt động nhưng chính mụ lại chuyên môn “ngồi thum” nghĩa là ngồi núp trong bụi rậm bên cạnh miệng hầm bí mật, hễ có động tịch là chui nhanh.

Mọi việc đã được chuẩn bị sẵn cả . Khăn rằn đen vài chục cái, cờ mặt trận vài trăm lá con con để mỗi người cầm tay một lá, vài ba lá cờ lớn có cán để mấy người đi đầu đoàn biểu tình giương lên thị oai với quân Ngụy. Tất cả độ một trăm ngoài gồm cả đàn bà lẫn trẻ con, trong đó có trên hai mươi đội viên của Bảy Mô đã cởi bao đạn lột nón sáu múi giấu súng và lựu đạn để trở thành đội viên của đạo quân bà Năm Đang. Bọ Chét thêm ý kiến: cho đoàn đi xe lam ra “thị xã”.

(Xin dừng lại đây để nói mấy lời về tên Bọ Chét. Hắn có tên cúng cơm, có cả bút danh chúng tôi đều biết. Nhưng sỡ dĩ chúng tôi không gọi tên hoặc bút danh của hắn vì sau vài bữa cộng tác với hắn chúng tôi thấy rõ bộ mặt nham nhở và tư cách đê tiện của hắn: Một tên thờ vật chất chủ nghĩa rất trắng trợn. Và sau khi thấy hắn bày trò giàn cảnh nọ cảnh kia, chúng tôi cực chẳng đã phải giúp hắn là đó là lệnh của cấp trên, nhưng trong lòng đã thầm khinh rẻ hắn, coi hắn như một tên bịp thượng hạng nên chúng tôi đặt cho hắn cái tên Bọ Chét – tên này mỗi khi đọc lên bạn sẽ nghe âm thanh rất gần với tên gốc của hắn. Bạn đọc dư biết hắn là ai rồi lựa là phải ghi rõ ra giấy cho uổng mực của tôi.)

Bọ Chét bảo đoàn biểu tình leo lên xe lam tung cờ hô khẩu hiệu. Xe chạy chậm chậm cho số đi bộ theo kịp. Bà Năm Đang được quay cận cảnh rất lâu. Còn đám nữ dũng sĩ thì giấu mặt vì đã lộ ra ở màn “địa đạo chiến” hôm trước rồi. Chỉ chừng nửa giờ đồng hồ thì cuộc đấu tranh chính trị hoàn thành. Nhưng không rõ đoàn này đấu tranh với ai và về vấn đề gì? Đó là một trong ba mũi giáp công của Mặt Trận.

Kế đến màn sinh hoạt trong khu giải phóng. Những bà những cô vừa hoàn thành xuất sắc cuộc đấu tranh chính trị “trực diện với kẻ thù” lập tức thay hình đổi dạng và quơ gióng gánh, bưng bầu bí gà vịt đã giấu sẵn trong rừng để nhảy lên xe lam “đi chợ giải phóng!”

(Xin chú ý nếu ai tinh mắt, khi xem phim này sẽ nhận ra hai bên mui xe có những tên chợ Tân Qui, Cây Bài… là những bến xe lam đổ lại để rước khách nằm trong vùng “Ngụy ” kiểm soát chứ không phải trong vùng mặt trận giải phóng, nhưng vì quá chụp giựt hoảng hốt nên cả đạo diễn lẩn nhà quay phim quên xóa đi để kẻ lên những tên chợ trong vùng giải phóng. Bây giờ trong vùng giải phóng các chợ sầm uất trước kia như chợ An Nhơn Phú Hoà chỉ còn là những cái chòi xiêu vẹo và trống hốc trống hác, trong đó có cái quán cóc của cô xẫm đang vớt vát đứng bán vài ly nước đá mà chân nhấp nhỏm chưa biết vù lúc nào.

Ở Bến Tre cùng thời gian này vùng giải phóng càng bi đát hơn nữa. Chỉ còn có một cái chợ. Đó là chợ An Định nằm giữa quận Mõ Cày và quận Hương Mỹ. Chợ này chỉ có bến đò đi máy Bến Tre mỗi ngày hai chuyến, nhưng dân chúng không dám họp ban ngày, chỉ họp lúc hừng đông hoặc nửa đêm và rất chớp nhoáng. Sau Tết Mậu Thân, quân Bình Định chiếm hết, đóng bít, không còn cả chỗ để đào hầm bí mật. Nêu Bọ Chét dám mò xuống đó, chắc sẽ có nhiều đoạn phim hấp dẫn không kém những đoạn quay ở đây để minh họa cho các phân số3/4 và 4/5 của Mặt Trận.)

Xe lam chở đồng bào đi chợ, chừng vài trăm thước thì đổ xuống. Ở đó cũng có sẵn vài chục người đủ cho ba chiếc xe chở lỏng lẻo, leo lên đi về nhà. Lặp lại vài lần cùng một số khách đó rồi ba chiếc xe lam rời nhanh vô rừng biến dạng. Thế là xong đoạn phim đi chợ giải phóng.

Chắc các bạn thắc mắc: xe lam ở đâu mà chúng tôi có đến ba chiếc? Xin thưa đó là do công tác địch vận của Tư Linh. Nhân viên của Tư Linh vừa “giác ngộ cách mạng” vừa hăm dọa mấy ông chủ xe ở ngoài ấp chiến lược Cây Bài. Mấy ông bị bắt phải “phục vụ cách mạng” lén chạy ven ấp chiến lược rồi lủi vô rừng, tắt máy nằm yên chờ quân giải phóng đến buộc dây lôi đi một quảng xa, liệu chừng nổ máy đồn bót không còn nghe thì chạy thẳng trên đường xe bò. Ở đó, như bạn vừa trông thấy chúng tôi đạo diễn hai ba màn liên tiếp. Bây giờ đào kép sợ lộ bí mật sẽ ăn bom pháo nên vội vã cuốn dù, mặc cho chủ xe lam tìm cách lôi xe về và cách mạng không trả tiền công.

Rất tiếc không có Tư Linh ở đây để y cho đoàn biểu tình xuống “tầng ba” địa đạo uống trà nghỉ xã hơi giây lát và cất luôn những lá cờ trong kho cho kín chứ đâu có nhà nào dám treo ! Như thế tôi đã làm xong công việc của tôi một cách xuất sắc.

Tôi đi tìm Bảy Mô để phối hợp “diễn xuất”, màn tới là màn cạo mủ cao su của nữ công nhân. Màn này thì quá dễ. Chỉ cần đội nữ của Bảy Mô là đủ.

Chiều tối, tôi đến địa điểm đóng quân của đội nữ. Bảy Mô phàn nàn:

– Quay phim như vậy để làm gì anh?

– Tuyên truyền địa đạo của mình ra quốc tế đấy em!

– Có cái gì đâu mà tuyên truyền. Chúng em núp dưới hầm bí mật rồi nhào lên chiếm gốc cao su chứ đâu có chiến đấu cũng đâu phải là từ địa đạo vọt lên gì!

– Ông ấy to xác quá không xuống địa đạo được… nên ổng đang xin hai cán bộ điện ảnh R xuống đây.

– Để làm gì?

– Thì để quay phim về địa đạo chớ để làm gì!

– Địa đạo đâu mà quay?

Thấy đội trưởng bàn luận với tôi, chính trị viên Út Nhỡ và Bảy Bê , Ba Cầm cũng bu lại bàn góp. Các nữ dũng sĩ này đều là người kỳ cựu của đội nữ và là những người tham gia xây dựng “địa đạo” từ sau Đồng Khởi tới nay.

Riêng chánh trị viên Út Nhỡ có thành tích cao nhất. Thành tích này được chứng nhận bằng những cái sẹo ghẻ xốn thâm đen ở tay, cổ và mặt. Mỗi lần xuống địa đạo để sửa chữa những đoạn yếu hoặc phát triển vài thước mới thì khi lên mặt đất chị em phải vội vả nhảy xuống ao tắm rửa, vào nhà lột cả quần áo ra lau thật khô rồi lấy nước vôi pha loãng bôi cho nhau để đề phòng ghẻ xốn nhưng cũng không khỏi. Đây là một thứ nấm mọc trên da thịt, không lây, nhưng rất nhạy. Ai xuống địa đạo cũ đào từ Đồng Khởi, chỉ từ một tiếng đồng hồ trở lên, còn xuống địa đạo mới vài lần thì bị loại ghẻ này.

Và lạ lùng thay nó lại thường mọc ở những chỗ kín. Đàn ông hay đàn bà cũng vậy. Út Nhỡ là người rành sinh hoạt địa đạo nhất, có kinh nghiệm chống và trị ghẻ xốn nhất nhưng cũng là người bị ghẻ xốn tàn phá da thịt nhiều nhất. Chị em đội nữ gọi Út Nhỡ là con lươn bông hoặc Út Bông vì toàn thân cô mang đầy vết sẹo ghẻ xốn. Nghe tôi nói quay phim dưới địa đạo, Út Nhỡ kêu lên:

– Địa đạo đâu còn mà quay hả anh? Ba cái cũ đào từ Đồng Khởi thì sụp hết rồi hoặc bỏ hoang không ai thăm nom nữa. Còn những cái mới đào từ năm ngoái thì cũng không dùng vì sợ B52. Anh hỏi ổng có dám xuống không em phá miệng hầm cho ổng xuống bắt một mớ ghẻ xốn về nuôi.

Cả đội cười rào rào. Sau cuộc thực tập “địa đạo chiến” họ biết đây là trò mị thuật nên không hăng hái công tác nữa, Tư Linh phải tìm cách moi tiền túi của Tám Quang để bồi dưỡng các cô dũng sĩ.

Ngoài thành tích “ghẻ xốn”, Út Nhỡ còn có thành tích đứng miệng thí. Như đã nói ở trên kia, miệng thí là một cái lỗ đào sâu chừng hai thước rồi từ đó kéo từng ki đất lên. Mỗi ki nặng đến ba chục kí-lô như ta lôi thùng nước to từ giếng sâu. Út Nhỡ “đứng miệng thí” bền nhất. Nhiều cô chịu đựng độ một, hai tiếng là phồng tay hoặc kêu “cụp xương sống” hoặc đau lưng mà chạy tét. Út Nhỡ nói tiếp:

– Nếu ổng quay được các địa đạo của mình đem ra thế giới triển lãm người xem, người ta cười chết.

Ba Cấm, một nữ dũng sĩ đẹp thứ nhì của đội chỉ kém Bày Mô một tí, nói:

– Coi chừng ổng quay trúng mấy cái cũ có mùi hăng hắc đó anh!

Cả đội lại cười, Ba Cấm tiếp:

– Thường thường mấy ông khách của I hoặc của R hay làm xấu dưới hầm nhất. Vì họ không quen. Ở trên thì không gì cả. Nhưng hễ xuống dưới hầm là họ mắc đi… Hết đi… lại đi… Cho nên khi mấy ổng lên rồi thì chúng em cũng bỏ luôn không dám xuống nữa. Tụi em ớn mấy ông khách I, khách R lắm. Bây giờ nếu mấy ổng đến cũng không còn hầm để trốn nữa chớ đừng nói địa đạo!

Bảy Mô cười:

– Phen này tới khách quốc tế chớ không phải khách I khách R, cho mà ngán!

Bảy Bê người xã Nhuận Đức cũng đã được danh hiệu dũng sĩ, hỏi tôi:

– Anh có chuẩn bị hầm bí mật cho ông ấy không?

– Có chớ !

– Chắc cái nắp bằng nửa bộ ván ổng chui mới lọt!

– Có lẽ tụi anh phải dắt ổng băng rừng chớ không cho ông độn thổ. Ổng không chịu nổi đâu. Rồi ổng đòi xuống địa đạo để uống trà nghỉ ngơi, thậm chí đòi xuống “tầng lầu” thứ ba để xem ca nhạc thì chết!

Bảy Bê giật mình hỏi:

– Ở đâu có tầng thứ ba vậy anh?

Tôi nói:

– Đó là anh nghe ông Tư Linh ổng đẩy cây với nó chứ anh cũng thừa hiểu là làm gì có địa đạo hai ba tầng “lầu”. Anh đã đào một đêm thì biết chắc chắn là không có quân ngũ nào đào nổi những hệ thống địa đạo thôn liền thôn xã liền xã hết. Hơn nữa đây là một công tác bí mật! Đâu phải như đào kinh đắp cản mà làm rần rộ được.

– Đúng ! Mỗi lần đào tập trung nhiều nhất là mười người. Đào một đêm chừng hai thước là hộc máu ra rồi. Hai ấp trong xã em phối hợp một tháng chỉ đào được ngót chục ngoài thước ! Rồi cũng bỏ luôn. (Ai thử chịu khó tính xem một trăm cây số địa đạo đào mất bao nhiêu giờ công!)

Tôi hỏi:

– Không có đào tầng hai hả cô?

– Có chớ. Vài nơi có đào tầng hai nhưng đào sơ sịa rồi bỏ nửa chừng. Còn tầng ba thì ai đào cho nổi?

– Tầng hai để làm gì?

– Đề phòng khi bị khui tầng một thì mình chui xuống tầng hai đậy nắp lại. Chúng nó có quăng lựu đạn miễng lựu đạn cay hay hơi độc mình vẫn an toàn. Nhưng nói vậy thôi chớ chưa có thực hiện được. Vì mấy trận B52 ở Hố Bò, Bời Lời. Đất cứng vậy mà bom nổ thành bùn hết, hầm hố nào chịu nổi? Cho nên dẹp chương trình tầng hai. Và ngưng luôn toàn bộ chương trình địa đạo.

Tôi nhớ lúc trước cô xã đội phó có cho tôi xuống một địa đạo bỏ hoang chừng một năm. Tôi bạo gan xuống thử cho biết mùi. Cảm giác đầu tiên là thiếu không khí. Hai lá phổi hơi nhức nhức. Da thịt như bị xát muối nhè nhẹ. Tôi bật diêm quẹt nhưng không cháy vì thiếu dưỡng khí. Tôi bèn bấm đèn pin. Lòng hầm hẹp. Nếu đang bò mà người sau muốn qua mặt người trước thì chỉ có một cách: Người trước phải nằm sát xuống cho người sau bò qua lưng (nếu nằm sấp) hoặc qua bụng (nếu nằm ngửa). Như vậy nếu là một nam một nữ thì cái vụ qua mặt này nguy hiểm vô cùng! Và đã xảy ra luôn những vụ bò.

Trước mặt tôi là một manh chiếu cuộn tròn đã lên meo. Tôi thử mở ra thì những sợi lát đã mục bấy rơi lả tả . Bên cạnh là một cái tỉn. Tôi giở nút thì thấy gạo đã mốc xanh. Tất cả chỉ có thế. Tôi trườn tới một khúc thì lòng hầm rẽ sang phải chừng ba thước rồi cụt. Tôi nghĩ: Nếu thế này, rủi giặc đóng quân.vài ngày trên đầu thì có nước chết! Ít ra phải có một cái cuốc sẵn ở đây nếu bí thì có phương tiện trổ lên mặt đất.

Theo cô xã đội phó cho biết thì xã Phú Mỹ Hưng của cô có vài ba địa đạo như thế này nhưng không dùng tới. Hôm nay là dịp tốt để tôi tìm hiểu tình hình địa đạo các xã khác để xem trong tương lai mình sẽ áp dụng nó trong chiến đấu như thế nào?

Tôi hỏi Bây Bê thuộc xã Nhuận Đức:

– Còn cô cai quản bao nhiêu địa đạo?

– Xã em có chừng trăm thước thôi.

Ba Bảnh nói:

– Vậy cũng còn hơn xã Trung Lập em có chừng chục rưỡi thước!

Bảy Mô nói:

– Tất cả các xã gộp lại chỉ bằng Phú Mỹ Hưng và An Nhơn.

Ba Bảnh cãi lại:

– Phú Hoà Đông cũng có nhưng đào gần bót Đường Làng nên không dám chui.

Út Nhỡ thêm vào:

– Xã Phước Vinh Ninh cũng có cả chục thước chớ bỏ sao? Nhưng gần Đồng Dù nên sợ bị gài mìn nên bỏ luôn rồi.

Tôi nhẩm tính thì tất cả độ vài trăm thước. Tôi hỏi lại lần nữa cho chắc tay:

– Đó là tính cả hồi Đồng Khởi tới bây giờ hay chỉ kể địa đạo mới ?

Bảy Mô không đáp thẳng mà có ý phân trần về công tác địa đạo.

– Đào địa đạo khó khăn phiền phức lắm anh ơi. Nhưng xuống địa đạo lại càng phiền phức hơn. Anh thử tưởng tượng trời mưa mà xuống địa đạo thì làm sao khoả mất dấu chân trên mặt đất? Một trăm thứ khó khăn, bất tiện không tả nổi đâu. Nhưng những người nghe nói địa đạo thì cứ tưởng đó là cảnh sống thần tiên và an toàn dưới mặt đất. Sự thực cho đến bây giờ chúng em ngán địa đạo như cơm nếp mắc mưa. Em có thể nói chẳng còn ai dám xuống địa đạo và muốn đào địa đạo nữa. Anh nói với anh Tư đừng có tô vẽ như thế, ông ấy về bển tuyên truyền rồi người ta đến xem rần rần chỗ đâu mình chứa? Và có địa đạo địa điếc gì để mà khoe? Nói láo một lần thì xuôi, nhưng nhiều lần chắc là mắc nghẻn.

– Ông Tư Linh đẩy cây với nó chớ anh biết làm gì có tầng hai, tầng ba. Ổng còn phịa là có đám cưới làm dưới địa đạo luôn, và một tiểu đoàn có thể ăn hút cả tháng dưới đó khoẻ re…

– Khoẻ rẻ như bò kéo xe vậy đó anh !

Cả đội lại cười. Không khí vui tươi chỉ tạm thời. Cái lo âu của chúng tôi là bị chụp bất ngờ. Mà dám lắm! Ở vùng này nói là giải phóng nhưng các bến đò bến tàu dọc bờ sông Sài gòn là cửa ngỏ ra vào của gián điệp ngụy trang dưới mọi hình thức con buôn, công tác viên, thường dân v..v… Ngoài ra còn có nhiều cán bộ, thậm chí cả Thượng úy, dắt bồ bịt đi chiêu hồi. Do đó chúng tôi phải dời chỗ ở của Bọ Chét luôn. Chỉ trong vòng năm phút trực thăng tới và Bộ binh nhảy trên đầu không có đường chạy. Nhiều cuộc họp xã ủy, huyện ủy bị chụp nguyên con không thoát một mống.

Mỗi lần dời Tổng hành dinh là vất vả. Đồ tế nhuyễn của Bọ Chét trong đó có cái “đế cối 81” phải mang vác hoặc chất lên xe bò ì ạch chở đi trong đêm. Nghe một tiếng chó sủa cũng tật mình, tưởng nó đánh được hơi kẻ lạ mặt bất lương đi đêm.

Một hôm, chúng tôi đạo diễn quay chợ “An Nhơn giải phóng trù phú”. Cái chợ còn chút ít sinh hoạt nhưng người người đều nhớn nhác, hối hả. Người dân trong vùng coi đây như một cái bẫy lớn. Cho nên ai đến mua bán gì cũng làm thật nhanh rồi chạy tránh. Tư Linh liên lạc với xã ủy An Nhơn huy động nhân dân đi chợ để quay phim. Không có nhiều người hưởng ứng ngoài vài ba chục mạng gồm có chủ tiệm và khách hàng tới mua đồ bị du kích giữ lại và bị thu hình. Khi nhìn thấy ông Liên Xô ôm máy chĩa ống kính vào họ thì họ che mặt hoặc bỏ chạy vì họ không biết việc ấy có quan hệ gì đến đời sống sau này của họ không? (Chả là người nào cũng sống cuộc sống chùm gởi ở đây cả.)

Ông Liên Xô lấy làm thích thú cái quán nước đá bào của cô xẩm lai (chủ cuốn sách Buồn Nôn). Ông ta bảo năm bảy đứa con nít đến mua nước đá (do ông trả tiền) rồi ông quay lia lịa. Sinh hoạt khu giải phóng thiệt là vui tươi và sầm uất được trôgn thấy ở những nụ cười trẻ con uống nước đá khỏi trả xu nào.

Dù sao cái chợ giải phóng này đến năm nay (1965) chưa lọt vào tay Mỹ Ngụy cũng đã là một hãnh diện của Mặt Trận Giải Phóng rồi. Nhờ nó mà Mặt Trận rêu rao giải phóng 4/5 dân số và 3/4 đất đai Miền Nam. Và nhà báo trứ danh Bọ Chét đang cố gắng chứng minh bằng phim ảnh cho thế giới tin rằng Mặt Trận không có nói láo đâu đấy!

Chiều tối hôm đó, để tự thết mình về cái thành tích ấy, nhà đạo diễn Tư Linh lôi tôi ra quán bà Bầu (hình như cái bầu là của tác giả Bảy Huyền cũng là dân nhà pháo của tôi ở Bắc về). Hai đứa vừa ngồi xong, tôi hỏi ngay vụ săn gái … hôm nọ.

Tư Linh làm thinh. Má cóp, mắt trũng sâu, răng vều hẳn ra, tóc tai như ổ quạ. Tôi thấy gương mặt Tư Linh mà tôi nghiệp. Tôi buông trỏng một câu cộc lốc.

– Không kết quả à?

Bà quán không còn món gì ngoài mấy thỏi khô. Bà nướng sau bếp mà mùi thơm phất ra tới bàn chúng tôi ngồi làm chảy nước miếng. Tư Linh bảo thằng Lẹ cận vệ lấy nửa chai anít uống còn lại lần trước. Hai đứa nhâm nhi một chập, Tư Linh mới nói:

– Tao, chú Tư Thiên và Út Cường đến gặp bà má. Trên đường đi ba người bàn luận cách vô đề và ai là người mở miệng trước. Thiệt là khó ăn nói quá chừng. Chú Tư đùn cho Út Cường, Út Cường gật cho tao, tao lại đổ qua cho chú Tư. Cả tao và Út Cường đùn cho chú Tư. Nhưng chú nhứt định đến cho có mặt, nhưng không nói vô câu nào. Chú bảo:”Nếu con gái tôi lâm vào cảnh đó thì tôi sẽ trả lời sao? Các chú chưa có con lớn nên không hiểu bụng cha mẹ. Và thử hỏi thằng chồng nó ở đơn vị mà biết được chuyện này thì nó nghĩ sao?”. Tao và Út Cường bị chiếu bí.

Tôi hỏi:

– Thế là thất bại à?

– Cuối cùng rồi cũng có kết quả. Út Cường là chú của con nhỏ nên nói năng mạnh dạn với nó:” Ở ngoài thành có nhiều người vợ lính, vợ sĩ quan đi làm đĩ nuôi chồng, chồng biết mà cứ để như vậy thì sao? Đó là vấn đề xã hội. Đây cũng là vấn đề xã hội nhưng trên hết là vấn đề chính trị, nghĩa là cháu phục vụ công tác cách mạng chớ đâu phải làm việc hèn hạ như tụi vợ con lính ngụy kia. Mặt Trận Giải Phóng sẽ ghi công cháu. Cháu nên nhớ rằng đồng chí ta vui vẻ, ra quốc tế nói tốt cho mình thì kể như mình không đánh mà tiêu diệt cả sư đoàn giặc. Như vậy công của cháu to lớn biết bao nhiêu. Hồi kháng chiến chống Pháp có nhiều cô gái còn trinh, ban địch vận của mình đưa vào đồn để ngủ với tên đồn trưởng Pháp và giữ hắn trên giường cho quân ta tấn công. Mỹ nhân kế thành công rất lớn!” – Tư Linh nhai ngấu nghiến một miếng khô, nhấp rượu nói tiếp – May quá, con bé không nói ngược lại:” Đó là công tác địch vận, còn ông nhà báo này đâu có phải là Tây mà phải đị..ịch vận.” Đ.m. đây đúng là công tác đ… vận.

Tư Linh thở dài, uống, ăn và ngã ngữa ra thành ghế nhắm tít mắt. Hồi lâu y nói như trong mơ:

– Con nhỏ khóc dữ quá mày ạ! Nó ở trong cái thế cùng. Mẹ già, con dại, chồng biệt tích. Làm gì để nuôi mẹ nuôi con? Hai trăm đồng tiền công may cho Quân Nhu không đủ nhét kẽ răng. Tao chỉ hứa với nó có một câu:”Chú về sẽ đề nghị ở trên giúp đỡ tài chánh cho cháu!”

Tôi nói:

– Sao mày không bảo Sáu Huỳnh bắt vài con điếm kha khá đem vô đây nạp thịt.

– Tao có nghĩ tới đó rồi, nhưng có nhiều cái bất tiện. Một là đem tụi nó vô đây bác sĩ phải khám. Phải qua tới Bưng Còng bên kia sông Sài gòn rước Tám Lê nhưng ổng đâu có phương tiện xét nghiệm. Khám ba sồn ba sựt nó mó vô “hang rắn hổ”, về bển, nó quạu nó nói bậy bạ thì hại to. Hai là nó không chịu xài “chứng minh thư”. Nó nói nó muốn có cảm giác hoàn toàn Việt Nam. Hơn nữa, tuị này vô thì lộ bí mật địa điểm. Rồi về ngoài thành chúng nói toáng ra bể hết!

– Vậy con Bốn thì sao?

– Nó là dân của mình, gốc Bàu Trâu, tao cho cấy ngoài đó.

Chúng tôi phải di động luôn. Không nơi nào ở đến hai ngày. Có lần vừa đi khỏi Gót Chàng luồn sang Nhuận Đức thì nó chụp Gót Chàng chớp nhoáng. Một lần khác ở Phú Hoà sắp di chuyển thì pháo Trung Hoà bắn ngay chóc. Chúng tôi sợ chụp dù nên dồn hắn xuống hầm bí mật. Cũng may Tư Linh đã cho đào hầm sẵn và gắn nắp hầm ngoại cỡ dành riêng cho hắn. Pháo vừa dứt thì cận vệ dồn hắn xuống hầm. Hắn ngộp quá trồi lên và đòi xuống “tầng lầu ba” nhưng Tư Linh ấn cổ hắn và đậy nắp lại. May là bót Trung Hoà chỉ bắn “lót lòng! buổi sáng thôi chứ không dọn nguyên “mơ-nuy chụp”. Tư Linh bảo ra hầm khui nắp lôi hắn lên.

Tội nghiệp, khi tuột xuống thì dễ, trồi lên lại khó. Hắn như trái bầu, khúc đầu thì nhỏ, mà khúc đít lại phình ra nên bị mắc ngấn. Mấy cậu cận vệ phải phá nắp hầm để cứu nguy cho hắn. (Nên nhớ hầm bí mật chỉ là một cái lỗ có nắp đậy, không phải là địa đạo).

Hắn bám trụ và chạy lòng vòng các xã vùng tả ngạn sông Saigon non một tháng thì chuẩn bị từ giã. Trong túi hắn đã có đủ tài liệu để nói với thế giới về ba vấn đề lớn của Mặt Trận mà vùng trù phú nhất chỉ cách Sàigon có hai chục cây số.

– Đội nữ dũng sĩ diệt Mỹ gồm trên hai mươi người, người nào cũng diệt được mười lăm, hai chục tên Mỹ.

– Địa đạo thần thánh rộng thênh thang dưới lòng đất, thôn liền thôn , xã liền xã.

– Mặt trận giải phóng đã có trong tay 3/4 đất đai và 4/5 dân chúng miền Nam.

Hắn chỉ kém gã giáo sư Mạc Tư Khoa cái mục cắm cờ trên mũi tàu chạy dọc sông Sàigon, nhưng lại vuợt gã kia về điạ đạo chiến và nhiều mục khác.

Rồi lại tiệc tùng cà-phê nước đá chúc mừng bắt tay bắt chân, hứa hẹn v.v… trong buổi tiễn đưa đồng chí Bọ Chét trở về Hà Nội báo cáo thành tích với già Hồ.

Ông Tám Quang huy động đội văn nghệ Quân Khu có cả cây đờn “kéo ra kéo vô” kêu như gió rít và mấy cây đờn cò đờn kìm. Hắn vừa uống rượu vừa quay phim. Hắn không quên nhắc khéo Tư Linh rằng hắn cần những đoạn phim địa đạo mà Tư Linh đã hứa. Tư Linh đáp lại rất nhã nhặn và khéo léo không kém nhà ngoại giao nào:

– Rất tiếc là đồng chí đưa yêu cầu lên R hơi trễ nên các cán bộ điện ảnh đã đi xuống đồng bằng sông Cửu Long và ra Khu 6 cả rồi. Nhưng chúng tôi sẽ quay những đoạn phim ấy và sẽ gởi sang cho đồng chí trong thời gian ngắn nhất!

Đến nay đã hai mươi lăm năm chẵn. Hắn đã chết, nhưng những đoạn phim của Tư Linh hứa hẹn vẫn quay chưa xong hoặc không bao giờ thực hiện được, bởi lẽ rất đơn giản là ở Củ Chi không hề đào những địa đạo đó mà chỉ có trên đài Giải Phóng mà thôi.

Chương 8

Tống tiển đồng chí Bọ Chét xong, tôi ở lại Củ Chi chờ quyết định của Quân Khu còn Tư Linh thì trở về cơ quan của hắn. Chia tay nhau thật buồn. Chẳng biết có còn gặp lại nhau nữa không. Ở đất Củ Chi này chết như nháy mắt.

Một buổi trưa tôi đang ở nhà Má Hai thì cô xã đội phó đi đâu về dắt theo một ông cao nghệu. Nàng hỏi tôi:

– Anh biết ông này không?

Tôi nhìn gã đàn ông mặc ka-ki vàng, tay chân dài ngoẵng. Gã bước tới tôi vỗ vai:

– Thầy Hai, thầy còn nhớ tôi không? – Rồi không đợi tôi đáp, gã tiếp ngay – Thầy còn nhớ bữa nhậu “khăn bàn lông” trước nhà pháo do tụi cao xạ tui đãi thầy Quân đi công tác mới, có mời thầy qua “đón gió vài ly”, nhớ không? Tui với thằng Tỷ ở D14 của anh Tư Quảnh đó mà!

Tôi vỗ vỗ trán:

– À, nhớ ra rồi! D14 tiểu đoàn khung cán bộ chúng mình sắp “về nước” khoảng năm 62. Nhưng … đông quá trời. Tôi đến dạy môn tác xạ pháo…

– Phải, thầy dạy từ cấp trung uý đến thượng tá, nên thầy đâu có nhớ hết được. Tôi là Ba Tố nè! Nhớ chưa?

– Ờ, ờ, tôi nhớ ra rồi. Hồi đó chuẩn đi đi B có đến cả ngàn người chia ra làm 2D. 14 và 15 thuộc Nam Bộ do Hai Quảnh, Ba Lê, Năm Đảnh, Năm Đê chỉ huy, còn 2D 16 và 17 thì thuộc Khu 5.

– Thầy có biết thầy Quân và thầy Răng “về nước” rồi mà ở đâu không?

Tôi chưa kịp trả lời thì cô xã đội phó xen vào:

– Sau chú Ba kêu anh Hai bằng thầy vậy? Ảnh nhỏ tuổi hơn chú mà!

– Nhỏ thì nhỏ nhưng vẫn là thầy vì ổng dạy tôi học mà! Hai Giả và Sáu Phấn cũng là học trò của ổng đó. Thầy là vậy chớ không phải là “thầy hít” như người ta thường nói đâu!

– Tèng đéc! Tôi thấy ảnh không có làm le như mấ ông khác.

– Những người có tài không xum xoe cô em ạ. Kẻ bất tài mới thích làm le.

Ba Tố mời tôi lên nhà trên. Vừa ngồi xong, Ba Tố móc túi áo lấy ra tờ giấy trao cho tôi. Tôi giỡ ra thì thấy chữ đánh máy và chữ ký: “Tư Khanh”, Chánh ủy U80.

Tôi xếp tờ Quyết Định, đút vô túi gài nút cẩn thận. Ba Tố nói tiếp:

– Tôi nghe ở văn phòng nói là có một Tiểu đoàn trưởng pháo binh từ trên R xuống đây công tác nhưng không biết là ai. Dù ai cũng đáng mừng vì khu mình là đất dụng pháo nhưng lại chưa có cán bộ pháo. Sau cùng tôi đến hỏi anh Tư Khanh. Ảnh cho biết là thầy đã về U mình, tôi mừng hết lớn đi. Có thầy mới mần ăn được. Lâu nay tụi ti không biết làm cái gì nên bị ở trên “xạc” hoài. “Xạc” thì giơ mặt mốc ra chịu chớ rắn không đầu thì làm sao mà bò? Thôi bây giờ mời thầy xuống nhà cô Lụa lai rai ba sợi rồi mình tính chuyện về trên U gặp anh Tư.

Cô xã đội phó nói:

– Bộ ở đây không có hầm cho chú trốn hả?

– Hầm thì nhà nào chẳng có nhưng mà ở đây nhà rộng lại là hàng quán nên ông Tư Thiên hay họp hành và khách khứa ra vào nườm nượp, nói chuyện mất hứng lắm!

Ba Tố dắt tôi trở lại nhà cô Lụa. Nhà cũng vẫn trống hoang bị giao liên dùng làm trạm như hôm tôi mới tới. Lụa nghỉ đốt than, đi làm ở lò đường, nên ở nhà hai đứa tha hồ “mọc đuôi tôm”.

Ba Tố lội đi mua gà và rượu. Hai đứa vừa nhậu vừa nhắc chuyện cũ. Nhậu xong hai đứa mắc võng bên miệng hầm nói tiếp. Ba Tố tâm sự:

– Có thầy về pháo nhà mình mới ngóc đầu lên được. Hai Giả và Sáu Phấn không biết tí gì về binh chủng pháo nên tụi này cứ nằm ăn hút và chống sốt rét là hết ngày giờ.

Tôi nói:

– Tôi mà tài cán gì dữ vậy? Để thong thả rồi xem!

– Đất này là đất của pháo phải không thầy?

– Ừ! Khắp miền nam chỉ có I mình là thuận lợi cho sự xử dụng pháo thôi. Nhớ hồi ở miền Tầy, muốn bắn một trái moọc-chê phải vác lục bình đắp bệ. Ở Rừng Sát cũng vậy. Nhưng vấn đề là làm sao đem pháo về đây? Và sau khi đánh làm cách nào để giấu? Nghe nói pháo của Đồng Dù mà tôi ham. Đó là cà-nông 175 ly. Cho tôi năm khẩu, tôi bắn tụi nó khỏi có ngóc đầu lên. Miền Bắc mình chỉ có pháo 152 ly thôi. Cả tụi Sàigòn cũng chỉ có 155 ly chứ không có loại nòng dài 175 ly.

– Sao thầy mới về mà thầy biết hết vậy?

– Nghe tụi nó bắn thì biết chứ sao!

Hôm sau tôi đến từ giã Má Hai và hai em Lụa Là. Cả nhà đều khóc. Bé Rớt cứ ôm chặt cậu Hai hỏi: “Chừng nào cậu Hai trở lại? Chừng nào cậu Hai trở lại?” làm tôi cũng mủi lòng.

Tôi thấy tận trong trái tim bé bỏng của đứa bé gái có một lỗ hổng lớn :Tình Cha. Ba cháu đi công tác chiến trường Bình Long đến nay vẫn chưa có tin tức. Đối với tôi, việc móc gia đìn thôi hãy hẹt lại kỳ khác hoặc kiếp sau.

Tôi đi theo Ba Tố mà lòng ngậm ngùi, tường như ngày mình còn bé mỗi lần đi học cả nhà đưa đón, quyến luyến.

Cây vú sữa bên góc sân bị mảnh bom gọt tróc vỏ còn đứng đó rung từng chiếc lá như vẫy theo tôi.

o O o

Ba Tố dắt tôi lội qua sông Sàigòn, đi ba bốn ngày đường mới về tới U80 là căn cứ Pháo Binh của R do đại tá Hai Nhã làm trưởng và đại tá Tư Khanh làm chánh ủy. Hai ông đều là thủ trường cũ của tôi. Hai Nhã tức là Hai Nho khi ở miền Bắc là trung tá Tư lệnh Pháo Binh của Sư Đoàn 330 của Đồng Văn Cống đóng ở Thọ Xuân Thanh Hóa, còn Tư Khanh là trung đoàn trưởng trong chín năm với cái tên khét tiếng Đào Sơn Tây chuyên môn giết “dân một mắt” tức là tín đồ Cao Đài ném thây chật giếng.

Ông là học trò của tôi ở trường pháo Sơn Tây, người Hốc Môn, rất cởi mở hồn nhiên. Thời đó đã là Thượng tá nhưng vẫn gọi tôi bằng thầy.

Sau khi về Sơn Tây đóng quân, ông có phải lòng một cô Việt Kiều Thái Lan bán căng tin tên Trang. Mẹ cô Trang chỉ bằng tuổi ông. Bà cũng biết việc đó nhưng không nói gì. Có lẽ bà cho ông là người độc thân thì việc yêu đương đâu nề hà tuổi tác. Cứ chiều thứ bảy ông đến đèo cô Trang về đơn vị đóng ở Ái Mổ chơi, sáng thứ hai mới trả về. CÔ Trang có bầu. Bà mẹ cũng vẫn không nói gì.

Bỗng một hôm ông không đến nữa. Tôi biết ông đồng chí mình đi đâu, nên tôi đến để tính chuyện phái quấy. Lương hằng tháng của ông được chuyển về cho cô Trang một cách đều đặn. Đến ngày, cô Trang hạ sinh một chàng pháo binh con. Lúc nó oe oe chào đời thì bố nó đang ở cục R, làm chánh ủy Pháo Binh toàn miền.

Ông Tư Khanh là một trong ba người đầu tiên (Tư Khanh, Hai Bứa, Việt Hồng) về Nam gặp Huỳnh Văn Một là dân cựu kháng chiến chống Pháp. Ông Một rút lên rừng Kà Tum sau năm 55, đem theo cả vợ con sống một cuộc đời Phà Ca Sơn Nữ cho đến khi ông Tư Khanh vào bắt liên lạc. Chính đây là căn cứ đầu tiên của R sau này. Khoảng năm 1964 tướng Trần Văn Trà mới vào tới với chức vụ Tư lệnh quân giải phóng Miền Nam được phong đâu ở Hà Nội. Ông Trà (với cấp Trung tướng) đã giao cho Tư Khanh phụ trách chính trị binh chủng pháo binh của R.

Từ Suối Dây ra đường Thống Nhất qua suối Tha La ra đường đá xanh, Ba Tố dắt tôi theo lộ ủi Trần Lệ Xuân vào đụng Xóm Mới. Từ đó vượt qua cầu Cần Đăng (lúc này chưa bị bom đánh sập). Từ cầu Cần Đăng qua một đoạn đường đá đỗ rồi rẽ vào rừng hướng về phía mặt trời lặn qua sóc Chà Ruột, cuối cùng đến suối Nàng Rà . Ba Tố dừng lại nói.

– Đây là ổ của tụi Pháo mình!

Tôi ngó sơ quang cảnh thì cũng giống như “Mã Đà Sơn Cước Anh hùng tận”, nhưng ở đây không có núi. Mỗi nơi đi qua Ba Tố đều nói tên. Không giống như ở Trường Sơn đi hết tháng này tới tháng khác mà không biết một địa danh vì giao liên muốn giữ bí mật đường dây.

Hai đứa ngồi lại bờ đá hút thuốc uống nước xả hơi. Ba Tố nói:

– Tối mai bọn tôi sẽ đãi thầy một bữa thịt rừng hơn cả tiệm Tàu Hàng Buồm Hà Nội.

Cuốc bộ một buổi nữa mới đến một căn nhà lụp xụp do một người đàn bà có nước da trắng hơi xanh làm chủ. Bà có một đứa con gái mười tuổi rất xinh. Tôi đoán hai mẹ con không phái là dân vùng sơn cước, cũng không phải dân Miên ở trong Sóc mà tôi thường nghe gọi là “Phum”. Tiếng “Phum” rất phổ thông ở vùng này. Chập sau ông chồng đi rẩy về mang một gùi đầy nào lá khoai nào củ khoai. Vừa thấy chúng tôi anh đã bảo vợ nấu nước châm trà. Ba Tố giới thiệu:

– Đây là anh Sáu Ngọc “chủ tịch nông trường của “U” mình, chuyên gia khoai, bí! Hôm nay có khách đặc biệt của “U” mình đó Sáu Ngọc. Anh có món gì bồi dưỡng không?

Anh Sáu Ngọc người nhỏ thó, nước da ngâm đen, tay chân lanh lẹ và nói tiếng lơ lớ pha tiếng Miên như mấy ông thổ địa vùng Kà Tum, Tà Nốt ở biên giới Việt Miên. Nghe Ba Tố hỏi, Sáu Ngọc cười chói mấy cái răng vàng:

– Muốn cay có cay, muốn ngọt có ngọt mà , lo gì anh Ba !

– Ừ cho tẩm gân sơ sơ chút, mai mốt sẽ mời anh Tư ra đây chơi vài bữa.

Sáu Ngọc chạy vào bếp một lát rồi trở ra bảo Ba Tố:

– Hai anh ngồi nhà nghỉ, tôi chạy kiếm ba mớ về làm một bữa !

Rồi anh xách gùi ra đi. Anh ở trần trùi trụi phơi tấm lưng mốc cời và cặp chân như hai que củi. Có lẽ anh sanh ra và lớn lên trong vùng biên giới nên người ta tưởng anh là người Miên. Anh nói tiếng Miên cũng khá sỏi, phong tục tập quán người Miên anh rất rành nên ở trên giao cho anh chức thổ địa vùng này, nghĩa là muốn tìm hiểu hoặc muốn làm gì mọi người đều xin ý kiến của Sáu Ngọc.

Trại sản xuất có một chiếc xuồng gắn máy để làm chân chạy cho anh. Bây giờ (tức là hai mươi lăm năm sau khi tôi ở đây) nhìn lại trên bản đồ của Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ ở Việt Nam và Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, tôi còn tìm ra những con rạch gọi là Rạch Tre, Rạch Ruộng gần suối Nàng Rà, những con rạch này quá nhỏ nhưng vẫn có trong bản đồ.

Trên thực địa đây là hai con sông bề mặt rộng ngót một trăm thước chớ không phải nhỏ. Bên kia rạch có đường đá chạy đi Kompongtrạch. Ở đây có nhiều đồn Miên đóng chốt ngăn ngừa sự xâm nhập của Việt Cộng, nhưng sự thực tụi lính này chúng thiết gì đến nhiệm vụ. Chúng như một lũ người ngây ngô: ở trong đồn đứa thì cởi trần, đứa thì mặc áo lính lại vận xà rông. Sáu Ngọc chỉ cần ném vài chai rượu lên bờ cho chúng là đi qua ngay. Máy móc, vũ khí, lương thực bất cứ thứ gì đều cho qua lọt tuốt nếu chủ ghe biết đấm mõm bọn này. Ta không thể trách chúng vì chính lãnh tụ của chúng cũng khờ khạo như chúng vậy: chúng đã để cho bọn cáo già Hà Nội “mượn đất để giải phóng miền Nam” và cuối cùng quay lại “giải phóng” luôn chúng nó.

Nhờ sự khờ khạo đó mà Cục Hậu Cần đã chở được cả một xưởng may da từ Nam Vang về đây. Các dụng cụ như máy cưa, máy tiện các loại dụng cụ y tế mua từ Sài òn đưa lọt vào R cũng qua cái cửa ngỏ này. Cuối cùng nhờ sự lưu thông dễ dàng trên các con sông này nên Xóm Giữa (tại Tapanlg Som – ở giữa trường Bộ Binh Trung Sơ và trường pháo binh của tôi) dần dần mang tên mới “Chợ Long Hoa B của tỉnh Tây Ninh”. Thấy hốt bạc dễ dàng, con buôn trong vùng cũng mon men tới với những ghe xuồng chất đầy ứ hàng hóa. Xóm Giữa bán đủ cả không thiếu món gì, cà phê, nước đá, hủ tiếu xào, la de nước. ngọt, thuốc Cotab… chỉ thiếu đèn điện nữa thôi ! Thật, ở giữa rừng xanh mà được như vậy là cõi tiên!

Sáu Ngọc đi vài tiếng đồng hồ thì trở về với một gùi nặng sau lưng. Cố nhiên là đồ xa xí phẩm của Cao Miên. Ngoài ra còn thịt heo, thịt bò. Sáu Ngọc nói với Ba Tố:

– Bữa nay tôi đãi anh Ba với Thủ Trường tôi một bữa.

Ba Tố hỏi:

– Thủ Trưởng nào’?

– Là Đại úy đây nè !

– Tại sao anh biết thầy Hai là thủ trưởng của anh?

– Dạ mấy bữa rày người ở trong văn phòng ra đây gùi khoai về, cho biết anh Tư đã bổ nhiệm anh Hai làm Tham Mưu trưởng trường pháo binh mình, như vậy trại sản xuất này cũng nằm dưới quyền chỉ huy của anh l.lai.

Ba Tố gật gù:

– Anh Tư sáng suốt hết sức. Ban chỉ huy trường cũng tính xin thầy Hai về giữ chức vụ đó, chẳng ngờ ổng đã biết trước Vậy thì thầy Hai cứ ở đây chờ quyết định mới rồi đến làm việc ở trường pháo luôn không phải lội đi đâu cho mệt!

Quả thật, vài hôm sau liên lạc đem Quyết Định mới ra cho tôi . Và tôi về trường bắt đầu làm việc với chức tham mưu trưởng của trường pháo binh toàn Miền Nam. Trường này được tổ chức theo cấp số và biên chế tiểu đoàn. Chỉ huy trưởng là Ba Thịnh cấp bậc đại úy, từng là tiểu đoàn trưởng pháo binh thuộc Sư Đoàn 330 của đại tá Đồng Văn Cống. Ba Thịnh lại là dân Nhà Bè cùng quê với tôi và có họ hàng với tôi đâu từ đời bà cố ngoại. Lâu nay đã có hai, ba tham mưu trưởng về làm việc nhưng ông chẳng ưng ý vị nào, nên chỉ sau vài tháng là ông gởi trả về.

Chính trị viên của trường là Tư Ân, người Giồng Trôm, thuộc tỉnh Bến Tre, về Nam năm 1961, có trình độ văn hoá, có bản lĩnh trong công tác chính trị và hiểu biết văn nghệ, trái hẳn với Ba Thịnh là dân lớp nghèo thành thị, cha đánh xe ngựa ở chợ Phú Xuân. Nhờ có thành phần cơ bản nên trong cải cách ruộng đất được đề bạt từ trung đội trưởng lên tiểu đoàn trường không qua cấp đại đội. Ba Thịnh mở miệng ra là kên “lập trường”, mạt sát dân tiểu tư sản nên thường hay đụng chạm với ông tiểu tư sản Tư Ân. Tuy có học, có bản lĩnh có kiến thức chung hơn hẳn Ba Thịnh, nhưng Tư Ân vẫn bị lép vế, vì Ba Thịnh có chỗ dựa là ông Tư Khanh. Thịnh về Nam cùng với ông Tư Khanh.

Tôi đến đây rất kịp thời. Tôi là kẻ điều hòa sự xung đột giữa hai người. Tôi cùng cấp bậc với họ, kiến thức chẳng kém họ, riêng về pháo thì tôi từng dạy Ba Thịnh. Ba Thịnh chỉ biết có đơn thuần khoa cao xạ phòng không, pháo mặt đất và khoa huấn luyện, còn thiết kế xa bàn thì chưa từng làm, hoặc không biết một tí gì. Do đó cá hai đều nể tôi. Tôi bắt đầu đi khảo sát lại khu vực suối Nàng Rà và đưa ra một đề án xây dựng trường và trực tiếp điều khiển chương trình này. Tôi chia trường ra làm ba phân khoa: pháo DK, Cối và Phòng không. Về biên chế nhà trường thì gồm các bộ phận: Đoàn Bộ (tức văn phòng), các đội Bảo vệ, Liên lạc, Hậu cần. Bộ y tế có một quân y sĩ. Mỗi khoa tổ chức một bếp ăn riêng, lò đúc theo kiểu Hoàng Cầm ngoài Bắc. Ngoài ra còn một đội xẻ gỗ chuyên môn đi đốn cây về cất nhà cửa và hội trường, một hội trường có đến sáu trăm chỗ ngồi, cái bục cao đắp bằng đất cho giảng viên rất uy nghi.

Nhưng nhìn lại thì trong lưng ông giảng viên không có một thứ học cụ nào ngoài bộ số tổng hợp bỏ trong xắc-cốt mang từ Bắc về đây. Tôi đã dạy khóa đầu tiên vào tháng 5 năm 64. Khóa này gồm có trên ba trăm học viên đến từ các tỉnh miền Trung, miền Tây và miền Đông Nam Bộ. Ngoài ra có cả học viên vào từ khu 6. Chuyện đào tạo sĩ quan pháo binh rất dài dòng và phải đi vào chuyên môn của binh chủng pháo, xin tạm gác ở đây, chờ một dịp khác tôi sẽ kể tiếp.

Một hôm tôi đến nhà Sáu Ngọc. Thấy anh tích cực lo rẩy bái cho nhà trường lại bắt vợ đôi khi phải tiếp nấu cơm nấu nước cho Ban chỉ huy nhà trường, tôi cho anh ta đặc ân là được tự do vừa sản xuất vừa lo cho gia đình, không phải theo giờ giấc của trường. Bé Ngà, con gái của anh chị trên mười tuổi mà không được học hành, tối ngày chứ cặm cụi ngoài rẩy với ba hoặc lui cui trong bếp với má. Tôi đến lần nào cũng viết bài cho bé học và tập cho bé hát nên bé rất mến tôi như bé Rớt. Một hôm trong lúc ngồi uống trà, Sáu Ngọc bỗng nhiên hỏi tôi:

– Thủ trưởng không nhớ tôi à ?

– Anh là ai?

– Hồi đánhxe ở Là Ngà đó… Anh Ba Tô Ký chỉ huy!

– Anh Tám Nghệ mới là chỉ huy trưởng.

– Tôi giữ kho chiến lợi phẩm chớ ai ! Trận đó mình lấy đồ nhiều quá xá.

– Ờ! ờ! tôi nhớ ra rồi! Lúc rút lui bộ đội mình bị nó truy kích bằng moọc-chê. Tôi chui muốn chết. Nó bắn ngay vô căn cứ mình, chị Ba và chị Tư chui vô hầm tôi ngồi chận ngoài miệng bị miễng văng trúng bả vai. Vết thương còn thẹo đây nè ! – Tôi vạch áo cho Sáu Ngọc xem – Nếu không có tôi thì hai chị dính rồi. Anh Ba ảnh khen tôi dữ dội.

– Hồi đó thủ trưởng mới mười lăm tuổi chớ gì.

– Tôi làm mật mả ở văn phòng Trung đoàn.

– Thủ trưởng tới cầm cái giấy của anh Ba bảo tôi xuất kho đường sữa… nhớ không?

– Ổng đang ngủ trưa . Tôi đập ổng dậy bảo ổng ký phiếu. Ổng ký đại. Ra ngoài tôi tha hồ ghi số đường sữa gấp ba, ổng đâu có biết. Đem về lớp uống lớp đổ.

Sáu Ngọc nom sát mặt tôi, hỏi:

– Anh Ba có về trong này chưa?

– Có nhưng đau bao tử, ảnh trở ra ngoài rồi!

Hai người bạn cũ nhìn nhau. Một chốc, Sáu Ngọc nói:

Hồi chín năm đánh Tây vui hơn bây giờ !

– Phải! Hồi đó ở rừng mà đốt đèn măng sông như chợ Tết, đâu có như bây giờ một đóm lửa cũng không dám nhen.

– Sau Là Ngà thủ trưởng đi đâu, tôi không gặp nữa?

– Tôi xuống miền Tây. Còn anh đi đâu?

– Tôi theo bộ đội Hoàng Thọ.

– Vậy nữa?

– Ông nội đó đánh giặc ẩu quá trời, lính chết như rạ. Tôi mà còn sống được đây là phước tướng.

Câu nói của Sáu Ngọc làm tôi nhớ lại cả một khung trời kháng chiến chống Pháp ở chiến khu 7. Hồi đó lực lượng võ trang rất hùng hậu. Tiểu đoàn 303, tục gọi là bộ đội Hoàng Thọ là một trong những đơn vị làm nổi đình nổi đám nhất thời bây giờ.

Nhưng vì ông chỉ huy này rất kỳ cục cho nên chiến công rực rỡ lại hoá ra tro than và cuối cùng bị Lê Duẫn ra lệnh xử tử ở vùng Cạnh Đền thuộc miền Tây Nam Bộ.

Thuở đó tôi rất mê danh tiếng Hoàng Thọ. Có những giai thoại rất đẹp và lạ lùng về nhà quân sự này. Ông ta không bao giờ mặc áo, quanh năm suốt tháng chỉ có chiếc quần ka-ki, lưng đeo Vicker xề xệ , nói chuyện luôn luôn mở đầu bằng hai tiếng “Địt mẹ!”

Trong chiến đấu, Hoàng Thọ luôn luôn đi đầu, không chịu đào hầm chỉ huy. Nổ súng là xung phong trước. Hoàng Thọ thường cho phục binh sát lộ xe, phía sau lưng mình là sông rạch. Lính phải vượt lên lộ diệt địch: Đường rút lui phía trước mặt, không phải sau lưng. Thụt lùi là chết.

Nhiều trận đánh xong, Hoàng Thọ về có một mình, ngồi ăn cơm tỉnh khô . Bà con đến hỏi: “Lính tráng đâu cả ?” Hoàng Thọ đáp: “Còn nằm ngoài trận.” Hỏi chừng nào về? Đáp: “Hết về được rồi.”

Đồn rằng anh Ba Hoàng Thọ có một trận đánh xe tăng rất lý thú . Hoàng Thọ leo lên cây chờ xe nồi đồng chạy ngang buông tay xuống diệt tên lái, đốt xe chớp nhoáng. Một giai thoại khác: Một hôm Hoàng Thọ vô quán hủ tiếu. Ông chủ quán không biết Hoàng Thọ nên vô tình chê Hoàng Thọ là lưu manh chẳng đánh đá gì, toàn là nghênh ngang phá làng phá xóm. Hoàng Thọ không phản ứng. Một hôm anh đem quân phục kích ngay trước cửa quán. Rồi bắt trói chủ quán, bỏ giữa đường. Đoàn xe nhà binh chạy tới thấy chướng ngại vật bèn dừng lại, bị bộ đội quét sạch. Dọn dẹp trận địa xong, Hoàng Thọ tới cởi trói cho chủ quán và hỏi: “Hoàng Thọ đánh đá coi có được không?” Chủ quán thụp lạy, dập đầu như chày giả tỏi.

Tính anh ngang ngược, bất phục tùng cuốc xuổng, coi cấp trên như pha, lại có tính khuấy phá phụ nữ. Một hôm ban chấp hành phụ nữ tỉnh Thủ Dầu Một họp, Hoàng Thọ mặc xì líp đeo súng ngắn ngất ngưởng đi vào. Mấy bà Phụ Nữ cứu Quốc hoảng hồn chạy tán loạn. Ngoài ra, Hoàng Thọ lại đặc biệt ghét đảng phái, không riêng gì đảng Cộng Sản. Để chấn chỉnh lại bộ đội và con người anh, ở trên bèn đưa xuống đơn vị một phụ nữ trẻ đẹp tên Lan để làm chính trị viên. Hoàng Thọ yêu người phụ nữ này và lấy làm vợ. Nhờ vậy tâm tính của anh có cải thiện ít nhiều, đặc biệt anh không còn trêu chọc phụ nữ kiểu trên nữa. Nhưng rủi thay, trong một buổi chiều đẹp, Hoàng Thọ cùng vợ với bác sĩ Du chèo xuống chơi trên sông Vàm Cỏ Đông thì bị tàu phục kích. Hai người đàn ông nhảy xuống sông còn chị Lan bị trúng đạn chết.

Hoàng Thọ nhất định trả thù. Chôn cất vợ xong, anh ra khúc sông thù hận ngăn tất cả xuồng ghe lại và bắt mỗi chiếc đều phải treo cờ đỏ sao vàng. Riêng anh cho lính kéo một lá cờ lớn trên ngọn cây để nhử máy bay. Vài giờ sau, một chiếc L19 đến cắm đầu xuống ria như mưa và bị bộ đội dùng súng máy bắn rớt. Thế là Hoàng Thọ trả được thù.

Hoàng Thọ chỉ nghe lệnh một người: đó là Trung tướng Nguyễn Bình. Khi Nguyễn Bình được gọi về Bắc để làm “Thứ trưởng Quốc phòng” (?) thì ở trong Nam Hoàng Thọ cũng mất chỗ tựa. Chính Lê Duẫn đã hạ lịnh bắt Hoàng Thọ, nhưng không phải dễ ! Người ta đã giã mạo một lá thơ của Nguyễn Bình mời Hoàng Thọ đến họp…

Sáu Ngọc nói:

– Ông ấy là một người không hề sợ giặc, nhưng ở trên không chịu được cái tính nghênh ngang của ổng. Sau khi ổng bị “mời đi hội nghị”, bộ đội của ổng bị chia ra tứ tán, lớp đi theo kháng chiến, lớp về làm ăn, lớp lại ra thành.

Tôi nói:

– Ông ấy gan thật. Nhưng đánh giặc không phải chỉ lấy gan mà thắng được ! Nhất là tình hình này thì cái gan của ông Thọ phải teo mất. Không có thứ gì dùng trong thời chống Pháp mà còn đem ra xài được bây giờ với Mỹ cả.

Sáu Ngọc có vẻ xúc động khi nhớ lại những ngày xưa nên ngồi lặng thinh, chỉ thở dài. Một chập:

– Thủ trưởng không có gặp lại ổng lần nào à?

– …A …a… không!

Có chớ sao không! Nhưng tôi không tiện nói ra.

Năm 1952 tôi học trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn ở miền Tây. Trong một buổi cải thiện sinh hoạt, tôi đi vô rừng hái đọt choại về luộc ăn với mắm ruốc, bất ngờ tôi gặp lại nhà quân sự bị giam lỏng ở đây. Thoạt đầu tôi không biết là ai, nhưng nhờ giọng nói toàn dấu nặng nên tôi nhận ra. Tôi ngưng việc hái rau để hỏi thăm ông. Chính tôi không ngờ ông ra nông nổi này. Má cóp thảm hại, lưng còng và toàn thân ghẻ lở tay chân khẳng khiu đầy sẹo. Một tên tù khổ sai trong kháng chiến. Tôi rút gói thuốc rê mời ông hút. ông vừa nhận thuốc vừa lằm bằm:

– Địt mẹ thằng Duẫn nó lừa ông ! Hừ? để coi nó làm gì được ông? Ông chờ anh Ba về tới ngoài Bắc thì nó biết tay ông !

(Anh Ba Nguyễn Bình! Tội nghiệp ông không biết là Nguyễn Bình bị gọi về Bắc là một âm mưu để đưa Dương Quốc Chính và Lê Đức Thọ vào nắm toàn quyền sinh sát ở Nam Bộ và Nguyễn Bình đẵ bị phục kích trên đường ra Bắc.)

Ít lâu sau, tôi được một người quen cho biết, Hoàng Thọ bị xử tử.

Những chuyện đẹp trong kháng chiến ít khi tôi gợi lại vì mỗi lần gợi thấy buồn. Người xưa cảnh cũ hầu như tan tác hết.

Tôi định uống trà xong thì trở về trường, nhưng vì Sáu Ngọc nhắc chuyện xưa và được biết anh là lính của Hoàng Thọ trong lòng tôi có chút thương cảm ai hoài.

Tôi mắc võng nằm toòng teng và thả hồn trôi về dĩ vãng theo nhịp lắc lư. Cái chòi nhỏ bé của anh như cũng đong đưa theo tâm trí tôi. Tôi ôn lại những tên làng, tên sông, tên rạch, tên chợ búa và những trận đánh khắp hai miền Đông Tây trong kháng chiến.

Bỗng Ba Tố đến làm tôi sực tỉnh. Bây giờ anh là Trưởng ban Quản Trị nhà trường. Anh nói:

– Anh Tư đến thăm nhà trường mình.

Tôi ngồi dậy:

– Đến chưa?

– Đến rồi! Đang nói chuyện với học sinh.

– Vậy để tôi về mới được!

Ba Tố xua tay:

– Đã có Ban chỉ huy đón tiếp rồi, thầy khỏi phải lo.

– Sao ổng không báo trước gì hết trọi.

Tôi sực nhớ đây là ở rừng, không phải ở Hà Nội mà cấp trên đến phải báo trước. Tôi bèn nói trớ.

– Là vì hôm nay tôi giảng bài “Tác xạ pháo 81 trong hoàn cảnh du kích”.

Nhưng trong bụng tôi lại đang mang một bầu tâm sự dùm cho “cậu học trò già”. Ông đến đây chắc là để gặp tôi hỏi chuyện riêng. Tôi về Nam sau anh hai năm. Chuyện ngoài Bắc tôi biết nhiều… Ba Tố nói.

– Ảnh ra đây bây giờ. Ảnh có vẻ nôn nóng muốn gặp thầy

Xế chiều anh Tư ra tới. Mấy năm xa cách nay gặp lại trông anh già đi nhiều, tóc bạc hầu hết. Anh đưa tay cho tôi bắt:

– Thầy vẫn khỏe chứ? Trông vẫn trẻ như xưa.

– Anh đừng kêu tôi như thế nữa anh Tư.

– Thì đã sao nào? Không thầy đố mày làm nên! Tôi chỉ huy chú về việc khác nhưng về pháo binh chú là thầy của tôi.

Hai người cùng vui vẻ. Ba Thịnh và Tư Ân đi kèm với anh. Ba Thịnh nói:

– Anh Tư đã cho tụi tôi một tham mưu trường đáng giá.

– Tôi biết trường này cần gì mà . Đất I-4 là đất xử dụng pháo thích hợp nhất. Kỳ sau chiêu sinh nên cho I-4 đặc biệt gởi học sinh gấp đôi.

Ba Tố lễ phép thưa:

– Mời anh Tư và ban chỉ huy nhà trường ở đây dùng cơm chiều, tối nay tôi cho học sinh đi săn kiếm thịt rừng đãi anh Tư một bữa. Anh Tư ở lại dưới này, nghỉ cho khỏe. Về trên đó không khí xấu hơn. Ở đây có suối Nàng Rà nước rất lành nấu trà uống giống như nước giếng ở Ái Mỗ vậy.

Hai tiếng “Ái Mỗ” xa xôi tận ngoài miền Bắc làm anh hơi nhíu mày.

– Bộ chú còn nhớ Ái Mỗ sao?

– Dạ nhớ chớ ở đó có cái cầu bắc ngang sông gì đó rất nên thơ.

Tư Khanh lặng thinh, ra chiều suy nghĩ. Vầng trán anh răn lên. Nhìn anh tôi mới hiểu câu thơ xưa “Sương như búa bổ mòn gốc liễu !” Ở rừng không bịnh hoạn cũng hao mòn sức khỏe. Anh đã ngoài năm mươi rồi. Kháng chiến hai mùa gian lao vất vả không mấy khi được nghỉ ngơi.

Ba Thịnh và Tư Ân đứng ngồi lựng khựng không dám đi đâu sau khi uống trà. Sợ ông chánh ủy phán hỏi điều gì, tôi trả lời bằng sự thật có khi mất uy tín ban chỉ huy chăng? Nhưng tôi biết chuyện anh muốn hỏi không phải là chuyện nhà trường. Ai đi xa gia đình mà không có chút ưu tư.

Ông vào đây, cũng như tôi, có cho người móc. Gia đình ông ở Hốc Môn. Khi ông đi tập kết không mang theo vì tưởng hai năm sẽ về. Con gái lớn của ông ở lại với mẹ rồi lấy một cán bộ cao cấp trong bộ Cải Cách Điền Địa của chính phủ Ngô Đình Diệm. Cha một đường, con một đường, đối kháng nhau. Vợ ông ra khu nhưng vì căn cứ quá bí mật, cảnh vệ không cho vào, nên không gặp được. Ông biết nhưng không dám qua mặt cách mạng đành chịu cảnh biệt ly trong khi mặt cách mặt chỉ hơn gang tấc. Éo le hơn cả vợ chồng Bá Lý Hề thuở xưa. Nhưng vợ chồng Bá Lý Hề thì sum họp sống hạnh phúc với nhau tới chết, còn ở đây dưới thời đại của Mặt trận thì vợ chồng Tư Khanh phân ly vĩnh viễn.

Vợ của nhiều ông kẹ đi tập kết bỏ vợ ở lại Miền Nam vì tin đảng. Trong khi chồng ăn khoai sắn làm cách mạng vô sản miền Bắc thì miền Nam các bà làm “cách mạng tư sản” kiếm tiền bỏ túi no phè chờ chồng về R, đem vô tiếp tế. Kể ra cũng đúng đường lối liên hiệp lắm. Trong số có vợ chồng Thượng tá Bùi Thanh Khiết, Tiến sĩ triết học ở Nga về Nam làm cục phó cục chính trị quân giải phóng (dân Nam Kỳ chuyên môn ôm chân ghế phó cối). Bà Khiết chuyên môn thầu cà phê ở Sàigòn. Khi vô khu, đem cho chồng vài trăm ngàn làm rạng rỡ cho cục chính trị… Cũng như ông Tám Quang, bà mẹ vô thăm có đem theo người đày tớ quạt hầu và cho con tạm tám chục ngàn xài đỡ, vì chưa kịp thu lúa ruộng vậy mà !

Bà vợ Tư Khanh không gặp chồng. Cha không nhắn nhe được đứa con gái đi sai lập trường của cha. Nhưng đó là chuyện may mắn cho cả hai bên, vì ông bố cũng không mấy gì đứng đắn trong vấn đề tình ái. Để tiện xổ bầu tâm sự cho thượng cấp, tôi nháy khéo mấy cái, Ba Thịnh Tư Ân hiểu ý lặn mất. Còn một mình tôi với ông học trò già. Không đợi ông hỏi, tôi nói trước:

– Tôi biết về trong này thế nào cũng gặp anh, nên trước khi đi tôi tranh thủ thời gian đến thăm gia đình cô Trang.

– Chú thấy…

– Cô sinh một đứa con trai. Khi tôi đến đã được hai tháng.

Tôi móc bóp lấy ra một tấm hình đưa cho ông.

– Coi giống anh không?

Tư Khanh cầm tấm hình giơ lên nheo nheo, nước mắt chảy ròng ròng:

– Tôi có thấy đường thấy sá gì đâu!

Ông gọi cậu cần vụ đem xắc-cốt lên, lấy kính mang vào rồi nhướng lên nhướng xuống. Hồi lâu ông nói:

– Đây là thằng con trai út của tôi?

Ông để tấm ảnh xuống bàn, lột kính.

– Tôi đi làm cách mạng đã hai mươi năm, từ thanh xuân chí ư bạch phát, chẳng lẽ có một chút lỗi lầm này mà cách mạng không tha thứ cho tôi sao?

Tôi thấy thương ông già thực sự. Ra Bắc cỡ với ông người ta có vợ con đùm đề . Chiều thứ bảy ai cũng phóng về Hà Nội hú hí với má bầy trẻ. Cái gió bấc mưa phùn Hà Nội đối với dân Nam Kỳ quả vô cùng ác nghiệt. Ông tướng Tô Ký có thuê một cái phòng khá hơn ổ chuột một chút cho bà vợ và mấy đứa con chui rút. Riêng ông Tư Khanh thì ở lại trại hoặc đến căng-tin cô Trang uống rượu với lính rồi về nhà vỗ bụng kêu trời .

Tôi an ủi ông:

– Đâu có chuyện gì lớn lao đâu anh Tư. Anh là người mở đường về Nam trước nhất, chính anh là người tổ chức ra B1, B2, B3 để làm cơ sở cho R bây giờ. Sá gì một chuyện nhỏ mọn ấy? Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng dếnh một bà đáng tuổi con đó có ai bắt tội?

– Ờ chú nói vậy tôi nghe cũng nhẹ lòng! Nhưng mà chú thấy đó, thằng còng làm thằng ngay ăn!

Ông móc trong xắc-cốt ra một chai rượu vàng ánh và một ly con, rót cho tôi một ly đầy.

– Uống một ly cho ấm bụng, tôi nhờ loại rượu sâm ngâm gạc nai vàng này lắm đó thầy Lôi.

Đó là lần cuối cùng ông gọi tôi bằng thầy. Theo lời yêu cầu của tôi.

Ba vị kia trở lại. Cơm chiều được chị Sáu Ngọc dọn lên trên bàn. Không biết anh quơ đâu được cái bàn tròn và bốn chiếc ghế bóng láng này, ắt hẳn của một nhà giàu Miên nào đó.

Ông vừa cầm đũa vừa hỏi tôi:

– Chú có tính xây tổ ấm ở đâu chưa?

– Dạ , tính gì được mà tính anh Tư. Tôi như con chim rày đây mai đó !

– Ừ phải. Anh em Nam Bộ mình ra Bắc không lập gia đình được. Phải chi đứa con gái lớn tôi chưa có chồng thì tôi kêu nó ra…

Ông ngưng lại rồi nói tránh đi

– Vậy hồi ở Hà Nội tôi nghe anh Tô Ký nói như chú sắp làm rể anh Thanh Sơn?

Tôi nói trớ đi:

– Dạ cũng có tính, nhưng kế đó lại được lệnh đi B. Mọi sự đều gác lại. Có muốn làm gì cũng không ổn cả. Lần cuối cùng khi tôi đến nhà người yêu để từ giã, bất ngờ tôi gặp anh Tô Ký và anh Sáu Giàu ở đó.

– Ừ mấy ảnh đến nhà anh Thanh Sơn luôn.

– Dạ , tôi nghe mấy ảnh nói chuyện bất mãn dữ quá anh Tư.

– Nhỏ bất mãn nhỏ, lớn bất mãn lớn chú ơi!

– Tôi đem trà ra cho mấy ảnh uống, tôi nghe chú Sáu Giàu nói: “Xã hội này là xã hội gì chớ không phái xã hội vô sản ! ” Còn ông bố vợ hụt tôi bảo: “Anh đừng nóng để về Nam đã rồi sẽ tính ! “

Tư Khanh nói:

– Anh Sáu Giàu được đồng chí Khơ-rút-sớp mời sang Liên Xô nghỉ mát nhưng Trung ương không cho đi. Ảnh lên xin gặp Bác. Bác cho ngồi ngoài hè chơi ba ngày mới tiếp.

– Có chuyện đó nữa hả anh Tư?

– Có chớ. Bác bảo: “Chú muốn đi Liên Xô thì đi, nhưng vợ con phải để lại đây. Có chịu không? Chịu thì tôi ký giấy cho chú đi liền bây giờ…” Lúc đó có phong trào xét lại. Thượng tá Võ Văn Doãn được đi học triết học bên Mạc Tư Khoa, học xong rồi nín luôn không về , lại còn tuyên bố thành lập đảng Cộng Sản Việt Nam bên đó nữa.

– Ghê dữ vậy à anh?

– Ghê chớ sao không ghê ? Anh Sáu Giàu muốn đi Liên Xô nhưng rốt cuộc ‘không được phép đi. Mà có được phép cũng không dám đi. Những chuyện như vậy tôi biết hết, nhưng về tới đây mới dám nói ra.

– Còn việc anh Tô Ký đi nghỉ mát ở bển cũng vui lắm hả anh Tư?

– Vui gì mà vui ! Ảnh với chị Mười Thập được đi “nghỉ nóng” chớ không phải đi nghỉ mát. Qua tới bển rồi, ông đòi về, bà cũng không muốn ở. Cho đi xem nhà máy cũng không ham. Anh Ba về lên nhà gặp tôi kêu tôi vô khui chai rượu Vodka thưởng cho tôi vài ly và hỏi: “Rượu xã hội chủ nghĩa đó có ngon không?” Tôi nói đại, không sợ mất lập trường: “Thua rượu đế nhà mình!” ảnh còn rỉ tai tôi: “ở bên đó nhiều bộ phận trong nhà máy tôi được tham quan có in chữ Made in USA hoặc in Japan anh ạ ! Thế là cái nghĩa lý gì?” Tôi đâu có biết cái nghĩa lý gì?

Cơm nước xong tôi về trường cùng với Ba Thịnh và Tư Ân, để anh nghỉ ngơi trong nhà Sáu Ngọc.

Vừa đi ngang qua khoa Cối thì gặp thằng Sâm. Sâm làm trợ lý cho khoa Cối. Hắn là em vợ của Dương Cự Tẩm chánh ủy I/2 (Dương Quốc Sản về làm Tư lệnh đã bị trực thăng bắn chết ở Đồng Tháp Mười) nên được nâng đỡ khá mạnh. Sâm đóng lon trung úy và đi theo đại tá Nhã Tư lệnh Pháo binh ở Mặt trận Bình Giả . Trận này tập trung cả ngàn dân công trong rừng. Gần 1/2 là nữ dân công. Sâm còn trẻ, mặt mày sáng sủa lại mang K54 xề xệ bên hông. Nhờ đó cuỗm được một cô bé . Hai đứa đem nhau vô rừng hát Tình Ca trong một ổ lá tự tạo chẳng ngờ bị bắt quả tang lộ liễu nên không chạy án được. Đại tá Nhã đang điên đầu vì chiến thuật trực thăng của Mỹ, lại gặp vụ dâm ô này, nên nổi nóng hạ một cấp và gởi chàng trung úy về cho ông chánh ủy Tư Khanh. Ông chánh ủy khai trừ khỏi đảng luôn.

Gặp tôi, Sâm thủ thỉ:

– Thủ trướng gặp chánh ủy “U” mình có chuyện gì vui không?

– Chuyện gì mà vui?

– Chuyện vui ngoài Hà Nội ấy mà !

Tôi biết gã Trung úy (nay còn một sao một gạc) móc ông Chánh ủy, nên nói lãng ra, nhưng hắn lại moi sâu:

– Ở trên mà có chuyện nọ chuyện kia thì tổ chức bao che kín mít, còn mình lỡ một chút thì mấy ông xé to ra.

– Chuyện gì mà tổ chức bịt?

Tôi hỏi rấn tới thử xem hắn có biết thật hay không. Hắn nói gọn hơ:

– Chuyện Ái Mổ, toàn thị xã Sơn Tây đều biết mà thủ trưởng!

Thấy không thể che cho được cho đồng chí chánh ủy của mình, tôi bèn đấu dịu:

– Đó là chuyện đã qua, mình nên gác lại.

Thằng Sâm còn ức nên nói thêm:

– Chuyện đã qua nhưng giỡ lại thì y như mới chớ thủ trưởng.

Tôi cười hề hề:

– Chuyện đời nó là như vậy chú em ơi. Chú cượng lý thì càng bị nặng!

Thằng Sâm không dám cãi nữa. Nhưng tôi đoán nó không thỏa mãn về bản kỷ luật dành cho nó. Thiệt ra cũng không đến nỗi nặng như vậy, nhưng vì ông đại tá Nhã lúc đó hơi quạu với Mỹ nên “trăm dâu mới đổ đầu” thằng nhỏ.

Tôi an ủi nó:

– Tao đang là Phó bí thư đảng ủy nhà trường. Tao hiểu mày lắm Sâm ạ. Mày cứ tin tao đi. Một ngày nào tao sẽ đề nghị đảng kết nạp mày trở lại.

Nghe tôi hứa như thế, thằng Sâm có vẻ hài lòng nên không trì chiết nữa.

(Quả tình sau đó vài tháng tôi đã kết nạp lại nó và đề nghị phục cấp trung úy lại cho nó. Nó cảm ơn tôi vô cùng.)

o O o

Về trường làm việc đến chiều thì tôi trở lại nhà Sáu Ngọc để chuyện vãn với anh Tư. Trông nét mặt âu sầu của anh tôi đoán anh có nhiều tâm sự riêng. Ngoài tôi ra, ở đây anh không thể thố lộ với ai.

Dọc đường tôi tạt vào xem cái rẫy của Sáu Ngọc. Nói là rẫy nhưng sự thực thì đó chỉ là vài chục dòng khoai khô đén vì không đủ nước tưới, vài liếp bí đao trái èo uột và vài chục cây cà tomate gầy còm lá quăn queo như đầu tóc mấy bà vợ cán bộ ở thành vô thăm chồng trong khu. Ngoài ra còn mấy liếp thuốc lá .

Sáu Ngọc đang hái lá thuốc xếp vào gùi. Thấy tôi đến, anh giải thích:

– Thuốc này chỉ để dành cho anh Tư.

– Bộ thuốc ngon lắm à?

– Không biết ngon cỡ nào, nhưng anh Ba Thịnh dặn tôi hễ xắc đem phơi khô xong thì dồn vô tỉn nước mắm. Tỉn nước mắm biển mình ăn hết nước cũng phơi cho khô mới dồn thuốc vào Anh Tư mình thích hút loại thuốc đó . Ảnh bảo nó có mùi thuốc Tây và đượm thuốc Gò.

Tôi không hiểu cái duy vật biện chứng gì lạ vậy nhưng tôi tin lời Sáu Ngọc và lấy làm phục anh vì đã biết tính của thủ trưởng mình.

Chiều hôm đó đội săn thú của nhà trưòng xuất phát rất rầm rộ hứa hẹn một bữa ăn tươi thả dàn cho ban chỉ huy và ông chánh ủy Pháo binh.

Tôi ngồi viết bài cho bé Ngà học, còn Sáu Ngọc thì chạy xuồng ra xóm giữa mua nước đá la-ve.

Việc này cũng do trường tổ chức. Nhưng bữa nay có anh Tư đến phải tìm cho được mồi ngon. Họ định bụng sẽ tìm cho được một chú nài tơ để lấy cái lộc nhung ngâm rượu cho anh Tư uống phục sức.

Đêm đó săn được thật nhiều: mễn, cầy, nai. Học sinh phải gánh về cho nhà bếp lột đa treo chung quanh bếp như sấy bằng hơi ấm của lửa nấu cơm.

Đêm sau lại tiếp tục săn. Đến nửa đêm thì tôi nghe tiếng đập cửa. Tôi ngồi bật dậy xẹt đèn pin rọi ra cửa. Ba Tố đứng tần ngần trong khung cửa, mặt mày té lét. Tôi cho đó là vì ánh đèn pin phản chiếu. Tôi hỏi:

– Được nai tơ không?

Ba Tố không đáp. Hai người khiêng vào nhà một cái võng. Tôi kêu lên:

– Nai gì khiêng bằng võng?

Ba Tố như không nghe, nói thinh không:

– Thằng Liêm chột bụng rẽ vào một đường mòn ngồi xuống gốc cây. Thằng Huỳnh Châm đi sau đội đèn đi tới rọi thẳng vào mặt nó, thấy cặp mắt xanh lè tưởng là con mễn, để cho một phát ngay tam tinh. Thằng Liêm ngả ra chết tươi không kịp nói một tiếng.

Ba Tố vừa nói vừa giỡ tấm vải dù cho tôi xem. Vết thương ngỏ ngay giữa trán chỉ bằng mút đũa. Thằng bé quê ở Bến Tre, học sinh miền Nam ra tỉnh vừa học xong trường đào tạo sĩ quan, mang cấu bậc Thiếu úy… không biết con ai?

Chương 9

Đi dạy môn gián xa ở nền đồn Bổ Túc về, tôi thấy cả nhà lạnh tanh, không có mống nào ở trại. Tôi nghĩ là Bùi Khanh tổ trưởng huấn luyệnvà bầy lóc cóc keng đi xuống dưới văn phòng liên hoan hay thả bộ đến mấy chỗ có phụ nữ để rửa mắt.

Trường pháo binh cất trong rừng rất bề thế vì đây là nơi tập trung học sinh các tỉnh Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Họ về đây chịu huấn luyện cách xử dụng pháo và DKZ phần lớn là của Trung Quốc cugn cấp. Tôi là Tổng giảng huấn tức là coi sóc cả ba chương trình huấn luyện cho toàn trường, đồng thời là Tham mưu trưởng của trường. Việc ăn ở thì chia thành khu vực. Mỗi khu vực giành riêng cho một phân khoa, các phân khoa ở cách xa nhau vài cây số. Nhưng có một điều rắc rối triền miên là lẫn trong các cán bộ huấn luyện có những bà vợ của họ. Cán bộ huấn luyện thì toàn Mùa Thu hoặc người Bắc hoặc người Nam chứ không có dân “Mùa Đông”.

Người Bắc thì không mang chị răng đen chích khăn mỏ quạ theo được không nói làm chi, còn người Nam thì hễ ông nào có vợ cũng đều móc lên. Sau một thời gian đòi đủ món nợ tình các bà mang quả bầu về quê nhưng có những cặp thì lại đeo dính nhau như sam. Hai vợ chồng xa nhau “hai năm” (!!) đã thất sác hồn kinh bây giờ không chịu rời nhau nửa bước Họ đốn cây chầm lá lợp nhà ở lẫn trong cơ quan. Như Năm Chí, Sáu Kiệt, Ba Tâm… Chị Ba Tâm có nghề y tá nên được nhà trường cho làm ở phòng y tế nhà trường, chị Năm Chí thì lại dắt cả con gái là bé Hà mười hai tuổi lên thăm bố rồi không chịu về. Riêng chị Sáu Việt thì ốm yếu, ngực lép lại không có con cái, ở với chồng đã lâu mà mới có thai. Ba Thịnh , Hiệu trưởng nhà trường nghi là Phụ Nữ Cộng Hòa của Trần Lệ Xuân (vì nghe đồn rằng hễ ai vô Phụ Nữ Cộng Hòa thì bị chích cho không sanh đẻ được). Tư Ân ,Phó Hiệu trưởng cũng có vợ lên thăm nên thông cảm với những người cùng hoàn cảnh. Ông ta bị Ba Thịnh xúi giục đuổi mấy bà về quê nhưng ông lại lừng khừng không cương quyết. Ông không phản đối ra mặt, chỉ nói lén sau lưng: “Nếu đồng chí ấy có vợ ở đây thì sẽ có thái độ khác ngay.”

Ngoài các bà này ra còn nhiều cô thiếu nữ ở đồng bằng được đưa lên đây để làm cách mạng, công tác của các cô là tải gạo, nấu cơm và làm những việc lặt vặt khác. Nhiều cô thấy không có tương lai gì nên đòi về, thì nhà trường dọa:

– Các cô bất mãn sẽ bị đưa ra Bình Long Phước Long tải đạn hoặc ra Mã Đà sốt rét sình bụng cho mà đòi về !

Thế là các cô đều im lặng, tự nguyện phục vụ cách mạng mút mùa ! Ở đâu có phụ nữ là có vấn đề . Ông trời sanh ra loài người có đực có cái cho nên nhân loại đâu đâu cũng nảy nở và tồn tại đến ngày nay, không loại trừ cái trường pháo binh này.

Tôi đi xuống suối tắm rửa xong định trở lên ăn cơm rồi đi “dạo Bờ Hồ” một chập trước khi ngủ. Nhưng vừa vào nhà bếp thì gặp cô Tiến đang lui cui ở đó. Tiến là tên cách mạng đặt cho để luôn luôn nhắc nhở cô em luôn luôn cầu tiến còn tên thật là Hường. Sau một thời gian cải.tên, Tiến thấy cái tên cách mạng không hay gì hơn tên cha mẹ đặt nên muốn dùng trở lại tên cũ, nhưng cơ quan bảo đi vào cách mạng không ai dùng những tên lạc hậu như Hường, Hoa, Cúc, Mai.v..v…. Tiến thấy khó bề thay đổi, vì lý lịch đã ghi như vậy rồi. Mặc dù Tiến biết là có một lô con các ông lớn ở Sài gòn mới vô ở trong cơ quan mang tên còn “lạc hậu” hơn tên Hường nữa, ví dụ như Ánh Tuyết, Trúc Mai v..v… nhưng ban tổ chức đâu có dám động tới. Tiến được giao cho công tác “nuôi quân” một công tác cách mạng hàng đầu nói nôm na ra là nấu cơm. Tiến không phấn khởi nhưng ở trên hứa sẽ cho cô đi học y tá sau một thời gian thử thách. Thế là Tiến cố gắng nấu cơm để được đi học y tá.

Nàng hỏi tôi.

– Anh chưa ăn cơm à?

– Chưa !

– Sao trễ vậy?

Tôi cười đáp.

– Tôi luôn luôn trễ mà ! Thức dậy trễ, tập thể dục trễ, trễ trong mọi việc khác nữa.

Tiến biết ý tôi nên bắt mối ngay:

– Anh đâu có trễ.

Tiến nhìn tôi với vẻ mặt âu sầu rồi dọn cơm cho tôi ăn. Cơm nguội và mấy hột đậu phộng chấy mỡ. Tiến bắt chảo lên rán lại:

– Anh ăn đi. Bữa nay ăn cực. Chờ tối nay ban cải thiện bắn mễn về sẽ có chất tươi.

Ngồi nhìn tôi ăn một lát rồi Tiến hỏi:

– Anh ở Củ Chi khỏe quá sao không ở đó luôn, về chi trên này?

– Do yêu cầu công tác mình đâu có quyết định được em.

-Ở dưới đó thiếu gì nữ anh hùng dũng sĩ, tệ lắm cũng thanh nữ xung phong, sao anh không lập gia đình. Về trên này miết rồi làm sao?

Tôi biết Tiến có một nỗi niềm riêng về hôn nhân giữa nàng và một thượng úy già trong cơ quan. Tiến muốn vùng vẫy cho đứt ra nhưng lỡ hứa trước ban tổ chức rồi, không làm sao được. Tiến lại đặc biệt có cảm tình với tôi. Khổ thế. Có thể nói ở cái trường gần cả ngàn con người ta và trên hai chục thanh nữ phục vụ này, tôi là anh cán mùa Thu trẻ nhất lại có chức vụ cao nhất. Con gái trong Nam mơ Mùa Thu dữ lắm nhưng mùa Thu trẻ cơ, còn loại mùa Thu hai thứ tóc thì vài cô hốp tốp quơ rồi ân hận, nên bây giờ loại mùa Thu này dù còn son giá cũng bị các cô nghi ngờ “con vòng con cởi” (là nói theo chăn trâu, tức là có hai vợ, nên không còn hấp dẫn nữa mặc dù mấy sao mấy gạt cũng không ăn thua). Tiến quơ nhằm ông già mùa Thu. Thấy trong đám học sinh và cán bộ có nhiều ông trẻ, Tiến đau ngầm. Ban đầu thì nói úp mỡ, nhưng bây giờ thì không giấu giếm nữa.

Tiến thở dài:

– Em dại quá anh à !

Tôi biết Tiến muốn thổ lộ tâm sự nên ngồi im, cố lua cho hết mớ cơm để đi tránh, nhưng cô bé đã nói ngay như tôi đã đồng tình:

– Em mới có hứa thôi! Đâu ăn thua gì.

– Nhưng em hứa trước mặt ông Năm Kiên là ban tổ chức .

– Nhưng chưa cưới hỏi mà ?

– Khó lắm em ạ !

– Anh ở trong hiệu ủy, anh không giúp được em sao?

– Anh không lo về các vụ nội bộ.

Tiến hơi hờn nhưng cố bắt tôi phải nghe. Nàng nói tiếp:

– Cá ngon người ta chặn bắt ở Mã Đà hết rồi, sao còn một con lọt về đây cho em khổ.

Tôi biết là nàng nói dân mùa Thu về tới Mã Đà là bị các cô ở các cơ quan vùng đó “bắt” hết, tại sao tôi lại lọt về đây? Nàng không biết chính tôi cũng bị “bắt” ở vùng Tam Biên rồi. Tôi đã yêu Thu Hà người cùng quê, quen nhau từ thuở nhỏ. Gặp và yêu nhau như tia sét ngang trời! Tôi nói ngay với giọng đạo đức thứ thiệt:

– Đi làm cách mạng không phải để kiếm vợ kiếm chồng em ạ. Nhưng nếu có gặp nhau rồi yêu nhau là để phục vụ cách mạng chớ không phải để hưởng hạnh phúc cá nhân. Em hứa hôn với đồng chí Quân là để cùng nhau tiến trên đường cách mạng. Em biết đó, Hồ chủ tịch có bao giờ lập gia đình đâu! Đồng chí Quân là người tốt, tư tưởng đạo đức đều cao, đến tuổi đó chưa lập gia đình mà không có vấn đề lem nhem…

– Em biết rồi, nhưng nay mai em với “bác” về quê thì em nói làm sao?

– Thì nói là chồng chớ nói làm sao?

– Rồi “ổng” gọi ba má em bằng gì?

– Thì gọi bằng ba má chớ bằng gì?

– Ổng coi còn đứng tuổi hơn ba em!

– Nhưng ba em đâu có thể gắn lon thượng úy vinh quang như ổng.

– Lấy chồng là để lấy chồng chớ ăn thua gì ba cái lon gáo.

– Ý, em đừng nói vậy, trong cách mạng người ta chỉ đánh giá con người bằng lon gáo!

– Xí , bảo như anh vậy thì thôi em không nói nữa!

– Thì anh còn biết nói gì hở em?

– Anh bảo em cứ phải giữ lời hứa à? Em đâu có muốn hứa nhưng tại bác Năm Kiên cứ hội ý với em hoài. Bác rún ép đủ kiểu nên em mới hứa. Em nói thật, nếu cứ thế này, em xin đổi công tác sang cơ quan khác. Chị Huê cũng tính như em.

– Thiệt à?

– Thiệt chớ sao không? Chị nói ông Tỷ cũng đầu bạc hết trơn rồi. Đi gần người ta tưởng tía chỉ !

– Tụi bây ngu cả đám. Ai biểu hấp tấp bây giờ sụt cà lùi không được?

– Sao không? Hứa thì hứa chứ đâu có gì. Cấp trên cũng hứa nọ kia rồi không làm gì hết, có ai bắt bẻ cấp trên không?

– Con nhỏ Huê ở Củ Chi hả?

– Dạ ở An Nhơn Tây.

– Bộ hết chỗ rồi nên chui lên rừng. Sao không ở dưới đồng bằng công tác có phải dễ thở không? Vì ham đón gió mùa Thu nên bây giờ mới mắc gió cả đám. Thôi được rồi, để đó bữa nào họp đảng ủy, anh sẽ nêu vấn đề coi họ nói sao. Không khéo họ bảo anh ganh muốn dành giật tụi em cho coi.

Tiến càng nói giọng hờn tủi.

– Anh đâu có thèm tụi nấu bếp như em và chị Huê. Anh có cô Lan y tá bên K71 mà, em biết.

– Nói bậy cho anh bị dư luận đi! Cô Lan chỉ chích cho anh có một mũi kí-ninh mà bị áp-xe đi cà xệ cả tháng chớ có gì mà bây đồn?

– Xí em biết hết trơn mà .

– Biết gì?

– Biết ông Minh y sĩ theo sát chỉ cả năm.

– Thì để cho nó theo chứ ăn thua gì anh?

– Thằng chả lùn, đứng thấp hơn cô ta, cổ đời nào chịu. Cổ là dân Sàigòn. còn ông Minh là y sĩ nhảy rào chớ đâu có bằng cấp gì, cổ dễ gì ưng loại người như vậy. Em nghe ở bên đó nói sau vụ cô ta chích anh bị áp-xe, ông y sĩ nẹt cổ dữ lắm. Làm y như là trả thù.

Tôi đã ngốn hết mớ cơm sắp đứng dậy đi, thì Tiến lại nói:

– Anh có thơ.

– Thơ của ai?

– Em không bi.. iết! Em cất dùm anh!

– Sao không nói?

– Bộ quýnh lên rồi hả ? Ở đâu còn có đó, mất đâu mà sợ dữ vậy! Anh ngồi đó đi, em phản ảnh cho anh thêm vài vấn đề.

– Gì nữa đó nhỏ ?

– Em thấy công tác nuôi quân này khổ quá hà . Em không làm nổi nữa ? Mỗi ngày nấu ba bữa cơm cho trên năm chục người ăn. Em đã nấu gần một năm rồi.

Tôi nói một cách nghiêm trang.

– Cách mạng cần đâu mình đến đó, đâu khó có thanh niên?!Ai cũng đòi lựa chọn công tác theo ý thích thì không thể tiến hành cách mạng được!

Nói xong tôi dợm đứng dậy thì Tiến lại tiếp.

– Hôm qua tụi em bị tổ cấp dưỡng phê bình cho một mẽ nên thân.

– Về việc nấu cơm sống hay khét chớ gì ! Đó là chuyện thường. Không ai có thể nấu cơm ngon bằng củi tươi được .

– Không phải đâu anh!

– Vậy thì chắc vụ ăn đậu phộng bí kho bị Tào Tháo đuổi chớ gì? Ở đây mà có cơm nóng ăn là may lắm rồi. Ngoài Trường Sơn lắm khi tụi anh ôm bụng lép mà leo núi, một miếng vảy cá cũng không có để ngửi.

– Anh là thủ trưởng mà không đi sâu đi sát gì hết !

– Đi sâu đi sát là đối với học sinh do anh huấn luyện kìa, còn các cô các bà mà anh đi sâu đi sát thì có ngày mực tàu bôi lên lý lịch.

– Xí mực tàu ở đây rẻ rề, có ông nào tránh khỏi đâu mà anh phải giữ gìn? Anh phải nghe em phản ảnh để có ý kiến. Số là tụi em giặt đồ lót rồi đem phơi trong bóng mát.

– Sao không phơi ngoài nắng mà phơi trong bóng mát chừng nào mới khô .

– Phơi trong bóng mát mà mấy chú mấy bác ở Tác Huấn chuyển lời phê bình tụi em.

– Phê thế nào?

– Mấy chú mấy bác bảo là khiêu dâm!

– Trời đất, mấy ổng khùng rồi chắc.

– Hổng tin anh hỏi chị Huê xem. Tụi em lên đây gần hai năm không có vải may đồ lót. Còn có mấy cái sót lại hồi ở nhà đem đi nay nó đã đen ngòm rồi…

– Gì mà mấy ổng… phê như vậy?

– Mấy chú nói tụi em biểu diễn khiêu gợi…- Tiến nghẹn ngang một chút rồi lại tiếp – Tụi em làm dâu cách mạng thiệt khổ tâm hơn làm con trong gia đình tụi em. Bữa nào củi ướt chụm có khói, mấy chú bảo máy bay sẽ bắt mò đến, cơm ăn hoài với muối, đậu thì mấy chú mặt mày bí xị, tắm xà bông thơm chút đỉnh thì mấy chú bảo học đòi tụi Ngụy, còn phơi đồ lót thì bị phê bình là khiêu dâm. Nhưng kỳ rồi đi lãnh gạo, em bịnh mà cũng không được miễn cho, em phải cõng ba chục líti như thường.

Tôi thấy hơi khổ tâm. Một ông tham mưu trưởng của một tổ chức quân sự gồm trên năm trăm người lại ngồi nghe nhân viên tố khổ về những việc như vậy. Mà quả có thực vậy. Cô bé chẳng có thêm thắt gì. Tệ nhất là vụ cô Tiến.

Hôm đó tôi cũng đi lãnh gạo. Tiêu chuẩn của Trung ương dành cho các cấp trong quân đội đã không thể giữ được. Mấy ông cấp tá vô đây cũng phải lột lon bận quần tiều đi bắt cá và vác gạo. Bùi Khanh dân Bến Tre, Năm Kiên, Tám Bạch đều là thiếu tá cả nhưng phải tuân theo không dám kêu. Đường tải gạo không xa lắm: Mười cây số thôi. Mấy năm trước hồi tôi chưa về thì vùng này còn phè phỡn cà phê nước đá, hủ tiếu, dò chéo quảy đều đều, ai có tiền thì tha hồ tẩm bổ, còn lãnh gạo thì cứ đi hằng đoàn giữa ban ngày, nam thanh nữ tú tha hồ “cốt bắt” ở hai ven đường, nhưng bây giờ tình thế đổi thay. Phải đi đêm. Cứ mỗi toán phải xách theo một cái đèn chai “soi đường cho cách mạng”, vui lắm ! Trông như thiếu nhi cầm đèn ông sao đi quanh bờ Hồ ngày Tết Trung Thu.

Bùi Khanh thích tôi nên hai anh em đi gần nhau để trò chuyện bí mật. Bùi Khanh đã lớn tuổi, bệnh hoạn nhưng chưa có vợ. Anh em cố tìm đối tượng cho ông mà chưa ra vì ở trong trường này hở cô nào bà nào lú ra là bọn con nít quơ gọn đâu tới “con trâu già ” này. (Đó là tiếng ổng tự chế diễu ổng).

Một lần ổng nói với tôi:

-Họ Bùi tao đi theo cách mạng đông lắm, nhưng bỏ về thành hết trơn, còn lại ba mống thôi. Tao là quan võ, thằng em ruột là quan cuốc đất đậu kỷ sư nông nghiệp ở Liên Xô và thằng cháu kêu tao bằng chú là quan văn viết báo ở Hà Nội. Ba thằng đều chưa có vợ. Kiểu này chắc cụt dòng rồi.

Tôi nói:

– Anh phải kiếm nhanh lên!

– Nhanh sao được mà nhanh. Kiếm khỉ cái thì họa may mới nhanh được. Mà khỉ cái cũng chưa chắc ưng tao

Đang đi, bỗng anh dừng lại nói:

– Tao thấy hồi chiều con Tiến nó đi xềnh xàng không được tự nhiên. Khi tao đi ngang thì thấy mặt nó xanh lét.

– Trời đất. Sao anh không cho tôi biết?

– Tao chắc nó có tháng.

Nghe anh nói, tôi hoảng hồn, tôi gọi mấy đứa con gái hỏi con Tiến đâu? Thì ra, đúng như lời Bùi Khanh, con Tiến đi tuốt đằng sau. Cô ta nơ bòng gạo một cách nặng nhọc. Tôi quát mấy cậu thanh niên đi gần đó dừng lại và ra lệnh sớt gạo của cô ra cho mỗi đứa một ít. Nếu không có Bùi Khanh nói, tôi cũng chẳng hay biết gì! Chức năng của một Tham mưu trưởng phải chăng là đi sâu đi sát tới đáy quần… chúng?

Nghe những lời tố khổ của Tiến, tôi cố đỡ gạt:

– Ở đây là khoẻ đó em, trên đường Trường Sơn, các bà có kinh vẫn phải ngâm mình dưới suối.

Tiến làm thinh. Tôi biết Tiến ám chỉ anh chàng Tư Keo, hỗn danh Tư Kẹo. Không hiểu anh chàng Nam Kỳ này gốc gác ở đâu. Vừa rồi được ở trên chỉ định làm bí thư chi bộ văn phòng, gồm có nhà bếp và quản lý, nên lên mặt trưởng cơ quan. Anh chàng muốn tò vè với Tiến nhưng Tiến ghét cái tánh kẹo nên gạt phắc. Anh ta chơi cha lắm. Mỗi tuần văn phòng tổ chức ăn thêm hoặc nấu chè, kêu gọi mỗi người hùn một ít anh ta từ chối nhưng khi nấu chè xong anh em mời lơi một tiếng anh ta mạnh dạn xách chén tới múc. Bị Tiến đá , anh ta kiếm chuyện phê bình, đồng thời quay mũi nhọn đâm chĩa tứ tung. Tôi không muốn nghe thêm nên đứng dậy và hỏi:

– Thơ từ của anh đâu cưng?

– Ở dưới gối anh.

– Ai để đó?

– Ai vô đây còn hỏi?

Tiến vừa nói vừa nhìn tôi với cặp mắt đầy ẩn tình. Tiến trông khá đứa lắm. Chỉ tội kém văn hóa nên làm chị nuôi. Muốn đi học y tá mà viết chữ cua bò thì làm sao’? Thiệt tội nghiệp. Nếu nó là em gái tôi thì tôi bắt nó về ngay. Khổ nổi đã đi rồi không thể quay trở lại và báo cáo về nhà thì toàn là vinh quang hiển hách.

– Anh kiểm duyệt dùm em mấy cái thơ.

– Gởi cho ai?

– Gởi cho ai kệ em.

– Sao không đưa cho văn phòng? Anh không làm việc đó !

Tôi vừa quay đi thì Tiến chạy theo đưa tôi phích nước sôi và nói:

– Anh đem về pha trà.

Tôi mệt đừ sau một ngày huấn luyện. Vì không có khí tài chuyên môn, tôi phải bày ra nhiều sáng kiến cho các khoa trưởng và đội trưởng hiểu ở trên thực địa hơn là trên bàn giấy nên một ngày dạy ở đây mệt bằng năm ngày ở Hà Nội. Tôi chỉ muốn nằm nghỉ, không cả uống trà, nhưng nghe nói có thơ thì rảo bước đi nhanh. Tôi độ rằng thơ của Thu Hà ở vùng Tam Biên gởi về. Xa nhau đã hơn một năm mà chỉ được có một lá thư. Thu Hà hứa sẽ về lãnh thuốc ở R và có thể sẽ được ở lại học bổ túc y sĩ. Sáu Phương đã hứa như vậy trước khi chúng tôi chia tay nhau ở trạm Ti4.

Khi đi ngang qua hàng cây ở sau hội trường, tôi thấy những chiếc máy bay treo lũng lẵng trên những sợi dây treo chéo nhau đủ các góc độ. Tôi dừng lại và sực nhớ ra rằng ngày mai tôi sẽ lên lớp bài đầu tiên cho khoa Pháo Phòng Không.

Đây là những chiếc máy bay do “công xưởng” của nhà trường chế tạo theo hình các máy bay Mỹ: Phantom, Thunderchief, Super Sabre và các loại trực thăng thông dụng ở chiến trường miền Nam. Nói là công xưởng cho có tên để gọi nhưng sự thực đó chỉ là một cái nhà chòi, một anh thợ mộc nửa mùa cùng mấy cái cưa gãy búa cùn đẽo gọt vụng về đưa cho tôi để làm tượng trưng huấn luyện chứ không kể sự chính xác Những máy bay gỗ này được sơn xám sơn xanh và treo trên những sợi dây kẽm. Chiếc thì đang bay ngang, chiếc đang lao xuống, chiếc lại cất lên…

Mấy đứa bé con mấy bà vợ cán bộ lấy làm thích thú coi đó như trò chơi, nên chiều chiều thường đến vác đất “bắn” dùm các chú. Xem xét xong kỹ lưỡng, tôi vừa quay lưng đi thì có tiếng gọi. Tôi biết đó là Thới, một trong những thằng học trò của tôi ở trường pháo Sơn Tây ngày trước. Tình cờ lại gặp nó về đây. Thấy nó bị thương tật nên tôi phong cho nó ngay chức “quản đốc” công xưởng vừa làm công nhân vừa làm xếp một mình để dưỡng lão.

Hồi ở Hà Nội nó chỉ huy một đại đội pháo đi qua cánh đồng Chum trong đoàn quân của ông Nguyễn Chí Sinh, Lữ trưởng Sư đoàn 338 Nam Bộ sau khi ông Tô Ký về Nam. Thằng Thới oánh nhau thì kể như số dách. Hằng ngày máy bay ở Hà Nội phải bay sang ném bắp cải su hào và thịt cá cho đoàn quân xâm lược này. (Chính nó đã vét sạch mạn sườn biên giới Việt Lào để mở đường mòn Hồ Chí Minh về sau). Lần nào máy bay do phi công Liên Xô lái thì máy bay ria tràn lan sang cả khu Phathet Lào. Hai bên dành ăn nên bắn nhau. Thằng Thới bị thương mí mắt. Vì quân Việt Nam không có bác sĩ đi theo nên thương binh phải nhờ đồng chí Phathet. Phathet không ưa Việt Nam gì cho lắm nên thay vì trị mí mắt, nó móc tròng thằng đồng chí luôn cho bỏ ghét.

Thằng Thới về Hà Nội lãnh sổ thương binh 30% hận tràn lòng và bây giờ lại tình nguyện về Nam đánh Mỹ với một mắt Thiên lý nhãn

– Em mới vừa được thơ vợ em.

– Nói gì?

– Nó nói nó đã đỗ bằng cấp y khoa bác sĩ.

– Rồi sao?

– Nó đã viết đơn tình nguyện về Nam để gặp em. Nó phụ nhỉ riêng rằng nếu nó về được trong này thì nó sẽ liên lạc với gia đình ở Sàigòn mua cho em một con mắt gắn vô dễ ợt.

– Mắt chai hả?

– Không, mắt thiệt người ta nuôi còn sống, không nhìn thấy nhưng trông in như thiệt.

– Rồi chừng nào nó vô?

– Nó nói chờ trong này viết thơ ra xác nhận có chồng trong Nam.

– Cơ quan ngoài đó chết hết rồi sao không làm được cái việc nhỏ như vậy mà phải chờ trong này?

– Em không biết. Đây thơ nè. Nó nói là thằng Trên, thằng Minh đã đi vô rồi. Anh còn nhớ thằng Trên dân Tây Ninh không… Vợ nó là con Thưa con nuôi ông Út Đẩu.

– Sao mày nhớ?

– Thì anh nói với em, nếu không làm sao em biết được. Thằng Trên học ở E 400 do anh phụ trách. Học chừng nửa tháng thì con Thưa mất việc vì cơ quan tìm ra sự bí ẩn của lý lịch nó. Không biết ai phát hiện ác vậy?

Ác thật. Ông Út Đẩu là chi đội trưởng chi đội 11 đánh đồn Cao Đài ở Tây Ninh giết sạch lính. Còn sót một đứa bé mười ba tuổi. Ông thương hại đem về nuôi rồi gởi đi ra Bắc. Con nhỏ học hành tiến bộ được kết nạp đảng, sắp được vô đại học thì bị phát hiện là con của tín đồ Cao Đài. Con nhỏ mất việc và không được học tiếp. Tôi chạy lo gần ba tháng mới gặp một người đồng hương Tây Ninh phụ trách của hàng dược phẩm Bờ Hồ. Anh này thương tình nhận con nhỏ và cho vợ chồng nó một t căn phòng có cửa sổ ngó ra Bờ Hồ.

Thới nói:

– Thằng Trên về gặp anh chắc mừng lắm! Nghe nói Phạm Cần và Chung Tấn Quyền cũng đã “dô” rồi.

– Có thằng Quyền nữa à ? Nó hết bị tổ chức truy về cái họ ác ôn “Chung Tấn” của nó rồi sao? Còn thằng Cần cũng về à ? Không biết nó có con chưa? Tội nghiệp bác Phạm Thiều mong có đứa cháu nội nối dòng cách mạng mà không được.

– Anh còn nhớ thượng úy Đổ Văn Kinh người ở Sóc Ven không? Thằng cha đen thui tụi mình gọi là “thành phần lãnh đạo” đó.

– Nhớ. Nó là thổ lai hút thuốc như ung muỗi đó mà !

– Cũng “dô” rồi!

– Ở ngoài đó cũng chẳng làm con mẹ gì. Về trong này chết cho sướng cái thân. Thôi mày nghỉ nhe. Tao về nằm một cái cho đỡ mệt.

– Để em nói cái này một chút!

– Cái gì nữa đó?

– Chị Chín Việt với thằng em nuôi càng ngày càng khắn khít. .

– Kệ họ chớ tao làm sao được?

– Anh không biết chớ thiên hạ đồn đại tùm lum! Ổng đánh đồn Bổ Túc bị một quả da láng không còn miếng thịt. Mộ chưa xanh cỏ, chỉ làm vậy thử hỏi cách mạng còn gì uy tín.

Tôi có nghe loáng thoáng những chuyện lăng nhăng ông đi qua bà đi lại, nhưng nghe mãi đầy lỗ tai rồi không chú ý nữa. Thới tiếp:

– Chị Chín qua bên thằng em nuôi, hai chị em mùi mẫn ngoài gốc cây, người ta bắt được. Trời đất chị em gì vậy? Chị hơn em có vài tuổi. Chị gì mà ôm em hun chùn chụt.

– Hôm trước tao bảo ông Bùi Khanh hốt ổ quách đi. Con của đồng chí cũng như con mình. Chỉ có bầu khi anh Chín hi sinh, nhưng ông Bùi Khanh khó tính lắc đầu. Thôi nhé, để tao về nghỉ.

– Em còn xin anh một chuyện nữa thôi.

Tôi tưởng Thới nói về vụ con Huê con Tiến định vặn nài bẻ ống, nhưng không phải. Nó nói vụ thằng Sâm ở ngoài Bình Giả bị ông Tư lịnh pháo Tư Nhả gởi trả về Bộ rTư Lệnh Pháo rồi bị ông chánh ủy Tư Khanh tống về trường Pháo với bản án khai trừ đảng. Thằng Sâm cũng là học trò của tôi ớ ngoài đó. Không được dự chiến dịch nữa. Thằng Sâm mừng bỏ mẹ . Vì cái chiến dịch ôn dịch này đã nướng ít nhất là một ngàn lính lẫn dân công. Đó là bài học lịch sử lớn nhất của ông em vợ Dương Cự Tẩm.

Tôi hỏi Thới:

– Mày có ý kiến gì?

– Nó kêu nài hiệu ủy xét lại bản án vì nó chỉ mới “gián xạ” thôi chứ chưa có “trực xạ “

– Nó ngu lắm. Tốt nhất là câm cái mồm một ít lâu tao sẽ phục hồi cho, chứ mà rộng họng đính chánh là bị nặng gấp đôi ở đó mà kèo nài “gián” với “trực”.

– Nó bảo ông Tư Khanh, ông Năm Lê , ông Lê Đức Anh đạp cứt ê chề, lại còn lấy cứt mà rê chân người. Nó nhờ tôi đề đạt với anh dùm nó.

Tôi quay đi.

– Mấy ổng khác, mình khác, rõ chưa’? Bố tao cũng không dám chống lệnh các ổng.

Tôi về giường ngã dài ra. Đầu óc quay cuồng một trăm thứ, nào chuyện ăn, chuyện ở, đ… bậy đ… bạ, chuyện rờ mó, tất cả những chuyện đó chiếm quá nửa cái đầu của ông Tham mưu trưởng.

Sực nhớ có thư dưới gối, tôi bèn ngồi dậy lật gối lên. Quả thật một bức thư cũ mèm lem luốc chữ nhoè cả ra nhưng dưới ánh đèn dầu tôi còn đọc được tên tôi trên phong bì, người gởi là Thu Hà . Tôi vội vã bóc ra lấy ruột thư kê vào ánh đèn. Lạ này! không phải chữ của Thu Hà.

Anh Hai thân thương,

Em biết có người hiện ở đây đang mến anh, tại sao anh không ngó ngàng tới mà lại cứ đợi chờ ở đâu đâu. Chị Thu Hà không có về đâu mà mong đợi cho uổng công. Xin lỗi anh nghen. Đây là bức thư thứ ba của chị ấy gởi về nhưng em biết có người cất dùm, anh đừng điều tra một công. Anh dư biết là ai cất mà…

Tôi ngẩn ngơ. Tôi biết người cất những bức thư của Thu Hà. Hèn chi lâu nay không thấy thư của nàng ! Bây giờ ôn lại những cử chỉ của Tiến, tôi mới hay. Tiến luôn luôn dành cho tôi những đặc ân nho nhỏ, một phích nước sôi, một miếng khô nai lùi tro ấm hay một miếng xà bông thơm để ở đầu giường, những lần nàng để tay trên vai tôi .v..v…

Nếu như Tiến biết tôi yêu Thu Hà đồng hương của tôi ra sao thì nàng không có hành động ác độc này. Muốn có bức thư của Thu Hà để đọc và để tưởng nhớ mấy ngày nồng nàn ở Tam Biên của hai đứa, tôi phải giải thích cho Tiến nghe, nhưng càng giải thích thì Tiến càng bị tổn thương. Ngược lại nếu không nói gì thì Tiến không đưa thư ra.

Đời tình ái của tôi thật lao đao quá đổi, bởi thế cho tới bây giờ vẫn cứ độc thân. Từ trước kháng chiến tôi đã có người bạn ở quê nhà : Duyên, hai đứa cùng học chung lớp. Gia đình hai bên đã hứa khi đôi trẻ lớn lên sẽ làm suôi gia. Nhưng tôi đi kháng chiến, thời thế xoay vần càng ngày càng xa gia đình, không trở về được dòng sông Tân Bửu quê nhà. Năm 58 có một bức thư của người quen lọt ra Bắc cho biết Duyên đã chờ tôi suốt bốn năm. Cuối cùng đã phải lấy chồng nhưng nàng đến gia đình tôi khóc lóc và xin má tôi cho nàng đôi giày và bộ đồ Tây của tôi để nàng cất làm kỷ niệm. Từ đó nàng luôn luôn mặc đồ đen, không một màu nào khác. Có người hỏi tại sao nàng chỉ cười. Ra Bắc, bặt tin, tôi vẫn mơ về dòng sông Tân Bửu. Nghe tin ấy tôi vẫn không tin là sự thực. Mãi đến năm 60 tôi lại được tin. Thôi thế là hết…

Rồi tôi gặp cô sinh viên đại học, con gái ông Thanh Sơn, gặp lại ánh Tuyết bạn cũ thời Đồng Tử quân ở Rừng Sát. Hồi đó hai đứa thương nhau như hai anh em ruột. Trại không có nước ngọt hai đứa phải uống nhường nhau từng hớp. Vì không có nước, đầu đứa nào cũng đầy chí phải tô bùn cho chí chết… và ghẻ chóc đầy mình. Tình cờ tôi gặp lại Ánh Tuyết ở Hà Nội, Ánh Tuyết đã lớn và đẹp mặn mà. Hai đứa ngồi trên băng đá ở vườn hoa Canh Nông tới khuya ôn lại với nhau những kỷ niệm xưa, rồi đi ăn phở và chia tay. Không tính toán chuyện gì được vì Ánh Tuyết sắp đi học Trung Quốc còn tôi thì đang ở trên “bệ phóng” rồi.

Trái tim treo giàn khói khỏi bị mối mọt ăn. Trên đường về Nam lại gặp Thu Hà. Hai đứa mới quen nhưng quê nhà đã làm Nguyệt Lão xe hai mối tơ làm một vô cùng bất ngờ. Tôi và Thu Hà như đã đợi nhau từ trăm năm trước: Hai đứa hẹn ngay và thề sinh tử thủy chung. Sum họp trong mấy ngày rồi chia tay trông ngóng mấy năm. Khi đến Củ Chi, gặp Tư Linh, hắn đã đưa tôi ngay đến với nữ dũng sĩ Bảy Mô, một cô con gái nổi danh anh dũng và đẹp mà tài từ giai nhân tận trên R và nhà báo ngoại quốc cũng tìm đến gặp. Tư Linh mê cô chị có chồng mất tích và bảo đảm với tôi là nàng dũng sĩ đã yêu tôi rồi, chỉ chờ tôi lên tiếng đáp lại thôi. Bảy Mô so với Thu Hà , chưa biết ai làm rung động trái tim tôi hơn, nhưng tôi đã hứa rồi. Tôi đã ghìm tôi lại ít nhất trong mấy tháng công tác ở Củ Chi trước khi về đây. Tư Linh cũng đã thúc hối tôi. Thấy tôi cứ lúc lắc, hắn bảo: “Chim đậu không bắt để bắt chim bay !”

Bây giờ lại một con chim đậu nữa đây. Bắt? Tôi đã thề với lòng tôi rồi. Tôi chỉ yêu người con gái bên dòng sông Tân Bửu thuở ấu thơ của tôi. Ở đó sẽ mọc lên một mái nhà của một cặp vợ chồng kháng chiến sau khi trận mạc kết thúc. Vâng! đó là giấc mơ nhỏ bé và vĩ đại nhất của tôi cũng là của những kẻ đang lụm cụm học học hành hành xây xây cất cất trong khu rừng này.

Tôi giật mình khi có tiếng nói ở đâu đây:

– Đọc thơ xong chưa anh?

Tôi ngồi bật dậy và hỏi.

– Ai đó ?

Thì ra cô Huê . Huê cùng tuổi với Tiến và cùng hoàn cảnh với Tiến trong việc hôn nhân. Cô cũng người Củ Chi và quen với Bảy Mô. Ở trong rừng này mọi sự đời đều khác hẳn ở thôn xóm. Trai gái không có giữ kẻ với nhau cho lắm vì người này biết tõng của người kia cả.

Riêng về sinh lý thì đàn bà con gái lại khoẻ hơn đàn ông con trai. Họ ít bị sốt rét và không bị sốt ác tính, còn đám đực rựa thì sốt đều đều và lại bị cả sốt ác tính chết rất dễ dàng. Nhưng con gái thì nước da cũng xanh lét xanh lơ và cô nào cũng nở bề ngang. Có cô sợ mập phải uống dấm cho ốm. Tôi để ý thấy chiếc áo bà ba của Huê mặc lâu nay đã bó sát thân hình cô ta có nận và hở ở trước ngực.

– Tôi đâu có thơ gì!

– Anh nói giấu hoài ! Em biết mà !

– Ai nói mà em biết?

– Con Tiến.

– Cô ấy nói gì?

– Nó nói anh được thơ của chị Thu Hà ở ngoài Tam Biên gởi về.

– À . à có!

– Chị ấy nói gì?

– Thì cũng nói về công tác ở ngoài đó sơ sơ ba điều bốn chuyện vậy thôi.

– Chị ấy có nói chừng nào về trong này không?

– Chừng vài tháng nữa!

– Vài tháng nữa nếu chị ấy không về rồi anh tính sao?

– Thì chờ vài tháng nữa.

– Mấy chú mấy bác đã than phiền rằng hồi tập kết vì tin lời hứa “hai năm” mà bạc đầu mới gặp lại gia đình. Bây giờ anh lại cũng tin lời hứa nữa sao?

– Cấp trên hứa khác còn Thu Hà hứa khác. Anh tin lời của Thu Hà.

– Con gái chúng em hễ hứa thì chắc, anh tin lời chị Thu Hà là đúng, nhưng anh nên nhớ rằng chị Thu Hà làm việc ở cơ quan. Mọi công tác và vấn đề hôn nhân cũng đều do trường cơ quan quyết định. Ví dụ như em với con Tiến đây, hai đứa em đâu có tình cảm gì với mấy ông Quân, ông Tỷ nhưng ông Năm Kiên nói riết rồi phải nghe. Nghe xong nhìn lại thấy kỳ cục quá hè.

– Kỳ gì? Mấy ổng hơn tụi bây có hơn con giáp, còn đồng chí Lê Duẫn cưới vợ bé nhô hơn đồng chí ấy ba mươi mấy tuổi mà vẫn xứng đôi không thấy sao? Thôi đừng có lộn xộn, đoàn tụi bây nó kiểm thảo, tao không có binh được tụi bây đâu.

Với câu nói hơi xẳng của tôi, Huê mất hứng nên không nói gì thêm.

Chương 10

Như đã bàn trước với Bùi Khanh, sáng hôm sau hai anh em dắt thằng Huỳnh Châm và thằng Võ Văn Sâm đi lên rẫy Rạch Ruộng của Sáu Ngọc để cày cuốc đoái công chuộc tội . Thằng Châm thì tội bắn chết thằng Liêm trong đêm săn thú đãi ông Tư Khanh, còn thằng Sâm thì quơ nữ dân công ở chiến trường Bình Giả .

Trước khi đi, tôi kêu hai đứa lại, huấn từ sơ sơ:

– Cuộc đánh Mỹ này sẽ không kết thúc sớm đâu. Có thể tụi tao chết ráo nạo cũng chưa xong, tụi bây sẽ là nòng cốt. Mọi khuyết điểm sai lầm đều sẽ xóa nhòa bằng những thành tích. Khuyết điểm của chúng mày không có nghĩa lý gì, nhưng chúng tao không thể bỏ qua được. Chúng mày không có nên bất mãn phát ngôn bậy bạ, hiểu chưa? Ráng lao động tốt, chừng ba tháng tao sẽ giúp đỡ tụi bây.

Sỡ dĩ tôi bắt Bùi Khanh đi theo là để cho ổng xem mặt bà khu ủy viên tên Trần Lệ Út Tức. Bả cũng đã “cứng cạy” rồi nhưng kén chọn dữ. Mấy ông Mùa Thu đầu bạc sơ cấp thì không dám ngó còn đám trẻ thì càng chẳng nhìn. Ông Bùi Khanh chê bà bầu Chín Việt có em nuôi trang lứa, có thể tìm ra một ý trung nhân ở nữ đồng chí khu ủy viên này chăng?

Ngoài Bùi Khanh ra tôi còn cho theo một tiểu đội lựu pháo để ra nền đồn Bổ Túc thực tập. Một công ba chuyện là vậy đó.

Khi đoàn sắp sửa lên đường thì Bảy Hết tất tả chạy đến, vừa thở hào hển vừa nói:

– Đồng chí Tham Mưu Trướng cho tôi xin trình bày một ý kiến cá nhân.

Tôi đã biết là vấn đề gì rồi, nên trỏ sang Bùi Khanh:

-Có đồng chí Bí thư hiệu ủy đây, đồng chí muốn trình bày gì trình bày vắn tắt để đoàn lên đường.

Bảy Hết nói với cả hai người:

– Xin các đồng chí cho biết bao giờ thì tôi có thể về quê được?

Bùi Khanh cười ôn hoà . Ông làm trưởng phân khoa Phòng Không nhưng lại có uy tín trong đám cán bộ trẻ lẫn già nên được bầu làm bí thư hiệu ủy thay vì Ba Thịnh hoặc Tư Ân. Biết Bùi Khanh và tôi luôn luôn binh vực những người có gia đình ở đây nên Bảy Hết mới liều mình chận đầu ngựa dâng sớ kêu oan.

Bảy Hết là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 402 thuộc Trung đoàn Tây Đô của Huỳnh Thủ. Anh có công lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nhưng tập kết ra Bắc mới bốn mươi hai tuổi mà bị chê là “cứng cựa” nên bị tống ra ngoài dân sự cho đi khu mõ Hòn Gai xây dựng kinh tế. Bảy Hết là một trí thức. Sau mấy năm sống ở miền Bắc anh nhìn rõ nhân tình thế thái trong sự đối xử của đảng Bác đối với dân Miền Nam nên hận đời khi lột áo lính mặc áo xi-vin. Năm 1963, đảng lại gọi dân phục viên tái ngũ. Bảy Hết trở lại ngay với cấp bậc thượng úy. Về Nam anh mới xổ hết nỗi lòng. Anh nói thẳng với Bộ Tư Lệnh Pháo Binh là ông Hai Nhã và Tư Khanh: “Tui xin nghỉ về quê dưỡng già ! ” Một câu thôi nhưng đó là sắt đá. Có lẽ đó cũng là tâm tư của hàng vạn dân Nam Kỳ tập kết. Hai ba năm liền chỉ nằng nặc một câu : “Tôi không còn đủ sức khỏe ! “

Khi chị Bảy Hết lên đây thì ở trên truyền cho phép chiêu dụ chồng, không để chồng bất mãn nữa. Nhưng Bảy Hết vẫn không xiêu lòng. Còn chị Bảy thì ngày nào cũng làm “Cái loa tuyên truyền dùm cho Ngụy”.

Chị nói về việc Mỹ vô , Mỹ xuống làm sân bay ở Trà Nốc. Hàng hóa Mỹ bán đầy đường. Ai cũng sống khỏe re. Quần áo toàn lụa là lòe loẹt…

Và bây giờ thì chính chị bị chồng địch vận. Hai vợ chồng đồng hè xin về Cần Thơ. Bùi Khanh đã nhiều lần báo cáo lên trên nhưng chẳng ai giải quyết được. Bên cạnh đó lại còn một ông nữa. Đó là ông Ba Giao trung úy, dân Bắc Kỳ vô Nam thời xửa thời xưa, lập nghiệp ở vùng Nam Thái Sơn. Tập kết ra Bắc bao nhiêu năm vẫn nói “Thống Nhứt” và “Tân Sơn Nhứt“. Không hiểu bất mãn chuyện gì lại cũng đòi ra dân trở về Nam Thái Sơn. Cuối cùng ở trên cho anh ta về I/3 tha hồ bêu riếu miền Bắc.

Bây giờ chỉ còn anh chị Bảy Hết. Bùi Khanh hứa đại khái một câu để giải vây:

– Để tôi lo xong mấy việc rồi sẽ bàn với hiệu ủy.

Thế là đoàn lên đường. Tiểu đội khiêng một khẩu DKZ và đạn dược cùng đồ phụ tùng: bình điện, dây điện, cuốc xuổng đùm đề. Tôi không ngờ là quân đội nhân dân Việt Nam lại tiến lên chánh quy hiện đại theo tỷ lệ ngược như thế này! Súng cổ lỗ sỉ thời 50 mà đem ra chơi với Mỹ ! Tôi cho thằng Lực Thiếu úy làm Tiểu đội trường chỉ huy khẩu đội thực tập, còn thằng Tôn Sứt dân mùa Đông thì làm thổ địa dọn đường. Tôn tham gia trận đánh đồn Bổ Túc với Chín Việt. Chín Việt chết, nhưng nó chỉ sứt tí mép nên anh em gọi là Tôn Sứt. Tôn Sứt thuộc đường đi nước bước của vùng này như người ta thuộc lòng bàn tay. Tôn Sứt đặt kế hoạch hai ngày đi hai ngày về và một ngày bắn.

– Từ trường, đoàn phải ra lộ Thống Nhất là con đường giao liên của T14. Đến ngã ba rẽ về phía mặt trời lặn đi thẳng đụng cầu Suối Dây, qua cầu đi tiếp đụng cầu suối Tha La rồi ra đường đá đỏ. Đó là tỉnh lộ 4. Đi luôn về phía Nam về hướng núi Bà Đen thì đụng ấp chiến lược Khe Don gần bót Suối Đá. Còn đi lên hướng Bắc là đến Kà Tum rồi vòng qua đồn Bổ Túc. Từ đó đi theo đường mòn chừng hai cây số là đến lộ ủi Trần Lệ Xuân. Ngày trước mụ này cho dân lên đây lấy gỗ về bán nên người ta đặt tên con đường này là đường Lệ Xuân đồng thời chế diễu luôn bà khu ủy viên Út Tức nên gọi bà ta là Trần Lệ Út Tức vì bà là nữ chúa vùng này. Đi trên đường lộ ủi sẽ đụng Suối Sóc Ky. Ở đây có một xóm nhà chừng chục rưỡi nóc của dân đánh xe bò chuyên môn tải gạo cho hậu cần R cũng gọi là Xóm Mới. Huyện ủy Tân Biên của bà Út Tức bám trụ ở đây. Từ Xóm Mới đi hết lộ ủi sẽ đụng đường đá xanh: Đó là quốc lộ 22 chạy thẳng lên Xa Mách ngã ba Sóc Xoài là biên giới Việt Miên. Gần ngã ba quốc lộ 22 với lộ ủi, về phía Bắc có một cây cầu bắc ngang qua suối Sóc Ky gọi là cầu Cần Đăng. Cầu này bị máy bay Mỹ bỏ bom sập xuống suối. Mỹ tưởng như vậy là đã cắt đường gân chính của Cộng Sản nhưng chúng không ngờ xe bò vẫn qua lại như thường hằng đêm hết đoàn này đến đoàn khác bằng con đường mòn hai bên móng cầu xuyên qua lòng suối cạn có lúc không có nước. Ngoài ra những người đi xe đạp có thể vác xe đi trên thanh cầu không khó khăn lắm.

(Mỹ đánh Mặt Trận Giải Phóng là đánh chơi chơi hay đánh thả ga ? Chúng tôi nghĩ rằng với B52 và một ít trực thăng Mỹ chỉ đánh một tuần lễ thì toàn bộ lực lượng Mặt Trận Giải Phóng và quân Bắc Việt có thể bị quét tả tơi và không còn sức đề kháng. Mỹ thua một đạo quân ốm đói kể cũng lạ kỳ. Nhưng bây giờ thì chúng tôi đã hiểu rõ nguyên nhân.)

Từ ngã ba này ra tới ấp chiến lược Trại Bí chừng mười cây số Gần đó là ấp Mõ Công. Qua ấp này chỉ một quãng ngắn là đến thị xã Tây Ninh. Tóm lại đường chim bay đo từ trường pháo binh của chúng tôi đến thị xã không đầy ba mươi cây số, cũng như Củ Chi cách Sài gòn hai mươi cây số. Đó là phác họa đường đi nước bước của đoàn và mấy tử điểm trong vừng. Tôi vốn là thằng sục sạo có hạng trong trường, nhưng nghe Tôn thổ địa trình bày xong tôi vẫn thắc mắc. Tôi hỏi:

-Sao hồi ở T14 tao nghe tụi nó nói ra trại Bí Mõ Công dễ và gần lắm. Chiều cắt rừng đi, trưa mai về tới?

Tôn nói:

– Ối mấy thằng Bắc Kỳ con háo thắng coi trời bằng vun, miệng lúc nào cũng khoe chánh sách “ba xây, ba chống, bốn có, năm không” biết con mẹ gì. Anh nghe đám đó có ngày phèo ruột. Tụi T14 cắt đường ra Khe Don thì có thể chiều đi trưa hôm sau về tới nhưng nguy hiểm lắm. Lính ở bót Suối Đá phục kích bắn chết du kích của bà Lệ Xuân Út Tức liền xì . Thời còn bót Bổ Túc, tụi Suối Đá vô phục ở bờ sông Bà Hảo hay cầu Tha La. Tụi này được Mỹ huấn luyện kỹ lắm! Chúng mặc quần áo giải phóng, cũng dép râu nón bánh bèo. Bởi vậy anh mà ra vùng đó thì phải thuộc mật hiệu của Trung đoàn bảo vệ Căn cứ R. Thằng Hùng Cối của mình vừa được biệt phái đi công tác xuống Trung đoàn này anh quên rồi sao?

– À, tao nhớ ra rồi. Mấy ổng bảo là Mỹ thả biệt kích vô rừng loạn xị ớn lắm, vì thế đội bảo vệ xin một trung đội cối của nhà trường. Chúng nó cho nhảy dù xuống rừng chớ không phải đi bộ đâu. Một cơ quan ngây thơ làm rào nứa bao bọc xung quanh mấy cái chòi. Tụi biệt kích biết ngay chúng nó mò vô tận ổ giết sạch. Do đó bây giờ mới tăng cường công tác bảo vệ.

Tôn nói tiếp:

– Hồi 1961-1962 anh chưa về, chưa có trường pháo của mình, đường dây vất vả lắm. Ở trên quyết định phải nhổ cho bằng được đồn Bổ Túc để đi đứng cho dễ hơn. Tôi và anh Chín Việt vác cây DKZ 75 đầu tiên tới đây, nghiên cứu sơ sơ rồi bắn phát trúng phát trật. Tụi lính trong đồn toàn là “tín đồ một mắt” chúng nó thù mình từ đời ông Nhạc tới bây giờ. Hồi 45-46 ông Hai Bừa và ông Tô Ký giết họ như nhái ném xác chật đường lấp cả giếng trong vườn cao su Hố Bò. Tụi nó nghe súng pháo kích là chửi tục rùm lên rồi phản công kịch hệt. Tôi và anh Chín vác DKZ chạy có khói. Lần cuối cùng, phối hợp Bộ Binh mới hạ được, nhưng mình phải hy sinh cả trăm lính. Anh Chín bị một trái M79, còn tôi chỉ rách mép. May chút nữa là đi luôn hàm dưới hết ăn. Hồi đó mỗi lần đi trên đường này hoặc đi lãnh gạo là có máu rơi chớ đâu được thong dong như bây giờ. Bởi vậy có câu vè truyền miệng: “Từ “rờ” xuống “cu” phải qua hai “u” (R,Q,U)

– U nào với U nào?

– U60 tức là Cục hậu cần và U80 tức là Cục pháo binh, xa vô cùng.

– Chà! rờ cu mà mệt vậy, còn rờ m… thì phải mệt cỡ nào?

– Còn từ cu về rờ thì phải đội bàn thờ qua sông Bà Hảo.

– Lội sông là chuyện thường, sao phải đội bàn thờ?

Tôn cười, quay lại nhìn tôi như khoe cái mép sứt:

-Dân từ Q lên R phải qua sông Bà Hảo. Sông này không rộng lắm nhưng mình thường bị tụi lính Suối Đá phục kích. Do đó mỗi lần lội phải cõng bàn thờ trên lưng, rủi có bị bắn chìm giữa sông thì leo luôn lên bàn thờ để vong linh khỏi lạnh chết lần nữa ở dưới đáy sông! Mình hạ được đồn Bổ Túc, có được cái lợi là khai thông đường đi nhưng thất bại vô cùng. Hồi trước bọn thương buôn Ba Tàu bu chung quanh đồn này, do đó mình móc nối mua đồ lậu rất hấp dẫn. Nhưng từ khi đồn bị hạ tụi nó dông hết. Một số chạy về An Lộc, một số tản vô thị xã Tây Ninh, mình mất một nguồn hàng hóa. Mình không còn trà Chẽo Xụi và Thiết Quan âm uống là vì thế đấy.

Tôi đã bàn tính “âm mưu” trước với Tôn Sứt, nên hai đứa đi sụt ra phía sau. Tôi nói:

– Chuyến này là đi coi vợ cho ông anh Bùi Khanh của mình. Bà Út đóng quân thường trực ở đó. Nhưng gặp bả hơi khó. Em út của bả đông lắm. Lớp canh giàn ngoài, lớp gác vòng trong phải qua hai ba cái U mới rờ đụng được cái đầu tóc của bả. Trước nhất phải gặp thằng Hùng Cối.

– Sao vậy?

– Thằng Hùng là em nuôi của bả.

– Lại cũng em nuôi cháu nuôi. Các ông các bà rơi đài lễnh nghễnh về các vụ em cháu nuôi hoài mà cũng không tởn. Nè, đừng có cho Bùi Khanh biết. Thằng chả chê bà Chín Việt là vì cái thằng em nuôi của bả đấy. Gà mái ấp lại muốn cắt lông đuôi làm gà tơ.

– Ai chớ bà Út Tức này thì anh khỏi lo léng phéng. Bả là loại đạo đức cao, cho nên tới bây giờ chưa có ai dám rớ tới

– Không phải tại đạo đức của bả cao đâu, mà vì bả khô quá hà mày ạ.

– Khô thì về ông anh mình tưới cho tươi lại mấy hồi.

– Theo mày ổng với bả có xứng đôi không?

– Anh chưa biết mặt bả à?

– Tao có đi đâu mà biết mặt với mũi?

– Bả chưa đến bốn mươi, nhưng bả ốm như con cá hố.

– Mày gặp bả hồi nào?

– Lâu rồi ! Nhân vụ mấy ông học sinh trường mình đi nghiên cứu địa hình thực tập, nhân tiện tạt ra Xóm Mới tìm chất tươi bị du kích của bả nghi là đi hồi chánh nên bắt giữ, nhà trường phải gởi tôi tới lãnh về.

– Hồi đó tao ở đâu?

– Anh đi lên R lãnh chỉ thị gì đó ! Bả găng xi măng lắm. Mặt bả lúc nào cũng hầm hầm như ai ăn hết của bả vậy. Mấy thằng du kích nói lén với tôi rằng chừng nào hạn hán, bảo bà cười cho một cái là trời mưa ngay.

– Còn hiệu nghiệm hơn cóc nghiến răng nữa !

– Bả có cái giỏ xách trong đó có mấy lá trầu. Dưới đáy giỏ là cây K54. Ghê gớm chưa?

– Bả ăn trầu à?

– Còn gì nữa !

– Hồi ở Củ Chi tao cũng đã gặp một bà khu ủy như thế. Chuyên môn “ngồi thum” một bước không dám rời miệng hầm, nhưng lập trường chống Mỹ thì cao… hơn ngọn cỏ. Thứ con gái lỡ thời khủng hoảng sinh lý khó chịu lắm! Tành tình bất thường, kỳ cục. Chỉ khi nào được chích Vitamin Đ… mới hết khó chịu.

– Bả gặp ông anh mình bả chíp thôi ! Thiếu tá bả rớ sao tới? Cặp này đá coi chắc đã lắm.

– Chỉ sợ ổng không chịu mày ạ ! Ổng cũng khó tính chứ không dễ. Ổng gốc “đ… chĩa” đấy chớ không phải bần cố hỉ đâu

– Sao anh biết?

– Ổng tâm sự mà !

– Ổng dám tâm sự về thành phần với anh à?

– Chỉ ló móng một chút rồi rụt lại. Bác ổng làm Cai Tổng, ông ngoại làm Hương Cả và bỏ tiền ra cất một cái Thánh Thất Cao Đài to nhất vùng.

– Thế sao ổng lọt qua được ải cải cách ruộng đất?

– Thì giấu chớ sao. Thằng cha Nguyễn Hoài Pho huyện đội trưởng Ô Môn Cần Thơ là đại địa chủ nhưng khai là cố nông. Thế là được đề bạt ngay Trung tá đi học Trung Quốc và cho về Nam làm Tư lịnh I13 . Rủi một cái là chưa về tới nơi đã bị “chụp” chết. Thằng Nguyễn Văn Sơ, cận vệ của ông Nguyễn Thanh Sơn bố vợ hụt của tao, cũng phịa một bản lý lịch cố nông kinh hồn. Bộ Tổng đề bạt hiệu trưởng trường CCRĐ trung cao quân đội. Tướng tá đều đút đầu vô đây cho thằng chăn trâu giả cạo gọt dùm cái lập trường. Hóa ra nó là con địa chủ.

– Sao anh biết những chuyện bí ẩn như vậy được?

– Ối tao còn biết những chuyện trời ơi đất hởi nữa kia ! Tội nghiệp những thằng địa chủ đi kháng chiến như Ngô Hồng Giỏi ở Cần Thơ. Trong CCRĐ ông ấy quá thành khẩn nhận tội lỗi của ổng nên bị cách chức từ Trung đoàn phó xuống Tiểu đội trường làm anh nuôi phục vụ cơm nước cho đại đội tám năm liền làm đồng chí với ông táo ông lò.

– Còn anh thành phần gì?

– Tao hả? Chăn trâu ba đời!

Tôn Sứt cười ha hả một hồi dài, vừa cười vừa bụm miệng như sợ cái mép rách ra thêm.

– Chăn trâu mà giải phương trình pháo binh nghe điếc con ráy vậy hả?

– Hừ… Tao chăn trâu cho ông nội tao không được à?

– Chăn mấy con?

– Có sáu con thôi! hí hí…

– Sáu con trâu thì làm ít nhất cũng một trăm công ruộng. Thành phần chăn trâu của anh đó thiệt là hiếm có trên đời.

Bùi Khanh đứng ở phía trước ngoắc gọi:

– Đi mau lên tới lùm cây kia cho nghỉ trưa ăn cơm.

Một cậu lên tiếng gắt.

– Tôm! “Tôn-làm” gì đi chậm vậy?

“Tôn lù” đù lại liếc chim cò nên đi chậm quá trời!

Cá đoàn hạ trại ăn uống xong mắc võng nghỉ trưa. Tôi nấu trà uống với Bùi Khanh để gạ gẫm về vụ bà khu ủy. Nhưng vừa pha trà xong, Bùi Khanh đã hỏi tôi một câu bất ngờ:

– Mày có tin rằng ong nuồi giẻ có thể tiêu diệt biệt kích Mỹ không?

– Ông định sáng chế chiến thuật mới gì vậy?

-Tao đâu có sáng chế cái gì. Tao chỉ nhớ hồi còn ở ngoài Bắc tao nghe báo đài nói ở Trà Vinh có ông du kích dùng ong nuồi giẻ đánh Mỹ . Ông ta nuôi ong rồi đem treo ở chỗ Mỹ quen ra vào, chờ nó đi ngang thì giật. Ông ta được bầu anh hùng toàn miền Nam. Tên ông là Nguyễn Văn Tư.

– Giỡn hoài anh.

Bùi Khanh hớp miếng nước trà chép miệng rồi bảo:

– Chính tao phổ biến tài liệu đó cho Trung đoàn của tao mà !

– Để làm gì?

– Cho lính tráng học tập tinh thần yêu nước và căm thù Mỹ của dân miền “Nôm” chúng mình. Tụi Mỹ bị ong đánh nóng lạnh và nổi lên phản chiến.

Đây là lần đầu tiên, tôi nghe Bùi Khanh mỉa mai cách mạng. Bùi Khanh tiếp:

– Mấy đêm nay, đêm nào cũng có B52 bỏ bom. Chẳng bao lâu nữa tới mình chớ không khỏi đâu. Mày có nghĩ tới chuyện đó không?

– Nghĩ gì? Nó chưa tới thì mình sống ngo ngoe ít ngày. Nó tới thì hốt xương chớ nghĩ gì bây giờ.

– Nhiều cơ quan R trong đó có tiểu ban văn nghệ R lãnh đủ. Ông Tư Trang chết rồi. Nhưng mọi việc đều được giữ kín bưng. Ông Đại tướng nhà mình vừa vô. Mỹ nó chào mừng mấy ổng đấy. Mày có định biến trường mình thành một lớp học dã chiến lưu động không? Nghĩa là không có đóng cố định một chỗ. Mày có thấy là cái qui mô của mình hiện nay không thể giấu khỏi mắt tụi Mỹ không? Tao nghĩ là nó nuôi tụi mình cho mập rồi ria một phát là sạch láng.

Thực tình tôi cũng có nghĩ tới chuyện đó, nhưng không thể nói ra. Vì lệnh trên đã ban xuống như thế là phải làm như thế. Ở Hà Nội, các ông các bà ngồi trong phòng kín cứ nghĩ rằng Tây Ninh này cũng giống như Tân Trào Thái Nguyên hồi 1944. Hồi đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp cỡi ngựa trong bản làng còn cụ Hồ thì ở trong hang núi, Pháp biết mà không làm gì được, còn bây giờ với Mỹ khác tất cả. Bom nó rơi như mưa và pháo nó bắn xa bảy mươi lăm cây số, nhưng mình thì lại xử dụng ong nuồi giẻ và chông ba lá, súng ngựa trời!

Bùi Khanh nhấp hớp trà rồi hỏi:

– Củ Chi găng lắm phải không mậy?

– Hôm tôi ở dưới thì mới vài xã ăn B52 thôi.

– Hồi mày chưa về trường thì có nhiều thằng quê Củ Chi cứ chiều thứ sáu là về phép ba ngày. Sáng thứ sáu đi, chiều về tới nhà . Ngủ với vợ đêm thứ bảy, đêm chủ nhật. Sáng thứ hai đạp trưa thứ ba về tới trường. Trường cho đi vậy là vì trường cũng có lợi. Mỗi thằng đi sẽ cộ về bao nhiêu là thứ cần thiết, từ cái lưỡi cạo râu, hộp thuốc chà răng đến bình-toong, xanh-tuya-rông Mỹ. Bên cạnh đó là thuốc Tây thứ hiếm cũng mua được. Ngoài ra còn năm, sáu con gà mái gà trống, nhiều khi còn đèo cả heo con về. Đó mày thấy trong trường hiện giờ ở khu nào cũng có gà gáy heo kêu là nhờ những chàng quê Củ Chi đấy. Nhưng bây giờ chấm đứt. Nó đánh Củ Chi tan cả rồi. Mày biết mà ! Mày có con “ẻn” nào ở dưới đó không. Nếu có chắc nghe B52 mày thót ruột lắm.

– Tôi chỉ mong về Củ Chi để móc gia đình thôi. Nhưng tôi có gia đình má Hai ở Hố Bò. Có các em Lụa, Là và bé Rớt. Những người đàn bà bất hạnh, mỗi người mỗi kiểu, rất thương tôi. Má Hai coi tôi như con trai lớn, anh của Lụa Là đã hi sinh năm 1946 trong trận đánh đồn Bến Súc.

– Mày không móc gia đình à?

– Có nhưng móc quác.

– Sao vậy?

– Không tìm được vì gia đình dời đi chỗ khác. Còn anh?

– Tao không muốn móc miết gì cả. Đi tận Bến Tre xa quá ở nhà tao không còn ai đi được. Má tao nếu còn sống chắc đã gần bảy mươi.

– Anh không tính vụ vợ con gì à ?

– Tính cách nào?

– Chị Chín Việt, anh nghĩ sao?

– Tao không bao giờ lấy đàn bà ! Huống chi đàn bà kiểu bà đó!!

– Con gái đâu còn, anh!

– Thì thôi vậy !

– Nói như anh sao được ! Nữa rồi ai giỗ quải cho?

– Tụi mình sớm muộn gì cũng tan xác thôi. Ở đó mà lo giỗ quải!

– Tới đâu hay tới đó chứ biết sao bây giờ?

– Tao tưởng ở trong này giải phóng thênh thang như hồi đánh Pháp. Chẳng dè về đây lại không được miếng đất cặm dùi. Mày có để ý không, hằng ngày phản lực Phantom, Thunderchief, rú qua đầu mình! Chúng nó đánh Tà Păng, Băng Đung, cầu Cần Đăng hàng ngày. Chặt đứt xương sống của mình xong, chúng nó sẽ róc ba sườn mình chớ không có để yên đâu. Mày cứ nghe đài Sài gòn thì biết. Bọn mình ra Sài gòn nhiều lắm. Vừa rồi có một trự tên là Hai Tốt trưởng ban tài chánh của I/4. Nó ôm cả chục triệu bạc phóng ra Sài gòn, tụi I/4 ở trong này đói nhăn răng, nhưng làm gì được.

– Tôi cũng có nghe vụ đó ! Tôi không hiểu sao không giao cho một đồng chí lập trường vững giữ tiền?

– Lập trường vững bằng Kiều Đắc Thắng ở Nam Bộ và Trần Dụ Châu ở Việt Bắc không? Hai thằng đó đều bị xử tứ vì tham ô.

– Tôi không hiểu mấy thằng đó ăn được giấy hay sao mà quơ nhiều vậy?

– Giấy rồi đổi ra vàng, giấy mua được l… mày hiểu không? Do đó nó mới ăn giấy. Đời này không có thằng nào giữ được lập trường đứng trước mùi tanh của hai món đó . Mấy ông làm bộ tự tu hàng ngày càng mê dữ. Đây rồi mày sẽ thấy trong trường mình sẽ có năm ba cuộc kiểm thảo về vụ l. . . nữa. Không phải kiểu thằng Sâm đâu mà kiểu khác. Cũng vụ cháu nuôi em nuôi. Tao ớn ba cái cuộc kiểm thảo này quá !

Vừa đến đây thì có tiếng súng xa xa. Một tiếng gọn lỏn. Bùi Khanh dứt ngay, hai đứa lắng tai nghe. Tôi bảo anh em:

– Coi chừng biệt kích.

– Biệt kích không đi giờ này đâu.

– Hay là thằng nào tự “xuông cựa” theo kiểu trên đường Trường Sơn?

– Không phải đâu! Tiểu đội này tao chọn toàn là thứ bảnh.

Hai đứa tiếp tục uống trà. Ga-men nước sôi đã cạn. Trà cũng nhạt. Tôi bốc mớ xác trà bỏ vào mồm nhai để chấm dứt buổi uống trà. Bỗng thằng Lực chạy tới, hớt ha hớt hãi, nửa nói nửa báo cáo:

– Có đồ cải thiện rồi thủ trưởng ơi!

– Gì đó?

– Tụi nó bảo là heo rừng.

– Ở đâu mà gặp vậy?

– Chúng nó không nghỉ trưa, kéo nhau đi “râm” gặp con heo nái dắt một bầy con ra rẩy.

– Rẩy nào?

– Không biết rẩy của cơ quan nào tự túc hay của dân.

– Dân nào nữa. Đó là của ông kẹ nào đấy?

– Bây giờ thủ trướng tính sao?

– Mà chắc đã hạ chưa chớ?

– Dạ hạ rồi mà . Cái thằng thiện xạ thiệt. Chỉ một phát vỡ sọ con mẹ, còn bầy con chạy tản vô rừng. Tụi nó về báo cáo cho em mà.

Tôi mừng như bắt được vàng. Lâu nay trong cơ quan không có mỡ thoa mép. Tôi bàn với Bùi Khanh cho đình bộ lại đây giải quyết con heo rồi mai sẽ đi cũng không muộn. Cách mạng cả đời chớ phải một ngày một bữa gì. Bùi Khanh cũng đồng ý lại còn thêm:

– Mình chỉ chiếm hữu một nửa thôi, còn một nửa muối gói trong ni- lông quảy theo ghé gởi trại sản xuất của Sáu Ngọc rồi bận về lấy!

Vừa đến đó thì một đám người kéo tới. Thằng Lực xoa tay:

– Trở lại xẻ thịt đem về !

Nhưng khi nó dứt tiếng thì tôi nhận thấy trong đám người có mấy bộ mặt lạ. Một người mặt vuông với một chòm râu bạc dưới cằm, hỏi phong long:

– Thủ trưởng của các anh là ai?

– Dạ ông này.

Một người lính trỏ vào Lực, nhưng có lẽ Lực đoán biết có chuyện không lành nên né ngang và trỏ vào tôi. Lực hơi nóng mặt.

– Đây là thủ trường của tôi ! Mà có việc gì vậy hả ? Cái rẩy của đồng chí hả?

– Rẩy của tôi.

– Tôi bắn con heo rừng chớ đâu có động tới hoa màu của đồng chí?

Người kia kêu lên thảm thiết:

– Các đồng chí giết anh em tôi rồi!

Rồi nghẹn cổ khóc mùi. Chúng tôi sửng sốt không hiểu chuyện gì vậy. Anh ta quệt nước mắt và mếu máo:

– Heo gì mà heo rừng! Heo tự túc của chúng tôi?

Tôi mới ngã ngửa , đưa mắt nhìn thằng Lực. Lực và cả bọn đứng lặng ngắt. Thằng Lực chớp chớp mắt:

– Tôi tưởng là heo rừng… Nếu biết là heo tự túc thì tôi đâu dám bắn.

Người kia như không nghe thấy gì cứ kể lể:

– Con heo của chúng tôi nuôi hơn một năm nay mới đẻ một bầy mười một con. Các đồng chí bắn mẹ rồi làm sao nuôi con. Chúng tôi toàn là đàn ông vú đâu mà cho nó bú?

– Thôi được rồi !

Bùi Khanh đứng dậy khỏi võng đến vỗ vai ông đồng chí thảm não, bảo:

– Giá bao nhiêu chúng tôi đền.

– Đền gì kỳ cục vậy mà đền?

– Chúng tôi làm hại của đồng chí chúng tôi đền, không có kỳ cục gì cả .

Có lẽ ông chủ heo thấy nguôi nguôi nên nói:

– Heo mẹ thì không bao nhiêu, chỉ tội nghiệp bầy con.

– Chúng tôi đền cả bầy con – Tôi nói tiếp và gọi viên quản lý đến – Anh lấy tiền xĩa cho đồng chí ấy.

Tiền phụ cấp công tác, tiền ăn của hơn một tiểu đội và tiền của những người học sinh gởi mua đồ lặt vặt ở vùng tiếp cận ấp chiến lược gom lại có trên mười ngàn.

– Anh cho biết giá con heo mẹ và bầy con bao nhiêu, chúng tôi chồng đủ.

– Chúng tôi chỉ lấy tiền con mẹ thôi ạ.

– Chúng tôi chỉ lấy một nửa thịt ăn đi đường, còn một nửa biếu lại các đồng chí như tạ cái lỗi bắn nhầm.

Ông đồng chí không ngờ tôi giải quyết ngon lành và nhanh chóng như thế, nên đứng ngập ngừng không dám lấy tiền mà cũng không từ chối. Một chốc anh ta nói:

– Để tôi về báo cáo thủ trưởng của tôi xem ổng nói sao. Ổng ở trên Cục vừa mới xuống.

– Nhanh lên để thịt sình hết.

Chập sau ông thủ trưởng đến, một người to lớn tóc hoa râm với cặp chân mày có thể che kín cho ba trung đội. Vừa thấy hắn, tôi nhảy xuống võng chạy tới:

– Thiếu tá Phụng!

– Thầy Lôi !

Chung tôi ôm quàng nhau, cảm động. Tôi trỏ Bùi Khanh:

– Thiếu tá còn nhớ ông đó không?

– Bùi Khanh!

Chúng tôi mừng rỡ ngộ cố tri giữa sự ngạc nhiên của lính tráng hai bên. Thiếu tá Phụng là dân Bê Ka ở E400 với tôi và Bùi Khanh ngoài Sơn Tây. Ông ta là một con người dễ chịu và rất “xáp” với dân Nam Kỳ. Ở xéo cổng trường có một cái quán do một bà Bắc vợ lính Tây đâu hồi thời Pháp. Ngày xưa, Pháp cũng đào tạo sĩ quan Pháo Binh ở đây. Bà ta sống nhờ bán đồ nhậu cho nhà binh. Chúng tôi gọi bà là bà “Ba Cạo” vì tính chất bóc lột của bà ta. Cứ chiều thứ bảy là bọn Nam Kỳ chúng tôi một lũ sinh vô gia cư, tử vô địa táng, không biết ngày nào về xứ, nên không để nái tiền – cứ ra đây đóng cửa quán rồi ba bàn ken làm một mua mão hết tất cả các món của bà Cạo, nhậu tới khuya trở vô trại ngủ mà mơ về Nam.

Thiếu tá Phụng thích lắm. Hễ tụi tôi báo tin nhậu là đi ngay không chần chừ. Nhưng tụi tôi thương hoàn cảnh nghèo đông con của ông Bắc Kỳ chịu chơi nên không nhận tiền hùn của ông ta. Ngoài ra lại còn dành phần gạo những lần đi phép hoặc những buổi không báo cơm. Chiều thứ bảy nào không lâm trận thì ông thiếu tá chở một thùng gạo về cho mẹ đỉ ở Hà Nội. Khi chúng tôi được đăng tên lên bảng Phong Thần, thiếu tá Phụng ở lại buồn lắm: “Tụi mày đi rồi, tao đếch biết chơi với ai?” ông ta khóc như con nít khi chúng tôi lên xe.

Sau khi biết lính của tôi là thủ phạm giết heo, ông ta bảo:

– Hòa cả làng! Đền cái đéo gì. Để đó bắt Mỹ đền sau. Bây giờ xẻ thịt đem về ta liên hoan một bữa!

Thế là chúng tôi về trại của Thiếu tá Phụng. Lửa khói mịt trời chiều hôm đó. Tối lại ba ông bạn tri âm nằm võng chụm đầu nhau ôn chuyện xưa. Những đêm nhậu ở quán bà Cạo, những trận đá bóng giữa Tham Mưu và Pháo Binh, những buổi đánh cá lén bằng mìn ở sông Bùi và những buổi diễn tập pháo binh thời kỳ khởi đầu mới có binh chủng pháo. Pháo thủ bắn toàn bằng … mồm và khói pháo làm bằng tro, còn thước ngắm thì làm bằng gổ đẽo. Pháo thủ số một hét “đoành” thì đếm độ chín, mười đếm đằng kia tung tro làm đạn nổ. Thiếu tá Phụng nói:

– Mình làm sao mà đương đầu nổi với tụi 155-170 ly của Mỹ hở các ông?

Tôi cười:

– Đưa ngực ra chơi chớ làm sao, Thiếu tá!

– Địt bố nó bắn gì như mưa . Tớ lội vô tới Bình Long nghe nó bắn lăn xuống đất không kịp.

– Chưa bằng ở Củ Chi đâu Thiếu tá!

– Thôi dẹp ba cái Thiếu với Thừa đi. Trong rừng này mạng sống của mỗi người ngang nhau cả.

– Anh có dịp xuống Củ Chi sẽ nếm mùi đầy đủ hơn.

– Mẹ kiếp, chúng nó đã đánh gục cầu Hàm Rồng, cầu Ninh Bình, cầu Long Biên bị thương. Cảng Bến Thủy cũng tan rồi. Trường Đại Học Vinh tản cư bằng xe bò. Trước ngày tôi đi có tin hai tàu gạo từ Hà Nội vào Vinh để chuyển vào Trường Sơn bị đánh chìm ở sông Bến Thủy.

– Pháo 55 của Liên Xô đã sang chưa?

– Sang rồi! Kết quả không khá lắm. Vì pháo thủ của mình chưa có kinh nghiệm.

– Mỹ có dám đổ bộ vô bờ biển Nam Định hoặc Hải Phòng không anh?

– Ở trên có kế hoạch phòng thủ lâu rồi, nhưng ai mà biết được chuyện gì sẽ xảy ra?

– Anh có nghe vụ tàu Maddox thế nào không?

– Thế nào là thế nào?

– Tôi nghe đồn là nó bị mình bắn chìm ngoài khơi Vịnh Hạ Long !

– Nó về Mỹ nhậu sâm banh thì có ! Cậu có quen với Đồng Văn Cống không?

– Có biết nhưng không quen. Tôi gốc F338 chớ không phải F330.

– Thằng con ổng đánh phản lực Mỹ vừa hi sinh.

– Thằng Đồng Văn Đe, học sinh Miền Nam. Nó có con mèo đẹp lắm tên con Điệp. Sắp cưới.

– Bây giờ bỏ lại cho ai?. . . Hà Nội bây giờ như cái tổ ong rỗng.

– Vợ con anh tản đi đâu?

– Bắc Ninh.

– Đã gần được tiểu đội chưa?

– Quá bán! Khi tớ đi bả lại mang bầu. Không khéo con đếch biết mặt bố.

– Pháo của ông chính xác trăm phần trăm. Cứ châm ngòi tức thì trúng phóc.

Bùi Khanh lên tiếng:

– Mỗi chiều thứ bảy tôi đều dặn ông xài ngòi nổ chậm mà ông không nghe.

– Tôi xài mã tử nữa chứ, nhưng đến chừng trúng vẫn trúng!

– Ở đây không có quán bà Cạo nhưng vài tuần có thể tụi mình ken bàn làm một nhát.

– Mình ở trên Cục của ông Chín Vinh chớ đâu có được ra ngoài.

– Ông già Phích vô rồi phải không?

– Vô rồi. Tình hình sắp căng thẳng đến nơi. Ba cái trại trồng cà trồng bí nuôi heo nuôi gà sắp dẹp để lấy người cầm súng. Ông vô vài ngày là dẹp chế độ cần vụ của mấy ông lớn. Đại tá trở lên tới công tác mới được đem cần vụ, còn ở nhà cũng không có. Sắp có đại hội to. Có dịp về trên đó chơi một phát.

– Dưa hấu rụng ầm ầm trên đó chơi gì ở trển mà chơi anh?

– Ở đâu bây giờ không có dưa hả cậu? Mặt đất như cái rổ thưa rồi. Mình may nên lọt kẽ nan.

– Bây giờ cho tôi trở ra Hà Nội thì tôi ăn liền ba tô phở mới đã khẩu.

– Chậc chậc… Phở Hà Nội bây giờ không ngửi được.

– Cũng còn khá hơn măng le luộc chấm muối trong này.

– Bây giờ toàn là một thứ phở “không người lái”.

– Là cái phở quái gì nghe lạ vậy?

– Là phở không có thịt.

– Phở không có thịt thì gọi là phở không có thịt chớ sao gọi là phở không người lái?

– Ba cái đám cao bồi Hà Nội nó chế diễu Chính Phủ ta. Công an bắt về bót phạt chúng nhưng hễ được thả là chúng lại “phở không người lái”!

Bùi Khanh chêm vào.

– Nói vậy tụi tôi ở trong này ăn cơm không người lái mấy năm rồi!

– Cơm măng le lái, đậu phộng lái, thịt mễn lái chớ anh!

– Ở ờ cũng có thịt lái, như bữa nay thịt heo nái lái.

Thiếu tá Phụng cười to lên:

– Nhờ mấy cha mà tôi được một bữa lòng lợn nái no đến cạnh tai.

Nói chuyện ba đồng bảy đổi tới khuya, Thiếu tá Phụng mới quèo tụi tôi lên phòng của trại.

– Tôi mời hai ông lên để hỏi ý kiến về một vụ rất quan trọng có liên quan đến chánh sách của mặt trận. Do đó trên Bộ Chỉ Huy mới đưa tôi xuống đây.

Rồi ông trình bày tóm tắt.

Tôi được biết là vụ Thiếu úy Phùng Văn Mười cháu ruột của bác sĩ Phùng Văn Cung, phó chủ tịch Mặt Trận. Mười làm binh biến ở Bình Dương lái xe M113 từ căn cứ Gò Đậu trên quốc lộ 13 về Chơn Thành bị đơn vị đuổi bắt lại được, chỉ một mình Mười trốn thoát nhưng nhảy bỏ xe trong rừng chạy lấy thân. Ông Thiếu úy Mười hiện nằm tại trại sản xuất này với tư cách nhà báo. Mười được ở không để “viết báo” tố cáo chế độ Mỹ Thiệu . Viết đã hết cả chục tập vở học trò nhưng chẳng ai dùng. Ở đây họ Phùng bị giam lỏng nhưng không biết, tưởng mình được ưu đãi. Mười muốn gặp ông chú là Bác sĩ Cung nhưng ở trên cho hay ông ấy đang đi ngoại quốc.

Bây giờ ở trên phái Thiếu tá Phụng xuống xem xét tình thế để giải quyết cụ thể và lâu dài hơn. Chẳng lẽ để một ông Thiếu úy “có tinh thần yêu nước nồng nàn” mà Mặt Trận coi như một anh hùng lại ở chung với đám người nuôi gà nuôi lợn và trồng rau cải mãi hay sao? Tội nghiệp mấy ông bà giác ngộ chánh sách Mặt Trận đang ở Sài gòn bỗng nhảy ra đây ở tù mà cứ tưởng mình là vĩ nhân. Văn sĩ Thủy Thủ tức Thiếu úy Thái Trần Trọng Nghĩa, Đại úy Phan Lạc Tuyên, bà Quỳnh Hoa, kỷ sư Cao Văn Bổn, v..v… hiện đang nhao nháo ở Báu Lùng Tung gần Xa-mách không biết giải phóng ai ngoài ba con khỉ đực khỉ cái khỉ bé khỉ già . Ông Bổn rầu đến chết. Còn ông kỷ sư Hồ Văn Bản thì thừa cơ lính gác sơ hở chui đi biệt tích. Do đó ở trên đã không cho Mười về “hợp tác xã” với nhóm này mà bị cô lập ở đây.

Thiếu tá Phụng hỏi.

– Các đồng chí cho biết ý kiến nên đối xử cách nào?

Tôi đáp ngay:

– Tôi không biết gì đâu mà “kiến lửa kiến hôi”, anh ơi !

Bùi Khanh lè nhè giọng chán nản:

– Trên bảo là trời bảo.

– Nhưng ở trên không có nói gì cụ thể. Chỉ bảo tôi xuống đây tùy tình hình cụ thể mà giải quyết. Bố tôi không biết nên giải quyết như thế nào. – Thiếu tá Phụng nói nhỏ lại chỉ đủ hai người nghe – ở trên bảo tình hình sắp tới động lắm, nếu để như thế này mãi, có thể anh ta… thì khốn. Tôi không hiểu ý trên muốn gì.

Tôi biết Bùi Khanh là con người dè dặt. Anh chẳng bao giờ cho ý kiến đâu! Nên tôi phang bừa trúng trật thây kệ, trách nhiệm gì mà sợ:

– Nếu gởi được cậu ta về với ông bác sĩ thì nên gởi. Cậu ta có công với Mặt Trận thì Mặt Trận khen thưởng, chớ quân đội có ăn nhằm gì với cậu ta. Hai quân đội, hai tư tưởng đối nghịch làm sao ta có thể phong quân hàm Thiếu úy cho cậu ta được. Mặc dù trong chính sách địch ngụy vận của ta có nói những sĩ quan nào của quân đội Sài gòn bỏ hàng ngũ về với ta sẽ được giữ nguyên lương nguyên cấp, nhưng đó chẳng qua là miếng mồi câu nhử thôi.

Thiếu tá Phụng gật gù lia lịa:

– Đồng chí nói giống in đồng chí Chín Vinh.

(Cùng nhào vô cuộc binh biến này còn có một binh sĩ tên là Út quê ở Bến Tre. Anh cũng mê lời kêu gọi của Mặt Trận mà liều mạng theo Mười, nhưng về tới quê nhà rồi Mặt Trận bỏ lăn lóc như con chó chẳng thí một hạt gạo cho vợ con anh ta, một lầm hai lỡ, tiến không có đường mà lui thì không có lối nên đi làm mướn kiếm ăn.

Từ cái đêm nói chuyện với Thiếu tá Phụng, tôi có hỏi thăm Mười, ý muốn xin y về trường đề khai thác tài liệu sống rất ứng dụng cho khoa pháo phòng tăng mà tôi sẽ dựng thêm trong tương lai. Ở trên hứa lần hồi, nhưng chẳng bao giờ y được về trường tôi. Sau đó chẳng ai có thể biết được y ở đâu ?)

Bùi Khanh cáo mệt rút lui. Gạt bỏ mọi công tác qua một bên chúng tôi nói chuyện tình cảm. Tôi hỏi ngay:

– Lúc ở lại anh có đi coi Văn Công lần nào không?

– Văn Công nào?

– Văn Công nào cũng được!

– Nhưng tôi biết chú mày hỏi tôi có đi coi Văn Công Tổng Cục Chính Trị phải không?

– Thì cũng đâu đó !

– Và có xem múa hoa Champa, nghe hát Lâm Tơi không chớ gì?

– Ừ, con nhỏ có chịu vô ngàm thằng Coong Le không?

– Chú mày đoán thử xem?

– Tôi nghĩ con nhỏ mê làm bà Trung tướng hơn là đi hát dạo kiếm những loạt vỗ tay thừa.

– Sao chú chắc vậy?

– Vì đàn bà là như vậy, họ mê tiền hơn tình.

– Chú trở thành triết lý gia hồi nào vậy?

– Hồi tôi bị một ông Tư lệnh cuỗm người yêu trong kháng chiến chống Pháp.

– Có vậy nữa à?

– Có chớ !

– Tư lệnh nào? Ông ta ở đâu bây giờ?

– Tôi nói ra thì bị dìm bỏ mẹ. Ông ta cho tôi đi công tác rồi bảo đồng đội của tôi bắn vén ót tôi cũng nên.

– Bậy bạ hoài chú em!

– Tôi đã từng biết một chuyện như vậy mà anh. Cũng lại một ông Tư lệnh.

– Nhưng con nhỏ Hoa Champa này thì lại không vậy. Cô ta vứt tiền của anh kia tặng và chê anh ta có bộ mặt đần như lợn. Sỡ dĩ anh chàng thấy con nhỏ rồi mê mẫn luôn là do chuyến biểu diễn của đoàn Văn Công Tổng Cục Chính Trị ở Cánh Đồng Chum.

– Tôi biết. Vì lúc đó tôi còn ở ngoài Hà Nội !

– Bộ cậu có màn gì với người ta hả ?

– Không, tôi có nhiều màn với nhiều người khác, còn người này thì lại có cả một đường tơ với một anh chàng Nam Bộ mà anh chàng đã vô Nam rồi và hiện đang ở đây.

– Hả? Anh ta đang ở đây? Trong đoàn của cậu?

Tôi giật mình suýt nói thật, nên chối phắc:

– Không, ở trường cơ.

– Con bướm kia đã có gì với cái hoa Champa không?

Tôi đáp xui xị buồn thiu.

– Tôi không biết.

Cái con bướm đó là thằng vừa bị gởi từ chiến trường Bình Giả về và sắp đi làm khổ sai để chuộc cái tội ba lăng nhăng. Đi năm sông bảy biển không sao, lại gục mặt chết ở lỗ chân trâu. Anh hùng là thế đó! Có đau không anh hùng?

Tôi về võng nằm trăn trở nhớ chuyện bao la trời đất từ chín năm chống Pháp, mười năm tập kết và những chuyện mới đây. Tất cả dậy lên nóng hổi. Những bạn bè thân thiết, những vị chỉ huy kính mến, những người anh chân tình và những người bạn gái mến yêu, vô số người và việc.

Những đoạn đường vui vẻ, những khúc quẹo trắc ẩn, những tiếng súng và những giọng cười trong đời tôi, mỗi nơi mỗi chặng đều khác nhau, nhưng tất cả đều làm cho tôi kết luận: Đời sao mà khổ quá . Hạnh phúc như cái bóng của chính mình. Nó ở ngay trước mặt tưởng vớ được ngay nhưng không bao giờ. Từ năm 1946 đã nghe mùi khói lửa Bến Súc, năm 47 đã dám tổ chức đánh xe tăng Pháp và thành công to bất ngờ, năm 49 đã vô đảng khi tuổi thành nhân chưa tới, đã từng cãi nhau với Hà Huy Giáp về chủ nghĩa Mác và ông này đã phải nói với bác sĩ Trần Văn Du là thằng nhỏ thông minh kỳ lạ (do đó chính ông ta kết nạp tôi vào đảng). Hai mươi năm đi theo cách mạng không hề bị một kỷ luật nhỏ, lúc nào cũng được khen là cán bộ tiền phong. Ngay cả giáo sư pháo binh Liên Xô và Trung Quốc cũng chịu tôi là một cán bộ quân sự đầy triển vọng. Tôi đã tác xạ cho các ông ấy xem tại thực địa, chính các ông đã cho tôi điểm tối ưu và đề nghị cho tôi sang Liên Xô học thêm.

Nhưng bây giờ thì nằm ở đây như con cá mắc cạn, đầu cá thì vùi trong đống tro, đuôi cá quẩy lên bãi cát còn bụng cá thì cố trườn trên những hòn đá cuội nhám nhúa. Con cá ấy còn có thể lóc được bao xa nữa thì khô nhớt, tróc hết vảy rồi nằm im?

Trường pháo binh mở ra là do yêu cầu của chiến trường. Làm sĩ quan ai cũng biết pháo binh là linh hồn, còn bộ binh là vua của trận địa. Tôi đã tổng kết được một điều sau những năm chiến đấu ở miền Nam (gồm cả Củ Chi nơi tôi chỉ huy Tiểu đoàn Thép và Trung đoàn Quyết Thắng suốt năm năm)

“Trừ B52 ra, đáng gờm nhất là anh bạn Pháo”. Pháo gây thiệt hại nặng nề và bất ngờ nhất cho quân giải phóng Miền Nam. Ngược lại Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà không ngán đánh trận địa chiến, không ngán quân giải phóng tấn công cứ điểm, những loại chiến này họ có thể đề phòng được dễ dàng vì họ có quá nhiều phương tiện hiện đại. Họ chỉ ngán pháo kích. Khó mà đề phòng được những trận pháo kích. Phần lớn các cuộc pháo kích của quân giải phóng đều sai mục tiêu. (Tôi sẽ nói rõ điều này ở những trang sau.) Nhưng dù sai, tiếng nổ vẫn gây hoang mang cho lính, cho dân. Do đó ở trên quyết định mở trường pháo binh. Nhưng không cấp cho phương tiện huấn luyện. Thậm chí những phương tiện cơ bản nhất cũng không có. Kể ra thì nhiều vô cùng. Chỉ xin nêu một vấn đề: Đó là vấn đề học sinh.

Muốn học môn pháo binh cơ bản nghĩa là thấp nhất phải có trình độ lớp nhất trường quận (Cours Supérieur) nghĩa là biết rành bốn phép toán, phân số và có trí thông minh. Tính toán phải nhanh vì ở trận địa người chỉ huy pháo phải quyết định trong vòng tích tắc. Không thể ở đó ì ạch nhơn chia trừ cộng như cậu học trò dở môn toán. Ấy vậy mà học sinh của tôi, trên ba trăm mạng, khổ thay, phân nửa chưa làm rành bốn phép toán thì làm sao mà thu nhận được những bài toán của ngành pháo binh. Vì thế ở Bình Giả, Tư lệnh Pháo Binh R, Đại tá Ba Nhã đã không hoàn thành nhiệm vụ. Các đơn vị pháo của ông “đấm lưng bộ binh” hơi mạnh. Ông có đi học ở Trung Quốc, nhưng các đơn vị pháo thì không đồng nhất. Một số dùng DKZ, một số dùng pháo của Nhật, một số khác dùng pháo Liên Xô, Trung Quốc… Tội nghiệp cho ông! Không có ông Tư lệnh pháo nào khổ tâm bằng ông Ba Nhã ở Bình Giả.

Do lập trường chủ nghĩa của đảng mà ngành pháo binh “Linh hồn của chiến địa” lại yếu nhất. Vì trong cải cách ruộng đất những trí thức bị loại trừ một trăm phần trăm. Có xài chăng thì đây cũng chỉ vớt vát cho công tác hụ hợ như trợ lý văn hoá, trợ lý câu lạc bộ là những thứ không có tính chất quyết định trên chiến trường.

Tôi biết Thượng tướng Văn Tiến Dũng gốc là thợ may của xưởng may Cự Phát ngày xưa. Bây giờ là Tổng tham mưu trưởng một đạo quân một triệu người thì làm thế nào? Thời kỳ chống Pháp, đánh giặc như một trò chơi nguy hiểm. Mỗi vị chỉ huy là một nhà chiến thuật, muốn đánh sao đánh, đến đổi đánh theo chiến thuật Hoàng Thọ (lính chết sạch trơn) cũng không tội lệ gì. Binh chủng Pháo hầu như không có. Tôi đã từng đánh những trận ở Cần Thơ, ở Sóc Xoài, ở Ba Dầu, Định Mỹ..v..v… nhiều khi muốn bắn một quả pháo, vì không có chỗ đặt, chiến sĩ phải đưa lưng ra làm đế pháo. Sự hi sinh thật là vô bờ. Nhiều khi bộ binh đã bố trí xong, chờ pháo mở đợt phá khẩu nhưng pháo lại câm tịt. Bộ binh phải kiêm luôn cả pháo binh dùng súng máy để bắn tường gạch, nhậm nhầy rồi xung phong ẩu.

Thời kỳ chống Mỹ này nhất thiết không nên để chiến sĩ hi sinh như thế nữa. Bởi vì quân đội nhân dân Việt Nam đã xây dựng trên mười năm rồi mà khẩu hiệu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là “tiến nhanh lên chính quy hiện đại.”.

Tôi là con nhà pháo nên thấy pháo ta hành quân trên đường Trường Sơn mà không dám ngó vì đau đớn và xấu hổ. Bạn có thể tưởng tượng được một khẩu đội sốt rét 100% phải di chuyển một nòng pháo 75 ly không? Ở nhiều khẩu đội chiến sĩ ngã bị pháo đè gãy chân, hoặc rơi luôn xuống hố. Bên lề đường lâu lâu lại thấy một đế cối 81 hoặc 60 nằm im cho cỏ phủ lên. Nghĩ tới việc hiện đại hóa quân đội mà ngán ngẫm, ngán ngẫm và ê ẩm.

Bây giờ tôi phải dạy lại toán trừ toán cộng cho “học sinh pháo binh” của tôi trước khi huấn luyện họ xử dụng pháo. Họ đâu có hình dung được pháo binh là gì. Góc độ lấy không đúng một ly có thể giết hàng trăm mạng như chơi.

Cái nạn lập trường đã tàn phá đất nước trong một thời gian dài mấy chục năm về mặt vật chất lẫn tinh thần. Về mặt vật chất thì có thể sửa chữa nhưng về mặt tinh thần thì thuốc men đâu? Trí thức ào ào đi theo kháng chiến như một lực lượng vĩ đại nhờ đó mà kháng chiến thành công. Nhưng khi kháng chiến thành công rồi thì trí thức trở thành một tai nạn, như Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Đào Duy Anh… kể không xiết. Ở xã tôi có Tư Kiết người đổ bằng Tú Tài trước kháng chiến. Anh đi kháng chiến rồi tập kết ra Bắc được đối xử còn thua một thằng chăn trâu, nực cười thay trong lúc đó những thằng chăn trâu đóng trò trí thức.

Tôi chỉ là một học sinh, trình độ chẳng nước mẹ gì so với mấy ông ấy, nhưng thấy các ổng lang thang tôi không khỏi xót xa buồn dùm cho các ổng.

Do cái thứ lập trường vô sản mọi rợ đó mà ngày nay học sinh pháo binh toàn là du kích hoặc những người có trình độ Bình dân học vụ. Nhưng tôi phải dạy làm thế nào cho họ trở thành pháo thủ.

Đêm sâu mù mịt. Rừng sâu mịt mù. tiếng con dế hay con vạc sành vô tư cũng đều có vẻ dã man làm cho rừng rú càng thêm dã man rừng rú. Tôi đã sống trên một ngàn đêm như thế này trong đời chiến sĩ của tôi.

Bữa sau đoàn diễn tập của trường pháo binh R đến nơi thực địa. Đó là cái nền đồn Bổ Túc. Một trăm lính và cán bộ đã gục ngã chung quanh đồn để đổi lấy một khúc đường Tự Do. Mả của tiểu đoàn trường Chín Việt nay đã biến mất. Đơn vị đã chôn nhanh đắp vội đâu đó nay đã không còn tìm ra dấu vết. Tôn Sứt lội quần tìm kiếm nhưng không còn có thể xác định mô đất nào. Tất cả đều thay đổi. Cây con hồi đó bây giờ đã cao to. Đất lồi trở thành vũng lầy…

Tôi sực nhớ cái chết của thằng Trần Chánh Lý. Nó dựa vào gốc cây bên đường. Khi anh em tiếp tục đi, đến gọi nó thì thấy nó đã tắt thở đầu nghẹo qua một bên. Chúng tôi chôn vội và lại đi. Đến trạm Tam Biên gặp Sáu Phương bạn cũ, tôi chỉ chỗ và nhờ anh cải táng dùm.

Đứng giữa rừng hoang súng đạn lổn cổn sao không thấy oai phong mà lại rũng chí tơ lòng. Bùi Khanh ngồi thở dốc. Tôi cố làm ra vẻ hăng hái cho cuộc diễn tập bắt đầu.

Súng DKZ đặt xuống, nòng pháo hướng về Suối Ngô . Tôi sẽ cho bắn ba phát để lấy quân bình điểm chạm. Cự ly gần nhất là hai cây số. Xa nhất là năm cây số.

Pháo thủ đào hố sâu phía sau nòng pháo để lúc bắn sức giật lùi có chỗ thoát, vì DKZ 75 là loại canon sans recule, tức là khi viên đạn được tống ra nòng pháo không giật về phía sau nhưng hơi tống phải phụt ra lỗ thoát của bộ phận cơ bẩm khóa nòng. Khi nòng pháo nghếch lên thì đuôi nòng chúi xuống đất, do đó phải đào một hố sâu cho hơi có lối thoát. Loại pháo này chỉ dùng để bắn trực xạ nghĩa là bắn thẳng vào mục tiêu như súng máy súng trường nhưng hoàn cảnh thiếu vũ khí, chúng tôi phải dùng nó trong việc bắn gián xạ, nghĩa là bắn vòng cầu vào mục tiêu che khuất. Loại súng 75 ly của Pháp hoặc pháo bộ binh 40 ly của Nhật thường dùng trong loại bắn này, nhưng vì ở trên chỉ thị cho chúng tôi phải đề ra sáng kiến, dùng DKZ 75 bắn vòng cầu để rút kinh nghiệm sau này pháo kích sân bay hoặc thị xã. Thấy đạn của pháo 75 Pháp và DKZ 75 không khác nhau bao nhiêu nên Ban Tác Huấn (tức Huấn luyện tác chiến) của Bộ Tư Lịnh Pháo Binh R ra lệnh cho chúng tôi bắn thử. Dùng kính ngắm của pháo Pháp 75 ly gắn cho DKZ 75 để đo mục tiêu là lấy góc độ. Đúng là một cái lệnh ẩu tả giống in như lệnh Tấn Công Tết Mậu Thân. Người ta coi mạng lính như ngoé.

Để tránh nguy hiểm, tôi bảo Tôn Sứt nối dây dài buộc vào cò súng chuyền ra xa để giật. Rủi có bề gì thì không bị sát thương.

-“Đạn nổ, ngòi tức thì, liều năm! Bắn!

Tôn Sứt quát rồi giật dây.

Cuối cùng chúng tôi bắn được ba quả. Mất nửa ngày kể cả bắn, kiểm tra kết quả và rút kinh nghiệm. Đạn nổ ăn trét. Phát đạn đạt nhất cũng cách mục tiêu một trăm thước tây. Đã bảo sáng kiến mà. Kính ngắm của pháo Pháp gán cho DKZ Trung Quốc. Đúng là râu ông Tây cặm cằm bà Tàu. Chả trách một trăm trận pháo kích có đến chín mươi chín trận pháo vô nhà dân.

Kỳ bắn thử này cho chúng tôi một kết luận tạm thời rằng DKZ 75 có thể bắn mục tiêu che khuất trong vòng từ ba đến năm cây số.

Chúng tôi đang đi tới đi lui bàn tán xem xét và định làm vài phát nữa thì có người tới. Đó là Ban Bảo Vệ Căn Cứ R tức là một bộ phận của Trung Doàn Bộ Binh của ông Lê Thanh.

(Sau này nó bị ông đại tướng Mặt Sắt dẹp quách và đưa ra hai công trường 5 và 9 để chiến đấu. Lê Thanh về làm Phó Chánh ủy I/4 bí danh Tám Dọn.)

Tưởng ai xa lạ gì, chẳng ngờ là thằng Hùng Cối học sinh của trường pháo biệt phái về đơn vị ông Lê Thanh. Hùng cho biết là ban Bảo Vệ nghe cà nông nổ nên phái một toán đi sưu tầm kẻ phá rối trật tự để lập biên bản và nó chẳng ngờ kẻ đó lại là thầy của nó, cho nên hòa cả làng. Tôi giải thích cho nó nghe kế hoạch của Bộ Tư Lệnh Pháo v..v… Nó không có cách nào hơn là… bày tiệc dã chiến nhậu với thủ trưởng của nó và cuối cùng năn nỉ thầy nó về văn phòng Ban Bảo Vệ để giải thích cho ông Tám Lê Thanh.

Tôi thấy chuyện không có gì quan trọng nên nhận lời, nhưng trước khi đi thương thuyết, tôi dặn nhỏ Tôn Sứt về kế hoạch coi vợ cho Bùi Khanh mà Hùng sẽ là hướng đạo kiêm mưu sĩ. Lại một bất ngờ khác. Ông Lê Thanh vừa đi trấn nhậm Í/4. Kẻ thủ trại là ông Huỳnh Văn Một chi đội trưởng chi đội 11 là người cùng với Huỳnh Văn Nghệ, Tô Ký, Hai Búa xây dựng lực lượng võ trang đầu tiên của Miền Đông Nam Bộ. Năm 1950 ngoài Bắc Việt đưa Tướng Dương Quốc Chính vào đoạt quyền của “đằng mìn” tức là dân Bê Ka từ hang Pắc Pó vào, còn những người có công gây dựng lực lượng thì bị tống về làm Tỉnh đội trưởng chỉ huy ba anh du kích và mấy trung đội địa phương lèo tèo. Mãi về sau dân Nam Kỳ mới trắng mắt ra nhưng quyền hành đã mất về tay bọn Bắc Kỳ. Cũng như hiện giờ, Bộ chỉ huy Giải phóng gồm toàn Bê Ka. Có vài tên Nam Kỳ nhưng được đặt ngồi ghế phó cối: Bà Địnhh số 6, Đồng Văn Cống số 7, Hai Bưa số 8, Huỳnh Văn Nghệ thì làm công tác kinh tài chẳng biết bao giờ “em mới nguôi hận chiến khu xanh”?

Xin trở lại ông Huỳnh Văn Một.

Ông không biết tôi nhưng tôi biết ông ta. Sau 55 ông không đi tập kết mà dắt vợ là bà Út Thơ lên rừng Tây Ninh sống đời riêng cho đến năm 1961 có người ngoài Bắc về tìm. Đó là ông Lê Quốc Đăng là người đầu tiên đặt chân về đến Tây Ninh và gặp ông Một. Ông Đăng là người tổ chức và chỉ huy B1, B2, B3 tiền thân của các Cục Tham Mưu, Chính Trị, Hậu Cần sau này. Trong trận Mậu Thân, có một người chết trong Xóm Gà (Gò Vấp) tên là Năm Đăng. Người ta ngỡ là Lê Quốc Đăng nhưng không phải. Ông ta được tưởng lệ công trạng nên được cho về làm Phó Tư lệnh I/4 để dưỡng già, Nhưng khổ thay vùng đất này như một cái chảo nước sôi, ông ta chịu không thấu nên xin trở về R. Ông bệnh và chết ở đây. Rõ là cái nghiệp dĩ sinh vì R tử ở R.

Khi chạm mặt Huỳnh Văn Một, tôi nhận ra ông ta ngay, nhưng tôi không ngờ ông già và điêu tàn đến như thế. In hệt một con người vượn hoặc con vượn người. Ông là kẻ bị đá văng khỏi chức vụ chi đội trưởng trước nhất khi Dương Quốc Chính vào tới Nam Bộ.

(Bây giờ tôi ngoảnh nhìn lại mới thấy rõ tên đầu têu hang Pắc Bò Lạc đã có ý định thanh toán các tướng lãnh Nam Bộ từ 1950. Không cho tên nào nắm lực lượng võ trang lớn trong tay vì sợ họ trở cờ bất phục tùng cuốc xuổng Trung ương cho nên Trung ương tỏ vẻ săn sóc dân Thành Đồng Tổ Quốc luôn luôn. Trước nhất là hạ Nguyễn Bình. Ông Bình dân Bê Ka nhưng có uy tín lớn ở Nam Bộ. Sau đó đưa toàn dân Bắc Kỳ đã ở sẵn trong này hoặc từ Bắc vào nắm hết hai Bộ Tư Lệnh Phân Liên Khu Miền Đông Và Miền Tây. Huỳnh Văn Nghệ do Nguyễn Bình đề bạt Tư Lệnh Chiến Khu 7, Nguyễn Văn Trấn Tư Lệnh kiêm chánh ủy Chiến Khu 9 (đều là Cộng Sản cả) đều chịu chung số phận. Nghệ về làm Tỉnh đội trưởng Thủ Biên (Thủ Dầu Một, Biên Hòa). Trấn được đi học Trung Quốc kỳ thực là mất ghế Tư Lệnh. Tô Ký thời đó là tên cắc ké sau hậu trường hài hước của Trung ương ăn nhằm gì.

Thanh toán xong cấp khu, chúng làm cỏ đến hàng chỉ huy chi đội trong đó có Huỳnh Văn Một. Nhưng Một không biết tâm địa của chúng nên vẫn trung thành với Trung Uơng (!) cho tới bây giờ tức là 1965. Tôi nghe ông Tướng bần cố nông vô đây dẹp hết cả bọn bầu cua của các ông quan giải phóng ở cả ba hệ thông Quân – Chánh – Đảng nhưng khen Huỳnh Văn Một là đệ nhất trung thành với Đảng nên để cho ông ta tiếp tục làm xã đội trưởng “xã Kà Tum”. Nên biết rằng vùng đất mênh mông giáp giới Cao Miên từ Mỏ Vẹt đến Bình Long chỗ nào cũng có đơn vị giải phóng mà Kà Tum là rốn. Chung quanh nó là Trường Pháo Binh, Giao Bưu, Bịnh Viện, Đài Giải Phóng, Chánh Phủ Lâm Thời, Mặt Trận, Tuyên Huấn, Bộ Chỉ Huy R, v.. v. . . Cho nên ông xã đội trưởng Kà Tum chỉ huy đến cả ngàn tay súng trường vừa chống thổ phỉ đen (dân Miên) vừa diệt thổ phỉ đỏ (lính Việt Cộng bỏ hàng ngũ ra làm lâu la ăn cướp. Bọn này chiếm cứ một vùng ở gần Phum Ampil, lập cảđảng Rồng Xanh hễ lính ông Một đuổi thì vọt sang Kompong Chang vỗ bụng cười.)

Huỳnh Văn Một không ngờ “kẻ phá rối Vương Quốc Kà-Tum” của ông ta lại là đồng chí của ông từ thời đánh Tây, cho nên mọi việc đều hoà cả làng. C… ai nấy vuốt. Rừng nào cọp ấy, ta sợ gì mi ?

Trong cái chòi của ông, tôi thấy treo lễnh nghễnh những súng là súng. Nhưng bên cạnh súng còn có những nanh heo rừng, sừng nai, sừng dê, những cặp giò gà lôi khô queo, những móng heo, và cả ngà voi nữa. Ông già Một hỏi tôi bằng một giọng khàn khàn.

– Cháu có bệnh hoạn gì không?

– Dạ không, ủa mà có.

– Năm nay bao nhiêu rồi?

– Dạ ba mươi bốn.

– Kháng chiến hai mùa vậy là quá trẻ. Vợ con gì chưa?

– Dạ chưa.

– Có chỗ nào chưa?

– Dạ đi xành xạch đâu có dừng lại được mà chỗ nơi bác?

– Để tao làm mối cho, Tư Khanh, Lê Đức Anh đều có con gái lớn cả. Nhưng con gái Tư Khanh có lẽ tốt hơn. Con gái của Lê Đức Anh thì đẹp, nhưng lại dữ quá. He…e e….- Lão tằng hắng hai ba cái liền rồi tiếp – Nó mắng ba nó là thằng cha mất tư cách.

Tôi nhìn lão Một trân trân nhưng không hỏi. Lão tiếp:

– Mà cũng phải thôi ! Ba nó không nên nết.

Tôi vẫn không hỏi. Lão lại tiếp:

– Mày nghĩ coi! Có vợ trong này rồi ra Bắc lấy vợ nữa là cái đạo đức gì? Thằng Cộng Sản không được làm như thế. Làm như thế còn lãnh đạo ai?

Tôi cũng biết chuyện ông Anh ở ngoài Hà Nội nhưng vẫn ngồi im, không dám phụ họa.

Tôi nhìn lão mà ngỡ mình xem phim Bạch Mao Nữ của Trung Quốc chiếu cho lính coi để củng cố lập trường vô sản. Đó là câu chuyện của một cô gái trong một gia đình tá điền. Cha cô thiếu lúa ruộng nên phải gán con gái cho chủ điền. Cô gái trốn vô rừng sống mười lăm năm. Quên mất cả tiếng nói và hoá ra người rừng. Nhờ hồng quân của bác Mao về, giải phóng nông thôn và tìm được cô gái. Cô nàng trở thành một con ngợm, tóc bạc như cụ già. Do đó gọi là Bạch Mao Nữ. Chủ đề của phim là chế độ phong kiến biến con người thành con vật, đảng biến con vật thành con người. Hồi đó xem phim, có một ông lính bần cố hỉ nổi lập trường rởm bắn màn bạc… làm nhốn nháo cả buổi chiếu phim.

Bây giờ nhớ lại tôi không khỏi tức cười: Đảng biến cả ngàn vạn con người thành một bầy súc vật trên đường Trường Sơn, ở trong rừng này lô nhô lúc nhúc, trong đó có một con khỉ mặt đỏ tên là Huỳnh Văn Một đang ngồi trước mặt tôi đây. Tóc xù, râu dài tới lưng quần, tất cả đều bạc trắng. Lão phải vắt ngược bộ râu lên vai cho khỏi vướng.

Lão Một quay mặt xuống bếp bảo vợ:

– Bà nấu cơm cho thằng cháu ăn với.

Người đàn bà bước lên. Tôi càng kinh ngạc. Một con quỷ hiện giữa ban ngày.

– Chú này ở đâu vậy?

– Ngoài Bắc về đó. Bà còn nhớ chú không? Thằng bé mật mã…

Bà tỏ ra không tha thiết với dĩ vãng, bà nói:

– Không nhớ nổi! Để tôi kêu tụi nó coi có săn được chồn mễn gì không?

Sợ tôi phân bì, lão Một giải thích:

– Chúng nó chỉ bắn bằng cạc-bin thôi, không động lắm, còn mấy chú bắn DKZ. Tiếng nổ dội tới thị xã Tây Ninh đó. Nó hay được nó ỉa dưa hấu thì tiêu hết sự nghiệp.

Bà móm mém cái miệng không còn cái răng.

– Ông trù xui không hè!

– Tôi nói để rồi bà coi. B52 nó gom lần lần như đậm cù bắt chuột. Nó cho mình vô rún nó đốt một phát là rụm cả ổ.

– Tôi biểu ông hằng đêm cúng vái mà ông có chịu đâu. Nhờ tôi đã thỉnh Phật về để trong nhà cho nên năm nay mới yên ổn đó.

– Thì tôi làm bàn thờ Phật chứ ai. Vài đêm tôi cũng đốt nhang.

– Ông đốt mà ông đứng trân trân không cúi đầu không có van vái gì hết. Phật nào chứng miên cho ông.

– Tôi vái thầm trong bụng bà biết sao được.

– Ông vái như tôi vậy mới được, chớ ông vái thầm Phật đâu có biết ông muốn gì mà phù hộ?

– Thì tôi vái Phật phù hộ Mỹ nó đừng có bỏ bom tàn sát dân mình, phù hộ cho cán bộ tập kết về giải phóng đất nước. Đó bà thấy hôn? Thằng nhỏ này về tới đây là do tôi van vái chớ ai.

Tôi suýt bật cười về câu chuyện giữa hai vợ chồng đảng viên từ 1945. Tôi phụ hoạ thêm:

– Phải đó, thưa bác, nhờ bác trai van vái Phật nếu không tụi cháu chết hết trên đường về rồi.

Vừa đến đây thì có tiếng chân đi tới. Tôi nhìn ra: Một người lẫm thấp, râu tua tủ như chổi xễ, đầu khấc khăn rằn. Một người quen. Tôi chưa kịp kêu thì hắn gọi tôi trước:

– Ờ, kìa thầy Lôi!

– Mày hả Cử?

Tôi vừa la vừa nhảy vọt ôm chầm lấy gã đàn ông. Chúng tôi ôm nhau. Hắn khóc sướt mướt như con nít. Nước mắt ẩm cả vai tôi. Cử là trung đội trưởng dưới quyền tôi hồi ở Hà Nội. Anh ta hơi lùn có đôi chân to, và bàn chân đi bẹp bẹp như vịt xiêm, uống rượu như nước lả, hút thuốc thì điếu này hạ rộng điếu kia động quan. Hồi 56 nghe tin không có hiệp thương, hai đứa ra bãi cỏ chân đê uống mấy bình-toong rượu. Hắn khóc hoài không chịu vô nhà: “Kiểu này thì mình bỏ thây xứ Bắc rồi!”

– Bây giờ còn đòi về nữa hết?

– Về được tới đây nhưng đây đâu phải là nhà.

– Thì vài năm nữ… a.

– Cứ vài năm hoài. Vài năm là mấy năm thầy?

– Hai năm!

Tôi tung hai ngón tay lên theo kiểu tiễn biệt nhau ở bến Chắc Băng. Cử mọp xuống xá xá, nói giọng miền Bắc:

– Xin vái cả mũ ! Con ớn quá rồi bác ạ !

– Vụ hốt ổ chị hĩm Điện Biên thế nào?

– Xù rồi. Về Nam còn hốt làm gì nữa.

– Bỏ lại cho ai?

– Mấy thằng bạn mọc nanh trong đơn vị bị chê sức khoẻ kém.

– Vô hồi nào?

– Thầy đi mấy tháng sau tôi cũng đi.

– Về đây bao lâu rồi?

Cử thò đầu vô cửa.

– Ngót một năm! Bác Một để cháu dẫn thầy Lôi về trại ăn cơm. Bác gái khỏi lo. Đây là ông thầy của cháu đấy!

Thế là Cử dắt tôi về sơn trại. Hắn cho biết hắn chỉ huy một đại đội bảo vệ, công tác chính là tìm hang ổ đảng Thanh Long. Hắn nói:

– Tụi này khiếp lắm. Bọn nó là gốc lính nên chiến thuật của mình chúng nó biết hết, do đó né tránh rất tài tình. Ước chừng trên một trăm tên, chia làm hai ba nhóm và có khả năng đánh đồn cơ đấy. Súng thì chúng nó ăn trộm trong kho mình. Mẹ kiếp, thằng đầu đảng là một anh tiểu đoàn phó.

– Thế à ?

– Là đảng viên nữa chớ!

– Sao chú biết?

– Nó tự xưng danh tánh quê quán chức vụ và đơn vị hẳn hoi mà. Ở trên đã kiểm tra. Đúng y!

Cử đãi tôi một bữa cơm không thể tưởng tượng được. Toàn là bơ sữa và đồ hộp Mỹ. Còn rượu thì Mao Đài tửu. Tôi hỏi nhỏ. Nó cười khe khẽ:

– Ở đây muốn gì có nấy. Mấy ổng toàn chơi các thứ này, nhưng nếu có ở trên xuống kiểm tra thì đưa ra thịt rừng và rượu đế, muối kho quéo, thầy biết không?

– À ra thế.

– Từ đây ra ấp chiến lược Trại Bí có bao xa! Thầy ở đây chơi đến mai tôi có món khác đãi thầy. Thuốc thơm loại của cụ Hồ hút tôi cũng mua được.

– Không sợ hủ hóa à?

– Hũ chìm thì sợ, hủ hóa thì đừng lo. Nay mai một cơn sốt ác tính là xong đời thằng giải phóng.

Cử cười nói oang oang, khoe bộ răng xếu xáo mất hàng ngũ và vàng lườm. Cử vào trong buồng khệ nệ ôm một hũ da đen láng như hũ đựng tương của Ba Tàu ra khoe với tôi:

– Đây là thuốc trường sanh bất tử của tôi đó thầy ạ .

– Thuốc rượu con Bìm Bịp hả ?

Cử để cái hũ trên bàn rút nút ra đưa miệng hũ tận mũi tôi:

– Thầy hít cho khoẻ ! – Rồi rót ra một chiếc ly bầu đưa cho tôi – Thầy nếm miếng coi!

Tôi hớp thử, thấy ngon, rồi uống cạn. Tôi gật đầu khen:

– Hơn rượu Hà Thủ Ô của Quốc Doanh Dược Phẩm Bờ Hồ xa.

Cử giải thích:

– Đây là thuốc của vua Minh Mạng ! Thầy quên rồi sao? Hừ hừ… Thầy mãi lo “hát chèo hát bội” với mấy em Văn Công mà quên ráo hết. Đây là bài thuốc mà mỗi thằng đi Nam đều mang về để tặng bà con mình. Ngũ dạ nhất giao…gì đó

– Ờ ! ờ ! Tao nhớ ra rồi. Nhất dạ ngũ giao sinh lục tử.

– Nhưng chưa có hay đâu!

– Một đêm pháo kích năm quả đẻ sáu con mà chê à?

– Tôi còn một hũ nữa.

– Hũ mắm bò hóc… không đau lưng phải không?

– Hé hé . . . hổng chừng đâu đó !

Cử lại ôm ra một hũ khác cũng da đen láng.

– Đây là thuốc rượu bao tử nhím. Cái này là ông Một bày cho chớ tôi cũng không biết! Như vầy: Thầy bắt được con nhím, thầy làm thịt, lấy máu tươi pha rượu uống trị nhức mỏi trước lấy vốn cái đã, kế đó là trút ba cái thứ thập vật trong bao tử của nó ra rổ, xào bao tử ăn. Ăn bao tử nhím bảo kê mình không đau bao tử cả đời.

– Thiệt không?

– Thì người ta đồn thế thôi chứ ai mà dám bảo đảm! Kế đó là đem cái rổ thập vật kia xuống suối rửa cho sạch.

– Thứ gì vậy?

– Nó ăn toàn là rể cây nên thuốc. Bao tử của nó như một cái hũ thuốc vậy. Rửa xong rồi đem dồn vào hũ, bỏ thêm cái mật của nó vô. Có mật kỳ đà tống luôn càng tốt. Nếu có xương khỉ, nanh heo rừng quăng vô luôn cũng không có hại gì!

– Vậy cũng chưa đủ “thập vật”.

– Còn xương heo, mật gấu, dái dê rừng, c… bò rừng, có được thứ nào hay thứ ấy. À, nhung nai…

– C.. trừu Mông Cổ bán ở mậu dịch quốc tế nữa chớ !

– Hề hề… Thuốc rượu này đại bổ thận đó thầy ơi ! Uống một ly chạy ngông ngoài rừng cả ngày chưa hết ngông. Đặc biệt cái nữa là trong uống ngoài thoa hiệu nghiệm ngó thấy.

– Chú mày đã thử chưa?

– Thử rồi chớ.

– Làm sao chịu nổi?

Cử vụt cười.

– Tôi ra rừng ôm gốc cây la làng một hồi thì cái hỏa nó hạ xuống. Nếu thầy có “đất” và muốn thử cho biết thì tôi chiết ra cho thầy một xị đem về dùng. Mà không được đâu! Thôi thôi thầy ơi! Con b… của mình ở ngoài Bắc chỉ làm nhiệm vụ chiến thuật còn nhiệm vụ chiến lược thì không có nơi thi thố. Mong được “về nước” để làm nhiệm vụ chiến lược nhưng kẹt ở đây rồi, nó vẫn làm nhiệm vụ chiến thuật không thôi. Một thời gian nữa chắc chúng mình trở thành bà bóng hết ráo!

– Kệ nó ! Rót cho tao một chút uống thử xem có lên “liều” không?

– Tôi cam đoan với thầy là pháo ngóc nòng 90 độ và đạn thì “bắn liều bảy ngòi tức thì”.

– Tao thấy ông chánh ủy U mình cũng có loại này.

– Sao thầy biết?

– Hồi tao mới về ghé trại sản xuất Sáu Ngọc gặp ổng ở đó ổng đãi tao một ly nhỏ.

– Rồi sao?

– Thì đúng y như mày nói “liều bảy” !

– Đó là của tụi này cho ổng chớ ai. Thằng thổ lai Sáu Ngọc chỉ giỏi tài ngoại giao bên bót tụi đui cà then thôi chớ nó không biết săn bắn gì hết! – Được trớn Cử thuyết trình luôn -Tôi về đây không lâu mà rành săn thú một cây. Riêng tôi hạ sáu con nai chà. Mỗi con lột ra hơn trăm kí thịt. Sừng heo đầy trong nhà. Thầy muốn không, lấy về máng quần áo chơi?… Hà hà… thằng Cử này một ra đi là có nai heo khiêng về. Buổi tối cũng có nhưng tốt nhất là lúc hừng sáng, nai ra ăn cỏ còn ướt sương. Thầy nên nhớ muốn săn thú mình phải cởi bộ đồ của mình ra phơi sương một đêm.

– Chi vậy?

– Cho bán mùi người. Thú rừng con nào cũng vậy, rất thính hơi, nhất là nai và heo rừng. Bởi vậy có thằng lội rách cả quần mà không được mẻ gì hết! Tôi bày cho cách đó nhờ vậy mà săn mới có kết quả

– Bộ ở đây ngâm rượu thuốc sống hay sao?

– Chớ thầy bảo tôi còn biết làm gì bây giờ. Muốn cưới con vợ khác mà tìm đâu ra? Thổ cũng được, Thổ cũng như Mán Mường ngoài kia chớ gì! Ngoài kia anh em mình lấy vợ Mán vợ Mường đâu có sao. Thổ còn được điểm hơn là cái “hũ thuốc rượu” của nó xài khỏi đau lưng, hớ hớ…

– Mình xin rút cậu về trường pháo, chịu không?

– Ai biết đâu nà !

– Để tao đề nghị nhé .

– Lại liều năm liều bảy góc tọa độ DKZ75, cối kiếc nữa hả? Gì cũng được nhưng cho tôi về Củ Chi kiếm chút chất nhờn. Con vợ tôi bặt tin đã tám năm rồi nhưng ở ngoài đó tôi cứ tin tưởng rằng “Đất Bắc anh gìn còn tí ngẵn, trời Nam em giữ cái bề hê” hoài. Đến chừng về tới đây, cho người đi móc, còn gì đâu mà móc với ngoéo?

– Ủa, sao vậy?

– Vợ tôi nó đã dông mất rồi chớ sao !

– Do chánh sách tố cộng, cô ta bị bắt ép lấy lính Sài gòn chớ gì !

– Không! Không phải! Nó cặp với một thằng chi ủy rồi đi ra Bà Rịa gì đó !

—->Chương 11-12-13-14-15

 

One Response to “2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QI – (6-10)”

  1. Nguyen ha Says:

    Xin cám ơn văn hào Xuân Vũ về tác phẩm này.


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: