2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QIII- (42-47)


2000ngaydem_bia3Tiếng Sét Ái Tình và Tiếng Sấm Bom Đạn

Chương 42
Ngài Thiên Lôi rơi vào tay Tiên Cô

Chín Lộc nheo nheo cặp mắt bù lạch ăn sạch lông nheo vừa cạp xương gà nhai ngồm ngoàm vừa nói giọng ba rọi Nam Bắc:

– Năm ngoái Sư Đoàn 25 Bộ Binh tụi nó hành quân đó đây, rồi tụi Trâu Điên, Cọp Đen cũng dô, như dô nhà không cửa. Chỉ có ba cái hầm chông và lựu đạn gài nhưng đâu dính ma nào. Tụi nó không đi càn rừng càn rú như tụi Tây hồi trước mà nhảy cóc bằng trực thăng. Đang ở Bàu Trân nó nhảy qua Bàu Lách trong vòng 15 phút. Nó bay trên đầu mình, nó bọc sau lưng, nó xuyên hông, mình chạy hộc gạch. Cậu về đây đem món pháo ra trị tụi nó chút coi!

Tôi hỏi:

– Không bắn được à?

– Được chớ sao không! Nhưng mà bắn nó một phát CKC thì lập tức nó trả hoả một trăm trái cà-nông. Ruộng vườn nhà cửa tan hoang hết, đồng bào chửi và đuổi không cho ở – Sáu Huỳnh nhấm tí rượu khà một tiếng khẽ rồi tiếp – Xe tăng nó chạy như bọ hung vậy. Muốn cho bộ binh tới chỗ nào nó cho những khối thép đó càn trước. Gốc cây to cả ôm nó cho xe ủi bứng cái một. Lần nọ nó còn xúc một bụi tre.

Chín Lộc xua tay, định nói gì nhưng bị miếng xương gà trám bít nên cố cạp nhanh, trợn trắng và xua tay lia lịa.

– Thôi thôi cha non, đừng có kể cái chuyện đó, tớ ớn xương sống lấm. Nói ra ông thầy pháo sẽ mất tinh thần ngay.

Sáu Huỳnh nhướng tôi:

– Ê ngán không mày nhỏ?

– Nói nghe chơi chớ ngán gì anh Sáu! Tôi thuộc loại chì mà!

Sáu Huỳnh cười nhe răng dính đầy thịt gà :

– Để rồi coi chân chì hay chân sắt, xe ủi đất là lợi hại nhất. Nó xúc một phát là đi nửa cái nhà . Chòi con nó đưa một đường là bằng mặt đất. Bởi vật tụi du kích bây giờ cũng sợ không dám làm miệng hầm trong bụi tre bờ trúc hoặc gốc cây rừng nữa. Nó không cần thả chó đánh hơi. Nó cứ ủi. Bàu Lách, Gò Nổi hay Trung Hòa xe ủi đất xúc luôn cả du kích trong gốc bụi trúc bứng lên, giống như thuở bé tụi mình đi đào trùn câu cá bóng dừa, trong lưỡi cuốc có dính con trùn đứt làm hai khúc.

– Thằng du kích đứt làm hai à?

– Không phải vậy đâu! May mà lưỡi nó xúc hai phát, phát trước nó xúc thẳng cái nắp hầm, phát sau nó nạo luôn cái đáy hầm, chớ nếu nó xúc nửa chừng thì thằng nhỏ sẽ đứt cổ hoặc bị xắt làm hai khúc.

Sáu Cúc lắc đầu:

– Đang nhậu bắt trớn cha nội nói ba cái chuyện đó, tôi rùng mình mắc ói quá !

Tư Minh nhai miếng xương gà rau ráu và gầm gừ:

– Còn nhiều chuyện ớn hơn nữa, nhưng ăn thua chi ! Ăn thua chi ! Ta cứ anh rũng xốc tới đỡ đạn cà-nông đều đều. Củ Chi đất thép thành đồng mà lỵ!

– Mẹ, nói tới cà-nông, tôi càng ớn. Kỳ đó tôi chỉ cho thằng Cội tới đào một trái 155 lép trong cái nhà hoang. Gia đình có hầm rất chắc nhưng trái cà-nông lại xuyên qua cả nắp chui tuốt xuống giữa lòng hầm. Gia đình có tám người, may là trái cà-nông không nổ ông ạ. Nếu nó nổ thì bay hết không hốt lại được một miếng thịt. Sau đó cả gia đình dời đi tức tốc ra ấp chiến lược .

Sáu Cúc tiếp:

– Không hốt được một miếng thịt thì phải nói trận B52 ở Hố Bò. Ít nhất là mười nóc nhà trúng tệnh, mỗi nhà ăn nguyên một trái bom. Bom không có mắt mà nhểu ngay chóc như cò ỉa miệng chai vậy.

Vừa đến đó thì bỗng có tiếng hát nhí nhô từ ngoài đường:

Áo may xong tiền công khỏi tính,
Anh lính mừng luýnh quýnh cầm ngay,
Áo mới may mà sút hai đường chỉ,
Anh lính rầu bí sị hết mê.

Tiếng hát rõ dần khi bắt leo qua bài khác:

Chiều mưa ướt át anh đi về đâu ?
Sao còn đứng ngóng nơi Bàu Tròn,
Kìa Đường Làng, An Nhơn khói xám
Con đầm già kêu mãi điếc tai
Lòng người xơ rơ bao nỗi ai hoài.

Sáu Huỳnh nháy nháy tôi. Tôi không hiểu chuyện gì cứ nhậu miết. Chín Lộc càng nhậu càng xổ nho và nó giọng ba rọi nghe đến buồn cười:

– Tiên sư mấy thằng Mỹ dô đây riết rồi chơi hết con gái Bình Dương Củ Chi làm đám mình bơ mõm. Địt mẹ bố tiên sư, mình muốn có một cái, phải o mệt mới được, còn tụi nó không thèm mất tiếng nào, chỉ rút giấy bạc ra quơ quơ là đàn bà con gái chạy theo rần rần. Cái kiểu nầy mình còn nồn non nồn già đâu mà địt.

Sáu Huỳnh bất mãn địa vị nên luôn luôn châm chọc cấp trên. Vớ được cơ hội, y cười khè khè:

– Các cha có biết ní nịch của ông công nhân ba đời Chín Nọc chưa? Để tôi xin giới thiệu sơ qua nghe chơi. Hồi trước cách mạng ổng làm ở hãng Rờ nồn đấy ạ ?

Mọi người cười ré rồi nhao nhao lên:

– Hãng gì lại có cái hãng kỳ cục vậy?

Sáu Huỳnh nhẩm xà một phát rồi nói tỉnh bơ.

– Các cha không nghe hãng xe Pháp Renault à? Đó chẳng phải Rờ Nôn hay Sờ Nôn là gì? Chỉ cần bỏ dấu nặng dấu huyền như mấy ông Huế Nghệ : năm cắc thì ra năm cặc, ở đây Rờ Nôn lại hóa ra Rờ Nồn hay Sờ Nồn chớ gì. Chín Nọc mà làm hãng Rờ Nồn thì đúng quá chớ còn gì nữa ? Hì hì ! Có đúng danh từ không lào cụ Chín?

Mọi người gật đầu và cười phun cả rượu thịt. Sáu Huỳnh kết luận:

– Bởi vậy bây giờ thằng chả nhớ cái hãng cũ, cứ mở miệng thì có cái món đó văng ra hàng loạt.

Tư Minh vuốt đuôi:

– Tại ổng cứ đi địt nên nó càng đẻ ra đông như kiến, nay mai sẽ có cái Đồng Dù thứ hai nữa là mình hết đường sống đó nghe .

Chín Lộc nổi cáu chửi oang oang:

– Địt mẹ cái thằng Sáu Gấm và thằng Bảy Tùng.

– Tôi đã bảo đừng có địt nữa mà cứ hở là địt! Ông đã có cái bánh bò gặm mỗi đêm rồi còn ức hiếp gì nữa kia chứ!

Chín Lộc trợn mắt lộn thinh trái ké, miệng há hốc như bị mắc xương hồi lâu mới nói được.

– Chúng nó làm như vậy là mất lập trường cách mạng chớ giỡn à? Ai đời, mình là cán bộ mùa thu mùa đông lại cho vợ con ra làm với Mỹ ở Đồng Dù là cái thá gì?

Thấy Chín Lộc đổ quạo thực sự, Sáu Huỳnh không trêu nữa. Cả mâm rượu cũng hết nhộn. Hắn chỉ là Trưởng ban Quân Báo loại cá kèo nhưng lại là Phó Bí Thư đảng ủy Bộ Tư Lệnh Quân Khu, còn Năm Lê là Trưởng Ban Tham Mưu nhưng vì mang cái ô của bà Hai Mặn nên không được vô cấp ủy . Chín Lộc là cấp dưới Năm Lê về mặt chánh quyền, nhưng vô họp đảng thì Năm Lê lại lấm lét sợ Chín Lộc lôi cái ô đó ra mà nện thì mất mặt bầu cua, nên Chín Lộc được mợi, ăn nói rất hiên ngang con bọ xít. Chín Lộc tiếp:

– Tôi đã bảo Năm Lê phải cảnh cáo hai thằng đó, nhưng y không chịu nói gì hết.

Sáu Huỳnh cười khè khè :

– Ổng bị cái khớp ngang cổ đó mà còn dám nói ai. Nghe nói bà Mặn bỏ công tác rồi hả anh Chín?

– Vụ đó còn nhiều chuyện linh tinh lắm chớ không có êm đâu. Còn vụ hai thằng Bảy Tùng và Sáu Gấm tôi nhất định tranh đấu tới cùng.

Tư Minh đưa cho Chín Lộc cái giò gà và bảo:

– Anh đừng có nóng, anh Chín bầy trẻ.

– Gặm hết năm cái móng gà là hạ hỏa ngay đó chú Chín Nọc.

Con bé Ua ở dưới bếp nói vọng lên. Mọi người phá lên cười Chín Lộc cũng không nhịn được, đính chính:

Nộc chớ không phải heo nọc nghe các cha !

– Ù, thì ai nói ông là heo nọc. Ông mới có hai bà thôi mà !

Chín Lộc hết chửi Sáu Gấm và Bảy Tùng vì bị cái tiếng nọc chặn họng. Sáu Huỳnh bảo:

– Tụi nó có vợ con đi làm để kiếm tiền nuôi tụi nó. Như vậy tụi nó mới đi làm cách mạng được chớ: Bụng đói mà lội sình cuốc đất đào hầm sao nổi cha!

Chín Lộc dịu giọng:

– Nhưng phải nhớ rằng đám đàn bà con gái dô đó thì mười đứa bị rốc kết Mỹ hết cả mười . Về trong này nó đổ bệnh tiêm na cho mình.

– Ông quá lo xa ông nội ơi !

– Ông không biết chớ tôi hội nghị đảng ủy đã nghe quân y báo cáo rõ mà. Ít nhất là có ba ông mảnh bị dính đang nằm nhà thương bên Bưng Còng kia ! Pênêxilin không đủ chữa vết thương cho chiến sĩ, lấy đâu tiêm cho tụi nó. Thằng Mỹ vô đây làm đảo nộn mọi thứ không phải chỉ bằng bom đạn mà thôi đâu. Lãnh đạo thật vô cùng phức tạp.

Tư Minh hỏi, giọng tỉnh bơ:

– Bộ có vụ lính mình bị rắn hổ nữa sao ông Chín?

– Tôi nói náo cho cà nông Đồng Dù ăn tôi đi.

Tôi nghe buồn buồn sau gáy, linh cảm có việc gì nên quay lại thì bắt gặp một cặp mắt đen lay láy ở sau bẹ cửa buồng. Tôi giật mình, tướng đó là đôi mắt của Thu Hà bên gốc bàng lăng ở Trường Sơn.

Sáu Huỳnh cầm chai Anít lên lắc lắc rồi bảo:

– Mày về đây coi chỗ nào khơ khớ thì làm liền đi, ở đó mà kèn cựa thì tụi Mỹ nó xơi tái hết.

Tư Minh nói:

– Anh Sáu khéo lo ! Ông thầy pháo có ba bốn cái bánh bò rồi. Ổng còn xem xét coi cái nào có rể tre, cái nào chai rồi mới bẻ ra chấm nước cốt dừa đó !

Sáu Huỳnh vừa châm thêm rượu cho tôi vừa nói:

– Tao có một cái. ổ tốt lắm. Tao cũng muốn tòm tem ngặt sợ chị Sáu mày đổ ghè tương ra tùm lum như ông Năm Lê. Nếu mày muốn tao làm mai cho!

Chín Lộc chắp tay xá xá:

– Tôi lạy ông mai tốt số!

Sáu Huỳnh quay ngoắc xuống bếp.

– Con Ua đâu, ra bác bảo – nhưng đụng nhằm cặp mắt đen lúc nãy – Chia, ra đây ba bảo!

Tôi hỏi:

– Anh có con gái lớn vậy sao anh Sáu?

– Nó là con dâu tương lai của tao. Mày nhớ thằng Thức con trai tao hồi kháng chiến, má nó đẻ ở…

-…Kinh Bà Vụ phải không?

– Đúng đó ! Bây giờ nó lớn xộn rồi. Tao tính cưới con nhỏ này cho nó đó. Năm rồi mẹ nó ra dẫn nó theo tao bắt ở ngoài này công tác luôn. Con một bên, cha một bên khó lắm. Rủi nó ở ngoải nó đi lính quốc gia, nó nhảy dù xuống đây, nó khìa ông già tía nó, ai cản được?

Sáu Huỳnh lại ngoắc.

– Chia ! ra đây ba nhờ chuyện này chút.

Tôi nghe tiếng cười rúc rích bên trong nhưng không thấy ai ra trình diện. Chín Lộc uống ít, phá mồi nhiều, y cố nuốt miếng da gà béo ngậy, chùi mép chàm ngoạm mỡ rồi nói:

– Con cưới con, bố lấy mẹ, vậy còn ai bằng!

– Đọ! bây giờ anh Sáu ló cựa rồi nghe, tôi mé.. ét chị Sáu!

Cụp cụp…

Cả bàn tiệc đang vui vẻ bỗng lăn xuống đất.

– Phá…phá…áo!

Một tiếng kêu thất thanh. Đèn đuốc tắt đui. Mọi người nằm sát đất. Nhoài, bò, lết, trườn tới miệng hầm hoặc tới chỗ khác mà tưởng mình tới miệng hầm. Đúng là tắt đèn nhà ngói như nhà tranh, tất cả đều đen thui như lông chó mực.

Tiếng nổ nghe như ngay ngoài hè. Chát chúa lỗ tai. ầm, ầm!

– Anh Hai bò lại đây nè!

Một bàn tay quờ đụng và lôi tôi đi. Tôi bò theo như máy, không biết nó dắt tôi đi đâu. Người ngợm đụng nhau hung như cá trong chiếc rộng tre chật.

Tôi nghe tiếng thì thào đứt quãng bên tai:

– Anh đừng sợ ! Bên ngoài có vách đất.

Rồi má tôi nghe ấm hổi. Không phải một bên mà cả hai bên rồi tiếng thì thào bên tai.

– Ôm em đi cho hết sợ ! Ôm mạnh nó !

Tôi làm theo như máy. Trong khi tôi ôm thì tôi lại bị ôm.Tôi nghe ấm áp trên má và những tiếng thì thầm tiếp tục,không biết bao lâu… Ở giữa hai tiếng nổ, một phần ngàn của một tic tắc, tôi bỗng nghe rõ từng tiếng một cả hai phía bên tai. Đáng lý ra tôi phải có sáu cái lỗ tai mới nghe hết.

– Em yêu anh, em yêu anh!

Và :

– Em đâu còn nhỏ , em đâu còn nhỏ . Anh yêu em đi ! Anh yêu em đi!

Tiếng nổ đã dứt hồi nào, nhưng dư âm còn vang “e e e” trong không khí nóng bừng. Sáu Huỳnh kêu to:

– Hết chết rồi, ra đi! Nhậu tiếp!

Tôi lồm cồm bò ra. Sau tôi là hai đứa con gái: Ua và một cô khác Tôi đứng dậy phủi bụi trên quần áo. Ua đến lau tóc cho tôi bằng một cái khăn tay. Còn cô kia thì lẩn mất. Ua cười như nắc nẻ và vỗ vỗ đầu tôi:

– Ông thầy pháo bị pháo nện chui xuống đít ông táo ê ê.

Bà ngoại từ trong hầm ló đầu ra quát:

– Con Ua không được hỗn . Người ta nhỏ với mày hở? rồi bà hỏi – có đứa nào có sao không?

Ua hớt:

– Có có ngoại à ! Anh Hai u đầu vì đội đít bếp, còn con rụng hết mấy cái lông nheo.

Tôi hỏi Sáu Huỳnh:

– Tụi nó có thường chơi chầu đôi không anh Sáu?

Sáu Huỳnh đáp:

– Chuyện đó không có qui luật gì cả . Chầu đôi chầu ba, chầu năm chầu bảy cũng có.

Chín Lộc mặt như gà cắt tiết nhưng cố làm tỉnh bằng cách mở mồm địt tiên sư chúng nó không ngớt.

– Ngồi lại nhậu tiếp. Cho đi mua rịu thêm.

Sáu Huỳnh bảo:

– Để tôi ra sân xem nó nổ ở đâu.

Chín Lộc trợn mắt:

– Nó nổ ở Đồng Dù, ở Trung Hòa chớ còn ở đâu nữa mà phải xem!… Tiên sư bố nhà nó làm đổ cả chai anít và mấy tô cháo. Con Ua đâu, coi nồi chè đậu còn hay bể mất rồi?

Trong lúc hỗn canh hỗn cư, tôi lôi Sáu Huỳnh ra sân, rỉ tai ngay:

– Có gián điệp nội bộ không anh Sáu?

– Gián điệp gián điếc gì. Đêm nào nó cũng giả, không chỗ này thì chỗ kia. Không đêm nào là không có người bị thương. Bệnh xá của Tư Chuyền không còn chỗ chứa.

– Tôi lấy làm lạ sao tôi đi đâu pháo bắn theo giáng đít tới đó vậy?

– Mày đừng lo.

– Cái hột mít nào lạ hoắc kia, anh Sáu?

– Công tác viên của mình đấy. Tao định cưới cho thằng con trai tao, nhưng thằng nhỏ khờ quá không cầm cương nổi nó đâu.

Tôi nhớ lúc nãy dưới đít bếp, tôi bị những cái hôn từ cả hai phía. Tôi lấy làm lạ sao tụi thanh nữ lại yêu cuồng sống vội vậy? Tôi và Sáu Huỳnh trở vào mâm rượu. Chín Lộc lấy rượu làm nư nhưng mặt mày vẫn còn lơ láo. Sáu Huỳnh nói:

– Ba thằng Trung Hòa còn đỡ đỡ chớ tụi Đồng Dù chơi hỗn lắm. Muốn ăn chắc ta đem mồi và rượu xuống hầm, muốn cưa mấy cây thì cưa .

Nói thì nói vậy chớ không ai còn bụng dạ nào mà gặm nết mấy cái xương gà trong lúc chúng nó lại giã gạo tứ phía. Hết Bàu Lách qua tới Bến Mương đến Gót Chàng. Từ Xóm Bưng lan sang Gò Đình, từ Bàu Chưa đến Xóm Cây Sộp. Rải rác khắp nơi đất thép Củ Chi đều ăn pháo, nơi nhẹ nhất cũng vài phút. Chưa thấy Đồng Dù xài pháo 175. Pháo 105 chỉ bắn từng phát. Như vậy cũng đã động đất tới âm phủ và tận Hà Nội rồi. Đêm nay chắc Bác cũng khó ngủ như đêm nào. Nhà thơ Minh Huệ lại có thêm đề tài tốt.

Ngồi trong hầm, trước dĩa thịt gà lạnh tanh, răng cỏ mấy lão già trệu trạo sơ rồi nuốt chớ đâu còn tâm trí để nhai.

Chín Lộc buông đũa trước nhất:

– Kiểu này, mai có chụp! Mình phải chuẩn bị. Các cha, ai về chỗ nấy lo chôn đồ đi. Nãy giờ tội nghe nó nện đúng những hướng có tụi mình hết cả.

– Không sao đâu anh Chín! Đây là cữ thường đêm của tụi nó mà.

– Tôi nhảy mũi nãy giờ năm sáu cái liền đây cha ! Tôi bốc gió ngửi thấy mùi tanh tanh nữa !

Tiệc xong tôi được Sáu Huỳnh phân công ngủ chung hầm với bà ngoại và hai đứa con gái. Sáu Huỳnh nháy nháy tôi và bảo Ua:

– Hai đứa bây nằm hai bên bảo vệ anh Hai nghe. Còn để bà ngoại ngủ trong hang ếch!

Nói xong Sáu Huỳnh và Chín Lộc xuống hầm.

Ngôi nhà ngói ba gian rộng đã giỡ hết hai. Cột kèo quăng xuống vũng ngâm chờ hòa bình.sẽ vớt lên cất lại. Còn một gian và cái bếp khá rộng thì đào hai cái hầm thật sâu, nóc đất thật dày. Chín Lộc và Sáu. Huỳnh. dùng làm văn phòng và chỗ ngủ.

Bà ngoại thì đóng vai chị nuôi cho cơ quan. Con Ua làm liên lạc đi thư và quân báo ra vào Củ Chi thường xuyên.

Tôi. đi ra ngoài giếng để múc nước rửa mặt đánh răng. Nghe mùi thuốc đạn khen khét, tôi đoán chắc đạn nổ ở sau đồng. Vừa nặn kem anh Bảy Chà Hynos vào bàn chải thì tôi nghe một bàn tay vỗ lên vai:

– Mơ mộng gì đó ông anh cả?

– Đâu có mơ giống gì?

– Thiệt hổng mơ hả ? Thề đi ! Hề hề . Em biết anh đã rung rinh trái tim rồi mà. Hổng sao đâu! Em làm mai cho. Đó là con Chia, con của dì Tư em, em bạn dì của em, học ở Sài gòn, bỏ trường về đó. Má em thứ ba. Rõ chưa nào? Nó nghe em nói hồi chiều em qua quán nó mua rượu trà thuốc nên nó muốn qua coi mặt ông giải phóng mùa thu. Nó cũng mê ông giải phóng tít thò lò rồi. Hồi pháo nổ nó hun ông ha ha phải không? – Ua nói một hơi vừa pha trò vừa tỏ vẻ bực tức – Nó đọc tiểu thuyết thành, ăn mặc kiểu thành, uốn tóc, nói tiếng ăng-lê chút đỉnh và đẹ …ẹp. Vậy là đủ tiêu chuẩn chưa nào ông tân Trưởng ban H6?

– Em ăn nói kiểu gì vậy Ua?

– Anh coi chừng chớ nó hốt hồn anh cái một. Nó không ăn nói lách chách cái miệng như em đâu. Nó chỉ nhìn anh chăm chắm rồi thở dài thườn thượt.

– Con nhỏ này!

Tôi quay sang vỗ đầu Ua.

– Hồi nãy nó núp trong buồng lén coi anh nhậu. Em hỏi nó: Cỡ đó bằng sĩ quan Sài gòn chưa? Nó nhéo em mấy cái bầm da đây này.

Ua cầm tay tôi ấn vào bả vai nàng:

– Tạ i anh ! Bắt thường anh đó .

– Ừ, thì bắt thường ! – Tôi bất thần hôn trên má Ua – Vậy được chưa?

– Xí, cứ coi người ta là con nít hoài !

– Bộ lớn lắm hả?

– Em biết chuyện còn hơn người lớn nữa đó.

– Chuyện gì, nói nghe coi!

– Mấy ông nội này tưởng em không biết gì hết. Sự thực không có chuyện gì lọt qua mắt em. Ông nào cũng thúi rùm, không có ông nào là nhà cách mạng chơn chánh như hồi ở ngoài thành em tưởng tượng hết. Ông Bắc Kỳ mắt bù lạch ăn có tới hai bà. ông Sáu Huỳnh có vợ ngoài thành vô ra hoài mà cũng có bồ tèo là má con Chia.

– Ai?

– Má con Chia chớ ai.

– Người ta công tác mà !

– Tác hoác thì có . – Bỗng nhiên Ua quay ngang – Em nói cho anh biết. Em không còn nhỏ nữa đâu. Em yêu anh rồi đó. Đừng có chê em là con nít.

– Trời đất !

– Không có giỡn đâu. Anh mà lăng nhăng với người khác a lê hấp lựu đạn da láng rút chốt chia hai.

– Em học ở đâu cái thứ du côn đó Ua?

– Ở thành chớ đâu ! Tối nay ngủ, anh nằm giữa, phải nằm ngay ngắn, nếu có trở mình thì không được trở qua phía con Chia nghe chưa?

– Sao nó không về nhà mà ở đây?

– Nó lấy cớ pháo bắn không dám về, nhưng em đi guốc trong bụng nó. Nhà có hai cái hầm. Cái của ông Chín Lộc không ai được xuống ngoài Tư Minh và Sáu Huỳnh. Vậy anh ngủ ở đâu? Nó ở lại thì ngủ ở đâu? Không chung một hầm với ngoại và em thì ngủ với ai? Em em hổng chịu thu…

– Chị em chưa chi đã xích mích nhau rồi.

Tôi cắt ngang tiếng nói của cô bé bằng một cái hôn môi.

Hai tay Ua ôm quặp lấy tôi. Tất cả những cao điểm nóng trên người Ua chạm vào tôi như sự đối kháng của những vũ khí chực nổ. Tôi bảo:

– Buông ra, ngoại thấy chết!

– Xí ngoại chịu gả em cho anh rồi! Mai em ra nói với má ngoài Củ Chi. Má về làm đám cưới luôn, con Chia hết có dòm dèm.

Tôi đi vào nhà. Sáu Huỳnh nói ngay:

-Đi ngủ sớm đi! Mai không yên ổn đâu.

Tôi xuống hầm. Lòng hầm chiếm trọn một căn nhà. Cột và đà ngang làm bằng gỗ lấy từ ngôi nhà lớn nên rất chắc chắn. Nóc đất dày hơn một thước tây. Trên nóc còn chất vô số cây gỗ, ván và các thứ lặt vặt khác nhằm chặn sức xoi của đầu đạn cà nông.

Hồi kháng chiến chống Pháp tôi cũng từng đi năm sông bảy núi nhưng chưa bao giờ phải chui vô một cái hầm kiên cố như thế này. Cao lắm là loại hầm gọi là hố một cạn như lỗ mèo quào và ít khi có nắp. Nhưng đánh với Mỹ kỳ này toàn dân ở hang. Nhưng không phải thứ hang lơ mơ đâu, phải là hang Pắc Pó mới bảo đảm. Tôi đã từng trốn máy bay Mỹ ở trong đường hầm khoét trong núi Quyết ở gần Phà Bến Thủy. Bom bỏ trên đầu không ăn thua.

Cái thứ hầm này tuy coi thì chắc vậy, nhưng nếu một trái cà nông 175 rơi ngay thì người trong hầm lãnh đủ. Trường hợp cò ỉa miệng chai cũng thường xảy ra. Bạn cứ nghĩ: hết một nắm lúa vẫy vào bụi tre thì không trúng cây này cũng trúng cây khác chớ làm thế nào không ngơ được. Ở trên R thì chuyện đào hầm hố ít quan trọng. Vì trên đó hễ ăn thì ăn dưa hấu bầy rãi thảm không có nắp hầm nào chịu nổi (họa may hầm của Sadam) nên người ta sống trong sự thấp thỏm, may rủi nhờ trời, không có cách gì chống được, nhưng ở Củ Chi, ngoài B52 còn pháo. Pháo bắn bất cứ lúc nào. Có khi chỉ vài trái. Có khi hàng trăm hàng ngàn trái. Cán bộ, bộ đội, dân chúng chết trên đường đi công tác hoặc trên đồng rất nhiều không thể nào biết hết. Cho nên cái việc đầu tiên của cán bộ khi đến địa phương công tác là hỏi: “Có hầm không? Có hang chui không?” Không có hai thứ này thì kể như tam phân mạng nghĩa là chỉ sống một phần ba thôi, cũng như hành thuyền kỵ mã vậy.

Bà ngoại, sau trận pháo, vô nằm trong ngách, chừa cái giường ở giữa hầm cho tôi và hai đứa cháu gái. Nghe Ua nói, tôi hiểu tại sao một bà già phong kiến lại thả lỏng cháu gái mình như vậy. Tôi đoán biết tâm lý của những người có con gái là muốn chúng nó có nơi có chỗ cho rồi, để lớ huớ lại tránh không khỏi cái cảnh bị sau là bị tương lai, bị trước là bị anh Hai gởi về. Mang ba lô sau lưng ít lâu rồi lại mang một cái ba lô trước bụng. Trường hợp nữ chiến sĩ thi đua Tư Gừng lừng danh dũng sĩ diệt Mỹ rồi cũng thế thôi. Sau khi bỏ được cái bị trước thì mặt mũi cũng không còn. Do đó, bà ngoại muốn cho con nhỏ bồng chanh bốc chách này có nơi có chỗ sớm đi, để có ngày cái bị của cháu bà là của mấy tên già dơ xưng bác bác chú chú này thì mang nhục cả dòng họ . Chuyện này cũng xảy ra rồi ở Phú Hòa Đông, một ông cán đầu bạc quơ một đứa cháu nuôi mười sáu tuổi. Và nói chi xa, Năm Lê cũng hát cái tuồng đó với con gái nuôi (sẽ kể tới). Hai đứa con gái nằm hai bên. Chúng bắt tôi chép bài hát ở trên R, cô Ba Ánh cũng bắt tôi chép bài hát. Rồi các cô Tiến, cô Huê ở trường pháo cũng bắt tôi chép bài hát. Mọi việc bắt đầu bằng chép bài hát… Hát là hỏng! R là rờ mà !

Hai cái đầu nom sát vào tờ giấy. Chữ hiện ra dưới ánh đèn cầy mát rợi. Ua bảo dưới hầm phải xài đèn cầy, nếu xài đèn dầu lửa thì sáng ngày hai lỗ mũi trở thành hai cái ống khói tàu. Tôi nghe cả hai luồng hơi ấm phả vào mặt tôi từ cả hai phía.

Ban đầu tôi chép Bài ca may áo cho Chia, kế đó tôi chép bài Xuân chiến sĩ cho Ua . Nhưng cả hai đều chê bài hát không mùi và cũ mèm. Tôi hỏi hai em muốn bài gì? Hai em bảo bài gì cũng được, nhưng không phải bài kháng chiến, giải phóng vì những bài đó đoàn văn công của huyện hát nhàm hết rồi. Tôi ngạc nhiên hỏi:

– Quận có đoàn văn công nữa à?

– Đoàn đờn cò đờn gáo của ông Phạm Sang đó mà, anh muốn coi không?

– Phạm Sang nào?

– Thằng cha bị vợ bỏ rầu rỉ kéo đờn cò tối ngày bà con trong xóm nhức xương, hơn nữa, tiếng ò e làm cho lối xóm không nghe được tiếng đề-pa của pháo, nên bà con đòi chụm ba cây đờn, giải tán cái đám nhảy cóc nhảy nhái và khóa mấy cái miệng ca Kim Tiền, Bình Bán đó đi!

– Rồi bây giờ nó còn hoạt động không?

– Còn vài đứa con gái và vài ba cậu thanh niên loại gà rót không dám đi chiến đấu lủi trốn ở nhà vô đoàn văn công của ổng.

Tôi nằm giữa hai nàng tiên, nghe trong người ngứa ngáy vô cùng nhưng bóp bụng làm như mình là gỗ đá . Mới vừa ăn chè đậu làm anh Hai của cô bé bây giờ lại hát tuồng tơ xe lộn mối hay sao? Thực tình tôi không có ý bỏ ngón cái cây đờn tì bà tí hon này, nhưng chính nó tự lên dây và khiêu khích tôi hoài, nên tôi mới dạo sơ sơ mấy đoản khúc. Coi bộ nó không hài lòng. Nó cứ rà sát vào cả hai vú . . . chì cau vào hông, cọ chân đụng đùi, còn má thì áp vào cổ tôi khiêu khích. Chắc tôi khó bề nhẫn nại được. Còn cô bé Chia thì chiến tranh lạnh. Cô nàng chỉ xem tôi viết, lâu lâu lại khen:

– Anh viết chữ đẹp quá hà !

Hoặc hỏi:

– Anh có biết đàn không? Anh về , đã móc gia đình chưa? Má em sẽ móc dùm cho!

Mỗi lần Chia hỏi, Ua đều nghễnh đầu trừng mắt sau gáy tôi Tôi nhìn thấy cả những gì ở sau lưng tôi và tôi linh cảm trước những gì có thể xảy ra cho tôi nữa.

Ua làm như tôi là vật sỡ hữu của nàng rồi. Sự thực từ lúc tôi thấy cô bé Chia thì tôi bớt để ý đến Ua. Ua cũng nhận ra điều đó nên nàng bực tức và lồng lộn.

Chép xong bài hát, tôi bảo Ua:

– Nếu em muốn hát đúng giọng em ghé lại nhà chị Bảy Mô, chị ấy sẽ dạy cho em thêm đờn.

– Em không cần hát đúng giọng, em chỉ cần có nét bút của anh để giữ làm kỷ niệm.

– Nay mai pháo bắn, kỷ niệm gì rồi cũng bay hết thôi.

Chia không nói gì. Chỉ cầm tờ giấy lên đọc nhẩm rồi kê lên mũi hít hít. Ua kêu lên:

– Mày làm gì vậy, Chia?

– Giấy thơm quá !

– In là con khùng!

Bà ngoại đang nằm trong hang ếch ló đầu ra cười:

– Bà có đứa cháu gái đó, cháu chấm đứa nào, bà gã đứa ngay.

Ua ngồi chồm dậy cong cớn cặp môi:

– Bà chịu gã cháu rồi, bà nói vậy ảnh thay đổi làm sao?

– Nếu hai đứa bây chịu thì tao gã hết cho cậu ấy!

Ua ứng khẩu liền:

– Vậy thì con Chia phải làm bé; vì nó tới sau cháu!

Chia vẫn lặng thinh. Ua biết Chia hơn mình về nhiều mặt nên nói lại ngay:

– Ý mà không được, làm vậy ảnh bị kỹ luật chết.

Bà ngoại cười xòa:

– Con nhỏ lúc nào cũng bồng chanh bốc chách, miệng bằng tay, tay bằng miệng.

Tôi nằm ở giữa, bên trái là Ua, bên phải là Chia. Ua bảo:

– Bên trái có trái tim, bên phải không có trái tim, chỉ có cái cùi chỏ !

Chia vẫn im lặng. Ua để ngọn đèn vào một ngách hầm. Bên trong trở nên mờ như đêm trăng lu.

Tôi tưởng mình trở thành con cá muối cứng ngắt và đồng thời như một thanh sắt nung. Tôi không dám xê qua nhích lại lằn ranh nóng mà hai nàng dành cho tôi. Riêng Ua thì thọc tay dọc xuống hông tôi cứ nhéo khẽ như có ý nhắc chừng: đừng có vi phạm luật giang hồ. Còn Chia thì có lẽ tự tin mình hơn hơn đối thủ nên giữ tư thế nghiêm trang, không khiêu khích.

Tôi giả bộ ngủ. Tôi nghe Ua chồm lên thổi tắt ngọn đèn rồi lặng lẽ nằm trở lại chỗ cũ . Nhưng lần này thì nàng bỏ một tay qua ngực tôi. Tôi vờ không hay biết. Nàng hôn tôi khe khẽ Tôi trân mình như khúc gỗ. Nàng càng hôn bạo. Nàng hôn vai tôi cố làm cho tôi quay mặt sang nàng đưa lưng cho Chia. Tôi bất thần quờ tay Chia cầm lấy và nối vòng tay lớn hai chị em trong đêm tối. Ua giật ra đạp mạnh, nhưng Chia đã rút nhanh nên tay Ua chạm vào bụng tôi đánh bịch. Ua cười khúc khích. Chia giữ im lặng như cũ.

Chao ôi là khổ. Tôi chỉ cần một mà lại có đến hai, ba bốn. Ở trên R tôi đã khổ vì các cô tiểu thư con cháu các ông trời, về trường pháo tôi khổ vì Huê, Tiến, Mai Khanh rồi bà khu ủy viên. Rồi đến Củ Chi tôi bị hai chị em cô Lụa Là bắt xác. Sau đó hai cô Nguyệt Nga, cô nào cũng sẵn sàng dâng dưa cả Đó là chưa kể mấy nàng độc chiến như Bảy Mô, Tư Bé…rải rác dọc đường Thiên Lôi. Và bây giờ thì hai nàng tiên nhỏ cặp hông. Cầu thủ bị chèn nghẹt thở suýt không được quả nào. Củ Chi này phải chăng là Tây Lương Nữ Quốc, một nước gồm toàn đàn bà. Từ Vua chúa triều đình cho đến thứ dân đều là hạng quần vận yếm mang. Cái nước này làm khổ ông thầy tu chín kiếp Tam Tạng không ít. Nhưng Tam Tạng là nhà chân tu..Còn tôi là tu hú. Tôi tu cái đạo của ông Trượng ghẹo Tiên Bửu tân thời:

Tu đâu cho bằng tu đây
Tu chùa một cột đá xây hai hòn.

Gây chiến tranh với Mỹ, bác Hồ độc thân đã biến Củ Chi này thành một Tây Lương Tiểu Nữ Quốc. Thanh niên vắng bóng trong làng. Họ ra đi dân công ở Bình Long, Phước Long, Bình Giã, nơi quân Bắc kỳ xâm lược nghênh ngang muốn đọ sức với Mỹ: một ra đi là không trở về. Chồng của Là, của Mười, của Tư Mai. của Hai Hương (người đàn bà đến giúp vui cho nhà báo quốc tế Bọ Chét) đã nằm lại ở nơi xó rừng sâu núi thẳm nào đó, để vợ yếu con thơ… lãnh cái giấy báo tử nát nhàu.

Những gái một con thiếu chồng lâu năm, những cô gái đang học ngoài thành bỏ trường vào khu giải phóng vì nghe tiếng tăm Mặt Trận. Vào đây thấy không như người ta nói trên đài nhưng không dám chạy trở ra đành phải sống giữa cảnh chết chóc yêu cuồng sống vội. Hai cô bé này giống y như cô bé Thanh Tuyền, con gái rượu ông Lê Đức Anh.

Tôi bị kèm chặt quá, mặc dù được phép bà ngoại, vẫn không hoạt động được. Muốn xoay qua một bên để cho cái thớt lưng đỡ tê mà sợ mếch lòng. Một cử chỉ nhỏ cả hai đều biết. Cả hai đều giả vờ ngủ, nhưng lại muốn đối thủ của mình tin rằng mình ngủ say. Cả tôi nữa cũng ngáy bằng mũi lẫn mồm rất to để được hai nàng tin rằng tôi ngủ và khẩu pháo nằm ụ, không có pháo kích vùng đất cấm nào. Sự thực chẳng có ai chợp mắt.

Nghĩ thầm một chút mà tự cười mình. Tên Thiên Lôi này là loại người gì mà các bà các cô đều thích lấy giống vậy. Đẹp trai như Tam Tạng chăng? Sức mạnh phi thường như Hạng Võ chăng? Văn chương sánh cùng Lê Qui Đôn chăng? Quyền cao lộc cả chăng?

Không! không có dèm nào cả. Mặt mũi vêu vao lấy gì mà đẹp, nọc sốt rét còn mang trong người, cái lá lách sưng lên không biết lúc nào làm gì cử đảnh nổi như Hạng Võ . Văn chương thì mới làm vài bài thơ con cóc, và đàn dăm bản măng-đô. Quyền hành ư? Tiếng là thượng úy trưởng ban pháo binh (H6) nhưng đó chỉ là một đơn vị rã bèng như mẽ thúng rách. Vậy giới nữ lấy giống thằng Thiên Lôi này để làm gì mới được chứ!

Đó chẳng qua là họ túng chất nhờn của giống đực nên họ thấy tôi tóc chưa bạc ắt còn nhiều dự trữ xăng nhớt trong người mà bắt xác đó thôi. Còn tôi cũng vậy, của cải tồn kho quốc doanh mười mấy năm, nay có nơi phân phối thì đâu có ngại ngùng gì cắt ô phiếu cho ai, chỉ sợ một nỗi là mấy em mang cái bị của anh Hai gởi về thì khốn cho chàng Thiên Lôi này lắm.

Tôi sực nhớ cô bé liếng thoắng Thanh Tuyền, cô em chấc phát Ba ánh, cô nàng thùy mị Huỳnh Mai, nhớ nàng Mai Khanh đa tình, cô khu ủy say đắm nếm mùi tình lần thứ nhất, rồi gần đây là cô xã đội phó rắn mắc. Không biết có nường nào đã mang mầm mống hủy thể của hủy thể của chàng Thiên Lôi này chưa? Dám lắm. Tôi sợ, rồi hết lần này đến lần khác, lòng dặn lòng, đây là lần chót, nhưng rồi không lần nào chót cả.

Tôi ớn nhất là cô xã đội phó. Kỳ đó tôi đã phải rơi vào bẫy của cô rất tự nguyện. Cô nàng thiệt cao tay ấn chứ chẳng phải chơi. Ai đời lại gạt mình leo lên bẻ dừa rồi vô nhà tắm thoát y và kêu: Anh Hai ơi, dừa có. . . nạo không . Tôi bất thần ngó xuống, suýt nữa như dơi bị đạn giàn thung trúng ngay chính giữa ức, buông tay rơi xuống đất!

Cô ta tính tình như bé Ua. Nói chuyện ân ái như chuyện bình thường vừa ngây thơ vừa ngô nghê nghe mà rợn cả người. Ua thì tiểu tư sản và bạo miệng hơn. Tuy con bướm nhà tôi chưa bỏ vòi vào cái nhụy chắc còn phong kín kia, nhưng cô nàng tự coi như là chuyện đã rồi. Chỉ chờ hoàn cảnh thuận lợi hơn. Tôi nghĩ vậy nên ghìm cương con ngựa đang lồng lên trong tôi. Bất thần tôi nghiêng mình xoay mặt về phía nàng. Nàng lập tức ôm choàng cổ tôi áp riết mặt tôi vào mặt nàng mà hôn thật mạnh để cho đối thủ biết rằng nàng đã đoạt chiến thắng vẻ vang. Tôi đành phải làm việc theo sự điều khiển của nàng. Nàng càng hấp tấp bắt tôi phải cho nàng biết rằng tôi là của nàng và nàng đã là của tôi… từ lâu, tôi không phải dè dặt gì nữa. Tuy vậy cái hồng tâm vẫn còn che kín, chưa muốn nhận vết thương do xạ thủ gây nên.

Chia quay lưng lại tôi quay mặt ra mép giường. Tôi nghe một tiếng thở dài tự kềm chế. .

Chương 43
Thế Cờ Lật Ngược Bất Ngờ

<
Sáng thức dậy, nàng Ua hát nghêu ngao lúc nấu nước để mấy bác pha trà. Sáu Huỳnh đi xuống, vỗ đầu cô bé:

– Ngủ thẳng giấc không nhỏ?

– Thẳng chớ sao không thẳng. Ôm anh Hai ngủ ngon thấy mồ !

Tôi mọc da gà khắp người. Chia cũng ngồi gần đó đang bỏ trà vào bình, cúi mặt với vẻ chịu đựng phi thường. Sáu Huỳnh bảo Chia:

– Mày về bển bảo má mày sửa soạn đi Sài gòn ngay.

– Chi vậy chú?

– Móc gia đình ông nhà pháo.

– Chưa có sửa soạn gì hết làm sao đi ngay được chú?

– Công chuyện cần kíp không thể chần chờ !

– Còn con nhỏ kia – Sáu Huỳnh chỉ vào Ua – sửa soạn cặp giò đưa má con Chia đi Củ Chi.

Ua nguých ngang:

– Ai đèo cho nổi cái bà mập ú đó!

Bà ngoại đang lọ mọ xuống bếp nghe cháu nói thì quay lại rầy.

– Con nhỏ này hỗn quá . Chú Sáu không dạy nó, để riết nó quen. Nó không có cha…

– Sao không có cha? Không cha làm sao má con có bầu được? Ngoại phải nói là không còn cha hoặc mồ côi cha!

Ua nói tươm tướp một hơi. Bà ngoại cười hiền từ với tôi:

– Thằng cháu cưới nó thì phải biết tánh mà thể tất cho nó đừng có bắt lỗi mẹ nó không biết dạy con nghe chưa?

Ua lại nghênh mặt:

– Con hỗn với ai chớ đâu có hỗn với ảnh.

Uống trà xong, Chín Lộc và Tư Minh đi công tác. Tôi và Sáu Huỳnh xuống hầm của ngoại bàn công chuyện, Chia về nhà còn Ua đi bôm xe đạp để chở cái bà mập ú kia.

Sáu Huỳnh nói với tôi bằng giọng chân tình của một người anh và của một đồng hương. Anh đã là quân đội trưởng quận Trung Huyện, tỉnh Chợ Lớn từ năm 1947. Tập kết ra Bắc mười năm không thăng một cấp nào lại bị chê là thành phần không cơ bản và lớn tuổi nên cho đi đào than ở Mõ Hòn Gai.. Rồi được kêu về Nam cho mặc lại áo lính với cấp bậc thượng úy (ngang với tôi). Tôi đoán là ông anh mang đầy một bụng bất mãn. Quả thật, bất mãn phọt ra từ câu đầu:

– Mày thấy không? Bắc kỳ vô tràn ngập hết cả rồi!

– Hai trung đoàn chiến thắng ở Điện Biên Phủ cũng đã tới đây, tôi gặp ở gần trường Trung Sơ. .

– Tao biết hơn thế nữa. Thằng còng làm thằng ngay ăn. Đó là qui luật xưa nay. Huỳnh văn Nghệ, Tư lệnh khu 7 mà ra Bắc lãnh lon thượng tá còn Trần văn Trà , Nguyễn văn Vịnh cũng cấp đó mà lãnh lon Trung Tướng là sao??

Tôi trỏ trỏ về phía hầm Chín Lộc. Sáu Huỳnh gạt tay tôi:

– Tao nói tạt mặt hắn chớ sợ hắn sao mầy. Ấy hổng ấy tao về ba vụ nuôi vịt Tàu hốt trứng.

Rồi anh bắt ngay qua chuyện của tôi:

– Sao mày dại vậy? Ai lại đi khai có em trai làm đại úy Sài gòn?

-Không khai làm sao được anh Sáu! Người ta nắm hết ráo mà. Anh không biết anh Ba Thạnh hiện giờ là Cục phó Chính Trị sao? Anh nuôi tôi hồi kháng chiến đó ! Chính ảnh biết và đặt vấn đề.

– Anh nuôi cái con khỉ gì vậy? Mày kẹt rồi, tao cho mày biết để mà đề phòng.

Tôi hơi rối trong bụng. Khi ở trên R, nhận lời với Ba Thạnh (tức Ba Thắng) tôi chưa kịp nghĩ sâu xa nên chưa thấy hết tầm quan trọng. Về Phú Mỹ Hưng gặp Tư Linh cũng nói thế kẹt của tôi. Sáu Huỳnh hỏi:

– Bây giờ mày định thế nào?

– Theo anh thì sao?

– Chỗ anh em tao phân tích lợi hại cho mày nghe nè!

Bỗng tiếng rí rố bên ngoài. Sáu Huỳnh bước ra hầm và quát:

– Cái gì đó Ua?

– Súng du kích báo động.

– Ba cái thằng du kích nứng c. .. đạo lộ bắn bậy chớ động gì mà báo. Xe tăng có vô thì phải kèm trực thăng và pháo bầy, chớ nó đi êm rơ vậy à?

Ua nói oang oang:

– Ông già nói bậy rồi. Tụi nó thả biệt kích đi đêm đó. Chú không nhớ ở Bàu Trăn chúng nó tóm gọn một tiểu đội du kích cũng vì ỷ y nó không đi hay sao?

Sáu Huỳnh nói cứng nhưng mặt mày dớn dác. Y bảo tôi:

– Tao với mày đi qua nhà con Chia bàn vụ cho má nó đi móc gia đình mày.

Vừa đi, Sáu Huỳnh nói tiếp:

– Mày có muốn thằng em đại úy của mày cộng tác với mình không?

Tôi ngần ngừ chưa kịp đáp thì y hạ giọng:

– Tao với mày đã rơi xuống vũng cứt trâu Hợp tác xã ngọ ngậy cả chục năm không thoát ra được, bây giờ không có lẽ mày lại lôi thằng em rớt xuống với mày? Nó đi, bỏ vợ bỏ con ai nuôi? Ra đây làm cái gì? Mày có thấy thằng Phùng Văn Mười cháu ông Cung không?

– Tôi có gặp… nó đang nuôi heo.

– Nhưng chắc có được yên thân mà nuôi heo không? Cái đó là không chắc, chắc là không!

Chúng tôi đi len qua những giồng mì lá còn đẫm sương ướt mẹp. Sáu Huỳnh vừa đi vừa khịt khịt mũi như chó đánh hơi hang chuột:

– Hồi hôm pháo nổ gần đâu đây,. ít nhất là vài chục.

Tôi nói:

– Trời sương mù dày đặc, khó nhận ra địa vật quá anh Sáu, rủi đụng tụi nó thình lình làm sao?

– Ở đây là năm ăn năm thua thôi chú em ạ . Chết pháo, chết xe tăng, chết biệt kích, chết bom, chết tàu, rồi chết hầm chông lựu đạn của du kích, một trăm thứ chết. Mạng mình ở đây như chuông treo chỉ mành vậy. Mày về đơn vị ít bữa rồi xem.

– Hồi chín năm (*) tôi công tác ở đại đội địa phương 1085 Ô Mô Cần Thơ, tối tối bộ đội vác nóp ra đồng ngủ. Sáng vác nóp vô nhà dân nấu cơm nhờ. Dọc đường đụng commandos, hai bên vật lộn. Nó hô Phơ, tôi cũng hô Phơ. Nó hô ăng na văng, tôi cũng nạt ăng na văng trả lại. Rốt cuộc hai bên đều cắm đầu chạy về nhà, không có phơ phát nào cả . Nhưng tụi tôi phải ớn chúng nó. Chúng nó toàn đi dưới nước, đội lục bình trên đầu, mò vô tận địa điểm đóng quân của mình. May mà mình đã ra đồng, nếu ở đó như bữa trước thì cúng mụ hết cả đơn vị rồi.

(*) chín năm: Danh từ để gọi thời gian chiến tranh Việt Pháp từ tháng 9-45 đến tháng 7-54.

Sáu Huỳnh nói:

– Tụi commandos Pháp tao cũng từng đụng ở Trung Huyện hồi chín năm nhưng chẳng ăn thua mẹ gì với tụi biệt kích Mỹ đâu ? Tụi này nhảy trực thăng nằm ém trong rừng có khi cả tháng. Nó ăn mặc nói tiếng giống hệt mình. Nó đào hầm ở trong rừng. Ban đêm mò ra xóm tìm cơ quan và chấm điểm cho máy bay bỏ bom. Nó còn bắt cóc người. Bà con sợ đồn là rừng có cọp

– Hồi chín năm có cọp ba móng ở Rừng Sát, Long Nguyên, An Thành…!

– Ừ. Đó là loại thám báo mặc quần áo giống da cọp. Cho nên tiếng đồn rừng có cọp là vậy đó.

Sáu Huỳnh trở lại vụ thằng em tôi:

– Mày viết thơ chưa?

– Viết lâu rồi.

– Kẹp theo tấm hình nghe !

– Có đủ cả anh à !

Sáu Huỳnh đứng lại rỉ tai tôi:

– Chừng nào Thầy có vô (tức ba tôi) nếu tao không có ở nhà thì mày bảo ông là đừng có cho thằng em mày bắt liên lạc với đầu mối của tao tức là má con Chia, chút nữa mày sẽ gặp tại nhà.

– Vậy anh làm sao hoàn thành công tác? Và tôi báo cáo lên trên thế nào?

– Hoàn thành cái chó gì. Tao sẽ giao lại việc này cho thằng Bắc kỳ mắt toét. Nói đúng ra ở trên không tín nhiệm tao đâu. Họ nghi tao bất mãn. Hơn nữa thằng đó có đi học tình báo Liên Xô ba năm. Mày coi chừng nó. Nó làm bộ xổ bầu tâm sự để mình hùa theo, cuối cùng nó nắm thóp hết ráo. Nó là quân báo thì cái nghề của nó thực hành ngay cả trong nội bộ. Nó hiện là Phó bí thư đảng ủy các cơ quan Bộ Tư Lệnh Quân Khu. Năm Lê chức cao hơn nó nhưng không có chân trong đảng ủy nên phải ngán nó.

Tôi hỏi ngang:

– Sao mình không di chuyển qua Bến Cát cho gần chiến khu Long Nguyên cũ, anh Sáu? Ở đây sát nách Đồng Dù tôi phập phồng lắm. Mấy ổng lại giao cho tôi cái H6 toàn đồ nặng. Đánh thì không dám đánh, còn giấu thì súng lẫn người đều rỉ hết.

– Biết làm sao bây giờ! Mấy năm trước còn sinh hoạt ì-xèo, bây giờ lặng trang như tờ. Tối ngủ đến sáng, thức dậy mới chắc mình còn sống. Sống tới chiều cơm nước xong xuống hầm ngủ mới chắc mình chưa chết. Qua Bến.Cát cũng được nhưng làm như vậy có nghĩa là bỏ đất bỏ dân ở lại đây, tuy sẽ không giữ được đất được dân, nhưng dân còn trông thấy mặt mình họ chưa ra ấp chiến lược vội. Mình đi hết, tụi nó sẽ lập ấp chiến lược ngay trong rốn mình để mở rộng vành đai an toàn cho Đồng Dù . Tụi Anh Cả Đỏ ổn định các ụ pháo chắc chắn sẽ càn một trận để quét sạch các căn cứ của mình ở cận Đồng Dù như Bàu Cạp, Truông Viết, Bến Mương, Ngã Ba Cây Trắc v.v… Xong rồi, nó sẽ cho B52 cày khắp từ Bàu Cạp đến Gò Nổi, Gò Đình. Thế là sạch láng.

– Sao anh đặt kế hoạch trước cho tụi nó vậy?

– Thằng nào cầm quân mà có phương tiện đầy đủ trong tay cũng sẽ làm như vậy cả. Chặt khúc, rồi băm nát. Băm xong cho lính nhảy xuống bắt sống, như cái kiểu mình tát đìa xong để phơi bùn cá chạch ló mỏ lên thở, chỉ nắm mỏ xách đầu lên vậy.

– Anh tính xem mình không có kế hoạch tấn công để phòng ngự à?

– Chiến thuật Mao Trạch Đông trong Luân Trì Cửu Chiến của tao học ngày xưa bây giờ hóa ra vô dụng hết ráo. Chiến thuật trực thăng vận của Mỹ đảo lộn tất cả ý niệm tác chiến hồi chín năm của mình. Từ Đồng Dù đến đây chưa đầy bốn cây số. Mình xách giò chạy bộ hộc máu mồm ít nhất một tiếng đồng hồ, trong khi nó bay không mất năm phút, lính không mệt chút nào. Đó là chưa nói các thứ râu ria khác yểm trợ bộ binh như pháo, trực thăng cá lẹp. Ối giào, mày phải bị một trận cá lẹp bắn thì mày mới biết đá biết vàng. Nó phóng một phát bốn rốc kết chụp xuống đất thành một vòng tròn. Sắt thép nằm giữa vòng tròn đó cũng bị tiêu diệt hết, nữa là người.

– Anh nói nghe bi quan quá vậy, anh Sáu!

– Chớ lạc quan sao được mà lạc chú em! Để mai mốt mày về H6, ở trên giao cho mày lập kế hoạch pháo kích Đồng Dù rồi tao sẽ cho mày biết hỏa lực của nó.

– Làm sao anh nắm được giỏi vậy anh Sáu?

– Đó là nghề của tao mà mày! Cái gì cũng chẳng qua tiền. Tiền mua tiên cũng được mà mua Tướng tá thì càng dễ hơn. Hình của L10 chụp bộ đội mình hành quân rõ từng dấu chân trên bờ suối và từng cái lá ngụy trang, thế mà nó báo cáo không có gì cả. Cho nên Tướng vùng thả xuống một đại đội thám báo. Mình quất sạch gồm cả cố vấn Mỹ. Trả cho thằng báo cáo ba triệu.

– Tiền đâu mà dữ vậy?

– Hai Tốt mang mười triệu bạc chiêu hồi ăn thua gì ? Lính chỉ đói sơ sơ vài bữa. Công tác viên của mình vô Chợ Lớn vài hôm cho ra một xe lam Đức Thánh Trần. Ba triệu bạc mua đứt một đại đội thám báo sừng sỏ, mắc lắm sao? Không phải thằng nào mình cũng mua được. Phải chọn đúng mặt gởi vàng. Chọn trật nó nắm đầu là bể hết. Ví dụ thằng em của mày chịu đèn với tụi tao rồi, nếu nó đang ở đơn vị tác chiến, tao có thể điều động nó về văn phòng, nó đang là Đại úy, tao chạy cho nó lên Trung tá dễ ợt. Tất cả đều nhờ tay anh Ba Tàu! Tụi này có thể mua cả Tỉnh trường mà mậ! (Việt Cộng đang đi trên con đường tráng nhựa thênh thang này gấp mười lần.)

Tôi ngớ ra, không ngờ cái sự đời nó lại như thế. Sáu Huỳnh tiếp:

– Do công tác điệp báo quan trọng như vậy cho nên lão Tư Khanh chánh ủy U80 mới cho mày về Cục Chính Trị để Ba Thạnh đưa mày xuống đây làm đầu cầu móc nối em mày. Nếu mày không có thằng em sĩ quan dễ gì thằng chả cho mày đi trong lúc trường pháo binh không có thầy giáo toàn năng như mày. Mày rõ chưa nào?

Sáu Huỳnh ngưng ngang và hỏi.

– Mày ở ngoải có nghe hai trận
Ấp Bắc và Bầu Bàng không?

– Có nghe. Bộ Tổng đã cho học chiến lệ của hai trận này nữa.

– Chiến lệ nói gì?

– Nói ta đại thắng, địch đại bại. Anh biết cái lối sáng tác thành tích của Cục tác chiến mà ?

– Lê Đức Anh là Cục phó tao còn lạ gì. Có cái chiến lệ nào bằng cái. . . của má con Thanh Tuyền không? Bả đem giao con nhỏ cho ổng rồi trở về thành, không nói một tiếng.

– Tôi suýt làm phò mã của ổng đó nghe anh Sáu?

– Rồi sao không làm?

Tôi kể chuyện cho Sáu Huỳnh nghe. Nghe xong y bảo:

– Tao như mày tao vô ngàm cái cụp. Ở lại trên đó khỏe ru như cu bà bóng.

– Ở trên đó ớn B52 quá anh à. Hội nghị vừa xong, tôi dông liền. Về tới trường Trung Sơ, đang chỉnh huấn thì trên đó ăn dưa hấu tơi bời.

– Tao biết! Nhưng mày về dưới này lại thoát B52 sao?

– Đã đành rồi, nhưng về dưới này không phải nổi ghen với ba con khỉ làm tình. Anh thấy không, tay tôi quờ tới đâu hoa hồng rơi tới đó.

– Mày biết Bầu Bàng ở đâu không?

– Đó là một ấp nhỏ từ Bến Cát lên ấp Lai Khê xã Lai Hưng theo quốc lộ 13. Từ ấp Lai Khê đến ấp Bến Cần, ấp Đồng Sở mới đụng ấp Bầu Bàng. Từ Bàu Bàng lên ngã ba Chơn Thành còn hơn chục cây số. Bàu Bàng nằm giữa Lai Khê với Chơn Thành nhưng cách Lại Khê chừng tám cây số, toàn rừng cao su.

– Mày đi đâu đó mà rành vậy?

– Tôi có thằng bạn sống sót từ trận Bầu Bàng về.

– Chiến thắng đó to không bằng Ấp Bắc đâu. To nhờ đài Giải Phóng la rồi Hà Nội la rờ le chớ có gì. Tao rành mà. Công tác viên của tao nằm lềnh khênh ngoài thành nắm hết sự kiện.

– Ấp Bắc có phải nằm ở xã Bình Hòa tỉnh Tân An không anh?

– Chớ còn đâu nữa. Nhưng đó thuộc trào Ngô Đình Diệm. Để tao nói về cái chiến thắng này cho mày nghe. Hồi đó Mỹ mới viện trợ một số trực thăng. Lính Sài gòn chưa quen nhảy dò, nên nó đem trực thăng ra mà thực tập đổ quân theo chiến thuật gọi là Phượng Hoàng vồ mồiBủa lưới phóng lao.

– Trên Trường Sơn tôi đã được giao liên gốc đồng bằng Nam kỳ kể cho nghe rồi. Cái tên nghe ác thật!

– Nó ác thật chớ không phải chơi đâu. Thằng Mỹ khi đã làm việc gì thì làm tới gáo không có chơi cái kiểu một lon muối cho đắp đầu gối vượt Trường Sơn như mình… Hồi đó sau Đồng Khởi mình mới tập trung du kích được tới cấp đại đội và võ trang bằng súng trường bá đỏ thôi. Tệ hơn nữa là loại oảnh tầm sào thời Nga hoàng đồng chí đầu trọc xỏ lá viện trợ cho mình đánh với M13 của Mỹ . Ở Bàu Bàng thì lính khá hơn, vì được 2 tiểu đoàn Phú Lợi và Bình Dương.

Tôi chắn ngang:

– Để tôi hỏi anh về vụ thảm sát Phú Lợi chút.

– Thảm sát nào?

– Hồi còn ở ngoải tôi nghe có vụ thảm sát một ngàn tù nhân bằng thuốc độc trong trại Phú Lợi.

– Đầu cặc! Toàn láo. Thuốc độc gì mà giết một ngàn tù. Tù đui hết à? Có thuốc độc bỏ vô nước ngọt ở Quốc Hội Ba Đình giết Dương Bạch Mai thì có.

– Anh nói bừa vậy không sợ thằng bù lạch Bắc kỳ à? Nay mai nó thưởng anh chai nước ngọt Hồng Hà đó !

Sáu Huỳnh nói tiếp:

– Mình nói láo quá sức rồi chính mình cũng không còn phân biệt đâu là láo đâu là thật nữa. Tao cho công tác viên của tao điều tra hết cả. Đéo mẹ, tù Phú Lợi ăn cơm trắng với thịt heo chớ không ăn chè trôi nước không nhân làm bằng bột mì Liên Xô và cơm độn sắn như dân xã nghĩa mình ngoài đó đâu. Đài Giải Phóng la oang oang không biết mắc cỡ miệng chút nào hết. Cái trận Ấp Bắc chỉ hạ vài chiếc trực thăng mà nó phóng đại, nghe qua tưởng chừng quân ta tiêu diệt hết phân nửa lính Sài gòn. Sự thực sau trận Bàu Bàng, hai tiểu đoàn Phú Lợi và Bình Dương nằm liệt giường không có quân số bổ sung, hai cái mê rỗ nhập lại làm một để đi xúc cá hủn hỉn. Còn sau chiến thắng Ấp Bắc thì hai đại đội Đồng Khởi phần đông là lính mới của Ba Đào ở Bến Tre đưa lên mất tên luôn. Số còn sống trốn về quê hết sạch. Hai ban chỉ huy chỉ sống sót một đại đội phó nhưng cũng bị thương cưa cụt chân. Mày nghĩ xem, lính cỡ tụi mình đầu có sạn gặp bom đạn của Mỹ còn nhợn thay huống gì ba thằng thanh niên vườn bốc tếu tưởng thổi kèn bằng tàu đu đủ là địch cuốn ró chạy rài. Nay mai mày có ra chỉ huy Bộ binh rồi mày sẽ thấy hỏa lực của nó mạnh gấp chục lần các tiểu đoàn thiện chiến BMEO của Pháp hồi trước.

Tôi thở dài:

– Anh nói tôi nghe bi quan quá anh Sáu!

– Có còn gì lạc quan! Chỉ ông Giáp ở ngoài đó là lạc quan thôi, chớ ông Sáu Vi vô đây thì không thể lạc quan được.

– Vừa rồi ổng nói ở đại hội mừng công, trước mặt cả dân trí thức Sài gòn: Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh.

– Đó là cách nói, cũng như hợp tác xã bị hạn không có nước, vác xe gỗ, gàu sòng ra tát nước mà báo Nhân Dân cho là Vắt đất ra nước, thay trời làm mưa, còn ruộng bị úng thì kêu là nghiêng đồng đổ nước ra sông vậy mà !

Tôi hỏi ngang xương:

– Vụ dưa hấu đổ xuống R kỳ rồi ra sao anh Sáu?

Sáu Huỳnh cười khè khè quay lại nhìn tôi:

– Thì ta vẫn đại thắng như ở Bầu Bàng Ấp Bắc chớ R đâu có chết con nhái nào. Chỉ có diều tao lo là thằng con trai tao gởi trên đó không biết ra sao. Đến nay chưa dò ra tin tức.

– Tại sao anh lại gởi trên đó?

– Nó đang sửa soạn thi Tú Tài, vợ tao sợ nó thi trợt sẽ bị bắt lính nên hộc tốc đưa thằng nhỏ vô đây không hỏi ý kiến tao trước vì tin tưởng Mặt Trận đã giải phóng 3/4 đất đai và 4/5 dân số miền Nam. Thằng nhỏ tha hồ mà rong chơi. Chẳng dè vô đây khu giải phóng chó ngồi ló đuôi. Trở ra không được nên tao đưa lên đó hồi chưa có B52 kia. Bây giờ thì không ổn nữa ! Cũng kiểu như thằng em mày vậy. Tao lấy tình anh em khuyên mày nên suy nghĩ cho kỹ. Đáng lẽ ở cương vị công tác của tao, tao xúi mày thừa thắng xông lên mới phải… Nhưng lương tâm tao không nỡ nhìn mày bị kẹt đạn.

– Tôi hiểu anh, anh Sáu. Xin thành thật cám ơn anh.

– Dính vô đây rồi là tấn thối lưỡng nan cả một đời chớ không có dễ đâu!

Câu chuyện tạm ngưng khi Sáu Huỳnh dừng lại, trỏ tay vào một hố pháo nám đen bên đường:

– Mày thấy không? Má con Chia chắc phải lủi xuống tận đất cái hồi hôm này !

Từ ngoài đường quẹo vô một quảng là tới nhà Chia. Sáu Huỳnh rỉ tai tôi:

– Đây là cơ sở bí mật của tao nghe !

– Các cha đi đâu cũng có cơ sở hết cả !

– Mày nghĩ, ra Bắc mười năm thằng nhỏ chỉ làm cái nhiệm vụ chiến lược thứ yếu thôi. Còn nhiệm vụ chiến lược chính yếu lại không động tới. Bây giờ phải cho nó lãnh phụ trội chớ. Để nó làm cây pháo vô dụng sao được mậy ! Nường bốn mươi tuổi nhưng không đi cấy nên còn mướt lắm.

– Anh coi chừng, không khéo rồi như Hai Giả đó .

– Đồ thằng ngu! Ăn vụng mà không biết tém cho sạch mép.

– Tém sao được khi cái bị của anh Hai đã gởi về ?

– Tao đã ngâm kín cái cơ sở này ba năm mà không lộ tẩy là nhờ cái bửu bối này.

Sáu Huỳnh thọc tay vào túi quần sau móc bóp. Tôi xua tay:

– Tôi biết rồi anh ơi ! Thằng Tư Linh đã cho tôi một mớ . Hôm đi đại hội mừng công về ghé Xóm Mới gặp thằng Hùng Cối nó bổ sung cho một mớ, tôi mua tăng cường một mớ nữa, tất cả chừng ba chục hiện nằm trong sắc-cốt tôi đây.

– Mày khá lắm! Nhưng trong mình là một chuyện còn đeo cho thằng nhỏ là một chuyện khác. Tuổi trẻ của mày lúc sắp xáp chiến mày hăng-xờ-máu, cương-xờ-quyết quá đi nên mày quên mất cái việc quan trọng đó . Nhớ lại coi có lần nào mày quên không?

– Bỏ mạng rồi anh Sáu ơi? Có, có hai ba lần.

– Với ai?

– Với bà khu ủy ở quân Tân Lập, Tân Biên gì đó !

– Sao phạm thượng dữ vậy?

Từ trong nhà có tiếng bà nói vọng ra:

– Cái ông già mắc dịch bày chuyện cho thanh niên hư hỏng.

Tôi ngó vào bên trong. Một người đàn bà mập mạp tóc đen. Tôi biết đó là má con Chia. Sáu Huỳnh nói ngay:

– Mày muốn mua gì cũng có trong cái quán này. Có thể bà chủ quán là nhạc mẫu của mày đó. Tạm thời mày kêu bà bằng dì Tư cho ngọt trước đi, sau kêu bằng má . – Sáu Huỳnh đi vào vừa nói oang oang – Tuổi tác có hơi chõi một chút, nhưng không sao, không sao ! Tình không kén tuổi. Con Chia đâu rồi, pha hai ly cà phê sữa đem ra đây liền coi! Rồi tao làm chủ hôn cho. Tao biết hai đứa bây khứng với nhau rồi!

Dì Tư kêu oai oái:

– Ông làm như mua gà mua vịt vậy, miệng trả giá tay chộp liền.

Sáu Huỳnh nói:

– Nội đàn ông mùa thu mùa đông không thằng nào bằng thằng này về mọi phương diện, học hành cấp bực và hình thức Còn nội con gái dân thứ, du kích, cơ quan vùng này cũng không đứa nào bằng con Chia. Như vậy là Dâu Nam Giáng Rể Đông Sàn, còn chờ gì nữa? Bà không chịu thì con Ua, con Bảy Mô, Tám Mang, Sáu Nga, con xã đội phó Phú Mỹ Hưng đua nhau giành mất đấy. Rồi đừng có tiếc nghe?

Dì Tư ngập ngọng nói líu lưỡi:

– Thì để thong thả đã chớ làm gì như chạy giặc vậy?

– Chạy giặc chớ không à? Nó sắp càn tới nơi rồi đó, tôi cho bà hay! Nào, bà sửa soạn đi Sài gòn mau lên. Móc gia đình cho thằng này và công tác luôn tôi sẽ nói sau. Cố gắng đem ông già hoặc bà già nó vô để bàn việc đám cưới luôn. Gia đình nó phong kiến dữ lắm. Tôi biết rành hồi chín năm. Bà thấy có ai như nó không? Đến tuổi này rồi, con gái bu rần rần mà không bị một tiếng xấu. Bà tìm ở đâu ra một thằng rể như vậy?

Sáu Huỳnh vừa uống cà phê vừa nói mâm trên liên tục rồi giao công tác cho dì Tư. Tôi và anh vừa đứng dậy định đi về thì nàng Ua phóng xe đạp tới thềm la oang oang:

– Rồi chưa dì Tư! Mau đi cho kịp chuyến sáng. – rồi nói với tôi – Anh về ngoại biểu gì ở bển.

Tôi biết là con sư tử Hà Đông tí hon này sắp nổi trận lôi đình nên bước ra cửa ngay. Ua đi lẽo đẽo sau lưng tôi. Tôi cố đi nhanh, Ua chạy vụt theo:

– Anh đứng lại em nói chuyện này chút.

– Em đi công tác rồi về sẽ nói !

Ua thở hỗn hễn.

– Em là vợ anh rồi nghe chưa? Anh mà léng phéng với con Chia là em rút chốt lựu đạn.

Tôi bịt miệng cô bé bằng một cái hôn. Nàng ta vít đầu tôi xuống, ghì mãi vào má nàng. Tôi biết Sáu Huỳnh và dì Tư ngó theo nên dãn ra. Ua nói tiếp:

– Em ra ngoài đó nói với má cho anh đồ đạc. Em sẽ ghé chợ Bắc Hà mua xanh-tuya-rông và vải dù cho anh.

– Các thứ đó anh có đủ rồi !

– Vứt hết đi. Em muốn anh đắp tấm của em như đắp em vậy; em muốn anh nịt xanh-tuya-rông của em như đeo niềng kim cô để lúc nào cũng nhắc anh nhớ rằng em là vợ của anh.

– Thôi được rồi, em vô lãnh công tác đi!

– Anh nhớ đấy. Kể từ đêm qua em là vợ của anh rồi.

Ua nói rồi quày trở vô. Trời ơi! đã có bao nhiêu người con gái nói với tôi câu đó ! Thế mà tới bây giờ ba mươi bốn tuổi rồi tôi vẫn chân không. Sáu Huỳnh đi ra, vừa nhìn tôi vừa lắc đầu:

– Tao hết biết cho mày !

– Tôi mệt còn hơn leo cây dừa lão anh Sáu ơi!

Vừa đi trở về, Sáu Huỳnh nói:

– Chờ cho nó chở bả đi thì mày trở lại. Phải chơi cái miếng hồi mã tam thương mới thắng địch.

– Tuổi tác chênh lệch quá anh Sáu ạ ! Tụi nó còn con nít biết cách làm vợ ra sao?

– Chị Sáu mày lấy tao hồi mười sáu tuổi. Vẫn ở tới bây giờ, có sao đâu. Đối với con gái mới lớn lên, thằng con trai phải biết điệu nghệ , để phát đầu tiên cho nó lên tận mây xanh là nó đội bàn thờ theo mày. Bởi vậy mấy tên già dơ đều quơ được con gái nõn nà, còn mấy thằng thanh niên chạy xớ rớ cứ hụt giò hoài. Mày không phải o mà tụi nó tới nộp thịt thì cứ xơi tái, bỏ đi rất uổng!

– Tôi có hứa với người ta rồi anh Sáu ạ !

– Hứa thì hứa, ăn thua gì. Thời buổi này không có gì chắc. Con Tám Mang ở An Nhơn Tây cũng hứa với một thằng tiểu đội trưởng ở tiểu đoàn Quyết Thắng , anh chàng bị thương cụt hai giò, con bé ngãng ra. Ai tránh được? Mày hứa như vậy chừng nào cưới? Lỡ một bên bị thương nặng thì sao? Chuối lột tới đâu ăn tới đó, đừng có treo đó mà mất ăn. Nếu con nhỏ cằn nhằn thì cứ đổ thừa cho gia đình cưới đem vô cho mày. Rồi nó đi lấy thằng khác chớ ế ẫm gì mà lo. Đời này không có ai chung thủy với ai hoàn toàn. Tao có cơ sở ở đây nhưng vẫn chung thủy với chị Sáu mày như thường. Mày năm nay ba mươi bốn rồi phải không? Ở đó mà chung với thủy!

Sáu Huỳnh lôi tôi nép vào bên bụi trúc và thuyết một hồi nữa, mắt thì ngó về phía mối đường. Thấy Ua đạp chiếc xe ra quẹo phải, Sáu Huỳnh vẫy vẫy tay. Dì Tư ngồi sau poọc-ba-ga vẫy đáp lại và trỏ tay vào nhà. Sáu Huỳnh nói.

– Bả chịu mày làm rể rồi. Trở lại đi!

Thấy tôi chần chờ, Sáu Huỳnh đẫy sau lưng tôi và nói:

– Đây ra Củ Chi mà đi ngã Bào Tre thì mất hai tiếng, về mất hai tiếng nữa. Ở ngoài đó với má nó mất hai tiếng. Vị chi là sáu tiếng. Chừng ba giờ nó về tới nhà . Nó đang điên trong bụng nên đạp bạt mạng có thể về sớm hơn. Mày trù trừ mất hết thời giờ . Phát đầu tiên kể như mới lấy cự ly. Phát thứ hai mới đúng đích. Mau lên ông thầy pháo. A ông con rể !

Nói xong Sáu Huỳnh quay lưng đi. Tôi trở lại nhà Chia. Chia đang đứng ở cửa ngó ra. Tôi nói để che giấu tội lỗi sắp phạm phải:

– Anh bỏ quên…

-…cái chỗ ngồi phải không?

Chia vừa nói vừa quay vô nhà. Tôi đi theo bén gót. Qua khỏi quày hàng, đến miệng hầm, nàng dừng lại bảo tôi:

– Anh xuống hầm đi, ở trên này ớn lắm. Để em ra đóng cửa .

– Rồi người ta tới mua hàng làm sao?

– Không có bán buôn gì hết!

Nàng trở ra đóng cửa cài then rồi trở vào, đi xuống hầm đốt đèn. Lòng hầm kiến trúc cũng giống như hầm bên nhà của Ua nhưng chỉ có một cái giường không có hầm khoét và dưới gầm giường chất đầy những hàng hóa. Nàng nói:

– Bây giờ anh là của em.

Tôi bị đặt trước việc đã rồi. Không rõ ở ngoài đó Thu Hà ra sao? Những lần đi với bà khu ủy, Mai Khanh, Huỳnh Mai, Thanh Tuyền, Ba Ánh tôi không suy nghĩ đắn đo gì hết, coi như bánh ngon dâng tới miệng trong lúc mình đói thì cứ ăn. Và sau khi ăn xong, chẳng có nợ nần gì. Tôi sẽ xa họ ngày hôm sau, dù ai có muốn níu tôi lại cũng không thể được. Còn lần này tôi phải sợ vì tôi công tác ở tại đây, gia đình Chia cũng ở tại đây và nếu ba hoặc má tôi vào thì thành chuyện chính thức. Chia cũng rất vừa ý tôi. Ngoài ra cô xã đội phó, Bảy Mô và nàng Ua sẽ là những trở ngại. Bảy Mô sẽ không phản ứng như cô xã đội và Ua, nhưng tôi cũng cảm thấy mình bạc tình. Do đó, tôi ngồi im trước câu nói trùm phé của cô bé . Nàng cũng đứng dựa thanh giường nhìn tôi chớ không đến gần, thủ thỉ:

– Em đọc tiểu thuyết, thấy anh đúng là người trong mộng của em.

– Sao lạ vậy?

– : Em không hiểu tại sao. Hôm qua khi con Ua….

– Nó vai chị nghe !

– Em coi nó như con nít ! Hôm qua nó cho em hay và rủ em qua coi mắt anh, em qua đến nơi thấy anh em thương liền ! … Đêm qua em khóc hết nước mắt… Nhưng em biết thế nào em cũng được anh yêu.

– Tại sao em biết vậy?

– Người như anh không thể yêu con Ua. Nó đáng lẽ phải là con trai. Ngoại em thường nói mụ bà nắn lộn.

Que sera sera thật rồi. Tôi đến gần bên Chia. Chia nói:

– Em tên Châu, nhưng hồi nhỏ má em sợ xấu hái nên đặt tên Châu mà lại gọi Chia. Tên đẹp sợ quỉ bắt mất.

Chia nhìn tôi với cặp mắt như nói:

– Em thế này mà anh không yêu sao?

Tôi chưa kịp đưa tay ra thì nàng đã ôm quàng lấy tôi. Chúng tôi lăn lóc trên giường như hai thỏi sắt nướng. Chia rên rĩ:

– Chắc em chết quá . Chắc em đứng tim quá !

Rồi nàng chồm lên thổi tắt đèn.

– Em là ánh sáng của anh.

Tôi không nói thành lời. Môi thay thế. Tay phụ họa thêm. Ngọn suối nhỏ của khu thần tiên đã dâng tràn. Nhớ lời Sáu Huỳnh dặn lúc nãy. Tôi ngồi lên để lấy bửu bối.

Chia kêu lên và nằm co rúm lại. Một mãng tuyết lồ lộ trên bãi cỏ xanh, một nàng tiên rơi vào trần tục. Chia liếc mắt thấy và kêu lên.

– Anh làm gì vậy?… Không ! em không chịu thứ đó đâu!

– Em không sợ có con à ?

– Chính em muốn có con với anh.

– Sao em biết cái thứ đó?

– Ông Sáu Huỳnh ngủ ở đây với má em, bỏ tùm lum em lượm vứt đi hoài.

Tôi còn đang lưỡng lự chưa biết có nên nghe lời cô bé hay không thì bỗng có tiếng đập cửa rầm rầm. Tôi nhìn Chia:

– Người ta đến mua hàng?

– Kệ họ ! Không có buôn bán gì hết.

Rồi tiếng kêu tiếp tục. Tôi trợn mắt với Chia.

– Rõ ràng là tiếng con Ua.

Chia vẫn lắc:

– Kệ nó.

– Nó tông vô được làm sao?

– Cho nó thấy luôn chớ sao !

– Chia, Chia ơi! Cho tao vô lấy đồ bỏ quên.

Tiếng kêu lẫn tiếng rung lắc cửa. Một chập, tiếng lằm bằm:

– Con nhỏ quỉ này đóng cửa quán qua bển rồi !

Rồi im bặt. Chia lấy mền cuộn vào người rồi rón rén đi lên. Một lát, trở lại:

– Con quỉ đi rồi.

– Nó quên cái gì vậy?

– Nó làm bộ để coi anh có quay lại đây không chớ quên cái gì?

– Nó về bên ngoại không thấy anh chắc nó la ầm lên.

– Nó biết anh đi đâu mà la ầm?

Nói xong Chia đưa cánh tay ngà ra như một búp hoa huệ, quạt khẽ. Cái đốm sáng ngoan ngoãn biến đi như con mắt thần nhắm lại. Tôi để nàng trãi lên tôi như một dãi lụa và nghe mọi cảm giác dâng lên trong người.

Với cô xã đội vừa rồi, vì ở giữa rừng trống trải nên tôi hấp tấp. Lần trước đó vì ngủ chung hầm với cô chị, nên tôi cũng tốc chiến tốc thắng để rút lui. Còn hôm nay một mình tôi một cõi, tôi cứ nhỡn nha như các ông đạo uống trà, hớp từng hớp khẽ như sợ hết miếng ngon. Bây giờ tôi mới nghiệm ra, con gái thích đàn ông vì đàn ông có ngón nghề, biết huyệt nào là tử huyệt. Chỉ cần khảy một cái nhẹ thì bệnh nhân rã rời tứ chi lung lay nhật nguyệt. Tôi vừa đi nhẹ vào nàng và hỏi:

– Rủi có con đừng làm rùm nghe.

– Ư ư…

– Anh cũng muốn có con. Già cái đầu rồi, cứ hun con nít khính của người ta.

– Ư ư …

Bỗng nàng kêu lên the thé : Anh ơi! rồi quào loạn xạ trên lưng tôi.

…. Nàng đưa cho tôi xem chiếc khăn trắng mà nàng lót dưới chiếu trước khi tôi yêu nàng, cho tôi xem và gục đầu vào vai tôi mà nức nở.

– Anh tin rằng em yêu anh là người đầu tiên chưa?

Tôi làm thinh. Nàng nói tiếp:

– Để em giữ làm kỹ niệm.

Tôi nhìn thấy mấy cánh hoa hồng tươi mà tự hào cho cái kiếp giang hồ bạt búa của mình. Nàng tiếp:

– Nhưng chắc kỳ này không có con đâu anh.

– Sao em biết?

– Em biết luật Ogino mà. Sau khi có kinh một tuần lễ hoặc mười ngày thì ăn ở với chồng mới có con. Em vừa sạch kinh mới có hai ba ngày thôi. Anh phải yêu em tuần tới.

– Biết anh còn ở đây không?

– Anh đi đâu em cũng tìm cho được.

– Rủi anh chết làm sao…

Chia bịt miệng tôi bằng nguyên cái gò má nóng bừng của nàng.

Như thói quen của thầy pháo, phát thứ nhất chỉ là phát lấy tọa độ . Phát thứ hai mới là phát tàn sát kẻ thù . Tôi lẽ nào không theo cái nguyên tắc pháo binh đó. Hình như hôm nay tôi đã vượt chỉ tiêu.

o O o

Tôi giật mình thức dậy và xem đồng hồ. Con Ua sắp về. Tôi khoác lại y phục và bảo nàng tôi phải về bên ngoại. Chia biết ý tôi sợ Ua về bắt gặp nên trừng mắt:

– Bộ anh sợ nó bắt gặp anh ở đây hả?

– …..

– Em cần nó biết anh đã yêu em. Nếu nó không biết em sẽ nói cho nó biết.

– Thôi đi em ơi, làm đổ bể tùm lum anh trốn khỏi đất này luôn.

Chia cười ngất, vuốt má tôi:

– Coi vậy mà nhát gan!

Tôi ra ngoài nhà mở cửa. Khách tới mua hàng. Không có ai quen. Toàn là lính và cán bộ . Tôi cứ hốt đậu, đường muối, thuốc lá… đưa cho họ và chỉ lấy tiền tượng trưng. Họ mừng quýnh không kịp cám ơn nhận hàng rồi rút đi. Một người quay lại nói:

– Cầu trời cho ông mở thêm một vài cái quán nữa !

Tôi vừa quay vô thì có tiếng hỏi:

– Quán có bán thuốc rê Gò Vấp không?

Nghe giọng quen quen, tôi quay lại và kêu lên:

– Chú Tư! Chú đi đâu xuống đây?

– Đi họp! Sao chú ở đây?

– Dạ cháu về nhận công tác.. . Mời chú Tư ngồi. Để cháu nấu miếng nước pha trà quạu chú uống chơi.

Chú Tư Thiên trông gầy tọp. Râu ria như chổi chà tua tủa, tóc dựng đứng như bó rơm, mắt sâu như hai cái hố bom đìa.

– Tình hình ở trển có yên không chú Tư?

– Yên gì mà yên? Đêm pháo, ngày máy bay. Lúc này chú về trển tìm không ra ai hết. Thằng Tư Thuận dông luôn rồi. Tôi đã biết cái dèo nó cho vợ con đi ra ấp chiến lược trước mà !

– Má Hai có về không chú?

– Về đâu được mà về . Con Lụa có tin buồn. Để tôi kêu con Là lại gặp chú.

– A cổ cũng ở đây nữa à?

– Bây giờ ở trển chỉ còn hai chú cháu hôm sớm với nhau thôi. Đi họp huyện mà tình hình động quá. Chú với con Là tới Xóm Bưng mà huyện đội huyện ủy đi đâu mất tiêu. Hai chú cháu đang tính tới tính lui xem có nên đi tìm hay trở về. Cuối cùng tọt xuống tới dưới này. Ăn ở lêu bêu thế này nó chụp một cái là bị hết nguyên con.

Chú Tư đứng dậy đi. Nhìn chú ra tới đường tôi mới thấy sự có mặt của nàng xã đội là nguy hiểm vô cùng nhưng chẳng lẽ lại ngăn chú hoặc mình lánh mặt?

Chập sau, cô xã đội phó tới, chân bước loăng quăng, mặt mũi hớt hãi, cây trường bá đỏ chĩa họng lên trời.

– Anh Hai tôi đâu, anh Hai tôi đâu?

Chú Tư đi phía sau, cười khoe hai hàm răng xếu xáo:

– Ai đứng sầm sầm một đống kia?

Là chạy nhào tới ôm choàng lấy tôi rồi úp mặt vào ngực tôi mà òa lên khóc. Tôi đứng chết trân. Đợi chờ nàng bớt cơn mưa giông tôi mới hỏi:

– Gia đình mạnh hết hả em?

– Ba con Rớt hi sinh rồi.

Tôi nghe rụng rời tay chân. Hiện lên trước mặt tôi con bé mồ côi và người mẹ trẻ góa bụa dưới một cái hầm đất hôi hám. Bé Rớt lúc nào cũng.quấn quít bên tôi. Lần nào tôi đi, nó cũng hỏi: Cậu Hai chừng nào về? Nhớ tới bé tôi không cầm được nước mắt. Nay ba nó hi sinh thì nó sống làm sao. Mấy dòng chữ tôi phóng cho nó đời nào nó mới học thuộc?

– Má có về không em?

– Anh đi đâu mất biệt vậy?

-Thì đi công tác chớ đi đâu!

– Anh hứa rước gia đình vô để gặp má , làm em chờ hoài.

– Anh có cho đi móc nhưng không kết quả em ạ ! Anh mới vừa nhờ người đi hồi sáng này.

Mắt Là sáng rực lên.

– Người ta đi, chừng nào về, anh?

Tôi thấy tội nghiệp cô gái quê chân thành đến mức độ khờ dại. Tôi thật tình không muốn đi sâu vào tình cảm của Là vì tôi biết tôi không thể lấy một người vợ như vậy. Cũng như với Ua, bị Là ép tôi phải nhận. Tôi cho nàng những gì nàng đòi hỏi, nhưng tôi không hứa hẹn gì. Chuyện tôi rước gia đình vào để gặp má Là do nàng mơ ước chớ không phải thoát ra từ quyết định của tôi. Nàng quay sang chú Tư Thiên:

– Mình ở loanh quanh đây tìm huyện ủy chú Tư à !

Chú Tư biết ý cô nàng muốn ở nán lại chờ tin vui do cây móc mang về, nên nói:

-Tao ở mấy ngày cũng được ! Trâu già đâu nại dao phay, nhưng sợ cho cái thân gái của bây lang bang như chuột không hang rủi có chuyện gì thì khổ.

Là cười như mếu và quệt nước mắt:

– Không sao đâu chú ! Chẳng lẽ lại xui dữ vậy sao?

– Năm may ngày rủi biết đâu ! Ừ, ở thì ở, nhưng để tao tìm thằng ấp đội trưởng để nếu có bị chụp hai chú cháu có hầm mà chui. Cháu ở đây nghe ? Chú đi xế xế thì trở lại.

Nói xong chú xách rựa ngoéo, đội mê nón lên đầu vai vác khúc cây cò ke lúc nào cũng sẵn sàng đẽo cây đòn gánh để đổi rượu, thuốc rê hay vật dùng khác.

Chia từ trong bếp bưng mâm trà đi ra. Là nhìn Chia, Chia nhìn Là bằng những cặp mắt của tử thù sẵn sàng ăn gan uống máu nhau. Nhưng Chia đặt mâm trà lên kệ hàng rồi nhã nhặn mời: Anh chị giải khát và lui vào. Còn Là thì quắc mắt ngó theo rồi quay sang hỏi tôi bằng một giọng mát mẻ:

– Ai vậy anh Hai?

– Con của chủ nhà đi móc dùm anh!

Biết Là không tin (như lần vô quân y của Tư Chuyền bắt gặp hai cô Hằng Nga đang ăn khoai mì với tôi), tôi thêm:

– Đó là vợ của một chiến sĩ ở cơ quan anh mà . Khổ quá !

– Ừ ! cho nhớ đa nghe !

Tôi xoay sang hỏi thăm công tác. Là chỉ đáp nhát gừng và kết luận:

– Kỳ này lên quận tôi trả chức.

– Sao em nói kỳ vậy?

– Dân ra ấp chiến lược, du kích lẫn tránh, cán bộ nằm nóp hoặc ngồi thum, còn các bà Hai Xót, Năm Đang thì biến mất, muốn xin chỉ thị chỉ biết vô rừng cao su tìm cái miếu thổ thần, nhưng ông thần cũng ra ấp chiến lược rồi.

– Em đã hoàn thành ba cái hang cho ông Ba Xu chưa?

– Đào nửa chừng thì bỏ mứa. Tụi thằng Trương thằng Hiếu cõng vợ con chiêu hồi rồi.

– Trời đất! Còn hai thằng Mã Tử và Đầu Ban?

– Còn đó nhưng chỉ có xác, không có hồn!

– Con Rớt….

– Nó nhắc anh hàng ngày. Tụi con chị Tám Khỏe cũng vậy. Ngày nào cũng hỏi cậu Hai chừng nào về?

Tôi ngồi nói chuyện với Là mà trong bụng rối bời. Chắc nàng Chia đã biết Là là ai rồi. Nếu đổ bể ra không biết tôi sẽ giải thích như thế nào cho cả hai bên để cái ngòi nổ tịt đi.

Đang ngổn ngang trăm mối tơ vò thì một chiếc xe đạp vọt vào sân: bà chằng lửa về tới. Giống như một màn kịch tới hồi quyết hệt. Trông thấy tôi, Ua quát ngay với giọng hằn học:

– Anh qua đây làm gì?

– Đón em chớ làm gì nữa.

– Sao không ở nhà chờ mà đón ở đây?

– Sao em không về nhà mà lại vô đây?

– Má con Chia gởi hàng lụa về cho nó !

Ua vừa nói vừa mở lấy mấy gói ở poọc-ba-ga đem vô, vừa đi vừa kêu:

– Chia ơi ra lấy đồ .

Rồi banh một gói hàng nói tía lia.

– Cái này má gởi vô cho anh. Một bộ ni-lông dầu. Cái này là vải dù và xanh-tuya-rông em mua ở chợ Bắc Hà cho anh. Má nói má đồng ý hết trơn . Bảo cơ quan lo liệu, khi xong má sẽ về. Má hỏi chú Sáu Huỳnh làm chủ hôn bên đàng trai được không?

Là lõ mắt nhìn tôi. Tôi làm cầu thủ nhanh nhẹn gạt bóng văng ra khỏi vùng cấm địa:

– Còn vụ rước gia đình anh tới đâu?

– Dì Tư lên chuyến xe sớm nhất đi Sài gòn. Chắc bây giờ bả đang bước vô cửa nhà anh.

– Tình hình Đồng Dù thế nào?

– Ở trong này anh cũng biết cần gì phải hỏi em. Lính Anh Cả Đỏ vô ngập cả Đồng Dù rồi. Trực thăng sâu rọm câu pháo từ Long Bình xuống đó liên tục. Xe tăng chạy có bầy như trâu. xanh-tuya-rông rẻ rề. Bình toong hạ giá. Tụi Mỹ ném bỏ nhiều quá mà. Người mình ở Củ Chi ra làm cho tụi nó đông như kiến cỏ. Quần là áo lượt cười nói toe toét không còn coi các chú các anh trong này ra cái gì. Có mấy con nhỏ du kích của Bảy Mô trong đám làm công nữa. Vừa thấy tụi nó em lánh mặt rồi dông luôn. Nó rành em mà.

– Cái cổng chính ra vào ở Ngả Tư Trùm Tri còn mở hay đã đóng lại rồi?

– Chuyện đó nói sau t Anh đi qua đây bao lâu rồi?

– Mới ngồi chưa nóng đít mà, cạch hỏi làm gì gắt vậy?

– Thôi đi về . Em có chụp hình để anh cất trong bóp, lúc nào cũng có em bên anh luôn.

Là trợn mắt:

– Nè, con đỉ! Tao nói cho mày biết. Đây là chồng của tao.

– Ơ kìa! Chồng gì, chồng ngồng hả?

(Nãy giờ Ua tưởng Là ở trong đội du kích ấp nên không để ý.)

Là đứng chồm dậy trỏ mặt Ua và chụp lấy súng.

– Tao bắn…

Ua hụp xuống và núp sau lưng tôi. Tôi giật cây súng trong tay Là. Tôi chưa kịp nói gì thì Sáu Huỳnh bước vô:

– Bây làm cái trò gì đó hả tụi con nít quỉ?

Ua thò đầu bên vai tôi run run nói.

– Con nhỏ này định bắn cháu.

Sáu Huỳnh vốn quen Là từ trước vụ tiếp đón thằng Bọ Chét, nay đụng bất ngờ, anh điểm mặt:

– Làm bậy tao trói đầu hết hai đứa.

Là phân trần:

– Chồng của em mà con nhỏ này nó nói…

– Cưới hỏi hồi nào, nó là cán bộ của tao, sao tao không biết?

– Dạ má em đồng ý rồi, nay mai má ảnh ra gặp má em.

– Cơ quan chưa cho phép!

– Chú Sáu nghe bà ngoại nói chịu gả cháu cho ảnh, nên hồi sáng này em ra Củ Chi gặp má em, má em cũng đồng ý rồi.

Sáu Huỳnh gạt phắc:

– Không có thành chuyện gì hết nếu tao chưa cho phép. Bây làm sao nó mất chức như Hai Giả thì làm.

Là không chịu thua:

– Ảnh hứa với em trước rồi mà anh Sáu?

– Ảnh cũng cũng…

Sáu Huỳnh quát vào trong.

– Con Chia đâu? Ra đây tao bảo.

Chia lẵng lặng bước ra đứng nép vào mép kệ . Sáu Huỳnh hất hàm.

– Nó có hứa gì với mày không?

– Dạ.. cháu… cháu…

– Tao nói cho bay biết là cán bộ muốn lập gia đình đều phải báo cáo, cơ quan có chấp nhận thì mới được cưới chớ không có ai dám tự ý quyết định hết. Cấp bậc của ông trưởng ban H6 này là phải được khu ủy duyệt xét chớ không phải tao thông qua là xong đâu.

Ba cô nàng nhóc mỏ cá kèo nghe chấn chỉnh tư tưởng. Nàng Ua có vẻ cương lý :

– Cháu thấy thiếu gì ông có vợ rồi mà vẫn léng phéng, sao không có kỷ luật gì hả chú?

Sáu Huỳnh hơi nhột vì vụ lẹo tẹo với cái cơ sở má con Chia, nhưng vốn nghề quân báo lẽo mép, y quát:

– Ai đâu?

– Như ông Hai Giả, ông Năm Tiều, Năm Cai, Sáu Nâu, Năm Ngó… ông nào cũng con vòng con cỡi hết á ?

Sáu Huỳnh trợn mắt:

– Sao bây biết họ không bị kỷ luật? Kỷ luật phải tuyên bố ra cho bây nghe để họ mất uy tín thì làm sao công tác?

Ua vẫn xon xỏn đối đáp:

– Cháu biết có người… lẹo tẹo.

Sáu Huỳnh biết con nhỏ ám chỉ mình nên quạt mạnh.

– Đó là cần thiết cho công tác! Khi cần công tác hoặc để che mắt địch, hai chú cháu còn phải đóng trò vợ chồng như con Thanh và chú nó là thằng Nam, tụi bây con nít biết gì. Đến mày nay mai nếu cần tao cũng bắt mày làm kiểu đó .

– Ừ cho cháu đóng với anh Hai thì cháu chịu bền.

Sáu Huỳnh nghiêm sắc mặt:

– Nào, nói sơ về tình hình Đồng Dù nghe coi!

– Người trong mình ra làm công như kiến cỏ. Mỹ đi đụng đầu lộp cộp Xe tăng chạy rung đất. Trực thăng bay đen trời. Cà-nông câu tới liên tục. Chợ Bắc Hà bán đồ rẻ mạt.

– Nay mai rồi mày vào bên trong điều tra rành rẽ hơn.

Sáu Huỳnh đứng dậy bảo ba cô:

– Thôi giải tán đi. Cô xã đội phó đi về hoàn thành cái vụ hôm trước cho sớm. Sắp có việc cần đến nơi rồi. Con Ua chuẩn bị đi Sài gòn bây giờ nè. Tình hình như nước sôi ở đó mà giành chồng.

Rồi anh khều tôi ra đường bảo nhỏ:

– Tao biết ba con gà dò này mày chỉ xé phay tạm cơn đói lòng thôi chớ chắc mày chẳng lấy làm vợ được. Một đứa thì cục mịch, đứa lại quá nông nổi. Con Chia, mùi mẫn thì được còn đóng vai hiền nội thì cũng hụt tiêu chuẩn. Mày cứ việc bứt dây oánh tuất. Nhưng nhớ giàn xếp cho khéo đừng để nó làm bể bạc tùm lum. Con Ua nó biết mày ở đây cả ngày với con Chia chớ hổng không đâu, nó lém lắm.

– Nó bảo nó chịu cho con Chia chung chồng với nó, nhưng con Chia phải làm bé.

Sáu Huỳnh cười phì:

– Con quỉ hón đó ghê lắm. Chuyện gì của ai nó cũng biết hết. Mày vô bảo nó về đằng nhà thăm bà ngoại. Từ hồi sáng tới giờ tao không có về nhà. Có chuyện rắc rối lắm!

– Gì đó anh Sáu?

– Bí mật, nhưng tao xì một chút cho mày nghe. Vợ thằng Tư Minh là cơ sở của mình ở Sài gòn. Mụ ta làm thợ may nhưng trong nhà có súng đại liên và vài chục trái mìn. Công tác viên vừa ra cho biết là tụi cảnh sát Sài gòn có vẻ như đánh thấy hơi. Tao và Chín Lộc muốn cho dời đi, nhưng không có chỗ. Một tên sĩ quan cấp tá từng là tay trong của mình lâu năm ngỏ ý muốn nhận số vũ khí đó đem cất giấu một nơi đặc biệt, nhưng tao ngại loại rắn trung hai đầu, nó chích một cái là trời cứu, nên tao chưa quyết định. Đem bấy nhiêu vũ khí đó được vô thành phải trầy vi tróc vẫy chớ đâu có dễ . Rủi bị tụi nó biết thì khóc không ra tiếng.

– Tôi nghe nói tụi tướng cũng móc với mình hả anh Sáu?

– Có, nhưng ít lắm.

– Sao mà có loại người như vậy hả anh, tôi thực tình không hiểu nổi.

– Đời này chẳng có cái lương tâm nào là không biến thành hàng hóa. Mày không đọc thơ Giao Thừa của cụ Tố nhà ta đăng trên báo Nhân Dân Xuân 61 à?

– Có ! Hàng hóa lương tâm cũng thiếu thừa !

Sáu Huỳnh làm dấu.

– Đưa cái này và cái này ra, không có lương tâm nào không chảy ra nước. Mày nghĩ coi, một tấm hình L19 một lời báo cáo láo giá ba triệu, khó gì mà không xơi? Công tác này mệt lắm mày ơi!

Sáu Huỳnh mở sắc-cốt móc một cọc bạc giấy mới cước cạnh dúi vào tay tôi và bảo:

– Lấy xài. Tao mới được tụi Tàu Chợ Lớn đóng thuế. Mày có về H6 ráng cẩn thận nghe. Biệt kích như rươi đấy. Việc vợ con tính mau mau đi. Đừng có cầu toán. Ông già bà già mày cần có cháu để trên đầu trên cổ với người ta. Tao đi công tác vài bữa rồi về, chắc gặp ổng.

Sáu Huỳnh vừa đi thì Là tới. Tôi móc đưa cho nàng năm ngàn (với số tiền này có thể mua được một cái radio Sony) bảo:

– Em về lo thu xếp cho cô Lụa và bé Rớt qua Bến Chùa với má. Ở đó có trường cho nó học. Tội nghiệp cô Lụa, mới ngần ấy tuổi mà đã góa chồng. Anh thương bé Rớt quá chừng. Nếu dễ dàng thì anh đem nó theo anh để dạy dỗ.

Là bắt ngay câu nói của tôi để buộc chặt.

– Anh thương con nít mà không chịu có con?

– Anh không biết sống chết ngày nào. Do đó anh không muốn để khổ cho ai hết. Em thấy không, như bé Rớt bây giờ ai nuôi nấng?

Là đứng lặng thinh. Tôi hỏi:

– Cái hầm cho ông Ba Xu em đã làm xong chưa?

Là vùn vằn:

– Ổng ở miết bên Bến Chùa Thanh An ăn dầm nằm dề tại nhà dì Ba chớ đâu có ở bên này mà cần hầm hố?

Là cười ngượng ngập:

– Bộ anh nhớ cái … gì ở trên nắp hầm đó hả?

– Nhớ chớ sao quên được.

– Anh mà lang thang thì em đi vành đai cho anh coi.

Tưởng Là nói về thành nhưng Là lại nói vành đai, nên tôi hỏi:

– Đi vành đai là sao?

– Là đi với mấy ông du kích ra hàm ếch bắn tỉa Đồng Dù cho nó pháo lại chết ngủm chớ sao nữa?

Tôi thấy tội nghiệp cô bé quá, định hôn một cái để vuốt giận cô nàng, nhưng nàng Ua lại phóng xe đạp ra, la oang oang:

– Em vừa chấn cho con Chia một mách cho bỏ thói giựt chồng kẻ khác! – Ua đạp ngang chầm chậm – Còn bà xã đội này nữa, không có được rù quến người ta nghe! Và anh nữa, anh lớ quớ em phăng teo anh luôn đó . Chút nữa về nhà, em tặng cho tấm ảnh mới chớp.

Nhìn theo cô gái đạp xe với chân hơi ngắn nên phải dùng mũi chân, cặp mông trệu qua trệu lại tôi phát tức cười. Là gắt hỏi.

– Anh quen với cô ta hồi nào vậy?

– Vài hôm thôi.

– Sao cổ gọi anh là chồng?

Anh không biết.

– Bộ anh có gì với người ta nên người ta mới dám nói vậy. Lúc nãy cổ xôm lên là em để cho một phát bá đỏ.

– Chịp! Em nói bậy quá ? Không thể làm như vậy được. Nếu anh yêu cô ta thì cô ta có chết anh cũng yêu, còn không yêu thì cô ta có ở bên cạnh anh vẫn không mà.

– Còn con nhỏ chủ quán là ai?

– Má cô ta đi móc gia đình cho anh. Cứ tra hạch hoài.

– Trở về trên lại có cô Ba Phi, cô Thanh Tuyền hả ? Anh nói thiệt đi, chừng nào anh làm đám cưới.

– Anh không cưới ai hết. ở trên đó mới bị B52, biết có còn không mà cưới.

– Không, em hỏi chừng nào cưới em kia !

– Để gia đình vào xem !

– Em ở đây chờ ba má anh vô .

– Rồi còn cơ quan nữa. Em không nghe ông thủ trưởng của anh nói hồi nãy à?

Có tiếng Chia từ trong nhà vọng ra:

– Mời anh chị vô ăn cơm để đói bụng.

– Đi vô ăn cơm, em!

– Không có ăn uống gì hết. Em thấy mặt nó là em muốn trào máu họng em lên rồi !

– Cô đó tốt lắm.

– Cô nào đẹp đẹp anh cũng cho là tốt hết. Sao anh không khen bà Hai Xót, bà Năm Đang, con Út Nhở, bà Năm Cầu Xe tốt dùm chút?

Tôi cười trừ:

– Thôi, trên đời này chỉ có mình em là đáng được anh khen thôi.

Như không nghe tôi nói, nàng tiếp:

– Ở bên Thanh An người ta định bỏ vòi qua đây coi mắt em, do dì Ba làm mối. Má nói má nghe em đã hứa với ai rồi, nên người ta thụt.

– Anh khuyên em nên sang bên đó sống bên cạnh má để săn sóc má tốt hơn, ở bên này công tác chẳng được bao lâu nữa.

– Em cũng muốn như vậy, nhưng em còn nấn ná ở đây là vì anh !

– Em không nên vì anh một chút nào hết.

Là trừng trừng nhìn tôi. Tôi nói luôn:

– Anh bảo thật đấy. Em thấy chị Lụa em đó không? Nay mai anh sẽ chỉ huy đơn vị chiến đấu, bom đạn gấp trăm lần công tác dân công của ba con Rớt. Anh không sống để cưới em đâu. Để rồi em xem anh sẽ không có cưới ai hết, không thể cưới ai hết trên cái đất Củ Chi này.

Tôi chưa bao giờ thấy Là trầm tĩnh như hôm nay. Nàng không nói gì mà nước mắt chảy ròng ròng trên đôi má. Tôi muốn lau cho nàng nhưng sợ con bé ác ôn hiện tới thình lình. Tôi buồn thật sự. Và tôi cũng chưa bao giờ nghe nỗi buồn thấm thía đến như hôm nay. Chiến tranh đã động tới tất cả mọi người. Thằng Trần Chánh Lý chết ngồi ở gốc cây rừng Trường Sơn, trên đó những chiếc võng giăng, người nằm không bao giờ dậy nữa. Thu Hà, Huỳnh Mai. Những người yêu mình cứ xa dần hoặc biến mất. Rồi lại có thêm, nhưng cũng như trước, xa rồi biến mất. Bé Rớt giờ đây không còn gặp lại ba được nữa, nhưng nó không biết điều đó. Bỗng nhiên Là bảo tôi:

– Anh đi với em lại đằng này chút.

– Nhà ai? Có hầm hố gì không đã ?

– Không, vô rừng thôi. .

– !!

Tôi ngó Là kinh ngạc. Là hồn nhiên:

– May ra kỳ này em có con với anh.

Có thể nào tôi từ chối một ý định như vậy không? Tôi đi theo Là đến nơi nàng dắt. Tôi đứng nhìn quanh. Nhờ Là hướng đạo cho tôi kỳ trước mà tôi quen thuộc được nhiều địa hình. Kìa là gân dứa xanh giữa đồng ăn liền với con suối chảy thông tới cầu Lào Táo ở đường số 7 bót Trung Hòa. Nọ là xóm Mới dính liề với sở cao su Ba Lăng gối đầu lên đường số 1 đi Trảng Bàng. Nếu không có Xóm Bò Cạp thì có thể nhìn thấy đường một làng, ở đó có ấp Phú Hiệp ăn ra xóm Cây Sộp sát bên Đồng Dù. Xe tăng chạy, trực thăng bay rầm rì mà hai đứa coi như pha. Một lùm cây ở giữa đồng không đủ kín, nhưng vì dân làng đã bỏ đi hết nên không lo có người qua lại. Bên trong có một cái chòi, loại chòi của chăn trâu chăn vịt. Chắc các ông bà du kích từng trú ngụ ở đây.

Một bộ vạt tre xệu xạo. Là ngồi xuống và nói ngay:

– Anh yêu em đi. Có lẽ đây là lần cuối cùng.

– Tại sao?

– Em sẽ đi Thanh An hoặc sẽ chết.

– Lấy chồng làm ăn, nuôi má hay hơn em ạ ! Em thấy thằng Tư Thuận không không? Đám thanh niên đã đi hết rồi. Nơi anh đóng cơ quan bây giờ cũng không còn ai. Nếu không chết trận thì cũng vô thành đạp xích lô, làm thợ mộc thợ hồ kiếm ăn và kiếm sống. Ở vùng Mặt trận thì đói và chết dễ dàng.

Tôi phân tích tình hình địch ta cho cô nàng nghe. Cô chăm chú nhìn tôi và tôi cũng có cảm tưởng là tôi nói cho tôi nghe nữa ! Ngày xưa kháng chiến, toàn dân căm thù thực dân Pháp nên có câu khẩu hiệu Bất hợp tác với giặc, Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Em bé tự tẩm dầu làm đuốc sống đốt kho xăng Thị Nghè, ba em bé vô danh leo lên lầu nước treo cờ độc lập ! Nguyễn Bình đã vào Sài gòn Chợ Lớn như cơm bữa mà mật thám Tây không động được lông chân. Chúng treo giải thưởng mười ngàn bạc Đông Dương cho ai bắt được ông ta… nhưng chẳng ma nào hưởng ứng trái lại còn cất giấu ông. Một anh thợ hớt tóc ở đốc cầu Bình Điền chuyên môn cạo đầu tụi lính Lê Dương gác cầu này. Một hôm có thằng Tây vác súng ngất nghễu đi tới đưa đầu cho anh cúp. Thằng tây được anh lấy ráy tai đã ngứa nên lim dim ngủ. Anh lấy con dao cạo ra cạo râu, rồi đưa một nhát. . . Mười lãm phút sau anh xuống xuồng với khẩu súng mi-trây-dết và cái thủ cấp thằng Tây mắt còn nháy nháy (đồng bào kể cho nhau nghe thêm thắt cái chi tiết lý thú này) bơi tuốt vô khu nạp cho ông Bảy Trấn Trưởng Ty Quốc Gia Tự Vệ Cuộc Tỉnh đang đóng ở kinh Lý Văn Mạnh. Còn bây giờ ? Mỹ tới người ta theo rần rần. Người mình không xem Mỹ như Tây ngày trước. Số người thù ghét Mỹ không bằng 1/100 số người ghét Tây . Người ta không coi việc hợp tác với Mỹ là phản quốc, là Việt gian, là quên non sông gì cả Mỹ nó vô đây để giúp mình giữ nền độc lập. Cán bộ cỡ như bà khu ủy, bà Năm Đang, Hai Xót, Là v.v… và cả tôi nữa cũng khó lòng mà bẻ lại lý luận đó. Hà hà… thì đó, vợ con cán bộ đi làm cho Mỹ ở Đồng Dù nhờ đó mà cán bộ mới có tiền ăn mà chống Mỹ . Thì đó, ngày nào lại chẳng có người hồi chánh?

– Anh làm gì mà ngồi nói lảm nhảm vậy hả?

Tôi đang bị cuốn hút vào những ý nghĩ miên man thì bị Là đập tay lên vai. Tôi quay lại. Nàng đã trải xong tấm vải dù trên bộ vạt. Bãi đã dọn sẵn. Chỉ còn đổ quân. Nàng hứng lấy mọi sự tấn công của tôi với một sự khao khát của một vạt đất khô nẻ được mưa đầm đìa. Còn tôi thì tôi xả thân một cách hết lòng như để chuộc tội phản bội trái tim yêu của nàng, để bảo nàng rằng: “Anh có yêu ai đâu! Tất cả anh chỉ dành cho em! ” Mà thật vậy, khi yêu người đàn bà con gái nào tôi cũng cảm thấy tôi mới yêu lần đầu. Quyết tâm chiến thắng đối phương của tôi lần nào cũng được biểu hiệu một cách rõ rệt. Hơn thế nữa tôi tự nhủ: đây là lần cuối cùng, mai mình chết. Hãy tận hưởng. Nàng như con suối bị đắp ngăn, chỉ một nhát cuốc vừa bỗ là nó đã tràn trề tuôn chảy. Chúng tôi không còn thì giờ ôm ấp và trò chuyện lâu lắc như tôi với Chia.

Nàng buồn rầu bảo:

– Anh có thương ai thì thương, đừng quên em là đủ.

– Anh có thương ai đâu!

– Anh! – Nàng kêu lên rất khẽ và nhào tới bá cổ tôi – Em ước mong em được một đứa con với anh. Cho em và cho anh nữa. Nếu anh hi sinh thì em cũng còn mang anh trong òng.

Chúng tôi trở ra đường. Là trở nên trầm tĩnh như một anh línhh trước phút lao vào trận địa bịt lỗ châu mai. Nàng chấp nhận cái đau khổ không tránh được: Sự cách biệt với tôi.

Chúng tôi đứng trước một gốc cây cành lá gãy cụp che nửa mặt đường. Trời đã ngã chiều, không khí vắng lặng như chết.

– Anh vô đi, em đi tìm chú Tư!

Tôi không nỡ rời nàng. Nàng quay lưng. Tôi gọi một tiếng to như trăn trối. Nhưng nàng cắm cúi đi, không quay lại. Tôi thấy tất cả đều tan vỡ trong tôi nhưng tình yêu của một cô gái quê còn đọng mãi.

Tôi trở lại quán thì thấy Chia đang đứng ngơ ngáo ở trước thềm. Trong nhà, vài ba ông lính đang uống rượu với khô cá kèo, cá mực. Lúc nào hễ có dịp ăn uống nhậu nhẹt là nhà lính ta ăn uống nhậu nhẹt. Cuộc sống ở đây quá mong manh, người ta cố níu lấy được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Ngày mai sẽ đội B52, pháo, rốc kết, sẽ bị xe tăng khui hầm, bị bom chôn sống.

Tôi đi thẳng vào sau nhà. Chia đi theo tôi, đẩy tôi xuống hầm. Tôi nằm lên giường. Nàng chạy lên một chốc rồi trở xuống với ly sữa trên tay.

– Anh uống đi rồi ngủ một giấc cho khỏe.

Tôi ngoan ngoãn vâng lời bà tiên.

Tôi giật mình khi nghe hơi mát lướt trên mặt. Tôi mở mắt ra. Trong ánh sáng lờ mờ của lòng hầm tôi nhận ra bà tiên đang ngồi cầm chiếc quạt nan phe phẩy.

– Ngủ đi anh !

Tôi vít đầu nàng xuống và bà tiên trở thành phàm tục trong đôi tay phàm tục của tôi. Tôi lại tự nhủ : đây là mâm cỗ ân huệ của tên tử tù. Sau đây sẽ không có gì khác hơn là lưỡi gươm máy. Tôi đi vào tâm hồn nàng một cách chậm chạp nhưng tận tình và đến nơi. Nòng súng của người chiến sĩ sau khi đã khai hỏa lần đầu thép có phần lạnh hơn nhưng vô cùng chính xác. Anh ta tỏ ra là người xạ thủ có kinh nghiệm ở trường bia. Nàng như một khúc đuôi thằn lằn đứt run rẩy tíu tít. Chính nàng cũng chất lưỡi như chú thằn lằn ở trong xó tối nào kia đang nhìn thấy cảnh này. Nàng rủ rỉ bên tai tôi:

– Anh thua em rồi !

– Em thua thì có .

– Thua trí cơ !

-Trí gì?

– Buổi sáng em nói dối anh.

– Dối gì?

– Em nói là em vừa sạch kinh không thể đậu thai. Nhưng không phải. Em đang trong thời kỳ có khả năng thọ thai nhất.

Tôi cười:

– Em tưởng anh sợ có con à ? – Tôi hôn nàng nơi vành tai và bảo – Chính anh đang rất muốn có con. Ngày mai em đẻ cho anh một…

– … Bầy Thiên Lôi nghe !… À này, cho em hỏi anh câu này được không?

– Sao không hỏi từ đầu. Bây giờ muộn rồi. Hỏi có bao nhiêu cô đeo anh chớ gì?

– Không bao giờ !

– Vậy hỏi gì?

– Sao anh lấy tên Lôi. Bộ bị người ta kéo lôi hoài hả?

– Vì anh là Thiên Lôi.

– Anh có đánh ai đâu?

– Anh chỉ vâng lịnh người khác xách búa chạy rong hai chục năm trời. Không bao giờ tự chủ được.

– Bây giờ là chủ rồi.

– Chủ ai?

-Em!

Tôi bật cười:

– Chủ quán!

– Anh mà chủ quán thì vài ngày quán đóng cửa.

– Tại sao?

– Vì anh cho không chớ sao.

– Kẻ thắt ruột thương người ruột thắt, mắt châu rơi khóc mắt rơi châu.

– Em chỉ đùa thôi, anh đừng giận em.

– Anh không giận em.

– Anh có thể cho hết cả quán, chỉ chừa…

– …em.

– Không! chừa anh.

– Anh cho anh nốt.

– Không!

– Cho em! Anh cho em tất cả anh!

Nàng hôn tôi như một tiếng cám ơn. Chúng tôi nói với nhau những chuyện vớ vẫn như thế. Nói bất tận, như một mẫu nhạc nhẹ một màn hoạt kê giữa hai lớp hát. Xong lại trở về tuồng chính với lớp hát kéo dài. Nàng bảo:

– Chắc em có thai.

– Sao chắc?

– Đúng luật Ogino Knaus mà anh ! – Nàng lại hôn tôi – Anh sẽ có một thằng Thiên Lôi con giống hệt cha.

Có tiếng la oang oang ngoài trước: Bỏ mạng rồi. Lúc nãy không đóng cửa. Chạy ngõ nào?

– Anh Hai đâu, sao chưa về?

Biết bà chằng lửa tới, tôi kéo tay Chia giật giật và quơ quần áo đắp lên nàng. Nhưng nàng cứ nằm im. Tôi ngồi dậy, nàng kéo tôi nằm xuống.

– Kệ nó, cho nó thấy.

Tiếng chân bước thẳng xuống hầm. Tôi khoác vội y phục và bật dậy. Ua trỏ mặt Chia.

– Hén! Anh Hai vậy hén! Mày giật của tao há Chia.

Chia quát trả dữ dội.

– Rồi sao?

– Không sao hết ! Mày giành thì tao cho, nhưng mày phải làm bé .

– Xí! Mặt này mà làm bé mày?

– Chớ tới sau mà đòi làm lớn hả? Anh Hai, đi về ngoại biểu !

– Ảnh không về !

– Không về, tao ở đây luôn, mày nuôi cơm tao. Tao ra mét dì Tư cho mày coi ?

– Mét mét tao hổng sợ !

Tôi lên tiếng:

– Hai em làm vậy, anh bỏ về R ngay cho coi.

Đúng là cảnh ông Tam Tạng lọt vào triều đình của Tây Lương nữ quốc. Chỉ khác là tôi không thể là Tam Tạng được thôi. Câu nói của tôi như một gáo nước tạt vào hai ngọn lửa. Tôi quay lại Ua:

-Đi về để ngoại chờ, em!

.Ua chở tôi trên ngọc ba ga chạy rào rào. Vừa đạp nàng vừa nói tía lia:

– Em đẹp hơn nó, nó thùy mị hơn em. Anh thích đứa nào?

– Thích cả hai hoặc không thích đứa nào hết.

– Em biết anh thích ai mà . Nhưng mặc kệ . Nó làm gì làm, em vẫn là vợ chưa cưới của anh.

Ua bất thần nói ngang:

– Mấy thằng Mỹ to như trâu cui, con gái đi ngang nách nó.

– Em thấy ở đâu?

– Ở gần ngả Tư Trùm Tri, chỗ cổng chính vào Đồng Dù . Ở đó mới ký hai chiếc xe tăng chĩa họng về phía mình. Khi cần là nó khạc vô . Đạn bay qua đầu xóm Phú Hiệp, dân chúng đang làm ruộng ắt phải té đái.

– Sao em không báo cáo với anh Sáu?

– Báo thì cũng như không. Mấy ổng có làm gì mà báo cho mất công.

Ua không chở tôi về mà đưa tôi tới một ngôi nhà hoang cách ven đường không xa. Chủ nhà đi ra ấp chiến lược lâu rồi. Cột kèo bị cơ quan lấy làm hầm. Vườn tược du kích tha hồ đốn cây hái trái. Ua dựng xe vào gốc bưởi trước sân. Tôi nhìn quanh thấy nhiều vết đạn trên thân cây. Ua bảo:

– Con nhỏ xã đội, con Chia lui rồi, bây giờ anh là của em.

Tôi nói như giật mình:

– Để tối không được sao nhỏ?

– Chút nữa… mà không chút nữa gì, ngay bây giờ một trái cà nông có thể rớt ngay đây nè. Ở đó mà tối với sáng. Anh không biết ở Bầu Trăn có một đám cưới của một anh chiến sĩ công trường 9 ăn một.trái 155. Cả hai họ bay như lá.

Ua vừa nói vừa đi xăm xăm vào một chái nhà xiêu xiêu còn sót ở bên trái nền nhà. Nàng ôm quàng lấy tôi như giằn nén khao khát từ lâu.

– Cho anh tất cả đấy.

Tôi hơi run. Nàng giục:

– Hoặc của anh, hoặc của lính Đồng Dù .

– Sao vậy?

– Em đi qua đi lại trước mắt nó, nó tha cho à? Chừng đó anh đừng tiếc.

Tôi không thể mà cũng không muốn từ chối. Tôi muốn thành thật với tôi với nàng như mọi người khác thành thực với chính mình khi đứng trước một vệ nữ thần như hôm nay. Ánh chiều đã tắt hẳn. Hoàng hôn xuống khuyến khích cho việc thiện lẫn ác. Tôi đã uống cạn hai nguồn suối tiên trong khoảnh khắc, bây giờ vẫn thấy còn khát.

– Anh muốn được thì được, anh muốn mất thì mất. Chắc anh có nghe con Chia hát bài Que sera sera chớ . Nó thích bài đó lắm và nó muốn thả lỏng đời nó tới đâu tới. Thí dụ bữa nay anh yêu nó, mai bỏ nó, nó cũng chẳng màng. Còn em thì khác. Em phải nắm được những gì em muốn. Cho nên khi em yêu anh thì em yêu tới cùng. Em có cách làm cho anh không thể bỏ em để đi với người khác. Con nhỏ xã đội đó định chơi ác với em? Vì bất ngờ em không có phương tiện đối phó. Chứ bây giờ, em chấp nó!

Nói xong Ua rút trong túi quần tây một khẩu súng nhỏ xíu. Tôi nhìn mà không biết hiệu gì.

– Súng bắn ruồi ở đâu vậy?

– Mua.

– Mua ở đâu?

– Ở chợ Bắc Hà chớ đâu. Ở đó anh mua xe tăng đại bác gì cũng có, thứ này là đồ bỏ. Công tác của em cần món này, em lận lưng luôn.

Ua có vẻ như rửa được cái nhục trước cô xã đội.

– Lần sau nó có đến, anh đừng cho nó chạm trán em nghe. Nó đừng có tưởng cây bá đỏ của nó là ngon. Em không để nó bóp cò trước.

(Lợi dụng tính ngỗ ngáo của cô gái, Chín Lộc đã dùng Ua như một nữ điệp báo cụm 20 ở ven Quốc lộ 1 và sau này nhờ bàn tay Ua đánh lính Đồng Dù bằng mìn đặt trong hộp coca. )

Tôi lại phải ngoan ngoãn làm theo lệnh nữ hoàng Tây Lương. Đêm qua vì cô công chúa Chia kềm kẹp nên tôi không dở được độc thủ với Ua. Bây giờ thì tôi tha hồ đấu tranh chánh trị lẫn quân sự, dùng chiến thuật phượng hoàng vồ mồi của Mỹ hay chiến thuật lấy thịt đè người của cụ Mao đều tốt cả. Vồ mồi trước rồi lấy thịt đè người sau, hay vừa lấy thịt đè người vừa làm phượng hoàng vồ mồi càng tuyệt sắc.

Trên một cánh cửa ván kê trên mấy chồng gạch gập ghềnh tôi càng có cảm giác lượn trên sóng biển bềnh bồng vô tận. Để kết thúc trận địa, tôi phải dùng đến chiến thuật bủa lưới phóng lao. Lưới thì đã bủa xong rồi, còn bước cuối cùng: phóng lao. Nhưng nàng cự tuyệt Tôi dụ hổ ly sơn để đạt yêu cầu, nàng nhất định vườn xuân có lối nhưng chưa cho vào:

– Bao giờ em là vợ anh thì mới được!

Con nhỏ này học nghề tình báo của Chín Lộc chăng? Tôi thầm nghĩ. Hay là cánh cửa vườn xuân của nàng đã bị mấy tên già dềnh mở toang rồi nên không muốn cho mình biết cái điều bí mật đó. Tôi lên nằm ghé bên nàng và rủ rỉ:

– Sao em bảo em là vợ của anh?

– Vợ chưa cưới !

– Vợ chưa cưới thì cũng là vợ chớ khác gì?

– Vợ chưa cưới là vợ chưa cưới, sao không khác ! Chỉ khi nào cưới hỏi xong anh mới được hưởng cái ân huệ đó. Anh có đọc quyển Les demi-vìerges của Marcel Prévost không?

– Em đọc bấng Pháp được à?

– Quyển đó đã dịch ra tiếng Việt lâu rồi. Tụi học sinh em đều áp dụng theo đó cả nghĩa là cho cả, trừ một.

– Đối với anh thì em nên trừ cả, cho một.

Nàng tát yêu tôi:

– Anh quỉ lắm! Nhưng em vẫn yêu anh.

– Yêu mà thế à ?

– Yêu mới thế chứ.

Tôi đành chịu rút quân trong danh dự. Nàng ôm đầu tôi , rủ rỉ:

– Em dành cho chồng em tất cả !

– Nếu chồng em không phải là anh?

Ua chớp chớp mắt vài cái rồi đáp:

– Nếu không phải là anh… ờ ờ… thì chỉ khi anh cũng không còn trên đời.

– Chuyện đó cần gì phải nói!

– Hoặc anh còn mà em lấy người khác làm chồng… nhưng chuyện đó chắc không thể có đâu!

Con bé này không phải thông minh vặt mà nó khôn ngoan mà khẩu khí thật chớ chẳng phải thường. Chín Lộc đã chọn đúng người để giao công tác. Chỉ tiếc cho nó là không được đi học để dính vào ba cái chuyện nguy hiểm này. Cuộc đời nó rồi sẽ không tránh khỏi bi kịch. Thấy tôi làm thinh, Ua hỏi:

– Anh suy nghĩ gì vậy?

– Số phận của em!

– Nó sẽ như thế nào?

– Chắc em sẽ thành công rực rỡ trong công tác.

– Khỉ mốc !

Ua ngồi dậy mặc quần áo vào không chút ngượng ngùng, vừa cài nút áo vừa tiếp.

– Dưới sự chỉ đạo của ông Hói và ông Tét em chỉ là một tên quân chạy hiệu, thành công gì ! Hôm nọ anh có kể với em là anh có hụ hợ trong việc tiếp đón nhà báo quốc tế nào đó anh nói có một cô chiêu đãi tên Bốn, nhớ không?

– Cô Bốn của anh Sáu Huỳnh đưa tới.

– Em rồi cũng sẽ như Bốn thôi.

– Nghĩa là sao?

– Họ sẽ cấy em vào đám ruộng Mỹ Đồng Dù. Lúa nào sẽ trổ bông? Bốn trước kia cũng là… -Ua ngưng ngang – Thôi bỏ đi.

Ua giận dỗi rồi xách xe đạp chạy một mình, tôi gọi cách gì nàng cũng không trở lại. Tôi sợ nàng quẩn trí rồi làm bậy mang khốn. Tôi bắt đầu sợ và tìm cách lánh xa nàng, nhưng luẩn quẩn rồi cũng không khỏi.

Chương 44
Phụ Tử Trùng Phùng

Hôm sau tôi đang ngồi ăn cơm tối với Sáu Huỳnh, Tư Minh và Chín Lộc thì Chia xuất hiện. Nàng nói lắp bắp:

– Anh Hai! Bác… tới!

Sáu Huỳnh trêu.

– Bác nào? Bác Hồ hả?

– Bác tía anh Hai !

Tôi đang ăn bỗng no ngang, buông đũa đứng dậy:

– Để tôi đi gặp ba tôi, anh Sáu!

Tôi xuống hầm quơ ba lô nịt súng và chạy đi. Ua quát:

– Anh lấy xe kìa đi cho mau!

Tôi xách chiếc xe vừa chạy vừa nhảy lên yên, đạp trật hai ba phát mới phóng được . Nhưng Chia chạy theo kêu quang quác:

– Anh Hai, anh Hai bỏ em sao?

Tôi phải dừng lại. Chia nhảy phóc lên ngồi trên pọc-ba-ga ôm ngang eo ếch tôi chặt cứng. .

– Anh với ba như cắt mặt để qua. Em thấy là biết liền!

– Em thấy ba anh già nhiều hôn?

Chia đấm lưng tôi thụi thụi.

– Ba chớ không phải ba anh nghe chưa? Riết đi.. . để con Ua nó giành.

– Ừ, em thấy ba già nhiều hôn?

Chia nũng nịu.

– Em đâu có gặp ba lần nào mà biết già nhiều hay ít. Đám cưới liền anh nghe. Sau đám cưới em theo ba về nhà luôn.

Nàng nói như công việc đã được quyết định.

-Về à?

– Em ghét ở trong này quá hà !

– Vậy hồi nào tới giờ sao ở được?

– Hồi nào tới giờ không có anh, sao cũng được.

– Em về rồi bỏ anh trong này một mình hay sao?

– Đừng bỏ anh một mình, đừng bỏ em một mình.

Tôi hỏi:

– Em lảm nhảm cái gì vậy?

– Hình như có ai nói với em như vậy rồi. Ý mà không ! Bài hát!

– Bài gì?

– Bài Đừng bỏ em một mình.

– Ở đâu?

– Hồi em đi học, em nghe bài đó.

– Em về ngoải thì anh ở trong này một mình mà em ở ngoải cũng một mình.

– Ờ thôi em không về một mình.

– Thì ở lại trong này chớ sao !

– Không ! Em không muốn ở trong này nữa. Cái gì cũng kỳ cục hết, em không chịu nổi.

– Vậy thì làm sao?

– Anh với em về ngoải luôn!

– Ý! Bậy nào. Anh đâu có đi như vậy được?

– Tại sao không? Có ông thượng tá còn đi đấy! Đài Sài gòn nói mà.

Cô bé này không bộp chộp như Ua nhưng lãng mạn hơn.

Cô nói nhiều câu như dùi sắt chọc vào tim tôi. Ở giữa cái vùng bom đạn lại được tiếp xúc với vùng thành thị bình yên có nếp sống khác hẳn, ắt cô nàng phải suy nghĩ. Như vậy cũng hợp với luật liên quan của duy vật biện chứng pháp lắm.

Tôi hỏi:

– Em có ý nghĩ như vậy hồi nào?

Chia ôm chặt tôi lúc chiếc xe xốc mạnh.

– Hôm anh yêu em!

– Tại sao?

– Vì em nghĩ, nếu ở trong này em sẽ mất anh.

– Sao lại mất?

– Anh biết mà, cần gì phải hỏi.

Tôi biết nàng nghĩ xa nhưng không rõ là mất với ý nghĩa nào? Bom đạn hay sự cấu xé giữa các cô mà nàng đã chứng kiến, rồi tôi bỏ nàng. Ai yêu tôi cũng bằng tấm tình chân thật cả. Dù tình dài hay ngắn, suông sẻ hay gút mắc, khi yêu tôi cũng yêu chân thành, nhưng tôi không thể đáp lại tấm tình của họ như họ mong ước. Tôi biết cuộc chiến này đã để lại góa phụ khắp nơi từ miền Bắc tới miền Nam, trên R cũng như ở Củ Chi. Tôi sẽ là một chiến tướng da ngựa bọc thây. Tôi cũng yêu mọi người như yêu tôi, còn lấy ai làm vợ trong lúc này quả là điều tôi do dự hoặc không dám quyết định.

Chia có vẻ quả quyết tiến tới trong kỳ này với sự có mặt của ba tôi. Biết vậy nhưng tôi không ngăn cản hoặc chiều theo ý định của nàng. Tôi cứ làm như một đám lục bình trôi trên sông. Ngừng lại đâu hay trôi đến đâu cũng thế. Một trở ngại trước mắt là Thu Hà, người con gái độc nhất mà tôi đã hứa từ trước đến nay. Nếu ba tôi ưng cưới Chia cho tôi thì…

Tôi hỏi khi chiếc xe đến khúc quanh sắp rẽ vào nhà .

– Em thấy tóc ba đã bạc hết chưa?

– Gần hết!

– Ba mặc quần áo gì?

– Áo trắng quần trắng.

– Có đội nón không?

– Có đội nón nỉ. Tướng mạo của ba không giống người nào ở đây hết.

Tôi quẹo vô sân nhà. Chia bảo:

– Ba đứng trước hàng ba ! Để coi ba có biết anh không.- Chia cười rúc rích và buông eo ếch tôi ra.

– Sao không biết?

Tôi buông xe nhảy xuống chạy ào tới.

– Con đó hả con?

Ba tôi bình thản hỏi. Một sự bình thản cố làm ra, không phải tự nhiên. Tôi nhào tới ôm lấy ba tôi. Không nói gì hết. Nức nở nghẹn ngào. Hai mươi năm nay tôi mới được nghe tiếng nói của ông già.

Tôi đã đi đâu, làm gì, sống chết ra sao. Cha mẹ ở nhà đau yếu đói no ra sao tôi bất biết. Lắm lúc ham vui tôi cũng không nhớ rằng tôi còn có cha mẹ trên đời nữa. Đi làm cách mạng ! Cách mạng là cái gì? Việc nước không xong, việc nhà bỏ phế! Đó là cách mạng. Đánh giết cho nhiều, phá phách cho hung. Đó là cách mạng. Thay tên đổi họ, lén lút mò mẫm đêm, chui trốn trong rừng. Đó là cách mạng. Còn gì nữa, cách mạng? Tất cả những gì đẫm máu, đểu cáng, bịp bợm, dâm dục thối tha nhất có thể gọi là cách mạng. Nhưng tới hôm nay, đứng trước mặt ba tôi, tôi mới nhận ra chân lý đó . Nhận rồi để làm gì? Tôi muốn phủi bỏ hết tất cả các thứ hào quang rởm lâu nay thiên hạ gán cho tôi để trở về với gia đình, làm một người thường sống với những hạnh phúc bình thường của nó: săn sóc cha mẹ, cưới vợ sinh con, cơm nước hàng ngày.

Đảng lẽ ra tôi đã có trong tay tất cả hạnh phúc đó từ lâu nhưng vì say mê lý tưởng mà bây giờ đầu chẳng đội trời chân chẳng đạp đất, muốn lùi không được, còn đi tới thì tới đâu? Ba tôi rơi nước mắt, nghẹn ngào:

– Má mày nhớ mày dữ lắm ! Còn con Duyên nó chờ mày không được…

Chia dọn cơm tươm tất mời ba tôi và tôi, còn dì Tư chỉ đóng vai hụ hợ, tiếp tế mời mọc lăng xăng. Ăn xong Chia
mời ba tôi xuống hầm nghỉ. Tôi cũng đi theo. Tôi bảo ba tôi nằm cho khỏe, ba tôi nói ba không mệt. Ba tôi nhìn tôi:

– Mày nay ba mươi bốn rồi, con!

Hai cha con im lặng một chập rồi ba tôi trở lại chuyện hồi nãy:

– Con Duyên chờ mày không được…

– Cổ còn chờ con sao ba?

Trời đất, nếu Duyên còn chờ tôi thì tôi sẽ cưới nàng, chỉ nàng thôi, không ai khác. Tôi đã mang hình ảnh của Duyên trong tim tôi từ hồi còn đi học trường quận. Chúng tôi từng hứa hẹn với nhau sẽ nên vợ nên chồng. Những mơ ước thời thơ ấu có thể thành sự thật nếu không có cách mạng tháng tám xảy ra. Nhưng ngược lại, một điều không ai mơ ước lại xảy ra: Đó là cách mạng tháng tám. Mới đầu ai cũng tưởng đó là một sự ly kỳ … ngờ đâu lại kỳ cục.

Ba tôi tiếp:

– Nó ở trên Sài gòn với cô Ba nó, phụ tiếp bán vàng bạc và hột xoàn. Nó thường chạy lên chạy xuống nhà mình hỏi thăm tin mày. Mười năm liền. Cho đến khi tao cho biết mày đã đi tập kết, nó cũng còn chờ. Lúc đám tang bà ngoại, không biết ai cho nó hay mà nó đến. Thiệt bất ngờ. Đó là lần cuối cùng. Nó xin phép tao với má mà để tang cho ngoại. Sau đám tang, nó xin má mày cho nó bộ đồ tây và đôi giày của mày để mang về cất làm kỷ niệm. Má mày khóc với nó một đêm ròng. Từ đó về sau không thấy nó tới nữa. Mấy đứa bạn nó bảo nó luôn luôn mặc đồ đen. Hỏi tại sao? Nó nói nó để tang cho mối tình đầu của nó !

Ba tôi thở dài. Trán ông răn lên sâu như những đường rảnh trong lòng súng cối. Ông tiếp:

– Tao nghe nói nó lấy chồng hay đi tu… một trong hai lẽ đó.

Tôi kêu lên như chim bị trúng thương.

– Đi tu hả ba?

– Tao không rõ.lắm. Mày đã ở chân trời góc bể thì sự trùng phùng đâu có thể có được. Do đó tao không tìm hiểu cho rõ làm chi. Cứ để mập mờ như vậy mà còn ít buồn.

Tôi ngậm ngùi nhớ lại quãng đời tươi đẹp nên thơ và đầy hy vọng của tuổi trẻ. Cách mạng tới tất cả thay đổi và trở thành mây khói. Bây giờ đây tôi vẫn còn là sinh vật sống trong mây khói le lói tí hào quang… giả tạo. Tôi không nói lời tạ tội với ba tôi, nhưng trong thâm tâm, tôi tự nhận là đứa con bất hiếu.

Độ quá mười giờ thì Sáu Cúc và Sáu Huỳnh đến. Tôi biết hai trự này đến bàn việc móc thằng em tôi. Ba tôi không hay biết gì về chuyện đó, nên lại hướng về tình cảm quê hương.

Ông nói với hai người:

– Xứ mình lâu nay cũng bình yên. Mấy ông quận trưởng, xã trưởng biết những gia đình có con em tập kết và giải phóng hết, nhưng không khó dễ. Ở xã cũng có mấy cái ấp chiến lược nhưng viên chức đều là bà con nên có việc gì họ cũng bỏ qua.

Sáu Huỳnh hỏi:

– Họ không làm gì gia đình anh, là vì anh có thằng nhỏ đi sĩ quan, còn gia đình tôi?

– Gia đình nào cũng vậy thôn Thím Sáu vô trong này thăm chú vừa rồi, họ cũng biết, nhưng đâu có làm gì. Tôi đi ra ngoài này thình tinh, chớ nếu tôi biết trước, thì tôi bảo sấp nhỏ chạy qua cho thím Sáu hay, chắc thế nào thím cũng gởi cho chú nhấm mớ xài.

Sáu Huỳnh là người địa phương với tôi nên anh không muốn dính và chuyện móc ngoéo, để cho Sáu Cúc mở đề. Nghề quân báo là nghề nhổ râu ông này cặm cầm bà kia, nghề đá cá lăn dưa, ngồi cầu tàu thổi ống kêu. Sáu Cúc khai mào bằng một màn dạ hành tỏ rất giựt gân. Y nói với tôi nhưng cốt ý để cho ba tôi nghe:

– Tao mới nghe đài BBC nói mình đã tấn công Phước Long đồng thời tập kích chi khu Đồng Xoài. BBC nói Đồng Xoài cố tử thủ chờ viện binh. Còn ở Quảng Ngãi thì nghe đài Hà Nội nói mình vừa diệt gọn hai tiểu đoàn bộ binh…

Sáu Huỳnh phụ họa:

– Hèn chi hổm rày các loại máy bay hít về phía đó, dưới này đỡ đỡ.

– Đài BBC còn cho biết tụi Mỹ đang ồ ạt đổ quân lên Khe Sanh, thung lũng Đa Drăng và Pleiku.

Sáu Cúc nói xong, quay sang ba tôi:

– Hổng biết thằng em nó có đi ra miệt đó không anh Chín?

Ba tôi lắc đầu:

– Nó đi liên miên nay chỗ này mai chỗ khác, tôi đâu có biết được.

Sáu Cúc nói.

– Tôi cho rước anh vô đây trước là gặp em Lôi, sau là bàn với anh một chuyện.

Tôi dư biết các trận Phước Long Đồng Xoài đã xảy ra từ lâu và kết quả như thế nào rồi. Nhưng Sáu Cúc moi móc lại để hù ba tôi. Ở ngoài thành tin tức nhanh chóng và xác thực hơn cái đài giải phóng của mặt trận ông Thọ nhiều, có lý gì ba tôi không nghe để mắc mưu tên ma cô này. Thấy ba tôi đáp không vô vòng của hắn, Sáu Cúc bèn vỡ giọng tâm tình:

– Cây cùng một gốc, mà một nhánh rẽ sang bên trái, một nhánh bên phải như vậy. .. không tốt. Súng đạn là thứ vô tình. Rủi ra trận mạc đụng nhau rồi làm sao? Theo tôi đứa nhỏ phải theo đứa lớn thì coi mới phải. Vậy anh Chín nghĩ lẽ nào?

– Sanh con há dễ sanh lòng mấy chú à. Tuy là hai anh em nhưng mỗi đứa lớn lên trong một hoàn cảnh, trí óc khác nhau cho nên chí hướng khác nhau.

– Nhưng anh là người cựu kháng chiến, con cái phải theo con đường của anh mới phải.

– Mấy chú nói sao tôi hay vậy. Còn như chuyện mấy chú muốn em theo anh, thì mấy chú cứ nói thẳng với nó hoặc nếu mấy chú tin tôi thì tôi chuyển lời đùm, còn kết quả hay không tôi không hứa.

Sáu Huỳnh thấy vậy là đã đạt yêu cầu, nên nói loanh quanh vài câu chuyện mưa nắng rồi rút lui, còn Sáu Cúc ở lại tiếp tục địch vận ông già . Y mở xắc-cốt lấy ra một xấp hình cỡ 6×9 đưa cho tôi xem. Tôi cầm hình trong khi y giải thích một cách hứng thú:

– Đây là cơ sở của mình. Anh này là đại tá không quân đấy. Anh ta vô đây tiếp xúc với chúng tôi vài bữa trước khi cậu về. Cậu là người đặc biệt lắm tôi mới cho xem.

Tôi biết đây là những tấm hình láo toét. Chẳng có đại tá nào hết. Y đem ra đây để khoe và nhử ba tôi thôi. Tôi không làm nghề quân báo nhưng tôi thừa biết là những cơ sở đại tá như thế này, dù tôi có đặc biệt như thế mấy cũng không được xem. Vì nguyên tắc của quân báo là bí mật.

Y lấy ngón tay trỏ vào từng điểm trên mấy tấm hình và tiếp :

– Cái hình này là do máy bay L19 chụp được anh Sáu Huỳnh nói với cậu hôm trước đó. Lính mình đang đào công sự trong rừng cao su ở Bình Giả. Nếu anh ta báo cáo thật thì mình ăn bom chết hết rồi. Nhưng anh ta lại tráo tấm ảnh khác, đưa tấm này cho mình. Cậu biết một tấm như vầy mấy triệu không? Thằng Sài gòn bỏ mạng là ở chỗ đó. Nó ỷ nó có khí tài máy móc, nhưng lại dòi trong xương dòi ra, nó đâu có biết. Chỗ có nói không, chỗ không nói có. Cho nên súng nhiều bom lớn mà không thắng là vì vậy.

Thấy ba tôi có vẻ lắng nghe, y hùng hồn nói tiếp:

-Tôi hứa chắc với anh Chín nếu mà thằng nhỏ chịu cộng tác với chúng tôi, nó muốn gì được nấy. Nó đang ở bộ binh, nếu sợ nguy hiểm muốn về văn phòng, tôi chạy cho nó về văn phòng, muốn ở chính trị tôi cho chính trị, muốn làm tham mưu tôi cho vô tham mưu. Trong vòng hai năm tôi cho nó mang lon tướng cho anh Chín coi. Tôi nói thiệt. Nếu không có vậy tôi sẽ chịu cho đàn bà Củ Chi này đái trên đầu tôi sôi bọt.

Ba tôi cười hưởng ứng:

– Mấy chú quả quyền hạn mênh mông vô tận.

– Thiệt mà anh Chín. Tôi còn có thể đưa nó vô làm ở phủ Tổng Thống nữa cơ. Lên Tướng mả khó khăn gì. Hễ nó móc với tụi tôi, trong vòng sáu tháng nó sẽ đóng lon Thiếu tá. Sáu tháng nữa lên Đại tá. Một năm sau lên Tướng ít lắm là Tiểu khu trưởng. Rồi muốn làm chúa tỉnh nào tôi cho về tỉnh nấy. Chừng đó tha hồ bán gạo, bán súng cho chúng tôi. Bạc chất đâu cho hết !

Y leo qua cả lý luận Mác:

– Tụi tư bản hễ nghe tới hơi tiền là tít mắt. Bàn thờ ông vải cũng bán mà !

Y ngồi hút hết nửa gói Capstan, không khí trong hầm khét nghẹt khói thuốc. Y bắt tay ba tôi dặn dò, tâm sự to nhỏ, chúc tụng đủ điều rồi mới ra về. Tôi đưa y lên ra tận cửa, đóng cửa lại, cài then kỷ rồi mới vào nhà ngó loanh quanh không thấy ai cả, yên trí rằng dì Tư và Chia đã ngủ nên chui xuống hầm. Ba tôi vẫn còn ngồi đó. Lúc chiều khi vừa gặp ông tôi đã nói tóm tắt mấy điều, cho nên dù Sáu Cúc có tụng bao nhiêu thì ba tôi vẫn không thấm bài.

Tôi từng biết vụ tên Phạm Ngọc Thảo làm đội trưởng đội tình báo lấy tên là đoàn công tác đặc biệt của cộng sản trong thời kháng chiến. Đội này thành lập ở tỉnh Bến Tre. Lúc đó tôi từ miền Đông xuống miền Tây với bác sĩ Du. Khi đoàn tới Đồng Tháp Mười thì bác sĩ Du bị Tây ruồng bắt, tôi đi theo phái đoàn đến Tường Đa (Bến Tre) thì gặp đội tình báo này. Phan Triêm dân Quảng Nam mặt chuột môi thâm đang làm tỉnh ủy Bến Tre được cắt sang làm chính trị viên.

Sau đó tôi xuống miền Tây học trường Lục Quân thì Thảo về cất nhà ở với vợ là Phạm thị Nhiệm (em gái của Phạm Thiều giám đốc sở tuyên truyền Nam Bộ) bên bờ kinh xáng Chắc Băng. Rồi khi tôi ra công tác ở các đơn vị chiến đấu thì Thảo làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 410 trong trung đoàn Tây Đô của Huỳnh Thủ cũng người Quảng Nam. Thảo nhỏ con, mặt thỏn, hai mắt bất đồng nên anh gọi là Thảo Lé.

1954 Hòa Bình thành lập lại, Thảo Lé tọt về Sài gòn, ít lâu đầu quân dưới trướng ông Diệm và được ông Diệm tin dùng ngay. Khi ra Bắc tôi còn nghe tiếng đồn rằng Thảo làm cố vấn chống du kích toàn Đông Nam Á. Ít lâu sau Thảo được ông Diệm bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Kiến Hòa. Đây là thời kỳ Thảo Lé công tác rất đắc lực với Cộng Sản. Hắn thả tù binh chính trị môtcách bừa bãi. Tệ hại hơn nữa, bãi biển Cồn Chim trở thành bến đổ vũ khí cho tàu Bắc Việt, mạnh hơn cả Vũng Rô.

Sau đó Thảo Lé đảo chánh hụt bị bắn trọng thương và bị rượt nà. Thảo chui vô nhà thương giả bệnh nhân, nhưng công an tóm được, giết một cách bí mật ngay trên giường bệnh..

Tôi nhớ lại câu chuyện của một tên tình báo Cộng Sản mà rùng mình. Quá nhiều phiêu lưu và nguy hiểm. Tôi không muốn cho em tôi làm chuyện đó.

Ba tôi chờ đợi ở tôi một câu. Nhưng tôi không nói gì. Một tiếng nói phát ra lúc này có thể bị dính vô máy móc của đám Sáu Cúc cài sẵn trong vách hầm trước khi cho ba tôi và tôi vào đây, nếu không, có thể một kẻ đang rình bên ngoài. Chia biết đâu chẳng là tay trong của tụi nó và là mỹ nhân kế. Tôi đã khôn rồi. Tôi không tin ai cả . Tôi chỉ nói những chuyện không dính tới em tôi rồi ra dấu bảo ba tôi ngủ để sáng mai tôi đưa về. Vượt qua bao nhiêu đồn bót và những cặp mắt cú vọ, ba tôi đến, tôi được nhìn thấy mặt là đủ rồi. Ở nán lại nếu có việc gì tôi sẽ ân hận suốt đời.

Tôi lấy gối để lên đầu giường cho ba tôi nằm rồi đi lên nấu được pha trà. Định bụng sẽ trở xuống viết một bức thư về thăm má tôi rồi nằm bên ba tôi ngủ như một đứa bé thơ thuở nào.

Nhưng khi tôi vừa lên khỏi miệng hầm thì một cánh tay nắm vai tôi. Không suy nghĩ cũng biết đó là Chia.

– Sao anh không nói gì với ba hết vậy?

Thì ra cô nàng đã rình nghe hết cả buổi nói chuyện.

– Nói gì?

– Chuyện anh và em.

– À bận quá. Hơn nữa có mặt mấy chú.

– Mấy chú đã về lâu rồi! Chừng nào anh mới nói?

– Chừng ba sửa soạn đi về .

– Chừng nào ba về?

– Sáng mai!

– Sao gấp vậy? Mấy chục năm trời anh mới gặp ba, sao anh không giữ ba ở lại chơi?

– Có công chuyện khẩn cấp.

Chia coi như việc đã rồi. Chỉ còn thưa qua ông già nữa là tiến hành đám cưới. Nàng có ngờ đâu bụng tôi ngổn ngang trăm mối tơ vò. Nàng vùng vằng:

– Để ba ở lại chơi vài bữa. Có chuyện gì em chịu trách nhiệm cho.

– Không có chuyện gì cả , nhưng công tác khẩn nên phải về .

Tôi và Chia ngồi co ro sau bếp, nói chuyện thì thào như vịt xiêm. Nàng hôn tôi, tôi hôn nàng không ngừng, không buông nhau ra phút nào. Mấy ông táo trên bếp mà ngó thấy chắc cũng phát ghen. Chia bảo:

– Anh yêu em đi.

– Để mai mốt đã . Anh ở đây chớ đi đâu mà sợ !

– Em sợ con Ua nó giật mất anh.

– Anh đâu phải cái chén cái tô mà nó giật dễ vậy.

– Nó dọa em: “Đừng có mó vào chồng nó mà không toàn mạng.” Con nhỏ dữ lắm. Em không muốn ở đây, em chỉ muốn ba gật đầu một cái là em về luôn với ba thôi.

. Tôi trở lại hầm. Ba tôi vẫn nằm, tay gác trên trán có vẻ suy nghĩ chớ nào đã ngủ. Tôi khe khẽ nằm xuống bên cạnh thì ba tôi hỏi. Ba tôi kể một dọc.

– Mấy anh Bảy Trấn, Trần văn Giàu, Hoàng Xuân Nhị, Tô Ký, Trần Thắng Minh, Sáu Của, Huỳnh văn Nghệ , Dương Bạch Mai … ra ngoải làm tới chức gì con?

Đây là câu hỏi tôi không thể trả lời nếu trả lời thì phải nói láo. Tôi suy nghĩ mãi không biết trả lời thế nào cho phải, thì ba tôi hỏi thêm:

– Mấy ông đó còn sống hết hôn, hay là có ông nào mãn phần.

– Dạ có ông chết ông sống ba à ! Nhưng nói chung thì coi như đã chết hết. Nếu ba đi tập kết thì chắc nằm ở ngoài đó luôn chớ về gì nổi mà về .

Ba tôi không để ý câu nói chua chát của tôi.

– Dạ, con đi trên Trường Sơn . Gặp nhiều ông trên năm mươi thảm lắm ba à ! Vừa đi vừa bò vừa lết. Giao liên thấy tội nghiệp mang dùm ba-lô, nhưng cũng không đi nổi.

– Rồi làm sao con?

– Lớp trở ra, lớp nằm lại dọc đường. Có người ráng vô tới Bà Rịa thì chết.

– Chết à?

– Dạ trẻ cũng chết chớ không phải chỉ có già ! Trên đường Trường Sơn có đến một trăm kiểu chết ba ơi.

Ba tôi ngưng một lúc lâu rồi mới tiếp.

– Nhờ ông bà thánh thần phụ hộ nên con mới về tới xứ. Ba má tưởng con hi sinh lâu rồi!

Tôi nghe trong tiếng của ba tôi có pha nước mắt. Tôi chưa bao giờ thấy ba tôi khóc. Ông thuộc loại người ít nói, trầm ngâm và cương nghị. Khi kháng chiến nổ ra, ông theo hết lòng. Bỏ nhà cửa, mặc cho má tôi nuôi dưỡng đàn con. Nhưng sau đó, hình như ông thấy việc gì, nên bỏ về nhà. Lúc đình chiến, tập kết, ủy ban tỉnh mời ông, ông từ chối không đi. Sự thực trong lòng ông như thế nào tôi không rõ. Đêm nay chỉ có hai cha con trong gian hầm vắng lặng, tôi định hỏi mấy lần nhưng lại ngập ngừng để so sánh những ý nghĩ của ông hồi đó với tôi bây giờ. Rồi thôi, bỏ hẳn ý định. Tôi tự nhủ:

– Cứ xem cái kiểu thiên hạ bỏ kháng chiến đều đều từ miền Đông xuống miền Tây thì rõ chứ gì.

Ông cứ thở dài. Tôi biết ông gặp lại tôi ông mừng lắm. Nhưng sau đó niềm vui lại nhường chỗ cho những lo âu và sầu muộn. Hai đứa con trai, mỗi đứa một đường. Có lẽ từ sau lúc tiếp xúc với hai ông cán gộc, ông càng buồn hơn chăng?

Tính lẽ nào cho phải? Cuộc xum họp hóa thành éo le. Ông bất ngờ nhắc lại vụ Duyên. Có lẽ đây là một nỗi buồn day dứt của gia đình tôi.

– Con nhỏ nó gầy tọp đi. Mỗi lần nó đến, tao thấy mà xót xa. Nó đem tiền tới cho má. mày. Má mày không chịu lấy. Nó bảo: má coi như của ảnh gửi về. Tao đứt ruột đứt gan, nhưng làm sao bây giờ? Nếu như mày ở trong miền Nam thì đâu có như vậy. Cái giới tuyến ác thiệt.

Ngưng một chốc, ông lại tiếp:

– Lần cuối cùng nó đến nó mặc đồ đen. Nó xin phép má mày nó đi lấy chồng.

– Hồi nào ba?

– Sau đình chiến. Sau khi hai bên Bắc Nam không chịu Tổng Tuyển Cử.

– Vậy sao ba nói cô ấy đi tu?

– Sau đó nghe đồn như vậy, không biết lẽ nào. Nó nói một câu tới chết tao không quên được.

– Câu gì ba?

Ba tôi không đáp. Tôi nghe ông nuốt ực mấy lần. Ông cố nén nhưng tôi vẫn nghe. Tôi hỏi gặng lần nữa, ông mới nói:

– Nó nói nếu nó dè phân cách duyên nợ như vầy, thà hồi đó nó liều thân với mày cho xong, nhụy đào thà bẻ cho người tình chung, để bây giờ nó không thể lấy chồng nữa. Nó chờ mày tới già.

Tôi chỉ còn biết kêu trời!

– Con đừng buồn ! Đó chẳng qua là duyên kiếp con à !

Ông ít gọi tôi bằng con, trừ những trường hợp nghiêm trọng, tiếng con thắm thía vô cùng. Tôi đón nhận tất cả yêu thương của một người cha.

Sáng dậy tôi tưởng đã qua một giấc ngủ mười năm. Vâng, giấc ngủ hai mươi năm! Giấc ngủ của nhà văn Trần Lực tôi từng đọc từ đầu kháng chiến. Giấc ngủ này được mô tả trong tiểu thuyết theo trí tưởng tượng của tác giả, thì người thức dậy thấy một cảnh thiên đường mặt đất lúc thóc đầy bồ, dân chúng hạnh phúc, hoa thơm cỏ lạ khắp nơi. Thế nhưng, cái giấc ngủ ấy, tôi đã ngủ đến hai lần. Lần thứ nhất mở mắt ra thấy cải cách ruộng đất ở miền Bắc. Lần thứ hai mở mắt ra thấy nằm giữa Củ Chi bom đạn bời bời và sắp chia ly với gia đỉnh.

o O o

Con Ua phóng xe đạp tới, ghếch chân lên thềm nhà, Sáu Huỳnh cho nó sang chở ba tôi sang bển để thết đãi. Nó nhìn tôi với cặp mắt xoi mói điều tra: đêm qua anh ngủ ở đâu, nói gì với ai …v..v… Nhưng tôi gạt ngang:

– Em về sửa soạn đi rồi đưa ba anh về .

Tôi không dùng tiếng ba đơn độc như với Chia. Ua chưng hửng, không hiểu. Tôi quát.

– Mau đi! Tình hình động tới nơi rồi.

– Nếu động em đưa ba ra Củ Chi tạm trú, yên lại trở vô.

– Không được. Có công tác gấp.

Nghe nói công tác Ua không cãi nữa, nhưng bộ mặt ỉu xìu. Ua bước xuống xe, định vô nhà, nhưng tôi gạt ra. Cực chẳng đã, Ua phải dắt xe đi. Nàng hỏi:

– Anh đã nói gì với ba chưa ?

Thưa chớ không phải nói với ba.

– Ừ thôi thưa. Anh đã thưa với ba chưa?

– Chưa .

Ua trợn mắt:

– Sao còn neo hoài vậy?

– Chờ má anh vô mới được.

chớ không phải má anh nghe chưa ông mãnh!

Thưa chớ không phải nói với ông già nghe chưa? Ba nghe được là hỏng hết.

Ua rụt cổ lè lưỡi, nói nhỏ rí:

– Chết! Ba có nghe không anh? Em ăn nói ngang tàng với mấy ổng quen cái miệng rồi. Ba nghe chắc ba chê em quá !

– Không, có anh ! Hễ anh khen thì ba không chê . Em về nói với chú Sáu Huỳnh rồi trở qua đưa ba ra Củ Chi ngay.

– Ừ đưa ba, chớ nói ba anh thì em bịt miệng bây giờ. Anh nên nhớ ba của anh cũng là ba của em. Em không để ai kêu như em đâu.

Tôi đi với ba tôi ra đường. Nét mặt ba tôi buồn dàu dàu.

Ba tôi móc chiếc bóp da lớn trong túi áo trên ra lấy tiền cho tôi:

– Tiền của má mày. Ba ngàn, còn hai ngàn là của mấy em mày góp lại.

– Con không cần ba ạ ! Từ lâu con đã không làm gì cho gia đình nhờ, bây giờ lại rút rỉa, con thẹn lắm.

– Lấy xài chớ, để cặp tàu anh em hoài sao!

Tôi suýt bật cười. Tiếng cặp tàu này xưa lắm. Đâu hồi trước 45 kia. Ba tôi có tật đọc báo. Bữa nào cũng mua tờ báo sang quán uống cà phê ngồi đọc và bàn bạc với mấy người bên quán. Người quen đến cặp tàu ba tôi luôn, thành ra uống một tách phải trả ba bốn tách.

– Con không cặp tàu ai đâu ba à !

– Không cặp người ta, thì để cho anh em cặp tàu con. Khi mình, khi người. Anh em thì phải chia cơm xẻ áo cho nhau. Như vậy có tình thân mới ở chung với nhau được.

Đi một quãng, ba tôi hỏi:

– Còn vụ vợ con, mày tính sao?

– Con chưa tính gì được hết ba à !

– Má mày muốn có cháu bồng. .

– Mấy em con có thiếu gì đó ba !

– Má mày muốn con của mày chớ nói gì của tụi nó !

Đi một quãng nữa, ba tôi hỏi:

– Con tính cụ Hồ có thắng được Mỹ không?

– Dạ thì phải thắng chớ ba !

– Cụ làm vầy chết dân. Lính Quốc gia chết, anh giải phóng chết. Ngoài ra thì ai đi miền Bắc không thấy về, lớp nhỏ tấn lên không lấp được lỗ trống! Làng xóm ngó eo sèo xác xơ còn hơn thời kháng chiến.

Tôi dặn ba tôi mấy việc về thằng em. Vừa xong thì Ua phóng xe tới. Tôi bảo:

– Em đi đến ngã ba chờ. Để anh nói chuyện với ba chút nữa .

Thật ra tôi chẳng nói thêm câu nào. Hai cha con lẳng lặng đi song song với nhau. Mặt trời lên cao. Nắng sáng ấm áp. Tôi bước đi thong dong. Tôi sực nhớ rằng từ ngày về Nam tới giờ tôi chưa bao giờ đi đứng khoan thai như hôm nay. Lúc nào cũng hối hả, chụp giựt, chạy tuôn, lủi trốn, la hét v.v… Những sự bất thường đều trở nên bình thường. Con người thay đổi về tâm lý lẩn tánh tình hồi nào cũng không hay nữa.

– Con Duyên có đến thăm mộ ngoại con nữa chớ ! Chút nữa ba quên nói với con.

– Mộ ngoại ở đâu ba?

– Ở trong đất nhà, bên mộ cậu Tám con.

– Cô Duyên không có tới nữa hả ba?

– Sau lần đó, nó biệt luôn.

– Nếu biết được . . . .

– Trên mười năm rồi ! Má mày khuyên nó đừng có đi tu. Nó nói nó không còn ham muốn gì nữa hết.

– Con không ngờ cổ thương con đến như vậy.

Ba tôi lặng thinh. Bước chân ông chậm chạp, dường như ông sợ đến ngã ba. Ở chỗ đó cha con lại phải xa nhau như cái bến tàu Chắc Băng hai mươi năm trước. Trong cách mạng cái gì đã xa rồi không trở lại được. Từ xa tới xa….

Đột nhiên ông hỏi:

– Con chấm cô nào?

Tôi biết ý ông hỏi tôi về Ua và Chia. Tôi đáp:

– Con chưa có ý gì hết ba à. Ba thấy cô nào được ba?

– Tùy ý con.

Đã đến ngã ba. Ua vừa giục vừa rề xe lại:

– Anh Hai, mau lên. Chỗ ngã ba pháo hay bắn lắm. Mời bác ngồi lên.

Tôi đứng khựng lại. Phút chia tay đột ngột. Tôi không cầm được nước mắt. Chiếc xe chở ông già đi sẽ mang cả ruột gan tôi theo. Ba tôi ngồi lên chiếc poọc-ba-ga. Tôi bước lại cầm tay ba tôi, bàn tay gầy xương xẩu từng bồng bế, nựng nịu và từng đánh đòn tôi. Ua quay đầu lại, liếng thoắng:

– Anh về đi. Ba sẽ đi chuyến mười hai giờ trưa. Sáu giờ chiều ba ăn cơm nhà .

Tôi nghẹn ngào.

– Ba về nghe ba !

– Ba gởi lời thăm hết thảy anh em. Gấp quá ba không gặp mặt chú Trầm (tên thật của Sáu Huỳnh) để từ giã.

Ua nhấc chân lên pê-đan, đạp. Tôi đứng trân trân, mắt ngó theo. Bộ đồ lụa trắng của ba tôi xa dần. Tôi đứng nhìn theo cho đến khuất mới trở bước về . Cứ đi một quãng tôi quay lại nhìn. Nhưng tôi không còn thấy gì nữa ngoài cái mặt đường lởm chởm nằm phơi dưới nắng buồn tênh.

Tôi muốn kêu lên một tiếng ba thật lớn rồi vứt tất cả súng ống ba lô, cả hai mươi năm thành tích để chạy về nhà. Tôi không thấy cách mạng còn hấp dẫn đối với tôi nữa. Cái gì mông lung nhất, đó là cách mạng. Cái bịp bợm nhất cũng lại là cách mạng. Nhưng sở dĩ nó cứ lôi cuốn con người Việt Nam hoài hoài là vì nó khéo khoác áo ngụy trang dân tộc. Bao giờ nó cũng bô bô cái miệng là vì dân. Sự thực tôi đã thấy rõ mười năm Miền Bắc rồi. Vì dân nhưng dân ăn rau muống, củ chuối và cám lợn. Còn lãnh tụ nhân dân thì ăn cơm tấm giò chả , ăn không hết đem đổ. Vì dân nhưng dân ở nhà tranh vách đất như ổ lợn còn lãnh tụ thì quơ mỗi ông một cái villa thượng hạng, chưa đủ quơ thêm vài cái để dành cho con đi học Liên Xô chưa về, thậm chí cho cháu chưa đẻ.

Vì dân kiểu đó thằng này xin vì dân suốt đời.

Trong lúc tâm sự với tôi, ba tôi mỗi khi nhắc đến thời chín năm là ông than phiền hoặc chê bai. Ông đã nhìn thấy rõ bọn Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Tô Ký, Nguyễn Văn Trấn, Hà Huy Giáp. Ông bảo mấy người đó không có tư cách mà lãnh đạo gì. “Gia đình nào không dính với cách mạng là gia đình đó khỏe nhất.” Đó là ý nghĩ của ba tôi mà tôi tổng kết được qua câu chuyện với tôi.

Ông kể cho tôi nghe những gia đình nào đi theo kháng chiến mà bỏ về sớm bây giờ có sự nghiệp hết cả. Như mấy đứa em cô cậu của tôi hiện giờ là chủ bốn năm chiếc xe đò đưa khách đường Nhà Bè – Sài gòn, hoặc chủ tiệm tạp hóa.

Còn gia đình tôi đi kháng chiến mút mùa, đến khi trở về tài sản bỏ bê mất mát, nhà cửa tiêu tan hết. Ba tôi bỏ cả đàn em tôi cho má tôi nuôi, nhờ tiền bên ngoại giúp đỡ và cô Duyên cũng tiếp tế mất mấy năm nên không đến đổi nghèo hèn quá, nhưng so với thiên hạ thì chẳng bằng ai.

Ba tôi còn khui ba cái vụ công khố phiếu hồi kháng chiến ra làm cho tôi không còn cách nào bao che cho cách mạng được. Tôi biết gia đình tôi hiến rất nhiều mâm thau, lư đồng và vàng bạc cho tuần lễ vàng. Ngoài ra mỗi lần có đấu giá ảnh cụ Hồ thì ba tôi móc tiền túi ra đua tranh để lấy cho được bức ảnh đem về treo ở cơ quan. Cái loại ảnh gắn bằng kén tằm nhuộm đỏ và vàng coi đẹp lắm nhưng chỉ vài tháng con nít bảo mặt cụ Hồ có lác nên phải gỡ xuống đút vô kho. Ba tôi còn mua công phố phiếu. Ba tôi còn tuyên truyền cho bà con mua: “Có thực mới vực được đạo, có tiền bộ đội mới có gạo, có gạo ăn mới đánh được Tây.” Vì yêu nước những nhà điền chủ ùn ùn đi mua. Kẻ nghèo cắt củm được một ít cũng hiến cho công khố. Không mua công khố phiếu là Việt Gian. Ai chịu mang tiếng ác nghiệt đó? Sau hòa bình ba tôi bỏ nó vô tỉn nước mắm khằn lại và giấu chui giấu nhủi cả chục năm nay. Bây giờ nghe nói có Mặt Trận, có khu Giải Phóng nên đem vô đổi lấy lại tiền, để cho tôi xài, nhưng vô đây mới vỡ lẽ ra là Mặt Trận đang đào khoai mì lén của dân bỏ nhà đi ra ấp chiến lược mà ăn. May mà ba tôi có bỏ phòng hờ theo, nên đã cho tôi năm ngàn đồng. (Sánh sao nổi với bà già địa chủ của ông Trưởng phòng Chính trị Quân khu và bà vợ thầu cà-phê của ông Trưởng phòng Huấn học Cục Chính trị R). Số tiền đó là sự ki cỏm của má tôi chớ đâu phải của tôi. Tôi thực tình xấu hổ. Tôi không muốn lấy. Cha mẹ già đã không nuôi dưỡng lại đi lấy tiền là nghĩa gì?

Tôi biết ba tôi là người khí khái. Khi đã say mê thì say mê hết lòng, dốc hết sức để đạt được mục đích, nhưng khi đã hết mê thì bỏ ngay. Và đã bỏ thì không có quay lại. Sở dĩ ba tôi ra khu giải phóng là vì tôi chứ không phải muốn xem khu giải phóng. Ba tôi dư biết nó là cái gì rồi. Ba tôi nói nhỏ :

– Ở trong thành ba cũng biết rõ ngoài này ra sao rồi con ạ. Cũng y như thời 12 đội công tác thành của Nguyễn Bình vậy thôi, nghĩa là thu thuế lén, thuế tiệm chệt, thuế xe bộ hành, thuế những sòng bạc, thuế tiệm hút v.v. ..

Mấy người trí thức ở thành ra khu, ba tôi đều nghe nói. Ba tôi chỉ phán một câu:

– Đó là những người bất tài và có tâm địa ăn không được khuấy cho hôi.

Ba tôi còn biết vụ kỹ sư Cao Văn Bổn chết vì bịnh sốt rét, Phạm Ngọc Thạch (trong kháng chiến là người quen thân với ba tôi) chết vì đau ruột, Trần Hữu Trang chết vì B52 v.v. . . Ông còn biết Mặt trận giải phóng bắt cóc Trình Đình Thảo khiêng ra khu giải phóng, và giải cứu Nguyễn Hữu Thọ từ nhà lao Ban Mê Thuột. Ông có lạ gì tướng tá và quân đội miền Bắc vô trong Nam. Trần Văn Trà ông biết quá rõ mà ! Năm 54, ông lấy cớ gánh nặng gia đình nên không đi tập kết, chứ kỳ thực ông đã chán ngán vì trông rõ cái sự thực mà hai mươi năm nay, nghĩa là hôm nay, tôi vẫn chưa trông thấy.

– Con nhớ không, thời chống Pháp, bộ đội đi tới đâu gà vịt heo bò ngã liệt địa tới đó, dân nhường nhà cho bộ đội, cán bộ và dân quân…

Ba tôi không nói hết câu, nhưng vế sau tôi vẫn hiểu. Ông bảo tôi:

– Cụ Hồ có đem vô đây một hột muối hột gạo nào, rốt cuộc vẫn củi đậu nấu đậu.

Biết mình nói những câu đó, thằng con trai đi theo Việt Cộng sẽ không vui, ba tôi cười gượng:

– Trời không cho mình giàu con ạ. Đó là phần số Thiên định, mình không cãi được, nhưng qua chín năm kháng chiến mà gia đình mình còn nguyên vẹn thì phước lớn lắm rồi. Đó cũng là do trời. Con nghĩ coi. Lần đó máy bay bỏ bom, má con với mấy em chui xuống hầm, một trái bom rơi giữa hầm, không trúng ai mà cũng không nổ. Phần số mình lớn cỡ nào?

Lúc sắp chia tay, ba tôi cố tìm những câu chuyện vui nói với tôi ông muốn để lại cho tôi một dư âm tốt đẹp về cuộc viếng thăm ngắn ngủi. Nhưng bây giờ ông đã xa tôi rồi. Nỗi buồn đổ ập lên tôi. Trên đường về, tôi cơ hồ cất chân lên không nổi nữa. Tôi không dám quay lại nhìn ba tôi nữa, nhưng vẫn thấy chiếc xe đạp như con vật tha ông già đi xa dần. Đã xa hai mươi năm bây giờ lại xa.

Phá nát đất nước: Đó là cách mạng.

Đang xum họp bỗng chia ly: Đó cũng là cách mạng.

Đang vui hóa buồn: Không gì khác hơn là cách mạng.

Đang giàu trở thành nghèo: Đó là bước tiến của cách mạng.

Ôi cách cái mạng!

Chương 45

Tây Lưong Nữ Quốc

<
Tôi lịm đi trong mệt mỏi và đau buồn. Tôi thức dậy khi nghe có hơi người bên cạnh: Chia . Chia vừa xốc tôi dậy vừa nói .

– Anh lên ăn cơm đi !

Tôi vuốt tóc nàng và hỏi.

– Anh ngủ lâu chưa?

– Chừng hơn một tiếng. Chắc bây giờ ba ra tới Củ Chi đang chờ xe đi Sài gòn. Từ Củ Chi đi Sài gòn có hơn hai mươi cây số, xe chạy một tiếng là cùng. Từ Sài gòn về nhà mấy tiếng anh?

– Chừng hơn một tiếng nữa.

Chia nói một cách quả quyết y như sự thực xảy ra trước mặt:

– Chiều nay ngồi ăn cơm với má, ba sẽ nói chuyện về anh với em cho má nghe, xong rồi má hỏi chừng nào làm đám cưới để má vô. Má hỏi là muốn để em ở trong này với anh một thời gian hay về ngoài nhà ngay. Má nói để em ở với anh chừng nào em có bầu rồi hãy đưa em về ngoại, má sợ có bầu ở trong này ruồng, cà nông, thụt bom bỏ rung rinh đất hư thai!…

Tôi để xem cô bé mơ tới đâu. Chia cứ nheo nhẽo cặp môi nói liên miên:

– Em phải có con sớm với anh mới được để lỡ anh có mệnh hệ gì rồi ba má làm sao? Mặc dù ba má có nhiều cháu rồi nhưng anh là con trai lớn, ba má muốn cháu đích tôn. Em không đòi phải trai gái gì hết, miễn có con thì thôi. Em sẽ nói với má em mua cho con mình những bộ đồ thật đẹp. Chừng đó em sẽ ra Củ Chi ở chớ không về Sài gòn nữa để em có thể biết tin anh hằng ngày. à à… mà Mỹ nó vô nó đóng bít hết các xã trong này rồi anh đi đâu? Em không muốn anh qua Bến Cát. Cách một con sông, em làm sao bồng con đi thăm anh cho được. Anh phải ra Củ Chi..i?

Chia dừng lại vì biết đã lố cồn. Ra Củ Chi tức là chiêu hồi cô em ạ ! Cán mùa thu chiêu hồi cũng bộn rồi, thiếu tá cũng có cơ đấy, nhưng ở trên ém kỹ lắm. Cứ để cho biệt kích Mỹ bắt cóc. Tôi không muốn làm đóa hoa mơ đang nở xòe của Chia, nên nằm im. Chia nhìn tôi tha thiết:

– Sao anh buồn vậy? Bộ ba về anh buồn hả ? Đừng buồn ! Có em đây, mai mốt má vô em sẽ giữ má ở lại chơi lâu hơn.

Tôi không nguôi được những lời dỗ dành của cô bé con. Tôi nghĩ xa hơn kia t Tôi nghĩ đến sự rắc rối mà tôi mang về cho gia đình: móc ngoéo thằng em đại úy. Tôi sẽ làm cho gia đình xáo trộn ít nhất là một thời gian ngắn. Nhưng biết đâu sự móc nối này đổ bể rồi liên lụy đến gia đình nó lẫn gia đình ba tôi: Tan vỡ ! Mình đi hai mươi năm, chính nó là trụ cột của gia đình. Bây giờ mình làm cho trụ cột đó đổ và sụp cái nhà. Là sĩ quan mà lem nhem với Việt Cộng thì không dễ sống đâu. Chia nom sát mặt tôi và hỏi:

– Trên đường đi ba có hỏi gì anh không?

– Hỏi gì?

– Hỏi anh định ngày nào làm đám cưới.

– Ba nói tùy anh định.

Tôi nói dối. Sự thực tôi không thưa gì với ba tôi về Thu Hà hoặc cô nào khác. Ba tôi cũng không nôn nóng cho tôi. Điều làm ông mừng nhất là tôi còn sống đến hôm nay. Ông tưởng tôi hi sinh trong kháng chiến rồi, nên năm 54 không thấy nhắn tin về nhà.

Chia lôi tay tôi đi ăn cơm, nhưng tôi không thiết cơm nước. Tôi bảo:

– Anh cũng như em, muốn có con bây giờ.

Nói xong tôi làm một cử chỉ yêu thương táo bạo. Chia đã nếm mùi dương thế vài lần bây giờ nàng không ngượng ngùng nữa mà có vẽ hường ứng với tất cả sự hứng thú . Nàng muốn tỏ ra nàng dâng hiến tất cả cho tôi. Nàng vả mặt tôi:

– Anh hung dữ quá hà .

– Em định làm vợ anh thật à?

– Tới bây giờ còn hỏi câu đó ! Xì.

– Anh không sống lâu đâu. Anh phải yêu vội, sống cuồng. Để chết ai yêu em dùm anh?

– Một ngày cũng được. Yêu em một lần cũng đủ.

– Rủi có con làm sao?

– Sao lại rủi? Em đang muốn mà rủi gì?

Tôi lặng thinh. Ánh sáng lờ mờ trong hầm làm cho thân hình của nàng như khoác một lớp áo the thưa, càng trở nên mờ ảo và hiện thực. Nàng như đóa hoa búp bị chú bướm quái ác phanh phui hoa nhụy trước ngày nở hé . Cả hai đều không có tội gì. Bướm tìm hoa và hoa cũng đang cần bướm. Tôi hôn nàng như trăn trối như nghe một khúc ca không lời, chỉ có tiếng ngắt ở giữa những câu nhạc, chỉ có những nhịp ngoại và tiếng nhạc độc nhất thoát ra từ những hàm răng nghiến.

Chia òa lên khóc. Tôi lau nước mắt cho nàng bằng lưỡi và môi tôi.

– Sao em khóc?

– Em sợ anh đi!

– Anh không đi đâu hết. Anh ở đây với em.

Chia ôm quặt lấy tôi bằng tay chân vừa hôn tôi như đất lỡ trời long vừa thầm thì:

– Anh nói thiệt nghe ?

– Thiệt!

– Anh không nói dối chớ?

– Không ?

– Tại sao?

– Anh chán tất cả rồi. Anh không ham gì nữa hết ngoài em.

– Em cũng vậy, em không thích gì cả, ngoài anh!

Hai thân hình bằng xương thịt trần tục và hai tâm hồn cuộn xiết lấy nhau trên một bãi đất đầy những hố pháo, bom.

– Em muốn một viên đạn xuyên qua em và anh trong lúc này để chúng ta chết hoàn toàn hạnh phúc và nguyên vẹn trái tim đối với nhau. Tình yêu tưởng chưa đến nào ngờ đã đến rồi. Nó đi bằng bước chân nhung không tiếng động.

Tôi khẽ vả miệng Chia rồi chụp môi tôi lên đó.

Bỗng ngoài có tiếng gõ cửa rầm rầm. Tôi giật mình hỏi.

– Ai đóng cửa hồi nào?

– Em đóng và khóa lại sau khi má đi.

– Má cũng ra Củ Chi à ?

– Không biết, thấy chú Sáu Huỳnh bảo. Chậc ! buôn bán cái gì, ba con lũng sĩ!

– Phải mất đến mười phút nàng mới lên khỏi hầm, nhưng cứ lằm bằm không ngớt. Tôi nằm dưới hầm mà nghe tiếng rí rố thì biết cả bầy con gái tràn vào. Tôi nghe tiếng quen quen:

– Ba anh Hai còn ở đây không?

Chia trả lời cộc lốc.

– Bí mật!

– Cha chả, bí mật để độc quyền chiếm hữu ông thầy pháo hả?

– Ai chiếm hữu gì đâu. Ở đằng chú Chín Lộc không có hầm, nên chú gởi bác ở nhà tôi chớ tôi có quyền gì?

– Hì hì. . . nói chơi chút vậy mà con nhỏ quạu đeo, bộ mày sợ mất màu cây K54 hả?

Thấy tình hình có mòi găng tôi phải lên giàn xếp nhưng thực ra tôi cũng đang cần sự giúp đỡ của mấy cô. Tôi còn ở lại đây vài ngày nữa chờ móc em tôi vô. Trong mấy ngày nay tôi sẽ đi với các đội dũng sĩ để nắm tình hình và địa dư cụ thể hầu dễ bề xoay chuyển khi chỉ huy đơn vị H6.

Sự xuất hiện bất ngờ của tôi làm đám nữ dũng sĩ reo mừng và Chia bất mãn. Nàng nói nhát gừng:

-Đó, ăn thịt ăn cá gì ăn đi ! Rồi ngoe ngoảy bỏ đi vô.

– Ê, cô chủ, cho tôi mua ít đồ coi!

Chia không quay lại, tôi bảo:

– Chủ quán đây, muốn mua gì, bán cho.

Cô Ba Cấm, tôi quen lần trước trong dịp bố trí địa đạo chiến cho gã Bọ Chét quay phim, nay gặp tôi thì mừng ra mặt, không ngượng ngập gì hết:

– Em nghe đồn ba anh đến ở đây, nên công tác xong, em kéo cả bọn lại cho bác chọn, bác chấm đứa nào làm dâu thì em gả cho anh.

Tôi cười đẩy cây thoa mỡ bò luôn:

– Ba anh nói hễ anh ưng cô nào thì ba anh chấm cô nấy. Ba anh còn thưởng cho mấy em tiền để nấu chè nữa đây!

– Vậy anh chấm cô nào?

Ba bốn nàng chĩa mặt tới tôi và hỏi một lúc. Tôi bảo:

– Để thong thả đã chớ. Muốn chấm một cô phải có chỗ có nơi chớ đâu mà mau vậy được!

Ba Cấm háy:

– Em biết anh chấm ai mà !

– Ai?

– Cô Bảy Sầu Riêng chớ ai ! Hí hí! Anh khôn tổ bà ! Vô đó làm địa chủ ngay. Một trăm mẫu ruộng, một vườn sầu riêng, một ngôi nhà ngói năm căn. Trời đất ! Chừng đó tụi em bén mảng tới, ông địa chủ sẽ bảo: đi chơi chỗ khác, tui không có quen với mấy người.

– Mấy chị mua gì tôi bán cho rồi tôi đóng cửa tiệm?

Chia từ sau nhà nước ra nói như gắt. Cô bé Phượng có gương mặt tròn trịa và nước da trắng trẻo nhất bọn cười châm chọc:

– Trời chưa tối mà đóng cửa quán làm gì..ì hả cô chủ?

– Làm gì làm kệ người ta.

Ba Cấm giục:

– Thôi minh mua đồ rồi cút cho mau để cho người ta khóa cửa tụi bây ơi. .

– Xí nói cái giọng xốc ốc đó nghe hết dô rồi nghe !

– Vậy hả?

Ba Cấm đầu têu, có lẽ cũng hơi tức mình vì lý do gì đó chưa rõ, bèn chọc thêm:

– Thôi mà cô chủ ơi giận chi cho mất sức khỏe. Nhiệm vụ của anh Hai từ Bắc về trong này là dạy bắn pháo cho tụi này chớ không phải đứng bán quán cho cô đâu. Trước khi tụi tui rút tui, tôi xin giới thiệu với anh Hai các học sinh của anh do quân đội tuyển chọn gởi tới đây:.Đây là Phượng em bé nhất của đội, đây là Phương, đây là Út Nhỡ, đây là Bảy Nê, còn cô Bảy Sầu Riêng hôm nay mắc đi hộ tống bà Năm Đang lên Hố Bò tạm vắng mặt. Vậy chừng nào thì ông thầy pháo lên lớp được, ông thầy phá..áo?

Tôi không ngờ có việc bất thường như vậy nên hỏi Ba Cấm:

– Có trường trại gì chưa em?

– Xong cả rồi. Chờ hoài không thấy anh đến sợ anh trở về R nên tụi em đi vào bắt anh đây! Nói đùa anh đừng giận em út tội nghiệp nghe anh Hai. Chúng em đã dọn cái trường học bỏ hoang gần ngã ba kia rồi. Chờ anh đến là khai mạc.

– Ừ thôi mấy em về đi để anh đi lấy dụng cụ rồi tới.

– Rút lên! Pháo Đồng Dù mau hơn phản lực đừng để tụi em chờ hoài nghe.

Ba Cấm nói xong, cả đội rút lui. Tôi quay vào trong, định vuốt giận Chia, nhưng chưa kịp nói gì thì bên ngoài đã có khách kêu mua hàng. Chia nạt tướp:

– Ra bán hàng !

Tôi hoảng hốt chạy ra thì đụng mấy ông tướng đến mua rượu mà đòi rượu đế uống cháy họng chớ không chịu mấy thứ uống như thứ đồ rượu cúng đạo lộ và mặt ông nào nấy cũng hầm hầm sẵn sàng gây sự. Chia đứng nép qua một bên rồi thụt lùi vào trong bỏ đó cho tôi. Thấy tôi cũng có vẻ nhà binh, ông hói đầu tự giới thiệu:

– Tôi là quản lý của dê hai (D2 tức là tiểu đoàn 2) lùng bắt vài chai về nhậu tiếp. Đang lên kháp mà hụt nước cay tức dế quá, tụi nó không chịu ngưng tiệc.

Họ thấy nhiều mặt hàng bèn mua thêm đủ thứ: muối đường, xà bông, dầu lửa, thuốc rê, thuốc ngay… Tôi hỏi:

– Sao các đồng chí.không vô ấp chiến lược mà mua cho rẻ?

– Ở trỏng thì rẻ thiệt đó ông ơi, nhưng có khi phải đổ máu chớ không dễ đâu. Hồi trước nó còn mở cửa hí hí, chớ bây giờ nó khóa chặt rồi, mình muốn vô phải chui lỗ chó.

– Sao tôi nghe các cô thanh nữ đi vô Đồng Dù như đi chợ vậy?

– Thì mấy cô đó đi vô làm mướn, từ quét nhà , lau giường đến giặc xì líp cho Mỹ, có gì mà khó . Khó là khó cho cái đám ba ngạnh tụi tui thôi.

Các ông khách ra về, Chia lú ra quắc mắt nhìn theo:

-Mấy thằng cha dê xồm!

Tôi gắt:

– Không nên nói vậy em! Người ta là cán bộ cả đó.

– Anh không ra, mấy ông nuốt sống em chớ cán bộ gì! Vì vậy em mới la bài hãi cho anh ra chớ đâu phải em không biết bán hàng.

Tôi trở lại việc đi dạy pháo cho đội du kích. Chia đang trớn quạo, quạt luôn:

– Pháo gì mà dạy có mấy ngày tụi nó học thuộc. Viết chín chữ trật luôn mười, anh liệu dạy kết quả bao nhiêu. Sắp sửa đi công tác rồi hổng ở nhà nghĩ, dạy gì tụi đó ?

– Kế hoạch của ở trên là dạy cho đội nữ sử dụng súng cối để pháo vô Đồng Dù.

– Đồ ba con lười nhác trốn việc nhà vác súng đi nhong nhong đêm nào cũng tụ tập giỡn hớt chớ bắn được phát nào vô Đồng Dù? Ít bữa rồi chang bang cái bụng lén lén lội sông Sài gòn qua bưng Còng nhờ ông Tám Lê phá thai chớ pháo kích ai?

Tôi thấy đụng chạm tự ái, nên gạt nhẹ :

– Em đừng nói vậy, thoát ly như mấy cổ là hi sinh hạnh phúc cá nhân rồi, nhờ vậy em mới yên ổn ở đây!

– Em đã chán ở đây rồi. Nay mai má em sang tiệm này lại cho người ta để ra Củ Chi bán vải với má con Ua. ở đây dễ chết lại thấy nhiều chuyện chướng mắt quá hà . Để rồi anh coi nay mai bị Mỹ rượt cho vài trận thì bỏ về nhà hết trơn!

Kể ra Chia nói cũng chẳng sai là mấy, cuối năm 68 đội này giải thể một cách âm thầm, đa số bỏ về nhà, một vài cô vô làm ở quận đội, vài cô theo Bảy Mô lên khu để được huấn luyện đặc công. Nhưng chưa làm được gì thì bị Phượng Hoàng móc được và chiêu hồi cả con chim đầu đàn là cô Bảy Sầu Riêng. Từ đó đội “dũng sĩ” của ông Tám Quang lặn mất trên đất Củ Chi.

Chia hầm hầm, càu nhàu, nhưng tôi dã lã bằng những cái hôn và hứa sẽ trở lại trong vài tiếng đồng hồ.

– Anh đến coi quận họ bố trí lớp học ra sao. Đây là công tác không phải chuyện chơi!

Chia vẫn cau có:

– Công tác, công tác gì, mấy ông đày anh riết còn da bọc xương cho coi !

Tôi đi. Chia đứng ở bẹ cửa, không vẫy tay mà mắt tràn lệ Tôi muốn quay trở lại phức cho rồi. Công tác mẹ gì. Để hôm khác! Tôi thầm nhủ. Nhưng tụi con gái đang đứng chờ ở đầu đường. Út Nhỡ ngoắc lia. Tôi đi tới. Bọn chúng dắt tôi vào một trường học cách đó không xa. Thoạt nhìn tôi đã thấy não lòng. Cỏ lan vào đến giữa nhà. Bên trong chỉ là những cái cọc chơ vơ. Vòng ngoài mấy đoạn giao thông hào. Dễ thường thầy trò nhào xuống đây khi có pháo hoặc bom. Chết hụt rồi trò còn trí đâu học, thầy còn thần đâu mà dạy. Cảnh khổ này là do ý nghĩ ngông cuồng giải phóng Miền Nam mà ra. Tôi hỏi:

– Bộ trường bị ăn pháo hả mấy em?

– Chưa ! Mới sém sém thôi. Nhưng cô giáo dông ra ấp chiến lược Cây Bài rồi.

Ba Cấm tiếp theo Út Nhỡ:

– Bây giờ tới anh dạy tụi em!

– Quận xã đồ đâu hết?

– Quận xã nào?

-Thì lúc nãy em nói trường xong cả rồi chỉ chờ anh tới….

Cả bọn ré cười mỗi cô một kiểu. Cười đã đời rồi Bảy Nê mới nói:

– Cũng như cái hồi quay phim địa đạo chiến của tụi em ở Hố Bò vậy thôi!

Tôi ngơ ngác không hiểu cô muốn nói gì? Út Nhỡ hỏi:

– Cái ông nhà báo gì đó về tới bển chưa anh?

– Về lâu rồi. ông ta quan trọng lắm đó. Ổng nói một tiếng còn hơn anh bắn cả trăm trái pháo.

– Mèn ơi! Cái địa đạo của tụi em chắc là ông khuếch trương ghê lắm.

Tôi hỏi về lớp học. Tụi con gái cười rộ lần nữa. Bé Phượng lắc đầu:

– Mấy chỉ gạt anh đó, có lớp gì đâu.

Tôi ngẩn người ra. Ba Cấm tới ôm cổ nói vào mặt tôi:

– Bộ anh bị con nhỏ chủ quán đó bỏ thuốc mê hả?

Tôi hất tay nàng ra một cách mạnh dạn nhưng nó dính như chân thằn lằn, hay tôi không cương quyết, cho nên Ba Cấm càng áp sáp mặt tôi, nàng nghiến răng làm như giận dữ:

– Cán bộ khôngcó cưới vợ thương buôn nghe chưa!

– Thương buôn không phải là nhân dân à?

– Mất lập trường nặng! Mất lập trường nặng!

– Kiểm thảo ba ngày ba đêm liền!

Bọn con gái xúm quanh tôi đứa níu vai, đứa vò đầu, đứa móc túi. Ba Cấm tuyên bố:

– Đứa nào muốn hun ảnh thì hun đi tụi bây, để hôm rày ao ước.

Cả bọn ôm cứng lấy tôi. Tôi nghe chùn chụt chùn chụt như đạn mút rơi xuống nước liên hồi. Một chập chúng bỏ ra, tôi quay mồng mọng. Bảy Nê, con gái to con, không xấu không đẹp, có thân hình rất hài hòa, khoẻ mạnh xốc vác nhất đám trong lần đào hầm cho thằng Bọ Chét quay phim, nói:

– Nội tụi em anh không coi được đứa nào nên phải lấy con chuột hà nam đó à?

– Anh có… gì đâu….

– Thôi đi! Không có gì mà quán ban ngày lại đóng cửa !

– Thì… thì…

– Lúc anh ra em thấy cái mặt anh đỏ rần còn chối nữa!

– Bây giờ kêu tôi ra đây hạch tội à?

– Tụi em nói thiệt, tụi em không để anh lấy con thương buôn đâu. Anh phải coi chừng nó là đòn xốc hai đầu đó.

– Nghĩa là sao?

– Nghĩa là sa..ao? Xí, anh là mùa thu, lập trường anh để đâu? – Út Nhỡ vênh mặt – Má nó ra thành như cơm bữa còn nó thì ở nhà rù quến đàn ông con trai, anh thấy cái kiểu ăn mặc của nó không? Tụi em toàn là vải thô, còn nó bọc thây bằng nhiễu lãnh, tê-tô-rông màu này màu kia.

– Má nó công tác cho chú Sáu Huỳnh, chú Chín Lộc mà !

Bảy Nê rồi nói:

– Tác, tác gì? Tác hoác thì có. Ừ, có ngày bỏ bom ngay đầu cho coi. Anh thấy mấy trái pháo thụt ngay chân bữa nọ không? Pháo đui mà thấy đường nhen ngay dữ vậy à?

Tôi hơi giật mình. Mấy lần nhậu đều ăn pháo hụt cả . Vậy cũng nên cảnh giác. Ba Cấm nói:

– Bây giờ anh đi đào hầm với tụi em. Có bề gì tụi em bảo vệ cho anh. Luôn tiện tụi em cho anh biết đường đi nước bước của tụi em để sau này anh cần mà không có tụi em thì anh cũng biết, chớ anh làm ông chủ quán hoài rủi tình hình động anh làm sao chui?

Thấy ý kiến các nàng đúng ý định của tôi, tôi bèn đi theo đội du kích đào hầm. Vừa đi, Ba Cấm tiếp:

– Mấy ông mùa thu về đây đều mất uy tín hết. Chỉ còn mình anh đó. Liệu cái thần hồn. Anh có cần cưới vợ thì chị Bảy Sầu Riêng đó, đẹp, có chữ lại có điền sản. Cán khu, cán R đều bị chỉ cho quác ra hết đó !

Bảy Nê đang đi trước quay lại cắt ngang:

– Còn nếu anh ngại chị Bảy thành phần không cơ bản thì có chị Ba em đây cũng đẹp vậy.

Ba Cấm vói tay đập vai Bảy Nề:

– Mày quỉ! Tao vã miệng bây giờ.

Bảy Nê vẫn chưa dứt:

– Còn nếu anh muốn học sinh cỡ tuổi hai con chuột hà nam Ua-Chia thì có cặp gà dò Phượng-Phương đây . Anh chấm đứa nào tụi em gả đứa đó cho anh, tụi em sẽ đứng ra tổ chức lễ tuyên hôn có cơ quan đoàn thể xã quận dự, và có cha mẹ hai bên đến dự đàng hoàng. Chớ nhất định tụi em không để cho anh xáp vô cái quán đó.

Tôi tin là Sáu Huỳnh và Chín Lộc không đến đỗi khờ khạo để mắc bẫy. Nhất là Chín Lộc đã từng đi học Liên Xô về cái nghiệp dư tình báo. Nhưng nghe Ba Cấm nói tôi cũng hơi ngại. Dám lắm. Cớ gì mà cả Ua lẩn Chia đều đeo tôi nhanh và chắc như vậy. Và cả hai đều có vẻ căm ghét đội dũng sĩ này. Chia thì đã không ngại dâng cái ngàn vàng cho tôi còn Ua thì chỉ nhử cho con mồi vồ. Vồ xong, còn màn gì sắp tới? Tất cả đều xảy ra trong lúc tôi đang làm cây móc để đem em tôi nối cho đám tình báo của Chín Lộc ngoài Sài gòn.Chuyện này không đơn giản đâu. Tôi thầm nghĩ.

Tôi nhận thấy Ba Cấm là cô gái khôn ngoan lại đẹp không kém Bảy Mô và Thu Hà. Bảy Mô thì tôi chỉ có tình cảm khá đậm chứ chưa ăn chịu gì. Còn Thu Hà bặt tin hơn một năm rồi. Vậy thì cái đường khương tuyến của nòng pháo Thiên Lôi này sẽ xoáy vào ai? Chim đậu không bắt để bắt chim bay ư? Cái đời tôi cứ như thế. Từ bé nó đã thế rồi. Lúc đầu kháng chiến gia đình tôi tản cư tránh Tây đến ở đậu trong một nhà : giàu. Cô dâu của nhà này không yêu thằng chồng mặt gà mái vì ham của mà cha mẹ cô gả cô cho anh ta. Đêm tân hôn, cô mới vỡ lẽ ra hắn không phải là đàn ông. Cô nàng yêu tôi đắm đuối. Lúc đó tôi mới mười bốn tuổi, nhưng cô coi tôi như một nhân tình bé nhỏ . Cô dắt tôi đi Sài gòn chơi và mướn cả phòng ngủ hai đứa hú hí với nhau. Cô nói cho tôi nghe những chuyện mà tuổi tôi chưa từng biết. Cô ôm ấp tôi rủ rỉ bên tai: Chị mong cho bom bỏ cả nhà nó chết đi để chị sống với em… Sau đó chiến tranh tràn lan gia đình tôi lại chạy, tôi phải chia tay với nàng. Nàng bắt tôi phải thề: Không được yêu ai mà chỉ yêu nàng mà thôi! Tôi đã thề . Lần đó nàng bảo tôi yêu nàng.

Và tôi đã vâng lời nàng. Đó là lần đầu tiên tôi biết sự rung động của trái tim và vị ngọt của nước mắt con gái. Rồi bây giờ tôi lại cũng là thằng chạy vòng che chung quanh cái trận địa ái tình. Đánh thì có đánh, trúng thì cũng trúng lắm, nhưng rốt cuộc chẳng đi đến đâu. Tôi lại hóa thành cái mục tiêu cho những trái tim bắn.

Đột nhiên Bảy Nê hỏi tôi:

– Anh chịu chị Bảy Sầu Riêng không? Nói phức đi rồi tiến tới, để lâu nó nguội.

– Rủi anh chịu, người ta không chịu thì sao?

– Em biết chỉ chịu anh.

– Sao chắc vậy?

Út Nhỡ thêm vào:

– Anh nên kiếm vợ trên hai mươi, đừng có hốt đám con nít, coi không được.

– Chồng già vợ trẻ thì xinh. Vợ già chồng trẻ như hình chị em! – Ba Cấm nói – Nếu ảnh mà quơ bà Năm Đang hay bà Hai Xót mới khó coi, chớ còn anh cưới cỡ con Phương hay con Phượng thì đâu có gì là chèo ách.

Phượng và Phương kêu lên oai oái:

– Chị quỉ nà !

Nhưng Ba Cấm nói rướn tới:

– Con gái đẻ vài đứa thì già ngắt, thấy hết muốn dòm rồi !

Phương trả hỏa:

– Chị ghẹo em hoài, em khui chuyện của chị ra cho coi!

– Khui thì khui chớ chị đâu có sợ.

– Thiệt không? Hà hà… ông nhạc sĩ đờn cò đã kéo chị tới đâu rồi

Ba Cám xì một tiếng và cười hô hố. Út Nhỡ quay mặt lại:

– Lớ quớ bị mắc ngạnh con cá chốt đó đa !

Ba Cấm cười:

– Vợ y bỏ y ra Sài gòn lấy lính là vì ba cây đờn cò đờn gáo đó.

Bảy Nê chọc vào:

– Cái gáo bể, còn có cái cần, đờn không kêu.

Bé Phương dẫu mỏ:

– Ý ! ông khảy bài Kim Tiền Bình Bán hay lắm chớ chị !

– Ừ hay lắm! Hay đến nổi má Tám run tay ngoáy trầu hết nổi.

Phương moi cái gì trong ba lô tôi, giơ lên quơ lia và la:

– Ảnh lậm bang rồi mấy chị ơi ! ảnh lậm bang rồi.

Bảy Nê chụp lấy và cười.

– Hình con quỉ đó hả? Ừ, con nhỏ học sinh bận áo dài trắng, nón lá bài thơ đi xe đạp coi đã tỉ quá hả. Hèn chi mà ảnh không mê.

Phượng lại đưa thêm tấm nữa:

– Cái này mới tình!

Ba Cấm giật lấy xem rồi lật ra bề sau lẩm nhẩm đọc: Thân mến tặng anh yêu quí của đời em. Phượng cũng bắt chước lật phía sau tấm hình kia ra đọc: Tặng anh tình yêu bất diệt.

– Ở đâu mày lấy được vậy?

– Em móc túi ảnh hồi nãy.

Tôi mới hay bị điếm xâm nhập. Nhưng trong bóp còn nhiều thứ bí mật, nên tôi la hoảng và chụp lại. Nhưng bé Phượng lẩn tránh, rồi cho Bảy Nê mấy bức thư, bảo:

– Chị đọc đi. Thư của ai gởi mà mùi hết cỡ ? Em đọc tự nãy giờ muốn té xỉu mấy lần.

Tôi bảo:

– Không còn gì trong hết, đưa cái bóp lại cho anh!

Phượng lại moi ra mấy cái chứng minh thư và reo lên:

– Anh Hai mà cũng sợ.. . mấy chị ạ !

– Sợ gì?

Phương giơ lên. Cả bọn cười ré. Ba Cấm nói:

– Ai có con với anh là người đó mừng hùm, anh sợ gì mà phải dùng thứ đó chớ !

Tôi đẩy đưa cầm chừng.

– Mấy em rắn mắc quá trời! Moi hết bí mật của anh.

– Hình hai con quỉ đó cho anh hỏi nào vậy?

– Tra tấn tôi hoài khổ quá !

– Mới đây mà đã anh yêu quí của đời em! mà đã tình yêu bất diệt. Chạy nhong nhong ra Củ Chi có ngày Mỹ nó cho ăn đạn 155 ở đó mà bất diệt.

Tôi đi theo bọn con gái tới nhà bác Tám, ông già của cô Tư Bé ở Bàu Trăn, kỳ rồi Ua ghé xin dừa. Bác Tám đãi cả bọn một bữa khoai mì luộc với mắm sặc ăn no cành hông. Tôi ra mé hiên nhà uống nước mưa. Thấy hàng mái vú tôi nhớ nhà tôi quá chừng. Nhà tôi cũng hứng nước mưa để dành uống quanh năm. Cả xóm, ai có thèm nước mưa đều đến nhà tôi uống. Trên nắp mái có cái tô ông Rồng. Người yếu yếu chỉ uống 1/3 tô là chạy tét. Ừ nhỉ, hằng ngày mình đều kê cái tô đó vào miệng mình. Chạy chơi đã đời về ực một tô . . . không biết cái tô ông Rồng miệng bịt đồng đó còn hay đã bể rồi? Chắc tiêu rồi. Tụi Tây đốt nhà tôi hồi kháng chiến rồi mà tôi quên đi. Bảy Nề trêu sau lưng tôi.

– Làm gì mà đứng ngớ ra vậy anh Hai?

Ba Cấm và Út Nhỡ đi tới. Út Nhỡ uể oải:

– Ăn cơm chúa phải múa tối ngày. Đi! Đào hầm với tụi em, anh Hai !

Tôi đi đằng sau, nhìn những bộ đùi trắng nõn như lõi chuối. Đàn ông chỉ lụy có bấy nhiêu thôi.

-Tụi em đi tấn công Thổ địa nên làm có vẻ hòm tướng vậy đó. Còn anh, anh chỉ nên mặc quần tiều. Cả áo thun cũng bỏ ra nữa !

Tôi hỏi Út Nhỡ.

– Mấy em đào hầm bí mật hay địa đạo?

– Ở đây đâu đào địa đạo được anh. Đất quá thấp so với Phú Mỹ Hưng. Chỉ bên Bàu Lách hoặc Gót Chàng mới đào được. Ở Bầu Tròn gần đường đá đỏ cũng có, nhưng địa đồ đào hồi 62, bây giờ đất sụp hết không có ai sửa sang nên bỏ luôn rồi. Đến như hầm bí mật mà bỏ lâu không xài cũng hỏng. Trời mưa rể cây ăn luồng đất sụp là cả một vấn đề. Lại còn cái thứ ghẻ xốn nữa. Thứ này mới ác.

Ba Cấm nói:

– Nếu anh có về R mà dự đại hội như kỳ rồi, thì nói với trên đó muốn lựa kiện tướng địa đạo thì chỉ nên căn cứ một tiêu chuẩn thực tế chớ không nên đọc báo công. Đó là thẹo ghẻ xốn. Cứ cởi áo quần ra thấy ai có nhiều vành đai đen nhất thì đó là kiện tướng. Hổng tin anh biểu bà chính trị viên của em làm vậy rồi anh sẽ thấy. Vì lũi dưới đất nên ghẻ mọc khắp người.

Út Nhỡ quay lại trừng mắt:

– Con nhỏ nói vô duyên quá.

– Chớ không phải à? Nội đây hổng có mạng nào mang vành đai đen bằng chị hết!

Út Nhỡ xấu hổ đánh trống lãng:

– Hồi 62, xã động viên toàn thể đi đào địa đạo ở Gót Chàng và Bàu Lách vui lắm anh Hai ạ. Người ta vác cuốc đi rần rần như đi chợ vậy. Đợt đầu tiên em nhớ là xã tổng kết đến hai ngàn nhân công đào một tuần lễ, được non một cây số. Đó là đợt lớn nhất được quận tuyên dương toàn quận. Nhưng đào rồi bỏ chớ đâu có ai chun.

– Trâu bò cũng không ham à?

– Trâu bò gì?

– Vậy mà anh nghe nói là địa đạo thôn liền thôn trâu bò xuống luôn. Còn người ta họp chợ dưới đó.

– Chèn đét. Ai lá…áo dữ vậy. Xuống vài chục người là đã ngộp thở rồi. Chỗ đâu mà họp chợ?

– Mấy cô giấu tôi mà !

– Em có giấu một chút nào cho pháo Đồng Dù ăn em đi. Em nói không có là không có mà.

Tôi vừa đi vừa ngắm mấy cặp đùi thì đám tiên nữ dừng lại bên bờ trúc tiếp giáp với một khu rừng chồi. Út Nhỡ trỏ tay chỉ địa hình cho tôi như một vị chỉ huy:

– Nếu anh có bị xe tăng đuổi thì từ đây anh có thể vọt vô khu rừng này, qua hết rừng tới ruộng là đụng Bàu Lách. Ở đó có địa dài chừng hơn trăm thước. Vài chục người thì xuống đỡ được một vài tiếng đồng hồ còn ở cả ngày thì moi lên chắc ngất ngư hết cả.

Bảy Nê gạt ngang:

– Chưa chi đã trù mạt.

Cả bọn cởi bao đạn lột súng dựng dụm đầu trên một mô đất. Út Nhỡ trỏ ra phía bờ trúc và nói:

– Thân chính của địa nằm dọc dưới hàng trúc đó.

Tôi trỏ bụi tre xa xa và hỏi:

– Sao em không đào dưới hàng tre kia. Tre cứng hơn trúc xe tăng không càn nhẹp nổi, mà lại dùng trúc để làm chướng ngại?

Bảy Nê đáp ngay:

– Anh nói đúng, nhưng bây giờ nó khôn lắm. Hễ gặp bụi tre là chúng đánh tan rồi bắt đầu ủi tìm miệng hầm. Cho nên bây giờ chúng em không dùng bụi tre để ngụy trang nữa ! Máy ủi của nó ác lắm. Cây cỡ một ôm nó đi qua là ngã hết. Rồi máy xúc tới. Nó xúc một phát lòi miệng hầm liền. Rồi tung trái khói kêu Vi xi, vi xi, nếu không lên nó liệng lựu đạn. Không lên nó đánh mìn. Ở dưới Phú Hòa Đông nó chơi kiểu đó mấy ông bả tróc hết, chạy bỏ hầm.

– Không lên luôn, nó làm gì?

– Bom! tới bom mình không lên cũng văng lên. Bởi vậy chị Năm Đang cho con Mô đem nửa đội về Gót Chàng tìm địa thế tốt, còn một nửa ở đây. Nhưng chỉ đào hầm….

– Không xài địa nữa à?

Địa hết tác dụng rồi anh ạ. Sau khi thấy bãi bùn do B52 gây ra từ Rừng Làng đến Chợ Mới bề ngang trên hai cây số bề dài mười cây lsố à thầy chú trồi lên như chuột bỏ hoang, dông tuốt qua Bến Cát bộn.

– Pháo không tác dụng gì à?

– Sao không? Pháo cũng khoan trên dưới một thước rưỡi gáy hầm chỉ chín tấc, chịu sao nổi.

Trong lúc Bảy Nê và Út Nhỡ nói chuyện với tôi thì cả đội đã sắp hàng dọc chuẩn bị tư thế chuyền đất đổ xuống một cái mương lạn để phi tang. Út Nhỡ là linh hồn của công tác. Nàng trỏ tay vào hàng trúc, giải thích cho ông thầy pháo:

– Hầm này sẽ nằm dưới rễ trúc. Năm đứa có thể chui sống được một ngày khỏe re.

– Lâu nữa không được à? Rủi nó chốt trên đầu rồi làm sao?

– Ở đây chắc tụi nó đến rồi đi chớ không chốt.

– Tại sao em chắc như vậy?

– Vì đây là khu rừng lẻ. Nó không nghi có địa. ở trên số Bò và Rừng Làng mới bị nó nghi.

– Sao em biết nó nghi?

– Vì nó tìm được nhiều miệng địa. Cho nên mỗi lần vô, nó trụ lại ba, bốn ngày. Trời ! Nó chơi đủ kiểu mà anh ? kiểu mới nhất là chó. Eo ơi! kiểu này thì chúng em hết đỡ được. Chó nó đánh hơi tài lắm.

– Hồi chín năm anh nghe mấy ông ở hầm dùng tiêu sọ đâm nhuyễn rắc quanh lỗ thông hơi. Chó Tây hít vô một phát là chạy tuốt.

– Em có nghe mấy chú nói tác dụng của tiêu sọ nhưng bây giờ không dám xài nữa. Vì Mỹ khôn lắm, chó đang khịt hoặc hửi hăng mà bất thần bỏ đi là chuyên gia nó đến ngay !Nó hửi cái lỗ mũi con chó anh ạ. Tụi Mỹ là ghê gớm lắm! Nó chỉ dại gái thôi ngoài ra không dại chuyện khác. Bởi vậy em lợi dụng cái đám rau mơ kia.

-Để làm gì?

Mùi rau mơ hăng hắc nhưng không gắt bằng tiêu sọ. Chó có thể bỏ đi, nhưng không bỏ ngay, như đối với tiêu sọ. Nếu chuyên gia nó có đến thì nó nghe mùi la rau mơ nó không nghi.

Tôi cười:

– Các em cao kiến thật!

Tôi khen cho các em vui vậy thôi chớ trong bụng buồn tênh. Ta đánh với một thằng địch khoa học kinh hoàng trong khi ta chỉ có ba cái thứ thủ công nghiệp buồn cười như chông, lựu đạn, súng ngựa trời… và địa. Ngoảnh đi ngoảnh lại, thấy đội hình thưa đi, tôi hỏi như giật mình:

– Ba Cấm đâu?

– Hì hì. .. nó xuống âm phủ rồi. Anh muốn xuống với nó không?

Út Nhỡ dắt tôi lại xem cái miệng thí. Bé Phương đứng ở bên miệng thí thọc một cái thanh tre có móc xuống rồi kéo lên một ki đất đẩy. Các cô chuyền tay nhau đổ xuống mương rồi ném trả lại chiếc ki cứ như thế sợi dây chuyền liên tục làm việc.

– Mới đây mà đã sâu cỡ đó rồi à?

– Đào xuống thì dễ , trổ ngang mới khó anh ạ .

Tôi bảo Phương đưa tôi đứng miệng thí thử một lúc. Mỗi ki đất nặng chừng ba chục kí lô, kéo từ dưới độ sâu hai thước lên mặt đất rồi chuyền tay đi đổ. Đó là công tác trên mặt đất. Dùng cuốc xắn vào đất để làm nên khoảng trống ở giữa lòng âm phủ. Đó là công tác dưới kia. Đứng ở miệng thí một lát, tôi bảo Út Nhỡ cho tôi xuống một phen cho biết mùi âm phủ . Đám nữ binh reo lên vừa ngạc nhiên vừa vui mừng:

-Để cho thầy pháo đọ sức với đất thép.

Tôi vừa thay quần áo ngắn vừa bảo:

– Anh đào công sự phát ở đất núi ngoài Bắc kìa các em ạ Đất này ăn thua chi ! Mà phải đào với đúng qui cách trong khuôn khổ thời gian nhất định chớ không phải tới đâu hay tới đó đâu!

– Đồng chí nào dám đi cặp với anh Hai nào? – Út Nhỡ hỏi – Ba Cấm dám chầu đôi không?

– Ai mà chịu cho nổi.

Ba Cấm muốn đi với tôi nhưng lại xấu hổ bèn đùn cho bé Phượng. Phượng ngây ngô không suy nghĩ gì nghe Bảy Nê bảo thì sẵn sàng. Nàng lôi tay tôi. Tôi nhìn cô bé mặt mũi trong veo mà tội nghiệp.

Ba Cấm và Bảy Nê leo lên mặt mày như ôn dịch, mình mẩy như ma trơi. Thấy mà đau lòng. Con cái nhà ai cho đi như vậy Quả thật cách mạng là dã man, từ đày đọa cho đến giết chóc, chuyện gì cũng dám làm cả. Khổ thay chỉ có con cái bần cố nông gánh chịu, còn con cái lãnh tụ thì không hề rớ tay vào những việc mà họ gọi là vinh quang, như đi vào Trường Sơn phơi xương vậy. Thấy bé Phượng còn non như trái quít vừa ra da lươn, tôi hỏi:

– Nhà em ở đâu?

– Dạ ở Bến Nẫy, dưới Phú Hòa Đông

– Cha mẹ còn đủ không?

– Dạ còn. Bác em là ông Mười Thơ khu ủy viên. Ông bảo em về văn phòng ông để học đánh máy nhưng em không thích sống gần mấy ông già đạo đức giả.

– Úy! Sao em nói kỳ vậy tội chết?

Phượng phang luôn:

– Tội lội sông chổng mông hết tội chứ gì anh. Các ông tóc bạc ông nào cũng có một cô thơ ký, cần vụ đáng tuổi cháu nội cháu ngoại. Đêm thì ngủ chung hầm, võng hai từng, ông ở tầng dưới cháu ở tầng trên.

Tôi không thể bụm miệng cô bé được nên đành nói lãng ra :

– Hồi anh ở Bắc Giang nhiều chỗ đất cứng cuốc không nổi phải gánh nước tưới đó em.

– Ở đây có vùng đất pha đá đào nhoáng lửa, anh ạ.

Ba Cấm và Bảy Nê đã trổ ngách được chừng năm tấc. Tôi và Phượng tiếp tục sự nghiệp. Tôi cầm cán cuốc còn ấm hơi tay Ba Cấm. Tôi bổ phát đầu, không ăn thua gì cả. Chỉ làm rung rung cây đèn cầy trên vách. Phượng thấy vậy bảo:

– Anh lùi ra cào đất vô ki thay cho em, để em vào làm thử cho anh xem.

Tôi nghe lời Phượng ép mình sát vách hầm để Phượng bò vô ngách. Nàng cạ cái mảng hông mềm mại vào ngực tôi như lửa cháy. Tiếng của Út Nhỡ từ trên vọng xuống:

– Còn đèn cầy không? Nè, lấy đốt thêm lên để tối hù thầy trò không thấy gì hết rồi quơ trúng nhau đó.

Tôi nghe chiếc đèn cầy rơi trên lưng tôi. Tôi nhặt lấy và đưa cho Phượng. Quả tình cây đèn cháy sắp hết. Mỗi một phiên là một cây đèn. Phượng ngồi xếp bằng hai tay cầm cây cuốc cán ngắn giơ lên quá vai nhưng không đụng nóc hầm, rồi bổ tới, lưỡi cuốc ăn phập vào đất đến một nửa, rồi giật xuống. Đất rơi lộp độp xuống chiếc nón tai bèo. Nhờ nó trùm kín đầu, nếu không cái đầu đội nguyên cả mảng đất.

Phượng bổ liên tu, vừa đào vừa nói chuyện:

– Anh xúc mau mau đi kẻo ở trên đó không thấy chiếc ki đưa lên, người ta nghi anh em mình ở dưới này làm cái gì.

– Làm cái gì là cái gì?

– Ai biết đâu. Chị Út muốn cho em đi với anh đó.

– Đi đâu?

– Đi âm phủ . . .ủ . Anh có sợ ma không thì ới với e . . .

Cô nàng phun phèo phèo.

– Tại em nói chuyện với anh nên đất rớt vào miệng thấy chưa. Đâu, quay ra anh coi!

Phượng quay ra. Dưới ánh đèn xanh yếu hàm răng của cô bé chói lấp lánh như những hạt châu. Nàng kề mặt sát mặt tôi:

– Anh lau đất dùm em đi.

– Đâu có gì để lau !

-Anh lau bằng gì cũng được.

Tôi đưa tay vít cổ nàng lại và hai cái mặt dính vào nhau, những hơi thở hít vào thở ra từ buồng ngực thanh xuân của cô bé chuyền sang lồng ngực của gã giang hồ và ngược lại, pha lẫn mùi đất nồng nặc và mùi da thịt rực cháy như hai chiếc bình thông nhau. Hồi lâu, Phượng đẩy tôi ra.

Hai đứa nhìn nhau. Phượng xấu hổ đưa tay lên quệt ngang miệng rồi che mặt. Tôi lết tới ôm nàng hôn. Phượng thầm thì.

– Thôi, buông em ra đi. Ở trên la bây giờ đó !

– Biết gì mà la ?

– Anh không đưa ki đất ra, mà họ đã thò móc xuống kia kìa.

Quả tình, ở trên có tiếng vọng xuống:

– Hai thầy trò làm tuồng gì ở dưới mà êm rơ vậy?

Tôi buông Phượng và ló đầu ra miệng thí la lên:

– Đất rớt vô mắt em bé tôi ! Nó khóc om đây nè!

– Bé nhõng nhẽo nhất đội đấy, anh ráng mà dỗ nó.

Phượng háy tôi và thầm thì:

– Mấy bả muốn xuống đào với anh đấy.

– Thôi, em đào nhanh lên đi rồi đùa đất mau ra cho anh hốt.

Tôi vừa nói vừa ôm ngang eo ếch Phượng trong lúc nàng đang giơ cuốc lên. Cái eo ếch thon thon mềm mại phô ra một mảng ngà bên vạt áo ba bà lem luốc. Phượng giật tay xuống cười khúc khích và kẹp tay lại đề phòng năm đạo quân đổ bộ ngược lên miền Bắc . . . cực. Ở trên lại có tiếng vọng xuống:

– Mắt Phượng hết chưa? Nếu chưa, thì lên cho người khác xuống thay.

Tôi ngước lên bảo.

Hết rồi! Không sao đâu. Em nào móc túi áo anh lấy tiền đi mua trà và đường rồi nấu nước, anh Hai lên uống.

Phượng quay lại tôi:

– Anh biết tư thế ngồi đào chưa?

– Biết rồi. Để anh thay cho.

Phượng buông cuốc. Tôi bảo:

– Phồng tay chưa? Đưa coi.

Phượng cười. Cả răng lẫn cổ nàng hài hòa dưới ánh đèn xanh mát và nổi bật giữa nền đất nâu. Tôi lại ngồi nép vào vách hầm chừa lối cho nàng bò ra. Cái ngách bây giờ hơi sâu nên dễ thở và dễ xoay trở hơn. Nàng xê địch chậm chập ngang tôi thì dừng lại không nhúc nhích nữa. Mặt áp vào mặt, ngực ép vào ngực. Bốn cánh tay nhễ nhại mồ hôi bê bết đất cát, mũi thở như ống bể, tim như ngừng đập. Một trăm cái hôn dồn dập hối hả bạt mạng dưới huyệt mộ trong lúc một bầy quỉ cái đang đứng trên ngó xuyên lòng đất xoi mói, thèm thuồng, ganh tị. Tôi là cái quái gì nhỉ. Sao bọn con gái cứ tấn công? Tội nghiệp. Bao nhiêu trai tráng đi dân công bộ đội đều không trở về . Bọn cán bộ thì già nua, thô lỗ hoặc vô luân, còn du kích thì quá ư thô kệch. Tôi không gì thì cũng dễ coi và có tư cách… chút đỉnh? Ha ha… Phượng thì thào:

– Em với anh đi ra Củ Chi được không? Chịu không?

Một luồng nước đá lạnh buốt chạy suốt xương sống tôi. Cô bé này táo bạo thế. Thấy tôi không nói gì Phượng liền tiếp theo:

– Em thích công tác như con Ua.

Tôi biết Phượng nói trớ. Đằng sau câu nói đó có thể là cả một ý định làm tôi kinh ngạc.

Tôi bắt đầu cầm cuốc bổ từng nhát vào trong lòng đất. Chỉ trong vài chục nhát mồ hôi đã tuôn như tắm, mũi thở nghe ồ ồ và nóng như ống bể lò rèn. Ngọn đèn rung rinh theo từng nhát cuốc như con mắt nhìn hóm hỉnh của vị thổ địa: “Chúng bây làm chuyện bá láp, uổng công vô ích. Tự cổ chí kim chẳng ai ngu mà đi moi gan móc ruột ta như chúng mày. ” Mồ hôi bò xuống lưng đầm đìa và thấm ướt cả chiếc quần đùi rồi làm cho đất ướt dần chém nhẹp chỗ tôi ngồi và mỗi lần tôi nhóm lên để phóng nhát cuốc khai phá thì lại nghe một tiếng đáy quần nhấc lên khỏi lớp bùn mỏng do mồ hôi gây ra.

Tôi từng đào mương mướn ở miền Tây lấy tiền ủng hộ dân quân chánh đảng ở miền Đông năm 1952 bị bão lụt. Ra Bắc cuốc đất tăng gia tự túc cho đơn vị, đi đắp đê chống bão lụt ở Mai Lâm, Thanh Hóa, đào cả chục hầm pháo. Tuy có mệt, có vất vả nhưng không khó khăn và trắc trở như đào địa đạo bây giờ. Giống như con gà nòi bị tréo cánh, trói giò mà bắt phải đá. Cái ác nghiệt nhất là lưỡi cuốc và vách đất chỉ cách nhau có một tấc thành thử không lấy trớn được, giơ cao thì đụng nóc hầm,giơ qua hai bên thì đụng vách hầm. Nó bực bội, nó chật chội, nó bức rức khó chịu như ngặt mình sắp chết vậy . Chỉ qua một lần tham quan địa đạo do cô xã đội Là hướng dẫn năm ngoái, tôi đã đánh dấu hỏi, rồi một lần quay phim địa đạo chiến với thằng Bọ Chét tôi đã nghi ngờ về tác dụng và tầm vóc của địa đạo trong kháng chiến chống Pháp lẫn chống Mỹ và ở đây qua một phiên đào dài bằng đời sống của một cây đèn cầy, tôi có thể quả quyết cái địa đạo Củ Chi thôn liền thôn, xã hèn xã này chỉ có trên đài Hà Nội và đài Giải Phóng mà thôi, chứ không thể nào có ở dưới đất: hai trăm miles.

Phượng vừa cào đất sau lưng tôi ra miệng thí vừa nói:

– Ông thầy pháo bây giờ trở thành ông thầy khoét rồi đó.

– Thầy bỏ ngón nữa!

– Tại em thích anh chớ đừng tưởng ai cũng rớ được em đâu!

– Sao không về thành lấy chồng làm ăn, đi theo chi cho cực thân hả nhỏ?

– Ba em là xã đội trưởng, bác em là khu ủy viên, em đâu có thể đi ra thành được.

– Vậy sao lúc nãy rủ anh?

– Em nói là muốn đi công tác như con Ua khỏe hơn !

– Nói vậy anh không báo cáo đâu mà chối.

– Em đâu có chối.

– Bà con ngoài thành cũng là đồng bào của mình chớ là thù sao !

– Trời ! Phải nói như anh vậy thì hay biết bao nhiêu. Mấy ông du kích nghi ai thì cứ bắt đem ra sông Sài gòn thủ tiêu. Bởi vậy dân ra ấp chiến lược, mình nhắn mời đâu có ai về. Ra đi là như diều đứt dây luôn.

Ngồi dưới hầm chỉ có hai đứa, vừa đào vừa xúc vừa nói chuyện, thỉnh thoảng lại điểm xuyết công tác bằng những cái hôn. Thiệt là thú vị. Bỗng nhiên Phượng buột miệng nói:

– Anh với em như chôn một huyệt ấy nhỉ.

– Em có thích không?

– Ai mà thích chết. Em chỉ muốn sống thôi. Mà sống với anh kìa mới thích. Nhưng em biết anh không ngó ngàng gì tới em đâu. Anh coi em còn nhỏ quá mà, phải không? Anh để ý chị Bảy Mô, chị Ba Cấm thôi thì cũng phải đi. Vì hai chị đó chị nào cũng xứng với anh hết. Nhưng con Chia con Ua thì đâu có bì với anh được. Hai con nhỏ đó chỉ được cái xí xọn thôi chớ không hay ho gì đâu. Anh muốn đi theo cách mạng thì đừng đeo nó.

– Để đeo em hả ?

Phượng đấm lưng tôi.

– Bậy nào? Còn đeo nó thì hết cách mạng rồi!

– Ừ thôi đeo em.

Tôi buông cuốc ngã ngửa ra trên đống đất đùn sau lưng tôi, trợn mắt nhìn lên nóc hầm và thở hắc ra. Phượng trườn mình vào cúi xuống sát mặt tôi:

– Anh làm sao vậy. Có lẽ thiếu dưỡng khí, để em lôi anh ra kẻo chết ngộp.

Tôi cười hắc hắc:

– Anh sắp chết rồi. Hôn anh đi ?

Phượng tát khẽ vai tôi. Tay tôi đưa lên vít đầu nàng xuống ghịt vào mặt tôi.

– Thôi, hết chết rồi! Xúc đất đưa ra đi để mấy bà trời đó nghi.

– Mấy chỉ biết hết chớ nghi gì nữa. Nhất là chị Cấm. Bà Bắc kỳ lai đó không phải tay gà mờ đâu.

– Anh em mình làm nhanh cho họ kéo ki lên không kịp chơi.

– Ừ chiều nay anh em mình sẽ được bầu là kiện tướng.

– Anh không thích làm kiện tướng đâu. Anh chỉ thích ở đây đào hoài.

Bây giờ tôi đã quen với động tác chật chội, không xoay trở nhiều mà vẫn bổ những nhác khỏe. Lưỡi cuốc cắm phập vào đất chính xác và nhanh. Phượng nhắc:

– Anh đừng đào rộng nóc hầm. Giữ nó theo hình chóp nón như chị Bảy Nê và chị Ba Cấm khai mở lúc đầu.

Thầy trò tôi làm theo công thức nhanh nhiều tốt (không rẻ). Chiếc ki lên xuống liền liền. Nhờ vậy không khí cũng đổi thay không bức bối. Cứ mỗi lần tôi quay lại đùa đất ra cho nàng thì tôi cũng tặng cho nàng một mảnh hạnh phúc và được nàng đáp lại gấp bội. âm dương hòa hợp quả là một hiện tượng diệu kỳ. Tôi không thấy mệt như lúc mới xuống nữa. Càng đào cái lòng hầm dài ra thì không khí càng nhiều, tôi thấy dễ chịu hơn, nhưng việc đùn đất ra miệng thì chậm hơn, nên tôi phải dừng lại giúp cho Phượng. Do đó tôi có điều kiện gần nàng và chúng tôi ban hạnh phúc cho nhau đều đều hay có thể nói chúng tôi chỉ dành một nửa năng lực cho công tác còn một nửa để yêu nhau: Yêu trong lao động, vừa lao động vừa yêu, nghỉ chẳng có ở đâu ngoài địa đạo. Đường đã đài như một chiếc giường hẹp có thể nằm thẳng người nhưng người trên người dưới chớ không nằm song song được. Tôi như phát điên lên. Tôi lừa thế, đè lên mình nàng và đòi hỏi cái ân huệ cuối cùng. Nàng chận tay tôi cứng ngắt, thì thào:

– Không nên!

– Sợ họ thấy hả? Vậy tắt đèn?

– Không sợ, nhưng ngại đẻ con hôi đất.

Tôi cười ngất với ý nghĩ vui vui lạ lùng của nàng.

– Mình tắm xà bông thơm.

– Nó có ghẻ xốn thì báo đời !

Cây đèn sắp hết. Tôi bảo: . .

– Tới phiên người khác.

Phượng móc trong túi áo ra một cây to gấp đôi mồi vào, bảo:

– : Em xuống hầm là luôn luôn có sẵn món này.

– Nhưng hết phiên mình lên cho cặp khác xuống.

Nàng ôm chầm lấy tôi:

– Em muốn phiên mình dài gấp đôi phiên khác… Anh mệt thì đưa cuốc đây em thay cho.

Tôi bảo:

– Chừng nào em chạy thì. anh mới thôi.

– Xí! em là kiện tướng đào, kiện đứng miệng thí…

– Và kiện tướng chui nữa phải không?

Phượng vừa quệt mồ hôi ngang trán vừa đáp.

– Không ! Đào thì em hăng hái nhất nhì trong đội nhưng chui thì không bao giờ. Em sợ chui lắm. Ai chui thì chui, em không dám chui hầm gì cả.

– Tại sao đào hầm lại không chui?

– Em không chui cả hầm bí mật nữa cơ mà . Em có cảm giác là em bị chôn sống. Ngoài ra em sợ có người chỉ miệng hầm!

– Sao lại có người chỉ miệng hầm.

– Là vì có nhiều người chiêu hồi. Chớ anh không biết hai ông đại cán Bảy Huyền và Hai Tốt hiện giờ đang đứng ở trạm gác Cầu Bông để nhìn mặt cán bộ mình xâm nhập thành à?

– Có việc đó nữa sao?

– Có chớ. Em nghe con Ua nói mà.

– Nó đi đâu ra đó mà biết?

– Nó nghe mấy chú trong cơ quan dặn.

Tôi gạt ngang:

– Tin đồn không nên nghe !

Tôi chấm dứt câu chuyện bằng một nhác búa bổ cật lực. .

Lưỡi cuốc thay vì ăn sâu vào đất, nó lại dội ra sau một tiếng cụp khô khốc Tôi quay lại:

– Đụng đá rồii Phượng ạ .

– Vậy để em lấy cây cuốc lục lộ anh moi mới được.

Phượng bò ra miệng thí, kêu lên. Khi chiếc ki thòng xuống thì trong đó có cây cuốc lục lộ. Phượng cầm lấy và bò vào đưa cho tôi. Tôi cầm lấy đoản đao quơ múa một lúc thì lôi được hòn đá ra. Tôi kêu lên.

-Trời đất! Không khéo mình được đá quí.

– Đá quí gì kỳ cục vậy anh?

Dưới ánh đèn cầy, tôi nhìn ra đó là một khúc xương, xương đùi.

Phượng rú lên rồi ôm chặt lấy tôi. Không biết mình đã đào trúng huyệt của ai đây?

Tôi hoang mang suy nghĩ. Tôi cầm cây đèn soi vào lổ cuốc. Trong đó còn lủ khủ. Tôi bảo Phượng lùi ra. Tôi cuốc moi một lát nữa thì thấy những lóng xương nằm sấp lớp ngổn ngang lẫn trong đất. Thịt đã biến thành đất cho nên hàng trúc xanh tươi. Chỉ còn lại những lóng xương là không tan. Tôi bò ra và bảo Phượng:

– Mình hết phiên rồi Phượng ạ ! Đi lên !

Phượng bỏ hai chiếc cuốc, chiếc vá và khúc xương vào ki. Cái móc từ trên thò xuống rồi kêu lên. Phượng leo theo nấc thang khoét trong đất một cách dễ dàng. Tôi cũng lên ngay. Phượng tìm một gốc cây ngồi khuỵu xuống đất và ngả lưng vào, mắt nhắm tít. Các cô xúm lại kêu rối rít vì tưởng Phượng bị ngộp thở. Tôi nhặt khúc xương đưa cho Út Nhỡ:

– Mình phải bỏ ngay chỗ này.

Út Nhỡ quay mặt đi, không cầm ù té chạy úp mặt vào gốc cây nơi Phượng ngồi và nôn ọe. Bảy Nêề vào nhà xin một tỉn nước vừa ra tới không biết chuyện gì, bèn cười rẻ lên:

– Ái da, chị Út bị ai rắm cái hột bầu rồi nên nôn ọe đó tụi bây ơi!

– Ừ, chỉ đang thèm me… dốt hoặc khế chua !

Tôi xua tay và giải thích cho Bảy Nê và các cô nghe. Út Nhỡ tái lét mặt mày, giọng run run:

– Anh trả cái khúc đó xuống hầm đi. Em sẽ cho lấp đất lại.

Tôi cầm lấy khúc xương đi đến miệng hố khom xuống ném nhẹ xuống lòng hầm rồi quay đi. Út Nhỡ hỏi:

– Anh không van vái gì hết sao?

– Van vái gì?

– Mình cuốc mồ cuốc mả của người ta tội chết! Để em vô nhà xin ít cây nhang đem ra đốt.

Ba Cấm xua tay:

– Đừng làm vậy, lộ bí mật hết.

Bảy Nề tán thành ý kiến Út Nhỡ:

– Mình làm vậy vong hồn họ oán sẽ cho tụi lính nằm chiêm bao và chúng sẽ tới đây khui hầm mình.

Ba Cấm đưa mắt nhìn tôi, ý hỏi tính thế nào? Tôi bảo:

-Ý kiến cô Bảy đúng đấy. Nhưng hiện giờ mình chỉ nên lấp lại rồi rút êm thôi. Bác Tám không hỏi về công việc của mình đâu, nếu bác có hỏi, mình nói là đào xong rồi nghe chưa? Rồi sau đó mình lén lén đem nhang đèn tới cúng sau. Như vậy sẽ không lộ bí mật.

Út Nhỡ lắc đầu nguẩy nguậy:

– Toi công cả ngày ! Xui quá !

– Cũng may là mình mới khởi đầu, nếu đào sắp xong mà đụng thì mới xui.

Ba Cấm hỏi:

– Hổng rõ xương cốt của ai vậy?

– Ai mà biết được !

Tôi hỏi:

– Hồi nào tới giờ có gặp trường hợp này chưa?

Bảy Nê nói:

– Có trường hợp cà nông bắn trúng mả văng xương và ván hòm lên, chớ không gặp trường hợp này.

Tôi nghe ớn ớn lạnh bèn lấy quần dài và sơ mi mặc và bụng nghĩ dại:

– Phải hồi nảy con bé nó đồng ý thì hai đứa mắc phong cùi bỏ mạng.

Út Nhỡ cho cào đất lấp miệng hầm. Bảy Nê rùng mình giả bộ:

– Tối nay nằm ngủ thấy ma cho coi ! Eo ôi !

Phượng đứng dậy vươn vai và nói với tôi:

– Em nghe ơn ớn, anh có dầu cù là đó không bôi cho em một chút.

Ba Cấm trừng mắt:

– Con nhỏ nhõng nhẽo!

Út Nhỡ bảo:

– Thôi đi vô, tắm rửa thật kỷ. Không ai nói gì với bác Tám về việc này, rõ chưa?

Mặt trời đã lặn nhưng còn lưu lại một vệt ráng đỏ bầm ở miệt Hố Bò. Rừng chồi lặng ngắt, không một cơn gió nhẹ. Cảnh vật như chết. Một sự im lặng chứa đựng bùng nổ . Ở đây là thế. Không bao giờ có được một phút nào yên tĩnh. Không có pháo bắn thì máy bay bỏ bom, không bom không pháo thì có trực thăng đầm già. Lưng trời mặt đất luôn luôn bị chọc phá khuấy động. Tôi tìm cách đi sau cùng với Ba Cấm. Nàng nói ngay khi tôi hỏi kinh nghiệm chui địa đạo:

– Sở dĩ chúng em bảo anh có quận xuống khai mạc lớp dạy pháo là tụi em muốn cho anh biết cách đào hầm hố và địa đạo này. Sớm muộn gì ở đây rồi anh cũng nếm mùi ghẻ xốn thôi. Nhưng ghẻ xốn còn đỡ hơn bị khui hầm. Mỹ, Úc không đáng gờm bằng tụi Đại Hàn đâu! Tụi này tàn nhẫn nhất. Nó mà gặp miệng hầm là nó theo tới cùng chớ không có bỏ dỡ. Tụi Mỹ coi hùng hổ vậy chớ có tật đau lưng. Làm một hồi không xong hoặc có đổ tí máu vịt là co vòi chạy như vịt vậy. Em muốn anh đến đâu công tác thì tự làm hầm bí mật cho anh ở, đừng có ở của tụi đu kích. Nó thí cho anh những cái đã có một trăm người tứ xứ đến ở rồi. Tới anh nữa là thứ một trăm lẽ một. Anh mà chui xuống đó là kể như đi âm phủ 99%. Thằng giặc đui cũng nhìn thấy nắp nữa là ? – Nàng ngưng một chút rồi nhìn tôi bằng cái nhìn sâu thẳm- Đó là tình cảm của em dành cho anh. Yêu anh thì phải biết bảo vệ anh chứ còn nói cái miệng nào là tình yêu bất diệt, tình yêu trọn đời ai mà không nói được.

Tôi nắm vai cô nàng xoay mặt lại hôn trên môi một cái khẽ:

– Cám ơn cô Bắc kỳ lai ! : Biết cô nàng hơi hờn, tôi nói tiếp- Sao em không ở dưới với anh mà lại bỏ đi lên làm anh phải đào với Phượng.

– Em quen anh từ hồi năm ngoái cơ mà ! Anh quên sao?

– Sao mà quên được e…em..!

– Không quên mà….

Nàng nói chưa dứt câu thì tôi bước tới chặn ngang và ghi thêm một quả phạt đền.

Bữa cơm chiều mừng chiến thắng gồm có mắm kho và mít luộc. Tôi được đối đãi như thượng khách, ngồi mâm trên bàn với ông Tám bà Tám, còn các nàng thì ngồi dưới gạch. Tôi nhắc lại với bác Tám lần trước Ua dắt tôi ghé đây xin dừa về nấu chè. Kỳ này không thấy Bé ở nhà tôi muốn hỏi thăm, nhưng chưa mở miệng thì bà Tám đã nói:

– Hổng biết làm cái gì ở đâu mà con Năm Đang với con Mô ghé đây một ngày một đêm rồi nó lôi con Bé lên trển . Ở nhà, chú Bảy Hốt ở bên Hậu Cần kêu đi chở gạo, mà không có nó, đâu có ai đi!

Tôi không rõ bà Năm Đang bắt con người ta đi làm gì (chắc chắn là không còn cái vụ đấu tranh chánh trị nữa rồi) nhưng cũng nói mò:

– Chắc là công tác quan trọng lắm đó bác.

– Việc nhà bỏ bê hết ráo như vầy, lấy gạo đâu mà nấu hả chú em?

Các cô lua nhanh rồi tản ra sân, cô thì chải tóc, cô thì sửa sang súng ống. Tôi và ông Tám ngồi nói chuyện. Thừa lúc vắng người, bà Tám đem bình trà tới nói nhỏ với tôi:

– Nè, cháu có gia đình chưa?

– Dạ chưa.

– Có định mối nào chưa?

-Dạ cũng chưa.

– Để ông nhà tôi chỉ cho một chỗ được không chú?

– Dạ cám ơn bác có lòng thương cháu.

Tôi tưởng rằng bà muốn gả cô Bé cho tôi. Trong câu chuyện giữa các nàng với nhau, tôi được biết là ông bà Tám chỉ có một đứa con gái nên muốn gả bắt rể. Rể nào chớ rể này thì có biết làm ăn gì? Lê dương chuyên nghiệp từ nhỏ đến giờ, có tài chạy rong thôi. Còn thua rễ cây nữa.

Ông Tám nhấm nháp trà nghe bà Tám nói thì nhấp nhõm, có lẽ ông sợ bà Tám bật mí. Bà Tám nói:

– Con nhỏ được lắm. Việc nhà giỏi dắn, công tác rất tích cực Vùng này chỉ có một mình nó.

Bảy Nê chạy vô nhà lấy ba-lô, chợt nghe, bèn vọt miệng:

– Chị Bé được đó bác Tám!

Ông tám hỏi như giật mình.

– Được cái gì?

Bảy Nê cười hí hí :

– Chỉ sẽ không làm cản trở công tác của anh Hai, còn đám con buôn thì không chắc.

Bà Tám nguých ngang:

– Tao nói là nó mày đấy. Nội vùng này tao chấm mày nhứt hết thảy. Mặt nào cũng được. Lấy vợ thì chọn người có ngang nở hậu như mày mà lấy để sanh con dễ dàng mà món ăn cũng giỏi. Ngoài công tác lại còn phải lo việc nhà nữa chớ ? Mua heo chọn nái, cưới gái chọn dòng. Thanh niên nào mà thấy mày cũng ham.

Bảy Nê đứng lặng người, tay cào gốc cột. Ông Tám hỏi.

– Có chịu không? Nếu chịu thì lấy nhà tao làm đám tiên bố.

Bà Tám xúi thêm:

– Được mà Nê! Để chú em vuột ra khỏi Bàu Trăn này thì uổng lắm! – Được trớn bà Tám nói luôn – Thời buổi này nên gã cưới mau mau đi. Dễ chết quá hà! Cán bộ chiến sĩ hi sinh đã đành, thường dân ở hầm mà cũng không tránh khỏi. Ở ngoài Bến Đình, một trái pháo rơi ngay giữa nhà chết cả gia đình năm sáu mạng. Bởi vậy ở ngoài đó từ Bà Thiên trở xuống người ta dọn nhà đi hết rồi, lớp ra ấp chiến lược, lớp chạy xuống Phú Hòa Đông.

Ông Tám phụ họa:

– Phú Hòa Đông ăn pháo càng gần.

– Nhưng đỡ được B52 ! – Bà Tám ngồi lên, tay bó gối rầu rĩ – Nghe nói xe ủi nó dọn láng tới Cây Sộp.

Tôi tiếp.

– Dạ, nghe nói nó ủi tới ngã ba Cây Sộp giáp tới ngã ba Trùm Tri…

(Sự thực nó đang ủi cả phía sau Đồng Dù giáp ranh và Suối Bến Mương. Còn hai bên hông nó là Đường I làng và ấp chiến lược Cây Bài. Như vậy, cái Đồng Dù nằm ở giữa muốn pháo kích nó từ hai bên hông thì phải vô ấp chiến lược Cây Bài và xóm Cây Sộp. Còn muốn pháo kích nó từ phía sau thì phải vượt qua suối Bến Mương, pháo rồi làm sao chạy kịp? Riêng mặt tiền thì không thể đặt pháo vì nó chỉ cách quận lỵ Củ Chi chừng 2,5 km. Tìnnh thế du kích Củ Chi này ló ra đâu cũng bị lưỡng đầu thọ địch cả. Địa bàn hẹp té, khó xoay trở vô cùng. Đó là chưa nói tới vụ máy bay phản lực và trực thăng.)

Tuy vậy tôi vẫn nói cứng với bà già :

– Không sao đâu bác. Dân theo nó là vì sợ bom đạn chớ không phải thích nó.

– Không thích nó nhưng nhận tôle của nó để lợp nhà và gạo của nó để nấu cơm.

Bà Tám cắt ngang nhưng ông Tám đỡ cho tôi:

– Ở trên nói mình xài súng Mỹ đánh Mỹ, ăn gạo Mỹ đánh Mỹ, họ làm như vậy là đúng chớ sao bà ?

Bỗng nghe tiếng e e xa xa. Bà Tám bước xuống đất chạy ra cửa la to:

– Mấy đứa coi chừng đầm già . Quần áo gom hết vô !

– Không sao đâu bác, lúc này tụi nó bị đánh ngoài Phước Long nên đổ ra ngoải tiếp viện không có lực lượng ở trong mình.

Tụi con gái từ từ vào nhà. Út Nhỡ bảo:

– Núp cho kỹ . Nó mà thấy một bóng thấp thoáng là cão đùng đó.

Tôi hỏi.

Cão đùng là cái gì?

Ông Tám đáp trước:

– Là đầm già nó bắn rốc-kết đó mà . Hễ nghe cão tức là nó bắn rồi đó. Chừng vài ba cái tíc tắc thì nghe đùng tức là đạn nổ ở dưới mặt đất. Bộ chú em chưa bị nó cão đùng à?

– Dạ chưa.

Cão đùng là nhẹ nhút. Nếu nó không thấy gì quan trọng thì nó chỉ cão đùng vài phát rồi đi. Vậy là may lắm. Nhưng nếu nó thấy gì lạ thì nó kêu phản lực tới.

Bà Tám xìa môi:

– Ông ở đó mà cắt nghĩa…

Vừa tới đó thì nghe tiếng văng vẳng trên không trung. Bà Tám xì một tiếng rồi ngồi lên chỗ cũ:

– Tưởng gì ai dè là máy bay quyên tiền!

– Máy bay quyên tiền trong ấp chiến lược hả bác?

– Máy bay gì mà quyên tiền trong ấp chiến lược. Đó là máy bay điêu thuyền.

– Bộ nó ca hát trên đó cho bà con mình nghe hả bác?

– Không phải đâu anh Hai ! – Út Nhỡ xen vô – Đó là máy bay tiên triền.

Ba người nói trớt hệ hết ráo quay lại cãi vui vẽ.

– Thì tao nói máy bay quyên tiền không đúng hay sao?

– Đó nghe coi có phải không.

– Đúng rồi bác, nó tiên triền.

– Ôi! quyên tiền, tiên triền hay điêu thuyền cũng nó đó chớ ai !

Ba Cấm cười:

– Điêu thuyền cũng được, nhưng đừng có giang thuyền thì thôi. Giang thuyền mà đổ bộ ở mé sông thì ở đây mình phải dông lẹ.

Tiếng loa vang vang từ trời vọng xuống:

– Đồng bào hãy tống cổ bọn Bắc kỳ xâm lược ra khỏi nhà, khỏi vùng đất của mình ở. Quân đội Cộng Hòa và đồng minh sẵn sàng đón tiếp đồng bào ra ấp chiến lược hoặc đi định cư nơi khác. Quân đội và đồng minh sẽ không chịu trách nhiệm về sinh mạng và tài sản của đồng bào nếu trong nhà và trong vùng của đồng bào ở còn có hầm hố cơ quan của Việt Cộng.

Mọi người trong nhà lắng tai nghe rõ từng tiếng một. Loa cứ lặp đi lặp lại có bấy nhiêu trong lúc máy bay lượn khắp vùng trời Nhuận Đức. Nó bay đi một lúc rồi quay lại, loa tiếp lần này với giọng khác:

– Các bạn thân mến. Tôi là Bảy Huyền, cấp bậc thượng úy đã ra hợp tác cùng chánh phủ Cộng Hòa. Nay tôi có mấy lời nhắn nhủ cùng các bạn. Bọn Cộng sản Hà Nội là những kê lừa bịp dân Nam kỳ ta. Chúng lợi dụng lòng yêu nước của dân ta để lót đường cho chúng lên ngôi cai trị xứ này chớ chẳng phải vì thống nhất đất nước hay vì hạnh phúc của nhân dân. Tôi đã hi sinh chiến đấu hai mươi năm rốt cuộc gia đình tan nát và bản thân thì chẳng được một thứ quyền lợi gì. Tôi thành thật khuyên các bạn hãy sớm tỉnh ngộ quay về với Quốc gia.

Tiếng loa quyên tiền lồng lộng vang vang cả một vùng trời vùng đất. Cả nhà vễnh tai nghe rồi nhìn mặt nhau. Tôi không dám nhìn thẳng ai. Chính tôi cũng có nghe xầm xì vụ Bảy Huyền nhưng ở trên giải thích rằng anh ta bị biệt kích bắt cóc chứ không phải hồi chánh. Trường hợp Hai Tốt trưởng ban kinh tài của Quân khu nơ mười triệu bạc nhảy ra thành cũng được giải thích như vậy.

Tôi phá tan bầu không khí nặng nề:

– Có em nào biết ông này không?

Út Nhỡ đáp.

– Có! Hồi nẵm ổng cặp với bà gì kháp rượu ở chợ An Nhơn Nghe nói ổng bị kỷ luật, ổng ở nhà luôn và sau đó rồi hai ông bà biến mất. Ít lâu sau nghe đồn ông ra thành.

– Bậy quá ! – Tôi ném mấy tiếng phong long.

Hồi ở Trường Sơn tôi cũng bị vụ này một lần. Không biết ông trung đoàn phó nào đó bị biệt kích bắt hay tự thú mà cũng lên mây xanh quyên tiền xuống mặt đất cái kiểu này. Giữa ban ngày mà nghe loa vọng xuống muốn rởn tóc gáy. Bây giờ lại tái diễn. Con đầm già điêu thuyền trên một tiếng đồng hồ rồi trước khi đi lại còn hát: Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào! Út Nhỡ bảo:

– Tụi nó chiêu hồi mình đó, bịt tai lại, đừng nghe!

Út Nhỡ đưa tay bịt, nhưng bỗng một miếng giấy rơi ngay trước sân. Bà Tám chạy ra lượm. Út Nhỡ bảo:

Triền đơn đấy, đừng coi. Chỉ anh Hai được xem thôi.

Bà Tám đưa tờ truyền đơn cho tôi. Tôi liếc sơ qua thì thấy giống in như truyền đơn tôi gặp trên Trường Sơn: Mặt trước in bảy lá cờ đồng minh và lời kêu gọi Cộng Sản về với Quốc gia. Mặt sau hình một viên chức quốc gia bắt tay một cán bộ Cộng Sản và giơ tay trỏ đường đi. Tôi nói:

– Để anh đem về cho chú Sáu Huỳnh.

Bảy Nề cười:

– Nó rãi khắp đồng chớ phải một tờ sao anh? Những đâu có ai theo nó.

Ba Cấm tiếp:

– Mình phải ở lại chiến đấu, để chừng giải phóng xong chú Tám Quang cho đi đại học nữ sĩ quan chớ!

Đang bàn tính việc học đại học thì một cái xe đạp rườn tới ngoài sân. Tôi giật mình, con chích chòe này mình đi đâu nó cũng tìm tới. Tướng con bé Ua, ai dè không phải. Con bé học đại, nữ phóng viên Nhã Nam!

Nhã Nam bước vào giơ nón chào và hỏi:

– Có anh Dương đình Lôi tân trường ban H6 đây không các chị?

Phượng hất mặt trả lời.

– Không có Lôi liếc tân cựu, H6 H7 gì hết á !

Tôi hỏi:

– Có việc gì vậy?

– A kìa, anh Lôi ? Ông Chín Lộc nói anh ở đằng quán. Em lại đó không có anh, cô bé chỉ hướng này. Ối giời! may cho em quá. Nếu không gặp anh, em sẽ bị khiển trách.

– Việc gì mà dữ vậy?

Nhã Nam lột chiếc nón tai bèo quạt quạt và vừa thở hỗn hễn vừa tiếp:

– Chú Tám Quang bảo em đến phỏng vấn anh.

– Phỏng cái gì?

– Phỏng vấn đề đại hội trên đó.

– Dưới này đâu có báo chí, phỏng để làm gì?

– Em đâu có biết. Chú bảo thì làm.

Mấy nàng dũng sĩ lườm lườm cô phóng viên. Họ có thành kiến với đài Giải phóng và đài Hà Nội từ lâu vì hai cơ quan này đã phóng đại thành tích của họ quá cỡ. Nước lã khuấy nên hồ như tường thuật những cuộc đấu tranh chánh trị, nữ anh hùng chị Tư Cầu Xe, nữ dũng sĩ Năm Cội, Tư Gừng, Bảy Mô.. . . cho nên khi nghe nói tới báo chí thì họ không thích. Họ cứ luôn luôn nhắc lại cái vụ quay phim địa đạo chiến của Bọ Chét để chế diễu, tôi phải đàn áp họ mới ngưng. Tôi đành tránh né bằng cách giới thiệu đội dũng sĩ của Út Nhỡ. Nhã Nam nói:

– Nếu vậy để em làm một cuộc phỏng vấn tập thể !

Nhã Nam móc trong ba lô ra một cái máy ảnh dọa chụp hình nhưng bà Tám và các cô dũng sĩ vừa trông thấy thì lẩn tránh, tôi gọi thế nào cũng không trở lại. Tôi bèn hỏi Út Nhỡ, Bảy Nê và Ba Cấm thì cả ba nàng đều nói một kiểu rằng họ không muốn chụp hình vì sợ rủi bị bắt ra ngoài đó tụi nó nhìn được mặt thì chết. Nay mai rủi nó làm ấp chiến lược hoặc đóng đồn các xã trong này thì họ không thể sống được.

À ra thế, họ chiến đấu nhưng vẫn còn tự dành cho mình một con đường sống!

Cuối cùng họ lẫn tránh luôn cả cuộc phỏng vấn mồm, nại cớ rằng gần đây họ không có thành tích gì. Thế là cô phóng viên chỉ còn có một mình tôi. Thấy trời tối, đoán rằng cô phóng viên chưa ăn cơm nên bà Tám tốt bụng bèn dọn cơm cho cô một mâm cơm gồm mắm kho cá lóc và mít luộc. Cô phóng viên gốc Bắc kỳ có lẽ đã quen ăn mắm cáy, gặp mắm đồng thì húp ngon miệng nên vo vét đến đít nồi cơm. Ăn xong, cô lấy giấy tờ ra khảo tra ông anh hùng rơm hoặc rỡm cũng thế. Sực nhớ đến cái tình yêu bất diệt, nên tôi bày kế:

– Tôi phải đem cái truyền đơn nộp cho chú Sáu, vậy mời cô về nhà bà ngoại làm việc, nếu có gì thắc mắc tôi thỉnh thị chú luôn.

Thế là tôi có lý do chánh đáng để rời cái triều đình Tây Lương Nữ Quốc này. Các cô tỏ vẻ căm thù con nhỏ nhà báo đời nhưng không thể nào giữ tôi ở lại được.

(Nhưng sau này còn nhiều keo tái ngộ ngoạn mục khác như lần chạm trán của cô xã đội phó với cô Ua. Đúng là Củ Chi đã trở thành một Tây Lương Nữ Quốc.)

Nhã Nam chở tôi về, nhưng tới quán thì tôi bảo quẹo vô để tôi mua ít bánh kẹo, để về nhà vừa ăn vừa làm việc. Nhã Nam đồng ý và đứng ngoài đường chờ tôi. Tôi vừa bước vào thì Chia đã nhào ra ôm lấy tôi khóc òa, đẫy nẩy, hờn dỗi:

– Anh đi luôn đi t Anh đi luôn đi!

– Anh đi công tác chớ đi đâu!

– Tác tác… gì… hức… hức… hức

– Má về chưa?

– Chư..a hức hức.

– Con Ua về chưa ?

– Em hổng biết.

Tôi như Từ Hải chết đứng: Rõ ràng là một cảnh vợ chồng xum họp. Ai nhìn thấy mà chẳng hiểu như thế. Chia vừa lột xắc-cốt và súng của tôi vừa trách yêu:

– Anh đi bỏ em đi luôn với mấy con lũng sĩ đó hả ? Lần này em nhất định không cho anh đi một bước.

Rồi Chia đẩy tôi vô buồng, quát khẽ.

– Đi tắm đi, mình mẩy đất cát không hè.

Tôi bước qua cửa buồng thì nghe có người đến. Chia hỏi:

– Chị mua gì?

– Ở đây có bán thuốc cảm không ạ !

– Có bán thuốc trị cảm chớ không có thuốc cảm.

Tôi quay ra thì vừa kịp trông thấy cái lưng của Nhã Nam.

Tôi muốn gọi cô phóng viên trở lại để cô phỏng vấn, nhưng Chia đã lấn tôi vào và càu nhàu:

– Con mẹ đó ai mà không biết.

– Người ta là nhà báo đó cô ơi!

-Xí!

Tôi chợt nhớ tới lời của xã đội phó nói với tôi kỳ trước Bò Cạp: “Anh khỏi cần tìm nó, nó cũng vác cái … mặt của nó tới kiếm anh?” Té ra đây chỉ là một cuộc phỏng vấn do cô ta sáng tác. Tôi bèn khất vôi Nhã Nam một ngày khác. Biết chắc Chia không cho tôi thoát ra đôi tay mềm mại của nàng nữa (lạt mềm buộc chặt) nên tôi đành ngoan ngoãn nghe theo. Tôi cố nêu ra lý do đem truyền đơn cho Sáu Huỳnh xem, nhưng nàng gạt phắc: “Tối rồi, pháo bắn thình lình làm sao?” Thế là tôi tịt luôn một cách hạnh phúc.

Tấm rửa với xà bông Cô Ba xong, tôi được uống cà phê sữa và nằm nghỉ ngơi trên thương ở giữa hầm và trong ánh mắt âu yếm của nàng. Mệt mỏi rã rời, tôi lịm đi không biết bao lâu. Tôi bừng mắt dậy khi nghe tiếng léo nhéo bên trên. Bà Chằn Lửa về tới.

– Mày ở nhà khỏe quá ha ! tao chạy qua ngã ba Cây Điệp mệt đứt hơi.

– Sao không về luôn đẳng báo cáo cho chú Sáu?

– Có anh Hai ở đây không?

Tôi nghe bước chân hậm hực bước xuống mấy nấc thang hầm, và :

– Anh Hai ! – Ua kêu lên như sảng sốt, rồi chạy ùa tới đập lia lịa vào lưng vào đùi tôi mà nghiến răng – Cứ trụ hình ở đây không thôi! Dậy đi về đằng ngoại.

Chia biện hộ dùm tôi:

– Ảnh mới đi đào hầm với mấy con quỉ về đó. Tối ngày nay ảnh không có ở nhà đâu mà ganh!

– Ganh gì! Tao nói vậy chớ mình đã giao ước rồi, tao làm lớn máy làm bé mà !

Chia hơi nhịn nhục, vả lại cũng đã được nhiều ân sủng hơn Ua rồi. Nàng nói:

– Tắm rửa, ăn cơm rồi ở lại đây ngủ. Đằng đó bữa nay chật lắm.

– Dì Tư đi thẳng Sài gòn với ba rồi. Hễ kết quả thì nội trong hai ngày có ông em tới gặp ông anh.

Chia vui vẻ trở lại. Hai đứa dắt nhau ra sau bếp với lý do để anh Hai ngủ. Nhưng tôi nào có ngủ được. Bao nhiêu thứ xoáy cuộn trong đầu. Chấn chỉnh H6. Thằng em. Gia đình. Thu Hà . Ai? Ai sẽ là v.v. .. Tôi muốn quyết định nhưng không quyết định được. Đang hoang mang thì Ua xuất hiện.

– Con Chia nó ngủ hầm kia.

– Hầm nào?

– Có một cái hầm khách.

Ua vừa tắm xong. Tóc nàng còn ướt mép, nước chảy ròng ròng xuống vai. Nàng ngồi ở chân giương với vẻ mặt nghiêm trang tôi chưa từng thấy ở nàng. Tôi dự định là vừa rồi có một cuộc cãi vã ghê gớm giữa hai con sư tử bé này. Tôi chờ đợi những lời lẽ nảy lửa. Nhưng không, nàng báo cáo công tác với một giọng lo âu:

– Nó ủi hết mặt trước Đồng Dù rồi anh ạ ! Mai mốt có lẽ nó sẽ kéo cả bầy lên Hố Bò chớ không phải loe hoe vài chiếc như ở sở cao su Bà Hộ đâu.

Tôi gắt:

– Bị Suối Bà Cả Bảy cản ngang làm sao nó chạy được?

– Xí! nó ủi sập cầu Bến Mương rồi thả ống cống lót vỉ sắt lên, ủi đất hai bên lấp qua. Chỉ vài tiếng đồng hồ là xe tăng chạy được. Bây giờ, theo em thấy thì xe tăng không xuất trận bằng ngõ trước Đồng Dù mà nó ra cửa hậu để theo đường này càn lên Nhuận Đức.

Nghe Ua kể tôi đâm ra nghi ngờ về tác dụng chống tăng của các con suối Cây Điệp, Hố Bò, Lộc Thuận v.v…

(Từ năm 1966 trở đi không có mảnh đất nào là vắng bóng xe tăng. Có nơi nó càn lướt năm bảy lần, bất chấp cả suối. Chỉ có con sông Sài gòn là nó chưa phình bụng bơi qua thôi)

Tôi cũng hơi rung rinh trong bụng, nhưng làm ra tỉnh táo:

– Nó bung ra được hay không là do mình. Nếu mình cứ co lại mãi thì nó mới làm lung.

– Ngày hôm nay từ Cây Sộp nó ủi gần tới Truông Viết vài hôm nữa nó đẩy trớt lên tới Xóm Mới rồi tới Bàu Chứa của mình. Còn ở mặt Nam thì nó bào láng từ ngã ba Trùm Tri ra đến xóm Bắc Hà qua luôn tới ấp Nhà việc rồi.

– Em đi đâu đó mà biết?

– Em đến chợ Bắc Hà mua đồ rồi sẵn đó đạp xe đi coi cho biết. Tụi Mỹ nó tường em là con nít nên không xét hỏi. Anh biết lô cao su trước cổng chính nằm giữa đường I làng và đường tỉnh lộ 8A không? Nó cũng ủi láng hết rồi. Khoảng trống trước cổng chính rộng ít nhất là hai cây số. Đứng ở chợ Bắc Hà có thể nhìn thấy người đi ở cổng chính. Xe tăng xe ủi như bù hung vậy. Bụi bay mịt trời. Máy nổ điếc óc. Lớp dưới đất. Lớp trên trời. Nội ngày nay em đếm được ít nhất là năm khẩu pháo được trực thăng câu tới. Nó còn đem nhà ráp sẵn vô nữa. Chỉ ken vách lại nháy mắt là thành cái nhà.

– Em có lẻn vô trong được không?

– Không được, nhưng nhìn qua cổng em thấy nhà cửa đường đi bên trong giống như là thành phố. Có tới bốn cái lầu nước. Cái nào cái nấy cao nghệu ở trong này mới ló ra là đã trông thấy rồi. Có lẽ tụi nó định ăn đời ở kiếp đây sao anh?

– Ở sao được mà ở ! Mình phải đánh tụi nó văng ra chớ.

Ua thở dài não ruột:

– Chắc em chết quá anh ạ !

– Gì mà em bi quan vậy.

Ua lặng thinh hồi lâu rồi nhìn tôi bằng cặp mắt của một con vật đang bị một vết tử thương van lơn cầu cứu:

– Chú Sáu bảo em vào do thám Đồng Dù.

Tôi ngồi bật dậy.

– Hả? Do thám Đồng Dù?

Ua khẽ gật.

– Không có ai khác sao?

– Có, nhưng những người đó hết rồi.

– Nghĩa là sao?

– Là bị Mỹ nó mua hết hoặc bị Phượng Hoàng phát hiện cũng vô hiệu hóa luôn. Do đó chú Sáu muốn cấy em vào!

Tôi thấy bị đụng chạm đến cá nhân tôi, nhưng vì không tiện nói nên đành lặng thinh. Ua tiếp:

– Vô nhởn nhơ ở trỏng thì làm sao khỏi bị tụi Mỹ. Anh cứ tin đi, không có đàn bà con gái nào vô làm ở trỏng mà an toàn. Không này cũng nọ. Ở trong đó nghe nói có bà phước nuôi con mồ côi nữa mà.

Tôi thấy xót xa thực sự. Tụi to đầu luôn luôn hô hào giải phóng vinh quang, nhưng trên đường Trường Sơn chẳng bao giờ có bóng dáng lũ con cháu của Trung ương đảng và chánh phủ. Chúng được đi Liên Xô Tiệp Khắc để sau này vác bằng kỷ sư, tiến sĩ về nối tiếp sự nghiệp của ông cha chúng. Rốt cuộc thằng dân đen cũng bị hi sinh để chẳng được xơ múi gì.

– Em yêu cầu anh một việc nhé.

– Sao bữa nay em làm ra người lớn vậy.

– Không gì làm người ta lớn bằng một niềm đau khổ lớn.

Tôi nghe lùng bùng lỗ tai. Câu thơ đó của Hugo, sao Ua biết và lại nói ra trong lúc này. Ua bình tĩnh tiếp:

– Hôm nọ anh đòi, em từ chối nhớ không?

Tôi lắc. Ua tiếp với giọng nghẹn ngào.

– Em bảo chỉ khi nào em là vợ anh thì anh mới được! Nhưng bây giờ em yêu cầu anh ! Em tặng anh tất cả . ..em em…

Ua đứng phắt dậy từ từ bấm từng chiếc cúc áo rồi tự biến thành một bức tượng thần Vệ Nữ lung linh trước mặt tôi. Nàng đưa quả đào tiên ép vào mặt tôi và nói với giọng bình tĩnh lạ thường:

– Yêu em đi anh, đừng để muộn.

Tôi ôm quàng lấy nàng như cuộn cả vào lòng đau khổ và hạnh phúc của cả thế gian. Cô gái bé bỏng lọt thỏm vào lòng tôi như một con chim non, nằm im, chỉ rên rỉ, chờ đợi, ước mong bị vặt lông bóp họng, như tên tử tội chờ đợi lưỡi dao hạnh phúc rơi xuống cổ mình. Trước đây khi nàng cưỡng lại thì tôi hậm hực đòi hỏi, nhưng bây giờ nàng không chống cự mà lại xuôi tay thì tôi lại đâm ra lựng khựng ngỡ ngàng. Tôi chỉ ôm riết thân hình non mềm của nàng . Còn nàng thì hầm hập đòi hưởng những phút giây trần đời.

– Yêu em đi kẻo muộn!

Và làm những cử chỉ yêu dùm tôi đối với nàng. Nhưng tôi vẫn cảm thấy thế nào ấy. Xót xa đau đớn cho đời một cô học sinh sắp bị ném vào hang sói. Nàng gắt:

– Anh khinh em hả ?

– Không phải đâu em.

– Nhưng tại sao anh lạnh nhạt với em thế. Em tự vận cho anh coi!

Nàng vùng tuột ra chạy vút đi lên. Tôi còn đang ngày ngật thì nàng trở lại với cái giỏ xách trên tay. Nàng đặt trên giường. Tôi vội ôm nàng và quật xuống sợ cái hạnh phúc cụ thể kia biến đi lần nữa. Nhưng lần này thì nàng lại xô tôi ra một cách quả quyết. Thôi rồi, cái thời cơ ngàn năm một thủa đã biến mất. Tôi đang có chút ân hận thì nàng rất bình tỉnh thò tay vào cái xách lôi ra từng món một như kẻ buôn bán trưng ra những món hàng ở vỉa hè, chỉ khác là nàng không có tí vải dính da. Tôi giật mình khi thấy nàng móc ra một khẩu súng nhỏ xíu không có bao.

– Em làm gì vậy Ua?

– Để yên em triển lãm hết cho anh coi!

Rồi nàng lấy thêm một chai rượu nhỏ bằng chai xá xị. Sau đó là một chiếc máy ảnh.

– Đây là những món em mua ỡ chợ Bắc Hà . Em thuê một ông dân vệ đem lọt qua trạm gác hờ. Rượu này là rượu tân hôn, máy ảnh để chụp hình lúc anh yêu em còn khẩu súng là để công tác hoặc để tự sát.

Nàng nhìn tôi trăn trối, và với giọng thều thào đứt quãng:

– Vợ chồng chỉ một lần thôi rồi xa nhau mãi mãi. Em đi vào cuộc phiêu lưu không có chút may mắn nào. Còn anh chắc cũng không sống được bao lâu nữa.

Nàng lấy con dao sáu lưỡi mở cái khoan rút nút chai rượu ra, kề vào miệng tôi.

– Uống đi anh rồi yêu em, rồi chúng mình cùng chết. Ôi mồ êm của ta là giường cưới.

Nàng ngửa cổ ra ực ực.Tôi ngã nàng xuống định làm chàng kỵ sĩ đường dài. Bỗng nàng ngồi bật dậy, chạy vút đi. Một chập nàng trở lại với Chia. Không nói gì hết, nàng thoát y toàn bộ cô em họ của nàng. Chia không lấy làm lạ, không một cử chỉ nhỏ phản đối. Ua chụp máy ảnh lên phim và đưa cho Chia:

– Chụp mười . Chừa mười . Biết chụp không. Kê lên mặt bấm bấm như vầy !

Tôi cứ ngồi trân trân trước sự diễn biến trong mấy phút. Ua nằm trải người ra trên giường như một mảng tuyết trên đó nhô lên những ngọn đồi trúc lưa thưa run rẩy trước một cơn gió nhẹ. Ua bảo:

– Hôm nay mình sống một cuộc sống đã đời, để rồi mai có chết không ân hận. Chụp tao với ảnh đi.

Nàng quàng tay lên cổ tôi kéo xuống. Tôi không còn lý do gì để chống trả. Nàng bảo:

– Anh yêu con Chia rồi. Em biết. Bây giờ em muốn được anh yêu. Em muốn có những tấm ảnh để khi em nằm trong tay kẻ khác em sẽ lấy ra giơ trước mặt em.

Chia bấm máy và tôi làm mọi việc theo lời nàng bảo cho đến khi nàng không còn bảo gì được nữa mà chỉ siết lấy tôi. Xong nhiệm vụ tôi lại được lệnh tiếp tục chiến đấu. Nàng bảo:

– Chia, bây giờ tao chụp mày !

Nàng ngồi bật dậy giật máy ảnh và xô Chia lên giường. Chia chống trả sơ sơ rồi nằm xuống bên tôi. Ua bảo:

– Đừng có làm bộ. Tao biết mày đã làm gì ở nhà rồi!

Ua bấm máy. Nàng kê sát những vùng hiểm địa của chúng tôi mà bấm. Tôi thấy còn đầy đủ hùng lực nên vừa xuống dốc lại leo lên ngay.

Cuộc sống ở đây vô cùng tân nhẫn. Cái sống và cái chết xoắn lấy nhau. Vừa mới chui từ âm phủ lên thì lại gặp thiên đàng. Rồi cũng có thể là đang vũ khúc Nghê Thường với tiên nữ, một trái pháo rơi ngay. Tôi tưởng như thế là tận cùng của sự ngông cuồng của một Xuyên Đảo Phương tử tí hon Việt Nam, nào ngờ nàng cất máy rồi nằm bên cạnh tôi bắt tôi phải chèo một lúc hai chiếc thuyền.

– Hai đứa em đều là vợ anh cả, chẳng đứa nào ghen. Và sau đây em giao anh hoàn toàn cho nó. Em không biết còn có dịp gặp anh nữa không. Em vào Đồng Dù làm việc cho chú Sáu thì phải hi sinh. Em có thể thành công hoặc thất bại, nhưng chắc chắn là em mất hết cuộc đời. Em có thể giết chúng rồi tự sát hoặc bại lộ cơ mưu rồi chúng nó giết em. Tất cả em đều dự tính trước hết.

Nàng và Chia ôm cứng tôi. Ua cứ nảy ra những ý kiến lạ lùng. Nàng bảo:

– Anh gọi em và Chia là vợ đi.

– Ừ, vợ !

-Anh phải bảo Ua là vợ lớn. Chia vợ bé . Chịu hôn Chia?

– Chịu. Gì em cũng chịu hết miễn anh Hai ở với chúng mình thì thôi.

– Mày phải giữ ảnh để mấy con lũng sĩ bắt hồn bắt xác mất.

Tôi bảo:

– Không có ai bắt anh được hết. Nhưng anh phải đi công tác với người ta. Mấy em đừng nói vậy.

– Không nói vậy thì nói sao? Tụi con Phượng, con Phương, con Lan đầu quăn, con Ba Cấm, rồi chị Bảy Mô nữa, ai ai cũng hầm hầm muốn giựt anh hết, anh tưởng em không biết sao?

– Thì bây giờ muốn phanh thây xé xác gì thì làm đi!

Chia lặng im từ lâu, bây giờ mới mở miệng:

– Em sẽ nhốt . . .

Bỗng cộp cộp. Tiếng gõ cửa vang ở phía trước. Rồi tiếng đập càng gấp. Chia nghiêng tai nghe. Tôi giơ tay lên xem đồng hồ. Thời giờ đi quá nhanh. Có tiếng người ơi ới. Ua nháy Chia có ý bảo cứ làm thinh.

Chia vừa mặc y phục vừa chỉ chỏ vào cửa hầm. Mặc quần áo xong, Chia lấy lược chải tóc rồi thổi tắt đèn trước khi bước lên. Chia đi ra cửa quát:

– Ai?

– Mở cửa cho mua đồ.

– Khuya rồi mua gì?

– Nửa đêm cũng phải mở.

Tôi nghe tiếng làu bàu của Chia rồi tiếng cửa nghiến chầm chậm. (Chỉ tới đó thôi. Còn từ đó về sau tôi ghi lại nhờ Chia kể.)

Một người đàn ông bước vô . Theo sau là Út Nhỡ. Út Nhỡ hỏi Chia:

– Có anh Hai ở đây không?

– Anh Hai nào tôi không biết.

– Đây là công tác, không có giỡn nghe cô quán!

– Tui có giỡn gì đâu. Lúc nảy có chị Nhã Nam dắt một người tới đây mua đồ rồi hai người dẫn đi.

– Mày làm bộ không biết chồng của mày hả? Cơ quan không có cho cán bộ cao cấp cưới thương buôn đâu nghe. Đừng có lấp lững. Chị Nhã Nam mới đến nhà bác Tám gặp tụi tao bảo là mày bắt ảnh giấu trong nhà. Giấu ở đâu?

– Đó ai có nghi thì cứ xét.

Út Nhỡ trỏ người đàn ông, và lườm mắt nhìn Chia:

– Đây là ông tham mưu trưởng quận đội ở trên cử ổng xuống dự lễ khai mạc lớp học. Chỉ còn thiếu ông thầy pháo. .

– Tôi hổng biết.

Út Nhỡ đi thẳng ra sau bếp mở cửa. Một đám nữ du-kích tràn vào. Út Nhỡ bảo:

– Các cậu cứ tìm. Nếu có anh Hai ở đây thì chủ quán phải kiểm thảo.

Bảy Nê, Phương, Phượng, Lan đầu quăn đi rảo rảo chung quanh và liếc vào lòng hầm nhưng không dám chun xuống.

Chia lấy đèn pin đưa cho Út Nhỡ và bảo:

– Các bà cứ tự tiện xuống hầm coi.

Hai ba cô mạnh dạn xông vào, một chốc rồi ra. Bảy Nê lắc đầu:

– Chỉ có con Ua nằm ngủ.

– Chị ấy mới đi công tác về . Đằng nhà chỉ có khách đông nên chỉ lại đây ngủ nhờ.

Út Nhỡ nhìn ông tham mưu trường quận đội. (Sau này khi tôi về H6 gặp lại, chằng ngờ đó là bồ nhà ở ngoài Bắc, hai đứa cười với nhau đã đời.) Ông này bảo:

– Bây giờ cũng khuya rồi khai mạc không kịp, vậy để ngày mai.

Út Nhỡ và các nàng tỏ ra tức tối nhưng không làm gì được bèn kéo nhau đi. Chia cài cửa, xuống hầm bảo Ua:

– Tôi sợ chị giấu ảnh không kịp. Thôi, giải phóng cho ảnh đi!

Ua xua tay.

– Khoan đã ! Coi chừng tụi nó còn rình ngoài hè .

– Thì mình đừng có nói chuyện nữa.

Tôi đang ngồi co ro dưới hầm thì nắp hầm bật lên. Cái hầm này ăn thông ra sau vườn. Trong lúc các nàng ở trên thì tôi đã bò thử theo lòng hầm một quãng khá xa. Chia rọi đèn xuống. Tôi trồi lên, thở phào:

– Xe tăng rút hết rồi hả ?

Ua đưa tay bịt miệng tôi, trỏ ra phía ngoài, ý bảo có người rình. Tôi đã lên khỏi hầm chìm, nhưng hãy còn ở giữa hầm nổi, nên vẫn thấy bực bội. Mới ở dưới đó chưa được một tiếng đồng hồ mà cảm thấy như đã cách khỏi thế gian hằng năm. Vậy mà người ta bảo bộ đội nghỉ dưỡng sức dưới đó là dưỡng cách nào? Chỉ dưỡng khí thôi cũng không đủ nữa là. Nhưng nhờ cái hầm và cái ngách địa đạo con này mà tôi chém vè khỏe ru. Mặc cho nhà báo đi tìm phỏng vấn, mặc cho đội dũng sĩ và ông tham mưu trường thỉnh cầu. Đó là sinh lộ của Sáu Huỳnh. Ông ta đã từng sống cảnh Thiên Thai này với dì Tư nên đề phòng mọi bất trắc. Nếu bom bỏ cháy nhà hoặc Mỹ đóng chốt thì có lối thoát. Chẳng ngờ bây giờ tôi lại đi trùng dấu của ông anh. Thấy tôi sốt ruột muốn xuất hiện, Ua bảo:

– Anh không lo hết Mỹ đâu. Chúng nó vô đen cả Đồng Dù rồi. Xe tăng như bọ hung đấy. Em quên cho anh hay là ngày nay xe tăng càn một lúc ba điểm: Rừng Tre, Bùng Binh và Đồng Chà Dơ.

– Có đánh bật được hầm hố gì không?

– Khi nào lại không?

– Ông Sáu Huỳnh định làm gì mà cấy em vô đó?

– Ổng bảo vô được đã rồi sẽ giao công tác sau. Anh cứ yên tâm ở với chúng em. Sợ rồi đây anh không còn có dịp nào như bữa nay nữa đâu. Em biết trước rằng anh không có cưới con Chia hoặc con Ua này. Em biết anh cũng yêu hai con nhỏ ngu đần này nhưng không bằng chúng nó yêu anh. Nhưng mặc kệ, thấy yêu là yêu không nên đòi hỏi người ta phải yêu mình bằng mình yêu người ta.

Tôi sống trong động Thiên Thai đó không biết một ngày hay một năm nữa. Lúc nào hai nàng tiên cũng quấn quít bên tôi. Hễ Ua đi công tác thì có Chia. Hai chị em không tỏ ra ghen hờn gì hết mà trái lại rất vui sướng. Hai nàng đã cho tôi tất cả và đòi ở tôi tất cả, cả những điều lạ lùng làm tôi phải ngạc nhiên. Nếu nói địa đạo Củ Chi là thần thánh thì đó là cái địa đạo trong quán này. Có thể sánh bằng một trăm năm của Lưu Nguyễn chăng?

Than ôi! Thúy Kiều, Thúy Vân? Kim Trọng và những nhụy đào…?

Xưa chia ly rồi tái hợp: Đi với đảng, đừng hòng!

Chương 46

Gọt xương Cao Đài làm cà rá đeo chơi

<
Sáu Huỳnh vừa đi vừa nói với tôi:

– Sao vô ngàm rồi hả mậy ? Đêm bảy ngày ba vô ra không tính hả? Hí ..hí… mày có số đào hoa từ hồi nhỏ, nhưng lận đận hoài hoài.

– Chơi choi vậy chớ rồi trớt he thôi anh Sáu ơi ! Hai ba cô một lúc rốt cuộc chẳng cô nào.

– Nghe nói thằng cha mặt rỗ muốn bắt mày làm phò mã hả?

– Tôi không chịu ở trong cái triều đình R đó đâu. Ba-ke không hà. Mình chơi không hợp rơ.

– Ở đâu lại không có Ba-ke? Nam cờ là thuộc địa của Bắc cờ. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi. Giải phóng rồi mày sẽ thấy cái chân lý đó một lần nữa. Lót đường : Nam cờ . Dựng ổ đẻ: Nam cờ. Ăn muối: Nam cờ. Đội B52: Nam cờ và Bắc cờ. Cổ dọn ra: toàn thể Bắc cờ xực ráo. Địt mẹ! Xong cuộc tao về làm ruộng.

Tôi đoán cái bụng bất mãn của anh phải to bằng bồ. Quận đội trưởng năm 1947, 1964 vẫn thượng úy, trong lúc những kẻ cấp dưới anh đã là trugn tá, thượng tá.

– Tao xì ra với mày thôi, nghe chưa?

– Tôi hiểu, tôi hi…iểu mà anh Sáu!

– Rồi bây giờ mày định cưới đứa nào, con chị hay con em?

– Duyên chị mà lại tình em. Tơ xe lộn mối.

– Bậy mày. Mày lấy mật con người ta rồi quất ngựa chuối dông hả?

– Tình hình này, anh bảo tôi làm sao?

– Thì cưới rồi để cho nó ở với má nó, lâu lâu mày về tẩm bổ vài ngày rồi đi.

– Cái Củ Chi rồi cứ như thế này mãi sao anh?

– Tới đâu tính tới đó, ăn chuối đâu cần lột cả trái mới ăn. Tao nay mai rồi chẳng ở đây nữa đâu.

– Sao vậy anh?

– Không hợp rơ với thằng mắt toét. Ở trên có tin tụi dưa hấu mình bao giờ. Mày không biết hay sao? Nam kỳ mình toàn lãnh chức phó cối, phó nhòm, phó cạo. – Sáu Huỳnh. xoay qua vụ thằng em tôi – Kỳ này tuy móc không được nhưng mày cũng đã nhẹ trách nhiệm rồi. Mày đã viết thơ, mấy chả đã biết địa chỉ của nó, vậy móc được hay không là do mấy chả, không phải do mày. Tao cố gắng đưa nó ra đây cho mấy chả gặp là tao phủi tay luôn.

– Anh không dự vô việc này sao?

– Thằng mắt toét lo. Nó không tin dân Nam kỳ. Vậy càng tốt! Nếu thất bại nó không đổ cho tao. Tình anh em tao nói riêng với mày đó.

– Anh bảo tôi nên thế nào?

– Thì tao đã nói hôm trước rồi.

Hai người quẹo vào nhà dì Chín Bánh Bò. Sáu Huỳnh bảo:

– Đây là cơ sở của thằng mắt toét. Bà ta thứ hai, nhưng bây giờ cả xóm kêu là dì Chín vì bả bồ của Chín Lộc. Bà ta có tới bốn đứa con gái có tên hay lắm Suối, Trong, Xanh, Biếc. Chồng bị cà-nông chết hồi năm ngoái. Bà ta muốn dời ra ấp chiến lược Cây Bài, nhưng mắt toét ngăn cản. Bốn đứa nhỏ coi cũng khớ khủm. Con Xanh đẹp lắm. Nó mà ăn mặc khá lên thì chẳng thua gái thành. Mắt nó sắc, mày nó cong lá liễu mày ạ . Hổm rày có đứa qua bên này coi mắt lén mày nhưng mày bị nhốt đằng quán. Bữa nay mày qua tụi nó mừng lắm.

Hôm trước tôi có xung phong bắt được một con chồn. Nó lọt xuống hầm bí mật. Hầm này bị bay nắp vì loạt đạn đêm nhậu ở nhà bà ngoại. Con chồn hoảng hồn bò lang thang nên rơi xuống hầm không lên được. Dì Chín Bánh Bò ra vườn thấy hầm mất nắp bèn ngó xuống thấy con chồn cho Chín Lộc hay. (Hầm này của Chín Lộc.) Chín Lộc sợ để miệng hầm tô hố người ta trông thấy, nhưng y lại không dám xuống bắt. Y cũng không cho đám thanh niên trong cơ quan biết, nên gọi tôi đến. Tôi đến thì cả nhà lẫn cơ quan bu lại xem, thành ra bị bật mí hoàn toàn. Chín Lộc phải đào cái hầm khác, vất vả vô cùng. Cho nên y nổi cáu gọi con chồn là chồn lùi. Bữa nay cả cơ quan làm thịt nhậu.

Vào đến nhà thấy Chín Lộc ngồi hút thuốc mũi phì khói như tàu dầu. Thấy tôi và Sáu Huỳnh vào, Chín Lộc quay vào trong, bảo suông suông:

– Đứa nào đem ra đây vài cái bánh bò coi!

Một cô gái xinh xắn, mặc bà ba đen cổ trái tim cầm dĩa bánh bước ra để trên bàn, không chào hỏi gì cả rồi trở vô. Sáu Huỳnh nháy tôi. Tôi biết ngay đó là cô bé anh vừa đề cập tới. Mắt toét cũng tinh lắm. Y cười khè khè, diễu cợt bằng giọng Bắc:

– Nhà cháu có những bốn cháu cơ đấy ạ, anh có một cháu giai làm sao cho xuể ạ !

Sáu Huỳnh liếc thấy phía trước không có ai bèn đáp cũng bằng giọng Bắc:

– Dạ, cháu giai bé cuỗm cô nào thì cuỗm, còn nại bao nhiêu cháu giai lớn xin nôm cả ạ ?

– Ối giáo… thế thì không được đâu ạ !

Vừa đến đó thì dì Chín xuất hiện. Vừa trông thấy tôi, dì thốt lên ngay:

– Chú em này đây hả?… Hèn chí! Hổm rày tôi nghe cả xóm bàn tán… Coi tốt tướng quá.

– Bà coi chọn đứa nào gã cho chú ấy đi. Con Suối, con Trong, con Xanh hay con Biếc? Con Biếc thì chưa tới tuổi, vậy ba đứa lớn phải chọn một đứa, để mụ chủ quán bắt rể đó.- Chín Lộc nói một hơi như chủ gia đình – Bánh bò rễ tre thật khéo đem ra thêm vài cái nữa đãi khách.

Dì Chín háy ông tình nhân Bắc kỳ:

– Mấy ông đi làm thịt con chồn đi. Mấy đứa nhỏ không.dám cắt cổ đâu!

Sáu Huỳnh nháy tôi:

– Chỉ có mày là anh rũng vậy thừa thắng xông nên đi! Kẻo nó nùi mất.

Vừa lúc đó thì Út Biếc đi đâu về. Thấy tôi nàng khựng lại rồi chạy tuốt vô bếp. Tôi đi ra sau. Sáu Huỳnh cũng đi. theo. Anh nhìn mấy chị em đang xúm quanh lò hấp bánh và nói:

– Đây là cái người bây háo hức được biết hổm rày, bữa nay tao dẫn đến cho bây coi mắt đó. Hễ đứa nào ưng thì trầu rượu nói với tao, tao đứng ra làm lễ tiên bố cho!

Cô Ba nguých, cô Tư lườm, cô Năm dãy nãy, chỉ có cô Út Biếc là điềm nhiên:

– Con gái gì coi mắt con trai, con trai coi mắt con gái mới phải chớ bác Sáu..

– Ừ thôi, ai coi ai cũng được! Cháu đi lấy con dao thiệt bén đưa đây.

– Chi vậy bác?

– Cắt cổ con chồn, cháu có sợ không?

– Sợ gì mà sợ. Mấy ông Việt Minh đập đầu chôn sống Cao Đài ở trong Bàu Lách còn không sợ kìa.

Sáu Huỳnh gạn ngang.

– Hồi đó mày mấy tuổi mà mày biết?

– Cháu mới nghe anh Năm Cội nói kìa. Ảnh nói mấy ổng đập riết mỏi tay, mấy ổng chỉ cầm búa quất ẩu bất kể trúng trật, rồi đạp xuống giếng, thành ra chưa chết, lấp đất lại ở dưới rên hừ hừ, ghê quá hà.

Dì Chín nạt:

– Mày biết gì nói chuyện người lớn?

– Ba con Chia cũng vô Cao Đài bị đập phải không má?

– Tao hổng biết!

Út không sợ thất chính trị, cứ hỏi tới:

– Sao người ta đập Cao Đài vậy má?

Dì Chín bỏ đi và nói:

– Ai biết đâu, hỏi bác Sáu mày kìa.

Sáu Huỳnh bị kẹt bất ngờ nên bỏ đi lên nhà trên. Anh thừa biết đây là công tác của ông Ba Tô Ký và ông Hai Bứa hồi 46-47. Mấy ổng cho bắt hết tín đồ Cao Đài mà mấy ổng gọi một cách miệt thị là dân một mắt ở miệt Cầu Xe Trảng Cỏ, Lộc Thuận. Đêm nào cũng xỏ cả xâu đàn bà con nít đem vô những lô cao su hoặc rừng Trà Dơ, Bà Thiên, Bàu Lách đập đầu quăng xuống giếng nhà mũ. Tiếng kêu la thảm thiết hằng đêm, rúng động cả vùng. Có nhiều người trồi lên được bò vô xóm van xin tha chết, nhưng cán bộ Việt Minh bắt bỏ vô bao bố dồn đá xanh vào rồi đem ném xuống sông Sài gòn.

– Việt Minh là cái gì ác vậy bác Sáu?

– Ai biết đâu, lên hỏi bố Chín mày ấy!

Út móc trong túi ra một chiếc nhẫn trắng tinh. Chín Lộc vừa đi xuống nhát trông thấy, reo lên:

– Con bé bắt được nhẫn ngà voi ấy à? Đưa bố xem tí !

– Không phải ngà voi, xương Cao Đài đó !

Chín Lộc thét lên.

– Hả ! mày nói gì?

Sáu Huỳnh ngoảnh mặt, tôi đứng lặng câm, còn Út thì thao thao kể tới:

– Anh Năm Cội cho tôi một chiếc đây. Ảnh bảo đây là xương Cao Đài thật mà . Nó linh lắm. Ai đeo nó súng bắn bom nổ đều trớt lớt hết: Còn ma quỉ đi lánh xa . Té sông cũng không chết.

Tên Nam kỳ giải phóng và tên Bắc kỳ xâm lược cảm thấy nhột nhạt nên rút lui. Chỉ còn tôi ở lại đối đáp:

– Có thật linh không?

– Anh Năm Cội nói vậy mà. Nếu anh muốn em chạy qua xin cho anh một chiếc.

– Xương ở đâu mà ảnh có vậy?

– Ảnh nói ảnh với anh Hai Coi đào hầm bí mật ở bên Bàu Lách đào trúng một cái giếng lạn gặp xương chồng chất như củi, lớp dài lớp ngắn, lục cục lòn hòn. ảnh nói ảnh ớn quá ảnh có lượm được mấy cái răng vàng, một chiếc cà rá có khắc tên, một chiếc bông tòng teng, một cái móng cọp. Ừ chắc là móng cọp bùa đeo cổ con nít cho khỏi bị con sát bắt. Anh Năm Cội bảo nếu moi sâu chắc còn nhiều nữa, nhưng sợ công an thấy ảnh có vàng rồi nghi ngờ nên ảnh lấp lại để hòa bình sẽ đào lên lấy cho hết, ảnh chỉ lấy mấy khúc xương đem về nhà, một số ảnh cho em ảnh ở công trường làm cà rá, một số ảnh giữ lại cũng làm cà rá . Mấy ông Sáu Mả Tử và Năm Đầu Ban ở trên Hố Bò thường hay đi đào bom và đầu cà-nông lép với ảnh nghe ảnh nói cà rá linh nên cũng xin ít khúc đem về làm.

Tôi nhớ những khúc xương ở dưới rể bụi trúc hôm qua. Dưới trào Việt Minh thịt da người làm phân bón cho cây. Còn xương thì không tan cũng như tội ác còn lưu truyền trên miệng người thế gian.

o O o

Thịt chồn chỉ ướp nghệ xào lăn với củ hành tàu là ngon nhất. Ăn thịt rừng nhớ rừng, nhớ trường Trung Sơ nơi có thằng Hùng Cối, nhớ trường pháo có Bùi Khanh tay thiện xạ bá phát bá trúng, nhớ vụ thằng Châm bắn chết thằng Liêm trong một buổi săn đêm, nhớ tụi con Tiến con Huê, nhớ thằng cuBình, nhớ Mai Khanh đóng kịch câm thiệt tài tình. Nhớ dài dài tới Xóm Mới, nhớ quẹo sang bà khu ủy viên cô độc đa tình. Trạm giao liên của anh Liên khu nem là giới tuyến giữa rừng và đồng bằng. Nhớ Chín Hung người Bến Tre có vợ trong ấp chiến lược. Không biết cô bé Thanh còn ở dưới cái hang chuột ngập nước đó không? Bao nhiêu kỷ niệm gần xa tự nhiên ùn ùn trở về trong đầu pha vào ly rượu vừa cay vừa ngọt vừa làm cho tâm trí ngây ngất vừa làm cho nó tỉnh tuồng. Nó như tấm kính trong veo lộ rõ những bước chân tôi trên quãng đường gian lao vô tả từ Hà Nội về đây. Thằng Trần Chánh Lý ngồi chết ngon lành bên gốc cây rừng Trường Sơn.

Cứ sau mỗi bữa tiệc thì sự đời cứ mất, cứ xa thêm: tình bạn, tình yêu và những hi vọng càng ngày càng mờ mịt. Sau tiệc này cái gì sẽ đến? Trước mắt là sẽ phải xa Chia và Ua, xa Sáu Huỳnh là người anh đồng hương có nhiều tâm sự và dám bảo tôi những chuyện trật đường rầy. Xứ này tôi không có ai, ngoài Tư Linh. Bỗng nghe tiếng réo vang ngoài sân:

– Anh Hai có đó không?

Tôi biết ngay là bà chằn con. Ua đi vô với bộ mặt hớt hãi nhưng không quạo quọ như mấy lần tìm gặp tôi ở đằng quán.

– Vô nhậu áp-sanh nè nhỏ.

– Chồn a a… phải không? Chú Tư Minh bảo là ở đằng này đang làm thịt nó, cháu chạy riết lại coi con chồn lùi ra sao. Chú bảo chồn này hiếm có . Đi mau, để thấy nó còn sống. Con chồn lùi đâu rồi bác, cho cháu xem chút.

Mọi người cười ngã nghiêng trước nét mặt ngây ngô của cô bé .

– Mày không biết con chồn lùi thiệt hả Ua?

– Thiệt mà, đây là lần thứ nhất cháu nghe nói.

Tôi ngoắc Ua lại, rỉ tai. Ua nhảy tưng lên, với tay đập trên lưng Sáu Huỳnh thùm thụp. Sáu Huỳnh vừa né qua vừa la:

– Con nhỏ này kỳ cục chưa . Làm gì đánh tao?

– Ai biểu chú Tư Minh trát cháu? …Cháu về cháu vặt râu chú cho coi!

Nói xong Ua quày quả trở ra thì đụng nhằm Năm Trong:

– Cô làm gì diện dữ vậy cô Hai?

– Diện gì đâu! Tao đi chợ thì phải vậy chớ bận đồ tèm nhèm đi được à?

– Thôi mà! Cô Hai lúc rày vui vẻ lắm phải không?

– Ừ đó ! Nè, đừng có bắt xác anh Hai tao nghe bốn con nhền nhện!

– Còn mày con gì?

– Con gì kệ tao miễn tao có anh thôi.

– Anh gì?

– Anh gì cũng được mày đừng xía vô.

– Anh gì mà ngủ chung với em?

– Anh yêu dấu, rồi sao nào? Bởi vậy bọn nhền nhện mày đừng có rớ vào tao bẻ càng trụi lủi đó.

Tôi nghiêng đầu ra bảo:

– Về đi em ! Anh chơi chút rồi về đằng ngoại.

Thế là cô bé lặng thinh rút lui. Sáu Huỳnh nói:

– Con nhỏ dữ quá nhưng mà được việc.

Chín Lộc lắc đầu:

– Chỉ có cao bồi Sài gòn mới trị nó nổi thôi!

Xong tiệc, chúng tôi uống trà, thì một cô bé lạ lại tới. Sáu Huỳnh bảo:

– Lại một nàng Thủy Long công chúa tới coi mắt mày.

– Ai vậy anh?

– Con Nhánh, em gái thằng anh hùng diệt Mỹ Năm Cội. Nhà nó ở xéo xéo kia cà. – Sáu Huỳnh quay lại hỏi cô bé đã đi khuất vào trong – Thằng Cội có ở bển không Nhánh?

– Dạ không, ủa có.

– Không ủa có là sao?

– Ảnh dặn cháu là ai hỏi thì nói ảnh không có ở nhà. Nhưng với bác thì cháu không nói vậy được.

– Nó làm gì ở bển, về kêu nó qua đây có chuyện.

– Dạ ảnh đang cưa bom với hai anh Mã Tử và Đầu Ban.

– Trời đất quỷ thần, cưa bom hả? Bộ nó muốn chầu trời sớm hay sao chớ !

Tôi nói:

– Lâu nay tôi cũng có nghe danh ông anh hùng, nay gặp dịp may để tôi qua xem cho biết cái công binh xường của ổng chút. Khi tôi về H6 thế nào cũng liên hệ với mấy ổng.

– Bom ở đâu mà nó có?

– Dạ ảnh đi đào ở ngã ba Cây Diệp được một trái lớn lắm, ảnh mượn xe bò chở về hôm qua.

– Ba má mày chắc tản cư hết rồi hả ?

– Dạ ảnh che chòi ngoài đồng chớ không có cưa trong nhà .

Nhánh nói xong thụt luôn. Sáu Huỳnh bảo tôi:

– Gà này mới lú hộp bắp thôi chưa đá cựa mày ạ !

Chín Lộc lắc đầu:

– Nhưng mà nó có mòng rồi. Đỏ thén đó thấy chưa ? Đá được chớ còn chờ gì nữa.

Sáu Huỳnh đang hớp nước trà bỗng đặt tách xuống bàn:

– Cha nói gì mà mòng… đỏ then, ác vậy cha?

– Thì ông nói gà, gà thì có mòng, không có mòng thì là con gì? Mòng nó đỏ tức là nó đang sung sức không đúng à?

– Gà nhưng là gà mái giò, đá gì mà đá, mòng đâu mà mòng?

Hai ông nhậu ba gù bắt đầu gài nhau vô lãnh vực tiếu lâm cho hả hơi. Chín Lộc nheo nheo cặp mắt bù lạch ăn, mí mắt đỏ lên vì men rượu, như hai con vắt nằm quanh. Y nói:

– Bộ ông tưởng hễ cái thì không có mòng, còn đực mới có hay sao?

– Đã là giống cái thì không thể có mòng được !

Chín Lộc cười khục khục rồi xoa tay:

– Để tôi chứng minh một cái định ní ngoại nệ cho ông và ông thầy pháo coi.

Sáu Huỳnh la to:

– Mấy đứa nhỏ đâu, tránh hết đi nghen

– Tránh gì, tụi nó núp trong vách rình nghe dáo chơn dáo chọi. Hì hì… Hồi xưa có hai ông bà đó mê nhau mà không lấy nhau được.

Sáu Huỳnh xỏ ngọt:

– Chắc hai ông bà đó cũng quá sồn rồi hả anh Chín?

Chín Lộc xỏ lại.

– Ừ! Có con rồi. Nhưng còn muốn thiếm xực.

– Xực lâu rồi chớ muốn gì!

Chín Lộc xua tay:

– Để tôi kể cho nghe, chuyện này mê cu xanh lắm. Bữa đó cũng nhậu thịt chồn lén như tụi mình vầy nè. Ông ấy bèn cao hứng thuyết trình đề tài: “Tất cả những con gì có mòng đều là giống đực.” Ông ta vừa nêu ra cái định lý đó thì có một bàgiơ tay phản đối: “Không nhất thiết, không nhất thiết. ” Ông ta thách thức: “Vậy thì bà hãy chứng minh xem nào!” Bà ta bảo: “Ai có xem tôi chứng minh thì hãy nhắm mắt lại, trừ một mình ông thôi. ” Mọi người làm bộ nghe theo yêu cầu của bà, nên nhắm mắt hí hí. Bà ta liền leo lên thoát y hạ bán thân và gắt hỏi: “Đây thuộc giống cái mà có mòng thì ông tính sao?” Mọi người vỗ tay hoan nghinh nhiệt liệt cho rằng đây là một phát minh mới có tính chất củng cố hòa bình thế giới.

Mọi người cười khoái trá. Chín Lộc hấp háy cặp mắt bù lạch ăn và tiếp:

– Bà ta thừa thắng xông lên lấy thịt đè người.

Sáu Huỳnh nói:

– Đâu có đè mà anh nói đè .

Chín Lộc xua tay:

-Để chốc nữa sẽ hay. Bà ta bèn đưa ra một phản đề đối lập chan chát với cái định đề của ông ta : “Tất cả những con gì có trứng đều là giống cái?” Ông ta lắc đầu: “Không nhất thiết! không nhất thiết! Tôi xin chứng minh.” Ông ta bèn leo lên bàn làm một cử chỉ cương quyết như bà kia lúc nãy và quắc mắt hét: “Con này có trứng đây, nhưng nó có phải là giống cái đâu thưa bà ! ” Thế là hai người được xem cái của quý của nhau mà không ai bắt bẻ gì được hết.

Tôi phụ họa.

– Lại còn ham!

Sáu Huỳnh hớp miếng trà tiếp:

– Thằng cha đó chắc là vừa nhậu thịt chồn… của Chín Lộc nấu ?

Xong tiệc, tôi đi theo cô bé Nhánh sang nhà Năm Cội.

Sáu Huỳnh đi ra đường với tôi còn dặn:

– Mày có coi thì phải cẩn thận. Mày chưa lãnh công tác mà vô bệnh viện thì tao bị khiển trách đó . Mày nhớ hồi kháng chiến chống Pháp mấy ông Binh Công xưởng, vô đề tô lựu đạn VTF (Võ thành Phát) bị nổ cụt tay hoài không. Họ ngồi sau một miếng sắt dày có khoét hai lỗ để thọc tay ra, nên khi bị nạn chỉ bị nhẹ. Đó là lối đề phòng đơn sơ nhưng ít ra cũng giảm bớt nguy hiểm, còn bây giờ tụi nó cưa bom như cưa gỗ và tháo kíp nổ như bắt ốc mò cua vậy. Hễ nổ là rụm thôi.

Ông già của Năm Cội vừa gặp tôi đã khẩn khoản ngay (Thấy tôi đeo súng ngắn ông cho là ở trên xuống):

– Ông làm ơn làm phước bảo nó nghỉ tháo gỡ ba cái đầu cà-nông và bom lép đó dùm tôi. Nó là tay ngang chớ biết ất giáp gì. Khổ quá ! Không biết kỳ lên trên R nó được tiên dương công trạng như thế nào mà về nhà nó đi răm tối ngày. Chỗ nào có bom lép nó cũng đào xới moi móc. Vừa rồi nó bươi được mấy trái cho xe bò đem về, tui biểu nó đem ra ngoài ruộng. Nó che chòi ở ngoài đó với hai chú đâu trên Hố Bò xuống…

Tôi nói.

– Hai người đó cũng chuyên môn đào bom lép, tên là Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử đó bác.

– Có một chú tháo hột nổ gì đó bị nổ dem hết một con mắt. Thằng em của thằng Cội đi du kích thì cũng được rồi không biết ai rủ ren mà nó lội qua Bưng Còng làm trong Binh Công xưởng, chế tạo lựu đạn đạp lôi gì đó. Hai anh em công tác toàn là loại độc địa không thôi. Chậc ! – ông già ngưng một chút rồi tiếp – Nghe nói Trung Hoa với Liên Xô có mần nhiều thứ võ khí bảnh lắm sao không cho mình, để mình phải đến nổi xài thứ lép vậy chú em.

– Dạ thì mình làm thêm đó bác.

Tôi miễn cưỡng đáp chứ sự thật thì tôi thừa biết là lão Khơ chỉ cho ta có hai ngàn cây mút-cơ-tông thời Nga Hoàng. Vừa rồi thằng giáo sư Liên Xô sang tận đây để xem tình hình vũ khí ở trên bảo các đơn vị trưng ra toàn súng bắn ruồi để kêu rêu với đàn anh. Cô Nhánh thấy ông già phàn nàn bèn đem ra một chiếc túi nhái vung vung và nói:

– Anh Năm em có đeo cà rá này nên ảnh không sợ gì hết đó anh Hai.

– Cà rá gì vậy em?

– Cà rá làm bằng xương Cao Đài bị đập hồi nẵm. Anh Năm em đào hầm bí mật bắt được cả giếng vậy đó.

– Con quỉ! Mày hùa với thằng Cội, có ngày Mỹ nó càn, mày chạy sút trứng mày ra!

Ông già quơ cây chổi định đập con gái, nhưng Nhánh đã vọt ra sân và ngoắc tôi. Tôi nói với ông già:

– Để cháu ra cháu bảo mấy ảnh dùm bác.

Ra đồng, gặp Năm Cội tôi nói ngay:

– Ông già không mấy thích công việc của chú, chú Năm! (Thấy Cội còn trẻ cỡ tuổi em tôi nên tôi gọi bằng chú.)

Cội không trả lời mà nói sang chuyện khác.

– Hì hì.. Nghe anh xuống lâu rồi, nay mới gặp. Tụi em tính học nghề pháo của anh chút đỉnh để đem ra chơi với tụi Đồng Dù.

– Học thì được nhưng pháo đâu mà chơi?

– Trên quận hứa rồi.

Tôi đưa mắt nhìn quanh. Mái chòi lá xiêu vẹo, mấy quả bom mấy đầu đạn cà-nông dính đầy đất sét đỏ như những củ khoai bí khổng lồ. Bên cạnh đó là những kềm, búa, đục, xà-beng, mấy thùng thiếc, một lô hộp sữa. .. Một cây cưa sắt mắc trên đầu cột. Đó là tất cả những vật liệu và dụng cụ của ông kỹ sư chế vũ khí đánh Mỹ . Tôi thấy mà não lòng nhưng không dám nói. Tội nghiệp dân Nam kỳ ! Giặc chưa đánh được đã chết rồi. Nhánh lấy một tấm ván để trước mặt tôi rồi mở miệng chiếc túi nhái dốc ngược xuống, Nào nhẫn xương, nhẫn bạc, nhẫn đồng, nhẫn trơn, nhẫn mặt vuông có khắc chữ… ,hốt gom ắt được một bụm. Sáu Mã Tử và Năm Đầu Ban mỗi người xách một cái vỏ cà-nông lót đít ngồi xung quanh, Năm Cội đem một chiếc ghế gỗ cho tôi và bảo:

– Anh Hai muốn chiếc nào cứ lấy, lấy vài chiếc cũng được! Đeo càng nhiều tai nạn càng ít.

Sáu Mã Tử đưa tay lên trỏ chiếc cà rá xương và nói:

– Tôi nhờ đeo chiếc đặc biệt này nên hôm trước cạy hột nổ bị xẹt mà mắt mũi không sao hết.

– Linh dữ vậy à ?

Năm Cội vừa soạn những chiếc cà rá vừa đáp:

– Linh chớ anh. Tôi đeo ba chiếc, nè anh coi. Bởi vậy nên tôi tháo gỡ đào bới biết bao bom đạn lép mà đâu có sao ! Ba tôi ổng sợ hờ vậy thôi chớ tôi có Thánh Thần hai bên vai phù hộ mà .

Tôi vừa nhặt vài chiếc để lên tay vừa hỏi.

– Chú định làm loại vũ khí gì đó?

– Lựu đạn gài. Loại nổ chụp.

– Là sao?

– Là thay vì mình gài dưới đất, kỳ này mình gài trên cây.

– Làm chi cho khó khăn vậy?

– Tụi tôi tính mần đám giang thuyền trên sông anh ạ. Tụi này khôn lắm. Mỗi lần đổ bộ tụi nó bắn cả trăm M79 lên bờ, nếu mình gài lựu đạn dưới đất thì nổ hết. Tụi tôi hụt ăn mấy phát rồi. Kỳ này thay đổi chiến thuật, gài trên cây lòn dây xuống đất. Nó đạp dây là lựu đạn nổ chụp xuống đầu. Đây là chuyện bất ngờ, nó đâu có biết mà đề phòng, mà có đề phòng cũng không được !

– Không chơi ngựa trời nữa à ?

– Lạc hậu rồi.

– Có chế thứ nào đánh xe tăng không?

– Có chớ!

Cội nhanh nhẹn bước lại góc chòi mỡ nắp thùng thông (loại của Mỹ vứt đi) ngoắc tôi:

– Anh lại đây xem. Tụi nó lần nào vô Bàu Lách tôi cũng lượm ít nhất một cặp.

Tôi nhìn thấy mấy trái mìn hiệu Năm Cội và hỏi.

– Cấu tạo thế nào?

– Cũng xài của tụi nó thôi nhưng mình cải tiến.

-Thuốc lấy ở đâu?

– Cưa bom ra.

– TNT cứng như đá, làm sao cạy ra?

– Nấu !

-Trời đất! không sợ… à?

– Mình canh chừng lửa già lửa non chớ anh. Ban đầu thì sợ Bây giờ quen rồi. Tôi liệu chừng được thì ngưng rồi lấy muống múc đổ vô vỏ mìn.

– Vỏ mìn ở đâu?

– Cũng của Mỹ. Thứ lép nó vứt lại.

– Coi chừng mìn nổ chậm rồi tướng mìn lép nghe chú !

– Tôi đợi hai ba ngày không nổ thì mới vớt về .

– Bằng cách nào?

– Xe bò hoặc khiêng hoặc đèo xe đạp.

Tôi nghe nói cách thức chế tạo vũ khí của Cội mà run gân. Tội nghiệp! Tội nghiệp cho những người nông dân hiền lành chất phác coi mạng sống của mình không bằng cái lông… chim. Thời chống Pháp tôi từng biết những anh hùng cấp tỉnh cấp khu dùng súng trường bao vây pháo kích đồn bót mà lính phải rút lui, dùng lựu đạn gài, hầm chông mà ngăn hẳn hoặc làm chậm lại những cuộc hành quân của địch. Đó là điều có thể hiểu được vì Pháp không có trực thăng, không có cà-nông, không có đổ chụp nhảy cóc, còn xe tăng thì không mấy khi xuất hiện, máy bay cánh quạt thì chậm rì và ít khi có. Còn bây giờ? Trung ương chỉ huy cả một chiến trường Miền Nam mà không hiểu đối phương một cách đầy đủ, thậm chí hiểu sai lạc hẳn. Dân Nam bộ hi sinh nhiều quá (mà chẳng được gì) chẳng khác một thứ hi sinh vật trong mâm cổ của bọn Bắc kỳ. Thấy Năm Cội hăng hái bao nhiêu tôi càng lo cho anh bấy nhiêu. Anh ta còn định khoe với tôi vài sáng kiến nữa, nhưng tôi lấy cớ bận công tác nên xin rút lui.

Năm Cội trở lại mớ cà rá:

– Anh thích chiếc nào? Anh cứ lấy đi. à chiếc đó hả, để tôi khắc tên anh lên mặt vuông nghen.

– Làm sao mà chú khoét được lỗ tròn như vậy?

Năm Cội moi trong thùng mấy lóng xương đã cắt ngắn đưa cho tôi xem.

– Xương ống quyển và xương đùi nó có lỗ sẵn anh ạ ? Đây! ở trong đó là tủy. Thịt rả thì tủy cũng tiêu luôn. Anh ngửi thử xem không có mùi gì hết. Nếu mình không nói thì ai thấy cũng tưởng xương bò xương cọp gì !

Năm Cội cầm hai khúc xương gõ vào nhau nghe cắc cắc và ca:

Mỹ vô Củ Chi đành bỏ thây.
Đem máu tươi ra nhuộm sông Sài gòn
Ta tí ta tí tà . . . ta ta
Mỹ đen Mỹ trắng chết trôi
Trôi lên trôi xuống thúi hôi…

Năm Cội ngưng và nói:

– Bản Kim Tiền của ông Phạm Sang mới sáng tác, tôi học chưa thuộc. Ổng biểu tôi làm dùm mấy cái phím đờn và cặp nhịp sánh cho đoàn văn công của ổng. Xương này làm nhạc cụ đó thì số dách. Tiếng kêu rất đặc biệt…

– Đặc biệt là sao?

– Tôi không biết, nhưng tôi nghe ông Phạm Sang nói vậy thì hay vậy. Ổng biểu tôi làm sao oánh được một chiếc xe tăng hoặc giết được một tên Mỹ để ổng lấy đề tài sáng tác

– Chú đã đánh được một chiếc hồi năm 64 ở Đồng Chà Dơ rồi kìa mà !

– Dạ thì có thiệt. Và ổng cũng làm rồi một bài Bình Bán vắn.

– Chú còn nhớ không?

– Dạ còn nhớ ít câu. Thỉnh thoảng tôi có nghe trên đài giải phóng hát.

– Tên là bài gì?

– Dạ bài Anh hùng đánh xe tăng.

– Đâu chú kể lại trận đánh đó cho tôi nghe để rút kinh nghiệm chút!

Năm Cội lấy làm hứng thú, lấy một cục đất gạch gạch trên nền nhà nói:

– Đây là Bàu Cạp, đây là đường I làng, đây là…. Suối Bà Cả Bảy, đây là Đồng Dù. Muốn qua Bàu Cạp hoặc Bàu Lách thì xe tăng phải nhờ trực thăng móc chớ nó không lội suối được Trực thăng móc thì mau lắm, mau hơn từ hồi anh lại đây tới bây giờ, thì chúng tôi bị rượt chạy tóe khói rồi.

– Bộ nó qua cầu Suối Bến Mương không được sao mà phải trực thăng móc?

– Không được? Cầu yếu lắm, chỉ xe bò qua được thôi. Nghe nói nó rào châu vi ra tới Bến Mương và sẽ làm lại cây cầu này nay mai. Nó vừa ủi sập và làm rồi. Tôi với Hai Coi, Tư Gừng và thằng Ưng vác súng chạy lũi. Riêng tôi thì vác trái mìn tân tạo bằng đầu cà-nông lép. Đất ruộng lởm chởm và đầy lỗ nẻ, tôi không chạy được bèn đến mé lộ đường I làng nhủi đại nó vô bụi rậm cho nhẹ để thoát thân. Anh phải biết là xe tăng nó vừa bắn vừa chạy, vừa chạy vừa bắn chớ không phải chỉ chạy không thôi. Mà bắn ác lắm, bắn trước đầu, bắn sau đít, bắn hai bên hông đều được cả, chớ có phải nó chạy êm ru đâu ! Bởi vậy chạy đua với nó là túm giò không có chạy được.

– Rồi chú bố trí trận địa làm sao?

– Tôi nhủi trái mìn vô bụi cây rồi phóng như tên bắn chớ có bố trí gì, nhưng thằng Mỹ lạc đường, nó chạy xà quần một hồi rồi cán lên trái mìn. Mìn nổ lật xe. Có vậy thôi.

Tôi vỗ vai anh chàng dũng sĩ.

– Vậy cũng là giỏi lắm! Nếu người khác thì ném trái mìn xuống đìa.

Năm Cội hào hứng kể tiếp:

– Do đó trên đại hội bầu tôi làm anh hùng đánh xe tăng toàn miền Nam và bảo tôi phổ biến kinh nghiệm. Chời ơi chời? Tôi có kinh nghiệm gì đâu nè chời! Mấy ông nhà báo nhà đài bu theo tôi chất vấn tôi mắc cỡ rùng mình. Lại còn gắn cái bông bự tổ nái bít hết ngực tôi, trong đại hội ai cũng dòm, nhất là mấy bà phụ nữ tóc quăn cứ.theo hỏi chuyện tôi hoài.

Tôi bảo:

– Ráng đánh thêm chiếc nữa đi rồi ông Phạm Sang làm cho bài nữa !

Năm Cội le lưỡi lắc đầu:

– Hồi trước dễ, bây giờ thì khó rồi.

– Sao vậy?

– Hồi trước nó mới tới loe hoe vài thằng, ban đêm nó ngủ bừa bãi trong tăng, ngoài ruộng, súng ống, đạn dược, đồ ăn, mền mùng bỏ vương vãi tùm lum, tôi với thằng Ựng bò vô lấy đồ hộp và lựu đạn nữa mà. Bữa nào cực ăn là đêm đó tụi tôi mò vô Đồng Dù kiếm chát. Nhưng bây giờ vô phương. Xe tăng nó đi là có trực thăng, pháo dọn đường, nó về cũng làm y bài bản như lúc nó đi, mình khó chơi lắm.

Nhánh chạy vào trong nhà nãy giờ trở ra với gói kẹo đậu phộng trong lúc Sáu Mã Tử đã nấu xong ấm nước. Năm Đầu Ban dọn mâm trà với những cái ly làm bằng võ đạn cà-nông 20 ly. Sáu Mã Tử rót đưa tôi một ly.

– Anh Hai uống chút trà cho khoẻ, anh Hai!

– Chà ! ly này thiệt đặc biệt.

Ba anh em ngồi bên mâm trà bàn luận chiến thuật. Tôi thấy vừa cảm phục vừa thương hại những người nông dân này. Trong tay không có gì cả mà dám chọi với xe tăng.

(Phải chăng đó là truyền thống lưu lại từ Bạch Đằng Giang, Chi Lăng, Đống Đa? Phải chăng đó là truyền thống lưu lại từ ngọn tầm vông thời đầu kháng chiến chống Pháp? Không! không phải. Những chiến thắng trước đây là kết tinh của tinh thần dân tộc tự cường. Ở Điện Diên Hồng quân thần, vua Nhân Tôn và toàn dân thống nhất ý chí chống ngoại xâm. Tiếng chiêng trống Chi Lăng và tiếng hò reo của quân sĩ ở trận Đống Đa cũng là kết tinh của ý chí chống xâm lăng bảo vệ Tổ Quôc. Tổ Quốc Việt Nam là của toàn dân Việt Nam chứ không phải của đảng nào. Ngày nay người ta bỏ cái tinh thần đó vào cái chảo Mác Lê để tạo ra một thực đơn dân tộc gia dối . Người Miền Nam thấy đất nước đã độc lập rồi, dân đã yên ổn làm ăn trên mười năm dưới một chánh quyền ôn hòa chứ không phải một chánh quyền sắt máu cai trị bằng nhà tù. Người Miền Nam đầy đủ không cần ai giải phóng. Giải phóng để “được hạnh phúc” cải cách ruộng đất ư? Cuộc chiến tranh này là do tên ác ôn họ Hồ bày đặt và đặt cho nó cái tên là Giải Phóng Miền Nam. Chẳng có người dân nào ham muốn chiến tranh ngoài những tên mù và ngu ở Ba Đình ngày ngày chạy tới chạy lui lăng xăng tìm cách giải phóng Miến Nam diệt lũ bán nước (!). Lão tặc Hồ còn khóc khóc mếu mếu ra vẻ lâm ly thống thiết: “Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi! Cút đi thằng khốn nạn, miền Nam không ở trong trái tim con bò và con quỉ Sa tăng. Ở trên đài giải phóng có một mục: “Ra ngõ gặp anh hùng ” Mục này chuyên môn ca ngợi Tạ thị Kiều, Nguyễn văn Trỗi, Út Tịch, Bảy Mô, Tư Gừng, Năm Cội, chị Năm Cầu Xe… như những Trần Hưng Đạo, Trưng Nữ Vương thời đại Hồ Chí Minh. Thật là láo xược. Người Miền Nam chính là những con Trâu ngây ngô trong Trận Hỏa Ngưu chiến của Điền Đơn Hồ. Trâu mang gươm trên sừng và lửa sau đuôi húc vào xe tăng, xe tăng không vỡ mà trâu lại chết thui, chết bắn. Tội nghiệp và nực cười thay chính họ Hồ lại là một con trâu trong kế hỏa ngưu của Kem Lanh lẫn Bắc Kinh. Họ Hồ chết ôm theo bản đồ Đông Dương đỏ nham nhỡ và ngày nay tan vỡ hoàn toàn.

Năm Cội một thời làm anh hùng đi mây về gió trên đài, tội nghiệp thay, cũng chỉ là một con trâu ngu dại, cũng như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tân Phát, Trần Bạch Đằng, Dương Quỳnh Hoa, Trịnh Đình Thảo, Thích Đôn Hậu, Phạm Văn Ngỡi, Joseph Hồ Huệ Bá, Thanh Nghị, Lữ Phương, Lưu Hữu Phước… tất cả chỉ là một đàn trâu, trâu đực trâu cái, trâu nghé, trâu già, trâu cò, trâu đen, mang cái mồi lửa rơm sau đít. Ngày nay chắc trâu đã khôn ra tí chút rồi.

Tôi nữa, tôi cũng là một con trâu chạy long nhong sau cái bầy trâu khốn kiếp đó. May mà tôi đã rẽ ngang, rã bầy khá sớm. Và chính nhờ rẽ ngang mà mắt tôi mới nhìn rõ được đàn trâu thảm hại đó. Chúng còn đeo cái con cúi đã tắt tị sau đuôi và rống ò ò chờ người đến rứt đùm để sống sót).

Tôi hỏi Năm Cội:

– Chú chắc mình đánh tụi Đồng Dù nổi không?

Năm Cội làm thinh. Tôi bảo:

– Ông Phạm Sang đã xuống địa đạo hát cho bộ đội mình nghe ở dưới đít Đồng Dù trong lúc một thằng ca sĩ Mỹ hát cho lính Mỹ nghe ở trên mặt đất, chú có đi nghe lần đó không?

– Hồi nào anh?

Tôi nói tiếp:

– Nếu chú đi theo ổng thì chú sẽ biết đường. Một khi biết đường rồi thì chú đem mìn tân tạo của chú đặt ngay đó rồi chui lên cho nó nổ một cái bay nguyên cả cái Đồng Dù, hai ngàn lính Mỹ tan xác, mình chiến thắng khỏe ru, tôi cần gì phải pháo cho mệt.

– Anh Hai nói giỡn tụi em hoài anh Hai.

Tôi cười ngất:

-Thiệt mà!

– Thiệt cái gì mà thiệt! Địa đạo tụi tôi đào đây chớ ai, sao tụi tôi không biết.

– Chú biết ở Bàu Lách thôi chớ làm sao biết hết cả một hệ thống dài 250 cây số xã liền xã thôn liền thôn.

– Tôi biết ở đây chưa được hai trăm thước.

– Cả thế giới người ta phúc lăn Củ Chi mình vì cái địa đạo này đó. Chú không hay gì hết sao?

– Làm gì mà thế giới biết được !

Tôi nháy Năm Cội.

– Chời ơi chời! Năm ngoái có nhà báo Pháp, Liên Xô, Úc tới đây mà chú không hay à?

– Ờ ờ tôi có nghe con Mô nó đi về nó thuật lại cái trận địa đạo chiến của đội nữ nó. Phải mấy ổng đó không?

Tôi gật. Năm Cội kêu lên:

– Ối chời! tưởng cái gì ai dè cái đó. Phải tôi hay, tôi cho quay phinh cái của tôi còn bảnh hơn nhiều.

– Ờ để khi nào họ có tới tôi dẫn xuống đây gặp chú nghe !

– À mà quên, đó là tôi nói hồi nẵm kìa, chớ bây giờ sập mẹ nó hết rồi.

– Sao vậy?

– Từ ngày pháo vô Đồng Dù và nhất là sau khi B52 cày láng từ Hố Bò tới chợ An Nhơn, tụi tôi hết dám chui nữa. Bỏ bê không ai săn sóc nên lớp lỡ, lớp rễ cây ăn xuyên, bít hết, chắc còn vài khúc nhưng không có kế hoạch sửa chữa.

Bỗng Năm Cội lên gân – Bây giờ Mỹ vô nhiều, Mỹ chết càng nhiều, mình phải nắm thắt lưng Mỹ mà đánh chớ ở đó chui sao anh Hai?

– Vậy chú không chơi địa đạo chiến nữa hả ?

– Địa đạo chiến là gì?

– Là nghe địch tới, mấy chú ở dưới hầm ló lên bắn sẻ rồi thụt xuống đậy nắp hầm di chuyển sang chỗ khác rình địch tới lại bắn, rồi lại rút lui… Vậy đó !

Năm Cội ngẩn. tò te hồi lâu rồi lảm nhảm:

– Chời ơi chời! Ai nói với anh vậy?

– Thì cô nữ dũng sĩ Bảy Mô đã biểu diễn cho người ta quay phinh mà !

Năm Cội vỗ đùi reo.

– Con nhỏ khôn thiệt! Coi lẫm rẫm mà khôn tổ trời !

– Khôn sao?

– Nó gạt mấy ông ngoại quốc chớ sao. Địa đạo là để chui trốn địch chớ chiến cái gì được mà kêu là địa đạo chiến. Miệng hầm phải mở trong rừng. Trong rừng chỉ có xe tăng càn thôi, lính nó đâu có thèm đi cho mệt. Nó đi ngoài đường xe bò, đường cái, bộ mình rinh cái miệng hầm ra đó được à ? Tụi nó khôn lắm! Nó đang đi ở đây, cái nó kêu máy bay tới xúc đổ đằng kia. Mình đang chờ nó tới ở trước mặt chẳng ngờ nó bọc hậu, chạy hộc gạch chớ ở đó mà địa đạo chiến!

Tôi gạn hỏi tiếp:

– Vậy hồi nào tới bây giờ chú chưa áp dụng địa đạo chiến lần nào à?

– Để tôi nói cho anh nghe. Miệng địa đạo là phải giữ bí mật. Anh bắn nó xong rồi biến mất là nó biết anh chui xuống địa đạo chớ bộ nó ngu sao? Mà thiệt ra tôi chưa dám chơi kiểu đó. Vì đó chẳng khác nào lạy ông con ở bụi này. Nó chỉ cần biết hướng thôi là nó sẽ khoanh vùng này kêu pháo bắn. Rồi kêu phản lực dệnh bom, nắp hầm bật hết.

-Mình chạy qua xã khác!

– Chạy cách nào?

– Thì luồn dưới địa đạo. Nó dài tới hai trăm cây số bao quanh cả Đồng Dù nữa kia mà !

– Chời ơi chời! Bộ anh nói giỡn sao chớ! Cái khúc địa đạo của tôi không có tới hai trăm thước mà cũng không có ăn thông ra địa đạo của ai hết.

– Vậy tôi nghe nói địa đạo rộng lắm, đi xổng lưng như chơi và có hai ba từng, có nhiều ngã rẽ nếu không có ai dẫn đường người đi dưới đó sẽ bị lạc không biết đường ra.

Sáu Mã Tử và Năm Đầu Ban cười hắc hắc. Năm Đầu Ban nói:

– Chưa đủ đâu anh Hai ! Nay mai tụi em còn đem xe lam xuống đưa khách nữa đó !

Năm Cội cười nhe bộ răng xếu xáo:

– Ừ phả i ? Há há . . .

Sáu Mã Tử nghiêm chỉnh hỏi:

– Anh về dưới này ở lâu không anh Hai?

– Tôi ở luôn Củ Chi.

– Vậy anh dạy tụi em bắn pháo với!

– Ừ! Tôi vừa dạy sơ sơ đội nữ của con Út Nhỡ rồi. Sẽ mở một lớp cho ba huyện Trảng Bàng, Củ Chi, Bến Cát.

Năm Đầu Ban nhảy tưng lên.

– Dạy như vậy sao anh? Vậy anh dạy luôn tụi em đi để tụi nó bào láng tụi Đồng Dù không còn cho tụi em chơi đó.

Năm Cội ngạc nhiên:

– Bắn pháo khó không anh Hai?

– Khó khiếc gì, hồi đánh tây bộ đội có học hành gì cũng bắn được vậy.

– Anh ở ngoải học mấy năm?

– Hai năm, đi Trung Quốc bổ túc một năm.

Năm Đầu Ban kêu lên.

– Trời! Sao anh dạy tụi nó có một buổi?

– Chiến trường này không cho phép kéo dài, mình phải dạy tắt!

Vừa đến đó thì một chú bé chạy đến, vừa thở hổn hển vừa nói đằng mũi:

– Anh Nă…năm, họ nói biệt kích thằng Gắc …

– Ở đâu?

– Không biết ở đâu.

– Không biết sao báo cáo?

– Dạ người ta chạy gần gần.

Năm Cội bảo Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử dọn dẹp cái Binh Công xưởng chụp cây trường bá đỏ.

– Anh Hai ở đây, có gì mấy đứa nó dắt cho lặn.

– Để tôi đi ra ngoài đó với mấy chú.

Thế là tôi theo Năm Cội. Cô Nhánh đang ở trong nhà thấy tôi chạy ngang thì dúi cho một gói nho nhỏ. Tôi không biết món gì trong đó, cứ quơ lấy và chạy vụt đi. Cô bé này coi bộ cũng mết anh Hai lắm, nhưng nó cũng như cô Út Biếc, thuộc loại gà giò chưa biết gáy.

Năm Cội kéo ngọn chạy thẳng một hơi ra cây xoài múc. Đây là một cây xoài già gốc to và cao nhất trong vùng. Tôi đã đi qua đi lại đây nhiều lần. Mỗi lần đi qua thì tôi nghĩ nó có thể làm điểm cho máy bay tìm mục tiêu như cái nhà mũ trên Hố Bò . Nay mới biết Năm Cội xử dụng nó như một cái sân thượng gác lính xuất hiện tứ hướng. Đứng dưới gốc xoài xum xuê như tàng lọng mà nhớ Trường Sơn. Những cây cổ thụ che mắt máy bay rất tốt nhưng nếu tróc gốc thì nó lại giết người một cách dã man nhất. Nó đè thân người bẹp như chú nhái bén. Tôi đã từng chứng kiến rồi. Năm Cội ngước lên:

– Đứa nào ở trên đó?

– Tôi là thằng Kềnh.

Thằng Ựng cũng ngó theo, hả họng nhắm mắt nói ngọng và cà lăm tối đa:

– Cái mà …à anh Năm với anh Hai chớ không phải lính đâu đừng có gun té lũng guột nghe!

Năm Cội hỏi: .

– Có thấy gì không Kềnh?

– Có mấy chấm đen đen đi ở ngoài phía Đồng Dù. Tôi nghi lính thằng Rắc biệt kích nên biểu thằng Ựng chạy về cho anh hay để bố trí trận địa.

Năm Cội quát:

– Đi xuống, để tao lên coi !

Tôi hỏi thằng Rắc là thằng nào. Năm Cội xì một tiếng rồi lên giọng:

– Đây là tụi biệt kích con ở ở ngoài Củ Chi do thằng Rắc chỉ huy. Tôi không ngán bọn này đâu. Chỉ sợ nó đi ban đêm mình đang ngủ , nó thọc vô , chớ ban ngày tôi đoán được hướng nó đi thì tôi cho nó ăn mìn tân tạo ngay thôi. Nhưng nói thì nói chớ vừa rồi nó luồn vô rất êm, giết một tổ trinh sát của tiểu đoàn 7 đang di chuyển từ Phú Hòa về Bàu Trăn. …

Thằng Kềnh đã tuột xuống đất. Năm Cội dợm leo lên, tôi bảo cho tôi lên với. Năm Cội hỏi:

– Anh tập kết mà cũng biết leo à ?

– Tập kết thì không biết leo hay sao? Tôi với chú thi đua chơi !

Năm Cội leo tới đâu tôi bườn lên tới đó . Lên đến quá nửa thân cây thì có một tấm ván lót trên chảng ba. Năm Cội ngồi nép một bên chừa cho tôi một bên. Tôi ghé đít và tựa vào nhánh cây to sau lưng cảm thấy rất an toàn vì tàng lá quá rậm ri không ai có thể nhìn thấy. Nhánh cây chắc chắn không có thể tét được. Nhưng có một điều không an toàn.

– Rủi pháo bắn làm sao tuột xuống kịp, chú ?

– Tuột đại, được khúc nào hay khúc nấy còn bao nhiêu thì nhảy thí mạng. Chời ơi chời, có lần tôi và thằng Ựng lên bị nó giã gạo, thằng Ựng hoảng quá , còn một khúc xa mà nó phóng ẩu bị trẹo giò, cả tháng còn đi cà xẹo.

Tôi bảo Năm Cội chỉ hướng cho tôi. Năm Cội vẹt lá trỏ tay giải thích:

– Đồng Dù khuất sau xóm Cây Sộp xanh um đó. Chỗ máy bay quần quần. trực thăng xoáy xoáy đó là cái ổ Mỹ. Con đường I làng đỏ như gạch bút chì chạy thẳng ra xóm Phú Hiệp. Dấu đất đỏ đỏ là chỗ chúng nó đang ủi dọn láng vườn tược nhà cửa. Phía bên trái là Xóm Mới. Mấy chấm li ti di động đó là người ta băng đồng từ Bàu Chứa đi đến chiếc cầu gỗ trên lộ số 7 còn làn gân xanh rì là ranh giới giữa Nhuận Đức và Phước Hiệp. Gần đây nhất nhấp nhô đó là Đồng Mả, là nơi đó có cả trăm cái mả , ai chết không có đất chôn thì cứ đem ra đó mà dập. Vừa rồi pháo giã trúng, xương cốt văng tùm lum. Nghe nói trước kia Cao Đài cũng bị vùi ở đó.

Năm Cội chỉ mấy chấm di động và nói:

– Chắc thằng Kềnh nó thấy mấy người đó nó nghi là biệt kích.

Tôi mở chiếc hộp đeo bên hông lấy ống dòm ra. Thấy món vật lạ Năm Cội tò mò hỏi, tôi bảo chút nữa sẽ cắt nghĩa.

(Cái bửu bối này tôi được thằng Ngô Huy Hùng chủ nhiệm Trinh Sát phát cho lúc tôi về U80 nhận lệnh ở chỗ thượng tá Nguyễn Bá Phúc tới nay chưa dùng vào việc gì ngoài mấy lần dọa hai cô Nga và cô xã đội phó: “ống dòm xuyên qua cả vải! “)

Tôi kê ống dòm vào mắt điều chỉnh tầm mắt thì thấy chỉ là những người dân thường. Chung quanh đây vắng lặng không thấy có một hoạt động nào. Chắc bụng không có biệt kích, tôi đưa ống dòm cho Năm Cội. Cội .kê mắt, tôi điều chỉnh. Cội kêu lên:

– Chời ơi chời! Rõ thiệt rõ ta ơi ! Thấy y như là ở trước mắt vậy Gần xệu hè anh Hai à!

Cội vừa quay qua quay lại vừa chắt lưỡi hít hà:

– Cái máy gì mà tài quá vậy anh Hai? Coi đã thiệt!

Xem mãn nhãn rồi, Cội khom xuống kêu:

– Ê ! Ựng, Kềnh lên đây coi này.

Cả hai vọt lên như sóc. Cội nhường chỗ. Mỗi đứa được coi ống dòm một hồi, rồi tất cả tuột nhanh xuống đất. Cả ba chàng du kích đều trầm trồ cái máy gì lạ vậy. Từ trong nhà ông Tư Ất, hai chàng bưng ra một rổ khoái mì luộc lót lá chuối xanh ngắt. Tất cả làm tiệc dưới gốc xoài. Ông Tư đã ra ấp chiến lược. Vườn và nhà của ông do du kích quản lý. Họ rút vách làm củi nấu cơm, nấu khoai mì. Tôi lấy cái gói của Nhánh dúi cho lúc nảy, mở ra: đường táng, thuốc rê, trà, giấy quyến. Năm Cội vừa bẻ khoai mì mời tôi vừa nói:

– Xe tăng, pháo, trực thăng cái nào cũng ngán, nhưng ngán nhất là biệt kích anh ạ ! Các thứ trên thì mình đề phòng, trốn tránh được, còn cái món biệt kích thì vô phương. Ở trên Phú Hòa Đông, cơ quan họp dưới hầm, biệt kích đến, không hay. Nó ném lựu đạn chết sạch. Anh nghĩ coi, một hầm mà nó tung mười mấy trái ? Ông Tư Tâm cán bộ huyện ngủ dưới hầm ban trưa, nó cũng đến tung cho một trái. Bây giờ thứ đó lộng lắm. Nó chưa dám lên tới Hố Bò – An Nhơn, nhưng ở Mội Nước Nhỉ, Ngả Ba Cây Trắc, đường I Làng, Nhuận Đức và Phước Hiệp đã nhẩm dấu chân của tụi nó. Thằng Rắc nghe nói trước là du kích ở đâu trên Gò Đình trở cờ ra ngoài đó nên nó thuộc đường trong này, nó thọc luồng tuông không có thể đoán được đường đi đường về của nó nên không đánh được. Có lần chạm trán với bọn này, nhưng rồi nó rút mất hồi nào không hay bọn này cứ chổng khu phục kích nằm chờ. Lại còn một vài kiểu rắc biệt kích nữa. Nó dùng trực thăng thả xuống rừng êm rơ. Mình láng cháng ra rừng đào hầm là đụng nó. Nó không thèm chơi mà để đó, chờ mình làm xong, nó cho ruồng, mình chui, nó khui hầm lôi cổ lên. Hoặc xe tăng càn phía trước, chúng nó núp sau đít. Xe tăng rút về, chúng nó nín lại, phục kích mình bằng mìn nổ chậm. Đánh xong rút êm không cần lấy vũ khí. Có nhiều người bỗng dưng mất tích không biết đi đâu, ít lâu sau tìm thấy xác ở ven rừng.

Tôi hỏi.

– Mấy đơn vị khu không hoạt động à?

Năm Cội bị nghẹn miếng khoai mì, cố nuốt trửng rồi nói:

– Tiểu đoàn của Bảy Nô hồi trước thì còn đóng tập trung gió máy dữ lắm, nhưng năm nay thì phân tán mỏng ra từng trung đội rồi cứ bám lấy miệng địa đạo mà ăn hút. Nghe xe tăng biệt kích thì cũng lủi hoặc né như tụi tôi vậy. Tụi nó rút về thì vô quán mua đồ về nhậu. Mấy cái quán cóc ở đây làm giàu nhờ mấy ổng. Ông Bày Nô cưới con gái bà má Hai bán hủ tiếu ờ Bào Lách. Tiểu đoàn của ổng quanh quẩn ở đó. Ở dưới Phú Hòa Đông thì có tiểu đoàn 2 của ông Sáu Thiệt và Tám Lệ. Tiếng là bộ đội Gò Môn (tức là Gò Vấp Hóc Môn) mà cứ trồi lên trên này ôm miệng hầm, không đánh chát gì. Em nghe lén mấy ông cán lớn đi trên R về uống rượu rồi bật mí rằng có ông đại tướng nào ở miền Bắc vô dọa đốt cái rừng Bời Lời để cho bộ đội Tây Ninh ra mặt có không anh?

Tôi ú ớ…Cội tiếp:

– Em nói thiệt nếu em có quyền thì em ra lệnh lấp hết ba cái địa đạo này, giặc đến, bộ đội rút xuống hang hết ráo, như vậy chừng nào cái Đồng Dù này mới tróc chớ? Có mình tróc thì có!

Cội bảo thằng Ựng vô nhà nấu nước đem ra châm trà trong cái vỏ đồ hộp Mỹ . Vừa uống nước vừa hút thuốc. Khói lên xanh um gốc xoài. Năm Cội bật cười:

– Nhưng mình không cần lấp. Vài bữa xe ủi của Mỹ tới nó làm dùm mình. Thử coi mấy chả còn chỗ đâu mà ngồi thum như mấy bà Năm Đang, Hai Xót nữa? Tụi con Út Nhỡ, Bảy Mô với mấy ông đờn cò đờn gáo của gánh hát Năm Sang đã trồi rồi. Tụi nó đi đào hầm mới.

– Còn chú thì sao?

– Ăn thua gì em! Cội vênh mặt bướng bỉnh. Với mấy quả mìn tân tạo và vài cây mút nội hóa tụi em vẫn lao đầu này lách đầu kia, tụi em vẫn bám được mảnh đất này mà. (Cội bắt đầu xưng em với tôi.) Em bị ông già la ghê lắm, nhưng em làm bộ không nghe . Tụi em đánh giặc như cơm bữa . Ngày nào không đi bám đi canh là không yên tâm. Đâu có ai phát cho khẩu phần quần áo gì. Đụng vườn hoang nào cũng nhào vô quơ chuối non, mì già, bất cứ thứ gì để dồn vô bao tử. Bởi vì về nhà có khi không được chén cơm nguội. Ông già ổng đòi bỏ đói em mà .

Năm Cội được trớn tố khổ luôn:

– Tụi em vừa đánh giặc vừa làm mướn nuôi trâu. Tụi em đi gặt lúa hoặc gánh hàng cho bà Tư The (má con Chia) đổi lấy thuốc hút hoặc đèn cầy để đào hầm bí mật. Vậy mà tụi em vẫn ra đây canh giặc mỗi ngày. Không có tụi em mấy ông Chín Lộc Sáu Huỳnh làm sao ở yên? Nhưng mấy ổng ỷ là mùa thu có vợ ngoài thành vô mua cho xe Bờ Rô chạy nhong nhong ăn nói huênh hoang, coi tụi em như cỏ rác. Em nói thật, tụi em mà bỏ cái cây xoài múc này là mấy ổng bị biệt kích làm thịt ngay thôi. (Quả thật sau đó ít lâu, đội du kích của Cội lung lay không bám gốc xoài nữa, biệt kích vô bắn chết Tư Minh trong lúc Sáu Huỳnh và Chín Lộc đi vắng.) Hồi mấy năm trước giặc còn ở xa, tụi em phải từ trên này lội xuống tới Phú Hiệp để phối hợp với tụi Ba Trắng, Bảy Thung ban ngày bắn tỉa tụi lính Mỹ dắt đĩ ra rừng. Nhưng bây giờ Mỹ bung ra phản công lại tụi em, tụi em thì phải co lại phòng ngự rất thụ động. Nếu bộ đội mà không bẻ được càng của nó thì chúng em hết phương cụt kịt. Ở dưới Phước Hiệp bây giờ chỉ còn có một tay súng thôi. Đó là con Tư Lan.

– Cỡ Bảy Nê, Bảy Mô, Út Nhỡ không?

– Mấy cô này nặng về mặt biểu diễn, chớ so với con Tư Lan thì chưa đi đến đâu. Quận đội đề bạt nó làm đội trưởng đội nữ, chỉ huy mấy cô này, nhưng nó không làm. Nhà nó ở xóm Bàu Điều, em có đến. Mỗi ngày nó đều dắt đội của xã ra sát Đồng Dù bám trụ nắm chắc tình hình, nếu không có gì nguy hiểm, nó về nhà ra đồng làm việc. Tụi thằng Bảy Sơn có lần bị biệt kích thằng Rắc rượt ở gần ấp chiến lược Cây Trôm chạy có cờ, nếu không có con Tư Lan chận lại thì chết cả lũ rồi. Nó ôm cây bá đỏ đứng tựa gốc cau bắn mười mấy phát liền. Anh phải biết loại súng này bắn ba phát là bể cả vai chớ không phải êm ái gì đâu. Em nghe em phục lăn.

Năm Cội đang nói bỗng ngưng ngay. Một chốc, hạ giọng:

– Em có phối hợp với nó mấy lần. Em thích nó lắm. Ngặt vì ở xa quá, ít gặp nhau.

Tôi đưa ống nhòm lên nhìn quanh rồi trao cho Cội. Cội tra vào mắt rồi reo lên hoan hĩ:

– Chời ơi chời!, rõ thiệt? Chỗ con Lan ở kia kìa nhưng bị Quốc Lộ I áng không ngó thấy. Anh có thấy cái đường đất nâu nâu không? Đó là con lộ số 2 từ Trung Hòa chạy xuống. Vô nới trong này xanh xanh kia là rừng cao su rồi tới Xóm Cây Sộp: Còn xa xa nữa là Ba Xa Trảng Lắm.

Cả một vùng mênh mông cắt ngang cắt dọc bởi lô đất lộ đá sông rạch mà người ta bảo là có một địa đạo bao quanh Đồng Dù. Tôi nhìn những bàn tay xù xì của Cội, Ựng, Kềnh, nhớ những bàn tay mềm như liễu của các tiểu thư hôm qua, bất giác tôi tự hỏi: những bàn tay này có phép thần chăng? Hai trăm năm mươi cây số, ba lần bằng Hà Nội – Nam Định, gần bốn lần bằng Sài gòn – Vũng Tàu, năm lần bằng Sài gòn – Long An. Cách mạng ơi, nói láo vừa vừa thôi chớ!

Cái vành đai thép của ông Trưởng phòng chính trị Quân khu quả là vĩ đại. Tội nghiệp những anh du kích thật thà chất phát và gan dạ như Năm Cội, Bảy Mô, Bảy Nê được gán cho danh hiệu anh hùng dũng sĩ mà chẳng biết rằng mình chì là những khúc củi do bàn tay của đảng cầm đút vô lò lửa đỏ rực của chiến tranh.

Tôi ngồi nghe Cội kể chuyện, ta thán, tự chế diễu mà vừa cảm phục và thương hại họ vô cùng. Hai mươi năm trước ông cha họ đánh với thực dân Pháp bằng tầm vông, phi tiêu, dao găm, lựu đạn có đuôi ném mười trái không nổ một, ngủ nóp, chân trần ra trận ôm súng mà không biết lên đạn như thế nào, giờ chót sắp nổ súng cấp chỉ huy mới dạy cho. Ta thắng được Pháp là nhờ thần thánh phù hộ và đó là sự may rủi.

Ngày nay đánh Mỹ, súng trường không còn xài được nữa. Mỹ xài M16, Mi9, toàn ra-phan. Trực thăng bắn cà-nông 20 ly một phút tám ngàn viên. B52 bỏ bom một loạt tan hai chục cây số đường đá. Thế mà ở đây Năm Cội đi đào bom và đạn cà-nông lép để đánh xe tăng, leo lên cây xoài để canh giặc bằng mắt thường, không có khẩu phần; không có quần áo Thế giới cổ kim họa chăng chỉ có thằng Hà Nội mới nướng dân nướng lính trong một tình trạng võ trang như vậy.

Chúng cứ ở ngoài Hà Nội hô thừa thắng xông lên, đội bạt bom để giành chiến thắng. Vì sao chúng hăng hái như vậy? Vì con cháu chúng không có đứa nào vô đây để đội bạt bom cả Thằng dân Nam kỳ ơi ! Mày đã sáng mắt chưa? Mày còn muốn ở trong trái tim người nữa không vậy hả?

(Năm 68 Năm Cội chết trên cánh đồng Bàu Lách quê hương của anh. Trận đó Mỹ càn nặng. Bộ đội không xuất hiện một mống nào. Chỉ mình Năm Cội, thằng Ựng nói đớt và thằng Kềnh cà lăm vác mặt ra chống xe tăng. Bị vây đuổi ráo riết Năm Cội đặt mìn rồi chạy bị trực thăng đổ chụp. Cội chạy trở lại và đạp trái mìn tân tạo của chính mình gài. Năm Cội không còn. Cây xoài múc đứng cô đơn một lúc. Gió reo vi vút như linh hồn của chàng du kích chất phác ngây ngô. Một bữa kia, bom rơi. Cây xoài cũng ngã. Đồng Mả thêm một nấm mộ và trống bớt một vùng trời do cây xoài múc choáng mặt lâu nay. Những dũng sĩ diệt Mỹ ngày xưa hiện giờ đang vét những hố bom để làm ao nuôi những con cá rô còm bán kiếm sống qua ngày, hẳn còn chưa quên Năm Cội. Có lẽ họ nhìn thấy lại chàng dũng sĩ đánh xe tăng dưới đáy nước đục từ kia. Chín Lộc chắc đã lên tới đại tướng tình báo còn Sáu Huỳnh thì về nhà chăn vịt như anh đã từng dự tính trước đây. )

Chương 47
Nước mắt người con gái Củ Chi

<
Sáu Huỳnh đi với tôi một đoạn đường. Anh không còn đùa dỡn như mấy hôm tôi ở chung với anh chờ móc em tôi vô nữa. Lần này móc cũng quác. Em tôi không vô, hay không vô được. Sáu Huỳnh nhắc lại:

– Cứ thế cứ thế. . . – Anh sang tình hình Củ Chi – Cái điệu này cơ quan sẽ không ở đây được lâu. Nó lấn đất dần dần. Mày ra H6 nhận công tác sớm sớm để liệu mà di chuyển đơn vị.

Tôi không biết nói gì. Hai người đồng hương đi bên nhau. Tiếng máy bay và tiếng xe tăng rù rì bốn phía. Thời gian đi sao nhanh thế. Mới là con nít đã già. Những hình ảnh quê hương lùi xa tít tắp. Ở đâu tôi cũng có bước chân qua từ Nam ra Bắc, từ Bắc chí Nam. Nhưng không đâu là nhà . Bao nhiêu cuộc tình trôi qua nhưng không người con gái nào là vợ. Tôi đâu có muốn lê trái tim qua những mớ tóc rối hoặc nhận chìm nó trong những biển nước mắt biệt ly. Nhưng làm sao? Những cuộc biệt ly nối tiếp những cuộc ly biệt. Nước mắt những người con gái yêu tôi đã chảy đầm đìa ở vườn hoa Thống Nhất, ở rừng Trường Sơn, ở ven sông Bà Hảo, ở ngoài hiên “Hoàng Cung”, ở trên nắp hầm bí mật v.v… và giờ đây… tên lính lê dương cách mạng lại tiếp tục viễn chinh.

Sáu Huỳnh hỏi:

– Mày định gì chưa?

– Định gì mà định anh?

– Mày không thưa gì với ông già à?

– Thưa gì bây giờ anh?

– Tao coi bộ ổng buồn lắm, buồn vì nổi mày, nổi nước non, rồi nổi mày và thằng em mày.

– Tôi biết anh Sáu ạ, nhưng tôi không có cách gì.

– Ổng là người thức thời. Ổng bỏ kháng chiến không phải vì gian khổ hay vì sợ xa gia đình mà vì lý do khác: ổng thối chí nản lòng ! Mấy cha Trần văn Giàu, Nguyễn văn Trấn, Hà huy Giáp nhử ổng vô đảng dữ lắm. Tao biết. Nhưng ổng bảo : “Tôi không có khả năng biến đổi thế giới như mấy ông. ” Ổng nói chuyện với tao, ổng trách khéo cụ Hồ… Tao làm thinh. Trả lời sao được. Ổng không phải là người dễ nghe tuyên truyền. Ổng có vẻ mến mấy ông Phan văn Hùm và Tạ thu Thâu.

-Tôi về đây chẳng mang điều gì vui cho gia đình, ngược lại, chỉ là khổ ải.

– Phải hồi đó mày đừng đi miền Tây, ở trên này với tao. Có lẽ ổng bắt mày về cưới vợ rồi. Tao thấy tội nghiệp ổng quá chừng. Ổng không mong gì hơn là mày cho ổng đứa cháu đích tôn.

Tôi thở dài ngao ngán:

– Chắc tôi phạm tội, một trong bốn tội lớn nhất: không con nối dòng.

– Con Chia nói gì với mày tao biết hết. Nó học với má nó. Má nó rủ rỉ với tao. Bả cũng muốn bắt rể . Bả nói kỳ tới bả sẽ dắt con nhỏ lên nhà mày đó mày ạ. Con Chia nó nói mày đã nhận nó là vợ của mày rồi kia.

– Thì tôi cũng cần có vợ thiệt đó chớ anh Sáu.

– Rồi sao?

– Tôi không thể đứng ra cưới, nhưng nếu nó tới nhà tôi ở và có con thì tôi sẽ coi như đó là việc đã rồi.

– Còn con nhà cao bồi này?

– ….!

– Bộ mày cũng hứa gì với nó rồi hả ?

– ….!

– Tao coi nó lậm bang còn nặng hơn con kia. Nó yêu mày theo cái kiểu Loan và Dũng trong Đoạn Tuyệt hoặc là chàng ra đi lưng khoác chiến bào em ngồi mong bên song cửa. Mày mà cưới con kia nó nổi khùng lên dám ra Củ Chi kêu pháo bắn tan xóm này lắm. Tao biết tánh nó. Nó không sợ ai hết! Nó dám xông vào chỗ nguy hiểm. Nó lỳ lợm. Pháo bắn ban đêm ai cũng lăn xuống hầm, nó cứ ỳ ra ngủ như thường.

– Bây giờ tôi làm sao? Trái tim đâu thể chia năm xẻ bảy được anh Sáu.

– Tao biết nếu nó ở nhà nó sẽ làm bận mày dữ lắm, nên sáng nay tao sai nó đi Củ Chi lấy tin. Nói là lấy tin chớ chủ yếu là đưa nó đi để mày lên đường. Tao bảo mấy đứa dũng sĩ đưa mày lên ông Thần Núi.

Sáu Huỳnh rẽ vào nhà ông Hai Ất giao tôi cho đội nữ của Út Nhỡ rồi về . Út Nhỡ phân công cho Phượng và Út Lan đưa tôi đi (không phải Tư Lan người Năm Cội mê ). Có lẽ Út Nhỡ cho rằng tôi và Phượng tuổi tác quá chênh lệch không thể có chuyện pháo tầm xa được mà chỉ bắn chim sẻ tí ti thôi nếu có hoàn cảnh. Bên cạnh đó còn có Út Lan khống chế. Út Lan nhỏ tuổi nhất có lẽ chưa có ý thức về tình yêu. (Nhưng Út Nhỡ nhầm. Út Lan vẫn để ý tôi và đã nhét vào xắc-cốt tôi một lá thư)

Thế là Phượng và Lan chuẩn bị đưa tôi đi. Nỗi buồn vương mỗi bước chân. Lưng nặng tâm tư, đầu gục vì sầu não, trái tim rướm máu với bao vết thương. Vết thương gây ra bởi những chiếc móng tay búp măng còn sâu hơn bom đạn. Nó đã rạch vỡ rồi thì kim chỉ nào cũng không thể vá may.

Tôi không đến gặp Chia trước khi đi. Chỉ nói chuyện với nàng đêm qua. Nàng coi như đã là vợ tôi rồi. Tôi hình như không có một sự từ khước nào cả . Thôi thì cứ vậy đi. Tiến tới như một chiếc xuồng trên dòng nước trôi; ắt phải đến, huống chi có bàn tay chèo?

Bảy Nê nói:

– Chậm chậm một chút cho tan phèn đã anh! Bây giờ còn sớm lắm! Đi nửa đường rồi nó đổ chụp không có chỗ chui.

Người buồn nhất có lẽ là cô Bắc kỳ lai Ba Cấm. Nàng cứ nhấp nhứ định nói câu gì nhưng lại không nói. Nàng đi theo tôi ra cổng, trao cho Phượng cây tiểu liên của nàng và dặn:

– Em Phượng đi trước bám bìa rừng cao su. Anh Hai và Lan đi sau cách một trăm thước, khi tình hình êm thì vẫy tay anh Hai và Lan mới đi lên, nhưng Lan phải đi trước anh Hai năm chục thước cảnh giới cẩn thận. Khi đến đường số 7 phải đi nhanh băng qua suối Xóm Mới.

Tôi quàng cổ cô trung đội phó hôn lên má:

– Chu đáo quá nhà quân sự! Cám ơn! Thôi được rồi, đi vô đi .

Ba Cấm rơm rớm nước mắt.

– Bữa nay em sẽ nằm suốt ngày không làm gì nổi !

– Sao vậy?

– Em ốm mất ?

– Anh đi nhe. Kỳ sau sẽ dạy pháo và địa đạo.

– Viết thư cho em!

Một Thu Hà khác đứng ngó theo tôi. Tôi không quay lại nhưng vẫn trông thấy cô Bắc kỳ lai đứng đó chẳng biết lúc nào trở thành tượng đá Củ Chi. Lan quay lại:

– Anh Hai chuẩn bị băng qua ruộng. Anh lột dép ra đưa em xách cho.

Phượng lên đạn tiểu liên và vọt trước. Tôi cũng rút khẩu K54 ra lên đạn xuống cò nước nhỏ rồi tra vào vỏ. Lan nói:

– Mình phải sẵn sàng vậy thôi ! Tụi Trung Hòa chưa dám thọc vô tới đây. Nó chỉ vô rìa Gò Nổi là cùng, chớ không dám bước vô xóm. Du kích An Nhơn của ông Ba Tâm gài lựu đạn nhiều lắm. Ở ngoải cũng có đội du kích túc trực canh gác như đội của anh Năm Cội. Nếu tụi Trung Hòa vô tới Gò Nổi là du kích bắn báo động để tụi mình ở Lô 6 hoặc Ba Sòng biết.

Tổ ba người chúng tôi rẽ xuống ruộng đi theo lối mòn. Hai cô dũng sĩ sẵn sàng trong tư thế chiến đấu. Đi một quảng đụng con suối, không có cầu, chỉ có hai khúc dừa lều bều trong lòng suối. Chúng tôi lội bừa. Buổi sáng chưa có dấu chân qua lại, nước suối trong veo, những cụm lá hẹ trôi theo nước uốn lượn mềm mại như những mớ tóc suông xanh rì.

– Suối gì đây hai em?

– Người kêu là suối Xóm Mới, kẻ gọi Suối Bào Trăn hay Bào ôn. Nó bắt nguồn từ Bào Đúng tận trên Hố Bò . Mùa mưa nước tràn không lội qua được.

Chúng tôi lên tới xóm bên bờ suối rợp tre trúc. Đường dốc cao dần như đi lên đồi. Đến một quãng đường rậm có một cây cao su ngã ngang. Không ai bảo ai, cả ba đều ngồi xuống nghỉ. Tôi vừa ngồi xuống vừa hỏi:

– Có con ve không hai em?

– Ở đây không có thứ đó. Phải lên rừng Lộc Thuận thì mới được nếm mùi.

– Rừng ở đây hiền khô, còn ở Trường Sơn, nhiều đoạn khách dừng lại là vắt ăn thịt. Đứng nghỉ cũng phải dậm chân, nếu không, nó đeo dính cả hai bàn chân rồi bò tới lỗ tai mà cắn. Mấy cô mấy bà lấy dây quấn từ mắc cá lên quá đầu gối mà nó vẩn vượt vĩ tuyến như thường.

– Rồi làm sao đi?

– Thì cũng nhắm mắt lội càn chớ làm sao ? Nhiều cô học sinh Hà Nội khóc rùm. Có cô nhõng nhẽo đòi giao liên mang dùm ba lô…

Lan nhìn tôi:

– Nếu em đi ngoài đó chắc em đòi anh cõng quá !

Tôi vò đầu Lan:

– Anh còn lê không nổi cái xác anh nữa là cõng em !

Lan gợi lại chuyện hôm trước.

– Anh Hai đào hầm giỏi quá hé !

Phượng nguých.

– Mày không có đào với ảnh sao mày biết?

– Em đứng miệng thí, em lôi ki nào ki nấy muốn cụp xương sống cóng xương sườn mà không biết à?

– Trông các đội ai đứng miệng thí cừ nhất em biết không?

– Chị Là xã đội phó xã Phú Mỹ Hưng !

– Sao em biết?

– Lần đó chỉ thách tất cả nam nữ nếu ai đứng lâu hơn chỉ thì chỉ sẽ đãi một nồi chè.

– Có ai thắng không?

– Không?

– Em cũng thua à?

– Hồi đó em chưa vô du kích. Gia đình em ra ấp chiến lược Suối Cụt hết cả rồi. Em và anh em trốn ở lại nhập du kích đó chớ. Anh em công tác ở xã Phước Thành.

– Phước Thành ở đâu?

– Ở phía trên đường số 7 giáp với quốc lộ I, phía dưới là xã Phước Hiệp. Đầu trên có suối Sâu giáp ranh với Trảng Bàng. Hồi 62 du kích xã em mạnh nhất. Ban ngày mà dám ra chận đường bắt xe đò lấy hàng hóa chở về cả mấy xe bò, nào vải, nào thuốc lá, đường, đậu vô số. Mấy ông du kích liên hoan ngày đêm. Lại còn vô tiệm hàng xén bắt chủ đóng thuế.

Nghỉ chân một lát, lại đi tiếp đúng một tiếng đồng hồ đến đường số 7. Phượng bảo tôi và Lan đứng lại nép vào bụi, cô nàng ghìm tiểu liên đi tới, một chốc quay trở lại ngoắc. Tôi và Lan đi lên. May mà không có chuyện gì. Nếu có thì sao? Chết lãng nhách.

– Chỗ này đầm già thường bắn điểm lắm. Nó hay phục kích trên mây xanh rồi bất thần nhào xuống bắn xe đạp chạy trên đường. Đi nhanh lên anh Hai!

Từ sáng tới giờ tôi đi giữa những những lỗ bom, pháo, đạn, tro than. Không có mấy nơi là không có dấu vết chiến tranh. Nhà không cái nào còn nguyên, không cháy thì giở bỏ cột kèo bừa bãi, nền nhà trơ trụi, một con chó mực nằm rầu chủ, mấy con mèo chạy vụt ngang đường. Cả một vùng đất hoang tàn tang tóc. Đi qua một khóm trúc, Lan bảo:

– Đây là nhà chị Tám, em gái nuôi của ông Hai Thái.

– Ông Hai.Thái ở đây à?

– Không, ổng đi đi về về thôi. Ổng là chánh trị viên tiểu đoàn Quyết Thắng, cũng là mùa thu như anh.

Phượng quay lại gắt:

– Mùa thu thì mùa thu chớ không phải như anh Hai.

– Em nói ổng cũng là mùa thu chớ em không nói ổng giống như anh Hai. Anh Hai đâu có em nuôi 18 tuổi như ổng.

Lan tiếp:

– Vừa rồi má ổng vô cho tiền và xe Bờ Rô. Ổng không dám nhận xe còn tiền thì lấy rồi đem ra làm tiệc đãi ….

– Đãi tiểu đoàn à?

– Không, đãi các em nuôi! Em có tham gia một tiệc ở Ràng. Cốt ý của ổng là mua chuộc đám em kêu ổng bằng anh đừng kêu bằng chú, nhưng ăn xong, đám em vẫn kêu bằng chú, ổng cự nự quá sá. Ổng bảo: “Tao vầy mà chú à? Tao cho tụi bây biết Tổng bí thư đảng có vợ bé ít hơn ba chục tuổi đó, có ai kêu ổng bằng chú không?” Em nói: “Không kêu chú, nhưng kêu bác.”

Đi đường mới qua toàn cảnh lạ tôi không nhận ra chỗ nào, bèn hỏi:

– Gần chợ An Nhơn chưa?

– Anh định vô đó lượm than và hốt tro hả ?

– Quán cô xám bán nước đá còn không?

– Nhà cháy, tiệm sập, một hố bom đìa giữa sân chợ. Cô xẩm của anh chạy tuốt xuống Bàu Trai dưới Hậu Nghĩa rồi.

– Sao em biết cô ta?

– Thì lần anh tập trung mấy bà mấy cô và thiếu nhi tại chợ, cho ông nhà báo quay phim em ở trong đám con nít được uống nước đá khỏi trả tiền đó chớ đâu. Anh lên đó dàn cảnh phải không?

– Nhà của ai còn ngói đỏ au vậy em?

– Nhà chị Tám Phụng, phụ nữ xã mới được đề bạt lên quận. Cũng loại gác máy bay. Nhưng không có lép xẹp như khô cá hố kiểu bà Năm Đang, Hai Xót đâu ? Anh muốn làm ông quận thì đâm đơn vô . Cỡ anh thì chỉ đạo một vòng là bắn trúng mục tiêu thôi.

Một lát Phượng lại trỏ một ngôi nhà khác. Tôi nhìn vào.

Hai bên hiên có những cây bưởi. Bưởi non và vỏ bưởi vung vãi đầy gốc. Trước nhà có mấy gốc vú sữa. Một gốc bị xén mất một nửa tàng lá. Cành quặc xuống lòi cây trắng như xương. Tôi chợt nhớ cây vú sữa nhà má Hai. Rồi nhớ bé Rớt, nhớ Lụa, Là. Gia đình thứ hai của tôi đó. Không biết cô xã đội rắn mắc còn giận mình hết?

Phượng bảo:

– Đó là nhà của ông Út Vọng, cũng tập kết.

Tôi hỏi như giật mình.

– Út Vọng nào?

– Út Vọng chớ Út Vọng nào. Vợ ổng có chồng rồi. Ở ngoài Củ Chi á ? Bả lấy lính mới chết chớ !

– Chắc không?

– Cả Củ Chi biết sao không chắc ! Anh ra ngoải có gặp ông không?

– Không !

Tôi đáp vậy nhưng tôi biết ổng rành. Ổng là Trung đoàn phó Trung đoàn 2 đóng ở Thọ Xuân Thanh Hóa! Khổ chưa! Không biết ổng có hay tin này? Có bao nhiêu người chồng Nam kỳ như ông Út Vọng? Tôi không muốn nghĩ xa thêm. Chính tôi cũng đã hụt vợ vì đi theo kháng chiến ! Còn đi kháng chiến là còn hụt dài dài.

Tôi đang lan man nghĩ ngợi thì nghe tiếng chuông xe đạp leng leng phía sau lưng. Linh tính cho tôi biết đó là thằng Lạn. Vùng này bị bánh xe phong trần của nó rạch ngang rạch dọc như mặt thớt. Nhưng không! Đây là chắn con. Ua rẹc xe đạp tới trước mặt chúng tôi rồi thắng két, dừng lại bên vệ đường, chõi chân xuống đất, ngoáy cổ lại, trề môi:

– Đi đâu từ sáng tới giờ mới tới đây.

Phượng hất hàm.

– Đi đâu vậy ông tướng?

– Đi đưa anh Hai lên K10.

– Chú Sáu giao ảnh cho tụi tao rồi. Sao mày còn xía vô !

– Tụi bây đi cà rịt cà tang chừng nào mới tới? -rồi quay lại tôi nói như ra lệnh – Anh Hai lên đây !

Tôi bị kẹp giữa hai gọng kềm êm ái. Nhưng tôi quyết định chớp nhoáng.

– Phượng và Lan trở lại được rồi em. Ở nhà còn nhiều công tác.

Phượng phật ý, vùn vằn:

– Như vậy tụi em không hoàn thành công tác.

– Anh sẽ báo cáo tốt cho hai em.

– Chú Sáu bảo em đi riết theo chở anh mau mau lên K10 có công tác khẩn.

Lan và Phượng nghe nói thế đành chịu thua. Phượng rưng rưng:

-Anh Hai đi mạnh giỏi nghe!

Lan móc túi đạn ra một mẫu giấy đưa cho tôi:

– Đây là thơ của anh em gởi cho anh Tám bạn của ảnh công tác ở K10, anh tới đó, đưa đùm.

Ua chụp lấy ngay bỏ túi và quắc mắt:

– Để tao đưa dùm cho.

Ua lại giục. Tôi vừa ngồi lên ngọc ba ga vừa vươn cổ ra lải nhải với Phượng và Lan:

– Công tác khẩn cấp nên chú Sáu mới bảo Ua đi thế này hai em ạ? Hai e….

Ua vọt tới, cắt ngang câu nói của tôi, còn quát:

– Anh ôm em cho chặt, em đạp mau té bây giờ !

Tôi chưa hết bàng hoàng thì Ua đã chạy vun vút như con ngựa chứng. Tôi vẫy tay lại Phượng và Lan. Hai nàng dũng sĩ đứng chết trân. Chỉ có Lan vẫy đáp, còn Phượng thì im lìm. Có lẽ nàng cảm thấy những cái hôn hôm nọ trở thành vết thương trong lòng nàng chăng? Ua lên giọng gay gắt:

– Mấy con nhỏ như rùa.

Tôi chẫm rãi:

– Sao chú Sáu bảo em đi Củ Chi?

– Xí quan trọng gì ba cái chuyện đó. Em đi một quãng rồi quành ra đây chận đường anh.

-Đi đường nào mà tài vậy?

– Anh biết đâu mà hỏi.

– Đi vầy rồi về một mình sao?

– Em trở lại đường số 7 ra Gò Nổi rồi ra Củ Chi, khó gì !

Tôi thầm nghĩ: con bé này ghê gớm thật. Ua nói:

– Em đi kỳ này có thể là lần cuối cùng với anh. Không còn gặp lại hoặc gặp lại mà không như trước đây.

– Em nói gì vậy?

– Một là chú Sáu cắm em luôn ngoài Củ Chi để tìm cách đột nhập vào Đồng Dù . Như vậy là không còn gì nữa. Em đã bảo anh hôm đó mà anh không nhớ sao? Thì bây giờ em phải bắt anh.

– Vậy sao bữa hôm em nói em nhường đứt anh cho Chia?

– Nói vậy thôi, chớ anh cưới con Chia thì em sống sao được ?

– Ai nói với em anh sẽ cưới…?

– Nó sang nói với ngoại, má nó cũng nói với ngoại. Thôi, em nhường anh cho nó . Em sẽ lao vào công tác để quên anh. Em sẽ không bao giờ lấy chồng.

Tôi cảm thấy mình có tội. Tôi đã nghiêng hẳn về Chia. Ua cũng biết. Ngoài ra còn sự bàn bạc giữa má Chia và ngoại. Tôi chống đỡ lấy có:

– Sao em bảo ở chung?

– Nói vậy cho anh yên tâm chớ trái tim ai mà cắt ra hai mảnh như vậy được.

Tôi rụng rời hết cả tay chân, chẳng còn biết nói năng sao cho xuôi. Ua vừa đạp hùng hục vừa nói liên miên, tôi tưởng như nàng là đứa con gái đã trên hai mươi.

– Anh yêu con Chia là phải đấy. Nó đằm thắm, nó học giỏi, nó khôn khéo hơn em. Cái gì nó cũng hơn em cả. Nó chỉ thua em một điều.

– Điều gì?

– Nó không yêu anh bằng em.

Tôi bất ngờ nghe như bị một mủi tên cắm phập vào tim.

– Và đó là điều quan trọng nhất để sống với nhau. Học giỏi không cần trong tình yêu. Còn sự khôn ngoan trong tình yêu lại là một điều tai hại. Em yêu anh, em không có suy tính đám cưới, không tính chuyện đến nhà anh gì cả. Vừa trông thấy anh không biết anh là ai, em đã yêu ngay. Em tự nhủ lòng mình đây rồi, người mình mơ ước. Chưa bao giờ em để ý đến mấy ông thanh niên chung quanh đây, em thấy họ thấp thấp thế nào ấy. Thanh niên gì lại gởi em ra chợ Bắc Hà mua sợi xanh-tuya-rông hoặc một cái bi-đông US để chi anh biết không?

-Để chi?

Để tặng lại em. Sao họ có thể khúm núm như vậy? Em có thể mang bộc phá vào đánh lại Mỹ Đồng Dù và chết luôn trong đó chứ không thể nào nhận những món quà như vậy. Anh chọn con Chia làm vợ là đúng, chọn em là lầm. Còn anh chọn em làm người yêu là đúng nhưng cưới em làm vợ là lầm. Trước đây em cũng tự lầm lẫn nên mới đòi anh thưa với bác chuyện nọ chuyện kia, thậm chí cưới em. Em đã lầm chính em. Em chỉ yêu anh thôi còn làm vợ anh thì không chắc hoặc chắc là không. Anh hiện đang cần vợ hơn cần người yêu

– Vậy anh là người không biết yêu?

– Có thể ! Xưa nay những người yêu nhau đều không lấy được nhau cả? Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài, Lan và Điệp, Dũng và Loan v.v… Không lấy nhau thì còn yêu nhau. Lấy nhau rồi tình yêu là đĩ vãng.

Tôi có cảm tường như Ua giảng cho tôi một bài học đường đời vô cùng thấm thía. Tôi thấy tôi trẻ lại và đồng thời già lên. Tôi hỏi:

– Vậy em bảo anh phải làm gì bây giờ?

– Anh hãy tự hỏi anh!

Ua đèo tôi đến một khóm vườn tre mạnh tông và trúc lẫn lộn, nhà cửa xệu xạo đường đi ngập cỏ hoang.

– Đây là căn cứ của ông Năm Lê ở trong nhà ông Ba Xây xã đội phó An Nhơn Tây. Anh đến đây phải cẩn thận . Ổng gài lựu đạn bốn bên. Mỗi một bụi gai mắc cỡ có một cái chông ba lá ẩn dưới đó. Mỗi một bước đi có thể là một hầm chông. Nhà ổng bị nguyên một trái rốc kết cháy tiêu vừa dựng lại sơ sơ. Vợ con ra ấp chiến lược ngoài Trung Hòa. Ổng với mấy tổ du kích còn bám lại. Ổng có hầm ngách thông ra địa đạo nên chủ quan lắm.

Ua bảo tôi xuống, nàng dắt xe đi theo một lối mòn bên ven bờ tre rồi vòng ra sau ruộng. Rồi men theo một bờ ranh mà trở lại vườn tre bằng ngỏ sau. Nhìn vào trong thấy có làn khói mỏng, tôi hỏi:

– Ở đây cũng làm bếp Hoàng Cầm nữa à em?

– Đó là bếp của ông Năm Lê, còn du kích của ông Ba Xây thì làm biếng cứ nấu bừa bãi chớ đâu có làm bếp Hoàng Cầm.

Chợt thấy một cô gái thấp thoáng bên trong, Ua gọi:

– Chị Hiền!

– Ai đó.

– Em đây. Có khách của chị tới !

– Ông thầy pháo phải không?

– Sao chị đoán tài vậy?

– Chú Tám bảo ra đón mà !

– Làm sao vô?

– Qua ngã bên hông kia kìa. Lối sau đã rào bít rồi. Cứ đi đi không có lựu đạn đâu.

Ua dắt xe quay trở ra ruộng bọc theo phía cô gái vừa chỉ.

– Đến nơi rồi ? Thôi anh vào nhé . Em đi về .

Ua nói với giọng lạnh lùng, nhưng tôi biết đó là một sự đè nén ghê gớm. Tôi bảo:

– Em đừng giận anh, Ua nhé !

– Giận gì mà giận. Dù sao em cũng đã yêu anh và được anh yêu … hức hức… nhiều.

– Mãi mãi.

– Không! Bây giờ thì anh đang cân nhắc lợi hại. Khi cân nhắc, tình yêu không còn nữa. Cũng như đánh giặc. Nếu ra trận mà suy nghĩ lần này ta có còn sống để trở về không, bị thương mấy vết, nặng hay nhẹ, thì không thể đánh giặc được nữa .

Ua đẩy tôi ra, nhìn tôi bằng ánh mắt hờn dỗi:

– Môi anh hết điện.

Tôi giật mình. Nàng cảm thấy điều này thực tình hay chỉ phỏng đoán. Tôi thấy sợ nàng. Nàng phẫn chí dám liều lắm. Tính tình của nàng lạ lùng. Nếu xảy ra chuyện gì thì tôi phải chịu trách nhiệm.

-Thôi chào anh!

Ua quay lại rồi dắt xe vọt ra con đường mòn khác không thấy nàng quay lại. Tôi đứng chết trân, cảm thấy như gân cốt trong người đều bị cắt đứt. Một tiếng nói bên tai làm tôi tỉnh lại. À Hiền. Hiền nhoẻn miệng cười xinh xắn:

– Anh đi vô đi anh.

Tôi vẫn đứng, tâm thần chưa định. Bỗng thấy chiếc xe đạp lấm lem bùn đất dựng ở gốc bưởi, tôi hỏi:

– Xe của ai vậy em?

– Xe tiếp phẩm mới về .

Tôi vừa nói vừa bước lại dắt chiếc xe:

– Cho anh mượn chút.

Rồi phóng vút đi. Tôi đuổi theo Ua, theo ái tình, theo cái hạnh phúc vừa vuột tay. Tôi vừa chạy vừa kêu. Nàng đang ở trước mặt tôi rõ ràng mà như một ảo ảnh. Chiếc xe vẫn nảy lên như con ngựa chứng. Tôi vọt qua mặt và chặn đứng nàng lại

– Ua !

Nàng thắng gắt, ngã xe qua và quắc mắt:

– Anh theo em làm gì nữa.

– Em không yêu anh nữa à?

– Anh không còn yêu em.

– Sao em nói vậy?

– Anh không hôn em.

Tôi sực nhớ ra tôi đã không hôn hoặc quên hôn nàng lúc sắp chia tay. Chính tôi cũng không hiểu tại sao. Tôi ôm chặt lấy đầu nàng:

– Hôn nè, hôn nè. Chút chút… Còn giận hết?

Nàng buồn rầu nói.

– Môi anh nguội ngắt!

Tôi cũng không hiểu tôi nữa. Điện nguội từ bao giờ. Tôi dìu nàng dắt xe đi song song. Đường nắng chang chang nhưng tôi nghe lạnh buốt. Đến mối đường cỏ mọc lan, tôi nhìn vào trong thấy một ngôi nhà ngói cũ hoang tàn. Tôi nắm tay nàng quẹo vô Nàng ngoan ngoãn vâng lời, Nhà cửa ngổn ngang. Chúng tôi chỉ đứng ngoài hiên để khuất mắt người đi đường. Ua phụng phịu:

– Anh biết em đến làm chi không?

– ????

– Bữa nay là ngày chắc đậu thai hơn bữa hổm.

Tôi ôm và ép nàng vào tấm vách ván cơ hồ rung rinh cả ngôi nhà. Nàng tiếp:

– Đời em kể như tiêu rồi. Chỉ có anh mới cứu được em thôi.

– Lại ghen với Chia.

– Ghen cũng có nhưng hết rồi. Em còn đâu nữa để mà ghen. Em sẽ ra Củ Chi công tác, như em đã nói. Vậy thì chỉ có chết thôi. Em đến đây hôm nay là nhằm ngày trứng rụng để em có con với anh. Nếu trong ba tháng liền mà em tắt kinh thì em nghỉ công tác luôn. – Ua nói rất bình tĩnh như chuyện thường – Em sẽ ở nhà nuôi con. Ai hỏi em con ai, em sẽ đưa tấm hình ra, không cần giấu giếm.

– Hình rửa rồi à? Thợ nào vậy?

– Rửa rồi. Em rửa lấy chớ thợ nào. Chú Sáu Huỳnh có bộ phận nhiếp ảnh. Thằng cha Bắc kỳ tên gì không rõ ở ngoài Củ Chi lâu lâu đem phim vô rửa trong này. Nó bảo em vô phòng tối giúp cho nó một tay. Em ham coi hình nên em vô. Nó vừa làm vừa dụ dỗ em, bảo nếu thích ra Củ Chi ở với nó mở tiệm chụp hình. Nó sẽ chụp hình em thiệt to treo ở trong tiệm… Rồi nó mò em, nó hun em. Chàng ngờ em học được nghề nó và hôm nay lại có ích!

Nàng móc túi lấy ra một xấp ảnh đen trắng:

– Chối nữa thôi.

Tôi nhìn tấm đầu tiên mà lóa cả mắt, chóng mặt giây lâu. Mình nhìn rõ lại mình.

– Em cũng mắc cỡ quá trời, nhưng nhìn vài ba lần thì quen. Rồi em nhớ anh, em không chịu được. Con Chia chụp hụt mấy pô

Trời đất! Con nhỏ này ngông nghênh.lãng mạn đến kỳ cùng. Pô thứ nhất ghi dấu thằng Đồng Khởi của tôi trong tư thế… Pô thứ hai …. . Pô thứ ba …. nghĩa là một trăm phần trăm em ơi !

– Em đưa của con Chia cho nó. Còn cái nào có dính cả hai đứa thì em cất.

– Coi chừng lọt ra ngoài thì chết.

– Em hổng sợ mà anh sợ hả?

Tôi không hiểu nàng tiêm nhiễm ở đâu các kiểu lãng mạn kỳ tình đó . Văn hóa Đồng Dù và cái không khí chết chóc của Củ Chi? Con người biết mình sắp chết nên tìm những thú vị chăng? Chắc là vậy. Nàng rất tha thiết lặp đi lặp lại:

– Em muốn có con với anh. Còn việc anh cưới em, em không đòi hỏi như trước nữa. Em biết là việc đó bất thành. Nhưng em muốn giữ lại cho tình yêu duy nhất của em một kỷ niệm thật chớ không mơ hồ hoặc trong những bức thư.

– Em không bỏ công tác được à?

– Em đã thề với ông Chín Lộc là không bỏ cũng không làm hại công tác. Cũng như anh, anh có bỏ đảng, bỏ cách mạng được không?

Tôi lặng thinh. Nàng cứ nói miên man, hễ tôi ngưng lâu nàng tiếp. Những câu nói như những vết búa đập chan chát vào tình cảm của tôi. Tôi có cảm tưởng là nàng đã lặp lại những câu nói trong một cuốn tiểu thuyết nào hay chính nàng đang, hoặc đã trở thành nhân vật tiểu thuyết. Nàng mếu máo rồi khóc nức nở:

– Em không còn ghen với con Chia nữa. Vì nó rồi cũng như em thôi. Anh sẽ không cưới nó, còn nó rồi sẽ không còn ở đây. Cái hầm của chúng ta từng sống với nhau sẽ bỏ hoang. Không có nó, không có em và cũng không có anh đến nữa. Má nó sẽ dời ra thị trấn ở với má em. Chúng ta sẽ không còn gặp nhau… Yêu em đi. Đây là lần cuối cùng. May mắn trời cho thì em có được đứa con.

Đây là lần cuối cùng chăng? Tôi yêu nàng, đứng, giữa ban ngày, giữa hoang tàn và giữa tiếng bom, pháo gần, xa.

—->Chương 48 – 49- 50 – 51- 52

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: