2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QIII- (48-52)

2000ngaydem_bia3
Tiếng Sét Ái Tình và Tiếng Sấm Bom Đạn

Chương 48
Gặp lại cố nhân hốc hác:
Sơn Tiêu và Tám Nghi

Trong kháng chiến chống Pháp cũng từng có một vụ thất tình của một anh cán bộ đã dẫn tới một hành động chính trị Một anh chàng học sinh Sài gòn dắt một cô bạn ra bưng để xây tổ uyên ương trong khói lửa. Ra khu được ít lâu, một tên cán bộ trung ương giỏi mép Mác xít đã cuỗm được cô nàng. Chàng kia uất ức trở lại thành kêu quân đội Pháp đến oanh tạc và đổ bộ đánh tan một hệ thống cơ quan ở vùng Bạc Liêu. Những người có trách nhiệm tìm cách che giấu rất kỹ nhưng sau cuộc tấn công bất thần đó, truyền đơn rải khắp nơi. Mỗi tờ giấy trắng đều in rõ hình anh chàng hận tình, tên tuổi và câu chuyện bị cuỗm người yêu cùng với danh tánh của những kẻ trong chuyện.

Sau đó lại xảy ra một chuyện khác ở vùng Cần Thơ. Tên tư lệnh mắt mèo Võ Quang Anh hốt vợ chưa cưới của sinh viên trường Quân chính Quang Trung. Cậu sinh viên này phẫn chí bỏ về thành đi học trường sĩ quan quân đội Sài gòn, lúc đình chiến lên đến trung tá. Trước khi về thành cậu ta nhắn với bạn thân: “Mày nói thằng này địt mẹ cách mạng dùm tao nghe!” Thằng bạn thân đó chính là tôi.

Có lẽ nào giờ đây tôi là kẻ cuỗm vợ chưa cưới của ai? Tôi không bao giờ làm chuyện đó. Ngược lại chính một tên tư lệnh mắt mèo khác đã cuỗm người yêu của tôi. Nhưng tôi không nói gì cũng không thèm phản ứng. Vì tôi biết nàng ta không yêu hắn mà bị bà mẹ nàng dồn ép, dâng nàng cho hắn để hắn không đến ve vãn bà ta nữa. Sự ve vãn này có thể đưa đến sự thất tiết của bà . Lẽ thứ hai tôi luôn luôn nghĩ con gái như mảnh lụa đào phất phơ giữa chợ, cũng như chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn. Ta tìm cái khác. Thiếu chi mà ta phải ghen tương giành giật với nhau? Xoàng!

Với triết lý đó tôi không bao giờ đau khổ vì tình. Không có người con gái nào làm tôi đau khổ, và tôi cũng không muốn ai đau khổ vì tôi. Tôi muốn họ coi tôi như một thứ chim trời, cá nước, một con bướm khi vui nó đậu khi buồn nó bay. Tôi chỉ sợ Ua quẩn trí thì khốn.

Cô nàng chỉ vọt ra Củ Chi trong vòng ba tiếng đồng hồ là cả vùng này nát như tương. Thoắt nghĩ như vậy tôi muốn vọt theo nàng nhưng nàng đã ra đến đường lớn. Chiếc xe phóng nhanh. Cô Hiền ra đến cái ngõ lan cỏ hoang rắp hờ bằng một nhánh chà tre để ngăn biệt kích chớ gì? Rõ một trò đùa. Ở trên R có một cơ quan cũng làm như cảnh giác cao, bắt nhân viên đốn nứa rào một châu vi rất rộng. Chẳng ngờ đó là một cách phô trương. Chẳng bao lâu biệt kích đột nhập, phối hợp với trực thăng đổ chụp giết sạch nhân viên.

Cô Hiền kẻo nhánh chà tre qua một bên lấy lối cho tôi vào rồi rắp lại ngay. Tôi vừa bước ít bước thì từ một cái chòi lá lụp xụp núp dưới một gốc bưởi bước ra một người: .

– Ê! bồ nhà !

Tôi nhìn ra ngay: Tám Nghi! Nhưng một Tám Nghi xơ xác hãi hùng. Hắn là thượng úy đoàn viên của một đoàn sĩ quan do tôi làm phó đoàn vượt Trường Sơn. Tám Nghi nói.

– Ổng được điện bá o của H2 mày đã rời trên đó hồi sáng. Tao cho người rình nãy giờ ! Thôi đi vô, đi vô ! Ổng đang chờ mày như trông nước uống.

– Gì mà dữ vậy?

– Mày thuộc về thứ dữ rồi chớ còn gì nữa?

– Ăn ở gì mà kín cổng cao tường vậy? Còn hơn mấy ông trời con giao liên trên Trường Sơn trốn khách!

– Phải vậy mới sống ! – Tám Nghi quay lại Hiền lót tót theo sau bảo – Em đi vào đem trà kẹo và thuốc lá ra đây để anh bạn anh giải lao chút rồi vô yết kiến bệ hạ !

Tám Nghi đẩy tôi vào chòi. Trong đó có một chiếc võng mắc sẵn. Hắn bảo tôi giăng võng nghỉ ngơi chờ lệnh. Tôi nghĩ: lại một thứ triều đình con con so với trên R. Mỗi một ông lớn hùng cứ một vùng tha hồ đặt ra điều lệ riêng cho mình. Tôi hất hàm hỏi tám Nghi:

– Cô em nào coi khớ vậy?

– Thì cũng con nuôi của các ông thôi, hỏi làm gì?

– Mày không nuôi đứa nào à?

– Tao lấy gì mà nuôi?

Phong trào con nuôi em nuôi coi bộ lây khắp nơi!

– Biết vậy hay vậy, chớ có nói ra mà mất chỗ đội nón!

– Con gái bây giờ mà lọt vô cơ quan của mấy ông là in như phi tần của hoàng thượng vậy.

Tám Nghi móc thuốc Capstan ra mời. Hai đứa nằm võng lắc lư coi trời bằng hột vịt qua làm khói mờ. Tám Nghi hỏi:

– Tao nghe đồn mày sắp làm phò mã đâu ở trển?

-Đếch gì!

– Ở trển có phải yên thân không?

– Mày không hay vụ dưa hấu rụng kỳ rồi à?

– Có chớ sao không. Mày tưởng dưới này không có thứ đó sao mà vác càng tôm xuống đây?

– Dưới này còn lượm mạnh hơn trên đó hả ?

– Dưới này còn bận Ba xây, ba chống, ba khoan nên để trên R lượm trước.

Hai đứa cười rù với nhau thoải mái. Phải có Tư Linh là đủ bộ ba ông Táo tha hồ mà phun mây nhả khói. Nguyễn Trường Nghi không biết ở tỉnh nào. Tôi không hề hỏi quê quán hắn mà hắn cũng không hỏi gốc gác tôi. Tôi biết hắn là tay xạ thủ súng ngấn của trường Lục Quân Sơn Tây. Trên đường về Nghi bệnh nằm lại trạm Tl4. Mới có hai năm mà anh ta trông hom hem quá đổi.

Hắn đoạt hạng tư trong toàn thể các tay súng ngắn Liên Xô và Đông Âu. Trên đường Trường Sơn, Nghi là tay bắn khỉ đại thần sầu còn tài hơn Dương bá Dương nữa đấy, không phát nào sẩy mà toàn ngay đầu. Khỉ mà bắn trúng mình thì kể như ăn máu… nó thôi. Tám Nghi buông một câu bất ngờ. .

– Thằng Trần Chánh Lý nằm lại ngoài đó muôn năm! . ..

– Không biết Bảy Phương có sửa sang gì lại cái mộ nó hay không?

– Vào trong này đụng tăng Mỹ mới nhớ đến nó . Thượng úy chống tăng lại nằm ở chỗ không có tăng!

Hai đứa thở dài với nhau sườn sượt. Tám Nghi chợt thấy chiếc nhẩn trên tay tôi, hỏi:

– Bộ mày có dính với cô nào rồi sao?

– Cô nào?

– Không biết con Thu Hà . . .

Tám Nghi bỏ lửng không nói thêm, cơ chừng sợ đụng chạm tới cô nào. Tôi nói:

– Tao vẫn lang bang như xưa !

– Ai biết đâu. Tao nghe nói mày bị đeo dữ lắm. Nào thành phần cơ bản, nào tiểu tư sản!

– Cũng có nhưng không dính với ai.

Tám Nghi uống trà và đốt thuốc hết điếu này mồi điếu khác Hắn ngó mông lung trên nóc lều một hồi lâu và nói:

– Mày biết vụ bà chằn trên R không?

– Bà chằn nào?

Tám Nghi ngó quanh như cảnh giác điều gì và nói:

– Bà chằn Rừng Sát xuống tới đây này.

Tôi giựt mình:

– Hồi nào vậy cha nội?

Tám Nghi nghiêng qua gần tôi và thầm thì.

– Cũng mới đây thôi! Mày đừng có học đi đồ lại nghe chưa ? Đứt đầu đó ! Mẹ! Tao không hiểu ngày xui tháng rủi gì mà tao lại gặp một chuyện như vậy .

Nghe Tám Nghi nói vòng vo, tôi cũng đoán ra rồi, nhưng để y bật mí thử xem. Thì đúng y như rằng:

– Không hiểu bằng cách nào mà bả mò trúng ngay chóc hầm ông Đờ Cát.

– Rồi cái tuồng đó diễn ra như sao?

– Thì đại khái là quăng cái hồ lô của bà lên hô giáng. Ổng cũng quăng cây gươm phép của ông lên hô giáng đáp lại. Bả chỉ tay một cái và hô thâu. Cây gươm chạy tọt vào hồ lô. Thói đời là vậy, cây gươm bao giờ cũng không thắng nổi cái hồ lô… Nè tao dặn kỹ nghe, chớ có nói ra nói vào. Gặp con nhà báo Nhỡ Nôm nó chụp được nó phết ra thì mệt cho ổng lắm! Hôm trước đóng ở trên kia cà, sau màn hỗn chiến đó sợ hôi ổ ổng rút xuống đây.

– Còn bả ?

– Bả là khu ủy viên mà mậy! Mấy bà Hai Xót, Năm Đang mọp dưới trướng bả nghe lệnh bả truyền nào dám chống lại. Các cơ quan của khu đóng trên đất Củ Chi này đều phải liên hệ với hai bà đó. Bả hỏi một tiếng là hai bà đó khai ngay. Ổng bây giờ sợ bả còn hơn sợ xe tăng Mỹ.

– Mày nói cà rởn hoài tao không hiểu gì hết, đâu nói rõ ra nghe coi. Tao hứa sống để bụng chết mang theo mà ! Tao thề độc – Tôi đưa tay ra – ngoéo tay nè.

Tám Nghi tiếp:

– Bả la ó dữ quá !

– Làm sao bả vô tận nồi gọ được vậy?

– Bả đứng bên ngoài bả la om lên. Bảo vệ ra đuổi bả. Bả rút K54 ra lên đạn rong róc và xưng tên. Ông thần mình sợ vỡ lỡ ra nên kêu bảo vệ đẩy bả xuống hầm để ém luôn. Bả dữ thiệt mày ạ. Tao không ngờ bả dám nói những tiếng quá ư nặng nề .

– Nói gì? Bả xổ nho à?

– Chậc! Không đâu! Bả là cán bộ đảng cao cấp hơn bà Ba Phó Tư lệnh R mà. Bả đâu có xài nho! Bả nói về bốn chữ Cần Kiệm Liêm Chính kia chớ !

– Bả hoan hô chữ nào nhất?

– Chữ nào bả cũng đem ra hô giáng ông thần cả ! Cuối cùng bả hạ một câu bất hủ : “Cụ Hồ còn đó sao củ không dạy cháu củ?”

(Tội nghiệp bà khu ủy viên! Bà tưởng cụ Hồ là người đạo đức! Đứt họng thì có! Toàn dân Nam kỳ đã nhầm lão già tàn ác này. Chính lão đã bỏ thuốc độc giết chết Dương Bạch Mai tại cuộc họp khoáng đại của Quốc Hội tại Ba Đình năm 1960. Ai cũng biết mà không dám hó hé!)

Tám Nghi tiếp:

– Lúc bấy giờ tao đang làm báo cáo ở trong một cái ngách hầm ngay bên cạnh hầm chính của ổng. Muốn tránh để cho hai bên tha hồ oánh phép, tao bèn chui tọt lên và chạy đi. Nhưng tai vẫn còn nghe văng. vang những câu rất ác…

– Rồi ông phản ứng làm sao?

– Ổng xuống nước nhỏ, rất nhỏ ! Nhỏ tối đa, tao chưa bao giờ có thể tưởng tượng đến thế.

– Rồi bả làm sao?

– Bả thì đi nước lớn, lớn thật lớn. Lớn như chưa bao giờ có thể tưởng tượng đến thế! Thôi, đại khái vậy đó, mày đừng có phổng rấn tao nữa, khổ thân tao lắm.

Tôi không hỏi hắn nữa nhưng suy nghĩ, hoang mang. Tôi chưa bao giờ thấy một lãnh tụ hoặc một cán bộ cao cấp đàng hoàng. Phải chăng thượng bất chánh hạ tất loạn. Ông trưởng phòng như thế thì còn dạy dỗ các trường ban và nhân viên làm sao? Tôi đi từ miền Đông qua miền Trung xuống miền Tây Nam Bộ trong thời kháng chiến. Đi tới đâu cũng nghe những chuyện lăng nhăng của mấy ông lớn. Ở miền Đông thì có ông Tô Ký, miền Trung có Trần văn Trà, miền Tây có Nguyễn văn Trấn và Võ quang Anh. Toàn những ông tư lệnh tư lọt không thôi. Lính lãi có quyền hành đâu mà giật vợ người. Người nắm quyền trong tay phải luôn luôn được kiểm soát chặt chẽ, nếu không sẽ gian dâm, hà lạm.

Tôi nhớ đám cưới Tô Ký, một thứ xa xí cực kỳ quái gở. Đèn măng sông đốt cả mấy chục cái trong rừng cao su, không nói làm chi. Rượu Tây uống không hết đem đổ trên đầu nhau chơi. Còn đám cưới của Năm Lê (tức là Sơn Tiêu) lính lấy thịt heo quay ném nhau như đất cục. Thế nhưng bây giờ Năm Lê lại phụ tình và bị vợ hạ nhục. Ắt hẳn bây giờ chị Hai Mặn ăn năn vì đã đá ông Trung đội trưởng Chọn kia để lấy ông Tiểu đoàn trướng Sơn Tiêu này. Tôi nói với Tám Nghi:

– Tao gặp bả trên trạm 66 R mày ạ ! Bả định đột nhập vào triều đình để hỏi tội đức lang quân nhưng lính gác kỹ quá bả không vào được.

– Mà có vào được cũng chẳng làm gì. Vì ổng đâu có ghé R. Ổng đi tàu lặn về Bến Tre rồi lội về đây nhận chức Phó phòng tham mưu luôn.

– Tha… m mu hả?

– Tha gì thì tha nhưng ổng bây giờ kẹt cò dữ lắm. Ổng không vô được đảng ủy thì có ngày rơi mão. Tao về đây hai năm rồi ngày nào cũng nghe ông chưởi bới gắt gỏng. Cả với ông Hai Phụng thượng tá Tư lệnh phó kiêm Trưởng phòng Tham mưu mà ông cũng tạt ngang, không ngán.

– Tại ổng không tha được cái mu con mẹ đan len ở Phố Hàng Đào vô đây nên ông khủng hoảng chớ gì. Còn ông tạt ông Phụng là vì ông này dốt không có thành tích bằng ổng, chứ đối với ông Ba Xu ổng đâu có dám lấn lướt. Ông ấy là Tư lệnh lại thành phần dân cạo mủ, vô sản trăm phần trăm, còn ổng thành phần lính thủy Tây. Ổng cũng biết tùy mặt mà lên chân! Thôi bỏ chuyện đó đi, mày rước bà xã vô chưa?

– Tao cũng ôm cây cà-nông-xăng-rờ. .. cum đây mà chịu trận chớ xã ớt gì đâu! Trên Trường Sơn thì bị sốt rét, xuống đồng bằng cái nọc muỗi đòn xốc cũng còn đây chớ nào đã dứt. Tối ngày cứ ru rú trong hầm chờ coi ổng có kêu tới la hét gì không. Làm chánh văn phòng mà y như thằng cần vụ.

– Sao có cái việc lẩm cẩm trong chức trách vậy?

-Ở đây toàn như vậy cả, không phải chỉ ở đây và mà mình tao. Mấy ổng bỏ hết điều lịnh nội vụ, điều lịnh kỷ luật của quân đội rồi. Mỗi ông là một cái đầu gà, muốn gáy kiểu nào cứ gáy. Tao chỉ huy cả một trung đội liên lạc, cần vụ. Tối ngày chuyên nấu cơm và móc hầm cho ông lủi. Kia kìa mày nhìn cái mái nhà lụp xụp đó ! Trên mặt đất trông không ra gì cả nhưng dưới hầm thì đủ hết: ván gõ, bàn ghế y như ở trên. Ổng không bao giờ bước ra khỏi hầm, trừ khi tiểu tiện. Tao chỉ thiếu việc bưng bô cho ổng nữa thôi. Ổng vừa ra lịnh cho tao bắt lũ con nít khoét đường cho ổng đi dạo quanh nhà này. Lạ thật! Ổng là trung đoàn trưởng pháo binh mà lại sợ pháo hơn tụi thường.

– Chính vì con nhà pháo hiểu tánh cách lợi hại của pháo nên sợ pháo hơn người thường.

– Ờ, mày nói đúng. Thằng Ba Xây, xã đội phó, chủ có nhà này, nó cho vợ con ra ấp chiến lược hết rồi ở lại đây tử thủ. Hàng ngày nó đi đặt lờ đặt lọp bắt cá tôm bán, có biết sợ sệt gì.

– Tao biết ổng hồi còn trẻ cũng gan lắm đâu có thỏ đế dữ vậy. Có lẽ về già lưng mật. . ..

– Mấy lúc ngớt pháo ổng kêu tao tới nói chuyện chơi. Biết chuyện gì mà nói? Bố ai dám pha trò với ổng.

– Hồi chín năm ổng vui nhộn và thể thao lắm! Trung đoàn 300 có đánh lấy được chiếc tàu Tây… tụi này chiều chiều thường chạy trên sông Vàm Sát la ó cho hả hơi. Ổng chạy đua, bơi lội đều giỏi hết.

– Bộ tướng ổng coi bộ cái gì cũng giỏi. Giò dài, tay dài mặt cũng dài… Từ hôm B52 cắt một đường vén ót tao coi bộ cái mặt của ông càng dài hơn ra, khó nhìn quá hè . Để chừng gặp ổng mày sẽ thấy tao nói có đúng không? Tối ngày ăn rồi cứ rút trong hầm, nếu độn thổ được chắc ông cũng độn thổ tới đất cái luôn.

– Bộ B52 có viếng khúc lòng ống này à?

– Có chớ. Nó rạch một lằn từ Hố Bò xuống An Nhơn bề ngang chừng hai cây số. Có lẽ đây là loạt mồ côiđầu mút cho nên độ bom không đông đặc lắm. Chừng hai trăm thước mới có một hố bom. Ấy là tao chỉ đoán mò thôi chớ làm sao biết được. Nhưng nếu nó chệch về phía trong một chút thì tụi này chắc hốt xương rồi. Chừng mày về H6 sẽ đi ngang cái nhát dao vén ót đó.

– Chắc gần Đồng Dù, tụi nó sợ xuống cựa nên làm nhẹ tay chớ gì ?

– Đây chỉ cách Đồng Dù chừng sáu cây số!

– Xa thì sợ B52, gần sợ tăng, pháo, biệt kích, mày muốn cái nào?

– Muốn cái nào à? Còn mày chạy vuột B52 trên R về đây bắt cái nào?

Tôi cười:

– Mày bắt cái nào tao bắt cái đó !

Tám Nghi ngưng một chút rồi hỏi:

– Mày về đây có kế hoạch đánh đá gì chưa?

– Đánh bằng cùi chõ hay bằng gì?

– Pháo phiếc tụi H6 chôn sống hết, mày về quật mồ lên mà xài.

– Tao không có một món khí tài nào trong tay, ngoài bộ thước xạ kích tổng hợp trong ba lô và cặp ống nhòm này.

– Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng ! Nói vậy sao được tía nó .

– Vùng thì vùng, còn lên hay không chưa biết.

– Tao thì muốn vùng mà nó không lên. Nó cứ nằm ỳ. Hề hề… mà thà nó nằm êm còn dễ chịu, chứ nó vùng lên thì mắc công kiểm thảo như thằng Hai Giả.

– Tao nghe đồn mà không rõ vụ đó ra sao?

– Thì có cái đách gì! Sướng con cu thì mù con mắt. Nó có vợ ngoài Hốc Môn, tháng nào cũng vô cho nó nộp tô, nhưng vì nó thích vùng lên nên ở trong này chịu không nổi lại thím xực thêm một bà . Vậy chớ có gì. Nghĩa là đúng y cái công thức con vòng con cỡi của mùa thu ta.

– Có vậy thôi?

– Vậy thôi đã hạ từng công tác, ngưng sinh hoạt đảng. Nếu hơn thì tới chuyện gì nữa?

– Trong khi vợ bé bố Duẫn ở villa còn bố thì làm Tổng bí thư với số phiếu trăm phần trăm.

– Chíp! Chuyện đời muôn năm nó là vậy. Nói đạo đức dễ hơn giữ đạo đức.

Bỗng có bấng kẻng khua leng keng trong nhà . Tám Nghi nhổm dậy, bảo:

– Sửa soạn triều phục, đi vô chầu cha nội. Bệ hạ gọi đó.

– Ê hồi nảy cô bé nào coi mướt vậy ta?

– Mày cũng muốn vùng lên hả? Con gái nuôi của ổng đó, nó là người thận cận với ổng hơn cả tao. Nó ra vào chầu chực mình rồng tự do còn tao có lô phôn gọi mới được tới.

– Ở đây có lô phôn cơ à ?

– Cái kẻng đó, không nghe sao? Đánh với Mỹ mà xài lô phôn cỡ đó, mày thấy bình minh lên khắp nơi rồi chứ?

– Tao đi đâu cũng thấy con nuôi. Ông Ba Thắng trên R, ông Tám Quang và ông Thần Núi ở đây.

– Con nuôi có hiếu hơn con đẻ . Con nuôi bố biểu cái gì cũng được mày có hiểu không?

Chúng tôi sánh vai đi đạp lên đầu những đám cỏ mịt mùng ít dấu chân. Người ta muốn để nguyên màu hoang dại. Tám Nghi bảo:

– Có đại yến đãi mày đấy!

– Yến gì?

-Tao chưa hề thấy ổng săn đón ai như đối với mày. Bọn hậu cần, liên lạc, cả tao nữa, được lệnh ổng chạy đi mua rượu tây la ve và một mớ thỏ để nấu sốt vang theo kiểu Hà Nội . Riêng tụi tiếp phẩm phải chạy mua cho kỳ được nước đá !

Tôi bật cười:

– Bỏ mẹ rồi!

– Gì?

– Mới đút đầu vô chiến đấu mà ổng cho ăn thịt thỏ là điềm chẳng lành. Vậy thì tao sẽ nhát như thỏ đế và chạy nhanh như thỏ rừng mà thôi!

Tới thềm nhà, Tám Nghi níu tôi dừng lại và nói nhỏ:

– Mày đứng ở đây, tao vô ngách bảo thằng cần vụ.

Một chốc Tám Nghi chạy ra, đẫy tôi đi trước, hắn rón rén theo sau. Tới hầm hắn bảo:

– Rồi, vào đi! Cởi dép ra !

Tôi làm theo lệnh rồi bước xuống bậc thứ nhất. Sao mà lạnh thế ! Tôi đã từng vào nhiều hầm nhưng chưa hầm nào giống âm phủ như hầm này. Đúng là hầm Đờ Cát. Tôi có cảm tưởng tôi là chú chuột nhắt đang chui vào lòng một quả núi đất. Quả núi mà sụp là chuột bẹp dí. Phải dùng ít nhất năm trăm nhân công mới đắp nổi cái hầm này. Lòng hầm rộng rải nhưng tôi lại thấy nó ngột ngạt khó chịu vì cái không khí ẩm ướt nặng nề và ánh sáng lờ mờ của một ngọn đèn cầy cắm ở một chỗ lõm của tường đất.

Tám Nghi bảo tôi ngồi ở một cái ngách có bàn ghế hẳn hoi. Đây là nơi cán bộ các ban ngồi chờ trước khi làm việc với ổng. Tôi đang đảo mắt ngó quanh thì cận vệ trở ra. Cậu ta bước lại rỉ tai Tám Nghi. Tám Nghi nắm vai tôi, bảo:

– Ổng kêu vào !

Rồi hắn đi trước tôi theo sau. Tôi nghĩ thầm ông thần này rành chiến tranh lắm. So với cái hầm của Tám Quang thì nó khoa học hơn gấp bội. Bỗng Tám Nghi quẹo qua trái. Hầm kiến trúc theo hình chữ L. Nếu đạn có nổ ngay miệng hầm miễng cũng không văng vào được. Một ngọn đèn cầy khác hắt ra một thứ ánh sáng nhà mồ. Tám Nghi quay lại bảo:

– Coi chừng sụp.

Tôi bước xuống luôn một mạch bốn bậc đất xén rất sắcnhư lót gạch. Ai xuống cái hầm này dù không đội bom đạn cũng có thể hiểu được cường độ chiến tranh ở đây. Tám Nghi đưa tôi đến một cái ngách đào sâu vào vách hầm, rộng bằng phân nửa toàn bộ hầm của Tám Quang. Tám Nghi trỏ vào bàn ghế, các cây trụ rất chắc và bảo:

– Đây là hang của tao và mấy cậu bảo vệ. Bàn để ăn cơm và làm việc. Trụ để mắc võng hai tầng.

Tám Nghi lại bảo tôi ngồi chờ rồi cười khoe cặp môi chì khô răn rúm:

– Mày coi tao kiến trúc hầm kiểu này đúng với hầm chống nguyên tử mình học ngoài Bắc không?

Đối diện với cái ngách này là một cái ngách nhỏ, trong đó một cậu bé đang ngồi trên một cái thùng gỗ thông đựng đạn DKZ. Tám Nghi bảo:

– Viết thư viết từ cái gì . Không có được gởi lén đó nghe. Bữa nào tao cho về Sa Nhỏ mà thăm nó. Bộ gần ngày cưới rồi nôn hả? Tao đây với ông thầy pháo này già khú rồi mà có được như mày đâu !

Thằng bé ngóc lên nhìn rồi nói:

– Chú già chớ thầy pháo có già đâu!

– Đi lại bếp bảo mấy đứa nhỏ lột da thỏ chuẩn bị xào nấu đi, khách tới rồi. Đứa nào coi lại nước đá rộng mạc cưa và trấu có kỷ không, để đến lúc dùng mà chảy hết, ổng cạo đầu tụi bây nghe!

Tám Nghi quay lại bảo tôi bỏ ba lô và các thứ lỉnh kỉnh ra để trên bàn ăn cơm, đứng chờ còn y thì đi tới rồi rẽ ngang về phía trái. Như vậy hầm có hình chữ Z. Tôi tranh thủ gạ chuyện cậu bé :

– Bộ nhà cậu ở Sa Nhỏ à?

-Dạ.

– Sao vô đây?

– Dạ, ban đầu em tòng quân ở Q Hai Chòi, học xong khoa tân binh, em đưa nguyện vọng ra đơn vị chiến đấu, nhưng họ đưa về đây.

– Chừng nào đám cưới?

– Dạ em hẹn với cô ta là giải phóng xong về cưới, nhưng xem mòi không mau, nên em muốn xin phép về làm đám cưới rồi trở vô nhưng chú Tám bảo khoan đã , tình hình này không có ai dám tập trung ăn đám cưới mà làm, nên em gởi thơ về bảo ở nhà nán lại một thời gian nữa. .

(Thì cũng kiểu hai năm thống nhất cậu ơi! Đừng có bao giờ tin lời hứa của cách mạng!)

Tôi bắt qua chuyện hầm hố:

– Hầm này đào sâu ngủ thoái mái quá ?

– Trời ơi mấy cháu đào hộc máu đó chú. Cả trung đội làm liên miên một tháng trời mới xong.

– Đà ngang bằng cây cao su hả?

– Dạ, đây là cột nhà giàu bỏ đi mình lấy đại về làm. Rừng chồi cây non đâu đủ sức chịu cái nóc hầm này. Tụi cháu lvừa trồng khoai mì và mắc cỡ trên nóc. Hồi trước có cái nóc lá nhưng bị B52 quạt bay mất.

– B52 ở ngoài xa mà.

– Nhưng mà hơi nó mạnh lắm, nó đi như sấm vậy. Nếu người đứng trên mặt đất không bị đạn thì cũng văng.

Tôi trỏ mấy đóm ánh sáng loang trên vách hầm, hỏi:

– Lỗ thông hơi khoét hay có ống tre?

– Dạ đặt ống tre đàng hoàng, còn khoét thì ít lâu đất lỡ bít hết.

– Có lót ni-lông trên đà ngang trước khi đổ đất lên không?

– Dạ có, chúng em còn đươn vỉ tre trải đè lên để đất lkhỏi rơi xuống nữa .

– Vậy là tốt! Ở đây đất cao nên lòng hầm đào rất sâu, trong Gót Chàng đất thấp, xuống một thước là đụng nước.

Tám Nghi trở ra. Tôi hỏi ngay:

– Cái hầm có ăn thông ra địa không?

– Có chớ ! Ba Xây có được một khúc đào trước kia. Nó vừa lỡ, tụi tao phải sửa sang lại để xài. Y tặng cho tụi này luôn. Y bảo: “Mấy ổng có chun thì chun, còn tôi thì dông thôi, chun xuống dưới rủi tụi nó moi được miệng hầm nó móc lên như móc cua, tôi hổng chơi.”

– Địa được bao dai?

– Trăm rưỡi thước.

– Mày có xuống thử chưa?

– Có chớ !

– Bao lâu?

– Chừng hơn nửa tiếng. Tao thấy tốt lắm.

– Hơn nửa tiếng thì tốt, chớ chừng ba tiếng trở lên phải coi chừng. Tao đã từng đào và từng xuống địa. Đây là vấn đề khoa học không phải vấn đề lập trường. Thiếu dưỡng khí thì dù có thừa lập trường cũng không kham! Mày phải đặt vấn đề nếu nó chốt trên đầu thì phải làm sao?

– Mày bảo tao phải làm sao?

– Người ta cứ tướng xuống địa như đi xuống nhà nghỉ mát, nằm ngủ khỏe re chờ giặc nó rút thì trồi lên bắn tỉa xuyên hông hay vét đuôi nó dễ như ăn ớt vậy. Sự thực không phải đâu. Một cái đánh dấm ở dưới đó có giá trị bằng một trái bom nguyên tử trên mặt đất vậy. Còn rủi mấy cô công chúa kia có kỳ thì cả hầm sẽ chết ngộp. Rồi khát nước, rồi tiểu tiện, rồi ăn uống. Bất cứ cái gì cũng kỳ cục khác thường hết cả. Đừng tưởng đơn giản mà chết.

– Sao mày rành vậy?

– Thì tao đã xuống rồi chớ sao. Cái thằng nhà báo Bọ Chét tới đây hồi năm ngoái đòi quay phim lòng địa đạo nhưng nếu nó quay được thì tai hại biết bao nhiêu. Cứ để cho nhân dân thế giới thưởng thức cái địa trên đài Giải phóng và đài Hà Nội thì tốt nhất?

Bỗng nghe tiếng lục lạc ngựa leng leng. Tám Nghi ngắt nhẹ hông tôi và thì thào:

– Ổng kêu vô !

Tám Nghi dẫn tôi đến miệng ngách rồi đùn tôi vào.

Một người cao ốm, mặt dài, cằm dài ,trán thấp mà ngang chàng, mắt lươn ti hí, nhe răng cười mà không ra tiếng chỉ lphát ra tiếng hừ hừ như sư tử vờn mồi, đi tới đưa tay cho tôi. Tôi bắt lấy và nói:

– Anh Tiêu, anh mạnh hả ?

– Cậu làm gì ở dưới với mấy thằng Bắc kỳ lâu vậy? Có lmóc được gia đình không?

– Dạ tôi nằm chờ. ông già vô cho tiền rồi về.

– Còn vụ thằng em?

– Dạ chưa kết quả .

– Mấy thằng đó làm ăn bá láp. Gặp đâu xâu đó . Cán bộ chiến đấu không phải dính vào những cái chuyện địch vận lăng nhăng như vậy. Con người ta ai cũng chỉ có một bộ óc, là hễ làm tham mưu thì không chính trị, hễ làm chính trị thì đừng làm tham mưu. Cái thằng chính trị nó nhìn cậu nó thấy như một cục mồi nhử cá, còn thằng tham mưu nhìn cậu như một cái búa đập kẻ thù, cậu hiểu chưa? – Anh vừa nói vừa móc gói Capstan ra đưa cho tôi – Theo tôi trong nghệ thuật chỉ huy không nên có hai bộ phận chính trị. và tham mưu cùng một lúc.

Tôi mời lại anh và bật lửa cho anh đốt. Anh nói:

– Kể từ khi cậu đi miền Tây tới giờ tôi không gặp lại.

– Dạ, có gần hai chục năm!

– Cậu hồi đó còn thiếu nhi nhưng đã có khiếu quân sự. Mười bốn tuổi mà dám đánh xe tăng.

– Dạ làm ẩu may mà được anh à .

– Cậu xài cái ống quẹt ngon quá !

– Dạ , của người ta mua ở chợ Bắc Hà cho. – Nói xong tôi để hộp quẹt lên bàn. – Dạ, anh cất dùng còn cái kia để tôi gởi ra Hà Nội sửa.

Tôi cũng có nhưng cái của xưởng cơ khí Hà Nội làm, quẹt rách ngón tay mà không ra lửa.

Tám Nghi thò đầu vô hỏi:

– Dạ anh Năm còn bảo gì nữa không?

– Dặn con Hiền mua thuốc hút cho tôi.

– Dạ có rồi anh Năm.

– Thịt thỏ bảo tụi nó chiên sả ớt, đừng nấu kiểu có nước lỉnh bỉnh như vừa rồi ăn tanh lắm.

Tám Nghi thụt ra, anh bảo:

– Cậu đó giáo viên Lục quân mà chậm chạp, không linh hoạt, việc gì cũng đợi nhắc.

Tôi mở sắc-cốt định lấy bức thư của thượng tá Phúc, Phó tư lệnh pháo binh R U80 của ông Tư Khanh, nhưng lại thôi, chỉ móc giấy công tác ra trình. Anh xem xong, để trên bàn, xòe bàn tay to lớn ra đập đập trên tờ giấy, gầm gừ:

– Cái này là không được.

Tôi giật mình hỏi.

– Dạ, anh nói sao ạ?

– Hễ công tác ở Tham mưu thì công tác ở Tham mưu không có chàng hãng hai chân vậy được.

Tôi.ngồi lặng thinh, khống biết số phận mình ra sao. Ổng không nhận thì có nước lội về R. Trên đó còn ai đâu? Sức hút duy nhất làm cho tôi trở về R là các em thôi. Các em đã tản lạc hết rồi thì về làm gì nữa? Anh hất hàm:

– Cậu muốn tham mưu hay chính trị?

– Dạ, ở trên sắp xếp đâu tôi ngồi đó.

– Nói vậy sao được. Tham mưu là thực tế: Nhìn bom đạn là bom đạn chớ không thấy nó là mầm mống căm thù như chánh trị. Theo cậu cuộc chiến tranh này sẽ đi đến đâu?

Tôi ngần ngại, anh bảo ngay:

– Trung ương không hiểu gì ráo mà phát động chiến tranh. Giống như hồi 45 tầm vông đánh xe tăng. Nhưng bây giờ không giống chút nào.

Một cô bé đưa trà vào. Anh rót mời tôi và uống ngay, rồi tiếp :

– Binh thư có nói ba yếu tố chiến tranh: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Kẻ nào có ba yếu tố đó sẽ thắng. Ta có không? Tôi sát hạch chính trị cậu đó. Nói đi nghe thử!

– Dạ, thiên thời ta có vì đây là đất của ta, Mỹ không quen cái thủy thổ nhiệt đới này. Địa lợi: ta có địa đạo thôn liền thôn, xã liền xã, ta thuộc lãnh thổ hơn Mỹ. Nhân hòa….

Anh cười như con cọp bị hóc xương:

– Nói về nhân hòa nghe thử.

– Ta có dân. Mỹ bị dân thù ghét.

Anh khoanh hai tay trước ngực, ngã ngửa ra thành ghế:

– Cậu làm chánh ta có thớ lắm! Hà hà… Cậu nói y như Tám Quang. Nhưng đó là những điều trật lất. Mỹ không chịu được nhiệt đới nếu nó không có máy lạnh. Mình ốm đau vì ăn ở ngoài rừng, bịnh không có thuốc. Thậm chí bị thương chở tới Bưng Còng ông Tám Lê chạy trốn. Lính rượt bắn ông đó là thiên thời. Còn về địa lợi thì đây nà – Anh dậm dậm chân : Địa xạo chớ địa đạo gì. Ở chui rút như chuột có thấy trời đất gì mà chỉ huy? Còn nhân hòa hả ? Thằng Ba Xây xã đội phó này cho vợ con ra ấp chiến lược hết rồi. Chung quanh đây bà con cũng đã đi hoặc sắp đi. Người ta không thích mình đến. Vì mình đến có nghĩa là bom pháo, B52, biệt kích đến. Cậu nhớ hồi chín năm không? Mình đi đến đâu gà heo ngã liệt địa tới đó, dân chúng sắp hàng hai bên đường chào đón hoặc tiễn đưa. Còn bây giờ? Cấp trên phán như vậy rồi, mình cãi làm sao?

Tôi không ngạc nhiên về nhận định của anh. Tôi cũng nghĩ thế, có điều tôi không dám nói ra. Anh rót trà uống và tiếp:

– Cuộc chiến tranh này ác liệt hơn, ta phải hi sinh nhiều hơn và nó sẽ kéo dài hơn cuộc kháng chiến chống Pháp, ngoại trừ thằng Mỹ chạy làng. Nếu không, với tương quan lực lượng này ta không thấy có lý do để chiến thắng. Tôi nói thật đấy mà. Tôi đi tàu lặn với năm chục ông cấp tá . Tàu cặp bờ biển Bến Tre. Từ đó về đây phải chạy chừng một chục cuộc đổ dù. Qua những lần đó tôi tổng kết tình thế của miền Nam về mọi mặt. Dân quan chánh đảng và tình hình quân địch.

– Xin anh cho tôi nghe với.

– Uống nước đi, chút nữa ở đây ăn cơm với tôi một bữa ngon nghe ! – Anh hớp trà rồi trở lại vấn đề – Ta ép buộc dân làm chiến tranh, không phải họ tự nguyện. Bộ đội ta vũ khì không bằng 1/100 quân địch. Đây tôi chỉ cho cậu một điểm. Chiến tranh là tội ác, bất cứ chiến tranh nào. Thằng nào giết người nhanh và nhiều nhất thằng đó thắng. Về điểm này Mỹ có ưu thế hơn ta nhiều. – Anh chĩa ngón tay trỏ vào cốc trà và chấm chấm trên bàn – Đây là cự ly đạn phát ra từ lòng súng M16 không đấy một tấc một viên. Nghĩa là một chiến sĩ ta có thể bị ba viên một loạt đạn. Còn đạn trực thăng bắn thì còn kích hơn. Nó bắn từ sáu đến tám ngàn viên trong một phút. Cự ly đạn ước chừng hai tấc. Vậy một người chạy trong lưới đạn của nó không có thể lọt kẽ được. Cậu hiểu dư mà!

-Dạ.

– Còn loại cá lẹp của nó phóng rốc-kết sẽ không để cho mình thoát. Bốn trái nổ bốn gốc một lúc. Tôi nhìn dấu đạn thì tôi thấy là nếu mục tiêu bị nó nhắm thì chỉ có hai trường hợp: một là hủy diệt, hai là trọng thương. Nhiều ông cùng về với tôi hỏi: “Sao nó không bắn giống FM Tây hồi trước nghĩa là bập bập bập mà chỉ nghe cái réec hoặc hù ù.. Là vì đạn đi dính liền nhau. Khi về đến Tháp Mười tôi bị một trận pháo bầy. Đạn nổ rồi mình mới nghe đề pa ! Ở Trung Quốc tôi không có học thứ này. Sợ e bạn ta không có . Binh chũng của cậu đó, cậu thấy thế nào?

– Dạ tôi cũng để tâm dữ lắm anh Năm ! Nhưng chưa biết phải làm gì. Ít nhất ta phải có lực lượng tương đối.

– Tương đối là bao nhiêu?

– Là…ít nhất nó mười ta phải sáu hoặc năm.

– Đừng mong. Tôi biết hiện giờ nó mười, ta 0,5. Cũng có thể là 0.

– Sao vậy anh?

– Vì DKZ là thứ dùng hồi chín năm ta lén chôn lại, bây giờ móc lên. Lau chùi xong lại chôn. Cậu dạy trên trường loại pháo gì?

– Dạ Nhựt, Mỹ, Pháp, Trung Quốc.

Anh cười chế diễu.

– Học gì dữ vậy? Bộ oánh một lúc bốn phép à?

– Dạ râu ông này cặm cầm bà kia anh Năm ạ . Pháo Nhật không có máy ngắm, phải dùng máy ngắm của Pháp gắn qua. Bắn vòng cầu không được phải bắn trực xạ.

– Vậy rồi làm sao chơi với thằng Đồng Dù?

– Cần chơi thì phình bụng ra chơi chớ sao giờ anh Năm!

Anh lặng thinh một lúc rồi bảo:

– Nhưng ngặt nhất là học sinh. Lớp hai, lớp ba, làm pháo thủ còn không xong lấy đâu chỉ huy một khẩu đội? Rồi hành quân bằng cái gì?

– Anh mà thấy lính trên Trường Sơn khiêng pháo thì anh sẽ khóc ròng đó anh ! Bộ giò như cây tăm xỉa răng mà khiêng pháo 90 ly. Trời ơi ! Đói ! Đế cối bỏ đầy đường ! Tôi thấy không dám dòm. Trung ương ác quá ! Miễn đạt mục đích thì thôi, hi sinh bao nhiêu không kể.

– Nhất là hi sinh dân Nam kỳ và nhất nữa là không có đứa con đứa cháu gì của mấy ông to bà lớn cả !

Tám Nghi lại ló đầu vô:

– Thưa anh Năm, uống rượu gì ạ?

– Có Tây chơi Tây, có đế chơi đế. Đãi cậu thầy pháo này một bữa cho tới gáo. Cậu ta là lính của tôi hồi chín năm. Tiến bộ mau quá ! ờ ờ đó là nhờ văn hóa. Chiến tranh là một khoa học. Hồi chín năm ai có dao dùng dao, ai có búa dùng búa chớ bây giờ không thể chơi miếng võ rừng đó được nữa. Một người chỉ huy bây giờ phải là một nhà khoa học. Cậu có thắc mắc tại sao Ông Chuột nhà mình làm quyền Sư trưởng mất năm, sáu năm mà không lên Sư trưởng được không?

– Dạ thấy dân Nam mình ra Bắc bị lép, nhưng không dám thắc mắc.

Anh lắc đầu:

– Đứng về địa phương anh thì thắc mắc, nhưng đứng về khoa học thì không nên. Ông ấy làm Sư trường trong lúc chưa rành toán chia thì làm sao? Một vị chỉ huy cầm mười ngàn lính trong tay gồm có cả chục loại binh chủng, nào pháo binh, xe tăng, bộ binh, cơ giới, hóa học, quân y, hậu cần, có khi cả hải quân và không quân mà trình độ như ổng thì làm sao xoay trở? Lập trường chỉ tốt ở trong văn phòng và kiểm thảo dâm ô tham ô thôi chớ ra trận thì vứt đi. Thằng lính nào hi sinh bằng Ma tơ rô xốp và Đồng Tồn Thụy? Cậu có xem phim chứ? ờ… ờ Bế văn Dàn, Tô vĩnh Diện của ta nữa !

-Dạ có.

– Cứ bắt lính lao mình vô lấp lỗ châu mai hoài sao? .

– Dạ… tôi đâu có ý kiến gì anh Năm!

– Ba cái cô dũng sĩ do Tám Quang sơn phết chỉ nhảy cóc nhảy nhái ít lâu và trong lúc bom đạn chưa thật ác liệt thôi . Nay mai thằng Tư Linh sẽ không có đạo diễn địa đạo chiến được nữa.

Tôi hơi nhột, gượng hỏi.

– Hồi thằng cha Bọ Chét tới đây anh về chưa anh Năm?

– Tôi ở đây chớ đâu ! Tám Quang có liên hệ với tôi yêu cầu cho bố trí pháo bắn máy bay để quay phim. Tôi bảo không được Anh ta có đề nghị lên ông Ba Đình, nhưng ông Ba bảo tùy tôi. Cậu thấy không? Con mắt chính trị nó nhìn sự việc như thế đó . Nó tưởng bắn máy bay là dễ lắm. Cứ có tiếng nổ cho nó thu thanh là được rồi. Mấy đứa nữ du kích ngoài Bắc tập bắn máy bay bằng súng trường tôi trông thấy mà khóc ròng. Vậy mà ông thi sĩ nhà mình làm thơ ca ngợi và mời quốc tế tới xem nữa.

– Thơ gì anh?

– Thơ gì không biết thơ gì, tôi chỉ nhớ đoạn du kích bắn máy bay ở cầu Lai Vu như sau:

Có cô du kích xóm Lai Vu
Quấn rắn trong chân vẫn bắn thù
Mỹ hại muôn nhà lo diệt trước
Rắn! Mình em chịu có sao đâu.

Đem súng trường ra bắn phản lực thì chỉ có Việt Nam ta thôi.

– Và đem hầm chông địa đạo ra chống B52 thì cũng chỉ có Củ Chi này thôi anh ạ -Thấy ông thủ trưởng cởi mở nên tôi cũng phụ họa – Tôi đã đi với các đội du kích đào hầm và địa đạo để tìm hiểu tình hình hầu sau này áp dụng cho công tác chỉ huy. Tôi thấy quả bi đát. Anh Tám Quang bảo tôi là một vòng đai thép bao quanh Đồng Dù, tôi tưởng có thật…

– Thì có thật chớ láo à?

Dạ, anh bảo sao?

– Thì có mấy hang ếch của tụi thằng Năm Cội và của con Bảy Mô!

Anh ngừng lại lấy cái lục lạc trên bàn lắc lắc. Tám Nghi ló vào Anh chỉ cái ghế bảo Tám Nghi ngồi:

– Cậu nói cho ông giáo viên pháo nghe về cái vành đai thép của ông Tám Quang chút.

– Dạ! Hôm trước anh Năm bảo tôi đi nghiên cứu cái vành.

Anh cắt ngang.

– Là vì tôi ở đây mà không biết. Thế mà đài Giải phóng nói oang oang. Rồi đài Hà Nội cũng phụ họa và khuếch đại nó thành Thượng Cam Lĩnh. Tôi nghe mà giật nảy người lên ! Mình ở đây mà sao không biết vụ đó ! Khơi quá ! Nào, cậu Nghi trình bày để ông thầy pháo nghe xem có thể đem cà-nông 105 ở Tầm Vu ra tăng cường cho cái vành đai đó không?

Tám Nghi nói:

– Dạ là chục rưỡi hố một của du kích các xã Phước Hiệp với Nhuận Đức. Họ núp bắn ba tụi tinh Mỹ ở Đồng Dù thường đem đĩ ra làm ăn ở bên ngoài vòng rào. Nhưng tình trạng đó đã chấm dứt rồi. Vì sau mấy lần tụi nó bị bắn xách quần chạy, thì xe tăng, pháo, trực thăng đáp lễ. Chúng vừa bắn vừa ủi tan mấy cái hầm đó hết rồi. Hiện giờ du kích bị tróc nên chạy vô Bàu Chứa đào hầm khác.

– Như vậy thì Đồng Dù ở ngoài đạn đạo súng trường rồi. Tôi có gặp đội nữ của Bảy Nề và tự sung công làm ông thầy khoét hết một ngày.

Tám Nghi hết nhiệm vụ, đứng dậy cóm róm:

– Dạ, thỏ chiên sả ớt cũng sắp xong rồi anh Năm!

– Bảo tụi nó dọn ra đi. Cậu tới nhậu cho vui nghé!

-Dạ.

Tám Nghi vừa đi ra, anh lấy bản đồ trải ra và chỉ cho tôi các vị trí đồn bót. Tôi rút bút chì mỡ và bút nguyên tử bốn màu đưa cho anh làm điểm. Anh hỏi:

– Ở đâu cậu có thứ này?

– Dạ tôi mua ở chợ Long Hoa II. . .

– Cậu dám vô chợ Long Hoa kia à?

– Dạ, đó là Xóm Mới ở quận Tân Biên của Tây Ninh chớ không phải chợ Long Hoa thiệt. .

– Xa không?

– Dạ nếu không có máy bay đi bộ chừng hai ngày.

– Từ ngày về đây tôi như thằng ngố cứ ở miết trong hầm. Tụi nó xì xào tôi nghe, nhưng kệ. Tụi nó cười tôi là con nhà pháo sao lại sợ pháo ghê thế. Tụi nó không hiểu gì hết nên không sợ là phải.

Anh cầm cây bút chì nghiêng qua nghiêng lại xem và nói.

– Thứ này là made in USA đấy ! Tôi bảo Sáu Huỳnh mua cho tôi mấy cây mà y có nhớ đâu, y chỉ nhớ má con Chia.

Tôi làm bộ không biết: .

– Con Chia nào anh Năm?

– Chỗ thằng mắt bù lạch đóng cơ quan cậu không biết thật à?

Tôi lắc. Anh cười hắc hắc:

– Thằng Chín Lộc với bà Ba Bánh Bò, thằng Huỳnh đớp mụ Tư The má con Chia. Tụi nó làm công tác quân báo nhân dân mọc rễ ở đó luôn chớ gì! Kệ tụi nó, tôi cũng thế thôi. Hay dỡ là công tác chớ ba cái vụ lặt vặt đó tôi không xét nét.

Anh cầm bút chì chỉ mấy điểm trên bản đồ rồi xếp lại, nói tiếp:

– Cậu biết từ trước tôi không ưa mấy thằng chính trị viên. Chúng nó nói toàn chuyện trên trời dưới đất không thực tế chút nào! Lão Long này (tức là Tám Quang) vì nói chính trị nhiều quá mà ở vá tới bây giờ, mó đâu hụt đó. Ổng đi Trung Quốc học xong về, cũng nói cái giọng Mỹ là con cọp giấy. Lão Khơ trọc vậy mà thực tế: “Cọp giấy nhưng nó có nanh nguyên tử” Đến Củ Chi này xem con cọp giấy nó có làm gì không? Ấy là nó chưa xài tới nanh của nó đó. Mấy thằng chánh trị ba lem nhem học được ba mớ lý luận đã bốc trời… Tôi đã chỉ thị cho Ba Hải, Năm Tiều triển khai lực lượng đánh phục kích hoặc pháo kích, nhưng ba tháng nay vẫn êm rơ. Ngày ngày cứ lõ con mắt ra nhìn đồng bào chạy ra ấp chiến lược và xe tăng ủi Phước Hiệp lấn vô Cây Sộp. Ttình hình càng găng, cán bộ càng bệ rạc. Mỗi lần tôi thấy Hai Giả và Sáu Phấn tôi nổi xung lên! Tánh của tôi cậu còn lạ gì. Hễ nóng lên là bất kể. Tôi la ó um sùm. Mà giận thiệt, cán bộ có khuyết mặt này thì được mặt khác. Còn hai ông này trớt he. Đó mấy ông chánh trị già làm thử xem! Cậu về đây tôi mừng lắm. Trẻ, lại có kiến thức.

– Anh muốn tôi về H6 làm gì trước?

– Giao công tác đảng cho Sáu Phấn. Cậu lo mặt tác chiến. Chấn chỉnh lại đơn vị, hâm nóng tinh thần chiến đấu. Mục tiêu chính là Đồng Dù. Phải hạ vài chiếc khu trục ngày nào cũng bay lên bay xuống tuôn bom vùng An Nhơn! Ông Ba Đình cứ hối thúc tôi mãi, tôi thiệt bực mình. Nhưng làm gì được với một giàn cán bộ như vậy? Nhớ hồi chín năm đánh mấy trận Bàu Cá, La Ngà, Bến Cát ăn ngon như rau mà ham. Bây giờ dễ gì làm nổi một cái?

– Anh có bản đồ pháo binh vùng này cho tôi xin một tấm! Tôi chỉ có bản đồ Củ Chi của U80 phát, tỷ lệ 250.000 mà mờ quá, lại toàn chữ Trung Quốc.

– Mình vô đây là rơi vào một cái khủng hoảng thiếu; thiếu tất cả phương tiện chiến đấu và một cái khủng hoảng thừa, thừa bom đạn địch. Không thứ gì mình cần mà có. Bản đồ thí lem nhem và không chính xác nên ông Hai Nhã đấm lưng bộ binh ngoài Đồng Dù Bình Giả khá khá đó .

– Tôi có gặp ông Năm Truyện và ông Trí O ở trường Trung Sơ.

– Cậu làm gì về đó?

– Dạ học.

– Học cái gì?

– Tình hình nhiệm vụ mới. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành

– Kẻ thù nào cũng đánh thắng. Biết rồi. Đó là chánh trị xưa như trái đất.

Tôi biết anh rành câu đó của ai nên không nói tới nữa nhưng hỏi:

– Phải anh Ba Đình chỉ huy trận Đồng Xoài Bình Giả không anh?

– Ổng chớ ai. Hồi 1949 ổng làm tham mưu trưởng Bến Cát thì dễ ăn hơn! Vô đây tôi cho cái bản đồ .

Anh đứng dậy bước đi. Tôi theo anh qua một đường hầm ngắn đến một cái ngách khác khá rộng nền đất lót bằng một bộ ván dầu mun đen, trên đó kê một chiếc giường đôi và một cái bàn nhỏ.

– Ở hầm kinh niên mà nền không lót cây thì bị bịnh tê thấp cũng đủ chết chớ không cần bom đạn cậu ạ.

Trong hầm có nhiều lỗ thông hơi nhưng không đủ ánh sáng nên vẫn phải đốt đèn cầy. Anh nói:

– Ở mãi dưới này rồi mắt mờ và các giác quan khác đều kém nhạy.

Anh ngồi xuống giường lôi cái sắc-cốt để bên cạnh chiếc ba-lô kiểu Trung Quốc còn mới nguyên, lấy bản đồ, mở ra và nói:

– Bản đồ này tỷ lệ 1/50 ngàn do đồ bản của mình vẽ lại của Mỹ in ở Đà Lạt. Đây là tấm Củ Chi, cậu xài đỡ, khi nào, xong tấm mới, tôi sẽ gởi cho cậu.

Thấy cái ngách nhỏ tối om khoét trong vách hầm, tôi hỏi:

– Cái ngăn này anh để làm gì xin nói cho tôi kinh nghiệm với.

– Phòng khi hầm sập mình chui vào đó. Nó ăn thông ra địa đạo. Như vậy lỡ bộ binh nó ngồi trên đầu, mình vẫn có lối thoát thân. Còn một kinh nghiệm này nữa. Khi cậu xuống hầm trốn bom pháo, không nên nằm, mà chỉ nên ngồi thôi. Nằm có hai cái hại. Một là chấn động tim, hai là khi hầm sụp cậu không ngồi lên được.

Chúng tôi trở ra chỗ cũ. Anh hỏi:

– Hôm cậu lên đại hội mừng công có gặp mấy cha Ba Thành, Ba Sinh, Hai Lơn, Hai Búa, Lê đức Anh không?

– Dạ đủ mặt hết anh ạ ! Người khu 7 cũ của mình hình như đã về hết trong này.

– Họ có nhắc tới tôi không?

– Dạ…ơ ơ…

– Nhắc làm mẹ gì thằng này. Khi gian khổ có nhau. Lúc vinh quang ngoảnh mặt.

Tôi biết tánh anh ngang bướng từ thời trai trẻ, nên ngồi làm thinh. Anh tiếp:

– Hôm đám cưới tôi ở Hà Nội, tôi có mời từng người, không ai đến cả. Họ sợ trách nhiệm.

Tôi vẫn làm thinh. (Ông nội ai dám đến dự đám cưới vợ bé của ông thần?)

Chỉ có Hai Nhơn thôi. Cậu nhớ Hai Nhơn bí thư của ban chỉ huy E300?

– Dạ quên sao được. Ảnh ra Bắc mười năm chỉ được lãnh lon thiếu úy, vì thành phần trí thức.

– Thì tao đây cũng vậy. Không trí thức nhưng là lính thủy của Pháp, nên bị trù không lên nổi, lại vụ cưới vợ ngoài Hà Nội. Tao không trách ai – Anh chuyển sang tình cảm anh em, xưng tao và gọi tôi bằng mày – Mấy chả sợ gánh trách nhiệm với tao. Tao chẳng phiền gì, chỉ buồn là anh em quên tình nghĩa cũ. Tao quyết định làm thì làm và ngửa cổ chịu một mình. Rơi một sao, tụt một cấp tao vẫn vui. Vợ tao oán trách và nói nặng tao. Tao chấp nhận. Vì đàn bà ai cũng thế. Còn tao… – Anh ngập ngừng một chút và nói như suối chảy – Nhưng nếu ngược lại ở trong này vợ tao có chồng tao không trách móc gì hết. Con người phải hơn con vật! Con người phải sống như con người. Trước kia tao đi lính thủy, hễ lêu bêu dưới nước thì thôi, hễ lên bờ là việc đầu tiên là vô bung-ga-lô tìm chất tươi. Chưa bao giờ tao thiếu nó trên ba tháng. Nếu có thiếu thì tao tự bù trừ. Còn ở ngoài Bắc mười năm thằng nhỏ vô dụng. Liên Xô nó sang Hà Nội hai tuần dẫn vợ theo. Còn mình, nó khen là thần thánh! Ai ham làm thần thánh kiểu đó chớ tao thì không! Người ta chê bai anh Ba Duẫn, anh Sáu Thọ có vợ bé, lấy vợ địa chủ nữ sinh v.v… Tao không khen nhưng cũng không chê. Thằng Napoléon là thằng mê gái số một, thậm chí khi viễn chinh nó có cả một đơn vị đi tìm gái cho nó . Đêm nó ngủ không thể không có mỹ nữ bên mình. Đến lúc bị đày ra St- Hélène vẫn còn có cô con gái 17 tuổi yêu nó cơ. Yêu nó cho đến nó chết. Nhưng nó là thằng gì? Liên Xô phải học nó và sợ nó. Cutuzov thắng nó không phải nhờ tài ba mà nhờ mùa đông quái ác của xứ Nga . Mày có ra Hà Nội ghé lại hiệu sách Ngoại Văn ở Tràng Tiền mày sẽ thấy bày bán một quyển sách tiếng Pháp bìa carton dày 807 trang bên trong in một chữ vàng N. Đó là tác phẩm của Viện Hàm Lâm Quân sự Liên Xô nghiên cứu về nó đấy. Tiếc là hồi ở Hà Nội tao không gặp mày để bảo mày đọc cuốn đó. Mày đọc được chớ?

– Dạ , chắc được !

– Bây giờ về đây tao đọc cái này – Anh thò tay móc dưới gầm bàn ném lên – Bí thư của tao đấy.

Tôi nhìn: Tam Quốc Diễn Nghĩa. Anh trở lại Napoléon:

– Nó làm thống soái hồi ba mươi hai tuổi, nhỏ hơn mày hai tuổi, nhỏ hơn tao mười tám tuổi. Khi nó đứng ra chỉ huy mấy thằng nguyên soái già thì tụi này xì xầm tỏ vẻ bất phục, nó rút gươm bảo “à mes ordres!” Nghe lệnh của tôi! Thế là tụi kia răm rắp cúi mặt nghe theo lệnh nó. Chuyện lăng nhăng của nó ngày nay vẫn được ghi lại thành sách để bên cạnh binh nghiệp của nó. Nào Joséphine, nào Beauhamais và cả chục mối tình khác, mối tình nào cũng cho thấy nó là thằng mê gái tuyệt vời, nhưng vẫn là một nhà chi huy quân sự số 1 lịch sử. Lịch sử có phê phán gì về tội mê gái của nó không? Tao xa vợ tao mười năm, đó là chưa kể những năm ở khu 7, lâu lâu mới gặp nhau một lần trong nhà dân hoặc ngoài rừng. Tao lấy vợ ở Hà Nội đàng hoàng, không giấu ai, trái lại có mời bạn bè và cho tổ chức biết một cách quang minh. Ông anh vợ tao là thượng tá cùng học pháo bên Trung Quốc hai năm tiền ăn ở chung, vẫn biết tao có vợ con trong Nam nhưng ông vẫn gã em gái cho tao. Vợ tao ở Hà Nội cũng biết tao có vợ…

Anh ngưng ngang như bị nghẹn. Tôi cười:

– Chắc anh mong một lá thư của chị?

– Vô phương có !

Anh nói bằng tiếng Pháp và vung tay lên buông rơi xuống trên đùi.

– Nếu có anh nghĩ sao?

– Hả ? hả t Mày đùa à ? Bà này sẽ bỏ tao và đem con tao về Sài gòn. Bà ta là một loại đàn bà ghê gớm. Không phải sự hung dữ mà là tình yêu. Bà ta yêu tao như một lý tưởng trong đời sống riêng tư, cho nên bà ta không tha thứ cho tao, không chấp nhận sự chia xẻ tình yêu. Tao muốn nói chuyện với bả lúc bả hồi tĩnh lại nhưng bả nhất định không nghe. Bả nói một câu như búa chém: “Nếu tôi ở lại đây, tôi sẽ có thể bị ông thuyết phục mà đồng ý với ông. Như vậy suốt những năm tháng còn lại của đời tôi sẽ chỉ là sống tạm sống nhờ.t Tôi sẽ ân hận vì đã chấp nhận tội lỗi của ông !”

Anh ngưng, mặt đờ ra, thờ thẩn.

Tôi từ từ cởi cúc áo trên móc ra một chiếc phong bì mà tôi đã sửa soạn khi nằm võng với Tám Nghi bên ngoài. Tôi rất kính phục anh từ thuở còn là thiếu nhi và vẫn còn giữ nguyên tình cảm đó. Tôi đưa cho anh và nói tên người nhờ gửi bức thư. Anh nói lạc hẳn giọng.

– Ông Phúc à? Anh… anh… ấy…

– Dạ anh ấy mới về nhận chức Phó tư lệnh U80. Khi tôi đến gặp anh ấy để nhận quyết định đi xuống đây thì ảnh giao cho tôi thư này nhờ tôi trao tận tay anh.

Anh xé thư ra xem ngay trước mặt tôi. Xem tới đâu mặt anh hững lên tới đó. Xem xong anh xếp lại đút vào phong bì cho vô túi áo và hỏi tôi.

– Tao thì đành vậy rồi, còn mày? Ở Hà Nội có gặp con Ánh Tuyết không?

– Dạ có, nhưng chỉ một đêm…

– Một đêm đủ rồi! thằng Napoléon cũng thế, nhưng không phải nó phụ tình mà ngày mai nó đã lên ngựa hành quân xứ khác. Con nhỏ nào được nó ngủ một đêm cũng đã vinh hạnh suốt đời.

Tôi nói:

– Tôi gặp Ánh Tuyết một đêm ngồi trên băng đá anh ạ. Hai đứa chỉ nói chuyện cũ ở Rừng Sát đi mò cua bắt ốc và tô bùn trên đầu cho chí chết, chớ có chuyện gì đâu mà nói vì nó sắp đi Trung Quốc học kỹ thuật gì đó còn tôi thì đã nằm trên bệ phóng rồi chẳng lẽ cách xa vạn dậm mà yêu nhau được? Tôi đã ớn một lần hai năm rồi nên không dám quyết định gì hết.

– Đúng đấy! Hai năm gì được mà hai năm.

Anh cười ha hả một cách bất ngờ:

– Nó tước mất xe của tao mày ạ !

– Xe jeep gì, anh?

– Nói chuyện hồi ở ngoài Hà Nội mà ! Hai sao hai gạt hai cái chày tiêu gác tréo thì được xe jeep có tài xế lái phom phom đi Hà Nội. Đằng này nó kê tao vụ đó, nó đánh tao rơi một sao, mất xe nhưng tao cóc cần. Tao vứt xe đạp lên tàu hỏa, ra Hà Nội chạy tới nhà vợ, rồi đèo vợ đi cinê, đi uống nước ngọt Bờ Hồ chẳng sướng hơn đi xe jeep mà xách xe không chạy nhong nhong như con chó thiến à? Đói cơm thì chịu được chớ đói tình cảm thì buồn lắm phải không chú đồng tử quân của Rừng Sát?

Anh lại hỏi:

– Rồi bây giờ mày định mối nào chưa?

– Dạ cũng còn đang chạy nhong nhong.

– Ông già vô có vui không?

– Dạ ổng buồn lắm. Vì hai thằng con trai mỗi đứa một đường.

– Làm sao được! Ai có chí hướng nấy. Mày khó chinh phục nó mà nó cũng khó chinh phục mày!

– Vậy làm sao bây giờ anh?

– Tao không biết. Về ba cái vụ lăng nhăng đó tao không có ý kiến được. Hà hà, trước khi tao xuống tàu lặn họ gắn sao lại cho tao mày ạ ! Được sao nhưng lại mất nàng tiên Hà Nội. Như mày mày bắt sao hay tiên?

Tôi cười:

– Anh bắt cái nào?

– Mày không có quyền bắt mà mày phải bắt cái người ta đưa cho mày. Chịp, nhớ hồi kháng chiến ở Đồng Hòa Long Thành vui quá, chiều chiều ra bãi cát ngó thấy Cấp St-Jacques, hay ngó qua Vàm Láng Gò Công chỉ cách có con sông Lý Nhơn… Bây giờ hổng biết bà ấy dắt hai đứa con tao đi đâu?

Tiệc xong, tôi ra ngoài cái chòi mắc võng nằm với Tám Nghi. Hắn bảo:

– Từ lúc tao hầu dưới trướng ông tới nay, tao chưa thấy ứng tiếp ai như tiếp mày, hơn nửa ngày. Bữa nay có bốn trưởng ban về xin gặp ổng, ổng bảo chờ đến mai. Thế nào, ổng bảo gì mày?

– Về chỉnh đốn H6 bắn vài cái máy bay, pháo cho thằng Đồng Dù vài quả, một quả cũng được.

– Ổng xử lý Hai Giả ra sao?

– Xưa kia nghe vụ ổng lôi thôi, rồi về R chính tao gặp bà Mặn làm loạn ở trạm 66 tao có ý chê trách ổng kém đạo đức nhưng nghe ông tâm tình, tao hết ghét ổng. Tao lại thấy thông cảm với ổng. Chiến tranh rõ thật đáng thù, ổng bảo ổng không muốn làm gì Hai Giả cả mà vì ở trên bảo rằng Hai Giả bị dư luận không tốt trong quần chúng nên ổng cho Hai Giả đi công tác nơi khác một thời gian rồi trở về chỉ huy đơn vị chiến. đấu ở quận Bến Cát hoặc Nhà Bè. Tội mẹ gì mà phải ngưng sinh hoạt đảng và rơi sao. Vậy các ông tướng ở R thì sao?

Tám Nghi nói:

– Kẹt một cái là Hai Giả có vợ con ở Hốc Môn ai cũng biết. Bả vô đây hoài hoài, bả tiếp tế lớp tiền, lớp xe Bờ Rô, lớp Radio, toàn thứ kẻng…

– Chậc ! Thì vậy không mà ! Bà Ba lớn nhăn như da ổi thì anh Ba phải tìm bà Ba nhỏ láng hơn. Còn mày? Đã có chỗ nào để bám trụ chưa?

– Con gái nhìn mặt tao là chạy tét, bám trụ gì!

– Sao không đi bệnh viện?

– Đi đến đó nằm, thì thà ở nhà còn khỏe hơn. Cái bệnh viện của ông Tư Chuyền ở trên Hố Bò chớ đâu. Tao đã đến xem qua rồi. Nó chỉ thiếu dùng cưa mập để cưa chân tay thương binh thôi.

Tôi định lấy đồ trong sắc-cốt tặng cho Tám Nghi, nhưng hắn bảo hắn chỉ thích cái đèn pin USA có cái đầu bẻ cụp được (gọi tắt là đèn quắu) để rọi đi ra đi vào hầm. Tôi chụp vào hông bảo:

– Đây tặng cho mày !

Nhưng không thấy nữa. Tôi sực nhớ ra lúc nhậu tôi đã mở ống dòm sắc-cốt và dây nịt đưa cho bảo vệ . Tôi ngồi dậy định đi vào nhưng Tám Nghi bảo để y lấy cho. Tôi bảo:

– Để tao vào gặp ông có chút chuyện riêng, lúc nãy tao quên nói.

Tôi đi vào hầm. Nhờ quen lối cũ nên tìm đến mâm tiệc lúc nãy dễ dàng, nhưng không thấy đồ đạc ở đó, tôi bèn quay lại phòng của Tám Nghi và mấy chú bảo vệ . Vẫn không thấy ai. Tôi đi theo lối đến phòng bản đồ. Tôi sắp bước vào thì nghe tiếng thì thào và tiếng rên ư ử. Bất giác tôi đứng nép một bên đưa mắt nhìn vào.

Tôi bật ngửa. Dưới ánh đèn xanh lờ mờ một thân hình tiên nữ nằm phơi lồ lộ trên chiếc giường đôi. Ánh sáng làm cho nó hư ảo như một vệt mây trắng tinh với một đám mây đen lung linh. Còn ông tiên thì ngồi bên cạnh cầm quạt phe phẩy, chốc chốc lại nghiêng môi xuống hớp mây, cái đầu to của ông ta gục xuống rất lâu mới ngóc lên. Ông ta hỏi.

– Mát không cưng mát không?

Tôi sợ bị bắt gặp, định quay trở ra thì một bàn tay lôi khẽ tôi. Tôi vọt ra ngoài rất nhanh như một tên trộm sợ chủ nhà rượt bắt. Tám Nghi thầm thì.

– Tới giờ ổng lên giàn hỏa. Tao biết thế nào thịt thỏ xong cũng có cái trò múa đôi đi liền. Tao muốn bảo mày nhưng mày nói có chuyện riêng tao để cho mày đi.

Tám Nghi rỉ tai tôi:

– Con nuôi ổng đó !

Tôi cười chữa ngượng và chối phắt.

– Tao có thấy gì đâu mà nuôi với dưỡng!

– Thấy hay không thì cũng vậy đó. Mấy cậu bảo vệ và tao biết ý nên tối tối là chui vô ngách nằm im rơ, có tiếng chuông mới trình diện. Con nhà ai vô đây thì kể như dưng cơm cho lục đi. Hễ tanh cơm tanh cá thì ổng cho qua Bưng Còng nạo.

Tiếng nạo của Tám Nghi làm cho xương sống tôi nghe như có miếng B52 bay phớt qua.

(Sau đó tôi về H6 là Trưởng ban Pháo binh Quân khu, tôi có dịp ra vào cái.hầm “Đờ-cát-tiêu” này luôn. Mỗi lần đến tôi mua quà tặng các cô các cậu báo vệvà nhậu nhệt với Tám Nghi. Do đó tôi được họ coi như người nhà. Lắm khi làm việc xong tôi vô bếp lục cơm nguội ăn hoặc được mấy cô cấp dưỡng xẻ phần của ông xếp lớn cho tôi. Đầu năm 66 tôi ra chỉ huy tiểu đoàn bộ binh, toàn cơ quan Quân khu không ở nổi Củ Chi nữa nên vọt qua xây căn cứ ở Đường Long tức bên kia sông Sài gòn. Tôi vượt sông qua đó gặp ông Thần Núi để thông qua kê hoạch phòng ngự của Củ Chi. Lúc bấy giờ nhân viên và phòng chẳng còn người nào quen cả. Hỏi thăm thì họ bảo “Tám Nghi về R an dưỡng, cô Hiền đi học y tá. ” Nhưng mà tháng sau tôi gặp ông Chín Nửa, dượng tôi, người cho tôi cái radio Sony sau bữa tiệc nhậu tép mỡ ở cái chuồng trâu. Dượng cho hay Tám Nghi và cô Hiền đã bị Mỹ khui hầm bắt ở Bến Súc nay đang ngồi trong tù. Vậy cũng may, tôi nghĩ Tám Nghi tên lính Lê dương vẫn còn có cơ may: sống sót. Còn đối với cô Hiền thì đời tù tội có cực khổ nhưng không nhục bằng làm con nuôi.)

Nhưng màn con nuôi vẫn còn dài dài trong hầm Đờ-Cát ở Củ Chi và R.

Đời thằng thượng úy kiêm xạ thủ quốc tế về đây để được làm một trung tá sai vặt và ngồi tù Mỹ.

Trong kháng chiến chống Pháp cũng từng có một vụ thất tình của một anh cán bộ đã dẫn tới một hành động chính trị Một anh chàng học sinh Sài gòn dắt một cô bạn ra bưng để xây tổ uyên ương trong khói lửa. Ra khu được ít lâu, một tên cán bộ trung ương giỏi mép Mác xít đã cuỗm được cô nàng. Chàng kia uất ức trở lại thành kêu quân đội Pháp đến oanh tạc và đổ bộ đánh tan một hệ thống cơ quan ở vùng Bạc Liêu. Những người có trách nhiệm tìm cách che giấu rất kỹ nhưng sau cuộc tấn công bất thần đó, truyền đơn rải khắp nơi. Mỗi tờ giấy trắng đều in rõ hình anh chàng hận tình, tên tuổi và câu chuyện bị cuỗm người yêu cùng với danh tánh của những kẻ trong chuyện.

Sau đó lại xảy ra một chuyện khác ở vùng Cần Thơ. Tên tư lệnh mắt mèo Võ Quang Anh hốt vợ chưa cưới của sinh viên trường Quân chính Quang Trung. Cậu sinh viên này phẫn chí bỏ về thành đi học trường sĩ quan quân đội Sài gòn, lúc đình chiến lên đến trung tá. Trước khi về thành cậu ta nhắn với bạn thân: “Mày nói thằng này địt mẹ cách mạng dùm tao nghe!” Thằng bạn thân đó chính là tôi.

Có lẽ nào giờ đây tôi là kẻ cuỗm vợ chưa cưới của ai? Tôi không bao giờ làm chuyện đó. Ngược lại chính một tên tư lệnh mắt mèo khác đã cuỗm người yêu của tôi. Nhưng tôi không nói gì cũng không thèm phản ứng. Vì tôi biết nàng ta không yêu hắn mà bị bà mẹ nàng dồn ép, dâng nàng cho hắn để hắn không đến ve vãn bà ta nữa. Sự ve vãn này có thể đưa đến sự thất tiết của bà . Lẽ thứ hai tôi luôn luôn nghĩ con gái như mảnh lụa đào phất phơ giữa chợ, cũng như chim trời cá nước ai bắt được nấy ăn. Ta tìm cái khác. Thiếu chi mà ta phải ghen tương giành giật với nhau? Xoàng!

Với triết lý đó tôi không bao giờ đau khổ vì tình. Không có người con gái nào làm tôi đau khổ, và tôi cũng không muốn ai đau khổ vì tôi. Tôi muốn họ coi tôi như một thứ chim trời, cá nước, một con bướm khi vui nó đậu khi buồn nó bay. Tôi chỉ sợ Ua quẩn trí thì khốn.

Cô nàng chỉ vọt ra Củ Chi trong vòng ba tiếng đồng hồ là cả vùng này nát như tương. Thoắt nghĩ như vậy tôi muốn vọt theo nàng nhưng nàng đã ra đến đường lớn. Chiếc xe phóng nhanh. Cô Hiền ra đến cái ngõ lan cỏ hoang rắp hờ bằng một nhánh chà tre để ngăn biệt kích chớ gì? Rõ một trò đùa. Ở trên R có một cơ quan cũng làm như cảnh giác cao, bắt nhân viên đốn nứa rào một châu vi rất rộng. Chẳng ngờ đó là một cách phô trương. Chẳng bao lâu biệt kích đột nhập, phối hợp với trực thăng đổ chụp giết sạch nhân viên.

Cô Hiền kẻo nhánh chà tre qua một bên lấy lối cho tôi vào rồi rắp lại ngay. Tôi vừa bước ít bước thì từ một cái chòi lá lụp xụp núp dưới một gốc bưởi bước ra một người: .

– Ê! bồ nhà !

Tôi nhìn ra ngay: Tám Nghi! Nhưng một Tám Nghi xơ xác hãi hùng. Hắn là thượng úy đoàn viên của một đoàn sĩ quan do tôi làm phó đoàn vượt Trường Sơn. Tám Nghi nói.

– Ổng được điện bá o của H2 mày đã rời trên đó hồi sáng. Tao cho người rình nãy giờ ! Thôi đi vô, đi vô ! Ổng đang chờ mày như trông nước uống.

– Gì mà dữ vậy?

– Mày thuộc về thứ dữ rồi chớ còn gì nữa?

– Ăn ở gì mà kín cổng cao tường vậy? Còn hơn mấy ông trời con giao liên trên Trường Sơn trốn khách!

– Phải vậy mới sống ! – Tám Nghi quay lại Hiền lót tót theo sau bảo – Em đi vào đem trà kẹo và thuốc lá ra đây để anh bạn anh giải lao chút rồi vô yết kiến bệ hạ !

Tám Nghi đẩy tôi vào chòi. Trong đó có một chiếc võng mắc sẵn. Hắn bảo tôi giăng võng nghỉ ngơi chờ lệnh. Tôi nghĩ: lại một thứ triều đình con con so với trên R. Mỗi một ông lớn hùng cứ một vùng tha hồ đặt ra điều lệ riêng cho mình. Tôi hất hàm hỏi tám Nghi:

– Cô em nào coi khớ vậy?

– Thì cũng con nuôi của các ông thôi, hỏi làm gì?

– Mày không nuôi đứa nào à?

– Tao lấy gì mà nuôi?

Phong trào con nuôi em nuôi coi bộ lây khắp nơi!

– Biết vậy hay vậy, chớ có nói ra mà mất chỗ đội nón!

– Con gái bây giờ mà lọt vô cơ quan của mấy ông là in như phi tần của hoàng thượng vậy.

Tám Nghi móc thuốc Capstan ra mời. Hai đứa nằm võng lắc lư coi trời bằng hột vịt qua làm khói mờ. Tám Nghi hỏi:

– Tao nghe đồn mày sắp làm phò mã đâu ở trển?

-Đếch gì!

– Ở trển có phải yên thân không?

– Mày không hay vụ dưa hấu rụng kỳ rồi à?

– Có chớ sao không. Mày tưởng dưới này không có thứ đó sao mà vác càng tôm xuống đây?

– Dưới này còn lượm mạnh hơn trên đó hả ?

– Dưới này còn bận Ba xây, ba chống, ba khoan nên để trên R lượm trước.

Hai đứa cười rù với nhau thoải mái. Phải có Tư Linh là đủ bộ ba ông Táo tha hồ mà phun mây nhả khói. Nguyễn Trường Nghi không biết ở tỉnh nào. Tôi không hề hỏi quê quán hắn mà hắn cũng không hỏi gốc gác tôi. Tôi biết hắn là tay xạ thủ súng ngấn của trường Lục Quân Sơn Tây. Trên đường về Nghi bệnh nằm lại trạm Tl4. Mới có hai năm mà anh ta trông hom hem quá đổi.

Hắn đoạt hạng tư trong toàn thể các tay súng ngắn Liên Xô và Đông Âu. Trên đường Trường Sơn, Nghi là tay bắn khỉ đại thần sầu còn tài hơn Dương bá Dương nữa đấy, không phát nào sẩy mà toàn ngay đầu. Khỉ mà bắn trúng mình thì kể như ăn máu… nó thôi. Tám Nghi buông một câu bất ngờ. .

– Thằng Trần Chánh Lý nằm lại ngoài đó muôn năm! . ..

– Không biết Bảy Phương có sửa sang gì lại cái mộ nó hay không?

– Vào trong này đụng tăng Mỹ mới nhớ đến nó . Thượng úy chống tăng lại nằm ở chỗ không có tăng!

Hai đứa thở dài với nhau sườn sượt. Tám Nghi chợt thấy chiếc nhẩn trên tay tôi, hỏi:

– Bộ mày có dính với cô nào rồi sao?

– Cô nào?

– Không biết con Thu Hà . . .

Tám Nghi bỏ lửng không nói thêm, cơ chừng sợ đụng chạm tới cô nào. Tôi nói:

– Tao vẫn lang bang như xưa !

– Ai biết đâu. Tao nghe nói mày bị đeo dữ lắm. Nào thành phần cơ bản, nào tiểu tư sản!

– Cũng có nhưng không dính với ai.

Tám Nghi uống trà và đốt thuốc hết điếu này mồi điếu khác Hắn ngó mông lung trên nóc lều một hồi lâu và nói:

– Mày biết vụ bà chằn trên R không?

– Bà chằn nào?

Tám Nghi ngó quanh như cảnh giác điều gì và nói:

– Bà chằn Rừng Sát xuống tới đây này.

Tôi giựt mình:

– Hồi nào vậy cha nội?

Tám Nghi nghiêng qua gần tôi và thầm thì.

– Cũng mới đây thôi! Mày đừng có học đi đồ lại nghe chưa ? Đứt đầu đó ! Mẹ! Tao không hiểu ngày xui tháng rủi gì mà tao lại gặp một chuyện như vậy .

Nghe Tám Nghi nói vòng vo, tôi cũng đoán ra rồi, nhưng để y bật mí thử xem. Thì đúng y như rằng:

– Không hiểu bằng cách nào mà bả mò trúng ngay chóc hầm ông Đờ Cát.

– Rồi cái tuồng đó diễn ra như sao?

– Thì đại khái là quăng cái hồ lô của bà lên hô giáng. Ổng cũng quăng cây gươm phép của ông lên hô giáng đáp lại. Bả chỉ tay một cái và hô thâu. Cây gươm chạy tọt vào hồ lô. Thói đời là vậy, cây gươm bao giờ cũng không thắng nổi cái hồ lô… Nè tao dặn kỹ nghe, chớ có nói ra nói vào. Gặp con nhà báo Nhỡ Nôm nó chụp được nó phết ra thì mệt cho ổng lắm! Hôm trước đóng ở trên kia cà, sau màn hỗn chiến đó sợ hôi ổ ổng rút xuống đây.

– Còn bả ?

– Bả là khu ủy viên mà mậy! Mấy bà Hai Xót, Năm Đang mọp dưới trướng bả nghe lệnh bả truyền nào dám chống lại. Các cơ quan của khu đóng trên đất Củ Chi này đều phải liên hệ với hai bà đó. Bả hỏi một tiếng là hai bà đó khai ngay. Ổng bây giờ sợ bả còn hơn sợ xe tăng Mỹ.

– Mày nói cà rởn hoài tao không hiểu gì hết, đâu nói rõ ra nghe coi. Tao hứa sống để bụng chết mang theo mà ! Tao thề độc – Tôi đưa tay ra – ngoéo tay nè.

Tám Nghi tiếp:

– Bả la ó dữ quá !

– Làm sao bả vô tận nồi gọ được vậy?

– Bả đứng bên ngoài bả la om lên. Bảo vệ ra đuổi bả. Bả rút K54 ra lên đạn rong róc và xưng tên. Ông thần mình sợ vỡ lỡ ra nên kêu bảo vệ đẩy bả xuống hầm để ém luôn. Bả dữ thiệt mày ạ. Tao không ngờ bả dám nói những tiếng quá ư nặng nề .

– Nói gì? Bả xổ nho à?

– Chậc! Không đâu! Bả là cán bộ đảng cao cấp hơn bà Ba Phó Tư lệnh R mà. Bả đâu có xài nho! Bả nói về bốn chữ Cần Kiệm Liêm Chính kia chớ !

– Bả hoan hô chữ nào nhất?

– Chữ nào bả cũng đem ra hô giáng ông thần cả ! Cuối cùng bả hạ một câu bất hủ : “Cụ Hồ còn đó sao củ không dạy cháu củ?”

(Tội nghiệp bà khu ủy viên! Bà tưởng cụ Hồ là người đạo đức! Đứt họng thì có! Toàn dân Nam kỳ đã nhầm lão già tàn ác này. Chính lão đã bỏ thuốc độc giết chết Dương Bạch Mai tại cuộc họp khoáng đại của Quốc Hội tại Ba Đình năm 1960. Ai cũng biết mà không dám hó hé!)

Tám Nghi tiếp:

– Lúc bấy giờ tao đang làm báo cáo ở trong một cái ngách hầm ngay bên cạnh hầm chính của ổng. Muốn tránh để cho hai bên tha hồ oánh phép, tao bèn chui tọt lên và chạy đi. Nhưng tai vẫn còn nghe văng. vang những câu rất ác…

– Rồi ông phản ứng làm sao?

– Ổng xuống nước nhỏ, rất nhỏ ! Nhỏ tối đa, tao chưa bao giờ có thể tưởng tượng đến thế.

– Rồi bả làm sao?

– Bả thì đi nước lớn, lớn thật lớn. Lớn như chưa bao giờ có thể tưởng tượng đến thế! Thôi, đại khái vậy đó, mày đừng có phổng rấn tao nữa, khổ thân tao lắm.

Tôi không hỏi hắn nữa nhưng suy nghĩ, hoang mang. Tôi chưa bao giờ thấy một lãnh tụ hoặc một cán bộ cao cấp đàng hoàng. Phải chăng thượng bất chánh hạ tất loạn. Ông trưởng phòng như thế thì còn dạy dỗ các trường ban và nhân viên làm sao? Tôi đi từ miền Đông qua miền Trung xuống miền Tây Nam Bộ trong thời kháng chiến. Đi tới đâu cũng nghe những chuyện lăng nhăng của mấy ông lớn. Ở miền Đông thì có ông Tô Ký, miền Trung có Trần văn Trà, miền Tây có Nguyễn văn Trấn và Võ quang Anh. Toàn những ông tư lệnh tư lọt không thôi. Lính lãi có quyền hành đâu mà giật vợ người. Người nắm quyền trong tay phải luôn luôn được kiểm soát chặt chẽ, nếu không sẽ gian dâm, hà lạm.

Tôi nhớ đám cưới Tô Ký, một thứ xa xí cực kỳ quái gở. Đèn măng sông đốt cả mấy chục cái trong rừng cao su, không nói làm chi. Rượu Tây uống không hết đem đổ trên đầu nhau chơi. Còn đám cưới của Năm Lê (tức là Sơn Tiêu) lính lấy thịt heo quay ném nhau như đất cục. Thế nhưng bây giờ Năm Lê lại phụ tình và bị vợ hạ nhục. Ắt hẳn bây giờ chị Hai Mặn ăn năn vì đã đá ông Trung đội trưởng Chọn kia để lấy ông Tiểu đoàn trướng Sơn Tiêu này. Tôi nói với Tám Nghi:

– Tao gặp bả trên trạm 66 R mày ạ ! Bả định đột nhập vào triều đình để hỏi tội đức lang quân nhưng lính gác kỹ quá bả không vào được.

– Mà có vào được cũng chẳng làm gì. Vì ổng đâu có ghé R. Ổng đi tàu lặn về Bến Tre rồi lội về đây nhận chức Phó phòng tham mưu luôn.

– Tha… m mu hả?

– Tha gì thì tha nhưng ổng bây giờ kẹt cò dữ lắm. Ổng không vô được đảng ủy thì có ngày rơi mão. Tao về đây hai năm rồi ngày nào cũng nghe ông chưởi bới gắt gỏng. Cả với ông Hai Phụng thượng tá Tư lệnh phó kiêm Trưởng phòng Tham mưu mà ông cũng tạt ngang, không ngán.

– Tại ổng không tha được cái mu con mẹ đan len ở Phố Hàng Đào vô đây nên ông khủng hoảng chớ gì. Còn ông tạt ông Phụng là vì ông này dốt không có thành tích bằng ổng, chứ đối với ông Ba Xu ổng đâu có dám lấn lướt. Ông ấy là Tư lệnh lại thành phần dân cạo mủ, vô sản trăm phần trăm, còn ổng thành phần lính thủy Tây. Ổng cũng biết tùy mặt mà lên chân! Thôi bỏ chuyện đó đi, mày rước bà xã vô chưa?

– Tao cũng ôm cây cà-nông-xăng-rờ. .. cum đây mà chịu trận chớ xã ớt gì đâu! Trên Trường Sơn thì bị sốt rét, xuống đồng bằng cái nọc muỗi đòn xốc cũng còn đây chớ nào đã dứt. Tối ngày cứ ru rú trong hầm chờ coi ổng có kêu tới la hét gì không. Làm chánh văn phòng mà y như thằng cần vụ.

– Sao có cái việc lẩm cẩm trong chức trách vậy?

-Ở đây toàn như vậy cả, không phải chỉ ở đây và mà mình tao. Mấy ổng bỏ hết điều lịnh nội vụ, điều lịnh kỷ luật của quân đội rồi. Mỗi ông là một cái đầu gà, muốn gáy kiểu nào cứ gáy. Tao chỉ huy cả một trung đội liên lạc, cần vụ. Tối ngày chuyên nấu cơm và móc hầm cho ông lủi. Kia kìa mày nhìn cái mái nhà lụp xụp đó ! Trên mặt đất trông không ra gì cả nhưng dưới hầm thì đủ hết: ván gõ, bàn ghế y như ở trên. Ổng không bao giờ bước ra khỏi hầm, trừ khi tiểu tiện. Tao chỉ thiếu việc bưng bô cho ổng nữa thôi. Ổng vừa ra lịnh cho tao bắt lũ con nít khoét đường cho ổng đi dạo quanh nhà này. Lạ thật! Ổng là trung đoàn trưởng pháo binh mà lại sợ pháo hơn tụi thường.

– Chính vì con nhà pháo hiểu tánh cách lợi hại của pháo nên sợ pháo hơn người thường.

– Ờ, mày nói đúng. Thằng Ba Xây, xã đội phó, chủ có nhà này, nó cho vợ con ra ấp chiến lược hết rồi ở lại đây tử thủ. Hàng ngày nó đi đặt lờ đặt lọp bắt cá tôm bán, có biết sợ sệt gì.

– Tao biết ổng hồi còn trẻ cũng gan lắm đâu có thỏ đế dữ vậy. Có lẽ về già lưng mật. . ..

– Mấy lúc ngớt pháo ổng kêu tao tới nói chuyện chơi. Biết chuyện gì mà nói? Bố ai dám pha trò với ổng.

– Hồi chín năm ổng vui nhộn và thể thao lắm! Trung đoàn 300 có đánh lấy được chiếc tàu Tây… tụi này chiều chiều thường chạy trên sông Vàm Sát la ó cho hả hơi. Ổng chạy đua, bơi lội đều giỏi hết.

– Bộ tướng ổng coi bộ cái gì cũng giỏi. Giò dài, tay dài mặt cũng dài… Từ hôm B52 cắt một đường vén ót tao coi bộ cái mặt của ông càng dài hơn ra, khó nhìn quá hè . Để chừng gặp ổng mày sẽ thấy tao nói có đúng không? Tối ngày ăn rồi cứ rút trong hầm, nếu độn thổ được chắc ông cũng độn thổ tới đất cái luôn.

– Bộ B52 có viếng khúc lòng ống này à?

– Có chớ. Nó rạch một lằn từ Hố Bò xuống An Nhơn bề ngang chừng hai cây số. Có lẽ đây là loạt mồ côiđầu mút cho nên độ bom không đông đặc lắm. Chừng hai trăm thước mới có một hố bom. Ấy là tao chỉ đoán mò thôi chớ làm sao biết được. Nhưng nếu nó chệch về phía trong một chút thì tụi này chắc hốt xương rồi. Chừng mày về H6 sẽ đi ngang cái nhát dao vén ót đó.

– Chắc gần Đồng Dù, tụi nó sợ xuống cựa nên làm nhẹ tay chớ gì ?

– Đây chỉ cách Đồng Dù chừng sáu cây số!

– Xa thì sợ B52, gần sợ tăng, pháo, biệt kích, mày muốn cái nào?

– Muốn cái nào à? Còn mày chạy vuột B52 trên R về đây bắt cái nào?

Tôi cười:

– Mày bắt cái nào tao bắt cái đó !

Tám Nghi ngưng một chút rồi hỏi:

– Mày về đây có kế hoạch đánh đá gì chưa?

– Đánh bằng cùi chõ hay bằng gì?

– Pháo phiếc tụi H6 chôn sống hết, mày về quật mồ lên mà xài.

– Tao không có một món khí tài nào trong tay, ngoài bộ thước xạ kích tổng hợp trong ba lô và cặp ống nhòm này.

– Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng ! Nói vậy sao được tía nó .

– Vùng thì vùng, còn lên hay không chưa biết.

– Tao thì muốn vùng mà nó không lên. Nó cứ nằm ỳ. Hề hề… mà thà nó nằm êm còn dễ chịu, chứ nó vùng lên thì mắc công kiểm thảo như thằng Hai Giả.

– Tao nghe đồn mà không rõ vụ đó ra sao?

– Thì có cái đách gì! Sướng con cu thì mù con mắt. Nó có vợ ngoài Hốc Môn, tháng nào cũng vô cho nó nộp tô, nhưng vì nó thích vùng lên nên ở trong này chịu không nổi lại thím xực thêm một bà . Vậy chớ có gì. Nghĩa là đúng y cái công thức con vòng con cỡi của mùa thu ta.

– Có vậy thôi?

– Vậy thôi đã hạ từng công tác, ngưng sinh hoạt đảng. Nếu hơn thì tới chuyện gì nữa?

– Trong khi vợ bé bố Duẫn ở villa còn bố thì làm Tổng bí thư với số phiếu trăm phần trăm.

– Chíp! Chuyện đời muôn năm nó là vậy. Nói đạo đức dễ hơn giữ đạo đức.

Bỗng có bấng kẻng khua leng keng trong nhà . Tám Nghi nhổm dậy, bảo:

– Sửa soạn triều phục, đi vô chầu cha nội. Bệ hạ gọi đó.

– Ê hồi nảy cô bé nào coi mướt vậy ta?

– Mày cũng muốn vùng lên hả? Con gái nuôi của ổng đó, nó là người thận cận với ổng hơn cả tao. Nó ra vào chầu chực mình rồng tự do còn tao có lô phôn gọi mới được tới.

– Ở đây có lô phôn cơ à ?

– Cái kẻng đó, không nghe sao? Đánh với Mỹ mà xài lô phôn cỡ đó, mày thấy bình minh lên khắp nơi rồi chứ?

– Tao đi đâu cũng thấy con nuôi. Ông Ba Thắng trên R, ông Tám Quang và ông Thần Núi ở đây.

– Con nuôi có hiếu hơn con đẻ . Con nuôi bố biểu cái gì cũng được mày có hiểu không?

Chúng tôi sánh vai đi đạp lên đầu những đám cỏ mịt mùng ít dấu chân. Người ta muốn để nguyên màu hoang dại. Tám Nghi bảo:

– Có đại yến đãi mày đấy!

– Yến gì?

-Tao chưa hề thấy ổng săn đón ai như đối với mày. Bọn hậu cần, liên lạc, cả tao nữa, được lệnh ổng chạy đi mua rượu tây la ve và một mớ thỏ để nấu sốt vang theo kiểu Hà Nội . Riêng tụi tiếp phẩm phải chạy mua cho kỳ được nước đá !

Tôi bật cười:

– Bỏ mẹ rồi!

– Gì?

– Mới đút đầu vô chiến đấu mà ổng cho ăn thịt thỏ là điềm chẳng lành. Vậy thì tao sẽ nhát như thỏ đế và chạy nhanh như thỏ rừng mà thôi!

Tới thềm nhà, Tám Nghi níu tôi dừng lại và nói nhỏ:

– Mày đứng ở đây, tao vô ngách bảo thằng cần vụ.

Một chốc Tám Nghi chạy ra, đẫy tôi đi trước, hắn rón rén theo sau. Tới hầm hắn bảo:

– Rồi, vào đi! Cởi dép ra !

Tôi làm theo lệnh rồi bước xuống bậc thứ nhất. Sao mà lạnh thế ! Tôi đã từng vào nhiều hầm nhưng chưa hầm nào giống âm phủ như hầm này. Đúng là hầm Đờ Cát. Tôi có cảm tưởng tôi là chú chuột nhắt đang chui vào lòng một quả núi đất. Quả núi mà sụp là chuột bẹp dí. Phải dùng ít nhất năm trăm nhân công mới đắp nổi cái hầm này. Lòng hầm rộng rải nhưng tôi lại thấy nó ngột ngạt khó chịu vì cái không khí ẩm ướt nặng nề và ánh sáng lờ mờ của một ngọn đèn cầy cắm ở một chỗ lõm của tường đất.

Tám Nghi bảo tôi ngồi ở một cái ngách có bàn ghế hẳn hoi. Đây là nơi cán bộ các ban ngồi chờ trước khi làm việc với ổng. Tôi đang đảo mắt ngó quanh thì cận vệ trở ra. Cậu ta bước lại rỉ tai Tám Nghi. Tám Nghi nắm vai tôi, bảo:

– Ổng kêu vào !

Rồi hắn đi trước tôi theo sau. Tôi nghĩ thầm ông thần này rành chiến tranh lắm. So với cái hầm của Tám Quang thì nó khoa học hơn gấp bội. Bỗng Tám Nghi quẹo qua trái. Hầm kiến trúc theo hình chữ L. Nếu đạn có nổ ngay miệng hầm miễng cũng không văng vào được. Một ngọn đèn cầy khác hắt ra một thứ ánh sáng nhà mồ. Tám Nghi quay lại bảo:

– Coi chừng sụp.

Tôi bước xuống luôn một mạch bốn bậc đất xén rất sắcnhư lót gạch. Ai xuống cái hầm này dù không đội bom đạn cũng có thể hiểu được cường độ chiến tranh ở đây. Tám Nghi đưa tôi đến một cái ngách đào sâu vào vách hầm, rộng bằng phân nửa toàn bộ hầm của Tám Quang. Tám Nghi trỏ vào bàn ghế, các cây trụ rất chắc và bảo:

– Đây là hang của tao và mấy cậu bảo vệ. Bàn để ăn cơm và làm việc. Trụ để mắc võng hai tầng.

Tám Nghi lại bảo tôi ngồi chờ rồi cười khoe cặp môi chì khô răn rúm:

– Mày coi tao kiến trúc hầm kiểu này đúng với hầm chống nguyên tử mình học ngoài Bắc không?

Đối diện với cái ngách này là một cái ngách nhỏ, trong đó một cậu bé đang ngồi trên một cái thùng gỗ thông đựng đạn DKZ. Tám Nghi bảo:

– Viết thư viết từ cái gì . Không có được gởi lén đó nghe. Bữa nào tao cho về Sa Nhỏ mà thăm nó. Bộ gần ngày cưới rồi nôn hả? Tao đây với ông thầy pháo này già khú rồi mà có được như mày đâu !

Thằng bé ngóc lên nhìn rồi nói:

– Chú già chớ thầy pháo có già đâu!

– Đi lại bếp bảo mấy đứa nhỏ lột da thỏ chuẩn bị xào nấu đi, khách tới rồi. Đứa nào coi lại nước đá rộng mạc cưa và trấu có kỷ không, để đến lúc dùng mà chảy hết, ổng cạo đầu tụi bây nghe!

Tám Nghi quay lại bảo tôi bỏ ba lô và các thứ lỉnh kỉnh ra để trên bàn ăn cơm, đứng chờ còn y thì đi tới rồi rẽ ngang về phía trái. Như vậy hầm có hình chữ Z. Tôi tranh thủ gạ chuyện cậu bé :

– Bộ nhà cậu ở Sa Nhỏ à?

-Dạ.

– Sao vô đây?

– Dạ, ban đầu em tòng quân ở Q Hai Chòi, học xong khoa tân binh, em đưa nguyện vọng ra đơn vị chiến đấu, nhưng họ đưa về đây.

– Chừng nào đám cưới?

– Dạ em hẹn với cô ta là giải phóng xong về cưới, nhưng xem mòi không mau, nên em muốn xin phép về làm đám cưới rồi trở vô nhưng chú Tám bảo khoan đã , tình hình này không có ai dám tập trung ăn đám cưới mà làm, nên em gởi thơ về bảo ở nhà nán lại một thời gian nữa. .

(Thì cũng kiểu hai năm thống nhất cậu ơi! Đừng có bao giờ tin lời hứa của cách mạng!)

Tôi bắt qua chuyện hầm hố:

– Hầm này đào sâu ngủ thoái mái quá ?

– Trời ơi mấy cháu đào hộc máu đó chú. Cả trung đội làm liên miên một tháng trời mới xong.

– Đà ngang bằng cây cao su hả?

– Dạ, đây là cột nhà giàu bỏ đi mình lấy đại về làm. Rừng chồi cây non đâu đủ sức chịu cái nóc hầm này. Tụi cháu lvừa trồng khoai mì và mắc cỡ trên nóc. Hồi trước có cái nóc lá nhưng bị B52 quạt bay mất.

– B52 ở ngoài xa mà.

– Nhưng mà hơi nó mạnh lắm, nó đi như sấm vậy. Nếu người đứng trên mặt đất không bị đạn thì cũng văng.

Tôi trỏ mấy đóm ánh sáng loang trên vách hầm, hỏi:

– Lỗ thông hơi khoét hay có ống tre?

– Dạ đặt ống tre đàng hoàng, còn khoét thì ít lâu đất lỡ bít hết.

– Có lót ni-lông trên đà ngang trước khi đổ đất lên không?

– Dạ có, chúng em còn đươn vỉ tre trải đè lên để đất lkhỏi rơi xuống nữa .

– Vậy là tốt! Ở đây đất cao nên lòng hầm đào rất sâu, trong Gót Chàng đất thấp, xuống một thước là đụng nước.

Tám Nghi trở ra. Tôi hỏi ngay:

– Cái hầm có ăn thông ra địa không?

– Có chớ ! Ba Xây có được một khúc đào trước kia. Nó vừa lỡ, tụi tao phải sửa sang lại để xài. Y tặng cho tụi này luôn. Y bảo: “Mấy ổng có chun thì chun, còn tôi thì dông thôi, chun xuống dưới rủi tụi nó moi được miệng hầm nó móc lên như móc cua, tôi hổng chơi.”

– Địa được bao dai?

– Trăm rưỡi thước.

– Mày có xuống thử chưa?

– Có chớ !

– Bao lâu?

– Chừng hơn nửa tiếng. Tao thấy tốt lắm.

– Hơn nửa tiếng thì tốt, chớ chừng ba tiếng trở lên phải coi chừng. Tao đã từng đào và từng xuống địa. Đây là vấn đề khoa học không phải vấn đề lập trường. Thiếu dưỡng khí thì dù có thừa lập trường cũng không kham! Mày phải đặt vấn đề nếu nó chốt trên đầu thì phải làm sao?

– Mày bảo tao phải làm sao?

– Người ta cứ tướng xuống địa như đi xuống nhà nghỉ mát, nằm ngủ khỏe re chờ giặc nó rút thì trồi lên bắn tỉa xuyên hông hay vét đuôi nó dễ như ăn ớt vậy. Sự thực không phải đâu. Một cái đánh dấm ở dưới đó có giá trị bằng một trái bom nguyên tử trên mặt đất vậy. Còn rủi mấy cô công chúa kia có kỳ thì cả hầm sẽ chết ngộp. Rồi khát nước, rồi tiểu tiện, rồi ăn uống. Bất cứ cái gì cũng kỳ cục khác thường hết cả. Đừng tưởng đơn giản mà chết.

– Sao mày rành vậy?

– Thì tao đã xuống rồi chớ sao. Cái thằng nhà báo Bọ Chét tới đây hồi năm ngoái đòi quay phim lòng địa đạo nhưng nếu nó quay được thì tai hại biết bao nhiêu. Cứ để cho nhân dân thế giới thưởng thức cái địa trên đài Giải phóng và đài Hà Nội thì tốt nhất?

Bỗng nghe tiếng lục lạc ngựa leng leng. Tám Nghi ngắt nhẹ hông tôi và thì thào:

– Ổng kêu vô !

Tám Nghi dẫn tôi đến miệng ngách rồi đùn tôi vào.

Một người cao ốm, mặt dài, cằm dài ,trán thấp mà ngang chàng, mắt lươn ti hí, nhe răng cười mà không ra tiếng chỉ lphát ra tiếng hừ hừ như sư tử vờn mồi, đi tới đưa tay cho tôi. Tôi bắt lấy và nói:

– Anh Tiêu, anh mạnh hả ?

– Cậu làm gì ở dưới với mấy thằng Bắc kỳ lâu vậy? Có lmóc được gia đình không?

– Dạ tôi nằm chờ. ông già vô cho tiền rồi về.

– Còn vụ thằng em?

– Dạ chưa kết quả .

– Mấy thằng đó làm ăn bá láp. Gặp đâu xâu đó . Cán bộ chiến đấu không phải dính vào những cái chuyện địch vận lăng nhăng như vậy. Con người ta ai cũng chỉ có một bộ óc, là hễ làm tham mưu thì không chính trị, hễ làm chính trị thì đừng làm tham mưu. Cái thằng chính trị nó nhìn cậu nó thấy như một cục mồi nhử cá, còn thằng tham mưu nhìn cậu như một cái búa đập kẻ thù, cậu hiểu chưa? – Anh vừa nói vừa móc gói Capstan ra đưa cho tôi – Theo tôi trong nghệ thuật chỉ huy không nên có hai bộ phận chính trị. và tham mưu cùng một lúc.

Tôi mời lại anh và bật lửa cho anh đốt. Anh nói:

– Kể từ khi cậu đi miền Tây tới giờ tôi không gặp lại.

– Dạ, có gần hai chục năm!

– Cậu hồi đó còn thiếu nhi nhưng đã có khiếu quân sự. Mười bốn tuổi mà dám đánh xe tăng.

– Dạ làm ẩu may mà được anh à .

– Cậu xài cái ống quẹt ngon quá !

– Dạ , của người ta mua ở chợ Bắc Hà cho. – Nói xong tôi để hộp quẹt lên bàn. – Dạ, anh cất dùng còn cái kia để tôi gởi ra Hà Nội sửa.

Tôi cũng có nhưng cái của xưởng cơ khí Hà Nội làm, quẹt rách ngón tay mà không ra lửa.

Tám Nghi thò đầu vô hỏi:

– Dạ anh Năm còn bảo gì nữa không?

– Dặn con Hiền mua thuốc hút cho tôi.

– Dạ có rồi anh Năm.

– Thịt thỏ bảo tụi nó chiên sả ớt, đừng nấu kiểu có nước lỉnh bỉnh như vừa rồi ăn tanh lắm.

Tám Nghi thụt ra, anh bảo:

– Cậu đó giáo viên Lục quân mà chậm chạp, không linh hoạt, việc gì cũng đợi nhắc.

Tôi mở sắc-cốt định lấy bức thư của thượng tá Phúc, Phó tư lệnh pháo binh R U80 của ông Tư Khanh, nhưng lại thôi, chỉ móc giấy công tác ra trình. Anh xem xong, để trên bàn, xòe bàn tay to lớn ra đập đập trên tờ giấy, gầm gừ:

– Cái này là không được.

Tôi giật mình hỏi.

– Dạ, anh nói sao ạ?

– Hễ công tác ở Tham mưu thì công tác ở Tham mưu không có chàng hãng hai chân vậy được.

Tôi.ngồi lặng thinh, khống biết số phận mình ra sao. Ổng không nhận thì có nước lội về R. Trên đó còn ai đâu? Sức hút duy nhất làm cho tôi trở về R là các em thôi. Các em đã tản lạc hết rồi thì về làm gì nữa? Anh hất hàm:

– Cậu muốn tham mưu hay chính trị?

– Dạ, ở trên sắp xếp đâu tôi ngồi đó.

– Nói vậy sao được. Tham mưu là thực tế: Nhìn bom đạn là bom đạn chớ không thấy nó là mầm mống căm thù như chánh trị. Theo cậu cuộc chiến tranh này sẽ đi đến đâu?

Tôi ngần ngại, anh bảo ngay:

– Trung ương không hiểu gì ráo mà phát động chiến tranh. Giống như hồi 45 tầm vông đánh xe tăng. Nhưng bây giờ không giống chút nào.

Một cô bé đưa trà vào. Anh rót mời tôi và uống ngay, rồi tiếp :

– Binh thư có nói ba yếu tố chiến tranh: Thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Kẻ nào có ba yếu tố đó sẽ thắng. Ta có không? Tôi sát hạch chính trị cậu đó. Nói đi nghe thử!

– Dạ, thiên thời ta có vì đây là đất của ta, Mỹ không quen cái thủy thổ nhiệt đới này. Địa lợi: ta có địa đạo thôn liền thôn, xã liền xã, ta thuộc lãnh thổ hơn Mỹ. Nhân hòa….

Anh cười như con cọp bị hóc xương:

– Nói về nhân hòa nghe thử.

– Ta có dân. Mỹ bị dân thù ghét.

Anh khoanh hai tay trước ngực, ngã ngửa ra thành ghế:

– Cậu làm chánh ta có thớ lắm! Hà hà… Cậu nói y như Tám Quang. Nhưng đó là những điều trật lất. Mỹ không chịu được nhiệt đới nếu nó không có máy lạnh. Mình ốm đau vì ăn ở ngoài rừng, bịnh không có thuốc. Thậm chí bị thương chở tới Bưng Còng ông Tám Lê chạy trốn. Lính rượt bắn ông đó là thiên thời. Còn về địa lợi thì đây nà – Anh dậm dậm chân : Địa xạo chớ địa đạo gì. Ở chui rút như chuột có thấy trời đất gì mà chỉ huy? Còn nhân hòa hả ? Thằng Ba Xây xã đội phó này cho vợ con ra ấp chiến lược hết rồi. Chung quanh đây bà con cũng đã đi hoặc sắp đi. Người ta không thích mình đến. Vì mình đến có nghĩa là bom pháo, B52, biệt kích đến. Cậu nhớ hồi chín năm không? Mình đi đến đâu gà heo ngã liệt địa tới đó, dân chúng sắp hàng hai bên đường chào đón hoặc tiễn đưa. Còn bây giờ? Cấp trên phán như vậy rồi, mình cãi làm sao?

Tôi không ngạc nhiên về nhận định của anh. Tôi cũng nghĩ thế, có điều tôi không dám nói ra. Anh rót trà uống và tiếp:

– Cuộc chiến tranh này ác liệt hơn, ta phải hi sinh nhiều hơn và nó sẽ kéo dài hơn cuộc kháng chiến chống Pháp, ngoại trừ thằng Mỹ chạy làng. Nếu không, với tương quan lực lượng này ta không thấy có lý do để chiến thắng. Tôi nói thật đấy mà. Tôi đi tàu lặn với năm chục ông cấp tá . Tàu cặp bờ biển Bến Tre. Từ đó về đây phải chạy chừng một chục cuộc đổ dù. Qua những lần đó tôi tổng kết tình thế của miền Nam về mọi mặt. Dân quan chánh đảng và tình hình quân địch.

– Xin anh cho tôi nghe với.

– Uống nước đi, chút nữa ở đây ăn cơm với tôi một bữa ngon nghe ! – Anh hớp trà rồi trở lại vấn đề – Ta ép buộc dân làm chiến tranh, không phải họ tự nguyện. Bộ đội ta vũ khì không bằng 1/100 quân địch. Đây tôi chỉ cho cậu một điểm. Chiến tranh là tội ác, bất cứ chiến tranh nào. Thằng nào giết người nhanh và nhiều nhất thằng đó thắng. Về điểm này Mỹ có ưu thế hơn ta nhiều. – Anh chĩa ngón tay trỏ vào cốc trà và chấm chấm trên bàn – Đây là cự ly đạn phát ra từ lòng súng M16 không đấy một tấc một viên. Nghĩa là một chiến sĩ ta có thể bị ba viên một loạt đạn. Còn đạn trực thăng bắn thì còn kích hơn. Nó bắn từ sáu đến tám ngàn viên trong một phút. Cự ly đạn ước chừng hai tấc. Vậy một người chạy trong lưới đạn của nó không có thể lọt kẽ được. Cậu hiểu dư mà!

-Dạ.

– Còn loại cá lẹp của nó phóng rốc-kết sẽ không để cho mình thoát. Bốn trái nổ bốn gốc một lúc. Tôi nhìn dấu đạn thì tôi thấy là nếu mục tiêu bị nó nhắm thì chỉ có hai trường hợp: một là hủy diệt, hai là trọng thương. Nhiều ông cùng về với tôi hỏi: “Sao nó không bắn giống FM Tây hồi trước nghĩa là bập bập bập mà chỉ nghe cái réec hoặc hù ù.. Là vì đạn đi dính liền nhau. Khi về đến Tháp Mười tôi bị một trận pháo bầy. Đạn nổ rồi mình mới nghe đề pa ! Ở Trung Quốc tôi không có học thứ này. Sợ e bạn ta không có . Binh chũng của cậu đó, cậu thấy thế nào?

– Dạ tôi cũng để tâm dữ lắm anh Năm ! Nhưng chưa biết phải làm gì. Ít nhất ta phải có lực lượng tương đối.

– Tương đối là bao nhiêu?

– Là…ít nhất nó mười ta phải sáu hoặc năm.

– Đừng mong. Tôi biết hiện giờ nó mười, ta 0,5. Cũng có thể là 0.

– Sao vậy anh?

– Vì DKZ là thứ dùng hồi chín năm ta lén chôn lại, bây giờ móc lên. Lau chùi xong lại chôn. Cậu dạy trên trường loại pháo gì?

– Dạ Nhựt, Mỹ, Pháp, Trung Quốc.

Anh cười chế diễu.

– Học gì dữ vậy? Bộ oánh một lúc bốn phép à?

– Dạ râu ông này cặm cầm bà kia anh Năm ạ . Pháo Nhật không có máy ngắm, phải dùng máy ngắm của Pháp gắn qua. Bắn vòng cầu không được phải bắn trực xạ.

– Vậy rồi làm sao chơi với thằng Đồng Dù?

– Cần chơi thì phình bụng ra chơi chớ sao giờ anh Năm!

Anh lặng thinh một lúc rồi bảo:

– Nhưng ngặt nhất là học sinh. Lớp hai, lớp ba, làm pháo thủ còn không xong lấy đâu chỉ huy một khẩu đội? Rồi hành quân bằng cái gì?

– Anh mà thấy lính trên Trường Sơn khiêng pháo thì anh sẽ khóc ròng đó anh ! Bộ giò như cây tăm xỉa răng mà khiêng pháo 90 ly. Trời ơi ! Đói ! Đế cối bỏ đầy đường ! Tôi thấy không dám dòm. Trung ương ác quá ! Miễn đạt mục đích thì thôi, hi sinh bao nhiêu không kể.

– Nhất là hi sinh dân Nam kỳ và nhất nữa là không có đứa con đứa cháu gì của mấy ông to bà lớn cả !

Tám Nghi lại ló đầu vô:

– Thưa anh Năm, uống rượu gì ạ?

– Có Tây chơi Tây, có đế chơi đế. Đãi cậu thầy pháo này một bữa cho tới gáo. Cậu ta là lính của tôi hồi chín năm. Tiến bộ mau quá ! ờ ờ đó là nhờ văn hóa. Chiến tranh là một khoa học. Hồi chín năm ai có dao dùng dao, ai có búa dùng búa chớ bây giờ không thể chơi miếng võ rừng đó được nữa. Một người chỉ huy bây giờ phải là một nhà khoa học. Cậu có thắc mắc tại sao Ông Chuột nhà mình làm quyền Sư trưởng mất năm, sáu năm mà không lên Sư trưởng được không?

– Dạ thấy dân Nam mình ra Bắc bị lép, nhưng không dám thắc mắc.

Anh lắc đầu:

– Đứng về địa phương anh thì thắc mắc, nhưng đứng về khoa học thì không nên. Ông ấy làm Sư trường trong lúc chưa rành toán chia thì làm sao? Một vị chỉ huy cầm mười ngàn lính trong tay gồm có cả chục loại binh chủng, nào pháo binh, xe tăng, bộ binh, cơ giới, hóa học, quân y, hậu cần, có khi cả hải quân và không quân mà trình độ như ổng thì làm sao xoay trở? Lập trường chỉ tốt ở trong văn phòng và kiểm thảo dâm ô tham ô thôi chớ ra trận thì vứt đi. Thằng lính nào hi sinh bằng Ma tơ rô xốp và Đồng Tồn Thụy? Cậu có xem phim chứ? ờ… ờ Bế văn Dàn, Tô vĩnh Diện của ta nữa !

-Dạ có.

– Cứ bắt lính lao mình vô lấp lỗ châu mai hoài sao? .

– Dạ… tôi đâu có ý kiến gì anh Năm!

– Ba cái cô dũng sĩ do Tám Quang sơn phết chỉ nhảy cóc nhảy nhái ít lâu và trong lúc bom đạn chưa thật ác liệt thôi . Nay mai thằng Tư Linh sẽ không có đạo diễn địa đạo chiến được nữa.

Tôi hơi nhột, gượng hỏi.

– Hồi thằng cha Bọ Chét tới đây anh về chưa anh Năm?

– Tôi ở đây chớ đâu ! Tám Quang có liên hệ với tôi yêu cầu cho bố trí pháo bắn máy bay để quay phim. Tôi bảo không được Anh ta có đề nghị lên ông Ba Đình, nhưng ông Ba bảo tùy tôi. Cậu thấy không? Con mắt chính trị nó nhìn sự việc như thế đó . Nó tưởng bắn máy bay là dễ lắm. Cứ có tiếng nổ cho nó thu thanh là được rồi. Mấy đứa nữ du kích ngoài Bắc tập bắn máy bay bằng súng trường tôi trông thấy mà khóc ròng. Vậy mà ông thi sĩ nhà mình làm thơ ca ngợi và mời quốc tế tới xem nữa.

– Thơ gì anh?

– Thơ gì không biết thơ gì, tôi chỉ nhớ đoạn du kích bắn máy bay ở cầu Lai Vu như sau:

Có cô du kích xóm Lai Vu
Quấn rắn trong chân vẫn bắn thù
Mỹ hại muôn nhà lo diệt trước
Rắn! Mình em chịu có sao đâu.

Đem súng trường ra bắn phản lực thì chỉ có Việt Nam ta thôi.

– Và đem hầm chông địa đạo ra chống B52 thì cũng chỉ có Củ Chi này thôi anh ạ -Thấy ông thủ trưởng cởi mở nên tôi cũng phụ họa – Tôi đã đi với các đội du kích đào hầm và địa đạo để tìm hiểu tình hình hầu sau này áp dụng cho công tác chỉ huy. Tôi thấy quả bi đát. Anh Tám Quang bảo tôi là một vòng đai thép bao quanh Đồng Dù, tôi tưởng có thật…

– Thì có thật chớ láo à?

Dạ, anh bảo sao?

– Thì có mấy hang ếch của tụi thằng Năm Cội và của con Bảy Mô!

Anh ngừng lại lấy cái lục lạc trên bàn lắc lắc. Tám Nghi ló vào Anh chỉ cái ghế bảo Tám Nghi ngồi:

– Cậu nói cho ông giáo viên pháo nghe về cái vành đai thép của ông Tám Quang chút.

– Dạ! Hôm trước anh Năm bảo tôi đi nghiên cứu cái vành.

Anh cắt ngang.

– Là vì tôi ở đây mà không biết. Thế mà đài Giải phóng nói oang oang. Rồi đài Hà Nội cũng phụ họa và khuếch đại nó thành Thượng Cam Lĩnh. Tôi nghe mà giật nảy người lên ! Mình ở đây mà sao không biết vụ đó ! Khơi quá ! Nào, cậu Nghi trình bày để ông thầy pháo nghe xem có thể đem cà-nông 105 ở Tầm Vu ra tăng cường cho cái vành đai đó không?

Tám Nghi nói:

– Dạ là chục rưỡi hố một của du kích các xã Phước Hiệp với Nhuận Đức. Họ núp bắn ba tụi tinh Mỹ ở Đồng Dù thường đem đĩ ra làm ăn ở bên ngoài vòng rào. Nhưng tình trạng đó đã chấm dứt rồi. Vì sau mấy lần tụi nó bị bắn xách quần chạy, thì xe tăng, pháo, trực thăng đáp lễ. Chúng vừa bắn vừa ủi tan mấy cái hầm đó hết rồi. Hiện giờ du kích bị tróc nên chạy vô Bàu Chứa đào hầm khác.

– Như vậy thì Đồng Dù ở ngoài đạn đạo súng trường rồi. Tôi có gặp đội nữ của Bảy Nề và tự sung công làm ông thầy khoét hết một ngày.

Tám Nghi hết nhiệm vụ, đứng dậy cóm róm:

– Dạ, thỏ chiên sả ớt cũng sắp xong rồi anh Năm!

– Bảo tụi nó dọn ra đi. Cậu tới nhậu cho vui nghé!

-Dạ.

Tám Nghi vừa đi ra, anh lấy bản đồ trải ra và chỉ cho tôi các vị trí đồn bót. Tôi rút bút chì mỡ và bút nguyên tử bốn màu đưa cho anh làm điểm. Anh hỏi:

– Ở đâu cậu có thứ này?

– Dạ tôi mua ở chợ Long Hoa II. . .

– Cậu dám vô chợ Long Hoa kia à?

– Dạ, đó là Xóm Mới ở quận Tân Biên của Tây Ninh chớ không phải chợ Long Hoa thiệt. .

– Xa không?

– Dạ nếu không có máy bay đi bộ chừng hai ngày.

– Từ ngày về đây tôi như thằng ngố cứ ở miết trong hầm. Tụi nó xì xào tôi nghe, nhưng kệ. Tụi nó cười tôi là con nhà pháo sao lại sợ pháo ghê thế. Tụi nó không hiểu gì hết nên không sợ là phải.

Anh cầm cây bút chì nghiêng qua nghiêng lại xem và nói.

– Thứ này là made in USA đấy ! Tôi bảo Sáu Huỳnh mua cho tôi mấy cây mà y có nhớ đâu, y chỉ nhớ má con Chia.

Tôi làm bộ không biết: .

– Con Chia nào anh Năm?

– Chỗ thằng mắt bù lạch đóng cơ quan cậu không biết thật à?

Tôi lắc. Anh cười hắc hắc:

– Thằng Chín Lộc với bà Ba Bánh Bò, thằng Huỳnh đớp mụ Tư The má con Chia. Tụi nó làm công tác quân báo nhân dân mọc rễ ở đó luôn chớ gì! Kệ tụi nó, tôi cũng thế thôi. Hay dỡ là công tác chớ ba cái vụ lặt vặt đó tôi không xét nét.

Anh cầm bút chì chỉ mấy điểm trên bản đồ rồi xếp lại, nói tiếp:

– Cậu biết từ trước tôi không ưa mấy thằng chính trị viên. Chúng nó nói toàn chuyện trên trời dưới đất không thực tế chút nào! Lão Long này (tức là Tám Quang) vì nói chính trị nhiều quá mà ở vá tới bây giờ, mó đâu hụt đó. Ổng đi Trung Quốc học xong về, cũng nói cái giọng Mỹ là con cọp giấy. Lão Khơ trọc vậy mà thực tế: “Cọp giấy nhưng nó có nanh nguyên tử” Đến Củ Chi này xem con cọp giấy nó có làm gì không? Ấy là nó chưa xài tới nanh của nó đó. Mấy thằng chánh trị ba lem nhem học được ba mớ lý luận đã bốc trời… Tôi đã chỉ thị cho Ba Hải, Năm Tiều triển khai lực lượng đánh phục kích hoặc pháo kích, nhưng ba tháng nay vẫn êm rơ. Ngày ngày cứ lõ con mắt ra nhìn đồng bào chạy ra ấp chiến lược và xe tăng ủi Phước Hiệp lấn vô Cây Sộp. Ttình hình càng găng, cán bộ càng bệ rạc. Mỗi lần tôi thấy Hai Giả và Sáu Phấn tôi nổi xung lên! Tánh của tôi cậu còn lạ gì. Hễ nóng lên là bất kể. Tôi la ó um sùm. Mà giận thiệt, cán bộ có khuyết mặt này thì được mặt khác. Còn hai ông này trớt he. Đó mấy ông chánh trị già làm thử xem! Cậu về đây tôi mừng lắm. Trẻ, lại có kiến thức.

– Anh muốn tôi về H6 làm gì trước?

– Giao công tác đảng cho Sáu Phấn. Cậu lo mặt tác chiến. Chấn chỉnh lại đơn vị, hâm nóng tinh thần chiến đấu. Mục tiêu chính là Đồng Dù. Phải hạ vài chiếc khu trục ngày nào cũng bay lên bay xuống tuôn bom vùng An Nhơn! Ông Ba Đình cứ hối thúc tôi mãi, tôi thiệt bực mình. Nhưng làm gì được với một giàn cán bộ như vậy? Nhớ hồi chín năm đánh mấy trận Bàu Cá, La Ngà, Bến Cát ăn ngon như rau mà ham. Bây giờ dễ gì làm nổi một cái?

– Anh có bản đồ pháo binh vùng này cho tôi xin một tấm! Tôi chỉ có bản đồ Củ Chi của U80 phát, tỷ lệ 250.000 mà mờ quá, lại toàn chữ Trung Quốc.

– Mình vô đây là rơi vào một cái khủng hoảng thiếu; thiếu tất cả phương tiện chiến đấu và một cái khủng hoảng thừa, thừa bom đạn địch. Không thứ gì mình cần mà có. Bản đồ thí lem nhem và không chính xác nên ông Hai Nhã đấm lưng bộ binh ngoài Đồng Dù Bình Giả khá khá đó .

– Tôi có gặp ông Năm Truyện và ông Trí O ở trường Trung Sơ.

– Cậu làm gì về đó?

– Dạ học.

– Học cái gì?

– Tình hình nhiệm vụ mới. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành

– Kẻ thù nào cũng đánh thắng. Biết rồi. Đó là chánh trị xưa như trái đất.

Tôi biết anh rành câu đó của ai nên không nói tới nữa nhưng hỏi:

– Phải anh Ba Đình chỉ huy trận Đồng Xoài Bình Giả không anh?

– Ổng chớ ai. Hồi 1949 ổng làm tham mưu trưởng Bến Cát thì dễ ăn hơn! Vô đây tôi cho cái bản đồ .

Anh đứng dậy bước đi. Tôi theo anh qua một đường hầm ngắn đến một cái ngách khác khá rộng nền đất lót bằng một bộ ván dầu mun đen, trên đó kê một chiếc giường đôi và một cái bàn nhỏ.

– Ở hầm kinh niên mà nền không lót cây thì bị bịnh tê thấp cũng đủ chết chớ không cần bom đạn cậu ạ.

Trong hầm có nhiều lỗ thông hơi nhưng không đủ ánh sáng nên vẫn phải đốt đèn cầy. Anh nói:

– Ở mãi dưới này rồi mắt mờ và các giác quan khác đều kém nhạy.

Anh ngồi xuống giường lôi cái sắc-cốt để bên cạnh chiếc ba-lô kiểu Trung Quốc còn mới nguyên, lấy bản đồ, mở ra và nói:

– Bản đồ này tỷ lệ 1/50 ngàn do đồ bản của mình vẽ lại của Mỹ in ở Đà Lạt. Đây là tấm Củ Chi, cậu xài đỡ, khi nào, xong tấm mới, tôi sẽ gởi cho cậu.

Thấy cái ngách nhỏ tối om khoét trong vách hầm, tôi hỏi:

– Cái ngăn này anh để làm gì xin nói cho tôi kinh nghiệm với.

– Phòng khi hầm sập mình chui vào đó. Nó ăn thông ra địa đạo. Như vậy lỡ bộ binh nó ngồi trên đầu, mình vẫn có lối thoát thân. Còn một kinh nghiệm này nữa. Khi cậu xuống hầm trốn bom pháo, không nên nằm, mà chỉ nên ngồi thôi. Nằm có hai cái hại. Một là chấn động tim, hai là khi hầm sụp cậu không ngồi lên được.

Chúng tôi trở ra chỗ cũ. Anh hỏi:

– Hôm cậu lên đại hội mừng công có gặp mấy cha Ba Thành, Ba Sinh, Hai Lơn, Hai Búa, Lê đức Anh không?

– Dạ đủ mặt hết anh ạ ! Người khu 7 cũ của mình hình như đã về hết trong này.

– Họ có nhắc tới tôi không?

– Dạ…ơ ơ…

– Nhắc làm mẹ gì thằng này. Khi gian khổ có nhau. Lúc vinh quang ngoảnh mặt.

Tôi biết tánh anh ngang bướng từ thời trai trẻ, nên ngồi làm thinh. Anh tiếp:

– Hôm đám cưới tôi ở Hà Nội, tôi có mời từng người, không ai đến cả. Họ sợ trách nhiệm.

Tôi vẫn làm thinh. (Ông nội ai dám đến dự đám cưới vợ bé của ông thần?)

Chỉ có Hai Nhơn thôi. Cậu nhớ Hai Nhơn bí thư của ban chỉ huy E300?

– Dạ quên sao được. Ảnh ra Bắc mười năm chỉ được lãnh lon thiếu úy, vì thành phần trí thức.

– Thì tao đây cũng vậy. Không trí thức nhưng là lính thủy của Pháp, nên bị trù không lên nổi, lại vụ cưới vợ ngoài Hà Nội. Tao không trách ai – Anh chuyển sang tình cảm anh em, xưng tao và gọi tôi bằng mày – Mấy chả sợ gánh trách nhiệm với tao. Tao chẳng phiền gì, chỉ buồn là anh em quên tình nghĩa cũ. Tao quyết định làm thì làm và ngửa cổ chịu một mình. Rơi một sao, tụt một cấp tao vẫn vui. Vợ tao oán trách và nói nặng tao. Tao chấp nhận. Vì đàn bà ai cũng thế. Còn tao… – Anh ngập ngừng một chút và nói như suối chảy – Nhưng nếu ngược lại ở trong này vợ tao có chồng tao không trách móc gì hết. Con người phải hơn con vật! Con người phải sống như con người. Trước kia tao đi lính thủy, hễ lêu bêu dưới nước thì thôi, hễ lên bờ là việc đầu tiên là vô bung-ga-lô tìm chất tươi. Chưa bao giờ tao thiếu nó trên ba tháng. Nếu có thiếu thì tao tự bù trừ. Còn ở ngoài Bắc mười năm thằng nhỏ vô dụng. Liên Xô nó sang Hà Nội hai tuần dẫn vợ theo. Còn mình, nó khen là thần thánh! Ai ham làm thần thánh kiểu đó chớ tao thì không! Người ta chê bai anh Ba Duẫn, anh Sáu Thọ có vợ bé, lấy vợ địa chủ nữ sinh v.v… Tao không khen nhưng cũng không chê. Thằng Napoléon là thằng mê gái số một, thậm chí khi viễn chinh nó có cả một đơn vị đi tìm gái cho nó . Đêm nó ngủ không thể không có mỹ nữ bên mình. Đến lúc bị đày ra St- Hélène vẫn còn có cô con gái 17 tuổi yêu nó cơ. Yêu nó cho đến nó chết. Nhưng nó là thằng gì? Liên Xô phải học nó và sợ nó. Cutuzov thắng nó không phải nhờ tài ba mà nhờ mùa đông quái ác của xứ Nga . Mày có ra Hà Nội ghé lại hiệu sách Ngoại Văn ở Tràng Tiền mày sẽ thấy bày bán một quyển sách tiếng Pháp bìa carton dày 807 trang bên trong in một chữ vàng N. Đó là tác phẩm của Viện Hàm Lâm Quân sự Liên Xô nghiên cứu về nó đấy. Tiếc là hồi ở Hà Nội tao không gặp mày để bảo mày đọc cuốn đó. Mày đọc được chớ?

– Dạ , chắc được !

– Bây giờ về đây tao đọc cái này – Anh thò tay móc dưới gầm bàn ném lên – Bí thư của tao đấy.

Tôi nhìn: Tam Quốc Diễn Nghĩa. Anh trở lại Napoléon:

– Nó làm thống soái hồi ba mươi hai tuổi, nhỏ hơn mày hai tuổi, nhỏ hơn tao mười tám tuổi. Khi nó đứng ra chỉ huy mấy thằng nguyên soái già thì tụi này xì xầm tỏ vẻ bất phục, nó rút gươm bảo “à mes ordres!” Nghe lệnh của tôi! Thế là tụi kia răm rắp cúi mặt nghe theo lệnh nó. Chuyện lăng nhăng của nó ngày nay vẫn được ghi lại thành sách để bên cạnh binh nghiệp của nó. Nào Joséphine, nào Beauhamais và cả chục mối tình khác, mối tình nào cũng cho thấy nó là thằng mê gái tuyệt vời, nhưng vẫn là một nhà chi huy quân sự số 1 lịch sử. Lịch sử có phê phán gì về tội mê gái của nó không? Tao xa vợ tao mười năm, đó là chưa kể những năm ở khu 7, lâu lâu mới gặp nhau một lần trong nhà dân hoặc ngoài rừng. Tao lấy vợ ở Hà Nội đàng hoàng, không giấu ai, trái lại có mời bạn bè và cho tổ chức biết một cách quang minh. Ông anh vợ tao là thượng tá cùng học pháo bên Trung Quốc hai năm tiền ăn ở chung, vẫn biết tao có vợ con trong Nam nhưng ông vẫn gã em gái cho tao. Vợ tao ở Hà Nội cũng biết tao có vợ…

Anh ngưng ngang như bị nghẹn. Tôi cười:

– Chắc anh mong một lá thư của chị?

– Vô phương có !

Anh nói bằng tiếng Pháp và vung tay lên buông rơi xuống trên đùi.

– Nếu có anh nghĩ sao?

– Hả ? hả t Mày đùa à ? Bà này sẽ bỏ tao và đem con tao về Sài gòn. Bà ta là một loại đàn bà ghê gớm. Không phải sự hung dữ mà là tình yêu. Bà ta yêu tao như một lý tưởng trong đời sống riêng tư, cho nên bà ta không tha thứ cho tao, không chấp nhận sự chia xẻ tình yêu. Tao muốn nói chuyện với bả lúc bả hồi tĩnh lại nhưng bả nhất định không nghe. Bả nói một câu như búa chém: “Nếu tôi ở lại đây, tôi sẽ có thể bị ông thuyết phục mà đồng ý với ông. Như vậy suốt những năm tháng còn lại của đời tôi sẽ chỉ là sống tạm sống nhờ.t Tôi sẽ ân hận vì đã chấp nhận tội lỗi của ông !”

Anh ngưng, mặt đờ ra, thờ thẩn.

Tôi từ từ cởi cúc áo trên móc ra một chiếc phong bì mà tôi đã sửa soạn khi nằm võng với Tám Nghi bên ngoài. Tôi rất kính phục anh từ thuở còn là thiếu nhi và vẫn còn giữ nguyên tình cảm đó. Tôi đưa cho anh và nói tên người nhờ gửi bức thư. Anh nói lạc hẳn giọng.

– Ông Phúc à? Anh… anh… ấy…

– Dạ anh ấy mới về nhận chức Phó tư lệnh U80. Khi tôi đến gặp anh ấy để nhận quyết định đi xuống đây thì ảnh giao cho tôi thư này nhờ tôi trao tận tay anh.

Anh xé thư ra xem ngay trước mặt tôi. Xem tới đâu mặt anh hững lên tới đó. Xem xong anh xếp lại đút vào phong bì cho vô túi áo và hỏi tôi.

– Tao thì đành vậy rồi, còn mày? Ở Hà Nội có gặp con Ánh Tuyết không?

– Dạ có, nhưng chỉ một đêm…

– Một đêm đủ rồi! thằng Napoléon cũng thế, nhưng không phải nó phụ tình mà ngày mai nó đã lên ngựa hành quân xứ khác. Con nhỏ nào được nó ngủ một đêm cũng đã vinh hạnh suốt đời.

Tôi nói:

– Tôi gặp Ánh Tuyết một đêm ngồi trên băng đá anh ạ. Hai đứa chỉ nói chuyện cũ ở Rừng Sát đi mò cua bắt ốc và tô bùn trên đầu cho chí chết, chớ có chuyện gì đâu mà nói vì nó sắp đi Trung Quốc học kỹ thuật gì đó còn tôi thì đã nằm trên bệ phóng rồi chẳng lẽ cách xa vạn dậm mà yêu nhau được? Tôi đã ớn một lần hai năm rồi nên không dám quyết định gì hết.

– Đúng đấy! Hai năm gì được mà hai năm.

Anh cười ha hả một cách bất ngờ:

– Nó tước mất xe của tao mày ạ !

– Xe jeep gì, anh?

– Nói chuyện hồi ở ngoài Hà Nội mà ! Hai sao hai gạt hai cái chày tiêu gác tréo thì được xe jeep có tài xế lái phom phom đi Hà Nội. Đằng này nó kê tao vụ đó, nó đánh tao rơi một sao, mất xe nhưng tao cóc cần. Tao vứt xe đạp lên tàu hỏa, ra Hà Nội chạy tới nhà vợ, rồi đèo vợ đi cinê, đi uống nước ngọt Bờ Hồ chẳng sướng hơn đi xe jeep mà xách xe không chạy nhong nhong như con chó thiến à? Đói cơm thì chịu được chớ đói tình cảm thì buồn lắm phải không chú đồng tử quân của Rừng Sát?

Anh lại hỏi:

– Rồi bây giờ mày định mối nào chưa?

– Dạ cũng còn đang chạy nhong nhong.

– Ông già vô có vui không?

– Dạ ổng buồn lắm. Vì hai thằng con trai mỗi đứa một đường.

– Làm sao được! Ai có chí hướng nấy. Mày khó chinh phục nó mà nó cũng khó chinh phục mày!

– Vậy làm sao bây giờ anh?

– Tao không biết. Về ba cái vụ lăng nhăng đó tao không có ý kiến được. Hà hà, trước khi tao xuống tàu lặn họ gắn sao lại cho tao mày ạ ! Được sao nhưng lại mất nàng tiên Hà Nội. Như mày mày bắt sao hay tiên?

Tôi cười:

– Anh bắt cái nào?

– Mày không có quyền bắt mà mày phải bắt cái người ta đưa cho mày. Chịp, nhớ hồi kháng chiến ở Đồng Hòa Long Thành vui quá, chiều chiều ra bãi cát ngó thấy Cấp St-Jacques, hay ngó qua Vàm Láng Gò Công chỉ cách có con sông Lý Nhơn… Bây giờ hổng biết bà ấy dắt hai đứa con tao đi đâu?

Tiệc xong, tôi ra ngoài cái chòi mắc võng nằm với Tám Nghi. Hắn bảo:

– Từ lúc tao hầu dưới trướng ông tới nay, tao chưa thấy ứng tiếp ai như tiếp mày, hơn nửa ngày. Bữa nay có bốn trưởng ban về xin gặp ổng, ổng bảo chờ đến mai. Thế nào, ổng bảo gì mày?

– Về chỉnh đốn H6 bắn vài cái máy bay, pháo cho thằng Đồng Dù vài quả, một quả cũng được.

– Ổng xử lý Hai Giả ra sao?

– Xưa kia nghe vụ ổng lôi thôi, rồi về R chính tao gặp bà Mặn làm loạn ở trạm 66 tao có ý chê trách ổng kém đạo đức nhưng nghe ông tâm tình, tao hết ghét ổng. Tao lại thấy thông cảm với ổng. Chiến tranh rõ thật đáng thù, ổng bảo ổng không muốn làm gì Hai Giả cả mà vì ở trên bảo rằng Hai Giả bị dư luận không tốt trong quần chúng nên ổng cho Hai Giả đi công tác nơi khác một thời gian rồi trở về chỉ huy đơn vị chiến. đấu ở quận Bến Cát hoặc Nhà Bè. Tội mẹ gì mà phải ngưng sinh hoạt đảng và rơi sao. Vậy các ông tướng ở R thì sao?

Tám Nghi nói:

– Kẹt một cái là Hai Giả có vợ con ở Hốc Môn ai cũng biết. Bả vô đây hoài hoài, bả tiếp tế lớp tiền, lớp xe Bờ Rô, lớp Radio, toàn thứ kẻng…

– Chậc ! Thì vậy không mà ! Bà Ba lớn nhăn như da ổi thì anh Ba phải tìm bà Ba nhỏ láng hơn. Còn mày? Đã có chỗ nào để bám trụ chưa?

– Con gái nhìn mặt tao là chạy tét, bám trụ gì!

– Sao không đi bệnh viện?

– Đi đến đó nằm, thì thà ở nhà còn khỏe hơn. Cái bệnh viện của ông Tư Chuyền ở trên Hố Bò chớ đâu. Tao đã đến xem qua rồi. Nó chỉ thiếu dùng cưa mập để cưa chân tay thương binh thôi.

Tôi định lấy đồ trong sắc-cốt tặng cho Tám Nghi, nhưng hắn bảo hắn chỉ thích cái đèn pin USA có cái đầu bẻ cụp được (gọi tắt là đèn quắu) để rọi đi ra đi vào hầm. Tôi chụp vào hông bảo:

– Đây tặng cho mày !

Nhưng không thấy nữa. Tôi sực nhớ ra lúc nhậu tôi đã mở ống dòm sắc-cốt và dây nịt đưa cho bảo vệ . Tôi ngồi dậy định đi vào nhưng Tám Nghi bảo để y lấy cho. Tôi bảo:

– Để tao vào gặp ông có chút chuyện riêng, lúc nãy tao quên nói.

Tôi đi vào hầm. Nhờ quen lối cũ nên tìm đến mâm tiệc lúc nãy dễ dàng, nhưng không thấy đồ đạc ở đó, tôi bèn quay lại phòng của Tám Nghi và mấy chú bảo vệ . Vẫn không thấy ai. Tôi đi theo lối đến phòng bản đồ. Tôi sắp bước vào thì nghe tiếng thì thào và tiếng rên ư ử. Bất giác tôi đứng nép một bên đưa mắt nhìn vào.

Tôi bật ngửa. Dưới ánh đèn xanh lờ mờ một thân hình tiên nữ nằm phơi lồ lộ trên chiếc giường đôi. Ánh sáng làm cho nó hư ảo như một vệt mây trắng tinh với một đám mây đen lung linh. Còn ông tiên thì ngồi bên cạnh cầm quạt phe phẩy, chốc chốc lại nghiêng môi xuống hớp mây, cái đầu to của ông ta gục xuống rất lâu mới ngóc lên. Ông ta hỏi.

– Mát không cưng mát không?

Tôi sợ bị bắt gặp, định quay trở ra thì một bàn tay lôi khẽ tôi. Tôi vọt ra ngoài rất nhanh như một tên trộm sợ chủ nhà rượt bắt. Tám Nghi thầm thì.

– Tới giờ ổng lên giàn hỏa. Tao biết thế nào thịt thỏ xong cũng có cái trò múa đôi đi liền. Tao muốn bảo mày nhưng mày nói có chuyện riêng tao để cho mày đi.

Tám Nghi rỉ tai tôi:

– Con nuôi ổng đó !

Tôi cười chữa ngượng và chối phắt.

– Tao có thấy gì đâu mà nuôi với dưỡng!

– Thấy hay không thì cũng vậy đó. Mấy cậu bảo vệ và tao biết ý nên tối tối là chui vô ngách nằm im rơ, có tiếng chuông mới trình diện. Con nhà ai vô đây thì kể như dưng cơm cho lục đi. Hễ tanh cơm tanh cá thì ổng cho qua Bưng Còng nạo.

Tiếng nạo của Tám Nghi làm cho xương sống tôi nghe như có miếng B52 bay phớt qua.

(Sau đó tôi về H6 là Trưởng ban Pháo binh Quân khu, tôi có dịp ra vào cái.hầm “Đờ-cát-tiêu” này luôn. Mỗi lần đến tôi mua quà tặng các cô các cậu báo vệvà nhậu nhệt với Tám Nghi. Do đó tôi được họ coi như người nhà. Lắm khi làm việc xong tôi vô bếp lục cơm nguội ăn hoặc được mấy cô cấp dưỡng xẻ phần của ông xếp lớn cho tôi. Đầu năm 66 tôi ra chỉ huy tiểu đoàn bộ binh, toàn cơ quan Quân khu không ở nổi Củ Chi nữa nên vọt qua xây căn cứ ở Đường Long tức bên kia sông Sài gòn. Tôi vượt sông qua đó gặp ông Thần Núi để thông qua kê hoạch phòng ngự của Củ Chi. Lúc bấy giờ nhân viên và phòng chẳng còn người nào quen cả. Hỏi thăm thì họ bảo “Tám Nghi về R an dưỡng, cô Hiền đi học y tá. ” Nhưng mà tháng sau tôi gặp ông Chín Nửa, dượng tôi, người cho tôi cái radio Sony sau bữa tiệc nhậu tép mỡ ở cái chuồng trâu. Dượng cho hay Tám Nghi và cô Hiền đã bị Mỹ khui hầm bắt ở Bến Súc nay đang ngồi trong tù. Vậy cũng may, tôi nghĩ Tám Nghi tên lính Lê dương vẫn còn có cơ may: sống sót. Còn đối với cô Hiền thì đời tù tội có cực khổ nhưng không nhục bằng làm con nuôi.)

Nhưng màn con nuôi vẫn còn dài dài trong hầm Đờ-Cát ở Củ Chi và R.

Đời thằng thượng úy kiêm xạ thủ quốc tế về đây để được làm một trung tá sai vặt và ngồi tù Mỹ.


Tiếng Sét Ái Tình và Tiếng Sấm Bom Đạn

Chương 49

Ly nước mía của nàng tiên bên đường.

<
Tám Nghi kêu thằng Đỏ đến, bảo:

-Đây là thủ trưởng của mày, chở ông về đi!

Tôi nhìn thằng bé ròm rỉnh chưa đến mười bảy tuổi, tóc húi trọc, mắt gà chọi, quần tiều áo bà ba bạc màu cụt tay. Tôi chợt nhớ thằng Xe trong trận đánh Pắc-sa-ma năm 1948. Toàn dùng con nít đưa vào nướng trong lửa đạn để vui lòng bác, để bác đừng có không ngủ đêm nay. Tám Nghi đưa tôi ra cái ngỏ rấp chà tre, giọng ngậm ngùi:

– Mày đi khỏe nhe ! Thỉnh thoảng lên tao chơi. Coi chỗ nào trống trống ở dưới xin tao về. Ở trên này ít không khí quá

Tám Nghi không thân với tôi như Tư Linh nhưng tôi thương hắn quá. Cái thân một xạ thủ lại làm tên chạy hiệu. Tôi bắt tay hắn không buông ra được, nhưng không hứa vì không dám. Tôi cũng chỉ là tên thiên lôi chớ có quyền hạn gì. Hai đứa nhìn nhau. Tự nhiên tôi muốn khóc. Hắn quay mặt đi và giục:

– Đi đi Đỏ !

Hai thằng đoàn viên trong đoàn vượt Trường Sơn của tôi. Một thằng ngồi lại gốc cây rừng mà chết ngon lành. Còn thằng này chết chậm và bầm dập.

Thằng Đỏ cắm đầu đạp như bay. Qua khỏi lộ số 7 nó bảo :

– Tới đây là hết lo rồi đó anh!

Rồi nó trỏ mấy cái hầm ếch và nói tiếp.

– Coi đó , nếu khu trục có tới thì mình chui vô cho nó bắn muôn năm. Đây là hầm của du kích đào cho người đi đường. Nắp hầm cao một thước, chỉ sợ bom rơi tệnh thôi.

Nó chỉ tay ra phía trước cười khúc khích.

– Ở đằng đó có người đang chờ anh.

– Ai?

– Chút nữa thì biết ?

Chạy một hồi Đỏ lại bảo:

– Chỗ đó đó !

– Cái gì mới được chớ !

– Anh ghé uống nước mía, em đãi anh một ly nghe ? Chợ chồm hổm ỳ xèo vui lắm! Có tiệm hàng xén, tiệm sửa đồng hồ, sửa la-dô, tiệm hủ tiếu, tiệm gì cũng có.

– Tiền đâu mà đãi?

– Hôm ông ngoại cháu lên thăm cháu cho cháu hai trăm, cháu chưa xài. Thôi cho cháu gọi bằng anh, cậu chịu hôn?

– Cháu gọi mấy ổng bằng gì?

Thằng Đỏ cười hí hí.

– Bằng ông hoặc chú là bét. Mấy ổng bắt các chị kêu bằng anh, các chị không chịu kêu. Anh gì mà đầu bạc hết mà anh? Em mà kêu anh bằng anh thì mấy chị cũng kêu như vậy, đây rồi mấy ổng ganh cho coi!

Thằng Đỏ đạp không thua Lạn hoặc Ua. Tôi hỏi:

– Ông ngoại lên thăm cho tiền, có nói gì với em không?

– Ông đòi bắt em về.

– Rồi em nói sao?

– Dạ, ngoại về trước, mai con về sau.

– Rồi sao còn ở đây?

– Em nói là mai mà ! tức là mai chớ không phải bữa nay hì hì… em gạt ông ngoại em tuốt luốt.

Tới một đám người đứng lúm xúm bên đường, thằng Đỏ dừng xe. Tôi chưa có ý kiến gì thì có tiếng chế diễu:-

– Thầy Hai! Thầy hứa dạy tụi này thụt súng cối sao đi biệt lâu vậy?

Tôi nhìn ra Bây Mô.

– Thì mới gặp hôm nào đây mà !

– Nhưng em nói vụ dạy súng kìa.

– Bé Liên với chị Năm có đến không?

– Chuyện đó nói sau, bây giờ mời anh ly nước uống cho khỏe cái đã.

Đỏ thêm một phần.

– Hai ly chớ !

– Chi Mai và…

Bảy Mô nguých.

– Người có mặt không hỏi, hỏi người vắng mặt.

– Ờ thôi hỏi người có mặt.

– Hỏi gì?

– Sao em đẹp vậy? À sao mặt mày sáng rỡ vậy, bộ có gì vui sao?

– Không chết là may; ở đó mà vui.

– Sao may cho anh vậy? Vừa nhớ tới em, em lại xuất hiện.

– May cho em chớ may gì cho anh. Em vừa nhảy mũi, anh lại đi ngang.

– Em nhớ anh thật hả ?

Bảy Mô đỏ mặt:

– Em nhắc nợ dạy pháo, không phải nhớ gì đâu!

– Nhớ gì miễn có nhớ thôi!

– Em chỉ nhớ cái xe nước mía này thôi.

Thằng Đỏ xen vào:

– Hồi nãy chỉ gặp em, chỉ tra hạch em, em khai thiệt là em đi đón anh. Chỉ biểu mau mau, chỉ ở đây chờ.

– Hổng có đâu anh, thằng Đỏ bày đặt đó !

– Vậy em thưởng cho nó một ly, thêm một ly bỏ túi đem về để kỳ sau nó hết bày đặt.

– Ừ mấy ly cũng được, lột ba lô ra, ngồi xuống băng đó, dựng xe đạp ở gốc cây kia. Mau mau lên để đầm già tới nó liếc cái là hết uống.

Nãy giờ có một người con gái cứng tuổi hơn Mô đứng nhìn chúng tôi. Bảy Mô quay lại giới thiệu:

– Xỉn giới thiệu với anh đây là chị Tám Lý nhà gần bên em, còn đây là anh Hai…

Tôi xua tay._Mô ngưng ngang. Cô gái cười duyên dáng với cặp mắt nai rất đẹp:

– Bữa nào mời anh Hai ghé nhà em chơi.

Bảy Mô sửa lưng cô bạn nhè nhẹ.

– Mời anh Hai bữa nào ghé nhà em chơi chớ không phải bữa nào mời anh Hai ghé nhà em chơi. Bộ ai hốt hồn sao nói trật câu hết vậy.

Thằng Đỏ xía vào:

– Ờ, hổng chừng chị Lý bị ai hết hồn đó. Tui là trai mà tui nhìn ảnh tui cũng bị hốt hồn.

Lý với tay đập vai thằng Đỏ:

– Em nói kỳ quá hè !

– Kỳ mà trúng. Anh Hai tui vầy chị Lý không mê còn mê ai, hén anh Hai.

Tôi can gián khi thấy mấy ly nước mía đưa tới.

-Thôi uống nước đưa đi em! Mời hai cô. Uống đi Đỏ, rồi dông!

– Anh Hai uống đi, em uống rồi!

Bảy Mô cầm ly nước mía nặn chanh vào và đưa cho tôi.

Tôi mời lại Lý. Lý nói.

-Em cũng uống rồi. Tụi em ở đây anh lo gì.

– Vậy tôi nghe nói xe nước mía dời đâu lên Trảng Bàng rồi tôi buồn quá !

Tôi đưa cho Đỏ. Đỏ lắc đầu:

– Của chị Bảy mời anh chớ đâu phải mời em!

– Em nói đúng đó Đỏ !

Lý bước lùi lại núp sau lưng Bảy Mô cười khúc khích.

Bảy Mô ứng khẩu ngay:

– Ảnh có tánh hay nhắc người vắng mặt, chị không thấy sao? Cho nên ảnh mời tôi là tôi mời chị đó.

– Vậy cô Lý từ chối cũng có nghĩa là nhận lời à?

– Ừ, chị Bảy chị Lý gì cũng nhận hết á !

Bảy Mô nguých thằng Đỏ.

– Cái thằng lẽo mép ! Mày biết đâu trong bụng người ta.

Thằng Đỏ còn mở hơi.

– Để rồi xem! Chị Bảy về nhà làm xôi sầu riêng còn chị Lý bắt một con gà làm thịt quay nước dừa, anh Hai vô ăn gà quay còn xôi sầu riêng thì tôi bọc đem về.

– Ừ, mày chở anh vô đi, rồi sầu riêng sầu chung gì cũng có hết.

– Ghé nghe anh Hai !

Thấy tôi ngần ngừ, Đỏ tiếp.

– Về cơ quan cơm rời chấm cơm cục, muối ớt trộn muối tiêu nuốt như kẹo chà tre qua cổ họng vậy. Lâu lâu thầy trò mình cải thiện sanh hoạt một bữa. Bây giờ về tới trỏng cũng tối rồi đâu có làm gì được mà anh phải vội. Nhận đi anh Hai.

Bảy Mô cười:

– Cái thằng này, cái miệng nó nói dẽo như kẹo kéo vậy !

– Thôi đi thì đi. Nhưng đi nhà ai Đỏ?

– Nhà chị Bảy trước vì chỉ có công đón anh từ trưa tới giờ.

Thế là hai anh em đi với Bảy Mô. Sợ Lý buồn tôi đưa tay cho Lý. Lý đưa tay ra. Tôi giật mình: Sao có bàn tay đẹp thế này. Tôi hấp tấp nắm lấy, giật giật:

– Cô Lý cảm phiền nhé . Chủ nhật tôi sẽ đến ăn con gà quay.

– Anh gọi bằng em cho thân mật!

Lý nói nhỏ rí và cúi nhìn xuống đất. Tôi vẫn giữ bàn tay trong tay tôi. Tim nghe động mạnh. Lại duyên nợ nữa đây!

Thằng Đỏ cười châm chọc:

– Chừng nào đánh Mỹ thành công. Bác Hồ cho phép một ông bốn năm bà !

Nói xong nó cười ré lên. Bảy Mô nhìn Lý. Cả hai ngượng đỏ mặt và vành tai. Mô gắt:

– Mày học lóm được câu đó ở đâu vậy Đỏ?

Đỏ vênh mặt:

– Mấy chú mấy bác mùa thu uống rượu nói rùm. Mà cần gì uống rượu, bây giờ cũng đã có nhiều ông hai bà rồi, như bác Hai Giả nè!

Chưa tới nhà, Bảy Mô đã nói:

– Anh về kỳ này sẽ thấy cảnh nhà không vui.

Tôi sợ chồng chị Mai hi sinh, nên hỏi:

– Bộ có tin gì sao em?

– Nhà trên giở đi rồi. Chỉ còn cái nhà dưới thôi.

– Cách đây mấy bữa…

– Sau bữa anh ghé với con Ua, ba về mướn người giở, cột kèo lớp ngâm dưới mương, lớp mướn xe bò chở ra ấp chiến lược Suối Cụt. Lần này có má vô nữa.

Mô dùng tiếng ba má suông kiểu Ua và Chia. Tôi cũng tùng dấu nói theo:

Má vô làm gì trong vùng bom đạn này?

Mô làm thinh. Đi bên cạnh Mô tôi cảm thấy Ua và Chia còn trẻ con quá. Hai cô chỉ yêu sôi nổi thôi còn làm vợ thì phải là Mô. Nhưng trước Mô còn Thu Hà. Khổ thiệt. Tôi khẽ thở dài. Mô nhìn sang có lẽ nàng tưởng tôi buồn vì cảnh nhà, nên nói:

– Nếu để nguyên sẽ bị máy bay đánh tiêu hết anh à !

– Cả quận Củ Chi chắc không còn mấy cái nhà còn nguyên.

– Đồng bào đi gần hết. Nhà nào ráng bám ở lại cũng giở làm hầm. Bây giờ chuyện ruộng nương đã thưa thớt rồi. Lúa gạo đâu mà ăn. Bà con đi ra Củ Chi được phát gạo Mỹ đem về cả trong này.

– Có ngon không?

– Thì cũng là gạo, nhưng trắng và nhỏ hột như gạo thơm nanh chồn hay gié vàng.

– Mỹ nó đánh đủ mặt em ạ ! Mùa này là mùa sầu riêng sao em?

– Đúng giữa mùa sầu riêng đó anh. Anh đi R chỉ còn nhớ có mai rừng thôi.

Giọng Mô bắt đầu trách móc. Tôi giật mình nghĩ: Sao cô bé biết chuyện mình với Huỳnh Mai? Bèn hỏi phăng:

– Sao em biết anh chỉ nhớ Mai, anh còn nhớ nhiều loại hoa khác nữa chớ.

– Thì ông nhạc sĩ nào đó chẳng làm bài hát Xuân Chiến Khu nói mai rừng nở khắp nơi là gì?

Tôi như qua khỏi truông nhà Hồ, té ra không phải. Tại mình có tịch nên nhúc nhích đó thôi . Tôi tỏ vẻ nôn nóng muốn về nhanh đơn vị thì nàng nói mát:

– Anh đã làm anh hùng, còn làm kiện tướng rồi còn muốn làm gì nữa?

– Anh chỉ muốn làm anh… của em thôi, ngoài ra anh gì cũng không bằng.

Mô liếc tôi trong thầm lặng. Chúng tôi đi song song với nhau như cặp vợ chồng mới. Tôi hỏi:

– Lâu nay em có gặp Tư Linh không?

– Không! Chỉ gặp nhà báo khu. Họ cho em biết anh sẽ về H6 và còn biết anh là anh hùng chiến thắng trận pháo kích sân bay Biên Hòa.

– Trời! Ai dám tưng anh tới tận mây xanh vậy?

– Anh đừng tưởng em không biết. Chính là cái nàng Xuyên Đảo Phương Tử nói chớ ai.

– Tên gì lại giống gián điệp Nhự vậy?

– Không phải gián điệp mà là nhà báo Nhã Nam.

– Ờ… ờ…

Tôi chợt nhớ cô sinh viên Nhã Nam hôm nọ đụng đầu với Chia dội ngược. Mô tiếp:

– Nhà báo còn cho em biết nhiều chuyện về anh nữa kìa.

Tôi linh cảm biết ngay là cô nhà báo này chơi cái chiến thuật ăn không được cũng khuấy cho hôi, nên nói chặn đầu trước:

Người ta đồn vậy chớ không có gì đâu!

– Anh có đi đào hầm với đội Bảy Nê và được bầu làm kiên tướng phải không?

– Anh muốn tìm hiểu thêm về địa đạo nên có tham gia một buổi.

– Con Cấm nó nhắc anh hoài. Bữa đó em mắc đi với cô Năm Đang nên không đến được.

– Thì bây giờ anh đến với em. .

Tôi liếc nhìn, thấy nàng có vẻ đẩy đà hơn trước. Cái cổ trắng nõn lấp ló dưới mái tóc huyền phủ trên đôi vai tròn nỉn. Nàng hỏi:

– Anh rước ba vô sao không cho ai hay hết vậy?

– Ba vô gấp. Chỉ ở có một đêm rồi về đâu kịp cho ai hay.

– Vậy mà ai cũng hay hết á !

Cô bé này thọc mũi dao găm vào ba sườn mình, tôi nghĩ, vậy mình phải tấn công để phòng ngừa mới được, nhưng chưa nghĩ ra cú gì để đáp lại thì nàng đã ngọt ngào:

– Em sắp được ăn cưới của ai rồi đây nhá !

– Của ai?

Nàng cười khảy, ngó ngang tôi: .

– Còn của ai nữa?

– Anh không biết thiệt mà .

– Anh giả bộ hoài. Con Ua gặp em hôm qua, nó khoe nó là vợ chưa cưới của anh. Nó bảo ông già về chuyến này sẽ rước bà già vô làm đám tuyên hôn. Có không?

Tôi tê cứng lưỡi, lúc sau mới ngọng nghịu đáp:

– Chừng… chừng nào Đồ… Đồng Dù bị san bằng thì chừng đó mới có đám cưới.

– Nó còn khoe nhiều chuyện khác nữa.

– Như chuyện gì?

– Trong ví của anh có cái gì không?

– Cái gì là cái gì mới được chớ !

Tôi sợ nàng biết tới mấy cái chứng minh thư của Tư Linh, Hùng và Sáu Huỳnh cho tôi cất kỹ trong xắc-cốt, còn một mớ nhét trong ví để dành ứng chiến, có lần Ua lục lạo bắt gặp. Con bé hồn nhiên đó dám nói tùm lum ra lắm.

– Cũng may, Bảy Mô nói làm tôi nhẹ nhõm:

– Hình chụp ở tiệm ngoài Củ Chi mới lấy về tặng anh liền! Cho em xem tình yêu bất diệt với.

Tôi thấy không có đường chối nên làm thinh. Còn nhà nữ quân sự có lẽ cũng biết không nên đuổi giặc vào đường cùn nên không hỏi tới nữa. Chúng tôi đi vô sân và dừng lại. Cảnh điêu tàn hiện ra trước mặt. Cả ngôi nhà ngói xưa đã biến mất chỉ còn trơ lại cái nền trên đó ngổn ngang gổ gạch ngói và bàn ghế gãy Bên hiên nhà mấy chiếc bàn thờ đứng ủ rủ dưới tàng cây bưởi cây mít như những nàng con gái ngồi phải cọc gượng cười. Cái nhà bếp như một đứa con nít mất đi chỗ tựa là ngôi nhà trên, trở nên quái gở, không còn giống cái nhà (như Việt Nam mất Liên Xô vậy). Tôi hỏi:

– Công tác với cô Năm Đang xong rồi sao em về nhà?

– Không. Hôm qua em gặp con Lan với con Phượng, chúng nó cho em hay anh đi lên K10. Thì em biết anh sẽ đi ngang qua đây, nên em xin phép cô Năm về nhà xin tiền má để bồi dưỡng, em giao việc đào hầm cho tiểu đội của con Bê .

– Vậy em gạt người ta.

– Em học ai đó, anh biết không? Lần này em nhất định.. .

Mô nói em thật tha thiết và nhìn tôi một cách tình tứ.

– … sẽ bị gạt nữa.

– Anh thấy chị Tám Lý thế nào?

– Thế nào là thế nào?

– Cũng đẹp đấy chứ. Em giới thiệu được không?

– Giới thiệu ? Em đã . . .

– Không… vụ kia cà.

Tôi biết Mô tháu cây tôi nên tôi thấu cấy lại:

– Được đấy Vừa thấy cô ấy, anh yêu ngay, yêu cả cái tên Lý.

– Chị ấy yêu anh rồi.

– Sao em bói chắc vậy?

– Thấy thì biết chớ còn sao. Chỉ ra đứng ở đây với em cả buổi, cứ hỏi em về anh. Em bảo anh là người…

-.. . như con ma ấy!

Mô cười:

– Ừ ma mà quỉ nữa.

Từ trong khung cửa hiện ra một gương mặt đàn bà hao hao giống Bảy Mô.

– Chị Ba em đấy. Chỉ về ở đây để trông coi vườn cho em đi công tác. Ba má và thằng Út ở luôn ngoài ấp chiến lược Chị Tư Mai và bé Liên ở nhà dì Hai em gần cây xăng Suối Cụt

Tôi phóng mắt ra vườn sầu riêng: một hố bom. Cây ngã liệt địa. Miễng bom gây thương tích cho người lẫn cây. Một sự tàn phá.

– Mày nói chuyện với ai vậy Mô.

– Chị nấu cơm đi, em hái sầu riêng. Bữa nay có khách đặc biệt.

– Đỏ vô giúp chị Ba một tay em!

Tôi quay lại bảo Đỏ đang lót tót theo sau chúng tôi từ nãy giờ. Rồi trêu Mô:

– Khách đặc biệt nào?

Mô chới với.

– A!… không…

Tôi nói với chị Ba.

– Không phải khách chị Ba ơi! Em là… là gì Mô?

– Ai biết đâu đấy… ủa anh là kiện tướng, ủa là anh hùng…

– . rơm , rơm !

Bảy Mô trỏ tay về phía trái:

– Cái bàn cẩm thạch ba chở đi rồi.

– Cái bàn ba bỏ ngoài để phòng khi…

– Nhà cháy thì có chỗ ngồi ăn cơm. Em nhớ nó ghê lắm.

– Nhớ cái bàn?

– Nó có liên quan đến em.

– Nó không có liên quan đến anh à ?

Mô cười. Bây giờ tôi mới thấy hàm răng của nàng được sửa sang: Nó vừa trắng lại vừa có trật tự hơn. Tôi hỏi trỏng:

– Đi nha y hồi nào vậy?

– Tháng trước em lên Phú Hòa ở gần suối Lộc Thuận có nha y quân khu, nhưng phải có giấy giới thiệu của ông Tám Quang thì họ mới làm.

– Coi đẹp quá !

– Nhưng nhai thịt gà ram hơi khó. Thôi, đi vô ăn cơm.

– Sao mới nói với chị Ba làm mà xong rồi?

– Em làm trước chờ anh, chớ đợi anh tới rồi mới làm à?

– Bữa nay ngày gì mà anh đi tới đâu cũng gặp ăn?

– Ăn kẹo của Plấy con nhỏ đó coi chừng mắc cổ đấy.

Tôi đánh trống lãng:

– Bé Liên bây giờ chắc lớn lắm.

Mô cười:

– Con nhỏ nhớ dai ghê ! Nó cứ hỏi cậu Hai. Má nó dạy nó gọi anh bằng…

– Bằng gì?

– Thôi, em hổng nói đâu.

Hai đứa đi ngang hòn non bộ, một sự thương tâm dấy lên trong tôi, như tôi đang xem những đào kép lên sân khấu mà không có trang phục áo mảo. Lần trước tôi đến nó cổ kính duyên đáng bao nhiêu thì lần này thấy nó trơ trẻn bấy nhiêu. Cảnh Trúc Lâm thất hiến, Hoàng Thạch Công nhận giày của Trương Lương. Cảnh mục đồng cỡi trâu, tiều phu đốn củi, ngư ông câu cá, nhà nông đi cày không còn hòa hợp với những vết đạn trước sân và những trái sầu riêng rụng vỡ nát ở hiên nhà Tôi lột ba lô và đồ lề để trên bàn, đến ngồi trên tấm ván bắc ngang con suối mơ nơi hai đứa từng ngồi đàn măng-đô năm ngoái. Nghe hương tóc bay trong gió lâng lâng, tôi hỏi:

– Bộ em không thích xà bông Mỹ hay sao mà xài xà bông Cô Ba vậy?

– Em quen với nó rồi. Cái gì em quen khó bỏ lắm. Ở ngoài chợ Bắc Hà bán đủ thứ xà bông Mỹ, nào Dial, Camay, nhưng em không gởi mua. Nghe cái mùi đó, em thấy nó kỳ kỳ thế nào ấy.

– Anh thì thứ gì cũng xài miễn sạch thì thôi. Cọp nó có tắm rửa gì mà người ta cũng gọi nó bằng ông vậy.

– Anh nói ngang không hè .

– Bữa nay anh mới biết xà bông Cô Ba là thơm nhất. ‘

– Vậy từ trước anh thấy xà bông nào thơm?

– Xà bông nào cũng thơm nhưng không nhất.

Mô liếc và bĩu môi:

– Giỏi tài nịnh.

– Anh nói thật mà ! Ở Sài gòn sắp sửa có xà bông Cô Bảy còn thơm hơn xà bông Cô Ba.

Đột nhiên Mô nói.

– Anh kiếm chuyện hay lắm, em chịu thua . Em ước bữa nay má vô đây bất ngờ. ‘

– Chi vậy?

– Coi mặt chàng rể.

– Rể ở đâu mà coi mặt?

– Ai biết đâu đấy.

Mô chợt bước lên tấm ván làm nó oằn suýt đụng mặt nước. Tôi kêu lên:

– Coi chừng gãy !

Tôi vừa nói vừa ôm lấy nàng. Tôi đặt trên má nàng một cái hôn nồng nàn và thủ thỉ:

– Mùi xà bông Cô Bảy thiệt tuyệt diệu.

Mô đứng im trong tay tôi, ngã đầu trên vai tôi. Tôi hỏi:

– Em yêu anh không sợ tình yêu lỡ dỡ sao?

Nàng gỡ tay tôi ra, bước qua đứng bên kia cầu tỏ vẻ suy nghĩ rất lung rồi lắc đầu:

– Em không sợ gì hết.

– Anh không sống lâu đâu em.

– Anh đừng nói gở.

– Yêu em thì đẹp quá rồi. Đời anh đâu ao ước gì hơn. Nhưng anh nghĩ đến thân góa bụa của em như chị Tư Mai, như cô Lụa con má Hai, hoặc đau khổ với người chồng chưa cưới cụt chân như Tám Mang.

– Không bao giờ em nghĩ tới cảnh tượng đó.

Tôi bước tới xoay người nàng lại, mặt đối mặt. Tôi thở dài:

-Anh khác. Anh chỉ sợ uổng một đời con gái hương sắc của em thôi. Chớ anh là tên lính lê dương cách mạng, từng lội suốt từ Đông sang Tây, từ Bắc vô Nam anh đâu có sợ gì.

– Yêu mà gian nan mới gọi là yêu. Dám hi sinh cho người yêu mới gọi là yêu.

– Anh cũng nghĩ thế.

Đột nhiên trên gò má mịn màng và trắng hồng của cô học sinh lăn hại hạt trân châu lóng lánh. Tôi kề môi vào khẽ hớp và thầm thì:

– Đừng khóc em.

Mô đưa tay quệt ngang và gượng cười, trỏ dưới lòng suối:

– Anh trông kìa, anh với em có giống Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài không ?

– Ừ, giống lắm, nhưng mà không giống chút nào.

Tôi nhìn hai cái bóng lộn đầu dưới nước gợn lăn tăn. Mặt đất cũng rung theo: có tiếng pháo nổ xa xa.


Tiếng Sét Ái Tình và Tiếng Sấm Bom Đạn

Chương 50
Người đàn bà đau khổ vì dở dang thời kháng chiến

<
Thấy chị Ba khoảng bốn mươi, tôi hỏi Bảy Mô:

– Còn anh Ba đâu?

Mô lặng thinh. Hai đứa đi song song vào nhà. Mô buồn dàu dàu. Tôi nghi là có chuyện gì bi đát. Thì quả như rằng, Mô kể:

– Chị Ba có thương một anh vệ quốc đoàn…

– Thời kháng chiến chống Pháp.

– Thời đó em mới ba tuổi. Còn anh chắc đã…

– Mười sáu tuổi rồi. Anh đang làm mật mã cho quân khu.

– Em nghe chị kể lại anh ấy ở Tiểu đoàn 303.

– Anh biết rồi! Đó là tiểu đoàn đánh giao thông chiến giỏi nhất toàn khu.

– Chị bảo trận Bến Súc hay Bến Cát gì đó, mình thắng lớn, bắt được hơn chục xe GMC chở hàng và thu súng nhiều vô kể. Bộ đội kéo về nhà em liên hoan mấy ngày liền.

– Anh biết rồi. Tiểu đoàn đó do ông Hoàng Thọ chỉ huy. Sau khi Hoàng Thọ bị thuyên chuyển thì Ba Cửu và Ba Vỏ về thay.

– Trận đó anh ấy hi sinh.

– Trời!

– Cho nên bộ đội thì liên hoan mà chị Ba em thì liên hận. Từ đó chị lãnh đạm với tất cả mọi người. Các ông Năm Tiền, Ba Châm, Ba Hải cùng lứa với anh ấy bây giờ là cán bộ tiểu đoàn cả. Các ông ấy tìm gặp chị hoài, nhưng chị bảo là lòng chị đã đóng kín không còn mở ra để đón tiếp bóng hình nào. Tuy bị từ chối thẳng họ cũng vẫn cứ tới lui.

– Em cũng nên khuyên chị !

– Chị Ba, chị Năm, rồi tới em nữa. Toàn lấy chồng bộ đội.

– Anh đã bảo mà !

– Em rầu… cho hai chị quá !

Bữa tiệc xôi sầu riêng và gà quay trở thành buồn tẻ vì có một mối sầu chung lan trải quanh bàn ăn. Tôi thấy buồn nặng trĩu. Xưa nay những danh tướng mấy ai về đã đành rồi, còn lính tráng càng có mấy ai? Tôi từ giã Bảy Mô như chạy trốn một hạnh phúc, thứ hạnh phúc có thể cháy vèo như một chiếc cánh bướm mong manh. Đời thằng lính đầu đỏ này luôn luôn như thế đó. Ngã Ba Gót Chàng – Bến Mương chia tay.

Về đến đơn vị đã có cả chục cán bộ tề tựu san để chào đón thủ trưởng mới: Ba Tố, Ba Đùng, Ba Thu, Sáu Đức. Ba Tố vốn quen tôi từ xưa và từng cụng ly từ Sơn Tây vô tới R, rồi xuống Củ Chi, săn sớm giới thiệu với tôi từng người không theo điều lịnh nội vụ mà theo luật lục lâm sơn trại:

– Tụi bây nhờ hồng phước của chúa thượng nên được ở trên ban cho ông thủ trường này, vừa điệu đàn vừa tài giỏi. Nhậu thì hết chê ! Sao không mọp sư phụ đi tụi bây?

Tôi xua tay.

– Thôi anh ba, phá em hoài !

Sáu Đức giơ cái rộng tre nước chảy ròng ròng:

– Tôi có cái này mừng thủ trưởng.

Ba Tố cười:

– Tôm ăn thây ma ở sông Sài gòn đó hả?

– Thứ mồi đó nhậu đế mới bắt.

Tôi đứng ở đây, miệng đối đáp với cán bộ chiến sĩ quyền chỉ huy của tôi mà lòng tôi còn ở lại con suối ngát hương sầu riêng. Tôi đã yêu nàng rồi chăng? Ở Củ Chi, nếu có thì chỉ có nàng, người con gái hợp với tôi nhất. Nàng đang chen lấn trong trái tim tôi với Thu Hà. Mùi xà bông Cô Ba còn thoang thoảng bên tôi. Tóc nàng, vai nàng, áo nàng. Nàng đã lẩn vào trong tôi bằng ngõ mắt và tóc. Tôi chưa hề có cảm giác da thịt khi đụng chạm hay ôm lấy nàng. Tôi chỉ tưởng tôi là thi sĩ đang tựu thành những vần thơ khi gần nàng hay hôn nàng. Mô ! cho dù tất cả tình yêu đều phải kết thúc bằng những cuộc ân ái để thỏa mãn thèm khát, tôi chưa bao giờ thấy háo hức khi đụng chạm nàng. Tôi cứ vẫn muốn giữ nguyên nàng như hôm nay bên dòng nước nhỏ gợn rêu xanh, một tấm ván bắc ngang, dưới đáy nước một đôi tình nhân lộn ngược đầu.

– Ơ kìa, ông thầy làm gì đứng ngớ ra vậy.

Một tiếng nào đó vang lên từ đám người. Tôi giật mình đáp như máy:

– Tôi đang nghĩ cách đào pháo lên để bố trí trận địa chơi với thằng Đồng Dù. A nè, tại sao mày tên Đỏ hả?

Tôi tạt ngang có vẻ như lạc đề. Thần kinh đang rung vì một chuyện lại bị giật lại nên hoảng hồn, như súng bắn vậy.

Nhưng Sáu Đức vẫn vui vẻ :

– Nó tên Độ, nhưng cậu Mười Muôn của nó ở trên D14 Tây Ninh xuống đây uống rượu với tôi rồi bảo là ở trên R có ông nào cũng tên Độ ngoài Bắc vô làm tới tướng lận, nên cậu nó bảo sửa tên nó lại. Nhưng văn phòng đã ghi nó trên khắp các giấy tờ là Độ rồi làm sao sửa được nên chỉ sửa chữ “ô” ra chữ “ỏ” là dễ nhất. Còn cái dấu nặng là quẹt ngang là xong. Do đó mà có tên Đỏ chớ chẳng phải nó muốn nó tên Đỏ đâu. Tên gì nghe kỳ cục vậy.

– Ở chỗ chú Chín Lộc có bốn chị em tên rất hay Suối Trong Xanh Biếc nghe cũng hay hay.

Sáu Đức ứng khẩu:

– Vậy cơ quan cũng nên đặt là Thu Đức Đỏ Lòm đi !

– Ba tên đầu thì có nhưng còn tên Lòm tìm đâu ra.

– Thằng Đỏ gánh luôn, thay vì Đỏ thì kêu là Đỏ Lòm!

Thằng Đỏ dẫy nẩy :

– Tui hổng chịu đâu.

Tôi bảo:

– Ở ngoài Bắc người ta thường đặt hiệu tiệm hoặc hợp tác xã bằng chữ đỏ, như Cờ Đỏ.

Xanh biếc thì nghe còn hay chớ đỏ lòm nghe mắc ói quá, em không chơi đâu.

Sáu Đức đưa cái rộng tôm cho quản lý Ba Thu:

– Làm sao nhậu cho oắc cần câu mừng thủ trưởng mới đêm nay thì làm.

Ba Tâm cười nhe hàm răng vàng nghĩnh:

– Để đó tôi tinh, không phải lo.

Thằng Tâm trinh sát viên góp ý:

– Tôi đi quán xách một cây nghe anh Ba, anh Sáu. .

Thu Ba, cô bé cấp dưỡng chống chế:

– Mấy anh ăn cơm thì muốn cục chấm muối hòn, còn nhậu một bữa hết cả chục kí tôm. Đưa cho tôi kho ăn hai ba bữa, để mai thấy muối khỏi kêu rát ruột nghen!

Thằng Đỏ bảo:

– Đáng lẽ phải kiếm gà vịt mới phải, tôm nhằm nhờ gì!

Khách khứa bỗng kéo tới chật cả văn phòng, không có chỗ ngồi, chỗ đứng cũng không đủ. Năm Đùng, Út Lộc, Út Chi ở D8 xa mà cũng đến góp mặt. Năm Đùng vỗ vai tôi :

– Từ bữa ở nhà cô Lụa tới nay tụi tôi làm cả chục trận, trận nào cũng nhắc thầy. Pháo Đồng Dù bắn bao nhiêu, tôi chống bằng đế quốc bấy nhiêu. Hội ve chai chống Mỹ sinh hoạt đều chờ thầy. Bữa nay đại hội bất thường mới có tôm chưa đủ. Để tôi đi kiếm thêm vài ký lươn.

Út Chi thêm:

– Có gà giò quơ vài con. Mình phải chơi sáng đêm. Mấy cha Hai Giả và Sáu Phấn đâu có bao giờ hợp với tụi này. Mấy chả chơi toàn mấy bà không thôi !

Quản lý Thu tiếp:

– Hai ổng còn không ăn cơm ở đây nữa là nhậu!

Thu Ba bồi thêm:

– Hai chú cắt khẩu phần, lãnh gạo đem về nhà lâu rồi.

Tôi hỏi.

– Vậy ai chỉ huy cơ quan này, nếu có giặc tới?

-Đâu có ai!

Ba Tố bảo.

– Bây giờ có rồi ! Mấy chú khỏi lo. H6 sẽ lên như diều.

Bữa tiệc tan tôi đi theo thằng Đỏ . Kể từ bây giờ nó là bạn chí thân của tôi. Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ. Tôi ra cái hầm cá trê của nó móc ngoài vườn để nghỉ ngơi. Qua một ngày đi đường và một trận đấu ly của Hội ve chai, tôi mệt. Nhưng cái này không đáng sợ bằng cái buồn. Buồn ghê gớm. Buồn vì xa ông già, vì chia tay với ba người yêu cùng một lúc, buồn vì sự bệ rạc của cơ quan và sự cô đơn.vây riết quanh mình. Không có bạn bè nào chung quanh. Nhậu xong họ về hết rồi. Còvl lại mình tôi như con chim bay giữa cái biển mênh mông với đôi cánh cô đơn nặng trĩu.

– Mày ăn ở như vầy sao hả Đỏ ?

– Vậy là sao anh?

– Một cái hầm cá trê với một mớ rơm lót, không có gì nữa hết?

– Còn cái võng với tấm ni lông nữa chớ anh.

Tôi nhìn quanh: vườn hoang. Trước mặt con lộ đất chạy ngang. Nằm gác đầu trên mép võng, có thể nhìn thấy xuyên qua mớ cỏ lưa thưa cao nghệu, đàn bà đàn ông đi qua ngoài đường. Đỏ làm cho tôi chỗ mắc võng để tối ngủ theo kiểu hai tầng. Tôi nằm dưới đáy hầm trên mớ rơm khô có mùi hăng hắc, đưa mắt ngó lên trời. Hoàng hôn ảm đạm. Ráng tỏ rực ở chân trời phía sông Sài gòn. Tôi lấy chiếc khăn lông trắng ra bảo Đỏ nhúng dùm chút nước để tôi lau mặt.

– Nhớ đừng có giặt nghe .

– Sao vậy anh?

– Giặt bay mất mùi xà bông… thơm.

– Ối xà bông thơm thiếu gì, tôi mua cho anh cả lô… ủa ủa hay là anh sợ mất mùi xà bông Cô Ba.

– Cô Ba ở đâu mà mày biết.

– Hồi trưa chị Ba bảo em ra kêu anh vô ăn cơm, em ra vườn gặp anh đang nói chuyện xà bông Cô Ba với chị Bảy.

Đỏ nói đúng, nhưng chiếc khăn này là của Chia tặng “để mỗi sáng anh lau mặt là nhớ em! ” Thằng Đỏ lại nói:

– Hôm trước anh Lạn có đến đây.

– Mày cũng biết nó nữa à ?

– Biết chớ, ảnh đem công văn khẩn đến đây hoài mà. Ảnh nói là nếu anh có về đây thì nhắn anh chị Lụa chị Là gì đó bảo anh về nhà má ở Phú Mỹ Hưng, có má bên Bến Cát Thanh An về !

– Có nhắn gì nữa không?

– Bảo anh phải về gấp, má không có ở lâu được!

Tôi nói y như với Lụa và Là .

– Về sao được mà về ? Công việc mê mê, thì giờ đâu?

– Ai biết đâu nà !

Lại coi mắt! má Ua, má Là, má Mô ! Ba bà mẹ đi coi mặt một chàng rể ! Tôi không muốn vương mắc trong đám tơ rối mù đó nên hỏi sang chuyện khác: .

– Ông Hai Giả và ông Sáu Phấn không về đây sinh hoạt với anh em à ? .

– Sinh gì mà sinh. Ông Hai có xe đạp Bờ Rô của vợ ở Hốc Môn đem vô cho nên ông nhường xe của cơ quan cho ông Sáu rồi. Hai ông có chân chạy nên không ở đây. Ông Hai thì ở riết nhà bà Chín Kiểu, còn ông Sáu thì sáng đạp xe tới chiều đạp xe về. Đó là hồi trước, còn bây giờ cả tuần ổng mới đến một lần.

– Bộ phận trinh sát thì sao?

– Dạ thì chỉ có ông Sáu Đức đó thôi. Còn anh Ba Thanh và anh Mười, tiếng là trinh sát cơ động nhưng sự thật hai ảnh đang đeo sát Út Lành và Út Lan ở ngoài Xóm Chùa.

– Sao mày biết?

– Tôi còn biết nhiều chuyện nữa chớ!

– Gạo muối lãnh đủ không?

– Dạ đủ, ủa mà thiếu nhưng không sao. Vẫn ăn đủ.

– Tại sao vậy. Bộ thắt lưng buộc bụng hả?

– Dạ không phải. Quân số H6 mình 420 kể cả đơn vị, riêng văn phòng 40 nhưng còn có 12 hiện diện, nên gạo lãnh cho 40 họ phát có 15. Như vậy vẫn thừa ba khẩu phần.

– Còn sinh hoạt phí?

– Dạ cũng đủ xài.

Vừa tới đó thì có tiếng trực thăng phía sông Sài gòn. Tôi đứng bật dậy nhìn ra. Trời mờ mờ, mây vằn vện giăng giăng tôi không thấy gì. Đỏ bình tĩnh bảo:

– Anh cứ yên trí đi !

– Yên trí cái gì?

– Nó đi tuần là mình khỏe gà. Nó đi tuần sông đó, anh ạ ! Không phải nó đi hứng mát đâu.

Đỏ vừa dứt lời thì một làn ánh sáng từ trên không tỏa ra như hình một cái nơm khổng lồ xé màn đêm chụp xuống mặt đất Tôi hỏi:

– Nó làm gì vậy Đỏ ?

– Trực thăng soi đó anh.

– Lạ nhỉ !

– Anh chưa từng bị lần nào à?

– Chưa !

– Tụi nó khôn lắm. Nó biết hậu cần chở gạo qua sông. Nên hễ sụp tối là nó đi soi như mình soi ếch soi cá vậy. Soi đường sông xong nó soi đến đường xe bò. Nhưng mình cũng đâu có dại. Hễ nó soi vừa xong, biến dạng là mình cho đuôi tôm vọt. Có lúc một tuần liền mình không bị soi phát nào, nhưng không hiểu tại sao nó rút kinh nghiệm được. Chắc có lẽ mấy cha nội hồi chánh mách cho nó chớ gì?

– Ai hồi chánh đâu?

– Ông thượng úy Bảy Huyền dắt mèo đi luôn một cặp.Cho nên khi tắt đèn bay đi xa một lúc thì nó quay trở lại . Mình vừa bị dính một phát chìm hai ghe gạo, một ghe súng đạn. Ác thiệt! Cái ngữ trực thăng soi này còn độc hơn cả pháo đó, anh ạ ! Sông rộng quá, mà nó bay mau, mình cập bến không kịp. Còn lắm khi nó đáp xuống cả ruộng nữa chớ !

– Ban đêm à?

-Dạ ban đêm ban ngày đều có hết. Nó soi, hễ gặp ai đi đường khúc trống nó đáp xuống hỏi giấy căn cước. Ai có giấy nó không nói gì, ai không có nó xúc luôn về ấp chiến lược.

– Giấy căn cước của ai?

– Của tụi quận Củ Chi cấp.

– Sao kỳ vậy? Dân của mình mà tụi nó cấp giấy căn cước !

– Dạ đâu có biết! Nhưng bà con trong này ra ngoài đó xin giấy đều đều. Nó cấp cho dễ dàng. Đem về trong này họ dấu mấy ông xã ủy. Họ lận dưới lai quần hoặc nhét kỹ trong lưng. Có nhiều người bị xét về nhà không dám ở nữa, bỏ ra luôn ngoài ấp chiến lược. Họ ở đây nhưng bụng lại ở ngoài.

Nghe thằng nhỏ nói, tôi rủng chí. Đó chính là sự thất bại của mình. Cá không có nước, cá lóc trên khô. Một cặp trực thăng bay đi đảo lại hai ba vòng. Nó không bắn. Chắc là.không đụng đuôi tôm vọt qua sông. Tôi thở phào, nằm dài trên nệm rơm. Nó chơi mình nhiều kiểu quá. Bom pháo, sự thường. Chất độc hóa học: cũng còn chịu được. Xe tăng ủi xóm làng: Ta chạy tránh đào hầm khác. Bây giờ chơi tới cái trò soi ếch này. Mình khôn nó cũng đâu có dại. Tôi hỏi:

– Mày có nghe chị Ba nói gì không?

– Nói gì?

– Nói về tao ấy mà ! .

– Không!

-Mày giấu hả?

Thằng Đỏ cười hề hề:

– Anh khôn tổ mẹ. Cái gì cũng chận đầu. Nói chơi chớ chỉ khen anh ngất trời thiên. Chỉ bảo em có ông chỉ huy bánh tẻn, còn chỉ có cậu em rể coi được quá chừng. Chỉ bảo lần tới chỉ sẽ đưa má vô coi mặt anh. Anh chịu không?

– Chịu gì?

– Anh làm bộ hoài hè, người ta ưng anh rồi đó. Chị Bảy được biệt hiệu là dũng sĩ toàn miền lại còn biết khảy đờn bài Mùa Xuân Chiến Khu may áo, nghe hay lắm. Chỉ rủ em, muốn học chỉ dạy cho một tuần thì biết. Chỉ có cho em thử mà em bấm cà trật cà duột hoài, rồi em chạy luôn.

Một tiếng từ xa vọng lại.

– Có đồng chí trưởng ban đó không Đỏ?

– Dạ có ! – Đỏ đáp xong, quay lại tôi thì thầm – ông Sáu Phấn!

Tôi vừa ngồi dậy thì Sáu Phấn đã đến miệng hầm.

– Trời ơi! Tôi mừng muốn chết. Hôm qua tôi vào trong K20 gặp ông Tám Quang, ổng bảo ông về rồi. Tôi vọt ra đây để hai đứa mình bàn tính công chuyện – Sáu Phấn nói một hơi – Hai Giả làm đơn vị này mang tiếng. Ở trên tưởng là mình bệ rạc lắm. Đâu có gì đến đổi. Bất đồ mấy ổng bảo chơi Đồng Dù vài chục quả thử coi mình có làm được không? Dù hèn cũng thể, dù bể cũng còn kêu cạch cạch chớ đâu có tịt luôn. Thôi bây giờ ông đến nhà, tôi làm bậy vài cây đón gió rồi bàn công chuyện tiện hơn.

Thằng Đỏ nghe nói nhảy lên bờ vác xe đạp chạy tới. Chúng tôi hành quân bằng hai chiếc xe đạp. Theo như ba tôi nói sĩ quan Sài gòn, thiếu úy cũng có xe ieep rồi. Tụi này đã là đại úy ở Hà Nội vẫn cuốc bộ bỏ mạng, bây giờ nhờ ân huệ của đảng nên được xe đạp mà đi. Mô Phật xe của đảng !

Sáu Phấn cũng thuộc nhà pháo nhưng không có học với tôi. Tuy vậy hắn vẫn biết tôi có phép thuật cao cường hơn hắn nên hắn rất nể. Hắn cao lớn người, ngoài bốn mươi, tốt tướng, đặc biệt có cặp mắt lộ, nên có hổn danh là Sáu ốc Bưu.

Sáu Phấn kêu vợ làm cơm. Tôi can. Bà vợ chỉ đem trà và bánh ngọt,. Sáu Phấn thanh minh ngay:

– Ổng là trưởng mà bỏ bê như vậy, tôi là phó thì làm sao được?

– Để mình gặp ông rồi bàn luận.

– Tôi đề nghị ông làm vừa vừa thôi, làm mạnh quá tôi sợ ổng quất ngựa chuối như Bảy Huyền!

– Mạnh hay nhẹ không thành vấn đề, cái chính là làm sao cho ổng thấy trách nhiệm của trưởng ban pháo binh của một quân khu.

– Ổng không chịu đến cơ quan. Còn tôi mà lơn tơn tới nhà ổng thì bả nặng mày nặng mặt. Bả sợ tôi đến rù quến bắt ổng đi kiểm thảo ! Bố tôi kiểm ông không nổi nữa là tôi ! Ông Năm Lê gọi ổng tới ổng cũng không tới mà !

– Ông Năm cũng không chấp nhất mấy vụ đó đâu!

– Không chấp sao được? Đó là kỹ luật quân đội !

– Tình trạng của mình bây giờ là bán du kích bán chính quy bởi vì mình không đủ điều kiện để thi hành kỹ luật theo chánh quy thì mình phải dùng tình cảm thay cho nguyên tằc.

Sáu Phấn nói ngang ngang với tôi, không xưng hô bằng đồng chí. .

– Nếu một đơn vị pháo binh ở doanh trại có đủ quân số và khí tài thì điều lệnh của trên ban xuống ông phải thi hành và lệnh của ông đưa ra các khẩu đội phải tuân theo. Hành quân có quân xa hoặc xe tăng kéo pháo, đâu có tình trạng chôn pháo, đâu có tình trạng cán bộ ở nhà dân mà có vụ này vụ nọ. Mình xét vấn đề phải xét nhiều mặt. Đánh giá con người cũng thế. Cái chuyện vượt Trường Sơn và chịu đựng ở đây mấy năm liền lớn hay là vụ vợ bé vợ mọn lớn?

– Ông nói đúng rồi, nhưng kẹt cái là ổng có vợ. Bả vô đây hàng tháng. Thì ta chỉ nên khoanh tròn ở chỗ đó thôi! Ôngg Năm Lê có tính nóng nảy, la ó hay đập bàn đạp ghế, nhưng tôi thấy ổng đánh giá cán bộ đúng lắm. Cho nên tổ chức đề nghị thi hành kỹ luật cả hai mặt đảng và chính quyền mà ổng chỉ thi hành về mặt chính quyền thôi, nghĩa là điều Hai Giả đi công tác một thời gian cho lắng êm dư luận rồi cho chỉ huy một đơn vị khác!

– Cho đi đâu?

– Chắc đi Dĩ An Thủ Đức để chỉ đạo các đơn vị pháo dưới đó nhằm vào các căn cứ Mỹ.

– Hổng biết ông có chịu đi hay không.

– Để mai tôi gặp ổng thử coi. Riêng các anh em khác thì anh cho hay chiều mai tất cả phải có mặt để họp toàn ban. Anh nào không đến, tôi coi như đào ngũ.

– Về đây chết bom đạn rất đông mà lọt hầm chông phèo ruột cũng không ít.

– Tại mình coi vấn đề đó quan trọng nên xử lý nặng nề chớ nào có đáng gì !

Tôi ngồi uống trà với Sáu Phấn mà tâm sự ngổn ngang. Tôi biết rất nhiều vụ lăng nhăng như thế này của các ông lớn. Từ ông Duẩn trở xuống ông Trà trở lên. Năm 1956 khi tôi ở một đơn vị, Xuân Mai nghỉ phép Hà Nội, tôi có tìm đến thăm bác Ba Lắm là dân Bình Xuyên đi theo kháng chiến từ đầu 1945. Lúc đó tóc bác đã hoa râm. Con người không to lớn nhưng khỏe mạnh gân guốc. Tôi vốn là học trò nhà quê mê truyện Tàu nên nhiễm cái tính anh hùng trong các truyện Tam Quốc, Vạn Huê Lầu… Tôi xem bác Ba Lắm như Tần Thúc Bảo hay Địch Thanh. Bác ra trận không bao giờ nằm. Súng nổ là đứng lên chạy trước. Bác còn bảo lính: “Đứa nào xung phong lên trước chiếm xe địch tao để cho chỉ huy tao. ” Đánh giặc chín năm lên chức tiểu đoàn phó. Ra Bắc, cùng cỡ bác lên Trung đoàn phó là bét, bác không nhích được chút nào. Lại còn bị tổ chức ghi trong lý lịch là thành phần lưu manh. Bác bảo: “Tôi không phải là lưu manh. Mà dù tôi có là lưu manh thì hãy xem từ khi tôi vào bộ đội tôi có lưu manl không?” Rồi buồn tình bác bỏ ra dân, lấy một bà tư sản góa chồng (Đây là lần đầu tiên ông lấy vợ, vào lúc gần năm mươi!) Tổ chức lại được dịp nhân lên tội lỗi của bác: phạm lập trường giai cấp. Bác nghỉ chơi với cách mạng luôn và đi kéo nứa mướn bằng xe ba gác ở bến phà Đen để kiếm sống. Khi tôi đến bác đã có một đứa con gái ba tuổi. Tôi nhắc lại chuyện xưa Bác khóc ròng: ” Khi cần ngực mình để đỡ đạn người ta bảo mình là anh hùng. Thắng trận xong rồi mình làm thằng lưu manh. Địt mẹ chúng nó, chúng nó lấy vợ địa chủ thì không sao cả, còn mình lấy một bà tư sản phá sản còn có cái nhà rách thì lại bị quy là phạm lập trường giai cấp!”

Hình tượng và câu chuyện của vị tướng lãnh Bình Xuyên không bao giờ phai nhạt trong tôi. Thì cũng gần như vậy cái trường hợp Hai Giả hôm nay. Khi vượt Trường Sơn thì bảo là vinh quang, khi đến Củ Chi thì bảo là Đất Thép Thành Đồng. Lấy vợ bé thì bảo là phạm kỷ luật. Còn Tổng bí thư, chánh ủy Tư lệnh lấy vợ ba thì cái lập trường vẫn cứ còn nguyên con, không sứt mẻ chút nào. .

Tôi đứng ở giữa cấp trên và tội phạm, tôi phải hành xử sao đây. Đành rằng tôi không phải là kẻ thi hành kỷ luật y nhưng phải làm sao để y thấy rằng mình không có ham hố gì- – mà lại khổ tâm – vì cái chức trưởng ban H6 này.

Vợ Sáu Phấn một người đàn bà trạc bốn mươi, vóc dáng khỏe mạnh, tay bưng dĩa tôm càng nướng đỏ rực và dĩa rau sống xanh biếc có chuối khế xắc lát rất khéo sắp quanh vành dĩa, đi ra đặt nhẹ lên bàn và nói với chồng:

– Anh mời khách uống vài ly cho vui !

Sáu Phấn cười với tôi:

– Ông thấy tôm con nào con nấy mập ú không?

– Thì hồi chiều cũng làm ở đẳng một chầu rồi.

– Tôm rẻ hơn cá và lươn. Chỉ một trăm một rổ đầy vì sao ông biết không? …Vì nó ăn thây ma, chỉ có tụi mình nuốt mà thôi. Chuột bị hóa học, tôm ăn thằng chổng đều ních tuốt.

– Ở vùng này vườn tược nhà cửa còn được tám chục phần trăm hả ông?

– Nhà cửa cũng xếp lại lấy cây cột làm hầm, còn dân thì rục rịch đi ra ấp chiến lược gần hết rồi. Hạng nhất vùng này là nhà con Bảy Mô, ông già nó có vườn sầu riêng và một trăm mẫu đất, nhà cũng vừa giở.

Vợ Hai Giả ở trong bếp nói ra:

– Anh làm mai cho cô Ba được đó . Chồng chưa cưới của cổ hi sinh hồi kháng chiến cổ thất tình, cổ không tính chuyện chồng con gì hết cho tới bây giờ.

– Bậy nào ! Có làm mai thì làm mai cho con em, chớ ông này con trai nheo nhẻo mà.

– Con em cũng đã có chồng có con rồi !

– Con em thứ Bảy dũng sĩ kia chớ không phải con thứ năm. Chắc ổng chưa gặp đâu để mai mốt tôi bàn chuyện công tác rủ cổ lại đây cho ông làm quen. Cặp gà này coi bộ đồng cựa đồng chạng đó.


Tiếng Sét Ái Tình và Tiếng Sấm Bom Đạn

Chương 51
<Mối tình già éo le của một đại úy pháo binh

Thằng Đỏ chở tôi đến nhà Hai Giả. Đáng lẽ y phải tới bàn giao công việc cho tôi mới phải, nhưng thôi, bạn bè hơn nhau một chút cũng chẳng mập béo gì. Ở giữa cơ quan có nhân viên lại càng bất tiện cho y. Chiếc xe đạp lọc cọc lăn trên đường gồ ghề màu đất nâu sậm như báo hiệu rằng Củ Chi Đất Thép sẽ nhuộm máu. Đạp một lúc thằng Đỏ bảo:

– Đi bộ thôi anh. Đi xe đường xấu giằn đau đít lắm! Anh đứng nép vô để đầm già nó liếc. Tôi trở về cất chiếc xe đạp.

Tôi đứng bên đường chờ nó trở lại. Tôi đưa mắt ngó chung quanh. Hầu hết những ngôi nhà lớn lợp ngói không còn nguyên, nhà cỡ trung bình cũng đều giở xuống. Người ta đã biết trước những gì sẽ xảy ra khi thấy cái Đồng Dù càng ngày càng xúc tiến mạnh. Ngày nào trực thăng cũng đeo những cục tròn tròn dài dài dưới bụng nó đem nhả xuống Đồng Dù. Còn bên trong thì nhà cửa bằng gỗ thông được dựng lên, cột điện trồng tua tủa, đường thì trải nhựa, bắt ống nước, xây lầu nước. Những người đi làm công cho Mỹ về đồn rinh tai: “Nó làm in như một thành phố! Nó ăn thua đủ với mình ! Nó mọc rễ ở luôn…”

Ngôi nhà bên vệ đường ngay trước mặt tôi chỉ còn trơ lại có cái nền. Một đống cột đầu vuông chất ngổn ngang bên cạnh với mấy cái tàu dừa che lên trên lấy lệ. Trong kháng chiến chống Pháp nhà tôi bị đốt, má tôi ngồi khóc. Nhưng tôi không thấy buồn gì cả, trái lại càng kiêu hãnh, làm thơ:

Nhà em Tây nó đốt
Em ra ngủ ngoài vườn
Khác gì anh chiến sĩ
Quen lạnh lẽo gió sương.

Bây giờ thì khác. Cứ mỗi lần thấy một ngôi nhà bị cháy vì rốc-kết (Mỹ không đốt nhà như Tây) hoặc chủ nhà bỏ đi, tôi buồn ghê gớm. Ở cái tuổi này sau khi ở đậu trong hàng ngàn ngôi nhà của dân từ Nam ra Bắc và đã từng sống không nhà ba tháng dọc Trường Sơn, hai năm lẩn lút trong những ngôi nhà không ra nhà ở trên rừng, tôi cảm thấy tất cả sự ấm áp của một ngôi nhà trong đó có bàn thờ, có buồng ngủ, có ván gõ ván dầu, có bếp, có khói nấu cơm và hơn nữa có tiếng đàn bà, con nít vui chơi hoặc khóc ré.

Mỗi một hòn đất đắp vào nền nhà, mỗi một thanh gỗ bào đẻo trơn tru, mỗi một nuộc lạt buộc vách là một giọt mồ hôi, một tình cảm yêu thương đằm thắm. Thế mà chủ nhà phải bỏ đi, hơn thế nữa phải mất nó trong nháy mắt. Đêm qua thằng Đỏ có kể cho tôi chuyện hai vợ chồng bị một trái cà-nông ngay đêm tân hôn. Tôi luôn luôn có ý nghĩ: “thằng Mỹ ác quá!”. Nhưng Bác Đảng cũng ác chẳng kém gì. Mười năm dân Miền Nam đã tự hàn gắn laị được vết thương chống Pháp, bây giờ chính Đảng laị chọc vào đó, xé toạc nó ra. Đảng đã thọc cây vào ổ kiến lửa trách gì nó không cắn cho bầm mình. Nó đánh cả Hà Nội rồi. Cả hai miền đều ăn dưa hấu tấn.

Thằng Đỏ trở lại:

– Đi bộ 15 phút mà khoẻ. Hơn là đi xe, đầm già nó cão đùng mình nhảy không kịp.

Đỏ vừa đi vừa chỉ từng nhà cắt nghĩa cho tôi nghe:

– Đây là nhà của má Mười. Con cái chết đâu hết cả, chỉ còn một ông con trai ở nhà tên là Tám Lù. Ông ta lờ khờ, nên trong xóm gọi là Tám Lù Đù. Bà má này cỡ anh thì vô làm con ngọt, còn lính lác thì đừng hòng.

– Sao vậy?

– Hổng biết tại sao. Hễ mang K54 tới thì kể như có ưu điểm liền. Để bữa nào tôi dắt anh tới giới thiệu anh là trưởng ban H6, rồi anh sẽ thấy gà vịt đơm tới nườm nượp.

Qua ngang chiếc quán cóc ở đầu đường, Đỏ bảo:

– Quán này có bán đường, đậu, mắm, thuốc hút, xà bông thơm, nhưng không có giấy tập. Tôi thèm một mớ để chép bài hát của chị Bảy Mô cho mà chưa dám ra chợ An Nhơn.

– Sao vậy?

– Bom bỏ thường lắm. Ra đó chậm chân thì hết có về.

– Vườn tược ở đây vẫn còn y nguyên hả Đỏ?

– Lâu lâu bị pháo vài trái. Nhưng thiệt ác. Một trái pháo mồ côi trúng hai vợ chồng mới cưới tôi kể cho anh đêm qua đó. Ở ngoài lộ ngó vô thì tưởng vườn tượt còn nguyên, vô trong rồi thì toàn hố bom hố pháo.

Tôi để ý thấy có nhà còn để cây rơm, có nhà còn gà gáy,có nhiều vườn xanh tươi, măng cụt, lôm chôm, có những bụi trúc quằn ngọn đốn làm cần câu thì tốt lắm, nhưng có lẽ không ai có kiên nhẫn ngồi câu nên trúc vẫn còn đứng chôn chân đó như những cô gái đẹp chờ người tới rước về nhà chồng. Có ngỏ nhà vui hơn với ba chú trâu nằm chơi vô tư không để ý khách đi qua. Khi sắp ra đường 15 thì có một em bé gái chạy tới kêu to:

-Anh Đỏ!

Đỏ nói với tôi:

– Đó là con gái của bà Chín Kiểu, vợ ông Hai Giả.

Cô bé đi tới nói tía lia:

– Cậu tôi biểu tôi ra quán mua trà thuốc về đất khách.

– Khách nào?

– Hổng biết khách nào. Cẩu còn biểu má tôi chiên bánh xèo nữa.

Đỏ trỏ vào tôi:

– Khách đây nè! – rồi nhìn tôi, cười hí hí – Bữa nay mình có lộc ăn nữa rồi anh Hai.

Con bé có lẽ nhận ra vai trò của ông khách đối với bố dượng của nó, nên nhìn tôi bằng cặp mắt là lạ. Tôi hỏi:

– Em tên gì?

– Cậu kêu con bằng con nghe cậu Hai.

– Cậu Hai chưa có vợ sao có con được chị Gái!

Cô bé lườm Đỏ. Tôi nói ngay:

– Đã là con gái sao còn lấy tên là Gái? Tên Thơm, Thảo, Bông, Hoa, Đẹp… thiếu gì!

– Tại con không có cha nên má con không biết đặt tên gì. Thôi, cậu cho con một cái đi.

Đỏ xen vào:

– Muốn đặt tên thì phải nấu chè. Anh đặt cho nó là con Thơm đi anh Hai.

-Dạ được!

Con bé mừng nhảy chân sáo biến đi nhanh rồi trở lại với trà thuốc trên tay. Tôi nghĩ thầm: con bé như thế này chắc mẹ nó phải đẹp lắm. Hèn chi Hai Giả quên cả trời đất chớ gì. Vào đến sân nhà, Thơm kêu to:

– Má ơi, má có cậu Hai tới!

Một chiếc xe đạp mới toanh dựng ở bẹ cửa vách ván. Một người đàn ông bước ra thềm bắt tay tôi. Tôi quen Hai Giả từ ngoài Bắc, nên câu chuyện khởi đầu rất thân mật. Hai Giả giới thiệu với vợ y:

– Ông này là thầy dạy pháo của tôi ở ngoài Bắc đó Chín !

Người đàn bà có nước da trắng trẻo, tóc đen nhánh bao quanh gương mặt xương xương có vẻ không phải là nông dân, trái ngược với gương mặt hơi thô của Hai Giả. À, ra đây là bà Chín Kiểu mà lâu nay tôi nghe đồn là người bắt được hồn thư của ngài đại úy pháo binh bằng cái sắc đẹp đã vào thu của bà. Tôi ngó quanh thấy cảnh nhà rất ấm cúng. Bàn thờ chạm trổ
mun đen, trên đó có cặp chân 5hờ cổ kính. Một ngọn đèn Hoa Kỳ nhỏ bằng hạt đậu xanh để dựa vách bàn thờ. Tôi mở đầu:

– Ông Tư Khanh cho tôi về đây, tôi mừng húm, xách quyết định bay đi liền. Ông nhớ không, hồi ở Sơn Tây, chiều thứ bảy nào tôi với ông cũng làm cua-rơ đua qua cầu Ái Mỗ.

Hai Giả nói giọng buồn tênh:

– Thầy.còn làm cua-rơ chớ tôi thì hết rồi. Đeo hai cái wagons còn đua sao được nữa mà đua với thầy.

Tôi nhìn Hai Giả, chờ đợi một câu mà tôi chắc là ai oán. Quả nhiên, Hai Giả thở dài:

– Ông thầy ơi ! ông cứu tôi đi ! Tôi nghe bạn bè quen nói ông giải quyết êm xuôi vụ Ái Mỗ của ông Đào. Tôi phục thầy lắm. Thầy làm dùm tình sư đệ . Thì bây giờ đến vụ này của tôi. Tôi vẫn còn là đệ tử của thầy ở E400. Thầy được cấp trên nể phục, cấp dưới sùng bái, chẳng lẽ thầy lại cầm gậy đánh gãy xương sống của đệ tử thầy hay sao?

Tôi ngồi lặng thinh, nghe da thịt ran rát như bị ngàn mũi kim châm. Tôi biết làm sao bây giờ. Hồi ở trường pháo binh trên R tôi cũng đã cứu thằng Sâm một keo. Kỳ này mọi việc đã rồi. Tôi chỉ còn có thể an ủi y thôi. Tôi cố giấu vẻ xúc động. Thiệt tình tôi thấy tội nghiệp y vô cùng. Hai Giả than thở:

– Cũng là trời khiến thầy ạ. Nếu tôi không về đây thì cần câu đâu có mắc gốc thế này. Thầy còn nhớ hồi trước không?

– Nhớ gì?

– Nhớ trận đánh xà-lan của Tây ở tại Bến Dòng Sỏi trên sông Sài gòn này ! Lúc đó tôi mới mười tám tuổi nhưng đã chỉ huy một trung đội cơ động trong chiến dịch Bến Cát, có trách nhiệm quốc lộ 13 và sông Sài gòn. Hồi đó nghĩ mình dữ thiệt! Có một trung đội mà chịu hai mặt bộ binh lẫn hải quân của Tây. Không biết sợ là gì. Gặp xe tăng cũng bắn, gặp tàu cũng chơi. Trận đó ba con Gái mới là trung đội phó, nhưng nó gan lắm. Vì gan nên mới hi sinh… – Hai Giả ngưng một chút rồi tiếp – Hi sinh để lại một bà vợ chửa mới hai mươi tuổi Là bà này đây. Còn đứa bé trong bụng là con nhỏ đó.

Hai Giả chỉ hai mẹ con đang đứng khép nép ở cửa buồng. Hai Giả cố nén giọng cảm động để kể nốt câu chuyện:

– Trời xui đất khiến gì đấy ông ạ . Hay hồn thằng bạn cũ nó hướng dẫn tôi tới cái nhà này. Một hôm tôi đi lên K10 về. Hồi đó ông Năm Lê chưa về đây. Ông Hai Phụng Phó tư lệnh còn kiêm Trường phòng tham mưu. Trời tối, tôi lại bị xẹp bánh xe. Tôi vô đại cái nhà bên đường xin tá túc. Hồi đó vùng này còn sầm uất lắm. Y như thời chín năm vậy. Tôi ngồi ở cái bàn trước kia kìa. Bỗng tôi ngó lên bàn thờ thấy cái ảnh quen quen. Tôi hỏi ra mới biết là thằng bạn đã hi sinh trong trận Dòng Sỏi. Đêm đó tôi ở lại đây, nhắc chuyện cũ cho bả nghe. Rồi hai bên thông cảm, rồi sau đó tới lui thăm viếng bàn thờ thằng bạn. Rồi… vậy đó. Con nhỏ nay đã mười bảy tuổi rồi. Hai mẹ con hủ hỉ với nhau. Ông coi, đó có phải là trời đất xui khiến không?

Tôi nghĩ : Quả là trời xui đất khiến thật. Giống y như tiểu thuyết lạ lùng. Người đàn bà có con gái lớn ngần ấy vẫn chưa lấy chồng. Nay gặp bạn cũ của chồng nên không muốn thủ tiết nữa. Chiến tranh, dù là thứ chiến tranh gì, cái hậu quả thảm khốc của nó vẫn đổ cho người mẹ, người vợ gánh chịu. Tôi đã gặp cái màn kịch vợ góa con côi khá nhiều ở cái Đất Thép này.

Tôi muốn gạt phăng mọi thứ kiểm thảo giả dối nhằm bao che một thứ đạo đức rỡm đã bị bọn lãnh tụ sơn phết từ thời kháng chiến tới giờ, như Ba Lắm chửi: “Đù mẹ tụi nó ! Tụi nó lấy vợ bé địa chủ thì không sao, còn mình thì tụi nó bảo là sai lập trường!” Tôi nhắm hớp trà thấm giọng rồi nói:

– Sự thực ở trên cũng không có định làm gì to chuyện đâu. Riêng tôi, tôi cũng thấy không có gì to tát. Tôi nhìn vào khả năng và thành tích của ông chớ! Từ 1945 tới nay đầu chúng mình đã trọc mấy thứ tóc rồi mà ! Anh cứ yên tâm, và nhớ rằng đây không phải là ý muốn.của tôi, anh cứ đi công tác xa một thời gian, thế là xong. Khi về tôi sẽ tuyên bố xóa bỏ tất cả khuyết điểm của anh. Anh sẽ không mất gì cả. (Tôi đâm ra kính trọng con người Hai Giả) Anh Hai nhé ! Chị Chín nhé !

Người đàn bà bước ra ngồi gần chồng đối diện với tôi, mắt đỏ hoe, giọng xúc động:

– Hồi nào tới bây giờ tôi mới nghe một người nói có tình có lý như cậu vậy! Xin lỗi tôi chắc cậu còn trẻ hơn tôi. Ba sắp nhỏ hi sinh nay đã mười bảy cái lễ giỗ rồi. Tôi ghi từng lễ giỗ bằng gạch vôi trên vách đó ! – Chị Chín trỏ lên vách – Tôi đếm từng cái Tết mỗi khi tôi may áo mới cho con. Tôi đã quyết định không lấy ai nữa. Con gái đã có chồng thì chỉ một lần. Chồng chết thì ở với con. May mà ảnh còn để lại cho tôi giọt máu này. Nhưng hình như trời xui đất khiến cho nên anh Hai mới ghé vào tá túc lần đó…

Hai Giả tiếp:

– Mấy thằng quận ủy đến ve vãn bả không được nên ganh ghét viết báo cáo khuếch đại gởi cho Bộ tư lệnh, làm cho mấy chả đòi khai trừ và giáng cấp tôi. Tôi thầm bảo: khai trừ như nói láo, cảnh cáo như nói chơi. Cứ làm! Tao ra dân, chẳng sao cả. Nhưng còn tụi bây thằng nào cũng ê chề một đống, ai cảnh cáo, ai khai trừ tụi mày? Ông ở đây một thời gian rồi sẽ thấy mấy thằng địa phương này khó chịu lắm!Khi cần thì nó đội mình lên, khi mình ngã thì nó đạp luôn. Hồi 60, Đồng Khởi xong chỉ có loe hoe ba cây súng ngựa trời, nếu không có bọn tập kết mình về , tụi Sài gòn nó nhai đầu cái một làm gì có Quân khu IV này, làm sao có chiến tranh chính trị nọ kia? Bây giờ có quyền, có thế, nhờ ai? Vậy mà chúng nó ghét dân tập kết ghê lắm!

Tôi biết Hai Giả có những nỗi u uất bị đè nén từ lâu, bây giờ có dịp tuôn ra. Anh tiếp:

– Còn ở trên biểu pháo kích Đồng Dù, biểu móc súng lên để trên mặt đất rồi sinh hoạt như hồi chín năm! Xì, cái đó dễ ợt. Tôi sẽ pháo kích cho mấy ổng coi. Tôi sẽ dựng pháo trong nhà đồng bào và sinh hoạt ỳ xèo cho mấy ổng khoái mắt. Nhưng chỉ trong một tuần lễ là mất cả súng lẫn người. Các ông chui vô hầm Đờ-cát-tri chỉ thị ra ngoài, nói rùm lên trên đài nào là vành đai thép, nào dũng sĩ diệt Mỹ. Có thật không? Tụi thằng Cội, con Nê bắn một phát súng bá đỏ nó pháo trả một trăm quả . Đồng bào chửi cho không dám ló mặt lên. Tôi mà bắn nó một quả là nó đem B52 và xe tăng tới. Chừng đó đồng bào sẽ đuổi mình đi như đuổi tà . Để rồi xem !

Hai Giả càng nói càng hăng:

– Thầy còn lạ gì cối 120 nòng nặng một tạ, đế hơn năm chục kí, sức người làm sao vận động nổi với trực thăng và cơ giới chớ! Mình vừa lên tiếng rống là nó đổ chụp ngay trên đầu. Tôi đã bị mấy cú ở Phú Hòa Đông rồi. Tôi đặt ở hậu cứ Cây Trôm để chi viện cho bộ binh đánh giao thông. Trận đó tôi đã nếm mùi tân khổ. May mà chưa mất khẩu nào. Chỉ bị hỏng hai khẩu 120 ly ở Láng Cát thôi. Thằng Việt đại đội trưởng hi sinh, mất xác.

– Sao vậy?

– Đang rút thì B52 đến. Tưởng nó đã vùi tất cả đơn vị rồi chớ. Chạy bò về tới Bàu Lách đứa nào đứa nấy hộc máu ra đằng đít. Mấy chả có biết đâu. Thằng Tám Quang, Liên khu nem cứ oang oang cái mõm chó sủa um: Vành đai thép, dũng sĩ diệt Mỹ. Có cái con mẹ gì. Tụi nó chỉ nhảy cóc nhảy nhái thôi, chớ tình hình căng chút nữa là trốn mất hết cho coi ! Còn tụi quận ủy hả ? Hết cái màn đấu tranh chính trị rồi, bây giờ tới lớp ngồi thum. Một bước cũng không dám rời khỏi miệng hầm. Chúng rút xuống âm đạo mắc cặp như ếch dưới đó. Có gì thì bịt kín, phá thai, nhưng ai cũng biết. Cái vành đai thép đài giải phóng la um, tôi nghe mắc cỡ quá chừng. Đó chẳng qua mấy sợi lông le the chọc cho Đồng Dù nó ngứa mắt, nó giã cho nhừ xương cấp kỳ. Bây giờ bọn thằng Cội, con Nê đã tróc hết rồi. Chúng nó bị xe tăng ủi chạy dồn xuống đây chớ bám gì được mà bám. Tôi nằm ở đây nhưng nghe nó thầy làm anh hùng pháo kích sân bay Biên Hòa, vẫn nghe thấy thằng Đồng mất hết mấy khẩu DKZ và cối 120 ở lòng sông Bé, Tư Quảnh, Ba Tô Đê rửa chân lên bàn thờ. Còn thằng Đông không biết có trở về được không?

….Vậy là xong vụ Hai Giả. Chị Chín mời tôi ở lại ăn cơm nhưng tôi từ chối vì việc nhà quá đa đoan. Thực ra tôi không muốn nghe Hai Giả tố cáo cấp trên thêm. Tố thì cũng được nhưng tôi sợ tôi đồng bịnh tương lân. Nghe y tố tôi cũng tôi theo thi bọn Bắc.kỳ xâm lược sẽ có lý do mà chơi tôi.

Lòng buồn bạc mạng, tôi cùng thằng nhỏ lủi thủi ra về. Tôi mang theo thêm một trời tâm sự của một thằng bạn đường đang gặp chuyện không may. Cứu nó ư? Bằng cách nào. Bất cứ cách nào nếu tôi có quyền có phép. Tôi sẽ bịt các cái mồm bép xép trong cơ quan và sẽ gặp thằng Một Sơn bí thư quận ủy cho nó một trận giằn mặt. Chính nó mới là kẻ đáng thi hành kỹ luật trong khi đó nó lại đi cầm kỷ luật để nện người khác. Cái cung cách muôn thuở trong đảng là như thế. Những tên vô kỷ luật, phá nát kỷ luật nhất là những tên cao cấp. Chính chúng là những tên ký những bản án kỹ luật cho đồng chí mình. Tiêu biểu nhất là tên Lê Đức Thọ. Trên đời này thằng đàn ông nào có vợ mà không quyến rủ bởi nhan sắc hoặc lời êm tiếng đẹp khác?

Cô bé Thơm (tên bé Gái tôi vừa đặt) chạy theo dặn Đỏ:

– Chừng nào rảnh anh ra đây tôi cho cá lòng tong về kho quéo .

Tôi hỏi:

– Lòng tong ở đâu mà có?

– Dạ ở dưới rạch Sơn vô đây cả bầy. Hễ nước lớn cháu chỉ cần rải cám rồi móc hột cơm vô lưỡi câu, quất trên màn nước, một lát có đủ kho cả tộ.

Dường như chưa vơi tâm sự Hai Giả đuổi theo tôi ra tận ngỏ. Y nói:

– Ở đây lúc trước có tàu đi Dầu Tiếng xuống Bình Dương. Bây giờ thì hết chỉ có giang thuyền thôi, nhưng nếu du kích không chọc nó, nó chỉ thả xuôi êm ru không xổ lên bờ viên nào!

Hai Giả nhắc lại chuyện cũ:

– Con nhỏ đó như vậy thì thằng tía nó hẳn không xấu trai phải không thầy? Tội nghiệp, lúc đó bả có hai mươi còn nó mới hăm lăm. Chết bỏ vợ bỏ con. Đau quá ! Tôi biết tôi ở với bà ta là lỗi đạo với vợ con tôi, nhưng thầy rành mà, trước một người đàn bà như vậy ai cũng mềm lòng. Thằng Út Việt ở trên xóm trên kia cà , bị một trái bom bỏ vợ mang bầu. Hầm bê tông cốt sắt cũng không chịu nổi…

Hai Giả nói câu này không ăn với câu kia, chứng tỏ tâm thần không bình thường.

Theo lời mời của Sáu Phấn, sau cuộc họp bàn tròn tay đôi, tôi và Hai Giả đến nhà y ăn bánh xèo, nhưng Hai Giả không đi lấy cớ ở nhà thu xếp công việc để đi công tác, nhưng tôi bắt ép nên phải đi. Tôi muốn an ủi và trấn tỉnh y luôn. Thực tình tôi tội nghiệp y quá:

– Đến tiệc bánh xèo thì cũng lại gặp tôm.

Hai Giả vui vẻ :

– Lại cũng tôm thằng chổng?

Sáu Phấn đem ra một lít rượu trong như mắt mèo:

– Tôm đó thì phải có rượu này mới trị nổi !

Sáu Phấn vừa nói vừa chiếc nhạo bông xanh rồi rót ra ba cái chun có in hình ông Phật và nói.

– Bữa nay coi mòi êm. Chỉ còn ngại ba thằng giang thuyền nữa thôi. Từ Bến Chùa đến Xóm Dược du kích hay chọc nên nó mới bắn ra-phan M79 hoặc đổ bộ lên bờ rượt du kích.

– Có vụ rượt du kích nữa sao anh?

– Có chớ, nó đâu có ngán thứ trường bá đỏ ! Nhưng miệt An Nhơn trở xuống Bến Mương thì không ai làm gì nên nó cũng không làm gì ai.

Tôi hỏi:

– Mình chơi nó vài phát DKZ không được sao?

Hai Giả trả lời dứt khoát.

– Chơi thì được, nhưng đồng lầy, chơi rồi chạy mắc lầy chết luôn!

Sáu Phấn cũng phụ họa:

-Tụi nó kỹ lắm. Nó đi lêu bêu như cá chết trôi như vậy nhưng hễ mình đụng tới nó là nó sừng gai ngạnh của nó lên ngay.

Đang trao đổi ý kiến về dự kiến một trận đánh giang thuyền thì một người con gái bưng bánh xèo trên cái sàng lót lá chuối xanh ra bồi thêm. Tôi nhát trông thấy đã mất hồn ngay. Nàng ta đẹp hơn tất cả những người con gái và đàn bà tôi biết từ trước đến nay. Nàng vừa khuất lưng vào bếp, Hai Giả điệu đàng nói ngay:

– Em vợ Sáu Phấn đó ông bạn trẻ à ! Có lẽ anh ta không chịu nghèo ba năm đâu?

Tôi cười:

– Chịu không anh Sáu?

– Chịu nghèo ba năm thì ăn thua gì, ngặt một điều.

– Điều gì?

Sáu Phấn khom qua bàn xầm xì với tôi. Tôi hoang mang lúc lâu nhưng dùng rượu để trấn áp sự hoang mang đó ngay . Hai Giả xua tay:

– Không sao đâu! Gái một con trông mòn con mắt. Ông Phấn nói toẹt ra cho rồi!

Sáu Phấn tớp chung rượu và gật gù:

– – Chồng nó đi công trường 9 đánh trận Đồng Xoài. Con nó đã năm tuổi rồi. Lính nhà mình cũng bủa lưới phóng lao dữ lắm nhưng phóng cây nào trớt cây nấy.

Sáu Phấn quay mặt gọi vào trong:

– Dì Mười a, còn bánh hết, đem thêm ít cái cho khách dùng!

Cô Mười duyên dáng bước ra. Má đỏ hồng hồng có lẽ vì đứng gần lửa. Nàng có đôi môi đỏ tự nhiên, làn da mặt và cổ trắng như bông bưởi, đôi vai tròn mà từ lúc gặp tôi luôn mơ tưởng được đụng vào. Mười vừa quay vô, Sáu Phấn lại bảo:

– Hết lá đọt mọt rồi dì chịu khó đi ra vượn hái thêm. Coi chừng kiến vàng đái vô mắt rồi khóc ở ngoài không có ai dỗ .

Tự nãy giờ có một ông già ngồi ăn chung mâm tứ trụ với chúng tôi mà Sáu Phấn giới thiệu là cậu Tám. Cậu Tám chỉ nói chuyện đưa đẩy chớ không nhiệt tình. Lúc chai rượu lưng quá nửa câu Tám mới khai pháo:

– Oa hồi trước cũng đi Vệ Quốc Đoàn mất sáu năm, bị thương về nhà làm xã đội luôn tới đình chiến. Sợ ở lại bị trả thù nên bán nhà cửa đồ đạc ghe xuồng dắt vợ con xuống bến Hàm Tân tập kết. Ai dè xuống đó người ta bảo thương binh cỡ tui không có tiêu chửn, cho nên đành dắt vợ con trở về. Nhà cửa bán hết rồi, phải qua bên vợ ở nhờ. Rồi lần hồi tạo lập cái khác ! Bụng làm dạ chịu, chớ kêu ca với ai. Cũng may chánh quyền Sài gòn họ bắt tố cộng sơ sơ rồi thả, không đánh đập gì. Nhờ cố công mào sắt chầy ngày nên kim. Từ 1954 đến 1960 tôi kiếm lại được gấp đôi gấp ba cái tôi đã bán. Hai vợ chồng mới yên vui được một năm thì đến Đồng Khởi. Ừ, đồng thì đồng, dân kháng chiến chống Pháp lẽ nào làm lơ, nên tôi nhảy vào hò hét đốt lửa thổi kèn đu đủ, làm tùm lum. Hồi đó thằng Một Sơn bí thư huyện ủy bây giờ mới có làm tới chức ấp đội thôi. Nó chỉ biết thiến heo chớ biết đảng là cái gì Nó đâu có biết cầm súng trở họng ra hay trở họng vô. Làm việc gì nó cũng hỏi tôi ráo nạo.

Cậu Tám vuốt bộ râu ngạnh trê chép chép cái miệng móm không còn răng và tiếp:

– Sau Đồng Khởi, mình lập được bộ đội và có cả cánh tập kết luồn về. Do đó có hậu cần. Bảy Hốt bây giờ còn đó chứng kiến cho tui . Tui phụ một tay với chả . Gạo từ Bến Chùa cho qua Đường Long Thanh An đều có tên Tám Cần này chèo chống hết. Trực thăng bắn mấy lần tưởng đã lọi giò . May nhờ nhảy xuống sông lặn. Đạn đi sém ba sườn, vết thẹo còn đây. bên Thanh An có một anh bạn già từng tham gia kháng chiến chín năm cũng làm phụ với Bảy Hốt, nhưng chẳng may bị trực thăng bắn chết trên sông Sài gòn gần Bến Chùa. Vợ thằng chả bán quán, có hai đứa con gái như là tiểu thư. Còn bà ta thì uốn tóc quăn, chân giày chân dép, quần lụa áo bông như hoàng hậu. Tôi thấy bà ta trống chân bèn dạ hành tỏ vài phát thử xem thời vận ra sao, chẳng dè cụp ngay. Tôi cũng biết cái thân phận nam nhi thê tử lùm đùm của tôi làm như vậy là sái nhưng mà con mèo thấy mỡ đời nào lại tha cho được? Đàn ông chẳng thằng nào thấy đàn bà góa mà không ve bao giờ.

Hai Giả bật cười:

– Chú Tám nói điệu lắm. Rồi sao nữa chú?

– Nhưng cá vừa cắn câu thì kỳ đả cản mủi!

Sáu Phấn hỏi.

– Kỳ đà cụt đuôi hay kỳ đà dài đuôi vậy cậu Tám?

– Không biết cụt hay dài nhưng đúng là kỳ đà . Thôi, nói gần nói xa không qua nói thiệt. Đó là mấy ông quân khu. Mấy chả tới có cảnh vệ rình rang đóng tại nhà yến tiệc tưng bừng. Tưởng nhậu nhẹt xong là rút lui. Không dè mấy chả ra sau vườn đào hầm rồi trụ luôn. Cảnh vệ gác trước canh sau. Thằng lính hậu cần này đâu có chen lọt được. Mấy lần gặp tui ngoài đường, bà ta ngoảnh ngoảnh cái đầu quăn không nhìn chi thằng lái đuôi tôm ban đêm như ăn trộm. Trên 40 mà gác máy bay thứ nặng, B26 trở lên chớ không có coi đầm già cồng cộc ra gì đâu. Thôi thì nói quách ra cho rồi. Tư lịnh đó mấy chú, không thèm phó tư lịnh đâu.

Tôi chợt nhớ đến chuyện cô xã đội phó cho biết má Hai sang bên đó ở nhà dì Ba và có lần tụi trẻ nó bắt gặp hai cặp chân ló ra vách mùng. Tôi bèn hỏi: .

– Bả thứ mấy vậy chú Tám?

– Thứ ba – Cậu Tám nói luôn – bả có bà chị làm mẹ chiến sĩ ở Phú Mỹ Hưng mình nè. B52 cày đường 15 bả sợ quá bả dông qua ở đó luôn. Nghe nói mấy đứa con gái nhắn bả về để coi mặt thằng rể mà bả còn chùng chình không dám về .

Tôi nghĩ thầm: Thôi, vậy là đích thị ông Ba Xu rồi. Tôi nói:

– Vậy ra chú mới ở bên đó về đây?

– Thì mới tháng rồi chớ lâu lắc gì. Nghe đâu thằng rể cũng là dân mùa thu như chú em vậy.

Tôi nhấp nhỏm như ngồi trên bàn chông. Cậu Tám nhấm nháp vài hớp liên tiếp rồi nói:

– Sở dĩ tôi kể chuyện vòng vo Tam Quốc vậy là vì tôi nghe nói vụ chú Hai này lâu nay. Bữa nay nghe chú về thay thế chú Hai tôi có hơi động lòng ẩn trắc. Thật cũng có đáng trách tí chút nhưng mà phải thương chú ấy nhiều. Ví như xưa kia Thúc Sinh đi học xa bỏ vợ lớn ở nhà lấy nàng Kiều làm thiếp trong khi du học để nhờ lấy sự săn sóc của bàn tay đàn bà mà lo việc đèn sách. ông bố quá nghiêm nên rầy la, nhưng chàng ta đâu có bỏ nàng Kiều. Nếu chàng yêu nàng Kiều mà bạc đãi Hoạn Thư như vua Trụ hành hạ chánh cung thì mới đáng phạt. Còn đằng này mỗi bà đều có phần riêng. Bà lớn ở xa không săn sóc được chồng, bà nhỏ ở gần bên chồng thay mặt cho bà trong việc nâng khăn sửa trấp cho chồng mình, nếu tôi là đàn bà thì tôi càng cảm ơn bà nhỏ. Tôi hỏi mấy chú ông Ba Đình có vợ chưa, ông Năm Lê có vợ chưa mà mấy ông làm như vậy? Tôi dây, tôi cũng có vợ con, có cháu ngoại cháu nội rồi, nhưng mà thấy cái quần Mỹ A nháng qua nháng lại trước mắt, làm sao chịu nổi? Sách có câu: “Vũ vô kềm tỏa năng lưu khách, sắc bắt ba đào dị nịch nhân” mà! Nếu như mấy ông muốn thi hành kỹ luật chú Hai thì mấy ổng phải tự thi hành mình trước, như vậy mới nghiêm minh!

Cả bàn tiệc ngồi im. Thấy không ai hưởng ứng cậu Tám có vẻ ức nên càng nổ máy lớn:

– Ở cơ quan của tôi, ông Bảy Hốt đã nổi tiếng là Hốt, là vì tàu hàng vừa cặp Bến Dược là ổng hốt hết dầu lửa, nước mắm, muối đường gom vô kho hậu cần, dân không còn để mua. Do đó có tên Bảy Hốt, nhưng hốt hàng hóa không đáng nói, còn cái mục hốt kia nữa chớ! Một mình ổng hốt hai ba ổ. Tiền cơ quan ông chi đều đều nên ổ nào ổng muốn là hốt được. Như cái quán mụ Sáu Tỉnh cũng lọt vô tay ổng luôn … Ở đây ông nào cũng con vòng con cỡi hết ráo. Sáu Huỳnh thì chiếm cái quán con Tư The, Chín Lộc thì xực bánh bò, còn Năm Lê thì có vợ trong kháng chiến, có vợ ngoài Bắc rồi về đây vẫn… đâu phải riêng thằng Hai Giả mà bắt tội nó. Tui không phải bà con gì của nó hết, nhưng thấy việc bất công thì lên tiếng vậy thôi.

Sáu Phấn rót nước cho cậu Tám rồi xá xá:

– Cháu lạy cậu, cậu Tám ơi ! Không phải chuyện gì cũng nói ra được đâu. Cái thằng làm lớn ngồi trên ván gõ người ta ăn giỗ, miệng chửi thề bốp trời thì được cho là bình dân, còn thằng lính lãi mà làm như vậy thì bị coi là lỗ mãng. Thằng lớn có vợ bé thì không sao cả, thằng nhỏ liếm láp chút đỉnh thi bị xét xử như kẻ mất lập trường. Đã là người lớn thì có người lớn bao che, ai làm gì được? Tôi thấy anh Hai chẳng phải tội tình gì cho lắm, nhưng vì ở trên hành hạ ảnh nên ảnh thối chí rồi từ lãng công đi đến bất chấp tổ chức. Nhưng tôi làm sao có ý kiến với người ta? Cậu cũng vậy chớ gì cậu Tám.

Cậu Tám đang nhâm nhi bỗng đưa hai tay lôi toạc hai vạt áo nút áo văng vào cả bàn tiệc, trợn mắt:

– Ê ! mày Sáu Phấn, mày nên biết tên già Cần này cũng kháng chiến hai mùa như ai nghe! Chỉ thua thiên hạ là thua cái tài chỉ huy thôi, cho nên bây giờ còn làm lính chạy đuôi tôm chở gạo, coi vậy chớ hổng có sợ ai nghe mậy. Người ta đâu dám cho tao mò tôm sông Sài gòn. Có miệng là để nói chớ ! Đâu mấy chú em khi nào có gặp Ba Tô Ký hỏi ảnh xem tao vô đảng hồi nào? Đảng có nói lấy phê bình và tự phê bình làm phương châm tiến bộ mà. Ai dám mở miệng phê bình mấy ông kẹ thì bị nhai đầu ngay. Tao không có chán công tác mà tao chán người lãnh đạo. Vậy nên tao về luôn bên này không qua Thanh An nữa. Bảy Hốt năn nỉ tao năm lần bảy lượt, tao nói vết thương cũ hành, không có thuốc nên tao xin tạm nghỉ một thời gian.

Mâm nhậu bỗng nhiên mất hứng. Nhưng cũng may con bé Hoàn khệ nệ bưng rổ đọt mọt ra. Sáu Phấn trỏ tôi và bảo:

-Đưa cho ông đó.

Bé Hoàn nhích lại gần tôi. Con bé mặt như hoa, giống in mẹ nó. Sáu Phấn hỏi:

– Cháu biết ai đó không?

– Dạ biết.

– Ai?

– Dạ cậu Hai!

– Cậu Hai nào?

– Dạ con hổng biết.

Tôi đỡ lấy rổ đọt mọt non mỡn, mướt như thoa mỡ để lên bàn. Sáu Phấn lại bảo:

– Cháu vô hỏi má cháu xem đó là ai?

Tôi ẵm bé để ngồi trên bắp vế tôi và hỏi:

– Cháu ăn bánh chưa?

– Dạ cháu ăn rồi.

– Cháu đi học chưa?

– Dạ chưa. Má cháu bảo chừng nào ra ấp chiến lược mới học được.

– Sao vậy?

– Ở trong này trường nghỉ hết rồi.

– Để cậu dạy cho cháu học.

Sáu Phấn bảo:

– Cháu hỏi cậu Hai có gặp ba cháu ở đâu không?

Bé Hoàn làm thinh một chốc rồi nói:

– Má cháu nói ba cháu đi công tác ở ngoài Phước Long.

Tôi hỏi Sáu Phấn.

– Thiệt hả, anh Sáu?

Sáu Phấn nháy tôi rồi bảo bé Hoàn:

– Cháu vô bảo mẹ cháu chiên bánh mau mau đem ra.

Con bé nhảy xuống đất nhanh nhẹn biến vào bếp. Tôi nhìn theo mái tóc đen huyền với nỗi chua xót trong lòng.

Hai Giả nãy giờ ngồi im, chỉ lâu lâu đưa ly rượu lên miệng nhắm khẽ lấy lệ. Cậu Tám quay sang tôi:

– Chú em không nhớ tôi thiệt sao?

– Dạ, xin lỗi chú Tám cháu chưa nhớ ra!

– Nhớ cái vụ chú mày xách giấy của ông Ba Tô Ký lại kho lấy đường sữa và xà bông thơm chiến lợi phẩm của trận Chơn Thành không? Nhớ kỷ xem ai phát cho chú !

– A! cháu nhớ ra rồi!

Cậu Tám không để cho tôi nói, hỏi tiếp.

– Ba Tô Ký ở đâu bây giờ? Còn ông Tám Nghệ nữa?

– Dạ anh Ba Tô Ký thì về trong này rồi, nhưng trở ra Bắc vì đau .bao tử: Còn anh Tám Nghệ thì làm kinh tài ở trên Cao Miên. Ảnh già rồi, đau yếu xề xệ đâu còn như xưa, chú Tám!

Cậu Tám thở dài rồi quay sang thấy Hai Giả trầm tư thì bảo:

-Đừng có buồn mày Hai. Con người không phải giá trị chỉ có bấy nhiêu. Hồi xưa đánh Tây, tao nổi tiếng là bán trời không mời thiên lôi. Chơi bời sái nát công tác chạy đều thì thôi. Trông đội tao, tao chỉ phục mỗi một mình Hoàng Thọ và anh Bảy Phong Vân thôi. Hai ông này.phá phách phụ nữ kinh khủng nhưng đánh giặc thì kinh hồn. Còn tao chỉ tiếc một điều là trong trận La Ngà có một con đầm sợ mình giết chết, nó tuột váy trước mặt chiến sĩ. Áy cha cha ! ăn mắm kho hoài xót ruột gặp bít-tết lại ngó lơ, uổng biết chừng nào. Nó về bên Tây, chắc nó cho rằng lính mình bị thiến hết ráo.

Hai Giả bật cười và tươi hửng lên:

– Tôi được nghe ông tân trưởng ban nói những lời chân tình hồi sáng, bây giờ lại nghe chú Tám rót thêm, thật tôi hả dạ vô cùng !

Hai Giả cầm nhạo rượu rót đầy hai chung.

– Kính chú Tám một ly – rồi quay qua tôi – Đồng chí nhỏ hơn tôi một con giáp nhưng cũng kính mời một ly tri ngộ .

Nhìn gã đại úy già rưng rưng nước mắt tôi thấy thương và thông cảm anh ta hơn bao giờ hết. Cậu Tám rót rượu tạ lại Hai Giả rồi cả bàn cùng vui vẻ cạn ly.

Tan tiệc tôi ra về. Hơi ngà ngà say, lòng buồn não nề. Không có ai bên cạnh để tâm sự. Thằng Đỏ thì nhỏ quá biết gì cuộc chiến tranh lớp trước. Những cán bộ lứa Hai Giả, Sáu Phấn, Ba Tố… đều kháng chiến hai mùa cả. Đi kháng chiến càng lâu, tâm sự càng nặng nề u uất. Thằng Đỏ mắc võng và bảo tôi:

– Anh ngủ sớm đi, mai còn họp Ban.

Tôi leo lên võng nằm lắc lư ngó sao trên trời nhấp nháy. Bỗng bật lên trong tâm trí tôi một bài hát xưa nhất trong những bài tôi thuộc, bài Nhớ Mẹ của Đức Quỳnh.

Chiều mờ trông xa rơi ngoài chân mây
Lòng ngổn ngang như vơi như đầy
Lòng nhớ những ai bên trời xa xăm thở than
Mẹ ơi ở lại đừng buồn chi vì phải xa con. ..
Xưa lúc đi lòng con đã quyết phân ly
Không hề lưu luyến bao tình thê nhi
Nay bởi đâu lòng con tưởng nhớ tới khi
Bao người nhớ con nên nặng cơn sầu
Rồi đây đến khi thân này xông pha gió sương
Buồn chăng hỡi mẹ nhưng ngày vẻ vang gần về.

Tôi vừa dứt tiếng thì thằng Đỏ nói:

– Anh hát bài gì buồn dữ vậy anh? Tôi muốn khóc nè!

– Tao cũng buồn lắm.

– Phải bây giờ còn sớm tôi với anh ra nhà chị Bảy Mô biểu chỉ đờn nghe cho đỡ buồn.

– Đờn nghe còn buồn hơn nữa mày ơi ! Mà đờn đứt giây hết rồi.

Thằng Đỏ làm thinh. Một lát tôi hỏi:

– Mày có muốn về nhà không, tao cho phép mày về ít ngày.

– Không anh ạ . Lúc này cơ quan đang chấn chỉnh mà về coi sao được.

– Về phép chớ phải bỏ ngũ sao.

– Sợ ông ngoại em bắt ở nhà luôn. . . với sợ đi ngang Láng Cát.

– Láng Cát là cái gì đó mà sợ?

– B52 cày trận D8 đánh ở quốc lộ 1. Ngó thấy rùng rợn lắm anh à. Nó bào láng tè hết không còn một cái cây. Chỗ đó không đi xe đạp được.

Một loạt M79 xa xa. Thằng Đỏ ngồi dậy:

– Nó bắn ở Bến Dược. Chắc mấy ông du kích lại chọc. Ờ kìa, trực thăng soi !

Tôi nghĩ thầm: Tụi này nó chơi mình đủ 35 kiểu rồi còn một kiểu nữa là đủ trăng-xít ma-nhe. Còn mình thì trong tình trạng cố ngồi dậy để đánh trả, nhưng không biết đánh bằng cách nào. Chiều nay có lẽ là buổi chiều rảnh rang nhất trong đời thằng Lê Dương cách mạng của tôi. Không có việc gì làm. Không có ai để nói chuyện. Tôi bèn gạ chuyện thằng Đỏ :

– Mày ở nhà làm gì Đỏ?

– Dạ chăn trâu cho ông ngoại em!

– A! vậy chắc ổng muốn bắt mày về là để chăn trâu cho ổng chớ gì?

– Không phải đâu anh!

– Chứ tại sao?

– Tại vì ngoại em sợ sẩy em mất. Em là cháu nội và cháu ngoại độc nhất của hai bên.

Thằng Đỏ dùng tiếng sẩy một cách bất ngờ. Không hiểu tại sao? Đó là tiếng để dùng cho trẻ hài nhi. sẩy thai, sẩy tay trong tháng. Có lẽ vì cái chết ở đây dễ đàng và nhanh chóng quá chăng. Tôi chạnh nghĩ tới gia đình. Mẹ tôi nuôi tôi đến lớn, tôi đi hoang đàng cách mạng, tới nay chưa sẩy. Nhưng trên đất Củ Chi này lỡm chớm gai chông, tua tủa bom đạn, ngày nào đêm nào cũng có máu chảy. Không một ngày nào vắng tiếng súng … Tôi cố nén tiếng thở dài.

Tôi sực nhớ hồi tôi ở miền Tây sắp đi tập kết thì bà ngoại thằng Phước vô bắt nó về. Thằng Phước là bạn cùng ở trại Đồng Tử quân với tôi. Ba nó là Chi Đội phó chi đội Bình Xuyên thời đầu kháng chiến cùng với Sáu Hoạch lập chiến khu ở Rừng Sát. Trong lúc hỗn canh hỗn cư, ở ngoài Bắc đưa một người vào làm chính trị viên tên là Lê Hiền. Bố nó và Sáu Hoạnh không phục bị bắt giam một lúc rồi thả. Sau này khi Nguyễn Bình bị gọi về Trung ương và bị phục kích chết thì cho đội Bình Xuyên tan rã lớp bị sát nhập vào đơn vị khác, lớp bỏ về nhà, Lê Hiền lấy lại thế bắt hai kẻ cựu thù giết ngay.

Bà ngoại thằng Phước vô bảo: “Người ta ở ngoài Bắc vô trong này giết ba mày, mày còn ra ngoài Bắc làm gì?” Thế là thằng Phước ngoan ngoãn theo bà ngoại nó về nhà khỏi đi tập kết: Tôi hiểu rõ: nếu hồi đó ba má tôi vào bắt tôi về, có phải tôi khỏi cái nạn tập kết không? Cách mạng âu cũng chỉ là một chuyện may rủi chớ không phải là lập trường.

Có lẽ thằng Đỏ cũng nhớ gia đình nên nó hỏi:

– Gia đình anh đông con hôn?

– Đông.

– Anh về có móc gia đình chưa?

– Có móc rồi ! – Tôi nói luôn không đợi nó hỏi tiếp – Ba tao vô có một mình. Má tao và các em tao không vô được.

– Em của anh chắc lớn hết rồi chớ đâu cỡ tôi.

– Ừ lớn hết! – Tôi nói lướt qua chuyện khác vì sợ nó biết vụ thằng em trai Thủy Quân Lục Chiến của tôi – Đỏ à, hôm nào rảnh rỗi, mày dắt tao về nhà mày chơi. Đại khái là nhằm ngày đám giỗ… ăn no cành rồi tao ngủ trên ván gõ. Tao thèm ngủ trên ván gõ buổi trưa quá hà. Hồi năm ngoái tao công tác trên Phú Mỹ Hưng, tao ở nhà bà má Hai, tao ngủ ván gõ đã cái lưng hết sức, nhưng năm nay tao trở lại, cái nhà cháy tiêu rồi.

– Ừ để chừng nào có đám giỗ tôi với anh về . . . À mà gần tới rồi, giỗ hội anh ạ !

– Giỗ hội là giỗ gì?

– Lần đó tiểu đoàn 8 đánh ngoài quốc lộ I có 28 chiến sĩ hi sinh đem về Phú Hòa Đông chôn. Sau đó, B52 rắc bom xuống Láng Cát chết ba mươi mấy người du kích và thường dân. Do đó nhằm ngày này người ta đi ăn khắp làng chỗ nào cũng có giỗ, dân giỗ dân lẫn bộ đội. Vui lắm.

– Cái thằng! Đám giỗ mà vui gì mậy?

– Dạ vui chớ anh ! Nhà nào cũng nhậu mà không vui sao .

– Hồi chín năm cũng có giỗ hội như vậy. Tây ruồng bắt dân gom lại ở ven Rừng Sát rồi dùng FM ria chết hết. Có đến trăm người, gồm cả đàn bà con nít. Bắn xong nó rút rồi cho máy bay tới bỏ bom tan xác hết. Sau đó người ta gom xương thịt còn lại, đâu có biết của ai là của ai, cứ đào một cái hầm rồi bỏ xuống lấp đất lại gọi là Mã Chung. Hàng năm đến ngày thảm sát, người ta đem lễ vật và nhang đèn ra cúng vái. Nhưng chưa hết. Tụi Tây còn gom cả trăm con trâu lại rồi bắn hết. Dân xẻ lấy thịt lấy da, còn lại thì đào một cái hầm lớn vứt xuống, lấp đất lại, kên kên quà quạ. bay đến vần vũ đen cả một góc trời. Đó gọi là Mã Trâu.

– Ở Trảng Lớn có một hầm cơ quan gồm mười mấy người bị tụi Đại Hàn khui hầm. Tụi này ác hơn Mỹ anh ạ . Nó tìm được miệng hầm là tông lựu xuống chớ không có kêu Vi Xi như Mỹ để cho cán bộ giơ tay đầu hàng đâu! Tụi nó khui là kể như banh xác.

Tôi không muốn nghe chuyện buồn thảm nữa nên bảo thằng Đỏ kêu mấy cô cậu đến nhà bếp đánh tu-lơ-khơ chơi.

Đây là trò chơi của lính Ba Tàu. Cán bộ ta đi chỉnh huấn bên đó học được đem về bên này, rồi vào Nam đem theo luôn. Đơn vị, cơ quan nào cũng chơi. Có nơi gầy sòng đánh mê quá biệt kích tới không hay bị bắn chết hết.

Tôi sang chơi ít ván nhưng thấy nhiều cô cậu ngồi ngoài chực chờ nhảy vào, nên nhường cho họ mà về hầm nằm. Tôi tính đến chuyện rút lui cho đơn vị. Bây giờ khu giải phóng không rộng mênh mông như thời kháng chiến chống Pháp. Thời đó đi bộ tối ngày không đụng đồn bót. Riêng ở miền Tây thì có cả ba tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu giáp ranh với nhau tạo thành một căn cứ địa có lẽ còn rộng hơn Diên An ở bên Tàu. Bây giờ thì ngủ thức dậy thấy vùng giải phóng teo nhỏ lại như miếng da lừa. Củ Chi có mười lăm xã nhưng nó như một cơ thể mà mỗi khớp xương là một cái chốt đồn, tất cả gồm ba chục cái, ở trên ngực là tảng đá Đồng Dù và giữa rốn đóng lút cây cọc sắt Trung Hòa. Bộ đội nhân dân lao nhao lúc nhúc ở những vùng giải phóng hầu như bán khai, đi tới chuyện lui đụng đầu nhau lụp cụp. Đường vừa rộng thênh thang vừa ngột ngạt là địa đạo. Dù không ham chui, cuối cùng rồi cũng phải chui. Do đó tôi đã đi tìm ông xã đội Ba Xây để tìm cách làm cho địa mình thôn liền xã, xã liền thôn. Ba Xây là chủ nhà cho ông Năm Lê đóng cái hầm Đờ-cát-tri mà hôm nay tôi đến thường xuyên. Một hôm tôi gặp ông xã đội đi câu ở Rạch Sơn về. Tôi bèn gọi lại mua tôm cá của ông ta rồi tự giới thiệu luôn. Xong mới đề nghị phối hợp công tác độn thổ nghĩa là thông một trong mấy cái hầm cá trê của H6 ra địa đạo xã, cũng như rạch nhỏ chảy ra sông lớn, để tìm đường sinh lộ . Đến giờ này tôi cũng vẫn còn hơi tin rằng Địa đạo có bề dài… dài lắm và xuống dưới đó nằm vỗ bụng chơi, Mỹ có biết cũng không làm gì được. Có thể cho bộ đội dưỡng sức dưới tầng thứ ba vài tuần lễ…

Ông xã đội nói:

– Tôi còn được một khúc để tôi nói đồng chí nghe. Thấy đồng chí làm việc với ông Năm thường xuyên thì tôi biết đồng chí là người có trách nhiệm cao. Tôi không giấu giếm gì. Cái khúc còn lại đó tôi đã cho ông Năm thông nòng rồi, hễ bị kẹt thì từ hầm ông có thể bò ra đường chính. Nhưng nó ngắn lắm. Nằm đó chờ tình hình êm rồi bò ra chớ không đi xa, cũng không nằm lâu được.

Tôi gạn hỏi:

– Vậy không sang Phước Thành Phước Hiệp được à?

– Đồng chí nói gì?

– Tôi muốn nói là địa đạo xã nhà không ăn thông sang các xã bên cạnh được à?

– Ăn đâu mà ăn. Quân ngũ nào mà đào cho nổi bốn, năm cây số địa đạo. Hồi sau Đồng Khởi thì có đào, nhưng cũng đâu có được cây số nào? Hai xã An Nhơn và Nhuận Đức này đất cao và cứng nhất, muốn có nước uống phải đào mười một thước trở lên, nhưng đất pha đá ong, cuốc bổ nháng lửa chớ đâu có phải như đất mặt ruộng hay sao? Ai có đào một cái hầm bí mật thì mới biết địa đạo đào khó khăn dường nào. Đào một tấc hộc một búng máu chớ đâu có như ăn giỗ mà người ta bảo là địa đạo thôn liền thôn.:.. ờ ờ thôn liền thiệt đấy. Lâu lâu tôi cũng có nghe đài Giải phóng nói dữ quá tôi thấy hơi kỳ kỳ. Nhằm bữa hội nghị, tôi mở to ra cho ai nấy nghe chơi thì nhảy đè trúng y cái buổi phát thanh về dũng sĩ và địa đạo. Lại rủi hơn nữa có mặt tụi con Bảy Mô, Bảy Nê, Út Nhỡ, Ba Cấm ở đó . Có luôn Tư Gừng, Năm Cội anh hùng đánh xe tăng nữa. Tụi nó vừa nghe vừa bụm mặt, con Mô nó chạy ra ngoài. Nói thì nói vừa phải thôi, nói lố quá nghe hơi chổi lỗ tai. Mà không phải chỉ tụi dũng sĩ nghe thôi đâu. Còn đồng bào nữa chớ. Ở chỗ khác nghe tưởng thiệt, còn ở đây người ta cười chết! Như vụ con Bảy Mô được kêu là dũng sĩ toàn miền Nam. Thiệt ra tui biết nó có bắn sẻ đâu chừng vài chục phát CKC chớ đâu có chết thằng Mỹ nào. Giỏi lắm là bị thương một thằng Mỹ thôi. Nhưng nghe đài người ta tưởng đánh Mỹ dễ như ăn gỏi.

-Đó là lối tuyên truyền cách mạng đồng chí à! Cũng như ngoài Bắc đâu có bắn rớt hơn hai ngàn máy bay Mỹ, nhưng đài phải la lên trong các buổi phát thanh. Như vậy địch nó nghe nó mới sợ, mình nghe mình khoái.

– Địch nghe nó không sợ mà nó lại moi móc càng hung. Còn mình nghe minh không khoái mà lại mắc cỡ thấy bà. Tiên triền như vậy tụi con Bảy Mô nó hết dám nghe đài Giải phóng nữa. Còn bà con nghe rồi thì gặp tụi nó, bà con bảo: “Tụi bây giết Mỹ kiểu đó hổng có mấy tháng mà hết sạch tụi Đồng Dù.” Bác Tám Càn gặp tui, bác ghẹo: “Nghe tụi nó diệt Mỹ mà ham, tao cũng muốn môn dũng sĩ cái quá ngặt răng cỏ không còn.”

Tôi nói:

– Vừa rồi tôi có đào hầm với đội Út Nhỡ, tôi thấy phấn khởi lắm!

– Tụi nó đào ở đâu, tui biết mà. Tụi nó bị xe tăng càn tróc cho nên chạy lủi về bám ở vườn trúc ông Tư Ất chớ đâu, nhưng đào gặp xương Cao Đài rồi bỏ dỡ, hiện giờ chúng nó tính ra Đồng Mã. Nhưng ở Đồng Mã còn nhiều xương hơn nữa. Đã gọi Đồng Mã mà không hiểu đó là chỗ gì hay sao lại đi đào hầm đào hố. Mấy đứa con nít không biết gì hết. Tụi đó ham vui làm lếu vậy chớ có đào được khúc địa nào. Tụi nó còn xin chui của tôi nữa là khác. Để rồi coi, tụi nó lêu bêu, nếu có xe tăng càn, không có hang mà chui nữa là địa. Tụi nó nhảy cóc nhảy nhái vậy thôi. Tình hình mới hơi găng một chút xíu là đã có đứa lặn mất rồi. Găng chút nữa thì ông nội ai bới không ra một đứa cho mà coi.

– Bây giờ không xài địa nữa à đồng chí?

– Xài thì cũng ráng xài trong trường hợp kẹt lắm chớ còn bình thường thì thiệt ngán. Sau vụ B52 càn đường 15 và Láng Cát thì tụi tui dựng tóc gáy hết trọi trơn. Bom dùi cạn nhất cũng sáu thước, còn sâu thì mười thước, hỏi đồng chí hầm, địa nào chịu nổi? Trúng tệnh thì đã đành rồi, còn không trúng thì cũng bật nắp hoặc đội mồ lên mà chạy chớ ở đó kênh mình à ? – Ba Xây lắc đầu – Tụi B52 này hổng biết ở đâu tới vậy đồng chí?

– Ở bên đảo Gưam, Thái Lan.

– Bộ nó có mắt sao rắc ngay trân vậy? Nó rắc ngay kẽ giữa Đồng Dù và Trung Hòa, Trung Hòa và Cầu Xe, chỉ cách đồn một cây số.

– Nó có máy tính đồng chí à !

Ba Xây ngồi ngớ ra. Tôi thấy tội nghiệp người nông dân này hết sức. Anh đâu có biết Guam, Thái Lan là đâu, B52 là loại máy bay gì bay cao và nhanh cỡ nào. Cứ nghe ở trên bảo chống Mỹ là chống Mỹ . Đem cả súng ngựa trời hầm chông, chông ba lá ra chống xe tăng. Đem tóc đàn bà con gái ra giăng lưới cản nòng đại bác. Trong lúc đó bọn đĩ đực Hà Nội có cái tên rất huê mỹ Bộ Chính Trị thì chạy lăng xăng quanh mâm hút và tiệc đầu lâu. Vì dân Nam kỳ quá tin tưởng nơi bác Hồ nên bác xúi gì họ cắm đầu làm nấy, nói gì nghe nấy. Bảo đi tập kết hai năm thống nhất trở về . Đi ! Bảo lên rừng núi xây dựng nông trường xã nghĩa. Đi! Bảo quăng cuốc lội hai ngàn cây số Trường Sơn với hộp muối trong lưng. Đi ! Bảo đội bạt bom dành chiến thắng. Đội ! Bảo liều mạng đánh thành phố vào Tết Mậu Thân. Làm! Bảo cúi đầu làm nô lệ cho dân Bắc kỳ ! Ờ cúi thì cúi nhưng cúi hai, ba chục năm mỏi cổ quá, bây giờ ngẩng dậy đập thấy mẹ tụi mày.

Nhà Ba Xây đã cháy, cái nền cho Năm Lê làm hầm, vợ con đi ra ấp chiến lược còn mình thì bám trụ ở lại đi câu tôm câu cá kiếm ăn và làm xã đội chỉ huy ba đứa du kích phá phách hơn quỉ. Tôi hỏi vớt vát một câu cho mát ruột bồ nhà:

– Vậy tôi nghe nói hồi kháng chiến chống Pháp, địa đạo rộng có thể đưa dân làng và cả trâu bò xuống được, sao mình không sửa lại xài hoặc đào theo lối đó?

Ba Xây trợn mắt:

– Hồi đó ông già tôi là chủ tịch xã chớ ai. Ỏng kêu hàng xóm ráp đào dược mấy khúc. Tôi còn con nít nhưng cũng có xuống chơi một lần. Xuống dưới đó tôi ngộp, tôi khóc ré lên, ổng đẩy tôi lên liền.

-Còn người lớn không khóc à?

– Tôi hổng thấy người lớn nào xuống hết. Còn trâu bò thì làm sao mà xuống địa đạo? Nếu muốn đưa trâu bò xuống thì miệng địa đạo phải bằng nửa chiếc đệm hay sao? Cái phép làm miệng địa đạo là phải mở cho khéo và càng nhỏ càng tốt để ít bị phát hiện, làm to như vậy thằng đui cũng mò ra, vậy thì chui xuống là bị nó nắm đầu kéo lên hèn. Đây kìa, mấy đứa du kích đó , nam thì xuống tuốt nhưng nữ thì vú mớm vung nhẩy như vậy xuống bị kẹt ngang nhưng ráng chịu chớ đâu có ai làm nắp rộng đặc biệt cho tụi nó?

– Theo đồng chí trong quận mình xã nào dễ đào hầm và địa đạo nhất?

– Chỉ có vài xã như Phú Mỹ Hưng, An Phú, Phú Hòa, An Nhơn và Nhuận Đức thôi. Còn mấy xã kia đất thấp chỉ đào hầm chớ không chơi địa được. Nhưng ở đây, dầu có đào xong rồi cũng phải coi chừng coi đổi thường xuyên, nếu cứ bỏ hoang, đụng chuyện bất thình lính mà lao xuống có khi lại bị rắn cắn hoặc địa lở , sụp, bít hết, mình chui xuống là ngộp ngay.

Tôi hỏi:

– Rắn ở đâu mà có?

– Nó chui theo lỗ hơi đồng chí ơi. Có người bị rắn cắn chết luôn ở dưới, không tìm được. Mãi mấy tháng sau, người ta lại gần hầm, nghe thum thủm bèn giở nắp ra, mới biết. Giặc chưa đánh đã chết !

– Rồi làm sao?

– Thì cứ để vậy đắp nấm mả bên trên chớ quân ngũ nào mà đào móc lên cho nổi!

Tôi bèn ngồi xít lại, bẻ que cây vẽ sơ đồ dự kiến địa của H6 cho Ba Xây coi và hỏi:

– Cho tôi trổ ngách ra địa chính của đồng chí được không?

– Hồi trước thì tôi có mấy trăm thước địa công cộng ở rải rác khắp xã. Bây giờ đã sụp hết, chỉ còn mấy chục thước cá nhân thôi, tôi hiến cho ông Năm Lê rồi, có bề gì thì tôi chạy cà còng như thỏ rừng vậy.

Sau lần thương lượng với Ba Xây, tôi không tha thiết tới vụ địa nữa. Tôi biết y nói thiệt về tình trạng địa chung, còn địa cá nhân thì mở ngách ra làm gì. Đó chẳng khác nào vào nồi gọ chuột, gom lại đó để cho người ta dễ tóm. Ba Xây nói xong tôi mua tôm cá. Anh ra về.

Tôi ra đứng ngoài sân hóng gió cho mát một chút để sửa soạn xuống hầm mơ tiên. Giờ này là giờ cao điểm mà nghêu ngao trên mặt đất thì không có lợi. Không Đồng Dù thì Trung Hòa, không thì Bến Cát Lai Khê cũng giã gạo. Có khi nó giã chày đôi chày ba nhảy xuống hầm không kịp. Ba lần nhậu ở nhà Lụa Là, ở nhà bà ngoại và nhà Sáu Phấn đều bị giã hết cả .

Tôi vừa định độn thổ thì… Pháo sáng nổ lóe trên nền trời Bến Cát. Tôi quay lại, màn đen ở phía rừng Lộc Hưng lại vỡ ra, đó là bót Cầu Ván trên đường số 6 gần bót Cầu Xe, rồi pháo bông lại nổ dây chuyền liên tiếp ở Trung Hòa, Suối Cụt, Củ Chi và một dãy dài trên quốc lộ I, hình như có báo động. Cuối cùng là pháo Đồng Dù lên tiếng gầm về phía Hố Bò. Tôi thoáng nghĩ: không biết đám con chị Tám Khỏe và con Rớt có xuống hầm kịp không thì có bóng người chạy vụt tới nhủi vào mình tôi.

– Anh Hai !

– Ai vậy? Mười hả ? Em đi đâu mà bồng con nhỏ thế này.

– Xuống hầm mau để nó nện tới.

Người đàn bà vừa thở hổn hển vừa nói:

– Con Hoàn… nó đòi ra anh!

– Giờ cao điểm nguy hiểm lắm, sao đi vậy? Ơ kìa pháo sáng chỗ nào vậy Mười?

Mười đưa con cho tôi bế rồi nói: .

– Đó là Đức Hòa của Sư Đoàn 25 Sài gòn. Tụi đó hay thọc vô nhà em lắm.

Tôi bế bé đi xuống. Mười theo sau. Tôi bảo Mười ngồi trên thùng gỗ thông, để bé lên võng và ngồi xuống tấm ni-lông trải trên đống rơm thằng Đỏ mới quơ về. Căn hầm sơ sài còn nồng mùi đất mới, vách hầm lam nham, nhưng không khí bỗng nhiên ấm cúng lạ lùng: như một cặp vợ chồng với một đứa con bên ngọn đèn mờ.

Đôi mắt bé Hoàn đen lay láy hướng về tôi. Tôi chỉ làm quen với bé trong lúc ăn cơm ở nhà Sáu Phấn. Mười bảo nó tôi là ba nó, đi Phước Long mới về.

Mả Đà Sơn Cước, anh hùng tận
Phước Long ra đó, mấy ai về!

Lão Hồ tặc ác thật. Lão là tội phạm lớn nhất lịch sử. Lão giết không biết bao nhiêu người Việt Nam trong Cải cách ruộng đất, ở Trường Sơn, ở Mậu Thân, lão gây ra không biết bao nhiêu cành sanh ly tử biệt. Dân Việt Nam ngày nay tan nát nhếch nhác do chính cái tên thằng cha già hại dân tộc này. Mười là em vợ Sáu Phấn. Chồng Mười là trung đội trưởng, về Nam năm 60. Cưới Mười ngay khi về quê ở Tân Phú Trung gần quốc lộ I và Cầu Bông. Nhà chồng có máy xay lúa. Nhưng gia đình đông con nên Mười không làm dâu mà về ở bên quê mình.

Bé Hoàn còn nằm trong bụng mẹ thì cha đã trở ra chiến trường miền Trung. Bé lớn lên hỏi ba đâu. Mười bảo ba đi bộ đội. Bé hỏi bộ đội là cái gì? Mười không trả lời được.

Hồi chiều khi tôi tới nhà Sáu Phấn ăn bánh xèo, chỉ thấy Mười thấp thoáng mà đã mơ. Bé Hoàn hỏi ai vậy. Mười buột miệng bảo: “Ba con đó!” Một sự nói dối tàn nhẫn nhưng không đáng trách. Thế là bé Hoàn đeo tôi, gọi tôi bằng ba ngọt. Tôi cũng gọi nó là con với tất cả tình cảm của một thằng đàn ông ngoài ba mươi chưa có vợ. Hoàn đòi học. Tôi vẽ mấy chữ cho Hoàn đánh vần. Chữ gì thì chữ, không phải chữ Staline. Tôi lấy giấy bút và tập và có hình bìa ba cô gái Nam Trung Bắc của họa sĩ Lê Trung, dở trang đầu sỗ vài sỗ đứng rồi đưa cho Hoàn bảo làm theo. Mười vuốt đầu con:

– Viết đi con rồi ba khen giỏi.

Tội nghiệp cho cả ba người . Người mẹ nói gạt con. Thằng lính Lê Dương bất ngờ được nhận làm cha. Đứa bé gọi người lạ bằng cha. Cả ba đều tự nguyện. Thật là oái oăm.

Tôi càng thấm thía bài hát của nhạc sĩ Đức Quỳnh:

Xưa lúc đi lòng con đã quyết phân ly
Nay bởi đâu lòng con tưởng nhớ tới khi. . .

Đúng vậy. Khi còn trẻ thích đi cho xa nhà . Ngủ nhà người ta, ngủ ngoài bờ ngoài bụi cho có vẻ tráng sĩ. Nay mệt mỏi chán chường mới ân hận: Sao mình đi làm gì vào cái ngữ này.

Tôi thương con nít không chỉ là tính trời phú mà còn vì thèm kêu một tiếng con đúng nghĩa. Bé Rớt, bé Hà, bé Nga, đứa nào tôi cũng dạy được ít chữ rồi đi. Tôi đi đứa nào cũng ôm chân tôi mà khóc: “Cậu Hai chừng nào trở lại?” Tôi hứa sẽ trở lại nhưng chắc không bao giờ. Nếu tôi ở nhà thì Duyên đâu có đau khổ. Và chúng tôi đã có ít nhất hai, ba mặt con. Đứa lớn nhất đã mười tuổi. Nhưng vì đi lêu bêu theo ba cái cách mạng rỡm, chẳng đến đâu mà bây giờ không ngờ như cây trụi lá không hoa quả. Càng nghĩ càng thương má tôi vô cùng. Già rồi mà chưa có cháu nội đích tôn. Trẻ con khóc trẻ con cười, trẻ con học trẻ con chơi, bé gái bé trai, tất cả đối với tôi đều kỳ diệu. Tôi hỏi Mười:

– Sao đặt tên Hoàn?

– Ba nó đi hồi em có bầu ba tháng dặn đặt là Hoàn có nghĩa là ảnh hoàn hương, ảnh sẽ trở về.

-Rồi đứa tới là gì?

Mười ngồi làm thinh, mắt chớp chớp. Tôi thầm nghĩ: thằng này chọn vợ khéo thiệt. Đẹp như bức tranh. Ra đường ai nghĩ là đàn bà có con ! Bỗng nhiên nước mắt nàng chảy ròng ròng. Nàng đưa bàn tay lên quệt ngang, rồi cười ngượng:

– Đứa tới thì anh đặt.

– Bậy nào! – Tôi suýt nhảy dựng lên – Không thấy ông Hai Giả bị kẹt đó sao?

– Ổng có vợ, còn anh, em nghe anh Sáu nói …

– Nhưng chồng con em như vậy. Anh không muốn động tới hạnh phúc của đồng chí anh?

Mười không nói gì, đưa mấy ngón tay nhỏ xíu run run moi móc trong túi hồi lâu mà không lấy được vật gì ra. Bên ngoài pháo bông lẫn pháo tre Đồng Dù bắn như mừng đám cưới.

Mười đã móc được mẫu giấy cầm nơi tay. Môi nàng cắn lại nước mắt tuôn tràn. Lần này nàng không quệt nữa. Mười đưa cho tôi mẫu giấy.

– Anh xem bằng khen của em nè!

– Khen gì? Bộ em đã từng đi bộ đội. Dũng sĩ hả?

Mười cười như mếu, hít hít. Cặp môi xinh đẹp húp nước mắt.

– Anh đọc rồi biết.

Tôi dần dần mở tờ giấy ra. Nó chỉ bằng bàn tay. Chữ đánh máy, những chấm chấm đen dài dằng dặc, mấy chữ bằng mực nguyên tử. Tôi biết ngay. Không cần đọc. Đó là những chữ mang đến nỗi bất hạnh nhất cho một người đàn bà, cho một gia đình. Nó được sản xuất hàng loạt dưới thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nhưng gia đình những tên Lê Dương trên Trường Sơn không nhận được cả tờ giấy tệ hại này: Giấy báo tử. Tôi bàng hoàng cả người. Một người đàn bà xinh đẹp trẻ măng như thế lại mất chồng. Một đứa bé mất cha từ khi còn trong bụng mẹ. Tôi không còn biết nói gì. Nói gì?

Hình như Mười đã qua cơn khủng hoảng tinh thần. Nàng bình tỉnh trở lại:

– Em không cho ai biết, nhưng người ta vẫn biết. Em không lập bàn thờ, không đốt nhang, sợ con hỏi. Ảnh ra đi có ba tháng thì chết. Đâu ở Phước Long. Mấy ông xã ủy cũng tới lui nói dèm. Em không dám phản đối. Chỉ mặc đồ rách rưới, để mặt mày tèm lem, tóc tai bù xù. Khổ lắm anh ạ.

Tôi thấy một thứ tai nạn lại sắp xảy đến cho tôi. Làm sao tránh. Mà có nên tránh không?

– Em buồn lắm, nhưng không muốn về bên chồng vì sợ ba má ảnh bắt con Hoàn. Mất nó rồi, em sống với ai? – Mười nói liên miên như trong cơn mê – ảnh cũng đẹp người như anh vậy, nhưng chắc không có tài bằng anh. Anh!

Mười đứng dậy đến gần bên tôi, ngồi ngã đầu vào vai tôi. Bé Hoàn đã mệt mỏi gục đầu trên trang giấy viết dở. Tôi đỡ nó lên võng, rồi loay hoay không biết ngồi đứng ở đâu cho tiện.

Mười với tay lôi tôi ngồi lại chỗ cũ, thầm thì:

– Anh ! Anh đừng khinh em tội nghiệp nghe ! Em không phải như tụi dũng sĩ cười cợt giởn hớt và lang bang rồi đi phá thai đâu. Nếu em muốn, em chỉ cần ngoắc một cái, thiếu gì người chạy tới. Nhưng em không thương ai hết. Không hiểu tại sao em thương anh ngay. Có lẽ tại anh giống ba con Hoàn .

Nàng ôm và hôn tôi như mưa và thầm thì:

– Anh! Anh cho em xin một đứa con để con Hoàn có bề gì thì em khỏi trơ trọi. .

Ôi chiến tranh ! Ôi Tây Lương Nữ Quốc ! Biết chừng nào tôi mới thoát ra khỏi cái Củ Chi Quốc đầy góa phụ và con gái sợ chết, chỉ mong có con trước khi chết này?

Tôi đã cho nàng tất cả những gì nàng mong muốn. Với nàng tôi được biết cả tình yêu xác thịt lẫn tâm hồn: Tình vợ chồng.


Tiếng Sét Ái Tình và Tiếng Sấm Bom Đạn

Chương 52
Cái chết lãng xẹt của một đại úy pháo binh.

<
Tôi đi xe đạp lên ông Năm Lê để trình bày kế hoạch tác chiến. Lòng luôn luôn bị vương vấn bởi những cuộc tình bất ngờ. Vừa dứt đường tơ với Ua-Chia thì gặp Mô . Vừa tạm rời Mô thì lại rơi vào tay Mười. Mười có cái đẹp hồn nhiên, khỏe mạnh. Nàng không cần làm duyên mà cũng đã duyên dáng. Đứng trước nàng tôi luôn luôn lúng túng, còn khi vắng nàng thì tôi cứ bâng khuâng. Yêu thì đã yêu rồi, nhưng sẽ tiến tới hay chỉ làm con bướm mà thôi?

Lấy cớ là bé Hoàn đòi ra với ba, nàng đến cơ quan hầu như hằng ngày. Và tội nghiệp thay, con bé tin rằng tôi là ba của nó. Ác thật. Nhân viên cán bộ trong cơ quan cũng rất thương hai mẹ con nên để cho nàng ra vào tự do. Riêng Sáu Phấn thì cứ nói lơ lửng nhưng kỳ thật là y đốc vô để đứa chèo lái đứa chèo mũi cho vui.

Con đường dẫn đến hầm Đờ-Cát-Tri phải đi ngang cái xe nước mía . Cô xẩm bán nước đá bào năm ngoái đã cho Tư Linh mượn cuốn Buồn Nôn đã đi Trảng Bàng. Chợ An Nhơn không còn phố xá . Xe nước mía phải lui vào núp ở mé vườn. Chiếc xe còn đó nhưng người khác quay. Vẫn còn nước đá mua ngoài Trung Hòa đem về được. Hãy tưởng tượng giữa cảnh hoang tàn mà có một ly nước mía, có bỏ đá, và nguyên chất hơn ở Hà Nội ! Tôi gặp Bảy Mô lần đầu tiên ở chợ An Nhơn và lần vừa rồi ở đây. Hôm nay tôi lại qua đây nhưng lại không thấy bóng hồng thấp thoáng. Lòng man mác buồn. Ngã bịaCây Điệp càng nóng bức với những lỗ bom mới. Đó là mục tiêu của pháo và bom. Có lẽ bữa nay thời tiết được dự đoán không tốt lắm cho nên xe nước mía không xuất hiện. Do đó đường xá cũng vắng teo. Tôi thấy khát nên ngó quanh ai nhà vào xin nước. Ở trong vườn cây sầm uất thấy hiện ra một
mái ngói. Chắc còn người ở nên tạt vào thì thấy một ông bà đang ngồi trên ván giữa, chấm mút sầu riêng. Nhà không còn vách, bốn bên trống lổng trống lơ. Người đàn ông nghe tiếng chuông xe đạp tôi vừa bóp quay lại.

– Ê mày thằng quỉ!

– Anh Chín làm gì đây?

Tôi và Chín Lộc kêu lên cùng một lúc như tao ngộ chiến.

– Tình. cá nước hì hì, đập cẳng nhào lên làm vài miếng.

Tôi dựng xe đạp ở thềm đá ong rêu xanh lốm đốm, giống như ở nhà Bảy Mô, rồi đi vào ngồi lên ván. Bộ ván gõ thủng mấy lỗ đạn.. Tôi ngó lên nóc nhà: một vạt ngói bay trơ mấy thanh rui gãy.

– Vô ông Thần hả ! – Chín Lộc vừa nuốt vừa hỏi rồi giới thiệu luôn – Đây là bà chủ nhà tên là chị Hai Xót. Mày cần mấy cô dũng sĩ, cứ níu áo bà khu ủy có hết. Còn đây là trưởng ban H6 trai lơ cắt chỉ trăm phần trăm – Chín Lộc xổ luôn ra-phan – Mẹ , thằng Đồng Dù lấn đất ra quá ! Nổ ủi hết Cây Sộp, dám lấn qua bên này suối bà Cả Bảy lắm.

– Rồi mình làm sao?

Chín Lộc nhướng mắt sang bà khu ủy.

– Hỏi bà này ! Đạo quân tóc dài của bả may ra chận được xe tăng chớ tụi mình là đạo quân quần ngắn làm chi được. Bà mần lẹ lẹ đi để nó bắt hết phụ nữ rải phóng ra đó làm công cho nó rồi nó đem về Mỹ luôn đó. Bà có kiểm điểm xem đã mất bao nhiêu rồi chưa? Coi chừng tới phiên bà !

Bà khu ủy trừng mắt:

– Cái ông này vô duyên quá !

– Chớ không à ! Củ Chi này cung cấp nhân vật lực cho Mỹ xây dựng cái Đồng Dù chớ ai? Tội của bà lớn lắm! Còn bà Năm Đang nữa. Tối ngày vừa ngồi thum vừa gác máy bay.

Máy bay đâu mà gác? ở đây toàn xe bò với đuôi tôm, ai gác làm gì ba cái ngữ đó !

Chín Lộc cười rồi đưa cái hột sầu riêng lên vừa cạp vừa liếm:

– Buổi sáng mà bả đãi sầu riêng ăn xót ruột quá ! Còn gà giò gà mái gì không chị Hai?

– Còn, nhưng sang năm mới có !

– Sang năm thì Đồng Dù nó càn nhẹp hết cái Củ Chi này rồi, tụi tôi nhảy qua bên kia sông chị ở đây mà đấu tranh chánh trị với tụi nó.

Chín Lộc nghiêng đầu sang tôi, chớp chớp cặp mắt bù lạch ăn.

– Bả chê tao là xe bò, đuôi tôm của Bảy Hốt Hậu Cần mày biết hôn? Bả gác cả B52 Ba Đình, B26 Hai Phụng, B24 Năm Lê còn đuôi tôm Chín Lộc thì bả không thèm ngó. Nè, chị Hai, còn thằng thanh niên này chị cho nó là đuôi tôm hay xe bò ? Nó chưa . . .

Chị Hai Xót giơ cái vỏ sầu riêng lên vá vá:

– Mấy ông tối ngày cứ đi quanh hè bà Tư The với bà Tư Bánh Bò đâu có thấy ai.

Chín Lộc cười ré lên:

– Thấy chớ sao không chị Hai. Thấy cả chị lẫn chị Năm Đang. Thấy ưu điểm lẫn khuyết điểm của hai chị hết trơn hết trọi !

– Nói xầy hoài nên già khú không ai ưng! Xuống lỗ thành con ma chết thèm.

– Vậy chị còn gà vịt gì không, lâm đãi anh em tôi một bữa coi nào ! Vậy là chết không có thèm nữa.

Nói chuyện cù nhầy một lúc, Chín Lộc sang qua công tác :

– Ông Thần kêu mày vô phải không?

-Dạ.

– Không biết có chuyện gì mà ông sầm sầm cái mặt! Vừa gặp tao ông la hét om sòm. Hí hí ? Bộ mấy đứa con nuôi không chịu đấm lưng cho ổng chắc. Mày phải chuẩn bị kế hoạch cho tỉ mỉ, ông hỏi đâu phải nói đó cho xuôi ron rót, nếu ngắc ngứ là ông nện cho chạy không kịp.

– Tôi mới về có một tháng mà anh Chín.

– Ừ, ổng có khen mày giỏi, nhưng ổng muốn nhanh nhiều hơn nữa.

– Vậy tôi phải mọc thêm hai cái đầu bốn cánh tay nữa mới được.

– Thôi mày ơi, mọc thêm đầu thì kiểm thảo thêm tốn giấy chớ làm gì.

Hai Xót lại cự nự.

– Ông thì lúc nào cũng nói bá xàm!

Chín Lộc lôi tôi ra ngoài:

– Vụ thằng em mày ăn chắc rồi. Tao cho bắt mối xuya lắm. Hễ ngoéo vô được là mình làm một cú binh biến kiểu Bình Dương. Mày sẽ trở thành anh hùng lần thứ hai. Còn tao thì cứ tiếp tục bị chị Hai bày chẻ chê là xe bò lụp cụp. Kệ nó, miễn có thầu giêng gặm thì thôi!

Hai Xót đứng trên thềm nghe được dẫu mồm ra:

– Bộ lén vạch khuyết điểm của tôi đó hả ông?

– Tụi tôi bàn việc ủng hộ công tác đấu tranh chánh trị của bà chớ đâu có vạch cá i gì . . . khuyết của bà .

Chị Hai Xót có chồng cán bộ thời chín năm. Sau Hòa Bình bị chính quyền bắt Tố Cộng. ông ta bị ghép vào luật 10/59, đưa ra Côn Đảo tới nay mười năm không có tin tức. Chị ở nhà tham gia giải phóng và được đưa lên tới chức Khu ủy viên, cùng một ca-líp với Út Tức. Đứng về mặt Đảng thì trên cả Chín Lộc lẫn Năm Lê.

Hội ý xong, tôi và Chín Lộc trở vào nhà. Chị Hai hỏi tôi:

– Anh đi ấp Bến Mương trong hay đi Bến Mương ngoài?

– Dạ , em đi hướng đó .

– Trả dạ, trả em cho anh đó. Xưng hô vậy tội chết!

Chín Lộc cười khé khé:

– 1 Chị Hai mới có bốn mươi mấy thôi mày nhỏ, nhưng chỉ chê tao ngoài năm mươi, chỉ muốn làm em bé thôi. Hé hé ! cũng được, mày cứ kêu chỉ bằng em như em Bảy Mô, em Ba Cấm, em Bảy Nê vậy !

Rồi trở lại chuyện Bến Mương.

– Nó không thích Bến Mương trong hay Bến Mương ngoài, mà nó chỉ thích Gò Nổi.

– Gò Nổi gần Trung Hòa, ra đó có mà ăn biệt kích hả.

– Bà nội đó là Gò Nổi trên. Còn đây là nó đi Gò Nổi dưới . Hô hô . . . hô !

Chín Lộc vừa bụm miệng cười như cà nông nghẹt họng.

– Gò Nổi dưới thì ở xa Gò Nổi chên nhưng hai cái gò này có niên quan với nhâu ghê gớm. Hễ biệt kích rà vô Gò Nổi trên thì rừng Gò Nổi dưới phải chuyển động mà hễ đụng Gò Nổi dưới thì Gò Nổi trên cũng rung rinh vì giữa hai gò này có địa đạo.

Bà Khu ủy viên vốn tối dạ như những đồng chí của bà, đứng ngớ ra không hiểu cái ông mắt toét này nói theo kiểu ẩn ý. Một lát mới chạy tới đập Chín Lộc lia lịa:

– Cái ông già không nên nết.

Rồi chị quay qua tôi:

– Anh Hai đi Bến Mương cho em quá giang chút được không?

– Được niền hả anh đội? Ngồi lên anh đội nai cho đi. Anh đội còn khỏe lắm. Ba ván niền không bỏ ván nào.

– Ván gì? Ván gõ hay ván dầu?

– Ván tu lơ khơ ấy mà !

Tôi biết đây là đồng chí cốt cán của Chín Lộc nên ngần ngại không muốn liên hệ, nhưng Chín Lộc xuề xòa:

– Ở đời muôn sự của chung mày Thiên Lôi ơi ! Mày đèo bả đi một bước đàng mày sẽ học được một sàng khôn cho mày coi.

Thế là tôi đèo bà Khu ủy viên đi như bay. Để bà chị khỏi ngại ngùng tôi bảo cứ ôm eo ếch tôi cho khỏi ngã. Được đàn bà mó tới da thịt, đàn ông nào lại không run. Chị Hai Khu ủy mặc áo ni-lông màu hường, tê-tô-rông móng khé, thấy cả quai và hai cái núm xú-chen. Quần Mỹ A láng mướt, tay xách giỏ (chắc có K54 ở dưới đáy, nhưng không có trầu như bà trên kia), tay xỏ quai nón lá buông trắng như nón bài thơ, chị phải dồn hai vật này qua một tay để một tay móc ruột móc gan ông thầy pháo. Chị Hai hỏi ngay:

-Anh Hai vào trong này chắc bỏ chị hĩm ngoài Bắc hả?

Chị dùng ngôn ngữ miền Bắc do mấy ông mùa thu mang về.

– Tôi đâu có chị hĩm chị cò gì!

– Ở ngoải cả chục năm mà không bị rau muống quấn chưn sao?

– Ở lại một năm nữa chắc không tránh khỏi, chị Hai à. .

– Anh Hai đừng kêu vậy tội chết! Kêu bằng em đi! Chịu hôn?

– Dạ. .

– Nữa ! Dạ thưa hoài. Mất thân mật hết.

Chị càng siết chặt bụng tôi và hỏi tiếp. .

– Về trong này móc gia đình chưa?

– Chưa chị, ủa, chưa em à !

Tôi nghe cặp môi tôi như bị đóng băng cứng ngắt hoặc vừa áp vào một vành cốc quá nóng, không biết lẽ nào.

– Sao trễ vậy?

– Tôi cái gì cũng trễ hết.

– Chưa trễ đâu. Có nhắm nơi nào chưa, để em giúp đỡ?

Nghe tiếng em thốt ra từ miệng bà gái già, tôi cóng chưn, đạp sượng ngắt.

-Công tác mê mê bù đầu bù óc, tình hình càng lúc càng căng thẳng, còn thì giờ đâu mà tính chuyện?

– Vậy người ta đó, anh không thấy sao? Đã có rồi còn kiếm thêm. Anh sao hiền vậy?

Bà nội Khu ủy ơi ! thằng Thiên Lôi này mà hiền thì ai mới dữ? Nghĩ vậy, tôi cười thầm và không nói gì hết. Chị Hai càng xốc tới

– Cần thì em làm mối cho.

– Ở đâu?

– Có người nghe tiếng anh lâu rồi, người đó thương anh nữa.

– Ai vậy?

– Em không nói đâu.

– Thương thằng Thiên Lôi này thì chỉ có khổ thôi.

– Khổ gì mà khổ?

– Vậy không thấy con Mười, con Tám Mang, bà The, má con Ua góa chồng vì chiến tranh đó sao?

Hai Xót thở dài, hơi thở dường như chạm tới lá phổi của tôi. Chiếc xe chở quá độ nghiến ken két, khua cọc cạch, nhưng tôi cố đạp như đèo thêm một khối tâm tư của người đàn bà đau khổ theo với mình. Tôi không nỡ động tới nên nói lảng sang chuyện khác:

– Lâu nay vấn đề đấu tranh chính trị ra sao chị ủa, em?

– Vấn đề ba mũi giáp công, coi như tà hết cái mũi của em thôi!

Tôi suýt bật cười. Nếu lão mắt toét có ở đây, lão sẽ chộp lấy và nói ngay: cái mũi của bà thì phải tà chớ nhọn với ai được mà nhọn? Tôi hỏi:

– Quân đầu tóc còn lại bao nhiêu?

Chị Hai rút tay ra đập trên lưng tôi một cách thân ái.

– Còn một quân một tướng đây thôi !

– Tôi nghe nói bà ngoại con Chia rất anh dũng mà !

– Anh cũng biết chuyện đó nữa?

-Tôi ở nhà đó với ông Chín Lộc trước khi lên đây.

– Ai nói với anh vụ bà ngoại đó đấu tranh chính trị vậy?

– Con Ua .

– Ừ, nó nói thì đúng. Nó hay tía lia nhưng nó không nói láo. Bà già bể rồi. Bắt đầu từ cái lần bả bị vẽ khẩu hiệu trên lưng và bỏ lên xe chở đó mười cây số cho lội bộ về , tôi không động viên bả nổi nữa.

– Còn chị Năm Cầu Xe.

– Bà đó đâu còn nữa. Khổ quá. Bây giờ đài giải phóng vẫn cứ nói oang oang, làm như bả còn sống vậy.

– Rồi bây giờ ở trên tính sao?

– Em đâu có bắt ai được. Quân tướng cũng một mình em đây thôi.

Đến chỗ lộ đứt ngang vì hố bom đìa tôi xuống xe. Ai ném một thân cây tre đòn tay nhà bắc cầu. Tôi vác chiếc xe qua đứng chờ. Bà khu ủy cứ lựng khựng không chịu đi. Đây là kế trá hàng của bà Út Tân Biên truyền lại chắc. Tội nghiệp những người đàn bà được Đảng đưa lên mây xanh, nhưng dưới chân lại không có đất. Tôi buông xe và trở qua đưa tay cho chị Hai. Chị nắm lấy chắc cứng khi qua gần tới bên kia thì chị lủi đại vào mình tôi mà la oai oái làm như tiểu thơ nhỏ lớn chưa đi cầu tre.

Đến ngã ba gần xóm trại bà Huệ tôi thả chị xuống và đạp thẳng. Chị còn nói với theo, tôi nghe văng vẳng, nên vung tay lại sau vẫy vẫy hai ba cái. Nói cho ngay, tôi không có hiền như chị Hai tưởng, nhưng tôi không muốn đụng chạm tới ông Bắc Kỳ xâm lược đang nắm dây cương của bà.

Tôi đến hầm Đờ-Cát dễ dàng vì lúc nào cũng có sẵn kẹo thuốc để lo lót các em bảo vệ. Tám Nghi trông càng thiểu não: mặt dài ra như mặt lừa, tay nghều ngào ốm nhom như tay vượn, tóc tai như tổ quạ. Nghi bảo:

– Tao suýt đứt thở.

– Sao vậy?

– Không biết tại sao thở không ra hơi. Tụi nó phải làm hô hấp nhân tạo.

– Ổng đâu?

– Vừa mới la mấy thằng Quân lực.

– Sao la?

– Có mấy thằng nhải rau muống dông ra Sài gòn qua ngã Cầu Bông mà tụi nó không hay.

-Bao lâu rồi?

– Cả tháng nay. Đơn vị không báo cáo thì Quân Lực làm sao nắm được? Nó ra, nó lên Ti vi lên đài Sài gòn nói oang oang, đồng bào ở ấp chiến lược nhận diện được. Chả là lúc trước chúng nó ra đó mua gạo do cơ sở mình tổ chức.

– Bỏ mẹ chưa ?!

– Ổng muốn dời đi nhưng không còn chỗ nào yên ổn! Ba Xây đang chạy tìm cứ mới. Thôi, vô đi.

– Con Hiền đâu không thấy ra đòi kẹo?

Tám Nghi rỉ tai tôi. Tôi kêu lên khe khẽ:

– Thì vậy thôi. Chơi trò đó thì chạy trời không khỏi nắng

Trái hẳn với dự định của tôi, Thần Núi không la ó với tôi. Ông ta đang ngồi trước dĩa chuối chín và lột cắn từng miếng. Thấy tôi vào, ông ta trỏ tay:

– Ngồi đó mày. Ăn vài trái rồi sẽ làm việc.

Tôi vừa ngồi xuống chiếc ghế hôm nọ vừa nói:

– Hôm nay tôi trình bày và thỉnh thị ý kiến anh về đồ án tác chiến đối với điểm A và điểm B (tức là Đồng Dù và Trung Hòa).Và đề án phối hợp với quận đội Củ Chi để huấn luyện cối cho du kích..

-Tổ chức vậy là ổn chưa?

– Dạ tương đối, nhưng cần thêm nhân sự chiến đấu lại thiếu. Mấy khẩu đội DKZ xộc xệch quá.

– Không đánh được à?

– Dạ phải dồn hai thành một. Thiếu nhất là bộ phận quan trắc Không có cả máy ngắm, máy đo thì không cách nào bắn được. Còn bộ phận trinh sát thì phải tìm ra cho được vị trí sân bay, kho đạn, trại lính hoặc những bộ phận quan trọng để làm mục tiêu. Diện tích của nó rộng lắm anh à . Bắn một vài quả không nhằm gì.

Thầu Núi gật đầu lia:

– Phải! Hễ bắn là phải trúng chỗ độc. Cõng một viên đạn vô tới đây không để ? Cậu định làm gì đâu nói miệng tôi nghe, khoan trình giấy tờ.

Tôi nói ngay:

– Trước nhất tôi đã cho một trung đội trinh sát đó chuẩn bị tọa độ cối ở hai xã Phú Hòa Đông và Nhuận Đức để tập kích bọn Đồng Dù, một trung đội đi An Nhơn và Trung Lập Thượng để chuẩn bị pháo kích tụi Trung Hòa. Chuẩn bị phần tử đo đạc xong các trận địa cối tôi sẽ cho trinh sát lập hệ thống tọa độ trên toàn quận Củ Chi và Trảng Bàng, hễ nó đỗ quân cụm lại ban đêm thì mình nện tiếp!

Năm Lê lắng nghe, gật gù tán thưởng, bất thần cắt ngay:

– Chừng nào thì đánh được? Hai Giả cũng đã từng hứa với tôi, nhưng chẳng bao giờ xong cả. Cậu đã có những gì trong tay?

– Dạ pháo phiếc phải móc lên lau chùi, đạn không biết có biến chất không? Anh biết ở ngoài đó, đạn pháo phải bảo quản như thế nào, còn vô đây cứ chôn trong rừng, mưa nắng…

– Tôi biết, tôi biết. . . – Năm Lê cắt ngang – Nhưng ở trên không đếm xĩa những chuyện đó cho chúng ta. Họ cứ tưởng bắn pháo như trẻ con chơi ống thụt bố vậy, cứ nện đại,. nổ cũng được lép cũng chẳng sao. Họ có biết đâu một viên DKZ tịt, nổ trong lòng chết cả khẩu đội. Ông Ba Đình biết chút đỉnh về pháo còn ông Chánh ủy Tư Trường thì chỉ biết làm nghị quyết số 1 số 2 thôi. ông ta tưởng cứ vác pháo ra bắn là ăn gọn.

Tôi biết khả năng của Năm Lê từ trước. Ông có tài tham mưu. Trận hạ tàu rà mìn Loubert trên sông Lòng Tảo năm 1949 là do sáng kiến của Năm Lê neo thủy lôi giữa sông mà tàu không rà được, ngoài ra ông còn có sáng kiến vẽ mẫu cho Binh Công Xưởng làm FTI, FT2 tức bộc phá úp vào tường đánh tháp canh trên các trục lộ. Do đó mà ông Trà rút Năm Lê về làm tham mưu trưởng Trung Đoàn chủ lực Đồng Nai. Ra Bắc ông làm Tổng Tham Mưu phó muốn Năm Lê làm bí thư riêng nhưng Năm Lê không thích nghề xách cạc-táp lót tót chạy theo đít ông tướng, nên được cho đi Trung Quốc học pháo binh rồi về làm Trung Đoàn trướng pháo binh sư đoàn 330 của Đồng văn Cống. Tư lệnh pháo binh của sư đoàn này là Lương văn Nho, khi về Nam làm Tư lệnh Pháo Binh R lấy tên Hai Nhã, kẻ đã từng đấm lưng bộ binh nhà kha khá các trận Đồng Xoài Bình Giã mà tôi đã kể ở quyển trước trong đoạn gặp các viên chỉ huy về học chỉnh huấn ở trường Trung Sơ. Năm Lê dưới quyền Hai Nhã, nhưng lại không phục tài Hai Nhã, nay về đây làm tham mưu trưởng quân khu,thoát khỏi sự dốt nát của Hai Nhã , ông tha hồ tung hoành. Ông chỉ nể Ba Đình còn Hai Phụng, tư lệnh thì ông cho là dốt quân sự.

Tôi thiếu tất cả khí tài, nhưng phác đại một chương trình có tính cách rất pháo binh để tránh sự la ó của ông ta, kỳ thực còn lâu mới làm được. Bất thần ông ta nói:

– Thật ra trách Hai Giã cũng tội nghiệp. Tình hình này bố thằng nào cũng không làm gì được. Tôi biết khả năng pháo của cậu hơn Hai Giã nhưng muốn làm nổi đình nổi đám cũng khó lắm.

Năm Lê nhíu cặp chân mày sâu róm:

– Tôi không hiểu người ta định làm cái gì mà đem cối 120 ly kéo bằng xe xích về chiến trường này? Định đem thứ đó về hù ba thằng Mỹ à?…

Sợ ông đổ quạu với tôi, tôi trình bày tiếp.

– Hiện giờ tôi có 18 khẩu cối 82 để thay thế cho cối 81 và 120 mà R đã cấp cho từ thời ông Hai Phụng nhưng đạn thì yếu quá.

Tôi không nói đủ nghĩa: ít và xấu.

– Yếu nghĩa là sao?

– Dạ, còn ít quá.

– Yếu cũng có nghĩa là liều lượng trải qua mưa nắng bảo quản kém không còn đủ sức tống nữa cậu biết không?

– Dạ biết, nhưng làm sao với hoàn cảnh của mình bây giờ anh Năm?

– Cậu thấy pháo nó bắn không? Nổ sát vách đồn một trăm thước.

– Dạ ở trên chợ Long Hoa B kìa mới ớn anh Năm! Bên Chợ Cũ nó bắn tan tành. Cách đó một trăm thước là Chợ Mới không một lá cây rụng.

– Không phải mình tồi mà vì không có phương tiện.

– Tôi có dự kiến huấn luyện du kích sử dụng pháo…

– Úi cha chà… cậu tính làm cái món pháo binh nhân dân chớ gì? Được lắm! Nhưng cũng ngại lắm. Du kích không có khái niệm rõ về vũ khí hiện đại. Giao cho họ có thể họ làm ăn được nhưng cũng có thể họ táy máy gây tai nạn trước khi đánh địch. Nhưng không có chó phải bắt mèo… chớ sao.

Năm Lê vùng đứng dậy đi vào ngách nhỏ rồi trở ra ném lên bàn một quyển sách. Tôi liếc thấy Les Tunnels de Cu Chi. Năm Lê hất hàm:

– Tác phẩm của cậu và thằng Tư Linh đó ! Giở ra xem.

Tôi cầm quyển sách lên lật ra mấy tờ đã muốn té ngửa. Hình và tựa bài nói về các nữ dũng sĩ diệt Mỹ , địa đạo chiến và các cuộc đấu tranh chính trị mà nhà báo quốc tế đã chộp được hồi năm ngoái do sự dàn cảnh của tôi và ông phó ban Địch vận Tư Unh. Tôi nghe rung rinh tận tâm linh. Bỏ mẹ rồi. Sự nói láo của mình đã bay ra thế giới. Tôi vẫn biết trước sự thể này sẽ xảy ra, nếu ở một nơi mà tôi không biết thì chẳng ăn thua gì, ví như một kẻ ném một mồi lửa rồi vụt chạy không muốn thấy đám cháy do mình gây nên, thì dù đám cháy đó có to thế mấy cũng chẳng hề gì. Nhưng bây giờ tôi thấy cái đám cháy đó ở ngay trước mặt tôi, trên bàn: quyển sách bằng Pháp văn, in ở bên Pháp.

– Nói láo thế này có bỏ mẹ không kia chớ. Tụi bây ẩu thiệt! Đây rồi quốc tế nó tin bằng thật, nó ùn ùn kéo tới đây xin quay phim lòng địa đạo, nào chỗ nghỉ quân, nào chợ búa, nào bệnh viện, nào tầng thứ ba thì mình mới làm sao?

– Ở đâu anh chôm được cuốn sách này vậy?

– Chín Lộc mua ngoài Sài gòn.

Tôi nói:

– Tụi nó dí mình vào cái thế phải làm thế anh ạ !

– Thì cũng tại mình khua dao khua thớt mạnh quá đi cho nên chúng nó tưởng có đám to. Đọc cuốn này tao rùng mình rởn ốc! Địa đạo tầng thứ ba! Trời đất quỷ thần! Thằng nhà báo này cho cái địa đạo Củ Chi là bố của Thượng Cam Lĩnh và Maginot – Năm Lê trợn mắt – thật đấy mà . Thượng Cam Lĩnh chỉ là chiến hào thủ công nghiệp thôi. Còn chiến lũy Maginot mới đúng là phòng tuyến đào dưới đất.

Năm Lê chấm ngón tay vô cốc trà rồi vẽ lên mặt bàn:

– Để tao nói về cái Maginot cho mày nghe. Hồi đó tụi Tây nó dạy cho lính mà. Đó là một sự tự hào lớn của người Pháp. Nó nằm dọc theo sông Rhin giữa Đức và Pháp. Mày có học lịch sử nước Pháp mày biết mà. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, mày nhớ Maréchal Foch, Maréchal Joffres chớ? Hồi nhỏ tao khoái hai ông này dữ. Chiến lũy Maginot lập nên là để đề phòng quân Đức tràn qua sông Rhin chiếm nước Pháp. Ghê lắm! Trên mặt đất có pháo đài bê-tông cốt sắt, hầm hố, dây chì gai, cọc trụ xây dựng bằng máy móc chớ đâu phải bằng sức người. Còn ở dưới đất thì một hệ thống đường hầm cho xe vận tải, hầm chứa xe tăng, và cả hầm chứa máy bay nữa !

– Ghê vậy sao anh?

– Nó đào đất bằng máy chớ phải bằng cuốc chim như mày đào với tụi con Bảy Nê sao mậy! Đây, tao kể cho mày nghe rõ từng chi tiết một: nó có cả hệ thống giao thông, rạp chiếu bóng, nơi giải trí, nhà thương, kho lương thực, ga-ra, và nơi đồn trú quân lính. Một cửa ngõ thông ra phía sau. Từ đó có thể người và xe cộ ra vào thông thương với hậu phương. Có hệ thống điện thoại, truyền tin và hệ thống máy điều hòa không khí nữa. Mày biết nó có mấy tầng không?

– Mấy tầng anh?

– Bảy, tám tầng gì đó tao quên rồi.

– Sao nó làm được vậy?

– Trước nhất nó là đất núi . Kế đó nó làm bằng máy móc. Bên trong nó có trụ bằng bê-tông để chống đỡ cho khỏi sụp. Tóm lại xuống phần dưới của chiến lũy Maginot mày sẽ không biết mày ở dưới đất mà mày tưởng mày đang đi vào một thành phố. Đó là phía bên Pháp. Còn phía Đức nó cũng xây một hệ thống địa đạo đối diện như thế để chống Pháp. Pháp chẳng ngờ rằng đó chỉ là một sự dọa mà không đánh để thu hút sự chú ý của đối phương. Đùng một cái vào tháng 6 năm 1940, quân Đức tiến qua nước Bỉ và đánh vào nước Pháp trên đầu phía Bắc chiến lũy Maginot và trong 3 tuần lễ bọc hậu nó. Quân Pháp không ngờ nên trở tay không kịp. Hơn nữa, quân Đức đã vào cả nước Pháp bằng cửa ngõ Belgique.. Đó là một nghệ thuật chiến tranh.

Nhà quân sự ngồi im. ông rót trà uống hai ba chung liền,chép miệng to và nói:

– Bất ngờ là một nghệ thuật tấn côngl Trở lại địa đạo Củ Chi của thằng nhà báo này, mày thấy nó có thua gì chiến lũy Maginot. Sợ còn hơn. Vì chiến lũy Maginot không dài đến 250 cây số, như địa đạo của nó. Còn tuyệt sắc hơn nữa là địa đạo Củ Chi ăn xuyên dưới đít Đồng Dù để ông Phạm Sang biểu diễn đờn cò cho giải phóng quân nghe trong khi Bob Hope làm trò cho lính Mỹ xem trên Đồng Dù. Đụ bà thằng chó đẻ này hại mình. Mày biết ngoài cái hại nói láo khắp thế giới, nó còn làm cho Mỹ hăng tiết rắc B52 !- Năm Lê trợn mắt – Mày phải biết là Mỹ nó chở bữa ăn cho một sĩ quan của nó bằng một chuyến trực thăng. Một thằng lính Mỹ chết nó đưa về tận Mỹ chôn cất với lễ nghi quân cách đầy đủ chớ không phải chết như lính mình trên Trường Sơn. Cho nên nó mà đọc quyển sách của tên nhà báo bất lương này, nó tưởng thật, nếu trước đây nó đánh mình một bây giờ nó đánh mười. Vì địa đạo Củ Chi ghê gớm hơn cả Maginot thì nó phải diệt sớm, nếu không nó sẽ bị mình diệt. Trong nghệ thuật chiến tranh kim cổ, mày còn lạ gì cái lối tấn công để phòng ngự, phòng ngự đơn thuần là bị tấn công.

Năm Lê tự cắt ngang câu chuyện đang hào hứng:

– Thôi được rồi, mày cứ làm. Tao sẽ giúp cho. Còn cái món pháo binh nhân dân theo kiểu công xã nhân dân mà tao thấy bên Trung Quốc cũng hay lắm nhưng cũng dở lắm. Rất khó xơi

Tôi đứng dậy nai nịt súng.và các thứ lỉnh kỉnh vào lưng định chào từ giã anh thì anh giơ chân trỏ vào góc hầm bảo:

– Cầm cái xắc-cốt đó về !

– Của ai vậy anh?

– Quận đội Thủ Đức báo về nó và thằng Ba Thanh trợ lý tham mưa bị tụi Phượng Hoàng mách tinh Đại Hàn khui hầm, tong lựu đạn. Đù mẹ, mấy thằng tổ chức giết con người ta !

Tôi lặng lẽ bước lại góc hầm nhặt cái sắt cốt của thằng đồng chí, thu quai ngắn lại xách tay chứ không quàng vào vai rồi đi ra. Tôi biết nó là của ai. Đại Hàn khui hầm tong lựu đạn – Mấy tiếng đó văng vẳng bên tai tôi.- Đù mẹ . mấy thằng tổ chức! Chuyện chẳng đáng gì mà làm dằng vặt đến chết tươi một đại úy pháo binh. Lãng xẹt.

Tôi ló ra khỏi miệng hầm. Không biết hoàng hôn hay bình minh nữa. Nắng héo hắt khô khan rơi từng mảng trên mặt đất lùi xùi. Trong đầu tôi hiện lên hai người đàn bà và một lũ trẻ con đầu chít khăn tang. Và đứa bé còn trong bụng mẹ. Nó sẽ ra đời mà không biết mặt cha.

– Đù mẹ …. mấy thằng tổ chức !

Tôi nhớ hồi thời chín năm một chiến sĩ hi sinh, cả làng thương tiếc làm lễ truy điệu hết sức cung kính. Bây giờ chiến sĩ cán bộ chết như chó . Cơ quan không làm gì được, còn nhân dân thì ớn quá trời. Ngày nào cũng chết. Trường hợp này, nếu đem ra truy điệu thì sẽ có một ngàn luồng dư luận khác nhau và nó sẽ làm cho cán bộ chiến sĩ mất tinh thần. Tôi đang đạp xe, sực nhớ cái xắc-côt rất quen thuộc vùng này, bà con tinh ý lắm, thấy nó máng tòng teng ở ghi đông, sẽ hỏi ngay. Tôi bèn ngừng xe, lấy tấm ni lông bọc nó lại và buộc vào poọc-ba-ga. Về đến nhà thì gặp Sáu Phấn. Tôi ngoắc y ra ngoài. Y nói ngay:

– Con bé Hoàn nó mến ông quá đó ông thầy. Hì hì… thương con mà bỏ mẹ hay sao?

Tôi gạt ngang:

– Thôi đi cha nội! Mình đang gặp rắc rối đây.

– Rắc rối gì? Ông chưa vợ, còn chồng nó chết rồi.

– Không! Cái H6 mình đây nè.

– Bộ ông Thần Núi sạc cà-rây cái gì hả?

Hai Giả leo bàn thờ rồi .

– Hả ?

Sáu Phấn há hốc mồm, tay chụp gốc cây. Hồi lâu mới hỏi:

– Tin ở đâu vậy?

– Thì trong ổng chớ đâu. Dưới Thủ Đức báo về . Tụi Đại Hàn khui hầm và ném lựu đạn.

Sáu Phấn ngồi nhếch xuống gốc cây, lảm nhảm chửi thề một dây rồi nói:

-Tụi Đại Hàn ác hơn Mỹ. Khui được miệng hầm là nó tong lựu đạn, còn Mỹ thì kêu lên đầu hàng, chừng nào mình không lên nó mới làm tới! Bây giờ biết xác đâu mà tìm. Khổ quá! Đưa con người ta vào chỗ chết vô lý như vậy. Ảnh chỉ thua thầy thôi chớ quân khu này có ai hiểu biết pháo hơn ảnh đâu. Đù mẹ ba thằng quận đội chó má. Chúng nó có hầm riêng. Ở trên này mình xuống, chúng nhét vô mấy cái hầm bể miệng như lỗ đĩ , thằng đui nào không thấy? Tôi đã dặn ảnh rồi, nhưng ảnh không có kinh nghiệm sống ở vùng xôi đậu.

– Lúc quýnh thì người ta bảo chui đâu chui đó, chớ biết ở giữa Thủ Đức Dĩ An, biệt kích, Phượng Hoàng, gián điệp chìm nổi như rươi. Tụi nó đãi bia mình uống xong rồi nó đi mách cho cảnh sát, chánh quyền. Mình đi xuống đó mang súng ngắn lú ra khói áo là không khỏi mắt tụi nó đâu.

– Bây giờ làm sao?

– Ai biết làm sao bây giờ. Phải giấu nhẹm đừng cho hai bả biết. Bà ở Hóc Môn thì nhẹm được, còn bà trên này làm sao? Thế nào rồi tin này cũng xì ra.

– Tới đâu hay tới đó ! Hay là ông đi cho bả hay ! Được không? Chớ giấu giếm coi kỳ quá ông ạ !

– Ông đi đi ! Tôi không sợ gì. Bom đạn còn không sợ chín năm. Trường Sơn không ngán. B52 cũng coi thường, nhưng sợ là sợ giọt nước mắt của người đàn bà mất chồng. Và lần này là lần thứ… ông chưa có vợ, chắc ông không hiểu nổi giọt nước mắt đó đâu.

Đây là lần thứ nhất tôi nghe thằng bạn lớn hơn tôi một con giáp, gốc nông dân, nói văn hoa. Tôi đáp:

– Tuy tôi chưa có vợ, nhưng tôi vẫn hiểu ông à . Việc con bé Hoàn tưởng tôi là ba nó và đeo tôi làm cho tôi vui nhưng cũng đau buốt tâm can ông ơi. Về Củ Chi này tôi gặp vô số đàn bà góa trẻ măng. Chồng chết ở Bình Giả, Đồng Xoài, Phước Long, Mã Đà. Má con Hoàn mới có hai mươi hai tuổi. Có chồng không được ở bên chồng hơn một tháng, rồi con ra đời không biết mặt cha. Bây giờ tới vợ ông Giả.

– Vợ tôi cũng đang có bầu ông ạ ! Ráng chút nữa ẵm con rồi hãy lên bàn thờ. Bốn mươi ngoài rồi còn mong gì hơn. Ông lo cái thân ông gấp gấp đó. Tôi nói thiệt đấy mà!

Sáu Phấn rưng rưng nước mắt rồi bỗng òa lên. Y gục mặt xuống hai đầu gối. Rồi ngóc lên ngay, sợ tôi thấy sự yếu đuối của thằng đàn ông chăng? Tôi nói:

– Tùy ông ! ông có muốn nhẹm thì nhẹm, còn muốn truy điệu thì truy điệu tôi đều tán thành hết cả.

– Truy gì nữa mà truy. ông lên K hỏi rõ chỗ cái hầm và ngày tháng để sau này vợ con ổng biết nơi mà tìm kiếm về giỗ quảy thôi. Chớ còn truy điệu có ý nghĩa gì. Chính mình giết đồng chí mình rồi truy điệu à ? Nó đếch có thèm về hưởng hương khói của mình đâu.

Tôi mở poọc-ba-ga, tháo tấm ni lông đưa cái xắc-cốt cho Sáu Phấn. Sáu Phấn ôm chầm lấy áp vào ngực khóc nức nở.

– Anh Hai ơi! Sống khôn thác thiêng…

—->Chương 53-54-55-56

2 Responses to “2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QIII- (48-52)”

  1. Cong Nguyen Says:

    Chu Vy,
    Lam on check dum cai link: —->Chương 53-54-55-56 (not working)
    Cam on nhieu lam


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: