2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QIII- (53-56


2000ngaydem_bia3Tiếng Sét Ái Tình và Tiếng Sấm Bom Đạn

Chương 53
Đẩy chồng đi dân công để ở nhà ve vợ.

Tôi về nhà, không khí vắng hoe. Tôi gọi thằng Đỏ, Ba Thu đều không thấy. Tôi cởi súng vất lên bàn mắc võng nằm bẹp dí, không buồn cục cựa nữa. Tôi đâu có trách nhiệm gì trong cái chết của Hai Giả nhưng tôi vẫn thấy ân hận trong lòng. Sao lúc Năm Lê quyết định cho Hai Giả đi Thủ Đức tôi không có ý kiến gì hết? Đại khái như đưa ổng ra các tiểu đoàn bộ binh hiện đang cần đơn vị pháo trợ chiến, hoặc cùng lắm trả về U80 cho ông Tư Khanh. Một trong hai trường hợp này khả dĩ cứu ổng khỏi cái chết quá ư nhanh chóng, bất ngờ.

Tôi cũng đâu có ý tranh giành chức vụ trưởng ban H6 này. Đây là một chiếc xe bò bể nát chớ đâu phải một chiếc Volga mới. . . mà ham. Hơn nữa từ xưa tới nay sở trường của tôi là huấn luyện sĩ quan pháo binh chớ không phải chỉ huy đơn vị pháo. Chỉ huy pháo như cái H6 này là sa lầy chớ có gì khác!

Ở trên ác quá. Giết một đại úy pháo binh bằng tay địch. Nói cho công bình, Năm Lê không có ý định đưa Hai Giả đi xuống vùng xôi đậu đó. Sĩ quan pháo binh đi xuống đó làm cái gì?Năm Lê là nhà quân sự thiên về kỹ thuật hiện đại chứ không thích cái gì cũng nhân dân chủ nghĩa. Du kích thì xài hầm chông lựu đạn súng trường, còn sứ dụng cối 81 thì không được nhưng cái gì cũng do Chính ủy quyết định mà ông Tư Trường là bí thư khu ủy kiêm chính ủy quân khu thì chỉ là lãnh tụ công đoàn, một phát súng ngắn cũng chưa từng bắn.

Quyết định thi hành kỹ luật và đưa Hai Giả đi Thủ Đức là do Tư Trường ký. Thì cũng như quyết định mở cuộc tổng tấn công Mậu Thân vậy. Cứ ra lệnh còn hậu quả thì kẻ ra lệnh đâu có gánh chịu mà lo. Hai Giả chết vì sự ngu xuẩn của một tên đạo đức giả. Trời phạt nên sau này hắn đạp mìn tan thây

Tôi buông cả hồn lẩn xác vào một vũng mông lung, mong khi thức dậy, cái khối buồn tan đi ít nhiều.

o O o

Vừa chợp mắt thì nghe tiếng léo nhéo ở miệng hầm. Tôi biết là Mười ẵm bé Hoàn đến với lý do là con nhỏ nó đòi đi, em dỗ nó không được. Từ sau hôm ấy thỉnh thoảng Mười lại bế con tới ở chơi một lúc rồi để con bé ở lại với tôi, nàng ra về để có lý do trở lại rước con mà gặp tôi lần nữa. Mười ra vào dễ dàng vì nhân viên của tôi cũng thông cảm với cái anh chàng thủ trưởng của họ ba mươi bốn tuổi đầu lội khắp từ Bắc chí Nam mà vẫn chân không.

Mười thả con xuống đất và bảo.

– Ba con kìa.

Mười nói câu đó với tất cả tình cảm. Còn tôi thì dường như đã gần thành bố đứa nhỏ trong tình cảm rồi. Mười bảo con:

– Con ở đây ba dạy cho học nghe ! Bữa hôm qua con mới vẽ được có một chữ thôi.

Mười nhìn tôi âu yếm.

– Anh dạy cho con nữa đi.

Nàng vừa ra miệng hầm thì quay lại.

– À, em quên ! Anh đừng đi đâu, có người muốn gặp anh. Kìa Hoàn, hôn ba đi con ?

– Ai đó? Thôi đi tôi mệt lắm, để cho tôi nghỉ.

– Anh ở đó rồi biết.

Tôi tìm tập vở và lấy bút nguyên tử cho Hoàn. Tôi dạy nó hai tiếng Việt Nam theo bài nhạc Bình dân học vụ của Lưu Hữu Phước:

– Vơ- iệt Việt Nờ- am nam, Việt Nam là nước của tôi. A à ó ò í tờ vui quá!

Con bé nhìn miệng tôi và hát theo tôi. Con bé xinh xắn và trắng tươi giống hệt mẹ. Giá vợ con tôi là Mười và Hoàn thì đẹp biết mấy. Những mảnh mộng đời tưởng sắp trở thành sự thực lại cứ trôi đi đâu đâu Sao tôi không dám quyết định đi cho rồi ? Tôi giữ mãi tình tôi với Thu Hà không phải vì Thu Hà hơn tất cả mọi người con gái tôi gặp sau này. Kẻ được cái này người thiếu cái kia, không ai hơn ai hoàn toàn, nhưng Thu Hà có một điều mà không nàng nào có được. Đó là bàn chân của nàng dính đất cát của xứ sở tôi và mùi hương tóc nàng thoang thoảng gió mang hồn dòng sông Tân Bửu. Yêu Thu Hà, tôi có cả quê hương tôi trong nàng. Chúng tôi sẽ nói với nhau suốt đời về những tên chợ tên sông tên làng tên ấp mà hai đứa cùng biết hoặc đã cùng đến với nhau thuở nhỏ. Một nhà văn Pháp đã viết một câu quá sức đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc:

“Người nông dân không xa quê hương của họ được vì tiếng chim kêu ở đầu rào. “

Tôi lội một ngàn cây số Trường Sơn có phải để giải phóng miền Nam hay để gặp lại mẹ cha và mảnh đất Nam kỳ yêu quí? Không thể nào thống kê được bằng tỷ số bao nhiêu phần trăm cái này bao nhiêu phần trăm cái kia, chỉ biết rằng có những anh chàng sĩ quan đi nửa đường bỗng được lệnh đi xuống khu sáu, đã chống lệnh và đi tuốt về Nam. Bây giờ tôi sẽ làm gì với cái H6 xộc xệch này trước thằng Đồng Dù và thằng Trung Hòa sừng sỏ như vậy? Mười tám khẩu DKZ khiêng bằng tay, di chuyển bằng chân người chọi với cà nông 155-175 và trực thăng đủ loại. Thân xác con người đứng bên nòng pháo chỉ là hạt bụi mà thôi.

Tôi hỏi bé Hoàn:

– Ban đêm có cà nông thụt con sợ không?

– Mới đầu khóc giờ hết rồi.

– Con nghe nổ mà không sợ à?

– Con ở trong hầm đâu có sao.

– Ban ngày con chơi ở đâu?

– Ở trong nhà. Lâu lâu má mới cho ra sân. Má dặn hễ nghe cụp cụp thì phải lủi vô hầm.

– Cụp cụp là gì?

– Cụp cụp gần là pháo Đồng Dù, cụp cụp xa là pháo Trung Hòa.

– Trong sân có bị trái pháo nào không?

– Trong sân chưa có, chỉ có sau nhà và ngoài vườn chết ba cây quít.

Tôi viết mười chữ Việt Nam bằng bút chì rồi bảo nó đồ lại.

– Con học thuộc bài này ba phóng bài khác cho con. Con học mau thuộc thì ba thưởng kẹo.

– Má biểu con ở trong này với ba.

– Ba bận công việc lắm. Con phải ở với má. Để má ở một mình có pháo thụt má sợ.

Con bé nghênh mặt:

– Má lớn rồi mà sợ gì? Con còn hổng sợ nữa ?

Tội nghiệp ! Con nít coi chiến tranh như một trò vui vẻ .

Vừa đến đó thì Mười trở lại với một người đàn bà ẵm con. Đứa bé rất bụ bẫm còn mẹ nó thì cũng đẹp xấp xỉ với Mười nhưng gương mặt có vẻ đôi chút thành thị. Mười chỉ tôi và nói:

– Anh Hai đó. Nói gì thì nói đi!

Tôi ngồi dậy, hỏi Mười:

– Ai vậy em ?

– Chị Út ở gần nhà em. Chỉ muốn em dẫn chỉ tới chỉ có chuyện cần thưa với anh. Đó, thưa gì thưa đi chị Út!

Mười cười hí hí rồi lui ra. Đến mé hầm còn quay lại.

– Hoàn, con ở học với ba nghe !

– Có chuyện gì vậy…

Tôi chưa kịp nói hết câu thì Út đã cướp lời:

– Kêu em bằng em đi anh Hai.

– Ừ được, có chuyện gì vậy út? Bộ lính của anh đào mì hay bẻ dừa gì nhà em hả?

– Đâu có chuyện đó anh Hai. Em có một việc muốn thưa với anh Hai.

– Em cứ nói đi.

Út ngồi lặng thinh, thỉnh thoảng ngó sang bé Hoàn ì ạch đẩy cây bút trên mặt giấy. Út nói dèm:

– Phải con em lớn em cũng gởi nó cho anh dạy.

Tôi nghĩ thầm: nàng này chắc cũng có chồng đi Bình Giả Phước Long không về được Mười giới thiệu đến xin con nơi ông Thiên Lôi chớ gì. Khổ thật. Đàn bà con gái từ R xuống tới Củ Chi đều ham con. Họ sợ không có con trước khi chết. Từ Huỳnh Mai đến bà khu ủy, từ cô xã đội phó đến Chia, Ua rồi Mười. Và bây giờ lại đến nàng này. Chiến tranh do bọn đầu bò Hà Nội gây ra đã biến miền Nam này thành một Tây Lương Nữ Quốc tân thời, mà Củ Chi có lẽ là tiêu biểu.

Út ngần ngại một hồi rồi nói sang chuyện gia đình, nhà cửa. Nàng khoe:

– Em có đứa em gái đi văn công R.

– Làm gì ?

– Nó là đội viên của ông đờn cò Phạm Sang. Lần đó có một ông nhạc sĩ xuống đây công tác, nghe nó ca vọng cổ hay nên bắt nó về R luôn. Nó hơi rỗ hoa mè, nhưng dặm mặt rồi lên sân khấu nó ăn đèn lắm không thấy rỗ đâu.

– Cô em tên gì ?

– Ở nhà nó tên Mót, má em đặt em là Út, đến chừng có nó đặt là Út Mót, nhưng lên văn công R nó đổi ra là Thiên Lý thiên lót gì đó. Anh ở trên không nghe cái tên đó à anh Hai?

– Có xem văn công nhưng không để ý.

– Nó ngộ hơn em nhiều. Phải anh gặp nó coi !

Tôi lại nghĩ thầm: chắc cô này muốn tôi làm em rể đây chắc. Bỗng nhiên nàng nói:

– Chồng em…

Nàng òa lên khóc.

– Chồng em đi dân công hả?

– Ảnh trốn ở nhà.

– Rồi sao?

– Nhưng cô Hai Xót bảo: nếu anh không đi dân công thì em phải đi đấu tranh chánh trị. Không ai được quyền ở nhà cả vợ lẫn chồng như vậy.

Út vừa chùi nước mắt bằng tay áo vừa tức tưởi nói.

– Ở ngoài quốc gia người ta đâu có làm như vậy. Nếu đi lính thì vợ con có lương. Nếu chết thì có tiền tử tuất. Em không phải phân bì so đo nhưng chồng em ở nhà thì cũng đi đào hầm chớ có ở không đâu. Có mấy công ruộng bên An Thành lúa chín rồi mà không đi gặt được.

Tôi hơi nóng, quát.

– Rồi em muốn gì, nói quách nghe coi !

– Để em thưa hết anh nghe. Cô Hai Xót bảo không có con nhỏ mà không đi đấu tranh thì cổ nguých ngang. Cổ bảo đẻ cho lung rồi lớp bồng lớp dắt không có đấu tranh gì được hết. Ba sắp nhỏ không dám chống mà cứ trốn. Cổ bảo ông ấp đội truy bắt để đưa đi dân công. Em biết đi ngoài miệt đó, mười người không về người nào. Ông ấp đội được lịnh cổ càng làm lung. Bề ngoài thì làm vậy nhưng bề trong thì em biết hễ ba sắp nhỏ đi khỏi nhà là ông tè vè đến. Ba sắp nhỏ hiện còn ở đây mà ông còn be be nữa là !

– Ông ấp đội nào kỳ cục vậy?

– Ông Tám Lù đù con bà má Hai chớ ai.

– Thì cô báo với ông Ba Xây chớ cô nói với tôi làm gì .

Nàng làm thinh, chỉ thút thít khóc. Giống y như tình trạng nông thôn miền Bắc từ khi có cái vụ đi Giải Phóng miền Nam. Dân thường thuộc giống đực từ mười tám đến bốn mươi lăm tuổi trở xuống bị đẩy vô Trường Sơn. Ở nhà mấy ông chi ủy, xã ủy đảng ủy, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm hợp tác xã tha hồ giúp đỡ đồng chí mình. Những tên già dơ mang thẻ đảng vừa ve vãn vừa o ép cả nữ thanh. Kết quả vô cùng rực rỡ là thai nhi được sản xuất càng đông để dùng vào việc tẩm bổ cho đám lưu manh mang cái tên rất đẹp: Ban Chấp hành trung ương đảng.

Ở miền Nam này cũng y như vậy. Không có tên chi ủy, bí thư nào từ tỉnh đến quận mà không phạm tội dâm ô với nữ cán bộ hoặc vợ đồng chí mình. Phạm rồi thì đổi công tác và được đề bạt cao hơn. Một tên ấp đội mà đã biết giở ngón đó rồi thì thử hỏi tỉnh ủy quyền hạn mênh mông vô tận còn làm tới những gì nữa. Bà khu ủy viên chủ tịch quận Tân Biên trên Tây Ninh đã thủ thỉ mét với tôi:

– Mấy ông khu ủy viên ông nào cũng mò tôi cả.

Riêng ở Củ Chi này càng rõ ràng hơn. Ngài thiếu tướng Tư lệnh học tập ông đại tướng bần cố nông, cũng quơ dì Ba của cô xã đội phó mà tôi được ông cậu Tám xác nhận thêm lần nữa ở bữa tiệc nhà Sáu Phấn vừa rồi. Bọn cộng sản là một lũ bất lương và chính chúng đã đào tạo một bầy bất lương mang áo đạo đức. Chúng nó vừa hà hiếp vừa bóc lột dân còn quá cha hội tề trước kia nữa.

Út quệt nước mắt, mếu máo:

– Em muốn anh cứu chồng em!

Tôi nổi nóng quát:

– Cứu cách nào? Nói đi cứ vòng che hoài vậy?

– Anh làm ơn thu ba sắp nhỏ vô cơ quan dùm em.

Tôi cười ngất:

– Chỉ có vậy mà cứ loanh quanh.

– Dạ em sợ anh rầy.

– Chú út đâu rồi?

– Dạ ở đằng nhà chờ em xin anh.

Tôi đứng dậy bước ra hầm, quát:

– Đỏ đâu. Mày chạy lại nhà thằng ấp đội, kêu nó lại đây. Táo cần chút việc gấp!

Út hoảng hốt đứng dậy, run lặp cặp, miệng méo xệch khóc không ra tiếng. Hồi lâu mới nói được.

– Anh Hai kêu ông bắt chồng em hả anh Hai. Tội nghiệp con em rồi nó sẽ như con Hoàn anh Hai ơi.

– Cô ngồi .xuống đó đi, đừng đi đâu.

Tôi bỏ ra ngoài kiếm nước uống giằn cơn giận. Dân chúng sống giữa bom đạn chết như nháy mắt lại còn bị quấy nhiễu như thế này bảo sao họ không ra ấp chiến lược. Một khi đã ra được ngoài đó, chẳng có ai còn trở về.

Chập sau ngài ấp đội đến. Tôi bảo ngay mấy chuyện rồi cho về . Xong, tôi vào hầm bảo Út:

– Em về bảo chồng em mai đến công tác.

– Dạ!

Nàng ngơ ngác như không hiểu. Tôi nhắc lại:

– Kể từ hôm nay, chồng em là nhân viên cơ quan H6 của anh. . .

Nàng sụp lạy tôi. Tôi bảo:

– Đứng dậy.

Nàng đứng dậy nhưng đè đầu đứa bé trên tay bảo:

– Lạy cậu Hai đi con. Cậu Hai cứu ba con đó.

– Thôi lạy lục gì ! Anh sẽ giao cho nó làm trưởng tổ tự túc của cơ quan. Đi chài, đi trồng rau cải, đi tìm ruộng cấy lúa cho cơ quan. Hằng đêm được ở nhà, đi làm không phải đến cơ quan chỉ cuối tuần mới sinh hoạt với anh em và báo cáo công tác với cậu quản lý.

Út Vẫn còn như mơ, lắp bắp:

– Anh nói thiệt hả anh Hai.

– Tôi là thủ trướng một cơ quan, tôi có đủ quyền hạn thu nhận người.

– Ba sắp nhỏ không phải làm lý lịch hả anh Hai?

– Không cần. Tới giờ này mà vợ chồng còn ở đây là đủ chứng minh rồi. Mấy ông ban tổ chức đào bới gốc rể từ đời ông cố ông sơ của người ta, nhưng chính mấy ông đó lại khai láo lý lịch của mình. Ngoài ra người khác khai láo mấy ổng cũng biết đâu mà mò. Khai lý lịch là một hình thức nói láo hoặc lừa bịp.

– Em sợ cơ quan không nhận vì bà cô em có chồng đại úy Sài gòn.

– Đại tướng anh cũng thu được.

Út cười như nắng hé sau trận bão. Nàng ngượng ngùng thủ thỉ với giọng thân mật:

Anh Hai à ! Nhờ anh mà… ba sắp nhỏ khỏi đi Phước Long.

– Nhờ chồng em mà cơ quan có tôm cá ăn.

Út tỏ vẻ e thẹn, ngập ngừng:

– Em muốn trả ơn anh chút được không?

Tôi hơi ngạc nhiên nhìn nàng và tự hỏi: trả ơn? Cách gì? Giọng nàng run run mất tự nhiên:

– Con Mười nó nói . . . anh cho. . . cho nó một đứa . . .

Tôi bật trả như máy.

– Không! không! Cô Mười khác, em khác! Đừng tưởng anh chụp giựt bốc hốt như mấy người kia.

Út khựng lại nhưng nét mặt càng tươi bùng lên, nàng nói:

– Anh quả thật là một người nhơn đức. Em xin lỗi anh.

– Đứt họng hả?

Tôi nghĩ thầm: em mà chưn trơn thì anh Hai để một quả là đi đứt chớ đức gì.

– Không phải chuyện đó đâu. Em muốn kêu con Mót trên R về…

Chương 54
Hầm cá trê của ông Quận đội trưởng Tám Giò.

Một bữa thằng Đỏ dắt về văn phòng của tôi một ông khách đẹp trai đáo để. Đó lại là một thằng học trò khác của tôi. Học xong nó về làm đại đội trưởng trợ chiến Trung đoàn 3 Sư đoàn 330 đóng ở vùng Quán Giắt chợ Neo Thanh Hóa. Nó tên là Hai Khởi hiện làm Tham mưu trưởng quân đội Củ Chi. Hai Khởi chào tôi và nói ngay:

– Nghe thầy về đệ tử tới thăm và kiếm chút ưu điểm. Ở trong quân đội khô khan lắm, chắc ngoài này có chất tươi nên ra kiếm chút đỉnh chấm mút.

Tôi vui vẻ đáp:

– Ở đây nhiều lắm, nhưng cậu định bỏ mẹ hỉm ngoài Quán Giắt sao?

(Khởi bằng tuổi tôi nhưng hắn tự coi như em tôi.) Hai Khởi xua tay:

– Vụ đó thầy đừng có khui ra chết thằng học trò cưng của thầy đó.

– Có mối mai gì chưa?

– Có rồi, nhưng không biết cái ổ này có chủ không?

– Ổ nào?

Tôi móc gói Ruby bỏ ra bàn. Hai Khởi rút lấy một điếu đốt hút như điên, rồi gật gù :

– Thầy lúc nào cũng tà tà . Tôi toàn xài thứ ung muỗi mà không đủ đốt nữa… Cái ổ này có một con thôi. Con mẹ đã lắm! Không thua con gái thành đâu. Da như trứng gà bóc, cần cổ ngon hơn cổ gà luộc đó thầy, tôi đến nhà hai ba lần. Thấy con gái một con mà nhất nước miếng ừng ực.

– Rồi bỏ cái ổ ở Thanh Hóa cho ai?

– Mình tưởng ở ngoài rục xương luôn đâu có ngày về nước nên mới nhắm mắt cấy su hào. Chẳng dè mới nứt mọng lại bị xách đầu về Nam. Về trong này thấy cây nhà lá vườn hơ hớ tức muốn hộc gạch, nhưng lỡ tay trót đã cấy rồi, còn biết làm sao bây giờ? Thầy còn ô-rin chắc thầy không chịu đâu nhưng với tôi thì vừa chạng, không chèo ách chút nào! Con nhỏ em vợ Sáu Phấn thầy biết không?

Tôi biết ngay cô Mười, má bé Hoàn, nhưng làm như không quen:

– Ông ta sợ gả em vợ nghèo ba năm nên còn làm kỳ đà đó.

– Tôi còn mục tiêu thứ hai chớ thầy. Con bé này mình dây don đon, coi khó lắm, mới mười tám cái xuân lòng đang làm quân trang đóng ngoài Đồng Lớn.

– Đã đo góc kẹp TTC (ký hiệu pháo binh) chưa?

– Đo đạc gì nữa. Đã để cho mấy phát ngòi tức thì rồi. Dám có lửa lắm. Không phải như thằng Phạm Cần con cụ Phạm Thiều đâu. Tôi phập phồng bỏ mẹ . Nó mà đổ bể ra thì tôi dám bị đày đi Thủ Đức như Hai Giả lắm. Xuống đó sớm chầy cũng phủi chân lên bàn thờ.

Tôi vờ không biết tình hình dưới đó:

– Bộ ở dưới căng lắm hả?

– Ở đó không có B52, pháo như ở đây nhưng tụi Phượng Hoàng đi nghều như trấu. Bao nhiêu hầm hố tụi nó biết hết ráo. Nó chờ chuột cống nó mới khui, chuột lắt nó để cho bò lên bò xuống, tưởng là an toàn. Đến phiên chuột cống xuống là nó móc họng ngay. ông Hai Giả với thằng Ba Thanh trợ lý xuống dưới đó cũng lâu rồi, thầy có tin gì chưa?

– A… chưa ! Cậu có ý kiến gì về chương trình pháo binh nhân dân không?

Tôi lướt sang vấn đề khác. ..

– Tôi có nghe ông Tám Giò nói, nhưng không biết đầu cua tai nheo ra làm sao.

– Thì giao cối 8 1 cho du kích xử dụng chớ sao nữa .

– Ối chao ! các ông bà đó mà bắn cối thì giặc chưa trầy da mình đã phèo ruột. Bữa nay tôi đến thỉnh thầy lại đó gặp ổng chút: Đáng lẽ ổng phải đến bái thầy mới phải, nhưng riêng tôi muốn mời thầy đến để nhậu chơi một bữa cho thoả tình mong nhớ lâu nay.

Tôi cười:

– Ông tha-mu bữa nay nói cái giọng gì giống Sầu Vương Biên Ải vậy. Đi thì đi chớ tôi đâu có ngại gặp ai. Tôi còn đi đào hầm, vác gạo, đi leo cây canh địch với Năm Cội, Bảy Nê nữa kia mà . Chính tôi đưa ra chương trình pháo binh nhân dân để đi sát với thôn ấp chớ ai.

– Thầy là người đẹp thiệt!

– Thôi đừng có kêu bằng thầy bà nữa. ông Tư Khanh vô đây cũng còn kêu tôi như ở ngoài trường. Người ta không hiểu nói tôi làm phách.

Hai Khởi móc xắc-cốt lấy ra hai tấm bản đồ . Thấy vẽ khá , có tỷ lệ đàng hoàng không phải bản đồ trong sách Giáo Khoa thư Đồng Ấu, tôi bảo.

– Cái Đồng Dù nó rộng 1200 mẫu, chu vi ít nhất 11 cây số gần ba cây số mỗi cạnh. Mình phải bắn 1000 trái pháo nó mới nhúc nhích, ông hiểu chứ. Nhưng với sức trả hỏa của nó, thì mình chỉ bắn được hai quả là phải chôn súng hoặc vác chạy. Ở đây, vấn đề pháo kích không khó khăn. Cái khó là rút lui. Huỳnh Thanh Đồng đánh xong sân bay Biên Hòa tới nay chưa về đến căn cứ.. Do đó tôi phải đi làm anh hùng thay cho nó lãnh huân chương ở R, ông biết chứ?

– Biết gì đâu?

– Không biết thì không cần biết làm gì. Chỉ nên biết cái vụ mất hết mấy cây DKZ và một tiểu đội pháo trầm thây sông Bé .Tôi vừa nói vừa xếp bản đồ Đồng Dù và giờ bản đồ Trung Hòa ra. Hai Khởi trỏ tay vào mấy nơi và nói:

– Mình chỉ cần nả mấy quả vào sân bay và bãi pháo. Sân bay thì phải nhắm đúng lúc nó đổ quân xuống hoặc xúc quân đi. Còn các trại lính thì tụi nó có hầm bê tông cốt sắt, Pháo mình nả trúng nóc cũng chỉ làm nó ù tai thôi chớ ăn thua gì Nói thật với anh, làm việc với mấy ông bần cố nông này bực mình làm. Tôi cũng bần cố nhưng tôi có được huấn luyện chuyên môn nên cũng nắm được chức năng của binh chũng Pháo còn mấy chả bù trất, nhưng mấy chả lại quyết định mọi vấn đề. Ông Một Sơn (ông thứ mười một nên dân gọi ông Một tên Sơn, còn Một Sơn đội trưởng liên lạc là một mắt), bí thư quận ủy kiêm chánh trị viện quận đội là anh vợ ông Tám Giò. Hai anh em nắm hết mọi quyền hành, nhiều khi làm những cái trẹo bảng họng mà tôi nói không nghe.

Hai Khởi hạ giọng tiếp:

– Một Sơn là anh thợ thiến heo. (Tôi trừng mắt) Thiệt đấy mà. Hồi trước Đồng Khởi y giấu đút ông Huỳnh Tấn Phát hay Trần Bạch Đằng gì đó nên được đề bạt lên làm xã ủy, rồi mấy ông quận ủy bị bắt hết, ổng lên thay. Dân các xã hãy còn kêu ông là ông Một Thiến cơ mà. Còn ông Tám giò thứ trình độ cũng như ổng. Chính ổng giao cho ông Tám làm quận đội trưởng. ông này hiện nay lặn kỷ lắm. Khó ai gặp được. Tôi đã đưa chương trình huấn luyện pháo binh nhân dân của anh cho ổng xem. Ổng muốn đích thân anh đến trình bày cho ổng nghe. Xong rồi ổng mới cấp tiền cấp gạo và gởi giấy triệu tập. Trong tình thế này mà tập trung cả một lô du kích, rủi nó càn lủi đi đâu, tản lỗ mô? Các xã Phú Hòa Đông, Nhuận Đức, An Nhơn Tây, Trung Lập, Phước Thành, Phước Hiệp thuộc vùng đất cao và có địa hình xử dụng pháo, nếu được cấp pháo, du kích sẽ làm ăn được lắm.

– Ông Năm Lê bảo sẽ cho các xã quận Bến Cát sang dự. Ông có muốn vô gặp ông Thần Núi không?

Hai Khởi lắc:

– Gặp làm gì! Ai ló đầu vô hầm Đờ Cát của ông cũng bị ổng xạc cho rát mặt. Tôi đâu có dại gì mà vô đó. Tôi đâu phải là kẻ dưới trướng của ổng.

Hai Khởi có lánh ngang bướng. Quát nạt lính tráng và cự nự với cấp trên là chuyện thường tình của anh ta. Thấy Hai Khởi còn giữ tình xưa nghĩa cũ và có tinh thần xốc tới, nên tôi bảo hắn đưa đi một vòng để khảo sát địa hình. Hai đứa đạp xe tà tà . Đường đất lởm chởm như da thằng cùi.

Hai Khởi nói:

– Tụi bê-ka vô đông lắm rồi. Anh biết không?

– Tôi gặp ở Xóm Mới và gần trường Trung Sơ.

– Bây giờ chúng nó đổ xuống tới đây rồi. Từ bên Thanh An sang, từ Sóc Lào xuống. ăn ở bừa bãi. Đốn cây nhóm bếp suốt ngày đêm ì xèo không tả nổi. Bến Dược mọc thêm quán xá có tiệm hủ tiếu, tiệm sửa đồng hồ nữa. Quán bà Sáu Tiệm hốt bạc.

– Có gặp thầy trò ông đại úy Hốt ở trển không?

– Đóng đô ở đó muôn năm chớ đi đâu. Bà Sáu Tiệm bịt răng cả hàm vàng nghĩnh. Bộ anh cũng có đụt mưa ở dưới mái quán trọ bên đường của bả nữa à?

– Hồi ở R mới xuống tôi có ghé đó uống trà.

– Chỉ uống trà thôi.

– Và suýt làm em nuôi của bả.

– Thằng Tư Thêu vợ đẻ , đang đi phép. Gặp tôi, nó kêu trời quá sá. Nó bảo là ở ngoài Bắc chăn bò nông trường Lam Sơn, về trong này đánh xe bò Hậu cần R. Huề vốn. Chuyện chiến đấu tôi không có ngại. Sống chết lẽ thường. Da ngựa hay da dê bọc thây thì cũng thế thôi, chết rồi thì biết cái con bà gì nữa. Nhưng ớn nhất là sợ trật quan điểm nhân dân.

– Mò con gái người ta sao sợ trật?

Hai Khởi cười nhe hàm răng bàn nạo Bến Tre :

– Vụ đó cũng có , nhưng không quan trọng bằng dân phản đối Tôi có nghe, đó là vấn đề nan giải.

– Để chơi Đồng Dù, địa thế tốt ở Bào Cạp và Phú Mỹ. Hai điểm này cách nhau non cây số. Pháo xong điểm này mình chạy sang điểm kia để tránh phản pháo. Còn chơi Trung Hòa thì điểm tốt nhất là Gò Nổi nhưng ông Ba Tâm, xã đội trưởng An Nhơn không cho đặt pháo. Ổng bảo dân phản kháng kịch liệt. Mình bắn một trái nó trả lại một ngàn trái. Kỳ rồi, chọc cứt không nên lỗ mà chết cả chục người dân và mấy chục trâu bò.

– Rồi làm sao?

– Ổng bảo có bắn thì đem lên lô 6 sở cao su mà đặt súng. Nhưng trên đó mình 1ại không có hầm hố và địa đạo để phòng khi đổ chụp. Ở Tầm Lanh Bàu Sỏi cũng tốt nhưng rất xa, sợ bắn đạn rơi trúng dân. Bữa nào tôi dẫn anh đi khảo sát, chớ tôi làm lơ mơ vô xóm, dân dám phản cổ cò kéo chém lắm.

Tôi bật cười

– Làm như hồi mình đi công tác thuế nông nghiệp ở miền Tây Nam bộ. Vì thu nặng quá, có ông nông dân xách phản cổ cò ra quăng trước sân và hét: “Thằng nào giỏi bước qua cái phản đó rồi vô tới bồ lúa của tôi!”

Có mấy tốp lính đi qua. Hai Khởi hất hàm bảo:

– Anh coi lính nhà mình đã không? Toàn đầu chải tém đít vịt và quần ống túm như cao bồi Sài gòn. Lại còn bày đặt quàng chiếc khăn xéo trên vai như lính Trâu Điên Sài gòn.

Một người đàn bà đi qua tay dắt đứa bé gái chợt thấy tôi, kêu lên:

– Anh Hai, đi đâu vậy? Ba kìa Hoàn!

Tôi đáp rồi đạp thẳng.

– Đi công việc! Hoàn về học nghe!

– Đó, cô nường đó. Em vợ Sáu Phấn, tôi nói vôi anh hồi nãy. Coi có thua dân thành đô không? Anh có quen à ?

– Thì cô ta cũng nháng qua nháng lại cơ quan vài lẩn.

– Nháng gì mà con nhỏ kêu bằng ba?

– Thì con nít nó thấy mình thương nó, nó kêu vậy thôi.

– Kiểu này tui hết có sương mờ rơi, mơ huyền mờ rồi! – Bỗng nhiên, Hai Khởi chửi đồng -Địt bố. Nhìn con người ta nhớ con mình. Thằng cu tôi nay cũng cỡ đó ! Hồi nhỏ tới lớn đéo có biết miếng sửa Ba Vì vô miệng. Toàn xơi khoai lang tán nhuyễn. Ở đây bom đạn thế này mà con nít cũng bụ bẩm. Mình vô đây còng lưng giải phóng, giải phóng để phát phiếu mua khoai lang ấy à ! Cái gì cũng ưu việt. Ưu việt, liệt gân.

Tôi bảo:

– Cậu thấy mấy đứa bé ở văn phòng tôi đang tập đánh máy không?

– Ờ đám gà giò đó nuôi thúc chừng sáu tháng hay một năm là xé phay gọn.

– Tụi nó khôn lắm. Nó đầu quân vô cơ quan học đánh máy để khi rành rồi ra Đồng Dù làm sở Mỹ, lương sáu bảy trăm một ngày. Tôi tìm hiểu kỹ, tụi nó mới thú thiệt. Đau khổ chưa ông tha-mu ?

Tôi quay trở lại việc mở lớp pháo binh:

– Ngày khai mạc mình cố gắng làm cho long trọng một chút!

– Vô gặp ông quận ngố kỳ này anh nên lấy danh nghĩa phòng tham mưu quân khu cho ông ngán nghe! Ông này bù trất như tôi nói hồi nãy, lại co thủ, sợ khó, nguyên tắc máy móc. Chuyện gì ổng cũng không tin là mình làm được cả nên hay bẻ tới vặn lui mệt lắm. Anh cứ đẩy cây thoa mỡ bò thằng chả.

– Đẩy cũng tùy chuyện chớ !

– Thằng chả tối ngày chỉ ở dưới hầm, không dám ló lên mặt đất. Nếu có đi đâu thì ổng chạy chớ không dám đi xé. Ổng có bộ giò quấc trứ danh cho nên ai cũng gọi là Tám Giò thay vì Tám Chân là tên cúng cơm của ổng. Thằng gạc-đờ-co của ông ghét ổng lắm vì nó chạy theo mệt ứ hơi. Hồi năm ngoái thằng nhỏ chở ổng qua ngã ba Bàu Lách bị đầm già cão đùng một phát ngay chóc. Thằng nhỏ chết ngay, còn ổng mặt mũi nám đen. Chết hụt kỳ đó ổng sợ đầm già hơn cả B52. Anh biết ổng sợ cái gì kế đó không?

– Sợ gì?

– Sợ cán bộ khu và cán bộ R.

– Sao kỳ vậy?

– Vì mấy ông nội này xuống gặp ổng là hỏi hầm trước nhất Có lần ổng phát cáu quát họ trước mặt tôi: “Hầm đâu mà sẵn vậy. Tía tôi cũng không đào kịp. Có đi xuống đây kỳ sau nhớ mang theo mà xài.”

Hai Khởi lại bảo.

– Tôi nói chuyện anh nghe, anh chỉ dùng một lỗ tai thôi, còn lỗ bên kia lắng nghe đầm già. Nó phục kích im lìm trong mây. Chờ mình đi tới, nó xé mây nhào xuống phóng rốc kết, mười phát không phải một. Hì hì… để tôi nói tiếp về ông thợ thiến heo. Ông này chuyên môn bị mấy bà bành đeo.

– Có bà Hai Xót không?

– Làm sao khỏi miệng chằn nuốt. Ổng có hầm ở Bàu Lách, Bàu Trăn, Xóm Bưng, Gót Chàng và luôn luôn di động vì ở hầm cũ sợ biệt kích ném lựu đạn. Hiện ông ta bị bác Tám ở đường số 7 hăm thiến bằng dao xắt chuối. Vì ổng tò dè con gái người ta, hiện cũng là dũng sĩ.

– Là con nhỏ nào?

– Tư Bé .

– À tôi biết rồi! Hồi mới tới đây cô bé liên lạc có dắt tôi ghé nhà ông Tám xin dừa nạo uống.

– Con bé mình cọp xương voi đó mà ! Cô ta bị rủ ngủ chung một hầm sao đó. Rồi đổ bể tới tai ông già . Ổng không cho cô đi bắn sẻ nữa . Đó là chuyện tôi nghe đám con Út Nhỡ rủ rỉ kể lại chớ tôi nào biết gì. .

– Nói vậy ông tham miêu cũng đã niên nạc với các nàng dũng sĩ rồi à ?

– Mấy nàng đó đều nằm ở dưới quyền điều động của tha-mu tui mà ! Chuyện ông nào thả con be he, ông nào R trên R dưới tụi nó đều khai với tôi hết.

– Còn mấy ban chỉ huy xã đội?

– Hễ xã đội thì càng nằm dưới nữa! 1

– Ông có quen ban chỉ huy xã đội Phú Mỹ Hưng không?.

– Có cô xã đội phó coi đặng lắm. Nhưng rất khó dượt. Cô ta khoe có ông anh tập kết mới về mần chức gì lớn lắm. ..Hỏi tên gì, cô ta còn giữ kín. Tôi điều tra kỹ mà không có anh nào hết, sợ e anh nối ruột hè hè… Cái trò anh nuôi, chị nuôi, tía nuôi đó nhiều màn hiếp dẩn lắm thầy Hai ơi! Cô xã đội phó này sắp được đề bạt lên xã đội trưởng thay cho thằng Năm Thuận đang thụt lùi về vườn câu tôm bán gởi ra tiếp tế cho vợ ở ngoài Phú An. Cô ta không nhận mà lại muốn vọt qua Thanh An ở với bà già. Nghe nói bả hứa gả cô ta cho ai đó

– Ở đâu?

– Không biết. Nhưng mấy lần họp quân đội, cô ta đứng lên phát biểu ý kiến mặt quạu đeo không phải như mấy lần trước. Hay là có cái bị của anh Hai gởi về mà còn chưa nhờ ông Tư Chuyền mổ xẻ?

Tôi giật mình, nhưng lặng thinh không dám hỏi tới, sợ lộ tông tích. Cái vụ nàng bắt xác tôi vừa rồi sau khi đụng độ với nàng Ua tại quán cô Chia, dám gieo mầm sống mới lắm. Tôi đâm ra hối hận vì quá dễ bị các nàng điều khiển.

Hai Khởi cười khan một mình, rồi nói:

– Thời buổi này làm bác sĩ coi bộ khỏe anh ạ .

– Làm bác sĩ như Tám Lê bên Bưng Còng chữa cho thương binh không kịp bị rượt chạy cong đuôi sướng gì!

– Sướng cái khoản khác kia. Như lão Tư Chuyền chủ nhiệm quân y của hậu cần mình, chỉ là bác sĩ nhảy rào không có pa-tăng nhưng nó có một bầy nhền nhện bủa vây. Ngủ võng hai tầng. Đêm nay ngủ hầm này, đêm mai ngủ hầm kia, tay chân tha hồ táy máy. Thằng chả tuyên bố hầu như công khai với mấy đứa cứu thương: “Đứa nào ngủ với tao, tao dạy môn y tá sớm sớm” Ngủ có nghĩa là gì anh hiểu không?

– Ngủ có nghĩa là ngủ chớ còn nghĩa gì nữa?

– Hắc hắc hắc…

Đang đạp ngon trớn bỗng thấy có tấm bảng gỗ thô cặm giữa đường mang hình hai khúc xương tréo qua chiếc đầu lâu vẽ bằng vôi trắng, tôi rà xe chậm lại, nhưng Hai Khởi lách qua và vọt tới.

– Chẳng có mẹ gì đâu. Tôi đã dặn tụi du kích rồi. Cái này chỉ hù người lạ thôi.

Vừa qua khỏi cái đầu lâu thì gặp một ông bận quần xà lỏn áo lột da ếch phơi tấm lưng trần vàng cháy, một bên lủng lẳng khẩu K54, một bên toòng teng chiếc bi đông Trung Quốc tróc sơn gần hết, tay cầm cây roi quất quất như thầy pháp đuổi tà, còn một ông đi chống nạng, chân phải cà lĩa chấm phẩy. Hai Khởi bấm chuông leng leng. ông cầm roi quay lại. Hai Khởi giơ tay:

– Chào chú Ba .

Tôi thấy một bộ râu bó hàm, một cặp mắt trắng dã sâu hóm, Hai Khởi vừa đạp vừa hỏi:

– Còn đầy ba xi đế không chú Ba?

Người đàn ông quay lại nhìn, không kịp đáp thì Hai Khởi đã vọt khỏi.

– Anh biết hai thầy trò ông đó là ai không? Đó là ông Ba Râu và Tư Còi. Ông Ba Râu hiện giờ là thủ kho của quận. Trong kháng chiến chín năm ổng làm liên lạc bên Bến Cát, Long Nguyên, Thanh Tuyền. Ổng cầm roi quất quất như vậy đó là thói quen từ thời đó tới giờ không bỏ được.

– Tại sao vậy?

– Là vì đi đêm sợ rắn bò cạp cắn, phải cầm roi xua trước. Ổng chỉ giải khát bằng ba xi đế. Còn ông kia là tiểu đội trưởng của tiểu đoàn Ba Râu. Hai thầy trò đánh trận Bàu Lách đều bị thương. Ông thầy thì bị lủng ruột mất sức chiến đấu, còn thằng đệ tử thì bay cái bánh chè . Bây giờ cả hai làm thủ kho. Lính gặp ổng phát gạo thì kể như no cưởng. Ổng dồn nứt ruột tượng rồi bảo cởi quần dài ra buộc túm ổông đong cho đầy luôn. Ổng bảo: “ăn no đánh mạnh nghe các con! ” Thằng Tư Còi ra trận cầm cái kèn xe hơi bóp bí bo bí bo thay cho kèn xung phong. Bây giờ nó vẫn còn đeo cái kèn trong lưng thỉnh thoảng buồn tình, đang giữa trưa, nó rút ra bóp inh ỏi chó sủa và người ta chửi om: “Đồ cái thằng không bánh chè ! Vô đây tao nhồi bột đắp cho!”

Hai Khởi đạp loanh quanh vô đường ngang tắt ngoài ngoèo tôi không nhớ nổi, thì đến một cái ngõ rắp chà tre theo kiểu chỗ Năm Lê. Hắn xuống xe lôi vẹt nhánh chà qua một bên rồi bảo tôi:

– Đi đại qua, tụi nó không có gài lựu đạn đâu! Chỉ khi nào báo động tụi nó mới gài.

Đây là một vạt đất chạy dài theo bờ Rạch Sơn Từ Bến Mương đi vào. Dọc bờ rạch là bậc đất cao nhà nào cũng trồng tre gai để bao bọc miếng vườn của mình. Bên trong là khoai mì, chuối mít, mảng cầu, vú sữa. Nhờ nước rạch tưới miên man nên cây vườn xanh tươi, xóm làng rất trù phú. Chiến tranh mới đến ở ven rìa nhưng chưa thường xuyên như ở Bàu Chứa, An Nhơn hay Hố Bò .

Hai đứa dắt xe đạp đi dọc theo bờ tre gai một quảng ngắn thì thấy một làn khói mỏng bay lên từ một mái lá đứng thu hình dưới một tàng vú sữa. Hai Khởi rỉ tai tôi:

– Đây là ổ của ông quận đội. Con nhỏ nấu bếp coi khá đứa lắm, nhưng ăn nói càn ngang không kể lớn nhỏ. Không biết ông quận có tặng cho viên kẹo đầu tà nào chưa?

Hai Khởi kêu vọng vào nhà:

– Bảy Phấn có đó không, ra anh Hai biểu chút coi!

Một cô gái lùn lùn mặt tròn cầm nhọn, nước da trắng, bước ra, quát trả:

– Ai mà lớn lịnh vậy hả ?

– Có ổng trong hang không? Ổng biểu tôi mời khách đến mà có chuẩn bị đồ cầm tay chưa?

– Có chuẩn bị cho khách chớ không có cho chú đó, chú Hai.

– Chú Hai thì chú Hai sao còn chú đó ? – Hai Khởi quay sang tôi nói nhỏ – Nó kêu bằng chú để chặn họng mình thấy chưa.

– Ừ thôi không chú đó thì chú đọ . Nói theo mấy ông Bắc mới vô, chữ gì cũng bỏ dấu nặng.

– Cái con nhỏ này!

Bảy Phấn ưỡn ngực như khoe mình không nhỏ.

– Người ta vầy mà kêu con nhỏ.

– Từ rày bây đừng kêu tao bằng chú nữa nghe. Kêu vậy tao hết món ăn! – Mấy ổng ở ngoải về ông nào cũng muốn sụt chức hết á ! Mấy ông đầu bạc phếu cũng bắt con người ta kêu bằng anh. Mập béo gì dữ vậy?

Hai Khởi đứng xe qua một bên rồi quay lại hỏi cô bé :

– Như ông này bây kêu bằng gì?

– Ơ…- Bảy Phấn ú ớ không biết đáp ra sao.

– Bằng anh hay bằng chú, nói tao nghe coi! Có muốn…làm quen, tao giới thiệu cho. Ổng về thay ông Hai Giả đó nghen bây. Thôi để tao vô chầu ổng sớm sớm!

Nói xong Hai Khởi dắt tôi xịt qua bụi tre gai rất lớn ở mé hiên nhà, nơi mở ra một miệng hang ăn xéo vô dưới gốc tre. Tôi theo Hai Khởi đi hết mấy bậc đất mòn lẳn. Hắn quay lại dặn:

– Thầy coi chừng! Khom khom xuống để rể tre nó cào rụng tóc.

Bên trong hang tối om om. Tôi có cảm giác đi vô hang Chùa Trầm, hang núi ông Tịnh, hay Thạch Động ở Hà Tiên, nhưng tinh thần không sảng khoái chút nào vì ở đây đã nghe ngực hơi nặng nặng. Ông này xây ổ khôn thiệt. Ông ta lợi dụng thiên nhiên. Cái bụi tre có thể làm giảm sức lướt của trái pháo hoặc làm cho nó nổ bên trên trước khi khoan vào lòng đất. Khác hẳn với hầm Đờ Cát của Năm Lê xây trong nhà. Một tấm ni lông giăng ngang làm trần nhà (đúng ra là nóc hầm) để chặn nước mưa len theo rễ tre rơi xuống hầm. Tôi phải đi lom khom như con thuyền vô trạo của Hồ Xuân Hương vậy. Tôi biết ngay chủ cái hầm này là một ông nông dân ngay. Vì trí thức không biết cái trò chơi này. Trên một chiếc băng tựa vào vách đất, một người mặc áo bà ba đen, chân dựng lên cao ngang mép tai đang húi hoáy viết dưới ngọn đèn đầu bốc khói xám xịt. Trên mặt bàn là một xấp pơ-luya hình như mới lấy ra từ bàn máy chữ.

– Có thầy Hai tới nè anh Tám.

Người đàn ông bỏ chân xuống, ngưng viết, ngó tôi:

– Ông trưởng ban H6 mới đây hả?

– Dạ, tôi đưa ổng đến gặp anh để bàn thêm chi tiết về việc chiêu sinh cho lớp pháo binh nhân dân.

Tôi bước tới đưa tay theo phép xã giao thông thường, nhưng ông quận vẫn ngồi ngó tôi lom lom. Hai Khởi nhắc:

– Ảnh đưa tay cho anh bắt cà anh Tám!

– -Vậy hả?

Tám Giò cũng vẫn ngồi, đưa bàn tay xòe ra đủ mấy ngón rộng như những cọng quạt nan lùi xùi không còn giấy rồi nói:

– Vậy hả ! Tôi nghe bảo ổng là thầy của ông Hai Giả mà sao còn trẻ vậy?

Hai Khởi nói:

– Trẻ nhưng hồi đánh chìm mấy chiếc xà lan gạo của Tây ở bến Dòng Sỏi và đánh đồn Bến Súc năm 47 đã có mặt ổng trong Vệ Quốc đoàn rồi đó.

– Vậy à ? – Tám Giò ngạc nhiên – Lúc đó thầy Hai ở đơn vi nào?

– Tôi làm ở văn phòng anh Ba Tô Ký và anh Ba Xu.

– Dữ vậy sao? Lúc đó tôi còn chăn trâu ở Tầm Đinh, đâu có biết Việt Minh là gì.

Hai Khởi chêm thêm:

– Ổng vô đảng hồi mười bảy tuổi đó anh Tám!

Tám Giò lúc bấy giờ mới đứng dậy sốt sắng.

– Trời đất quỷ thần. Hơn tôi cả chục tuổi đảng ! Mời ngồi. Ngồi! Ta bàn công chuyện.

Tôi ngồi xuống chiếc băng gỗ đối diện với Tám Giò . Mắt tôi đã quen với bóng tối nên bắt đầu nhìn rõ mọi vật bên trong. Cái hầm quả thật sơ sài. Không có gì hết ngoài cái bàn tròn thuộc loại xếp của người Tàu và hai chiếc băng gỗ chân chôn. Nhờ có rễ tre chăn chịt nên đất mới không rơi xuống đầu cũng không sụp cho nên không có một cây nạn chống đỡ nóc hầm. Nhiều mảng ni-lông rách để lòi rể tre non tua tủa trắng như những chòm râu bạc. Phía trước mặt tôi có hai cái ngách, mỗi cái rộng đủ một người chui. Bên phải có một cái bùng binh khác. Từ đó vọng ra tiếng lắc cắc của máy đánh chữ xen lẫn tiếng người. Có cả tiếng con gái eo éo đùa cợt. Tám Giò ngó qua bùng binh bảo:

– Bên đó có đứa nào qua đây tao biểu chút. À, Hồng hả ! Kêu con Phấn pha ba ly cà phê sữa đem lên đây lẹ lẹ. Rồi đem bình trà với ba cái ly bầu.

Cô bé dạ một tiếng rồi chui qua cái ngách con biến mất như chú chuột. Phía bên trong có một cái ngách nhỏ hơn, muốn vô phải bò chớ không đi khom được. Tôi đoán chắc là đường Huê Dung ăn thông ra sinh đạo. Mấy ông chúa hầm đều thủ sẵn cái lối thoát cuối cùng đó cả. Chỉ có tôi là còn lêu bêu chưa lo nổi thôi. Không ai sống ở Củ Chi vào thời đổ chụp không lỏi ngày nào này mà lè phè cà khịa như tôi. Lo đi xin súng về trang bị cho cán bộ, lo may quần áo cho liên lạc viên, lo mua chài lưới tự túc, lo làm bố của con đàn bà góa, lo giải quyết đời sống cho nhân dân, lo chuyện thiên hạ sự còn sự của mình thì lại không lo: cả cái hầm ếch cũng chưa có Nếu có đổ chụp thì chỉ có một cách là chạy cà còng như nai trên R.

Tôi móc bọc thuốc rê trong túi ra để trên bàn rút một miếng quấn hút. rồi mời Tám Giò . Tám Giò làm một điếu và nói chữa ngượng vì không có gì mời khách để khách phải mời mình.

– Hút thử thuốc ông Thầy coi tới không? (Tự nhiên ông quận lại kêu tôi bằng thầy.) Tụi nó mua cho tôi tàng thuốc phèn bập muốn trớt mỏ.

Chợt thấy mấy khúc cao su lót dưới đất. tôi hỏi:

– Anh Tám lót nền bằng mấy cây này làm gì đi cho trợt chân?

Tám Giò trỏ lên nóc hầm:

– Cái lỗ thông hơi kia kìa, nước mưa tuôn xuống chèm nhẹp. Phải đào một cái lỗ cho nước rút xuống đó rồi lấy thùng múc đem đổ trên kia.

– Trời mưa mấy anh làm sao ngủ ?

– Căng ni-lông như ngủ ngoài rừng, còn ban ngày thì chỉ che cái bàn làm việc.

– Vậy ngủ ngoài rừng còn khỏe hơn.

– Nhưng ngủ dưới này ít sợ pháo ăn.

(Tội nghiệp! sợ rồi cũng không khỏi. Sau này Tám Giò bị pháo phang đứt cổ, cái đầu văng đi đâu không tìm được. Cơ quan chỉ chôn có khúc mình.)

Tám Giò tiếp:

– Sỡ dĩ tôi cho đốn cây cao su lót sàn là vì không còn ván, vách hoặc cánh cửa, cột kèo gì hết, nhà cửa ở đây tôi ra lệnh hạ hết rồi. Làm như không còn ai ở đây nữa. Như vậy trực thăng đầm già không để ý nữa. Nó thấy còn một nóc nhà là nó kêu pháo bắn hoặc nó phóng rốc kết chịu không thấu thầy ơi!

– Nếu nó càn bộ anh làm sao?

– Nếu Đồng Dù cho xe tăng tới suối Cây Điệp, thì ở đây mình phải gài lựu đạn, rồi chui.

– Còn cái miệng hầm tô hô nó thấy làm sao?

– Mình gài lựu đạn giáp vòng khu vườn này gài cùng khắp lối đi. Tụi Mỹ rất nhát, bắn pháo, bỏ bom thì ghê lắm nhưng đi bộ lại sợ. Hễ thấy máu là co vòi ngay. – Tám Giò đi vào chuyên đề pháo – Thầy rành pháo, vậy coi cái nóc hầm tôi chịu nổi cỡ pháo nào?

Tôi ngó quanh rồi đáp:

– Cái bụi tre này hay lắm. Nhưng nếu pháo nhểu trúng, có thể 105 trở xuống thì còn chịu được chớ 155, 175 thì tôi không chắc đâu. Còn bom cũng vậy. Bom nó có ngòi nổ nhanh, ngòi nổ chậm. Loại nổ chậm thì vùi sâu mười thước rồi mới nổ phá. Riêng bom đìa thì khỏi nói rồi!

Tám Giò ngồi điếng ngắt, tỏ vẻ không hài lòng. Một hồi lâu mới nói:

– Bề gáy nắp hầm này giỏi lắm một thước. Cái bụi tre đâu có nghĩa gì.

– Cò ỉa miệng chai anh Tám à ! Mình sống ở Củ Chi này như cá lọt kẽ đăng. Nếu nó nhểu ngay thì không có gì chịu nổi. Tụi lính trong Trung Hòa toàn ở hầm xi-măng. Nhưng mình đâu có pháo 120 ly để chơi nó. Tụi Lai Khê, Đồng Dù toàn dùng 155-175 không hè.

– Ừ, nó nổ mình ngồi trong hầm, đất rung nghe ớn quá đi!

Một cô một cậu đem cà phê và trà tới. Tám Giò nói với Hai Khởi:

– Uống cà phê mà hút thuốc rê chết bộ quá, đồng chí bảo sắp nhỏ kiếm một gói đãi khách.

Một tiếng nhỏng nhẽo vọng sang:

– Cháu còn dự trù hai gói Ruby đây chú Tám!

– Ừ được đem đây ! Nhưng để dành cho tao đãi khách. Tụi bây chớ có hút. – Quay sang tôi, Tám Giò phân trần – Tôi bảo chúng nó hút thuốc là phạm chánh sách kinh tế, nhưng tụi nó xài sang hơn tôi. Do cái thuyết hiện sinh hiện siếc gì đó ở Sài gòn ăn ruồng vào đây. Rồi đám thanh niên thanh nữ đi làm ở Đồng Dù- đem về lây ra nữa. Mỗi ngày công năm trăm đồng, nó toàn hút thuốc thơm và uống la ve hộp. Làm đi thầy Hai, làm cho trơn cổ rồi mình tính chuyện cưa vài cây đầu vuông.

Hai Khởi hỏi.

– Anh Tám định đãi khách món gì đó anh Tám?

– Có hủ mắm cá con tụi con Phấn vừa trộn đu đủ. Tôi biểu tụi nó đi mua thịt ba rọi về luộc xắc mỏng mình đi kèm với chuối khế rau thơm rồi đưa cay an iếc được không?

– Vậy thì đả tỉ rồi anh Tám. Pháo bắn nằm vỗ bụng chơi, không có ngán chút nào!

– Ý, miệng ăn mắm ăn muối đừng nói vậy đồng chí!

Tôi vừa nhắm nháp cà phê vừa giải thích đại khái môn pháo binh là linh hồn của chiến trường cho ông quận đội trưởng nghe. Nghe xong ông chắt lưỡi hít hà:

– Vậy mà xưa nay tôi tưởng pháo chỉ để dành bắn phá sơ sơ rồi rút chạy.

– Nếu ta muốn bộ binh chiếm trận địa mà không có pháo ủng hộ thì số hi sinh sẽ cao lắm. Có những chiến trường ác liệt, Tư lịnh chiến trường yêu cầu mỗi thước vuông là một quả pháo đó anh Tám ạ.

– Trời đất, dữ vậy sao thầy?

– Bắn đến nổi không một hòn đất nào còn nguyên thì xe tăng, cơ giới mới đi lên, rồi bộ binh mới đi sau cùng, chỉ còn tỉa những tên ngoắc ngoải sống sót thôi.

Tám Giò trố mắt ra nhìn rồi vỗ đánh bốp vào bắp vế đen mun của y mà kêu lên:

– Nghe đả quá ! – rồi gải đầu tóc bùi xùi – nhìn lại mình chỉ có mấy cây CKC và súng ngựa trời, chông ba lá ! Tội nghiệp ba thằng Năm Cội, Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử giờ này ở đó đào cưa bom lép để chế địa lôi đánh xe tăng. Hổng biết cái xưởng của nó đã sản xuất được mấy trái?

Tôi thì tôi tội nghiệp cho đồng chí quận đội trường của tôi. Chỉ huy một quận chống với cái Đồng Dù Mỹ hiện đại nhất thế giới mà chỉ có ba cây súng trường ! Đảng là loại lãnh đạo gà mờ, phản khoa học nên bất chấp khoa học, đưa xương máu nhân dân ra làm vật thí nghiệm cho vũ khí Liên Xô . Dân Nam kỳ chết nhiều thì càng bớt đi cái mầm mống chống đảng. Càng tốt! Nhất là trong những cái thây ma kia, không có cái nào là con cháu của bộ chính trị hay của bộ trưởng thì thôi. Một lũ dân ngu mê tín Trung ương như một bầy trâu bị đốt đuôi cứ đâm đầu húc càn rồi cuối cùng ngã quỵ vì ngọn lửa của Trung ương buộc ở đít mình. Tám Giò là một trong bầy trâu ngây thơ đó. Tôi và Hai Khởi nữa.

Tôi đã dạy ở trường pháo miền Bắc, về Nam tôi dạy trường pháo binh R. Hai cái trường này khác nhau rất xa. Ở miền Bắc, học sinh có trình độ để thu nhận bài học. Thời đó ba cái lập trường giai cấp đã phai nhạt đi rồi. Vấn đề văn hóa được chú ý hơn. Không có học viên pháo binh với trình độ lớp hai lớp ba. Nhưng vào trường R thì ông bà bần cố loạn xà ngầu. Cũng may là trường chưa mãn khóa đã đóng cửa non vì B52. Bây giờ tôi lại phải dạy du kích bắn mục tiêu che khuất và bắn ứng dụng. Bắn ứng dụng là một lối bắn du kích phá cả qui luật của pháo binh. Nhưng lối bắn này được đề ra do nhu cầu chiến trường miền Nam và bố đẻ của nó là ông Trung tướng Tàu từng tham gia Vạn Lý Trường Chinh. Có các bộ bắn đứng nằm quì ngồi ôm nòng súng mà bắn. Tôi đã đích thân dẫn bọn thằng Tôn Sứt ra bắn thử ở nền đồn Bổ Túc cũ trên R. Phương pháp này rất nguy hiểm cho pháo thủ và không bảo đảm kết quả, nhưng đói ăn vụng túng làm càn là thế đó. Năm ăn năm thua, nhưng hãy anh dũng tiến lên!

Bạn là con nhà pháo hoặc chỉ là người thường, hãy tưởng tượng một khẩu cối 81 ty phải bắn cầu vòng, mà ở đây pháo thủ phải ôm nòng pháo bắn thẳng vào đồn hoặc vào nơi cụm quân thì khác biệt với thường lệ như thế nào?

Tôi thuyết cho Tám Giò nghe toàn những triển vọng, còn những khó khăn thì tôi không nói tới cho nên Tám Giò rất thích. Nghe xong y xòe bàn tay ra đập đập trên mặt bàn làm ly cốc nhảy tưng tưng và nói:

– Kỳ này phải đè đầu tụi Trung Hòa và Đồng Dù xuống mới được. Để nó vầy hoài thì mình không có lú lên mặt đất nổi. Hà hà … Tôi sẽ dẫn ông thầy vô Đồng Chà Dơ hoặc Bàu Đưng tập cho du kích bắn thử vài phát. Ở trong đó còn cái nền lô cốt và cái lò vôi. Mình lấy đó làm mục tiêu xạ kích.. Lúc này tụi Trung Hòa ỷ có Mỹ vô Đồng Dù, nên dám thọc vô Gò Nổi, Ràng, Lào Táo, Trung Hưng nằm lại đêm, buổi sáng mình đi lơn tơn ra, nó chĩa súng bắn êm rơ. Còn dưới Phú Hòa Đông nếu tụi Đồng Dù vô Cây Sộp hoặc Phú Hiệp tôi sẽ cho du kích nã vài phát cho nó co vòi lại.

Ông quận đội hớn hở ra mặt, đưa tay vỗ vai tôi thật mạnh để kết thúc câu nói:

– Vậy mà lâu nay ông Hai Giả không chịu nhúc nhích chút nào!

Hai Khởi hớt:

– Vấn đề bắn ứng dụng này chi có thầy Hai mới biết thôi! Trước khi về Nam ổng chỉ huy một khẩu đội pháo bắn cho các ông Liên Xô và Trung Quốc xem đấy. Ổng để ba phát sập ba cái lô cốt. Ổng bắn luôn ba phát nữa cháy luôn ba cái xe tăng chạy trên đường.

Tám Giò nhảy dựng lên.

– Úy trời xe tăng ở đâu vậy?

– Xe tăng giả do xe môlôtôva kẻo chạy trên đường và lô-cốt giả mình dựng lên ấy mà anh Tám.

Tám Giò ngồi ngớ ra, điếu thuốc trên môi run bần bật. Tôi thấy tội nghiệp ông quận đội trưởng lần nữa. Ổng đâu có kiến thức quân sự tí nào. Cứ việc kên mình lên hứng bom pháo cho vui lòng trung ương thôi. TôI nhìn ông ta mà có cảm tưởng đó là cô bán sữa với chiếc bình sữa trong thơ ngụ ngôn của La Fontaine. Chỉ có điều là cô bán sữa Tám Giò không có chỗ nhảy cỡn lên để làm rơi chiếc bình vỡ tung thôi!

Kết thúc thắng lợi 500% buổi thuyết trình pháo là bữa nhậu mắm cá con trộn địa đủ kèm thịt ba rọi luộc.Ông quận đội này chê rượu aniếc uống ngọt quá , mất mùi, nên bảo lấy món đặc sản đãi tôi.

Ông trỏ chai rượu Bảy Phấn vừa đem lên đặt trên bàn, hỏi tôi:

– Ông thầy còn nhớ rượu này không?

– Hồi ở miền Tây tôi có nếm qua thứ này.

– Đây là mít nghệ, nướng rồi bỏ vô rượu. Uống có mùi thơm của mít và không mất chất cay của rượu, không như aniếc của Sài gòn ngọt như chè, uống không ghé.

Hai Khởi là loại người giống Trần Bá Xài ở miền Tây và Hoàng Thọ ở miền Đông. Chỉ khác chỗ là Khởi mặc quần áo chớ không ở trần và phá mấy bà Bành như Hoàng Thọ và không có em vợ để gả cho tôi như Trần Bá Xài. Hai Khởi sanh ở Dầu Tiếng, làng 10, nói tiếng Nam còn lòi gốc rau muống.

– Anh Tám à ! Nhậu dưới hầm bực quá, mình lên sân thượng đi anh Tám.

– Không được đâu đồng chí. Pháo nó giã thình lình mình không có nhào kịp. Nó là thằng đui. Đồng chí không nhớ ngoài ngã ba Cây Điệp một trái pháo bay luôn hai vợ chồng mới cưới, ở Hố Bò… rồi ở Bàu Lách, Gò Nổi… đều xảy ra những vụ tương tự hay sao?

Nhậu nửa chừng, Tám Giò cụng ly với tôi và hỏi:

– Các cha mùa thu về trong này đồn chuyện này chuyện nọ của miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa nghe mệt quá, thầy Hai có chuyện gì mới mới nói nghe chơi cho khỏe gà chút coi!

Hai Khởi gật gù rồi nhướng nhướng mắt, nói giọng nhựa nhựa:

– Ở ngoải cũng như ở trỏng thì cũng chỉ có cái này là khỏe thôi anh Tám!

Hai Khởi giơ nắm tay lên. Tám Giò bật cười hô hố. Tôi không biết chuyện gì. Hai Khởi quay sang tôi đưa nắm tayquơ quơ: đầu ngón cái lú ra giữa ngón trỏ và ngón giữa. Tám Giò nói:

– Ở trong hay ở ngoài thì cũng chỉ có cái đó là chết người thôi. Hề… hề…

Tan tiệc Hai Khởi đưa tôi về một khúc. Trước khi rẽ sang ngã khác hắn bảo:

– Mấy cha nội này không biết pháo ghiếc gì đâu. Mà tôi nghĩ là tụi du kích này chỉ bắn vài phát lạy ông con ở bụi này. Tụi Mỹ cho xe tăng càn là mất súng.

Tôi xách theo gói mắm của Bảy Phấn cho gọi là mối thiện cảm. Nhưng theo luật tự nhiên của Củ Chi này thì cô nàng nấu bếp xinh xinh chắc chắn đã là con nuôi hay em nuôi của ai rồi.

Về tới nhà tôi ném gói mắm cho chị nuôi, rồi vác ba lô đi xuống bến tắm một phát tẩy trần. Ngồi trong cái hầm dơ dáy của ông quận, nhậu rượu mít với mắm, da như sần lên ngứa ngáy. Có lẽ lại bị ghẻ xốn như mấy cô em. Tôi bắt đầu cào bắp vế cào bên hông, ngoéo ra sau lưng chà lên cổ rồi cào tóc tai xửng lên như lông nhím.

Văn phòng tôi đóng ở ngoài rìa xóm gồm có nhà của ông ấp đội Tám lù đù, nhà vợ chồng Út và vài ba nóc nhà nữa. Tất cả người của cơ quan và dân xài chung một cái bến nước ở cuối một con dốc đá sỏi từ trên mé lộ đổ xuống nghiêng nghiêng như một cái mống cầu.

Hai bên dốc là dừa cau và cây ăn trái rợp mát. Ở bến này đậu thường trực chiếc ghe tam bản nhỏ của nhà Út dùng để qua lại sông Sài gòn chở lúa bên Thanh An về, nay H6 mượn bán thời gian để Út và thằng Đỏ đi chài cá ở con rạch Bến Mương này.

Tôi vừa đi vừa đá những hòn cuội cho nó rơi lăn lóc trước mặt tôi. Tiếng sỏi khua làm cho tôi nhớ truyện Les Etoiles của A. Daudet trong tập truyện viết ở Cối Xay Gió. Anh chàng ở đợ đem cơm lên cho cô chủ trên ngọn đồi bị mưa lũ không về được phải ở lại nhìn trời đếm sao với cô rất thơ mộng. Hai người tựa vào nhau, cô chủ ngủ yên… Bây giờ tôi cũng như gã ở đợ đó chăng. Cô chủ của tôi là ai? Tôi không mấy khi được rảnh rỗi để mà suy nghĩ mơ mộng vớ vẩn như hôm nay. Thiệt là hạnh phúc. Nhưng cái hạnh phúc vừa hiện tới bỗng biến tan ngay. Một tiếng kêu gần như thất thanh.

– Anh Hai !

– Đứa nào đó?

– Anh đi đâu vậy?

Tôi nhận ra Út. Nàng đang ẵm con đi về phía văn phòng. Thấy tôi không chú ý đến nàng, nàng đuổi theo sau bén gót. Tôi quát:

– Con nhỏ này đi đâu theo người ta vậy?

– Em đi coi ba sắp nhỏ chở lúa về chưa ?

– Lúa gì mà chở ?

– Em có năm công lúa chín bên Thanh An, ảnh qua đó gặt đập lấy hột đem về ăn.

– Bây đi vô nhà để đầm già phóng pháo chạy không kịp.

– Anh làm gì đuổi em vậy anh Hai.

Nghe cái giọng khác thường của người đàn bà, tôi quát:

– Đừng có theo tao nghe !

– Bộ anh giận em hả anh Hai?

– Giận gì! Bây lơ mơ tao mét thẳng nó đập mắc toi đó.

– Xí em không sợ ảnh đâu. – Út cứ theo sau tôi lằng nhằng – Sao anh cho con Mười đủ thứ hết vậy?

– Cho cái gì mà đủ thứ?

– Chỉ khai với em hết mà .

– Nè, đừng có bép xép cái miệng nghen. Coi vụ ông Hai Giả kia kìa. Bày đặt cho hung đó !

– Bày gì mà bày, con Hoàn nó kêu anh bằng ba trước mặt cơ quan còn gì nữa.

– Con bé nó thương tao nó đeo vậy thôi chớ ăn nhậu gì?

– Ăn nhậu sao không ăn nhậu. Chị Mười đi đâu cũng khoe anh là ba con Hoàn.

– Khoe thì khoe mắc mớ gì bây mà bây kèo nèo.

Tôi thấy sợ đàn bà thiệt tình cái một ta ơi! Hễ họ đeo thì dính. Mai Khanh, bà khu ủy, Lụa, Mười, rồi bây giờ hổng lẽ con quỷ này nữa. Nó mà chài mình thì sợ khó thoát. Cũng như Mười. Cô nàng không gạ mình tới hai câu, mà đã thế rồi. Lỡ lùm xùm ra mình trở thành một Hai Giả thứ hai.

Nghĩ vậy, tôi bảo:

– Anh tội nghiệp mẹ con con Hoàn. Bằng ấy tuổi đã mẹ góa con côi.

– Xí! Thân anh, anh không lo để lo chuyện bao đồng. Em muốn nói với anh một chuyện mà sợ anh rầy.

Tôi nghiêm sắc mặt:

– Nè, hổng có nói chuyện bậy bạ nghe!

Con nhỏ mình dây, gương mặt trái xoan có vẻ lanh lợi chớ không thiệt thà như má con Hoàn. Cả hai đều đẹp cả, nếu phải chọn lựa giữa hai người đàn bà này thì tôi phải suy xét cân đo kỹ lắm mới ngã về phía Mười. Tôi bảo:

– Em không nên nói chuyện gì hết! Để cho anh làm việc!

Út bồng con lẽ o đẽo theo tôi hoài. Đến bến nước tôi quát:

– Tao ngồi đây tao chờ thằng chồng bây về tao mét nó trấn nước bây luôn. .

Út cứ nói xơn xớt:

– Em không sợ ảnh đâu!

-Vợ mà không sợ chồng là gia đình không có hạnh phúc

– Chuyện gì thì em sợ chớ chuyện này em không sợ đâu. Em có bàn với ảnh rồi mà ! Ảnh rất đồng ý.

-Trời đất!..

Tôi chưa kịp nói hết thì Út tươm tướp:

– Ảnh bảo là phải lấy được của anh một đứa con cho dòng họ em, chớ ảnh thì con cái không khôn được.

– Thằng! Tao sẽ tống nó ra khỏi cơ quan nếu nó có ý định kỳ cục đó.

Bỗng thấy một chiếc xuồng lướt tới, tôi kêu lên:

– Nó về kìa! Tao cho hai vợ chồng bây một trận!

Thằng Đỏ ngồi ở mũi xuồng, vẫy tay la lên, tiếng của nó vang vang trên dòng sông yên lặng:

– Cá tôm quá sá ngán anh Hai ơi!

Út bơi lái cặp mũi vào chiếc cầu làm bằng một cánh cửa nhà ai lổ chổ vết đạn. Thằng Út nhảy lên còn Đỏ ở lại xuồng:

– Anh Út vải có bốn chài mà được bấy nhiêu đó !

Út leo lên ẵm con cho vợ xuống phụ với thằng Đỏ hốt tôm cá . Út vừa bỏ tôm cá vào rổ, vừa ngước lên nói với chồng:

– Ba con bé nói với anh Hai chuyện đó đi!

Út bảo vợ.

– Má mày nói đi, tui mắc cỡ miệng quá hè, má nó nói trước rồi tôi tiếp cho! Tui đồng ý lâu rồi!

Tôi nghĩ thầm: sao lại có loại đàn ông dám hi sinh vợ mình như thế. Và sao lại có loại đàn bà…

Hai vợ chồng đổ qua đổ lại không ai chịu vô đề. Còn tôi chờ chúng nói thì tôi quạt cho một mách. Cuối cùng vợ Út mở miệng:

– Con Mót không thua đứa nào ở Củ Chi này hết anh Hai ạ !

Út chồng nói thêm:

– Anh Hai chịu thì đẻ con khôn phải biết. Để chừng nào nó về phép sẽ tính. Nó lại ca vọng cổ mùi lắm anh ạ. Do đó Văn công R bắt nó lên trển.

– À ra thế!

Thiên hạ muốn lấy giống ông thầy pháo chứ chẳng phải chuyện kia. Tôi khen hai vợ chồng Út rồi bảo Đỏ đem tôm cá về cơ quan. Vợ Út đã đi còn nói với lại:

– Em có mua cục xà bông thơm giắt ở kẹt bẹ dừa tơ, anh lấy mà tắm!

Tôi nhìn theo hai vợ chống bế con đi lên dốc. Vợ đi sau đùa giỡn với đứa bé gác đầu trên vai chồng nhe mấy cái răng sữa cười và quơ quơ hai bàn tay chụp tóc mẹ. Tôi chỉ ước mơ một cái hạnh phúc đơn sơ như thế từ bao nhiêu năm nay mà không được. Cứ thấy nhấp nhoáng đó rồi mất. Giá nó đến như thằng Hùng, má cưới vợ rồi dắt lên cho…

Bây giờ chắc nó đã có con rồi. Còn mình cứ như bị án tử hình treo sắp chém nhưng chưa biết ngày nào. Yêu tất cả là chẳng yêu ai, và không được gì cả.

Tôi ra ngồi trên chiếc cầu bắc nhô ra mặt nước bên tàng cây rậm ri. Hình như chưa bao giờ được hưởng một yên tĩnh của thiên nhiên như hôm nay. Pháo phiếc, máy bay máy biếc hình như cũng chìu lòng khách chinh phu: Bắn làm gì cho nát thêm không gian vốn đã vỡ từ hàng chục năm nay rồi. Bắn làm gì, khi đã phí bao nhiêu tấn thuốc nổ rồi mà nó vẫn còn nguyên đây! Hãy nên làm lành với nhau cho con người bớt đau đớn, cho trẻ con không mất cha, cho đàn bà không mất chồng vô ích. Rồi ra đâu cũng vào đấy mà thôi, chẳng ai thắng được ai. Tôi ê ẫm, chán ngán đến cực độ. Tôi không muốn gì nữa hết. Dòng sông này yên lành trong mát quá. Tôi thèm sống lại tuổi ấu thơ với những trận thủy chiến oai hùng với những nắm bùn tung vào mặt nhau, với những phát lặn nín hơi đứt thở, đả đời. Tôi muốn ôm chiếc bộp lá thả bập bềnh theo dòng nước trôi đến ngoại càn khôn để sống ở ngoài cái vung úp của thượng đế, nơi đó tôi sẽ được yên tĩnh vui sống với cỏ cây, làm bạn với cầm thú.

Bầu trời xanh ngắt cao vút trên vòm cây in bóng dưới đáy sông lung linh. Ở dưới đó có một thế giới nào yên tỉnh không? Tôi sẽ mua vé tốc hành đi xuống. Tôi sẽ tuột bỏ hết mọi cái ở trên đời này, nào H6, nào thủ trưởng, nào đảng ủy để sánh đôi với một người con gái nào lặn xuống dưới kia . Ở đó chúng tôi có một căn nhà như cái chòi của thằng Hùng, một cái nhà như của bà khu ủy, một cái quán như của Chia… một cái giường và một cái bếp bên cạnh bàn ăn… Sao ta không chịu quyết định cho rồi nhỉ? Tôi tự hỏi tôi, nhưng không có câu trá lời nào đến với tôi cả.

Tôi nhìn những nhánh cây mắm sà sát đong đưa như hôn mặt nước. Mấy con chim lông lá sặc sỡ bay chuyền đuổi nhau âu yếm trong lúc dưới nước những bầy cá lòng tong lội nhởn nhơ trong vũng bóng xanh đen làm mặt nước gợn lên lăn tăn như hơi thở nhẹ của đất trời vốn mệt mỏi, luôn đắm mình trong giấc ngủ đầy ác mộng, chiều nay mới thấy được giây phút bình yên.

Tôi nhặt lấy mấy hòn sỏi cầm nơi tay. À, đây là những hòn sỏi của Daudet đã từng rơi trên tim tôi và gây một nỗi niềm đau khổ nho nhỏ… trong tôi. Tôi ném nó thành những vòng cầu, tiếng lõm bõm vang lên trong không gian vắng lặng. Có đến mấy tiếng đồng hồ khi chui vào cái hang cá trê tới bây giờ không nghe tiếng bom pháo nào gần. quanh đây. Giá mà có cuốn truyện.Tàu nằm ngửa ra bãi cỏ này mà đọc rồi đánh một giấc tới tối thức dậy có lẽ thành tiên mất.

Đang thả hồn theo mơ ước viễn vông thì có tiếng sỏi khua sau lưng. Tôi quay lại. Thì ra cô y tá Lam (đúng tên cô là Út Lan nhưng vì nhiều Lan quá, xin tạm gọi là Lam để khỏi lẫn lộn vì tất cả các cô Lan sẽ tái xuất hiện sau này ) Trời đất đang im lặng, bỗng xáo trộn. Làm ở C5 quân y của Tư Chuyền ở trên Phú Mỹ Hưng mới thuyên chuyển về trung đội trinh sát của H6 được vài ngày. Cô bé này thông minh nhưng chưa có trình độ học y tá, chỉ tạm công tác cứu thương. Vì hiện tại H6 không có y tá cứu thương gì cả. Nàng có nước da trắng như Mười, nhưng cao hơn tí. Nói chung là được bốn điểm Liên Xô.

-Đi đâu vậy Lam?

– Đi tìm anh chớ đi đâu? Có người cần gặp anh.

Lam vừa nói vừa bước ra cầu. Sợ có chuyện hỏa tốc, tôi hỏi.

– Bộ ông Năm Lê cho người gọi hả?

– Không! người khác? – vừa nói Lam vừa đến gần tôi – Anh uống rượu cho hung vào không tốt đâu.

– Gặp vui anh uống chơi vài ly chớ có bao giờ say đâu.

– Vài ly mà gọi là chơi à! Em từng thấy mấy chú uống đua hết chai này qua chai khác rồi còn thách nhau uống bằng lỗ mũi nữa. Sặc có cái đứng tim chớ không đùa đâu? -Lam nhìn tôi rồi nói – Anh sắp có ghẻ xốn rồi đó.

Lam giỗ áo tôi một cách tự nhiên như y tá thăm bệnh nhân.

– Sao em biết?

– Nhìn da của anh nổi lác đác vài nơi ở lưng nè. Bị lây của mấy bà Út Nhỡ, Bảy Nê rồi!

– Ba cái thứ đó lấy nước chanh pha với vôi phết sơ thi hết chớ gì !

Thấy Lam ngồi sau sát lưng, tôi bảo:

– Đi về cơ quan lấy kim ống vô chích cho chị Ba một mũi quinimax.

– Chà, coi bộ anh săn sóc chị Ba dữ he!

– Cái miệng nói bậy đi!

– Săn sóc bà chị để bắt cô em, em biết mà . Cô em dũng sĩ toàn miền Nam lại đẹp!

– Rồi sao?

– Có sao đâu ! Lam dầu mỏ làm duyên với tôi – Gia đình đó địa chủ không hợp với cách mạng đâu!

– Cô Bảy chiến đấu dũng cảm như vậy, hai người anh rể một hi sinh trong cuộc chiến tranh trước, một trong cuộc chiến tranh này không đủ thay đổi thành phần cô ta hay sao?

– Anh đưa cho em coi có ghẻ xốn không?

Thấy tôi hơi cáu, Lam đánh trống lãng.

– Đã bảo là tôi không có sợ thứ đó mà !

– Nhưng em là y tá em có nhiệm vụ săn sóc thủ trưởng.

– Để tôi tắm rồi về văn phòng đã.

Tôi vừa nói vừa cởi áo ra nhảy xuống nước lặn một hơi rồi trồi lên.

– Em định hỏi anh mấy chữ Tây chữ Tà ôn binh gì khó đọc quá hà.

– Chữ gì?

– Xích-nin, xích niết gì đó.

– Strychinine ! thuốc chích cho ăn cơm ngon.

– Còn Sa-lít-lát gì nữa?

– Salicylate để trị nhức khớp xương. Em đi lên cây dừa tơ mò trong bẹ lấy cục xà bông thơm đem xuống đây dùm.

Tôi bảo nàng và ôm cột cầu nghễnh mặt lên chờ. Nhờ vậy tôi mới thấy được một nét đặc biệt: nàng có cặp chân lư một chút. Nhưng điều đó không làm giảm đi nét duyên dáng của nàng. Lam trở lại vá vá cục xà bông chưa lột vỏ:

– Em biết của ai.

– Nói bậy đi. Nó coi tao như anh nó đó !

Lam cười hí hí:

– Thì cũng như anh ruột của chị Lụa chị Là.

– Hai vợ chồng nó định gã con em Văn Công R cho tao đó!

– Ở trên Rờ còn sao nổi mà còn?

Lam vừa nói vừa mở hộp lấy cục xà bông ra cầm tay và bảo:

– Đưa đầu anh đây cho em chà !

Không chờ tôi phản ứng, Lam ngồi xuống quay lia lịa. Vừa chà vừa nói huyên thiên:

– Chị Là với hai cô Nga nghịch nhau dữ lắm. Cô Nga nhỏ thì nghịch nhiều hơn. Anh có băng ngón chân cái của cổ phải không? Có chút vậy mà cổ đi khoe khắp cái xã Phú Mỹ Hưng. Hễ ngồi nói chuyện với bạn trai bạn gái một lát là cổ đá hất chân lên nói: “Anh Hai không có học cứu thương mà ảnh băng giỏi ghê… Tên thuốc Tây ảnh đọc chạy hơn chú Tư Chuyền.” Bà Nga lớn ghét cổ ghê lắm. Hồi trước hai chị em như hình với bóng, bây giờ như chó với mèo. Anh có cái ống dòm bỏ đâu rồi anh Hai?

– Ở nhà chớ đâu? – Tôi vừa nói, hụp xuống nước rồi trồi lên xua tay.- Thôi đủ rồi ! Đừng có chà nữa.

Lam bảo:

– Còn chà khắp người nữa chớ. Ghẻ xốn đâu có mọc trên đầu. .

Tôi nghĩ thầm: tụi y tá là chai nhất, kế đó là văn công. Y tá thì đã quen nhìn cơ thể trần truồng nên không biết mắc cỡ. Còn văn công thì quen khóc cười giả trên sân khấu nên ở ngoài đời khi họ khóc cười cũng pha sân khấu khó bề mà biết được. Má văn công, mông y tá mà!

Tôi ngại mặc quần tiều ướt mà đứng trước mặt con gái, nhưng cô nàng thì cứ nói xơn xơn:

– Thân hình anh giống chữ V.

– Đừng cho giống chữ Dê nghe cô em?

– Em đâu dám. Đưa lưng đây em chà tiếp.

– Chà lưng thôi, rồi đi tránh đi để người ta lên thay đồ.

– Thay thì thay chớ mắc mớ gì em phải đi tránh – Lam lại tiếp tục câu chuyện Chị Là khoe với em hết trơn. Lần nào em ra nhà chị Lụa xin muối nước mắm, gặp chỉ, chỉ cũng kéo xuống hầm nói chuyện dẽo nhẹo không cho về . Chỉ bảo anh ngủ trong cái ngách này, chỉ ngủ ngách bên kia. Chỉ còn khoe anh leo dừa giỏi nữa… Hí hí, có hôn? Anh có leo cây dừa bên hiên nhà không?

– Không, tôi không biết leo dừa leo cau gì hết.

– Anh thiệt chối hôn, em khai ra cho coi nè .

– Có leo thì đã sao nào?

0 Leo dừa như anh thì cũng nên leo chớ ! Chị Là rắn mắc quá trời. Chỉ làm vậy không sợ anh buông tay hay sao?

Tôi giật mình: cô xã đội phố không bị ai khảo mà khai hết. Tôi chưa kịp chối thì Lam dồn tới:

– Anh có đi với chỉ xem hầm gì ở Hố Bò phải không?

– Hầm nhiều lắm không nhớ cái nào.

– Nhưng cái nào chỉ cho anh xem anh không quên – Lam nhấn mạnh mấy tiếng cho anh xem và tiếp . Chỉ cho anh xuống thử nữa có không? Ờ, ờ, chỉ bảo là hầm của chỉ còn mới nguyên mà !

Con nhỏ này lém thiệt. Nó biết cách xài biểu tượng hai mặt của văn chương chớ phải chơi đâu. Lam lại kéo dây dài nhằng nhằng:

– Em nghe mấy bà Nga nói anh có ống dòm dòm thấu vải nữa !

– Đó là anh gạt tụi nó chơi, chớ ống dòm gì lạ vậy.

– Ống dòm thấu vải mà người ta đứng sầm sầm đó không thấy .

– Ai?

– Em chớ ai ! Bữa mấy bà Nga với ông Tư Chuyền thằng Quảnh đãi anh khoai mì luộc rồi ông Tư Chuyền xin anh đánh Mỹ lấy cho ông cây dù che hầm lúc giải phẫu, em đứng kế đó chớ đâu mà anh đâu có thèm để ý, vì mắc lo cười với hai bà Nga kia cà ! – Lam thò tay xuống đấm vào vai tôi hai ba cái và nghiến răng – Hai con nhỏ đó động trời chớ không có hiền đâu. Con lớn thì đã đành, còn con nhỏ thì làm bộ ngây thơ chớ không có con nào còn nguyên đâu, em nói cho!

– Chậc! chuyện của người ta.

– Ừ, em nói cho mà biết! để người ta mó vào rồi khóc không ra tiếng ! Thôi leo lên đi để ở dưới cá nốc nó rỉa… chết!

Nghe Lam nói, tôi hoảng hồn vọt lên cầu, vì ở miền Tây tôi có chứng kiến một anh cán bộ bị cá nốc xơi mất một miếng của quí. Lam moi ba lô lấy khăn và quần áo đưa cho tôi lau và thay. Tôi quảy ba lô đi trở lên, Lam theo bén gót.

– Anh Hai, anh ở đây nghe em nói chuyện này chút nữa.

– Thôi bỏ ba cái chuyện linh tinh đó đi !

– Thằng cha Tư Chuyền, già không bỏ nhỏ không tha. Hồi em với hai con Lan ở Q Hai Chòi tức trường Tân binh đóng ở Lộc Thuận, em mê giải phóng lắm. Đến chừng về C5 của ông già ó đâm đó thì em bắt đầu chán rồi. Thằng chả ỷ là thủ trướng quân y nên nói oang oang hầu như công khai: “Đứa nào cho tao ngủ, tao cho học y tá !”

Tôi thấy xấu hổ lây, nên gạt ngang:

– Ổng nói vậy là ngủ chung hầm cũng như anh với em ngủ chung nhà vậy thôi. . .

– Hổng phải đâu! Ổng nói: Đứa nào cho tao ngủ chớ không phải ngủ chung hầm. Mà con gái ngủ chung hầm với đàn ông cũng không được. Huống chi ngủ với đàn ông. Anh đã từng ngủ võng hai_từng chưa?

– Rồi, ủa chưa! … Đâu có ai chịu ngủ chung với anh ngoài thằng Đô.

Lam gọi với. giọng khác thường.

– Anh Hai à ! Anh không thấy gì hết à !

– Thấy gì ?

– Anh không thấy ai đây sao?

– Cô Lam !

– Cái ống dòm của anh xuyên qua vải, chắc cũng xuyên qua thịt em nữa. Anh sẽ thấy trái tim em.

Tôi quay lại. Lam ôm chầm lấy tôi và hôn lên mặt tôi như những quả pháo chụp tí hon mà mỗi phát tôi tưởng đã rút một miếng thịt. Nàng làm cho tôi phải thích nghi một cách tích cực trở lại, Sự tấn công của tôi còn mạnh bạo hơn nhiều. Đến nổi nàng. phải buông tôi ra. Lần này thì chính tôi lại quấn lấy nàng. Nàng đứng im và thở hào hển nóng bỏng vào mặt tôi:

– Em cho anh tất cả, em… em cho anh. .

Tôi dìu nàng lại một gốc cây xa đường mòn. Hai đứa đâu mặt với nhau: thủ trưởng và nhân viên. Không sợ gì cá. Kẻ không có vợ người chằng có chồng. Vũ khí đã sắn sàng, sợ gì mà không tác chiến. Tôi cúi xuống, nàng ôm miết đầu tôi vào và rên khe khẽ:

– Của anh đó . . . của anh đó .

Da thịt con gái tuyệt trần. Tôi đã thưởng thức hết bao lần hương vị cửa những đóa hoa vừa hé nụ, nhưng lần nào tôi cũng tướng chỉ là lần đầu. Tôi ngẩng lên:

– Em thương anh để làm gì vậy Lam? Anh không có sống lâu đâu.

Lam bịt miệng tôi bằng những ngón tay thơm ngát mùi xà bông. Tôi ghịt vào và nói qua kẻ tay nàng:

– Anh nói thật đấy. Yêu anh rồi em sẽ như cô Mười, cô Lụa, cô Tám Mang và bao nhiêu cô khác.

– Một đêm người ngọc dựa kề, còn hơn mãn kiếp bên thằng thất phu.

Tôi tung biệt kích xuống vùng đồi hoang. Vừa mới đụng mép địa đạo thì nàng chặn tay tôi lại và quắc mắt:

– Đừng anh! Chuyện đó phải chờ cưới hỏi xong đã.

– Anh phủi cũng lên bàn thờ nay mai nè, ở đó mà chờ cưới hỏi.

– Anh nói gỡ không hè !

– Cái H6 này xui lắm!

– Nó ít hoạt động thì có chứ xui gì đâu !

– Ông Giả đi luôn rồi!

– Hả?

– Ừ thiệt đó. Anh thay cho ổng, rồi anh cũng sẽ theo ổng thôi.

– Em mới tới nhà bả để mua rượu về thay cho cồn đây.

– Bả đâu có biết gì!

Tôi tưởng nêu cái cớ đó ra để nàng không cố thủ nữa, nhưng nàng nói:

– Vậy để em rước má em vô gấp.

– Chi vậy?

– Để biết mặt anh và làm đám cưới luôn!

Tôi nhìn nàng nàng trân trân. Mới vừa quan hệ nhau lại làm đám cưới? Quả thật lối sống yêu cuồng sống vội đã lan tràn khắp Củ Chi. Ở đâu cũng nghe nói đến những cái chết rùng rợn và những vụ phá thai ly kỳ . Người ta sợ cái chết đến bất ngờ nên quơ hốt ngay những gì có thể quơ hết, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, càng sớm càng tốt. Nàng thỏ thẻ:

– Má em phong kiến dữ lắm. Ngày em xách gói đi tân binh má em biết không cản được em nên dặn dò chớ có cho thanh niên đụng tay đụng chân. Chớ có bày đặt văn minh bắt tay người khác. Đàn ông con trai có bùa ngài quyến rũ đàn bà con gái dễ dàng. Mày đi mang cái trống chầu về tao chôn sống. Em sợ má em lắm, không dám sai lời. Cho nên khi em thấy hai con Nga bu theo anh thì em càng đứng nép trong bếp.

– Em thương anh hồi nào?

– Hồi anh ngồi ăn khoai mì luộc. Cái miệng này sao có duyên thấy trời. Em thấy muốn cắn quá đi.

– Thì bây giờ anh cho em đó.

Nàng vồ lấy tôi hôn bất kể, vừa hôn vừa nghiến răng:

– Của em, của em!

Trời chiều bóng cây sẩm xuống âm u. Chúng tôi đứng dậy để ra về, nhưng không về được. Hai đứa đứng đâu mặt nhau rất lâu. Hai đôi tay ôm hai thân mình xiết vào nhau, để cho mọi thứ vũ khí tấn công lẫn phòng ngự có dịp đối đầu nhau gầm gừ chờ sát hại nhau khi lớp giới tuyến mong manh được cuốn dẹp. Nhưng mặc dù bị con bướm bay liệng rà sát mà cái nhụy hoa nàng vẫn ém kỷ. Bỗng bùm! bùm! băm!

Tiếng nổ lạ lùng. Tai nhà pháo biết không phải bom hoặc rốc-kết. Một chiếc máy bay có vẻ như là B26. Nó như con dơi quạ khổng lồ vừa bay qua để lại một dư âm động trời rung đất. Nó bay quần hai vòng và bùm! bùm? bùm! sau những cái chớp sáng lòa rồi biến mất. Lam hỏi tôi:

– Máy bay gì kỳ vậy anh?

– Ôi, thứ đầm già cải tiến ! (Tôi nói như xe ba gác xe thồ cải tiến miền Bắc.)

– Nó làm gì nghe bùm bùm vậy?

Tôi đẩy cây tuốt luốt.

– Máy nó sắp hỏng, nó không bay về Sài gòn được nên cứ bay vòng vòng!

Sự thực thì đó là máy bay Mauhawk, bán phản lực, hai động cơ bay chụp hình ban đêm. Thứ này đến đâu thì sau đó vài ngày B52 tới. Tôi đã tỉnh giấc mơ hoa trong buổi hoàng hôn mờ ảo.

– Thôi đi về em!

Khi hai người trở về trần gian thì đã thấy chúng sinh lóc nhóc ở tại nhà ăn quanh mâm cơm đạm bạc. Mười vừa thấy tôi là bảo bé Hoàn:

– Ba về kìa con ! – rồi trách tôi – Anh đi đâu cho con đi tìm kiếm khắp nơi vậy?

– Anh đi coi cái bến.

Út cũng có mặt ở đó, nghe Mười nói thì trừng mắt:

– A/nh đi tắm mà có gạc-đờ-co đi theo thiệt là bánh ghê !

Tôi bế bé Hoàn vừa chạy tới tôi và đính chánh:

– Cái bến của mình ai thả trôi lều bều. Nó mà trôi ra tới sông thì tụi giang thuyền sẽ biết ngay trong rạch có cơ quan rồi thế nào cũng ăn bom pháo cho coi. Chắc của mấy ông cơ quan quân đội chớ không ai.

Lam bị châm chọc, sừng sộ:

– Tôi không có đi gác cho ảnh tắm đâu. Ở trên có chỉ thị trị ghẻ xốn cho các thủ trưởng cơ quan và chiến sĩ để nó lây tùm lum ra đó.

Những cặp mắt tóe ra những tia lửa căm hờn mà tôi là nguyên nhân. Út ức vì con nàng không được tôi nâng niu, còn Lam thì lại bực mình vì Mười gọi tôi bằng anh đàng hoàng trong lúc con nàng lại gọi tôi bằng ba trước mặt mọi người.

Nàng nói mát:

– Anh Hai chưa có vợ mà lại có con.

Mười không chịu thua:

– Ảnh là ba của nó đó cô y tá của ông Tư Chuyền à ! Cô kiếm đứa con đi rồi kêu ảnh làm ba nó.

Lần đầu tiên tôi thấy nàng hung dữ.

Chương 55
Những trái tim bốc lửa và những giọt nước mắt giá băng

Tôi về đến cái hầm cá trê eo hẹp thì tôi thấy trên bàn ba chiếc phong bì và một gói giấy tươm mỡ to bằng chiếc gối đệm. Tôi mở ngay các bức thư mà tôi đoán được tác giả khi liếc qua các dòng chữ. Cô xã đội phó viết:

(như quát vào tai tôi. Tôi hình dung gương ít giận dữ của nàng):

Anh Hai!

Bộ anh ngon cơm ngọt canh ở đất Bến Mương rồi hả ? nên không thấy anh về. Anh có biết là cô Tám Mang đã có chồng mà chồng bị thương cụt hai chân nên cổ bỏ luôn đó. Anh liệu mà đi vào. Chỗ đó xui lắm. Anh coi chừng đó. Em đã nhắn má về mấy lần. Má nói má sẽ về khi bên này bớt bom pháo. Anh ở dưới đó có dừa uống không? Có thèm thì cũng ráng về trèo dừa nhà chớ đừng có uống nước dừa lạ nghe anh. . .

Ua thì viết khác hẳn, với giọng của một kẻ trăn trối:

Đời em kể như đã chấm dứt từ hôm chia tay với anh. Em không còn mơ ước gì nữa ngoài việc gặp anh lần cuối cùng để em lao mình vào địa ngục. Mọi việc sẽ xảy ra y như em nói. Vĩnh biệt anh.

Chìa thì với giọng nhớ nhung nôn nóng:

Không có anh, tụi em họp nhau nhắn nhở chuyện qua. Con Nhánh con Biếc chỉ mong anh xuống để xin bắn mấy phát K54. Còn em, tôi ngày cứ đi ra đi vào cửa ngóng ngoài đường. Ai mặc áo con đỉa đi vào em cũng ngỡ là anh. Người ta mua đồ em thối tiền cứ lộn, má rầy hoài. Má bảo: “Mày ngồi đâu ngồi chết đó, làm gì quên nấy. ” Anh có biết, hồn em đã đi theo anh từ bữa ấy rồi. Em chỉ còn cái xác ở nhà. Chú Sáu nói có gặp anh, sao anh không nhắn gì với chú hết vậy. Một tiếng “thăm em mạnh giỏi” cũng không. Anh đã quên em rồi sao ? Em biết anh bận lắm, nhưng bận gì đến đổi không viết được cho em mấy chữ? Anh về thăm em sớm sớm nghen. Nếu trể chắc không còn gặp em đâu. Dì Ba đã thúc má em dời ra quận ở buôn bán khỏe hơn, nhưng má em còn chần chờ để gặp anh tính cho xong việc chúng mình rồi mới đi. Hàng ngày dì Ba thấy Mỹ đến Đồng Dù càng đông thì càng nôn nóng. Ngoại cũng sẽ đi. Anh về có thể chỉ còn trông thấy cái hầm và cái nhà hoang không có em, không có má cũng không có ngoại nữa. Không có ai ở đó hết ngoài những kỷ niệm của chúng ta… Nhưng có lẽ em cũng đã mang theo hết với em cùng với hình ảnh dấu tay và tiếng nói của anh… Em của anh.

Bất giác tôi nghe gò má nóng hổi. Tôi quệt ngang và nhủi đầu vào võng. Tôi thức dậy thì thấy ngọn đèn dầu Alcool de Menthe đã lóe lên hồi nào. Chắc thằng Đỏ đã thắp cho thủ trường. Tôi ngồi dậy móc giấy trong xắc-cốt ra làm việc.

Lớp học pháo binh mới phác qua có cái sườn. Còn giáo án thì tôi đã phân công cho các bộ, phần thảo và trình tôi duyệt. Một đơn vị pháo chuyên nghiệp gồm trên năm trăm người lâu nay còn tê liệt không hoạt động được, thì các ông bà du kích i-tờ ham súng nhưng không biết rành toán cộng thì làm sao sử dụng loại vũ khí khoa học này. Nhưng tôi phải thực hành, trước nhất là để vui lòng cấp trên. Và có lẽ chỉ để vui lòng cấp trên, ngoài ra nhìn vào kết quả và thành tích sẽ đạt được thì thật là mong manh.

Tư Kỹ, học trò của tôi ở trường pháo binh MB vừa được R điều động xuống đây là cán bộ giỏi lý luận nhất của đơn vị này, đã nộp cho tôi bản giáo án khá đầy đủ:

Thứ nhất – Phương pháp đo cự ly bằng công thức ly giác. Bài này chỉ giới thiệu sơ lược, không giảng chi tiết, vì học viên yếu toán. Nếu ai khá toán sẽ dạy riêng. Cần có thêm ống dòm để tập học viên sử dụng. Giải thích dụng cụ , phương hướng bàn cho họ làm quen.

Thứ hai – Trọng tâm là phương pháp đo thước dây, đo bằng bước chân, hoặc tầm đo ruộng, hoặc đo bằng bánh xe đạp. Tận dụng sáng kiến đo đạc của học viên. Phải đo ít nhất ba lần để lấy trung bình. Phán đoán nơi giặc đổ quân, cụm quân để đặt súng cối trước, chờ địch đến đúng cự ly thì nhả đạn v.v…

Nghĩa là coi khoa học và sự chính xác, hai yếu tố quan trọng bậc nhất của pháo binh không ra cái thá gì hết. Sai một ly đi một dậm. Câu nói đó có thể áp dụng cho pháo binh. Như đã thấy ở câu chuyện với các cán bộ Trung đoàn tại trường Trung Sơ, ông Hai Nhã Tư lệnh pháo binh R đã đấm lưng bộ binh đến nỗi trước khi ra trận, bộ binh hỏi có pháo binh yểm trợ không? Nếu có thì họ mất tinh thần chiến đấu ngay. Tôi biết vậy, nhưng không làm gì được. Nếu trình bày khó khăn thì ở trên bảo tìm cách khắc phục. Có những khó khăn không thể khắc phục bằng lập trường hoặc quyết tâm được.

Tôi bật cười to khi nhớ đến ông huấn luyện viên pháo cù lự Chín Hung. Tôi cho gọi Tư Kỹ tới, khen y và hỏi:

– Cậu giữ cấp bậc thiếu úy mấy năm rồi?

– Từ 61 đến nay.

– Như vậy không thôi.

(Tôi muốn nói tiếp: dân Nam kỳ lên được một cấp bậc cái đầu phải trọc ba lớp tóc, nhưng tôi tự chế kịp.)

Tôi quyết phá tan cái không khí xót xa kêu réo từ nhữngbức thư nên kêu sắp nhỏ nấu trà uống giữ Tư Kỹ ở lại bàn thêm công chuyện về lớp phá o binh nhân dân. Uống chưa cạn bình thứ nhất bỗng nghe có tiếng chân đi rầm rập tới gần.

Tư Kỹ bước lên khỏi hầm và quát to:

– Mấy ông thần nào tới đó?

– Có thầy Hai ở nhà không?

Tôi nghe tiếng trả lời thì biết là Ba Tố.

– Ông chánh trị viên dê tám đó hả ?

Ba Tố dắt một dọc ba người theo sau và kêu lên:

– Hầm hố thế này khác nào hộp cá mòi đứng, làm sao nhậu được?

– Tội có địa điểm tốt chớ anh Ba. Ơ kìa Tôn ! Sao lại lọt xuống đây?

– Tôi tưởng thầy quên tôi rồi chớ. Lý do lọt xuống để báo cáo sau.

Ba Tố cười hà hà :

– M79 đồn Bổ Túc nó làm dấu mày một phát trên môi, ai mà quên được.

Trong khi chờ chị nuôi làm thịt con gà do phái đoàn của Ba Tố đem tới, tôi hỏi chuyện Tôn Sứt trên R. Tôn Sứt nói:

– Bây giờ trên đó không còn thoải mái, khi Suối Dây khi Lộ Ái lúc cầu Cần Đăng nữa đâu. Bị B52 tan hết rồi. Nó rắc dưa hàng ngày mà anh. Tụi này đội mãi rồi lý ra.

– Bùi Khanh đâu?

– Ổng không chịu xuống đồng bằng như tụi tôi mà lại cho trấn nhậm Kà Tum.

– Làm gì ?

– Xã đội trưởớng thay ông Một!

– Trời đất! trung đoàn phó xuống làm xã đội trưởng?

– Cách mạng phân công thì phải làm chớ sao anh?

– Còn con Huê con Tiến?

– Loạn xà ngầu hết rồi, không ai còn biết ai là ai nữa. Lâu rồi tôi không gặp tụi nó. Tội nghiệp thằng con của con Huê kháu quá. Không có sữa đâu mà uống? Còn bà Mai Khanh thì đã lên chức chánh ủy.

– Chánh ủy gì?

– Bà chánh ủy. Nói vậy chớ bả được ông Tư Khanh cho làm chính trị viên bệnh xá của U lâu rồi. Ổng nói đó là sự đãi ngộ công trạng của một liệt sĩ là ông Chín Việt hi sinh trong trận đánh hụt đồn Bổ Túc với tôi. Nấm mộ của ổng chắc đã bị heo rừng ủi láng rồi. Nhờ công lao của ổng mà bả được cấp trên cất nhắc… giúp đỡ và huấn luyện đêm ngày!

Tôn Sứt cười làm vết thẹo trên môi giật giật, hắn hớp nước trà thấm giọng và tiếp:

-Từ sau cái đại hội mừng công, B52 đến hàng ngày. Nó đeo sát R và các công trường 5, 7, 9. Nhiều cơ quan đã vọt hẳn qua Miền, vài bộ phận còn chàng hảng giữa biên giới, hễ động thì vọt, hễ yên thì về, một kiểng hai quê.

Thằng Hùng dợm nói nhưng bị Tôn Sứt cản:

– Để tao báo cáo hết đã. Bà chánh ủy gởi lời thăm anh nghe. Bả còn nói thêm là nhờ anh lần đó cho nên bả cảm, ủa, bả hết cảm. Nếu không có anh…

Thằng Hùng cắt ngang.

– Thì chắc bả xí lắc léo rồi! Còn bà khu ủy. Bả gặp tôi bả tra hạch còn hơn công an nữa. Coi bộ bả buồn tình ghê lắm. Tôi xem qua nét mặt bả tôi lo cho anh quá hà ! Anh cắm trái dừa kỳ rồi dám lên mọng lắm.

– Bậy nào! Tao đâu có làm gì bả.

– Bả khoe cùng khắp cái huyện Tân Biên còn không làm gì. Anh nhát quá. Người ta con vòng con cỡi còn không sợ, anh o-ri-gin mà sợ ai chớ?

– Còn cái tửa của máy đi tới đâu rồi ?

– Oe oe rồi ! Ngỗng trăm phần trăm. Để êm êm tôi cho móc vô coi mặt thằng nhỏ.

– Vậy là có kẻ nối dòng…

– Cái dòng lang bang hả anh? Còn cô em nuôi Ba Phi bỏ sót trên Oàm Cỏ Đông, tiếc hùi hụi mà gùi đi không được. Chắc bây giờ nường đã lui ghe về chợ Long Hoa rồi. Thì, đại khái như vậy, anh cứ yên tâm đi. Cái gì của R trả lại cho R! À mà quên, cô em gái Huỳnh Mai Huỳnh Mốt gì của anh có thư từ gì cho anh không? Tôi rủa ông Bảy Đậu mấy ngày liền. Vợ tôi xúc hụt về cho anh là bị lão đó. Đang hội nghị bỗng xách con người ta về R. Vừa đút đầu về tới là B52 rắc ba-lông. Thầy Hai còn nhớ tụi thằng Lộc, thằng Lực, thằng Hải không? Chúng nó đem pháo Nhật 40 ly yểm trợ bộ binh ở trận Bình Giả, bị B52 rầm hết rồi. Còn thằng Chín Hung tôi mới gặp trên đường xuống đây. Hiện nó làm đại đội trường trợ chiến của D14 Tây Ninh.

Tôi tiếp:

– Nó thuộc dân bàn nạo Bến Tre cháu ông chủ tịch tỉnh. Vừa mới cưới cô vợ mười sáu tuổi. Bà già vợ mua gạo ấp chiến lược về bán cho bộ đội. Nó vẫn uống rượu bằng tô chớ không có bằng ly chén như tụi mình.

Tôn Sứt tiếp:

– Về đây thiếu gì rượu tha hồ cho nó uống. Cái mặt của nó bây giờ có nọng chớ không phải ốm nhom như hồi ở ngoài Thanh Hóa đâu. Còn về cán bộ chỉ huy thì U80 bị dân Sáu Bèo tràn lấn dữ lắm. Chắc rồi đây ông Tư Khanh nhà mình cũng bay luôn thôi. Nghe đâu thằng Huỳnh Thành Đồng còn sống sót sau trận pháo kích Biên Hòa. Chỉ mất hai khẩu DKZ và chết non một trung đội.

– Rồi sao Bùi Khanh làm xã đội trường Kà Tum?

– Ổng muốn làm như Huỳnh văn Một. Ngoài khẩu súng thể thao của ổng, với vài cây trường bá đỏ ổng có thể săn thịt rừng nuôi sống cả đơn vị bảo vệ Kà Tum của ổng. Ổng bảo chữ nghĩa quên hết rồi. Nhắn tao thăm nó, tao thương nó như em ruột.

Tôn Sứt dừng lại một hồi rồi hỏi:

– Anh có gieo mầm sống mới ở trển không mà người ta đòi đi ngã thành xuống Củ Chi tìm anh vậy?

– Đâu có sống mới sống cũ gì, tại người ta cảm tình…

– Ừ, cảm tình và tình… cảm ông ria khắp xứ, trên đó nhắc ông dữ lắm. Ông ở dưới này đâu có hay biết gì. Ông đi rồi trên đó nhậu mất ngon.

– Thôi tụi bây ơi! tao làm gì được mà đổ thừa. Ờ còn Sáu Ngọc với cái rẫy Nàng Rà ra sao?

– Dẹp hết rồi. Không biết ổng cõng vợ con đi đâu. Riêng Tư Thịnh bị đẩy về Z45 phòng không thay thế cho Tư Quảnh và Ba Tô Dê bị rụm ở Đồng Xoài, rồi cũng rụm luôn.

– Tao có nghe ! Trời ! Tư Thịnh bà con bên ngoại với tao. Còn Ba Ân Bến Tre?

– Ổng đau rề rề đi an dưỡng. Tư Răng, Bùi Đớt, Năm Chí, Sáu Việt, Hai Mạnh mỗi người một ngã.

– Vợ chồng Năm Chí còn đòi giải ngũ về miền Tây nữa hết?

– Ở trên nói để cứu xét. Nhưng cứ ngâm hoài. Bả đã tự vận mấy lần mà không chết. Anh em bảo cho hai vợ chồng giải phóng phức đi, nhưng ở trên sợ thả họ đi làm lộ bí mật địa điểm. – Tôn Sứt thở phào – Thôi, tôi về được dưới này với anh là vui rồi. Ở trển, qua mười giờ thì mới khỏe được chút chút. Nhưng gần đây thì nó chơi không còn giờ giấc quy luật như trước nên không biết đường mà tránh nữa. Cứ niệm Phật cầu Trời như ông Một vậy thôi.

Tôi cười hề hề :

– Tao có phép đỡ được bom pháo và B52.

– Phép gì vậy? Bộ ông tu… đạo gì hả?

– Người ta cho tao một lố cà rá làm bằng xương Cao Đài.

Mọi người nhảy dựng lên:

– Thầy nói nghe ghê vậy thầy Hai!

– Thiệt mà để tao đưa cho coi.

Tôi thấy thương Tôn Sứt quá trời. Cấp bậc trung úy, lớn con, nước da trắng, chân thật, hiền từ, dễ thương và… chưa vợ. Tôi đã nghĩ đến các cô Suối, Trong, Xanh, Biếc con của bà Tư Bánh Bò và cô bé Nhành, em của thằng Năm Cội. Một trong mấy cô này có thể xứng đôi với Tôn. Thằng Chín Hung xấu trai và ba mươi lăm tuổi còn quơ được cô văn công tỉnh mười sáu tuổi huống gì thằng trung úy đẹp trai này. Tình duyên của đám thanh niên tập kết toàn éo le, không có một cặp nào bình thường. Đó cũng là kết quả tình thương của Bác.

Đang nói chuyện rí rố ngon ngọt bỗng thằng Hùng hỏi ngang:

– Còn ông thầy cối Hai Giả đâu rồi thầy Hai?

– Ờ ờ ông đi công tác mới.

– Ở đâu?

– Ở dưới Dĩ An, Thủ Đức.

– Chà ! Đi gần mé Sàigòn ngon hả ?

Tôi ngồi lặng thinh. Cái xắc-cốt của Hai Giả do Năm Lê trao cho tôi, bảo đưa lại gia đình, đến nay tôi vẫn chưa dám đem lại cho chị Chín. Tội quá . Con gái của chị (con bé Thanh) hàng ngày tới đây cùng với con bé Nữ (con của vợ Sáu Phấn) để hụ trợ công tác nuôi quân, mè nhèo với tôi để được nhận vào cơ quan chính thức. Cả hai đứa đều than một giọng như nhau: “Ở nhà chán lắm, chúng cháu muốn vô với chú Hai.” . Tôi hứa lần hồi nhưng không thể nhận đám con nít làm nhân viên. Chúng vô đây chỉ làm cản trở công tác thôi. Vài bữa nữa tình hình sẽ không còn cho phép uống trà, nhậu nhẹt dụm năm dụm ba thế này nữa.

Bỗng có tiếng máy bay ù ù xớt ngang mặt sông, rồi tiếng bụp bụp. Đó là máy bay Mâu-hốc chụp hình. Cách đây mấy hôm, chúng cũng làm cái mửng đó. Đó là dấu hiệu sắp ăn dưa hấu hằng loạt. Bọn cán bộ quân sự đầu có sạn còn lạ gì. Chúng tôi nhìn nhau. Tôi trấn tỉnh ngay:

– Có khi nó chỉ dạ hành tỏ thôi.

Ba Tố bảo:

– Tuy chưa phải nó mần ngay, nhưng mình phải chuẩn bị chớ thầy Hai!

– Một đơn vị năm trăm người muốn dời đâu có phải dễ chú Ba nó !

Ba Tố tiếp:

– Hồi Củ Chi mình bị B52 lần đầu cũng thứ Mâu-hốc này ra vĩ trước. Nó bay qua bay lại xắc thành ô vuông. Cứ mỗi cái bốp là một pa. Mỗi pa chụp rộng cả cây số. Từ nay tới hai tuần nữa thế nào mình cũng bị một phát.

Hùng nói: .

– Vậy mình cho tụi nó đội đầu cối 82 mình trước đi!

– Chơi một vài chục quả ăn nhằm gì mày ơi!

– Vậy thầy định bao nhiêu?

– Đồng Dù: 1000. Trung Hòa: 500.

Hùng lắc đầu:

– Bất khả thi. Đạn ở đâu? Vò đất sét à ?

– Nếu không thì cũng một nửa. Chớ vài chục quả như gãi ngứa nó. Nhưng yêu cầu của ở trên là mấy quả cũng tốt. Miễn có nổ trong căn cứ tụi nó thì thôi. Cho nó biết rằng mình chưa có chết hết. Và cho đồng bào vô ấp chiến lược trở về vùng mình. Để tình trạng như bây giờ nó cứ lấn dần từng tấc đất lấn đất rồi xúc dân, cuối cùng mình trơ xương ra. Dân đã ra Trung Hòa xin giấy hợp pháp. Tuy làm ăn trong này nhưng cái đầu họ ở ngoài đó. Nhiều nơi nông dân đang làm đồng, bỗng trực thăng hạ xuống. Mỹ hẳn hoi. Nó xét giấy của hội tề. Ai có thì nó để cho yên, ai không có nó xúc ra ngoài ấp chiến lược. Nó cho gạo ăn, cho tôn lợp nhà, cho thuốc men. Rồi nó bảo muốn được bình yên, khi cày cấy phải cắm cờ quốc gia! Hễ nó thấy cờ đó thì nó không bắn.

Tôn Sứt ở trên R mới xuống, nghe lạ quá, kêu lên:

– Vậy tụi nó cha mình rồi !

– Nó là ông cố nội nữa chớ cha ? Đồng bào mình muốn làm ăn yên ổn nên làm theo nó. Thế là bị mấy ông đội ấp kiểm thảo, hăm dọa. Nhiều người đang ở trong này, sợ vọt ra ngoải luôn.

Hùng cào cái đầu tóc xùi lên, nhăn nhó:

– Tình hình dưới này phức tạp quá. Ở trên rừng vậy mà dễ . Sống với ba con khỉ chẳng cần chánh trị chánh trọt gì hết. Chỉ hơi khó xử với các tổ xe bò của ông Tư Ó thôi.

Tôi sực nhớ mấy người gài kỳ đà bán cho tôi và bà khu ủy nên hỏi phăng:

– Mấy tổ Hậu Cần còn đó không?

– Họ bỏ trốn ra Tây Ninh hết rồi. Bà Út khu ủy chèn ép họ quá, họ liều mạng thoát thân.

– Còn cái quán của má Hai bà Út chuyên môn mua ghi sổ?

– Vẫn còn đó, nhưng cũng sắp xếp xó. Vùng đó bây giờ lại sanh ra món bom trộm.

Ba Tố gắt hỏi.

– Ăn trộm hả? Ai ăn trộm của ai?

– Bom trộm ông ơi ! Tức là mình đang ngủ phản lực tới trút bom rồi bay thẳng không cần đầm già bắn điểm gì hết. Nó chơi cái kiểu này độc lắm. Mình không có đề phòng được. Cứ đưa cái bụng cho nó bỏ may nhờ rủi chịu. Do đó đoàn xe bò cũng thưa đi đêm.

Ba Tố trầm ngâm nãy giờ, lên tiếng:

– Vấn đề chính của mình bây giờ là vũ khí. Có pháo dệnh cho nó vài trăm quả , có pháo phòng không hạ vài chiếc máy bay thế là xoay chuyển tình hình. Chứ mình có tinh thần mà không có phương tiện thì như cua không có càng, kẹp ai? Cứ bị nó vây riết thôi.

Tôi nói:

– Hồi đình chiến bộ ở trên này mình không có chôn giấu vũ khí ở lại sao ta?

Ba Tố đáp:

– Chuyện đó mình đâu có rõ, nhưng hồi năm ngoái tôi nghe bên Bến Cát có bới được một hầm súng. Lúc đó ông Ba Kình là tham mưu trường quân khu, chỉ thị cho ông Năm Tiền và ông Hai Giả qua đó để xem xét. Quả nhiên có cà nông 20 và đại liên 13.2. Có lẽ người phụ trách cái hầm đã chết hoặc bỏ về thành, nên không biết mối mang để phăng ra nữa.

Ba Tố tiếp:

– Kế đó tôi và Năm Đùng bò sang mò tiếp với quận đội Bến Cát. Năm Đùng nhà ở ấp Bến Nhung nên rành con đường đá đỏ từ cầu Phú Bình đổ xuống ấp U Tàu. Lúc đó xóm ấp còn sung túc, dân cư đông đúc lắm. Quán xá khách khứa, bộ đội cán bộ dập dìu. Vui thiệt là vui. Qua bên đó tôi gặp cô huyện đội phó Sáu Hòa.

Tôn trợn mắt:

– Lại cũng đụng hầm chông nữa. Rồi lọt không?

Ba Tố cũng chưa vợ, cứng cạy nhất trong đám, nhưng có tính kỹ lường, đàng hoàng nên không mang tiếng. Ba Tố tiếp:

– Cô ta dắt vô một nhà cơ sở giở nắp hầm lên chỉ cho hai cây cà nông 20 ly.

– Rồi có lấy về không?

– Lấy làm gì ba cái thứ súng cà lăm của Tây để lại đó. Cứ bắn vài viên lại phải xoi lòng cả buổi. Đem về chơi với tụi Mỹ có mà bỏ mạng. Hơn nữa, nhân lực đâu mà dùng. Muốn di chuyển một khẩu phải dùng một trung đội.

– Rồi có ông nào vô ngàm được cô quận đội không?

– Cô ta là em gái của thằng tiểu đoàn trường tiểu đoàn Phú Lợi 3 của tỉnh Bình Dương cũng dân rau muống quấn hụt như mình nên biết tỏng tụi mình hết. Nó bảo tụi mình đều mắc gốc ngoài Bắc, chớ nên rớ vào. Do đó con bé đá lông nheo sơ sơ với tụi này rồi dạt ra, không xáp. Năm Đùng hi vọng nhiều nhất trên ôm vết thương lòng, đành ca sáu câu Hận sông Sài gòn rồi lẳng lặng ra về… tay không.

Tôi tiếp:

– Bên đó đất cũng cao như hai xã Nhuận Đức và An Nhơn Tây của mình. Dân ở xóm Bến Lò Than, Bến Củi, Xóm Miếu chuyên môn đi cạo mũ cao su. Người Bắc ở đó cũng nhiều. Sông Thị tính nhỏ nhưng tôm cá rất nhiều, không có tàu chạy như sông Sài gòn.

– Sao thầy rành vậy?

– Hồi chín năm tôi làm mật mã cho ông Lê Đức Anh đóng ở rừng Long Nguyên nên biết hết vùng này. Ổng gốc dân cạo mủ..

Ba Tố đất thuốc hút và tiếp:

– Tụi tôi từ Bến Nhung đi theo đường Lô cao su thẳng về Bưng Còng, rồi theo đường 14 về bến đò Đồng Sõi để qua bên này. Nhớ lại cảnh tươi vui trù phú hồi đó mà ham. Bây giờ từ cầu Phú Bình trở xuống Bến Sắn, Bến Nhung dân đã bỏ đi ra Bến Cát sống. Cũng giống y như bên này dân ra Trung Hòa và các ấp chiến lược vậy. Vùng đó bây giờ thường xuyên ăn pháo Lai Khê Bến Cát nên quận đội đã dời về đường 14 ở Bưng Còng hay Rạch Bắp gì đó.

Tôi nói:

– Mấy lúc gần đây tôi nhận thấy có hiện tượng chúng nó sắp đóng đồn Rạch Bắp.

Ba Tố lắc đầu:

– Nó mà đóng Rạch Bắp thì mình kẹt cứng! Dù Rạch Bắp ở phía bên kia sông Sài gòn nhưng đường chim bay cách đồn Trung Hòa không xa. Địa bàn hoạt động của mình sẽ bị thu hẹp vô cùng!

Bỗng Hùng bật ra câu hỏi:

– Pháo tụi Đồng Dù và Trung Hòa thì dễ rồi, nhưng hạ máy bay thì làm sao?

Tôi bảo.

– Cũng dễ thôi. Máy bay ở đây như trấu. Nhất là trực thăng thì với tay nắm được cái đuôi nó. Chỉ cần cho vài cậu lính hóa trang nông dân ra đồng trống làm bộ cuốc đất thì nó đáp xuống xét giấy thôi.

– Nhưng ai dám làm nông dân? Lơ mơ bị lạc đạn uổng mạng.

Ba Tố nói.

– Tôi có ý kiến là nên làm vài cái bù nhìn cắm giữa ruộng là hay nhất! Như vậy khỏi sợ lạc đạn.

Câu chuyện sắp kéo lê qua chuyện bắn máy bay thì bỗng có tiếng eo éo. Tôi nhận ra giọng bé Thanh.

– Gì đó cháu?

– Má em nói có dượng em về – Bé Thanh vừa nói Vừa khom mặt xuống hầm – Cháu nói là cháu ở đằng này hồi chiều đâu có thấy đường, nhưng má em bảo là có và bảo em lại xem cho chắc.

Ba Tố lắc đầu:

– Cháu xem nội đây có ai tên Hai Giả không?

Hùng bảo:

– Chắc bả nằm chiêm bao.

Tôi thấy xốn xang trong lòng. Chiếc xắc-cốt của Hai Giả mà tôi đang giữ như một cái món nợ chưa trả được. Mỗi lần tôi nhìn thấy nó, tôi như có một niềm ân hận. Nếu tôi không về H6 thì Hai Giả sẽ không đi Dĩ An Thủ Đức. Bây giờ sự việc đã như vậy rồi, không thể nào vớt vát được. Thương cho người đàn bà hai đời chồng đều tan vỡ hạnh phúc cả hai, chỉ vì chiến tranh. Lần trước một đứa bé gái nay đã mười lăm tuổi, lần này đứa bé còn nằm trong bụng mẹ mà cha thì đã chết rồi. Tôi bảo bé Thanh:

– Cháu về nói với má là dượng chưa có về.

Bé Thanh vẫn không chịu đi. Tôi bảo:

– Cháu vô văn phòng lấy máy ra tập đánh đi, khi thuần thục chú sẽ nhận cho làm thơ ký cơ quan.

Nghe thế, bé mới chịu rút lui. Tôi còn nhớ rõ trong xắc-cốt của Hai Giả có mấy tấm hình y cho vào cuốn album con có bọc giấy kiếng rất kỹ. Đó là hình của y mang lon đại úy chụp tại Thanh Hóa, ở tiệm Ánh Sáng Miền Nam. Tấm thứ hai là hình vợ lớn đứa con trai và y. Thằng con trai đâu chừng mười ba tuổi. Bà vợ nét mặt hiền hậu chất phác. Tấm thứ ba là hình chị Chín Kiểu đứng bên cạnh y. Ở sau lưng có những dòng chữ viết rất nắn nót. Quân phục giải phóng và chăn màn còn nguyên. Có lẽ ba lô được cất giấu ở hầm khác nên không thấy bị vết đạn.

Bữa nhậu hôm nay không ngon lành như những bữa tiệc họp mặt bạn cố tri trước. Tôi thấy nó nhờn nhọn thế nào ấy, uống không vô. Tiệc xong, tôi phân công chỗ ngủ cho mọi người. Ai cũng có phần dưới hầm. Không người nào phải nằm trần trên mặt đất đưa bụng hứng pháo. Tôi nhớ hồi ở miền Bắc, trước khi lên bệ phóng, tôi có dắt một đoàn cán bộ pháo binh đi vào vùng tuyến lửa để quan sát các trận đánh ngỏ hầu về trong này đụng với vũ khí và phi cơ Mỹ khỏi bỡ ngỡ. Quả thật như câu nói của Johnson: “Đánh cho Bắc Việt trở lại thời kỳ đồ đá”. Quân xa không chạy được, phà không có, cầu sập không còn một chiếc nào. Tôi đã sống tại mặt trận Vinh một tháng và đã thấy máy bay Mỹ ném bom Cảng Bến Thủy. Pháo thủ tiếng rằng ngồi trên mâm pháo ăn cơm, nhưng cũng không bắn kịp. Chúng nó bỏ bom xong rồi vọt lên biến mất trước khi khẩu đội hỏa tiễn nổ súng. Chúng tôi hoàn toàn ăn ngủ dưới hầm.

Bây giờ về đây cũng y như vậy: ở hang! Thời kỳ đồ đá?

Sắp xếp xong tôi vào hầm lấy chiếc xắc-cốt của Hai Giả đã bọc kỹ trong một tấm ni lông, ra đi. Phen này tôi phải làm nhiệm vụ của một trưởng cơ quan đối với một cán bộ đã hi sinh. Tôi không thể đeo mãi cái món nợ vô lý này. Chồng người ta chết, tại sao mình ém nhẹm?

Thằng Đỏ chạy theo la ơi ới:

– Anh Hai đi đâu vậy? Giờ này pháo hay giãgạo miệt này lắm!

– Không sao đâu! Vô ngủ đi.

Tôi quát rồi bấm đèn pin đi một mình. Tôi thu hết can đảm, định bụng sẽ nói tất cả sự thực và tình cảm của tôi đối với anh. Chị Chín chưa ngủ. Tôi gõ cửa và gọi tên bé Thanh. Bé Thanh kêu lên:

– Dượng về đó má !

Chị Chín mở cửa. Ngọn đèn chong trên tay người đàn bà run run như xúc động. Chị Chín nhìn ra tôi nhưng không tỏ vẻ thất vọng. Chị kéo ghế cho tôi ngồi, rót nước mời và nói:

– Chắc nay mai ảnh sẽ về . Con mắt trái của tôi giật mạnh quá hà cậu.

Tôi rủn chí. Bao nhiêu ý định của tôi đều tiêu tan vì câu nói lạc quan của người đàn bà. Tôi không nỡ dội một gáo nước vào ngọn lửa hi vọng của chị. Chị lại hỏi tiếp:

– Ảnh không có gởi thơ về sao cậu ?

– Ảnh mới xuống tới dưới đó thôi. Chừng nào yên nơi yên chỗ mới ngồi viết được.

– Tôi muốn gởi thơ cho ảnh được không cậu?

– Dạ được chớ! Chị viết đi, rồi tôi chuyển cho.

Từ láo ít đến láo nhiều. Láo không còn quay lại được. Chị vào buồng rồi trở ra ngay với một tờ giấy trên tay. Chị tươi cười:

– Cậu đọc đừng có cười nghẹn. Tôi thức đêm hồi hôm viết mà nước mắt chảy hoài tôi cứ phải ngưng hai ba lần, viết hai ba chặng mới rồi đó !

Chị cứ cầm bức thư trên ta nhấp nhứ mà không chịu đưa cho tôi. Tôi thấy rối trí và xấu hổ vô cùng. Chị tiếp:

– Còn hai tháng một ngày nữa là ảnh thêm một đứa con. Phải chi chừng đó ảnh được về phép để nhìn đứa nhỏ. Còn nếu ảnh bận thì sau khi ăn đầy tháng tôi sẽ bồng nó xuống thăm ảnh.

Tôi xua tay:

– Không được đâu chị, cháu bé còn non ngày tháng đi ra sương gió không tốt.

– Đâu có sao, hồi trước tôi sánh con Thanh cũng mới đầy tháng tôi cũng bồng nó đi thăm ba nó. Kỳ này rồi cũng vậy.

Bất giác tôi nhìn lên bàn thờ. Ngọn đèn tù mù xanh lét như linh hồn người xưa còn lơ lững chưa chịu tắt. Tấm hình để tựa vách, lờ mờ trong ánh sáng yếu ớt như cố lắng nghe lời người vợ năm nào. Than ôi ! Chiến tranh lại tái diễn những màn lớp cũ.

Chị xếp tờ giấy nhỏ lại rồi với tay lên góc bàn thờ lấy chiếc phong bì vừa xếp nhỏ lá thư cho vào vừa nói:

– Ảnh dặn tôi hễ sánh con gái thì đặt tên Chi, còn con trai thì đặt tên Hùng.

– Ý ảnh muốn nói là Củ Chi anh hùng.

– Cậu nói trúng ý ảnh đó ! – Chị đưa thư cho tôi – Cậu về kiểm duyệt rồi gởi đùm tôi.

Tôi nhận bức thư và đứng phắc dậy ra về quên cả từ giã, như một kẻ trốn tội. Tôi ra đến sân thì chị kêu:

– Cậu Hai bỏ quên cái gói gì.

Tôi giật mình đánh thót, trở vào nhận cái gói. Hú vía, nếu tôi không gói và buộc kỹ thì đã vỡ lỡ câu chuyện rồi. Tôi kẹp nách cái gói và cắm cúi soi đèn pin bước nhanh. Hai Giả ơi! tôi không có đủ can đảm nói sự thực cho vợ anh. Anh có khôn vong thì ứng mộng cho chị ấy.

Tôi nghe buốt lạnh xương sống. Tôi đi một lúc lâu sau không thấy tới ngõ rẽ vào cơ quan. Thì ra tôi đã lạc vào con đường mòn dẫn đến nhà Sáu Phấn. Đó là thói quen. Đôi khi định đến chỗ khác nhưng cặp mắt cá lại sáng hơn mình. Nó dắt mình tới những nơi mà mình không định đến.

Đã hơn mười giờ nhưng Sáu Phấn còn ở ngoài sân. Bà vợ cầm đèn soi cho chồng trét chai chiếc ghe mới. Thấy tôi, Sáu Phấn phân trần ngay:

– Tình hình này mình phải sẵn sàng thầy Hai ạ. Nếu mình bận chiến đấu thì vợ con mình có ghe đi xuống Phú Hòa tạm trú. Một thân một mình như thầy mà khỏe!

– Phải ! Tôi đến bàn giao cho anh mấy công tác để ở nhà anh hoàn thành còn tôi sáng mai dắt mấy ổng đi nghiên cứu mặt trận để sửa soạn vào đợt. Chậm thì một tuần, nhanh thì năm ngày là tôi về tới.

Chị Chín nói:

– Má con Hoàn bữa nay không vô cơ quan vì con nhỏ ấm đầu .

– Vậy hả chị. Để tôi qua thăm nó chút. – Nói xong, tôi đưa cái gói lại cho Sáu Phấn – Anh giữ nó đùm tôi. Để tôi đi bỏ nó ở nhà đám nhóc lục lọi bể hết.

– Có nên nói không?

– Tùy anh.. Nói cũng được mà không cũng chẳng sao.

Tôi tiến nhanh về phía nhà Mười. Thấy ánh đèn le lói qua kẹt cửa, tôi nghe nôn nao. Lâu nay thấy bé Hoàn gọi tôi bằng ba ngọt ngào, nhân viên cơ quan đều đốc tôi xốc tới, nhưng tôi làm thinh. Sáu Phấn cũng ngỏ ý thẳng thắn với tôi làm anh em cột chèo với y. Y cho biết: “Mình sai lập trường rồi đấy thầy Hai ạ !” Tôi hỏi tại sao thì y cho biết là hai chị em Mười là con ông Cả làng An Nhơn Tây. Cả hai đều có học, không nhiều, nhưng đó là loại tiểu tư sản ở vườn, lấy công dung ngôn hạnh làm tiêu chuẩn.

Tôi cứ hoang mang trước cái sắc đẹp và tính tình của người đàn bà góa trẻ đẹp hơn con gái này. Cái suy tính của tôi là mình còn trai chẳng lẽ lại đi lấy đàn bà có con? Sự suy tính đó cứ trì níu tôi một cách ác nghiệt. Cứ mỗi lần đến với nàng thì tôi ước ao phải chi đây là gia đình mình. Đôi lúc tôi nghĩ nếu nàng có bầu thì tôi nhận ngay như một việc đã rồi và sẽ không ân hận gì hết. Hoặc như bất thình tinh Sáu Phấn đưa ra tổ chức thì tôi cũng sẽ không chối cãi một tiếng. Còn như tự tôi chủ động cưới Mười thì tôi lại không có can đảm. Không phải vì chung quanh tôi có nhiều cô gái mà là vì Mười đã một đời chồng. Tôi bước tới thềm nhà thì cánh cửa sịt mở:

– :Em còn thức à?

– Em chờ anh.

– Con ấm đầu hả em?

Tôi vừa bước vào thì nàng cài then ngay như đóng cửa lồng sợ con chim trời bay thoát.

– Đâu có !

– Sao hồi nảy chị Chín nói?

Mười chỉ cười, cặp môi son xinh như một đóa hoa hàm tiếu bình minh. Tôi chợt hiểu ra người chị cũng muốn cho con chim mắc cái bẫy nhung này.

– Em có dẫn con đến hồi chiều, nhưng thấy khách lạ đông nên em lui trở về.

– Sao vậy? Mấy người đó ở trên R mới xuống, toàn là người quen cũ.

– Nếu ở lại thì con Hoàn sẽ gọi anh bằng ba rồi mấy người đó hỏi anh cưới vợ hồi nào mà có con lớn vậy rồi anh trả lời làm sao?

– Thì anh nói là con của anh.

Mười lặng thinh. Ngọn đèn trên tay nàng xao xuyến vì một ngọn gió len qua kẹt cửa. Mí mắt buồn rũ xuống chớp chậm. Tôi cũng không biết nói gì. Nếu nói, thì câu đó phải là: “Bé Hoàn là con anh, em là vợ anh.” Câu nói đó sẽ làm cho Mười vỡ ra thành nước mắt. Nhưng tôi vẫn không có can đảm. Nàng đưa mắt nhìn tôi và nói chậm rãi.

– Mỗi lần ở đằng đó về, con Hoàn cứ hỏi em: “Sao ba không về nhà mình vậy má ?” Em trả lời: “Ba mắc công tác ! “

Con nhỏ cãi rướn lên: “Sao dượng Chín cũng bận công tác mà dưởng về nhà được?” Em vả miệng nó : “Con không được hỏi như vậy nữa. ” Đêm nào vô mùng nó cũng hỏi em ba nằm gối nào, rồi nó lấy cái gối mới trong tủ ra để trên đầu nằm mà phía ngoài rồi bảo em: “Má nằm xít vô chừa chỗ cho ba về nằm để nằm meo ba té xuống sàn như con vậy.”

Nàng nhỏ nhẹ tiếp:

– Nó ngồi ở ghế chờ anh về và viết bài của anh cho, buồn ngủ gục xuống bàn, em ẵm vô mùng. Có đêm pháo bắn, nó thức dậy.

– Con không khóc à ?

Tôi bịt miệng nàng bằng môi tôi.

– Quen rồi, nó không sợ nữa anh à. Nó hỏi ba có về không? Em nói ba vừa đi. Nó bảo sao pháo bắn vậy mà mà để cho ba đi. Con nhỏ khôn ghê đi anh. Thôi, anh đi tắm cho khoẻ.

Nàng đưa tôi ra nhà tắm. Tôi đã quen với mùi xà bông thơm ở vùng trời nho nhỏ này rồi. Tắm xong tôi trở vào thì đã có sẵn một ly sữa trắng tinh để trên bàn con bên đầu giường. Nàng bảo:

– Anh uống đi . Cứ ba cái nước nếp nước cay nước ngược của mấy ổng đốc xúi thi đua mà anh uống miết mất sức khỏe hết, nguy hơn nữa là pháo bắn chạy không kịp.

Tôi ngồi lên giường, ấm áp cho đời thằng Lê Dương đỏ quá. Đây là tài sản của miền Nam Tự Do tặng cho gã ta.

Tôi uống từng ngụm sữa mà nghe những tế bào trong người tôi ở tuổi thanh xuân. Tôi đã làm bạn tình với nhiều người, nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy no đầy hạnh phúc một cách đường hoàng và thấy mình gần như một người chồng như đêm nay. Nàng ngồi song song với tôi, nhìn tôi uống sữa như mẹ nhìn con.

– Ngón chân anh tách móng lành chưa, đưa em coi!

Tôi ngoan ngoản kéo chân lên để ở mép giường và hỏi:

– Sao em biết?

– Con Lam nó khoe om sòm rằng nó đi công tác chung với anh, nó băng ngón chân cho anh. Nó còn nói oang oang nó đem xà bông thơm cho anh tắm ở ngoài rạch.

– Chuyện đó có gì mà khoe.

– Nó còn nói nó khám cả người anh để tìm vành đai của thủ trưởng nữa.

– Anh đâu có ghẻ xốn mà khám?

Mười lấy khăn bàn lông vuốt tóc tôi cho khô rồi nói:

– Anh ốm hơn lúc mới về.

– Công việc nhiều quá em à !

– Quần áo của anh, anh cũng không chú ý nữa! Đi đâu cứ vác AK in như lính. Cán bộ người ta không có K54 cũng mượn đeo để làm oai với đàn bà con gái còn anh có lại không đeo. Ai đời trưởng cơ quan lại đi đẩy xe bò lãnh gạo lại để cho con nhỏ đó trên xe. Anh thiệt à !

Tôi đưa ly sữa cho nàng, nàng đẫy ra:

– Em ít uống sữa lắm.

Tôi hôn vào cổ nàng.

– Không uống mà da trắng thế này !

– Anh có vải sao không may quần áo để cho người ta?

– Anh thấy thằng Đỏ rách rưới quá. Nó đi liên lạc mà để như vậy, nó chạy khắp trời, chẳng khác nào bêu riếu cơ quan mình.

– May ở đâu không may lại đem ra bà Tám Mang.

– Vùng này đâu có thợ may, không lẽ đi ra Đồng Lớn.

– Ngoài đó người ta ăn hai trăm một bộ, ở đây bả lấy thêm năm chục mà còn nói ơn nghĩa đó. Mai mốt anh cần đem đây em may cho.

– Em có máy à?

– Có chớ sao không. Nhưng em giấu biệt. Em may cũng dư sống nhưng nghề đó quấn khách, em không muốn. Bộ đội có nhiều ông đàng hoàng cũng có nhiều ông hơi thiếu đàng hoàng. Để họ ra vào mang tiếng. Em ngồi bàn máy hồi mười ba tuổi chớ phải đi học lóm đâu anh.

Tôi uống cạn ly sữa. Đường cát còn đọng dưới đáy ly một lớp dày, tôi bèn rót trà vào lấy muỗng khuấy lên rồi uống nốt và bảo:

– Em đừng pha sữa cho anh nữa. Để dành cho con.

– Thiếu gì ba cái sữa. Em còn gởi đò máy đi Bình Dương mua Nestcafé cho anh kìa.

Bất giác tôi quay lại kéo bé Hoàn dậy và bồng nó lên hôn xối xả và thầm thì vào tai nó:

– Ba về nè con! Ba về..

– Ba về nề con, thức dậy đi coi thử có hay không để sáng khối tra hạch má sao ba không về.

Mười nói một hơi. Vừa nói vừa lắc vai con bé, tỏ vẻ vui sướng cực độ vì đã làm một chuyện bịa trở thành sự thực đối với trẻ thơ .

Bé Hoàn ngóc cổ lên, mở mắt tròn đen láy như hai hạt nhãn lấp lánh ánh đèn giữa khuôn mặt tròn trịa giữa mớ tóc mượt đẹp như tranh trong những quyển sách Hồng.

Mười nom sát mặt đứa bé và hỏi.

– Coi ai đây, con?

-Ba đây con!

Tôi đưa tay gộp đầu mẹ đầu con vào nhau và hôn bên kia bên này như mưa. Như trong mơ của truyện Thần Thoại mà bé là nhân vật, bé trỏ vào chiếc gối:

– Ba nằm ở đó. ..

– Ừ ba nằm ở đó.

– Má nằm xít vô .

– Ừ má nằm xít vô gần con để cho ba khỏi nằm meo té xuống sàn.

Tôi đặt bé Hoàn vào chỗ cũ và nằm xuống. Mười len vào giữa tôi và Hoàn. Tôi lấy chiếc gối tai bèo của nàng chồng lên gối tôi rồi đưa tay ra vừa đúng lúc nàng ngã xuống, làn da cổ chạm vào cánh tay tôi như một dải lụa đặt lên. Vừa nằm xuống và nghiêng qua ôm tôi, nàng nói.

– Anh Chín chị Chín em định bán một ít đất anh ạ !

– Đất gì?

– Ba má em có nhiều đất ở vùng Bến Mương này và ở ngoài đường số 1 nữa.

Tôi hơi bật ngửa ra. Đúng như lời Sáu Phấn nói: ba nàng là ông Cả. Tôi hỏi bâng quơ vì không thiết tha gì với ruộng vườn. Lâu nay tôi có hề cấy cây lúa trồng cây chuối nào đâu. Thấy ruộng lúa cháy, thấy vườn sầu riêng tơi tả thì cũng chắt lưỡi chút thôi chớ có đau đớn gì.

– Tại sao lại bán?

– Chớ anh không biết sao còn hỏi.

– Biết gì?

Bàn tay trắng buốt của nàng giơ lên đập đập ngực tôi:

– Anh Chín nói ở ngoài Bắc cải cách ruộng đất gì đó.

– À ! Nhưng ăn thua gì trong này?

– Còn không ăn thua nữa ! Họ vô trong này là chết. Một là họ lấy hết hai là họ bỏ tù chủ đất.

– Ai bảo bậy vậy?

– Anh Chín nói mà anh !

Thế là tôi hết phương cãi. Mười tiếp:

– Ảnh bảo chị Chín em bán chừng vài chục mẫu rồi thủ sẵn tiền, hai chị em về thành sống nuôi con The và con Hoàn. Hai chị em hú hí với nhau chớ ảnh chắc là không có sống qua cuộc chiến này đâu. May mà ảnh có được mụn con.

Tôi thở dài. Những cái bấm của ngón tay đàn bà khẽ thôi nhưng đau đớn. Tôi chạnh nghĩ tới cái thằng tôi. Già ngắt rồi vợ con chưa có, cứ xách xe không chạy cà tưng. Ông già tỏ ý buồn lo cho tôi, nhưng thấy tôi có vẻ bất cần nên ông không bảo ban gì cả, chỉ nói nhẹ một câu: “Má mày muốn có cháu bồng.” Nếu tôi quyết định cưới Chia thì má tôi sẽ vô ngay. Bây giờ nghe tâm sự của Sáu Phấn qua lời Mười thuật, tôi mới giật mình. Tụi thằng Hùng Cối, Hải ghẻ Trường Sơn, thằng Quân đều mang tâm sự đó cả . Chết không kẻ nối dòng !

Mười đã đưa tôi đến cái mức cuối cùng của sự can đảm mà tôi có bấy lâu nay: không chịu tiến tới với nàng. Nhưng nàng không dừng lại ở đó, nàng tiếp:

– Ông Hai Giả đã hi sinh rồi phải không anh?

Tôi nảy người lên:

– Ai đồn bậy vậy?

– Anh còn giấu em nữa à ?

Tôi lặng thinh nghiêng mình bỏ một tay qua hông nàng. Sự im lặng khá dài. Tôi có cảm tướng một ngàn ngôi sao đã rơi trên mái nhà này làm tan vỡ màn đêm bí mật. Tôi định thần lại, bảo:

– Đó là tin gián điệp!

Nàng không nói gì nữa. Tôi tiếp:

– Ảnh chỉ đi công tác xa một thời gian cho dịu bớt dư luận thôi.

– Công tác xa tận âm phủ hả anh? Anh Chín em nói với chị Chín. Chị Chín học lại với em mà gián điệp gì. Chị còn bảo em yêu anh, chị lấy anh Chín rồi hai chị em sẽ khổ hết thôi.

Vậy là chuyện Hai Giả đã vỡ ra rồi. Không biết bà ấy đã hay tin chưa? Nếu đã nghe sao còn bày trò nhờ gởi thơ? Hay là bả cũng đóng kịch để cười chê sự láo toét của mình.

Nghĩ vậy tôi bèn hỏi: .

– Bà Giả nghe chưa?

– Ai nói cho mà . . .

Tôi nghe cánh tay tôi ấm ấm. Tôi đưa tay tôi quệt nước mắt nàng. Nàng sụt sùi:

– Em lo cho anh quá hà . Bom đạn kinh hoàng, ngày nào cũng có người chết. Em còn nấn ná lại đây là vì anh. Chớ anh coi đó, em còn cái gì ở đây mà chờ mà đợi? Em về thành tái giá cho xong cuộc đời. Nếu anh về trể chừng một tháng thì đâu có gặp em. Bà con chung quanh đi hết rồi. Em chờ xem chị Chín bảo sao. Hai chị em cùng đi cho khỏi bơ vơ.

– Bỏ anh hả?

– Anh bỏ em thì có .

Tôi lặng thinh. Câu nói như suýt chọc vỡ cục can đảm của tôi. Nàng tiếp:

– Anh khinh em lắm phải không?

– Tại sao?

– Là vì khi không lại thế này. Nếu anh có khinh em, em cũng chịu. Nhưng em cũng nói cho anh biết rằng em không phải loại gái như đám dũng sĩ đâu. Có biết bao nhiêu người mở lời với em.

– Anh biết.

– Nhưng em không chịu ai hết. Từ ngày ba con Hoàn hi sinh em thấy không thương ai hết. Em định bỏ xứ Bến Mương này đi về thành để quên hết, thì bỗng anh đến. Em thấy yêu anh ngay . Em mơ ước anh là chồng em. Nhưng em biết không bao giờ anh chịu lấy em làm vợ. Anh chỉ thương con Hoàn nên đến với em thôi. Phải không? Nàng lắc vai tôi : Rồi nay mai sẽ cưới vợ, sẽ không còn nhớ đến em nữa. Mà cũng được. Anh yêu em bao nhiêu, em vui bấy nhiêu, em không đòi hỏi gì hết. Vầy cũng đã nhiều rồi.

Tôi ôm nàng úp mặt tôi vào mặt nàng và liếm những giọt nước mắt tuôn như suối chảy hai bên sống mũi nàng. Để khỏi bị day dứt về những lời cay đắng của nàng tôi hôn nàng trên môi những cái hôn dài nối tiếp nhau. Nàng run rẫy quằn quại rên rỉ. Rồi việc gì phải đến đã đến. Cuộc tình nào mà không đến đó. Thân thể nàng quả là một tuyệt tác của hóa công. Làn tuyết phơi mờ ảo dưới ánh đèn dầu, tóc như mây xoa trên gối, tương phản nhau làm cho người đàn bà giống như một bài thơ não nề không cần không vận. Tôi run từng miếng thịt. Tôi sợ hãi trước phần thưởng quá lớn dường như không dám đưa tay nhận. Một loạt pháo nổ xa xa ì ì ì…. âm vang của nó làm run khẽ ngọn đèn chong. Tôi thầm thì:

– Nó quay họng phía khác em ạ ?

– Kệ nó, yêu em đi. Anh đừng như lần trước.

– ….?

– Cho em xin một đứa con.

Bao nhiêu mơ mộng đều tan biến. Nàng ngồi dậy và bằng cử chỉ cương quyết.

– Bỏ cái thứ này ra đi. Tụi con gái lang bang mới sợ có con. Em không sợ có con với anh. Em sẽ không rêu rao một tiếng nào làm hại uy tín của anh. – Nàng nói tỉnh như sáo, như đã dự định từ trước – Khi em tắt kinh thì em sẽ cho anh hay rồi em lặng lẽ về thành.

Nàng giở mí chiếu lên cho tôi xem một cái gói và tiếp:

– Đây là số tiền bán mười mẫu đất xấu lại bị bom, chị Chín chia cho em. Còn mười lăm mẫu đất tốt, hễ ngả giá xong thì bán luôn. Anh! Nhưng số tiền dù bao to đi nữa, đối với em đều vô nghĩa, nếu không có anh.

Tôi là gã hành khách ngông đi trên chuyến xe đêm của Paoutowski chăng. Cửa hạnh phúc đã mở ra chào đón mà cứ quay lưng để sau này…

Chương 56
Có máu mới ăn tiền

Cơm nước xong lên đường. Phái đoàn có quân số một tiểu đội gồm ba thành phần: H6 phụ trách đo đạc để đặt pháo, do Sáu Đức làm tổ trưởng, D8 sẽ đóng vai yểm trợ cho pháo binh do Ba Tố phụ trách, quân đội sẽ liên hệ với du kích địa phương lo vụ hầm hố trong trường hợp bị đổ chụp do ông thổ địa Hai Khởi cầm đầu. Còn tôi chỉ huy chung. Mục đích của cuộc hành quân này là nghiên cứu chiến trường. Mục tiêu chính là đồn Trung Hòa. Sau đó sẽ nghiên cứu Đồng Dù. Vừa qua khỏi trung đội trinh sát thì tôi bị Lam chân đầu:

– Anh Hai cho em đi với.

– Em ở nhà lo sức khỏe cho anh em.

– Không có ai bịnh hết anh Hai ạ . Em muốn về thăm gia đình một chuyến.

– Anh sẽ cho em về phép một tuần lễ. Kỳ này anh đi có nhiều công tác khó khăn, phụ nữ không đi được.

Tôi biết Lam có âm mưu giới thiệu tôi với gia đình, vì chúng tôi sẽ ra Ràng là quê hương của Lam, để ngó ra Trung Hòa. Cho nên tôi cương quyết không cho cô bé đi.

Đi ngang nhà Sáu Phấn thấy y đang lui cui đóng mui ghe. Tôi bảo Sáu Đức trung đội trướng trinh sát cùng tôi ghé lại để dặn dò thêm công việc.

Vừa vào đến nơi, đã nghe tiếng reo mừng của bé Hoàn:

– Má ơi, ba về nữa.

– Ba mày về hồi nào mà nữa?

– Ba con về hồi hôm ngủ với con trong mùng.

Sáu Phấn sợ tôi ngượng nên nạt con bé:

– Đi vô lấy hộp quẹt ra đây cho dượng hút thuốc.

Con bé vừa quay lưng thì vợ Sáu Phấn và Mười đi ra. Mười ẵm con của Sáu Phấn. Con bé được ba tháng trông kháu khỉnh .ra phết.

– Dượng nó có ẵm một chút lấy hên không?

Chị Chín trêu tôi và liếc nhìn Mười. Mười đưa đứa bé cho tôi. Thiệt là sung sướng. Hìmh như lâu lắm tôi không có ẵm trẻ con. Bé Hoàn chạy lại đeo tôi như thường lệ :

– Sáng ngày con thức dậy ba đi đâu mất tiêu.

– Ba đi công tác mà con.

Mười nói, đỏ rần đôi má. Chị Chín nói rướn tới:

– Mai mốt con đừng cho ba con đi nghe !

Sáu Đức liếc tôi cười tủm và bước lại lái ghe ngó qua ngó lại và nói:

– Ghe này mới có một mình anh chèo lái hả anh Sáu?

-Ừ .

Sáu Phấn ngập ngừng y không nói tiếp cái câu mà y đã nói nhiều lần với tôi hoặc với người khác mà muốn thấu tai tôi. Ghe không kén người chèo nhưng người chèo lại kén ghe!

– Hoàn, hỏi ba đi công tác chừng nào về con?

Tôi nói thẳng với Mười.

– Anh đi chừng một tuầ n lễ .

– Anh có đem y tá theo không?

Tôi biết Mười hỏi cấn Lam, nên đáp:

– Toàn là đàn ông. Cả thằng Đỏ anh cũng không cho đi.

Tôi đưa mẫu giấy nhỏ ghi công tác cho Sáu Phấn rồi cùng Sáu Đức trở ra đường. Vì đã định trước hành trình, trạm nghỉ chân nên mỗi tốp cứ tự động hành quân. Khi đi ngang qua ngã ba Bầu Trâm, Hai Khởi tụt lại sau chờ tôi và trỏ vào ven rừng chồi, bảo:

– Trong đó có quán của vợ Năm Trầu, phó ban Hậu Cần quân đội.

Tôi cười:

– Năm Trầu là anh Bay Hốt chớ gì!

– Sao thầy biết giỏi vậy?

– Ở trên Bến Dược thì Bảy Hốt có em nuôi là Sáu Tiệm bán quán, ở đây có Năm Trầu cất quán cho vợ bán cắt họng lính chớ sao. Mao chủ tịch từng nói thằng nào làm quản lý ba tháng đem ra chém đầu không oan chút nào.

– Vậy mà thằng cha này làm Hậu Cần hai năm rồi, có ai sờ tới cái lông chân nó đâu, đừng nói chém. Vợ nó chém người ta thì có . Anh muốn vô coi chơi cho biết không? Vải ni lông giống hệt vải phát cho anh. Còn muối, gạo, khô, đường thì đầy ắp. Vậy mà lính đói trắng dã con mắt.

– Không coi cho đỡ xốn con mắt chú nó ơi.

Tôi và Hai Khởi, Tôn Sứt đi sau cùng. Tôi có ý đem theo Tôn đi kỳ này để bận về ghé xóm bà Tư Bánh Bò cho nó tìm ý trung nhân, chứ thực ra nó không có nhiệm vụ gì ở đây cho lắm. Nhà dân lưa thưa dọc theo hai bên đường. Ngoài ruộng người làm cũng thưa. Hai người du kích từ trong vườn chạy ra chận Hai Khởi, la lên:

– Ông quận, tụi em gác ở đây nên nghe tin tụi lính Trung Hòa thọc vô tới ngã ba Tầm Lanh nhưng không chắc.

Hai Khởi có tính la quát lính, nạt ngay:

– Sao không cho tốp đi trước hay?

– Dạ , tụi em không có quen.

– Chạy theo kêu họ trở lại, mau lên!

Tầm Lanh là một xóm nhỏ nằm giữa Ba Sòng đầu dưới và Đồng Lớn, gần bên Gò Nổi trên. Lính Trung Hòa thường nằm phục kích ở đây. Cán bộ đi lẻ đã bị chúng bắt sống nhiều lần rồi, nên nghe nói tôi bảo Sáu Đức và Tôn lùi lại quán vợ Năm Trầu. Nhưng toán du kích trở lại cho biết đó chỉ là tin vịt. Đoàn đi trước trót lọt, chắc không có lính. Hai Khởi kéo ngọn đi một chút thì tới giữa xóm. Hai Khởi vào một cái nhà và bảo là tìm ấp đội Hai Bụng. Bà vợ mới sanh còn non ngày tháng ngồi trên võng bế đứa con đỏ hỏn, càu nhàu rằng ông Bụng không có ở nhà. Hai Khởi bảo lính vô Tầm Lanh, thì chị nói quát ra:

– Tui có biết ai là ai. Du kích cũng như lính Trung Hòa ông nào cũng mang súng và ăn mặc giống nhau. Chừng nào có phục kích mới biết. Hễ du kích chạy thì có lính Trung Hòa vô còn hễ lính Trung Hòa chạy thì biết là bộ đội tới.

Nói xong chị hỏi tụi tôi đi đâu.

– Đi ra Ràng.

– Đi hướng đó thì dầu lính nằm ở Tầm Lanh cũng không ăn thua gì. Nếu nó ở Tầm Lanh thì sợ nó thụt cối hoặc xả trung liên chứ tụi nó đâu có chạy qua đồng trống mà rượt các anh được.

Thế là chúng tôi tiếp tục đi. Hai Khởi thầm thì với tôi:

– Nhà con bé út Hương của tôi ở đây. Mới mười tám thôi. Coi đặng lắm. Nhưng ông thầy nhớ là đừng có cho tôi lòi cái đuôi rau muống thì hết món ăn.

Đi một chốc, Hai Khởi trỏ vào một cái nhà ngói có vẻ còn nguyên và nói:

– Đây là nhà của Bảy Lập. Thằng này biết kéo cây đờn gió và chơi ghi-ta.

– Đờn gió là đờn gì cha non?

– Là cây đờn xếp ra xếp vô ôm trước ngực như cái máy đánh chữ đó mà.

Tôi ngẫm nghĩ mãi mới biết là cây đờn ắc-coọc, tôi bảo:

– Thì ăn nhậu gì mà nói ở đây.

– Thầy Hai ơi, nó có con em gái tên là Chín Hòa, mới mười chín tuổi rưởi, dạy bình dân cho con nít. Ông già bà già nó còn ở trong vùng “rảy phóng” ta. Thầy vô là nghe cái cụp ngay thôi.

– Ôg điều nghiên kỹ quá, ông tha-mu!

– Mình phải đi sâu vào loòng nhân rân và đi sát cái đáy quần . . . chúng mà thầy ! Hí hí !

Tôi nhìn màu xanh từng cụm từng dãy ở ven đồng điểm những cánh cò trắng chơi vơi trong nắng trưa. Ôi sao mà nhớ nhà nhớ cửa. Ông già vô nói chuyện chưa đâu đến đâu, tôi đã vội vã đưa về . Biết chừng nào phụ tử lại trùng phùng lần nữa. Mười năm, hai mươi năm hay lâu nữa? Sáu Đức vừa đi vừa móc sổ tay ra ghi ghi chép chép và báo cáo với tôi:

– Nếu đặt cối 82 ở đây thì phải bắn mút tầm đạn mới trúng giữa bót Trung Hòa, còn cối 81 thì phải nhích lên một trăm thước đó anh Hai.

Tôi lặng thinh vì tôi nghĩ tới nhiều chuyện khác: nếu đạn biến chất, không đi đúng tầm dự định thì sẽ rơi vào nhà dân, còn bay tới mục tiêu thì chắc gì đã đạt được kết quả? Vì tụi lính đồn thường ở hầm xây bằng bê tông. Bao cát Mỹ tăng cường chừng năm lớp trên nóc. Cối 81, 82 không chết ai.

Tới Bàu Sỏi, Hai Khởi cho toàn đoàn rẽ vào xóm phục kích và cho một tổ đi lên phía trước. Tất cả sẵn sàng chiến đấu. Hai Khởi trỏ về phía Trung Hòa, nói với tôi:

– Cái đồn này có từ thời Pháp tới bây giờ chưa bao giờ vắng lính. Bây giờ nó kiên cố vô cùng. Một trung đoàn đầy đủ binh chũng và quân số chưa chắc hạ nổi. Mình pháo kích có ăn thua chăng chỉ hai trái đầu. Đến trái thứ ba thì tụi nó chui hết xuống hầm. Quanh đồn là đồng ruộng. Mặt tiền là đường số 7. Ấp chiến lược và phố chợ bao che cho nó. Gạo, tôn, sữa, thịt hộp Mỹ đã làm nên một cái quan điểm nhân dân khỏe ru, còn mình chổng khu kêu gào tuyên truyền đe dọa vẫn không giữ được dân.

Trong lúc nhà tham mưu quận đội thuyết trình, tôi rẽ bụi rậm giơ ống dòm lên quan sát. Tôi thấy rõ tên lính ngồi trên chuồng cu đang vặn radio, chắc chắn đang nghe vọng cổ buổi trưa, thấy bùi nhùi kẽm gai từ chân đồi đến chân tường đồn không biết bao nhiêu lớp. Một trung đoàn dốc toàn lực tấn công và phải hi sinh ít nhất là một tiểu đoàn. Tôi thầm nghĩ và đưa ống dòm cho Hai Khởi xem tiếp. Hắn vừa xoay người vừa nói:

– Bắn từ hướng này thì mình không sợ trúng dân. Nếu đạn không bay tới đích thì rơi ngoài ruộng.

– Như vậy lỗ vốn thì pháo kích làm gì?

– Thì thầy bảo ở trên cần có tiếng pháo ta gầm cho chúng nó biết ta chưa chết hết.

Bỗng có tiếng vang từ hàng dừa xóm Tầm Lanh:

– Ê, làm gì đó mấy ông nội con nít?

– Qua đây biểu coi.

– Xung phong băng đồng bắt sống tụi nó bây ơi!

Hụp hụp! Tắc tắc tắc… Trung liên nổ ròn tan. Mấy trái moọc-chê bay rơi trên ruộng nước bắn tung trắng xóa.

– Chạy lùi vô , trong này có chiến hào anh Hai.

Tôi giương AK bấm cò đáp lễ và quát:

– Qua đây mà bắt sống!

Tôi nhắp cò thêm mấy loạt ngắn.

– Ê đụng chủ lực không phải dích-cu bây ơi!

Tắc tắc … tắc… Mấy tốp lính đã lao ra ruộng định băng qua đây dội lại vì mấy loạt AK. Cụp cụp cụp! … Moọc-ta liên tiếp phóng qua rơi ngay trong vùng chúng tôi đang thủ. Tôi cho tất cả lom khom chạy lùi sâu vào rừng. Chỉ vài cái tíc-tắc sau, pháo Trung Hòa lên tiếng. Chúng càng bắn, tôi càng cho đơn vị rút nhanh. May nhờ mấy đoạn chiến hào cũ của D8 bỏ lâu nay, tuy đã cạn nhưng tạm dùng để che thân qua cơn mưa đạn, mà không có đứa nào bị thương. Khi tỉnh cơn ác mộng thì chúng tôi đã thấy mình đứng giữa ấp Ràng. Kẻ mất bi đông, người văng nón, tôi sút một chiếc dép, chỉ còn một chiếc dính chân. Ba Tố xuất hiện vừa thở hào hèn vừa nói:

– Tụi này bữa nay chơi ác bỏ vòi qua tới đây. Tụi du kích Ràng ít dám ló đầu ra vì thường đụng biệt kích thằng trung sĩ Lệnh. Chúng nằm cả đêm ngoài rừng. Buổi sáng tụi du kích lơn tơn xách quần đi “bứt cỏ” , thế là đụng đầu, bị nắm chóp hết mấy thằng rồi.

Ba Tố vừa dứt lời thì có tiếng kêu:

-Hầy Hai ơi ! Hai Khởi bị thương !

Ba Tố nói tỉnh bơ:

– Đã nói mà ! Hễ không có máu là không ăn tiền!

Sáu Đức cười khặc khặc:

– Coi chừng mẹ đĩ ở ngoài Thanh Hóa không ai giúp đỡ !

Hai Khởi đi tới tay bụm mắt, máu rớt qua kẽ tay. Tôi hỏi.

– Có sao không?

– Nó xén cái chóp chân mày mất một phân tây.

Ba Tố cười:

– Chưa sao. Nếu một phân tây chỗ kia thì mới đáng sợ.

Sáu Đức bảo chạy đi kêu y tế xã. Hai Khởi lắc đầu. Tôi xem vết thương chỉ xớt qua tí da nên lấy bông băng cá nhân quấn mấy vòng rồi sai mắc võng cho nằm. Sáu Đức lại cười:

– Để tôi đi kiếm vài con gà về nhậu lấy lại tinh thần.

Hai Khởi trỏ căn nhà và nói:

– Đây là trường bình dân của Ràng do cô Chín Hòa dạy.

– Chết hụt không lo, ở đó mà chín Hoa mười Hóa.

Tuy bị thương nhưng Hai Khởi vẫn lo đầy đủ trách nhiệm của thổ địa. Y ngồi dậy cuốn võng đeo vào lưng rồi dắt cả đám đi sang một xóm gần đó, vào một ngôi nhà ba căn rộng mênh mông do hai chị em làm chủ. Cha mẹ chết vì một quả pháo cách đây vài tháng. Hai Khởi bảo Tôn:

– Chú mày vô đây bắt luôn hai con cá rô mẹ một lượt, chịu không?

– Thằng bị rau muống quấn mà đi đâu cũng trồng sua đủa không sợ trời đánh sao?

Hai Khởi cười hề hề :

– Thiếu chất nhép lâu ngày chịu không nổi bác Ba ơi!

Tôi bảo:

– Coi địa hình thuận lợi thì đo đạc và quan sát nhanh lên đi. Sau đợt pháo, nó có thể gởi bộ binh tới truy nã mình.

Ba Tố trỏ dưới đít ván:

– Ông tham mưu nên xuống đó nằm dưỡng sức ! Bây giờ tới phiên tôi làm thổ địa. Vùng này cũng đã từng nhẫm dấu chân của tôi. Ởở đằng sau vườn có một gốc xoài già . Mình leo lên đó bỏ ống dòm sang Trung Hòa thì thấy rõ nồn nội.

– Đây đó cách bao xa?

– Chưa đến hai cây số đường chim bay. Nhưng phải hóa trang thường dân.áo bà ba đen, nón lá vai vác cuốc. Nếu tụi nó nghi ngờ là ăn pháo ngay.

Sáu Đức nói:

– Ở đây tôi cũng đã mò tới. Phải mặc sơ mi trắng, nón nỉ cho giống dân chợ mới che được mắt tụi nó.

Thấy Sáu Đức nói có lý tôi bèn làm theo, nách kẹp ống dòm còn Ba Tố thì làm nông dân. Thế là chúng tôi bước từng bước men ra gốc xoài. Sáu Đức bảo:

– Cứ đi tự nhiên! Làm gì như đạo chích rình nhà vậy?

– Không đạo chích thì là cái giống gì?

Thiệt tội nghiệp cho Quân Đội Nhân Dân Việt Nam anh hùng. Từ khi lọt vào đường Trường Sơn tới nay, và không biết tới bao giờ nữa, chiến sĩ lẫn cán bộ đều sợ bị phát hiện ra là người của Bắc Việt. Tên họ thay đổi, áo quần thay đổi và phong cách cũng thay đổi luôn: anh hùng đổi thành gian hùng, vinh quang hóa ra lưu manh và quân đội vì dân chỉ còn là quân đội ăn cướp của dân.

Tội nghiệp cho quân đội nhân dân anh hùng? Đế quốc Mỹ xâm lược mà chúng đổ quân công khai vào Đồng Dù, máy hay chụp hình rầm trời. Còn ở đây cán bộ không dám ló ra khỏi hầm, và quân đội muốn thấy kẻ địch phải đóng vai thằng ăn trộm gà làm cho cái cục chánh nghĩa treo lủng lẳng ở đâu đó phải thon thót suýt teo mất. Tôi hỏi Ba Tố:

– Có phải Biệt kích của thằng Rắc không?

– Không rõ thầy ạ. Vì tụi nó nhiều loại biệt kích lắm. Nhưng tụi thằng Rắc là nguy hiểm nhất vì nghe đâu trước kia nó là du kích xã Phú Hòa bất mãn cái ông nội gì đó không biết mà nhào ra ngoài tổ chức biệt kích chơi lại mình. Nó không như tụi Mỹ nằm vài giờ mỏi lưng rồi rút về. Nó đem cả cơm nước theo ăn, có khi nó chém vè hai ngày liền. Du kích đi, nó cho lọt. Mình tưởng êm, đưa ông gộc tới là bị nó. Cũng như hồi nãy, thầy thấy không? Có thể nó chỉ rút một mớ còn một mớ ém lại cho nên nhân dân tưởng nó rút rồi.

– Vậy thì nó còn hơn tụi biệt kích Kangoroo trên đường Trường Sơn nữa!

– Ở đây nó còn mặc đồ bà ba nằm trong nhà dân nữa thầy ơi! Mình ở trong kia lơn tơn ra đụng nó là xuôi tay chớ chạy sao thoát.

-Mẹ, cái thứ này nguy hiểm lắm. Hồi tôi ở trên R, gặp mấy cha ở miền Tây lên thuật lại chuyện ở Rạch Giá có một thằng xếp đồn là Một Mun. Nó là Thổ lai…

Tôi ngó dớn dác vì nghe có tiếng cụp cụp không mấy gì hay ho. Ba Tố nghiêng tai nghe và nói:

– Không phải pháo, hình như nhà bên trẻ con chơi đập mo cau hay là đàn bà sãi gạo vỗ đít thúng đít nia. Tôi đã cho cảnh giới hai đầu rồi, thầy cứ yên tâm.

Tôi nói tiếp:

– Nó đen mun làm thiếu úy xếp đồn, nên dân gọi là Một Mun. Cũng gốc du kích không biết nó thù hận gì mà bỏ theo giặc. Nó nghe du kích bắn cạch cạch là xách súng dắt lính đuổi ngay, bắt được bắn liền.

– Thằng Rắc này chơi trò êm dịu kín đáo nhưng độc hơn.

– Mình ngồi lêu bêu thế này rủi nó chụp, chui đâu?

– Chạy thôi! Thầy đi qua mấy cái giếng tôi chỉ lúc nãy, nước lên lé đé miệng giếng. Kiểu đó, đâu có đào hầm được. Bởi vậy du kích tại đây tróc hết, chạy thụt vô Đồng Lớn, Sa Nhỏ lâu lâu mới ló ra một chuyến bắn cắc bùm rồi thụt vô…

Tôi ngồi nghe Ba Tố nói chuyện mà như dưới đít có chông. Mình đã quen sống doanh trại chính quy bên Tàu, ngoài Bắc, về rừng cũng độc lập muôn năm. Bây giờ ra tiếp cận vùng meo, nghe giống như con cua lột. Một cái gai bưởi, thậm chí chiếc tăm xỉa răng, cũng đâm lũng dễ đàng. Giống như tướng Cosaques Bạch Vệ trong Les Chemin des Tourments của A.Tosltoi, từ đồng rộng nghênh ngang bị lọt vào thành phố là cảm thấy chật hẹp khó xoay trở và bị bao vây bởi phố xá .

Sáu Đức dắt về một cô gái mặt rỗ hoa mè, miệng có duyên, tóc bới lủng lẳng sau ót.

– Đây là em Nưa, du kích ấp. Em sẽ đưa đường mình đi.

Nưa hỏi:

– Đi đâu anh?

– Ra mấy cây xoài múc sau nhà, leo lên đó ngó ra ngã ba Tầm Lanh và Trung Hòa.

Nua nhìn cách hóa trang của tôi và Ba Tố rồi gật đầu:

– Ừ làm như vậy mới được. Kỳ trước mấy ông tiểu đàn dìa đây thụt ló thế nào mà nó dùng một trái cối lọt giữa nhà bị thương tám ông bộ đội.

– Chín Nữa bị cú đì-réc! – Ba Tố tiếp theo – May thôi đi chầu Hà Bá rồi thầy ạ !

Nua trố mắt nhìn tôi có ý hỏi thầy gì? Tôi khoát tay bảo đi. Nữa đi trước, tôi và Ba Tố theo sau. Đang đi bỗng Nua quay lại:

– Bộ mấy anh muốn chọc cho nó bắn tan xóm này hả?

Sáu Đức đưa tay vuốt lưng cô em:

– Thôi mà cưng! Nó muốn bắn là nó bắn chớ đâu đợi chọc. Đừng đổ thừa cho mấy anh!

Ba Tố chêm vào:

– Thằng Đực em mày gài trái lựu đạn sét nổ bị thương hai thằng lính nên nó bắn cối trả thù chớ không phải mấy anh chọc đâu ! Nay mai quân đội sẽ cho tụi bây vài khẩu pháo để quạt lại tụi nó.

Nua quay lại hỏi.

-Thiệt hả?

Ba Tố trỏ trỏ vào tôi đang đi sau chót. Nua cuốn cặp môi mỏng:

– Hèn chi nghe kêu bàng thầy. Em nghe bà con đồn hồi sáng tụi nó bị thương hai thằng.

Ba Tố nói:

– Tụi anh chơi đó . Nó nghe AK, biết chủ lực, nên rút lui. Nếu nó nghe súng tép thì rượt bắt sống rồi.

Sáu Đức cười mơn trớn:

– Em có chịu học súng cối không Nua ? Anh cho một cây bắn… hì hì thích lắm!

– Có đâu mà thích?

Đức tán liên miên làm cô gái mê tít, cứ chốc chốc lại dừng chân hỏi:

– Thiệt hôn, có thiệt hôn?

– Nè, anh nói cho mà rõ. Kỳ này là nện thẳng tay đó. Mà đã nện là thẳng thét, không có oam oam đâu.

– Vậy cho em đi học súng cối đi!

– Các xã cử học sinh tới rồi. Em bảo xã đội giới thiệu em mau mau kẻo hết chỗ.

Bỗng có tiếng chân thình thịch ở sau lưng. Tôi quay lại: Một người mặc quần đùi, chân chữ bát, nịt thắt lưng Mỹ, K54 xề xệ gần đụng đầu gối. Ông ta nhận ra tôi bèn kêu lên:

– Ông thầy pháo! Từ ngày nhậu tép mỡ ở chuồng trâu con Sáu Trong Năm Biền tới bây giờ mới gặp đây.

– À ông Bính. Đi đâu vậy? – Nua quát hỏi – Đi đâu cũng đụng ông!

Tôi nhớ ra là Bính Chân Lư đại đội phó C3 Quyết Thắng. Bính tới bắt tay tôi và tiếp:

– Dượng Chín Nữa của ông bị pháo lũng bao tử nhưng không chết, hiện nằm ở C5 của Tư Chuyền.

Ba Tố hạch hỏi.

– Rồi ông đi theo tụi tui làm gì?

– Tôi đi theo nhìn ké cái chuồng cu Trung Hòa một chút.

Nua ra lịnh:

– Đi thì phải bỏ súng, áo bà ba, nón lá, vác cuốc. Vô nhà làm như vậy mau rồi chạy theo.

Chúng tôi tiếp tục đi theo sự hướng dẫn của cô du kích.

Đến gần cây xoài múc thì mọi người tản ruộng ra làm nông dân. Tôi thấy áo sơ mi trắng và quần dài không hợp thời trang nên chui vô bụi cởi bỏ và phơi lưng trần đi tiếp. Chung quanh cây xoài có nhiều bụi rậm cao khỏi đầu nên việc che tầm mắt lính canh từ chuồng cu bót Trung Hòa rất thuận tiện. Cây xoài này cũng như cây xoài tôi đã từng leo với Năm Cội ở Bàu Chứa hôm trước, nhưng ở đó thì khoảng cách bót Trung Hòa xa gấp ba so với đây.

Muốn đặt pháo phải biết rõ cự ly và mục tiêu căn cứ vào bản đồ pháo binh thật chính xác nhưng chúng tôi không có loại bản đồ đó nên đành phải vác thước dây thước gỗ mà đo như kẻ đạc điền thời Pháp. Vì thế nên pháo kích thường trật mục tiêu, thậm chí giết dân oan uổng. Điều đó không có gì làm lạ. Cộng Sản là chúa làm ẩu vì bất chấp khoa học kỷ thuật. Ba Tố mặt quạu đeo, làu bàu:

– Mình xuất hành không coi ngày thầy Hai ạ, nên mới đụng cú đầu đã hao quân.

Tôi cười gượng:

– Tiền hung hậu kiết, không sao đâu bác Ba nó. Ông coi cho đã đi để về đặt kế hoạch tác chiến. Tôi giao tất cả cho ông và ông Sứt điều binh khiển tướng trận này.

Tôi về nhà thì thấy Hai Khởi đang ngồi trên góc ván, đưa đầu cho một người con gái quấn băng. Cô nàng đứng quay lưng, cái ngực lê la sát mũi anh ta, như cặp mồi nhử con cá thòi lòi. Chỉ cần nhích tới một ly là ngoạm được. Cái mái tóc quăn ngắn để lắp ló da ót trắng ngần. Ba Tố buột miệng nói:

– Ước gì tôi bị thương như ông vậy nghe ông tham mưu.

Cô nàng quay lại khoe nguyên bộ mặt khả ái và nụ cười lúm đồng tiền:

– Bộ thích ăn miểng pháo lắm hả?

Hai Khởi lanh miệng đỡ:

– Ông thầy của anh đó Quắn. Kêu ảnh bằng thủ trưởng nghe em !

Cô nàng nhìn tôi ngạc nhiên một giây rồi quay lại đưa tay vỗ vỗ vai ông thương binh:

– Em đã rắc bột pê-nê-xi-lin, mau lành lắm.

Tôi hỏi.

– Có sao không cô?

– Dạ chỉ ngoài da thôi.

Ba Tố xen vào.

– Chân mày mà trụi hết chắc giống khỉ già lắm!

Quắn cười để lộ hằm răng trắng và đều:

-Dạ, hổng đến đổi đâu.

Hai Khởi quay sang tôi:

– Nhờ thầy quạt mấy loạt AK, nếu không chúng nó dám ùa qua bắt sống tụi tôi lắm.

Hai Khởi giới thiệu với tôi và Ba Tố:

– Cô Quắn y tá (đúng ra là cứu thương) của xã đội Trung Lập. Cô em có tên đẹp lắm nhưng vì tóc quăn nên ai nấy gọi là Quắn.

Hai Khởi bảo Quắn:

– Cô chạy đi kêu ông Ba Bụng hay Ba Hỉ gì cũng được, lại đây cho tôi biểu.

Quắn đáp:

– Có chị Ba Hỉ ở đây nè, anh, ủa chú !

– Mày sửa cái miệng mày được không Quắn. Ai biểu mày gắn quân hàm Chú cho tao đó?

Quắn cười to làm cái đồng tiền lún vô đủ sức chứa một lọ mực tàu của ban tổ chức. Quắn khiêu khích.

– Chú là phải rồi. Sợ lên lon Bác đó chớ !

Tôi ướm thử xem cô bé tặng cho mình cái lon sữa bò gì, bèn nói:

– Cháu biết Út Hương không?

– Út Hương quân trang ở Đồng Lớn chớ gì ! À, ủa mà trả chữ Cháu lại cho anh đó !

– Sao lại trả?

– Anh chỉ đáng anh Hai tôi thôi?

Mọi người cười ha hả. Ba Tố nói:

– Đó thấy chưa? Mới thấy mặt đã đặt tên rồi.

– Chớ không phải sao? – Quắn nghênh mặt – Coi ảnh trẻ giống như lính mùa đông chớ đâu có khằn như cán mùa thu mấy chú vậy?

– Thôi chạy tìm đùm ấp đội Hỉ, hoặc xã đội Bụng đi!

Vừa đến đó, tôi ngó ra sân thấy một thanh niên mặc quần trây-di. Tôi giật mình tưởng là lính Quốc gia. Những Hai Khởi ngoắc lia và kêu:

– Hỉ, vô mau !

Người thanh niên rảo bước vô nhà, đưa tay quệt ngang cặp mắt ti hí và hỏi Hai Khởi:

– Anh Hai tìm em có chuyện chi? Em nghe anh bị thương…

– Tôi có lòi phèo không ăn thua gì! – Hai Khởi gạt ngang – Còn ông này mà trầy da là tôi đóng gông hết các cha ấp xã đội Trung Lập Thượng này.

Bà con thấy ông quận bị thương bu tới xem. Ông quận là cán thứ dữ mà nói vậy thì cái ông này quan trọng cỡ nào? Nhất là cô y tá. Cô càng ngạc nhiên hơn mọi người vì cô là người biết cấp bậc trong quân đội. Ấp đội Hỉ đứng không có vẻ gì lo lắng lại còn tự hào:

– Anh Hai đừng lo. Có pháo thì em lấy thân em che cho ổng. Còn nếu tụi thằng Rắc vào, em rượt chạy có cờ cho coi.

Hai Khởi phán tiếp:

– Chúng tôi sẽ làm việc vài ngày tại Ràng. Vậy các anh phải lo cho chu đáo.

Ấp đội Hỉ móc ra gói Capstan hai tay đưa ra mời tôi xong lấy hột quẹt Zippo bật lửa cho tôi hút và tiếp:

– Mấy anh ở mấy ngày cũng được, sứt miếng da em chịu tội.

Cô y tá hỏi Hai Khởi.

– Còn em có công tác gì không anh Hai?

Ấp đội Hỉ hất mặt:

– Cô chạy biểu vợ tôi kiếm vài con gà con vịt gì đó làm sương sương cái đã, rồi công tác gì sẽ tính sau.

– Còn em? – Nua hỏi.

– Cô đi xách vài cây cột đầu vuông về đằng nhà con Mén. Ở đằng đó rộng hơn. Nếu không đủ chỗ thì ta triển khai qua nhà bà má Hai cách đó một bờ dừa, qua lại cũng tiện.

Phân phối công việc xong, Hỉ dắt chúng tôi đi. Ra đến đường thì đụng đầu mấy bà đi chợ về . Ba Hỉ chận lại hỏi:

– Mấy bà mấy cô qua ngang ngã ba Tầm Lanh có nghe gì không?

Một bà sồn sồn đáp:

– Mấy ông cố nội bắn mấy ông cố ngoại tụi tui sợ té đái chớ nghe giống gì?

Ba Hỉ nói trây một cách tự nhiên.

– Đái rồi thay quần chưa? Để vậy khai ngấy đó!

Các cô cười khúc khích lủi nhanh nhưng thấy người lạ thì quay đầu ngó lại. Một bà khác nói đả đớt:

– Tôi vừa đến Tầm Lanh thì thấy tụi thằng Lệnh gút ga Tung òa. Có hai thằng nằm băng-ca, bốn thằng khiêng? – Bà phẹc cổ trầu xuống mé đường, đưa tay chùi tém miệng và tiếp – Tụi nó vừa đi vừa chửi thề om sòm. Một đứa bảo tôi: “Bà về nhắn tụi dít-cu có ngon ra cầu Công Sở hoặc Tầm Lanh chơi một trận, đừng ở trong đó núp núp ống quần đàn bà , tụi tui vô nhai đầu có bữa ! “

Ba Hỉ nghênh mặt với Hai Khởi:

– Có giỏi vô đây mà nhai phải không anh Hai?

Ba Hỉ dắt phái đoàn vô một ngôi nhà nền gạch cao vách ván bổ kho lợp ngói kiểu như nhà Bảy Mô ở Gót Chàng và má Hai ở Hố Bò. Tôi nghĩ thầm: Lâu lâu mới thấy một ngôi nhà còn nguyên, nhưng chắc rồi cũng tiêu tan thôi. Bom pháo này có cái gì đứng được. Tôi bỗng nghe xót xa tấc dạ. Nhà cửa tôi cũng như thế này. Tây đốt tiêu hồi đầu kháng chiến. Không biết ba tôi cất lại hình dáng nó ra sao. Tôi đứng trước thềm nhìn ra . Hai Khởi trỏ rặng cây bảo:

– Đó là xóm Dân Hàn gần đường số 7.

Ấp đội Hỉ kêu hai người con gái trong nhà ra giới thiệu:

– Hai đứa này mồ côi. Cả nhà bị một trái pháo chết hết. May lúc đó tụi nó đi vắng nếu ở nhà cũng tiêu luôn.

Rồi Ba Hỉ chỉ dưới đít ván:

– Nó pháo thì mình chui xuống đó. Còn bộ binh vô thì mình chạy thôi.

– Chạy đâu? – Hai Khởi hỏi.

– Chạy trở vô dư xăng mà anh Hai.

Tôi thấy quanh hầm chất bao lúa sơ sài. Ở trong kia hầm hố kiên cố quen rồi, ra đây gặp hầm kiểu này nghe ớn xương sống quá! Thằng ấp đội này có vẻ gan dạ, nhưng không có kế hoạch chu đáo. Tuy vậy tôi cũng làm tỉnh, không hỏi thêm gì nữa. Biết ý tôi, Hai Khởi bảo ấp đội Hỉ:

– Mày ở đây để có gì tao sai khiến nghe !

– Dạ thì tui ở đây chớ đi đâu! Bây giờ để tôi dẫn anh và thủ trưởng ra sau mấy cây xoài già coi cái đồn.

– Tao quan sát ở đằng kia rồi.

– Ấ ra đây coi gần hơn. Nhưng phải thay đồ để che mắt tụi lính gác.

Hai Khởi lấy mấy cái sơ mi trắng đem theo từ nhà cho cả bọn tròng vô. Rồi Ba Hỉ dắt ra sau nhà. Tôi cặp nách ống dòm. Đi ngang chuồng bò thấy mấy cái nón lá và cây cuốc, Hỉ cũng quơ đưa cho tôi. Tôi nói:

– Nông dân gì vác cuốc mà mặc áo sơ mi trắng?

– Ở đây thanh niên làm ruộng cũng xài đồ trắng mà thủ trưởng. Tụi nó cuốc đất xong, liệng cuốc đi chợ uống la de, hoặc nhảy phốc lên xe lam đi Sài gòn chơi đều đều…

– Sướng vậy à?

– Dạ thì tụi nó vậy không hà ? Ảnh hưởng sống vội yêu cuồng của tụi Sài gòn hết mà !

Tôi hỏi qua địa đạo:

– Ở đây địa đạo ăn ra ngã nào?

Hỉ nhìn tôi hồi lâu rồi đáp:

– Ở đây đâu có xài ba cái thứ đó thủ trưởng!

– Vậy rồi làm sao chiến đấu?

Hai Khởi đỡ lời:

– Ấp này thuộc xã Trung Lập Thượng. Từ đây đổ ra các xã ngoài quốc lộ I đâu có đào địa đạo được thầy! Toàn chơi hầm nổi.

– Hầm nổi là hầm gì?

– Để chút nữa tôi chỉ cho thầy coi.

– Vậy sao mình cứ nói địa đạo Củ Chi thôn liền thôn xã liền xã.

Hai Khởi cười. Có lẽ da mặt căng đau nên cái miệng méo xẹo:

– Thôn liền thì có. Liền thôn cũng có nhưng xã liền xã thì còn lâu thầy ơi? Đất ở đây chọc mũi dao xuống là nước tràn lên rồi, đạo gì nổi mà đạo.

Hỉ tiếp:

– Muốn làm cái hầm bí mật cũng còn khó thủ trưởng ạ ! Phải chọn gò mối hoặc bờ tre, nhưng gặp tháng mưa thì chui xuống nước ngập tới cổ. Túng lắm mới độn thổ.

Đang nói chuyện thì nghe tiếng chân chạy phía sau. Tôi quay lại thấy một cô gái mặc áo lụa trắng: Nưa. Nưa cũng chưng diện coi khá khủm, làm mờ đi cái mặt rỗ hoa mè.

– Anh Hỉ dắt mấy ảnh đi đâu vậy?

Ba Hỉ quát:

– Con quỉ Nưa, tao biểu bây gác phía Tầm Lanh sao bỏ đi đây?

– Có thằng Đực em tui lo rồi !

– Ờ, bây sơ hở là chết đó !

Cô du kích thở hổn hển:

– Mấy anh đi coi trận địa để cối Trung Hòa hả ?

– Mày im cái miệng cá tra của mày đi có được không?

– Ừ ! Cối đi ! Mình không cối nó , nó cũng cối mình. Chậc ! phen này chắc tiêu xóm mình hết. Nhưng mà kệ…

Hai Khởi tuy bị thương, cũng cố đưa tay vuốt lưng cô bé :

– Mình không cối nó, nó cũng cối mình. Vừa rồi nó làm mình tiêu một tiểu đội của D8. Lần này mình trả hỏa, không phải vài phát đâu mà chơi nát luôn Trung Hòa lẫn Đồng Dù. Vài bữa nữa sẽ có cối tới tay mấy em.

Nưa cười hắc hắc:

– Thiệt hả anh? Em mà có cối là em quết tụi Trung Hòa này nát như tương.

Hai Khởi hạ giọng, có vẻ bí mật.

– Ông thầy cối kia kìa, ổng… đó ?

Nưa chạy vụt lên trước để nhìn mặt tôi, rồi tụt trở lại nói với Hai Khởi:

– Thầy gì trẻ vậy?

– Trẻ thì trẻ, thầy vẫn thầy. ông sẽ mở lớp huấn luyện cối. Em có đi không?

– Ai thèm giới thiệu cho mà đi.

– Để anh bảo Ba Bụng giới thiệu lên, anh nhận cho.

Nưa hỏi tiếp:

– Coi bộ khó quá chắc em không học nổi đâu anh!

Ra đến nơi, cả bọn núp ở bờ tre. Thấy đồng trống tôi bảo đừng leo cây xoài nữa. Rủi tụi nó thấy thì bể hết kế hoạch. Chưa chi đã có nhiều người nghe rồi. Nhất là cái cô du kích này. Miệng mồm chót chết, chỉ lát nữa là mọi việc đều ra đến bót. Tôi lại vô bụi và mở ống dòm ra xem. ở góc độ này địa thế thuận lợi cho việc nghiên cứu lẫn tác chiến. Cái đồn xây cao nhô lên như đỉnh núi Bà Đen ở Tây Ninh. Chung quanh, lúp xúp những dãy nhà nằm trong vòng tường trắng. Cái chuồng cu nhô lên nóc đồn như chiếc bánh ú gầy tọp, trong đó hai tên lính ngồi, mỗi đứa ngó một hướng. Hình như có cái radio treo bên cạnh của thằng ngồi phía trái.

Ông Bính vác cuốc ra ruộng đi qua đi lại giả bộ đắp bờ ranh. Nưa la:

– Ông phải đứng một chỗ chớ đi như vậy nó nghi. Nó cũng có ống dòm nữa !

Nói xong Nưa chui vô bụi bảo tôi cho xem thứ. Tôi đưa cho cô nàng và điều chỉnh độ nhìn đùm cho cô. Hơi thở của cô bé thổi vào mặt tôi thơm phưng phức. Cô Quắn không có nhiệm vụ quân sự nhưng thấy ông thầy dễ tính thì cũng nhào vô xin xem cho biết cái chuồng cu. Ba Tố núp sau bụi nghe cô bé nói thì phát cười:

– Chuồng cu không quan trọng, hai con cu ngồi kìa mới quan trọng.

– Anh ủa… chú quỉ nà. Nghiên cứu trận địa còn cà rởn.

– Ai cà rởn gì, cái tháp canh mình kêu là chuồng cu thì hai tên lính ngồi trong chuồng cu là con cu chớ con gì không phải sao?

Chờ cho Nưa xem xong, tôi hỏi:

– Thỏa mãn chưa?

– Được rồi đó thủ trưởng.

Tôi đưa ống dòm cho Quắn. Quắn kêu ngay:

– Rõ quá trời! Sức em vói đụng. Anh Hỉ ơi lại đây tui cho coi ké , đã lắm ?

Ấp đội Hỉ cũng là tay nhạy hài hước, nghe Quắn nói, tóm lấy ngay:

– Cho tui xem thiệt không?

-Thiệt. Lại đây tôi chỉ cho xem.

– Cái đó nó biết lâu rồi khỏi cần chỉ! – Bính Chân Lư ngưng tay cuốc quệt mồ hôi trán chỏ mồm vào – Xem mau mau đi để tao còn xem với chứ? Lâu gặp quá sợ quên mất mặt mũi ra sao!

Đám đàn ông cười ré lên. Hai cô mới vỡ nhẽ ra là mấy chú lớn cái đầu chọc mình. Quắn đỏ mặt quay lại chỉ chỏ:

– Chút nữa về nhà bỏ đói cho biết mặt! – rồi nàng tiếp tục dòm. Nàng kêu lên – Trời! thấy rõ quá hà. Dây chì gai mấy sợi đếm đủ. Kìa một thằng lính đeo máy ở lỗ tai. Chắc nó nghe vọng cổ. Mẹ nó sướng như tiên. Quánh với mình mà ngồi trên cao nghe vọng cổ.

Tôi ngồi ở giữa hai nàng. Quay qua bên nào cũng suýt đụng gò má, nhưng mới tới đây, chưa biết tình hình địch ra sao nên chưa dám tấn. Hai cô dành xem lôi cái ống dòm qua lại trước mặt tôi. Mấy cánh tay có vô lỗ mũi tôi cũng đủ vốn rồi. Sợ em út ghen thủ trưởng tốt số, nên tôi đứng dậy thụt lùi ra sau bụi và bảo Tôn Sứt vào giúp đỡ cho các em xem. Cái ống dòm hôm nay được mọi người nâng niu chìu chuộng. Hết các cô đến các chú. Ai cũng được xem qua cái chuồng cu và hai con cu ngồi trong đó vài ba lượt. Xong cả đoàn kéo nhau về nhà Út Mén để ăn cơm. Hai chị em cô có mòi mê giải phóng dữ dội. Hồi trưa khi chúng tôi mới đến thì các cô tóc tai bùm sùm như cây rơm, bây giờ chải rẽ , tém vén khéo rất đẹp. Ba Tố và Tôn Sứt đeo riết không hở chút nào. Vái trời cho họ có độ với nhau để mặt đất Củ Chi bớt sần sùi đau đớn.

Ăn cơm với thịt gà xé phai suông không ai được uống rượu. Cơm nước xong trời đã chạng vạng, rất tiện lợi cho công tác. Tôi bảo ông Bính Chân Lư về xách một tiểu đội ra án ngữ tại ngã ba Tầm Lanh phục kích để tụi này yên tâm đo đạc. Trận địa thứ ba này nằm trong vườn nhà của cô Nưa. Trước khi đi, Bính còn ráng nói móc:

– Ông thày dùng phương pháp hình học tam giác hả ? Hễ biết một cạnh và hai góc thì tìm được diện tích chớ gì. Tha hồ mà đo miếng đất của cô Nưa.

Nưa ngây thơ la toáng lên:

– Đất của ba em đâu phải hình tam giác!

Bọn chú lại cười ầm ỉ. Nưa hiểu ra đỏ mặt cúi gằm. Để chửa ngượng cho cô em, tôi hỏi:

– Các em ở ngoài này công tác đều không?

– Dạ khá lắm chớ. Chúng em đi đắp mô ngoài đường số 7, cầu Công Sỡ như cơm bữa. Rồi gài cà-nông lép hoặc lựu đạn ngoài đường.

– Có chết tên lính nào không?

– Lính thì không chết, chỉ chết ba ông lái xe lam với hành khách. Xe bị nổ văng xuống ruộng.

Bính Chân Lư tiếp:

– Xe lam ba bánh chớ không phải xe tăng Mỹ mười sáu bánh đâu nghe thủ trưởng.

Hai Khởi vọt miệng:

– Tôi đâu có phải nhà báo Nhã Nôm nghễnh ngảng nghe rồi phóng đại tô màu.

Nưa dắt vào vườn nhà bằng ngỏ hậu. Tôi bảo hai cậu quan trắc đóng cự ly đường đáy của tam giác. Đường đáy càng dài thì lấy mục tiêu càng chính xác. Một tam giác biết được một cạnh và hai góc kề thì tìm ra được góc đối đỉnh. Từ đó tra bảng Log của pháo binh ra hai cạnh dễ dàng. Hai cậu trinh sát được gởi đi học trên R nên rất rành công việc trắc địa. Chỉ trong vòng mười lăm phút là chúng tôi đã có cự ly mục tiêu Trung Hòa một cách chính xác theo phương pháp đồ giải tam giác lượng nhờ có khí tài phương hướng bàn để đo các góc của các điểm A B C. Cô du kích chỉ tay bốn phía nói tía lia:

– Xa mờ đó là Củ Chi. Vùng ánh điện tỏ là Đồng Dù. Đèn dầu leo lét trước mặt kia là xóm Mồ Côi. Đèn xa mờ chút là Lào Táo. Còn đèn phía bên phải là xóm Dân Hàn.

Bất giác tôi hỏi:

– Còn đâu là Hố Bò, đâu là An Nhơn?

– Bộ anh có quen ai ở đó à ?

Hai Khởi vọt miệng:

– Bồ cả đống đó sao không quen!

– Ai vậy?

– Cô đội trướng dũng sĩ.

– À, chị Bảy Mô hả? Chỉ thì xứng với thủ trưởng rồi!

Trời tối chúng tôi đi đứng tự do nên nói chuyện thoái mái. Nưa tiếp:

– Mấy anh lấy con gái ở đâu thì lấy đừng lấy con gái ế xóm Ràng của em nghe.

Tôi bật cười:

– Sao cô nói xấu xóm mình vậy?

Nưa thành thật:

– Em nói thiệt mà . Dân ở đây làm nghề đươn rế, không có ai giàu cả. Ngồi lết cả ngày đít chai ngắt và dẹp dép đâu có no tròn đẹp đẽ như con gái Gót Chàng Hố Bò. Chỉ có một nhà tường gạch là nhà thằng Tẻng. Nó cũng đi du kích. Ông già nó thầu hết rế trong xóm đem ra Củ Chi bán nên có lời. Ngoài ra đều nghèo xơ nghèo xác.

Ấp đội Hỉ dắt chúng tôi về nhà cô Quắn. Y trấn tỉnh chúng tôi lần nữa:

– Ở đây cách đồn chừng cây số ngoài, nhưng tôi cho canh gác kỹ rồi. Nếu có gì thì chúng nó bắn báo động tôi dắt các anh chạy, đừng lo.

Quắn có người anh tên Ba Quyết làm trung đội trưởng của C3 D1 Quyết Thắng nổi tiếng gan dạ. Một lần về phép với hai đội viên, Quyết đã phục kích đánh lấy được một Colt 12 của lính Trung Hòa tại cầu Công Sở trên lộ 7, nhưng biết đem về đơn vị cũng không được phép mang nên lén bán cho ông xã đội trưởng Ba Bụng lấy tiền xài chơi. Trước khi đến nơi, Hỉ dắt chúng tôi ghé một cái quán. Hỉ nói:

– Ở Ràng chỉ có con xẩm lai này là đẹp thôi. Bộ đội dòm dèm dữ lắm nhưng chưa ông nào lọt vô.

Vừa đến thì cửa quán đã đóng. Hỉ gọi to. Một anh chệt sồn sồn mở cửa với nụ cười toe toét dưới ánh đèn dầu:

-Hà hà… mời mấy ông dô nghỉ uống lướcé

Hỉ nói như ra lệnh.

– Cho ít gói cáp-tăng và hai chai anít, một kí khô mực !

Anh chệt quay vô bảo con gái lấy hàng còn mình lăng xăg đem nước ngọt ra khui mời. Hỉ xua tay:

– Mấy ông lớn này không quen ba thứ đó.

– Hà hà . . . để ngộ khui la-de .

Tôi biết cái kiểu ăn hàng của quân ta ở đâu cũng rập khuôn như bà khu ủy Tân Biên: cứ mua và ghi sổ. Giải phóng xong, trả một lần, nên bảo:

– Chúng tôi không uống bây giờ, để khi khác !

Quả thật cô bé đẹp vô cùng. Nước da trắng như bông bưởi, tóc đen, môi son. Chưa bao giờ tôi trông thấy một cô gái đẹp như thế từ trước đến nay. Ôm hàng trên tay, Hỉ hất hàm với chủ quán:

– Ghi đó mai trả nghé !

– Dạ, hổng có pao diêu mà ! Mấy ông công tác gian khổ mới diều chớ !

Chúng tôi quay ra. Nưa có lẽ ghen tức với cô xẩm lai vì những cặp mắt cú quạ các chú xoi mói tận tình, nên nói nhỏ với Hai Khởi:

– Chén kiểu coi trài trài vậy chớ bị mẻ miệng rồi.

Ba Tố hỏi.

– Tại sao vậy?

Hỉ đáp:

– Mấy con nhỏ này thấy nó ngộ rồi ganh, đồn bậy bạ là thằng trung sĩ Lệnh bắt nó vô đồn chớ đâu có.

Ba Tố gắt.

– Thằng Lệnh là thằng nào mà oai vậy?

– Nó cầm đầu nhóm biệt kích Trung Hòa này. Củ Chi có thằng Rắc. Trung Hòa có nó . Hai thằng đều là gốc du kích cả. Bây giờ mang súng lại chơi mình còn ác hơn tụi Sài gòn. Nó hút á phiện. Sáu con vợ. Đi phục kích mình, nó dám ỳ hai, ba ngày liền một chỗ, chớ không có sôt ruột nằm chưa nóng cỏ đất đã rút về như Mỹ đâu. Hồi nãy mấy anh bắn nó bị thương mấy thằng nó rút, nhưng chưa chắc nó rút hết. Nó chơi kiểu nhả bừa, còn nín lại đâu đó.

Tôn Sứt cười khậc khậc và nói tiếng Tàu ba rọi:

– Tôi muốn đụng tụi này phát nữa. Mẹ, nghe nó bắt con xẩm lai bỏ trong lồn (đồn) một lêm (đêm) ngộ tức muốn pể pụng! Con ngái của người ta mà bắt như dậy thì coòng gì !

Ba Tố cũng hùa theo giọng ba tàu:

– Pắt con người ta mà không có hửi dái (hỏi giấy) gì hết. Chừng nào hửi dái mà người ta không có mới pắt

– Người ta không có dái (giấy) thì cũng có cặc (cạc=thẻ căn cước). Ai ở vùng này mà không có dái có cặc. Không cặc xanh thì cũng có cặc lỏ chớ… Pắt ẩu người ta bỏ trong lồn như dạy một lêm chịu sao lổi. Ở ở trong lồn lông người ta, lộn xộn lâu có ngủ yên lược?

Nghe vui, Hỉ cũng hùa theo:

– Cái tụi đó nó hay hửi dái người ta lắm. Gặp ai nó cũng đòi cho coi dái coi cặc. Cặc xanh nó không chịu đâu, nó đòi cho lược cặc lỏ mới cho li. Ai không muốn bị bỏ vô lồn thì phải lóng tiền.

Nưa quát:

– Mấy anh mất quan điểm nhân dân quá trời.

– Nhân dân Ba Tàu hả?

– Ba Tàu thì Ba chớ họ đâu có nói tục tĩu như vậy.

Nhà cô Quắn ở gần đồn Trung Hòa, ớn quá. Nhưng phải đi theo. Quắn chạy ra đón chúng tôi vào. Nàng thay đổi xiêm y trang điểm trông khác hẳn lúc nãy. Tôi hỏi ngay.

– Hầm hố thế nào cô em?

Hỉ nói hớt.

– Có nhưng không bảo đảm như trong Hố Bò An Nhơn.

Vào đến nhà , tôi ngồi không yên, cứ ngó dáo dác. Không khéo lại ra đây nộp mạng cho địch. Hỉ nói cà rởn.

– Hầm ở đây đâm thủng tuốt thủ trưởng ạ !

– Hầm gì mà đâm thủng được chú em?

Quắn bảo:

– Các anh đừng lo. Tụi em ở đây cả đời có sao đâu?

– Tôi hết nhiệm vụ, giao phái đàn lại cho chị nghe.

Nưa nói rồi đi thẳng ra sau bếp. Bà má của Quắn bước ra với vẻ mặt sợ hãi, ngọn đèn dầu đỏ chạch trên tay run run:

– Mấy ông làm tôi sợ hết hồn hết vía. Tôi tưởng tụi thằng Lệnh chớ!

Hỉ đáp:

– Bác coi toàn là AK chớ đâu có AR-15.

– Tao có biết A ka a kiết gì. Thấy súng là tao sợ rồi !

– Tụi thằng Lệnh rượt tụi cháu chạy hoài. Tụi cháu có ngán đâu.

– Mấy đứa bây phải coi chừng cho kỹ. Hổng chừng nó đang ở ngoài bờ mía bây giờ nè chớ chưa có rút hết.

Nghe nói cái chiến thuật biệt kích nguy hiểm tôi hỏi phăng tới. Ông già từ trong bước ra kể tiếp:

– Cái thằng này lợi hại lắm đó mấy chú ! Đàn bà con gái đi chợ gặp nó là sợ như chuột gặp mèo, mặt nó có cô hồn. Nó không có tra khảo đánh đập gì hết. Ra vào tự do, nhưng khi đi ngang qua đồn mỗi người phải đứng lại nói cho nó nghe một vài tin tức.

Tôi hỏi.

– Tin gì bác ?

– Thí dụ ở trong này có hội họp không, có bộ đội đi tới đi lui không…

– Ăn thua mẹ gì ba cái chuyện vặt đó bác. – Hỉ gạt ngang – Tụi cháu cũng biết cái mánh lới đó, nên bảo bà con cứ nói láo cho nó nghe.

Tôi nghĩ thầm, thằng này rất nguy hiểm. Trong láo có thật. Từ láo suy ra thật. Đó là một ngón tình báo nhân dân của mình mà nó cũng biết sử dụng. ông già tiếp:

– Không biết láo hay dóc nhưng ai cũng phải nói vài chuyện thì nó mới cho đi. Có khi nó hỏi có gặp ông bí thư Đời không? Mời ông ra uống 1a-de với khô mực chơi! Vừa rồi nó pháo một phát ngay trân…

Bỗng ngoài cửa có tiếng chân. Bà má bước ra và kêu lên:

– Vợ thằng Quyết về !

Chị Ba Quyết trạc hai mươi lăm đẹp người theo kiểu đàn bà nông thôn dắt tay một thằng bé con chừng sáu tuổi. Quắn chạy lại ôm nó, hôn chùn chụt:

– Tiến, cháu vô kiếm ba hả? Đây là mấy bác khác, không phải bộ đội của ba cháu.

Thằng bé bệu bạo muốn khóc. Quắn năn nỉ:

– Để cô nhắn ba cháu một mốt về !

Ông già đến bồng thằng cháu nội từ tay cô nó, nói rủ rỉ:

– Thằng cù là lửa này giống hệt cha nó ! – rồi quay lại chúng tôi – Tôi có một chút cháu nội đây. Tôi giữ nó như trứng mỏng. Rủi cha nó có…

Bà má gạt ngang.

– Ôông nói dại không hè.. !

(Mà thật, đúng như lời ông già nói, ít lâu sau, ba thằng Tiến hi sinh trong một trận đánh ác liệt ở ngã ba Tân Qui xã Phú Hòa Đông. Đã chôn ba ngày, ông già còn đến nơi đào lên cho người khiêng về để nằm sau vườn. Đúng là ông già Ba Tri. Sẽ kể ở những chương tới )

Chị Ba xách giỏ cá đem thẳng ra sau bếp, nói với ông già :

– Con mới tát đìa được mấy cặp cá lóc cháo và cá trê nàng đem vô ba má uống rượu.

Ông già mau mắn:

– Đem làm luôn cho mấy chú nhậu với ba. Bây giờ có gì bà nó cho dọn ra làm sơ sơ trước đã.

Nhìn sắc mặt tôi, ông già đoán ra sự lo lắng nên nói:

– Thằng Lệnh không đi chập tối, nó có đi thì đi giác khuya nằm luôn tới sáng, sương mù nó lùi lũi trong vườn êm rơ, du kích ra đồng đụng đầu nó, ú ớ hết có chạy.

Bà già hỏi.

– Ông tính làm gì ba con cá?

– Nướng lửa rơm, đừng lột vỏ, ăn ngọt hơn. Ở đây mà chờ canh chờ cháo của bà đắng miệng chết.

Tôi nói:

– Món gì chớ món đó để cháu làm cho !

Tôi nói vậy để ra ngoài bờ cảnh giác. Nếu ngồi trong nhà bị bao là hết phương chạy. Ông già chỉ cây rơm ở góc mương và đưa cho tôi một mớ lụi tre vót thiệt kỹ.

(Vùng này toàn là thợ đươn nên sẵn tre trúc. Có nhà đặt tên con là Nia, Sàng, Rế. . . )

Bên bờ mương cạnh cây rơm đứng ủ rủ một bụi trúc um tùm. Mùi rơm ẩm lẫn hương lá trúc phảng phất trong sương đêm làm tôi nhớ nhà vô hạn. Quắn đem giỏ cá ra cho tôi.

Nàng nói trỏng:

– Đó nướng mấy con thì nướng.

– Cô muốn nướng mấy con?

– Bộ tui là tư lịnh hả ?

– Chánh ủy!

– Ừ nhớ nghe, chánh ủy ra lệnh gì, tư lịnh phải thi hành hết ráo.

– Ra thử coi !

Tôi thấy thân mật ngay với cô bé liếng thoắng này. Chắc là tay bướng bỉnh lắm đây. Tôi bảo:

– Vô lấy hộp quẹt đem ra mau đi bà chánh ủy.

– Hút thuốc mà không có hột quẹt trong lưng à?

– Bỏ trong xắc-cếốt ở trong. Vô mang ra đây luôn dùm.

Trong lúc Quắn đi vô nhà, tôi rút rơm chất đống, rồi trút giỏ bắt đầu lụi cá. Quắn vừa chạy ra vừa la.

– Coi chừng nó lóc xuống mương!

– Tôi chụp đầu hết, lóc đi đâu!

– Cá trê trắng đó nghe dượng thằng Tiến!

Quắn bỗng nhiên phóng tiếng dượng vào tôi như một mũi tên. Tôi nhận mũi tên một cách êm ái bất ngờ.

– Dượng thằng Tiến không có ngán cá trê gì hết!

– Làm tàng hoài, nó chém một ngạnh khóc sáng đêm không có ai dỗ đâu.

Vừa tới đó thằng Tiến chạy ra, thở hào hển:

– Ông nội biểu bác vô nhậu gụ.

Quắn cười ngất:

-Bác lát bụi tre, ba con chó què đè cắn bác. Ở đây không có bác nào hết. Chỉ có dượng thôi. Kêu ông này là dượng Sáu (Quắn thứ sáu). Để dượng Sáu nướng cá rồi vô !

Quắn xách khúc củi dừa phện mấy con cá dãy tê tê. Tôi chụp lấy xỏ từ miệng thấu ra đuôi rồi cắm thành hai hàng gần mé ao. Tất cả được chục con. Tôi bảo.

– Chỉ nướng cá lóc thôi. Cá trê đem vô nhà nướng lửa than cho ba nhậu.

– Rể thảo quá ha ! – Quắn vừa chất rơm lên vừa nói – Châm lửa đi ông tướng.

Tôi bật quẹt nhưng không châm vào rơm mà đưa cho Quắn. Quắn không cầm lấy mà nắm nguyên chân tay tôi dí ngọn lửa vào rơm. Lửa bùng lên rực rỡ soi gương mặt nàng tuyệt đẹp như trong thần thoại. Nàng vừa nói vừa nhìn tôi tình tứ

– Anh châm lửa… Lửa nhạy quá.

– Đúng ra là do tay em !

Tôi kéo nàng ngã vào vai tôi. Nàng như trái chín mùi, vừa đụng tới là rụng ngay. Tôi hôn lên má nàng. Nàng ôm choàng lấy tôi Tôi đẩy nàng ra:

– Thằng Tiến thấy mét ba chết.

– Ba không có rầy đâu. Ba nói với má, em nghe: “Hồi đó tới giờ có thằng mùa thu này coi được?”

Tình cảm đến thật bất ngờ. Đến rồi mà tôi vẫn còn ngờ. Tôi nhìn ngọn lửa nhảy múa trong mắt nàng vui thiệt vui.

– Sao em thương anh?

– Em không biết. Thấy mặt là thương liền.

– Khổ cho anh chưa?

– Khổ cho em chớ, anh khổ gì?

Chỉ trong vài câu nói tôi biết nàng là cô gái có học khá. Nàng đứng dang tôi ra và bảo:

– Ném thêm rơm vào đi anh.

– Lửa cháy to rồi ! Em không . . . nghe à ?

– Sao không ! Nhưng đây không phải là lửa rơm đâu. Đây là lửa thần đó !

Có tiếng từ trong nhà vọng ra:

– Cá chín chưa đem vô mau !

Ba Tố bưng ra một cái sàn có lót sẵn lá chuối. Tôi lấy que củi cào than ra. Quắn bảo:

– Chú Ba đi vô lo dọn rau chuối khế bánh tráng ra cho sẵn, hễ đem cá vô là cuốn liền.

Quắn ném rơm thêm vào lửa để tôi thấy đường làm việc. Ba Tố thấy hai anh chị coi bộ chịu đèn nên lẫn đi ngay. Tôi lấy một nắm rơm vo lại cạo than trên từng thân cá, thịt cá nứt ra trắng phau. Mùi thơm bốc lên ngào ngạt. Trông thấy càng thèm, tôi nuốt nước miếng ừng ực làm Quắn dòm. Tôi nói:

– Anh nhớ mùa tát đìa ở nhà quá em à.

– Đây là nhà của anh rồi còn nhớ đâu nữa?

Quắn như bà tiên của thần thoại đi một bước ngàn dặm vào vòm trời tình yêu. Nàng làm như tôi và nàng đã có gì với nhau rồi. Trong tình yêu người con gái bao giờ cũng bạo dạn hơn mặc dù có vẻ kín đáo. Ở đây nàng đã không giữ gìn ý tứ lại còn muốn cho mọi người biết nàng yêu anh cán Mùa Thu chỉ có thằng này coi được! Bỗng nhiên nàng nói bâng quơ.

– Đất chung quanh đây còn rộng lắm. Ba có thể cất cho mình một cái nhà và chia cho mình mấy công vườn có sẵn cây ăn trái!

Tôi đã cạo xong vẫy mấy con cá sắp vào sàng cho thằng Tiến bưng vào, lũ cá trê còn lại tôi đem rộng ở góc mương. Nàng bảo với theo thằng Tiến:

– Đem ra cho cô cái rổ thưa và cục gạch. Cá trê mà rộng lơ mơ thì hụt ăn. À mà thôi xách vô luôn nướng than vỏ dừa.

Rồi nàng bảo tôi:

– Anh đi lấy cái gào tát nước cho lửa tắt đi.

– Mới nhen lại dập hết à?

– Lửa bên ngoài thì tắt còn trong ruột thì không.

Hai đứa đã làm xong nhưng chưa chịu vô. Nàng bảo:

-Mình ở ngoài này cảnh giác tụi thằng Lệnh.

Sau gốc rơm, chúng tôi dắt tay nhau đến ngồi tựa lưng vào êm như nệm. Mùi rơm làm tôi nhớ lúc còn con nít chơi nhà chòi với đám bạn xóm những đêm đạp lúa trăng tỏa huy hoàng. Mùi hương rơm mới ngào ngạt. Những bó rơm là tổ ấm của chúng tôi. Chúng tôi ăn cơm, làm tiệc giả với vài trái ổi chín, vài trái quít rụng. Chúng tôi làm đám cưới với cô dâu chú rể giả. Chúng tôi uống rượu bằng nước lả đựng trong những vỏ cau tươi và đốt pháo miệng. Chúng tôi nghiêm trang nhập phòng trong lúc không biết vợ chồng là gì. Mơ ước và thực tế của tuổi thơ lẫn lộn như những trang sách quê mùa đượm hồng. Không có ai đọc nó thấm thía bằng chúng tôi, không bằng chữ nghĩa mà bằng kỷ niệm. Để rồi lớn lên, mỗi đứa một nơi. Lòng còn in đậm bóng nhau với những cuộc chơi vô tư đã vụt thành bất diệt. Một cô bạn mắt nai, một nàng tiên môi phượng, những cặp má đào và những lời nói giả làm người lớn. Ước gì còn trở lại được thời con nít .

Quắn hích cùi chỏ vào tôi.

– Anh nghĩ gì mà ngồi im vậy?

– Nghĩ đến ngày mai.

– Ngày mai không ai biết được, chỉ ngày nay mới đáng kể thôi. Ngay cả phút tới đây cũng không đáng kể, chỉ có phút này mới đáng kể thôi.

– Em nói gì vậy?

– Cái chết ở đây đến như đùa bỡn. Anh không thấy đó à? Ông quận chỉ bị sướt chân mày. Nếu viên đạn chệch đi một ly nữa thì cuộc đời ổng sẽ ra sao? Một trái pháo hay một mảnh đạn nhỏ đều làm đời mình thay đổi lớn được cả. Cuộc chiến này để lại quá nhiều trẻ mồ côi và đàn bà góa. Em về đây làm cứu thương xã để ở gần ba má. Vì em biết chắc anh Ba em đời nào bỏ ngũ về nhà và em cũng biết chắc thằng Tiến rồi sẽ mồ côi và chị Ba em sẽ trở thành góa bụa.

– Vậy em không sợ chính em sẽ trở thành góa bụa khi yêu anh sao?

– Có những khúc đường đầy gai góc mình biết trước mà vẫn cứ đi.

Một tiếng kêu vọng ra từ nhà :

– Cô Sáu dượng Sáu ơi, vô ăn cơm!

Quắn ôm choàng lấy tôi hôn một cái dài rồi đứng dậy. Nàng nói như trong sảng sốt:

– Nay mai anh sẽ đứng bên kia lề đường còn em thì đi bên này lề đường. Anh sẽ vẫy tay hoặc giơ một đóa hoa rừng chào, tặng em. Em sẽ vẫy tay đáp lại và sẽ tặng anh không gì hơn một nụ cười. Nụ cười bay lướt qua trong gió. Nhưng không tan. Em sẽ giữ mãi nụ cười ấy và anh là người độc nhất được em tặng cho.

Tôi ngồi điếng người ra nghe như kim chích xuyên tim. Tình mới yêu ly đã biệt, đó là số phận của tôi. Trái tim cứ bị cắt ra từng mẩu vụn cho đến những mảnh cuối cùng. Yêu, yêu mãi rồi chỉ được những biệt ly và ly biệt. Đã ly còn biệt.

Chúng tôi lững thững đi vào nhà. Bữa tiệc cá nướng trui đang vui. Chỉ hai chúng tôi là đau khổ, nhưng cố làm ra bình thường nên không ai biết. Quắn nói trước với ông già:

– Con nghe tiếng động khả nghi nên ngồi nín ngoài gốc rơm rình nãy giờ.

Ba Tố nhìn tôi một cách ý nhị và không nói gì. Ông già bảo Quắn:

– Con ra bàn thờ lấy chai rượu cúng đem vô cho ba . Thứ anít này ngọt quá, uống như ăn chè, nuốt không có vô.

Quắn vừa sắp lưng đi thì có tiếng tắc kè vang lên. Quắn thụt lùi lại kêu.sợ ma. Bà má bảo thằng Tiến đi với cô nó. Thằng Tiến cũng rụt cổ thè lưỡi. Tôi biết ý Quắn, bèn nói:

-Tôi chưa nhậu để tôi hộ vệ cô Sáu cho!

Rồi đi theo Quắn. Khi bước ngang qua bộ ván nhà cầu, Quắn đưa tay vỗ vỗ trên bờ đất cao ngang lưng quần, bảo:

– Đây là hầm của em!

– Hầm gì kỳ vậy?

– Anh đá vào thì biết.

Tôi làm theo lời nàng. Tôi biết ngay đó là bờ đất rỗng ruột. Tôi hỏi:

– Chui vô đó à ?

– Chớ hồi nãy ngồi ngoài mương, anh không thấy mặt nước lé đé bờ sao?

– Vậy không có địa đạo gì hết à?

– Ông địa thì có ! Đào một lưỡi cuốc là có nước rồi. Địa gì mà địa ! Ở ngoài Bàu Tròn Phước Thành cũng vậy thôi, họ cũng chỉ tìm được mô đất, bờ tre để đào. Nhưng tụi lính nó cũng biết rồi. Hễ vô ruồng là nó xóm nát hết.

Ra đến nhà trước. Tiếng tắc kè còn vang âm trong đêm tối Tôi bật hộp quẹt soi cho nàng thấy chai rượu. Nàng nhổ cây đèn cầy trên chân đèn mồi lên, rồi cầm chai rượu rút nút rót ra hai cái chun có sẵn trên bàn thờ. Xong nàng đốt nhang, rồi lầm thầm:

– Hôm nay chúng con thương nhau, xin ông bà chứng giám! – rồi quay lại tôi – Hôn em đi!

Chết chưa. Cô bé lạ lùng thật. Mưu trí của nàng quả là bất ngờ. Tôi chỉ còn biết làm theo nàng chánh ủy. Chúng tôi trở vào. Thằng Tiến lém lỉnh:

– Cô làm gì ngoài lâu vậy? ông nội chờ hoài lạt miệng.

Quắn cũng không kém:

– Bàn thờ ông bà lâu quá cô không có dịp đốt nhang nên bữa nay cô làm việc đó để tạ lỗi với ông bà !

Ông già gật gù:

– Ờ phải đó ! ông bà thời buổi này bị bom pháo cũng đi tứ tán hết chớ có ở trên bàn thờ như hồi trước đâu. Lâu lâu được một ngày êm, ông bà mới về chơi.

Quắn được trớn bắt đầu gọi tôi bằng anh Hai.

– Anh Hai thấy mấy tấm hình, ảnh hỏi hình của ai. Con nói cho ảnh nghe từng tấm một nên hơi chậm.

– Ừ! tới năm sáu tấm. Lâu quá không có lau bụi bặm gì.

Chắc ông già đoán biết tim đen chúng tôi, nhưng có lẽ ông thấy anh cán này coi được nên không có vẻ gì không hài lòng. Ông cầm chai rượu sớt vào chiếc nhạo xưa rồi mới rót

– Chú nào muốn uống gắt cổ thì uống thứ này, còn chú nào muốn húp chè thì dùng anít. Có chú nào ăn cay không? Ớt sừng trâu đây! Cắn ngang thì mới ngon. Tôi không thích ăn tương ớt.

Ông nói huyên thiên vừa bẻ cá cho người này người kia.

– Gỡ nạc, gói bánh tráng, rau thiệt nhiều, ăn phải lớn miếng thì mới ngon. Mấy chú cứ coi như đây là nhà mấy chú . Nội cái ruột cá này tôi cũng làm ngót một xị rồi.

Thằng Tiến bẻ cho tôi khúc nạc nung núc trắng phau thơm ngát và nói:

– Cháu cho dượng Sáu cái công dượng nướng nè !

Cả bàn cười ồ: tiếng dượng Sáu của nó bất ngờ quá đổi. Chị Ba đang bưng nước mắm tới rội thêm, hỏi con.

– Ai dạy mày vậy Tiến?

– Cô Sáu chớ ai má !

Quắn xấu hổ cãi ngang.

– Bậy nà, ai dạy mày hồi nào! – Bộ chị xúi nó hả chị Ba?

– Ai mà xúi cô Sáu! Con nít nó thấy gì nói nấy ai mà bụm miệng nó cho kịp.

Ấp đội Hỉ nốc một cái thiệt sâu, khổ rồi nói:

– Ai sao tôi không biết, nhưng tôi tán thành cả hai tay.

Bỗng mọi người ngưng đũa. Có tiếng cụp cụp như pháo đề-pa. Nhìn mặt mọi người nhớn nhác, thằng Tiến cười:

– Không phải hướng này đâu. Nó thụt phía cầu Công Sở.

– Sao cháu biết?

– Nếu đi hướng này, tiếng cụp cụp nghe lớn hơn.

Ba Tố khen:

– Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh, thấy không thầy Hai?

Vừa dứt lời thì có tiếng chân đông người ở ngoài sân. Mọi người lại buông đũa. Tiến nhanh chân chạy ra rồi thụt vào.

– Người ta ở đâu đông quá. Không biết có phải là đội quân của bà Năm Đang không?

Tôi đang cố nhìn ra bóng tối thì một cô gái hiện lên: Nưa. Nua nói ngay:

– Anh Hai đâu rồi. Có bà con tới thăm.

Tôi băn khoăn không biết bà con nào ở đây thì một nàng khác bước vào. Lam ! Trời đất quỉ thần ơi ! Sao lại Lam? Giống y như một màn kịch gay cấn. Rồi hai ba người đàn bà con gái khác đi theo sau. Lam bước tới gần bàn tiệc kêu tôi:

– Anh Hai ! Em nè!

Hồn vía tôi lên mây. Lỗ tai tôi lùng bùng. Lam trỏ mấy người phía sau và tiếp:

– Má với chị dâu và em gái của em nè anh Hai! Em móc vô để má và gia đình gặp anh?

Lam chợt thấy Quắn thì reo lên:

– À Quắn, mày cũng đi công tác ở đây nữa à?

Quắn đáp quạu đeo:

– Nhà tao đây chớ công tác gì!

– Rể của má đó má ! – Lam cứ tự nhiên nói tới – Má coi cho kỹ đi! ảnh đó má !

Tôi ngẩn ngơ rối rắm. Phải chi nàng gọi anh Hai của con thì tôi còn chối được. Nhưng sao nàng về đây? Lúc xuất phát nàng đòi, tôi không cho kia mà . Nàng đi đường nào và với ai mà đến đây nhanh vậy? Bà má của Lam nói năng rất hồn nhiên với cả bàn tiệc:

– Tôi đưa gia đình đến gặp thằng rể, may lại nhằm lúc gia đình anh chị và anh em nó đang chung vui:. Thiệt là phước đức quá chừng. Vậy sẵn tôi có mua thịt và bánh, xin phép cho tôi dọn lên mâm, trước mời anh chị, sau là các anh em đồng chí của con gái và con rể tôi cùng dùng cho vui.

Ba Tố, Hai Khai và mọi người thảy đều sửng sốt. Tôi bị kẹt đạn, loay hoay không biết ngồi đứng nói năng như thế nào cho phải lẽ . Má quay lại bảo người đàn bà mà Lam giới thiệu là chị dâu:

– Con đem thịt và bánh mì dọn ra đi. Anh em nó vừa tới chắc đói bụng.

Lam trỏ người đàn bà và cô gái nhỏ, nhắc lại:

– Đây là chị dâu thứ sáu và em gái của em. Huệ, Huệ lại đây với chị chút!

Huệ nhỏ nhắn mặt trắng môi son, tóc kẹp. Còn người chị dâu thì trạc tuổi chị Tư Mai, chị của Bảy Mô. Nhìn nét mặt và y phục của người ở vùng tạm chiếm thấy khác dân vùng giải phóng và cách xa dân nông thôn miền Bắc giàu đẹp ba ngàn cây số. Tôi hỏi.

– Huệ có đi học không em?

– Dạ có .

Lam đùn em gái tới.

– Đi lại anh… biểu đi em!

Huệ bước lại gần. Tôi nắm bàn tay dịu nhiễu của cô bé.

– Để em đi mua la de với nước đá !

Nói xong Huệ chạy đi. Bà nói với tôi:

– Má đâu có hay biết gì. Nó về nó hối má, má bô hết công việc chạy ra đây. Gấp rút quá chỉ mua được mấy kí thịt heo quay với chục cặp bánh mì còn chị nó mua được có mấy khúc vải cho con.

– Dạ cám ơn má !

Tôi bị lỡ bộ, ‘không cãi chính được nên gọi má luôn, coi như bà là mẹ chiến sĩ.

– Sao, anh chị bên nhà cũng mạnh há con?

– Dạ, ba má con đều mạnh giỏi! Cám ơn má.

– Má nghe con Lam nó nói vừa rồi con có rước được gia đình vô !

– Dạ thưa, con chỉ rước được có một mình ba con thôi.

– Để rồi nay mai má đi tới thăm cho biết bên con.

– Dạ!

Tôi đành chịu xuôi tay. Cứ mỗi câu nói như một nuộc dây siết chặt thêm. Người chị dâu bảo Lam:

– Cô nói với dượng mời anh em cứ dùng tự nhiên. Thịt quay mua hồi sáng bây giờ da hết dòn rồi. Thấy tôi xách thịt lên xe lam, mấy người lính chọc ghẹo: “Bà nội đi thăm chồng ở trỏng hả ? Mai mốt mang cái bụng chành ảnh về đây đẻ cho Quốc gia nuôi! Tụi tui vốn làm mọi cho mấy bà.”

Bọn đàn ông chúng tôi đứng dậy nhường chỗ cho khách. Bữa tiệc đông thêm, người đứng người ngồi vui như ăn giỗ.

Sáu Đức liếc tôi ý chất vấn:

– Thủ trưởng vải chài hồi nào mà tài vậy? Tôi ở cơ quan hàng ngày mà chớ có nghe chút xíu động tĩnh gì hết ráo. .

Tôi khẽ thúc cài cho bảo im. Thì Ba Tồ lại ứng lên:

– Coi như bữa nay là đám hỏi. Vậy mà thầy kín miệng như mấy ông bà cấp ủy ngồi thum.

Tôi đánh trống lãng:

– Bót Trung Hòa này mọc rễ lâu đời khó nhổ quá !

Sáu Đức gắp miếng thịt đưa cho Tôn Sứt bảo:

– Miếng này hàn cái môi chú lành lại cái một.

Hai Khởi quấn băng trắng trên đầu đang rên, bây giờ mới ra miệng:

– Đạn nó có mắt bồ ạ ! Nếu nó đi sâu vô một phân nữa thì ổng không còn cái răng ăn cháo. Còn tôi trở thành dách cô ngạn.

– Như vậy thì khi nhắm súng ông khỏi nheo mắt! – Bính Chân Lư lọt giữa đám này chìm như đá bây giờ mới lên tiếng – Còn ông Tôn thì cười khỏi phải nhếch môi. Này, để tôi kể cho bà con nghe một làn đạn ly kỳ . Anh chàng là lính của tôi. Trận vừa rồi, hắn núp ở gốc cây, vừa la tiến thì một viên đạn xuyên qua hai gò má mà chẳng trúng xương và hai hàm răng còn nguyên. Đơn vị đặt cho hắn là thằng Rộng Họng. Hà hà, còn ông tham mưu này về ghé ông Tư Chuyền cho hai em Nga băng bó vết thương nòng chỉ vài ngày nà nành thôi.

Sáu Đức hỏi:

– Còn cặp chân của ông thì sao cong queo vậy?

– À, tại tôi đội một trái bom tấn đó mà ! Hà hà…

Ăn uống no say xong, anh em điệu đàn kéo đi tìm nhà khác nghỉ, để chàng rể bất đắc chí ở lại với gia đình bên vợ. Tôi đành ngồi ngúc ngắc với má, Lam và chị Sáu. Lam rất phấn khởi. Thỉnh thoảng nàng liếc tôi, cái nhìn tràn đầy hạnh phúc và còn hàm ý: “Đó, anh thấy chưa, em nói đâu có đó. Má thương anh lắm… Con Huệ nó thấy anh là mến liền…”

Tôi đâu có ngờ Lam lại bạo phổi như vậy. Quả thật tình yêu vạn năng. Nàng đã đơn thân độc mã ra tận đây như trò chơi. Còn tài tình hơn chúng tôi. Má bảo:

– Nhà có ba đứa, thằng anh nó cũng đi theo ở trỏng, nó không chịu ở nhà. Nó nói để nó đi chống Mỹ cứu nước. Còn con Huệ cũng nhấp nhỏm đòi đi nhưng má bắt ở nhà học.

Má nói xong, bảo chị Sáu vào buồng lấy ra một hộp nữ trang. Má mở hộp đưa cho tôi và Lam hai chiếc cà rá vàng.

– Hai con cất đi, khi nào ở trong đó có điều kiện thì cơ quan làm đám tiên bố cho nếu má không vô được. Bữa nay coi như má đã nhận hai con hứa với nhau rồi !

Xong má còn móc túi lấy tiền xỉa ra cả chục tờ giấy 500 đưa cho tôi. Tôi từ chối, nhưng Lam giật lấy trên tay má nhét vào túi áo tôi và trách:

‘ – Má cho thì cất đi để má giận!

Bữa tiệc hóa thành hai bữa một cách bất ngờ, cá nướng trui cộng thịt heo quay nhưng phải kết thúc một cách nhanh chóng, với lý do “tới giờ của thằng Lệnh cô hồn đi.”

Mọi người tản ra ở các nhà khác. Bà má, chị dâu và em gái của Lam cũng tạm biệt tôi và Lam rồi cáo lui. Chỉ còn mình tôi và Lam ở lại trong nhà. Ông già thì vô buồng hồi nào không biết. Chỉ còn bà già ở lại nói chuyện với tôi:

– À, vậy ra chú em đã có gia đình?

– :Dạ… chỉ mới… mới… a..a..

– Dạ mới hứa thôi thưa bác. – Lam nhanh nhảu đáp – Đây là lần đầu tiên má con biết mặt ảnh.

Tôi ngồi chết trân, chỉ đối đáp khi nào bị hạch hỏi. Bỗng tôi nhận ra Quắn cũng vắng mặt từ sau khi Lam đến nhưng không biết là lúc nào. Tôi hoang mang cực độ. Lam thấy tôi lơ láo bèn hỏi:

– Có việc gì vậy anh?

– Đâu có việc gì.

Sự vắng mặt của Quắn rất khả nghi. Tôi biết nàng yêu tôi say đắm, nhưng không vượt qua lễ giáo. Nàng bắt tôi hứa trước bàn thờ ông bà bằng một cái hôn. Hạnh phúc đang trong tay bỗng vuột bay mất, nàng có thể quẩn trí và hành động một cách điên cuồng. Trong kháng chiến chống Pháp tôi đã từng biết một anh chàng bị thượng cấp ngoài Trung ương vô cướp người yêu bèn vọt về thành dắt luôn một đạo quân thủy lục không quân Pháp vào tàn sá t một lô cơ quan đóng cố định như nhà dân. Thiệt hại về tài sản và sinh mạng vô số kể.

Trường hợp nàng Quắn có thể là sự lặp lại chuyện xưa chăng? Tôi hỏi.

– Bộ em có quen với cô… cô Quắn à?

– Con nhỏ đó là bạn học của em hồi ở Q Hai Chòi. Hơn năm rồi mới trông thấy mặt nó, định tâm tình chẳng ngờ ngó qua ngó lại, nó biến mất.

– Nó đi công tác gấp!

Bà má buông một câu lạnh lùng rồi bỏ vô buồng. Tôi cố định thần trở lại và hỏi Lam:

– Em dám vọt về vùng meo à?

– Dám chớ. Em quen đường băng nẻo tắt hết cả mà.

– Không sợ thằng Lệnh à?

– Em nhớ anh, em không sợ thằng nào hết. Nếu em không mạo hiểm thì chừng nào má mới biết mặt anh?

– Tình hình này không nên nôn nóng.

– Em đâu có nôn. Đâu cho rành đó rồi anh đi đâu em đi đâu cứ đi không đeo dính như sâm nữa làm anh mang tiếng.

Vừa đến đó thì Quắn xuất hiện. Lam kêu lên:

– Mày đi đâu mất biệt vậy Quắn?

Quắn vui vẻ :

– Đi công tác gấp của xã ủy.

– Lâu nay mạnh giỏi hả?

– Đều đều – Quắn nói rồi quay qua tôi – Anh Hai Đời, Bí thư xã ủy mời thủ trưởng đến gấp.

– Đi đâu?

– Ở cơ sở xã ủy chớ đâu !

– Bộ tình hình gì biến động sao?

– Em đâu có biết. Anh nai nịch rồi đi mau lên!

Tôi tuân lệnh của cô chánh ủy như máy. Quắn nói với Lam:

– Độ vài tiếng rồi tao dắt trả lại cho nguyên vẹn không sứt miếng da nào, mày đừng lo!

-Đi mau mau về sớm sớm. Khuya rồi!

– Xí, tao dắt đi luôn đó. Được không?

– Được ! Tao cho mày đó, con quỉ !

Tôi tạm biệt Lam bằng một cái vẫy tay không nồng nàn lắm. Nàng tỏ vẻ không hài lòng nhưng tôi ngượng không thể biểu lộ hơn nữa. Đi được một quãng, Quắn trỏ tay ra phía ruộng trống bảo:

– Mùa cấy thằng Lệnh thương dắt lính ra núp ở cái bờ dứa đó bắt nông dân vô làm xâu cho bót. Còn con suối kia là từ đâu trên Tầm Đinh chảy xuống Bàu Ràng qua cầu Trung Hưng cầu Dân Hàn rồi cầu Công Sở, tiếp đến suối Gia Bẹ, ăn thông qua suối Bà Cả Bảy dưới Bàu Chứa, rồi nối liền với Rạch Láng The bao bọc cái Đồng Dù.

Nàng nói liền miệng mà như không để tâm vào. Tôi hỏi:

– Vậy không phải vành đai thép của các cô cậu dũng sĩ bao bọc Đồng Dù à?

– Vành đai thép nào? Vành đai ghẻ xốn của bà Út Nhỡ Bảy Nê thì có.

– Anh vừa ở trên R xuống thì nghe đồn vậy nên bảo Năm Cội dẫn cho xem mà chưa có dịp.

– Nếu có dịp thì anh sẽ được xem mấy cái hang ếch. Hồi mới đào thì mấy ông mấy bả còn lúp ló bắn sẻ tụi Mỹ dắt gái ra ven rừng, còn bây giờ thì xe nó ủi láng hết rồi.

– Sao em biết?

– Em đi với đội du kích của ông Ba Bụng phối hợp toàn quận. Trận đó bị xe tăng rượt em chạy văng mất túi thuốc. Anh nghĩ coi địa đạo nào đào băng qua suối qua đồng ruộng được chớ?

– Anh còn nghe đồn miệng địa đạo ăn ra sông Sài gòn nữa kia !

– Sao không nói nó ăn thấu đáy sông Sài gòn qua luôn Bến Cát?

– Cũng có tin đồn đó nữa đa, cô em!

Đi một chập thấy đèn pha bót Trung Hòa lấp loáng trên mặt đường, tôi hơi ngại, nên hỏi:

– Ông Hai Đời ở đâu?

– Ở ngoài rừng kia cà.

– Có hầm ở ngoài hả?

-Em đã bảo là chỉ có hầm nổi thôi, đào hầm ngầm không được! Năm 63, ở dưới Cây Trùm xã Phước Hiệp thằng Rắc đã khui một cái hầm nổi do người ta chỉ điểm. Từ đó tới sau hầm gì cũng bỏ luôn. Nó đến ngay miệng hầm kêu, một ông huyện ủy, hai ông nông hội xã bò ra, nó bắn luôn tại chỗ, lấy một K54 mới nguyên. Đó là Tư Châu, anh ruột Năm Tiều ở tác huấn khu bây giờ. Ổng chết, bả còn bị bắt bỏ tù mấy tháng. Phải bán cái quán chạy lo mới ra được. Hai đứa con của ổng, Năm Tiều dắt đi theo lên đâu trên khu.

Quắn nắm tay tôi chắc cứng. Hai đứa cùng bước trên mặt đường xe bò nhấp nhô chập chờn ánh đèn pha, trật có cái muốn lọi chân. Nàng liên tiếp kể:

– Vậy mà không chịu rút kinh nghiệm. Năm sau, Mỹ vô, cụm xe tăng ở Bàu Trâu. Buổi trưa tụi Mỹ chịu nắng không nổi bèn vô xóm tìm bóng mát. Bỗng một tên nghe tiếng ho sù sụ trong hầm. Nó kêu: “Đi ra! Đi ra mau! Vi xi! Vi xi!” Bà vợ lừng khừng. Tụi nó bèn đem mìn vô đặt và dọa lần nữa. Bà vợ quì gối chắp tay lạy rồi kêu chồng: “Ông ơi ra đi khỏi chết! Không ra nó đánh mình!” Ông chồng và bảy ông nữa chui ra một dây. Sau đó lại tái diễn ở Tân Qui. Ông chồng là cán bộ tác huấn từ An Phú về thăm nhà, bị Mỹ đổ chụp, rượt nà bèn chui hầm. Mỹ theo tận nơi, kêu ra. Ổng cố nín. Mỹ tìm miệng hầm tung lưu đạn. Bà vợ dời về Lào Táo có chồng khác tên là Hai Khuông cũng bị Mỹ đuổi và khui được miệng hầm. Nó đánh mìn. Hốt không được tô thịt. Một năm hai đời chồng. Toàn chết như vậy. Anh có thấy ai như bà đó chưa?

– Sao tụi Mỹ rành vụ khui hầm vậy?

– Nó có người mách. Hầm gì mà nó không biết! Anh tưởng ai cũng mê giải phóng hết sao?

Quắn lại trỏ tay ra đồng:

– Chỗ có ngọn đèn leo lét, đó là xóm Mồ Côi có nhà ông bà già thằng Thẹo du kích. Ông bà ở giữa đồng đặt lọp bắt tôm cá. Hễ tụi Trung Hòa ra là ông treo cái nón lá trắng phếu trên vách chòi, thì mình biết không đi được. Nếu không có cái nón lá thì cứ đi. Nhưng tụi nó cũng nhờ dân mình mách, tụi nó vô chòi gỡ cái nón lá cất đi rồi phục kích. Đằng này lơn tơn đi tới, nó xộp tóc vài ông. Bây giờ hết vụ nón lá rồi.

Đang nói chuyện giặc, bỗng Quắn ngoặc sang chuyện R:

– Anh Hai à ! Em muốn hỏi anh chuyện này chút!

Tôi tưởng Quắn hạch tôi về chuyện Lam, nên gạt ngang.

– Không có chuyện gì! Đừng lôi thôi!

– Sao mấy chú mấy bác ở đây hay mò vợ con chủ nhà, làm mất uy tín cách mạng quá hà !

– Ai đâu? Đừng đặt chuyện nói xấu cách mạng nghe cô ! Bộ tính lên án tôi đó hả?

– : Anh đâu có vậy. Em nói là nói chú Năm Ngó kia. Chị Ba em về ở lại nhà em gặp lúc ổng đang đóng quân ở đó. Ổng mò. Chị Ba em định la lên. Ba em bảo: “Đừng làm vậy, xấu lá xấu nem, rồi ba thằng Tiến nó về nghe được mà sanh giặc. ” Lại còn ông Tư Hải cũng mùa thu, đóng ở nhà chị Tám Phụng. Nửa đêm ông vô buồng bị ông già xách dao xắc chuối chận ở cửa. Ổng sụp lạy ông già và tìm cách gỡ gạt: “Cháu vô đây mượn cái hộp quẹt hút thuốc.” Từ đó chị Tám không đi hội họp nữa. Chỉ suýt bỏ luôn công tác phụ nữ. Còn Tư Hải trở thành Từ Hải.

– Tại sao có tên Từ Hải?

– Từ Hải chết đứng, anh không biết tích đó à?

Tôi hơi ngượng nhưng cố gỡ gạt:

– Mấy chú đi xa nhà lâu năm thiếu thốn tình cảm.

Nàng bóp chặt tay tôi.

– Vậy anh không xa nhà lâu năm sạo? Ông già chỉ dữ lắm. Đang đêm mà ổng đốt đuốc vô Bào Trăn tìm ông Năm Tiều. Năm Tiều là dê trưởng, Tư Hải là dê chánh (Nghe Quắn xài danh từ tôi bật cười, con nhỏ lém thật.) . Ổng nói thẳng với Năm Tiều : “Làm chánh trị viên mà vậy thì còn cái chánh trị chánh trọt gì hả chú?” Ông Năm Tiều năn nỉ muốn gãy lưỡi, hứa thi hành kỷ luật ông dê … chánh, ông già mới thôi.

Quắn cứ kể chuyện này sang chuyện khác, tôi sốt ruột:

– Gần tới cơ sở chưa ? Em đi như vầy phiêu lưu quá ? Đáng lẽ anh phải đem cần vụ theo.

– Em thuộc đường và mật hiệu của đại đội ông Bính mà. Em cần vụ không được sao?

Quắn lôi tôi vào một ngả rẽ đến một căn chòi ở giữa một đám rừng chồi.

– Ông Bí thư xã ủy ở trong đó !

Tôi xem đồng hồ đã mười một giờ đêm. Quắn bảo:

– Ổng vừa đi đâu. Anh ngồi trên vạt chờ một chút!

Nói vậy rồi nàng đi thẳng ra sau chòi. Ánh trăng non soi mập mờ qua phên thưa. Một cái bếp tro lạnh ở góc chòi, bên cạnh đó lăn lóc một cái soong móp méo. Bộ vạt như hàm răng rụng đong đưa mỗi khi tôi trở bộ . Nghe nước xối róc rách ngoài sau. Tôi bước lại cửa nhìn ra. Một nàng tiên đang gội tóc bên một khạp nước bể, những làn nước lấp lánh tuôn chảy xuống tấm thân ngà. Thiệt chẳng khác cái cảnh tôi ngồi trên ngọn dừa nhìn xuống một nàng tiên khác không mảnh vải dính da hôm nào. Khi nàng lấy chiếc khăn lông trắng muốt choàng lên và bước về phía chòi thì tôi thụt vào ngồi y chỗ cũ trên vạt làm như nãy giờ không phạm tội trần tục chút nào.

Nàng ngồi bên cạnh tôi. Mùi xà bông thơm lẫn mùi da thịt tỏa sang tôi bát ngát. Nàng nói không chút e dè, nói một hơi không nghỉ như đã chuẩn bị từ lâu:

– Em không phải là đứa con gái lăng loàn đụng ai cũng quơ chụp. Em đã đi học trường tân binh Q Hai Chòi với con Lam. Sau khi mãn lớp, đám con gái được phân công đi các cơ quan. Những đứa đẹp được đưa cho mấy ông lớn làm con nuôi. Em cũng được hân hạnh làm con nuôi một ông kẹ. Chỉ một thời gian, em thấy cái trò chơi con nuôi dơ bẩn đó. Em xin nghỉ phép và ở nhà luôn. Thà ở nhà làm cách mạng mà hay hơn. Em thích cách mạng nhưng em không thể xáp với những cán bộ cách mạng đó . Về đây em cũng đã tiếp xúc với nhiều ông to. Sao họ toàn là những kẻ … hì hì… khó nói quá.

– Còn anh?

– Anh thì khác.

– Mới quen sao biết khác?

– Biết chớ! Em nhận ra người ngay từ phút đầu. Tất cả tâm tính đều hiện trên nét mặt. Em thương anh ngay từ cái nhìn đầu tiên. Giá không có vụ con Lam…

– Vụ gì đâu?

Quắn nhắc lại chuyện xảy ra vừa rồi ở nhà rồi bảo:

– Do đó em không muốn để mất anh hoàn toàn ! Em hận vì em không có cơ hội như con Lam. bây giờ đã như vậy rồi, em phải giành lấy được phần nào hay phần nấy.

Nàng lột chiếc khăn lông trải lên vạt rồi ôm lấy tôi mà quật xuống.

– Anh sẽ không bao giờ có dịp yêu em nữa đâu. Anh thuộc về người khác rồi.

Tôi muốn đính chánh nhưng nàng không để miệng tôi thốt ra lời. Nàng vồ vập làm như tôi là con mồi non. Nàng giục giả, khuyến khích, lãnh đạo tôi như một bà chánh ủy.

– Bộ anh sợ cái má văn công, cái mông y tá hả? Y tá nào uống thuốc ngừa thai, nạo thai chớ y tá Quắn này khỏi có bị đâu… Anh thấy chưa… Đó… em vậy đó. Anh tin chưa? Con Quắn này xấu hơn Bảy Mô, Ba Cấm, Tám Phụng, nhưng chưa chắc các bà đó hơn em điểm này. Rồi anh sẽ thấy!

Nàng cầm tay tôi đặt lên những vùng cấm. ánh trăng làm da người con gái thêm mát rợi, làm mắt nàng thêm lấp lánh.

– Em có đôi mắt nai đẹp lắm!

Tôi nhìn xuống mắt nàng. Nàng vít đầu tôi xuống ngực nàng, đè riết rất lâu. Tôi bảo:

– Lửa của anh đâu phải lửa rơm phải không em?

Bộ vạt yếu ớt run suýt đổ bao lần. Chúng tôi nằm yên bên nhau, ngủ. Và thức giấc mơ tiên. Nàng bảo:

-Trời còn khuya, ngủ một giấc nữa rồi hãy về.

Chúng tôi không ngủ. Ai lại có thể ngủ được khi da thịt của hai đứa mọc gai và khiêu chiến nhau ở từng góc cạnh.

– Đừng quên em nhé, đứa em liều lĩnh của anh! Em không tiếc rẻ, không ân hận một chút nào.

(Về sau khi tôi ra chỉ huy Tiểu Đoàn Thép rồi làm Tham mưu trưởng Trung đoàn Quyết Thắng Quân Khu, tôi gặp lại nàng trong mấy tháng liền lúc chiến trận rất ác liệt. Rồi sau đó tôi di quân đi xa, không còn dịp gần nhau và cũng không biết tin nàng nữa.)

Tỉnh giấc lần thứ hai chúng tôi vẫn luyến tiếc cảnh tiên nhưng tiếng gà trần thế đã gáy rộ bên tai. Chúng tôi hôn nhau điên cuồng, đôi môi đôi má không muốn rồi ra nữa. Mắt nàng hoen lệ, giọng rưng rưng.

– Thú thực, em không còn muốn lấy chồng. Có người tới hỏi nay mai, em sẽ…

Tôi vả miệng nàng rồi trám miệng nàng bằng một cái hôn cắn. Quắn đưa tôi về tới nhà đập cửa rầm rầm, quát lạc giọng:

– Lam ! tao trả chồng mày đó !

Rồi lẫn đi mất. Tôi đứng chết trân như trời trồng, cảm thấy mình có tội. Tội với ai? Không rõ. Với Thu Hà, Lụa, Là, Nga, với bà khu ủy, Mai Khanh, Thanh Tuyền, Ua, Chia. Hay với Lam đang chờ suốt đêm nay tôi đi họp với xã ủy.

Lạy Chúa. Lạy Trời xin tha tội cho con nếu yêu chân thành là tội…

Bạn đọc thân mến,

Đến đây bạn cùng đi với Lôi-Vũ khá sâu vào đất Củ Chi với trên 1000 trang sách. Nhưng chưa đến cho cực điểm hoang tàn của nó. Đây mới chỉ là một đoạn dạo nhạc trong khúc hòa tấu ác liệt, một món ăn chơi trên mâm cổ bom đạn Củ Chi. Sự chết chóc, tàn phá do bom đạn gây nên, tới đây chỉ mới là một vết xước trên làn da non.

Những trang sách tới sẽ ghi lại cái chết của trên 1000 cán bộ thuộc các cấp tại quận Củ Chi. Có những cấp ủy bầu đi bổ lại ba lần và cả ba lần đều chết rụi. Bạn còn nhớ chị nuôi nấu cơm cho Quận đội trưởng Tám Dò không? Chính cô ta lên làm quận phó sau này, rồi cũng chết. Cô Tư Bé lên rồi cũng chết.

Cả Bộ Tư Lịnh Quân Khu chết sạch. Trần Bạch Đằng, Huỳnh Tấn Phát chịu không thấu phải cuốn gói dông luôn. Võ Văn Kiệt xuống thay, chuyên môn ở dưới hang cá kèo không dám ló đầu lên một phút. Nguyễn Chí Thanh cũng bỏ mạng ở Bến Cát bên ven Củ Chi.

Chết đủ kiểu, mọi lứa tuổi. Người người đều chết, ngành ngành đều chết để cho “Hồ Chủ Tiệm vui lòng, ngủ ngon và sống lâu!”

Mặc kệ dân Nam Kỳ quốcl Miễn sao đặt được ách thống trị của dân Bắc Kỳ để biểu diễn xã hội chủ nghĩa dỏm.

Tháng 8, 1992
Lôi – Vũ

PHẦN PHỤ LỤC

Từ tên chột Nguyễn Bình đến gã mặt toét Lê Đức Anh *

-I-

Năm 1949 tôi đang học trường Đồng Tử Quân của Trung đoàn 300 Dương văn Dương tại Mũi Bần thuộc khu rừng Chà Là, xã Đồng Hòa, quận Nhà Bè cũng gọi là khu Rừng Sát, bỗng một hôm tôi được Ban Giám Đốc trường gọi lên và đưa cho tôi một bức công điện gọi tôi về văn phòng Trung Đoàn.

Bức điện khẩn này ký tên Lê Đức Anh, quyền Tham Mưu Trưởng Nam Bộ . Cầm bức điện trên tay, tôi run từng miếng thịt. Vì lúc đó nội bộ Trung Đoàn đang bị nhân viên phòng nhì Pháp cài vào khắp các cơ quan và Trung đoàn 305 do Tư Đức chỉ huy mới vừa bị tảo thanh nội bộ một cú rùng rợn. Trong lúc đó các ngành sau đây: Hai Điểu trưởng ban Quản trị Hậu Cần. ông này bị bắt ở An Thành và thủ tiêu. Tám Son, chánh văn phòng Trung Đoàn, Bảy Nghiệp tiểu đoàn trưởng Trưởng ban Đảng Vụ , Năm Sơn trường ban Quân Nhu, bác sĩ Năm Ngà, trưởng bệnh xá Trung đoàn; chị Sương, một phụ nữ rất đẹp, nhân viên Ban Quân Báo Trung đoàn, Chín Lá trưởng ban Vô tuyến điện Trung đoàn và rất đông cán bộ khác trong Ban Bào Chế và Binh Công Xướng. Thuốc của Binh Công Xường làm Tromblon và đạn cối thì nhét đầy bông gòn thay vì thuốc nổ, còn thuốc của ban Bào Chế thuốc tiêm vào áp-xe. Cả trăm người bị bắt một lượt và chôn sống ở bãi biến Đồng Hòa hoặc bị cho mò tôm ở sông Lòng Tào. Do đó mà tôi sợ Trung đoàn 300 của tôi cũng bị phát hiện như Trung đoàn 305 và.tôi đã bị ai báo và sẽ đi mò tôm chăng?

Hồn vía lên mây, tôi về đến nơi thì được gọi vào gặp đồng chí quyền Tham Mưu Trưởng Nam Bộ . Tôi đi nghe nhẹ nhỏm như chân không bén đất. Ông ta ở một cái chòi lá một mình bên cạnh đó là một cái chòi khác của tổ Mật Mã do ông trực tiếp chỉ huy lâu nay tôi chỉ thấy chữ ký tên. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mặt con khỉ già mặt rỗ này. Phải nói là ông ta giống con vượn già, tay chân nghều ngào, mặt dài, trán vuông và tóc đã bạc lốm đốm. Ông nói chuyện không suông sẻ không cười. Thiệt khó đoán ông ta là người Miền Nam, Trung hay Bắc vì tiếng và giọng của ông rất lẫn lộn pha chè.

Sau này nghe người ta đồn ông ta là người Huế hay Quảng Bình gì đó, tôi cũng không để ý. Tôi nhớ rõ lúc đó Bảy Viễn đã về thành rồi, nên cơ cấu tổ chức đều xáo trộn. Riêng phân khu Duyên Hải thì bị giải tán hơn và phòng Chánh trị phải dời về đóng tại Suối Tre thuộc ấp Nhà Mát Long Nguyên (nơi sau này ông đại tướng mặt đỏ Nguyễn Chí Thanh bỏ mạng cuối năm 1967).

Đụng mặt ông ta tôi thấy ông không phải là tướng quân sự mà có vẻ một thầy rùa, một mưu sĩ cũng như Trần văn Trà có bộ tướng loắt choắt như trẻ con, còn tên Lê Quang Đạo cốt là trung (hay thiếu) tướng hiện là chủ tịch Quốc Hội thì lại đầu đít có một tấc.

Xin trở lại Lê Đức Anh. Ông ta bảo: “Tôi gọi cậu về làm mật mã, vì ở trường không có đứa nào có văn hóa bằng cậu. Nếu có thì không bảo đảm lập trường.”

(Sự thực có nhiều đứa bạn tôi học trường Lê Bá Cang và Nguyễn Văn Khuê, nhưng không hiểu tại sao ông lại chọn tôi.)

Khi biết được ông ta muốn tôi làm mật mã thì tôi hết sợ, lại còn chống lại. Bò nghé không sợ cọp vậy. Tôi biết cái nghề này một khi đã lọt vào thì không được cưới vợ, lấy chồng, như một thứ phu cao su đã bán thân cho chủ, nên nói:

– Tôi mới 17 tuổi, chưa phải là công dân. Tôi muốn đi học văn hóa để sau này học lục quân trở thành sĩ quan.

Ông ta cười hừ hừ rồi bảo:

– Cậu là đồng tử quân phải có kỷ luật, cấp trên phân công đâu thì phải làm đó, không được cãi. Lại nữa cậu là đảng viên, cậu phải tuân lệnh đảng.

(Tôi vô đảng hồi đầu năm. Do Hà Huy Giáp kết nạp đặc biệt. )

Tôi cãi lại:

– Nhưng tôi chỉ là đảng viên dự bị.

– Dự bị thì cũng là đảng viên – ông ta trợn mắt.

Nhưng tôi vẫn không sợ, vì tôi ở gần mấy ông lớn đã quen như Phạm văn Bạch, Phạm ngọc Thuần, Hà huy Giáp, Hoàng xuân Nhị, Khả vạn Cân, bác sĩ Trần văn Du có gì mà sợ. Vả lại ông ta cũng không la hét gì, lại còn hứa cho tôi đi học lục quân khi tôi đủ tuổi.

Phòng Tham Mưu Bộ Tư Lịnh Nam Bộ bấy giờ gồm có:

Lê Đức Anh Quyền Tham Mưu Trưởng,
Nguyễn văn Lung Tham Mưu Phó kiêm trưởng ban tác huấn,
Ban Quân Báo do Phạm Xuân Hoàng làm Phó ban (tên này sau làm Trường Phòng Quân Báo cho R)
Còn Phòng Chính Trị do ông Vũ Huy Xứng và Bùi Thanh Khiết Chánh Phó.

Chung quanh hai phòng Tham Mưu cà Chánh trị có nhiều nhân vật rất ngộ . Đó là các thằng xây lố cố phục dịch cho Lê Đức Anh như thằng Lộ Đẹt và thằng Uyển mắt bị lông quặm như ông ta vậy. Năm Lâm chánh văn phòng Tham Mưu, cao, ốm, cà lăm nhưng giỏi tiếng Pháp. Tỉnh đội Gia Định do Ba Tô Ký làm Tỉnh đội trưởng cũng đóng gần đó. Ông Ký có thằng em khậc khùng tên là Tô Sung chuyên môn giữ ngựa nhảy, kiêm đội trưởng bảo vệ. Thỉnh thoảng ông Lê Đức Anh đến cỡi, nhưng gặp thằng Sung khùng không cho. Lính thấy vậy bèn giải thích chức vụ của ông ta cho nó nghe để nó ngán mà cho mượn ngựa.

– Đó là ông Tham Mưu Trưởng, chỉ dưới ông Tư Lịnh thôi.

Tô Sung vẫn coi như pha:

– Tha-mu thì tha, ngựa tôi, tôi giữ.

Ông Anh phải kêu ông Ký ra bảo mới được. Trong văn phòng, mỗi khi nói anh Ba thì phải nói rõ Ba Tô hay Ba Chè (Tô Ký Và Trần văn Trà). Anh Năm thì phải nói rõ Năm Bi hay Năm Cà Lăm, Năm Sún, Năm Ròn hay Lâm Vênh (bàn nạo). Còn anh Sáu thì phải nói rõ Sáu Nâu hay Sáu Rỗ hoặc Sáu toét (ông ta mặt rỗ hay mắt toét, tức Lê Đức Anh).

Một hôm tôi đi ngang qua láng của mấy bà, thì bất ngờ tôi thấy một lô bà bầu ở trong đó. Tôi bước vào để kiếm một mớ măng le và mắm ruốc về cho tổ ăn thì thấy bà Sáu Cẩm (cũng còn gọi là bà Sáu Bầu) là vợ ông Tham mưu trưởng, hội trưởng Hội Phụ Nữ Thủ Dầu Một, còn bà trẻ kia cũng mang cái trống chầu vĩ đại là vợ Tô Ký, còn một bà to con xinh xinh cũng có cái bụng no phình là vợ của ông Ba Khịt tức là Ba Lung Tham mưu phó. Chỉ có một bà không mang trống là vợ Ba Xu, sau này là Tư Lệnh khu Sài gòn Chợ Lớn bị đạp mìn chết ở Trảng Bàng đầu năm 1969 khi đi về R nhậm chức Thứ trưởng Quốc phòng của cái chánh phủ ma Huỳnh Tấn Phát. Riêng tên Trà thì lúc đó cũng đã cưới vợ bằng công điện tận Miền Tây Nam Bộ. Nàng ta là Lê kim Thoa, học sinh thành, con gái luật sư Lê Đình Chi bị bom chết ở khu 8. Trà tới ve vãn bà má, nhưng bà ta lại muốn thủ tiết với chồng nên đưa con ra đỡ đòn. Lúc đó có một chàng thư sinh đang tới lui tình cảm rất đậm đà với nàng, nên được điện ông Tư Lệnh, nàng khóc lóc nhảy xuống sông tự vận nhưng rồi trái tim không thắng được cường quyền, hơn nữa bà mẹ cũng muốn con thay mẹ trám lỗ trống để ông Tư Lệnh khỏi ve vãn mẹ mà có ngày mẹ rơi hầm chông. Cho nên nàng Thoa cuối cùng trở thành Bà Tư Lệnh. Bà Tư Lệnh thì không ở chung với các bà bầu mà ở chung với ông Tư Lệnh.

Cũng cuối năm 1949, xảy ra chiến dịch Bến Cát. Trà cử Lê Đức Anh làm Tư Lệnh mặt trận, Ba Tô Ký làm chánh ủy và Ba Xu (tức Ba Đình) làm Tham mưu trưởng. Chiến dịch này thành công vĩ đại là do công của Tư Lệnh Anh: tóm được mười mấy xe hàng dân sự ở Chơn Thành chở gạo đi Hớn Quản, đổi lại sự nướng sạch gần hai tiểu đoàn 302 và 304 ở mặt trận Bến Súc. Chiến thương lên đến ba trăm, nằm đặc dọc đường từ Đường Long, Thanh Tuyền về đến cầu sông Thị Tính. Quân Pháp nhảy dù ở Nhà Mát rượt Ban chỉ huy chạy ói ra máu ở Bà Tứ. Thêm vào quân nhảy dù, pháo 105 và 155 của Pháp bắn tơi bời. Hai bà bầu Ba Xu và Ba Tô Ký chui hầm, nếu không có tôi chắc bị miểng cứa lòi con. Nhờ tôi ngồi trám miệng hầm (lãnh đạn) nên các bà an toàn.

Sau chiến dịch này, Pháp phong tỏa chiến khu Long Nguyên nên toàn bộ Tư Lệnh rút về chiến khu D, ở Đất Cuốc Tân Uyên Biên Hòa. Cũng đâu vào khoảng 1949, xảy ra trận La Ngà do Huỳnh Văn Nghệ chỉ huy. Trận này nổi tiếng toàn quốc Người ta ghi lại thành tích bắt được một đại tá Pháp và giết một đại tá khác. Nhưng lại bảo rằng đó là nhờ tài Lê Đức Anh. Tôi không rõ lẽ nào. Nói chung suốt chín năm, Lê Đức Anh ở hậu phương điều binh khiển tướng gì đâu đâu chớ không thấy ra tiền tuyến, trừ chiến dịch Bến Cát mà tôi có tham gia.

Trong thời gian làm việc với ông ta, tôi có nhận xét sau đây :

1. Không rõ học lực của ông ta tới đâu, nhưng chữ ông rất to tròn và khéo không bao giờ ngoáy. Ông không bao giờ nói xen tiếng Pháp trong câu chuyện.

2. Có người bảo ông ta từng làm thầy su (ở sở cao su nào đó tôi không rõ) như ông Trần Đình Xu, biệt danh Ba Xu, Ba Đình (tư lệnh Quân Khu IV) nhưng không có ai xác định được. c lãnh tụ Cộng Sản thường giấu lý lịch mình hoặc sửa nó đi như Lê Duẫn.

3. Lê Đức Anh thuộc loại người kiên trì, chịu kỷ luật, tôn trọng thượng cấp và không hay gây gỗ cãi cọ, cũng không la ó đánh lính như Tô Ký, Ba Xu. Rất nặng tư tưởng giáo điều.

4. Ông ta là kẻ áp dụng chiến lược trường kỳ của Cộng Sản một cách bền bĩ và làu thông quyển Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh. Chính ông ta biết lo xa bảo toàn căn cứ, dời căn cứ, cũng cố phát triển căn cứ trong nhiều lần tình thế hiểm nghèo.

5. Chính ông ta cũng đã chủ trương cấy người ở các trục lộ để nắm sơ hở địch ngõ hầu phục kích đánh giao thông.

Kết thúc chiến tranh, năm 1954 ra Bắc, ông ta chỉ được quân hàm đại tá giữ chức Cục phó Cục tác chiến của Bộ Tổng Tham Mưu của Văn Tiến Dũng, trong lúc Trần Văn Trà lên Trung Tướng cái rột giữ cái ghế Thứ Trường Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu phó kiêm Hiệu trưởng trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn.

-II-

Tôi quá đổi ngạc nhiên khi biết Lê Đức Anh lên đại tướng làm tới Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng và là nhân vật số hai của Cộng Sản Hà Nội. Thực ra, tôi cho về binh nghiệp, hắn chỉ làm nổi đến chức thiếu tướng và chỉ huy nổi một Quân Khu là thượng số. Vì tôi biết hắn, con người lọ mọ, rì rầm, bền chí. Những đức tính này cần thiết cho thời kỳ du kích chớ không xài được cho một giai đoạn tiến nhanh, tiến mạnh, mà yếu tố lớn nhất là khoa học kỹ thuật. Điều này có thể được chứng minh trong chín năm đánh Pháp mà thôi. Trong mười năm đánh Mỹ, Lê Đức Anh trở thành con cù lần. Ông ta không làm gì được, không rời khỏi rừng Tây Ninh Cao Miên một ngày. Trừ lúc sau, ông ta được đưa về làm Tư Lệnh Quân Khu III tức là miền Tây Nam Bộ để lo việc vận chuyển lén vũ khí từ Bắc vô Kompongsom.

Năm 1964, khi tôi về R, đóng ở Tà Bon thì tôi gặp ông, tôi nhắc lại những kỷ niệm cũ. Ông không thích thú lắm. Có lẽ ông ta tự hiểu rằng mình đã trở thành một chiếc cối xay gió trước những máy móc tối tân, nên ông không hứng thú nhắc lại nữa.

Lúc đó ông ta là trướng B2 tức là Cục Tham Mưu với quân hàm đại tá của quân đội Bắc Việt. Còn thằng bé đồng tử quân năm xưa nay đã là đại úy, giảng viên trường pháo binh Bộ Tổng Tư Lệnh Miền Bắc. Ông ngạc nhiên nhìn tôi tiến bộ nhanh. Còn tôi cũng ngạc nhiên nhìn ông già sọm, ốm yếu lem hem, ho hen, sốt rét, tóc bạc trắng mà chịu dưới quyền tên Trà, Độ, Tấn, v.v… đứa trung tướng đứa thiếu tướng nghênh ngang một cõi R.

Cái trống của bà Sáu Bầu năm xưa đã vỡ ra và cho ông ta một đứa con gái khá xinh tên là Thanh Tuyền, bây giờ cũng đã vào R ở trong cái hang hùm của bố. Ngồi chung bàn uống trà với ông, tôi không những là đại úy pháo binh mà còn là anh hùng pháo binh vừa pháo kích sân bay Biên Hòa lẫy lừng thế giới nữa. Nhưng nhìn ông Cục trưởng, tôi có cảm giác như Cộng Sản đi theo một vòng luân hồi, một cái trò luẩn quẩn. Giết người để làm thỏa mãn người rồi lại bị người giết. Đó là Nguyễn Bình thời kháng chiến chống Pháp. Còn thời này là ai? Chưa biết là Trần Độ, Lê Trọng Tấn, Hoàng văn Thái, Trần văn Trà hay Lê Đức Anh?

Ý nghĩ đó của tôi không sai lắm khi thời gian trôi qua. Trần Độ bị cho về vườn, Lê Trọng Tấn và Hoàng văn Thái chết thảm tại nhà riêng không biết lý do. Còn Lê Đức Anh? Thời gian chưa trả lời, nhưng chắc gì số phận của hắn lại khác số phận Nguyễn Bình? Bạn hãy cùng tôi phóng mắt ngược về thời điểm mà Lê Đức Anh còn là một kẻ vô danh cấp trên không biết cấp dưới không hay, cái thời mà Nguyễn Bình quảy gói quả mướp vào Nam làm nhiệm vụ Thống nhất lực lượng võ trang năm cha ba mẹ của Nam Bộ.

Đảng Cộng Sản Đông Dương bên ngoài tuyên bố tự giải tán, nhưng bên trong đeo đuổi tham vọng nắm lực lượng võ trang toàn Nam Bộ. Nhưng lực lượng này tự động thành lập mang tính cách địa phương nhưng đã làm cho giặc Pháp kinh tâm tán đởm suốt bốn năm đầu kháng chiến. Ở miền Đông có các lực lượng của các ông Huỳnh văn Một, Huỳnh Tấn Chùa, Bình Xuyên v.v… Ở miền Trung có lực lượng của giáo phái, lực lượng của Đồng văn Cống, Phan văn Phải, Romand v v.. Ở miền Tây có lực lượng của Nguyễn Hùng Phước, Ngô Hồng Giỏi, Lâm Quang Phòng… Tất cả đều tự chỉ huy lấy không nằm dưới sự lãnh đạo nào.

Khi Nguyễn Bình vô thì bàn tay của Cộng Sản bắt đầu mò mẫm tìm cách qui tất cả về một mối để chỉ huy. Nguyễn Bình thi hành chánh sách chém giết lén lãnh tụ các đảng phái như Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ và lãnh tụ Bình Xuyên Ba Dương, sau đó dụ dỗ Bảy Viễn làm Khu Bộ Phó để nắm lực lượng Bình Xuyên. Hai tiểu đoàn Hải Ngoại từ Thái Lan về, võ trang súng Thompson và các loại súng máy, không có súng trường, oai dũng vô cùng do ông Ngô Thiết Sơn chỉ huy nhưng về nước cũng bị phân tán xuống khu 8 và khu 9. Nguyễn Bình phong Huỳnh văn Nghệ làm khu trưởng, Bảy Viễn làm khu phó và Nguyễn văn Trí một tên tù Cộng Sản ở Côn Đảo về làm chánh ủy. Kế đó thành lập phân khu Duyên Hải mục đích khống chế và chiêu dụ lực lượng Bình Xuyên, vì lực lượng này đã chống đối Nguyễn Bình từ đầu không cho đặt hệ thống chính trị trong nội bộ họ. Bảy Viễn đã từng tuyên bố: “Không có một tên Bắc kỳ nào trong bộ đội tao!” Câu nói đó trở thành bất hủ. Khu này do ông Dương văn Hà, em ruột ông Ba Dương làm Tư lệnh. Nhưng lại cũng do một tên Cộng Sản là Hai Huy làm chánh ủy. Ngoài ra còn mở trường Quân Chính do sĩ quan Nhật được Bình Xuyên đem ra huấn luyện, nhưng cũng do một tên Cộng Sản là Đặng Quang Long cầm cán. Tên này năm 1964 làm Trường phòng Chánh trị Quân Khu IV (gồm Củ Chi) còn gọi là Quân khu Sài gòn Chợ Lớn, đổi tên là Tám Quang.

Sau khi bị quân Pháp đẩy lui ra khỏi thành thị, lực lượng Thanh Niên Thành Phố, Cộng Hòa Vệ Binh, Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo đã kiện toàn lại tổ chức. Cao Đài kéo về vùng Tây Ninh, Hòa Hảo xuống Hậu Giang, Bình Xuyên trở lại vùng ngoại ô Sài gòn và Rừng Sát. Trong lúc đó các lực lượng do Việt Minh nắm được đã hình thành các chi đội (mỗi chi đội có chừng một ngàn người). Riêng ở khu 7 có các chi đội sau đây:

Chi đội 1 – ở Thủ Dầu Một do Cò Trương chỉ huy, Hai Thế làm phó. Chi đội này do Nhật cung cấp vũ khí chôn giấu ở Bến Cát. Cò Trương thuộc đảng Dân Chủ, năm 47 được cấp trên đưa đi hội nghị Calcutta (Ấn Độ) rồi mất ghế luôn. Sau đó không biết làm gì.

Chi Đội 2 – Gồm một số người Bình Xuyên do Hai Sói chỉ huy.

Chi đội 3 – Gồm một số người Bình Xuyên do Hai Lung chỉ huy.

Chi đội 4 – Gồm một số người Bình Xuyên do Huỳnh văn Trí tức là Mười Trí chỉ huy. Tên này tập kết ra Bắc ngồi chơi xơi nước.

Chi đội 5 – do Tư Đức chỉ huy. Tư Đức có liên hệ với em ruột là Cao Đài ở Chùa Bà Dệt (Đức Hòa) nên bị Nguyễn Bình nghi ngờ cho người bắt, Tư Đức bắn tên Hai Giá chi đội phó để tự giải thoát nhưng không chạy khỏi, bị bắn chết ở Quéo Ba.

Chi đội 6 – Vùng quốc lộ I Củ Chi, Trảng Bàng do Tư Công (Cộng Sản) chỉ huy.

Chi đội 8 – Vùng Vũng Tàu (Bình Xuyên).

Chi đội 9 – Bình Xuyên ở Long Thành.

Hai chi đội 7 và 9 sát nhập thành Trung đoàn 397 đặt dưới quyền thống thuộc của Phân Khu Duyên Hải, do ông Nam Sơn và Sáu Đội em nuôi của Bảy Viễn chỉ huy.

Chi đội 10 – Vùng Long Thành – Dĩ An – Tân Uyên -Biên Hòa do Huỳnh văn Nghệ chỉ huy và Lê Đức Anh làm tham mưu trưởng.

Năm 1948, hai chi đội 1 và 10 sát nhập thành Liên Trung đoàn 301-310. Ba Lung làm Trung đoàn trưởng trung đoàn này ít lâu rồi được đưa về làm tham mưu phó Nam Bộ dưới quyền của Lê Đức Anh. (Lê Đức Anh được Nguyễn Bình cất nhắc vượt lên đầu ông Nghệ và Ba Lung cái rột!)

Chi đội 11 – hoạt động vùng Trảng Bàng Gò Dầu Tây Ninh do Tư Đầu (người Nam) chỉ huy.

Chi đội 12 – Do Huỳnh Tấn Chùa chỉ huy. Ông này bị nghi ngờ có liên hệ với Huỳnh Phú Sổ nên bị Tô Ký sát hại. Rồi làm đám ma rất to. Tô Ký lên làm Chi đội trưởng, dưới trướng có một bầy lâu la: Hai Búa, Đào Sơn Tây, Ba Xu. (Sau này đều là bọn mặt rằn của R)

Chi đội 13 – do ông Đặng văn Thìn tức Mười Thìn chỉ huy. Năm 47 chi đội này sát nhập với tiểu đoàn Nam Tiến từ Quảng Ngải kéo vô, thành Trung đoàn 300 mang tên Dương văn Dương và được Nguyễn Bình điều động về trấn giữ vùng Rừng Sát khống chế các lực lượng Bình Xuyên của Bảy Viễn.

Chi đội 14 – Vùng Vàm Cỏ Đông, sau thuộc quyền của Tư lệnh Trà.

Chi đội 15 – do Huỳnh văn Một chỉ huy sau này trở thành Trung đoàn 308. Có ba tiểu đoàn: (l) Nguyễn văn Tiếp (cầu thủ Trương Tấn Bữu ở tiểu đoàn này) (2) Ngô gia Tự (3) Ký Con.

Chi đội 16 – Vùng Bà Rịa giáp giới Hàm Tân – Xuyên Mộc.

Chi đội 21 – Thuộc Bình Xuyên do Tư Quạnh chỉ huy . Năm 48 sau khi Bảy Viển bỏ về Sài gòn, ban chỉ huy chi đội bị tảo thanh, chi đội sát nhập vào Trung đoàn 300. Hầu hết cán bộ đại đội, tiểu đoàn đều bị ám hại hoặc giết công khai.

Chi đội 25 – Do Tư Tỵ chỉ huy cùng số phận với chi đội 21. Tất cả các chi đội này hoặc do Cộng Sản chỉ huy hoàn toàn hoặc bị kiểm soát, khống chế rất nặng, nhưng để nắm chắc hơn nữa các lực lượng võ trang trong hai năm 47-48 Nguyễn Bình cho tổ chức lại các chi đội thành các trung đoàn. Ở khu 7 có các trung đoàn 300, 301, 303, 305, 306, 308, 309, 310, 311, 312. Nổi tiếng nhất là trung đoàn 303 của Hoàng Thọ. Nhưng Hoàng Thọ chỉ nghe lệnh anh Ba (Bình), do đó mà khi Ba Bình bị phục kích chết trên đường về Bắc nhận chức thứ trưởng Quốc Phòng, Thọ bất phục tùng cuốc xuổng. Do đó bị anh Ba (Duẫn) xử tử ở cạnh Đền U Minh.

Do sự cất nhắc của Nguyễn Bình mà Huỳnh văn Nghệ được làm khu trưởng nên sau khi Nguyễn Bình đi, Nghệ rơi xuống làm Tỉnh đội trưởng. Dương Quốc Chính vô (1950) thì chiếc thòng lọng đã tròng vào trọn vẹn cái cổ của các lực lượng võ trang năm cha ba mẹ Nam Bộ. Tên này chia Nam Bộ ra làm hai Phân Liên Khu: Miền Đông và Miền Tây, thiết lập chế độ chánh ủy: đào tạo chính trị viên đại đội và đá hất tất cả tư lệnh, phó tư lệnh gốc Nam kỳ (kể cả Cộng Sản) ra khỏi các Bộ Tư lệnh và các cơ quan quan trọng trong quân đội đưa dân Bắc kỳ nắm lấy hoàn toàn. Phải vất vả mất năm năm mới làm được việc này chớ không phải dễ. Tội nghiệp cho tên chột Nguyễn Bình làm xong rồi thì được gọi về Bắc để khen thưởng bằng cái ghế phó nhòm, nhưng cũng không được ngồi mà đã ăn kẹo made in Deuxième Bureau của Pháp !

Rút kinh nghiệm xương máu đó, bọn Hà Nội, ngay từ đầu cuộc chiến tranh chống Mỹ đã đưa bọn tướng tá miền Bắc vô R không để một anh Nam kỳ nào dù là Cộng Sản nắm một cơ quan trọng yếu và nhất nhất phải xin chỉ thị Trung ương, cho đến năm 1964, Nguyễn Chí Thanh mò vô như một Thống đốc đỏ toàn quyền giải quyết mọi vấn đề không phải thỉnh thị Trung ương như trước nữa.

Tấm gương tày liếp còn trước mắt Lê Đức Anh đó chớ đâu đã lu mờ gì. Văn Tiến Dũng, ông đại tướng đại thắng mùa xuân xong bị cho ra rìa, không được dự đại hội 6. Lê Trọng Tấn từ R về được gởi đi Cao Miên ăn cướp, cướp xong về Hà Nội được phong đại tướng rồi bị giết ngay tại nhà không ai tìm ra manh mối. Rồi Hoàng văn Thái cũng theo chầu ông vãi bằng cách đó. Lê Đức Anh từ R về được phong vượt cấp từ đại tá lên trung tướng và được cho làm tiếp nhiệm vụ Tham Mưu trưởng của đạo quân đầu đỏ của Lê Trọng Tấn.

Trở về nước, gặp lúc Đồng Chinh Thọ về hưu, Giáp có cơ ngoi lên, anh em nhà Lê Đức Thọ bèn làm bỉ mặt Giáp cái chơi: gắn cho Lê Đức Anh bốn sao cho làm Bộ Trưởng Quốc Phòng, vừa gây thêm vây cánh cho mình vừa dìm luôn em út của Giáp. Lê Đức Anh, một tên tướng già không có thành tích gì nổi bật, xưa xách dép còn chưa được phép, bây giờ ngồi trên đầu Giáp, nhờ ai? Chẳng lẽ lại đảo chánh kẻ vừa gắn bốn sao cho hắn. Có người sẽ hỏi: bọn Yazov Liên Xô thì sao? Xin trả lời bọn Bát nhân bang đó được Gorbachev bốc lên, nhưng đồng sàng dị mộng cho nên mới có cuộc đảo chánh hụt ở Liên Xô. Còn ở Việt Nam Thọ, Thọ, Anh, Khuê, Hùng, Ngô và trung ương đảng cùng hợp tác xã chia đều các chiếu; ai cũng no phè, ai đảo ai làm gì rủi hụt chết uổng.

Về đạo đức cách mệnh, Lê Đức Anh có một điểm cũng cần phải nêu. Vì đó ít ra cũng thuộc về Cần Kiệm Liêm Chính của già Hồ. Như ở trên đã nói, Anh có vợ là bà Sáu Cẫm, hội trường Phụ Nữ Chi Quận Thủ Dầu Một, có bầu và bể bầu ở Long Nguyên. Không hiểu sao đi tập kết hắn không mang vợ con theo? Vì hoàn cảnh hay vì mưu định trước? Ra Bắc hắn cưới một nữ sinh. Đám cưới làm to nhất Hà Nội đến nổi báo Quân Đội Nhân Dân phải lên tiếng cảnh cáo. Trùng tên Anh, một tên Bắc kỳ khác là Võ Quang Anh, Tư lệnh Miền Tây cũng còn gọi là Thằng Lé hoặc Tư Lệnh Mắt Mèo. Tên này đã cuỗm được một cô bé ngây thơ ở Ông Dèo tên Thu Hồng vốn là fiancée của thuộc cấp.

Hắn đã no phè và hết xí quách rồi còn đâu mà cưới nữ sinh Hà Nội. Vậy Anh đây là Lê Đức Anh. Một bằng chứng nữa là khi hắn về Nam thì bà Sáu Cẩm vợ tào khang của hắn đang công tác Phụ Nữ Giải Phóng, đem con gái nay đã mười bảy tuổi giao trả cho hắn không nói lấy một lời, rồi quay về thành bỏ luôn công tác cách mạng.

Vậy là có bằng chứng rõ ràng hắn đã phạm điểm luân lý nặng nề trong tam cang ngũ thường. Con gái hắn cô Thanh Tuyền, tôi có quen… thân, bị mẹ bỏ vô hang hùm với cha, nhưng chẳng chịu kêu cha bằng cha mà kêu bằng ông Sáu. Ông Sáu Nam Lê Đức Anh nổi doá tát cho con một bạt tai. Cô gái không sợ mà nói to: “Tôi tưởng người Cộng Sản tốt lắm, chẳng dè thối quá !” rùm cả cơ quan R.

Cho đến lúc tôi về R lãnh huân chương anh hùng pháo binh thì hai cha con đã hòa giải hòa hợp rồi. Cô bé đã chịu gọi bố nó nhưng không biết người Cộng Sản bố nó hết thối chưa? Dù hết thối hay chưa, Lê Đức Anh cũng đã trèo lên đến bậc chót của danh vọng và quyền lực của cái thang đỏ, cũng như Nguyễn Bình xưa kia. Tóm thâu quyền lực cho đảng rồi đảng giết êm bằng tay Pháp. Cũng như Lê Trọng Tấn, Hoàng văn Thái sau này. Nguyễn Bình mắt chột, Lê Đức Anh mắt toét. Thật không khác nhau: Hai kẻ đều thiển cận. Nhưng Bình, Anh cũng đã làm vừa lòng đảng tối đa. Số phận nào giành cho hắn? Hãy chờ xem! Nhưng có điều chắc chắn mà tôi có thể nói ngay bây giờ là Tổng Thống Cộng Hòa Xã Nghĩa Lê Đức Anh sẽ làm khổ dân mình gấp bội, tồi tệ hơn năm mươi năm qua. Vì trình độ của hắn chỉ hơn anh chủ nhiệm hợp tác xã một tí. Về mặt sản xuất thì sợ còn thua!

Tháng 8 năm 1992

[*] Việt cộng vừa công bố “Lê Đức Anh snh năm 1920. Năm nay 72 tuổi” Nói láo! Trần văn Trà trẻ hơn Lê Đức Anh. mà sanh 1918. Năm 1949, hắn mới 29 tuổi, làm Tham Mưu Trưởng Nam Bộ? Vậy nay, Lê Đức Anh trẻ lắm cũng phải 79 tuổi!

– HẾT QUYỂN III –

—->Chương 57- 58- 59- 60

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: