2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QIV- (61-65)

2000ngaydem_bia4Cái Chết Bi Thương của Cô Văn Công R

Chương 61

Bữa tiệc cuối cùng của Bộ Tư Lệnh Quân Khu IV

Về tới cơ quan thì trời sẫm tối. Mình mẩy đau nhừ. Tinh thần đi đâu mất hết. Tôi không muốn làm thêm một việc gì nữa. Lạy Trời cho con được yên ổn. Nhưng nhà báo lại đến. Trời ơi! Tôi chạy đâu cho thoát. Cái mặt của cô nữ phóng viên sao mà đáng ghét thế. Nhã Nam cười toe toét:

– Kính chào ông Tư lệnh pháo binh Quân Khu.

Tôi uể oải cười:

– Chào nhà báo.

– Chúc mừng chiến công của… anh.

-Mời cô ngồi.

– Cô à?

– Mời đồng chí phóng viên ngồi.

– Đồng chí à ?

– Mời em!

– Hứ! Anh chóng quên thế!

Tôi gọi bâng quơ.

– Đứa nào đem nước lên chút bây!

Nhã Nam ngồi đối diện với tôi và chìa tay:

– Thay mặt tờ báo Quân Khu chúc mừng anh.

Tôi hờ hững bắt bàn tay lạnh ngắt của nàng. Nhã Nam nguých yêu và bóp mạnh tay tôi:

– Đây là lần đầu tiên từ đồng khởi tới nay, quân khu lập được chiến công oai hùng bằng bàn tay của H6, cụ thể của anh.

Tôi chưa kịp nói gì thì Nhã Nam móc trong sắc-cốt một tập giấy mở ra và nhìn tôi một cách nghiêm chỉnh:

– Nhờ anh nghe và bổ túc nhé ! Em mới thảo sơ sơ, cần anh chuốc lại dùm.

Tôi muốn chui xuống lỗ nẻ để thoát đi buổi tao ngộ chiến này. Giá nàng đến thăm suông hoặc cho tôi một cái kẹo còn thích hơn, vì tôi quá biết cái bản tin của nàng rồi. Cái con quỉ có chiếc mồm rộng như miệng địa đạo này đã tán phéc suốt mấy năm nay về hệ thống địa đạo thôn liền thôn, xã liền xã . Chính nàng phịa ra nữa anh hùng Chị Tư Cầu Xe để dâng lên bác Hồ vô vàn kính yêu, cũng chính nàng ta đã vẽ nên chân dung của các nàng dũng sĩ Củ Chi này, rồi từ đó đài Gìải phóng và đài Hà Nội phóng đại tô màu thêm lên, làm cho thế giới phải lé con mắt. Cụ thể là tên nhà báo Bọ Chét lặn lội tới đây quay phim địa đạo chiến của đội dũng sĩ Bảy Mô . Bây giờ chắc chắn cái trận pháo kích này sẽ được nàng ta mô tả như một cái Đồng Xoài hoặc một cái Điện Biên Phủ con con. Nàng móc túi lấy bút:

– Xin anh vui lòng thuật lại diễn tiến của trận đánh.

Tôi lắc đầu:

– Tôi không có mặt ở chiến trường. Em có thể lội vô C5 gặp các cán bộ chỉ huy trận đánh đang nằm trong đó, tha hồ mà nghe tường thuật rồi viết.

Cô nàng cười mỉm chi:

– Nhưng anh là linh hồn của trận đánh!

– Linh gì mà linh dữ vậy. Tôi ngồi nhà mà.

– Em nghe các cán bộ cho biết rằng anh là người xây dựng kế hoạch và chỉ huy tác chiến.

– Dễ ợt, ai mà không làm được, vấn đề là điều động pháo và đạn ra đến đó thôi.

Tôi chối cách gì cô bé cũng không tha. Tôi gọi Ba Tố lên giúp tôi gỡ rối tơ lòng với cái nàng nữ sĩ lô-can này. Nhưng Ba Tố không có nhằm nhía gì cô ta hết vã lại đám ma thằng Chi vừa xong, có vui gì mà trả lời phỏng vấn. Tôi bèn bảo:

– Em đi tìm bà con hỏi xem họ phấn khởi như thế nào, có lẽ hay hơn.

Nhã Nam quơ tay:

– Nhất định là bà con phấn khởi lắm.

– Ông có gặp ông già vợ của xã đội trưởng Ba Tâm chưa?

– Dạ chưa.

– Nên đi gặp để lấy đề tài hay lắm… Ổng mất mấy con trâu chưa tìm được.

– Tại sao mất? Và tại sao mất trâu mà phấn khởi?

– Mình pháo. Địch cũng pháo. Trâu sợ chạy lung tung. Một con trúng đạn chết. Ổng gặp ông Năm Tiều ông bảo đơn vị có mua thịt trâu ông bán rẻ cho!

Nhà báo biết ông tư lịnh pháo xỏ ngọt bèn trở lại bài báo và nhờ chuốc dùm. Tôi còn bao nhiêu công việc phải làm, nhưng đành ngồi nghe văn chương của nhà phóng viên. Trong hầm thiếu ánh sáng. Nàng bấm đèn pn lên soi vào trong vở, rồi như để thưởng công tôi về việc chịu ngồi nghe tác phẩm nóng hổi, nàng móc chai dầu Nhị thiên đường:

– Anh Hai quẹt chút cho ấm.

Rồi cất giọng đọc:

Tin chiến thắng lớn.

Tin chiến thắng lớn của Mặt Trận Giải Phóng khu Sài gòn Gia Định. Hưởng ứng chiến dịch Thu Đông toàn miền Quân dân Quân Khu IV đã lập công đầu to lớn. Các lực lượng du kích võ trang đã đột nhập các ấp chiến lược Cây Bài, Bàu Trâm, Phú Hòa Đông, Tân Qui trên trục lộ 15 và lộ số8, ấp chiến lược Bàu Tre, Cây Trôm trên Quốc lộ I, quân ta đã luồn vào tận sào huyệt địch, diệt bọn ác ôn làm chủ một vùng rộng lớn, phát truyền đơn kêu gọi ngụy quân, ngụy quyền suốt đêm . Văn Công đã biểu diễn trước sự hoan nghênh nhiệt liệt của.đồng bào. Hàng trăm thanh niên nam nữ đã ghi tên gia nhập giải phóng quân, hàng chục lính ngụy đã bỏ ngũ về nhà làm ăn. .. Hôm sau, địch đang chới với chưa kịp trở tay, du kích võ trang vành đai thép đã dùng pháo cối 81-82 bắn vào các đồn lớn của địch trong đó có cả căn cứ Đồng Dù của Mỹ, làm hư hại 9 khẩu pháo, 105, 155 và 175 tê liệt hoàn toàn lực lượng pháo binh của Sư Đoàn 25 Tia Chớp Nhiệt Đới của Mỹ vừa từ Pleiku vào Củ Chi. Tin còn cho biết thêm ta đã tiêu diệt hai trực thăng sâu rọm, bốn trực thăng HUIA, bắn cháy bốn xe tăng, thiêu hủy một kho đạn pháo và cháy một bồn xăng. Ngọn lửa đỏ rực cả một góc trời. Đồn Trung Hòa đóng trên trục lộ số 7 đã thiệt hại nặng: hai súng cối 106, bốn khẩu 105 bị phá hủy hoàn toàn, địch chết và bị thương trên một trung đội. Bọn địch ở Sài gòn cho phi cơ B26 tới bỏ bom để cứu vãn tinh thần bọn ngụy, bị đại đội phòng không của du kích bắn hạ hai chiếc thu toàn bộ vũ khí văn quân dụng trên máy bay…

Tôi giơ tay tốp nàng phóng viên quân khu.

-Đủ rồi em!

Nhã Nam cười lớn lên:

– Anh có thêm bớt gì không?

– Em nên nói rõ nơi xảy ra trận đánh là cách Sài gòn….

– … Hai mươi cây số.

– Không! Nói là… trước cửa ngỏ Sài gòn! Như vậy mới ăn giơ với thông cáo của Mặt trận là đất đai Giải phóng chiếm 3/4 diện tích và dân chúng trong vùng Giải phóng chiếm 4/5 dân số Miền Nam.

Nhã Nam không hiểu tôi xỏ ngọt nên mừng rỡ. Cô ta gật đầu lia và rút bút hí hoáy thêm vào. Cô bé sắp chuyển qua gam mi nơ, giá ngày thường thì chắc tôi sẽ chiếu cố nhưng tôi đang rầu rỉ, không ham hố chi cái sự đó. Cũng may có thơ hỏa tốc đến.

Tôi mở ra đọc. Ông Tham mưu trưởng lẫn ông Trưởng phòng Chính trị đều muốn tôi đến trực tiếp báo cáo kết quả đồng thời mang tất cả chiến lợi phẩm đến nộp. Tôi giật mình. Mãi lo vụ thằng Chi và chiến thương mà quên khuấy đi. Tôi bèn gọi Ba Tố bảo kiểm tra giúp tôi. Ba Tố nói ngay:

– Chiếc dù thì ông bác sĩ Tư Chuyền quơ ngang trên tay du kích rồi. Còn hai cây súng ngắn hiệu Con ngựa bay bằng thép trắng thì D18 lấy được một khẩu, con Là xã đội phó Phú Mỹ Hưng lấy được một khẩu.

Tôi bảo cho người đi thu về cấp tốc để mang lên nộp cho Bộ Tư lệnh. Ba Tố lui ra thì Nhã Nam bắt vô ngay:

– Anh thấy thế nào?

– Thế nào cái gì?

– Bản tin ấy mà.

– Em viết sao thì viết. Đó là quyền của nhà báo. Anh đâu biết dùng chương gì.

– Nhưng em muốn hỏi là con số trong bản tin so với sự thực… Anh thấy trận pháo kích này có thể so sánh với trận pháo kích sân bay Biên Hòa không? Anh đã dự cả hai mà.

– Khó so sánh lắm vì Biên Hòa là sân bay, còn Đồng Dù là căn cứ Bộ binh.

– Anh thấy có cần đề cao chiến sĩ hoặc cán bộ nào không? Em thấy anh xứng đáng…

Tôi xua tay lia lịa.

– Để tôi hỏi ý kiến các đơn vị rồi sẽ cho cô biết!

Sáng hôm sau tôi với Ba Tố cùng thằng bé Đỏ và Bọ Ngựa lên khu. Hai thằng nhóc được tôi cho mang hai cây colt chiến lợi phẩm thì sướng quá, cứ nói chuyện rố ráo suốt dọc đường. Tôi ghé ông Tham mưu trưởng Năm Lê thỉnh thị trước. Ông này chỉ coi trọng ông Ba Xu vì ông Ba Xu có nhiều thành tích hơn nhưng về mặt kiến thức quân sự thì lại coi Ba Xu là một anh cù lần. Những ông Phó tư lệnh và chánh ủy quân khu thì Năm Lê xem thường vì ông Phó tư lệnh nhát như cáy nên có biệt danh là Hai Phón. Còn Tư trưởng thì lấy đảng tính ra đánh Mỹ chớ chẳng biết súng mút, súng ngựa trời là cái gì sất. Thậm chí ông ta sợ súng… của quân ta là đằng khác.

Tôi vừa vào thì Năm Lê mời uống trà rồi vỗ vai tôi:

– Cậu khá lắm. Đánh thế giặc hết dám tung hoành chớ!

Tôi báo cáo chiến lợi phẩm. Năm Lê gạt ngang:

– Đem hết cho mấy chả đi!

– Anh không đến họp sao anh Năm?

– Họp hành để cho thằng Tám Quang. Hắn đánh giặc miệng giỏi hơn tao. Sao? Vấn đề thương binh tử sĩ mày làm có chu đáo không?

– Dạ xong hết rồi anh Năm.

– Biểu thằng Tư Chuyền đừng có dùng cưa sắt mà cưa chân con người ta.

– Sắp tới anh Năm có kế hoạch gì chỉ thị cho H6 chúng tôi không anh Năm?

– Để tao hỏi tụi quan khí coi còn đạn không cái đã ! Mấy cha thường hạ lịnh mở chiến dịch mà không cần biết lính mình có bao nhiêu viên đạn trong cạc-tút-se. Thậm chí đơn vị không đủ lính đánh giặc mà phải chiết ra một đại đội canh gác cho mấy ông nội.

Từ giã Năm Lê. Tôi dắt đoàn lên hầm nhà ông Tám Quang. Ông đang chuẩn bị chờ tôi tới để đi lên Bộ Tư lệnh. Chúng tôi cuốc bộ tới xế thì tới vùng an toàn của mấy ông nội. Tám Quang nói nhỏ với tôi:

– Mấy ổng khôn ghê . Ngồi thum ở xóm thuốc này thì muôn năm khỏi bị nạn B52. Nói thiệt với cậu, bây giờ tôi chỉ ngán B52 thôi. Phản lực tôi coi thường. Đối với tụi này miễn mình trốn cho kỹ, đầm già không phát hiện được là sống..muôn năm. Toàn bộ đất Củ Chi bây giờ chỉ còn có cái Xóm Thuốc này là lọt ngoài vò)ng B52. Vừa rồi đó rải thảm một cây số ngang, hai cây số dài, cày nát đường số 15, nhưng Xóm Thuốc này nằm ngoài rìa.

Tám Quang trỏ tay vào khóm nhà trước mặt:

– Mấy ông ở đó sát bìa Rạch Lở.

Chúng tôi đi vào rìa xóm thì đụng một chiến sĩ mang AK đứng ngóng cổ về phía đường 15. Anh ta biết mặt Tám Quang nên chào mời ngay. Tôi ngó lên ngọn cây thì thấy một anh ngồi chong ngóc trên cháng ba. Tôi bảo Bọ Ngựa:

– Bạn của mày đó !

Tám Quang hỏi anh lính:

– Mấy ổng có lệnh gì không?

– Dạ chú Ba dặn hễ có mấy chú tới thì mời vào. Chú Ba, chú Mười và chú Hai… đang ở đó.

Bỗng một chiếc xe đạp vọt qua rồi thắng kéc bên cạnh. Một bàn tay vỗ vai tôi. Thì ra Nhã Nam. Cô bé này có mặt khắp nơi. Nàng vui vẻ:

– Đi theo em nè …

Nhã Nam xuống xe dắt đi chầm chậm với chúng tôi trên đường mòn giữa hai bờ tre trúc rợp mát.

Tám Quang nói:

– Mấy ổng khôn quá. Ở đây nếu có động, các ông nhảy xuống xuồng chạy qua bên An Thành. Ở bên hầm hố vừa đào xong thì bị hóa học, cây cối queo hết không ở được nên mấy ổng còn ở đây. Hội nghị kỳ này mấy ổng sẽ dời qua An Thành, lên Thanh Tuyền. Có thể đi qua sông Thị Tính lên thẳng Long Nguyên ở như hồi đánh Tây. Chỉ mình chú mày bám trụ Củ Chi thôi.

Tới cái chòi bên trong có mấy cái băng thì cả bọn dừng lại. Một anh lính khác ra chào. Tám Quang hỏi:

– Mấy ông có la ó gì tụi tao đến trễ không?

– Dạ mấy chú đang đánh cờ và câu cá ở trong đó.

Tám Quang bảo chúng tôi:

– Các cậu ở đây chờ. Để tôi vô báo cáo xin chỉ thị trước. Mấy ổng khó lắm. Vô đột ngột mấy ông cự!

Tôi ngồi trên băng móc thuốc rê ra hút. (Đến với mấy ôm lớn phải gương mẫu kiểu bác Hồ). Ba Tố đi tới đi lui, có vẻ bực dọc nhưng không dám nói ra.

Lại cũng một thứ triều đình như ở trên R. Các ông lớn tự đặt cho mình một chế độ, ăn uống, canh gác, hầm hố, hành quân và em út. Không có ông nào đàng hoàng, nhưng cái số không đàng hoàng của họ, dù nhan nhản ra đó, không ai được phép nói tới. Rờ nào cọp rlằn ấy!

Nhã Nam có dịp tiếp tục cuộc phỏng vấn hôm qua.

– Theo anh nhờ đâu có chiến thắng vừa qua?

– Nhờ ba xỉ đế!

– Anh giỡn hoài. Em hỏi thiệt đó . Anh trả lời để em viết báo mà !

Ba Tố tiếp.

– Hì hì… vậy thì nhờ học gồng!

Nhã Nam nói phom phom.

– Theo em nghĩ thì nhờ ba yếu tố: Thiên thời, địa lợi và nhân hòa.

Ba Tố càng đâm hơi:

– Thiên thời là hôm qua trời mưa không thấy đường đi, địa lợi là chui vô rừng giấu súng, nhân hòa là chiến sĩ chết cho nằm hàng ba và dân bị thương chửi nát.cha giải phóng.

Nhã Nam nguýt một phát yêu đến rụng rún và tiếp:

– Mấy anh ngồi đó để em vào tâu.

Ông Tám Quang sợ mấy ổng như sợ cọp.

– Ừ đi mau mau nghe nhà báo!

Nhìn cặp bím tóc chệt vung lại cặp mông run run của cô em biến xa dần, Ba Tố nói:

– Coi bộ cô ả cũng mết ông Tư lệnh pháo binh lắm!

– Thôi đi ông nội ơi ! Vô đợt này xong, mấy ổng coi khá chắc bảo vô đợt khác. Nghĩ mà tội nghiệp thằng Chi. Con trai hơ hớ, chưa biết cay đắng mùi đời. Con Chanh mê nó như điếu đổ nhưng cái dây đang leo bỗng thân cây vụt ngã. Xứ Củ Chí này phải được chính phủ tuyên dương về số đàn bà góa chồng.

Ba Tố thêm:

– Đi chỗ nào cũng gặp. Nhất là Quốc lộ 1, hồi công trường của Năm Sài gòn xuống đóng, tuyên bố một đêm cả chục đám. Bây giờ lũ con gái đó khóc không ra tiếng. Mê giải phóng nữa thôi! Hì hì….

Nhã Nam xuất hiện đứng xa xa ngoắc. Tôi móc tiền cho ‘ thằng Đỏ và thằng Bọ Ngựa, bảo mua bánh ăn rồi ở ngoài này chơi, không vô chỗ người lớn được. Tôi và Ba Tố mỗi người xách một khẩu con chiến lợi phẩm vào nộp.

Nhã Nam tỏ ra thành thạo, nói với tôi:

– Vô trong hang, hễ thấy hai ông ngồi đánh cờ dưới gốc vú sữa đó thì phải bái nghe ông nhà pháo. Ông ngồi bên phải mặc đồ lụa lèo, còn cổ cao, mặt đỏ như Tây lai là ông Mười Thơ

– Mười Thơ? Tên gì lạ hoắc vậy?

– Ai biết đâu. Nhưng đó là em của Lê Đức Thọ ở ngoài Hà Nội, còn ông mặt mày xanh lét là ông Phó tư lệnh Quân khu của anh, bộ anh cũng không biết à?

– Có gặp lần nào mà biết.

– Người ta kêu ông là Hai Phón đó !

Tổng hành dinh của mấy ông thật là cha Tây. Nhà trung nông nhưng không biết bàn ghế lấy của nhà địa chủ nào, toàn là thứ ác: gỗ mun hoặc căm xe, cà chất. Nền hầm lót gạch tàu Nóc hầm che ni lông, đất dày hai thước, cửa ra cửa vào. Lại còn đèn điện sáng choang chói mắt.

Ngoài ông Ba Xu, tôi không biết ai cả . Thấy tôi đến, ông nào cũng trố mắt dòm. Tôi nghĩ bụng: không ai biết mình, mình cũng không biết ai nên tôi có lý do để không chào ai hết. May sao ông Ba Xu ở sau bếp đi ra. Ông ta bận tham gia công tác nấu thịt chó với Ba Tiếu là chánh văn phòng Quân Khu, cấp thượng úy nhưng cũng làm công tác điếu đóm chạy rong như Tám Nghi đối với Năm Lê .

Ba .Xu biết tôi hồi kháng chiến chống Pháp. Ra Bắc có gặp một lần lúc ông ta làm Tư lệnh Công binh của Bộ Tổng với quắm hàm thượng tá, đóng quân ở Quảng Oai Sơn Tâm. Ổng cho tôi một gói thuốc Trung Quốc và bảo: “Đền ơn mày đó nghe!”

Cái ơn của tôi là ngồi áng miệng hầm và lãnh một miểng bom thay cho vợ ổng và vợ ông Tô Ký. Trước khi về Củ Chi tôi lại gặp ông ở Ụ, coi bộ ông bèo nhèo thất thần vì vừa thoát chết ở Bình Giả . Lần đó ông Tư Khanh tiễn ông xuống Củ Chi mà không có thịt để làm tiệc. Thời may tôi và Bùi Khanh săn được một con mển tôi cắt cho ông một đùi. Lần này ổng đãi tôi thịt chó và máu chó gọi là Hépathémo do bác sĩ Tám Lê pha chế (không phải Năm Lê), Tám Lê là nhân vật được Việt Cộng tuyên dương anh hùng quân đội với quân hàm đại tá và được mấy tên ký giả tô vẻ thêm bằng những thần thoại ly kỳ hơn cả chuyện trên cung trăng: “Bác sĩ Tám Lê giải phẩu thương binh, đỡ đẻ cho nhân dân dưới địa đạo”. Tôi phải nói thẳng rằng những thằng nhà báo có lấy lương tâm của nghề nghiệp làm nùi giẻ lau chân cho bọn Hà Nội thì mới viết lách như vậy. Đàn bà chửa làm sao xuống địa đạo ? Miệng địa đạo bao to mà đưa thương binh xuống được? Dưỡng mệnh xong còn có nơi an dưỡng và xem văn nghệ. Sao nhân loại vẫn cứ ngây thơ? Bởi vậy đế quốc đánh Công Sản cả trăm năm cứ thua hoài là vì nhà bất lương này.

Vừa thấy tôi Hai Thơm đoán tôi là chỉ huy cuộc pháo kích nên hỏi ngay:

– Chiến lợi phẩm đâu đưa coi đồng chí.

Sáu Dân và Mười Niên cũng là kẹ mặt rằn trong khu ủy, nhưng thuộc thành phần dân chánh nên thấy súng thì ham. Sáu Dân la lên:

– Súng gì mà trắng xát vậy?

Ba Tố đáp với giọng mát mẻ:

– Dạ súng Mỹ t!

– Nhưng mà loại gì chớ?

– Dạ, loại súng ngắn.

– Súng ngắn, đúng rồi nhưng sử dụng ra sao?

– Dạ, nó cũng như K54, P38 vậy thôi, nhưng đây là súng của phi công Mỹ.

Ba lão già giềng chuyền nhau xem, trầm trồ và ướm thử vào người, khen chỗ này, chê bộ phận kia. Cuối cùng Hai Phón bảo:

– Để tôi xài cây này. Còn cây kia cái bá bị cháy, đem về làm phần thưởng cho du kích.

Ba Tố đáp.

– Dạ du kích họ không biết cách xử dụng.

– Vậy thì bỏ cho cảnh vệ xài.

Hai Phón nói xong thì nịt luôn cây súng tốt vào lưng và đưa cây xấu cho Ba Tố. Ba Tố nói với giọng nén bất mãn:

– Anh Hai để lại làm phần thưởng cho các đơn vị, chớ tụi tôi chỉ thích AK và không có dịp xài thứ bắn ruồi này.

Sáu Dân và Mười Niên đang căng chiếc dù, chiến lợi phẩm do cần vụ của Tám Quang mang tới. Mười Niên nói với Sáu Dân:

– Ê dù này rọc ra làm tấm đắp và ngụy trang thì số dách.

Hai Phón vừa nịt xong súng vào mình lên tiếng.

– Không được đâu nghe cha ? Bác sĩ Tám Lê xin một cây để che nắp hầm giải phẫu mấy năm nay mà có đơn vị nào đánh lấy được đâu. Để nguyên đó tôi đưa cho thằng chả . Còn các cha thì chờ chuyến tới.

Sáu Dân gốc địa chủ Bạc Liêu bô bô cái miệng:

– Thu lúa ruộng mà đi nghe lời tá điền hẹn nay hẹn mai thì có mà sạt nghiệp!

Chánh ủy Tư Trường đang đánh cờ thấy chiến lợi phẩm hấp dẫn quá nên bỏ cuộc đi tới xen vào:

– Đừng có ló đuôi địa chủ ra nghe ta !

Sáu Dân trả thù.

– Ừ đuôi địa chủ nên cụp vô đít, còn đuôi công nhân thò ra cho người ta xem hả ? Vậy cái đuôi công nhân có biết uống rượu Tây và Ovomaltine không?

Tư Trường không rõ thành phần gì nhưng nghe nói y có chân trong Ban chấp hành Liên hiệp Công Đoàn Nam Bộ. Từ ngày Trần Bạch Đằng đi khỏi Quân Khu IV hắn xuống làm chánh ủy. Một ông chánh ủy quân khu chưa từng đánh giặc làm cản trở mọi kế hoạch quân sự, chỉ xúi giục nhân dân đấu tranh chính trị theo kiểu các mụ Hai Xót, Năm Đang và mụ Định… Hắn kên cái mặt thịt lên, cười liên hiệp:

– Ừ thôi chia thì chia mau đi, cắt ra làm sáu miếng bằng nhau nghe ? Hai Phón quơ cây súng sáu rồi thì không có phần vải dù.

– Nói vậy sao được anh Tư?Bộ anh Tư muốn lấy hai phần để đem tặng bà Năm Đang hả ?

Cả bọn cười hô hố. Tư Trường nói với giọng đặc sệt rau muống:

– Chị Năm cá lẹp thì chỉ xứng với Sáu Dân nhà mình thôi!

– Ừ phải, cái thân bồ tượng của anh Tư bả không đấu tranh nổi đâu.

Mười Niên gốc đánh xe ngựa ở Gò Vấp không biết phất vô khu ủy hồi nào, gạt ngang:

– Cha nào có kéo, cho mượn cắt chút coi.

– Kêu thằng Tám Lê lên bảo nó lấy dao kéo giải phẩu ra xài.

– Hổng được, nó thấy cây dù thì nó sẽ giựt lấy mình không phương giành lại.

– Vậy thì kêu Ba Xu cho mượn lưỡi cạo râu. Nó đánh hơi mắm trở của mụ Hai Xót sắp tới nên nó đang cạo gọt cái bộ mặt dính mủ cao su ở sau gốc khế kia kìa.

– Bậy nào, đồng chí Xót đã bị thằng Mắt Bù Lạch đóng nỏ, ủa đóng đồn lâu rồi. Nó là quân báo nguy hiểm lắm đừng có chấm mút của nó mà mang họa.

– Ba Xu có dì Ba con Là ở bên Bén Chùa nâng chuông sửa trống rồi? Đừng để nó nòi gương anh Ba nhà mình!

Xảy đâu cậu lính cần vụ chạy vào báo có hai đồng chí phụ nữ tới. Mười Niên nháy nháy:

– Thấy chưa ! Tôi nói linh như miễu mà !

Tư Trường quát:

– Cho hai đồng chí ấy oào!

Mọi người nghiêm sắc mặt trở lại. Tư Trường bảo:

– Các bố lui đi để mấy bả tới vô đây tôi tiếp!

Nghe nói hai bà khu ủy tới, hồn vía lên mây, tôi vội vàng lui xuống bếp, để tránh sự chạm trán bất tiện. Ông bác sĩ Tám Lê đang pha chế dược phẩm phục vụ hội nghị, thấy mặt tôi kêu lên:

– Ông Thiên Lôi ! Lại đây tôi cho nếm thử cái món máu chó… mực này.

Tôi với Tám Lê quen nhau từ nhiều năm trước, tôi bị thương vác cái thân tàn đến cho y chạy chữa đã mấy keo và tôi cũng đã hứa cho y cây dù phi công như đã hứa với Tư Chuyền trớt da me mấy lần rồi, lần này lại đi tuốt! Tôi nói ngay:

– Dù thì có…!

Tám Lê xua tay:

– Thôi được rồi. Lọt vô đó thì tao chịu thua !

– Đợi tôi bắn rơi vài chiếc khác.

Tám Lê lắc mạnh cái chai lít đựng máu đỏ ngầu, rót đưa cho tôi một tí trong ly bầu.

– Bệ hạ làm một ách, lên gà dữ lắm.

Tôi cầm lấy ly máu, kê vô lỗ mũi rồi lắc đầu:

– Tanh bỏ bà, tớ không quen uống máu!

– Mấy chả bảo phải tìm cho được mực tuyền để bào chế món này. Mày nghĩ coi, thời buổi này dân đâu còn mà kiếm chó dễ như xưa kia. Tôi phải cho đám đệ tử của tôi đi lùng khắp Bưng Còng mới được một con. Tưởng vận tải nó từ bên đó vượt sông Sài gòn qua đây dễ à? Suýt bị tụi giang thuyền lấy họng đó nghe. – Tám Lê rỉ tai tôi – Tớ cũng học sách treo đầu dê bán thịt chó chớ đâu có để máu mực tuyền cho mấy chả nhậu hết. Tớ cho mấy chả uống máu mèo mướp còn thứ thuốc trường sanh bất lão thì tớ để dành đây.

– Rủi thằng Ba Tiến nó biết rồi ông mang khốn!

– Tớ với nó chia nhau nữa. Nó trấn giữ cái trạm 66 của đền Rồng. ở đây, cũng có nhiều cung nữ dữ lắm. Hắn cần bồi lưỡng. Tớ nghe mày cũng đang tuyển chọn thứ phi vậy phải bồi…

Vừa đến đó thì ở trên nhà có tiếng reo mừng. Tôi lách mình lên xem. Tôi giật mình đánh thót. Không phải hai mà ba bà . Đúng kiểu Tam Cung của nhà Rồng. Cả ba bà tôi đều quen. Bà thì quen sơ sài không sâu… sắc lắm, bà thì sâu đậm quá mức ghi vội. .

Bà Hai Xót tôi mới đèo xe đạp hôm nào. Bà ta không chịu làm chị tôi mà lại bắt tôi làm anh. Bà Năm Đang thì không đòi tôi làm anh nhưng cũng có quan hệ đồng chí hồi tên Bọ Chét tới Củ Chi quay phim địa đạo chiến của các nàng dũng sĩ đất thép. Bà thứ ba ! Bỏ mạng sa tràng rồi ? Đó là nàng Út Tuất ở quận Tân Biên của Tây Ninh, người đã cùng tôi xây tổ uyên ương trong khói lửa vùng sông Bà Hảo. Tưởng không bao giờ tái ngộ, chẳng dè lại gặp ở đây? Tôi sực nhớ lại lời nàng thủ thỉ với tôi: “Em muốn có con với anh. Em sẽ về nhà nuôi con… Mấy ông khu ủy ông nào cũng mò em hết á !” Trời xui đất khiến sao mà nàng gặp tôi cùng một lúc với các ông khác. Vậy ra tụi già ghềnh này đều có bỏ ngón trên cây đàn muôn điệu kia, nhưng tất cả đều đến sau gã Thiên Lôi này. Tám Lê nói nhỏ:

– Ông biết tại sao tôi làm vậy không?

Tôi lắc. Tám Lê nói:

– Đó là duy vật liệu chứng pháp. Ăn ba cái thứ đó vô các chả đồng khởi mạnh. Mấy chả càng đồng khởi mạnh thì tôi càng… chạy kiếm chó, mệt ghê !

– Mệt gì?

– Cứ tháng nào cũng vài ba em sang khóc khóc mếu mếu: Chú Tám ơi! Chú nạo giúp em!

Tôi bật cười:

– Cha nội trở thành ông thầy nạo dưới địa đạo rồi hả?

Tôi không bao giờ sụp hầm chông nghe ông Thiên Lôi. Người ta đi có bài bản phòng trước ngừa sau, còn mấy chả cứ pháo bừa nên bị dính hoài nên thằng già này cong lưng nạo.

Thấy Ba Tiến ló đầu vào, tôi lãng sang đề tài khác:

– Tôi định lấy cây dù này giao cho ông phục vụ thương binh, nhưng mấy ổng sung công rồi.

– Bố khỉ! miệng nói tôn cán ái binh nhưng tay thì quơ hốt bỏ túi. Kỳ rồi có thương binh nặng không? Sao không thấy chở qua cho tôi?

– Nghe đồn ông đem xuống địa đạo mổ, thương binh són đái còn dám qua à?

– Tụi nó đồn bậy chớ bộ thương binh bằng nhái hay sao mà đem xuống địa được?

– Thằng Bọ Chét và mấy thằng giáo sư Liên Xô đòi qua coi cái phòng mổ của ông dưới đất cái đấy.

Tôi nói với Ba Tiến:

– Ê coi miếng nào gói một miếng cho tớ lận lưng đem về nhậu mừng chiến thắng nghe !

– Ở đây nhậu rượu Tây mà chê à?

– Tớ lợm lắm.

– Có chất nhép mà lợm nổi gì?

– Ai đó ?

– Nhà nữ phóng riên và hai ba nữ rũng sĩ Củ… chi chi..

– Sao mấy ả mò vô hang hùm được?

– Các nàng là con cưng của ông Thầy Tám vành đai thép cậu không biết à? Ổng đem mấy ả vô đây để giới thiệu cho các ổng tài bắn tỉa Mỹ của các dũng sĩ, và cái vành đai thép quanh Đồng Dù.

– À vậy hả? . . .

– Nhưng các ả còn ở ngoài trạm, không được vô trong nồi gọ này đâu. Chốc nữa khi tàn tiệc kìa mới có cuộc trình bày kỹ thuật tỉa, xạ địch trong đêm tối.

Ba Tiến dứt ngang câu chuyện:

– Để tôi đi lo dọn yến kẻo hoàng thượng kêu đòi chém đầu.

Hai ba chiến sĩ chạy lên chạy xuống chân không bén đất.

Mùi mỡ hành, nước cốt, nồng ngát gian nhà. Một chốc tôi và Ba Tố được mời vào hầm ngồi ở một chiếc bàn dài trên đó đã dọn sẵn những tô lớn dĩa bàn đầy vung bốc hơi nghi ngút .

Bữa tiệc làm cho tôi nhớ lại sự tiếp đãi thằng nhà báo Bọ Chét hồi năm ngoái cũng thịnh soạn như vầy. Chúng nó là một lũ đạo đức giả , từ thằng Hồ Chí Minh sát nhân đến thằng Lê Duẫn lưu manh, thằng Võ Nguyên Giáp loạn luân, thằng Phạm Văn Đồng ngủ với bà nấu bếp… không sót một thằng nào. Thế nhưng chúng vẫn là lãnh tụ tối cao đạo đức gương mẫu. Bây giờ trong cảnh chiến tranh lửa bỏng dầu sôi, lính không đủ gạo ăn, chúng lại xực mâm cao cổ đầy lãnh đạo nữ dũng sĩ giải phóng trong hầm đèn điện sáng choang như ở khách sạn Sài gòn.

Ba Xu đưa tay lấy chai rượu đưa cho Ba Tiến. Ba Tiến móc trong lưng cái khoan khui chiếc nút chai bật ra kêu đánh bốc. Tiếng cười cũng vang theo đưa đà:

– Rượu Mỹ hay rượu Tây đó, Tiến?

– Dạ rượu Tây.

– Ừ uống rượu Tây đánh Mỹ mới khoái.

Bốc! Bốc! Bốc!

– Có nặng không?

– Dạ sâm-banh không nặng lắm !

– Coi chừng lạt nhách uống không ghé .

Mười Niên không chú ý tới rượu, vừa gắp một cục thịt tổ chảng bỏ vô chén:

– Thôi làm mau đi kẻo B52 tới thành ma đói bây giờ.

Tư Trường hỏi tên trướng ban quân báo.

– Ê! Chín Lộc! Bữa nay chắc không có dưa hấu rụng chớ?

– Dạ , bảo đảm với anh Tư là không có quả nào.

– Nếu có ít nhất mình cũng hay trước vài ngày phải không?

– Dạ, thường thường là mình được tin trước 24 tiếng.

– Sao vừa rồi trên Bộ chỉ huy R không hay gì hết. Bị cú đó mình mất uy tín với ba thằng trí ngủ Sài gòn bộn.

– Dạ cũng có khi bạn mình không hay nên không cho mình biết.

Ba Xu vui vẻ:

– Sẵn thằng thầy pháo đây, để tôi bảo nó trình bày về cái chiến thuật rải thảm của B52 cho mình nghe. – Ba Xu xoay sang tôi – Vừa nhậu vừa nói chuyện công tác và kế hoạch sắp tới. Hễ ăn xong là xong luôn chớ ngồi la cà ở đây không bảo đảm an ninh. .

Mười Niên chọc.

– Bộ dì Ba con Là ốm nghén sao mà gấp vậy?

– Bắt đầu đi mày, Lôi. – Ba Đình quay sang mấy bà khu ủy – Mấy chị nghe để rút kinh nghiệm mà chạy ngang hay chạy dọc nghe.

– Tụi tôi níu áo mấy ông, các ông chạy đâu tụi tui chạy đó.

– Rủi tụi tui chạy vô hầm, các chị cũng dô theo sao?

Cả bàn tiệc cười rần. Máy bà mắc cỡ đập lia mấy lão ngồi bên cạnh. Sáu Dân bồi thêm:

– Khi cấp bách thì chui xuống địa cũng chui.

– Có chui lần nào chưa?

Ba Đình xua tay:

– Các ông các bà dân chánh chui xuống đó làm gì làm, chỗ binh lính thì tui cấm tuyệt đối không được chui xuống mấy cái hang chuột đó !

Mười Thơ thủ khẩu như bình từ đầu, bây giờ mới hé môi:

– Nói chung địa bây giờ không nên xài nữa. Vũ khí của Tây vừa ít vừa yếu nên ngày trước minh còn lợi dụng cái thế con chuột khoét đất đào hang mà sống chớ bây giờ thì không ăn tiền. Mười cái miệng địa đạo nó khui hết tám. Còn một cái thì ăn pháo, một cái ăn B52. .

Mười Niên nói:

– Tại ông to xác nên xuống đó khó trở xoay chớ tôi nhỏ con tôi thích lắm. .

– Ông có chui chưa mà thích?

– Hề hề . . . chưa ! Để mai mốt tôi rủ mấy chị chui chung cho vui.

Ba Đình bảo:

– Lôi mày trình bày vụ B52 đi, để mấy bà mấy ông nói tùm lum loãng vấn đề hết.

Tôi thấy mấy ông mấy bà đâu có chú ý cái gì hơn mấy dĩa thịt chó nên tôi chỉ nói qua loa:

– Dạ, theo tôi biết thì B52 bỏ bom không cần chỉ điểm. Bản đồ của nó kẻ Ô vuông một cây số bề cạnh. Nó cứ bay đến nơi rồi cắt bom. Nó hoạt động có điểm giống như pháo binh. Dạ, muốn hiểu cơ bản phải mất nhiều thì giờ lắm!

Mười Dân hỏi.

– Chừng bao lâu?

Đúng ra đối với các đầu bò như mấy lão đánh xe ngựa và phu cao su này thì phải cả tháng nhưng tôi cứ nói theo kiểu đếm gốc cao su và chạy ngựa cho dễ hiểu. Tôi rời ghế, móc bản đồ trong sắc-cốt đem gắn lên vách, rút bút chì chỉ những điểm chính Củ Chi, Quốc lộ, sông Sài gòn v.v.. rồi giải thích:

– Người ta thường cho B52 là đui, bỏ bom tầm bậy, nhưng sự thực nó không đui. B52 là loại máy bay chiến lược dùng để hủy diệt hàng loạt công sự vững chắc của đối phương như pháo đài Bunker, thành lũy kiên cố, chớ không nhắm đánh một vài cái lô cốt. Bom của nó nặng nhất là một tấn có sức xuyên cây 12 thước, phá 100 thước đường kính, nhẹ nhất 250 kí xuyên từ 6 đến 9 thước, phá 50 thước đường kính.

Ba Xu bật lên khỏi đít ghế:

– Đó thấy chưa mấy cha ! Giỏi chui xuống địa nữa đi !

Tôi tiếp:

– Còn nói về độ chính xác của nó thì không chê được. Đây là đường 15. và sông Sài gòn. Đây là vàm rạch ông Lỡ. – Tôi dừng bút chì và bảo – Mình đang ngồi ở chỗ này. Cây vú sữa nơi hai anh đánh cờ là ở đây. Chú Sáu ngồi câu ở đây. Cây khế, trạm gác hỏa tốc là những chỗ này. Bên kia là bến đò Đồng Sỏi. Đây là ngã tư Bò Cạp, bên cạnh là Nhà Mủ, vật chuẩn máy bay phản lực thường dùng để bỏ bom vùng này. Nhưng B52 không cần vật chuẩn như phản lực. Nó bỏ bom theo tọa độ. Đây, xin mời các anh xem bản đồ miền Nam, và bản đồ Củ Chi. Nó chia thành ô, mỗi ô là hai phân vuông . (Các ông các bà ngưng gắp thịt ngóng cổ nhìn) Đây là bản đồ tỷ lệ l/50.000:

Hai Phón hỏi. .

– Nghĩa là sao? Còn tọa độ là cái giống gì nữa? :

– Dạ cứ 2 li trong bản đồ là một cây số ở ngoài thực địa. Mỗi tọa độ của nó dài hai cây số, ngang một cây số, nghĩa là tấm thảm rộng hai cây số, ngang một cây số các chú lại đây mà xem thì rõ hơn. (Tôi khoan từng vòng) Loạt bom trước nhà là đúng trong hai ô này. Còn hai ô này bao gồm khu vực chợ An Nhơn dính với một khúc địa đạo Xóm Trại Bà Huệ gồm một vạt đất sát hầm anh Năm Lê. Vì nó đi theo tọa độ nên hầm của anh Năm Lê nằm bên ngoài chớ không phải nó đui đâu Còn đây là hai ô khác từ Hố Bò chạy thẳng qua nhà thờ Rạch Kiến rồi ngưng lại ở đó. Bom có thể rơi trên mặt đất trong vườn, ngoài ruộng hay dưới sông chớ không phải nó nhắm trật mục tiêu. Mục tiêu của -trận đánh đó là tiêu diệt toàn bộ cơ sở ta từ Bến Dược đến chợ An nhơn chớ không phải chỉ nhắm vào một điểm nào..Kết quả là nó cày nát đường 15 làm cả một vùng của chúng ta bị tê liệt. Đò không cặp bến, xe bò không còn chở gạo… chúng ta không còn đường đi và dân tản cư mất hết.

– Tại sao xóm Phú Trung này hú vía vậy?

– Dạ vì Phú Trung nằm ngoài tọa độ của nó .

Mười Thơ ít nói cũng mở miệng:

– Thằng nhỏ này nói y như nó ngồi trên máy bay.

– Dạ nhờ sử.dụng pháo mà tôi tìm hiểu chiến thuật của B52 thôi chú Mười ạ !

– Mình đi cày còn lõi, mà nó bỏ bom không sót chỗ nào.

– Dạ đó lại là chiến thuật khác của nó . Khi thì nó triển khai bề dọc, khi nó lại triển khai bề ngang. Tụi Mỹ rất linh động. Nó không xài một chiến thuật nào cố định. Đó là do nó rút kinh nghiệm ở trên R hoặc ở đây (các ông ‘bà nhảy dựng lên). Nếu khai triển bề dọc chiếc thứ nhất nó rải từ Hố Bò tới chợ An Nhơn thì ngưng, chiếc thứ hai bắt đầu từ chợ An Nhơn tới Láng Cát v.v… Còn nếu nó khai triển bề ngang thì nó rải từ Hố Bò vô C5, từ Hố Bò ra sông Sài gòn hoặc từ đường 15 nó rải vô đồng Trà Dơ, từ đường 15 ra Xóm Thuốc tức là ngay chỗ mình đang đứng đây.

Sáu Dân giật mình:

– Ý! miệng ăn thịt chó nhậu sâm-banh đừng nói bậy mày nhỏ !

Ba Xu cười phun cả rượu ra bàn, chùi mép bảo:

– Vậy để các ông hết hở hở cái là chui xuống địa an tàng. Mê tín địa đạo, tử ư đỉa đạo đó !

– Dạ một li trên bản đồ là 50 thước ngoài thực địa cho nên pháo binh bắn sai một ly trên bản đồ là ra nhà dân hoặc trường học là vậy đó. Nếu bản đồ mà bèo nhèo nhăn nhó đo đạc cũng sai. Có trường hợp phải dùng hệ số lượng giác lô-ga-rít để tìm các cạnh rồi mới dám bắn. Đó là cự ly tính trên mặt phẳng, đôi khi phải dùng hình học trong không gian. Tây gọi là géometrie plane géometrie dans l’espace!

Bất ngờ tôi nói mấy tiếng Pháp tôi xin lỗi. Ông đánh xe ngựa Mười Niên đang nốc sâm-banh nuốt vội bị sặc ho một giây và xua tay. . .

– Thôi thôi ! Đủ rồi, dẹp ba cái tiếng tây tiếng u đó đi. Bà cơn mình nâng ly, đừng có nghe nữa mà mất hết tinh thần.

Ba Xu có cơ hội trả lời về các cuộc nướng quân ở Đồng Xoài Bình Giả, nên hễ hả nói:

– Nghe như vậy, các ông biết cái khoa học quân sự của Mỹ để mỗi lần thua, các ông càu nhàu tại sao không vận dụng lý thuyết Mác Lê. Hồi Pháp tôi đánh cả trăm trận chưa trận nào như Đồng Xoài. Đúng là bom nó bỏ như mưa, vuốt mặt không kịp. Công tác chính trị bao nhiêu với chiến sĩ, bị một trận B52 tiêu hết.

Mười Niên luôn luôn là tay hoạt náo của bàn tiệc. Hết đâm người này lại thọc người kia. Y bảo Ba Xu:

– Ê dẹp ba cái chính trị một bữa, mình ngã mặn thì nhậu thịt chó mới ngon.

– Ông có một bụng đó cứ xổ ra đi !

– Tôi kể các cha nghe hết rồi.

– Bữa nay có các bà không tiện đâu.

– Chỉ kể một chuyện bác Tôn làm lính thủy đi vô các khu vực Các các-xồnMông-pạc-nách ở bên Tây thôi!

– Ê cái gì mà nghe mông với nách không vậy ta?

– Tôi cũng nghe lóm anh Ba Tô Ký kể lại chớ tôi đâu có được tới nhà tướng râu kẽm Thanh Sơn. Trời ! ở đó có cái câu lạc bộ bất mãn của dân Nam Kỳ nghe các cha. Sáu Giàu, Tô Ký, Tạo Nhót.

Mười Thơ hỏi.

– Tạo Nhót nào?

– Bộ trưởng mà không có chân trong Ban chấp hành đảng Lao Động đó! Các chả họp lại ăn bánh xèo, tha hồ xổ nho chửi xéo, chửi lén bác Hồ và Trung ương.

– Dám chửi à ?

– Trời! Công khai thì không dám chớ bí.mật thì sợ gì ai! Có lần bác Tôn tới gặp chả giò nhậu với đế ở Xuân Mai đem ra. Ông Ba Tô Ký nhậu sần sần rồi chắp tay trước mặt bác Tôn. Ai nấy tưởng ông sắp nói điều gì quan trọng có liên hệ tới ghế đẳng của dân Nam Kỳ trong chánh phủ và đảng nên vênh lỗ tai ra chờ chẳng ngờ ông nội nói ăn trét:

– Thưa bác Tôn. Cuộc đời cách mạng của bác khởi sự từ đi lính thủy ở Bắc Hải treo cờ búa liềm chào mừng cách mạng tháng mười ở Xế-bát-tô-rô-pôn phải không ạ?

Bác Tôn gật gù khoái chí:

– Đó cũng do chủ nghĩa mác Lê hướng dẫn chớ bác là dân cu-li có biết cái cuống của nó trở lên hay lộn xuống gì!

– Dạ xin bác vui lòng cho cháu biết bác có lên nước Nga không ạ !.

-Có chớ. Tôi đi Pháp, Hoà Lan, Nhật, Nga… quê hương của cách mạng tháng mười chỗ nào có bến cảng là tôi tới. Kỳ đó đâu hồi năm một ngàn chín trăm ho ho.:. mười bảy. Tàu về đậu ở Hắc Hải, nghe tin cách mạng tháng mười thất bại, bị Nga Hoàng đàn áp, tụi này đang nhậu bỗng nổi hứng xé cái xì-líp đỏ treo lên cột cờ tượng trưng cho cờ búa liềm phản đối Nga Hoàng.

– Xì líp đâu mà sẵn vậy bác?

– Mỗi lần lên bờ, khi trở xuống tàu thế nào cũng có một kỷ niệm của các em đem theo cho đỡ nhớ… đất liền ho ho…

– Hắc Hải chắc chắn là nước đen, xì-líp thì đỏ, còn lông con gái Nga màu gì bác?

Cả bàn tiệc cười rần rần như máy nổ. Bác Tôn cũng cười theo.

– Bác hổng có thấy… gì hết. .

– Chắc bác chỉ thấy cái gì xì-líp đỏ kỷ niệm thôi hả bác?

Cả bàn tiệc lại cười ầm ầm. Ông nội Tô ký chưa chịu thôi còn tiếp.:

– Nghe người ta nói con gái Nga hôi thịt trừu lắm, có hôn bác’?

Bác Tôn đáp trả liền.

Mười Nên chọc vào mồm Sáu Dân.

– Bác Tôn đáp liền à?

Cả bàn tiệc lại cười. Tư Trường nghiêm sắc mặt:

– Đừng có nói lái ác vậy nghe !

– Bác Tôn làm ậy, hay lắm chớ sao!

Ba Xu tiếp:

– Ông nội Tô Ký thiệt cả gan. Nhưng bác Tôn không quạu. Bác hỏi lại Tô Ký : “Chú vừa qua nghỉ mát bên đó thấy có mùi gì, chứ tôi không biết. Tại vì lúc đó tôi bị nghẹt mũi.”

Mọi người vui vẻ ăn nhậu và nói chuyện văng tê. Mười Thơ, Tư Trường là hai tên dốn bà cũng bập bẹ tiếng Nam Kỳ và cười hùn cột lựa. Ba Xu tiếp:

– Ông nội Tô Ký không ngóc đầu dậy được là vì cái tánh ngang ngược và ghét Bắc kỳ ra mặt của ổng. Ổng không như Đồng Văn Chuột dạ dạ vâng vâng. Ổng lên tướng trước ông Chuột nhưng rồi cứ một sao. Một lần tôi lên Bộ Tư lệnh sư 38 của êng. Nhằm ngày chủ nhật nên ổng đem vợ con ngoài Hà Nội vô. Thằng nhỏ chạy chơi ngoài sân trợt té, kêu: “Bố ơi ! bố, con ngã ! ” Ổng chỉ mặt bảo: “Mày nói lại: Tía ơi, con té, thì tao đỡ vậy còn Bố ơi, con ngã thì nằm đó ! ” Bà vợ ngồi gần cười: Anh sống giữa miền Bắc mà không chơi với Bắc kỳ thì chơi với ai? Ổng bảo: “Chỉ có Bắc kỳ cái là chơi được thôi bà ơi?”

Mười Thơ và Tư Trường không cười . (Tôi xin đánh dấu hỏi ở đây để trở lại nói về cái chết của Ba Xu sau này.)

Cuộc họp quân khu ủy mà tôi được dự chỉ có thế. Sau buổi tiệc không biết các ông còn bàn việc gì nữa ở đâu tôi không rõ . Ba Xu (với tư cách một người anh và là một chỉ huy của tôi, từ thời tôi làm mật mã cho Lê Đức Anh ở chiến khu 7) đi với tôi một quãng đường ra trạm gác. Anh than thở:

– Đánh với Mỹ khó lắm em à ! Anh đã qua hai chiến dịch rồi anh biết. Hồi xưa mình đánh Pháp bằng sự dốt nát và liều mạng mà thắng. Khoa học không dự phần vào đó bao nhiêu. Anh sang Trung quốc học mấy năm, nhưng cái của Trung Quốc dạy, mình không thể áp dụng vào đây… một chút nào. – Anh xua tay – không được một chút nào.

– Dạ .

– Ừ em cũng có sang bên tập huấn pháo binh phải không? Họ đâu có dạy mình tận tình. Chỉ cho mình xơi ba cái bầy nhầy thôi, còn thịt nạc họ cất trong tủ . Nhưng binh chủng pháo của em còn dùng đỡ được. Năm ba cây pháo tép bắn vài chục quả rồi vác chạy. Đó là phản khoa học ngành pháo binh. Nhưng anh ra lệnh cho em đánh dù biết trước kết quả thế nào rồi. Đánh cho vui lòng mấy ông nội này nè. Chớ không phải vì thời cơ tốt cho trận đánh. Em thấy trực thăng vận và pháo binh của Mỹ chưa? Vậy mà Trung Quốc dạy cho anh Trì Cửu Chiến, Thiên thời địa lợi nhân hòa là những điều xưa như trái đất rút từ du kích chiến tranh ở Diên An. Không một bài học nào đem dùng được ở miền Nam này. Nhất là Củ Chi: Kế hoạch của nó là bào láng Củ Chi để giữ sạch cửa ngõ vào Sài gòn. Mình lấy ai để mà nhân hòa? Hai hôm nay tụi Đồng Dù và Trung Hòa hầu như không bắn pháo. Chi vậy ? Để mình nghĩ rằng pháo chúng nó bị phá hủy hết rồi và lạc quan tếu. .

– Dạ Chín Lộc cho em biết Trung Hòa đã kéo ra bốn cây pháo. Vậy là hư…

– Thằng mắt toét đó có thấy gì. Mặc dù nó đi học Liên Xô nhưng mắt nó vẫn toét. Nó đâu có biết được những cục trùm kín mít là cái gì. Mỹ sẽ mở chiến dịch ngay sau đây. Theo tin anh nhận được thì cuộc càn lớn tên là Operation Crimp sẽ xảy ra vào cuối tháng tới nhưng vì bị pháo kích, nó sẽ làm ngay. Em về nhà mà chuẩn bị càng nhanh càng tốt chôn giấu các khẩu pháo thật kỹ.

Tôi liếc thấy anh như có điều gì không tiện nói. Anh đi với tôi thêm một quãng nữa rồi dừng lại bắt tay tôi, thở dài:

– Ở trên bảo nắm thắt lưng Mỹ mà đánh, nhưng chỉ cho bấy nhiêu thôi đó.

Tôi từ giã ông anh của tôi mà lòng bùi ngùi. Tôi biết anh đang ở vào cái thế trên đe dưới búa. Người ta đánh giặc bằng lập trường không phải bằng khoa học.

Tôi đã thấy điều đó ở trên Trường Sơn, ở R và giờ đây ở Củ Chi. Hai Giã, đại úy pháo binh chết vì một chuyện cỏn con. Thằng Chi chết vì đánh pháo 175 bằng pháo chuột. Biết bao giờ Trung ương mới hiểu được chiến trường Miền Nam và cái Củ Chi đất thép này? Trong những ngày tới các bạn sẽ mục kích cái chết của một đại tướng Việt Cộng bốn sao. Một cái chết lãng xẹt. Ai giết?

Tôi và Ba Tố đi song song bên nhau không đứa nào nói gì. Bỗng một tiếng kêu thất thanh chát chúa.

– Anh Hai ?

Tôi nhìn ra con Ua. Nó đang giằn co to tiếng với anh trạm trưởng vì anh không cho nó vô. Nó mừng quýnh chạy lại ôm lấy tôi

– Anh cũng đi họp trong này hả?

Ua bây giờ khác hẳn. Đầu quăn, áo mỏng, guốc cao gót.

– Nhìn gì dữ vậy, tía non?

Tôi vã miệng nó. Nó phân bua:

– Mấy anh này không cho em vào gặp chú Sáu Huỳnh.

– Không có Sáu Huỳnh ở trỏng. Chỉ có Chín Lộc thôi !

– Chín Lộc càng tốt? Tin khẩn cấp không trễ được !

– Tin gì dữ vậy?

– Em không thể nói với ai khác ngoài ông Lộc.

Gã trạm trưởng kêu tên gác trên ngọn cây bảo chạy vô cấp báo. Ua quay lại tôi:

– Bộ lạ lắm hả?

– Giống cao bồi gái quá? Con Chia đâu?

– Nó sắp có chồng.

– Vậy à? Mau hả?

– Tại ai không phải tại nó !

– Ngoại chết em có về không?

Ua òa khóc tức tưởi.

– Về gì được mà về. Tụi thằng Rắc bắn chớ ai. Nó khoe rùm ngoài Trung Hòa mà ! Đời em kể như tiêu. Anh không biết gì hết. Thôi anh đi đi, để người ta chờ. Nè, trung tá Mã Sanh Nhơn Tỉnh trường lên giá cái đầu anh 20,000 rồi nghe. Liệu mà lội cho hung.

Tôi cười:

– Vậy là cái đầu anh lên giá gấp đôi. Thằng Lệnh vừa treo giá mười ngàn bây giờ được hai chục.

Cô bé được lệnh vào, nên từ giã tôi:

– Anh về ở H6 chờ em. Có chuyện lạ, nói cho nghe.

Rồi nàng vọt xe đạp. Mùi dầu thơm phất lại sau quất vào mặt tôi. Tôi trở lại. Ba Tố hỏi:

– Có chuyện gì khẩn cấp không mà ông.tư lệnh phụ nhỉ thầy lâu và con nhỏ quân báo hớt hãi vậy thầy?

– Ôi thì cũng ba cái chuyện nắm thắt lưng Mỹ mà đánh của ông Sáu Vi chớ có gì !

Ba Tố bật cười, cái mặt thịt run run:

– Hố hố. . . há há .

Thằng Bọ Ngựa và thằng Đỏ cũng cười theo. Ba Tố nói:

– Chiến thuật đó hay thật thầy ạ. Nhưng chỉ có nữ du kích, nữ cán bộ quân báo như con nhỏ đầu quăn đó thi hành được thôi Hễ các cô thừa thắng xông lên thì nắm được thắt lưng của tụi Đồng Dù ngay. Nhưng vừa nắm được thì tụi nó tuột luôn chớ không để các cô nắm lâu. Bởi vậy các cô thích quá cứ tìm Mỹ mà nắm thắt lưng hoài. Mấy cô đang ở trong này cũng tìm ra đó để nắm. Nhiều cô nắm riết rồi khoái không chịu buông ra, còn một số cô khác thì mang bầu non bầu già về tặng cho giải phóng. Báo hại thầy nạo Tám Lê…

– Thôi cha nội! Ổng khai hết với tôi rồi! Bỏ cái vụ nắm níu đó đi. Vợ cán bộ đại đội của mình còn lén đi nắm. 500 đồng một ngày, không nắm cũng uổng ! Bây giờ mình ghé Tư Chuyền thăm thằng Đảnh luôn tiện nhậu miếng thịt chó này, rồi ông tắp vô bà Tám Khỏe còn tôi ghé thăm cô xã đội phó. . .

Hai đứa cười ngặt nghẹo với nhau. Bỗng từ trong gốc cây ven đường bước ra một người đàn bà tay xách giỏ đầu quấn khăn rằn, chận đầu tôi.

~ Anh Hai đi về hả ?

Tôi nhìn lại thì ra bà Út Tức. Tôi nháy Ba Tố. Ba Tố dắt hai thằng nhải đi trước.

– Sao không họp tiếp mà ra đây… a… em?

– Họp gì nổi mà họp! Mấy ông biểu em ở lại thảo kế hoạch đấu tranh chính trị của đạo quân đầu tóc.

Tôi gạt ngang.

– Đầu tóc đâu còn cái nào mà đấu tranh! Tụi Mỹ xài quân đầu tóc đánh đánh tại mình thì có.

Nàng càu nhàu:

– Anh đi đâu mất biệt không gởi một chữ cho em!

Tôi trách ngược lại:

– Còn em có gởi lá nào cho anh không?

Tội nghiệp nàng vô cùng. Tôi không có ý nghĩ mỉa mai bà khu ủy như trước kia nữa mà thương hại thật tình. Đeo đẳng làm chi ba cái lý tưởng này rồi lỡ thời con gái, nông dân không dám rớ còn cán bộ thì lại chê … chỉ có ba lão già dềnh là mó tới. Mà chỉ qua đường. Tôi hỏi lảng

– Khẩu K54 còn nằm trong giỏ trầu không?

– Cái nợ đời đó có lúc em muốn quăng xuống sông Bà Hảo cho rồi.

(Tôi nghĩ thầm: Đàn bà có mấy ai ? Nhưng cũng tại nó mà bà hỏng cuộc đời) Tôi hỏi:

– Tình hình trên quận Tân Biên lúc này ra sao? Chắc cơ sở của em vững lắm hả ? Bà má còn ở đó không? Em còn bắt con Tám ghi sổ hết? Lão Tư Ó ra Tây Ninh rồi hả?…

Tôi hỏi một hơi. Út khóc sụt sịt.

– Tụi xe bò trốn ra ấp chiến lược Mỏ Công hết rồi. Bà má với con Tám cũng dọn đi. Ở trên tan hoang hết rồi chợ Long Hoa đâu có còn nhóm nữa. Còn em thì thuyên chuyển đi vùng khác. Em biết anh ở đây mà không thể nào tới được . Em còn biết anh sắp cưới vợ nữa mà.

– Cưới ai?

– Ai thì anh biết, hỏi em làm gì. Nếu em có được đứa con với anh thì em đã về nhà lâu rồi.

– Bậy nào! Cách mạng sắp thành công. Đừng bỏ uổng!

Út cười miệng méo xệch, mắt đỏ chạch:

– Thành công gi! Khu ủy sắp chạy qua Bến Súc bỏ Củ Chi cho anh đó. Anh liệu mà làm anh hùng! Người ta bàn sẽ đưa anh ra chỉ huy bộ binh vì mấy ông Ba Châm, Năm Tiều già, chậm lụt không đánh được. Chỉ có ông Ba Xu là muốn gửi anh lại H6 thôi.

– Rồi sao?

Út lưỡng lự một giây rồi tiếp:

– Anh có người em thủy quân lục chiến đại úy phải không? Ông Chín Lộc báo cáo với khu ủy là anh cứng đầu không chịu móc. Cho nên tới nay vẫn không tìm ra mối.

(Tôi nghĩ ngay: Tình hình này họ đưa mình ra bộ binh là họ muốn muợn tay Mỹ giết mình)

Bao nhiêu lửa yêu đương tắt ngấm. Thình lình, thằng Đỏ chạy tới hớt hãi:

– Anh Hai, giang thuyền đổ bộ. Chạy mau đi!

Tôi giục nàng trở lại căn cứ, còn tôi quay về với Ba Tố. Ba Tố cười khè khè:

– Xin lỗi thầy . . . nhé . . . Tôi thấy thầy dính với bà già trầu, sợ thầy siết bù lon với bả mà không về kịp nhà cô xã đội phó chớ giang thuyền gì ! Há há . . .

Chương 62

Mại dô!!
Đây là Địa Đạo Củ Chi ba tầng đào bằng răng dũng sĩ

Bản tin quân báo:

Về sự vận chuyển của quân đội Mỹ và Sài gòn.

Một lực lượng cỡ ba Trung đoàn bộ binh Sài gòn từ Dĩ An qua Phú Lợi không rõ phiên hiệu. Trung đoàn 28 kinh binh Mỹ, Lữ đoàn 3 sư đoàn Anh Cả Đỏ từ Trảng Lớn Tây Ninh xuống Củ Chi, Tiểu đoàn 16 Sài gòn, Trung đoàn thiết kỵ 1 Sài gòn, Trung đoàn Hoàng gia Úc Đại Lợi từ Pleiku về đóng dọc sông Sài gòn phía Bình Dương. Sư đoàn Mỹ 25 ở Đồng 1 Dù được tăng cường thêm ba tiểu đoàn bộ binh hóa học đóng trại ở Ngã Ba Trùm Tri.

Tôi buông tờ giấy xuống áp tay đè trên ngực rồi ngủ thiếp đi từ lúc nào không hay. Đến chừng trở mình thì nghe có người nằm bên cạnh ấm ấm. Tôi đưa tay sờ đầu thì nghe mái tóc 1 chuyển tỏa mùi thơm.

– Anh Hai ngủ hả ? Em thấy anh làm việc mệt nên đem cà phê lên cho anh.

Đàn bà, đàn ông, nhưng cũng chính đàn bà là thuốc tiên trị bá chứng, ngay cả chứng tương tư thất tình. Tôi đang buồn vì mất thằng Chi, vì nỗi niềm của thằng anh đối với đứa em ở bên kia, thì Lan đến. Lâu nay nàng làm đủ mọi công tác H6. Phụ bếp, y tá, đi lấy tin… Nàng có dáng dấp của một gái ở chợ nên ra vào thành không khó lắm. Và nàng cũng xếp vào bảng danh sách của các cô muốn xin anh Hai tí con. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, anh Hai quên từ chối. Có ai từ chối được một lời trao tặng mà không thốt ra như vầy? Cái đất Bến Mương này quả thật là đa tình với con nhà pháo.

Chúng tôi thức dậy sớm để tránh những cặp mắt chớ không phải tránh những ý nghĩ. Vì lâu nay nhân viên trong cơ quan đã nghĩ “Sao tới nay vẫn chưa xảy ra?” Thì nay đã xảy ra. Có lạ gì! Tôi uống được nửa tách cà phê nguội, đi duyệt lại lần cuối cùng thành tích của thằng Chi thì thằng Đỏ nhào xuống phi báo: Du kích ngoài Ngã Ba Cây Điệp cho hay xe tăng Mỹ càn. Quả y như ông Ba Xu nhận định, nhưng tôi vẫn tỉnh bơ:

– Càn thì càn chớ làm sao nó qua suối Bà Cả Bảy được?

Nói vậy nhưng vẫn uống lẹ lẹ rồi bước lên miệng hầm hỏi thằng Đỏ:

– Có Sáu Đức ở ngoài đó không?

– Dạ có.

Bỗng trên đầu oang oang tiếng loa:

– Nghe đây Allô !

Tôi ngước mặt lên. Con đầm già bụng trắng toát liệng một vòng rồng từ Hố Bò xuống chợ An Nhơn rồi vòng qua Bến Lách trở lên Đồng Chà Dơ. Nó vừa loa vừa rải truyền đơn. Mới sáng mà nó đã làm cái kiểu này thì chắc có chụp to . Thằng Đỏ lượm được tờ giấy đưa cho tôi. Tôi vừa đưa lên mắt định đọc thì tiếng loa oang oang, rúng động cả gốc cây ngọn cỏ. Tiếng loa này tôi cũng đã từng nghe trên Trường Sơn nay lại bị nó xói màng tai ở đây, nghe rõ từng câu một

Thưa đồng bào An Nhơn, An Phú, Phú Mỹ Hưng, Nhuận Đức… Bọn Sư đoàn Q16 Hà Nội đã dẫn xác tới Củ Chi vài tuần nay. Chúng đã bỏ lại dọc đường trên 2/3 quân số ở Đắc Tô, Daksuk và suốt dãy Trường Sơn vì sốt rét và B52. Đám tàn quân này đang tìm cách lẫn lút trong thôn xóm của đồng bào, vùng các xã trên đây. Vừa rồi có trên hai mươi binh sĩ, bốn cán bộ trung đội và hai cán bộ đại đội của Q16 đã tìm về chánh nghĩa quốc gia. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và đồng minh yêu cầu đồng bào, một là không chứa chấp chúng trong nhà hoặc ruộng vườn của đồng bào, hai là đồng bào hãy mau mau ra vùng quốc gia kiểm soát để xa lánh chúng trong một thời gian. Hỡi cán binh Việt Cộng! Các người chỉ có hai con đường, hoặc Tử Thần hoặc tìm Tự Do!. Hãy sớm về với chánh nghĩa quốc gia!

Tiếng loa dứt một chút thì tiếng đàn tranh nổi lên nghe mọc gai ốc cùng mình. Tiếng theo là một giọng ngâm nữ:

Vào đây thì ở lại đây
Bao giờ mộ mọc xanh cây thì về.

Chính tôi đã đọc hai câu này trên một mẫu giấy con gắn trên thân cây ven đường mòn Trường Sơn bên cạnh một mô đất có hai bàn chân thòi ra. Bây giờ nó đuổi theo tôi tới đây như một ám ảnh kinh hoàng. Tiếng loa như những loạt đạn bắn chụp xuống đầu. Giữa vùng bom đạn bời bời cỏ cây cháy rụi, đất đai còn nóng bỏng, nghe hai tiếng Tử Thần thật vô cùng khủng khiếp. Cả cơ quan từ nhân viên văn phòng, anh chị nuôi, y tế đều ngóng cổ nghe. Tôi quát:

– Đi làm nhiệm vụ ! Nghe gì, ba cái thứ nhảm đó.

Nhưng chính tôi cũng lắng nghe xem có quân ta ngồi chong ngóc trên đó kêu gọi các đồng chí ở dưới này không?

Ở Trường Sơn tôi đã từng nghe. Tiếng loa vừa dứt thì bỗng rầm rầm rầm. Đất run như sàn gạo. Một tiếng người la lên thất thanh.

– B52! B52!

Lụp bụp lụp bụp như phá o chuột nổ nguyên dây. Tôi quát:

– Ở đâu ngồi đó. Không ai ra ngoài hầm.

(Một cái lệnh rất vô thưởng vô phạt, nhưng ông chỉ huy còn biết ra lệnh gì, đối với B52 chỉ thum cổ lại chờ đợi, hoặc phình bụng hứng thôi. Trên R có lúc bày đặt thực tập phòng chống B52. Chống ? Rõ đồ ngu! Vậy mà bộ chỉ huy R cũng ráng chỉ thị. Riêng bọn đầu bò thì thằng nào cũng bắt lính đắp cho một cái hầm Đờ-cát.)

Lại rầm rầm rầm. Tôi lại quát. Nhưng không còn tiếng nhộn nhạo nữa. Không ai cần chỉ huy lúc này. Tôi hét to: .

– Nó bỏ ở đâu vậy Đỏ ? (Tôi hỏi vậy thôi chớ cũng dư biết.)

– Hố Bò !

Tôi thầm nghĩ. Q16 lãnh đủ rồi. Tụi lính vịt xiêm nhan nhãn tối ngày, nó không liệng cho vài trăm dưa cũng uổng.

Rầm rầm rầm! Kỳ này nghe gần quá. Ly tách trên bàn nhảy khua nghe leng keng. Tôi không còn nghe tiếng la, tiếng chân chạy nữa. Tất cả đều như chết hết. Nó chơi đúng bài bản cổ điển ba loạt, mỗi loạt cách nhau hai phút. Vậy là dứt. Tôi quát:

– Lên lo công chuyện đi ! Nó đánh Hố Bò . .

Tôi cố trầm tỉnh. Tôi là thằng đánh giặc khá nhiều. Mười lăm tuổi đã lén vác mìn đi đánh xe tăng. Nhưng với B52 và pháo Mỹ, thằng nhỏ không dám cà rởn. Tôi móc giấy thảo công văn xin ông Năm Lê xin người thay thế thằng Chi. Cầm bút mới biết tay mình run. Đâu phải cánh tay mà tim run đó chớ ! Tôi gọi Ba Tố nhưng Ba Tố đi kiểm tra tình hình. Thời may Sáu Đức trung đội phó trinh sát đến. Tôi nói:

– Hôm nay là ngày mở cửa mã cho thằng Chi, cậu lo dùm tôi việc ấy.

– Dạ… nhưng mà tình hình động quá thầy à. Làm sao đi ra ngã Ba Sòng cho được. Muốn mở cửa mã cho nó thì phải mua một cây mía lau, một cặp gà giò. Bây giờ biết tìm đâu ra mía và gà. À mà còn nhang đèn vàng bạc nữa. Nếu làm thì phải làm cho đủ lễ.

Tôi không biết Đức đúng hay tôi đúng. Nhưng trong lúc dưa rơi lụp bụp ở Hố Bò thì ở đây ai còn dám đi lêu bêu trên mặt đất. Sáu Đức tiếp:

– Nó chết mà được vậy là ấm cúng lắm rồi. Tháng trước anh Ba Đông đại đội trường chết ở ngoài quốc lộ I đâu có lấy được xác Chỉ tội nghiệp cho con Chanh thôi. Phải thằng Chi bị cụt giò như chồng Tám Mang, lên R an dưỡng cũng tốt.

Bỗng thằng Bọ Ngựa chạy về, mồm thở ra khói, nói cà lăm:

– Cậu cậu Hai! Mỹ vô Cây Điệp.

– Tới nhà Bảy Mô chưa?

– Dạ hổng biết? Du kích bắn báo động ba phát liền nhau chớ không phải ba phát rời, đó là có bộ binh và xe tăng.

Tám Lù ấp đội trưởng ở đâu lại nhào tới:

– Anh Hai ! Mỹ vô tới Cây Điệp rồi. Đông lắm.

Rồi Ba Tố chạy về hớt hãi:

– Mỹ vô Xóm Trại, thầy à ! Tôi đang ở đằng nhà Ba Xây điều đình mua mấy cái nắp hầm, bỗng thấy tụi Tiểu đoàn 7 chạy túa ra.

Bốp! Bốp!… Hai tiếng súng CKC nổ thật gần. Tôi quát cậu quản lý và cô Thu, chị nuôi.

– Mau giấu nồi niêu để nó tới phá tiêu hết, trở về không có đồ nấu cơm.

Bà con trong xóm chạy ra rần rần ngoài đường. Tôi nghe một người nói rõ:

– Mỹ đổ ở Sở Đất Thịt kéo vô tới xe nước mía rồi.

Tôi vọt ra đường, đụng Tám Đột công an xã .

– Mỹ có vô thật không anh Tám?

– Tôi không thấy nhưng nghe Ba Xây nói tụi nó đi êm rơ, súng cầm tay, không bắn phát nào. .

Tiếng trực thăng xành xạch trên đầu. Hai chiếc bay sát ngọn cây đảo vòng từ Ngã Ba Cây Điệp ra Bến Mương. Tụi này dắt và yểm trợ cho bộ binh. Thói thường hễ chúng đi đến đâu thì bộ binh theo đến đó . Tám Đột nép vào bụi chuối bên đường. Chờ trực thăng qua, y vọt luôn không cho tôi bám. Đó, nói nắm thắt lưng Mỹ, Mỹ tới, nắm đi ông Đại tướng bần cố.

Tôi trở vào hầm. Thằng Mười, thằng Đỏ liên lạc và cận vệ của tôi đã cởi quần dài và áo túm vào bọc ni lông, mặt mày xanh lét, nói không ra tiếng. Thằng Đỏ lôi tay tôi.

– Anh Hai! chạy đi! Em biết miệng… địa.

Tôi đang loay hoay thì bỗng có tiếng kêu lãnh lót:

– Anh Hai !

Tôi quay lại: thì ra cô xẩm lai ở chợ An Nhơn, một người em gái rất cảm tình ông thầy pháo. Hơn nữa cũng muốn có một đứa con với anh Hai! Khổ cho cái ông thầy pháo. Giờ này lại còn bị cô em gái níu kéo.

Cô bé đưa cho tôi một bọc nilông và xâu chìa khóa để mở cửa tiệm. Cô nàng vỗ vỗ cái bọc:

– Tiền ở trong này, có cần gì anh ra mở cửa tiệm cứ việc lấy đồ xài. Anh với em chắc hết gặp nhau rồi.

Nàng ôm hôn tôi mà òa lên. Cái cảnh chia ly còn hơn cả Đường Minh Hoàng biệt Chiêu Quân. Sông Sài gòn trở thành sông Hồ Hớn chăng?

Tôi nghe tê tái cả tâm thần nhưng lấy hết can đảm đẩy nàng ra:

– Em về đi để Mỹ tới !

Cô bé chạy vụt đi, vấp ngã đứng dậy chạy rồi biến mất. Tôi vừa nhét gói bạc và chìa khóa vào sắc cốt thì thằng Đỏ hồng hộc chạy tới:

– Em đã tọng hết bàn máy đánh chữ và tài liệu xuống hầm rồi. Đi anh Hai!

Cậu quản lý và cô Thu cũng giục tôi:

– Chạy mau anh Hai!

– Người ta nói nó ra tới quận đội rồi đó !

(Tức là cái hầm của Tám Giò dưới gốc tre tôi và Hai Kỳ tới nhậu mắm tôm hôm trước.)

Tôi đã nghe tiếng cây gãy rôm tốp ở trước nhà má Hai. Một tràng tiểu liên làm cho không khí càng nóng bức. Thằng Đỏ bảo:

– Anh quản và chị Thu dắt anh Hai chạy qua hầm gạo đi . Ở đấy có miệng ngách ăn vô địa đạo.

Cô Thu còn cố quơ mấy chiếc chiếu ném xuống hầm, để lát nữa trở về không có đồ ngủ. Tôi thực sự hoang mang và mất hết trầm tỉnh khi nghe tiếng Mỹ xù xì. Không biết cô xẩm của tôi đã về tới nhà chưa? Cậu quản lý run như thằn lằn đứt đuôi:

– Nó tới rồi ! Chạy, anh Hai ! Theo tôi !

Ông chỉ huy trướng H6 bây giờ bị cậu quản lý chỉ huy. Hắn bảo gì tôi nghe nấy. Đến nước này rồi chạy đi đâu được? Trực thăng bắn trước mặt sau lưng. Bộ binh rờ đụng. Tôi có bao giờ nghĩ rằng mình phải chui hang. Hễ bị chụp thì chạy, không chạy thì đánh trả chớ chui thì, than ôi, như ông Ba Xu dặn:

– Chỉ có thua, ít khi huề .

Tụi nó hành quân không bao giờ có qui luật. Ngã Ba Cây Điệp, Xóm Trại Bà Huệ, Ngã Ba An Nhàn, Bến Mương đều có giặc. Thì đành phải chịu. Chẳng lẽ điểm của nó là H6. Nếu không phải là H6 thì là Quận đội của ông Tám Giò. Hai cơ quan cách nhau không đầy hai cây số. Thằng Đỏ chạy lấy tin rồi không thấy về. Có lẽ bị chận. Chỉ còn cậu quản lý (chúng tôi kêu là cậu Quản) và Cô Thu theo bảo vệ tôi. Hai người dắt tôi ra hầm gạo rồi cậu Quản giở nấp hầm, la:

– Xuống mau anh Hai! Nó tới rồi.

Thu nhảy xuống trước, tới tôi rồi Quản xuống sau cùng. Tôi nghe một tiếng phập nghe rợn người. Tôi đâm ra ân hận. Tại sao mình tự tìm cái chết? Tại sao không nghe lời ông Tư Lệnh? Thấy tôi chần chờ không chịu đi theo Thu mà muốn trồi ngược lên, Quản đuổi tới và thầm thì:

– Không lên được đâu anh. Phải luồn vô mau.

Tôi lần theo Thu. Bỗng Thu quay lại hỏi Quản:

– Mình đi theo ngánh nào?

– Rẽ sang trái!

Tôi bò được chừng năm thước thì cùng đường. Tối đặc. Mồ hôi ướt đẫm áo. Tôi bắt đầu thấy ngột ngạt. Đây là lần đầu tiên tôi nếm mùi địa đạo thực sự, nghĩa là có giặc trên đầu chớ không phải xuống địa đạo, đào địa đạo và giỡn với các cô dũng sĩ như trước kia. Thu kêu lên.

– Bít đường rồi anh!

– Mò tìm tảng đá chắn! – Quản bảo -Đụng chưa?

– Có rồi. Tấm đá tròn phải không?

– Đúng rồi đó ! Móc lên, để qua một bên. Anh Hai, đưa cái sắc cốt cho nó bỏ xuống rồi mình đu người xuống sau.

Cô Thu nói:

– Ghê quá anh à !

– Ghê thì lùi lại đây, tao xuống ! – Quản nạt.

– Em nghe lạnh quá hà .

– Người ta nực muốn chết mày lại lạnh. .

Cô Thu thòng chân rồi bám vào vách đất tụt xuống dần . Cô rên rĩ:

– Anh Chi ơi ! Anh về phù hộ anh Hai mình nghe anh Chi !

Tôi nghe lạnh buốt tiên gan vì câu van vái của Thu. Tôi tiếp theo sau Thu, chui xuống như cá bị bỏ lọt qua hom giỏ. Cậu quản lý chui sau cùng và rướn người lên nhấc tấm đá đậy miệng hầm lại. Phập Tôi quay lại hỏi:

– Bộ mình xuống tầng hai rồi hả?

– Dạ, đây là tầng hai. .

Tôi nghe trong người bức rức khó chịu như ngặt mình sắp chết. Mồ hôi ra như tắm, tai nghe e e, tay chân lọng cọng còn hai mắt thì cố trợn lên muốn nổ tròng mà không thấy gì hết

– Cái gì xì xào trước mặt vậy?

– Dạ người ta.

Tôi nổi nóng ngang:

– Bỏ dạ đi! Dạ cái con mẹ gì… Người ta nào?

Quản líu ríu.

– Dạ người ta… xuống địa đạo… Người ta… trong xóm.

– Có cái vụ đó nữa sao?

– Dạ đây là đường Thống Nhất của xã . Xã đội họ hướng dẫn dân ẩn trú dưới này. Cái ngách của mình ăn thông ra đây.. Tụi em đào hồi năm ngoái với anh Hai Giả !

Quản nói một hơi. Một tiếng kêu vang dội lòng hầm:

– Dồn mau vô. Nó bơm hóa học xuống rồi. Ngộp quá. Chắc chết hết mấy người ơi!

Một tiếng người bảo.

– Đậy nắp tầng hai kỹ lại !

Tôi ngồi tựa lưng vào vách hầm. Tôi có cảm giác như con gà nằm trong giỏ ở chợ Đồng Xuân, cứ ngẩng cổ lên là đụng nấp giỏ. Quả thật tôi quơ tay là đụng nóc hầm. Nó ở ngay trên chỏm tóc mình, cách chừng một sải tay. Tôi đã từng đào với các em. Tôi còn lạ gì. Lòng hầm chỉ cao chín tấc. Thế mà tôi và Tư Linh đã đẩy cây thoa mỡ bò với thằng Bọ Chét: Chúng ta đi dạo quanh địa đạo suất ngày, mà nó cũng tin. Nhân loại ngây thơ cũng dễ tin hắn như hắn đã tin chúng tôi vậy. Bây giờ thì Trời trả báo. Cho mi giỏi đi dạo, nghe Lôi!

Bỗng nghe có tiếng con nít khóc ri rỉ và tiếng kêu ngộp vang vang. Bộ mấy người này chưa từng xuống đây sao? Một lũ bị chôn sống. Chắc ai cũng ân hận. Chính mình tự chôn mình. Muốn lên cũng không được. Nhiều người réo Tám Đột mà chửi. Tôi chợt nghe thèm điếu thuốc. Tôi mò túi quần lấy thuốc nhưng hộp quẹt xẹt hoài không cháy. Thu hỏi tôi:

– Anh xẹt hộp quẹt làm gì?

– Hút thuốc.

Quản kêu lên:

– Bộ anh muốn chết ngộp hay sao? Dưới hầm đâu có đủ dưỡng khí mà lửa cháy được!

À, tôi sực nhớ. Lần nọ tôi xuống địa đạo với cô xã đội Là . Tôi cũng bật lửa để xem xét trong hầm nhưng không cháy. Tôi quờ vào vách hầm, đụng mấy thân tre láng láng. Tôi hỏi :

-Thu à, ai trồng tre trúc gì dưới hầm vậy?

– Ở đâu?

Tôi quờ tìm tay Thu, cầm lấy và ấn vào những thân tre trên vách hầm. Thu nói: .

– Đó là tre chắn miệng thí chớ ai trồng tre dưới hầm!

Trời ! Sao tôi ngu vậy. Tâm trí tôi cũng đen như đáy hầm này rồi sao? Cô xã đội Là đã giải thích cho tôi và chính tôi cũng đã tham gia đào miệng thí với các cô rồi mà nay không nhớ. Ở phía sau có tiếng người giục:

– Ai ở phía trước bò vô cho người lết tới, ở ngoài này hửi hóa học gần chết rồi.

Thu bò vô nhưng dội lại. Tôi hỏi:

– Sao không vô?

– Ở đàng trước không chịu nhúc nhích.

– Sao kỳ vậy?

Có tiếng đàn ông ồm ồm phía sau:

– Bộ muốn người ta hỏi hóa học chết hết hả?

Tôi ôm chặt cái sắc cốt và đẩy lưng Thu:

– Em xô họ tới đi.

– Xô gì được Họ ngồi chắn ngang bít chịt.

– Em chen đại qua.

– Chen sao được mà chen?

– Tại sao?

– Thì cái hang có bơ lớn, chen ngả nào?

Tôi hét:

– Ai ở đằng trước chui mau tới. Ở đằng sau họ đạp tống vô lưng người ta đây!

Vừa nói tôi xô Thu. Nhưng Thu kêu lên:

– Em rờ đụng cái giò của ông nào lông lá không, ớn quá trời.

Một tiếng đàn ông đáp lại:

– Đàn bà chửa ở trước, không bò được các cha ơi!

Một tiếng khác:

– Đem thứ trống chầu đó xuống đây làm chi hở trời!

– Vậy để trên đó chết cháy hả?

– Xuống đây thì phải ráng mà chui chớ chắn ngang vậy người mới xuống làm sao vô?

– Vẹt qua cho người ta bò tới.

– Vẹt rồi đó, bò đi.

– Bò đại đi!

– Chết tôi trời ơi !

– Cái gì vậy má nó?

– Ai ép chắc chết quá !

Huỳnh huỵch, huỳnh huỵch xen lẫn các mẫu đối thoại bình thường tới đối thoại nho chùm.

– ép lọt con người ta rồi hết nghe.

– Trời ơi, đàn bà có chửa mà ông. Tám Đột lùa xuống đây làm chi?

– Thôi biểu bả nằm xuống cho người ta bò qua.

– Đè lọt con người ta sao?

– Thằng nào ngu quá , vợ có chửa mà lại nhét xuống đây ?

– Đù bà thằng nào nói đó. Chốc nữa lên tao đập nát óc.

Tôi phát cáu cũng xổ nho luôn:

– Thôi các cha ! Cãi lộn Mỹ nghe nó xoi thấy mẹ !

– Thằng nào giỏi thì lên đánh Mỹ đi, sao chui vô 1… đàn bà.

Tôi thấy nhột và nhục vì câu nói vô tình, nhưng không đủ sức để quát tháo nữa. Vã lại trong sự hỗn độn này có ai nghe ai? Tôi úp mặt vào lòng Thu. Trời, con nhỏ ác thiệt, nó xức dầu Hồng Lạc, mùi dầu pha với mùi đất ướt, mùi người, mùi quần áo và các thứ mùi uế tạp khác, làm tôi muốn mửa. Tôi nghe cơm cá cà phê sắp trào lên họng rồi. Tôi cố nuốt gặm. Tôi nghiêng mặt chúi mũi vào thành đất. Đất cũng tanh nhưng dễ chịu hơn. Người đàn bà chửa di động được một quãng. Thu bò theo. Tôi lết tới. Quản tiếp sau. Một tiếng reo phấn khởi sau lưng tôi.

– Cái lỗ thông rồi! Bò vô bà con!

Tôi bỗng nghe mùi thum thủm quái gỡ, giống như thây ma sình. Bộ có ai chết? Tôi thầm nghĩ “Dám lắm’ Tụi nó bơm hóa học xuống rồi. ” Tôi ân hận tràn lòng. Sao mình chui xuống cái cửa tử này? Xoay trở phía nào cũng không được . Chẳng khác nào con chuột trong chiếc xà-vi tre. Lui không được còn tới thì chật như nêm. Tung nắp lên ư? Mỹ đang trên đầu. Chui xuống? Ngã nào? Tầng thứ ba luồn qua đít Đồng Dù, nghe Bob Hope hát?

Tôi quờ tìm cái gì không biết nữa. Ờ, tìm ánh sáng. ánh sáng đâu giữa lòng đất. Nếu là hầm bí mật thì dễ chịu hơn vì có một mình, nhiều lắm là hai đứa. Còn ở đây không biết bao nhiêu người. Tôi cảm thấy họ hít hết không khí trong hầm . Ngực tôi nghe nhức như bị ép. Thu và Quản thở nghe phòm phòm như trâu bị cắt cổ.

Tay tôi quờ đụng vật gì trên vách hầm rả rợt. À… rễ cây mục. Vì mình móc hết đất, nó không còn đất để ăn, nên chết và thối ra. Chao ôi! Cái gì chết cũng thối và mùi thối khó chịu vô cùng. Cứ mỗi lần hít thở như bưng cái lỗ mũi. Tôi đưa tay bịt mũi, nhưng bịt mũi càng khó chịu. Cuối cùng vẫn phải hít cái mùi bất hủ đó. Tôi hỏi .

– Mình lên tầng một được không?

– Không đâu anh ạ ! – Quản đáp – Nó bơm hóa học xuống rồi.

– Ở dưới này ngộp chắc chết.

– Nó đang đánh hầm nữa!

– Sao cậu biết?

– Em nghe tiếng bung bung tự nãy giờ mấy lần.

Tôi lắng nghe. Bùng! Bùng! Đất rung rinh. Lồng ngực dội. Quản có kinh nghiệm chui địa, nói:

– Nó đánh bằng chất nổ như mình đánh bộc phá. Anh nghe tiếng nổ không?

Lúc nhỏ tôi thường chui vô những vực hẩm để bắt cá trê. Nghe bùng bùng thì biết là trống nhà làng đánh. Bây giờ tiếng vang này cũng y như vậy.

Tôi nghe lạnh buốt, răng đánh bò cạp kềm không lại. Thì ra nãy giờ mình toàn lê lết dưới bùn sền sệt, nhiều chỗ nước đọng ngập lên đến khỏi mắt cá. Ông cụ non đã biến mất không còn là gánh nặng đá đeo của bà Hồ Xuân Hương nữa. Thu cũng có kinh nghiệm ở hang, bảo tôi:

– Anh ngồi chồm hổm mà lê tới như vịt đi đừng ngồi bẹp. Nhích tới đi anh. Ôm lưng em nề cho ấm. Ôm đi, em nghe anh run lặp cặp rồi kìa.

Tôi làm theo lệnh cô bé như máy. Không thấy gì hết ngoài cái đầu của Thu mà tôi nhìn bằng cái mũi của tôi chớ không phải bằng mắt, Nhờ tóc quẹt vào mũi tôi nhột nhột. Có lẽ những người trám bít phía trước đã nhích lên nên Thu lết hơi nhanh. Tôi cố theo, tôi đến đâu Quản đến đó và còn xô tôi tới nữa .

– Anh mệt không?

– Không ?

Thu mò sột soạt trong túi thuốc mà Lan đi vắng giao cho. Tôi nghe đánh rắc một tiếng như màn tai tôi bị vỡ. Một tiếng ho dưới địa đạo vang to như tiếng bom nổ. Tôi không biết là tiếng gì thì mũi ngửi thấy mùi dầu nhãn.

– Anh đưa bàn tay đây… Ngửa ra… Rồi đó, đưa lên mũi cho khỏe.

– Tay bùn không.

Thu im lặng một lát.

– Nè anh hửi cái khăn. Em vừa xịt dầu vô đó.

Tôi nghe lời, áp chiếc khăn vào mặt. Cái khăn có mùi dầu nhãn. Tôi hít hai ba cái thấy cũng dễ chịu.

Xê xít như vậy mấy thế kỷ không rõ, thì Thu la lên.

– Tới đường xuống rồi anh!

– Xuống đâu?

– Tầng hai.

– Vậy nãy giờ mình bò ở tầng mấy?

– Em nghĩ là tầng hai, nhưng té ra không phải. Mới tầng một thôi. Ở trên chỉ là cái ngách.

Tôi phát cáu:

– Thôi, thôi tao không có xuống nữa !

– Ở trên này nó bơm hóa học mình chết đó anh. Nàng đính chánh lia về sự nhầm lẫn của mình – Hồi nãy mình mới xuống cái ngách giở tấm đá chui xuống em tưởng là tầng hai, ai dè không phải.

Tôi suy nghĩ và chần chờ. Xuống hay không xuống? Đã đến mức này rồi. Lên không được thì chỉ có nước xuống thôi.

Tôi có cảm giác là mắt tôi đã mù. Tôi thử móc chiếc mù soa trắng trong túi đưa lên trước mặt. Không thấy gì hết. Vậy mà lâu nay mình cũng tự lừa mình (để yên tâm) là địa đạo rộng như ường cái, đi xổng lưng, địa đạo chiến oai hùng. Cả tiểu đoàn chạy rần rần từ ấp này sang ấp khác, từ xã này sang xã khác, để bọc hậu đánh lại địch. Đây là tôi chui mình không. Nếu có cây súng ngắn thì còn vất vả nữa. Hồi đi học trường làng, trong giờ thể thao, thầy giáo thường cho tập cái môn đi theo kiểu vịt nghĩa là ngồi chồm hổm, tay khuỳnh chống hai bên hông rồi vừa đi vừa la cạp cạp như vịt. Môn này tuy khó mà vui. Có đứa thừa lúc thầy ngó lơ chỗ khác thì đứng xổng dậy chạy một khúc rồi ngồi xuống đi theo vịt tiếp. Nhưng than ôi, bây giờ xí quách đã khô trên Trường Sơn, về đây chạy long tóc gáy cả năm trời thì cái trò đi theo kiểu vịt đâu còn vui vẻ nữa. Ngoài ra, lòng hầm hẹp đâu có huỳnh tay ra được, và phải lết trên bùn, con vịt Dương Đình Lôi này chỉ muốn nhảy vô nồi nước sôi chết phức cho đỡ ngặt mình.

Nếu hai cây thịt vĩ đại Ba Tố và Tôn Sứt xuống đây chắc sẽ biến thành cái nút nhét chặt mà bọn này sẽ làm lũ cào cào chết dưới đáy chai. tôi đành phải nghe lời cô quân sư mà tụt xuống tầng hai. Ở dưới này cũng nghe tiếng người la í ới, con nít khóc càng to, những câu đối thoại đầy nho hộp nho chùm xổ ra tứ tung.

Tôi cảm thấy lạnh hơn và ngột ngạt hơn. Thằng nào đào địa đạo không đào lỗ hơi. Có thể nó có xoi lỗ ở tầng một nhưng ở tầng hai nó lại quên, hoặc có xoi mà nhỏ không đủ cho không khí tràn vào hầm, hoặc có lỗ hơi lớn mà đất sụp bít đi, hoặc nữa vì sợ rắn chun xuống người ta nhét lại và khi xuống hầm lính quýnh không ai giỡ nút ra. Nhưng bất cứ như thế nào, dầu cái lỗ thông hơi có bằng ống khói tàu thì không khí cũng không đủ cho những buồng phổi sắp cháy có thể tươi trở lại được Tệ hơn nữa là tầng hai không rộng rãi như tầng một. Khi đào tầng một phải chừa cái gáy hầm ít nhất là 9 tấc để xe tăng chạy qua không sập, 9 tấc kế đó là lòng tầng một, phải bỏ 6 tấc cho gáy hầm rồi tối 8 tấc cho lòng tầng hai. Như vậy từ mặt đất xuống đáy hầm tầng hai là : 9 + 9 + 6 + 8 = 32 tấc, là 3 thước 20. Kéo một ki đất nặng 30 kí lô từ một độ sâu 3 thước 20 thì phải đổ bao nhiêu mồ hôi? Do đó mà nhân công không đủ để đào tầng hai rộng bằng tầng một. Bạn thử làm một con toán xem thì rõ sức nào đào nổi. Và chỉ tính trong hoàn cảnh bình thường không có bom pháo và biệt kích. Bỗng Quản kêu lên:

– Anh Hai ơi ! Lạc rồi !

– Tại sao?

– Lúc nãy đáng lẽ mình quẹo phải mình lại quẹo trái. Nếu quẹo phải thì sẽ đụng vào ngách độc lập của H6 do anh Hai Giả, Ba Thanh và thằng Đỏ đào hồi trước. Ba người đào mất nửa tháng mà có 15 thước thôi. Nhưng chỉ đủ cho năm người ở một ngày. Hồi nãy mình quẹo trái là ra đường Thống Nhứt của xã , cho nên người ta mới đông, trẻ con đàn bà chửa tùm lum như thế này.

– Bây giờ mình trở lại ngách mình được không?

– Dân ở phía sau dồn tới rồi chật nức, mình đâu có lùi được?

Nhân dân mà xuống ào ào thì miệng hầm Mỹ sẽ thấy ngay không cần phải dùng chó đánh hơi. Hai Giả chết cũng vì loại hầm quốc tế này (nghĩa là loại hầm dùng cho các loại cán bộ khách. Người đào hầm đó không bao giờ xài. Có khác gì chôn sống họ )

– Vậy mình sẽ bò tới đâu?

– Tôi cũng không biết.

Xuống tầng hai này không còn ngồi chồm hổm đi kiểu vịt cũng không ngồi bẹp mà lết được nữa. Phải cụp cổ xuống hai đầu gối để đầu khỏi đụng nóc hầm. Thu bắt đầu cau có với ông thủ trưởng của nó:

– Anh Hai đừng nói chuyện nữa, để dành hơi thở.

Tôi không hiểu cái khoa học gì kỳ vậy nhưng vẫn nghe lời mà ngậm miệng. Tôi có cảm giác đã chết một nửa người nhưng Thu cứ giục:

– Rán tới anh.

Tôi cố lê theo, chẳng hiểu tới là tới đâu nữa. Tội nghiệp tôi chẳng bao giờ chú ý tới cô bé . Tôi đi nhỡn nhơ với ai đâu đâu còn cây nhà lá vườn thì để hoang lạnh. Bây giờ tôi mới thấy cần một người em gái tận tình hơn là một người yêu. Các cô chưa chắc còn yêu mình khi mình lâm nạn như vầy.

Thu đang đi tiên phong dọn đường còn cậu quản lý thì chặn hậu bảo vệ tôi. Tôi đi cách mỗi người chừng một thước tây nhưng tôi sợ lạc mất, nên cứ chốc chốc lại rên rỉ:

– Hai em còn đó không?

– Em không có bỏ anh đâu mà !

Thu bao giờ cũng đáp lời tôi trước Quản. Còn Quản không nói gì chỉ xô vào lưng tôi. Tôi biết đó là cậu ta chớ không ai khác, bởi vì hầm chật không ai chen qua được. Có bao giờ ai đóng thêm một cái nêm vào răng cối?

Bây giờ hầm lại trở nên chật hơn. Rễ cây thấm nước trận mưa vừa rồi từ trên nóc hầm nhỏ xuống ngay lưng, ngay xoáy ngọ, mỗi giọt như một mũi kim châm buốt tận óc. Thu quay lại bảo:

– Không lết được nữa anh ạ !

– Tại sao vậy?

– Đường bóp lại nhỏ xíu vì một rễ cây nằm ngang. Phải nằm xuống trườn mới lọt.

– Trời đất !

Tôi kêu than nhưng vẫn phải nghe lời vì đầu tôi đã cụp xuống giữ hai đầu gối mà không qua lọt khúc nghẽn. Quản lằm bằm:

– Đéo bà thằng chó đẻ nào đào cái địa này. Đường Thống Nhất cái củ c… !

Tôi nằm sấp và quơ đụng hai gót chân Thu ngay trước mũi tôi. Tôi bảo:

– Anh bò hết nổi rồi em!

– Anh nắm cườm chân em để em bò tới.

Pùng? Pùng! Pùng ? Tiếng động vang âm trong lòng hầm, dội vào lồng ngực muốn vỡ ra. Chúng nó vẫn tiếp tục đánh, moi và bơm chất hóa học. Tôi nghĩ. Chui xuống đây là bị động hoàn toàn. Tôi vô cùng ân hận. Không bao giờ chơi với địa nữa. Hồi ở Hà Nội tôi có xem cái phim của Ba Lan, du kích thủ đô Vác-sô-vi đánh với Phát-xít Đức cùng đường phải chui xuống cống thành phố rồi lạc đường không biết phải theo đường nào để trở lên mặt đất. Nhưng hệ thống cống rất dài và lòng cống to đi xổng lưng vác súng vẫn rộng thênh thang. Ước gì mình được đi trong lòng cống Vạc-sô-vi để đánh Mỹ.

Bỗng Thu reo lên:

– Được rồi anh Hai !

– Được gì?

– Em đụng nắp lên tầng một.

– Mở mau cho anh chun lên.

Thu đội nắp hầm đứng lên. Tôi ngỡ một luồng sinh khí sẽ tràn xuống đầu tôi làm cho những tế bào sấp chết trong người tôi được hồi phục. Nhưng không ! Không có gì hết. Thu đã đặt chiếc nắp qua một bên nghe phịch một tiếng, nhưng tôi vẫn thấy ngột ngạt như trước mà mắt tôi vẫn mù . Tôi quát.

– Tại sao kỳ vậy Thu?

– Sao anh?

– Tầng một cũng như tầng hai.

Và người ngợm, tiếng chí chóe vẫn rầm rầm như ở tầng hai. Có lẽ dân bị Mỹ đuổi nỗi nên Tám Đột lùa đại xuống hầm một mà không tìm ra cửa xuống tầng hai nên họ luồn vào đây mà không có sự hướng dẫn nào hết, mạnh ai nấy nấy la nấy chửi loạn cả lên như một giỏ gà chật cứng. Quản nhanh trí bảo:

– Chúng tôi phải lên để chiến đấu. Các ông các bà, ai muốn xuống tầng hai thì chui qua lỗ này.

Hàng chục người làm theo lời chỉ dẫn ác ôn của Quản. Nhờ vậy có nhiều không khí cho chúng tôi hơn. Tôi hỏi:

– Đường còn dài không?

– Em đâu có rành. Họ đào, đâu có cho mình phối hợp. Cho nên mình chỉ đào khúc của mình thôi. Họ cho ăn thông ra nhưng không cho mình rõ sơ đồ.

Ở tầng một có cái đỡ là nghe rõ tiếng cánh quạt trực thăng và tiếng mìn nổ , tiếng bom dội xa gần và ngửi được mùi thuốc TNT, do đó cảm thấy mình còn sống. Bây giờ mồ hôi không tuôn ra nữa. Còn đâu mà tuôn. Toàn thân nghe như biến thành một que củi khô đang hơ khói trên giàn bếp như ở nhà mà má tôi vẫn thường làm mỗi khi mưa dầm vào tiết tháng năm. Mặc dầu không biết đi đâu và sẽ tới đâu, nhưng Thu cứ giục tôi bò tới. Lòng hầm tầng một có rộng hơn nhưng tôi chẳng thấy khỏe lại, bởi vì bao nhiêu sức khỏe đã phí ở tầng hai rồi. Tôi nghe những cảm giác của tôi đều mờ nhạt, nghe tiếng nói lao xao mà không hiểu nghĩa gì, tay chân tê dại và mắt hoàn toàn không nhìn thấy gì. Tôi đang sống trong trạng thái của một người sắp chết.

– Anh Hai! Anh Hai!

– Ư… ư…

– Anh có khỏe không? ?

Tôi nghe Thu nắm tay lôi tôi và Quản nắm chân đẩy tôi như điều động một chiếc xe bò chở nặng mà không có bánh hay đúng hơn, như một tấm trạt kéo mạ trên ruộng lầy. Chốc chốc tôi nghe tấm trạt ấy dừng lại và chiếc khăn có mùi dầu nhãn áp trên mũi tôi.

Tôi mơ màng thấy Ba tôi đứng ở giữa quán con Chia khi tôi vừa tới. Ông nói có mấy tiếng, rồi nghẹn ngào.

– Con đó hả ?

Tôi thấy con Ua chở Ba tôi khuất dần trên con đường mòn ven Đồng Mã và tiếng văng vẳng của Ba: “Má mày muốn có cháu để bồng!”

Tôi chợt nghe Con Chia sắp đám cưới. Không biết chồng nó là ai? Ngoại đã chết rồi, nếu còn sống, chắc Ngoại cũng không vui lòng. Trời! Tại sao mình tối dạ vậy? Một chuyện nhỏ mà cũng không giải quyết được. Có gì đâu, kỳ đó mình cứ làm lễ tuyên hôn rồi cho cô nàng theo Ba về nhà. Ba sẽ bảo má : “Con vợ thằng Lôi đây nè . Tôi vô trong khu tôi cưới cho nó đó. Như vậy còn hơn thằng Hùng Cối, má nó cưới vợ đem lên cho nó thì sao?”

Có lẽ minh sợ con Ua buồn chăng? Chắc nó sẽ hờn giận ghê gớm nếu mình làm đám cưới với con Chia. Không đúng như vậy đâu. Mình đang nghĩ tới Thu Hà , cặp mắt đẫm lệ sau gốc bằng lăng cứ theo dõi mình hoài.

Tôi mơ hồ nghe tiếng bùn sền sệt khua ột ột theo mỗi bước nhích tới của Quản và Thu. Mắt tôi nhắm hay mở tôi cũng không biết. Những vòm tròn trắng mờ nhạt lao xao tan vỡ trước mặt tôi. Đó là linh hồn sắp lìa khỏi xác. Nó còn bám vía lại như một tơ vương, sợi tơ mong manh mà bất cứ một cử động nhẹ nào cũng làm đứt đi.

Vĩnh biệt niềm vui! Vĩnh biệt tình yêu!

Vĩnh biệt mọi người yêu dấu. Tôi không bao giờ còn có thể trở về dòng sông Tân Bửu của tuổi thơ để gặp lại Duyên nữa . Dòng sông lấp loáng trong dầu tôi như một dãy ánh trăng với chiếc xuồng hai đứa đang bơi lên. Chơi vơi, chơi với….

Không! không phải dòng sông Tân Bửu mà là sông Sài gòn. Sông Sài gòn có giang thuyền, có Bến Dược nơi tôi đứng xem tàu cặp bến. Tôi bị cô xã đội phó nhốt trong vòng. Ồ con sông rộng mênh mông, mênh mông tan loãng ra trong trí tôi Một trái, một loạt M79 bay như những trái vú sữa nhà Tám Phụng hôm nào rơi mà không nổ. Bảy Mô ơi hầm của đội em đã xong chưa? Má vô lần này sẽ không gặp ai . Lan đâu rồi, hãy băng vết thương cho anh. Anh bị một mảnh đạn trúng sau ót, ồ mảnh đạn của thằng Chi. Anh gục xuống rồi. Anh bị thương khắp người. Anh bị cụt chân như thằng Hoa, anh của con Nga, nên Tám Mang chê không làm đám cưới. Anh trở thành thương binh chống hai cây nạng đi khập khểnh trên R. Ông Sáu Nam quát: “Sao mày bỏ con Thanh Tuyền để nó khóc sưng cả mắt?”

Ông Cục trưởng ơi! Ba Lê đẹp lắm nhưng tôi phải về vì trên đời này tôi còn có Củ Chi, Củ Chi là nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, nơi tôi sống và chết nơi này. Kìa cái hòm của thằng Chi bỗng nhiên bật nắp văng tung hai khúc chuối cây. Nó ngồi dậy. Năm Tiều đè nó xuống. Con Chanh chạy lại gào lên. Năm Tiều bảo: “Mày có thương thì chui vô với nó.” Trời! cây xoài múc cao quá, ngộp quá. Ngực tôi như có đá đè . Ừ cái tấm đá tròn nắp địa tầng hai, con Thu nó ném trên ngực tôi. Tôi muốn la lên muốn vùng dậy mà không nổi. Ai bóp cổ tôi, ai ngồi trên ngực tôi? Con quỉ! con quỉ!

Tôi vùng lên. Tôi phá tan cái địa đạo. Tôi bắn thằng Mỹ đang lui cui moi nắp hầm. Ha ha ha… con phóng viên lại tới.mở sắc cốt lấy ra một trái tim máu đỏ ròng ròng. Ô ! miếng thịt chó của Ba Tiến. Ồ! nàng Út! cho em xin một đứa con! Em sẽ bỏ cái chức khu ủy này. Mấy bà Hai Xót Năm Đang còn họp suốt đêm ở đó với mấy lão già dềnh. Sông Sàigòn trắng xóa vỡ ra thành biển…

Chương 63

Cái chết của ông Tư Lịnh Pháo Binh Quân Khu

Tôi nghe có người ôm lấy tôi dựng tôi ngồi dậy.

– Anh Hai ! Anh khỏe không. Ráng chút nữa, tới rồi.

Mùi dầu nhãn đã nhạt. Chỉ còn mùi tanh của đất và bùn. Ba Tiến đưa tôi cái gói cầm tay. Miếng sườn chó y tặng cho tôi mừng chiến thắng. Thịt mèo xui mà thịt chó cũng xui. Bỗng thấy một vầng ánh sáng trước mặt. Tôi nhắm tít mắt lại trong một cảm giác sợ hãi và kêu lên như sau một trận đá ve chai.

– Cái gì vậy Thu?

– Hổng biết, để em trườn tới coi.

Thu vụt bò nhanh tới trước rồi bỗng kêu lên thất thanh.

– Chết rồi anh Hai ơi !

– Mỹ khui bật nắp hả?

Tiếng chết trong không khí này làm tôi bừng tỉnh cơn ác mộng.

– Không. Đây không phải là miệng địa mà là cà nông!

– Cà nông gì? Sao nó nổ mà mình không nghe?

– Đây là trái cà nông nổ ngay xương sống địa.

– Rồi làm sao?

– Mình vọt lẹ rồi chui qua phía bên kia.

Hèn gì nãy giờ tôi nghe tiếng trực thăng khá to. Đó là do cái quãng trống này. Cũng nhờ cái khúc đứt, không khí tràn xuống mà tôi tỉnh lại. Địa đạo như con rắn bị chém đứt ngang lưng. Thu bảo:

– Mấy người đi trước mình chắc đã chui qua đây rồi lủi qua tuốt bển.

– Thôi mình lên luôn đi. Tao không còn muốn đi đường Thống Nhất nữa !

– Không được. Em nghe mùi Mỹ khắp ở đây anh ạ . Mình phải chui thôi.

– Cái sóng địa bị lộ ra như vầy, nó biết hướng nó phăng theo hoặc đánh hóa học mình cũng chết. Thà lên mặt đất chạy mà còn hi vọng sống hơn.

Quản không nói gì, cứ đẩy tôi vào lỗ . Tôi nghe lạnh xương sống, tưởng tượng mình là rắn mối, bò qua khúc đứt, thằng Mỹ đứng sẵn đó, giương lưỡi lê ra đâm phập vô lưng. Cái hố cà nông sao mà mênh mông, tôi lóc mãi mà chưa qua được.

Ánh nắng, mùi khét, tiếng trực thăng tràn xuống địa đạo. Tôi trườn tới. Khúc địa này rộng rãi và khô ráo hơn. Nếu thằng Đỏ không chạy lạc thì giờ này mình nằm yên trong ngách của mình chớ đâu phải cuốn theo nhân dân. Càng đông nhân dân càng dễ lộ, dễ chết. Còn dân thì không thích cán bộ lẫn lộn vì nếu bị khui hầm sẽ liên lụy. Cá với nước không còn yêu nhau nữa. . .

Tôi bị Thu l6i và Quản đẩy băng qua lỗ cà nông và lại chuồi vào lòng địa. Nhưng Thu lại bảo:

– Tầng một bị cắt như vầy mình phải trở xuống tầng hai anh ạ .

Nghe Thu nói tôi rã rời chân tay. Phía sau tôi mấy người khác cũng băng theo. Tôi nghe mơ màng họ bàn tán với nhau và hiểu rằng họ sợ Mỹ thấy cái quãng đứt này và chúng đang đào xới. Quả thật tôi nghe có tiếng sực sực. Tôi cố sức lết theo Thu. Thu đi tiên phong được một quãng thì tìm được miệng xuống tầng hai. Cũng một tấm đá xanh như lúc nãy.

Tôi thọc hai chân tuột xuống. Thân mình tôi rơi xuống lòng hầm như một khúc gỗ . Tiếp tục cuộc hành quân bò trườn. Nơi nào không có ánh sáng vào, thầy thuốc phải tới. Ở đây không có ánh sáng nhưng thầy thuốc nào? Dầu nhãn đã hết mùi. Và có lẽ nó không làm cho tôi khỏe lại nổi. Mắt tôi đã thấy như vòng trắng đục nở ra và tan như bọt xà phòng.

Tôi đưa cái sắc-cốt cho Quản như trối:

– Hai em cất kỹ . Kế hoạch tác chiến và tiền của người ta vừa cho anh. Khi nào về làm liên hoan cho anh em. Nhớ đem giấy tờ đưa cho anh Năm Lê.

– Em biết mà .

– Anh đừng lo. Ráng tới chút nữa ! Chắc đường này dài lắm.

– Chừng bao xa thì mút? Có nắp trổ lên không?

– Chừng… chút… nữa thôi. Chắc đến ba, bốn trăm thước thì có đường lên.

Tôi không còn nghe gì nữa hết. Tôi nằm vật ngửa ra, tai nghe Quản bảo Thu:

– Cô ở đây với ảnh, để tôi dò đường coi sao.

Tôi nghe Quản bò qua mình tôi, cả tiếng khua lạch bạch của quần áo đẫm bùn. Chiếc sắc-cốt kéo lê trên ngực trên mặt tôi. Tôi gắng gượng hỏi.

– Bây giờ mấy giờ rồi Thu? Em đi đi để anh nằm tại đây !

– Chắc đúng trưa.

Rồi tôi mơ hồ nghe tiếng của Thu:

– Mấy ông mấy bà cứ bò qua, ảnh bò hết nổi rồi nên nằm đó. Đừng có quì trên ngực ảnh.

Tôi nghe những cái đáy quần nặng trĩu bùn đất phớt qua mặt tôi, những cái đầu gối ấn lên chân, lên bụng, lên ngực, nghe cả một câu nói ác mồm ác miệng như lúc tôi sốt rét ở Trường Sơn, liên lạc đến võng giá mùng lên xem mặt rồi bảo:

– Thằng cha này chắc chết!

– Cứ tết qua đi má sấp nhỏ. Thằng cha này hết thở còn nằm cản đường.

– Lẹ đi, bò theo tía mày!

Tôi nghe Thu kê đầu tôi lên bắp vế nàng. Nghe mùi dầu nhãn thoang thoảng. Nghe giọt dầu lẫn bùn sệt rơi vào nhân trung lẫn môi mũi tôi. Nghe tiếng kêu, bàn tay nắm tóc tôi lắc lắc và tiếng the thé:

– Anh Hai ơi! anh Hai! Anh sao vậy? Anh đừng chết! Anh ở đây thì em cũng ở đây với anh!

Tôi nghe tiếng cả má tôi, giọng nói của ba tôi vọng lại từ lòng đất âm u!

– Má mày muốn có cháu bồng…

Trái tim tôi bị đè nặng và ngưng đập…

Hỡi nhân loại ngây thơ đui mù và ngu muội!

Ta đã bảo mi biết bao nhiêu lần rằng cái địa đạo Củ Chi Xóm liền xóm, thôn liền thôn, xã liền xã là một trò bịp tại sao mi vẫn cứ đâm đầu vào xem và để cho bọn nó móc túi? Đây, ta xin nói lại một lần nữa. Hồn ta sẽ bay đi đập cửa từng nhà, nói vào lỗ tai từng người rằng địa đạo Củ Chi chỉ là những hang chuột. Từ năm 65 trở đi, khi loạt bom B52 rắc xuống đường 15 thì nó mất tác dụng dần và đến năm 67 thì chẳng còn ai mong sự che chở của địa nữa, có chăng nó dùng làm mồ chôn tập thể cho nhân dân Củ Chi.

Đây, hồn ma của Dương Đình Lôi, Tư lệnh pháo binh Quân khu IV, Tiểu đoàn trường Tiểu đoàn Thép Củ Chi, Quận đội trường Củ Chi, Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Trung đoàn Quyết Thắng Quân khu IV, người đã lăn lộn với Củ Chi năm năm liền không vắng mặt một ngày nào kể từ 1965 đến 1970, vẽ lại bản đồ của địa đạo Củ Chi để trình cho nhân loại ngây thơ một lần nữa: Bắt đầu từ Rừng Cả Chúc trở xuống:

  • Ở rừng Lộc Thuận có hai đoạn ngắn không thông nhau, hình chữ L cộng chung chừng 1000 thước.

  • Ở Xóm Dược, gần căn cứ Hậu cần nằm lọt giữa chữ U của sông Sài gòn chưa được 1000 thước.

  • Ở tả ngạn rạch Thai Thai, cách bờ sông Sài gòn 2 cây số có một đoạn chừng 1000 thước.

  • Ở cách rạch Hố Bò non một cây số (nơi mệnh danh là mật khu) có một đoạn 1000 thước.

  • Ở đồn điền cao su Phú Hòa gần xóm Sa Nhỏ (tôi có đào) có một đoạn 1000 thước.

  • Ở hữu ngạn rạch Hố Bò, giữa căn cứ của tiểu đoàn Quyết Thắng và nhà cô Là có một đoạn hơn 1000 thước.

  • Ở Xóm Thuốc (căn cứ khu ủy) nơi tôi vừa họp với khu ủy có một đoạn chừng 2000 thước.

  • Ở quá Xóm Chùa có một đoạn ngang đường 15 có một đoạn chừng 1500 thước.

  • Ở rừng làng An Nhơn (tôi đã tham gia đào với đội du kích Bảy Mô) có một đoạn 1000 thước.

  • Ở xóm Trại Bà Huệ (tôi cũng có tham gia đào với đội du kích Bảy Mô) có một đoạn 1000 thước.

  • Ở gần căn cứ Tiểu đoàn 8 vùng Sa Nhỏ có một đoạn ngắn đào rồi bỏ dở 700 thước.

  • Ở rạch Bến Mương gần căn cứ H6 (nơi tôi đang thọ nạn) có một đoạn chừng 500 thước.

  • Ở gần nhà Bảy Mô (tôi có cho lính và tôi đích thân đào) có một đoạn chừng 1000 thước.

  • Ở gần Ngã Ba Cây Điệp (tôi cũng cho lính tôi đào tiếp) có một đoạn chừng 1000 thước.

  • Ở Bàu Lách (nơi Năm Cội chết hụt, tôi có đào với đám du kích Phương, Nề, Lan) 1000 thước.

Vài ba chỗ khác đào rồi bỏ vì bất lợi hoặc đụng mồ mả. Cộng với những địa đạo thời chống Pháp đem được cả trâu bò xuống v.v. . . Tất cả tới 200 miles tức là một đường dài bằng năm lần Vũng Tàu – Sài gòn?

Hỡi nhân loại văn minh cực điểm, hãy dùng máy điện toán làm dùm bài toán cộng của học trò mẫu giáo!

Những hang chuột gần đồn Trung Hòa nhất (cách bốn cây số) là địa đạo Gò Nổi. Địa đạo gần Đồng Dù nhất (ba cây số) là Bào Cạp, nhưng cả hai đều bị xe tăng ủi láng rừng năm . 1966 và mở rộng phạm vi kiểm soát gài mìn nên du kích không dám bén mảng tới nữa.

Ở ven đường 2 Làng có một đoạn chừng một ngàn thước, một đoạn khác nằm kẹp giữa hai bót Hương Chính chỉ đào không kịp dùng rồi bỏ luôn vì sợ xe tăng ủi.

Đi quá về hướng Bến Đình gần Một Nước Nhỉ có một đoạn cắt ngang đường 15 nhưng cũng không ai dám dùng, nên không rõ là dài hay ngắn.

Đó là tất cả hệ thống địa đạo Củ Chi thôn liền thôn xã liền xã của đài Giải phóng được đài Hà Nội tô thêm thành ra một cái chiến lũy Maginot của Việt Cộng ăn xuyên cả căn cứ Đồng Dù. Một điểm cần nhớ là không có đoạn nào dài được hai cây số và không có đoạn nào thông thương với đoạn nào. Tôi đã từng đi kiểm tra, được du kích xã đội đưa đến tận nơi để xem xét.

(Khi gặp bước đường cùng vô kế khả thi, thì cũng đành vô kỹ luật mà nhét lính của mình vô bụng địa vậy, như hôm nay).

Tôi đã nói ở trước rằng ông Tư lịnh Ba Đình (tức là Ba Xu) đã nghiêm cấm lực lượng võ trang (tức là bộ đội và du kích) không được chui xuống địa đạo từ sau trận B52. Do đó người ta ngoảnh mặt dần với địa đạo: không đào cái mới đã đành cũng không chăm sóc cái cũ cho nên mới có tình trạng toàn dân là trong bùn như vừa thấy. Ngoài ra lại còn những đường hầm tốt, nhưng lại có ông bà du kích theo gia đình ra ấp chiến lược, nên không ai dám dùng. Đã có trường hợp quân ta ra đầu quân nó rồi dắt quân nó trở về khui hầm quân ta rồi. Ê chề, phức tạp và hãi hùng lắm bà con ơi. Chỉ có ba thằng nhà báo bất lương mới mô tả địa đạo như những phòng có máy điều hòa không khí thôi!

o O o

Tôi từ từ mở mắt ra sau một chuyến công du âm phủ. Ánh sáng lờ mờ. Mùi đất tanh rình. Tôi nghe da mặt nóng hổi, nghe tiếng người lao xao: Và nghe toàn thân rêm rẫm như một trái chín bầm rập, tứ chi không còn dính vào người. Nếu ai lôi mạnh chắc chúng sẽ rã ra từng mảnh. Mũi tôi nghe mùi gì hăng hắc là lạ. Một giọng con gái vang bên tai tôi.

– Anh Hai !

Tôi mở mắt ra to hơn. Tôi nhận ra Thu chập chờn như một ảo ảnh. Môi tôi mấp máy nhưng không ra tiếng. Tuy vậy cũng ráng sức:

– Thằng Đỏ chạy đi đâu chưa về?

– Còn… thằng Bọ…

– Cũng đâu mất biệt!

– Mỹ rút, nhưng còn cụm quân đâu đó chớ chưa về Đồng Dù .

– Khỏe chưa anh Hai?

Tôi lại nhận ra tiếng Thu. Tôi nhướng mắt thay cho cái gật đầu. Tôi thấy Tám Đột ngậm điếu thuốc trên môi, tôi le lưỡi ra dấu. Tám Đột rút điếu thuốc cắm vài môi tôi. Tôi mấp máy rồi phun ra. Tám Đột cười ngất:

– Đòi cáp tăng hả thầy?

Tôi lại nhướng mắt. Quản sực nhớ, nói ngay:

– Để tôi ra tiệm con xẩm lai lấy.

Nói xong móc chùm chìa khóa run run trước mặt tôi rồi lùi ra. Thu đỡ tôi ngồi dậy. Một ly sữa trắng được đem tới. Thu cầm đưa vào miệng tôi. Tôi khẽ hớp, nuốt tới đâu nghe ấm tới đó. Tôi khỏe dần. Nhưng tôi vừa ngồi dậy thì lại ngã xuống.

– Khoan đã ông thầy. Thầy biết đây là đâu không?

Tôi lắc. Tám Dột bảo:

– Còn ở dưới hầm. Mỹ rút hết rồi. Tôi cho gỡ nắp hầm để bà con bò lên và thầy có không khí thở. Nếu nó chốt trên đầu chắc tụi mình chết hết. Thôi, đi lên, thầy!

Tôi cố bò theo Tám Dột ra cửa hầm. Tám Dột đã lên trước chờ tôi đưa tay. Y nắm tay rồi lôi tuột tôi lên như bắt một con nhái từ trong hang ra. Tôi nằm dài. Không biết đây là đâu. . Mặc kệ, miễn ở trên mặt đất. Tôi thấy cây cối quay như vụ.. Tôi nhắm mắt lại để bớt chóng mặt. Tôi thấy như tôi ôm lấy gốc cây. Gốc cây cũng xoay vần như sắp đổ. Tôi ngã vật theo. . Không! tôi đang nằm trên mặt đất cũng xoay tròn.

Tôi nghe nắng rát da mặt. Không biết bao lâu thì ngồi dậy rồi đi được. Những người quanh tôi: Thu, Quản, Tám Dột …kẻ mang đồ người dắt tay tôi, rí rố luôn mồm. Như một người bịnh dậy tôi cố lê chân, đầu nặng chịt. Tôi đi giữa những bụi tre trúc khét lẹt, nám đen. Căn cứ của quân đội hình như bị ăn bom hay cà nông, tan tành. Không biết đường sinh lộ Tám Dò có ăn thông ra địa đạo hay không? Bảy Phán, cô nấu bếp chạy ngã nào? Biết bao tan vỡ sau một trận ruồng.

Một chiếc trực thăng loại chỉ huy bất thần xuất hiện từ phía Bến Mương đâm tới, đây không phải là lần thứ nhất. Thu ấn tôi vào một bụi chuối cháy xém ! Bất thần tôi hôn nàng và thầm thì :

– Không có em chắc anh chết.

– Em sợ anh chết quá trời. Em tưởng anh chết rồi.

– Anh chết bao lâu hả Thu?

– Hồi rồi ở tầng hai anh nói như trối.

– Anh trối thật chớ như gì !

– Anh chết thì em cũng chết theo.

Tôi lại hôn nàng thay lời đền ơn cứu mạng.

Quần áo muối bùn. Bùn từ đầu đến chân, mặt mũi, như bắt cá dưới đìa mới lên. Đường sá vắng hoe. Nếu gặp người quen chắc ông Tư lịnh Pháo binh mắc cỡ chết. Chiếc trực thăng liếc sơ một vòng rồi biến mất về phía đường 15. Thu lại nắm tay tôi như mẹ dắt con đi chợ. Qua một giấc mơ kinh khủng, tôi bước chập chờn như đi trên sóng đại dương. Tôi hãy còn say sóng y như khi bước lên bãi cát Sầm Sơn lúc tàu Liên Xô đưa tôi ra miền Bắc mười năm trước. Tôi gượng đi theo nàng lòng dạ nôn nao, cổ họng lợm tanh, bụng cồn cào, tôi phải nuốt gặn để tránh một cơn nôn. Đây lại cũng là một loại La nausée quyển sách của cô xẩm lai bán nước đá cho tôi mượn hồi năm ngoái ở chợ An Nhơn?

Qua ngang nhà vợ chồng Út tôi hỏi Thu:

– Lúc mình chui hầm em có thấy vợ chồng nó chạy đâu không?

– Em đâu có gặp. Chắc chỉ tránh né đâu đó còn ảnh đi qua Thanh An gặt lúa. Anh hỏi chi vậy?

Tôi biết bụng cô nàng, nên gạt ngang:

– Nó có chồng con, em đừng nghi oan cho nó .

– Nghi oan gì !

Tôi bị chọc trúng tim đen nên im luôn. Quả tình nàng Út cũng có ý xin tôi một tí con. Nàng than thở với tôi: “Chồng em khờ quá hà ! Em không muốn có một người chồng như vậy! “Củi tre dễ nấu… em ơi!” Tôi dọa mách cho chồng nàng, nàng có hơi sợ nên né ngang “Em nói với má em rồi! Má vô đây để kêu con Mót về gả cho anh.” Tôi đâu có để ý gì và cũng không biết cô Mót ra sao nữa. Thu bảo:

– Má Hai đang ở trong nhà đó. Bả từ ngoài ấp chiến lược về thăm con, không biết đã trở ra chưa? Vùng này người ta ra ra vô vô . Em chắc cơ quan mình bị lộ .

Về đến nhà , tôi mừng quá . Tưởng đã ngủ Giấc Ngủ Mười Năm của Trần Lực. Nhà cửa hầm hố còn y nguyên không bị đánh phá chút nào. Mỹ chỉ moi hầm, khi nào chúng tìm được miệng hầm thì mới đặt mìn hoặc bơm chất hóa học đến kỳ cùng, chớ không chơi trò đốt nhà và bắn ẩu như tụi Pháp hồi trước. Trong thời kỳ kháng chiến, mỗi lần Pháp ruồng, bà con xóm ấp chạy trốn, đến khi về, nhà cửa ra tro. Có xóm chúng đốt rụi không còn nhà nào hết. Chúng thi hành chánh sách tiêu thổ dùm cho cụ Hồ. Bất thần thằng Đỏ ló đầu ra cửa hầm, kêu lên chát chúa rồi vọt lên ôm lấy tôi rồi khóc òa.

– Anh Hai ! Em lo cho anh Hai quá trời !

Đám nhân viên của tôi mặt mày còn thất sát hồn kinh cũng ùa tới mừng thủ trường chết đi sống lại. Thằng Đỏ nhìn bộ đồ và mặt mũi bắt hôi đìa của tôi chắc nó cũng hiểu. Có lẽ nó ân hận vì đã bỏ thủ trưởng chạy lạc. Nó quệt nước mắt:

– Anh về ăn đồ hộp, em lượm nhiều quá tay.

Tôi bước từng bậc đất xuống hầm, nằm vật ra chiếu ai trải sẵn. Cái mùi đất tanh nồng ở địa đạo trở lại mũi làm cho tôi nôn thốc nôn tháo cả ly sữa. Đám thằng Mười thằng Lộc trinh sát và Năm Di (vừa về thay cho Chi) rí rố điếc tai. Chúng khoe sự khôn ngoan tránh né hoặc về kinh nghiệm chui địa đạo của mình. .Thằng Mười nói:

– Sao anh để quần áo y nguyên vậy mà xuống địa đạo?

Tôi gắng gượng đáp:

-Vậy ở truồng à?

– Xuống địa đạo thì phải như tụi em như vầy nề chớ mặc quần áo chịu sao nổi? Đàn bà ở trần được họ cũng cởi. Ở dưới không có đủ hơi cho mình thở anh mặc như vầy không khác nào bịt mũi của anh. Anh hổng chết là may lắm!

Đó là một kinh nghiệm bất ngờ về việc xuống địa đạo mà bây giờ tôi mới hiểu ra bằng khoa học: ở dưới hầm không đủ dưỡng khí nên bật hộp quẹt không cháy và ở trần thì da mới thở được! Do đó lúc đầu mồ hôi tôi vã ra rồi sau đó thân thể khô ran như bị sấy. Quản sừng sộ:

– Tụi bây bỏ anh Hai mà chạy, vậy là phải kiểm thảo ghi lý lịch nghe chưa. Đừng có nói láp đáp để chạy tội.

Thằng Đỏ nghênh mặt:

– Em đã biết tội rồi… Nhưng tại Mỹ nó đổ chặng giữa. Em đang chạy lấy tin rồi trở về không được. Nhưng em đã chỉ đường đi nước bước hết rồi. Chỉ cũng biết cái miệng ngách của mình, chớ bộ mình em sao?

Tôi gạt phắc:

– Thôi, rút kinh nghiệm kỳ sau ! Bây giờ Mỹ cụm ở đâu?

Thằng Đỏ hớt:

– Tụi nó đang cụm ở Sa Nhỏ, Bào Lách, Hố Bò !

Thằng Đỏ lôi một cái bao ni lông loại Mỹ dùng đựng cát đắp công sự, nắm đít bao dốc ngược. Nào hộp, nào lon đổ túa ra đất. Nó huênh tay:

– Mỹ đãi tiệc mình đó anh Hai, cái này là thịt bò, cái này là thịt heo, cái này là thịt nhồi, ăn đã lắm. Chỉ thiếu bánh mì. Nhưng ăn với cơm nguội cũng ngon. Ăn rồi thì uống cà phê nè, hút thuốc nè. Ủa mà quên trước khi hút, mình còn ăn la-sét trái cây hộp cái đã chớ!

Thằng Đỏ tỏ ra là chuyên viên đồ hộp. Nó giơ một hộp tròn to cho Thu rồi lấy một hộp vuông nhỏ bảo.

– Còn cái này là mỡ heo cho chị Thu. Cái này là bơ dùng chiên cá hoặc rang đậu phộng cũng được.

Rồi nó khui đưa cho tôi một hộp, nói:

– Cái này là thịt heo nạc, anh ăn hết một hộp no cả ngày. Ủa, mà còn bánh Tây nữa. Chắc là ăn chung với thịt heo. Quên nữa còn cái hộp này là lạp xưởng hay cái gì em không hiểu nhưng cũng là thịt!

Nó đưa vành hộp lên nhe răng cắn và khui ra:

– Thấy chưa, nó có lọn có lọn như đạn cà nông 37 ly vậy. Quất một viên là no tới họng. Nè anh coi, mỗi thứ em đều thử qua, cái bụng phát ách. Chậc ! ăn hút xong, còn nước cam, xá xị nữa chớ.

Thằng Đỏ nhặt một hộp, khui cái pách bọt sôi trào, đưa cho tôi:

– Anh Hai làm vài hớp cho hết mắc ói.

Tám Lù chạy đến, vẻ mặt phấn khởi:

– Tụi Mỹ ra Bàu Đưng hết rồi. Không có ai chết hết. Mình thắng trăm phần trăm. Ủa, có một người chết không biết là ai.

Thu để tay lên ngực:

– Vậy mà làm người ta hốt hền. Ủa, hết hồn.

Tám Lù buông cây AK rồi hai tay trút cái bao ni lông.

– Mình nằm tréo cẳng ăn hút khỏe ru ! Mỹ nó tiếp tế cho mình đây!

Tám Lù làm ấp đội trưởng trước kia ve vãn con Út, định tống chồng nó đi Phước Long để ở nhà kiếm chát nhưng từ khi tôi nhận thằng Út vào cơ quan làm trưởng tổ tự túc và phát cho AK thì Lù đâm ra đàng hoàng và tích cực công tác . Tám Lù khoe:

– Ở ngoài Ngã Ba Cây Điệp đồ hộp còn vô số kể. Giống như mình rãi lúa cho gà ăn ! Tụi dũng sĩ của thằng Cội và con Bảy Mô đang giành lộn ở ngoải.

Tám Lù lại tiếp:

– Tôi leo lên ngọn cây quan sát thấy rõ hết… Nhưng có một cái xác chết anh ạ.

– Ở đâu?

– Ở sân nhà ông Ba Giáo.

– Ai vậy?

– Không biết. Tôi chạy ngang thấy chớ không có vô coi mặt. Dám lính D7 lắm.

Tôi quát:

– Không D7 thì H6 mình chớ không ai vô. Chạy ra coi mau !

Mấy cậu nhỏ chạy vụt đi. Một chốc trở về. Một cậu nói:

– Tụi Mỹ chơi ác thật anh Hai à . Nó xúc đồng bào đem đổ ra ấp chiến lược ráo trơn. Bây giờ không còn ai ở nhà hết. Và phá lúa, đổ dầu xăng vô gạo.

“Nó đôn mình tận gốc” tôi thầm nghĩ nhưng không dám nói ra. Ba Tâm, Năm Dị trở lại báo cáo:

– Thằng Đức trinh sát của mình anh Hai à.

Tôi nhảy dựng lên, Ba Tâm nói:

– Tay chân đã cứng đờ.

Năm Dị nói:

– Có lẽ nó chui xuống địa đạo rồi bị hóa học.

– Sao tôi không bị?

– Vì anh xuống tầng hai. Nếu ở tầng một thì bị rồi. Hóa học có thể xuyên qua đất cát hoặc đất cát pha chớ không xuyên qua đất thịt được.

Thu bảo:

– Anh lấy rượu cồn xoa bóp tay chân ảnh cho ngay ra.

– Đem nó vô nhà. Thằng này… chạc… Thằng Chi mới chết, nấm mả chưa khô !

Tôi đứng phắt dậy, lảo đảo lại ngồi xuống:

– Để tôi lại nhìn mặt nó chút rồi hãy chôn.

Năm Dị cản:

– Anh còn yếu lắm để tụi tôi lo.

Rồi cả đám chạy đi. Tôi dựa vào vách hầm, mắt hoa lên, đầu như con vụ, thì Quản chạy vào:

– Anh Hai ơi, có bà nào muốn gặp anh.

Tôi hét:

– Không có đàn bà nào hết, Đàn bà, lúc nào cũng đàn bà. Để tao nghỉ.

Quản lùi ra rồi chạy vào, lắp bắp:

– Người ta dắt con đòi gặp anh.

Tôi nghĩ chắc là Mười dắt con bé Hoàn tới. Đàn bà nào chớ đàn bà này đuổi sao nổi. Nàng đã cho tôi cả trái tim, cả cuộc đời chưa biết chừng một đứa con. Nàng tự xem nàng là của tôi và tôi cũng coi tôi là của nàng, không biết chuyện gì làm cho tôi ngại ngùng tiến tới một bước nhỏ để hợp thức hóa vợ chồng. Tôi bảo:

– Ừ cho vô đi !

Quản trở ra dắt người đàn bà vào. Đi theo sau là ba đứa con nít. Bà ta lại mang cái bụng chửa gần ngày. Đâu phải nàng nào của tôi. Người đàn bà van lơn khi vừa trông thấy mặt tôi.

– Ông chỉ huy ơi, ông làm ơn làm phước cho tôi xin ít lít gạo nuôi con.

Trước cái cảnh thảm thương, tôi chưa kịp nói thì bà ta tiếp:

– Em là Sáu Bầu xin lạy ông tha cho. Xin ông chỉ huy đừng bắt tội.

Bà ta lặp lại tiếng tội làm tôi bực mình.

– Tội gì hả?

Người đàn bà nói:

– Tội đã vô phép.

– Tôi gặp bà ở đâu mà bà vô phép?

– Dạ ở dưới địa đạo. Tôi đã bò qua mình ông chỉ huy.

Tôi nhớ ra lúc tôi ngất xỉu dưới đó . Có người đàn bà chửi ở trước mặt tôi chớ có bà nào ở phía sau tôi đâu mà bò qua mình tôi. Bà ta nói tiếp liên miên:

– Dạ tôi ở trước mặt ông, trám bít đường hầm, người ta la ó, tôi phải bò tới và lôi mấy đứa nhỏ đi theo. Tụi nó khóc la thiệt là khổ. Hồi nào tới giờ tôi có biết địa đạo là gì nên không chịu xuống. Người ta bảo ở trên này Mỹ hãm lọt con, tôi sợ nên mới xuống. Chẳng dè xuống ngộp quá mà lủi trở ra để lên mà không được người ta cứ đẩy tới. May sao tôi đụng một cái ngách ba mẹ con nép vào cho người ta bò qua. Một lát thấy ngộp quá tôi bèn lôi mấy đứa nhỏ đi tiếp. Do đó mới bò qua mặt ông.

– Sao chị biết là tôi?

– Tôi nghe cô Thu kêu thủ trưởng thủ trưởng.

– Chị quen với cô Thu hồi nào?

Chị Sáu bắt đầu xưng em.

– Dạ cổ qua quán Chệt Tư mua đồ hoài hà . Em ở mướn cho Chệ Tư. Hồi sáng trước khi Chệt Tư dắt con gái chạy ra Trung Hòa, Chệt Tư có bảo em mua xin gì vô ông chỉ huy. Chệt Tư đã bán cái quán và giao chìa khóa cho ông chỉ huy rồi. ông chỉ huy làm ơn cho em xin ít lít gạo.

– Được rồi, chị theo tôi.

Tôi đứng dậy liền không ai can được nữa. Tôi đến chỗ thằng Đức chết. Nó là dân Hà Nội, mới 19 tuổi vừa hết lớp 10. Thấy thằng nhỏ lanh lẹ và có văn hóa tôi cho nó ở bộ phận trinh sát đôi khi dắt nó đi làm quan trắc pháo vì nó tính toán nhanh. Trời ơi, con ai vậy?

Năm Dị và Ba Tâm đang phun rượu phèo phèo vô mình nó, vừa phun vừa bịt mũi nhăn mặt kêu:

– Thúi rồi, thúi rồi !

Ba Tâm đang sửa tay nó ngay ra cặp hai bên hông. Thấy tôi vào Năm Dị hỏi:

– Làm sao chôn hả thủ trưởng? Thằng Chi chết vậy mà sướng!

– Sao nó chết vậy?

Bỏ cho Ba Tâm làm việc với cái xác, Năm Dị dắt tôi vào nhà, giải thích:

– Chắc thằng nhỏ thấy Mỹ , chạy vô đây chui hầm nhưng không kịp, bị nó bắn. Cái nắp hầm mở tác hoặc. Chắc nó bắn rồi lôi xác để ngoài sân để bơm hóa học xuống hầm. Không biết dưới ngách này có ai chết không?

Tôi quay trở ra, bụng không biết tính cách nào chôn thằng bé cho tươm tất. Nếu biết cái thảm cảnh này, cha mẹ nó dù có nhận được một thúng Huân Chương Sao Vàng cũng vứt đi. Rồi đây còn ai nhớ mồ mả của nó. (Thật vậy, đám chôn nó hôm nay, rồi cũng không còn người nào.)

Tôi bảo Ba Tâm theo tôi ra tiệm Chệt Tư lấy chiếu và ni-lông vải về quấn thằng bé rồi chôn sau vườn nhà, cái nhà bỏ hoang lâu rồi, một tổ trinh sát của tôi đóng ở đó. Đào hầm moi ngách ở đó. Và thằng bé cũng chết vì cái ngách đó.

Chị Sáu Bầu lại xuất hiện. Tôi bảo:

– Chị lấy gạo đi.

Chị ta kêu tôi bằng anh.

– Anh Hai cho bao nhiêu?

– Chị muốn xúc bao nhiêu xúc !

– Tôi xin chục lít thôi anh Hai à. Của người ta mà lấy như vầy khó coi quá !

Tôi nhìn chị, bụng nghĩ thầm: “Sao có con người không tham lam thế này?”

– Chị cứ lấy về nuôi sấp nhỏ. Chẹt Tư đã bán cho tôi rồi. Tôi cho chị chớ không phải chị lén lấy mà sợ.

Chị chần chờ không chịu xúc gạo, có vẻ e ngại thật chớ không phải làm bộ. Chị cười cười:

– Chắc anh Hai chê em lắm hả ?

– Thôi xúc gạo đi bà ơi, để tôi khóa cửa. Tôi còn nhiều việc lắm.

– Chồng em hồi trước cũng đi vệ quốc đàn như anh vậy.

– Rồi ổng đâu?

-Hy sánh hồi có bầu con nhỏ lớn của em mới mấy tháng. Bây giờ nó 17 tuổi rồi! Nó đó!

Nghe nhoi nhói trong tim, tôi bèn nán lại hỏi tiếp:

– Vệ quốc đoàn mà bộ đội nào?

– Anh Hai có nghe nói ông Sáu Khâm không? Ổng về đây đóng quân hồi năm kia. Trong kháng chiến ông làm tiểu đoàn trường còn ba sấp nhỏ là tiểu đội trưởng.

– Vậy thì ảnh ở Tiểu đoàn 302, có đánh trận Bến Súc! Ảnh bị thương hay tử trận?

– Ủa, sao anh Hai biết rành vậy?

– Tôi còn biết mấy chiếc xà lan của Tây chở gạo tiếp tế cho Dầu Tiếng bị đánh chìm ở Bến Đồng Sõi trên sông Sài gòn. Nước sông thúi rùm, bà con không dám xài cả tuần

– Hồi đó anh Hai chừng mười mấy tuổi chớ gì!

– Tôi làm liên lạc cho ông Ba Tô Ký, ông Ba Xu và ông Sáu Khâm nữa.

– Hồi đó em ở bên Đường Long, mới vô Thanh mở cứu quốc đi khiêng thương binh ở Bến Súc về cho bác sĩ Hoa. Ba sấp nhỏ bị thương ở trận đó nhờ vậy mà hai người mới thương nhau. Em mới con thai thì nghe tin ảnh hy sanh trên Bàu Cá.

– Vậy chị chỉ có con bé . . .

Người đàn bà mau miệng:

– Dạ tính gộp con bé lớn và cái bầu trong bụng hiện giờ là sáu đứa cả thảy.

– Ông già của mấy đứa sau là ai?

Chị Sáu hơi cúi mặt.

-Dạ… dạ…

– Bộ giải phóng hi sinh nữa chớ gì, phải không chị?

– Dạ giải phóng nhưng không có hi sinh. Nói ra thì xấu hổ nhưng anh Hai cũng là người trong bộ máy, nên em không giấu làm chi. Anh Hai có biết anh Năm Ngó (tên này sau chứa Võ Văn Kiệt) nhà ở Xóm Chùa bây giờ nghe đâu làm trợ lý dân quân ở chung với ông Sáu Nâu, Năm Cai không?

– Vậy cũng tốt, như chị Chín Kiểu ở với ông Năm Giả chớ gì?

– Phải được như vậy thì báu.

– Chớ sao?

Tôi vốn nghe mấy ông nội Mùa Thu về sụp hầm chông lễnh nghễnh nên hỏi phăng tới. Chị Sáu kể lể:

– Ổng đóng quân nhà em, rồi đêm đêm ổng vô mò em. Em hăm em la, ổng bảo vợ ông ra ấp chiến lược rồi để ổng xin phép đảng cưới em. Nghe vậy em hơi xiêu lòng. Thôi cũng được, để cho ổng vô, mình dựa ổng mới chống lại du kích nổi.

Tôi giựt mình hỏi.

– Sao chống du kích?

– Trời ơi, anh không biết hay sao? Em không có sợ lính Sài gòn và Mỹ bằng du kích đó anh Hai à.

– Sao vậy?

– Mỹ càn qua cơn rồi xong, như lúa bị nước tràn, mẹp rồi đứng dậy, còn du kích như con rầy đậu hoài trên lá, rồi như con sâu đục vô trong ruột. Họ xin hủ mắm, mình cho, mai họ tới xin con gà. Mình cũng cho luôn, bữa kia họ mượn gạo mình không có, họ chửi. Đờn bà góa khổ lắm anh Hai ơi!

– Chị đụng Năm Ngó cũng tốt, có sao !

– Ổng ở với em có hai đứa rồi đi đâu mất không ló về nữa. Em không có gì nuôi con, bèn dời về chợ An Nhơn ở mướn cho Chệ Tư. Thằng này cũng không có vợ. Nó bắt em làm vợ nó. Em lọt ra một đứa nữa. ông Tám Đột thấy vậy bèn kêu em đến điều tra, hỏi sao không có chồng mà đẻ hoài? Ổng dọa họp dân lập biên bản. Em sợ ra đó người ta mắng mang nhục. Tưởng sao, ông cũng như Chệ Tư, Năm Ngó . Em đẻ một đứa với ông và cái bầu trong bụng này cũng của ông. ..

Tôi hỏi:

– Bây giờ Chệt Tư đi rồi chị ở đây làm sao sống?

– Ông Tám Đột biểu ở trong này ổng lo.

– Rồi ổng có lo gì không?

– Cái thân ổng còn vác không nổi còn lo cho ai? Nhưng nếu em ra Trung Hòa thì làm sao sống? Nghèo quá nên em mới tắp bậy tắp bạ tìm chỗ nhờ cậy ai dè người nào cũng xài xễ em chớ không có giúp đỡ chút nào. Em nghe bà con nói anh là người nhơn đức nên em liền tới xin.

– Chính quyền có biết chị là vợ tử sĩ không?

– Biết chớ sao không? Ông Tám Đột biết cả chồng em nữa! Em thấy tủi vong linh cho chồng em lắm, nhưng ngộ biến phải tùng quyền. Ổng bảo cãi ổng, ông cho mò tôm.

– Bây giờ chị muốn ra Trung Hòa không?

– Em muốn lâu rồi mà để bụng.

Tôi móc sắc cốt lấy xấp bạc của cô xẩm lai cho hôm qua, xỉa đưa cho chị ba ngàn:

– Chị cầm lấy ra Trung Hòa làm ăn nuôi sấp nhỏ đừng có về đây nữa.

Chị nhìn tôi, không tin đây là sự thật.

– Dạ, thiệt sao anh Hai?

– Chị về nhà tối nay sắp sửa, mai tôi cho người đưa ra Ràng rồi từ đó chị theo người đi chợ ra Trung Hòa. Nhưng chị đừng cho ai biết. Nếu ai hỏi, chị nói chị ra Ràng thăm bà con rồi về.

Chết! Chết! Đàn bà góa! Trẻ mồ côi! Đó là cách mạng kiểu bác Hồ. Tôi giải quyết xong khó khăn cho người vợ tử sĩ, thấy bớt nhục, định quay đi thì chị Sáu bảo con:

– Lạy cậu Hai đi con. Cậu Hai cứu mẹ con mình đó.

Cô bé nghe lời mẹ quì xuống, tôi xua tay. Chị Sáu nói:

– Hay anh Hai muốn đem nó đi theo, em cho đó.

– Cơ quan còn bề bộn lắm chị à .

– Nó theo em ra ngoài em ráng cho nó đi học để lớn khỏi dốt.

Chệt Tư để lại cho tôi cái quán, nhờ đó mà tôi giải quyết được bao nhiêu chuyện cấp bách. Tôi trở lại chỗ đám thằng Đức thì Ba Tâm và Năm Dị đã chôn xong. Ba Tâm nói:

– Tôi lấy tảng đá xanh để trên đầu mộ làm bia. Sau này sẽ tính.

(Sau này là bao giờ? Chẳng bao giờ cả. Chôn người để đội người đem chôn mình. Ở Củ Chi này, cái chết như nháy mắt. Vừa mở cửa mả cho thằng cán bộ đại đội lại chôn thằng tiểu đội trưởng. )

Tiện đường ghé thăm Sáu Phấn, nhưng trong bụng thì có ý xem mẹ con nàng Mười ra sao. Vừa vô tới sân đã nghe tiếng nói râm ran trong nhà như có đám tiệc. Tiệc gì lúc này? Hay là có người chết nữa? Tôi nghe ơn ớn xương sống. Nhưng khi vô nhà thì rõ ra là Sáu Phấn mần heo. Y có con heo bồ sợ Mỹ bắt.nên làm hàng chia cho các cơ quan trong vùng.

Thấy tôi vào, Sáu Phấn vui vẻ:

– Thầy Hai ngồi đó nghe. Chiu xíu có tiết canh đem về lai rai.

Tôi gắt.

– Thằng Đức chết rồi ông không hay à ?

– Chết hồi nào? Chết ở đâu? Tôi không hay gì hết?

Tôi lặng thinh, ngồi phịch xuống ghế:

– Chôn xong rồi ?

– Trời đất !

Chú Tám Cần xuất hiện với bộ tóc bù xù và râu tua tủa. Chú sìa môi lắc đầu, chậm rãi nói:

– Tao hết chê nổi thằng Mỹ rồi mày Hai.

– Sao vậy chú Tám?

– Thằng Tây chẳng bằng cái lai quần của nó !

– Bây giờ chú mới biết à?

Chú ngồi đối diện với tôi. Chính nơi đây tôi đã ăn bánh xèo khi mới bước chân về H6 và làm quen với dì Mười nó !

Chú Tám chưa kịp nói gì thì Mười bước ra gục đầu ỵâo vai tôi khóc nức nở, nghẹn ngào, làm như tôi là chồng nàng:

– Con bị Mỹ xúc rồi… hu hu…

Tôi nghe như sét đánh bên tai. Nhưng chú Tám cười:

– Mỹ xúc là chuyện mừng, sao lại khóc?

Tôi chưng hửng với cái điệu giải thích của chú, nhưng chú vẫn tự nhiên:

– Tao muốn Mỹ xúc tao mà nó chê… tao không còn…răng! Há há… Nói vậy chớ nó sợ không đủ đế cho tao tẩm gân cho nên nó không xúc đó chớ!

Chú Tám nói rồi kẻo tay tôi ra sân, chỉ chỏ:

– Thằng Hai mày là nhà binh biết cái gì đó không?

Tô để ý .thấy dấu giày đinh lâm nhâm trên mặt đất. Chú Tám nói:

– Nó đáp xuống ba chiếc, cái quạt của nó quơ một phát chắc sập nhà. Tao núp ở sau vườn tao thấy rõ hết trơn. Nó lùa dân trong xóm tới đây rồi cho lên trực thăng. Trời! Nó bay trên trời mình tưởng nó bằng chiếc xuồng, không dè nó đáp xuống sân, to bằng cái nhà. Nó mở cửa ra, cả dọc người đi vô mà còn lỏng lẻo. Dân cả xóm này chỉ đủ một chuyến. Không sót một gia đình nào. Ai muốn đem cái gì theo Mỹ nó mang vác dùm lên máy bay, nào rương hòm, thúng rổ, mùng mền không bỏ thứ gì. Nhiều người đem theo giỏ gà, người lại dắt cả chó, kẻ ôm bàn máy may. .. Mỹ đen Mỹ trắng dềnh dàng như thổ thần, nó ẵm người mình như ẵm con nít. Tao thấy nó bồng con xẩm lai con Chệt Tư nữa. Trời đất ! Cỡ con nhỏ mà bị nó đè nén chắc nhẹp ruột.

– Sao tụi nó ẵm con nhỏ vậy chú?

– Con nhỏ trẹo giò đi cà nhắt. Bộ nó chạy trợt té ở đâu chắc. Hai chuyến đầy nhóc cất cánh. Đến chuyến thứ ba, nó xúc vợ chồng Sáu Phấn. Con nhỏ không chịu đi. Nó đem thông ngôn tới trâm tiếng Mỹ, rồi thông ngôn giải thích. Con nhỏ chỉ bầy heo con và con heo nái. Thằng Mỹ đen cười nhăn răng trắng hạn rồi ra dấu bảo mấy thằng khác bắc ván lùa bầy heo con lên máy bay.

– Làm sao nó lùa được cả bầy heo con?

– Một thằng Mỹ ra dấu bảo con vợ thằng Phấn lên máy bay trước kêu ột ột nhử heo nái lên. Bầy heo con thấy mẹ nó đi, bèn lốc thốc chạy theo. Thằng thông ngôn bảo: “Về bên Phú Lợi, Mỹ nó cho heo của bà uống sữa. Nếu bà muốn bán tôi chỉ chỗ cho bà bán.” Thuở nay tao mới thấy heo nái đi máy bay là một.

Nghe chú Tám mô tả cái cung cách của đế quốc Mỹ tôi nhức lỗ tai quá, nên tôi xách xe đạp của Sáu Phấn chạy đảo một vòng trận địa, cố nhiên không quên tạt qua nhà Bảy Mô để thăm các em dũng sĩ. Vườn sầu riêng hằng chục gốc với hương sầu riêng tản mác khắp nơi, ngôi nhà đã giở đi, nếu không trái pháo nổ ngay nền hôm nay cũng làm bay cả nóc. Bảy Mô và bầy tiên nữ ùa ra khi vừa thấy mặt anh Thiên Lôi. Bảy Mô hỏi.

– Anh Hai đi địa nào?

-Địa ông Đột!

– Xì ! Sao không ra địa tụi em?

Bảy Nề gắt yêu, còn út Ngỡ thì dìa môi:

– Địa của ông Tám Đột là đường cùn không có miệng trổ.

– Ổng bỏ cả năm không kiểm tra. Ai dám xuống?

– Vậy mà ổng lùa con người ta xuống đặc nghẹt. Anh chết dưới hầm.

Bảy Mô có vẻ chuyên gia địa, hỏi:

– Anh xuống tầng hai thì bảo đảm an toàn hóa học nhưng lại không đủ hơi thở. Để rồi anh xem, có vài người chết dưới đó móc lên khó lắm.

– Sao em chắc vậy?

– Em không chắc nhưng nếu để miệng hầm mở ra thì ngày mai sẽ biết. Nếu không có mùi thúi thì mới chắc là không có người chết dưới đó. Sau trận ruồng phải kiểm tra dân số ngay. Nếu ai vắng mặt thì mình phải đánh dấu hỏi.

– Nếu có mùi thút thì làm sao móc xác lên?

– Phải đi tìm ngay. Nếu gặp xác thì buộc dây lôi ra. Chứ nếu chờ cho có mùi thút thì có môn lấp luôn hầm. Cái vụ này trước đây có bị hoài mà.

Nghe nói tôi ớn xương sống bèn hỏi sang chuyện khác.

– Còn mấy em trốn đâu mà coi bộ tươi rói vậy?

-Tụi em có một khúc đặc biệt để phòng thân. Anh muốn biết không?

– Anh thề… tới chết cũng xin bái luôn ông địa.

Út Nhỡ đứng núp sau lưng Bảy Mô và Bảy Nề đưa tay che miệng và nói:

– Địa tụi em đặc biệt lắm. Nhưng chỉ có năm đứa tụi em. và chịu nổi một ngày thôi.

– Sao ít vậy? Thương binh của ông Tám Lê nằm luôn cả tháng mới lên kia mà . Còn bà Nhã Nam viết báo, anh có đọc nói rằng ông Năm Thuận xã đội trướng Phú Mỹ Hưng ở luôn dưới hầm năm tháng liền không lên mặt đất ngày nào.

Út Nhỡ cười mũi:

– Dóc tổ mẹ. Thằng cha đó trốn nhiệm vụ đi câu tôm bán cho cơ quan lấy tiền gởi cho vợ ở ngoài ấp chiến lược, ổng bị con Là chửi cho thục mạng, ở đó mà năm tháng!

– Nếu Mỹ chốt trên đầu rồi làm sao? Không phát huy địa đạo chiến như hồi thằng Bọ Chét chụp hình mấy em à?

– Anh với anh Tư Linh rắn mắc tổ bà ! Tội nghiệp thằng cha già bị gạt mà không biết.

Tôi chú ý môi trên của Út Nhỡ sưng vù và mắt trái hơi bầm. Có lẽ Bảy Mô thấy cái nhìn của tôi hơi xoi mói nên nàng nói:

– Kỳ này chị Út Nhỡ đạt danh hiệu dũng sĩ lần thứ hai.

– ….với thành tích lủi nhanh hả?

– Giỡn hoài anh Hai. Chỉ hạ được một tên Mỹ…

– ….bằng địa đạo chiến hả?

Bảy Mô lùi lại và bảo Út Nhỡ:

– Chị Út thuật lại cho ảnh nghe đi.

– Thôi mà, có tí tẹo đó nói ra bà Nhã Nam nghe được, bả tới phỏng vấn và bả viết tùm lum phát thanh nghe mắc cỡ chết đi ông ơi !

Bảy Nê chen vô:

– Vậy để em thuật dùm.

– Ừ thuật đi rồi tôi bổ túc.

Tôi cười:

– Hạ được thằng Mỹ rồi cho ai mượn?

Út Nhỡ buông tay xuống, không che miệng nữa, nói:

– Ba cái vụ mượn Mỹ đó là do mấy nhà báo R đặt ra chớ tụi em đâu có ai mượn mà cũng đâu có ai giết được tên nào để cho ai mượn.

– Vậy em là người thứ nhất của đất Củ Chi giết được Mỹ.

Út Nhỡ xua tay lia lịa:

– Em đâu có giết được thằng nào.

Tôi nhìn Bảy Mô. Nàng nói:

– Thì coi như giết đi. Thằng bị chị quào về thế nào cũng nằm nhà thương và mất tinh thần xin về Mỹ luôn. Còn tụi Mỹ thì phải ớn cái đất Củ Chi này.

Út Nhỡ tiếp:

– Rủi cho em là em đi chợ An Nhơn mua tương chao về ăn bị nó đổ ở Ngã Ba Cây Điệp không về được. Em chạy trốn lại đụng đầu, bị bắt chung với mấy ông nông dân. Có cả ông xã đội Ba Xây nữa. Khu rừng gần Ngã Ba Cây Điệp bị tụi nó quần xới nát hết. Nó tìm được một cái miệng hầm. Đó là của ông Ba Xây. May quá ông chưa chun. Và nó tưởng ổng là nông dân xóm. Nó dắt mọi người tới miệng hầm, trỏ mấy trái mìn và mấy thùng vuông màu cứt ngựa, chắc là đồ hóa học, xù xì em không hiểu gì hết. Nó bèn gọi thông ngôn . Thằng này bảo em chui xuống để thằng Mỹ chui theo. Cái miệng hầm nhỏ , còn nó to hơn thằng Bọ Chét nên mắc ngang . Nó cạy tung nắp rồi đùn em xuống. Em nghe lời làm theo . Nó tuột xuống, tay cầm dao găm, tay rọi đèn pin. Em ngồi nép qua một bện, thừa lúc nó bò lom khom em giật chiếc đèn đập vào mặt nó, rồi bò tuốt. May nó cầm dao nếu súng nó bắn em rồi.

– Sao em biết được mà bò?

– Hầm của ông Ba Xây, tụi em có đào chung, đặc biệt để giành cho tụi em và xã đội thôi. cho nên em thuộc đường. Em bò một lúc đụng cửa hầm hai. Em chui tọt xuống. Bò một lúc thì gặp Mô và Nê.

-Tụi nó không theo à?

– Có chớ, tụi nó đánh ầm ầm. Bơm hóa học kịch liệt chớ đời nào tha. Như em nói lúc nãy, địa của tụi em là địa đặc biệt.

– Nghĩa là sao?

– Nghĩa là năm đứa có thể ở cả ngày không sợ ngộp. Có sẵn cơm khô và nước.

– Có chỗ đi đồng không?

Út Nhỡ đấm vai tôi.

– Anh quỉ nè ! Ngoài ra còn có ngách trổ không phải một mà ba ngách. Trường hợp bị bể thì phải xét đoán tình hình rồi mới trồi lên cái miệng nào an toàn nhất. Nhờ đó tụi em mới thoát.

– Vậy là bỏ luôn cái địa?

– Nếu không có vách trở thì chúng em bị nó moi tới nơi hoặc chết vì hóa học. Tụi nó đánh mìn nát hết. Nay mai tụi nó dám bỏ bom lắm!

Tôi bắt tay út Nhỡ và nói:

– Thay mặt lực lượng võ trang Củ Chi, anh xin tỏ lòng khâm phục em. (Út Nhỡ, Mô, Nề đều ngạc nhiên) Vì nếu không có cú đánh của em thì trong trận ruồng này không có thằng Mỹ nào rụng một cái lông chân đừng nói đổ một giọt máu. Quân ta không nổ một phát súng chống càn!

Tôi đạp xe về gần tới nhà thì gặp Chín Lộc. Hắn chớp chớp cặp mắt bù lạch ăn:

– Mẹ kiếp! Quân báo báo trật chạy muốn sút quần! Tin nó đánh Hố Bò. Mà nó lại chơi cả Hố Bò lẫn Bến Mương. Con Ua hỏa tốc tới bữa đó. Tao cho mấy ổng hay. Mấy ổng giải tán hội nghị rồi phò Nhị Tẩu sang bên Bến Chùa rồi. Còn tao về đây, chẳng ngờ lại dính.

– Bả đâu?

Nhị Tẩu tẩu luôn với các ổng rồi.

– Tụi nó đánh Hố Bò có gặp được gì không?

– Nhà in, kho gạo của ông Bảy Hốt. Q16 bị pháo nặng. C5 của Tư Chuyền ăn bom. Không biết y có giấu, chuyển thương binh đi được không?

– Tụi nó chỉ cụm quân chớ chưa rút. Cuộc hành quân này kéo dài ít nhất một tuần lễ, nó đặt tên là Operation Crimp.

Chín Lộc phát âm rất đúng tiếng Mỹ. Tôi cười:

– Tiếng Mỹ khó nhớ, tôi tạm gọi nó là Xông Vô Nhị Tỳ và Tôm Rim nghe!

– Khè khè chú mà y liệu đi . Pháo phiếc phải chôn cho sâu Nó vừa đem tới Đồng Dù cả chục con chó. Riêng trực thăng thì tăng cường mười chiếc.

– Ông có tin gì về kết quả trận pháo kích của tôi không?

Chín Lộc nhìn tôi với cặp mắt lo âu

– Hỏi con Nhã Nam rành hơn tao. Tao cho mày biết tín này nhưng mày đừng phổ biến ngay cả cấp chỉ huy nghe.

Tôi cười phá ngang:

– Bộ bà Hai Xót sắp mang trống, hay tin gì mà ông làm ra vẻ quan trọng vậy?

– Đừng có giỡn thằng cu con! Tụi Mỹ càng dô mạnh. Riêng Củ Chi Bến Súc nó đã khoanh trên năm chục vùng oanh kích tự do.

– Giỡn hoài cha !

– Bố tiên sư thằng nào nói láo. Vùng cực bắc Củ Chi gồm có : Đồn điền Sim ma, Hồng, Bến Dược…, vùng cực nam gồm có: Bưng Tre, Cầu Bến Nảy, Bến Đình v.v… hai điểm cách Đồng Dù có ba, bốn cây số là Phú Hiệp, Bào Cạp. Cái điểm cách Trung Hòa ba, bốn cây số như Xóm Mới, Xóm Bưng, Lào Táo, Ngã Ba Sòng cũng nằm trong diện oanh kích tự do. Còn cặp hữu sông Sài gòn như Bến Mương của mày, thì Gót Chàng của em Mô của mày, chợ An Nhơn bên sông Sài gòn đối diện với Xóm Thuốc là Rạch Bắp, một là bị hủy diệt, hai là bị hốt.

– Vậy ông chạy đâu?

– ???!

– Bỏ cái rờ-moọc cho ai kéo?

– Bả sắp vô Trung ương rồi! ở Hà Nội cần thêm ủy viên gốc dưa mày..

– Tôi nghe đồn Trần Bạch Đằng vô lâu rồi mà !

– Ba mụ đó , khu ủy sẽ chọn một để Trung ương chỉ định. Kỳ rồi các ông có thảo luận nhưng chưa ngả ngũ . Ông thì bảo bà Út Tuất gan lỳ, ông lại cho bà Hai Xót và Năm Đang biết tổ chức quần chúng đấu tranh chánh trị.. Bà nào cũng lập trường cứng rắn cả ! Hí hí…

– Theo ông thì ông bắt bà nào?

– Bà nào dễ bảo thì mấy ổng cho dô . Càng dễ bảo càng lên mau. Tao biết mẹ gì !

Chương 64

Địa đạo: Mồ chôn tập thể

Bỗng nhiên một câu hỏi dựng đứng lên giữa bữa cơm chiều quanh ngọn đèn lờ mờ:

– Vợ chồng thằng Út đâu?

Mọi bữa hai vợ chồng nó ăn chung với anh chị em trong cơ quan rồi mới bồng con về nhà . Từ bữa trưa tới giờ đa đoan việc người chết, việc người sống, bây giờ mới nhớ ra từ sáng tới giờ không thấy mặt chúng nó. Thằng Đỏ nói trước tiên:

– Có má Hai ở Trung Hòa về thăm chắc ảnh chỉ ở nhà.

Quản bác bỏ cái lý lẽ đó:

– Ở nhà thì ở. Khi dứt cuộc ruồng hai người cũng phải đến cơ quan chớ?

Thu lơ mơ:

– Em nghe nói anh Út đi bên An Thành gặt lúa đó mà.

Thằng Đỏ rướn cổ lên:

– Ảnh nói đi nhưng có má Hai vô nên đình lại.

Út là trưởng tổ tự túc nên cứ thong dong với chiếc xuồng câu lưới có khi vài ngày mới xuất hiện một lần, chẳng ai để ý đến sự vắng mặt của anh ta.

– Ăn cơm xong thằng Đỏ chạy lại đẳng coi, luôn tiện đem cho má Hai một ít thịt hộp.

– Má Hai đem vô cả giỏ xách cho ảnh chỉ kia cà.

Thằng Đỏ nói vậy rồi lua riết chén cơm, buông đũa chạy đi như để lấy công chuộc cái tội bỏ thủ trưởng.

Bữa cơm chưa xong thì nó chạy về, mặt mày ngơ ngác:

– Không có ai ở nhà hết á !

Quản gặn:

– Mày đi gì mau vậy Đỏ? Mày có vô nhà hay chỉ đứng ngoài sân ngó vô?

– Em không có… vô nhà!

– Thấy chưa, mày bắt được con cá lóc dáo tổ nái rồi đó !

Thằng Đỏ ngập ngừng, chớp chớp mắt:

– Em không dám vô. Trong nhà có mùi gì lạ lạ.

Tôi linh cảm thấy vấn đề. Tôi bảo:

– Cậu nào chạy lại coi.

Quản và Mười chạy đi. Tôi hỏi thằng Đỏ:

– Em biết trong nhà nó có hầm hố gì không?

– Ảnh đi chài với em, ảnh thường khoe, ảnh không sợ Mỹ chụp. Hễ nghe nó đổ quân là ảnh biến mất tiêu. Ảnh chỉ lo cho chỉ và đứa nhỏ thôi. Từ ngày ảnh được tuyển vô cơ quan ảnh mở rộng cái ngách ra có thể chứa ba, bốn người.

– Mà em có nghe mùi thiệt không?

– Thiệt mà ! Mùi lạ lắm. Em sợ quá em chạy về liền.

– Thằng Út không có đi An Thành thật chớ?

– Dạ ảnh nói chờ má Hai về Trung Hoà ảnh mới đi!

Thôi vậy thì nguy to rồi. Tôi tất tả chạy đi. Một dọc người theo. Ra đến đường thì đụng đầu Tám Dột. Tôi chưa kịp nói gì thì Tám Dột đã nói:

– Các anh phải dời điểm ngay. Ông xã đội Ba Xây bị Mỹ bắt rồi.

Tôi giật mình thon thót, Ba Xây bị bắt thì cả Phòng tham mưu của ông Năm Lê cũng phải dời.

– Ổng trốn ở đâu mà bị bắt?

– Trong hang của ông.

Tôi bàng hoàng nhưng cố trấn tỉnh, hỏi sang chuyện khác:

– Anh cho bà con lên hết chưa?

– Tôi còn để ngửa nắp hầm. Chắc bà con lên hết rồi.

– Anh có nghe mùi gì không?

– Tôi chưa trở lại đó . Mà nếu có ai chết thì sáng mai mới có mùi nặng.

– Vậy anh trốn ở đâu?

– Tôi chui hang riêng, thầy ơi !

– Té ra anh không chơi với địa à?

– Cố nhiên rồi. Khè… khè… thằng nào cũng vậy chớ không phải mình tôi. Chỉ huy đào nhưng không bao giờ xuống.

– Sao lùa dân xuống?

– Để họ ở trên Mỹ xúc ra ấp chiến lược hết, mình lấy gì bám trụ .

Anh có thấy lính tôi xuống không?

– Tôi chỉ giở nắp hầm rồi dông chớ đâu có đứng ở đó.

– Vậy ai đậy nắp hầm?

– Người nào xuống sau cùng thì đậy. Chớ nếu tôi đứng đó chờ cho người ta xuống hết rồi mới chạy thì làm sao kịp?

– Sao anh không bám với nhân dân?

Tám Đột ngần ngừ một giây rồi đánh trống lãng:

– Hồi sáng nếu tôi gặp thầy, tôi đâu có cho thầy chun. Bởi vậy nghe Ba Dị nói chắc thầy chun là tôi đi tìm đến.

– Anh có biết một trái cà nông nổ cắt sóng địa đạo không?

– Tôi có nghe nói nhưng chưa tới ! Đây là nhiệm vụ của ông Ba Xây mà ổng lúc nào cũng đi câu tôm chớ có ngó ngàng gì tới. Hễ tôi phàn nàn thì ổng bảo: “Tao hi sinh cái nhà tao cho cấp trên (Năm Lê) ở, để tao kiếm tiền nuôi vợ con tao với chớ?”. Mà Thầy có cáp-tăng đó không?

Tôi móc điếu thuốc chìa ra. Tám Đột rút hai ba điếu và giải thích:

– Lại đằng đó tôi mới hút. Phải thuốc thơm mới được.

– Sao vậy?

– Tôi học kinh nghiệm ở trên Hố Bò hồi nẵm. Hễ dưới hầm có người chết thì khói thuốc thơm phát hiện ra ngay. Đốt một điếu đứng trên miệng hầm hút. Hễ có mùi hôi thì khói khét nghe liền. Muốn chắc hơn đốt một điếu quăng xuống dưới địa. Một chốc cũng nghe khói khét.

– Quăng xuống là tắt liền.

– Tắt là chỉ khi nào mình đậy nắp hầm kín lại kìa, chớ mở nắp ra thì thầy nấu cơm dưới đó cũng được mà’!

Tôi nhớ lúc ở dưới địa quẹt hộp quẹt không cháy, nên thấy kinh nghiệm của Tám Đột có thể đúng. Tám Đột lại tiếp:

– Tôi đã từng tìm được xác du kích bằng một điếu Ru-by rồi kia mà.

Lúc nãy nghe chuyện chị Sáu Bầu tôi rất bực mình Tám Đột, định gặp sẽ trách móc y, nhưng bây giờ thấy y ăn ở có nghĩa với mình, vã lại thằng chi uy xã, thằng huyện ủy, tỉnh ủy, khu ủy và trung ương nào cũng như Tám Đột thôi, nên tôi không mở miệng phê bình y được. Tám Đột lại tiếp:

– Kỳ tới, có gì thầy bám tôi nè . Một mình thầy thôi. Tôi bảo đảm ăn hút khỏe re. Đó, thầy coi, tụi Mỹ nó xúc mấy chuyến Râu Rọm thưa hết dân. Nó mà làm vài trận nữa cái Bến Mương này trụi lơ, lấy đâu mình xây đựng cơ sở?

Sẵn dịp tôi hỏi luôn.

– Bộ anh có địa riêng sao?

– Tất nhiên rồi. Thằng nào cũng vậy không phải riêng tôi. Thầy nghĩ coi cả bầy nam phụ lão ấu như vậy xuống hầm . May mà Mỹ không tới chớ nếu tới thì nó có lọt tròng cũng thấy miệng hầm mà. Cái miệng hầm phải sạch sẽ gọn ghẽ như miệng con gái chớ tùm lum như miệng già trầu móm thì bí mật con mẹ gì được?

Tám Đột bỗng quay ngoặc lại nói sang vấn đề khác:

– Cái vụ thầy sống lại là ơn nghĩa lắm đó nghe.

Tôi nghĩ chắc y định kể công với mình nên nói ngay:

– Nhờ anh tôi mới thoát chết.

Tám Đột xua tay:

– Không phải nhờ tôi đâu. Chính nhờ cô Thu đấy.

– Cổ cho tôi hửi dầu nhãn nhưng có ăn thua gì.

– Dầu nhãn thì không ăn thua gì nhưng mùi kia thì kết quả ngay. Không ai nói cho thầy biết à?

Tám Đột đúng sát lại rỉ tai tôi rồi cười hắc hắc:

– Đó là thuốc thần hiệu nhất. Tôi đã dùng rồi. Hễ có người chết dưới hầm thì cứu cấp kiểu đó kết quả trăm phần trăm, nhưng phải nhớ là của các cô chưa chồng thì mới tốt. Tôi đã phổ biến tại hội nghị quận rồi mà ! Ngày thường là đồ bỏ, nhưng gặp việc là linh dược đó nghe thầy!

Tám Đột vừa nói vừa cun cúc lủi đi. Tôi chạy trở về . Vừa đến mối đường vào nhà má Hai thì nghe tiếng nói xôn xao. Tôi bèn quăng xe đạp quát:

– Có tìm thấy gì không?

Năm Dị nói tiếng nặng chịt nghe càng đứng tim.

Chệt hệt anh Hai ơi! Vợ chồng con cái thằng út chệt hệt.

Tôi chạy càn vào, vấp ngạch cửa chúi lúi sắp ngã. Tôi móc đèn pin rội lên. Trong vệt ánh sáng xanh lè hiện ra hai ba đứa mặt mày cũng xanh lét như mặt quỉ.

– Nó ở sau vườn.

Tôi chạy vọt ra. Năm Dị giật chiếc đèn pin trên tay tôi chạy ra phía ngọn đèn leo lét ở góc vườn. Nắp hầm mở toang hoác. Tôi nhìn xuống. Bất giác tôi lùi lại và quay ra. Một bàn tay trắng bợt như giấy đưa lên hồi nào dán dính vào vách hầm như quờ quạng tìm lối thoát, chỏm tóc con nít áp trên ngực mẹ. Chẳng ai khác hơn là hai mẹ con con Út. Tôi hỏi.

– Còn thằng Út đâu?

Năm Dị trỏ xuống .

– Nó ở dưới kia. Phải nhìn xéo xéo kìa mới thấy.

Tôi nghe mùi bốc lên nồng nặc. Hít nó vào người phải bệnh. Tôi bảo Năm Dị và mấy cậu trinh sát:

– Thôi lấp lại đi. Ở phía đó lần trước người ta cũng làm vậy chớ không cách gì khác.

– Anh Hai bảo vậy thì chúng tôi thi hành.

Chập sau mặt đất bằng phẳng với những lát đất mới. Tôi lạnh lùng khoác tay:

– Thôi đi về !

Chớ còn làm gì được, một cấp chỉ huy không có phương tiện gì hết như tôi trong hoàn cảnh này? Thật là tàn nhẫn. Như để giảm nhẹ tội lỗi của mình tôi tiếp:

– Mai trở lại đắp nấm, mốt mở cửa mả cho tụi nó.

Bỗng nhiên vợ chồng con cái chết hết và chung một hầm. Ngôi nhà đang ấm cúng, vợ chồng con cái hàng ngày vui thú hạnh phúc đơn sơ tuy mong manh trong vòng bom đạn. Họ không mong gì hơn được sống lây lất qua ngày, chồng đi chài cá cho cơ quan, vợ tới lui phụ giúp nhà bếp. Mùa này lúa trúng, hai vợ chồng vô bồ được hơn một trăm giạ. Vợ nghĩ tới việc mua áo mới cho chồng con, chồng tính sắm thêm miệng chài mới. Giấc mộng chỉ có vậy mà cũng không thực hiện được .

Tôi nhảy lên xe đạp, một tay rọi đèn một tay cầm ghi-đông chạy một mạch đến cái dốc thả xuống rạch thì quẹo vào Chiếc xe lao nhanh băng qua những lỗ hổng và những hố cà nông nhiều lần lao đao suýt ném tôi xuống mé lề . Cây dừa tơ bên đường nơi Út từng nhét cục xà bông thơm cho tôi tắm, nơi nàng bế con đứng trên bến chờ chồng đi chài hoặc cắt lúa bên Thanh An về . Hai vợ chồng líu lo rồi vợ giao con cho chồng ẵm.

Cũng nơi bến này dân trong xóm đến giặt giũ , tắm rửa và gánh nước về nhà . Một bụi dừa rậm ri đứng ở ven sông, tàng lá râm ri che bít cả bầu trời, bít mắt phi cơ cho cả nhân gian yên tâm tắm rửa bơi lội. Những chùm rễ dài thòng xuống tận mặt nước như một ngàn bộ râu của người khổng lồ . Dưới bóng mát của nó bắc tạm bợ một chiếc cầu làm bằng cánh cửa ván lỗ chỗ vết đạn.

Đây là vùng trời nước mơ mộng của tôi. Vùi đầu trong những kế hoạch phương châm dự án, những gì gì khác nữa, tôi không còn được những giờ phút nghỉ ngơi của một người thường phải có. Đôi khi đang ăn phải buông đũa chạy, lắm lúc giữa giấc ngủ say có công văn khẩn cấp tới, cả trong lúc yêu cũng có lệnh thiên tử gọi tới chầu.

Lâu lâu, lén trốn cái cuộc đời hùng hục của tôi ở cơ quan, tôi ra đây ngồi xem cá đớp trái dừa chín rụng lõm bõm xuống nước, nhìn những con chuồn chuồn vô tư bay là sà như một bầy tiên nhởn nhơ bất cần mưa nắng, cũng có những buổi tối nhìn trăng dưới đáy sông mà tưởng mình sẵn sàng nhảy xuống lội mò cùng Thái Bạch. Cái dốc thân mến êm đềm xiết bao đối với tên Thiên Lôi này.

Nhưng than ôi! hôm nay nó trở thành vùng trời tang thương đau đớn. Tôi không dám để chiếc đèn pin cháy trên bờ sợ trực thăng bay qua hoặc Mohawk chụp hình thì mang đại họa. Tôi bấm tắt, nhảy xuống nước tắm thầm qua loa rồi vọt lên mặc quần áo, tất cả mọi việc không quá ba phút, xong lên xe đạp ngược dốc. Ngang gốc dừa tơ tôi ngảnh mặt như sợ thấy lại bàn tay của người đàn bà nhét cục xà bông trong bẹ dừa hôm nào, nay chắc vẫn còn đó. Về đến hầm, tôi nằm vật ra trên chiếc võng mấy đứa nhỏ mắc sẵn, nghe rã rời thể chất lẫn tinh thần. Chết! chết và chết! Chiến sĩ ra trận chết đã đành, thường dân ở nhà cũng không sống nổi. Chui hầm để tránh bom đạn nhưng lại chết dưới hầm. Bàn tay trắng bợt một cách kinh dị của người đàn bà cứ chập chờn trong trí tôi. Tại sao chúng nó lâm nạn? Không có dấu bắn, không có vết máu ở miệng hầm. Tôi hỏi Năm Dị vừa về tới:

– Cậu thấy nắp hầm đóng hay mở?

– Dạ đóng! Nhờ mùi thum thủm và nhặng đánh vù vù nên tôi tìm mới ra rồi nạy bật lên chớ hầm đâu có bị khui!

– Theo cậu có phải nó bị hóa học không?

– Dạ không đâu. Miệng và vách hầm không có dấu vết gì hết. Em chắc chắn là hai đứa bị ngộp. Hình như thằng chồng bò vô rồi chịu không nổi nên trở ra, còn con vợ muốn trồi lên một tay ôm con, một tay mở nắp hầm, nhưng vì kiệt sức mà nắp hầm lại nặng nên không bật lên nổi. Thằng chồng lúc đó cũng hết hơi muốn trồi lên lại bị con vợ trám bít lối nên gục luôn dưới chân vợ. Em đoán vậy không biết đúng hay sai.

Tôi lặng thinh.

Làm chỉ huy đôi lúc phải hạ những lệnh mà chính lòng mình không muốn nhưng phải làm vì nhu cầu của chiến trường hoặc vì phải thi hành lịnh của cấp trên. Như trận pháo kích Đồng Dù và Trung Hoà vừa rồi. Sau gần ba chục năm bây giờ tôi ngồi nhớ lại, tôi mới thấy rằng nếu tôi là một tư lệnh chịu mệnh lệnh của thượng cấp thì chẳng bao giờ tôi ra lệnh cho pháo kích như vậy. Tôi chắc chắn rằng tôi bắn không có quả nào rơi ngoài ấp. Dầu hèn cũng thể chớ đâu có đến đổi, căn cứ rộng như Đồng Dù, Trung Hoà mà bắn không trúng thì còn dạy ai? Nhưng tôi biết trước hậu quả thảm khốc, nhất là cho nhân dân. Chiến sĩ và du kích hi sinh, bị thương như thế quả là pháo Mỹ còn chê thịt giải phóng dữ lắm! Tôi đã bí mật bảo Tư Chuyền chuẩn bị cho năm chục cái hầm cho thương binh nằm. Đổi lại sự tích cực đó, tôi sẽ cố lấy cho y một cây dù! Nhưng sự thực không có đào cái nào cả. Nhân công đâu? Củ Chi chỉ có một anh du kích Lê Thanh Vân dùng răng cạp đất thôi !

Chỉ sau vài ngày pháo kích, Mỹ đã phóng ra cái Operation Crimp để đáp lời sông núi. Bộ đội rút ra ngoài vòng hoặc chui hang còn dân thì bị thương chết hoặc bị xúc ra ấp chiến lược. Số chui địa còn sống thì cũng lẳng lặng bỏ nhà đi.

Vợ chồng thằng Út chết một cách vô lý. Nếu chúng ở trên mặt đất thì bị xúc ra ấp chiến lược rồi trở về như bắt cóc bỏ dĩa. Nhưng cũng tại ba cái thằng lãnh đạo tuyên truyền làm cho dân mê tín địa. Vợ chồng nó đào sẵn hầm để đó, chờ Mỹ vô thì chui… khoẻ ru. Chúng chưa bao giờ ướm thử nên khi chui, không có kinh nghiệm gì hết!

Tôi đâm ra ân hận vì đã thu nhận thằng chồng. Cho nên bây giờ cả nhà chết hết. Nếu để nó đi Bình Long, Phước Long có chết chỉ mình nó. Vợ nó là goá phụ như bà Tám Khoẻ, Mai Khanh, Lục, Mười, Hai Xót, Chín Kiểu…. và hàng trăm cô gái ở ven Quốc Lộ lấy lính công trường 9. Chớ có đâu cả nhà chết thảm khốc như thế này.

– Lấp lại!

Cái lệnh của tôi lúc nãy như vang lại trong đầu tôi. Cái lệnh quá dã man chăng? Sao tôi không để chậm chậm đã!

Cái lệnh đó không phải là của tôi xuất bản đầu tiên mà tôi chỉ tái bản của những người khác. Đứng trước một ban tham mưu quận đội bị bom vùi, ông bí thư bảo lấp. Đứng trước một phòng cơ yếu bị pháo dập, ông trưởng ban bảo lấp… Lấp, lấp và lấp. Lấp là phuơng pháp nhanh tốt và rẻ nhất vvà là cách làm cho người chết ít đau đớn nhất.

Thì ngựa ơi đi nhịp đằm chớ nhảy,
Kẻo thân đau chưa quên nệm giường đời.

Người chết được nằm trong hòm ngựa kéo ra nghĩa trang mà nhà thơ còn bảo ngựa đi nhịp đằm để người khỏi đau. Còn ở đây những cái xác nát, thối hoặc thiếu đầu, sứt tay phải moi lên ráp lại thì đau đến mức nào? Thôi thà để vậy mà lấp luôn. Rồi đây bạn đọc sẽ được thưởng thước cái lệnh lấp lại đó lặp lại không biết bao nhiêu lần trên đất Củ Chi này. Và rồi bạn cũng sẽ quen đi, không cho tôi là tên chỉ huy tàn nhẫn nữa. Và nếu chẳng có cô Thu và cậu Quản thì hôm nay Tám Đột cũng đã tái bản cái lệnh đó với tôi rồi. Tôi nằm luôn trong lòng… đất. Không biết có bà con nào nằm lại dưới đó không?

Đang nhớ lan man những chuyện vừa qua thì lại nghe tiếng ồm ồm ngoài miệng hầm.

– Thằng Thiên Lôi của mày có ở nhà không?

Tôi biết đó là Năm Tiều nên ngồi bật dậy. Gặp tri âm trong lúc buồn. Tôi bước ra vội vã mời thì lại đụng đầu cả Bảy Nô. Hai ông thần này thường đi có cặp. Lính sợ hai ông đã đành, cấp trên cũng ngán luôn.

Năm Tiều mở đồ nai nịt ra bỏ ở bàn làm việc của tôi. Thấy Bảy Nô còn xựng xựng tôi hỏi:

– Bộ anh Bảy còn tính đi đâu sao?

– Đi thăm má nó chút.

– Chị Bảy ở đâu?

– Tao mới cho dời nhà lên con Mô hồi hôm. Tụi Mỹ làm cỏ xong Bến Mương của mày thì sẽ cày Phú Hoà Đông của tao, nên phải né trước.

Năm Tiều bảo:

– Ở nhậu ba sợi rồi đi không được sao?

– Để tôi ra coi bả tới chưa rồi trở vô.

– Bộ sợ người ta đổ lọp hả anh Bảy?

(Vì không thích tính khí của Bảy Nô, nên sau này ở trên đã điều động Bảy Nô ra khu Rừng Sát. Trên đường đi bị tàu bắn chết trên sông Sàigòng, bỏ bà vợ trẻ không con)

Năm Tiều thêm:

– Ếch bắt cặp thì trời mưa chớ không có bắt cặp trời nắng nghe cha nội!

Bảy Nô để nguyên súng ống ngồi vào bàn. Tôi kêu trẻ nhỏ pha trà. Định hỏi về tình hình đánh đá của các đơn vị vừa qua thì ông phó ban tác huấn lên tiếng trước.

– Nghe nói mày suýt bị địa đè hà?

– Ai nói với anh vậy anh Năm?

– Mày sống lại nhờ ai, tao còn biết nữa kia!

– Thôi ông nội ơi, ông đừng có móc chuyện đó ra tôi ngóc đầu lên không nổi.

Năm Tiều cười ngất nói oang oang như chỗ không người :

– Tao còn muốn kêu con nhà báo Nhã Nôm đến đây nó phóng… sự mày đó. Chuyện ngửi nước đái con gái có gì xấu? Hồi nhỏ ở nhà tao còn thấy người ta uống nữa kia. Đâu, con nhỏ nào tặng mày món thuốc đó, cho tao biết coi.

– Chi vậy anh Nam?

– Để nay mai hoặc lính tao chết ngộp dưới địa thì xin cho nó một tô chớ chi.

Vừa lúc đó Thu bưng nước tới. Năm Tiều cứ hỏi tự nhiên:

– Mày cho tao biết, tao sẽ xin nó một chai lận lưng để dành.

Bảy Nô cười hắc hắc:

– Đựng vô chai không linh ông ạ. Phải xài ô-rin kìa.

Tôi cắt ngang vì sợ Thu biết:

– Mấy đơn vị mình có lập thành tích gì không anh Năm?

Năm Tiều nói:

Tít gì mà tít . Chạy như gà mắc đẻ. Mỹ ở trong này mà đi lẫn ra Đồng Lớn bắn lạch chạch, tụi Trung Hoà kêu pháo giã, Đồng Dù tiếp theo. Ban đêm tụi Mỹ cụm ở Bào Đưng, thằng Ba Đức xách C2 từ Rừng Làng định ra tập kích ai dè bị pháo sáng lòi lưng, tụi Mỹ quạt, khiêng về mười ba đứa.

– Nghe nói trên Hố Bò, Bùng Binh làm ăn khá lắm anh Năm!

– Ai nói? trên đó Mỹ có xe tăng bảo vệ bộ binh, Dakôka bay vòng vòng thả pháo sáng, đám em nuôi bà Định, mới vừa mon men tới bị pháo Chà Rầy và Trảng Bàng giã chày đôi 12 khẩu 102, chịu sao xiết.

Bảy Nô tiếp:

– Mỹ biết đánh giặc lắm chớ không phải như đài giải phóng của mình tuyên truyền gạt con nít đâu. Nó đóng quân ở giữa, xe tăng ký bốn tên, chiếc nào cũng âm xuống đất, chỉ ló cái tháp súng lên thôi. Bên ngoài nó còn thả bùng nhùng dây chì gai. Đụng tới cái thét lưng của nó mệt khước, chú em ơi. Mà có đụng rồi cũng không dễ gì ném được. Hổng biết mấy cô dũng sĩ của ông Tém Quang có đụ…ụng được chưa ?

Năm Tiều cười khục khục trong cái cần cổ như gà lôi kêu:

– Để mai mốt bà Năm Đang và Hai Xót họp khu ủy về, tao với mày chận đường hỏi bả dùng mũi chánh trị giáp công để đụ…ụng được cái….

– Hai bà đó thì chỉ nắm thắt lưng của mấy lão già thôi.

– Mấy lão nắm dây lưng rút của mấy bả thì có!

Bảy Nô trở lại vấn đề:

– Nói cho ngay tao định xách d… của tao ra định chơi một trận, nhưng ngó đi ngó lại đại đội này rã hàng, đại đội kia tản khai, đại đội nó phân tán mỏng trong dân , có một số lẩn theo đân chui xuống địa, móc không lên.

– Ông Ba (Xu) có lệnh nghiêm cấm chui rồi mà anh Bảy!

– Ổng bị kẹt thử coi ổng có chui không ?

(Quả tình ít lâu sau chính ông Tư Lệnh cùng đường cũng chui địa bị Mỹ chốt. Dương Đình Lôi phải đem quân liều chết giải vây. Nếu không thì ổng cũng bị lấp!)

Bảy Nô nhấp trà rồi tiếp:

– Mất cả một ngày mới tập trung được hai đại đội, quân số lỏng lẻo, đem ra mới bắn vài loạt, trực thăng tới bu đen, cùng dắt nhau chạy về, bỏ lại hai đứa.

Năm Tiều cười:

– Ông coi vậy mà thua tụi D8. Nó kết hợp với du kích An Phú, Hố Bò pháo kích cụm Bến Dược. Nghe nói có trực thăng đáp xuống hai ba chuyến. Chắc lấy thương binh.

– Cái đách! Nó chỉ chở đĩ xuống cho lính Mỹ đó cha nội. Ở ngoài mình pháo, ở trong nó cũng pháo.

Năm Tiều nói xụi lơ:

– Tụi Mỹ hành quân kiểu này chưa chắc thằng già Sáu Khâm dám xách công trường 9 xuống đây chơi nữa là ba cái đám lính vịt xiêm Q16 và D1 của thằng cọc cạch Ba Châm.

Vừa đến đó thằng Bọ Ngựa đi lấy công văn trên phòng chính trị về. Tôi mở ra đọc còn Năm Tiều xem báo Quân Khu. Anh đập lưng tôi:

– Nghe nè! nghe nè ông thầy pháo với ông dê trưởng! Tin chiến thắng lớn!

Rồi anh đọc luôn:

“Kết quả cuộc càn liên tiếp bảy ngày của 8 ngàn quân Mỹ ở hữu ngạn sông Sàigòn, đặc biệt nhắm vào quận Củ Chi đã kết thúc. Quân dân ta bảo tồn được lực lượng…”

Tôi xua tay:

– Tôi đọc rồi anh Năm ơi!

– Báo mới ra lò, mầy đọc hồi nào giỏi vậy?

– Tôi đọc hồi chưa in.

– Sao kỳ vậy?

– Cô ấy viết xong đem lại cho tôi chuốc dùm một hai điểm.

– Sao chuốc có hai còn điểm kia để cho ai?

Bảy Nô hất hàm với tôi trong lúc Năm Tiều vẫn nhướng lên nhướng xuống đọc cho hết mẫu tin. Anh để tờ báo lá cải trên bàn, đập đập tay:

– Vậy cũng nên thưởng con nhỏ này chớ. Điểm thứ nhứt: mình cõng thương binh thấy mẹ mà nó nói Mỹ thua. Điểm thứ hai. – Bảy Nô xoè bàn tay to tướng như cái quạt nan – Điểm này còn đáng thưởng hơn: Mỹ mới càn có hai ngày mà nó nói cuộc càn liên tiếp bảy ngày của Mỹ đã kết thúc. Điểm thứ ba: thằng mắt toét Chín Lộc còn không biết có bao nhiêu Mỹ mà nó dám nói là tám ngàn lại còn liệt kê rành rẽ các binh chủng. Đây, các ông nghe cho kỹ: “Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn Anh Cả Đỏ, Lữ đoàn Dù 174 và Trung đoàn bộ binh Hoàng gia Úc. Chúng được yểm trợ bằng xe tăng M113, pháo các loại. Ngoài ra còn đủ các loại phản lực, trực thăng đổ quân, trực thăng chiến đấu, trực thăng quan sát. Trước đó một tuần lễ vùng đất thép Củ Chi đã hứng chịu hàng loạt bom B52 nhưng nhân dân ta đã anh dũng giáng cho địch những “đoàn” sấm sét khiến cho địch…”

– … phải cúi đầu nhận tội.

Cả ba cùng cười. Năm Tiều tiếp:

– Chưa hết. Các cụ nghe thêm đoạn nữa thì dầu có rửa chưn leo lên bàn thờ cũng mát cái ruột già. “… Ngay từ ngày thứ nhất, lữ đoàn 1 đã đổ quân xuống các xã các vùng Nhuận Đức, An Nhơn, Sở Đất Thịt, Bào Lách, Bào Đưng, Trung Lập Thượng, Phú Hoà Đông nhưng đều bị các đơn vị địa phương và chủ lực vây đánh cho xiểng niểng. Đặc biệt các đội nam nữ dũng sĩ với truyền thống anh hùng của đất thép Củ Chi đã bám thắt lưng địch mà bắn (ủa) mà đánh làm cho “địt” phải co cụm.”

Bảy Nô xua tay:

– Ê, đừng phát âm nguy hiểm vậy nghe!

Năm Tiều quay lại tôi nháy nháy:

– Tôi là dân Nam cờ mà ta! Mày chuốc, mày bào kiểu nào mà nó hứng dữ vậy Lôi?

– Tôi chuốc cái điểm pháo kích của tôi chớ có rớ tới cái điểm khác.

– Mày chuốc hai điểm trên đâu có đủ, nó đem lên cho mấy chú mấy bác chuốc tiếp.

Bảy Nô cười chành bành cái miệng rộng:

– Chú Ba chuốc, chú Mười bào rồi anh bác sĩ Tám Lê nạo. Đó là ba giai đoạn liền tù tì.

Ba thằng uống trà đổ xác như núi, hút thuốc phun khói như đống ung trâu và cười rung hầm. Như vậy cũng xoá được cái nỗi buồn chiến binh biên ải.

Tôi nhắc Bảy Nô đi thăm bà. Năm Tiều nói:

Lọp của nó còn mới nên nó sợ người ta đổ rồi xách mất. Còn tao nè, tao có sợ không?

– Anh bị đổ cái này còn cái khác, anh đâu có sợ.

Năm Tiều bị xoi trúng tim đen làm thinh.

Vừa đến đó thì Năm Dị chạy về kêu là bài hãi:

– Thầy ơi thầy! có chuyện nữa!

– Chuyện gì vậy?

– Má Hai chết rồi!

– Tầm bậy! Bả vô thăm vợ chồng thằng Út rồi về Trung Hoà bữa hổm…

– Tôi thấy tận mắt nên về báo cáo với thầy mà.

Tôi chạy vọt ra hầm:

– Cậu nói thiệt hả Năm Dị?

– Sau khi đắp hai cái nấm lớn và một cái nấm con tượng trưng cho gia đình thằng Út, tôi vô nhà tìm gỗ để cắm trên đầu mả. Tôi nghe mùi hơi nặng hơn ở bên ngoài. Tôi đi lần vô kẹt bồ lúa thì thấy một đống mền chiếu. Mùi thúi bốc ra từ đó. Tôi bèn giở từng lớp một. Càng giở càng thúi. Đến lớp cuối cùng thì đúng là bà má. Bà gục đầu xuống và hai tay ôm chân như sợ bom nổ điếc tai! Ở chỗ này thì không lấp được . Phải đem má ra chôn ở ngoài.

Tôi nhớ con Út có lần nói với tôi rằng lúc ba Hai còn sanh tiền ba đã xây sẵn kim tỉnh cho hai ông bà, nên bây giờ sẵn chỗ cho má nằm. Chỉ còn liệm và chôn. Không phải đào. May quá! Tôi nói cho Năm Dị nghe. Năm Dị bảo:

– Vậy thầy cho người ra tiệm Chệt Tư lấy một cây ni lông đem về đây mình đậy chụp lên, gói lại, xong đem ra ngoài bó rồi chôn. Chớ bây giờ làm sao đóng hòm được. Mỹ xúc dân đi hết rồi, tìm đâu ra thợ mộc?

Tôi tán thành ngay. Tôi nói với Năm Tiều:

– Anh nằm võng nghỉ đi anh Năm để tôi đích thân đến lo công việc mới được. Lúc còn sanh tiền má cho lúa gạo gà vịt chúng tôi ăn hoài. Vợ chồng thằng Út coi tôi như anh ruột.

Năm Tiều thở ra:

– Nghỉ mẹ gì được mà nghỉ. Mày đi tao cũng đi lại đó tiếp với tụi bây một tay. Chịp! Mới chôn vợ chồng thằng Út xong lại tới má.

Tôi cho người ra tiệm Chệt Tư lấy ni lông và vải mang về. Mang ơn Chệt Tư biết bao. Tôi, Năm Dị, Năm Tiều đích thân đem xác má ra, tẩm liệm và bó lại trên một cánh cửa khiêng ra huyệt. Cái huyệt bằng xi-măng đã đổ cát đầy một nửa. Anh em xúc lên xong thì trời tối. Chúng tôi đặt xác má xuống dưới ánh sáng mấy cây đuốc lá dừa. Nhìn bên trái, ba nấm đất còn mới nguyên. Bây giờ thêm một mô nữa. Thế là gia đình này tuyệt tự rồi bác Hồ ơi! Tôi gắng gượng nói mấy câu vĩnh biệt má mà không ra tiếng. Năm Tiều cứng cõi hơn, nhưng anh cũng phải nuốt gặn mấy lần:

– Thôi, má nằm đây với ba cũng ấm! Dưới đó cả nhà sum họp đại đoàn kết!

Rồi anh quay ngang. Chắc anh cũng khóc, mặc dù nói miệng cà rởn:

Tàn đuốc rơi lả tả,
Lửa cháy xèo xèo
Lòng người cũng nát như tro than.

Năm Tiều không về hầm tôi nữa. Anh kéo tôi ra xa, bảo:

– Mày chuẩn bị dời đơn vị đi. Tao đến đây để cho mày hay đó!

– Sao vậy?

Anh vỗ vai tôi:

– Ở trên sắp đưa mày ra chỉ huy tiểu đoàn 1 thay cho thằng Ba Châm. Anh em mình còn gặp nhau nhiều. Mày đừng buồn. Mày cứ nghĩ như thế này là mày cứ vui hoài. Coi như mình chết hồi chín năm rồi. Thiệt chớ mày! Đánh tàu, đánh xe, bắn máy bay cả trăm trận mà không chết. Ra Bắc rồi về. Tưởng bỏ xác ở Trường Son vì muỗi mòng đói khát mà cũng không sao. Về R đội bao nhiêu bom pháo mà cũng còn sống nhăn, không sứt miếng thịt nào, xuống Củ Chi hai năm bao nhiêu thằng lên bàn thờ, mình vẫn còn đây. Vậy mình tư coi mình như con buôn. Cái sống này bây giờ là lời, còn vốn thì đã lấy lại gấp ba bốn lần rồi. Lắm lúc tao hay nói càn, thấy ai đang buồn tao lại đâm hơi cho bao nhiêu người khó chịu coi tao là thằng ba trợn. Sự thực tao muốn che lấp nỗi buồn bên trong. Thôi về đi… nay mai, há há… họp đại hội ve chai ở nhà thằng Bảy Nô hoặc ở đâu đó hoặc dưới âm ty hổng chừng.

Tôi về hầm chúi mặt vào võng, nằm chờ chết.

Chương 65

Lá thư của người đàn bà yêu gã Lê Dương

Chúng nó nơ sạch kho gạo của ông Bảy Hốt ở Hố Bò. Chúng chở bằng trực thăng về cho dân ấp chiến lược (ở trong này mới bị xúc ra), kế đó chúng đụng kho quân trang ở Bến Dược, rồi kho y tế ở Bàu Đưng và kho vũ khí ở Lộc Thuận. Bản tin chiến thắng của cô Nhã Nam bỏ sót mấy vụ này. Quân Mỹ càng moi càng gặp của quí nên chưa chịu rút. Ban đêm cụm lại ban ngày bung ra. Tiểu đoàn 8 của Năm Thủ (Cao Hoàng Thủ sau này về thay tôi) nổ được năm, sáu quả pháo như ru cho Mỹ ngủ ngon hơn.

Trinh sát mon men lại gần cụm Bàu Đưng nghe các em Sàigòn nói mi-cơ-rô ỏm tỏi. Các em đòi theo Mỹ vô oánh thấy mẹ mấy thằng Việt Cộng. Mấy cậu về thuật lại, ai cũng tức nhưng không dám bắn. Nếu nổ một phát là nó quạt cho nửa giờ và câu vài trăm trái pháo.

Từ sau ngày hai vợ chồng Út chết, cơ quan buồn hẳn đi. Đám trẻ con mặt mày dàu dàu không dám trửng giỡn nhu trước vì sợ pháo lẫn xe tăng. Mấy cái bàn máy đánh chữ bỏ luôn dưới hầm nên không còn nghe tiếng lọc cọc vui cửa vui nhà. Nói chung mọi người sống trong bầu không khí chuẩn bị chạy. Vợ Sáu Phấn bị xúc, mấy đứa nhỏ nheo nhóc ở với chú Tám Cần. Sáu Phấn cố cầm chú ở lại chăm sóc nhà cửa nhưng coi mòi chú đã chân trong chân ngoài. Dân không dám ở lại với giải phóng nữa. Nói cho cùng thì ai cũng sợ chết. Cho nên đào địa để trốn. Nhưng trước cái chết của gia đình má Hai và của tôi, thì địa đạo trở nên một điều ghê tởm.

Mấy ông già ghềnh khu ủy đã qua bên kia sông ăn hút không nhắn một lời. Có vẻ mạnh ai nấy tẩu.

Một buổi chiều Mười tới. Nàng nói ngay với tôi:

– Em phải đi tìm con mới được. Vắng nó ba ngày em chịu hết nổi rồi.

– Ừ, em đi thì đi.

– Có ai nói gì anh không mà coi bộ anh buồn vậy?

– Vui sao được mà vui em?

– Anh xuống địa mà còn lên được thiệt là may hết sức.

Tôi nói cứng:

– Bộ ai xuống đó cũng chết hết sao?

– Không phải chết hết nhưng mà có nhiều người xuống rồi không thấy lên.

– Sao em biết gỉỏi vậy?

– Ông Tám Đột lại nhà anh Sáu Phấn với ông Sáu Bửng, bí thư xã, ba người bàn với nhau về vụ địa đạo. Ông Tám Đột nói ông Ba Xây bị bắt thiệt rồi.

– Chuyện đó đúng. Có người bị bắt chung với ổng chạy thoát về nói lại cho anh.

– Ai vậy anh?

Tôi thuật lại vụ Út Nhỡ quào mặt thằng Mỹ rồi chui mất cho Mười nghe, Mười cười:

– Em hổng tin mấy cô dũng sĩ đó đâu.

– Sao vậy?

– Mỹ gì khờ như vậy. Trước kia có lần em đi chợ, em gặp một thằng mặt như có cô hồn, em bước chân nọ đá chân kia, bụng run muốn chết. Từ đó em nghỉ đi luôn.

Tôi hỏi:

– Mấy ổng bàn vụ địa điếc ra sao?

– Anh Sáu em nói kiểu này thì phải dời tức tốc, sợ ông Ba Xây dắt Mỹ về.

– Có vụ đó nữa sao?

– Có chờ sao không anh? Ở ngoài Ràng đã bị rồi mà. Không ai ngờ nên bị dính hết.

– Còn ông Tám Đột và ông bí thư nói sao?

– Ông Tám Đột nói là ông Ba Xây không có đầu hàng Mỹ dễ dàng như vậy đâu. Ổng nói ông Ba Xây vô đảng hồi trước hoà bình lận. Nhưng anh Sáu em nói vô hồi nào thì vô chóo Mỹ nó cho uống nước hoá học là khai hết. Ông bí thư phụ hoạ với ông Tám Đột nói thằng Xây là xã đội, nó dư biết trong mình gài mìn và lựu đạn tùm lum, nếu nó dắt Mỹ về thì Mỹ để cho nó đi trước thế nào cũng đạp mình hoặc lựu đạn banh xác trước. Nó đâu có dại.

– Rồi anh Phấn nói gì nữa?

– Anh Sáu em nhứt quyết phải dời và còn kêu ông gì hiện ở hầm trong nhà ông Ba Xây phải dời đi nữa! Thằng chả không dẫn Mỹ vô thì chỉ cho máy bay bỏ bom rồi làm sao?

Tôi giật mình tự nhủ: có lý nào Năm Lê chưa biết Ba Xây bị bắt? Mười tiếp:

– Ông Tám Đột nói từ rày ổng sẽ không dùng cái đường Thống Nhất nữa.

– Đường Thống Nhất nào?

– Thì cái đường anh chui xuống rồi chết ngộp ở dưới đó chớ còn đường Thống Nhất nào nữa ?

– Sao ông ta tin tưởng Ba Xây không dắt Mỹ về mà ổng lại bỏ con đường đó?

Mười ngập ngừng hồi lâu mới nói:

– Em đã biểu là có nhiều người xuống rồi không lên nữa ma!

– Bậy nào!

Mười vỗ vai tôi:

– Thiệt! Hổng tin anh gặp ông Tám Đột hỏi thử coi. Một con chó chết sình ở dưới sông còn thúi lên tới trên này huống chi người ta.

– Sao em biết có người chết ở dưới đó?

– Em nghe ông Tám Đột nói chớ sao nữa. Ổng tới xin mấy cái đinh dài đóng ghe của anh Sáu em để khoá nắp hầm lại luôn.

– Chuyện gì em cũng biết hết.

– Em còn biết đường Thống Nhất có mấy ngách trổ ra đâu và dài bao nhiêu nữa.

– Dài bao nhiêu?

– Không quá 500 thước.

– Sao chắc vậy?

– Anh Sáu em chỉ huy lính đào phối hợp với xã đội mà. Chú Hai Giả cũng có đem lính đi đào mấy lần. Như vậy ông Tám Đột mới cho lính của anh chun chớ tưởng khi không mà ổng cho à! Trời ơi! Thằng cha đó ghê lắm!

– Ghê làm sao?

– Thôi, em không có dám nói đâu. Bà Sáu Bầu phải để cho ổng ở trong nhà mà êm rơ đó! Chị Sáu em biểu anh Sáu em có muốn chui hầm thì đào riêng mà chun, chớ đừng có chun với mấy ông đó. Thấy chưa, nếu ảnh chun vừa rồi thì cũng như anh. Mấy thằng cha đó làm hùm làm hổ bắt dân chun chớ mấy chả đều có hầm riêng hết á. Từ rày có gì …

– Thôi từ rày anh không chun nữa. Em định đi tìm con mấy ngày thì về?

Mười lặng thinh, chốc chốc lại thở dài, rồi lắc đầu nhìn tôi:

– Chắc em không còn gặp anh nữa quá!

– Sao vậy?

– Ở trong này sao được mà ở. Em chông chênh một mình khó quá hà anh à. Lâu nay sở dĩ em còn nắm níu lại đây là vì em thấy con Hoàn nó mến anh, em đi không đành. Người lớn thì dễ chớ con nít đòi thì khó từ chối lắm. Kỳ này chị Sáu em bị xúc ra ngoải chắc chỉ ở luôn. Thế nào cũng mang tiếng chồng giải phóng mà vợ quốc gia, nhưng mà hoàn cảnh như vậy biết làm sao bây giờ? Đất đai của ba má em để lại cho hai chị em đã bán trước chớ để tới bây giờ đâu có ai mua n ữa. Hai chị em đã tính hết rồi .

Mười ngưng một lúc:

– Để em dọ ngóng thêm coi con ở đâu, nếu vài ba bữa nữa mà không có tin gì hết thì em phải đi.

– Ừ, em ở luôn ngoài đó cho khoẻ.

– Anh sợ mang tiếng vì em phải không?

– Em mang tiếng vì anh thì có, chớ anh sợ gì? Nhưng anh không muốn cản em. Ở trong này không ổn. Lại nữa con lớn rồi mà không có trường học. Còn em thì còn trẻ đẹp. Em phải lấy chồng. Thiếu gì người theo em, em vẫy tay là họ tới chớ gì.

– Đã một đời chồng rồi em ngao ngán lắm.

– Một đời hay hai đời ba đời gì em cũng phải lấy chồng. Em không ở vầy hoài được đâu.

Mười mếu máo như trẻ con:

– Sao anh không về sớm sớm để em gặp anh?

– Bây giờ gặp rồi cũng như không! Mình yêu nhau thôi chớ có sống với nhau được đâu.

– Sao anh nói kỳ vậy? Người ta đeo anh nhiều quá phải không?

– Không đâu em! Em lầm rồi. Anh chưa bao giờ trao trái tim cho ai trọn vẹn nhanh chóng và hoàn toàn như đã trao cho em.

– Vậy em còn lấy chồng làm gì nữa?

– Chồng là một chuyện, còn yêu lại là một chuyện khác em à. Lấy anh rồi em sẽ hết yêu anh.

– Bộ anh có bà nào ngoài Bắc mà anh giấu em hả? Hổng chừng có một bầy con nữa đó!

– Lính Lê Dương mà vợ con đâu sớm vậy? Vợ anh là em, con anh là bé Hoàn chớ còn ai nữa. Em không nghe anh xưng ba với con sao?

– Sao nãy giờ anh không hôn em vồ vập như mọi lần?

– Vì ngồi cách nhau…

– Có hai tấc mà cách gì? Thôi, anh lại ngồi đây cho gần em đi anh, để mai mốt còn xa nữa!

Tôi ngồi sang cạnh Mười:

– Nè, hôn đi, giận hả?

– Không giận hờn gì hết, nhưng buồn.

– Vì sao?

– Vì anh sắp rời đơn vị này, vùng đất này và… em nữa!

– ….

– Anh đi đâu?

– Đời thằng lính Lê Dưong, người ta khiến đâu đi đó. Xin lỗi em nghe, anh sắp bận công tác rồi. Anh có hẹn nên phải đi . (Tôi phải cho Năm Lê hay vụ Ba Xây bị bắt.)

– Hẹn gì? Anh từ chối không được sao? Em không cho anh đi. Em muốn anh ngồi đây với em tới sáng.

– Không được em à!

Tôi đứng dậy hôn trên má Mười. Mười không nói gì nữa. Da mặt lạnh ngắt. Tôi lấy hết can đảm, lùi ra quơ súng nịt vào và bảo.

– Anh đi nghe. Tới giờ rồi.

Mười vẫn ngồi yên, cơ hồ không cảm xúc. Mắt nàng long lanh. Tôi quay lưng bước đi một quảng lại trở lại hôn nàng. Đáng lẽ hôn môi không hiểu sao tôi lại hôn trán. Tôi đi xa còn ngó lại. Nàng vẫn ngồi đấy. Nàng có biết đâu niềm đau nỗi khổ của tên Lê Dương được một người đàn bà yêu, tình yêu say đắm hơn tất cả các mối tình trước đây của hắn gộp lại, nhưng số của hắn là lê dương cho nên thân phận hắn phải nổi trôi và không định cư được ở một trái tim người đàn bà nào, dù là người đàn bà yêu hắn nhất.

Tôi đạp xe một hơi lên hầm. Trời đã ngọ mặt. Tôi gặp Tám Nghi đang lọ mọ kéo mấy cái chà tre rắp cửa. Tôi nói:

– Ba Xây bị bắt rồi, hay chưa?

– Ơ kìa, mày đã cho thằng Đỏ vô cấp báo rồi, quên hả? Từ rày có tới đây phải kêu người ta ra rước, đừng có xông đại vô nghe mày! Ổng sai gài lựu đạn và mình hai vòng rồi đó.

– Công việc quá lu bu, tao lộn hồn lộn vía. Sao còn ở đây?

– Ổng bảo để khu ủy đi trước rồi ổng sẽ dông sau!

– B52 quất trúng quân y của quận Bến Súc hay C3 của Tám Lê mầy biết không?

– Biết rồi! Chạy đàng mồ mắc đàng mả!

Tôi muốn trở về gặp Mười. Không biết hồi nãy sao tôi không bảo Mười ngồi chờ. Mà cũng phải, đi công việc biết có về sớm được không mà bảo người ta chờ? Chờ một cái gì không đến.

– Thôi coi như ổng đã hay tin Ba Xây rồi, tao về nhá.

– Mày vô đi, ổng đang cần gặp mầy đấy.

Nói xong Tám Nghi dắt tôi lách qua con đường mới vào ngỏ mới, cái gì cũng đổi chỗ hết.

– Mày ngồi đây nghe, tao vào tâu, bệ hạ có cho thì mới vào chầu được.

Tôi sốt ruột muốn trở lại với Mười. Tôi như thấy vẻ mặt âu sầu của nàng, hờn dỗi trách móc, nhưng một công việc chết sống như thế này, tôi không thể phó tách cho thằng Đỏ được. Biết vầy thì mình đã ở lại với Mười tới sáng chớ vô đây làm chi? Tám Nghi trở ra:

– Sửa lại áo mão rồi vô chầu, bạn!

Tôi theo ánh đèn pin (cái đèn quáu tôi cho hắn thì phải) vào tận cái ngách sau cùng. Năm Lê pha trò mở đầu câu chuyện.

– Sao? Mày thấy âm phủ có vui không?

– Dạ.. anh Năm cũng hay chuyện em chết dưới địa à?

– Tao còn biết mày nhờ hửi “bia” mà sống dậy nữa.

Tôi cười hồn nhiên khi thấy nét mặt chì của xếp mình tươi tắn. Anh là người đánh Tây ngon như rau, lính phải kêu anh là ông Thần Núi (lấy tiếng từ Sơn Tiêu). Đáng lẽ anh càu nhàu hay hạch hỏi chuyện này kế hoạch nó, nhưng anh cứ đùa:

– Chai bia đó khui còn bọt không mậy? Hà hà… Mày đi đâu cũng gặp số may.

Thấy anh vui tôi cũng đối đáp gọi là:

– Dạ cũng đại khái vậy anh Năm à!

– Chai này khác chai kia chớ chú em!

Rồi anh bắt qua chuyện tác chiến với giọng nghiêm trang:

– Mình không nên chạy bỏ dây. Mình ở đây thì dân bị xúc còn về, nếu mình đi thì mấy thằng mặc áo bà ba mang guốc vông (huyện ủy) này hút gió không kêu ngay, vì không có mình dân sẽ không về. Dân không về thì quán không bán, gạo không có xe bò chở, nước mắm cũng không có mà húp nữa là nhậu nhẹt hàng ngày! Tụi D8, D7, Đ không thấy D nào làm được cái gì! Mày có gặp thằng Châm, thằng Nô, thằng Thủ thì bảo là tao không có bảo tụi nó liều mạng nắm thắt lưng (có lẽ anh sợ phạm húy nên nói né qua) đừng có liều mạng làm tiêu hao lực lượng. Còn vấn đề của mày, mấy chả muốn đưa mày ra chỉ huy tiểu đoàn thép Củ Chi. Tao bảo con nhà pháo không làm vậy được. Hiện không thể có hai thằng như mầy ở quân khu này. Nhưng mấy cha mặc áo bà ba mang guốc vông quyết định chớ không phải tao, cũng không phải ông Ba Xu, nên nếu mày rời H6 về chỉ huy D thép thì chớ có trách tao.

– Dạ, em đâu có trách gì anh Năm! Thượng cấp đặt đâu em ngồi đó.

Tôi mong ổng ngưng câu chuyện để vọt về, nhưng ổng lại lấy úych ky và kêu Tám Nghi đem tôm khô ra nhâm nhi. Tôi ngồi uống rượu mà không biết mùi gì.

Xong tiệc, tôi ngó đồng hồ. Đã quá mười giờ. Tám Nghi đưa tôi ra ngõ. Tôi hỏi:

– Bữa trước mấy cha lủi đâu?

– Ngách đặc biệt. Chỉ tao với ổng thôi.

– Không thông ra đường Thống Nhất chớ?

– Không có thông đâu cả. Địa đạo mà chui như bầy vịt thế kia chém chết cũng ăn hoá học. May mà mày nhờ thùng bia nà! Hề hề…

Tôi vọt lên xe, đạp bán thân mẹo dậu. Pháo sáng của Dakota mắc quanh các cụm quân ở Bàu Đưng, Bàu Lách, Rừng Lộc Thuận đẹp như sao sa. Tôi về tới hầm, quăng xe đạp nhào vô. Trên băng một người con gái đang ngồi. Tôi ôm lấy hôn tràn lên mặt và thầm thì:

– Anh xin lỗi em nghe! Anh bỏ em anh đi em ngồi một mình. Từ rày anh không đi như vậy nữa. Anh từ chối tất cả. Em đã nấu gì cho con ăn chưa?

Tôi có thể nhai ngấu nghiến nàng ra như một miếng cá chiên dòn. Nhưng bỗng tiếng cười vang hầm. Tiếng cười không phải của Mười. Cô gái hỏi:

– Thủ trưởng đi đâu lâu vậy?

– Mấy tiếng mà lâu?

– Bốn tiếng! Mấy anh trinh sát đi kiếm thủ trưởng tự nãy giờ.

– Tôi đi tìm một người chớ có cần ai đi kiếm tôi đâu.

Tôi cảm thấy chới với như người chết đuối vừa vớ được cái bập lá vuột mất. Đầu óc tối đen. Hồi lâu mới bật ra câu hỏi:

– Mười về lâu chưa Thu?

– Chỉ mới vừa đi.

Tôi vội nhảy lên quất đèn pin theo và gào lên:

– Mười! Mười!

Trả lời cho tôi là tiếng của tôi vang đi dội lại trong đêm. Dakota lại ném pháo sáng. Một chiếc Mohawk bay dọc rạch Bến Mương chụp hình nghe ầm ầm. Thu quát:

– Anh Hai vô mau.

Tôi vừa bước xuống hầm thì Thu trao cho tôi một gói giấy nhỏ rồi bỏ đi như ghen tức.

– Của chị Mười đó, không phải của em đâu.

Tôi cầm lấy cái gói còn ấm hổi mà bàng hoàng. Tôi không kịp đốt đèn. Cứ soi pin tay mở cái gói. Tiền và một bức thư. Tôi ném xấp tiền lên bàn và nằm vật ra võng tay soi, mắt đọc. Cho đến bây giờ gần ba mươi năm, mỗi khi nhớ lại tôi vẫn còn mường tượng nét chữ và nhớ cả bức thư như một bài học thuộc lòng.

Anh yêu,

Đêm qua thấy anh về với con và vuốt tóc em. Chừng thức dậy thì chỉ quơ đụng chiếc gối lạnh ngắt cho nên bữa nay em hỏi anh coi có về thật hay chỉ là chiêm bao.

Em phải đi ra Cây Trâm, Cây Bài để tìm con. Chắc anh không gặp em nữa đâu. Em chỉ ước ao sao một ngày nào yên ổn sẽ dắt em đi ngắm cảnh đẹp ở miền Bắc và giải thích cho em nghe chuyện hay chuyện lạ, nhưng chắc không được rồi. Tình chia đôi ngả kể từ đây.

Tiền này anh cất xài. Anh không nên uống rượu đua với mấy ổng rồi bịnh hoạn nằm một đống không ai thăm, cười khóc một mình nghe.

Hôn anh trên giấy.

T.B. – Em gởi anh sợi tóc của em để làm kỷ niệm

Chữ của nàng chân phương tròn trịa không thiếu nét. Chữ Đ ở đầu thư viết theo kiểu học trò nhà quê lớp ba.

Thôi vậy là trọn một cuộc tình. Nàng đã tặng tôi cả trái tim. Tôi cũng dâng nàng trọn vẹn, những cái hôn thực của da thịt lẫn mơ.

Tôi nhét lá thư vào túi áo đặt tay lên ngực như ôm một con chim trời sợ nó bay mất, như ôm một tấm huy chương của tình yêu, như ôm vết thương của chính mình.

—->Chương 66-67-68-69-70

Advertisements

3 Responses to “2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QIV- (61-65)”

  1. Austin Pham Says:

    xin cam on chu Tran Thy da bo cong dang hoi ky nay. cam on nhieu.

    • Lê Thy Says:

      Hi Austin,
      Vô cùng vui vì thấy việc làm của mình được nhiều người khích lệ . Cám ơn nhiều .

      Lê Thy (bà lão 66 tuổi chứ không phải “chú” hi hi…)

  2. austin Pham Says:

    cam on co Thy rat nhieu. Xem hoi ky nay co qua nhieu nguoi se khong khoi bang hoang vi thu doan cong san bac viet…ngoai suc tuong tuong!


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: