2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QIV- (57-60)

2000ngaydem_bia4
Cái Chết Bi Thương của Cô Văn Công R

Chương 57

Anh Hai ơi! Em đâu có muốn mần anh hùng mà nhịn đói!

Đó là lời nói của dũng sĩ diệt Mỹ Củ Chi: Năm Cội. Người anh hùng này đã khóc và nói với tôi như vậy trong một đêm tàn trận ở vùng Bàu Lách trên đường về của chúng tôi sau khi nghiên cứu bãi bắn pháo ở Ràng. Anh hùng! Hai tiếng đó thiêng liêng cao quý cho những chiến tướng lừng danh hoặc những chiến sĩ bình thường có lòng dũng cảm hơn người. Năm Cội, Tư Gừng, Bảy Mô, Út Nhỡ, Bảy Nê và vô số chiến sĩ cán bộ khác có thừa lòng dũng cảm đó. Ai dám bảo là không , khi họ dám dùng súng ngựa trời đạp lôi thô ơ, hầm chông lạc hậu chống xe tăng và phản lực? Nhưng, sau mấy năm liền, hi sinh , chịu đựng, họ bừng mắt ra tự hỏi: Anh hùng để làm gì mà lại đói ?

Đó là lời nói của dũng sĩ diệt Mỹ Củ Chi: Năm Cội. Người anh hùng này đã khóc và nói với tôi như vậy trong một đêm tàn trận ở vùng Bàu Lách trên đường về của chúng tôi sau khi nghiên cứu bãi bắn pháo ở Ràng. Anh hùng! Hai tiếng đó thiêng liêng cao quý cho những chiến tướng lừng danh hoặc những chiến sĩ bình thường có lòng dũng cảm hơn người. Năm Cội, Tư Gừng, Bảy Mô, Út Nhỡ, Bảy Nê và vô số chiến sĩ cán bộ khác có thừa lòng dũng cảm đó. Ai dám bảo là không , khi họ dám dùng súng ngựa trời đạp lôi thô ơ, hầm chông lạc hậu chống xe tăng và phản lực? Nhưng, sau mấy năm liền, hi sinh , chịu đựng, họ bừng mắt ra tự hỏi: Anh hùng để làm gì mà lại đói ?

Trước khi giải phóng, Đồng Khơỉ, Củ Chi sung túc vui vầy. Bày đặt giải phóng đồng khởi bây giờ một hột gạo tìm không ra. Và 30 năm sau (1962-1992) vết thương Củ Chi vẫn chưa lành. Tôi xem phim thấy con cháu của những ông bà anh hùng đất tép hôm nay, 1992, ngồi đặt lờ bắt từng con cá sặc kiếm sống ở những hố bom đìa.

Anh hùng vô ích vì lãnh đạo ngu xuẩn.

Câu hỏi của Củ Chi cũng là của toàn quốc.: “Hi sinh chiến đấu để làm gì?” Để chị đói, nghèo, tủi nhục ư? Tội của Hồ to biết chừng nào.

… Sáng hôm sau tôi vẫn còn cái ý nghĩ chập chờn trong đầu: Quắn có thể căm ghét tôi mà mù quáng trả thù . Cho nên tôi ra lệnh sẵn sàng chiến đấu và rút nhanh ra khỏi vùng Ràng trở lại đường cũ để đánh lạc hướng thằng Lệnh.

Lam đi sau tôi, im lặng, không niềm nở phấn khởi. Tôi biết nàng nghĩ gì. Trái tim nàng bị thương. Tôi cũng ân hận, nhưng trước tiếng sét ái tình bất ngờ và quá ư mãnh liệt của cô y tá tôi không cưỡng nổi. Vả chăng tôi đâu có cưỡng lại chút nào. Tôi như cái lá buông trôi trên dòng suối của nàng. Lam suy bụng nàng thì cũng hiểu lòng Quắn. Nàng há chẳng biết tôi là mục tiêu đồng thời là nạn nhân của bao nhiêu cô gái ở vùng này. Và chính vì thế mà nàng liều mạng vọt về đây làm một việc táo bạo như một cái dấu chính thức đóng lên trang giấy đời tôi hãy còn trắng cho đến nay. Tôi thấy thương nàng, nên không muốn đá động tới hành động vô kỹ luật của nàng.

Tôi nghe ở phía sau, Hai Khởi rù rì với Lam:

– Bất quá ổng cắn má vuốt lưng nó chút đỉnh thôi chớ ăn thua gì?

– Không ăn thua! Con nhỏ đó quỉ lắm.

– Quỉ thì quỉ rồi cũng không đến đâu. Cô đã nhất được ổng rồi.

Trở lại Đồng Lớn, gặp cô bạn Út Hương của Hai Khởi đang nóng ruột chờ ở đó. Cô ta đẹp gái, tóc kẹp, lưng eo, quần ni-lông đen mướt. Thấy ba sấp nhỏ băng trắng toát trên đầu nàng Hương kêu:

– Có sao không anh? Có sao không anh?

Ba Tố bảo:

– Sứt chút thôi. Nhưng chỗ đó không quan trọng. Phải chỗ khác kìa mới lo.

Cả bọn cùng cười. Nàng Hương thẹn đỏ mặt:

– Mấy chú cứ vậy không hè !

– Thì vậy chớ sao.

Chúng tôi giao chàng thương binh lại cho người đẹp ôm ấp và tiếp tục hành quân. Thảo nào thằng nhỏ không quên khuấy mẹ đỉ khăn mỏ quạ váy đụp ngoài Thanh Hóa. Một chục thằng Nam Kỳ cấy rau muống về xứ đều bị dưa hấu càn lút một cách phủ phăng.

(Về sau, cô bé Hương có bầu, Khởi đưa về cha mẹ ruột bên làng 13 quận Dầu Tiếng nuôi đẻ. Còn chàng tham mưu quân đội thì rơi một sao, tuột chức. . . một cách vừa vui vẻ vừa đắng cay với bản án: Khai trừ đảng.

Riêng Ba Tố trong chuyến đi điều nghiên này cũng gặp được một ý trung nhân, nhưng Mỹ đánh rát quá không cưới xin được. Đơn vị lại phải dời. Ông Tiểu đoàn phó đành ôm hận biệt ly. Càng đau đớn hơn, chàng bị khui hầm và bị bắt làm tù binh bỏ bà vợ chưa cưới góa bụa lúc chưa có gì mí nhau hết trơn. Còn chàng Tôn Sứt cũng gặp được một. người đẹp tên là Ba Lợi tuổi độ 25. Lợi có cô em gái lấy chồng lính công trường 9, cũng đang sống cảnh phòng không chích bóng đợi đức lang quân mãi mãi không về. Ba Lợi chờ Tôn Sứt cưới, nhưng tình thế nước sôi lửa bỏng ai còn lòng dạ nào vui tiệc tân hôn. Mãi hai năm sau, Tôn chui hầm, không bị khui như Ba Tố, nhưng cũng đã hi sinh cùng với hai chiến sĩ cận vệ. Trận đó Mỹ vô, càn lớn rồi rút. Tôn không đề phòng tưởng đã bình yên. Nào ngờ khi dỡ nắp hầm chui lên thì đạp mìn. Mỹ không gài một trái. Nó gài cả một dây, một bãi, như trường hợp cả Bộ Tư Lệnh Quân khu IV bị vướng chết sạch cả đoàn gần hai chục người (sẽ kể sau). Ba Lợi trôi nổi hết cơ quan này trên cơ quan khác, sau cùng lại lọt vô hầm Đờ Cát Tri của ông Thần Núi. Ông ta gọi nàng vào kết khuy áo, vá quần cho ông. Tám Nghi bảo đảm với tôi là ông ta rất đúng đắn, chắc chắn không việc gì xảy ra. Nói xong, hắn nháy mắt rồi nghiêm sắc mặt như sắp huấn thị về đạo đức cho chiến sĩ mình.)

Ấp đội Hĩ vẫn rất mực trung thành, làm liên lạc đưa chúng tôi đi suốt dãy đất nhà . Qua một khoảng đồng trống Hỉ bảo:

– Hồi 60, công trường 9 về đây, dựng khán đài, mít tinh diễn kịch suốt đêm. Con gái mê mết chiến sĩ. Một đêm sáu, bảy đám tuyên bố. Tụi bót Trung Hòa biết mà vẫn làm lơ. Mới có vài năm mà mọi cái đều lật ngược.

Ba Tố nói và cười khẹc khẹc.

– Nó lật ngược lâu rồi chớ phải mới đây sao!

Tôn Sứt phụ họa.

– Nó lật ngược thì mình lật úp lại mấy hồi !

– Ý đừng có lật, không nên! Lật úp thì hết làm ăn!

Rồi mọi người cười xòa. Toàn những chuyện trật đường rầy như vậy suốt chuyến đi mà Ba Tố là người chủ động. Đến một ngôi nhà ngói còn nguyên, trước sân có vài gốc kiểng và mấy bụi bùm sụm xanh tươi tròn tựa như mái tóc nàng Quắn, tôi hỏi:

– Nhà ai coi bảnh vậy ông ấp đội?

– Nhà của Chín Phải, điền chủ ở ấp Ba Sòng này đó thủ trưởng. Sau trận Bàu Lách ông giở bớt và đem vợ con n ra Trung Hòa bán quán kiếm sống. (Tôi nghĩ thầm: giải phóng tới đâu dân chạy tới đó! Nào riêng ở đây. Nào chỉ ở miền Nam!)

Hỉ trở lại câu chuyện bỏ dở:

– Bây giờ nó làm khó dân chúng ghê lắm. Trước đây Hai Giả cảnh cáo chúng nó bằng mấy quả 81. Nó trả lại cả trăm. Đồng bào chửi bộ đội thục mạng. Thằng Lệnh đón đường đàn bà đi chợ giằn mặt từng người: mấy bà chứa mấy thằng Việt Cộng trong nhà, thì đừng có trách!” Thủ trưởng à ! Mình không nhổ cái Trung Hòa thì nó sẽ lấn vô tái chiếm An Nhơn và Hố Bò cho coi. Mà em nghe đâu tụi nó sắp đóng Rạch Bắp nữa. Vậy thì mình đâu còn đất sống, thủ trưởng?

Tôi bảo:

– Kỳ này mình nhóng thử cái đã chú em!.Bây giờ không phải như hồi 60 mà đồng khởi bằng kèn đu đủ được . Nó còn có Đồng Dù, Bến Cát, Trảng Bàng, Củ Chi, Trung Hòa, cái nào cũng lớn cả. Muốn hạ một cái phải có một trung đoàn hùng lực đủ các binh chủng!

Bỗng Hỉ trỏ tay ngang:

– Đó là nhà bà má Hai có con nhỏ cứng cạy rồi mà còn gác máy bay. Mấy anh có cun (conlt vô chắc được. Nhưng tướng cô ta phải cỡ anh Tôn này mới xuể.

-Bả đang thọc vú sữa kia kìa, mình vô kiếm bậy vài trái bóp nút chơi.

Rồi Hỉ kéo ngọn vô trước. Chúng tôi theo sau. Bà má thấy toàn cun nên mừng rỡ rối rít. Nhìn vào trong thấy năm sáu bà Phờ Nờó. Tư Bé chạy ra, rồi kế Tám Phụng. Sau cùng là bà Năm Cá Lẹp. Bảy Mô đứng nép ở bẹ cửa. Tư Bé la lên:

– Mấy ông tính đánh úp tụi tui sao kéo đến rần rần vậy?

Ba Tố đối đáp cấp kỳ:

– Có đánh thì phải ngửa, chớ úp đánh sao được ?

Cả nam lẫn nữ cười rần. Bà má bảo con gái lấy cái lồng trúc ra móc vú sữa cho khỏi rớt dập. Nhưng mấy cậu đực rựa đã xung phong đảm nhiệm. Cô gái, coi cũng mặn mòi, duyên dáng nhưng ngặt thân liễu bồ tượng. Cô bèn giao cái lồng, xách giỏ đi mua đồ . Một chút cô trở về , gọt vú sữa xắc miếng bỗ đầy thau, khui sữa con chim trút đường cát vào khuấy lên. Buổi trưa mà ăn kiểu này thiệt là khỏe người.

Bà Năm Đang (có biệt hiệu là cá lẹp là vì thân hình bà ốm nhom dẹp lép như con cá lẹp. Bà đang làm bí thư xã ủy Phú Hòa Đông thì bị bốc lên ém vô chức khu ủy viên như các bà Út Tức, Năm Cầu Xe) vui vẻ nói:

– Bữa nay anh hùng ngộ thuyền quyên vậy nhà pháo chọn con dâu cho rồi!

Má Hai tiếp:

– Cô Năm nói phải. Coi bộ xứng đôi vừa lứa dữ đa.

Ai nấy cười rộ, chỉ một mình Bảy Mô giữ sắc mặt nghiêm trang. Không hiểu có ai nói gì về vụ giữa tôi và Lam với nàng chưa, hay nàng chỉ linh cảm biết vấn đề, khi thấy Lam quấn quít bên tôi? Tôi đến bên nàng, hỏi han:

– Chị Tư còn ở ngoài nhà không em?

– Còn ! Má mới vừa về ! Anh chừng nào trở lại cơ quan?

– Chắc phải một tuần nữa đó em!

– Em sẽ giữ má lại để gặp anh. Một lần vô một lần khó ! Hụt lần này không biết lần nào nữa.

Tôi liếc thấy mây đen trên gương mặt của Lam. Nhưng tôi lướt qua, tiếp tục câu chuyện với Bảy Mô.

– Còn em đi đâu đây?

– Em đi hộ vệ cô Năm.

Bỗng Lam kêu lên:

– Anh Hai, anh Hai ! Anh có cất đồ nữ trang không?

– Nữ trang gì?

– Hai chiếc nhẫn của má đưa cho anh!

Tôi hiểu là cô bé muốn chọi đối thủ. May quá, tôi đang lúng túng không biết phải trả lời như thế nào thì Tám Phụng đến. Nàng là người con gái trên hai mươi nhưng coi còn rất trẻ và là mục tiêu tấn công bất thành của bao nhiêu anh hùng mùa thu mùa đông. Tám Phụng duyên dáng nói:

– Bữa nay họp mặt đông vui, tụi em muốn nấu cơm đãi mấy anh một bữa, hổng biết mấy anh có đồng ý không?

Ba Tố làm bộ e lệ:

– Dạ chúng tôi đâu dám chối từ, ngặt vì đứa nào cũng là Tạ Hầu Đôn hết, sợ e mấy em không có cái chão đụng nấu cơm cho đủ ăn đó thôi.

Tám Phụng nói nhỏ với tôi:

– Anh Hai đến coi bãi bắn chứ gì. (Tôi gật) Khi đến ông Ba Tâm, anh phải coi chừng; ông ta tuy là xã đội phó nhưng lại không thích chiến đấu. Ảnh có ông già vợ càng không thích mình. Lần trước mấy anh pháo kích đồn Trung Hòa, nó trả hỏa, ổng bị chết hai con trâu ổng qui lỗi cho mình. Vậy khi các anh gặp Ba Tâm thì bàn công việc ở ngoài đường đừng có vô nhà ổng nghe thì bể hết. Ổng dám cho lính Trung Hòa hay lắm. Ổng nói với vợ Ba Tâm: “Hễ tao thấy tụi nó vác pháo xuống đây, tao gài lựu đạn nổ banh thây. Ba cái thằng chọc cứt không nên lỗ . Giải phóng giải phiếc cái gì. Ai cần giải phóng.” Ổng dám nói vậy đó.

Tám Phụng tỉ tê tiếp:

– Vợ của Ba Tâm cũng giống cha. Bả cằn nhằn chồng bỏ bê công việc nhà. Bả giận chồng rồi đánh con chửi rủa om sòm. Cả xóm đều nghe.

Tôi thối chí vô cùng. Tình hình nhân dân như vậy đánh đấm làm sao. Kế hoạch mới thực hành bước đầu đã lộ ra tới dân rồi. Tụi nó chờ mình hành quân tới là đổ chụp tiêu diệt sạch. Với ý nghĩ bi quan như vậy, tôi cảm thấy không hứng thú ở lại ăn cơm nên bảo anh em đi sớm. Mấy bà Phờ Nờ nhất quyết giữ đám rể pháo binh ở lại cho bằng được.

Riêng tôi, ở đây thì bị kẹp giữa hai gọng kềm Lam-Mô kẹt cứng khó bề xoay trở. Trời xui đụng đầu lộp cộp lạc cạc làm chi? Chắc là đổ bể chuyện gì cho coi. Mới vừa thoát nạn lại gặp nạn. Lam biết mình thua sút Bảy Mô về khả năng, về uy tín lẫn sắc đẹp nên cứ hầm hầm, gờm gờm. Còn Bảy Mô cũng rõ điều đó nên tỏ vẻ tự kiêu ngầm, lâu lâu nói với tôi một câu để chứng tỏ rằng ta đây quen anh Hai trước hơn em Lam mà ! Tôi thấy không khí bức nóng nên lôi Ba Tố ra ngoài bàn chuyện binh bị:

– Mình chơi cái Trung Hòa trước, chọc cho Đồng Dù tiếp viện. Mình nện luôn bãi đổ trực thăng lẫn Đồng Dù.

– Thầy định xài mấy khẩu tất cả?

– 12 khẩu. 4 cho Trung Hòa, 4 cho Đồng Dù và 4 cho cơ động.

– Phải chọn pháo thủ giỏi bắn cho lệnh.

– Mỗi phút thao tác chừng 8 quả : Mình có thể bắn chừng 10 phút. 12 khẩu bắn 8 x 10 x 12 : ngót 1:000 quả. Khác nào B52. Xong rồi phải đút xuống hầm ngay và chạy. Chậm trể là nó phản pháo bít hết đường đi.

Ba Tố nói tiếp:

– Cái gì tôi cũng không ớn hết, chỉ sợ đạn pháo của mình chôn giấu quá lâu, ngòi nổ bị ảnh hưởng khó bắn cho chính xác.

– Thì đành vậy chớ biết làm sao ! Đến như pháo của ông Hai Nhã là thứ dữ mà còn đấm lưng bộ binh tơi bời. Pháo của mình là loại pháo cà lăm có từ đời Tự Đức tới bây giờ, chưa chắc đạn ra khỏi nòng.

– Hổng biết mấy ông giáo sư Liên Xô về tới bên tâu cáo xin đùm mình thứ khá khá chưa?

Vừa tới đó thì Hỉ tới báo cáo:

– Ông thần trên đầu có lỗ chạy theo kia.

Ba Tố hỏi.

– Ông thần nào có lỗ trên đầu?

– Ông Ba Tâm chớ ông nào.

Ba Tâm chạy tới, thở ra khói lỗ mũi, nói cà hục cá hồi:

– Tôi rượt theo mấy anh muốn xỉu.

Một ông già đi theo sau Ba Tâm tay xách sợi dây dàm trâu, khấc khăn đầu rìu, phang áo, mảng ngực đỏ như mặt trời. Ba Tâm bảo:

– Ba đi về đi nếu nó ra phía Gò Nổi trên thì bà con sẽ bắt buộc lại dùm, không mất đâu.

Hỏi ra mới biết ông già mất trâu đi kiếm táo tác khắp nơi mà chưa gặp. ông nói:

– Mất thì không mất nhưng còn thì cũng không chắc là còn. Mấy ông nội đụng mấy ông cố bắn nhau ngày hôm qua, con trâu đang ăn cỏ, bỏ chạy mất tiêu, đến tối không thấy về chuồng. Một bầy sáu con, còn có năm! Thằng Ba mày biểu du kích đi tìm đùm, tao thưởng.

Nói xong, ông quay lại. Ba Tâm lôi chúng tôi vào ngồi trên bờ chiến hào đào đã lâu, cạn nhách và nói ngay:

– Tình hình găng quá rồi các anh. Ngày hôm qua sau khi đụng mấy ông mình thằng Lệnh nó về Trung Hòa rồi trở vô ngay, chia làm hai cánh, một cánh thọc qua Gò Nổi trên, chọc phá cho mình chạy, một cánh nằm ở Tầm Lanh chờ hứng. Tin của đàn bà đi chợ thì chắc như bắp.

Tôi rút Capstan mời ông xã đội. Ba Tâm đốt thuốc rít mấy hơi liền, phun khói như miệng lò Hoàng Cầm rồi nói:

– Mấy bữa này xe tăng ra ủi Bào Cạp là vùng tiếp cận Đồng Dù. Mấy ông Tiểu đoàn Quyết Thắng đưa đại đội 3 của Út Sương đến đánh. Nghe súng nổ dữ lắm. Tụi Mỹ rút rồi cho máy bay tới bỏ bom na-pan, nhà cửa cháy rụi. Bà con ở Bào Tròn, Bào Trăn sợ chạy lớp xuống Phú Hòa Đông lánh nạn, lớp qua Gò Nổi, Gò Đình nương náu. Tụi lính nó sợ mình lòn chiến thương đi nơi khác nên đổ chụp bao vây bốn phía và tiếp tục dội bom.

Tôi nghe qua đã rối rắm trong bụng. Không biết cơ quan của Sáu Huỳnh Chín Lộc có bị thiệt hại gì không, cái quán của Chia như thế nào, Ua đang công tác ở đâu? Tôi hỏi:

– Còn Bào Chứa có yên không?

Ba Tâm ném cái tàn thuốc, chớp chớp mắt rồi đáp:

– Nó ủi Bào Cạp thì Bào Chứa giáp ranh đó chớ xa xôi gì. Dân Bào Tròn Bào Trăn còn chạy, Bào Chứa ở sao được. Người ta dông ngay trong bữa đánh vừa khởi sự kìa. – Ba Tâm móc thuốc rê trong túi áo ra cuộn hút rồi tiếp – Mình thua me gỡ bài cào.

– Bài cào gì ở đâu?

– Nghe mấy ông mình chận đánh được thằng Lệnh ở Ràng. Thằng đó còn nguy hiểm hơn Mỹ.

Ba Tố hầm hừ:

-Thằng nhãi nhép đó ăn thua gì. Tụi tôi chơi Trung Hòa và Đồng Dù kia! Phát này một ngàn quả !

– Trời !

Ba Tâm kêu lên, sững sờ, mặt tái xanh. Ba Tố bắt nhãn rồi hỏi:

– Ông khoái hay không khoái mà kêu trời?

Ba Tâm lặp bặp.

– Khoái chớ sao không khoái! Phần tôi thì đâu có lo gì. Dĩ bất dĩ tôi cho vợ con ra Trung Hòa trước. Chỉ sợ nhà cửa của dân thôi. Đó, mấy anh thấy, ông già tôi mất có con trâu mà bắt tôi phải đi lùng kiếm cả ngày, ổng quát tháo om sòm, phen này làm vậy chắc trâu bò chết hết, dân không chửi đâu.

Ba Tố vuốt.

– Ừ dân họ hoan hô…!

– Họ hoan hô trước mặt mấy anh, nhưng mấy anh rút đi, họ ở lại đội bom pháo họ chửi tụi tôi thục sịnh. Lần trước sơ sơ vậy mà có người vác dao tới đòi chém tôi. Tôi phải bỏ nhà đi mấy ngày đó !

Tôi hỏi.

– Vậy bà con không muốn chúng tôi đánh tụi nó sao?

– Mấy anh vô hỏi bà má thì rõ. Hễ tui nói thiệt thì mấy anh nói tui nào là xã đội sọc dưa, thỏ đế, cầu an bảo mạng, nào là ngồi thum, rút xuống hang… Nếu mấy anh có pháo thì dời xít lên, đừng đặt ở đây tụi Trung Hòa phản pháo còn độc địa hơn cả Đồng Dù . Nhà cửa cháy hết còn đâu chỗ mấy anh đóng? Đã đành là hi… sinh…

Ba Tố quơ tay hùng hổ:

– Lần này chúng tôi phối hợp hai ba trận địa một lúc, nện cho tụi nó không ngóc đầu lên nổi. Lâu nay mình chỉ thử xem lực lượng của tụi nó mạnh yếu thế nào, nay mới chơi thiệt ăn thua đủ cú này. Đồng chí lo tập trung du kích tải đạn giúp tụi tôi. Tôi sẽ cho họ thấy đạn pháo của Liên Xô còn trong thùng mới tinh, để họ tin tưởng.

Ba Tâm cầm điếu thuốc tay run run, môi dưới giựt giựt:

– Tui nghe ở trên nói đạn của Liên Xô mạnh hơn đạn của Mỹ, chắc là kỳ này tụi nó sẽ tanh banh. Nhưng mình phải pháo cho nhanh thì mới kịp.

– Phần các đồng chí chỉ lo đào cho tụi tôi một số hầm bí mật, hễ xong là đút xuống cất. Trực thăng phản lực có nhanh cách mấy cũng mất mười lăm phút mới tới, mình đã về căn cứ tréo cẳng nằm vỗ bụng khỏe ru.

Ba Tâm có vẻ như không nghe gì, cứ tiếp ý :

– Tui nói nhanh đây là vì tụi Trung Hòa có hầm xi măng cốt sắt. Ai cũng biết mà. Cho giỏi thì nó đội ba quả đầu còn mấy quả sau thì nó chui hầm.

Ba Tố hơi quạu, nói to:

– Đạn phá Liên Xô không hầm nào chịu nổi. Để rồi coi !

Ba Tâm vẫn cù nhầy, cười gượng:

– Kỳ rồi mấy anh pháo ba quả rớt vô Gò Nổi hết hai quả may không chết ai, nhưng bà con cự nự quá trời.

Ba Tố gắt:

– Đã bảo là kỳ trước làm sơ sơ thôi. Ví lại mình chưa có súng đạn tốt.

Tôi ngắt ngang không để Ba Tố nói nữa. Tôi nhỏ nhẹ với ông xã đội sọc dưa:

– Kỳ này mình chu đáo hơn đồng chí ạ ! Tôi hứa là sẽ không có quả nào lọt ngoài vòng rào. Chúng tôi không xài cối 81 nữa mà chơi cối 82. Đạn đi xa hơn được một ngàn thước Cối 81 sẽ dạt ra cho xã các đồng chí một mớ. Đồng chí liệu lãnh nổi mấy cây?

– Dạ… đâu có ai biết bắn súng đó.

– Chúng tôi sẽ mở lớp pháo binh nhân dân. Tôi thấy du kích của đồng chí hăng hái lắm. Như ấp đội Hỉ , cô Nưa, cô Quắn…

Ba Tâm nhíu chân mày, chớp mắt lia:

– Để tôi tính xem!

Như vậy là kể như đã đạt mục đích yêu cầu cho cuộc gặp gỡ ông xã đội Ba Tâm. Hỉ chạy ra báo tin cơm chín, mời vô.

(Ông xã đội này tuy vậy cũng còn khá hơn ông Ba Xây ở An Nhơn. Ông Xây không làm gì hết chỉ hiến cái nhà cho Năm Lê làm hầm cho vợ con ra vùng meo, còn ông ta ở lại đặt tôm đặt cá bán gởi tiền ra tiếp tế. )

Chúng tôi vào nhà . Mâm cao cỗ đầy đã dọn sẵn trên chiếc bàn lá bài giống như tiệc đám cưới. Cô Năm vui vẻ xoa tay:

– Bữa nay không có chi, chỉ làm hai con gà với mấy kí tôm càng do bà má hiến. Mời các anh ngồi với chúng tôi!

Bà chỉ chỗ cho từng người một như ngầm cáp đôi sẵn. Bà má ngồi ở đầu bàn trên, cô ngồi ở đầu bàn dưới, coi như hai vị trưởng thượng. Tôi ngồi ngang Bảy Mô, Ba Tố đối mặt với cô Chạnh con gái của má, Tôn Sứt ngồi ngang Tám Phụng, Tư Tây ngó ngang cô Bé, hai cậu trinh sát cũng có đôi rất xứng. Chỉ có Lam thì không chịu ngồi bên phía phụ nữ mà kèm sát tôi để kiểm soát đường mắt của tôi với địch thủ.

Cô Năm lại tiếp:

– Tôi sắp xếp ghế như vậy có xứng không các cậu?

Ba Tố được cáp với cô Chạnh rất xứng nên ngỏn ngoẻn cười, đáp:

– Dạ xứng lắm cô Năm!

– Vậy tôi tiên-bố luôn nghe. Xin bà má Hai cho một câu vô đề

Bà má thấy Ba Tố cũng đeo K54 và ra dáng chỉ huy như ai (Ba Tố đang là tiểu đoàn phó) lại ngồi ngang con gái mình nên tỏ vẻ hài lòng. Bà khai mạc:

– Mọi việc đều do cô Năm xếp đặt. Hễ cô coi được thì tôi coi được.

Cả bàn vỗ tay như pháo. Chỉ có Tám Phụng là cười gượng. Có lẽ nàng thấy Tôn Sứt quá hiền lành ít nói và không chịu chọc ghẹo ai hết, còn mình thì đẹp mà lại ăn nói lưu loát nữa.

Biết ý nàng có cảm tình với tôi từ mấy lần gặp trước, nên tôi nói quác ra dùm nàng:

– Đây là việc chơi vui thôi mà ! Còn đồng ý hay không là do mình chớ cô Năm đâu có ép ai phải không cô Năm?

Cô Năm gật đầu.

– Phải! Tuy vậy cũng do trời định nên mới có buổi liên hoan hôm nay.

Tôi cười:

– Cám ơn má và cô Năm. Nhờ má và cô Năm mà nhà pháo binh tụi con được mấy cô dâu một lúc. Thiệt là phước đức cho pháo binh tụi con.

Cô Năm đỡ lời ngay:

– Bữa nay coi như tiên-bố tạm như bỏ hàng rào thưa vậy được không?

Ba Tố ứng lên:

– Ai không biết sao chớ con thì không có dám cãi lịnh cô Năm.

Tôi giải thích dùm cho cái sắc đẹp kém khuyết của Tôn Sứt:

– Chú nó bị thương ở trận Bổ Túc đó má và cô Năm. Đạn đi xớt qua, thiếu chút nữa thì nguy rồi. Cũng nhờ Trời Phật che chở. Liên Xô đã đem tàu Bệnh viện qua đậu ở ngoài Bắc để chữa cho thương binh miền Nam. Mấy cái vết thương nho nhỏ này họ vá lại cái một.

Cô Năm hỏi ngay:

– Tàu Bệnh viện là tàu gì vậy hả chú?

– Đó là nguyên cái nhà thương trên chiếc tàu. Nói khác hơn, một cái nhà thương lưu động ở ngoài biển. Thương binh mình ra nằm trên đó yên ổn, không sợ bom pháo.

Má Hai ngạc nhiên, trợn mắt:

– Có tới vụ đó nữa sao con?

Ba Tố được trớn bồi thêm.

– Dạ, nay mai họ rề vô miệt trong này để mình chuyển thương binh ra cho gần. Chỉ lo mình chuyển ra không được thôi!

– Ờ! nếu được như vậy thì đỡ quá. Anh em đánh trận khỏi lo bị thương rồi chở về bỏ dưới hầm của ông Tư Chuyền, nắng phơi nắng, mưa dầm mưa !

Lam ngồi bên tôi gắp thức ăn cầm chừng. Nàng canh cặp mắt của Bảy Mô hơn là ăn uống. Nàng thừa biết dư luận cáp đôi tôi và Bảy Mô từ lâu, nay nghe Bảy Mô nói “má chờ anh về, thì càng xốn xang. Còn Bảy Mô, tuy nghe vụ nữ trang lúc nãy vẫn không nao núng vì so với Lam thì nàng trội hơn mọi mặt. Nàng cứ nói cười tự nhiên, lại có ý chọc tức tình địch

– Con Liên cứ nhắc dượng Bảy hoài. Chị Tư em rầy nó, nó cũng không sợ. Nó còn trả treo: Dượng Bảy cưng con! dượng Bảy cưng con!

Cô Năm vốn không biết vụ Lam với tôi nên nói rất vô tư:

– Hai người thì xứng đôi quá rồi, còn chờ gì nữa. Có tiên-bố thì nói cô làm chủ hôn đàng trai dùm cho. Cô sẽ làm lớn lắm. Để chàng rể bị cô nào bên Trảng Bàng Bến Cát bắt cóc thì uổng quá !

Tôi sợ Bảy Mô mắc cỡ và Lam thâm thù, nên nói lảng:

– Cô Năm có lo thì lo dùm mấy cậu kia, còn cháu để thong thả chút. Bây giờ công tác túi bụi, có thì giờ đâu mà làm rể Củ Chi.

– Công tác thì công chớ. Lớn tuổi rồi mấy cậu không sợ cha già con muộn hay sao?

Tôn Sứt bây giờ mới hở miệng, phun ra lời vàng ngọc:

– Dạ muộn thì đã muộn rồi. Muộn thêm chút nữa cũng không sao, cô Năm à!

Tám Phụng nhìn thẳng sang tôi. ý nói:

– Lính của anh vô duyên quá . Người ta đốc vô như vậy, không biết nói vô lại quác ra! Hèn chi già ngắt rồi mà chưa có mối nào!

Cơm nước xong chúng tôi nai nịt rồi kẻo đi. Tám Phụng lưu luyến đưa ra tận mối đường. Buổi trưa nắng đứng sửng. Cây cối chết trân không một tiếng gà gáy. Buồn đứt ruột. Nàng ngập ngừng:

– Chừng nào anh trở lại?

– Anh không có hẹn được, Tám à ? Đời anh rày đây mai đó đi khắp sông rạch mà không cắm được cây sào ở bến nào.

Thừa cơ đứng khuất bụi cây, tôi hôn nàng một cái như chớp… Chúng tôi đi nhanh. Ba Tố bảo:

– Mình ra lộ 6 qua lộ 7 đi về hướng Bào Trăn. Tới đó thì chiều tối là vừa. Nếu ở đây sáng mai nó đem xe tăng tới ủi, mình băng qua đồng nguy hiểm lắm. Mình qua đó ráp với D7, nếu động mình vọt qua Bàu Lách để đi ngả đường 15. Tình hình này chắc thằng Cội không ở lại Bàu Chứa đâu. Nó dám kéo cả đội về Bến Đình ở chung với thằng Ba Coi xã đội.

Thế là đoàn theo hướng của Ba Tố. Đi thêm được một quảng xa, Ba Tố trỏ một vạc tre xanh bảo:

– Lúc trước ở đây có một khúc địa đạo. Hậu Cần khu cất gạo ở trong rừng này. Không biết điệp ở đâu chỉ mà máy bay ném bom cháy cả rừng. Rồi từ đó hễthấy chỗ nào có rừng rậm cây cao cao một chút là nó ném. Ông Ba Râu khôn vong nên bây giờ lựa những khu rừng chồi.

Lam lẽo đẽo đi gần sau chót, có vẻ bất mãn tợn. Nhưng tôi không còn tâm trí để hỏi thăm nàng. Vì khúc này cá-rô rỉa, pháo bắn luôn. Biệt kích lại thường nằm im bắt sống cán bộ ở khu vực này.

Mặt trời sắp lặn thì tới đường số 7. Đường này dẫn ra Trung Hòa. Ngó qua bên kia cánh đồng có rặng tre là xóm Bà Huệ. Ông Thần Núi còn ở đó hay đã dông rồi? Có thể ổng phóng qua Bến Cát. Trời tối nhanh nhìn vào xóm không thấy ánh đèn. Điều đó làm cho tôi cảm thấy ớn lạnh: “Không có dân!” Không một tiếng động. Đi sâu vào, chỉ nghe tiếng gió lào xào trên ngọn tre như bước chân đi của cô hồn. Bỗng một tiếng nạt: “Ai?” chát chúa.

– Thằng nào đó, có phải…

– Dạ, em thằng Bòn đây.

Chúng tôi nhận ra nhau qua giọng quen. Ba Tố reo lên:

– Yên chí đi thầy. Gặp tụi trinh sát D7 rồi – Ba Tố hỏi tiếp – Có thằng Năm Lễ ở đó không Bòn?

– Chỉ có anh Út Hùng thôi. Trung đội trinh sát đã theo ông Bảy Nô xuống Phú Hòa Đông điều nghiên chiến trường.

Ba Tố nói:

– Chiến trường cái quán bà già vợ nó hả?

Tôi hỏi:

– Bây giờ tụi này xuống Bàu Chứa được không cậu?

– Ở đó đâu còn ai mà xuống. Ngày hôm qua C3 Quyết Thắng đụng tụi Mỹ ở Bào Tròn, bị bom napan cháy queo tay queo chân mười đứa. Tụi thằng Cội tỏ tình đoàn kết nên chôn dùm. Nhưng đâu có sức đào nổi chín mười cái lò, phải ném luôn xuống hố bom lấp lại, rồi bỏ đi luôn. Bây giờ Bàu Chứa khét nghẹt, hơi bay tới bên này. Thương binh thì chuyển về ông Tư Chuyền ở Hố Bò .

– Còn ông Chín Lộc với Sáu Huỳnh?

– Dạ, không rõ . Cả ngày nay không thấy ai bên đó qua.

Tôi bảo.

-Thôi, kiếm chỗ nấu trà uống rồi ôm bụng đói ngủ , sáng mai sẽ tính.

– Nếu các đồng chí muốn ăn cơm thì cho người đi với tui qua Bàu Lách mua gạo. Ở đây quán tiệm đóng cửa dời hàng hết rồi. Đội thằng Cội mới xin gạo tụi tôi hồi chiều, ăn xong tụi nó kéo qua Bàu Lách.

Tôi ngồi im, không muốn hỏi đến chuyện gì nữa. Đám Năm Cội đã rút đi thì dân không thể ở nổi. Thằng Bòn tiếp:

– Em nó là con Nhánh chạy theo tụi Bảy Nê, Út Nhỡ. Dân cũng chết và bị thương bộn, không rõ là ai nhưng cũng bảy tám người.

Tôi không chịu được nữa nên bật ra:

– Có ai tên Chia, Ua không?

– Không nghe tên ai hết. Chỉ biết chung chung. Nhiều gia đình mướn xe bò chở đồ chạy băng dưới làn bom đạn ra Trung Hòa. Chắc tụi Năm Cội bây giờ đang bám với đại đội 4 của Hai Nhiên sống tạm chớ xe tăng máy bay này du kích làm gì được?

Mới có mấy ngày mà tan nát hết. Dân bỏ làng, du kích tróc gốc, còn đâu vòng đai chống Mỹ. Tôi hỏi:

– Bộ tụi nó không có mang gạo theo nên phải xin?

Nói xong tôi thấy mình lãng xẹt nhưng đã lỡ lời không lấy lại được Thằng Bòn nói:

– Trời, chạy lấy sống mà đeo gạo sao kịp đồng chí? Trước kia tụi nó còn ăn chực nữa là bây giờ không còn ai. Nay mai chắc tụi nó phải kiếm kho ông Ba Râu mà moi thôi. Nhưng coi chừng lựu đạn mấy ông gài nổ tét ruột.

Tôi buông một câu chính trị pha tình cảm chân thực:

– Anh em du kích cũng chiến đấu như mình, nhưng họ không được cấp phát tiêu chuẩn mà tự lực có gì ăn nấy, quơ đụng thứ gì mặc thứ nấy, nếu các cậu gặp họ thiếu thốn nên giúp đỡ, để họ không phải tủi thân. Các đồng chí thấy không, nếu không có Năm Cội, bộ đội mình đang bận rộn đủ thứ, ai chôn tử sĩ? Dù họ vùi lấp như vậy mình cũng cám ơn họ . Nếu để mình chôn, thì mình làm được hơn không?

Đội trinh sát này tôi chưa quen, nhưng thấy Ba Tố kêu tôi bằng thầy thì họ cũng nể nên chạy lăng xăng lo nấu nước pha trà. Ba Tố hỏi:

– Đội nữ dũng sĩ của Bảy Nê đâu? Mấy cậu biết không?

– Tôi có thấy mấy cổ ở Xóm Bưng hôm trước, nhưng nay không biết ở vùng nào. Giặc giả này tụi nó đâu có đánh được thủ trưởng. Đụng với tụi Mỹ chẳng khác giấy quyến đút vô lò Riêng con Bảy Sầu Riêng thì đi hộ vệ bà Năm Cá Lẹp có đi ngang qua đây hôm qua.

Một cậu bỗng vọt miệng nói:

– Cái bà địa chủ đó bắn súng miệng giỏi nhất đó thủ trưởng !

Ba Tố nạt ngang:

– Mày đừng có hỗn. Bả không đáng tuổi má mày sao mày nói vậy?

– Bả là địa chủ có mười mẫu đất ở rạch Nàng Âm. Không biết ai đưa bả lên làm khu ủy viên!

Uống trà xong, nghe rản gối, Ba Tố bảo thằng Bòn đưa chúng tôi qua Bàu Lách. Bòn kéo nguyên cả tiểu đội theo hộ vệ. Thấy Bòn khoác khẩu garant lên vai, tôi hỏi:

– Thời buổi này các cậu còn xài loại đó sao?

-Tụi tôi là tiểu đoàn địa phương quân thủ trưởng ạ. Vũ khí đâu có sánh được với Quyết Thắng 1, Quyết Thắng 2. Cả tiểu đoàn chỉ nhận được hơn chục AK và 30 CKC, đụng M113 nó rẹc nghe mà ớn.

Vừa đi, Bòn kể lể liên miên:

– Tụi tôi chỉ hơn du kích một chút thôi. Còn Ban chỉ huy Tiểu đoàn thì gió máy rầm rầm. Các ổng mặc toàn ka-ki, ga-bạc-đin may theo lối chánh qui. Coi bảnh vậy chớ tránh né giặc hoài. Hễ nó thọc lên thì ổng cho đơn vị luồn xuống, hễ tụi nó quay xuống thì ông cho đơn vị bọc ngược lên, cả năm trời như vậy đâu có tập trung được để đánh trận nào. Anh qua đó mà xem, đại đội trợ chiến gì toàn đút súng cối, đại liên và DKZ xuống hầm còn lính thì đi tay không. Tụi em muốn về nhà nhưng về được thì cũng không có đất ở, nên ở nán lại đây.

Ba Tố hỏi như nạt.

– Bảy Nô , Tư Quân, Tư Hải bỏ đơn vị mấy ngày rồi?

– Dạ ông dê trưởng (Bảy Nô) thì dẹp cái quán của bà già vợ trên này, hộ tống về Phú Hòa Đông mở tiếp. Ở dưới đó lính đông lắm. Có tụi Quyết Thắng 2 của Gò Môn (Gò Vấp – Hốc Môn) trồi lên đó, ngày nào cũng tới quán nườm nượp. Vui hơn bên Ràng, Đồng Lớn, Sa Nhỏ. Ông Tu Hải vừa bị một vố nên bị đổi về khu, còn ông Sáu Thiệt xuống thay làm chánh trị viên. Ông này lại mê mệt bà già vợ của ông Bảy Nô . Cho nên dê trưởng với dê chánh cặp kè nhau đi hoạt động không mấy khi ở đơn vị. Tụi tôi nói lén: không khéo ông dê trưởng kêu ông dê chánh bằng tía vợ. Có lần lính gặp hai ông bà mùi ở sau vườn, bèn mét ông Bảy Nô, ổng bảo: “Kệ tía thằng… tía vợ tao.” Bây giờ coi bộ xáp chiến mạnh rồi.

– Mày đưa tụi tao đến nhà quen nghĩ đỡ đã !

– Dạ, lại nhà ông Ba Coi xã đội Nhuận Đức. Xóm này bây giờ chỉ còn nhà ông là có chủ thôi, nhưng vợ ổng cũng đã ra Trung Hòa buôn bán; ổng bám lại trong này để làm gương cho du kích. Tụi tôi túc trực ở đây. Trước kia ông Hai Khởi chỉ huy đại đội này. (Tôi nghĩ. hèn chi hắn bắt được con (ốc) Hương khớ khũm) Nay ông về trên quận, chỉ còn ông Hai Nhiên. Ông này người Bắc mà nói chuyện y như Nam, mới nghe hổng biết. Lính kêu ông là Bắc kỳ xâm lược mất gốc hoặc rau muống trá hình. Ở đây tụi tôi có căng tin bán đường cát, sữa, thuốc, xà bông, kẹo, cớm… đôi khi có rượu đế. Thường thường đi lên Bến Mương bổ đồ của Chệt hoặc qua Bàu Chứa mua của bà Tư The. Bà Tư The bán rẻ cho lính vì con gái bả có chồng lính, ủa không, cán bộ tập kết. Bả thông cảm, bán giá như ở ngoài Trung Hòa. Mấy bữa rày bả không còn ở đó nữa. Căng tin của tụi tôi cũng trống trơn.

Tôi nghe như kim chích vô tim nhưng cố ngồi làm tỉnh vì có Lam bên cạnh. Tôi hỏi:

– Cậu là người địa phương nên rành mấy chuyện địa phương phải không?

– Dạ, em ở ngoài Ràng. Anh vừa ở Ràng vô đây thì anh đã đi gần tới nhà em rồi. Ra đó thế nào cũng gặp ấp đội Hỉ, con Quắn cứu thương, con Nưa du kích.

– Ờ! có đúng y như vậy. Tụi tôi ăn cơm ở nhà cô Quắn chiều hôm qua.

– Đó là nhà bác em. Nó có thằng em cũng đòi đi nhưng bác em không cho. Bác nói phải giữ giống một thằng. Vì anh nó đi ở D1 Quyết Thắng, đáng lẽ lên đại đội phó lâu rồi, nhưng vì tánh nóng.

Ba Tố hỏi.

– Bộ đánh lính à ? Kiểu đó thì không được, có gì thì cú đầu nhè nhẹ không nên bạt tai.

Thằng Bòn cười:

– Dạ ảnh không cú đầu cũng không bạt tai, chỉ có cái là ra trận thằng nào thụt đằng sau, ảnh nắm cổ giựt tới. Hôm qua trung đội ảnh đội bom na-pan…

– Chết mười đứa phải không?

– Dạ không, đó là trung đội 3 bị trúng lệnh, còn trung đội của ảnh chỉ trúng mé nên bị thương chừng ba, bốn mạng, không có chết. Anh trung đội phó còn sống nhưng lơ lơ láo láo nghe nói thủng màng nhĩ hay sao đó.

Đi vô xóm một chặng thì đụng một xóm nhà có ánh đèn le lói. Tôi mừng vô cùng, như đi trên Trường Sơn mà gặp suối vậy. Bòn trỏ tay về phía đó nói:

– Tụi nó đang đánh tú lơ khô đó. Ăn rồi tối ngày chỉ đánh bài chớ đâu có chuyện gì làm. Bữa nào tình hình êm êm thì mới dám đi giăng câu, đặt lọp cải thiện sinh hoạt.

Thời đại phản lực mà bộ đội ta sinh hoạt giống in hồi 1950 trong cuộc kháng chiến với Tây. Ăn uống đụng gì quơ nấy, súng ống còn thua cả bộ đội thời đó. Vậy mà ông Đại tướng bảo: “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”. Ừ, có nắm được thì mới đánh được, đằng này có nắm được đâu. Từ đàng xa nó bắn cà-nông, từ trên đầu nó rắc bom, có thấy cái thắt lưng của nó ở đâu mà nắm. Thậm chí, cả thằng Mỹ cũng không thấy mặt mũi ra sao.

Thằng Bòn trỏ mái nhà có ánh sáng tỏ nhất bảo:

– Ông đại đội trưởng và quản lý ở đó. Chắc họ đang gầy sòng hoặc uống trà nên còn để đèn.

Ba Tố nói:

– Mấy thằng này tôi quen hết, để tôi vô bảo nó lo cơm nước và chỗ ở cho mình.

Thằng Bòn nói giọng cảm động:

– Thôi thủ trưởng bám với họ, tụi em lên căng tin vét vài gói trà và thuốc cáp tăng rồi trở về kẻo khuya.

Bỗng trong nhà có tiếng dội ra “Ai đó?”

Tôi nghe rõ ràng giọng quen, nhưng không rõ là ai, cái giọng thân thiết như đám du kích Năm Cội. Tôi muốn gặp ngay để hỏi tin tức bà ngoại, Ua, Chia và cơ quan Sáu Huỳnh. Giặc giả như vậy bà ngoại sống làm sao? Bà coi tôi như cháu ruột của bà . Tôi thương bà như bà ngoại ruột của tôi. Tôi bước nhanh vào cửa. Thấy lửa sau bếp, tôi kêu lên nghẹn ngào:

– Cội ơi! Có Năm Cội ở đây không?

– Ai đó ?

-Anh Hai Lôi nè em?

– Trời ơi! Anh Hai hả? Tụi bây ơi! dậy, dậy mau lên!

Cả một đám từ trong buồng nhào ra ôm tôi. Một đứa nói:

– Anh Cội bị thương nằm trong buồng!

Tôi bước vào. Mấy cái bóng đen lồm cồm ngồi dậy. Tôi lại kêu sảng sốt:

– Cội ơi,Cội anh Hai nè!

Tôi run rẫy thọc tay vào lưng quần quơ kiếm cái đèn pin nhưng mò hoài không thấy. Tôi đã cho Tám Nghi lâu rồi.

Lam đứng ngay sau lưng tôi móc đèn trong túi cứu thương xẹt lên. Ánh sáng xanh lè rọi lên những cái mặt quỉ. Thằng Ưng cà lăm, thằng Kều, thằng Ha tôi từng gặp ở Bàu Chứa bên gốc xoài múc hôm nào. Bữa nay mặt mũi chúng trông như ai khác. Đứa nào cũng bị thương xé áo xé quần băng bó ngang tay, bít trán, quấn ngang chân, cà lê cà nhắc. Chúng ôm lấy tôi mà khóc.

– Hu hu…

– Cội đâu?

– Kia cà !

Lam quay đèn gìn vào xó hóc. Một người đang ngồi dậy cố đứng lên.

– Em nè anh Hai !

Tôi bước lại ôm lấy Cội. Cội gục đầu vào vai tôi mà nức nở. Cội khóc như suối lũ . Tôi nghe rủn chí, nghe ướt nhủn cả con tim, đen mù cả khối óc của một thằng chiến sĩ đã trải qua hai mươi năm máu lửa, nhưng chưa bao giờ gặp một cảnh rùng rợn như hôm nay. Bốn bề là giặc bao vây, dân bỏ đi hết, nhà hoang vườn trống không có một người dân, chiến sĩ chết, ném xuống hố bom lấp lại, chiến thương không có quân y.

Hồ ơi ! Mi ác lắm! Vì muốn xây chỗ đứng cho mi nên miền Nam mới chịu cảnh này. Tôi chưa bao giờ khóc. Ngay cả đánh trận Hộ Phòng thời kháng chiến, 307 và các đại đội phối hợp, hi sinh 150 chiến sĩ, tôi vẫn không rơi một giọt nước mắt. Nhưng hôm nay lệ chinh nhân không cầm. Tôi cắn răng bảo cả đoàn:

– Anh em mình phải lo cho tụi thằng Cội. Đóng tại đây, không đi đâu nữa, nếu chưa giải quyết xong.

Lam thủ thỉ với đám thằng Ưng phía sau lưng tôi:

– Sao không trải chiếu mà nằm dưới đất vậy?

– Ông xã đội Coi chạy mất, vợ ổng dọn đồ đi hết ráo. Vả lại nằm dưới đất cho mát lưng. Chị coi nè, chúng em xé quần áo băng bó.

– Gạo không có. Hu hu… Trở về Bàu Chứa không được.

– Không biết gia đình ở đó ra sao?

Mỗi đứa góp một câu làm tôi càng não lòng còn thằng Năm Cội thì càng khóc to hơn. Tôi quát:

– Các em nín đi. Để anh lo hết.

Nói.vậy nhưng chính nước mắt tôi cũng đổ như mưa. Tôi cố không khóc ra tiếng. Trời ơi ! Cái thằng du kích đầu đàn đã từng đánh xe tăng, coi bom đạn là trò chơi, hôm nay khóc như trẻ con, nó vừa khóc nức hực trong cuống họng vừa nói:

– Ba má em đi hết rồi anh Hai ơi! Cả con Nhánh nữa! Mấy nhà trong xóm cũng không còn ai. .

Cội ngưng từng chập rồi tiếp:

– Xóm mình bây giờ anh về không biết đường đi.

Đây là lần đầu tiên tôi gặp Cội không nói chuyện đạp lôi, cưa bom, đánh xe tăng mà lại khóc như trẻ bị má đánh đòn.

Bỗng thằng Ưng kêu lên:

– Cái gì như cháo khét !

– : Cháo gì mà khét? Gạo đâu mà nấu vậy?

Ưng nhanh nhảu:

– Dạ gạo của quân khu cấp hề hề…

Cội quát.

– Không! Gạo của tụi em đi ăn cắp đó ! Tụi nó nói láo. Tụi nó mới đi ăn cắp chớ quân khu nào cấp! (CấpCắp chỉ khác một cái dấu thôi) Tụi em đâu có tiêu chuẩn gì. Lâu nay nhờ
gánh mướn cho bà Tư Bánh Bò với má con Chia lấy gạo ăn, thuốc hút. Bây giờ mấy bả đi hết rồi, tụi em hỏng chân.

Cội vẫn còn tủi:

– Chiều hôm qua gặp bộ đội cho một bọc gạo ăn xong còn chừa lại một mớ sáng nấu cháo, còn vài nắm chiều cũng nấu cháo. Xuống đây tính dựa ông Ba Coi, chẳng dè ổng đi mất. Chỉ bỏ lại nửa hũ mắm ruốc.

Lam đã nấu nước sửa soạn thuốc men và dụng cụ. Nàng bắt đầu lau rửa vết thương. Riêng Cội bị một vết phỏng sau lưng. Ngồi yên cho Lam băng vết thương. Cội vừa kể lể:

-Tụi em mò mẫm trong rừng moi được đầy hai ống quần gạo đem về đó. Chưa kịp nấu, nghe mấy anh đến, tụi em tưởng mấy ông Hậu Cần đuổi bắt nên giấu ngoài vườn rồi. Bom na-pan ác thiệt anh ạ. Nó nóng còn hơn lửa cháy nhà. Em lặn xuống mương nó vẫn không tắt. Nó dính vô da rồi thì vô phương dập. Bây giờ tắt rồi mà gan ruột em nóng như ran vậy. May là em nằm với Trung đội 4 chớ nếu nằm ở Trung đội 3 thì cháy queo như chuột thui rồi. Nó cháy từ trên ngọn cây, nhen xuống đất như đèn cầy, nhen tới đâu cháy lan tới đó. Nó dính da thịt, dính chân. Mấy ông bộ đội cõng thương binh lại bị cháy lây. Rốt cuộc mấy ông phải bỏ chạy. Dân công đâu có. Tụi em phải gom lại ném xác xuống hố bom, chớ để vậy coi ghê quá hà. Tụi em đang khiêng xác thì tụi nó nã cối. Tụi em bị trúng miếng bộn. Đói thắt ruột mà nó bắn rát quá, chạy ngang đám khoai mì nhà con Chia không đứng lại được để quơ ba mớ nữa. Một ngày một đêm liền tụi em mới lê xác tới đây.

Bỗng có tiếng gọi từ ngoài sân:

– Thầy Hai đó hả ?

-Ai đó?

– Hai Nhiên đây! Học trò ở lớp C13 ở ngoài thành thị xã Sơn Tây ! (C13 lóp chánh trị viên đại đội pháo binh )

– À ! Về hồi nào vậy cha?

Hai Nhiên bước vào, thầy trò đấu mép vài câu rồi tôi bảo Hai Nhiên đưa y tá tới săn sóc và tiếp tế đầy đủ cho tụi thằng Cội. Hai Nhiên thi hành ngay rồi dắt tụi tôi đến trụ sở của y.

Quản lý đại đội là một cán bộ mùa đông chừng bốn mươi tuổi, răng cỏ xếu xáo tên là Sáu Già đem đến nào khô cá sặc, trà, đường, sữa và rượu… đế quốc. Một cậu liên lạc bê đến một trái bí đao. Ba Tố hất hàm bảo.

– Vầy thì cha Tây rồi ? Có bít-tết ra-gu, thỏ hầm thuốc Bắc, cánh gà chiến bơ hoặc ếch tẫm bột rán không?

Hai Nhiên cười tóe lửa ở khóe mép:

– May là thủ trưởng đến nhằm lúc căng tin mới đi lấy hàng trên Cầu Rạch Sơn về.

Chỉ trong giây lát là khói lửa ỳ xèo, câu chuyện nổ ran. Mâm tiệc dọn trên một manh đệm rách. Cậu liên lạc mượn cái đèn pin mỏ quéo của Ba Tố ra trước sân leo lên cây me. Một chút tuột xuống đem vô một rổ vừa me chín vừa me dốt. Cậu ta nói bô lô ba la:

– Tôi biết tính mấy ông nhậu, ông nào cũng thích me. Me nhậu rượu gì cũng bắt.

– Trời, ở trên Trường Sơn mà được một trái như thế này thì làm thuốc chớ đâu dám ăn!

– Hồi trên R tôi cũng đã trèo cây me ở Trảng Bà Điếc đốn một lát ăn cả làng.

Trong lúc chờ đợi nướng khô cá sặc cá lóc, khách lẫn chủ tạm thời khai vị với me dốt mắm ruốc và mấy hộp cá mòi đứng (tức là cá nhỏ xếp đứng trong hộp bán rẻ còn có loại cá mòi nằm to hơn nhưng giá cao). Hai Nhiên cười ló răng vàng, Ba Tố chọc:

– Diện dữ hả ? Thợ nào bịt mà khéo vậy ông Bắc kỳ xâm lược?

– Dạ , em đau răng, thủ trưởng !

– Vậy không phải ông thấy con gái Bến Mương Gót Chàng đẹp rồi ông đánh bóng ông sao?

– Thú thiệt là tiền công tác phí em không có xài để dành cho mấy cái răng đó, khi về Bắc em cạy ra cho mẹ đĩ làm vốn món ăn nuôi con, chớ chừng chiến tranh xong rồi, nếu mình còn sống thì cũng đã kiệt sức có còn làm gì được? Mình coi nhà cho vợ con làm nuôi.

– Sao không đánh cà rá đeo tay cho le thể mà giấu trong mép ai thấy?

– Đeo tay dễ mất thủ trưởng ạ ! Còn em bịt trong răng chỉ có chết mới mất thôi.

Bọn Nam kỳ ngồi sửng sốt. Quả là con người biết lo xa và chân thật. Đáng lẽ y nói trớ đi cũng không ai bắt được. Đám Nam kỳ không đứa nào nghĩ tới cái nước cùng đường mạt lộ của mấy thằng lính đánh thuê đó. Cho nên chẳng đứa nào chế diễu bạn mình nữa.

(Tội nghiệp thay, năm 1968, đúng như sự ước định của câu ‘Sinh Bắc Tử Nam ” xuất phát từ miệng lính Bắc, Hai Nhiên chuyển sang làm chánh trị viên đại đội trong Tiểu đoàn của tôi, hi sinh tại trận Rừng Tre, với một ước mơ nhỏ chôn vùi cùng thân xác tại đất Củ Chi. Không biết vợ con y đã được giấy báo tử chưa. Hòng mong gì được lãnh vài ký thóc tử sĩ.)

Nhậu với đủ thứ, thứ gì cũng ngon, nhậu như trối trăn với nhau vậy. Căng tin hết rượu Ba Tố bảo y tá Ngân đem cồn y tế ra uống, nhưng tôi ngăn. Không ai bàn một câu chính trị quân sự gì ráo. Toàn nói chuyện tiếu lâm, chuyện tục tĩu và những chuyện thời sự ái tình. Ba Tố hỏi Hai Nhiên:

– Ông có kiếm thêm mẹ đĩ trong này không?

Hai Nhiên thành thật:

– Cái món đó em dở lắm thủ trưởng. Với lại nó mang tiếng làm mất thanh danh quân đội hết.

– Ông Chín Lộc cũng dở như ông vậy nhưng ổng quơ được hai bà một lúc, không nhờ ai làm mai. Ông có cần, tôi chỉ bà mối cho!

– Ai vậy thủ trưởng?

Cả bàn tiệc cười rần. Một người nói:

– Kêu dở mà mới nghe mùi hành phất qua đã hỏi tới rồi.

– Em hỏi cho biết vậy thôi chớ em nhát lắm.

– Ông biết bà Năm không? Bà đó có một bầy em út rất mướt.

– Bà Năm Cá Lẹp phải không thủ trưởng? Ối dào! Bả tò dè em đây mà em không dám ló móng hùm ra.

– Chỉ huy bà khu ủy viên không sướng tỷ hơn là chỉ huy đại đội à?

– Sướng con cu thì mù con mắt thủ trưởng ơi! Báo hại ngồi kiểm thảo hai ba đêm đau lưng lắm.

Không biết ai phụ nhĩ câu gì với Hai Nhiên mà y nhường văn phòng đại đội cho tôi và Lam. Lam cự nự:

– Bộ mấy ổng tưởng mình là gì rồi sao mà để mình ở đây?

Nhưng rồi nàng cũng lẳng lặng mắc võng cho tôi còn nàng thì được ưu tiên cấp phát cho một cái hầm của ông Ba Coi chủ nhà . Suốt ngày vất vả, lại thêm bị đồng chí đế quốc quần mệt nhừ, vừa ngã lưng lên võng là tôi bất biết trời đất, mặc dù tôi vẫn rành là lúc khuya pháo Đồng Dù thường quay họng lên miệt này. Đến lúc tôi giật mình thì nghe một bàn tay lắc lắc vai và tiếng gọi:

– Anh Hai, chui vô, tụi nó giã gạo.

Tôi như cái máy cứ chạy theo người cầm lái, chui tọt vào hầm. Tôi có cảm giác thơm tho dễ chịu chớ không ngột ngạt như những lần chui hầm khác. Tôi biết được rằng đầu tôi rơi vào chiếc bồng bột có lót chiếc khăn lông trắng rưới dầu thơm nữa. Cái mùi ác độc đó làm tôi tỉnh hẳn dậy, và không ngủ tiếp được. Lam bắt đầu hạch hỏi, đay nghiến, giận hờn đủ thứ về chuyện nàng Quắn bắt cóc tôi đi đêm qua, những tình cảm mà nàng đã phải nén chịu suốt một ngày một đêm liền.

Tôi cũng vẫn khai thiệt rằng tôi đi họp với ông Đời bí thư xã ủy chớ không có đi đâu:hết. Nàng trật áo tôi ra lật lưng tôi lên và gắt:

– Dấu trầy gì đây?

– Ban đêm anh không thấy đường chạy tuôn vô bụi bị gai quào chớ dấu gì.

– Còn dấu trên vai? gai gì quào?

– Thì gai gì anh đâu có biết.

– Gai gì giống dấu răng vậy?

Tôi bị dội, thất kinh hồn sá ngay, không trả lời nữa và giả bộ ngủ. Nàng xỉ ngón tay vào ngực tôi:

– Anh ghê lắm nghe ? Vậy mà còn chưa chịu thôi.

– Anh làm gì đâu?

– Bộ chị Bảy Mô nói gì em không nghe hả ?

– Thì người ta nói đâu phải anh nói.

– Lúc ra đường anh còn hun chị Tám Phụng nữa, có không?

– Chậc!

– Anh không được như vậy nữa ! Bây giờ anh là chồng của em.

– Ư… ư…

– Anh không được chuyện trò với ai nữa hết.

Tôi có một phương pháp thần độc nhất trị bịnh ghen của con gái là trám miệng họ bằng những cái hôn và làm cho họ quên cơn ghen đi bằng cách bỏ ngón trên những phím tơ kỳ diệu của họ. Tôi nằm nghiêng và kéo đùi nàng nàng đắp lên tôi. Không nói gì hết. Mùi mồ hôi, mùi đất ẫm, mùi tóc ướt còn đậm mùi xà bông thơm, tất cả làm thành cái không khí thiên đường tí hon dã chiến của đôi tình nhân mới. Nàng xem đây là một thắng lợi lớn nhất của nàng. Còn tôi, tôi không hiểu tôi là thằng gì, mặt mũi như ôn binh sao cứ phải bị tai họa? Luôn luôn được xem là chồng, nhưng chưa bao giờ làm chồng của ai. Nàng nằm bên tôi, thân người uốn éo như lưng đê mùa nước lũ rồi vỡ ra tràn trề ngập lụt. Còn tôi, mặc dù bị nàng kềm kẹp cũng không vâng lời. Tôi biết nếu làm theo ý muốn của nàng thì chẳng khác nào mình đã chính thức hóa đôi nhẫn vàng kia. Đó là lần đầu tiên và là lần độc nhất tôi cưỡng lại tôi!

Sáng hôm sau, khai mạc bình trà sáng, Ba Tố giả vờ:

– Đêm qua pháo Đồng Dù làm rung rinh cả đất đai.

Tôn Sứt ngây thơ trả lời:

– Đi đường mệt, lại nhậu oắt cần câu nên tôi không nghe gì hết.

Tôi bảo mọi người chuẩn bị hành quân trong lúc tôi và Lam đến thăm toán du kích của Năm Cội. Tôi gặp cả đám đứng ở trước sân, bên gốc me.. Thằng Ưng làm trinh sát leo hẳn lên ngọn me nói vọng xuống.

– Mẹ chắc nó bỏ tan xóm mình rồi. Máy bay đang quần gần Ngã ba Cây Điệp!

– Chỗ khói lên đó là đâu?

– Chắc gần nhà bà Tư Bánh Bò . Còn cụm kia chắc là ở Đồng Mã .

– Cây xoài múc còn đứng đó không?

– Có thấy con mẹ gì. Chắc tiêu hết rồi !

Cả bọn được băng bó kỹ lưỡng, mặt mũi dễ coi hơn. Nhiều nụ cười, và ánh mắt sáng sủa đỡ khổ hơn đêm qua. Tôi hỏi:

– Hồi em ở đó thấy quán bà Tư The còn mở cửa không?

– Mở gì nữa mà mở. Bả thuê xe bò chất hàng chở đi một ngày trước rồi.

– Em có gặp không?

– Em không gặp nhưng mấy đứa kia có đẩy tiếp xe bò một lúc.

– Xe tăng thấy không bắn à?

– Nó biết đồng bào chạy ra Trung Hòa, chẳng những không bắn lại còn cho lính đến bắt bánh xe bò đẩy qua suối dùm.

Tôi tự chế không để bật ra những lời biểu lộ sự nản lòng. Tôi nói những lời trái ngược lại với tình cảm của tôi:

– Chúng ta phải vượt qua gian khổ chết chóc để chiến thắng em ạ. Ngày vinh quang sẽ về ta.

Cội bật lại như máy:

– Anh Hai nè ! Mình chiến đấu cho chánh nghĩa phải không anh Hai?

– Chớ sao em!

– Đêm qua tụi nữ dũng sĩ đi ăn cắp gạo không biết có bị lựu đạn nổ hay bị cảnh vệ bắt không? Tụi nó cũng khổ quá anh ạ. – Cội ngưng lại quệt nước mắt hai ba lần – Ba em có hai đứa trai đều đi du kích và binh công xưởng, còn lại con Nhánh ở nhà lo cho ba má em, bây giờ nó cũng bắt buộc phải đi. Ai lo cho ông bả? Em thú thiệt với anh em chỉ muốn về cày ruộng không ham làm anh hùng mà đói và bỏ bê cha mẹ như vầy nữa .

Bỗng đâu từ trên ngọn me, thằng Ưng rẻ lên. Tiếng của nó như một bàn tay xóa đi mọi nét bi quan trên mặt mọi người.

– Ê ! tụi bây chọt được nhiều dữ hả . Chia tụi tao đỡ ba cá i nghe !

Tôi nhìn ra đường. Một toán nữ du kích súng ống lởm chớm vai vác gạo đi tới. Đứa nào cũng có hai ống quần no căng cặp ngang cổ. Chúng quẹo vô sân, đụng tụi tôi, hơi dội, nhưng Cội nói ngay:

– Hổng sao đâu, đây là anh Hai, anh Ba. Mấy ảnh thông cảm tụi mình lắm! – rồi quay lại tôi, giới thiệu – Đây là tụi du kích Nhuận Đức. Tụi nó cũng bị tróc, chạy tới đây tấp với chúng em đêm qua. Cũng đói dữ nên em biểu thằng Kền thằng Ha dắt cho đi moi. Con nhỏ đi đầu là con Bảy Bánh Ú, còn con cao cao đi kế là con Tư Bánh Tráng con của xã đội Năm Cọp. Tụi này đánh giặc khá lắm, ngặt không có cơ sở !

Tốp con gái được Năm Cội giới thiệu thành tích thì xẻn lẻn đi thẳng vào nhà. Ba Tổ ngó theo buông một câu:

– Vậy thì các cô các cậu cần gì phải đi moi gạo của ông Ba Râu cho nguy hiểm?

– Ai không ăn mà chiến đấu nổi anh Ba . Anh hùng không có gạo thì cũng hết nhúc nhích. . .

– Bánh tráng bánh ú thiếu gì đó, còn đòi cái gì! Cổ có tới bảy cái bánh ú lận mà ! Cái nào cũng to hết.

Thằng Ha, thằng Kền không hiểu gì nên dầu mỏ:

– Mấy bả bỏ nhà đâu còn nấu bánh ú làm bánh tráng nữa, anh Ba.

Năm Cội gạt ngang:

– Mày con nít biết gì mà xía vô !

Cả bọn pháo binh cười hưởng ứng câu pha trò của Ba ‘Tố. Thằng Ưng trên cây me tuột xuống, thở hổn hển:.

– Mấy bả biết cách moi là nhờ tụi em truyền nghề đó anh Hai !

– Cậu làm sao, nói nghe thử, để sau này bọn anh kẹt thì cũng giở trò đạo chích qua ngày.

Ưng múa tay trả lời cho Ba Tố:

– Dễ lắm. Chỉ cần một ống tre thông hai đầu. Một đầu bằng, một đầu vạc nhọn như cái nêm cày. Đầu nhọn mình thọc vào bao, nguậy nguậy mấy cái thì gạo chảy ghe ghe mình kê ống quần vô hứng. Gần đầy thì mình lấy tay bịt cái ống tre gút ống quần này lại kê ống quần kia vô nguậy tiếp. Cứ vậy chừng nào hết muốn nữa thì thôi. Mỗi thằng cõng hai ống quần đầy đem về ..

– Có bị bắt lần nào chưa?

– Chưa! Tụi em mới có sáng kiến đây thôi. Nhưng nếu bị bắt thì mấy ổng cũng cười trừ chớ không lẽ bỏ tù dũng sĩ, du kích, kiện tướng như tụi em?Ấy hổng ấy em khai anh Năm Cội xúi Mấy ông có giỏi thì bắt anh hùng chống Mỹ của gờ từng được thưởng cái huy chương !

Ba Tố cười:

– Mày đừng có giỡn, ông Ba Râu gặp bắn gụm bà chè, còn bắt được thì ông bỏ tù gục xương đó.

Thằng Kền nghênh cái mặt đen thui, vãnh cặp môi thâm sịt:

– Mấy ông đem cả gạo về cho vợ bán quán thì ai bắt? Vải kaki bộ đội mặc là của hậu cần phát, nhưng vợ mấy ổng đều có bán thiếu gì. Ai bắt? Công An Trâu cũng vậy. Ông ta cấm các quán khác không được bán với lý do chủ quán ra vô vùng địch, trong lúc vợ ông. đi Trung Hòa hàng ngày đâu có ai cấm?

Thằng Ưng hùa theo:

– Tụi em lượm được đồ hộp Mỹ bỏ lại đem bán cho mấy bả ghẻ ghề, mấy bả bán lại cho bộ đội với giá cắt họng, có ai dám nói gì!

Bọn tôi chờ đám du kích của Năm Cội nấu cơm xong rồi hành quân. Cả đoàn đi về phía Bến Đình. Sau khi bàn luận, chúng tôi thấy tình hình ở Phú Hòa Đông chắc chắn sẽ động trong những ngày sắp tới. Theo cái nết thường của Mỹ là sau trận đánh chúng thường truy kích bằng pháo binh hoặc phi cơ chớ không khi nào để quân ta có thì giờ nghỉ ngơi hoặc chỉnh đốn hàng ngũ. Năm Cội nói với tôi:

– Em quyết bám các anh. Các anh đi đâu các em đi sát theo đó. Các em bị tróc khỏi Bàu Lách rồi mất hết địa bàn hoạt động.

– Rồi tụi con Bảy Nê, Út Nhỡ làm sao?

– Mỹ tới tụi nó còn mừng.

– Sao kỳ vậy?

– Lâu nay tụi nó xụt xịt muốn rã hàng, nhưng vì ở trên ốp quá nên chưa về nhà, nay Mỹ làm mạnh, tụi nó có lý do. Tình hình này ở trên đâu có liên lạc được với tụi nó mà gom lại như hồi mấy nhà báo Liên Xô xuống.

– Ở đây bộ không có địa đạo chui được sao em?

– Không có đâu anh! Đất ở đây thấp lắm. Toàn xài hầm nổi. Nhưng từ ngày mấy cái hầm nổi ở Trung Lập bị lộ, tụi Mỹ đi ruồng xách chĩa sắt dài cả sãi tay, hễ gặp hầm trong nhà là nó xom như xom lươn vậy. Hầm hố cái củ… chi họ !

– Có ai bị xom trúng không?

– Có chớ. Bị lụi trúng la oai oái trong hầm rồi cuối cùng cũng phải chui ra cho nó bắt. Có một ông cố nín, nó đánh mìn, bay luôn cái nhà.

Sẵn dịp đi gần Bến Đình, tôi hỏi:

– Nghe nói vùng Bến Đình có hầm ăn thông ra sông Sài gòn có không em?

– Có một khúc đào xuyên qua đường số 15, nhưng bỏ lâu rồi. Và qua bên kia đường gần mé sông Sài gòn thì đất thấp đâu có phát triển được.

– Vậy anh nghe người ta nói miệng địa đạo ăn thông ra cả sông Sài gòn.

-Người ta nào vậy?

– Người ta chớ người ta nào?

– Mở miệng ra sông đặng hứng M79 của Giang Thuyền hả ? Trời, anh bị một trận M79 thì mới rõ !

– Người ta cũng đồn địa đạo chui thấu lòng sông Sài gòn qua tận Bến Cát.

Cội im lặng một hồi lâu rồi cười mũi:

– Vậy cái địa đạo này chắc phải đi tới âm phủ .

– Tôi nghe đồn cho nên kỳ này tôi quyết lòng đến xem để sau này có khi ứng dụng.

– Sợ anh không dám đi xuống đó chớ!

– Tại sao?

– Trước nhất tại vì nó không có . Thứ hai, nếu nó có thật thì anh phải bận đồ lặn như ông Tư Gạch thì mới xuống được !

– Ông Tư Gạch nào?

– Hồi em còn nhỏ em nghe đồn ở vùng Bến Sỏi có một ông già tên là Tư có tài lặn qua sông Thị Tính hay sông Sài gòn gì đó. Ổng uống nửa chai nước mắm nhỉ rồi ôm bốn cục gạch thức từ từ lội xuống sông. Chừng nửa giờ sau thì trồi qua bên kia bờ. Do đó bà con gọi ông là Tư Gạch. Ổng là ăn cướp. Mỗi lần bị rượt, ống phóng xuống sông thì kể như mất biệt. Về sau vì lặn quá nhiều, mình ổng nổi những cục u như vú chì cau, nên đồng bào cũng gọi là Tư U.

-Vậy chú cũng muốn tôi và thầy Hai trở thành Tư Gạch, Tư U nữa sao?

Năm Cội nói giọng thành thật.

– Sự thiệt là vùng này không có hơn hai trăm thước địa đạo đâu anh Hai. Nhưng không có thước nào xài được vì bỏ phế từ sau Đồng Khởi tới nay. Rễ cây mọc chéo tùm lum, hoặc lở sụp, hoặc ngập nước rắn rít ở đầy dưới đó. Anh đừng có tin mấy ông xã ủy mà chết. Mấy ông thấy anh cao cấp, mấy ông không dám nói thiệt, sợ bị nạo, cho nên thành ra nói láo chuyền láo. Chính các ông trên khu trên R cũng tin thiệt. Nhưng xuống đây có ông nào được xuống địa đạo đâu! Vậy mà về trên mấy ông khoe địa đạo thần thánh địa đạo nọ, địa đạo kia.

– Khoe hồi nào, sao em biết?

– Thì em lên đại hội dũng sĩ diệt Mỹ 62, ai cũng đeo theo hỏi em, em nói không trôi mấy ông cứ hỏi hoài em cũng ngắc ngư thì có một ông tới gạt ngang: “Địa đạo là bí mật quân sự. Ta chỉ nên biết đến đó thôi. Nếu nói rõ, địch biết nó phá hết. ” Nhờ vậy em đỡ lúng túng.

Sẵân trớn tôi hỏi luôn:

– Còn việc mượn Mỹ của mấy em như thế nào ?

– Trời ơi 1 Em lạy anh. Anh hỏi em nhiều lần rồi. Em mắc cỡ muốn chết, bây giờ em phải nói nữa hay sao. Anh tha cho em được không?

– Ở đây anh em mình không hà, em cứ nói sự thật cho anh hiểu thêm chiến trường, thực chất chiến đấu của mấy em để anh giúp đỡ khi có phối hợp tác chiến, đừng ngại gì. Anh cũng từng làm anh hùng vừa rồi ở đại hội Mừng Công pháo kích sân bay Biên Hòa. Anh nói luôn cho em biết là anh đâu có pháo kích quả nào, nhưng ở trên chỉ định anh làm phó đoàn 69. tức là đoàn pháo binh đánh sân bay và đại diện đoàn ra lãnh huân chương chiến công của chánh phủ ngoài Bắc và cờ danh dự Mặt Trận , nhưng đâu có ai biết. Tụi trí ngủ gà mờ ngoài thành mê mệt đeo theo khen ông anh hùng pháo binh như thần thánh. Đối với dân Sài gòn và ngoại quốc mình phải che mắt họ và chỉ để hai cái lỗ tai cho họ nghe mình thôi. Em hiểu không?

– Dạ, anh biểu vậy thì em mới nói như thế này. Cái vụ mượn Mỹ đó hổng biết ông sạn giả nào viết ra tuồng kịch kỳ cục vậy hả anh?

Lam vọt miệng hỏi.

– Tức là sao anh Cội?

Tôi tóm tắt vỡ kịch của Nguyên Vũ cho Lam:

– Ổng đưa ra một tổ tam tam nữ dũng sĩ. A, B và C, ý nói là Bảy Mô, Tư Gừng với Bảy Nên. Muốn đạt tiêu chuẩn dũng sĩ diệt Mỹ thì phải bắn sẽ được 5 tên. Cô A bắn được 5 tên, thế là đạt rồi. Cô B bắn được 6 tên, dư tiêu chuẩn một tên. Còn cô C chỉ bắn được có 4 tên, thế là thiếu một tên mới đủ tiêu chuẩn. Cô B sẵn sàng cho đồng đội mượn một tên dư của mình. Chừng nào C bắn được một tên thì trả lại cho B. Như vậy kỳ tới B chỉ còn bắn 4 tên nữa là đủ tiêu chuẩn hai lần. Còn tổ tam tam thì đã đủ tiêu chuẩn 15 tên. Như vậy A, B, C đều là dũng sĩ và tổ tam tam ABC là một tổ dũng sĩ.

Tôi kể rành rọt cho Lam nghe. Định đưa ra vài câu kết luận, nhưng Cội’ kêu lên oai oái.

– Anh Hai ơi, em lạy anh, anh đừng có nói thêm nữa em độn thổ bây giờ nè . Mỹ chớ phải cá kèo đâu mà dễ khía vậy. Từ ngày Mỹ vô Đồng Dù tới bây giờ toàn cái Củ Chi này chưa chắc đã bắn chết được ba thằng Mỹ. Có đánh lật một chiếc xe tăng ngoài lộ số I và Tư Gừng làm lật một chiếc xe chạy vô rừng lạc đường, Mỹ đi trong xe chắc có bị thương nhưng trực thăng chở về chớ tụi em đâu có thấy thằng nào mà cho vay cho mượn. Riêng tụi con gái thì cả năm chỉ nổ súng vài ba trận bị tụi nó trả hỏa như mưa, teo chim thấy bà đâu dám ló ra vành đai vành điếc gì nữa. Chỉ mình tụi em không thôi.

Năm Cội tuôn tiếp một hơi:

– Hồi năm ngoái tụi con Út Nhỡ đi quay phim địa đạo chiến gì đó ở Hố Bò, em có nghe. Bà Năm Đang kêu em đem đội du kích của em giàn trận địa đạo, nhưng em trốn mất biệt, em đâu có dám lên! Địa đạo chiến gì mà địa! Hổng biết bả có nghe nhà báo nào yêu cầu mà bả làm vậy. Tụi Sài gòn mà xem được thì một là nó mò theo đó nó phá hết hầm hố, hai là nó cười mình.

-Tại sao cười?

– Nếu nó thấy thì nó sẽ cho mình chơi nhà chòi địa đạo chớ địa đạo chiến gì. Đánh tụi nó rồi trốn xuống hầm được à ? Anh nên nhớ nổ súng là dễ, còn rút lui mới là khó . Nó truy tới ổ Nó cho cá lẹp phóng rốc kết, cá rô rỉa, cà nông thụt, xong rồi nó thảy bom, bom miếng xong nó rắc bom bi, bom bi xong nó quăng bom na-pan. Ở đó mà chui xuống “địa đạo an toàn, Mỹ không làm gì được!” Xí! Bà nội Nhã Nam, cái bà đó nói láo không giữ sách vở. Chuyện của tụi em, tụi em nghe trên đài giải phóng mà mắc cỡ quá trời. Anh có gặp, mần ơn anh nói bả tốp tốp cái miệng của bả chút! Đọ, cái trận Bào Lách hôm qua nếu bả tới thì chắc bả nói là tổ con Út Nhỡ bắn được mười lăm thằng Mỹ, đội của Năm Cội diệt ba xe tăng cho coi. Họ tưởng Mỹ là ếch nhái, xe tăng là rùa, ba ba muốn diệt chừng nào cũng được. Anh mà gặp tụi Mỹ nó moi hầm kìa mới ớn! Nó vạch không bỏ một cái rễ cây.

Ba Tố nói:

– Chú là dũng sĩ diệt Mỹ số 1 toàn Miền Nam mà chú nói vậy sao được. Chẳng hóa ra mình tuyên truyền bá láp hay sao?

Năm Cội cãi ngay:

– Em không nói mình tuyên truyền bá láp, nhưng em muốn tụi em làm được cái gì thì báo đài nói cái đó chớ đừng nói cái không có, thậm chí như cái kịch Mượn Mỹ. Bữa đó họp, đang lúc xã hơi, chủ tọa vặn đài giải phóng thì nghe diễn trên đài. Tụi con Bảy Nê, Bảy Mô, Út Nhỡ bỏ chạy ra ngoài. Nó bảo nó rùng mình rỡn ốc.

Thằng Ưng xía ngang.

– Thiệt là gùng mình gởn ốc hết chơn anh Hai ơi ! Từ đó, lần nào tôi gặp mấy chỉ cũng hồi: “Mấy chị có dư Mỹ không, cho tôi mượn vài thằng.” Chị Út Nhỡ nổi quạu, chỉ mặt tôi: “Mày ngạo tao, tao phệnh cho thấy một phát trường bá đỏ ! “

Nguyên Vũ là tên Bắc kỳ vốn là ca sĩ hạng ruồi ở Chiến khu D tập kết ra Hà Nội không hát được bèn chạy sang nghề kịch coọc, được cho đi Trung Cộng học ngành đạo diễn, rồi cho về Nam. Hắn toàn ở trên rừng Cao Miên nghe ngóng chuyện Sài gòn lẫn Củ Chi rồi phịa, nhưng bọn đầu bò Hà Nội xem kịch của hắn thì ngỡ là sự thực, thích lắm. Đến khi chính tôi sống và chiến đấu ở Củ Chi tôi mới thấy cái tài phịa chết người của gã kịch sĩ kiêm sạn giả.

Nhờ cuộc gặp gỡ Năm Cội bất ngờ, tôi hiểu thêm thực chất chiến trường Củ Chi, cả ta lẫn địch. Kể từ đây tôi tự phá vỡ hoàn toàn những giai thoại thần thánh về Địa đạo Củ Chi. Và tôi được thực tế năm năm chiến đấu dạy cho tôi một bài học: Cộng Sản nói láo kinh hoàng. Chúng nói láo bất cứ chuyện gì, ở đâu, với ai, ngay cả với chúng và mỗi một thằng đều tự nói láo với mình, nói láo đến đổi tường đó là thật. Lâu nay, về hoạt động ở Củ Chi, tôi thấy tội nghiệp nhất là các cô các cậu dũng sĩ, những thanh niên nam nữ xinh tươi được bọn lưu manh chính trị Hà Nội sơn phết thành anh hùng dân tộc để đưa vào các lò quay mà không biết! Kể cả tôi nữa, cái ông thầy pháo này!

Tên Tám Quang, trưởng phòng Chính trị Quân khu là đại diện cho bọn lưu manh đó. Cái trò “anh hùng quân đội, anh hùng lao động” tôi từng biết quá rồi. Chúng bốc những tên bần cố nông ngớ ngẩn ra khỏi tập thể, gán cho chúng những thành tích mà chúng không có để nâng chúng lên thành anh hùng. Rồi làm lễ tuyên dương, Rồi bác Hồ đến cài bông hoa đỏ lên ngực, Đại tướng gắn huân chương, thế là chúng trở thành anh hùng cũng như tôi là anh hùng pháo binh vừa rồi, được mụ Phùng văn Cung ôm hôn rã rít. Tôi đã từng gặp và sống chung với nhiều “anh hùng” Nguyễn thị Chiên, Tạ thị Kiều, Nguyễn văn Thọ, Sơn Ton, Phùng văn Khầu, La văn Cầu, Bùi đình Cư v.v… Sự thực tôi cũng kính phục một số người có thành tích đáng khen, nhưng cũng có lắm ông anh hùng ma. Nhưng dù thực hay ma thì họ cũng chỉ là những que củi do bàn tay đảng đút vào lò lửa chiến tranh một cách không thương tiếc mà thôi.

Chúng tôi đi đến Gò Đình thì trời xế qua. Vừa hạ trại xong thì thấy có người lố nhố ngoài đường. Lam che mắt nhìn và kêu lên:

– Lại khổ em nữa rồi!

– Cái gì vậy?

– Anh coi có phải là chiến thương khiêng tới nữa không?

Ba Tố lắc đầu nản chí.

– Chứ còn gì! Một cái võng tòng teng kìa!

Tốp người đi tới. Nắng chiều đốt da mặt họ như thui. Một anh lính hất hàm:

– Mấy chú biết gần đây có cứu thương y tá gì không, xin chỉ dùm các cháu!

Ba Tố thấy họ mặc quân phục cứt ngựa nên quát lớn.

– Y tá đơn vị đâu?

– Đơn vị em tản lạc hết rồi. Mà cũng đâu có y tá !

Tôi biết ngay là lính Bắc rất khờ nên đứng ra chận đường, bảo:

– Các cậu cho vô nhà đi rồi tôi tính cho.

Chiến thương nằm trên võng rên hừ hừ, cả người băng quấn loạn xạ không có vẻ chuyên môn. Mặt mũi các cậu còn non choẹt, thấy tội nghiệp quá chừng. Con cái nhà ai vậy? Vượt được Trường Sơn để đêm nay bác được ngủ ngon thì vô đây đụng cái Củ Chi này, các cháu của bác lại không thể ngủ, càng không thể ăn uống bình thường được. Một cậu có vẻ là tiểu đội trưởng thấy chúng tôi mang K54 thì gọi là thủ trưởng ngay:

– Chúng em bị bom đánh chẻ làm nhiều mảng, nên không biết đường nào mà chạy. Đói quá, chúng em moi củ sắn ăn, rủi bị lựu đạn. Chắc là lựu đạn gài của du kích. Ác quá ! Giặc không giết được lại bị du kích giết.

Tôi liếc sang Năm Cội, ý hỏi:

– Có phải lựu đạn của em không?

Năm Cội làm thinh. Thằng Ưng ứng lên:

– Đó không phải là lựu đạn của du kích! Du kích chạy mất hết từ sớm đâu có ai ở lại mà gài. Mà gài thì gài ở đâu chớ không gài ở dòng khoai mì. Đó là tụi Mỹ, chúng biết đu kích thường đói đi moi khoai mì ăn, nên gài bẫy mình. Để gắp miểng ra thì biết.

Lam tiến lên hỏi:

– Vết thương như thế nào mà băng bó giáp mình mẩy hết vậy?

– Lòi ruột một đùm. Tụi em hoảng quá , cứ hốt bừa nhét vô, rồi buộc lại.

Lam chỉ la một tiếng “Trời!” rồi đứng im. Trong đầu tôi vụt hiện lên ca mổ ruột thừa bằng lưỡi lam không có thuốc tê ở trên Trường Sơn.

Chương 58

Lính Bác Hồ mừng Quốc Khánh với thịt chó.

Tình hình biến động càng ngày càng bất lợi cho cuộc hành quân nghiên cứu chiến trường của tôi. Tôi quyết định thay đổi lộ trình, cho về đơn vị một số cán bộ , tăng thêm một số khác và tiếp tục nghiên cứu.

Đến Ngã Ba Cây Trâm cũng còn gọi là Ngã Ba Xe Cháy thì trời nắng rát mặt, Ba Tố đề nghị vô quán bên lề đường uống nước rồi sẽ đi về Hố Bò.

Tôi hỏi chuyện cũ. Ba Tố trỏ vào rừng, bảo:

– Nó nằm trong đó. Chẳng phải là xe tăng thường đâu, M13 đó ông thầy ơi! Tôi về đây thì đã nghe chuyện đó rồi. Nó tam sao thất bổn, chẳng ai rõ gốc ngọn ra sao. Người thì bảo là mình đánh được ở ngoài quốc lộ 1, kẻ lại bảo là do xã đội Phước Thành là binh vận kiểu ở bên Bình Dương. Người ta thêu dệt rằng thằng Hai Đen xã đội trưởng cầm cờ đứng trên nóc xe ra lịnh cho thằng lính bên trong lái về Hố Bò, nhưng tới An Phú thì bị du kích bắn. Nó hoảng hồn quăng cờ nhào xuống đất tưởng gãy cổ.

– Còn thằng lính đâu?

– Ai mà biết được, chỉ thấy cái xác xe nằm trong rừng, bị chôn ngập tới nửa dây xích. Tôi cho lính vác xà beng tới nạy lấy một mớ mắc xích về để trên nắp hầm chống pháo, nhưng không nạy được vì nó liền mí với nhau. Nếu mà mình đem nó về nhà được, đào hầm rồi đẩy nó xuống, mình ở trong như hầm bằng thép, pháo nào bắn nổi?

Tôi nói:

– Vậy tôi nghe đồn rằng mình đã dùng chiếc xe tăng đã làm chỉ huy sở.

Bính Chân Lư cười khoe cả cái bàn nạo:

– Tôi còn nghe đài nói là mình lái xe vô tấn công đồn nữa chớ .

– Đài nào?

– Thì đài của bà Nhã Nam đó chớ còn đài nào. Chính bả đã bịa ra chị Năm Cầu Xe, đài tưởng chị là anh hùng thiệt của đội quân đầu tóc. Cái vụ dùng xe tăng tấn công đồn chắc cũng là do bà nhép đó cho tài liệu thôi. Do đó mà phát thanh rần ì liên tục. Tụi tui nghe muốn khùng luôn.

Tôi nói:

– Sở dĩ tôi hỏi là vì hồi năm ngoái tôi có đưa thằng nhà báo Bọ Chét đến đây quay phim. Tôi có tìm người để giàn cảnh sống như tại trận. Đại khái như là có một số lính Mỹ giơ tay lên đầu hàng trước họng súng của quân giải phóng, rồi một tổ tam tam chế đứng trên xe tăng phất cờ mặt trận. Nhưng tìm không ra Mỹ . Ông binh vận Tư Linh móc hoài mà không được thằng nào hết. Hơn nữa không có ai biết máy móc nên không làm chiếc xe tăng cục cựa được. Chỉ cần nó lăn vài chục thước thôi mà cũng không có cách nào. Cho nên thằng nhà báo chỉ quay cái xác nó và chợ An Nhơn, một vài chiếc xe lam đi đấu tranh chỉnh trị . . .

(Cộng Sản là chúa dàn cảnh để bịp thiên hạ. Năm 1960-1961 gì đó, bọn Hà Nội có tổ chức một cuộc ra mắt cho Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tại trụ sở Quốc Hội ở Ba Đình. Khách Quốc Tê gồm Liên Xô, Trung Quốc, các nước Đông Âu, Venezuela, Argentina, Cuba v.v… Nhà báo thì có bà già Anna L. Xít-trông, Bẹc trơ răng Anh Quốc không đến được đã thân tình gởi băng ghi ăm tiếng nói ông ta đến chào mừng đại hội. Nguyễn văn Hiếu, Mã thị Chu đang nằm bệnh viện Việt Xô được xốc dậy thay quần đổi áo bò lên xe cây che kín bốn bề dông tuốt lên Lạng Sơn cho đi tàu hỏa về ga Hàng Cỏ huýt còi hoéc hoéc, đồng bào ra đón ì ì, tưởng là hai ông bà từ miền Nam độn thổ ra Hà Nội! Hai ông bà xuất hiện ở đại hội trước những cặp mắt khâm phục của “tàng thế giới. ” Họ có ngờ đâu đây chỉ là màn bịp của tụi lưu manh Hồ. Riêng phái đoàn quân sự của Mặt Trận Giải Phóng thì có một ông tên là Nguyễn văn Long tiểu đoàn trưởng quân Giải Phóng, mặc đồ nhà binh màu cứt ngựa, áo bỏ vô quần… Tôi biết ông tiểu đoàn trưởng đó là ai. Hắn tướng mạo bần cố hơi lớn con, có bộ mặt sốt rét, bị phục viên cuốc đất ở nông trường Xuân Mai của ông Ba Tô Ký. Hắn đang rầu rĩ vì tương lai mờ mịt, bỗng dưng được xúc về Hà Nội làm Tiểu đoàn trưởng. Sau khi hội nghị bế mạc, anh em không thấy ông Tiểu đoàn trưởng Giải phóng quân trở về nông trường nữa. Chúng nó dám cho ông mò tôm để diệt khẩu lắm. Cộng Sản mà, cái gì chúng không dám làm)

Tôi dặn Sáu Đức mấy điểm mang về truyền đạt cho Sáu Phấn để chuẩn bị vào đợt:

1 ) Móc súng lên lau chùi nhưng nhớ chuẩn bị chỗ giấu ngay nếu có đổ chụp đút trở lại.

2.) Liên hệ với Tám Giò lấy du kích tổ chức thành đội để vận tải đạn pháo.

Tôi dặn thêm:

– Tình hình đã meo rồi. Phải hành động càng sớm càng tốt. Khi tôi về sẽ cùng với Ba Tố nghiên cứu phục kích đánh tàu trên sông Sài gòn. Phải hạ được vài tàu, tệ lắm cũng xơi gọn vài chiếc giang thuyền khi nổ súng thì phải đồng loạt để địch không biết chính xác mặt trận chính là đâu! Rồi sẽ liên hệ với Trảng Bàng và Bến Cát. Đề nghị với quân khu cho hai quận đó tiếp ứng, cầm chân bộ binh, bịt họng pháo binh.

Giọng Sáu Đức lạc quan:

– Vậy làm ăn to hả thủ trưởng?

– Chó đạp cũng chết, trâu đạp cũng chết! Nhưng trâu đạp chết vinh quang hơn.

– Còn Trung Hòa định thế nào thủ trưởng?

– Tôi sẽ có đề án chi tiết sau.

Trong bụng tôi rất quyết tâm làm một cú cho nổi đình nổi đám, để chuyển cái thế bị động giành thế quân bình: địch đánh ta mười ta trả lại một, hai cũng được, chớ không để địch đánh mà ta không trả miếng nào. Tôi bảo Lam:

– Em theo Sáu Đức và anh em về cơ quan lo phần việc của em. Anh đã bảo quản lý cho mua bông băng thuốc men. Em về là có sẵn. Em nên soạn sẵn. Anh sẽ xin ở trên cho thêm vài cán bộ của C5 xuống H6, đi theo các khẩu đội ra tận chiến trường.

Lam phụng phịu:

– Xin ai thì xin, anh đừng xin hai bà trời con của ông Tư Chuyền.

Tôi biết Lam không thích hai cô Nga từ lâu, nên bảo:

– Anh không xin đích danh ai hết. Tùy ở trên cho ai thì cho.

– Anh không cho em theo hết chuyến này hay sao?

– Sau đây anh chỉ lấy một vài người để di chuyển cho nhanh. Công tác này liên hệ với các quận Trảng Bàng và Bến Cát em không có nhiệm vụ gì trong đó hết. Em đi Ràng kỳ rồi là …

-… Vô kỹ luật phải không?

– Cũng đâu đó !

– Em cũng biết vậy, nhưng nếu em không liều mạng thì không biết dịp nào má mới gặp được anh và em để quyết định. Về cơ quan, anh cứ tuyên bố trước quân hàng em.là vợ của anh, kỷ luật gì em cũng chịu.

Lam vừa nói vừa móc túi nhái lấy hộp nữ trang mê ra, lấy một chiếc nhẫn đưa cho tôi. Tôi liếc thấy trên mặt nhẫn có chữ L. Trên mặt chiếc kia cũng giống y.

– Em chuẩn bị hồi nào vậy?

– Em nói với má. Má đi ra thợ bạc đặt làm ngay.

– Em làm phiền má quá ?

– Má cưng anh còn hơn em. Anh đeo đi !

– Anh không quen đeo cà rá .

– Không quen thì tập. Em cũng có quen bao giờ. Anh đeo, em cũng đeo thì không còn ai dòm dèm gì anh nữa.

– Đàn ông đeo cà rá vàng coi chướng lắm.

Lam bỏ vào sắc-cốt tôi.

– Vậy anh cất đi !

Đến chỗ rẽ, cả đoàn dừng lại. Tôi dặn dò Sáu Đức vài việc nữa rồi chia tay. Lam tỏ vẻ không muốn rời tôi, nhưng nàng biết lần này nàng không thể vô kỹ luật nữa. Tôi hôn Lam. Cái hôn ngập ngừng chưa trút hết điện trước khi tạm xa nhau. Tôi, Ba Tố, Tôn Sứt, Bình Chân Lư, Hùng Cối họp thành phái đoàn kéo về phía Hố Bò. ở đây, chúng tôi sẽ nghiên cứu trận địa đánh giang thuyền vùng Bò Cạp nơi Là đã dắt tôi đến kỳ trước. Lam đã đi, còn quay lại:

– Anh đi mau mau về nghen!

Đi vô sâu vùng giải phóng, không còn sợ cặp mắt của Trung Hòa, tụi tôi tha hồ nghênh ngang và tán phéc như pháo nổ. Bình Chân Lư tấn công tôi trước nhất:

– Thầy Hai quan trắc trận địa nhanh quá ! Tụi tôi chịu thua tuốt.

Tôn Sứt hỏi.

– Anh có bùa ngải gì không? ở trên K vô trong Bộ Chỉ huy, học sinh thành bu một lúc nửa tiểu đội, về trường pháo từ con gái nông dân đến đàn bà góa cũng đeo, rồi bà khu ủy sồn sồn cũng muốn bắt xác. Rồi xuống đây hai ba xôi nhồi một chỗ.

Ba Tố bổ sung:

– Tôi ghé đội dũng sĩ Út Nhỡ, nghe cô nào cũng nhắc anh Hai. Anh Hai xúc toàn cá rô mẹ còn mình lội đục nước không vớt được con lòng tong nào kho quẹt đỡ thèm.

Bình Chân Lư tiếp:

– Đi với ổng, mình lép quá các cha!

Tôi cười:

– Kỳ này hễ chỗ nào có chất tươi, tôi lặn để các ông hoạt nghe! Riêng ông Tôn tôi sẽ dẫn đi coi mắt năm nàng công chúa tuyệt sắc một lúc.

– Tuyệt sắc cỡ bà khu ủy không?

Hùng Cối la lên.

– Ê đừng có đụng tới chị nuôi tao nghe.

– Mày hổng có ai … đụng để giành mày đ… hả?

Tôi can thiệp.

– Đừng có nghi oan cho nó. Nó có em nuôi bán quán bảnh lắm. Lúc nào rảnh rảnh tụi mình lên đó ăn hủ tiếu Tư Hẹ rồi mua kỳ đà nhậu chơi. Ê Hùng, lúc sau này mày còn gặp Tư Ó và tổ xe bò nữa không?

Hùng cười mũi:

– Cả Xóm Mới bây giờ tan tành hết rồi. Mấy cái ghe hàng đậu phía bên kia bờ sông Vàm Cỏ đã lui mất. Cô em nuôi có chồng rồi. Còn Tư Óó đã trốn ra Tây Ninh.

– Sao họ bỏ mày họ đi hết vậy?

– Thì em nuôi sợ anh nuôi trổ mòi chớ còn sao nữa! Một trăm thằng anh nuôi có thằng nào là không ló cựa đâu. Tía nuôi cũng thế nữa là anh nuôi.

– Bà má đi mất là vì chị khu ủy cứ mua đồ ghi sổ dài cả cây số mà không chịu trả tiền nên bả cụt vốn, còn tổ xe bò Tư Ó trốn là vì ở trong này đói quá. Ngoài ra còn ăn bom pháo hàng ngày. Mấy lúc gần đây B26 lại chơi cái trò bom trộm anh ạ .

– Mày có gặp thằng Cử nữa không?

– Nó còn ở trong đó ngâm thuốc rượu bao tử nhím, còn ông Một và bà Một thì vác bàn thờ Phật đi Cao Miên dưỡng lão rồi. Tôi và thằng Cử đưa ông tới Xa-mát. Ổng rưng rưng: “Chúc bây ở lại bình an vô sự! ” Bây giờ thì Bùi Khanh thay chân ổng là Xã đội trưởng vùng rừng đó.

Tôn Sứt vuốt đuôi:

– Phải có Bùi Khanh xuống đây thì đủ bộ săn mễn, vui quá !

Tôi gạt:

– Ở dưới này Bùi Khanh chịu không thấu đâu. Thằng Đồng Dù không cho phép mình giăng võng hát hơ hát hà đưa em như ở trên R. Ở trên đó chỉ sợ B52 còn ở đây sợ đủ thứ. Để chú mày sống thêm vài bữa rồi sẽ nếm mùi Củ Chi đất thép thành…

Bính Chân Lư cười hắc hắc và nhại lại:

– Củ Chi đất thép thành đồng, Củ Chi chất nhép đầy đồng.

Còn đang vui chuyện thì ở đằng kia có bóng hai người đi lại một đàn ông một đàn bà . Thì ra thằng Năm Đầu Ban và cô xã đội phó Là . Định bụng sẽ ghé nhà thăm hai chị em nàng kiều Hố Bò, thì lại gặp cô em ở đây. Vừa trông thấy tôi, Là vọt tới và lạ bài hải, rồi nghẹo ngang khóc như con nít.

– Anh Hai ! Anh Hai !

Ba Tố cười hô hố:

– Anh Hai có mua kẹo dừa đậu phộng, kẹo xí-cô-la cho cô kìa ! Nín đi ! Xã đội mà khóc mếu vậy Mỹ nó cười !

– Tui khóc thây kệ tui, ai biểu mấy ông chọc ghẹo!

– Coi bộ tướng cô em giống con sẩm lai ngoài Ràng quá, chỉ khác cái nước da dang nắng thôi. .

Là nguýt một cái sập trời, nhưng rất hài lòng vì được khen đẹp như cô sẩm.

– Mấy ông đi đâu cũng phất mùi sua đủa ra nặc nồng. Con Mầu là tư sản đó nghe. Nhảy vô kiếm ăn!

– Nóô tư sản nhưng tía nó bán la de không lấy tiền, là tư sản yêu nước… đá !

Là phụng phịu.

– Lớp học pháo gì chiêu sinh lâu vậy mà không khai mạc?

– Chờ kiếm hầm hố, địa điểm cho bảo đảm rồi mới đám khai chớ. Lơ mơ nó chụp thì chạy vô đâu? Phú Mỹ Hưng của cô đã chọn học sinh chưa mà hối thúc? Chắc xã đội của cô gởi đi đông nhất quận.

Là sìa môi:

– Danh sách thì có cả trung đội nhưng thực tế thì chỉ có tôi và Năm Đầu Ban thôi.

– Vậy các cô Năm Trong, Sáu Biền, Út Nào, Tư Ếch đâu?

– Còn rút trong hang Sa Nhỏ, Bến Chùa, Bến Súc nhưng chúng nó nói Phú Mỹ Hưng đâu có cái đồn nào mà mình phải học bắn súng cối. Cái đó để nhường mấy xã có đồn bót, cho nên thối thoát không chịu đi.

Bình Chân Lư giơ tay ra bộ.

– Đem đòn mà xeo chúng nó !

Ba Tố giải thích. :

– Nói vậy sao được ! Nếu tụi Mỹ nó đổ cụm ở Đồng Trà Dơ thì các cô vác súng cối ra phệnh chúng nó có phải là chắc ăn hơn bắn trường bá đỏ không?

Hùng Cối vốn cây hảo ngọt, thấy cô xã đội non mỡn, chưa biết là em nuôi của thầy pháo, nên bỏ vòi:

– Cối bắn giang thuyền hoặc tàu lồng cu trên sông Sài gòn rất hiệu quả đó cô xã đội.

Bính Chân Lư rót thêm:

– Thằng cha này là tay cối thủ 81 đó cô em ! Nó sẽ dạy cho cô bắn đìa rét một phát là một chuồng cu lật ngang thôi.

Năm Đầu Ban nhảy cà tưng:

– Vậy học xong, quận cấp cho tụi tôi mấy cây?

– Muốn mấy cây cấp mấy cây. Thứ đó bây giờ mình có nhiều như củi dừa vậy.

Thấy đứng giữa đường hơi lâu, Ba Tố giục:

– Thôi, mình đi vô xóm rồi hãy bàn tiếp, ở đây coi chừng cá rô rỉa.

Thế là đoàn tiếp tục đi. Ba Tố hỏi Năm Đầu Ban:

– Còn thằng Trương thằng Hiếu đâu?

– Hai đứa nó theo dòng họ đi qua Bình Dương rồi.

– Năm Thuận không trở về à ?

Là đang đi tụt hậu với tôi, nghe hỏi, vọt miệng:

– Ông nội con ít nói gạt chú Tư Thiên, bảo là đưa vợ con qua Phú An rồi về câu tôm ở sông Sài gòn và tiếp tục công tác, nhưng lặn mất tiêu rồi. Chi ủy viên mà vậy đó.

Ba Tố cười:

– Nếu vậy tôi đề nghị quận chỉ định cô làm xã đội trưởng cho luôn hệ thống với bà Phó tư lệnh miền.

Nàng vừa nói vừa nhìn tôi để thăm dò.

– Tôi lạy mấy ông! Tôi cũng sắp đi Bình Dương ở với má tôi rồi!

Tôi chụp lấy cơ hội, nghiêng qua rỉ tai nàng:

– Em với cô Lụa nên đem bé Rớt qua An Thành làm ăn càng sớm càng tốt. Tình hình sắp tới đây đàn bà con nít chỉ vướng bận công tác chớ không có làm được việc gì đâu!

Nàng tưởng tôi ngăn chặn, chẳng ngờ tôi nói xuôi theo, nên mát mẻ:

– Ừ anh nói vậy mai em đi. Sẵn có ông lớn đây, em giao xã đội Phú Mỹ Hưng lại cho ổng, ổng chỉ định ai làm thì làm.

Tôi vẫn thản nhiên. Còn nàng thì ngó ngang không nhìn tôi nữa. Tôi tìm cách vuốt giận:

– Lâu nay má có nhắn gì về bên này không em?

– Hổng có nhắn gì hết!

– Có ai đi qua bển nói đùm anh kính lời thăm má.

– Không có ai qua bển hết! .

Tôi vuốt lưng nàng, tiện thể ấn nhẹ một cái hôn bên thái dương và rủ rỉ:

– Thôi mà giận gì không biết nữa. Anh nói vậy là anh đã suy nghĩ kỹ rồi. Anh bận lắm, đáng lẽ phải đi sang Trảng Bàng ngay để bàn việc phối hợp vào đợt với bên đó, nhưng anh muốn tạt qua đây để bảo em phải đi sớm. Tụi nó đi hết rồi, em còn ở lại làm gì nữa? Đàn ông con trai mà cũng đã khôn vong tìm đường sông rồi. Em coi ở Xóm Thuốc mấy ông khu ủy còn ở đó không? Họ dông hết rồi. Tụi anh là mình đồng xương sắt mới còn bám trụ ở dây thôi. Anh biết em còn nán ở lại đây là để chờ anh. Nhưng có lẽ mình khó gặp nhau lắm, không gặp nhau nữa là khác. Các đơn vị bộ binh pháo binh du kích ba quận Trảng Bàng Bến Cát Củ Chi sắp vào đợt một lúc. Chừng đó, em muốn đi cũng khó.

Cô xã đội lặng thinh, bước chân nặng nề vất vả.

Tôi thấy thương em vô cùng. Đáng lý nàng đã có chồng, có con như những người con gái bình thường khác trong thôn xóm. Đáng lẽ Lụa có thêm đứa con, và Thơm đánh xe bò kiếm tiền hàng ngày nuôi vợ chớ không phải đi dân công bỏ thây nơi chiến trường Bình Giã Phước Long. Đáng lẽ má Hai không mất anh Điều vì cái trận đánh Bến Súc theo chiến thuật A-thần- phù năm 47 do Ba Tô Ký chỉ huy. Bây giờ má đã có cả bầy cháu nội. Ngược lại, cái gia đình này tan nát vì kháng chiến. Chồng chết, con trai độc nhất hi sinh, con gái góa chồng, con gái út chênh chông…

Nhiều đêm tôi nằm suy nghĩ không hiểu tại sao đám con Huê, con Tiến, con Hiền, con Thảo, bà khu ủy, mấy chị Năm Đang, Hai Xót và vô số học sinh thành như Huỳnh Mai, Chi Trúc, Thanh Tuyền lại bỏ đời sống yên ổn để vào đây sống lăn lóc và chết chóc? Và bị các chú bác cha nuôi chú nuôi mò, tống, hiếp, nhục nhã vậy?

Tôi đã tìm ra nguyên nhân: cái đài_Hà Nội rồi kế đó là cái loa Giải Phóng của tên luật sư mang án hãm con nít. Chúng đua nhau tô vẽ Miền Bác Xã Hội Chủ Nghĩa thành một thiên đường và bôi đen Miền Nam như một địa ngục. Ai mà chẳng mơ Thiên Đàng, trong lúc oái oăm thay chúng mình đang sống trên Thiên Đàng thực sự. Cho nên bỏ thiên đàng thật mà đi tìm thiên đàng giả, để rồi cuối cùng xuống địa ngục. Nhưng đã trễ rồi! Lũ quỉ đỏ đang xẻ thịt nhai xương!

Ba thế hệ thanh niên tươi tốt của đất nước đã bị lừa, bị bán rẻ , bị cho không, bị chà đạp dưới đôi dép lốp đạo đức giả của tên Hồ tặc. Cả tôi nữa, một tên Lê Dương mang một trái tim ê chề đau đớn nhưng tới đây chưa dám vứt súng đi để trở về đời sống bình thường, cứ đeo đuổi theo lý tưởng mà chính tôi cũng không hiểu nó là cái gì, tròn méo, đen trắng ra sao nữa? Bất ngờ cô xã đội nói:

– Bữa nay mấy ổng ăn lễ Quốc Khánh lớn lắm!

– Ai?

– Đám ông Bảy Hốt.

– Bảy Hốt nào?

– Anh quên bà Sáu Tiệm định làm chị nuôi anh rồi à?

Tôi cười:

– Lâu nay anh ở dưới kia không nghe ai nhắc hai cái tên đó.

– Anh mà quên! bà Sáu Tiệm gạ sẽ mua bình toong mới ngoài chợ Bắc Hà cho anh đó !

– Bả mua về bán cho anh chớ đâu phải cho anh. Em cứ buộc anh vô đó hoài.

Là nó lãng ra :

– Bây giờ bả có một lô em nuôi toàn bộ đội miền Bắc.

– Ở đâu có vậy?

– Họ ở đâu trển xuống đóng cùng khắp từ Trảng Cỏ tới Rừng Tre.

Tôn Sứt tỏ vẻ rành chuyện.trên R:

– Mấy ông con đó làm bể Trảng Bà Điếc rồi, bây giờ kéo xuống đây làm cho nát luôn cái Hố Bò nữa ! Lúc từ trên R xuống, tôi gặp họ di chuyển qua cầu Cần Đăng. Thấy họ mình nhớ hồi ở Trường Sơn quá !

Tôi hỏi Là:

– Ai ăn lễ Độc Lập?

– Thì mấy ông đó với các ông cơ quan bộ đội đóng ở Phú Mỹ Hưng làm rùm beng đây rồi đố khỏi ăn dưa hấu.

Bính Chân Lư chối bài bãi:

– Ai làm gì làm, tụi tôi không có tham gia nghe cô xã đội.

Là quát:

– Từ ngày B52 cày đường 15 mấy ổng trốn biệt tích đâu có dám ló mặt về đây.

– Người ta bám địch ở vùng meo mới có mần được chớ.

– Ra vùng meo để đeo cô dũng sĩ áo hồng chớ gì?

– Nó ra đó lấy lính rồi, còn đâu mà đeo !

Chúng tôi kéo về thẳng nhà Lụa. Xóm nhà bây giờ đông hơn lúc tôi ghé hồi năm ngoái. Là trỏ cho tôi và bảo:

– Cái nhà mới đó là của chú Hai Bơi, phó bí thư. Chú đi, hai tay cà bơi như hai chiếc dầm nên bà con gọi là Hai Bơi. Chú Hai dời nhà bên Bến được về trong này, một là lánh mặt tụi giang thuyền, hai là giúp chú Tư. Chị Tám, chú Hai Xe đánh xe bò vẫn còn ở đó.

Vài ba nóc nhà mới núp ở ven rừng cao su. Con đường mòn đi vào C5 đã bít ngang. Chắc các cô các cậu đã mở một cửa khẩu khác để lưu thông.

Lụa chảy nước mắt khi nhìn thấy tôi. Nàng mếu máo:

– Tưởng anh quên… con Rớt rồi chớ!

Bé Rớt mắc cỡ đứng nép bên gốc cột chớ không chạy lại ôm tôi như trước. Nó ốm và già đi chớ không thấy lớn lên. Lụa nạt:

– Sao không chạy lại mừng cậu Hai?

Bé vẫn đứng tay cào cào cây cột. Tôi bước lại bế nó lên, hôn nó. Thấy nước mắt ướt gò má thơ ngây tôi cũng nghẹn ngào:

– Nặng quá, bồng hết nổi rồi.

Chốc đây mà đã gần nửa năm, kể từ khi lập hội Ve chai chống Mỹ ở đây.

Tôi hỏi Lụa.

– Có ai làm sao không em?

– Pháo bắn gấp ba lần trước nhưng trời đỡ hết anh ạ.

Là xớt ngang:

– Không ai trầy da, chỉ có nửa tiểu đội du kích chiêu hồi hoặc ra ấp chiến lược chống Mỹ thôi!

Con Rớt chạy vụt ra cửa sau và kêu ré lên:

– Lượm ơi ! cậu Hai tao về nè!

Tôi tưởng mình là người xóm này đi xa mới về, buồn bả vô cùng, khi nhìn thấy ngôi nhà xơ xác, trống trơn. Giếng nước vẫn còn đó nhưng giàn mướp hoa vàng năm xưa đã rụi đi từ bao giờ, cái giàn mướp đã sập để cho chiếc gàu nhôm không còn chỗ nghĩ ngơi, phải nằm lăn dưới đất. Con đường mòn dẫn xuống xóm lò đường vẫn phủ đầy lá cao su khô, nâu sẫm rung rung tương tự những cái vãy con rồng chết xững lên mỗi khi có gió lướt qua, như nó muốn bay lên mây mà vẫn bị buộc nằm ở đó.

Từ con đường đó Lụa ở đằng nhà má về nhà gặp tôi một mình khi thằng Lạn đưa tôi tới đây lần đầu. Lúc đó trong nhà đã có hầm. Bây giờ cũng cái hầm đó nhưng nóc hầm đã đắp đất dày thêm gấp đôi. Lụa, Là sống nhờ miếng vườn của má với cây trái còn sót lại sau một trận bom. Nhà má đã cháy khi tôi dự hội anh hùng từ R trở về. Nhà Lụa thì được bom pháo kính trọng hơn nhưng trước sân một hố, bên cửa hông một hố điểm trang cho bức tượng Vọng Phu sống của Củ Chi.

Tôi hỏi:

– Pháo Đồng Dù hay Trung Hòa vậy em?

Là chua chát đáp.

– Trung Hòa chính hiệu, Đồng Dù cặp sườn! Còn một quả bọc hậu nữa là xong cái chiến thuật bủa lưới phóng lao của trực thăng. -Là vừa nói dứt lời thì reo lên – ông thiếu úy xe bò, mau lên, Anh Hai tôi với phái đoàn tới chờ anh nè !

Tư Thêu và một lính mới không quen, khiêng cái đùi bò toòng teng đi vào sân vòng qua cửa hông treo trong bếp. Tư Thêu bảo:

– Cái đùi sau con bò xe nặng quá, coi chừng sập nhà ! – rồi chùi tay vào vạt áo đi thẳng lại bắt tay tôi – Anh đi đâu lâu vậy ? Tưởng anh trở ra Hà Nội đi Liên Xô Trung Quốc gì rồi chớ.

– Xí Xô, Quốc nhẹp thì có ! Đùi bò đâu vậy?

Tư Thêu nghẹo đầu phân trần:

– Ở ngoài kia lái xe có khẩu hiệu Coi xăng như máu, coi xe như con còn tôi chăn bò Coi xe bò như con, coi bò cũng như con. Nhưng pháo nó lại không coi như mình. Nó làm bị thương một con. Trị lâu quá không lành. Tôi thỉnh thị lên K30 xin ông Tư Năng cho làm hàng ăn mừng 2 tháng 9. Ổng đồng ý nhưng bảo làm ra thì bán lấy vốn mua con khác cho Hậu cần tải gạo. Cái đùi này là phần của cho thương binh và nhân viên C5.

– Có phần nào cho H6 không?

– Để rồi em giải quyết cho anh.

Đám con Lượm con Rốt chạy ùa vào bu quanh tôi. Tôi lấy gói kẹo trong sắc cốt ra chia cho chúng nó. Là nạt:

– Anh cưng quá, tụi nó lừng! Đi xuống hầm đánh đủa, ăn kẹo đi, ở trên này cớn rớn người ta không làm việc được.

Ba Tố qua nhà chị Tám Khỏe nãy giờ coi bộ ngọt nước ngọt cái nên im luôn. Bây giờ chị Tám mới qua, gương mặt đỏ rần và hơi xẻn lẻn:

– Cậu Hai mới về hả?

Ba Tố lớn con, râu rậm nên khó xáp với các cô như Sáu Hòa bên Bến Cát, nhưng cỡ chị Tám thì vừa chạng. Mà chỉ đá độ thôi chớ đá ăn bắt xác thì Tố không chịu. Do đó, hắn là kẻ đầu không đội trời chân không đạp đất, cao thì không với tới mà thấp thì chê. Lỡ cỡ nửa chừng. Tôi nói:

– Lâu quá không về Hố Bò, bà con chắc quên tôi hết rồi.

– Ai mà quên cậu. Mấy đứa nhỏ cứ nhắc hoài.

– Còn người lớn thì rủa tôi hả chị’?

– Ai biểu cậu nhấp nhứ hoài không chịu tiến tới.

Ngó dáo dác không thấy Là ở đâu, chị cười:

– Mà coi chừng Tơ xe lộn mối đa nghen !

Tôi bảo:

– Bộ chị nghe cải lương Sài gòn dữ lắm sao biết tuồng đó?

– Ghiền con Lệ Thủy với con Mỹ Châu không nghe không chịu nổi. Mà mắc ba cái cà nông ôn dịch đâu có dám vặn lớn, chỉ ri rỉ thôi, không rõ mấy chữ lìu mùi rệu.

Tôi biết câu nói của chị Tám có ý nghĩa gì nên đánh trống lãng.

– Chị nghe không sợ Hai Bơi và chú Tư Thiên kiểm thảo à?

– Kiểm tôi thì ai kiểm họ? Chú Tư Thiên mê vọng cổ còn hơn công tác nữa. Chú nói, nếu trời sanh tao nhà giàu, tao nuôi một gánh cải lương hát cho một mình tao nghe. Cái Sony của chú yếu binh, chú nghe nhờ của tôi hoài.

Vừa đến đó thì nghe có tiếng ẳng ẳng ngoài đường. Tôi nhìn ra và hỏi chị Tám:

– Ai vậy chị?

– Bắc kỳ xâm lược chớ ai!

– Chị học tiếng đó ở đâu vậy?

– Của mấy ông cán chớ ở đâu!

– Đừng có nói vậy họ nghe họ buồn.

– Mấy ông Năm Đùng Tư Cai ghét đám đó lắm. Các ổng bảo nay mai nó làm cha tụi mình.

Tôi thấy ba bốn anh quần áo cứt ngựa, tóc cắt kiểu su hào, chân đi dép cao su đứt quai hậu, kéo lê lẹp kẹp làm bụi đỗ bốc lên, quẹo vô sân. Hai anh đi đầu khiêng con chó vàng bằng một nhánh cây cong queo. Con chó bị trói giật cánh khỉ, toàn thân quằn xuống lọi hai cánh chỏ và hai chân sau suýt chấm đất, chốc chốc dãy dụa và ngúc ngắc, cái mõm bị khớp kín như muốn kêu oan trong lúc cái vòi nước lại bắn tưới ra sân không sợ kẻ nào cười. Cả hai anh lính mặt mày nửa xanh nửa vàng, răng nhô ra như răng dọc, mồ hôi chảy ròng ròng hai bên thái dương. Anh đi trước trông thấy tôi bèn cúi đầu chào và hỏi:

– Thưa bác, xin bác vui nòng chỉ cho chúng cháu nhà chị xã đội phó ạ !

Ba Tố vừa vô cửa hông bước luôn ra cửa trước đáp liền bằng giọng Bác:

– Các cậu ở đâu mà đến thế?

– Dạ chúng em ở Q 16 ạ ?

Thấy Ba Tố đeo K54, cậu bé càng lễ phép.

– Bá cáo thủ trướng chúng em ở Trảng Bà Điếc mới xuống ạ.

Chú Tư vẫy tay :

– Vô nhà uống nước rồi tôi chỉ cho.

– Dạ vâng.

Hai cậu nhanh nhẹn đặt con chó xuống đất và bước vô nhà. Hai cậu đi sau cũng theo chân bạn.

– Chó ở đâu mà có vậy?

– Dạ của bà con cho để ăn nễ độc nập đấy ạ !

Con Rớt đang ở dưới hầm bỗng vọt lên. Vừa đụng đầu khách, nó dội trở lại và kêu ầm lên:

– Lên coi lính vịt xiêm bây ơi!

Lụa quát:

– Đi xuống hầm chơi đi không? Nói bậy bị đòn!

Tôi nhìn các cậu bé mà xót xa. Bác và Đảng ác thiệt. Mười sáu, mười bảy tuổi đang học lớp 8, lớp 9 bị vét sạch đưa vào trường tân binh học cấp tốc ba tuần lễ, ấn súng vào tay lùa vô Trường Sơn đi giải phóng miền Nam. Con không cha già không thương, còn lão Hồ không con nên nên lão không biết công mang nặng đẻ đau của một người mẹ, công nuôi dưỡng của một người cha, do đó lão không coi bọn cháu ngoan bằng những cái rác. Có những đơn vị tôi gặp ở Trường Sơn hoàn toàn không học thao tác súng ống một ngày nào. Vừa hành quân vừa học. Bốn cậu bé này lớn nhất chừng hăm hai tuổi, bé nhất cỡ mười sáu. Những thân hình non nớt đã bị đá tai mèo róc hết thịt, chỉ còn xương và da, áo rộng xùng xình, đáy quần có thể giấu một chú heo con.

Con chó, chân vừa chạm xuống đất đã nhảy còng lên năm sáu cái liên tiếp như một quả bóng nẩy, tỏ vẻ bất bình cực độ và muốn tự giải thoát khỏi sự trói buộc phi lý . Nhưng các chủ nhân của nó nhanh nhẩu bước ra cầm hai đầu cây giở hổng lên. Một anh dọa:

– Chốc nữa ông thiến, cổ thì đánh tiết canh.

Một cậu tiếp theo.

– Thịt thì xào dựa mận cho chúng ông chén mừng Quốc Khánh.

Là bước ra hỏi.

– Các đồng chí tìm nhà cô xã đội để làm gì?

Anh mang sắc-cốt đáp.

– Dạ, chúng em được con chó của ông Ba Nò Rèn mới vừa tặng, ông ấy bảo tìm nhà cô xã đội hay cô Nụa gì đó ở xóm Nò Đường để mua dừa về xào. Dạ nễ độc nập lăm lay chúng em được ăn tươi đấy ạ . Em quản của đại đội mà chạy thức ăn không ra. Cứ cá mòi hoài rát ruột quá ạ !

Là nẹt ngang.

– Sao không ghé quán bên Bến Dược ăn hủ tiếu? Ở dưới đó mới mọc lên mấy cái quán bán cà phê, có cả tiệm sửa đồng hồ, tiệm may đồ lính đủ hết.

– Dạ ngày tám cắc chỉ đủ mua gạo với mắm muối, nấy đâu hủ tiếu cà phê .

Tôi móc tiền đưa cho cậu ta bảo đi mua thuốc lá trà bánh đem lại niên hoan nễ độc nập rồi tôi chỉ dừa cho mà neo. Cậu bé nhận tiền và biến ngay!

– Em đi qua quán chị Sáu em.

Là hất hàm.

– Chị Sáu Tiệm phải không?

– Dạ, đúng đấy ạ. Em là em luôi của chị ấy.

Ba Tố quát.

– Thôi đi đi cho được việc cha non ! ở nhà đại đội đói rã ruột kia cà.

– Vâng! Chúng em đói suốt Trường Sơn có sao đâu! Vô đến đây mới no đấy ạ.

Cậu quản lý vừa ra khỏi cửa, Là đã lườm tôi:

– Em nói có đúng không?

– Đúng cái gì?

– Bà hạm đó nhận làm chị nuôi họ rồi.

– Thì chị ấy thấy các cậu miền Bắc mới vô lạ nước lạ cái nên nhận đỡ đầu như vậy là đúng chớ sao? Đáng lẽ em phải hoan nghênh bả mới phải.

– Xí, anh cũng cứ binh binh bà đó hoài. Lần trước em không có can thì bả làm em nuôi của anh rồi. Bả khôn lắm. Ai có K54 bả mới ngọt, còn lính quèn bả đẽo cho lát da đầu. Cậu này quản lý bả mới nhận làm em nuôi, còn mấy cậu kia có vô được không?

– Dạ không đúng đâu ạ ~ một cậu đáp – Chị ấy thương chúng em lắm ạ. Anh quản lý đôi khi hụt tiền chỉ cũng bán chịu. Còn bán rẻ là phần nhiều. Các tiệm kia không thế.

Là phát cáu đổi giọng.

– Các ông mới tới không biết gì đâu. Nay mai bả cạo cho sạch nhớt rồi bả sẽ xé thịt làm mắm, ở đó mà bán rẻ.

Thấy nhà chật lại đông người, tôi bảo các cậu:

– Nếu nghe pháo đề-pa thì phải chui xuống hầm cho nhanh nghe. Các cậu có thấy cái hố pháo trước sân không?

Cậu cao lớn có bộ mặt dễ thương (tên là Diệu) lắc đầu vui vẻ:

– Thủ trưởng không phải lo cho chúng em.

– Tôi thứ hai, gọi tôi bằng anh Hai cho thân mật, còn mấy cô này là em gái của tôi, gọi bằng chị.

Diệu trở lại câu chuyện bỏ dở.

Ối giào, anh Hai được về quê rồi đấy nhỉ. Pháo ở đây so với B52 là pháo tép, ăn thua chi. Chúng em đội mấy trận B52 rồi. Nằm dưới làn bom mà tưởng như đưa võng kia mới rủng chí to nòng chớ còn ở đây nó bắn như thế này, em coi như pha.

Ba Tố hỏi:

– Có cậu nào xâm mình Sanh Bắc Tử Nam không?

– Có chứ ạ !

– Tôi hỏi trong mấy cậu ở đây kìa.

– Dạ có một thằng chết dọc đường rồi. Nó xâm trong háng nó kín ghê. Chết rồi vạch ra mới thấy.

Lụa, Là và chị Tám bịt miệng cười khịt khịt. Ba Tố hỏi.

– Sao không xâm chỗ thiêng niêng lại xâm ở chỗ kín?

– Dạ, nó bảo xâm ở chỗ đó mỗi lần đi đồng, xin lỗi các anh chị, thì nó thấy để nhắc nhở nó. Nhưng tội nghiệp nó sốt ác tính chết ở chặng Dakto.

Tôi hỏi:

– Các em ở đơn vị nào ngoài Bắc?

Diệu trỏ hai cậu kia:

– Thằng Luân ở ba-lên-tám (308), thằng Tứ ở F ba ba mươi (tức Sư đoàn 330 của Đồng Văn Cống đóng ở Thọ Xuân Thanh Hóa) còn anh quản lý thuộc sư ba hai nhăm, chúng em được đưa về Q16 thành nập một Trung đoàn. Vô tới khu 6 đánh hai trận Dakto và Daksuk, trung đoàn thiệt hại gần hết, lính còn không được một phần ba.

– Rồi sao vô đến đây ?

– Dạ thì ở trên sát nhập đơn vị này vào đơn vị kia nhưng vẫn để trên Q16.

– Các em được mấy tuổi quân?

– Dạ em rồi lớp học từ năm ngoái. Nay được hơn một hai tuổi. Chỉ có anh quản lý là trên ba tuổi thôi.

– Có người yêu hay bồ bịch gì chưa?

Tứ nói:

– Em học lớp 10, con một, bố em bảo học xong lớp 12 thì cưới vợ rồi hãy lên Đại học. Cô nàng là xã viên hợp tác ở gần nhà em. Nhưng đang học thì bị động viên đi giải phóng miền lam. Thế nà nên đường.

Luân lắc đầu:

– Em chẳng có gì hết. Mới để ý qua loa, em định viết thư gởi về mà không biết thư có đến không. Mà có đến chắc người ta cũng không chờ. Có sống không mà chờ? Chờ người không về hoài công vô ích.

Cậu bé triết lý bất ngờ làm tôi xót xa, tôi tạt ngang:

– Nói thế là bi quan, không được cậu ạ ! Mình phải sống để chiến thắng thằng Mỹ chớ.

– Dạ vâng.

Cậu biết không nói gì nữa. Có lẽ cậu ta biết thủ trưởng nào cũng như thủ trưởng nấy, đều lên lớp một bài đó thôi. Cũng như tôi và đám “trí ngủ” ở đại hội mừng công trên R vậy. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh huấn thị: Đội bạt bon giành lấy thắng lợi, nắm thắt lưng giặc Mỹ mà đánh. Ở trên R không biết Mỹ miếc ra làm sao nhưng cũng vỗ tay rào rào. Toàn dân đều bị một lũ bịp xua vào chỗ chết mà vẫn ngoan ngoãn nghe theo. Thảo nào một thằng bạn, hình như Tư Linh, không biết có đúng không, từng nói với tôi: “Chủng ta luôn luôn bị những thằng ngu chỉ huy! “ Tôi cũng đóng vai một thằng ngu đối với tụi con nít này.

Cậu bé nói tiếp, giọng rất chân thành:

– Đơn vị của em bây giờ năm cha ba mẹ, Ô hợp nạ nùng nắm thủ trưởng ạ ! Nhiều núc chỉ huy ra nệnh, nính không thi hành, vì ốm đau, vì nười cũng có, nhưng nười nà chính. Chỉ huy na nớn thì nó bảo nấy ne, còn giải thích thì nó bảo ný lựng nập nờ, cho lên lếu có giặc khó chiến đấu nắm. Hiện giờ thì gần như tê niệt. Nhân dịp mừng nễ độc nập mỗi đứa tìm cách cải thiện một kiểu, thứ gì cũng được, hầm bà nằn. Em thật buồn nòng nhưng không biết nàm sao, nỡ rồi, có muốn nàm bê quay cũng không được nữa.

Tôi không muốn nghe tố cáo, nên cắt ngang:

– Phải mấy em đóng ở Trảng Bà Điếc không?

Luân trả lời một cách vui vẻ.

– Dạ đúng. Tụi em trụ ở đó cũng khá lâu. Thằng nào sống sót vô đến đây đều lên cán bộ trung đội đại đội. Thậm chí lên tới tiểu đoàn. Tụi em tụt hậu nên không được gì hết.

(Nếu là cán bộ trung đội, đại đội thì các em chỉ huy đánh Mỹ làm sao ở cái chiến trường lạ lùng này?)

Đáng lẽ em không khui ra sợ làm mất mặt lính Quân đội Nhân dân, nhưng em cũng biết tôi hiểu hai tiếng tụt hậu của em vừa thốt nên em phản tỉnh luôn:

– Em là B quay anh ạ t Còn Tứ và Diệu là B rùa bị bắt trở lại rồi đưa về Ba sáu nhăm B là trường Tân Binh của Giải phóng để xào nấu lại:..

Là kêu lên với tôi:

– Ở Trường Sơn có thịt bò quay và rùa xào sao anh nói với em chỉ có hộp muối đeo lưng’?

Tôi cười hề hề không đáp. Hùng Cối nãy giờ im để quan trắc mục tiêu, bây giờ mới phóng pháo:

– Có cả bê thui nữa cô xã đội ơi!

Là tiếp.

– Hành quân sướng vậy mà còn than!Chẳng hơn tụi em ở trong này chạy ăn từng bữa.

Diệu biết cô gái miền Nam hiểu lầm (cũng như bọn tôi trước đây khi mới nhập cuộc Trường Sơn) nên cười:

– Chị có muốn ăn bê quay không?

Bê quay ngon hay bê thui ngon?

Hùng Cối nói:

– Làm tới xã đội mà khờ quá cô em ơi ? Để tôi giải thích cho nghe. Bê quay là đi B rồi ớn quá, nửa đường quay trở lại.

– B là cái gì?

– A là miền Bắc, B là miền Nam, C là Lào. Đi B là đi Nam. Đi Nam mà trốn quay trở về Bắc gọi là bê quay.

– Còn bê thui?

– Bê thui là lính đi B bị bom napan cháy đen thui, như một số chúng em vừa rồi ở Bào Lách, chớ không phải bò thui đâu chị ! Bê thui toàn dân Nghệ Tỉnh. Trận Dakto bị luôn một tiểu đoàn. Thằng nào hụt làm Bê thui thì làm bê quay. Không Bê quay thì Bê rùa.

Bê rùa tức là sao?

– Tức là đi như rùa, đập bệnh ở lại, đi một trạm nghỉ năm bảy ngày, trạm có giục thì đắp chăn rên hừ hừ giả sốt, hoặc tự bắn vào chân để không đi được.

Chị Tám lắc đầu nguầy nguậy:

– Tèng đéc ơi ! Lâu náy tôi cứ tường là vượt Tường Xơn vui lắm!

– Chị ra đó leo núi một ngày thì biết vui cỡ nào.

– Tội nghiệp chưa !

Diệu nói với tôi:

– Mấy thằng Nghệ Tỉnh sống sót được đề bạt vượt cấp lên mặt và đè đầu đè cổ tụi Lam Định Hà Lam Hà Lội chúng em lắm anh ạ. Chúng nó bảo chúng em nhát, bảo mạng lại còn quay, rùa đủ thứ.

Ba Tố hỏi:

~ Mấy cậu ở ba sáu nhăm A được mấy ngày?

– Dạ, chúng em không ở 365A mà ở 365B. A là.trường Tân binh miền Nam còn B là nơi thu dụng lính Bắc. Ối chào, bên B đông phải biết.

Tôi hỏi:

– Vô đến đây còn muốn quay nữa hết.

Cả ba đều lắc đầu:

– Thôi ạ. Chúng em vui lòng Sinh Bắc Tử Nam. Nếu có sống được thì cũng không về Bắc.

– Sao kỳ vậy?

– Ở trong này con nít khui sữa hộp hút đã thèm, quán chị Sáu có cả thùng mua lúc nào cũng có, đường cát thì ối giào, không cần phiếu ghiếc gì ráo, còn ở ngoài ta nâu nâu nính chúng em mua xong hai nạng ngửa cổ trút vô mồm nuôn. Chị Sáu thấy tụi em ăn sữa nhiều quá, chị bảo: “Đem nuộc đi rồi múc từng muỗng như ăn chè đặc vậy. Ăn xong uống trà. Thế là không phải bị Tào Tháo đuổi.” Quả nhiên y như rằng. Em xơi một nần cả hộp mà không sao cả.

Vừa đến đó thì cậu quản lý về tới mang một bọc bánh kẹo. Tôi bảo Là nấu nước pha trà rồi bày ra bàn tiệc mừng Quốc Khánh. Khói lửa mịt mù . Các em không dám hút thuốc thơm nguyên điếu, để đem về đơn vị cho anh em hút kiểu thuốc nào. Cậu quản lý bảo:

– Tiệm chị Sáu bữa nay có hàng mới!

– Hàng gì?

– Đồng hồ hai cửa sổ. Chậc! Thấy mà ham. Nó chỉ cả ngày tháng… không phải chỉ có giờ thôi đâu các cậu ạ!

– Cái đồng hồ Liên Xô của anh đổi ở đâu quên rồi nhỉ?

Cậu quản lý la lên.

– Không nhớ ở buôn nào nhưng được một con chó. Vừa ăn tươi vừa làm ruốc. Chết! con Oàng đâu rồi?

Diệu, Luân và Tứ đỗ xô ra cửa. Chỉ còn lại cái nhánh cây cong queo. Con Oàng đã tự giải phóng hồi nào mất tiêu. Cậu quản lý ngoẹo cổ đau khổ:

– Thế có bỏ mẹ không kia chớ? Nhân dân biểu nộ tình cá lước mình nại bỏ sổng mất.

– Chạy đi nùng tí thì được. Em vừa trông thấy nó nằm ở đó mà !

Ba Tố bảo:

~ Không cần phải nùng. Nó ở đằng nhà ông Ba Rèn bây giờ! Chó tìm về chủ chớ đi đâu.

– À đúng. Để chốc nữa chúng em ghé xin nại.

Đám con nít trong hầm ló đầu ra. Tôi ngoắc:

– Ra đây chào mấy cậu.

Chúng nó riu ríu làm theo. Tôi bảo:

– Từ rày không được kêu mấy cậu là lính vịt xiêm nữa nghe !

Cả đám “dạ” rồi rút xuống hầm. Tôi quay lại bảo các cậu:

– Các em vô đây là đất của anh. Nhiều thì anh không lo nổi, chứ một đại đội ăn tươi mừng Độc lập thì anh dư sức.

– Dạ cám ơn thủ chưởng.

Tôi bảo Tư Thêu:

– Cậu còn bao nhiêu thịt bò ?

– Còn hai cái đùi trước.

– Để cho tôi. Tôi sẽ mượn người đèo về H6, còn đùi kia tôi tặng.mấy em này.

– Dạ, anh Hai biểu vậy thì thôi, em không bán nữa.

– Em nhớ lại cảnh miền Bắc chúng mình xa quê hương, và cảnh đói khát trên Trường Sơn mà thương đồng đội của mình. Bây giờ mình không còn đói nữa, mình không nên lơ là với đồng đội, em à !

– Thầy Hai chơi điệu thật ta ! – Ba Tố nói rồi quay lại các cậu – Thôi, bỏ ba cái món dựa mận đi, theo ông chủ bò lại đằng kia khiêng một đùi về liên hoan độc lập. Thịt chó để nhậu ngày thường chớ ai dùng cho lễ lộc?

Sự giải quyết của tôi làm thay đổi thái độ của mọi người. Chú Tư Thiên hứa cho một lít rượu, chị Tám cho muối, sả, rau sống, còn Lụa thì tặng dừa khô, dừa lạo.

Mấy cậu bé rưng rưng nước mắt. Diệu nói:

– Em vô cùng xúc động và cảm thấy đây là quê hương của chúng em.

– Đơn vị có y tá không?

– Dạ không, mỗi đứa chỉ có mớ băng cá nhân và thuốc kí-nin thôi.

Tôi bảo Tư Chuyền:

– Anh nên giúp đỡ các cậu này.

(Bây giờ tôi là trưởng ban pháo binh khu, nếu gọi đúng chức vụ là Tư lệnh pháo binh, ngang cấp với Trưởng ban Hậu cần, xếp của Tư Chuyền cho nên tôi bảo như thế.)

Tư Chuyền nhận lời ngay. Cậu quản lý nghẹn ngào:

– Em chưa bao giờ gặp một sự đối xử như thế này. Em thấy có nhiệm vụ giải phóng đồng bào: . . (chắc cậu ta định nói là giải phóng Miền Nam ra khỏi sự bóc lột da man của Mỹ Ngụy như đã được học, nhưng cậu ta nhưng kịp thời và nói khác đi) . Đơn vị em cũng được bà Phó Tư lệnh ủy lạo một lần ở trên R.

– Bả có đến đơn vị không?

– Dạ bà cho mang quà và thư tới. Bà ấy nhận đỡ đầu đơn vị em. Riêng ông Ba Kiên Trung đoàn trưởng và ông Năm Dũng chánh ủy được bà ấy nhận làm em nuôi.

Luân cười:

– Ông Ba Kiên không biết đã gặp bà chị nuôi chưa, Mong rằng chị em đừng gặp.

Tư hích củi cho vào hông Luân:

– Cậu không nên nói vụ chị em bằng tuổi ra đây.

Luân cãi lại:

– Không, tớ chỉ nói nếu chị gặp em chắc chị chạy không ngó lại… Tại vì mặt mũi ông ta giống y như tướng Lê Hiến Mai Bộ trưởng bộ Điện Lực Thủy Lợi, mắt heo luộc và răng bàn nạo.

Tôi suýt bật cười vì câu nói của cậu bé gợi tôi nhớ lại một nhận định trong cải cách ruộng đất.

(Lúc đó chân ướt chân ráo mới ra miền Bắc chúng tôi được học lập trường trước nhất. Cái gì của địa chủ cũng đều xấu hết. Con gái địa chủ bóng lộn như vàng ròng, nhưng lập trường bắt buộc ta phải coi là xấu và không ai được cưới. Còn của ta cái gì cũng đẹp cả. Giảng viên là tên Nguyễn Chiến Sĩ bí thư của Lê Đức Thọ (sau này lấy Dương Đình Thảo đi hội nghị Paris trong phái đoàn Mặt Trận, sau 75 làm Giám đốc sở Văn Hóa thành phố Hồ Chủ Tiệm) Lúc đó Lê Hiến Mai (lấy tên là Dương Quốc Chính) làm Tư lệnh các lực lượng võ trang Nam Bộ mới ra Bắc. Bộ Tư lệnh toàn dân Bê Ka đóng ở định Phượng Vĩ. Tên Sĩ đứng lên bục hò hét: “Trên quan điểm giai cấp, chúng ta phải xem đồng chí Dương Quốc Chính là đẹp trai! ” Cả lớp cười bay nóc đình nhưng rồi ai cũng khôn hồn bụm miệng ngay. Thực ra, phải nói tên Chính này có bộ mặt quỉ sứ. Mắt hắn lúc nào cũng như trợn lên đầy tròng trắng còn hàm răng trên thì thay vì cụp xuống giao hòa với hàm dưới thì nó lại chia thẳng ra phía trước như cái hom lọp. Hắn cười càng trông đẹp trai.)

Tôi nói với các cậu một cách vớt vát:

– Ông ấy tuy thế nhưng có vợ đẹp ra phết đấy !

Tôn Sứt tự khai khẩu.

– Tại sao vậy ta? Nói vậy sứt mép sơ sơ như tôi còn hi vọng hả thầy?

– Trên quan điểm giai cấp thì cậu cũng đẹp trai như tướng Lê Hiến Mai!

Đám cán bộ cười rần.

Tiệc trà tạm giải tán để chuẩn bị xào nấu cái đùi bò. Tôi bảo Là dắt các cậu đi lên nhà má để bẻ dừa. Nhưng Là không chịu thi hành lệnh, không có lý do gì cả. Lụa bèn nhận lãnh công tác nhưng lại bảo cây câu liêm rớt dưới mương không mò được. Tôi biết ý nàng liên bảo:

– Sẵn dịp anh đi thăm nhà má một chút, để rồi không có dịp trở lại nữa. Luôn tiện hái một mớ vú sữa về tặng các cậu này ăn cho biết mùi trái cây Nam bộ.

Là biết tôi muốn gặp riêng Lụa. Hai chị em đã khua răng sẵn từ trước về vụ thằng anh nuôi này rồi, bây giờ vừa nói không đi chẳng lẽ lại đi nên bực tức nói oang oang:

– Mùa này vú sữa mới có bông anh hái bông à?

Tôi cười rồi đi theo Lụa. Các cậu bé Bắc kỳ lẽo đẽo theo tôi. Luân hỏi xách mé :

– Phải loại vú sữa bác tưới hàng ngày không anh?

– Ừ cây đó!

– Sao ngoài Hà Nội nó không có trái trăn gì hết vậy anh?

– Có lẽ tại trồng nơi sai thủy thổ hay sao anh không rõ .

– Các anh mang ra hồi 54 à?

– Ừ, nếu anh không lầm thì do ông Huỳnh văn Nghệ Tư lệnh chiến khu 7 mang tặng bác cùng với nắm đất miền Nam yêu quí của các anh.

(Trò hề này được nhắc nhở như một tưng trưng cao quí về tình yêu của tên lưu manh họ Hồ đối với dân Nam kỳ. Sự thực hắn lợi dụng tình cảm ngây thơ của dân Nam kỳ để lột da rồi giết họ hoặc dày đạp họ như một lũ súc vật. Ai ra Bắc mà không hận tên Hồ ? Dương Bạch Mai bị đầu độc do lệnh hắn. Huỳnh văn Nghệ được phong chức thượng tá, trong khi lũ Bê Ka từ Nam trở ra Bắc như Vịnh, Anh, Trà. . . đều đớp lon trung tướng. Tại chống Bê Ka mà Huỳnh văn Nghệ chết vì mổ ruột thừa sau 75. Dân Nam kỳ đã sáng mắt ra chưa?

Hiện nay có phong trào dân Nam Kỳ muốn nổi lên đòi độc lập (không phải tự trị) như ba xử Baltic ở Liên Xô. Bọn đầu bò Đỗ Mười, Lê Đức Anh và bè lũ rất sợ phong trào này mạnh lên thì chúng sẽ mất miếng thịt mỡ to đang ngoạm trong miệng. Những ai còn máu Nam – dù Cộng Sản hay không đều hận Bắc Kỳ mặt đỏ. Hãy vùng lên hỡi dân Nam kỳ nô lệ của Bắc Kỳ 50 năm qua. Vùng lên! Vùng lên! Đất Nam kỳ là đất Việt Nam nhưng phải của dân Nam kỳ trước nhất. Nếu có một phong trào như vậy tôi nghĩ không phải chuyện lạ. Hận sông Gianh ngày xưa cũng là một hận của dân Nam Kỳ ngày nay vậy.)

Tôi vô cùng đau đớn khi đứng trước sự hoang tàn của nhà má Hai. Một năm trước đây ngôi nhà ngói ba căn hai chái còn là tổ ấm của một gia đình. Bàn thờ, ván gỗ, bếp núc còn nguyên. Bây giờ trơ lại cái nền. Gia đình ly tán.

Giải phóng!

Ai cần ? Đù mẹ bọn tài khôn Hà Nội. Dân chúng đang yên vui no âm dưới bầu trời quê hương. Sau mười năm chiến tranh chấm dứt, người dân tôi đã an cư lạc nghiệp, sung túc phú cường. Thằng Hồ có biết đâu dân miền Nam bị đế quốc bóc lột tận xương tủy mà con nít chê sữa thùng không ăn. Con gái đi cấy mặc đồ lụa. Nhà nào cũng có radio. Đi gặt để radio bên bờ ranh để nghe vọng cổ Sàtgòn. Xe đạp: đồ bỏ! Trong khi miền Bắc Xã Nghĩa ăn độn củ chuối trắng mắt. Ai cần giải phóng mà lại đâm đầu vào ? Thanh niên miền Bắc bỏ xác dọc Trường Sơn như rạ. Vào Củ Chi này chết như ngóe. Sang quyển thứ 4 các bạn sẽ thấy các cậu bé này tan xác dưới những trận B52 kinh hồn và mất luôn Q16 sau trận Mậu Thân.

Tôi leo lên cây dừa tôi đã từng leo. Nay nó vẫn còn trái sai oằn nhưng đã bị những mảnh pháo chém ngọt một mé lá. Lụa đứng dưới gốc ngó lên, bỗng buột miệng nói:

– Dì út nó rắn mắt ghê !

Tôi vẹt lá nhìn xuống hỏi.

– Nó lại đến à ?

~ Không! ấy là em nói kỳ trước nó dắt anh đi Bò Cạp rồi về ghé bẻ dừa ấy mà !

– Rồi sao?

– Nó về thuật lại với em hết ráo !

Tôi gạn hỏi.

– Thuật gì?

– Nó nói anh leo dừa giỏi ghê . Mới ngó quanh một chút nó đã thấy anh hót lên tới ngọn. Anh ngồi trên tàu lá ngó xuống.

Tôi biết Là đã kể lại cho Lụa nghe việc nàng thoát y trong nhà tắm rồi kêu tôi hỏi: Có dừa nạo không? Nhưng tôi đánh trống lãng:

– Anh leo dừa hơn sóc mà ! Hồi kháng chiến anh trốn Tây trên ngọn dừa. Đói bụng anh ngồi luôn bẻ dừa cạp ăn như chuột.

– Không! Em nói cái chuyện con Là nó biểu anh ngó xuống cặp dừa nạo kìa . . .

– Hì hì, anh không thích dừa nạo, anh chỉ thích dừa cứng cạy thôi

Lụa xấu hổ cúi mặt:

– Anh quỷ nà !

Tôi tiếp:

– Dừa cứng cạy nước cay uống giống rượu áp-sanh pha. Uống rồi hồi lâu, môi còn the the, còn dừa nạo uống chỉ no bụng óc ách.

Bị nói trúng ý Lụa ngước lên, mặt đỏ rần:

– Em mới nghe anh nói là người thứ nhất.

– Còn em? Em thích dừa gì?

– Em hổng biết!

Hai tay tôi níu hai bẹ dừa, chân tôi đạp lia lịa vào buồng dừa khô . Trái rụng đùng đùng lớp rớt dưới mương lớp rơi trên bồ . Lụa ngước lên cười khoe hai hàm răng trắng bóng duyên dáng:

– Anh làm như B52 rắc bom.

Các cậu bé đến vớt lên. Lụa thẻo vỏ buộc chùm từng hai trái một. Tôi tuột xuống. Lụa chạy lại phủi kiến hôi và rác trên tóc trên lưng tôi.

– Anh có trầy ngực không?

– Anh leo đâu có áp bụng vô cây dừa mà trầy. Muốn bẻ dừa không có tiếng dừa rụng anh cũng làm được.

Cậu quản lý thú vị bảo:

– Em chưa bao giờ nghĩ em sẽ leo dừa được!

– Các cậu phải học những gì cần cho cuộc sống và chiến đấu ở đây

Diệu trỏ ra phía sông, lắc đầu:

– Em hãi nhất con sông đó .

Tôi sực nhớ người Bắc bơi lội rất kém. Hồi đóng quân ở Xuân Mai, Hà Đông chúng tôi thường ra sông Bài đánh cá bằng mìn, có khi vớt được cả trăm ký đem cho đồng bào. Nhiều cụ già bảo: “Con sông trước mặt đó nhưng không bao giờ tôi bơi lội.”

– Hồi ở Đồng Tháp Mười bị Tây ruồng, Tướng Lê mái Hiên suýt bị bắt ở bờ kinh La Grange cũng vì không biết bơi.Nếu Tây nó đuổi một tí nữa là nó vớ được mẽ to. Mấy ngày sau ông ta còn thất sắc. – tôi tiếp – Các em phải học bơi, để khi cần vọt qua sông. Nên nhớ, không phải bơi mình không mà mang cả vũ khí.

– Ối giáo, chúng em chịu thôi. Hồi đi ngang con sông gì ở khu 6, một thằng trong bọn em chết đuối. Nó lấy ni lông buộc túm ba lô làm phao. Qua được hai phần sông thì chiếc phao xì hơi…

Lụa cho không các cậu bốn cặp dừa, mỗi cậu xách một cặp mặt hớn hở thấy tội nghiệp hết sức.

– Em không bao giờ quên ơn thủ trưởng.

Tôi bảo cậu quản lý đưa bút giấy tôi viết cho ít chữ rồi dặn:

– Cậu đi thẳng con đường này qua Bến Dược hai chị Sáu Tiệm, chỗ làm bò ở gần đó, và đưa mẫu giấy này cho người bán thịt bò. Họ sẽ đưa cho các cậu một đùi.

– Dạ chúng em làm sao thanh toán nổi?

– Cậu viết hóa đơn gởi lên bà chị nuôi của ông Ba Kiên, bả sẽ thanh toán cho. Hì hì… Nói đùa, tôi trả rồi.

Cả bọn cười ngất !

– Thủ trưởng mà chỉ huy tụi em thì tụi em sẽ bớt vất vả !

Nói vậy rồi các cậu chào rất lễ phép, cám ơn Lụa rối rít và kéo nhau đi. Lụa nhìn theo, thở dài:

– Giặc giả gì cứ đánh hoài! Ở ngoài Bắc đâu đâu mà cũng đạp đường vô tới đây!

Rồi quay lại tôi. Tôi vẫn đứng tần ngần. Nàng bảo tôi ra sau vườn giúp nàng khiên một mớ vật dụng về nhà xài. Tôi ngoan ngoãn theo nàng. Cái nhà kho không có vách nằm ở giữa vườn rậm rạp, ván ghế chất chồng ngổn ngang. Nàng lôi mấy chiếc ghế bỏ xuống đất để lấy chỗ ngồi. Nàng nhìn tôi bằng đôi mắt vô cùng bi thiết.

– Anh về chừng nào đi?

– Mai!

– Chừng nào về?

– Không biết được em ạ . Nhưng hễ có dịp thì anh ghé thăm em và con… Rớt.

– Chắc anh không còn gặp em nữa đâu.

Tôi biết nàng sắp nói gì nên chắn ngang:

– Từ đây xuống Bến Mương cũng gần mà ! Lúc đầu nhận công tác mới nên bận rộn, nay mai anh sẽ về thăm em và con thường hơn!

Tôi nói tiếng con như đối với bé Hoàn, con của Mười, bằng tình cảm của một người cha.

– Nhưng. em đâu còn ở đây nữa !

– Em đi đâu?

– Ba con Rớt hi sinh rồi, em không về bên chồng mà em sẽ sang bên dì Ba ở với má cho con Rớt đi học. Má chồng em chưa hay chuyện gì hết. Chắc em cũng giấu luôn. Em biết chuyện đó lâu rồi, nhưng em không nói với ai, mà làm bộ vui như thường. – Nước mắt ròng ròng trên má người thiếu phụ – Bởi vậy nên kỳ rồi em mới vậy… với anh, chớ nếu ba nó còn sống em đâu có… – Nàng nghẹn ngào và bắt vạt áo lên lau nước mắt – Em nằm chiêm bao thấy ảnh về hai ba lần, mình mẩy máu me, áo quần tả tơi. Ảnh nói má con Rớt cúng cơm bữa cho anh, rồi biến mất!

Nàng òa lên khóc. Tôi nghe tan nát cả tâm can. Nhưng làm gì bây giờ? Lấy nàng làm vợ? Câu hỏi ấy thường xuyên mọc lên trong đầu tôi, nhưng không bao giờ tôi có ý định sẽ trả lời .

– Em biết anh với em có duyên mà không có nợ. Nếu anh về sớm vài năm thì em đâu có thế này.

– Bây giờ em hãy lo cho con để an ủi đời em.

Nàng ôm choàng lấy tôi và bảo.

– Đó là lẽ cố nhiên rồi . Nhưng em muốn thêm một đứa nữa, để rủi con Rớt có sẩy tay, thì em còn chút con mà em bồng, chớ không chồng mà cũng không con thì sống làm sao? Anh cho em đứa con. Rồi anh đi đâu thì đi, quên em cũng được, em không giận hờn gì hết!

Đây lại là một nỗi đau khổ đành phải chấp nhận của tôi: yêu mà không dám tiến tới. Tôi không thể từ chối một lời yêu cầu như vậy: một đứa con cho người đàn bà góa. Tôi bảo:

– Rồi em mang tiếng làm sao? Miệng đời dị nghị chịu sao thấu , Lụa?

– Em không sợ, miễn có một đứa con với anh thì thôi. Em hứa sẽ không nói con của ai. Em giữ uy tín cho anh phục vụ cách mạng.

Tôi’ hôn rồi yêu nàng. Gái một con đẹp tuyệt trần. Nàng lèo lái tôi qua mọi thác ghềnh để đến nơi mà ngọn suối trắng xóa biến cả trần gian thành mây khói, mông lung đắm đuối giữa đám cây vườn cháy trơ xương đen thui và giữa nắng trưa như thiêu. Chúng tôi dọn dẹp chiến trường, ôm nhau lần nữa định tái xuất quân thì có tiếng nạt vang:

– Bẻ dừa gì? Xí! Bẻ dừa?

Tôi hoảng hồn, nhưng nàng bảo:

– Kệ nó. Em cần cho nó biết là anh thương em.

– Chứ cổ không biết à?

– Biết nhưng chưa thấy. Em muốn cho nó thấy.

– Em liều quá !

– Em còn giữ cho ai? Nay mai em có muốn tìm anh cũng không được.

Tôi ngó chung quanh nhưng không thấy biệt kích đến. Lụa lại thản nhiên gây chiến. Trận đánh kéo dài và ác hệt hơn. Người đàn bà và gã trai lơ cảm thấy chưa bao giờ cuộc trèo núi vất vả và lý thú đến nổi khi lên đến đỉnh thì mấy ngọn tay nàng cào nát cả tấm lưng phong trần của chàng và nàng rít lên như muốn nghiền tan mọi đau khổ cửa đời nàng.

Chúng tôi xách dừa về nhà trước quan khách đông đúc. Hùng Cối lên tiếng trêu trước

– Thầy Hai trèo dừa giỏi ghê ! Chỉ một chốc đã bẻ hai ba cặp!

Tôi nhìn thấy nét mặt hầm hầm của Là thì biết ngọn núi lửa này cũng sắp phun, bèn đến để vuốt giận em cưng nhưng chợt thấy một cô gái lạ đang xắc thịt, cái lưng thon thon, mớ tóc đuôi gà bỏ suông trên lưng. Bên cạnh đó là Huỳnh Nga và Hồng Nga.

Tư Chuyền trỏ Hai Khởi, chàng tham mưu, chỉ còn băng keo dán ở trán:

– Bữa nay anh hùng hội cả nam lẫn nữ. Đây, tôi trả ông tha mu lại cho ông thầy pháo.

Hai Khởi nháy tôi hai ba cái rồi đến rỉ tai:

– Đừng có khai vụ mẹ đĩ ngoài Hoằng Hóa nghe thầy. – rồi nói to – Hương ơi, lên đây anh biểu. Sẵn buổi liên hoan quốc khánh anh với em ra công khai cho rồi. Hoạt động bí mật hoài mệt quá.

Cô gái có mớ tóc đuôi gà quay lại nhoài miệng cười rất có duyên rồi tiếp tục làm việc. Hai Khởi tươi tỉnh cười:

– Đáng lẽ tôi phải nín lại xưởng quân trang của nàng vài ba ngày, nhưng nàng sợ vết thương làm độc nên xách tôi vô cho ông Tư Chuyền trị ngay.

Tư Chuyền nói:

– Chút xíu nữa vướng lựu đạn gài ngoại vi C5 đó. Nề tôi dặn, vết thương chưa lành hẳn phải kiêng cữ nghe ông tham mưu, hễ tác chiến là nó làm độc, ở đây khó mua pê-nê-ci lin lắm đó.

Hai Khởi lắc đầu:

– Nhai cơm nó còn động đau muốn khóc đây, làm sao lấy tọa độ được mà pháo chiến?

Chú Tư Thiên bảo:

– Kỳ này nhậu đông hơn kỳ trước, nhưng không phải ăn thịt chuột hóa học, tôm ăn thây ma mà ăn thịt bò của hậu cần. Không biết nó có nhơn tay cho mình vài tiếng đồng hồ để ăn lễ độc lập không?

Tôi kẻo Hai Khởi ra sau vườn ngồi bên cạnh miệng hầm

(Bạn đọc nhớ cho là bất cứ lúc nào, sự đi đứng, ăn, ngủ đều ở dưới hầm hoặc kề cận miệng hầm: Nếu có thể, trong lúc đi công tác chúng tôi cũng vác cái hầm trên lưng.)

Hai Khởi nhướng tôi:

– Cấp tập địch có han-ớp (hands up) chưa?

– Ta han-ớp thì có .

– Em xinh mà chị cũng xinh, thầy làm sao xuể? Coi bộ cô em sắp nổi tam bành lên rồi!

– Lý do gì ?

– Thầy đi bẻ đào, ủa bẻ dừa hơi lâu!

Bị tấn công tôi quật trả lại để phòng ngự:

~ Bộ định bỏ mẹ đĩ ở ngoài rồi hả?

– Con cái đùm đề bỏ sao được? Nhưng cơn ốc Hương ngon vậy, làm lơ cũng không đành. Còn thầy? Định bỏ tôm càng xanh Bến Mương và Hố Bò để chài con cá mè ở ngoài Ràng hả ?

– Đâu có gì mà cậu nói vậy?

– Con nhỏ nó khoe vụ đi họp xã ủy ở ngoài rừng chồi…

Tôi liệu không chối được, nên khai thiệt. Hai Khởi cười hắc hắc:

– Đọ, thầy có thầy không, món lạ kề miệng bỏ sao được. Phải thầy ở nán lại vài ngày nữa cỏ lẽ còn vài ba cuộc họp xã ủy kiểu đó nữa. Hề hề… Hết họp xả ủy ngoài Ràng thì tới họp chi ủy trong Hốc Bò. Họp ở Hố Bò xong về họp ở Bến Mương, họp Bến Mương xong thì kế mít-tin ở Bàu Chứa.

– Sao ông biết vụ Bàu Chứa nữa ông nội?

– Chim cò đều biết nữa là tôi? Theo tôi thầy nên cắm cọc ủa cắm thẻ nhận ruộng cho rồi đi. Sào nào cũng đất màu hơn ruộng ngoài ta cả. Thầy cứ dạ hành tỏ hoài, không ổn đâu Tôi nghe có vụ suýt chạm súng ở quán bà Tư The phải không?

– Ờ có nhưng mà . . .

– Cô Quắn, cô Ua và cô Là đều ác xiêm lai như nhau, không cô nào kém cô nào. Thầy đã thông nòng rồi thì nạp đạn luôn đi, à mà quên nạp cả rồi! Nhưng thầy đang kẹt vụ cà rá có chữ “L” phải không?

Tôi ngồi ngớ ra. Trong trí tôi hiện lên mảnh trăng lu ở rừng chồi đêm trước… Tôi nhớ cái gốc rơm bát ngát. Từ bờ ao thơm mùi cá nướng đến bộ ván gõ trong gian nhà có tiếng tắc kè, từ chai rượu trên bàn thờ đến căn chòi xã ủy. Tất cả vụt quay lại trong đầu tôi như một đoạn phim ly kỳ.

Tôi bị cuốn hút theo con ma đang đội lớp người hay chính tôi cũng là một con quỉ? Tôi đã phóng mình theo như một mũi lao, không nghe cả tiếng gió rít hai bên thân mình, chưa bao giờ tôi mê dại như đối với nàng. Nàng cũng thế. Nàng không nói hơn ba câu:

– “Em cho anh tất cả những gì quí giá nhất của em mà em gìn giữ lâu nay.”

– “Em thấy chết thế này mới đáng chết.” (Khi pháo Trung Hòa bắn vun vút qua đầu.)

Rồi thôi. Mắt ngó . Tay chân cũng nhìn, thân thể nói năng, còn miệng thì câm hẳn. Nàng dữ dội hơn cả trong những sách mà tôi từng đọc. Một lần, một lần rồi lại một lần.

Có lẽ Sartres sống lại (hình như năm 64 ông còn hiện sinh) cũng phải sợ hãi khi nhìn thấy cảnh tượng trong căn chòi hoang này. Hoặc ông sẽ hài lòng vì thấy luận thuyết của ông đã thâm nhập vào đời, vào tận những con tim sống trong khói lửa và tù ngục.

Tuy đã thỏa thuê rời rã, nằm bên một nàng tiên, tôi lại nhớ những nàng tiên. Trái tim thằng đàn ông quả là vô liềi lượng. Trong đầu tôi lại chập chờn hình dáng cô sẫm lai tên Mầu ở quán chệt hôm nọ. Nàng quả là một tòa thiên nhiên trời đúc nên chớ chẳng phải tay phàm. Napoléon, theo lý luận của Năm Lê, mới là kẻ sống đầy đủ trên chiến trận và trong cuộc đời ông ta yêu, yêu mãi và chưa hề biết chán. Đến khi bị đày ra Ile d’Elbe hay Sĩ. Hèlène nhưng ông ta vẫn được một cô gái 16 tuổi con của viên giám thị trại tù giam ông yêu. Và trước khi ông ta chết, câu nói cuối cùng của ông ta là: “Tôi chỉ ân hận một điều: yêu đàn bà còn ít quá !”

Còn tôi? thằng pháo binh hạng bét này đã yêu đàn bà đã nhiều chưa để trước khi chết khỏi nói cái câu bất hủ của hoàng đế Nã Phá Luân?

Không biết! Tôi chỉ biết là tôi cũng hiện sinh. Tôi biết chắc chắn Củ Chi đất thép sẽ thành bùn, và thây tôi sẽ tan tành trăm mảnh hoặc sẽ vùi chôn trong một lỗ bom. Một thanh niên ba mươi lăm tuổi chưa vợ và không hề muốn một cô gái nào trở thành góa phụ vì tôi. Ý nghĩ đó dù tôi đã nói ra cho một em nào, hay tôi còn giữ trong đầu, nó vẫn là của tôi.

Tôi kể tỉ mỉi đến mức có thể cho Hai Khởi nghe câu chuyện liêu trai tân thời và kết luận:

– Chúng mình rồi sẽ chẳng có đứa nào an toàn để hưởng hạnh phúc gia đình.

– Quan niệm của tôi khác thầy ! Trong chiến tranh ác liệt, ta vẫn tìm cách hưởng thụ hạnh phúc gia đình. Tôi xa vợ con ngoài Bắc vô hạn định, nên tôi tự cho phép tôi lập gia đình trong này. Huống chi là thầy chưa có cái nào ? Thầy nên nghe tôi đi. Thầy đang ở giữa trận địa của đội quân đầu tóc nhà : tóc suông, tóc kẹp, tóc bới và bây giờ tới tóc bồng, thầy gật một phát là xong.

– Tôi có muốn đâu, ông coi đó, người ta áp-xô tôi ngay trong nhà người ta .

– Bây giờ tới cặp Thúy Kiều Thúy Vân này nữa, thầy làm sao?

– Làm sao ai biết làm sao, nhưng không phải chỉ có cặp Vân Kiều này thôi.

– Còn ở đâu nữa?

– Gót Chàng. Rồi hai nàng Hằng Nga ở đây nữa!

– Cô Bảy và chị Tư cô ta à ? Tư Mai có con rồi mà !

– Ừ thì vậy đó. Kỳ rồi tao đến, nàng bảo con bé kêu tao bằng ba.

– Thằng chồng đi công trường 9 bộ rửa chân lên bàn thờ rồi à?

-Tao nghe đâu vậy, nhưng không tiện hỏi. Ngoài ra cũng có thằng cắm thẻ nhận ruộng rồi nên tao chỉ bủa lưới phóng lao vòng ngoài với cô em rũng sĩ thôi.

– Thằng nào dám nhận ruộng trong vùng đất tôi vậy.

– Ông biết Tư Linh Phó ba địch vận khu không? Nó cũng bị rau muống quấn như ông vậy.

– Đọ thầy thấy cái chánh sách hàng hai của tôi hay không? Lớn nhỏ đều theo cả mà ! Từ Tư Khanh, Năm Lê đến Sáu Nam, kể cả Sáu Thọ, Ba Duẫn mà !

– Ông nào cấy su hào ngoài đó rồi, bây giờ về đây thấy cây nhà lá vườn thì tiếc hùi hụi.

– Con bé của tôi mới 19 nhưng găng lắm. Nó bảo phải đảng ủy tới hỏi nó mới đi R.

– Con gái đứa nào không nói vậy, nhưng nếu làm được vậy thì ông Tám Lê đâu có phải bí mật nạo thai cho các cô. .

Hai Khởi lắc đầu rồi bắt sang chuyện đánh đá.

– Thầy có chỗ đặt pháo chưa?

– Đã thấy rồi. Đo đạc xong. Tất cả các trận địa đều có xong phần tử mục tiêu.

– Mần thì dễ chui lại khó. Cũng như Tôn Văn nói: “Biết dễ, làm khó” vậy ông thầy ơi!

– Tôi cho bắn một lúc ba khẩu đặt ở ba nơi. Chúng nó sẽ không biết phản ứng phía nào. Thừa lúc thằng lính lên chuồng cu hụp xuống tránh đạn, tôi cho di chuyển pháo qua đồng trống đến gần đồn hơn.

Hai Khởi đập vai tôi.

– Hay lắm! ! Hai Giả bó tay là vì không có được cái sáng kiến này. Tôi phục ông là thầy pháo. Nhưng tôi nói ông nghe. Mình nổ xong là nó trả hỏa ngay. Rồi đổ chụp và xe tăng càn tới liền.

– Chuyện đó sẽ bàn với ông Tám Dò sau.

– Các ông nội khu ủy đang ở Xóm Thuốc, nếu mình pháo thì sẽ động ổ, mấy ông la cho coi.

– Đánh giặc mà nghe theo mấy ông đó thì thà ngồi thum cho khỏe gà. Ông Năm Lê ghét mấy ổng lắm.

– Các ông phổ biến nghị quyết thì luôn luôn thừa thắng xông lên, nhưng hễ mình xông lên thì mấy ông lại sợ động đất đai, đau lòng bà thủy.

Tôi tạt ngang:

– Cô bé coi được đến, coi chừng cậu đi theo con đường của Năm Lê, Hai Giả, Tư Khanh. Một là rơi sao hai là lên bàn thờ. Hai Giả xuống đó có hai tuần bị tụi Phượng Hoàng khui hầm. Đến nay ở trên còn nhẹm. Tôi chưa dám cho vợ y biết.

– Tới đâu hay tới đó. Thằng nhỏ có hai nhiệm vụ chiến lược. Ra miền Bắc nó chỉ làm nhiệm vụ chiến lược số 2 còn nhiệm vụ chiến lược số 1 thì lại không làm được. Bây giờ về xứ có địa bàn không lẽ cứ để nó làm nhiệm vụ số 2 như ở ngoài Bắc 8 năm trường?

Chương 59

Đối thoại của những ngón tay.

Sau buổi tiệc tưng bừng tở mở mọi người tìm nơi trú ẩn. Kẻ có cặp thì bày bàn cờ người, người lẻ loi thì chơi trò hú tim. Ai nấy đều có việc làm. Riêng tôi thì nối gót hai nàng tiên Nga vô C5 vô thăm dượng Chín Nữa.

Là háy nguých tôi cái nào cái nấy như dao cạo:

– Mới đi bẻ dừa, bây giờ đi C5.

– Dù cho dượng Chín không cho mình cái radio Sony mà dượng bị thương mình cũng phải đi thăm. Sao em không đi với anh mà quạu ?

– Có hai con đó giữ ma cho anh rồi, có em đi là thừa.

Tôi đi với hai nàng. Không biết hai nàng có thoả thuận với nhau điểm gì chưa mà lại có vẻ hiền hoà với nhau. Hồng Nga nhường cho Huỳnh Nga đi cặp kè với tôi. Nếu không, ắt thân này phải xẻ làm đôi. Huỳnh Nga không xốc tới như Quắn, Là, nhưng cũng không dịu dàng như Mười, Lụa . Nàng có cảm tình với tôi kỳ rồi và bị Là ghen trắng trợn, đến nay mới có cơ hội gặp lại. Nàng phiền trách:

– Anh để ý mấy đứa con nít chớ có bao giờ ngó đến con nhỏ già này!

– Em đừng nói vậy, hăm hai tuổi mà già sao?

– Chắc anh nghe cô xã đội phó thêu dệt nên cho em ra rìa chớ gì?

– Thêu dệt gì?

– Đố khỏi cô ta nói với anh là em ngủ chung hầm với ông Tư Chuyền.

– ….!?

– Ông ta không có rớ tới em được. Nếu anh yêu em sau này anh sẽ biết.

Tôi hơi ân hận vì sự thực tôi trót tin lời Là. Nam nữ ngủ chung hầm ở đất Củ Chi này là thường sự, và do đó sự mang bầu phá thai cũng chẳng làm ai ngạc nhiên nữa. Nga tiếp:

– Ổng hứa cho em đi học y tá. Mà hai ba năm rồi ổng không cho đi. Thì anh biết em đối với ổng thế nào!

– Sao vậy?

– Ổng bần tiện lắm. Em cực chẳng đã phải ở đây thôi. Ổng nói công khai: “Đứa nào cho tao ngủ, tao cho đi”. Cơ quan kiểm thảo ổng, ổng cười hề hề : “Cho tao ngủ chung hầm để khi có pháo bắn tao về hầm tao không kịp, có nghĩa là tôn cán ái binh, thì đã sao nào?”

Đi gần đến trại, nàng dừng lại, bảo:

– Lần đó, em cho biết hầm của em và con Nga nhỏ, hai đứa ngủ chung, để anh hết nghe lời cô em yêu qúi của nh mà anh cũng không hiểu ý em sao ?

Tôi lặng thinh. Nàng cầm tay tôi đứng lại bên ven rừng và chìa má:

– Anh hôn em đi. Một cái thôi. Ừ, như thế đủ cho em nhớ anh cả đời rồi. Em mong cho anh bị thương nhưng nhẹ thôi, kiểu như ông Hai Khởi, để anh vô đây nằm em săn sóc anh!

– Cám ơn em. Anh chưa bao giờ bị thương nhưng hễ bị thương chắc là tàn phế hoặc chết .

– Nghe anh nói, em tội nghiệp anh Năm Hoa, anh ruột của con Nga nhỏ quá trời. Ảnh bị thương cụt hết hai chân cho nên chị Tám Mang bỏ luôn. Em không làm như vậy đâu.

Tôi ôm nàng hôn say đắm. Nàng có văn hoá, nghe đâu thi tú tài rớt gì đó, không hiểu ai quyến rủ vô đây để làm hộ lý cho một ông thủ trưởng bầy hầy như thế.

Tôi vào thăm dượng Chín tôi, đưa cho dượng một ngàn của ba tôi cho. Dượng không lấy, Dượng dặn dò:

– Tao sắp lành rồi. Dì Chín mày sẽ vô, tao có thiếu gì. Ra miệt Ràng phải cẩn thận đừng có cặp kè với đám nữ du kích. Chúng nó chỉ xạo xạo cho vui thôi! Nay mai sẽ chui như cá chạch. Tao ra viện chắc sẽ làm ở cơ quan chớ không về đơn vị chiến đấu nổi nữa. Mẹ nó, xui quá trời! Lúc tối không dám ngủ. Hừng đông đang ngủ ngon, nó dệnh cho một trái ngay giữa trung đội, chết và bị thương tám đứa . Tao nhờ ông bà phù hộ nên bị nhẹ nhất.

Dượng hỏi tham ba tôi, hỏi thăm chòm xóm và cuối cùng đề cập tới vụ thằng em tôi mà tôi vừa thuật cho dượng tôi nghe khi mới đến đây. Tôi nói:

– Mọi việc tôi đã gật hết cho Chín Lộc rồi. Các ổng làm gì thì làm!

– Đâu có khoán trắng cho họ được. Ít nhất mày phải gặp nó nói cho rõ cái ý định của mầy. Coi chừng mấy ông nội đó chọc cứt không nên lỗ mà hại cả gia đình mầy đó.

Rời khỏi chiếc hầm thương binh của dượng, tôi thấy cả tương lai mù mịt của tôi. Tôi rồi cũng sẽ đến đây, nếu may mắn. Tình hình bom đạn này khó thoát.

Trời đã nhá nhem, tôi vội vã ra về vì đây là giờ Đồng Dù, Trung Hoà lẫn Bến Cát giã gạo chày ba. Tôi vừa đi ra con đường lớn thì đụng đầu nhà báo Nhã Nam. Nàng xuống xe và nắm tay tôi bảo:

– Anh không thấy gì hết sao?

– Tôi om, ai thấy gì?

– Trong tối anh thấy mới tài, chớ ở giữa thanh thiên bạch nhựt ai chẳng thấy ?

Cô bé Sàigon này muốn xài văn chương với ông võ biền chăng. Tôi đâu có chịu thua.

– Anh hùng đoán giữa trần ai mới tài phải không?

– Từ ấy trong em bừng nắng hạ…

– Mặt trời chân lý chói qua tim!

Tôi cười thầm. Cô em trúng tủ thơ Tố Hữu của tôi rồi. Tôi thuộc tất cả thơ Tố Hữu, không sót một bài nào, từ 1946 tới nay chưa có dịp đem ra xài. Tôi tuôn ra một dây làm cho cô em ngầy ngật.

– Em chưa thấy ai thuộc thơ nhiều như vậy.

– Chép không, anh đọc cho!

– Một bài thôi, bài hay nhất!

Tặng nàng trinh nữ. Tôi đọc luôn:

Anh muốn đưa em đến cổng trường
Cho đời em hiểu nghĩa yêu đương
Yêu nhau nếu chỉ vì sum họp
Anh đã dừng chân giữa gió sương.

– Nghĩa yêu đương là nghĩa gì anh?

– Anh thấy hoàng hôn trong mắt em.

Nàng áp người sát và ngã đầu vào vai tôi, thầm thì:

– Anh là người văn võ song toàn. Anh dạy em viết báo với.

– Anh chưa viết báo bao giờ.

– Thì bây giờ anh viết một bài cho em.

Tôi không còn thì giờ để đi đúng ba giai đoạn: Phòng ngự, Cầm cự, Tổng phản công như đồng chí Trường Chinh dạy nữa, tôi phản công ngay. Nàng kêu the thé và chống trả một cách nhẹ nhàng có nghĩa là đồng tình hơn chống đối ….

Nhưng bỗng có bóng người thấp thoáng. Tôi giật mình bước lùi ra. Tôi sợ cô xã đội phó. Không hiểu tại sao tôi lại sợ cô nhỉ. Có lẽ tôi sợ cô ta bù lu bù loa rồi tôi mang tiếng…

Và nhà báo nữa, cô cũng lùi ra một bước,và nhanh trí nói:

– Bài báo em viết về anh dự đại hội mừng công trên R vừa xong, em tìm anh mãi để anh duyệt qua.

– Thôi, tôi van cô! Tôi không muốn lên đài!

– Anh khiêm tốn hoài!

– Tôi không phải anh hùng, thật mà!

– Không phải anh hùng thật thì giả à?

– Anh hùng là anh hùng rơm. Xin cô cho mũi lửa hết anh hùng!

Tôi vừa nói vừa quay lưng đi. Nàng kéo tay tôi lại:

– Anh chưa hôn em!

Tôi hôn nàng một cái rất khẽ như không.

Không thấy bóng người kia tới gần, nhưng tôi không dám xáp chiến. Không sợ pháo Đồng Dù lẫn cối Trung Hoà, chỉ sợ cây chông ba lá của cô xã đội phó.

Tôi chào tái ngộ cô phóng viên rồi đi thẳng về nhà, trong bụng phập phồng lo sợ. Chắc mây đen vần vũ gió giật cấp 13 sắp có bão. Nhưng tôi đã dự đoán sai thời tiết . Là đứng ở cửa chào tôi bằng một nụ cười tươi như hoa dâm bụt nởi dưới ánh đèn dầu.

– Em tưởng anh lạc đường về rồi chớ !

Lụa ngồi ở miệng hầm hai tay bó gối, mặt rầu rĩ làm cho tôi bất nhẫn. Là trêu ngay:

– Chỉ nhớ anh đó. Anh mà ở lâu chút nữa là chỉ đi tìm.

– Con nhỏ ăn nói lãng dang!

Là rổn rảng :

– Chớ không phải hả? Chớ phải chị xứng với anh Hai thì em nhường ảnh cho chị.

Tôi nạt:

– Em đừng nên nói vậy Là ạ!

– Chỉ thương anh! Em biết từ lần trước mà.

– Lụa chỉ coi anh như anh Điều thôi.

– Chỉ coi anh như ai thì chỉ coi, còn em không coi anh như anh Điều bao giờ.

Sợ mây khói đèn kéo tới làm nên cơn bão tôi không đối đáp mà bỏ đi tắm rồi lẳng lặng xuống hầm dạy con Rớt học.

Lụa đang nằm gác tay lên trán, nghe tôi xuống thì lôi con Rớt qua nhường chỗ cho tôi.

Lụa đã từng thẳng thắn tâm sự với tôi: “Anh không có cưới em đâu, em biết, em không giành giật với con Là ! Nhưng rồi anh cũng không lấy nó làm vợ. đâu. Tánh tình của nó không hợp với anh. Nó không phải trẻ con, cũng không phải người lớn.” Thật là một tình cảm chân thành, một nhận xét chí lý. Tôi vừa mở tập ra thì Là cũng xuống theo. Nàng cười ngỏn ngoẻn:

– Em biết mà . Ba vô anh đã thưa với ba về vụ của anh với em rồi phải không? Rồi ba cũng đã đồng ý phải không?

Bị tấn công bất ngờ, tôi chới với, không biết đối đáp ra sao. Ai bảo nàng vậy? Nàng ngồi trên mép giường và móc túi lấy một cái hộp nhỏ để trên lòng bàn tay. Tôi giật mình thon thót. Ở đâu mà nàng có cái hộp nữ trang của Lam? Thì ra khi chiều, vô C5 thăm ông dượng, lúc đi tôi đã tiếp tay giúp hai cô Nga bưng phụ thức ăn nên không mang chiếc xắc-cốt đầy đồ bí mật quân sự lẫn bí mật cá nhân theo cho đỡ cồng kềnh. Hơn nữa giờ đó cũng không sợ chụp dù. Cho nên ở nhà, nàng lục được. Nàng mở hộp cầm hai chiếc nhẫn. nói:

– Cả hai đều có khắc chữ “L” tên anh và tên em phải không? Em biết ba đồng ý ngay.

Tôi càng không biết nói sao. Làm thinh thì không ổn mà đính chánh thì càng không ổn. Tôi bèn chối ngang:

– Của gia đình một cậu chiến sĩ trong H6 gởi cho anh cất dùm nó chớ không phải của ba đâu.

– Sao có hai chiếc, mà chiếc nào cũng có chữ “L” ?

Tôi nói hàng hai:

– Không tin thì thôi!

Lụa ngồi dậy liếc qua và nằm vật xuống. Là trừng mắt:

– Ngón tay của chị xỏ không vừa đâu!

Tôi xem con Rớt viết bài rồi nằm im như luật trời đã định, chỉ cách Lụa có con bé. Là cũng không ngại gì trong việc chiếm phần. Nàng nằm ngay sát tôi. Thành thử chiếc giường chật nức như cá mòi đứng trong hộp (ở đây cá mòi nằm).

Với hai chiếc nhẫn mà nàng đề là của ba cho, coi như ba đã đồng ý nên nàng càng mạnh dạn xem tôi như của nàng.

Nàng quyết lôi con Rớt đút vô ngách để được rộng rãi hơn.Chiến trường cài răng lược khít như nêm nên không dichuyển được quân sĩ, các đối phương chỉ ghìm nhau, không phe nào gây hấn trước. Tôi cũng mong sống một đêm hòa bình cho khỏe thân. Vì mệt mỏi, vì rượu trà, nên tôi thiếp đibên hơi thở nhẹ nhàng của hai địch thủ. Không biết tôi ngủ được bao lâu thì tôi nghe có bàn tay đập trên ngực. Tôi lắng nghe. Thì ra hai bàn tay từ hai phía. Chúng chạm nhau và lấy mảng ngực tôi làm chiến trường. Một bên có vẻ chịu lép vế nên không tranh giành đất đai trên miền Bắc mà di chuyến xuống miền Nam. Bên kia đuổi theo chộp được và cầm lấy ném ra xa với sự giận dữ, ý bảo: nơi này không phải của mi.

Nhưng khi đối phương vừa buông ra thì nó lại phóng lên ngực tôi lần nữa và lần này thì bám riết. Bàn tay kia lập tức nhổ nó lên và xô mạnh như một hòn đất. Lần này nó không chịu thua. Và hai bên choảng nhau như một cặp gà nòi, cắn đánhau chan chát trong đêm tối.

Tôi bật cười, không can gián mà cũng không hòa giải. Quyền lợi bị xâm phạm nặng nề, ai dễ nhường ai? Tôi nhưnghe từ những va chạm của hai bàn tay yếu mềm này, bật ra những lời gay gắt, những lời mà chỉ có tôi mới hiểu thôi.

– Ba ảnh đã mua nhẫn cưới cho em rồi, chị không thấy sao mà còn hòng?

– Ảnh thương tao chớ không có thương mày đâu.

– Ảnh chưa có vợ, không đời nào lại đi lấy đàn bà có con.

– Ảnh thương con Rớt như con ảnh.

– Anh Thơm mới chết mà chị lấy chồng không sợ ảnh bắt chị sao?

– Ảnh chết đã hai năm, người ta giấu.

Sự xô đẩy tiếp tục trên vùng ngực tôi rồi lên đến mặt. Tôi hôn mỗi bàn tay một cái như thầm bảo: “Thôi, đừng nhau. Anh sẽ giành cho mỗi em một phần bằng nhau:” Bất ngờ tôi nghe một cái đồn Bạch Hạc rơi lên người tôi, rồi một cái nữa rơi chồng lên cái kia làm cho tôi nghe như bị hai mãng núi mềm mại đè.

Rồi một cuộc chòi đạp tranh giành không nhân nhượng lại xảy ra trên người tôi. Để xoa dịu sự phẫn nộ, tôi bèn giăng tay ra, ở mỗi bên, chiếm một mục tiêu. Như những ngọn đồi nóng bỏng bị nước tưới lên, hoặc những ngọn đồi lạnh được chuyền điện vào, bây giờ cả hai nằm im chờ đợi. Sự im lặng bị khuấy lên bằng những hơi thở ngắn và gấp.

Trong hầm mỗi tiếng động được khuếch đại gấp trăm lần, cho nên tôi nghe từng tiếng thở phì phì. Tôi không thể ém đám quân háo hức chiến đấu của tôi trên những ngọn đồi trọc lâu hơn. Tôi thả cho chúng luồn qua vành đai thép, lỏng lẻo hoặc bỏ ngõ tự bao giờ để thọc xuống vùng đồng bằng xanh tươi hoa cỏ.

Lụa khôn ngoan. Nàng đã có kinh nghiệm. Trong trường hợp này, làm kẻ đi sau có lợi hơn, vì thời gian vô tận cho sự chiếm hữu và chiến đấu viên sẽ đánh trường kỳ chứ không tốc chiến tốc thắng như ở trận đầu. Cho nên nàng làm lớn thì làm láo, nhường cho cô em tiến trước.

…. Khi tôi nằm dưỡng quân thì nghe một làn hơi thở ấm thổi vào mang tai tôi. Tôi biết đó là ai. Tôi không ngần ngại chuộc tội đối với nàng.

Chúng tôi hoàn toàn là của nhau trong lúc đối phương hưởng xong giọt nước cam lồ của gã kỵ sĩ phiêu lưu đang nằm ngáy khò khò. Nhưng tôi vừa kiến trúc xong trận địa.pháo suýt khai hỏa thì tôi nghe bịch, bịch trên lưng tôi liên hồi như B52 dội bom, rồi tiếng vùn vằn:

– Tôi mét má cho chị coi.

– Tao cũng mét má cho mày coi.

– Mét mét tui hổng sợ.

– Mét mé…

Tôi cúi xuống bịt miệng nàng bằng một cái hôn đồng thời cho tên biệt kích khui miệng địa đạo mà ít ra hắn đã biết dấu đôi lần.

Mấy hôm sau tôi dắt Tôn Sứt, Ba Tố trở về H6. Trên đường tôi sẽ ghé ông Năm Lê với ý định trình bày kế hoạch pháo kích và sẽ gặp Tám Dò xin một người khác thay cho Hai Khởi, nhưng sự thực là để tạt qua thăm hai em Ua Chia.

Dọc đường tôi hỏi Ba Tố:

– Vô đợt được không?

– Được chớ thầy! Tôi chỉ sợ ông bác sĩ hay, tụi mình bị thương vô nằm, ổng cưa chân cưa tay bỏ mẹ !

– Không có vậy đâu ! Ở đời muôn sự của chung mà ! Hơn nữa em út của ổng thiếu chi.

Ba Tố cười khắc khắc:

– Hôm qua qua nói qua qua mà qua hổng qua, còn bữa nay qua hổng nói qua qua mà qua qua ha ha ha…

– Qua qua mà qua có hái hoa được không kia chớ, còn qua qua rồi qua xách xe không qua dìa thì qua qua mần chi?

Ba Tố bảo:

– Ông thầy lo là lo cho thằng em kia kìa, chớ còn tôi đã quậy cái đất thép này thành bùn lâu rồi, chỗ hóc bà tó nào mà tôi không lạo qua? Ngặt vì hốt ổ thì tôi không chịu nên đành chờ cơ hội may mắn mà nắm cái mọng dừa như Hai Khởi thôi. Sắc diện hắn đâu có gì hơn tôi, còn về gia thế thì hắn lại lận lưng một củ su hào, nhưng hắn quơ được con bé quân trang là chó dắt thôi.

– Tôi sẽ đưa hai ông đến một nhà toàn là con gái từ 16 đến 19 và rất mơ cán gáo mùa thu.

– Trời trời! con nít vậy về nhà nó nhỏng nhẽo chịu sao nổi?

– Thằng Chín Hung cưới một cô văn công tỉnh có 16 nghe cha nội. Nhà vợ lại ở trong ấp chiến lược nữa mà đâu có bị kỹ luật gì.

Tôi dẫn hai cậu về căn cứ của Chín Lộc ở Bào Chứa. Mục đích của tôi là cho hai cậu làm quen với các cô Suối và Trong, con của bà Tư Bánh Bò . Hai cô Xanh Biếc và Nhành, em gái của Năm Cội thì còn trong tuổi thiếu nhi không thể gạ gẫm. Mà có gạ gẫm chắc cũng không thành công, vì chúng đã tỏ ra rất cảm ông thầy pháo, còn Ba Tố thì nhan sắc hơi kém Tôn Sứt than phiền về công tác:

– Mình thiếu phương tiện dữ quá anh ạ. Anh còn nhớ trên trường pháo, mình đi thực nghiệm dùng kính ngắm pháo Pháp gắn qua pháo Nhật để bắn trực xạ không?

– Không chó bắt mèo ăn cứt chớ làm sao bây giờ chú em!

– Mấy công trường đều than phiền pháo mình đấm lưng bộ binh hơi nặng.

– Nhưng làm gì được bây giờ. Nội cái việc đạn pháo phơi nắng phơi mưa, lòng pháo chôn dưới hầm thì cũng đủ chết người rồi. Pháo thủ có tài đến đâu cũng không thể bắn chính xác được Ngoài ra còn vấn đề quan trắc. Cậu xem ngoài Bắc mình bắn ban đêm và bắn mục tiêu di động mười phát trúng cả mười.

– Còn ở đây, anh độ bao nhiêu phần trăm?

– Không biết được. Chuyện nghiên cứu này chưa đủ 50% yêu cầu.

– Anh định bắn bao nhiêu quả?

-Ít nhất 500 cho Trung Hòa, 500 cho Đồng Dù.

– Dữ vậy?

– Đó là tối thiểu. Đồng Dù rộng độ bốn cây số vuông có hầm bê tông cốt sắt, có bao cát tấn rất dày. 81 mình chỉ làm nó trầy da thôi. Một trăm quả như muối bỏ biển ăn nhằm gì. Nhưng mình có đủ thời giờ để bắn hay không? Vì nó trả hỏa chậm lắm là trong vòng năm phút. Mỗi phút mình chỉ bắn được mười quả là cùng. Cậu biết đó, nếu bắn nhanh quá, lòng pháo sẽ không nguội kịp đạn đi không chính xác. Như vậy nếu mình đặt năm khẩu bắn chụm vào Đồng Dù trong vòng năm phút thì mỗi khẩu bắn được tối đa là 50 quả. Năm khẩu dự chi 250 quả mà thôi. Vậy mình phải rót tập trung vào một điểm. Thí dụ: kho đạn, sân bay, trại lính. Cái nào thì một cái thôi. Thà chặt lìa một ngón tay còn hơn đập dập cả bàn tay như chiến thuật Mao Trạch Đông dạy.

Ba Tố xen vào.

– Các sách của ông ấy khó áp dụng ở đây lắm ông thầy ơi! Tôi lấy ví dụ: Chiến thuật vẫy chài và gom chài nhanh của ông ấy là hoàn toàn không xài được ở đây. Vì sự cơ của ta quá chậm còn của Mỹ thì quá nhanh, nhanh gấp một trăm lần mình.

– Kinh nghiệm đánh vận động ở Phong Phú của 307 hồi 1948, đánh đồn Pắc Sa Ma của 308 hồi 1950 không thể áp dụng cho tình hình này một mảy may nào. Mình phải sáng tác chiến thuật lấy thôi. Võ đại tướng vô đây mà chạy chụp tlù vài trận thì ổng sẽ biết cái Đồng Dù này không phải là lòng chảo Điện Biên, nơi quân ta ưu thế hơn quân giặc nhiều. Ta bao vây giặc khống chế bằng pháo binh, giặc biết mà lkhông làm gì được. Đường tiếp tế lương thực và đạn dược của địch bị pháo binh ta cắt tối đa ! Còn ở đây chúng ta hoàn toàn bị ở trong nhược thế về mọi mặt: Khó tập trung đơn vị, không có pháo binh hiệu nghiệm, không có đường tiếp tế bảo đảm, đạn dược rất hiếm hoi. Chúng ta hoàn toàn bị động với pháo binh của giặc. Đó là chưa kể các trận đổ chụp phối hợp với xe tăng chớp nhoáng. Bên cạnh đó những cuộc đào xới tìm địa đạo thường xuyên.

(Bạn đọc sẽ thấy những tổn thất của quân giải phóng ở quyển 4 trong chiến dịch Geration Crimp. Tôi sẽ kể cho các bạn nghe về cuộc tự sát của một nữ văn công R: cô Thiên Lý.)

Ba Tố xen vào:

– Thầy bi quan quá, chớ hồi hôm này cả Đồng Dù lẫn Trung Hoà đều bị pháo ta nện tơi bời.

– Giỡn hoài ông dê tám (D8).

– Thiệt chớ. Quân ta có độc một khẩu pháo cụt nòng mà xơi tái cả hai trận địa làm nó rêm mình quá là quá tay.

– Ông ở đây, ai chỉ huy pháo kích?

Tôn Sứt cười:

– Ổng nói anh đấy !

Tôi chợt hiểu ra. Ba Tố tiếp:

– Thầy làm sao pháo cho nổi hai cái đồn Bạch Hạc một lượt thầy Hai?

– Ổng có bùa, nên đi đâu cũng cá cặp không thôi. Trên R còn đi cặp ba cặp bốn nữa kìa chớ.

Tôi cười:

– Nhưng rốt cuộc chẳng được gì !

– Tôi không hiểu tại sao thầy mới ra Ràng có một ngày mà đã có cô bắt ghịt thầy như vậy?

– Tôi có gây hất gì đâu. Tự nhiên người ta đến bắt cóc tôi.

– Còn vụ cô Lam móc gia đình vô và tặng nhẫn vừa rồi là ông sắp đặt trước à?

– Tôi có biết ất giáp gì đâu !

– Vậy ông phải tính sao cho khỏi phụ lòng cô ta?

– Chưa biết! Nhưng trước nhất là phải hoãn binh chớ từ chối ngay thì tội nghiệp cô ta.

Chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện chiến đấu xen lẫn chuyện ái tình, chuyện lọt hầm chông của ông này ông kia. Gần một ngày trời, xuyên qua Đồng Chà Dơ, Bào Đứng, Bào Trăn, Bào Tròn mới tới Bào Chứa, nơi đặt căn cứ quân báo, của Chín Lộc, nơi có cây xoài mút trạm gác của Năm Cội, nơi tôi vừa đào dưới bụi trúc của nhà ông Tư ất… nơi ghi nhiều kỷ niệm trong một thời gian ngắn của quảng đời Củ Chi của tôi. Bào Chứa vẫn còn y nguyên nhưng một sự im vắng đông đặc trùm lên vùng quen thuộc này. Nơi đây tôi đã từng đón ba tôi vô,. Đã từng nhậu với Sáu Huỳnh, Chín Lộc, Tư Minh tại nhà ngoại, tại nhà bà Tư Bánh Bò . Tối nay thế nào cũng có một bữa tiệc liên hoan tại quán em Chia. Lòng tôi nôn nao như sắp về đến quê nhà. Bao nhiêu năm rồi, tôi lấy quê người làm quê nhà và lấy người lạ làm bà con của mình một cách hồn nhiên, tự nguyện..

Đường mòn vào quán hơi thu hẹp lại. Cỏ hai bên bò ra gần giao đầu nhau. Là đã từng đến đây và đã gây sự với Ua, Chia suýt nổ to nếu không có Sáu Huỳnh dọa bắt bỏ tù.

Tôi vừa đi vào sân vừa nhìn ngôi quán thu hình bên bụi chuối và dưới những tàu dừa tơ rậm rạp. Tôi bước lên thềm, không một dấu vết của khách khứa tới lui. Hai cánh cửa đóng khít im ỉm như cửa chùa, trên thanh gỗ có dấu dao cạy.

Tôi thất vọng nhưng còn gượng gạo đập cửa gọi.

Không ai đáp. Chia đã cảnh cáo tôi mấy lần trước khi hai đứa tạm biệt: “Dì Ba thúc giục má đem ngoại ra ở với dì lo buôn bán ở Củ Chi” và “Anh về kỳ tới có thể sẽ không gặp ai. ” Vậy là chuyện nàng tiên đoán đã xảy ra. Gia đình đã dời đi. Tôi bảo Tôn và Ba Tố.

– Mình đi thẳng lại nhà ngoại xem sao.

Nhà Năm Cội ở trịt phía bên dưới, cây xoài mút vẫn còn đứng đó. Tôi đã từng leo lên ngọn bỏ ống dòm nhìn trộm bót Trung Hòa. Ở đây tầm xa gấp ba lần so với Ràng.

Giá Năm Cội xuất hiện lúc này thì bọn tôi đỡ cô đơn hơn. Phần sợ pháo, phần sợ lựu đạn gài của du kích. Không biết chuyện gì xảy ra ở đây mà đường sá thì không có bóng người, biết hỏi ai bây giờ? Tôi như nghe tiếng nói của ba tôi còn vang trong ngôi quán, nơi tôi gặp lại ba và chỉ một đêm. Tôi đưa mắt nhìn ra phía Đồng Mã, con đường mòn cát nâu mà Ua đèo ba tôi hôm đó ra Củ Chi để về nhà. Tôi ân hận sao mình không kéo dài được giây phút trùng phùng? Tôi hình dung buổi chiều hôm đó ba tôi về đến nhà kể lại chuyện gặp tôi cho má tôi nghe, má tôi sẽ khóc hết bao nhiêu nước mắt. .

Con đường Sáu Huỳnh dắt tôi từ nhà ngoại sang quán của Chia bây giờ cây mì cũng xơ xác. Du kích của Năm Cội đào ăn rồi vứt cây bừa bãi không cặm lại. Đây là con đường tình của tôi và Ua-Chia. Nó khởi đầu tốt đẹp và kết thúc bi đát cũng như Romeo Juliette, Lương Sơn Bá Chúc Anh Đài.

Tôi đi vào con đường nhà ngoại. Ngoại đã nhận tôi là cháu rể. Bà cũng đã nhận xét thẳng thắn trước mặt tôi về hai đứa cháu: con Chia đằm thắm dễ dạy hơn còn con Ua lốc chốc và khó bảo!” Ngoại là chủ nhà nhưng với sự trú đóng cơ quan cuối những tên Bắc kỳ xâm lược, thì bà trở thành đứa ở . Họ cho ngoại làm quân báo, con gái lập mạng lưới lấy tin ngoài Củ Chi mà ngoại không biết. Ngoại đâu có ngờ đó là một việc làm nguy hiểm đến tánh mạng.

Lần đầu tôi đến, Sáu Huỳnh đã nài con gà mái ấp, con vật thân yêu độc nhất còn lại trong nhà, để đãi thằng đồng hương tái ngộ.

Cửa nhà trước trống hốc. Tôi gọi to. Không ai đáp. Tôi đi thẳng vào. Không thấy ai. Tôi đi vọt ra sau bếp rồi ra luôn sân sau nơi có cái giếng tôi đã từng đứng nói chuyện với Ua.

Tôi giật nẩy người và sụt lại. Hai cái xác nằm dài dưới đất Tôi nhận ra ngoại ngay, còn người kia, đàn ông không rõ là ai.

– Coi chừng biệt kích thằng Rắc ngoài Củ Chi hay thằng Lệnh ngoài Trung Hòa vô . Lúc này coi bộ chúng nó làm lộng . Có thể nó còn ẩn náu đâu đây. Mình phải đề phòng.

Ba đứa móc súng lên đạn và xuống cò nhỏ cầm tay. Tôi bảo Ba Tố và Tôn cảnh giới bốn phía để tôi quan sát vết thương nạn nhân. Tôi nhận ra người đàn ông là Tư Minh – người có vợ làm thợ may ở Sài gòn, cơ sở chứa cà súng đạn liên sau này bị cảnh sát khám phá . Cả Tư Minh lẫn ngoại đều bị thương ở đầu và ngực.

Có lẽ chỉ điểm cho biết nhà này là nơi đóng cơ quan, Tư Minh bị chúng bắn đã đành nhưng tại sao ngoại cũng bị. Có lẽ ngoại bị lạc đạn chăng? Hoặc lúc tối, hoặc hừng đông, chúng không phân biệt già trẻ, cứ thấy bóng đen bóng người là xã súng. Bên cạnh ngoại một chong dầu lửa ngã đổ và cái tim đèn cháy lan đến hết dầu thành tro. Soong gạo lật ngang tung tóe quanh ngoại. Chắc là hừng sáng ngoại ra vo gạo nấu cơm nấu cháo. Còn Sáu Huỳnh, Chín Lộc, Sáu Cúc đi đâu, chỉ có Tư Minh và ngoại ở nhà? Còn Ua đi đâu? Tại sao cả xóm_không đến đây? Chúng nó bắn bằng súng gì? Có lẽ súng : hãm thanh, loại súng biệt kích thường dùng.

Chúng tôi đến nhà bà Tư Bánh Bò và Năm Cội để tri hô lên. Chẳng ai hay biết gì cả . Ai nấy đều bảo Sáu Huỳnh, Chín Lộc đều đi công tác chỉ có Tư Minh và ngoại thủ trại. Còn con Ua thì đi đâu lâu lắm không thấy về.

Chúng tôi gọi hàng xóm đến chôn cất qua loa rồi rút lui với lòng thương cảm vô cùng. Mình mới thọc ra Ràng mấy loạt trầy da chúng. Chúng đã dùi vào giữa rốn mình đâm một nhát sâu hoắm. Không biết chúng có vào nhà lục lạo lấy được những tài liệu quan trọng nào không? Đây là một tổn thất nặng nề, nhưng chẳng biết nặng đến mức nào. Có thể nó gây nên một sự tan vỡ cơ sở quân báo ở thành và các căn cứ trong này sẽ bị phát hiện.

Nhiều cán bộ bị chúng giết hoặc bắt sống biệt tăm một thời gian dài mới tìm thấy xác hoặc tông tích. Vùng đất Ràng, Bầu Sỏi, ngã Ba Tầm Lanh, Gò Nổi Trên, Gò Nổi Dưới đều sợ tụi thằng Rắc. Lại thêm thằng Lệnh. Thằng này cũng không kém thằng Rắc về cái ngón phiêu lưu bất ngờ, không thể đề phòng được. So với Commando của Pháp thì tụi này là bậc thầy.

Hồi trẻ mới ra trường Lục quân, tôi xuống công tác các đơn vị địa phương quân ở Ô Môn (Cần Thơ) tôi cũng từng bị commando đột kích, nhưng chỉ một lần là chúng tôi lẩn tránh được và đã phục kích đánh trả lại, nhưng tụi Rắc-Lệnh này thì vô phương lẫn tránh hoặc đánh trả. Vì chúng thay đổi sắc phục, súng ống, chiến thuật, địa bàn như mưa nắng không theo một qui luật nào. Kiểu như Một On ở An Hóa Bến Tre hồi chín năm vậy. Sau mỗi lần chết hụt, chúng càng có những hành động mạo hiểm hơn trước. Trên trời có trực thăng, phản lực, B52, dưới sông có tàu lồng cu và giang thuyền, các con đường giao thông có đồn bót, pháo, xe tăng, và biệt kích. Thế cài răng lược với giặc không giống như thời đánh Tây, thế ta yếu, bị địch tràn lấn hoàn toàn.

Cho nên sau những trận đánh có tiếng vang của hai công trường 5 và 9 của Năm Truyện và Sáu Khâm ở quốc lộ I, ở Bàu Lách Bàu Đưng, phong trào chìm lỉm. Quận Sài gòn đã phản công lấy lại những gì chúng mất trong Đồng Khởi và còn lấn thêm. Nay lại có Mỹ và đồng minh của chúng kết hợp, thế của Giải Phóng bị núng hoàn toàn về mọi mặt.

Năm 1966 là năm mà lực lượng Giải Phóng bắt đầu sa sút cố gắng tăng cường tiềm năng để vươn lên nhưng không thể nắm thế chủ động. Cứ đi xuống dốc. Bao nhiêu hi sinh cũng không lấp được lỗ trống do Mỹ gây nên. Và mùa xuân Mậu Thân là cái cột mốc đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của đoàn quân xâm lược phương Bắc lẫn bọn chư hầu phương Nam là Mặt Trận Giải Phóng. Nếu không nhờ Hiệp định Ba Lê thì toàn bộ lũ cướp này sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. Nhưng thói đời là thế: Pháp cứu Việt Minh ở Điện Biên bằng Hiệp Định Genève, Mỹ cứu Cộng Sản bằng Hiệp Định Paris. Việt Nam tiêu tùng, chẳng những vì Cộng Sản mà còn vì các ông đồng minh vàng.

Tôi không còn biết làm gì nữa . Tôi có cảm giác đây chính là quê hương tôi, nhà tôi và thân quyến của tôi bị tàn phá giết chóc. Hình bóng của ba tôi ngồi sau poọc-ba-ga của Ua như còn thấp thoáng trên con đường lởm chởm ven Đồng Mả . .

Khi trước vui vẻ rộn rịp bao nhiêu, bây giờ lạnh lùng bấy nhiêu. Tôi ra gốc cây xoài múc của Năm Cội. Đáng lẽ hắn đeo tôi về luôn đây, nhưng vết thương hành, nên đành trú lại dọc đường.

Cây xoài vẫn đứng nhưng không còn nguyên. Một bên tàng lá cháy sạm. Những cành chúng tôi ngồi bắt ống dòm xem bót Trung Hòa đều gãy đổ xuống đất. Nó như một thương binh cụt tay, cháy tóc.

Phía Bàu Lách từng cụm khói bốc lên tận trời. Có lẽ Mỹ còn cụm bên đó cho nên trực thăng cứ bay trên đầu rặng cây thỉnh thoảng lại chúi xuống phóng rốc kết.

Tôi thấy đau xót khi nhớ đến chuyện Năm Cội ném những xác người cháy đen xuống hố bom. Đó có thể là một bộ phận của Q16 của đám con nít quảy chó hôm qua. Con cái của ai mà Sanh Bắc Tử Nam vậy? Không biết cậu thương binh kia còn sống thêm được mấy ngày nữa? Tôi đã chỉ đường cho các cậu ấy đi lên C5 của Tư Chuyền, nhưng chắc cậu ta không cần đến sự săn sóc của những bàn tay Hằng Nga nữa, bởi lẽ rất đơn giản là cậu đã chết trước khi đến đây.

Tôi đã từng chứng kiến những chuyện quái gở nhất thế gian ở trên lưng Trường Sơn. Bây giờ tôi lại được mục kích thêm những chuyện quái gở hơn chuyện Trường Sơn trong việc đối xử với người sống và người chết. Trong ngôi nhà sụp đổ của ngoại, tôi tìm được một cái cuốc cùn. Có lẽ là dụng cụ dã từng được xử dụng đào hai trăm miles địa đạo chăng?

Hôm nay, tôi dùng nó để cuốc đất vung lên nấm mộ của ngoại và của Tư Minh cho cao hơn chút rồi lẳng lặng rút đi giữa buổi chiều ảm đạm.

Đến đây chắc độc giả đã sống ít nhiều cái không khí bình thường của Củ Chi. chưa có gì ghê gớm..Thỉnh thoảng lãnh vài trăm trái pháo, đăm ba trận bom, biệt kích đột nhập, và đào vài thước địa đạo rồi bỏ, sửa soạn vài cái hầm bí mật để phòng chụp. Đi chài lưới kiếm ăn, nhậu nhẹt, trai gái, mở lớp uẩn luyện pháo, pháo kích Đồng Dù, Trung Hòa v..v… Đó là đất sét chưa thành bùn.

Bây giờ đến giai đoạn mới: Đất sét thành bùn.

Để mở màn, xin mời bạn đọc liếc sơ qua cái bảng phong thần của Bác Đảng tặng cho Củ Chi, những tên tuổi mà tôi còn nhớ được sau một phần tư thế kỷ .

Đứng đầu bảng phong thần là ngài Tư lịnh Quân khu tên Trần Đình Xu, bí danh Ba Đình, người tình của dì ba cô Là xã đội phó, em nuôi của tôi… Ông Tư lệnh vốn là phu cao su làm tới chức thầy, nên dân cạo mủ gọi là thầy Xu, thứ ba nên cũng còn gọi là Ba Xu chớ không phải đồng xu ta xài hoặc tiểu thuyết hai xu một cuốn. Trong kháng chiến chống Pháp, Ba Xu làm tới Trung đoàn trưởng, tập kết ra Bắc được gắn lon Thượng tá. Về Nam, đánh trận Bình Giả. Với thành tích rực rỡ nướng quân cao nhất, chỉ thua Tướng Giáp ở Điện Biên, Ba Xu được giao cho làm Tư lệnh Quân khu IV với quân hàm Đại tá.

Tháng ba năm 1969, với thành tích nướng còn nóng hổi ởTổng công kích Mậu Thân, Ba Xu được Trung ương xách chóp cho làm Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng của cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời của Huỳnh Tấn Phát. Thiên bất dung gian, trên đường về R nhậm chức, Ba Xu đạp nhằm bãi mìn của Mỹ Ngụy (?) tan xác, không nhặt được lóng xương miếng thịt nào. Trinh sát Quân khu và Công trường 9 mò mấy tháng liền vẫn không tìm ra một manh áo, một chùm tóc của ông Đại tá . Chắc Tư lịnh Ba Xu xuất phát không có xem quẻ thầy bói nên chẳng những Tư lịnh bị cụm mà còn lôi theo cả ban bầu cua: Chính ủy, Phó Tư lịnh và đám lâu la điếu đóm hơn một trung đội.

Chính ủy Nguyễn Xuân Trường, tục gọi là Tư Trường, dân gốc Rau vào Nam cũng cạo mủ với Ba Xu, sau năm 1945 làn ở Liên Hiệp Công Đoàn Nam bộ . Không có tập kết, được đưa về làm Bí thư Khu ủy thay Trần Bạch Đằng, kiêm Chuẩn úy Quân khu. Một tên chưa biết bắn súng mút-cơ-tông nhưng Đảng đặt đâu ngồi đó, nhưng Đảng không bảo đạp mìn mà lại đạp. Cái xác vĩ đại của hắn tan thành bụi bón cây rừng.

Bên cạnh Tư Trưởng là Tám Lê Thanh, tên cúng cơm là Tám Dọn vì lúc ở trên R làm Trung Đoàn trường bảo vệ căn cứ R, đi kiểm tra, bất cứ thấy cái gì hắn cũng bảo “Dọn vô cho rén khéo kẻo B52 nó trông thấy.” Vì thế lính tặng cho hắn cái tên bần cố nông đó. Khi tên Tướng mặt sắt Nguyễn Chí Thanh vô trấn nhậm Nam kỳ thì giải tán luôn ba cái râu ria hiếu hỉ của triều đình đỏ R: nào đội bảo vệ, nào tổ thợ săn thịt, nào ban đào hầm, ban công binh chuyên cất nhà cho mấy tên kẹ v..v… Do đó Tám Lê Thanh cũng bị dọn luôn về đây làm Phó Tư lịnh, cũng oai ra phết và cùng theo chầu ông vãi trong chuyến đi này. Cũng nên biết là ông Phó Tư Lịnh gốc phu đánh xe ngựa ở Hốc Môn, không biết đi theo cách mạng hồi nào mà thăng quan tiến chức ghê vậy. Thường thường dân Nam cờ không mấy khi là đến chức này.

Đó là bộ ba ông Táo thượng đẳng của Quân khu IV. Ngoài ra trong bộ ban điếu đóm có tên Huyện đội trướng Trảng Bàng Mười Trường chịu trách nhiệm đưa đường, còn đám cò ke lục chốt thì không biết hết tên.

Sau khi Ba Đình chết thì không có ai làm Tư lệnh. Chỉ có vài tên Việt gốc Rau làm phó Tư lịnh thôi. Như tên Nguyễn Văn Kiên tự là Ba Kiên,. Trung đoàn trưởng Trung đoàn Q16 từ ngoài Bắc vào nên dấu tên thật, nhưng tôi biết đó là Trung đoàn thiện chiến nhất của Sư đoàn 325 trong chiến dịch Điện Biên. Đơn vị này vào đến miền Nam năm 1964, chỉ còn phân nửa quân số gồm toàn lính ốm đói như đã mô tả ở chương trước. Đơn vị này được một vinh dự lớn lao là bà Phó Tư “Nệnh” R đứng ra đỡ đầu và nhận Ba Kiên làm em nuôi (nhịp nhàng với phong trào em nuôi, con nuôi từ R xuống khu). Trước khi chiến dịch Mậu Thân bùng nổ, tên Bê Ka này đã giả dạng thường dân, áo dài khăn đóng đi quanh hàng rào Tân Sơn Nhất, tay cầm bó nhang, giả bộ đi tìm mộ con. Sau khi nướng gần hết số lính còn lại trong lò lửa cách mạng Mậu Thân, hắn được phong quân hàm Thượng tá , giữ chức phó Tư Lịnh, nhưng chẳng được bao lâu, ông phó Tư nịnh lại đi theo vết chân của ông Tư lịnh, nghĩa là lớ huớ lại bị mìn ở Lộc Thuận, còn tên gác-đờ-co thì bị đứt ngang lưng như con cá lóc khứa đôi. Tội nghiệp, làm anh hùng Điện Biên rồi lại làm quỉ Củ Chi bỏ vợ con không biết có đồng chí đảng ủy nào giúp đỡ không?

Kế Ba Kiên là Nguyễn Xuân Dũng, tự Năm Dũng, cũng còn có tên là Năm Nheo, vì mắt bị bù lạch ăn trụi hết lông nheo, cứ hấp háy như chói mặt trời, là chánh ủy của Q16. Năm Nheo là dân trọ trẹ nói toàn dấu nặng, là một cặp bài trùng với Ba Kiên. Sau khi đồng chí Thủ trưởng nướng gần hết Trung đoàn, Năm Nheo định thua me gỡ bài cào, nên đi nghiên cứu lò mới để nướng nốt những tên còn sống sót. Vừa ở trong rừng cao su Bàu Nỗ (Bến Súc) ló ra thì bị cá rô trông thấy Nó rỉa một phát cả hai thầy trò đều tiêu dênh. Ngoài ra còn một cán bộ tác huấn là Thượng úy Hai Hiến cũng ngủm theo. Mỹ đáp trực thăng lấy hai súng K54 và một AK gọn ơ.

Còn một ông tên là Bảy Dũng đâu ở bên dân sự đưa qua cầm cán Phó Chánh ủy, nhưng không sống nổi ở Củ Chi, phải rút về Long Nguyên chuyên môn ngồi thum một thời gian rồi đau tim (có lẽ vì sợ chiến trường) và đi vào nhị tỳ .

Sau ông Năm Dũng, Bảy Dũng, tới lượt Bảy Phán, cũng dân Việt gốc Rau, cấp Thiếu tá không đánh đấm gì nhưng lại được cấp trên cho làm Tham mưu phó. Đi công tác ở Trảng Bàng bị Mỹ đổ chụp bắt sống tại Cầu Xe (quê chị Năm Cầu Xe được nhắc tới ở các chương trước. ) Người ta nghi ông móc với lính Sài gòn trong vụ dàn cảnh đổ chụp này. Nghĩ cũng có lý, vìThượng tá Tám Hà (tức Trần Văn Đắc) Chánh ủy mặt trận tiền phương còn hồi chánh nữa là Thiếu tá.

Từ nãy giờ bạn đọc thấy đủ loại mặt hàng: tham mưu chính trị, quân sự. Bây giờ nói tới mặt hàng mới: Quân Báo .

Sáu Cúc không có trình độ, cũng không phải là tay mưu lược nhưng nhờ thành phần bần cố nông được phong làm phó phòng tham mưu khu, phụ trách quân báo, cũng bày trò móc nối tinh Sài gòn để làm binh biến. Biến đâu chưa thấy mà một hôm Mỹ đổ chụp bất ngờ (kết quả của công tác quân báo) hốt luôn cả cơ quan gồm có một điện đài dùng để báo cáo thường xuyên về Cục tham mưu R. Việc này chứng tỏ cái đầu óc cù lần của một anh bần cố nông. Loại công tác này ít nhất phải thông thạo một ngoại ngữ, còn Sáu Cúc viết chữ quốc ngữ còn đánh vần.

Xong vụ Sáu Cúc, đến vụ Huỳnh Thành Đồng. tên gì kỳ vậy? Có lẽ hắn quơ trọn cái danh dự rơm của Bác tặng cho dân Nam kỳ chăng? Đồng chỉ huy trận pháo kích sân bay Biên Hòa… rồi chạy thụt mạng, vứt súng xuống sông Sài gòn, không về R được, nên tôi phải đóng vai anh hùng giả gạt các ông bà trí ngủ ở Sài gòn ra tại triều đình R. Đồng được khen thưởng và cho về khu IV làm Tham mưu phó. Ở trên nghĩ rằng với kinh nghiệm chỉ huy tiểu đoàn pháo Z35 của U80, nay về đây sẽ làm trụi cái Đồng Dù, nhưng chẳng được mấy ngày thì bị lính Giang thuyền đổ bộ lên ấp Phú Yên xã Trung An bắn bỏ xác trong đám mía năm 1960.

Nhưng dù sao Huỳnh Thành Đồng cũng làm pháo nổ được vài quả ở Biên Hòa, còn Ba Châm Trung đoàn trưởng Trung đoàn Quyết Thắng chủ lực khu đầu tiên thăng chức Tham mưu phó khu người gốc Rau ở Bắc mới vào, đầu đã bạc một nửa, nhưng chưa có ai nâng bi sửa dế, một hôm trời trưa nắng xuống tắm dưới suối Cát (còn gọi là suối Xay-nô gần Bến Súc) rồi về hầm treo võng nằm mơ tiên nữ bị biệt kích đến lúc nào không hay ria cho một loạt vào ngực. Các đồng chí ta đến thấy tận mắt, nghĩ rằng hầm này có cô hồn, chẳng ai dám chui vô nữa, nên lấp đất chôn luôn.

Ở gần cuối bảng Phong Thần cấp Quân khu có lẽ là Năm Sĩ được mệnh danh là con hùm xám Điện Biên, Trung đoàn trưởng một Trung đoàn thuộc Sư đoàn 308. Trung đoàn này xuất phát từ Phùng (Sơn Tây) làm mũi nhọn thọc vào Sài gòn trong Tết Mậu Thân. Được ghép vào Công trường 5 của Sáu Khâm. Xuống đến ấp Sa Nhỏ thuộc xã Trung Lập Thượng, đụng Mỹ đổ chụp tan nát rồi bị pháo Đồng Dù bồi tiếp tơi bời không còn manh giáp, lại bị pháo cụm Chà Rầy, Trảng Bàng đánh cú vét. Trung đoàn phó và Chánh ủy chết trong loạn binh. Chỉ còn ông Trung đoàn trưởng sống sót trở về một thân một mình. Nghĩ rằng được Phật che chở nên ngài Trung đoàn trưởng Mác-xít cạo đầu trọc lóc để thầm tạ ơn Phật. Ngày ngày đi tới đi lui và giải sầu bằng ba xi đế, hoàn toàn không uống nước. Và cũng như ngài Tư lịnh phó Hai Phón đã phón chiến trường Củ Chi nên bị ông Tư lệnh Ba Xu trả về R như một cái xác chết.

Tạm bấy nhiêu để bạn đọc thấy sự ác hệt của chiến trường. Những ai từng đi kháng chiến chống Pháp thử nhớ lại xem, suốt chín năm có Bộ Tư lệnh nào sứt mẻ như vậy không? Chỉ ở Miền Tây, ông Huỳnh Phan Hộ vì quá anh hùng nên ra trận và tử trận, và khu bộ phó là Nguyễn Hùng Phước vì quá phiêu lưu mạo hiểm mà hi sinh, ngoài ra các Bộ Tư lệnh khu 7 Huỳnh văn Nghệ , Nguyễn văn Trí, Huỳnh Kim Trương; khu 8 Trần văn Trà, Nguyễn văn Vịnh, Nguyễn văn Quan, Khu 9 Nguyễn văn Trấn, Trương văn Giàu, Phan Trọng Tuệ đều còn nguyên. Chỉ có cán bộ chiến trường mới chết thôi . Nhưng cũng không nhiều như thời kỳ chống Mỹ .

Nhất là ở Khu IV, Nguyễn văn Bảo Chánh ủy Sư đoàn 330 ở miền Bắc được bổ nhiệm làm Chánh ủy Quân khu IV vừa đút đầu về tới sông Sài gòn đã bị Biệt kích Mỹ cho chầu Hà Bá. Lê Quốc Sản, Trung đoàn trưởng Trung đoàn Hải Ngoại về nước thời chống Pháp được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu II (khu 8 cũ) vừa về đến nơi bị xe tăng Mỹ càn chết ở Tháp Mười. Nguyễn Hoài Pho, Huyện đội trưởng Ô Môi sau lên làm Tỉnh đội phó Cần Thơ, tập kết ra Bắc khai láo là bần cố nông được cho đi học Trung quốc, về nước được phân cấp vượt bực: Trung tá !! Về làm Tư lệnh Quân khu III (khu 9 cũ) tới nơi chưa làm gì đã bị trực thăng bắn chết. Không Bộ Tư lệnh nào còn nguyên như thời kháng Pháp. Bọn Hà Nội ngủ say trên chiến thắng Điện Biên nên nghĩ rằng Mỹ cũng xêm xêm như Pháp cho nên Tướng Giáp tự phụ gởi hai Trung đoàn trứ danh của Sư đoàn 325 và 308 vô giải phóng miền Nam, để rồi “một ra đi là không .trở về. “

Bây giờ xin nêu tiếp Bảng Phong Thần.

Phòng Tham mưu của Thần núi Năm Lê đã góp phần lớn nhất, có trên năm chục cán bộ lãnh đạo. Đứng đầu là Thiếu tá Ba Kính, Phó ban Tác huấn bị Giang thuyền bắn chết trên sông Vàm Cỏ Đông. Năm Tiều, Trung đoàn trường Trung đoàn Quyết Thắng, người có vợ trẻ nhưng muốn thiếm xực cô Sáu Tỉnh ở Bến Dược, đạp mìn banh xác ở sở cao su Phú Hòa năm 1970. Cùng chung số phận với Năm Tiều có Đại đội trưởng Mười Việt, xung phong lãnh nàng Sáu Nga nhỏ ở C5 đi R đào tạo Y sĩ. Nàng mang chiếc bầu, ông anh cụt chân bảo phải phá, vì cái bầu đó là bầu rau muống. Thương thay cho nàng lấy Mười Việt mà chưa có bầu mới chàng đã phủi cẳng lên bàn thờ!

Chín Nữa bị thương lũng ruột vì một trái pháo nổ vào lúc hừng đông đơn vị đang nằm ngủ ngon. Sau khi chữa lành, tưởng là sẽ có cơ sống sót về với vợ con, nào dè bị xe tăng càn sập hầm (xin hiểu khi tôi nói hầm, thì đó là hầm bí mật hoặc chớ không phải địa đạo) chết ở Bàu Lách năm 1968 với chức vụ Đại đội trướng Trinh sát. Cùng xuống địa ngục với ông có cả tổ vệ binh của Phòng Tham mưu Khu. Cơ quan đã thi hành chánh sách nhân đạo của Đảng: Tử đâu táng đó.

Sau vụ Chín Nữa sập hầm tới vụ Sáu Lễ, Phó ban Quân báo Khu. Lễ bị pháo bắn ngay hầm ở căn cứ Bàu Khai năm1968. Cách đó không lâu, Tư Thuật, đại úy Trưởng ban Quân lực đội B52 chết ở Đồng Cà Tông, Dầu Tiếng năm 1966. Cùng đội chung quả bóng này có Thượng úy Ba Giỏi. Còn ông Thượng úy Tám Đương, Phó ban Quân lực dũng cảm hơn nên ôm một mình một quả. Rồi Hai Giả, đại úy Trưởng ban Pháo binh (tức H6, tôi vừa về thay thế) bị lính Đại Hàn khui hầm tung lựu đạn ở Dự An năm 1965. Nhưng chưa hết vận đen của H6. Sáu Phán, đại úy Chính trị viên bị Biệt kích Mỹ thọc vào bất ngờ đánh úp trong khi họp liên cơ quan với Tham mưu Quận. Trên một chục cán bộ quân sự chết dưới hầm Gót Chàng gần nhà Bảy Mô cuối năm 1967, trong đó có Đào Hải, Tham mưu trưởng Quận đội. Lúc đó tôi đã ra chỉ huy bộ binh. Nếu không thì cũng đã lúa rồi. Nếu vậy thì Ban chỉ huy H6 đều tiêu tùng.

Cái tin tử và táng tập thể này đang làm rúng động cả Củ Chi thì Đại úy Cao Hoàng Phủ, tức Năm Phủ, là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn pháo 89 bị pháo bắn trúng miệng hầm tại căn cứ H6 ở Bến Mương năm 1967. Đóng góp vào cái chết của Phủ, có một số nhân viên từng làm việc dưới trào Dương Đình Lôi như Ba Thu, quản lý ; Ba Tâm, Đại đội trướng Cối; Mười Lùn, Đại đội trướng DKZ; Cô Thu, chị nuôi, người đã cứu Lôi chết ngộp dưới địa đạo năm 1965; thằng bé Dở, liên lạc bị gảy gió ; Tư Kỹ, đại đội trưởng Trinh sát pháo. Thật mỉa mai, pháo Giải phóng được Đồng Dù tặng chỉ một quả dưa hấu đầu nhọn mà banh chành. Chưa hết, kế đó đến Tám Thanh, Thượng úy chính trị viên Tiểu đoàn 89 của Năm Thủ bị pháo bắn ngay miệng hầm ngủ tại căn cứ Bưng Còng năm 1967. Cùng hợp xướng bài ca Pháo này có một chị nuôi tên Huệ và một số pháo thủ. Rồi họa vô đơn chí, Năm Dị, Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn này bị trực thăng phát hiện bắn chết cũng ở Bưng Còng cuối năm đó.

Trong số cán bộ trung đoàn 268 bị Ngọc Hoàng giủ sổ có thêm anh chàng Hai Đồng (Huỳnh văn Đang). Hắn mất tinh thần từ sau trận đánh phối hợp với Tiểu đoàn I Quyết Thắng tập kích quân Mỹ cụm ở Bàu Trâu xã Phước Thành 6/67. Hai Đồng lúc đó là Tiểu đoàn trường Tiểu đoàn 7 của Trung đoàn Q16, lại bỏ ngũ đi lêu bêu cặp với cô nương Tám Mang ở quân y quận Củ Chi. Tám Mang có bầu bỏ về hồi chánh ở chợ Củ Chi sanh một bé trai. Hai Đồng lang thang ở Bến Chùa nhớ người tình, nhưng tình hình khan hiếm cán bộ, quân khu lại điền hắn làm Tham mưu trưởng Trung đoàn 268 vừa kiện toàn rút Tiểu đoàn 7 Củ Chi về Trung đoàn này để làm nồng cốt. Hai Đồng chưa làm nên trò trống gì lại nối gót theo Tư Quân, Hai Khởi, nhưng hắn bị xe tank Mỹ khui hầm tại Trảng Cỏ bắt sống cùng đám cán bộ, nhân viên tham mưu cả ban bệ hơn chục mạng.

Sau đây là các mặt hàng trong các chuyến tàu chu du Thủy Cung: Ba Thụng, đại úy, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn đặc công Gia Định 4, thuộc Trung đoàn Quyết Thắng, bị moi hầm bắt sống tại ấp Gò Nổi (trên) xã An Nhơn đầu năm 69. Kế đó là Thượng úy Tư Lịnh, bạn của Lôi từ trường Lục quân Trấn Quốc Tuấn ở Miền Tây Nam Bộ năm 1950, Trưởng ban địch vận (người đã gạt tên nhà báo Bọ Chét), bị khui hầm bắt cùng ngày cùng tháng cùng năm với Ba Thụng.

Bây giờ Bảng Phong Thần xin ghi tiếp các ngài ở Phòng Chính Trị của ông Tám Quang.

Đứng dầu nhóm này là Thượng tá Tám Hà, Phó phòng Chính Trị Quân Khu. Ông không bị pháo bắn, tăng càn, cá rô rỉa, biệt kích ném lựu đạn nhưng ông không ở trong hàng ngũ lũ cưóp mặt đỏ: Ông hồi chánh vào tháng 5-1969 sau khi thấy bọn Hà Nội lợi dụng, phung phí xuơng máu của bộ đội, của đồng bào và của cán bộ Mùa Thu cho mục đích dơ bẩn. Về Sàigòn, Tám Hà đã tích cực hợp tác với Quân đội Mỹ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong mục đích giúp họ tiêu diệt Cộng Sản.

Tin Thượng tá Phó Phòng Chính Trị Quân khu kiêm Chính Ủy Mặt trận Tiền phương đã hồi chánh trong chiến dịch Mậu Thân đã làm cho Quân khu hoang mang xáo trộn và mất tinh thần. Đây là cán bộ cao cấp nhất đã hồi chánh trong chiến tranh Việt Nam lần thứ hai. Tùu một vị trí phục vụ Cộng Sản, ông quay lại kịch liệt chống Cộng Sản. Quân Lực VNCH và Quân đội Mỹ đã dành cho ông những cảm tình đặc biệt và một công tác hợp với khả năng của ông.

Chín Mành, Đại úy, Trưởng ban Tuyên huấn Khu, dưới quyền Tám Hà, bị máy bay cá rô rỉa cùng với tên gác-đờ-co tại Đường Long là nơi tên Tướng Mặt Sắt chết trước Mậu Thân.

Năm Liên, Bắc kỳ xâm lược Phó ban Tổ chức Khu được đưa xuống làm Chính ủy Trung đoàn Quyết Thắng, chuyên môn ngồi thum, bị xe tăng càn bắt sống cùng với tên cận vệ.

Đi theo sát gót Năm Liên là Tư Trường, trung úy, phụ trách dân vận bị trực thăng bắn chết ở làng 14 thuộc sở cao su Dầu Tiếng sau Mậu Thân.

Để cho đoàn du hành xuống cõi dưới có chất lượng hơn, Diêm Vương bèn giũ sổ một loạt cán bộ trung cấp khác: Sáu Thưa, Sáu Sánh, Hai Khởi (Hai Khởi trợ lý chính trị) cùng một đoàn bảo vệ chị nuôi ra Bến Chùa lãnh gạo, bị lính Mỹ phục kích đánh mìn , xác phơi đầy đường đá đỏ, bảy ngày nhặt chưa hết.

Tết Mậu Thân chẳng những không mở đường cho Bác ( !) vào thăm Miền Nam mà trở thành cảnh tượng bi thảm nhất trong hai cuộc chiến tranh chống Pháp Mỹ . Út Tòng, Đại đội phó bị moi hầm bắt sống và Út Thành, cùng cấp, trợ lý ban Quân lực Khu hồi chánh.

Sau đây mới là một hoạt cảnh khiến cho cấp chỉ huy khóc hổ ngươi, cười ra nước mắt.

Ba Tố, Trưởng ban Tài vụ Khu (kẻ nắm yết hầu toàn thể Quân Khu) ôm một bao bạc đi… ra Sài gòn và lên đài Truyền hình nói những chuyện thối tha của vua quan triều đình đỏ. Cả Quân Khu ngất ngư chưa biết hồi sinh bằng cách nào thì Tư Minh, Thiếu tá, trưởng ban hậu cần dân Việt gốc Rau, một mình đội một quả dưa gang 500 kí. Phó Phòng Ba Ân chạy đến chia gánh nặng với đồng chí, bị vỏ dưa phang đứt tiện cổ và Hai Nhơn cùng cấp với Ba Ân bị gảy giò, đem qua Bưng Còng cho Tám Lê y sĩ dùng cưa sắt cưa và trút hơi thở cuối cùng.

Nhưng tổ tam tam ở trên rửa chân lên bàn thờ không bi thảm bằng bác Năm Râu từng là Chỉ huy phó trường Huấn luyện tân binh R (với Lê Xuân Chuyên, em nuôi Trần Độ) bị trực thăng chụp chết cả thầy lẫn trò. Trò là một cô gái mườisáu tuổi, em út của Út Bột cán bộ R. Sau cái chết của đứa con gái, cả gia đình hồi chánh tập thể ở Dầu Tiếng.

Một ông già ăn trầu có tên là Năm Trầu, bị cá rô rỉa tại Bến Chùa, cái ổ êm ấm của bọn đầu sỏ khu ủy. Sau vụ này lũ quỉ chạy tuốt qua Bình Dương rồi chuồn sang Cao Miên ăn hút, thỉnh thoảng chỉ đạo về bằng mồm.

Bây giờ xin nói đến các cuộc phong thần tập thể.

Đứng đầu sổ là Trung đoàn Quyết Thắng. Trung đoàn này bị chôn vùi mất hẳn tên ở vùng Quới Xuân (Thành Lộc) trong những hố bom, gồm có: Trung đoàn trưởng: Lê Minh Nhất tự Tám Luồng; Chính ủy: Hoàng Phái; Phó chánh ủy: Tám Lệ; Trung đoàn phó Năm Xướng (sống sót và hồi chánh); trưởng ban Hậu cần: Hai Tiến; Tiểu đoàn trường Ba Đức; Chính trị viên Tiểu đoàn: Út Sương. Toàn bộ các ban chỉ huy Tiểu đoàn, đặc công, cối DKZ 12ly8, trinh sát… Một trăm lính sống sót ra hồi chánh trong đó có Đoàn Chính, Bùi Thiện, Cao Huynh v..v… sau này đã hành nghề ca hát tại Sài gòn.

Nối gót theo đàn anh là Trung đoàn 268. Trung đoàn này thành lập vào tháng 2 năm 68 nghĩa là một sự tập hợp đám tàn binh mất hồn sau Tết Mậu Thân, gồm Tiểu đoàn 14 của Tây Ninh và một Tiểu đoàn Bắc kỳ xâm lược. Nhưng chưa ra quân đã bị Sư đoàn 25 Mỹ đánh phủ đầu. Các tên chỉ huy đều vĩnh viễn ra đi mỗi tên một cách.

Trung đoàn trưởng Út Lịa cùng một đám tùy tùng bị Biệt kích Mỹ bắn chết toàn bộ tại rừng Lộc Thuận năm 1969. Sáu Nam, chánh ủy, bị pháo bắn chết tại Sa Nhỏ. Hai Khởi (ông bạn bị thương khi đi nghiên cứu trận địa pháo ở Ràng với tôi) Tiểu đoàn trưởng bị Mỹ moi hầm bắt sống ở Trảng Cò. Còn lại hai trăm tàn binh, cấp trên xách ra đánh bót Tân Thông và Cầu Ván nướng luôn. Tiểu đoàn trưởng Hai Hằng gốc Rau, mất tinh thần bỏ đơn vị ra làm dân, cấp trên phải cho cảnh vệ bắt về nhét vào Phòng Tham Mưu cà nhỏng chống Mỹ.

Ở trên R đưa một ông Thiếu tá Bến Tre (Hoàng Chí Thanh) xuống chỉnh đốn lại đơn vị, nhưng vừa nhậm chức đã mất tinh thần, xin trả chức vụ để trở về R, không dám hó hé xuống Củ Chi nữa.

Tư Quân, Trung đoàn phó (mới) bị phục kích chết ở Bàu Tre cùng với một Tiểu đội trinh sát. Quản lý trung đoàn: Út Đầu Đỏ (tên lạ thật!) chuyên ngồi thum, nhưng cuối cùng cũng bị bắt tại bìa rừng áp Sa Nhỏ, giáp Bàu Đúng.

Đoạn này xin mở ngoặc Ngọc Hoàng giủ sổ hụt. Chính Năm E, Quận đội phó Nam Chi người đã phụ trách đội ghe xuồng máy đuôi tôm đưa lực lượng Trung đoàn mũi nhọn Quyết Thắng xuống vùng Bình Mỹ từ Bến Đá Phú Hòa Đông chạy dọc theo sông Sài gòn qua Vàm Sông Thị Tính để đổ quân lên ấp Nhà Việc. Từ đó vượt qua đường số 8 theo lộ 9A để tiếp cận xuống Gò Vấp. Năm E mặt rỗ vui vẻ kể chuyện khi gặp tôi tại Đồng Lớn, hắn đi rước số quân Bắc Việt bổ sung cho Quyết Thắng mà Hai Khởi Tham Mưu trướng của Tiểu đoàn tôi nhận về, hắn đòi lại để đưa xuống Bình Mỹ. Hắn cõng cho tôi một bồng đồ hộp Trung Cộng: có bánh tây, thịt kho hộp, bột trứng gà. Hắn vừa kể quen miệng chửi thề:

– Đ M. xuống tới Bầu Trâm ổng nghe Pháo Bình Dương nện tởn quá nên liền thối lui, biểu tôi đưa ổng trở lên Bến Ông Cộ để theo đường 14 lộn trở về.

Tôi hỏi:

– Ông nào vậy?

– Ông Tướng chớ ông nào? Dân Bê Ka sao mà nhát quá !

Tôi biết ngay bảo.

– Ổng chỉ giỏi lý luận nên mới thủ cái Cục Chánh Trị R chứ ông đâu có gan đội bom đội pháo như mình.

– Mẹ bà, vậy mà tụi Sài gòn nói là giết được Trung tướng Trần Độ, thằng lính lấy được ba lô moi ra thấy lon vàng nghệ tưởng là lon Trung tướng, không dè đó là lon Trung tá của Năm Sài gòn tức Năm Truyện, Tư lịnh công trường 9 Mũi Nhọn.

Năm E cười hô hố:

– Vậy là Ngọc Hoàng gỉủ sổ hụt, chứ ôngTrần Độ mà dám băng qua đường số 8 thì đã phủi cẳng cùng theo Tư Nhút, Năm Sài gòn, cả đám Mũi Nhọn lúc vào đợt một rồi.

Sự tan rã của Trung đoàn Bắc kỳ xâm lược có tên Q16 đã nêu trên kia cũng không thể bỏ qua. Sau Mậu Thân, chỉ còn vài chục mạng, Quân khu không có lính mới bổ sung nên trả về R không đủ cho bà chị nuôi nấu nồi xúp.

Còn đám cán bộ cá kèo, huyện đội xã đội không thể nào nhớ hết, nói chi đến du kích con. Một Sơn, anh vợ Tám Giò, và Tám Giò huyện đội trưởng đều chết. Một Sơn, bí thư quận bị đánh tung hầm năm 67. Tám Giò bị ăn pháo tại Bàu Trâu năm 68, một tay sợ pháo kinh hoàng, rốt cuộc chết vì pháo. Bảy Đạo, Tham mưu trưởng Quận đội bị đổ chụp moi hầm bắt sống tại Sa Nhỏ năm 1968. Ba Luân, bí thư quận ủy Nam Chi (Củ Chi bị Đồng Dù cắt đôi thành hai mảnh Nam Chi và Bắc Chi) bị pháo cho đi tàu lặn năm 68 tại Phú Hòa Đông. Cũng cùng năm này Hai Mỏ bị pháo cho leo thang mây tại Đồng Lớn (chỗ Hai Khởi gặp cô em Út Hương).

Kế đó Út Thành quận đội trưởng Nam Chi bị Biệt kích bắn chết cùng một trận ruồng với Hai Thành chính trị viên kiêm quận đội phó. Chỉ vài tuần sau Năm E bị Giang thuyền cho mò tôm càng xanh hiện đại trên sông Sài gòn gần An Thành năm 67. Trên xuồng đuôi tôm qui địa phủ còn có mặt huyện ủy viên Nam Chi là Ba Lá. Ba ngày sau, Đào Hải dân Bắc kỳ xâm lược, tham mưu trướng quận đội, bị Biệt kích dàn chào ngay tại miệng hầm, rồi chỉ một tuần sau Ba Cà (có tật cà lăm) huyện ủy Nam Chi chết vì đụng biệt kích trên đường công tác ở Phú Hòa Đông. Đi theo Đào Hải còn có Thiếu tá Mười Thứ, dân Bê Ka chánh gốc, ở ngoài mới vào Củ Chi chưa tới một con trăng.

Bạn đọc hẳn còn nhớ cô Tư Bé cho Lôi cặp dừa xiêm thiệt lúc cô Ua chở Lôi về cơ quan Chín Lộc? Năm 68 quận đội chết hết, Bé lên làm huyện đội phó. Nào biết chiến thuật gì, lớ quớ như nai tơ bị Mỹ đổ chụp. Cô ta chạy lấy thân, bị bắn chết ở Đồng Lớn. Tội nghiệp, tuổi xuân hơ hớ chưa biết mùi đời mặn lạt ra sao. Cô Bảy Nê , một trong những dũng sĩ diệt Mỹ lên thay, chỉ vài tuần, bị phục kích trong ấp chiến lược Cây Bài, không lấy xác về được. Đứa em trai độc nhất buồn tình ôm nguyên quả mìn Claymore lên mây tìm chị.

Chín Khánh, quận đội phó Nam Chi phụ trách quân báo, bị đánh tung hầm năm 1969. Út Đức, tham mưu phó Bắc Chi bị khui hầm bắt sống ở Tân Thành Đông cuối 67.

Bảy Phúc, quân y sĩ bệnh xá Củ Chi bị pháo chơi trò cò ỉa miệng chai banh xác. Nhưng không rùng rợn bằng cả phòng tham mưu Quận bị xe tăng càn sập địa đạo chết ở trại Bà Huệ cuối năm 67. Đó là khúc địa đạo, mồ chôn hơn mười lăm người. Tác dụng độc nhất của địa đạo là làm huyệt mộ khỏi phải đào một nhát cuốc.

Trong bộ hồi ký này tôi có nêu lên một điểm và nhắc đi nhắc lại rằng: “Cái địa đạo Củ Chi dài hơn hai trăm miles, chung ngang đít và bao quanh cả Đồng Dù là không có ở thực địa, chỉ có ở trên đài Giải Phóng rồi đài Hà Nội phóng đại tô màu một trăm ngàn phần trăm.

Nêu bảng Phong Thần một cách cụ thể như trên là tôi muốn nhắc lại vấn đề: Cái địa đạo kia chỉ có vài trăm thước ở chỗ này, vài chục thước ở chỗ khác, không xài được. Có gan chui một lần, không dám chui lần thứ hai.

Nhà báo Bọ Chét đã về bên Tây nên Tư Linh và tôi không cần dàn cảnh địa đạo chiến nữa . Trong những chương sắp tới, bạn đọc sẽ còn dịp thấy nhiều cái chết còn rùng rợn hơn cái chết tập thể của phòng tham mưu quận kể trên.

Ngoài ra tôi còn muốn thưa với độc giả rằng trong năm năm chỉ huy Pháo binh lẫn Bộ binh quần thảo với Mỹ, không có hang cùng ngõ hẻm nào trên đất Củ Chi mà tôi không lội tới kể cả Trảng Bàng Bến Súc. Sau đây là tên của những xã đội mà tôi đã trực tiếp chỉ huy trong thời gian tôi làm quận đội trưởng (1967). Hầu hết đã chết được thay nhiều lần hoặc hồi chánh.

Thị đội (tức xã Tân An Hội):

Ba Cẩn, Tám Thiện.

Phú Mỹ Hưng:

Tư Thiên, Út Là

Anh Phú :

Hai Bội, Út Cương (hồi chánh)

Anh Nhơn Tây:

Ba Tâm, Ba Xây, Tám Lợi.

Nhuận Đức:

Hai Xóc, Năm Bướng.

Phú Hòa Đông:

Năm Dang, Ba Trăng, Tám Vọt.

Trung An:

Tám Thùng, Tư Bương.

Tân Thành Đông:

(quên).

Trung Lập:

Hai Đời, Út Xiêng (nữ), Út Chạy.

Phước Thành:

Hai Minh, Hai Hùng, Hai Đen,Năm Minh.

Thái Mỹ:

Hai Bình, Sáu Thinh.

Phước Hiệp:

Bảy Điếc, Hai Khứ, Năm Rổ.

Phước Vinh Ninh:

Bảy Thung.

Tân Thông Hội và Tân Phú Trung:

Hai Lùn.

Lúc đó tôi còn kiêm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Thép Củ Chi và là huyện ủy viên nữa. Như vậy tất cả xã đội đều phải báo cáo cho tôi các địa đạo trong xã để lúc cần tôi sử dụng cho Tiểu đoàn, hơn nữa tôi có quyền chỉ thị cho họ đào ở đâu lấp địa đạo nào, cho đường nào thông vào đường nào. Trong năm năm ở Củ Chi, trong vị trí chỉ huy tối cao của quận, có thể nói là tôi biết tất cả địa đạo và nhân sự từng tổ du kích một.

Sau Tết Mậu Thân, bộ đội tập trung bị tiêu hao phân nửa lực lượng, có đơn vị mất tên vì không đủ tân binh bố sung, tôi đã cho vét tất cả các đội du kích dồn vào lỗ hổng của Tiểu đoàn Thép. Từ năm 1965-67 trở đi, vì nạn B52 và xe tăng, du kích không dám chui địa đạo.

Suốt năm năm ròng, tôi cực chẳng đã phải sử dụng địa đạo một lần và bị chết ngộp. Như vậy tôi khẳng định rằng không có cái địa đạo hai trăm miles mị thuật đó. Cái địa đạo mà quan khách ngoại quốc tới xem như một kỳ quan hiện nay là một sản phẩm kinh hoàng của bộ óc Đảng bịp, không phải đào bằng máy… mà bằng hai hàm răng của anh du kích cụt cả hai tay hai chân Lê Thanh Vân. Láo vừa thôi bây! ! Đảng Cộng Sản bọn chúng sống vì nói láo mà chết cũng vì nói láo, sống để làm bậy và chết cũng vì làm bậy…

Bạn đọc thân mến,

Có lẽ bạn đọc sốt ruột vì đã đọc trên một ngàn trang Củ Chi mà chưa thấy “Cái hệ thống địa đạo thôn liên thôn xã liền xã” ở đâu hết ráo. Như chúng tôi đã thưa từ đầu, rằng cái địa đạo đó chỉ có trên đài Giải Phóng, đài phát thanh Hà Nội và mồm mép của cái đám gọi là bộ Chính trị Việt Cộng ở Hà Nội chứ làm gì có ở Củ Chi. Ngay cả cái tên Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã mò vô tới Bến Súc mà lại chết vì bom thì thử hỏi sao chúng không đem “giú’ hắn xuống địa đạo cho chắc ăn ?

Từ chương này về sau, bạn sẽ thấy cái địa đạo “thôn liền. . . “ đó .

Chương 60

Pháo tép của ta và pháo bầy của Mỹ

Khi hai cánh quân xuất phát thì tôi cũng bí mật kéo Bộ chỉ huy tiền phương của tôi đặt tại nhà của cô Chia tại Bàu Chứa. Đây là trung tâm điểm đường chim của Đồng Dù và Trung Hòa. Dời ra đây tuy có gần tuyến lửa hơn nhưng tôi nhận định rằng sau khi chúng tôi nổ súng thì Đồng Dù lẫn Trung Hòa sẽ bắn nát vùng tam giác sắt trại Bà Huệ (căn cứ của Năm Lê), Bến Mương (căn cứ của tôi) và Xóm Bưng (ổ chuột của huyện ủy). Trong cái tam giác này có cái Gót Chàng là tư dinh của nữ hoàng dũng sĩ Bảy Mô vang danh khắp Miền Nam vì thành tích diệt Mỹ mà các anh hùng hào kiệt từ trẻ tới già, từ tỉnh lên R, từ R xuống ấp đều đến để chiêm ngưỡng dung nhan, thập thò gởi vài dòng thương mến, một nơi thị tứ không kém cái chợ An Nhơn cách đó không xa.

Ngoài ra còn có cái Rạch Bến Mương mà máy bay Skyhawk Mỹ chụp hình vừa rồi. Hơn nữa còn có căn cứ của ông Huyện đội trường Tám Giò, ông Tham mưu trưởng Huyện đội Hai Khởi, thì pháo và máy bay Mỹ đâu dễ dung tha.

Cái quán hàng cô bạn Chia và nhà của Ngoại bây giờ chỉ còn là hai mô đất, tức là hai cái hầm mà bọn Chín Lộc đóng cơ quan quân báo khu, nơi tôi từ khu về gặp mối tình của hai nàng Kiều cách đây ít lâu.

Tụi thằng Năm Cội và đám lính vịt xiêm bị xe tăng và bộ binh Mỹ càn, chạy xuống Phú Hòa Đồng gặp tôi khóc hu hu và đòi trả chức anh hùng mấy hôm trước. Nhân dịp này tôi phân công cho nó đi theo cánh A để rửa thù.

(Than ôi! Thù không rửa được mà sau đó lại bị xe tăng càn bắn chết ở Bào Cạp trên đất quê hương của mình. Xong đời một anh hùng rơm uổng công cha mẹ nuôi.)

Chỉ huy sở của ông Tư lịnh pháo gồm có: ông Tư lệnh, Ba Tố cán bộ tham mưu, thằng Đỏ liên lạc, thằng Bọ Ngựa liên lạc, cô nữ du kích Tư Lan được ông Tư lịnh đề bạt ngang xương làm y tá và nấu bếp. Ngoài ra còn có Hai Kim cán bộ thông tin xử dụng máy bộ đàm (tức là máy lô-phôn không có dây Việt Cộng xin của Liên Xô hay Trung Quốc gì đó được chục rưởi cái, đem vô đây còn xài được và i ba cáo, ở trên đặc ân cho Thiên Lôi xài thí nghiệm).

Tôi bảo tất cả dọn dẹp căn hầm của Chia, còn tôi và Ba Tố vác chiếc cuốc cùn đến vun thêm ngôi mộ của Ngoại và của Tư Minh. Hôm nọ tạt sang đây để gặp Chia, nhưng lại đụng nhằm hai cái xác. Vì quá gấp rút, chúng tôi chôn vội. Bây giờ trở lại đây, thấy mình có lỗi. .

Trời chiều ảm đạm cỏ cây xơ xác. Xóm làng vắng ngắt vắng teo. Một người tuổi tác chết, chôn như vậy sao? Nếu là Ngoại của tôi?… Tôi bảo Ba Tố:

– Phải có vắt cơm, chong đèn, mấy cây nhang mới trọn lễ

– Nhưng ở đây đâu còn nhà ai? Quán tiệm càng không có, thầy à .

– Biểu con Lan nấu cơm vắt sáu vắt đem lại đặt ở đầu mỗi nấm mã ba vắt.

– Dạ , thầy để đó tôi lo. Còn thầy tính chuyện pháo kích đi . Máy bộ đàm có hoạt động thì mình mới liên lạc được với hai cánh Trung Hòa và Đồng Dù.

Hai thằng đào đất đắp mộ cho Ngoại và cho đồng đội mà nước mắt ròng ròng. Tôi nghĩ rồi đây thì tới phiên mình thôi. Mà có thể là ngày mai chớ không lâu la gì.

Chúng tôi trở lại hầm chỉ huy đã được dọn dẹp. Tôi đã từng sống ở đây, nhưng bây giờ tưởng một nơi nào khác. Tất cả của cải, hàng hóa, như Năm Cội thuật lại cho tôi nghe, thì hai mẹ con đã chất gọn lên một xe bò và thẳng xông ấp chiến lược Cây Bài. Chỉ còn một vật còn nguyên: đó là cây xoài ở sau nhà. Nhưng thân nó cũng mang nhiều vết tét lòi xương máu mủ chảy ròng ròng tới nay chưa đứt. Tàu lá xanh bị cháy xém một bên.

Ba Tố không vô hầm với tôi mà ra ngoài gốc xoài la hét với thằng Bọ Ngựa đang ở trên ngọn. Bọ Ngựa là con của Tám Đột công an xã An Nhơn, nhỏ con, nhỏ tuổi hơn thằng Đỏ nhưng chạy nhanh trèo giỏi hơn thằng Đỏ. Do đó anh chị em trong cơ quan tặng cho nó cái tên Bọ Ngựa, lấy từ cái tên Súng Ngựa Trời.

– Canh cho kỹ nghe. Hễ có máy bay tới thì phải báo động liền. Đừng có ngủ gục trên đó. Có thấy gì không?

– Dạ em thấy Rạch Bắp. Thấy quán bà Sáu Tỉnh ở Bến Dược nữa !

– Có thấy chuồng cu của bót Trung Hòa không?

– Khuất Ba Sòng không thấy được. Chỉ thấy Sa Nhỏ. Thấy nhà Tám Thung ở lộ 6, thấy lộ 7. Thấy sông Sài gòn nước trắng xóa hà.

– Có thấy mấy con bù nhìn ngoài phía đồng mã không?

– Dạ thấy.

– Mày phất cờ đỏ ra lệnh cho du kích giật cho nó nhúc nhích thử coi. Phất đi!

– Dạ phất rồi!

– Bù nhìn có nhúc nhích không?

– Dạ không.

– Vậy thì tiểu yêu đó ôm nhau ngủ trong rừng, không thi hành mệnh lệnh gì hết. Rủi trực thăng xuống ai điều khiển đám bù nhìn kia để nhử cho chúng bắn?

Bỗng nghe cụp cụp… cụp. Thằng Bọ Ngựa la lên:

– Pháo mình nện rồi!

Ba Tố kêu:

– Thầy Hai ơi! Ra đây nghe.

Tôi vọt ra khỏi hầm. Lại… cụp cụp. Tôi quát:

– Pháo Đồng Dù ! Chui vô ngay !Đi xuống, Bọ !

Nhưng Bọ Ngựa vẫn ở trên ngọn cây:

– Khói lên quá tay cậu Hai ơi !

Tôi ở trong hầm ló cổ ra quát, rồi bảo Ba Tố quét đèn pin kêu nó xuống. Tôi biết đó không phải là pháo ta mà là của Mỹ. Nó không biết phân biệt tiếng đề-pa cho nên tếu mà la bài hải trên ngọn xoài. Mãi đến lúc một quả rơi gần thằng nhỏ mới tuột bạt mạng và còn chừng ba bốn thước thì buông tay chạy bò càn lủi vô hầm. Ba Tố bốp tai nhẹ, bảo:

– Chết tía mày chưa.

Thằng Bọ Ngựa cười và xuýt xoa sờ cái đầu gối:

– Cháu tưởng pháo của anh Chi anh Mười chớ !

– Bộ tụi nó có cánh sao bay tới ngoài mau vậy?

Toán nhân viên nhường cho tôi và Ba Tố cái giường lớn ở giữa hầm. Hai Kim thủ máy bộ đàm thì nằm ở cái ngách sát bên tôi, còn bao nhiêu thì chen chúc ở các ngách khác hoặc trải ny-lông nằm dưới đất. Toàn thể chỉ huy sở đều ở trong hầm. Tôi bảo Ba Tố:

– Mình chuẩn bị như vậy là chu đáo quá rồi. Nhưng chiến trường chuyển động có bao giờ theo kế hoạch của mình.

– Thầy có phương án nào nữa không?

-Muốn đề ra phương án phải có phương tiện cậu à ! Mình không có gì hết làm sao có phương án khác. Tôi chỉ mong chuyển quân tới điểm đã định trước thôi. Được như thế thì mình cũng đã đạt được 50% kế hoạch rồi.

Tụi Cộng sản thường rí rố nào là Quan điểm nhân dân nào là dân vận, nào là ba cùng, nhưng chẳng có cái nào thi hành được ở Củ Chi này cả. Quan điểm nhân dân của chúng là dỡ nhà dân làm hầm, làm củi, bẻ dừa bẻ cau, hái quít hái cam. Đi đến đâu dân chạy tét đến đó không dám quay mặt lại. Còn ba cùng ôi chao, cái chánh sách ăn mót của Tàu đem về xài trong Cải Cách Ruộng Đất Miền Bắc đã đem lại một hậu quả vô cùng hài hước là một lũ cán con vô thừa nhận rải rác khắp nông thôn mà dân Miền Nam chúng tôi nói lén, chẳng biết họ gì, nên cho chúng cái họ Hồ.

Mỹ không tuyên truyền quan điểm quan điếc gì cả, chúng cứ phát tôn, gạo, thuốc men, quần áo cho dân trong các ấp chiến lược, không cần một tiếng cám ơn. Chúng không bảo dân làm gián điệp, lấy tin kiểu bọn Chín Lộc dùng gia đình bà Ngoại, mà tự nhiên dân trong ấp chiến lược thấy Việt Cộng lọ mọ tới là đánh mỏ chổi trời. Tôi sợ kế hoạch chuyển pháo bị mắt khóm của dân trông thấy. Hễ họ thấy là bể.

Trước ngày tôi về, Ba Châm, người gốc Rau mới vô chân ướt chân ráo muốn làm một cú để lấy danh. Nhưng tội nghiệp, y đã già lại không thuộc đường đất, không hiểu nhân tâm, thế mà dám dắt Tiểu đoàn vào ấp chiến lược Cây Trâm để võ trang tuyên truyền. Vừa múm vô rào thì đạp mìn. Nên nhớ mìn Claymore Mỹ thì không bao giờ gài một quả mà là một bãi liên hoàn. Hễ nổ một trái là nổ cả dây. Đó là trường hợp cả Bộ Tư lệnh Quân khu IV và đoàn tùy tùng gần ba chục mạng tan xác sau Mậu Thân. (xin kể ở chương tới). Ông tiểu đoàn trưởng Châm thoát (nhưng chết ở một trường hợp lãng nhách sau đó). Đội xích hầu chết gần hết. Nhân dân tự vệ bắn báo động. Trực thăng Đồng Dù cất cánh bao vây. Lính trong các tháp canh của ấp chiến lược cứ bắn vét hai bên vệ đường. Quân ta bỏ xác sáu mạng và khiêng về được chín chiếc băng ca. Từ đó ông Tiểu đoàn trưởng cứ dắt Tiểu đoàn hành quân từ Phú Hòa Đông lên Bàu Lách, rồi từ Bàu Lách xuống Phú Hòa Đông, suốt cả năm trời không đánh trận nào. Cho đến hôm nay thì hắn được giao cho án ngữ chặn lính Đồng Dù và Trung Hòa bọc hậu các khẩu đội pháo nhà.

Mãi đến chín giờ tối, cô Tư Lan mới dọn cơm chiều. Tôi cầm đủa lua sơ vài chén rồi ra ngoài hầm ngồi hút thuốc với Ba Tố.

– Thầy liệu bây giờ có cánh nào tới nơi chưa?

– Có thì cánh B tới Gò Nổi. Vì đường đi dễ dàng hơn. Còn cánh A nếu không gặp trở ngại ra tới Bàu Cạp thì ít lắm cũng mười một giờ.

Ba Tố không muốn tôi ngồi ở ngoài hầm lâu, nhưng tôi cứ lần lựa không chịu vô . Thực ra tôi sợ vào hầm, nhất là nằm trên chiếc giường mà trên đó đã từng ghi biết bao nhiêu kỷ niệm yêu đương. Tôi không muốn nhìn lại chiếc giường còn nguyên những thanh gỗ và những trụ giường thân yêu đối với tôi. Tôi nhớ lại những câu nói, tiếng cười, và những tiếng đặc biệt biểu lộ hạnh phúc của chúng tôi với nhau. Chiến tranh là kẻ thù của loài người. Không hiểu tại sao bọn Hà Nội cứ thích gây chiến tranh? Mãi về sau tôi mới tìm ra chân lý thật đơn giản nhưng vì mù quáng mà không thấy được Đó là trong những kẻ hi sinh không có đứa nào là con cháu của Bộ Chính trí, của Ban Chấp hành Trung ương đảng, của các ông bà Bộ trưởng Thứ trường cả. Kêu gọi hi sinh dễ hơn hi sinh. Con cháu của các ông các bà đều bị đưa đi giải phóng miền Nam bên Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc v .v… Ở miền Bắc, trong một buổi nhậu, một thằng bạn tôi đã phát ngôn vô kỷ luật như sau:

– Bây giờ muốn giải phóng miền Nam sớm thì cứ túm hết vợ con của tụi thằng Duẫn, thằng Đồng, thằng Chinh ném vô miền Nam là chúng hoảng vía ngay. Còn bây giờ vợ con chúng ở ngoài này, ai chết mà chúng nó lo?

Thực là cụ thể . Tập kết, chúng đâu có phải khóc giọt nước mắt nào. Ngược lại chúng được villa, volga và phiếu bơ sữa. Rồi đến Trường Sơn “vinh quang” bần cố nông đi chớ con cháu chúng đâu thèm vào. Rồi bây giờ ở chiến trường miền Nam bom đạn tơi bời đâu có đám con ông cháu cha ló mặt vô. Dân miền Nam chịu cảnh bất hạnh từ kháng chiến chống Pháp tới bây giờ chỉ nhận được những tiếng khen dỏm: Thành Đồng thành đất, Đi trước về sau…

Đám con nít thì thằng Đỏ, thằng Bọ Ngựa phải xông pha bom đạn, đám trẻ như con Rớt, con Hoàn, con Lượm mồ côi là kết quả của tình thương bác Hồ vĩ đại.

Bất thình lình Ba Tố nói.

– Tôi ớn nhất là tụi thằng Lệnh và thằng Rắc!

Câu nói như cây que chọc trúng tim tôi. Nhưng tôi làm thinh. Chuyện gì xảy ra trong này ở ngoài Trung Hòa và Đồng Dù đều biết hết. Hai tên biệt kích chúa là thằng Rắc và thằng Lệnh vốn là du kích, bây giờ là hai tên vô cùng nguy hiểm. Đến hôm nay sau khi tìm hiểu thì tôi có thể kết luận rằng chính chúng giết Ngoại và Tư Minh. Sáng nào chúng cũng đón đàn bà đi chợ trêu tức chúng tôi:

– Ê tụi thằng Một Sơn và Tám Giò còn gạo ăn hết, mấy bà bảo tụi nó ra đây tôi cho vài bao.

Hoặc:

– Mấy con lủng xỉn 1.. . có giỏi ra đây cho Mỹ đen nó bắn tỉa cho mà tét 1… !

Vừa rồi thằng Lệnh bị thương ở Ràng. Nó điều tra, .nó biết ai chỉ huy cú đánh đó, nên nó treo giải mười ngàn đồng cái đầu thằng trưởng ban H6. Có lẽ cái đầu… khó xực nên
còn ế tới hôm nay. Tôi đang nằm, thì Hai Kim kêu lên:

– Ở ngoài Đồng Dù gọi về anh Hai !

Rồi trao máy cho tôi. Tôi cầm lấy đưa lên tai và hỏi:

– Đại Bàng hả?… Hà Nội đây. Thế nào, đặt xong chưa? Đạn có chuyển tới đủ không? Trời sắp mưa, che kỹ ! Tốt lắm. Cố gắng bắn cho trúng mục tiêu… Hả… Miễng rơi vào trong vòng rào thôi. Chuẩn bị đi. Tôi cho cánh B rồ trước để coi Đồng Dù phản ứng ra sao, rồi sau đó cậu mới cho nổ.

Tôi trả máy cho Kim và nói với Ba Tố:

– Vậy là cánh Đồng Dù đã bố trí ở Bào Cạp, còn vị trí Phú Hiệp nữa mới xong. – Rồi quay sang Kim ~ Cậu bắt liên lạc với cánh B cho tôi.

Tôi hỏi Ba Tố:

– Cậu biết mình tung bao nhiêu quân đánh Điện Biên không?

– Bao nhiêu thầy?

– Bốn chục ngàn. Trong đó có hai sư đoàn chủ lực mạnh nhất miền Bắc là F304 và F325.

– Rồi sao?

– Tớ nghe ông Năm Lê phụ nhỉ chớ đâu biết gì. Tớ nói cậu nghe, cậu giữ kín nghe ? Mình xài chiến thuật biển người theo sách cụ Mao. Nhưng bây giờ thì khác. Mỹ nó không đối phó bằng bộ binh. 90% thương binh của mình là do pháo và B52.

– Thầy thấy tụi Đồng Dù thế nào?

Tôi làm thinh. Tôi không muốn nói về sự hùng mạnh của kẻ địch trong lúc này. Hai Kim đã bắt liên lạc với cánh B do Năm Chi chỉ huy. Chi còn trẻ, học sinh miền Nam, cấp bực thiếu úy pháo binh gốc Bến Tre. Định xong trận này đề bạt nó lên trung úy và làm đám cưới cho nó . Vì nó quá trẻ so với các sĩ quan trong đơn vị, nên tôi vẫn quen miệng gọi Chi bằng thằng. Tôi nói với nó trong máy bộ đàm:

– Xong rồi hả… Tốt lắm… Tôi rất tin tưởng ở cậu. Đúng giờ thì cho nổ. Không phải đợi lệnh tôi nữa. Liên lạc rất khó khăn. Cậu nổ xong, cánh A mới nổ… Xong trận này ghé lại nhà má Hai, tao ra chủ hôn cho đám tuyên bố của mày… Còn tao hả?… Chưa biết được… (chúng tôi cười vang trong máy)

Bỗng làn điện bị cắt ngang. Tôi đưa máy cho Kim. Kim điều chỉnh một chốc rồi trao cho tôi.

– Bắt được rồi ! Thủ trưởng !

Tôi cầm lấy máy quát:

– Hà Nội đây! Hà Nội đây. Đại Bàng đó hả? – Cụp cụp… . – Nổ tiếp cho hết đạn…

Làn điện bị cắt ngang. Tôi ném cái ống cho Kim.

– Mẹ tổ, nổ rồi!

Hai Kim lui cui sửa rồi đưa tôi:

– Đồng Dù còn liên lạc được, thủ trưởng.

Tôi lại cầm lấy hét:

– Cửu Long hả ? Hà Nội đây ! Phóng cho hết 100 quả . . .Hả . . . Chưa phản công à ? Cứ bắn !

Tôi nghe trong máy “oàng, oàng muốn vỡ cả màn tai. Đồng Dù đã bắn trả. Liên lạc lại bị cắt. Tôi đưa ống nghe cho Ba Tố:

– Ông nghe đi. Tôi chẳng còn phân biệt gì nữa ! Ở ngoài đó tha hồ chúng nó tự động chớ mình có chỉ huy được cái gì !

Nhân viên trong hầm ngồi bật dậy vỗ tay reo. Thằng Bọ Ngựa và thằng Đỏ chui ra khỏi hầm, rồi thụt trở vô, quần áo ướt mèm. Trời mưa. Thảo nào khó bắt liên lạc. Thằng Bọ ‘ Ngựa nôn nao muốn leo lên ngọn xoài để coi, nhưng Ba Tố cú đầu nó và quát:

– Mày vô kỷ luật tao trả về cho tía mày !

Tiếng pháo nổ như bắp rang ở cả hai phía Đồng Dù và Trung Hòa rồi tứ tung, tôi chẳng còn biết đâu là đâu nữa. Hồi lâu tôi mới hỏi Ba Tố:

– Hình như Trung Hòa tịt rồi phải không?

– Dạ , để lắng nghe một chút coi, thầy.

– Nó có bốn khẩu 105 ký quay họng bốn hướng. Nếu mình bắn hỏng khẩu này cũng còn khẩu kia chớ? Có lý nào mình diệt được cả bốn khẩu hay sao? Tôi không tin ở sự chính xác đến mức đó của pháo mình.

Ba Tố nhướng mắt:

– Dám lắm chớ thầy!

– Mình nghiên cứu trắc địa sơ sài quá, chỉ mong đạn nổ bên trong vòng rào thôi!

Tiếng cụp cụp đã chấm dứt. Chỉ còn tiếng oàng oàng. Có nghĩa là lính mình đang cuốn vó chạy, trốn, chôn lấp, rồi lủi. Tất cả những động tác này đều làm trong mưa và mưa pháo của Đồng Dù . Xưa nay khi voi gầm xong thì cứ đứng đó trong vòng bảo vệ của đàn em, chớ cái thân xác to sồ nặng nề của nó làm sao chạy nhanh được. Nhưng ở đây thì voi phải chạy mới mong sống sót. Với trận mưa pháo này chẳng biết sự hi sinh sẽ tới đâu? Quả thật, chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang. Đánh được người rồi thì mặt vàng như nghệ .

Tôi ngồi trong hầm nghe pháo Đồng Dù nổ rồi pháo Bến Cát, Trảng Bàng, Chà Rầy đáp ứng họa điệu. Bào Cạp, Xóm Mới, Ba Xa, Bầu Điều, Gia Bẹ , và dọc theo đường Một Làng, đồn điền Balancie, Phú Hiệp v.v… Chỗ nào mình liếc thấy tốt để đóng quân, đặt pháo, nó đều biết, đều bắn. Một lần du kích bắt được một bản đồ của chúng đánh rơi đưa cho tôi. Tôi biết ngay đó là bản đồ pháo binh. Trong những ô vuông còn chi tiết hóa ra đồng ruộng, đồn điền cao su, rừng già, rừng chồi, con rạch nhỏ nhất, một khóm đất hoang như những vùng Đồng Mả, hoang tàn như Ngã Ba Cây Điệp, chợ An Nhơn cũng không sót. Pháo của chúng là pháo đặt cố định trên nền xi măng với phương tiện đo đạc, bảo trì tuyệt hảo, đạn dược được cất trong kho có máy điều chỉnh độ lạnh độ nóng. Cho nên, chúng có thể bắn trúng bất cứ điểm nào chúng muốn, không sai một ly. Về cái nghiệp pháo thì phải nói đến khoa học tối đa, không thể xài quyết tâm thừa thắng xông lên mà được Nhưng quân ta thì bất chấp khoa học, cứ việc vác cái cục quyết tâm của cấp trên ra mà xài như một bửu bối tất thắng. Tội nghiệp cho chiến sĩ của tôi, giờ này đang chạy trong rừng lửa đạn để rút lui an toàn. Kim vừa sửa được máy đưa cho tôi. Tôi chuyền cho Ba Tố và bảo:

– Ông kêu tụi nó rút lẹ đi!

Ba Tố chụp lấy ống nghe:

– Allô! Allô! Đại Bàng! Đại Bàng!

– Có không?

– Dạ ở cánh A không thấy đáp.

Tôi nghĩ thầm đã rút hay bị diệt hết? Ba Tố quát muốn vỡ nấp hầm.

– Allô! Cửu Long! Cửu Long! Hà Nội đây… Xung phong ! Xung phong !

Tôi hét Ba Tố:

– Sao ông bảo nó xung phong? Bộ điên hả?

– Dạ , mật hiệu của mình xung phong là rút lui.

Tôi ngồi nhếch xuống ghế, rọi đèn lên bản đồ dò xem con đường rút lui mà tôi đã vẽ . Nhưng cũng tùy tình thế. Nếu bị bắn chận thì phải rút đường khác. Những chấm nhỏ li ti, những làn bút chì xanh đỏ lẫn những nét in chằng chịt nhau, ngày thường mắt tôi nhận rõ tất cả, nhưng bữa nay lại không thấy gì tất cả Mọi đường nét đều di động .xáo trộn như một bầy kiến vỡ tổ còn đôi mắt tôi thì như có một làn khói che.

– Bây giờ tụi nó rút tới đâu rồi cậu?

– Các khẩu ở mặt trận A thì chắc về tới Đồn điền cao su Bà Hộ, còn mặt trận B thì về tới Ngã Ba Sòng.

– Trung Hòa vẫn im à?

– Chắc nó tịt rồi thủ trưởng.

– Mẹ, sao Đồng Dù giã dai thế!

– Thì mình chọc vô ổ kiến lửa mà thủ trưởng. Nó phải bu mình chớ sao.

– Ít nhất 1000 trái – Tôi lằm bằm rồi móc thuốc hút để tự trấn tỉnh – Không có máy bay à?

– Dạ, chắc chắn tụi cá nhái sẽ tới.

Tôi quên hẳn cái thằng tư lệnh trong tôi mà cứ hỏi Ba Tố mọi chuyện.

– Sao tụi nó phản ứng chậm thế?

– Chắc bị mình chơi sứt cánh quạt phải kêu tụi Sài gòn nên hơi lâu.

– Thứ này đuổi theo đường rút lui của mình thì mệt lắm.

– Xã đội đã lo hầm hố kỹ hết.

Nghe vun vút bên ngoài mà tưởng như thấy đạn đạo đan vào nhau thành lưới chụp trên đầu các chiến sĩ tôi càng lúc càng dày.

– Có thủ trưởng ở đây không?

Bất ngờ tôi nghe tiếng quen nên vọt ra liền, nhưng Ba Tố lôi tôi lại ấn tôi xuống ghế. Trời đã sáng hồi nào. Tôi đã qua một giấc mê lẫn mơ. Ba Tố thò đầu ra cửa hầm quát:

– Cận vệ đâu không canh gác gì hết vậy? Rủi biệt kích tới làm sao?

Ba Tố quên rằng chỉ huy sở chỉ có mấy ngoe làm gì có cận vệ .

– Tôi đây mà anh Ba. Đâu có biệt kích nào dám thọc vô tới đây?

Như lửa cháy trong lòng, tôi gạt phăng Ba Tố, chui ra ngoài. Một đoàn người lôi thôi lếch thếch, kẻ mang súng, người tay không, kẻ bịt khấc khăn rằn người lại đội mũ tai bèo, dẫn đầu là một anh chàng cao lớn, áo quần đen xốc xếch, mặt rỗ hoa mè. Tôi nhận ra Ba Đức, đại đội trướng Bộ Binh có nhiệm vụ án ngữ chận đường vào của lính Trung Hòa. Y có đến dự thính lớp pháo binh nhân dân của tôi.

– Tôi đây, Ba Đức! : Sao các cậu về, lỡ tụi nó đổ chụp pháo làm sao chạy?

– Thầy Hai khỏi lo. Tôi đã bố trí đánh máy bay, bộ binh cả rồi. .

– Kết quả thế nào?

– Đã lắm thầy ơi! Pháo mình bắn kỳ này coi mát mắt. Tụi Trung Hòa êm rơ không trả lời được tiếng nào!

Ba Đức vừa nói vừa nhào xuống hầm ôm tôi hôn lia lịa..

Ba Tố xen vào.

– Có chớ !

– Ừ phải ! Nó có làm được mấy phát. Nhưng mình nện tiếp. Tới bây giờ nó chưa bắn tiếp. thì chắc là câm luôn rồi.

– Chưa chắc!

Tôi đưa Đức vô trong ngồi vào bàn và tiếp.

– Nó chờ coi Đồng Dù bắn ở đâu rồi mới tiếp! Mình không nên chủ quan.

Hầm chật như nêm, người ướt như chuột, mạnh ai nấy hỏi, nấy nói nghe nực cả tai. Ba Đức vừa uống trà hồng hộc vừa kể tiếp:

– Tụi em về tới Xóm Trại Giàn Bầu dừng lại coi cho đã.

– Cánh nào bắn trước?

– Dạ, đầu tiên em nghe thì cánh đầu Đồng Lớn bắn trước Rồi tụi Trung Hòa phản pháo ở phía dưới Ba Sòng. Tôi nghe rõ chỉ có 4, 5 phát rồi câm luôn. Sau đó cối mình ở Ràng và Tầm Lanh nổ liên tục. Tôi thấy rõ ràng khói phủ bít cái chuồng cu Trung Hòa. Rồi cối mình ở Ba Sòng nện tiếp. Tôi nghe tiếng nổ lụp bụp liên tiếp ở Trung Hòa. Dám trúng kho đạn lắm. Một chập, khói tan, mưa tạnh tôi không còn thấy cái chuồng cu nữa.

Ba Tố hất hàm.

– Có thiệt không?

– Thiệt mà ! Mắt tôi nhìn nóc chuồng cu mấy năm nay như một cái gai xốn xang không gỡ được, nay nó bay đi, khỏe nhẹ quá chừng, lẽ nào nhìn không thiệt. Đồng bào ở Ba Sòng ra ngoài đường đứng coi vỗ tay quá sá ! Tiếp theo là trận địa Bàu Tròn bắn tiếp. Rồi đến cụm Bà Hộ thụt bồi ầm ầm cả 15 phút mà không thấy nó trả hỏa gì hết. Tiếng lụp bụp kéo dài chưa dứt. Tôi đoán chắc kho đạn nổ và trại lính cháy.

Ba Đức rốc một chén trà rồi chép miệng hả hê.

– Pháo của thủ trưởng chơi kỳ này trùm cả bộ binh tụi tôi rồi. Có đế không? Trà lạt quá không ấm bụng, thủ trưởng !

Thằng Mười trinh sát từ ngoài mặt trận cũng vừa về tới góp ý kiến xác định những lời Ba Đức kể là đúng, còn thêm:

– Đồng bào không còn đứng dưới đất như hồi nảy nữa mà leo lên ngọn cây coi cho rõ.

Một tiếng kêu thất thanh từ trên ngọn xoài vọng xuống.

– Cậu Hai!…

Ba Tố quát.

– Gì vậy Bọ Ngựa? Bộ kinh phong giật mày hả ?

– -Đầm già xuống!

– Phất cờ vàng cho mấy tổ du kích giật đám bù nhìn.

– Đầm già tới gần rồi.

– Phất cờ đỏ mau ! Rồi tuột xuống.

Thằng Bọ Ngựa la:

– Tôi phất muốn gãy tay mà mấy con bù nhìn đâu có nhúc nhích. Mấy ông mấy bả xà nẹo với nhau nên quên giật giây để nhử đầm già rồi.

– Mày tuột xuống mau !

Thằng Bọ Ngựa la lớn.

– Ủa, con đầm già ngoặc ngang băng qua đường 13 bay về phía Chơn Thành.

Ba Tố khoát ni-lông ra ngóng một hồi rồi trở vào xác nhận lời của Bọ Ngựa. Tôi bảo:

– Có lẽ mặt trận Phước Long hay Đồng Xoài nổ hút máy bay ra ngoải nên mình mới được yên. Nếu không thì nãy giờ ít nhất cũng có vài lượt dưa tạ rơi xuống đầu. Kìa sao con mắt tôi cứ giật giật hoài!

Tôi vừa nói vừa vuốt mí mắt. Ba Tố cười:

– Thầy mà cũng tin dị đoan nữa à?

– Tôi nghe trong bụng không yên ổn. Mọi khi súng nổ tôi đâu có như thế này. Nó hồi hộp, trái tim rung rung muốn sứt cuống.

Ba Đức chào tôi với tác phong chính qui rồi dắt đám bộ binh của y đi. Ba Tố tựa đầu vào vách hầm và nói:

– Đất rung dữ lắm thầy! Mình ở xa không nghe tiếng động, nhưng sức chấn động rõ lắm.

Tôi không nói, cũng không tính toán gì hết. Trong phút này không thể làm được gì hết. Chỉ huy sở và tiền phương không liên lạc được với nhau thì biết tình hình ta và địch như thế nào mà hạ lệnh? Tôi vụt nghĩ tới ông già vợ của xã đội trướng Ba Tâm . Ổng mất trâu, có thể bất mãn vô báo bót Trung Hòa. Nó không thèm giã pháo mà đem bộ binh chặn hậu mình không còn đường rút. Làm chỉ huy mà cứ nghĩ tới chiến thắng, không tính đường rút lui hoặc đặt ra những tồi tệ nhất có thể xảy đến, thì chỉ có Hoàng Thọ thời chống Pháp thôi . Hoàng Thọ đã chiến thắng nhiều trận làm cho Pháp kinh hoàng, còn bây giờ với Mỹ, nếu không bị Lê Duẫn gạt, giết ở Cạnh Đền thì Hoàng Thọ không thể đụng Mỹ ba trận. Chỉ đến trận thứ hai là bỏ mạng rồi. Tình cá nước bây giờ khác xa thời đó. Nhân dân đang làm ăn yên ổn, bỗng đâu Giải phóng về quậy lên đục nước, cho nên cá cũng ngất ngư. Nước cũng không ưa cá. Ba Tố cười hì hì:

– Thằng lính nào ngồi trên chuồng cu nghe vọng cổ Sài gòn buổi sáng chắc không còn miếng thịt.

Cô Tư Lan, y tế kiêm liên lạc lẫn chị nuôi của cơ quan, ở sau ló đầu vô, hồ hỡi:

– Anh Hai anh Ba có ăn khô mực không, em nướng cho. Trời tạnh mưa, em ra ngoài nhúm lửa được rồi.

Ba Tố cười ngất:

– Khô mực của em hả ?

– Chớ còn của ai nữa! Anh Ba hỏi lạ không?

– Khô mực của em ăn vô mất đầu thai!

– Nói bậy không hè ! Đây là của con Minh, con chệt Tư ở ngoài chợ An Nhơn.

– Của em Mình hay em nào cũng vậy thôi !

Tôi gạt ngang:

– Nướng thì nướng đem lên mau mau kẻo nó đổ chụp mất ăn. Ở đó mà trả treo.

Ba Tố coi đồng hồ rồi bảo.

– Nấu cơm ăn luôn thể. Trưa rồi. Tụi nó ăn rượu bít-tết, mình làm bậy ba cái mắm kho và khô mực.

Bỗng tiếng thằng Bọ Ngựa vang lên từ ngoài miệng hầm. Nãy giờ nó ở ngoài canh gác chớ không leo lên cây, cũng không chịu vô hầm.

– Có trinh sát mình về nề cậu Hai.

Tôi bật dậy tuôn ra hầm.

– Ai đó ?

– Út Đỏ, Sáu Đức (không phải Ba Đức), trung đội phó trinh sát của tôi. Đức ngoẹo cổ mếu máo:

– Thằng Chi chết rồ i . Hu hu . . . hít hít . . . Em về báo cho anh hay để anh ra thấy mặt nó.

Tôi kêu lên, nghe như ai bắn trúng tim mình.

– Trời đất ơi !

Ba Tố hớt hải thò đầu ra cửa hầm.

– Sao vậy? Chết ở đâu? ở gốc cây xoài hả?

Đức quẹt nước mắt lẩn nước mưa.

– Dạ không! Khẩu đội ở gốc cây xoài do tôi và thằng Thành giữ, còn thằng Chi với anh Đành thủ khẩu 81 ở vườn cao su con. Chiều hôm qua khi tải đạn tới, ông Năm Tiều (Phó ban tác huấn khu) có đến kiểm tra. Khi ông Năm đi, thằng Chi lại tự động thay đổi sự bố trí của anh. Nó sang khẩu đội ở cây xoài và bảo Thành sang chỉ huy khẩu ở vườn cao su con.

– Sao vậy?

– Dạ, ảnh nói ở gốc cây xoài gần Trung Hòa hơn. Ảnh muốn tự tay bắn chúng nó. Mình nổ phát đầu tụi nó trả hỏa ngay. Chi vận động đưa khẩu pháo sang vị trí khác. Chính trái pháo đó đã trúng nó.

– Nó bị thương ở đâu?

– Ngay sau ót. Nó đang chạy, bị miểng đạn phang té sấp.

– Nó có trối gì không? Có nhắn lại gì không?

– Dạ, nó bảo anh Đành ráng bắn cho hết 30 trái đạn..

– Nó không nhắn nhủ gì về gia đình à?

– Dạ không. ảnh bị đạn, ngã xuống chỉ nói được câu đó .

– Không nhắn con Chạnh nữa à?

– Chỉ nói có một câu đó thôi. Rồi không nói được nữa.

– Bây giờ nó nằm ở đâu?

– Tụi em đưa về tới Ngã ba Ba Sòng để ở nhà má Hai.

– Còn cậu nào bị thương nữa không?

– Xã đội trường Ba Tâm, anh Đành và vài cậu du kích…

– Nặng không?

– Dạ chỉ anh Đánh và Ba Tâm nặng còn mấy người kia chỉ trầy da. Còn ở cánh cao su con nghe nói có mấy người bị thương và vài người chết mà em chưa rõ là ai. Em định cho khiêng Chi thẳng về Bến Mương nhưng bà già chị Chạnh bảo để ngoài đó cho hội mẹ lo.

Ba Tố chép miệng:

– Thằng nhỏ sắp làm rễ má Hai. Sau trận này đám cưới, mà không kịp!

Thằng Bọ Ngựa hét vang từ trên ngọn cây.

– Máy bay đi Chơn Thành dìa!

Ba Tố chạy ra quát vọng lên:

– Quất cờ đỏ cho du kích giật mấy con bù nhìn nhử nó. Đừng cho nó đâm xuống đây.

Bỗng Kim đưa ống nghe cho tôi. Tôi quát:

– Cửu Long ! Cửu Long . Nghe ! Trả lời . . . Hả hả . . . Cá i gì . Rớt cái gì? Máy bay? Tụi bây bắn rớt máy bay. Máy bay gì?. .Hả .. . B26?… Trời đất, nói rõ lại coi ? B26. Rớt… Cá lẹp ở Đồng Dù lên hả? Nó lượn quanh xác con diều hâu sẽ phóng pháo để hủy diệt. Tụi bây im đừng bắn nữa lộ mục tiêu, nó bắn chạy không thoát.

Trong máy vang lên tiếng của Đồng Đen, đại đội trưởng phòng không, báo về cho tôi, xen lẫn tiếng súng:

– Cá lẹp lên dắt theo hai con HU. Nó bắn điểm ở cách xa tụi tôi. B26 rớt tại Đồng Chà Dơ. Cá lẹp đang ở ngoài tầm súng. Hễ nó vô tới là tôi mần. Trời mưa mù mịt khó thấy xa. Nó phóng pháo vào xác B26. Mấy toán du kích xung phong không biết có lấy được súng không.

Tôi quát.

– Xung phong ! Xung phong mau ! Nghe rõ chưa ? Xung phong !

Nhưng trong máy vẫn oang oang:

– Tụi tôi bắn hai con cá lẹp. Chúng đảo ra xa, dông qua Bến Đồng Sõi phóng hỏa tiễn vào trận địa của Sáu Lúc. Một chiếc Cá Nốc bay tới, tụi tôi bắn, nó lồng lên không dám hạ thấp. Nó bay nhanh quá. Trời mưa to không thấy gì hết. Tụi du kích chạy ra xác B26. Tôi không cho, tụi nó cứ nhào tới..

– Xung phong ! Xung phong !

Tôi quát muốn vỡ máy nhưng ngoài đó không thi hành cứ báo cáo dai nhách:

– Một chiếc gì mình trắng như nhôm bay đứng sửng trên đầu tụi tôi Không phải phản lực, không phải khu trục.

– Coi chừng nó liệng bom.

Tôi đành phó mặc chúng nó, không ra lệnh xung phong nữa. Tới đâu tới. Tha Hồ !

Trận chiến chưa dứt, nhưng tôi sốt ruột muốn biết cụ thể về cái chết của thằng Chi, cán bộ trẻ , thông minh có văn hoá nhất của tôi. Cái thằng dễ thương hết sức. Con gái chọc ghẹo cũng không dám ló mòi gì hết. Học trường miền Nam, con gái thiếu gì. Có con bé thiệt ngộ mê nó, nó cũng lãng ra. Con nhỏ lọt về Sở Điện Ảnh bị mấy chú xơi tái. Chi là bạn của thằng Liêm và thằng Đe con trai Đồng văn Cống. Đe học lái MIG ở Liên Xô, về Việt Nám lái MIG đánh với Thần Sấm bị Thần Sấm bắn hạ, thằng Chi học trường pháo binh vô đây đụng pháo Mỹ cũng đi luôn. Còn thằng Liêm đi săn mễn bị thằng Huỳnh Châm bắn lầm. Dân miền Nam chết như rạ, đi lót đường cho tụi Hà Nội vô làm cha. Bác Hồ thâm độc lắm dân Nam kỳ ơi! Mở mắt ra chút!

Tôi bảo Ba Tố ở lại chỉ huy sở, tôi co vác máy bộ đàm và dắt cán bộ đi vô C5 để thăm hai Đảnh hỏi thăm cho rõ diễn tiến mặt trận. Vô đến nơi gặp Tư Chuyền đang băng bó cho Đảnh và Ba Tân. Hắn la lớn:

– Cám ơn thầy Hai! Nhờ thầy du kích giật được cho tôi được cái dù to tướng. Đây nè ! – Hắn chỉ lên nóc hầm – Phải đào hầm rộng gấp ba mới đủ giăng cây dù này. Tha hồ mổ xẻ . Đất nóc hầm không rớt vô vết thương nữa. Dữ ác ! Hai năm trời mơ ước.

Tôi không để ý những lời khen ngợi của hắn. Thấy Đảnh bị băng bít cả đầu, chỉ chừa cặp mắt, tôi hỏi hắn:

– Vết thương có nặng không ông?

– Không chạm thần kinh!

– Còn ông xã đội?

– Dạ ổng bị ở chân, cũng nặng nhưng không hề gì.

Tôi hỏi Đảnh đang ngồi dựa vách hầm:

– Cậu biết tôi là ai không .

– Hục hục… Sao không biết, thầy?

– Thằng Chi thế nào?

– Tại ảnh cãi lệnh thầy. Nếu ảnh ở bên khẩu đặt ở cao su con thì đâu có sao.

. Tôi móc xắc-cốt đưa cho Tư Chuyền 5000, bảo:

– Nhờ bác sĩ chăm sóc dùm các chiến thương của tôi.

– Ông Tư lệnh pháo khỏi bảo. Đó là nhiệm vụ của tôi mà .

– Tôi phải lo bao nhiêu chuyện khác, không ở đây được lâu ông bác sĩ thông cảm cho!

Tôi chào thương binh rồi đi. Trời mưa như trút, nhưng tôi phải ra Ba Sòng. Pháo đã im. Máy bay cũng đã biến mất hết. Chỉ còn nghe tiếng trời gầm. Ra đến nơi thấy xác thằng nhỏ nằm ở trước hàng ba. Trong nhà đông nghịch những người..

Năm Tiều thấy tôi, chạy ra nói nhỏ:

– Theo phong tục của mình, người lạ không được đem vô nhà . Mình phải để nó nằm ngoài như vậy thôi. Đám mình chết được nằm ghé ở hàng ba là phước đức ông bà rồi !

Năm Tiều là phó ban Tác Huấn Quân khu, lớn hơn tôi mười tuổi Năm Tiều nói suông suông, không giới thiệu tôi với một người nào:

– Đây là ông chỉ huy của thằng Chi.

. Tôi chào mọi người và bước lại giở tấm vải bạt phủ trên người Chi. Mặt nó tái xanh. Tôi vuốt mắt rồi nghiêng đầu nó qua xem vết thương. Cuộn băng trắng quấn vòng sau ót ra phía trước cổ máu đã khô . Vết thương ác quá . Cô Chanh người yêu của Chi đứng ở bẹ cửa, cặp mắt sưng vù. Tôi nói mấy lời an ủi chung chung. Năm Tiều bảo tôi:

– Má Hai đã coi ngày giờ xong xuôi hết rồi. Mười hai giờ liệm. Chín giờ sáng mai làm lễ hạ huyệt.

Trong nhà đã luộc hai con vịt để trên bàn thờ. Một cái khay trầu với hai cái ly, nhạo rượu và một lư hương đặt trên một ghế nhỏ đặt ngay đầu thằng bé. Trông thấy cái cảnh sơ sài giành cho người chiến sĩ hi sinh mà não lòng.

Mọi kế hoạch tiến hành như đã định. Trong bụng người nào cũng lo sợ pháo và trực thăng soi. Mong mọi sự bình an . Năm Tiều coi cái chết như trò đùa. Anh đã trông thấy quá nhiều cảnh như vầy từ chống Pháp tới bây giờ. Chôn một lúc vài chục cái hòm là thường. Nhiều lần không có hòm rương gì hết. Chôn mau lấp vội rồi đi. Cho nên bây giờ anh không có vẻ gì buồn, lại cứ đùa với tôi:

– Nó chết như thế này sướng quá trời. Có hội mẹ, hội phụ nữ, cán bộ đủ mặt. Tới phiên tụi mình chưa biết ra sao có khi lại chẳng được manh chiếu.

Riêng tôi cũng đã từng dự lễ truy điệu không biết bao nhiêu lần. Trận Nhật Nguyệt tiểu đoàn 307 của tôi phối hợp với đại đội địa phương Bạc Liêu do Lê Quốc Sĩ làm đại đội trưởng (em của Lê Quốc Sản tư lệnh I.2 vừa chết ở Tháp Mười) đụng với BMEO và bộ đội Ba Gà Mổ, hi sinh 150 (có ít nhất 50 dân Bến Tre). Xác đem về chôn ở Cái Nước, bít cả nghĩa trang. Lúc đó tôi còn trẻ quá, và không phải là thủ trưởng cơ quan, nên nỗi buồn chỉ thoáng qua. Còn bây giờ là chỉ huy trưởng, đứng trước cái chết của cán bộ, tôi thấy cái trách nhiệm thật to lớn. Đành rằng chơi với súng đạn thì sự nguy hiểm có thừa, nhưng cũng tại mình nên nó mới chết. Tôi nghĩ vậy nên cứ day dứt trong lòng.

– Mày biết gia đình nó ở đâu không?

– Dạ, Bến Tre.

– Làm sao mà cho hay được?

– Dạ. Chắc thằng Hùng Cối biết.

– Mà thôi! Tụi nằm trên Trường Sơn có ai biết mà nhắn nhe.

Một đêm dài như những đêm dài khác. Một cái chết như bao cái chết khác. Tôi thức sáng trắng. Chiếc hòm làm bằng những mảnh gỗ thô không biết nhặt nhạnh ở đâu, tôi cũng không buồn hỏi nữa, nhưng rõ ràng những mảnh gỗ khác nhau ghép lại. Rồi tôi và Năm Tiều đích thân đặt thằng bé vào liệm. Không có gì ngoài mấy cái áo cái quần lính lớp mới may lớp cũ nát. Có một cái lụa Hà Nội mà nó nói để giành gởi về cho ba má . Cái hòm lỏng lẻo phải chèn thêm hai khúc chuối cây để lúc khiên đi nó không lúc lắc bên trong.

Chín giờ sáng. Chúng tôi đưa thằng bé ra nơi yên nghỉ cuối cùng. Chiếc hòm nhỏ và nhẹ . Chỉ cần bốn người kê vai khiêng. Một lúc lại thay phiên. Một đoàn người đi theo sau. Nam phụ lão ấu chừng hai chục. Tôi và Năm Tiều mỗi người vác theo một cái chân ngựa để tiện hạ huyệt. Năm Tiều chủ động mọi việc vì tôi không biết phong tục tập quán trong việc chôn cất. Anh bảo:

– Nó là dân Bến Tre đặt cho nó quay đầu về xứ. Con người ta đi đâu cũng phải về xứ!

Anh thay mặt quân khu nói vài lời trước khi hạ huyệt. Xong anh lại bảo:

– Để hai đứa ở lại lấp đất thôi. Còn bao nhiêu giải tán hết đi kẻo đầm già tới. Để mai mốt mở cửa mã sẽ đắp nấm. Bây giờ thì như vầy cũng đã mỹ mãn lắm rồi !

Tôi cố cầm nước mắt:

– Thôi nằm đây nghe em Chi!

Năm Tiều gạt ngang:

– Khóc mẹ gì. Nay mai rồi tới mình ra nằm bên cạnh nó .

Trời mưa lắc rắc. Má Hai đốt mấy tờ giấy vàng không cháy, khói lên lè tè đầu ngọn cỏ. Hai Chanh gục đầu vào vai một nàng du kích khóc không ra tiếng nữa. Tôi nói mấy câu để an ủi nàng nhưng càng làm cho nàng khóc to hơn. Nhìn nắm mộ thấp, bùn đất nhoe nhoéc tôi càng nản lòng. Trong lúc mọi người trở về nhà má Hai, Năm Tiều lôi tôi đi hướng khác:

– Kiếm cái quán nào làm một xị cho ấm coi mày !

Vừa đi anh vừa nói tiếp:

– Mày về chuẩn bị phòng ngự hoặc di quân đi.

– Tôi cũng đang nghĩ đến chuyện đó.

– Trận pháo kích này là một lời tuyên chiến. Tụi Đồng Dù bắn bấy nhiêu trái đó chưa đủ đâu. Thế nào rồi tụi nó cũng mở một chiến dịch để truy lùng vũ khí của mình. Bởi vì lâu nay mình chơi bộ binh. Lần này mình xài tới pháo. Củ Chi này chỉ có mấy khu rừng rậm thôi, nó sẽ đào tới Hố Bò trước nhất. Mày ghé Năm Lê, kêu y ra lịnh cho tụi C5 của Tư Chuyền di chuyển thương binh qua sông Sài gòn, nếu không sẽ không kịp.

Tôi công nhận ý kiến của anh là sáng suốt nhưng không thể nào phòng ngự cũng không thể nào di chuyển thương binh. Tới đâu hay tới đó.

Đang đi bỗng Năm Tiều lôi tay tôi.rẽ sang một đường mòn. Tôi không hiểu gì cứ đi theo. Được một quãng xa, anh quay trở ra, trỏ tay:

– Mày thấy gì đó không?

Tôi nhìn thấy hai ba cái võng lôi thôi lếch thếch đi tới. Năm Tiều nói:

– Không biết dân ngoài Ràng hay Phú Hiệp bị thương . Họ đi tìm y xá đó. Gặp mình mình mang K54 thì sẽ họ rút đòn khiêng phệnh lên đầu mình.

—->Chương 61- 62- 63- 64- 65

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: