2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QIV- (66-70)

2000ngaydem_bia4Cái Chết Bi Thương của Cô Văn Công R

Chương 66

Hồng nhan bạc mạng trên dòng nước xanh.

Tôi ngồi bật dậy. Thằng Đỏ nhào vào. Tôi còn đang ngơ ngác thì nó kêu lên:

– Ma! Ma anh ơi!

– Ma cỏ gì ở đâu, nói bậy mầy!

Tôi vừa nói vừa ngã lưng xuống võng. Nhưng nó dựng tôi dậy và la lên:

– Ma thiệt! Anh ra bến nước coi!

Năm Dị và mấy cậu nữa cũng chạy đến. Thằng Đỏ tiếp:

– Ma từ nhà má Hai đi ra bến nước. Nó bỏ tóc xoã, có ẵm con nữa. Nó đứng ở đầu cầu kêu má ơi và than khóc nghe nổi ốc cùng mình. Mau đi ra coi. Ủa ra vớt chớ! Em sợ nó nhảy xuống rạch quá hà.

– Mày nói láo tao phạt mày nghe!

– Dạ, anh Hai cứ phạt.

Thằng Đỏ lôi tay Năm Dị, rồi cả đoàn chạy theo nó. Tôi hơi nghi ngờ tụi gián điệp làm trò. Hồi chín năm, vụ Cọp ba móng ở chiến khu Đ làm cán bộ không dám đi công tác vùng Long Điền. Tôi vừa lếch thếch bọ hậu vừa hỏi thằng Đỏ:

– Mày đi đâu ra bến vào giờ này mà gặp ma?

Thằng Đỏ chạy chậm lại gần tôi và kể lể:

– Em với anh Lộc lén anh đi lại nhà anh Út để lấy miệng chài đi bắt ít con tôm về ăn. Em có tánh sợ ma nhưng cũng gồng mình đi. Vừa vô tới sân thì nghe tiếng khóc ri rĩ. Em lắng tai một chút thì nghe giống y tiếng chị Út. Lại có tiếng con nít khóc oe oe nữa. Em bèn kẻo anh Lộc đứng nép qua cây vông nem ở cửa ngỏ. Tiếng than khóc dứt một chút thì có bóng người trong nhà lọt ra băng qua sân. Tóc xõa sau lưng em thấy giống y chị Út.

Thằng Đỏ vấp ổ gà suýt té, dứt ngang câu chuyện. Tôi hỏi:

– Mày thấy nó bồng con thiệt không?

– Cái đó em không chắc, nhưng tóc xõa và giống chị Út lắm.

– Mày nghe nó than khóc như thế nào?

– Em lạnh xương sống, răng đánh bò cạp mà nghe gì được Chỉ nghe hu hu thôi.

– Hổng lẽ con Út còn sống?

– Không phải chị Út đâu. Bữa khui hầm em thấy rõ đầu tóc và bàn tay của chị mà . Nếu chỉ có thành ma thì cũng phải lâu lâu chớ, lẽ gì sớm vậy?

Năm Dị tới trước, cầm gói ni lông to bằng ba lô, nhưng không phải ba lô, quay lại đưa cho tôi, giải thích:

– Tôi lượm được ở đầu cầu.

Tôi rọi đèn pin khắp nơi để tìm nhưng không thấy dấu vết chung quanh chỉ thấy nước ướt cầu.

– Có thể nó nhảy xuống sông?

– Không chắc đâu thầy ạ!

Tôi rọi đèn vào bụi dừa um tùm, bụng nghĩ có thể người ta thắt cổ. Nhưng chỉ thấy cây lá và những đìm rễ lòng thòng sà xuống mặt nước. Tôi hỏi gắt thằng Đỏ:

– Sao mày không kêu nó lại?

– Trời ơi trời! Em sợ muốn gụng gún còn biểu kêu!

Tôi bàn với Năm Dị một lúc rồi quyết định bằng một thứ linh tính lạ kỳ :

– Thằng Đỏ và thằng Lộc bơi chiếc xuồng dọc theo mé rạch còn bao nhiêu lội xuống mò tìm. Có thể người nào tự vận chớ không phải con Út đâu ! Đỏ, bơi xuống ra chân ở vàm rạch. Ủa mà khoan tất cả xuống xuồng ra vàm giăng hàng ngang mò ngược vô. Nước ròng chảy mạnh ngọn có thể bị trôi ra sông Sài gòn.

Theo kế hoạch của tôi, tất cả thi hành. Ra đến vàm Rạch mọi người nhảy xuống nước ùm ùm. Ai cũng thích thú được bơi trong nước một cách tự do không có phi pháo trên đầu.

Tên chánh thức của dòng sông này là Rạch Sơn nhưng vì nó chảy qua ấp Bến Mương nên dân địa phương cũng gọi là rạch Bến Mương. Hai bên bờ dân cư đông đúc, lòng rạch chứa rất nhiều tôm cá. Từ ngày Út về làm trưởng tổ sản xuất thì cơ quan H6 ăn uống không đến đổi sáng tương chiều chao như những cơ quan khác. Ngoài ra dòng nước Bến Mương làm cho con gái H6 trắng da dài tóc đẹp hơn các xã khác chăng?

Tôi vốn là con cá ráy từ thuở còn đi học trường làng. Không buổi trưa nào là vắng thằng Thiên Lôi cùng lũ bạn đánh giặc dưới sông. Môn chơi hấp dẫn nhất là bịt mũi hụp xuống coi đứa nào chịu được lâu. Thiên Lôi thắng cũng có mà ăn gian cũng có.

Tôi lặn hai ba hơi không đụng gì hết. Chắc chắn không phải ma. Còn đàn bà con gái thì ở ấp này tôi quen hết. Không ai đau buồn gì đến nổi tự vận?

Bỗng Năm Dị kêu lên:

– Đụng rồi anh Hai.

– Đụng cái gì?

Năm Dị vừa vuốt mặt vữa nói qua làn nước:

– Tôi chắc là tóc.

– Coi chừng rong đá hoặc rễ lục bình.

– Để tôi hụp một phát nữa coi. Rạch sâu quá, bịt mũi nín 1 thở muốn nổ lỗ tai.

Tôi và mấy cậu kia đeo be xuồng chờ Năm Dị. Chốc sau hắn vọt lên la oai oải:

– Đúng thiệt rồi. Đúng… thiệt.

– Cái gì?

– Tôi sờ đụng tay chân mặt mũi.

Tôi bảo:

– Tất cả lặn theo Năm Dị. Hễ gặp là đưa lên.

Tôi đi một hơi. Quả thật thấy ma tóc dài. .Bốn đứa quơ đụng tay nhau và cùng nâng lên. Một tay tôi nắm chân, một tay tôi quờ chụp be xuồng. Tôi quát:

– Đỏ nắm lấy cái chân.

Thằng Đỏ nhanh nhẹn chụp liền trong lúc mấy cậu kia cũng vừa trồi lên, nâng cả thân người đưa lên ngang mặt nước. Thằng Lộc nắm lấy tay tiếp với thằng Đỏ để giữ cho cái thây khỏi rơi xuống. Tôi bảo:

– Coi chừng chìm xuồng. Đỏ và Lộc lôi lên từ từ? Còn cả bọn mình thì nâng lên cho vô xuồng. Hè ! Một.. hai… ba…

Cái thây tóc dài được đem lên xuồng.

– Thầy leo lên luôn đi. .

– Cậu nào sợ vọp bẽ thì leo lên đi còn tôi và các cậu khác đeo be hoặc bơi theo xuồng.

– Thầy lên rọi đèn coi ai vậy?

Tôi chuyền theo be xuồng lần ra sau lái rồi cân mình leo lên. Thằng Đỏ đưa chiếc đèn pin. Tôi bấm. Tôi giật mình đánh thót: mặt mũi giống y con Út, vóc dáng cũng bằng nhau chỉ khác mớ tóc dài. Con gái Bến Mương đâu có đứa nào đẹp như vậy. Tôi xem kỹ thì không phải là Bảy Mô . Bảy thì tôi mới gặp, có việc gì u ẩn mà phải mượn giòng nước xanh làm mồ ? Cũng không phải Tám Mang ! Nàng Mang lại cho vị hôn phu thương binh hận tủi chớ nàng có tủi hận điều gì? Vậy thì đây là ai? Nếu người ở xa tới thì làm gì vô nhà má Hai khóc lóc? Năm Dị ở dưới nước thò đầu lên hỏi.

– Thầy không biết là ai à?

– Không ! Nhưng chắc chắn là một cô gái chớ không phải đàn bà.

Thằng Đỏ bơi rào rào cũng ráng nói:

– Hồi nãy em tướng là ma, té ta là người thiệt!

Xuồng về đến bến. Tôi bảo hai cậu chạy lấy tấm ván khiêng về cấp cứu. Năm Dị can:

– Không được đem vô nhà, thầy ạ ! Đem vô nhà là chết ngay. ..

– Sao vậy? ?

– Tôi không hiểu, nhưng hồi ở nhà, đi cứu lụt ở Quảng Bình tôi học được kinh nghiệm đó ở các cụ. Thầy cứ để ngoài bờ chạy chữa may ra.

Chúng tôi đem cô gái đặt trên một mặt đất phẳng bên cạnh gốc dừa tơ độc nhất trên đường xuống bến. Thằng Đỏ thằng Lộc chạy về cơ quan một chốc trở ra với cả ôm màn quần áo trong khi Năm Dị quơ lá dừa nhóm lửa lên. Tôi rờ ngực nàng:

– Trái tim còn máy nhẹ .

Năm Dị nói:

– Mình cứ hơ lửa giúp cho cơ thể ấm, máu chạy đều là cô ấy sống lại.

– Xốc nước cái kiểu cấp cứu thôn quê được không?

– Tôi biết, nhưng làm như vậy nước trào ra mũi cô ta không thở được. Kiểu đó không chắc ăn.

Thu bảo đám đực rựa dang ra để cô thay quần áo cho nạn nhân rồi tất cả ráp lại kẻ quơ cũi đốt lửa to lên, người hơ quần áo áp vào người nạn nhân theo lối dây chuyền.

Thấy bụng cô nàng to chướng, tôi lấy tay nhấn nhè nhẹ thì nghe nước kêu óc ách. Nhấn mạnh thêm thì nước trào ra mũi. Tôi bèn kê miệng vào hút một cái thật mạnh. Nước tuôn ra có vòi tràn xuống cổ và ngực.

Sau độ nửa giờ hơ hóng và xoa bóp bỗng nghe một tiếng “ư” và nạn nhân từ từ mở mắt. Tôi quát Thu:

– Em tiêm cho cổ một mủi thuốc khỏe và một mủi trợ tim. .

Thu lắc:

– Dầu nhãn ở dưới địa đạo chỉ còn có một mủi giành cho anh đó thôi. Ngoài ra không còn thuốc gì hết.

Nước từ trong miệng nàng chảy ra như suối. Bụng xẹp dần. Tiếng của Năm Dị cũng nặng chịch mà tôi nghe như chim líu lo:

Được rồi đọ… Nhưng phải tiếp tục xoa bóp. Chết như vậy có thể thần kinh bị tê liệt một bộ phận hoặc toàn bộ. Nếu không xoa bóp nhanh thì người sống lại có thể bị liệt tay hoặc chân hoặc mắt, miệng và chịu tật suốt đời. Cho nên phải tích cực xoa bóp cho đến khi các giác quan cô ấy trở lại thì mới ngưng.

Năm Dị nói như một y tá kinh nghiệm đầy mình. Tôi hỏi:

– Bây giờ mình làm gì tiếp?

– Yên tĩnh! yên tĩnh tuyệt đối và tiếp tục nắn bóp tay chân. Không được ai hỏi cô ta một câu gì. Vì hiện giờ ta chưa biết hệ thống thân kinh của cổ có phục hồi chưa. Nó rất mong manh, như cái fi-la-măng trong bóng điện, ta vặn công tắc bất ngờ có thể bị đứt và không thể nối lại được. Để cho cổ tự động hỏi, nói hoặc cử động thôi. Có nghĩa là khi cổ làm được cái gì hay cái nấy, rồi từ đó ta mới giúp cổ khá dần lên.

Năm Dị đã trở thành chuyên gia cứu cấp. Chúng tôi khiêng nạn nhân về để nằm tại hầm làm việc của tôi, là hầm rộng và chắc nhất, cho Lan và Thu thay nhau canh chừng và tiếp tục nắn bóp.

Trời đất này còn hay đã tan vỡ hết? Một ngày hay thiên thu? Bao nhiêu chuyện chết chóc ghê gớm, đắng cay, nước mắt hòa máu xây tới dồn dập cho cái sân khấu bé nhỏ Bến Mương này mà tôi luôn luôn đóng vai kép chánh. . .

Đêm đã hầu tàn. Tôi lên võng nằm mà nghe cả trời đất rung chuyển lắc lư. Tôi chỉ sợ một vài quả pháo nện gần làm cho tàn cuộc cứu cấp của chúng tôi trở thành vô nghĩa. Cũng may không có tiếng súng pháo kích nào của các ông bà dũng sĩ nên đế quốc Mỹ cũng biết điều.

Nạn nhân đã sống dậy nhưng không ai biết cô ta là ai. Tôi xuống bếp làm việc nhường hầm cho cô ta nằm. Tối hôm sau họp xong về nhà định lấy đồ đi ngủ ké với trung đội trinh sát, khi về đến cửa, bỗng tôi nghe tiếng người ri rĩ trong g hầm như mạch nước chảy qua vùng đất lỡ. Tôi lắng tai nghe. Tiếng khóc than hầu như bình thường. Nàng ca hát, điệu này bắt quàng sang điệu kia nhưng ý tứ lại rất mạch lạc như một đoạn hồi ký viết bằng thơ có nhiều chỗ không ăn vần.

Sông Sài gòn chảy xuôi về Thủ
Nước Rạch Sơn chảy tận Bến Đình
Bến Mương với Bà Thiên cách một nhịp cầu
Em qua đó móc đất sét về nắn chén
Có khi em cùng bơi qua sông coi anh nhổ mạ
Em và chị bị đòn vì không nghe lời má
Em biểu chị mua măng cụt ra bờ sông ngồi ăn
Rồi em lên đi theo văn công học ca vọng cổ
Em hát ở Ràng, Đồng Lớn, Sa Nhỏ ai cũng khen nức nở
Nói con nhỏ ca có thua ca sĩ nào đâu?
Rồi trên R về nài nỉ xin em
Em thương má thương anh chị thương cháu mới lọt lòng.
Má vui có cháu ngoại.
Em hát ngọt ngào như hoa Thiên lý.
Má cho em đi để sau này đua cùng Lệ Thủy
Nhưng than ôi . . . . má ôi anh ôi chị ôi chị…
Hu hu hu. . . .

Tôi đã nhận ra nàng là ai rồi. Giống như một màn kịch đang đi tới lúc mở gút cuối cùng mà bàn tay đạo diễn không ai khác hơn Hóa Công. Tôi rón rén bước vào, vai nàng văn công run run. Bên mép ván, Thu gục đầu chiếc khăn bàn lông rơi .

– Sao má cũng chết, anh cũng chết, chị cũng chết, cháu cũng chết. Phải còn sống một người cũng được. Bây giờ em không còn người thân trên cõi đời. Má ơi!

Nàng nói rất sõi, không có vẻ gì mê sảng cả. Nhưng tôi nhớ lời ông bác sĩ Năm Dị dặn nên không dám hỏi gì mà lẳng lặng trở ra.

Vậy ra nàng là ca sĩ Thiên Lý của đoàn Văn Công Giải Phóng R. Nàng là đứa em gái mà Út hứa gã cho tôi. Có phải má Hai từ Trung hòa vào đây và sự trở về của nàng là một sự hẹn ước để Út thực hiện lời hứa của mình?

Đời vừa gỡ xong cuộn tơ vò lại phải cảnh rối ren. Tôi tìm chỗ mắc võng. Tôi lại ngủ thiếp đi trong một giấc ngủ chập chờn mây khói lẫn lộn trần gian. Khi tôi mở mắt thì nắng đã nhuộm vàng mặt đất. Nghe một sự yên tĩnh lạ lùng chung quanh. Tôi bật dậy trở về hầm rón rén bước vào.

Nàng đang ngồi xếp chăn, tóc rối dài xõa kín cả lưng. Tôi định trở lui, sợ làm tiếng động nhưng bỗng nàng quay lại. Bốn mắt nhìn nhau bỡ ngỡ. Tôi thấy trong cặp mắt nàng có lửa, một thứ thần lực mà tôi chưa từng trông thấy bao giờ.

Nàng nhìn tôi sửng sốt, cái nhìnđứng ngọ của mặt trời.

– Anh… anh…

– Em là… .

– Ở ở đây là đâu?

– Bến Mương.

– Anh Dương Đình…

– Má Hai Út… Út…

– Anh Dương Đình Lôi.

– Em em. . .

Phải chăng đường dây đứt đã nối lại. Mạch máu đã chảy thông suốt tâm trí của nàng. Nàng ré lên:

– Anh!

Rồi gục đầu xuống ngựa khóc nức nở.

Thu bừng tĩnh nhìn tôi rồi nhìn người con gái lạ như hỏi Hai người quen nhau hồi nào? Rồi chạy đi báo khắp cơ quan. Mọi người mừng rỡ líu lo. Những cặp mắt kinh ngạc trước một người chết đi sống tại và một người con gái cũng vừa chết đi sống tại. Họ trở thành tương tri trong cái chết lạ lùng.

o O o

Bây giờ nàng đã trở lại tình trạng bình thường. Nàng ngồi kể lại mọi chuyện cho anh chị em trong cơ quan nghe:

– Em cùng với đoàn đi diễn ở ấp Chánh xã Lộc Hưng bên Trảng Bàng. Định đi xuống Củ Chi một lèo nhưng nghe Mỹ ruồng nên đình lại, ém quân tại đó . Mỹ vừa rút đi thì đoàn biểu diễn cho đồng bào coi luôn hai đêm. Diễn xong em xin phép đoàn về thăm nhà, luôn tiện em liên lạc với địa phương chuẩn bị cho đoàn xuống diễn. Nghe nói Mỹ xúc quân ra ấp chiến lược nên nóng lòng muốn về xem gia đình ra sao?

Tôi hỏi.

– Từ ngoài ấp Chánh xã Lộc Hưng vô đây xa lắm. Bom đạn cày nát, người ta dùng đường ngang ngõ tắt em biết lối nào mà đi?

Nàng đáp:

– Hồi ở Văn Công huyện với chú Phạm Sang, em đi khắp từ Quốc lộ 1 xuống Phú Hòa Đông, lên Trảng Bàng, qua chợ Thanh An, Dầu Tiếng… chỗ nào cũng có dấu chân em. Chiều hôm qua về tới Sa Nhỏ em ghé quán bà Chín Khuân mua mấy cái bánh ú vừa đi vừa ăn. Thời may gặp anh Lạn.

– Lạn?…liên lạc phải không?

– Dạ, ảnh đèo em tới Ngã Ba Cây Điệp mới thả xuống. Hồi đi học ảnh ngồi trên em ba lớp. Ảnh than với em: “Tưởng vô đây công tác vài tháng rồi đi Liên Xô, ai dè đạp banh mấy chục cặp vỏ xe vẫn còn đạp”. Từ Ngã Ba Cây Điệp em đi một mình về đây. Đường sá vắng teo, em sợ quá, nhưng vì sốt ruột muốn biết tin nhà nên em lội càn. Đến Lò Chén em mới gặp người quen trong xóm đi ra.

– Ai vậy?

– Ông Ba Lễ.

– Ờ ! ông Ba Lễ anh ông Tư Giáo ! Địa đạo qua trước nhà ổng .

– Ổng bảo em về riết coi gia đình có chuyện gì đó. Em hỏi chuyện gì ổng không chịu nói bảo về đó thì biết. Em hồ nghi chắc gia đình bị nạn rồi. Hồi ở trên R em cứ nằm chiêm bao thấy má em hoài. Em lại thấy rụng một cái răng nữa. Hồi nhỏ em nghe má em nói hễ chiêm bao thấy răng rụng là có người chết trong gia đình. Em càng nôn nóng. Quả thật, đến nơi thì . . .

Nàng nghẹn ngào và dứt ngang. Thằng Đỏ xen vô:

– Em thấy chị ôm gói ni-lông tưởng chị Út ẵm cháu bé.

Mọi người im lặng. Tôi không muốn làm cho nàng xúc động nên gạt ngang:

– : Chiến tranh thì phải vậy. Người chết đã yên mồ yên mả rồi. Bây giờ phải lo cho người sống. Đơn vị của anh vừa hi sinh hai cán bộ. Một cậu sắp cưới cô Hai Chinh ở ngoài Sòng em biết không? Người con gái chưa lấy chồng đã thành góa phụ . .

Tôi đem những đau buồn của người khác để cân bằng những đau buồn của nàng ngỏ hầu nàng bớt bi lụy nhưng nàng cứ than vắn thở dài:

– Bây giờ nhà cửa còn đó mà cha mẹ anh chị chết hết rồi. Em không thiết sống nữa. Đêm em về thấy mả ba em bốn cái mả mới em ngã xuống chết giấc không biết bao lâu mới tỉnh lại. Ông Trời độc địa quá, bắt gia đình em chết cả. Em còn sống làm gì nữa.

Tôi liếc Năm Dị. Năm Dị tiếp lời an ủi đại khái:

– Cô không nên bi quan như vậy . Đây là do đế quốc xâm lược gây nên chớ không phải do Trời. Là chiến sĩ cách mạng, còn sống một ngày nào là ta còn phấn đấu.

Tôi thấy không nên xoáy sâu vào vết thương còn tươi máu, bèn nháy cho anh chị em giải tán, rồi bảo nàng:

– Bây giờ em nghỉ ngơi dưỡng sức, chừng nào thấy khoẻ thì tiếp tục trở lại đoàn.

Nàng nhìn quanh thấy không có ai bên cạnh tôi, nên nói:

– Em mở cửa mả xong cho má em, cho anh chị em và cháu em rồi em đi ra…

– Em đi đâu? ở Đồng Lớn bây giờ Mỹ đang cụm quân.

Tôi dọa để bắt nàng ở lại dưỡng sức ít hôm, chứ thực ra ngoài đó không có Mỹ.

– Em không đi ra đó được thì đi ra Trảng Bàng.

– Em nói đoàn vừa biểu diễn ở Trảng Bàng, trở lại đó làm gì nữa?

Nàng lặng thinh, nhìn quanh quất lần nữa như tìm kiếm ai, rồi hỏi:

– Cái túi ni lông của em đâu rồi?

– Em để trên ván kìa !

Nàng bước lại mở cái túi ra có vẻ hấp tấp, miệng liên tiếp kêu “ủa, ủa, đâu rồi” và cuối cùng tìm được miếng giấy, nàng xếp lại bỏ túi rồi cười, hỏi tôi:

– Anh có tình cảm với chị Kim Chi lắm hả?

– Sao em biết?

– Em thấy anh lột đồng hồ tặng chỉ.

Tôi giật mình kêu lên như bị điểm trúng hiểm huyệt.

– Em ở đâu?..

– Anh không nhớ buổi văn công biểu diễn mừng thành tích Biên Hòa à? Lúc diễn xong, anh vô buồng tìm người quen.

– Sao anh không nhớ em?

– Lúc đó chưa quen. Với lại… anh đang chú ý mấy người khác Em đứng sau lưng chú Bảy Thiểu. Anh cho chị Kim Chi cái đồng hồ rồi tặng luôn cây P38 cho chú Bảy. Anh thiệt là ngon !

– Người quen mấy chục năm mới gặp không có gì kỷ niệm thì lột súng cho chớ ngon gì.

– Chú Bảy lâu gặp thì phải, chớ còn chị Kim Chi mà mấy chục năm gì hả?

Thấy cô bé vặn bẻ gắt gao, tôi bèn trớ qua:

– Bữa đó em biểu diễn tiết mục nào anh quên mất!

Nàng bật cười, rồi đưa tay che miệng.

– Cô gái Lục Bình!

– Àà ! nhớ rồi, Cô Gái Nhị Bình chống Mỹ!

– Rồi em đóng vai dũng sĩ trong vở kịch Mượn Mỹ của Nguyễn Vũ nữa, anh không nhận ra em à?

Tôi lúng túng không biết tránh né cách nào thì nàng tiếp:

– Bị mắc mấy cô Thanh Tuyền, Huỳnh Mai… bao và chặt quá nên đâu có nghe hát xem kịch gì. Em đứng trên ngó xuống thấy rõ hết trơn. Các cổ suýt chút nữa ngồi trên bắp vế anh.

Cặp mắt nàng lườm tôi với ngọn lửa dữ dội. Tôi đấu dịu:

– Tại có một tấm ni lông mà cả chục người ngồi chung nên phải chen như vậy.

– Em còn biết chị Thanh Tuyền chạy theo anh nữa nhưng bị cảnh vệ bắt lại. Có không?

– Ừ, thì có !

– Nhưng nếu bây giờ anh trở lại thì chẳng còn ai.

– Sao vậy?

– Anh quên trận B52 rồi sao? Chú Bảy Thiểu với hai đứa con trai chết hết.

– Ừ ! Lúc đó anh đang dự lớp chỉnh huấn ở trường Trung Sơ với chú Bảy Đậu, có cô Huỳnh Mai đi theo đánh máy. Khi không lại phát thinh dắt nhau về đút đầu vô hứng B52.

– Chết hết rồi anh ạ . Tội nghiệp ghê ! Nếu đoàn em nán lại vài ngày cũng bị luôn cú đó. Đoàn em ở cách một ngày đường mà đất rung nghe ghê người.

– Nhưng rồi cũng tới phiên em .phải không?

– Phải! Nhưng nó rãi trúng tiểu ban văn nghệ của ông Sáu Lăng, còn đoàn của em thì nằm ngoài mí thảm. Trận đó ông Tư Trang, ông Bảy Thinh, ông Ngọc Cung chết.

– Sao em biết hết vậy?

– Thì đó là cơ quan của em, sao em không biết. Sau khi bị bom dời qua Cao Miên. Và ở trên xuống dạy cho tiểu ban phòng chống B52.

– Nghĩa là khi có B52 thì đội bằng cách nào hả ?

– Mấy ổng bảo không được nói ra ngoài tin ông Tư Trang chết. Vợ mấy người kia có vô tận nơi nhưng ông Sáu Lăng nói là họ đi công tác. Trời ! ông Ngọc Cung ở Hà Nội mới về, gia đình lên cho cả bọc vàng chưa kịp xài mà văng mất hết. May phước cho mấy ông nhà văn kia.

– Ông nào?

– Vừa ăn.B52 xong thì ba bốn ông ở Hà Nội lót tót vô. Hai ba ông gốc Nam Kỳ, một ông rau muống luộc. Phải vô sớm vài ngày thì ăn chia đã đời.

Bỗng nàng đổi giọng:

– Em sẽ cho anh xem một bức thư.

– Thư của ai ?

– Thư trên R. Ý mà thôi. Em không muốn ai coi thư này hết.

– Thư gì mà quan trọng và bí mật dữ vậy?

– Em chỉ cho anh xem cái phong bì thôi nhé . Nhưng anh phải hứa là không được đòi xem lá thư.

– Ừ, đưa đây.

Nàng móc túi lấy lá thư rút ruột cất và đưa phong bì cho tôi Xong nàng quay mặt lại thở dài. Tôi cầm lấy cái phong bì nhàu ná t, chữ viết bằng bút Bic xanh dương nét gò nắn nót. Miệng phong bì nổi cộm lên mấy hột cơm trét không kỹ. Chữ đề:

Người gởi: Nguyễn thị Út. Xã An Nhơn. Quận Củ Chi
Thân gởi: Em Thiên Lý (tức Út Mót)
Đoàn Văn Công giải phóng R.

Góc bì thư có chữ Đã kiểm duyệt viết bằng tay ngày tháng và con dấu của công an xã. Tôi nhìn nàng sâu tận đáy mắt:

– Anh biết rồi !

– Biết gì?

– Xem vỏ biết ruột chớ biết gì. . .

Đôi gò má của cô nàng bỗng ửng lên.

– Vậy còn đòi xem làm gì nữa?

– Má vô đây, anh có đến thăm! Má có nói với anh chuyện mình.

Nàng làm thinh. Tôi đến ngồi gần bên và vuốt tóc nàng:

– Má bảo chị Út viết thơ kêu em về phải không?

– Biết rồi còn hỏi. .

Nàng lườm tôi rồi gục đầu vào vai tôi nức nở. Tôi cũng không biết nói gì. Chẳng ngờ anh hùng pháo binh lãnh huy chương lên bục đọc diễn văn vậy mà vương vấn biết bao mối tơ (và mối nào cũng đứt hết). Còn mối này chắc rồi cũng…

Tôi hỏi:

– Bây giờ em tính sao?

– Anh tính sao thì tính.

Tường vậy là:

Hai bên tơ tóc bền trời đất.
Một gánh cang thường nặng núi sông.

Nhưng không! không có gì cả. Ai đi đường nấy. Đã bảo đời thằng lính Lê Dương cứ trôi nổi bềnh bồng như thuyền không bến không cắm sào được ở ven sông nào cả mà !

Tôi đang dỗ dành nàng thì nghe ồn ào ngoài miệng hầm:

– Có ông trưởng ban ở nhà không Đỏ ? (Tôi biết ngay là ông Tám Đột.)

Để lấy cảm tình ông công an kiêm tân Xã Đội trưởng, ông tư lệnh pháo không đợi liên lạc dắt khách vào, mà lên tiếng và bước ra đón ngay:

– Mời anh Tám vào nhà uống nước.

– Tình hình găng quá thầy Hai. Chúng nó đổ thêm quân xuống Hố Bò. Có thể nó quay trở lại đây.

Chợt thấy cô gái, hắn kêu lên:

– Ủa Mót, tao nghe đồn bây ở R mới về rồi… rồi… uất ức Mỹ giết cả gia đình mình thì mình phải căm thù chúng, phải nắm thắt lưng mà đánh chớ sao lại làm cái chuyện mất lập trường như vậy?

Tôi biết hắn tìm cách ăn ké cái bồ lúa và cái nhà của má Hai nên đỡ ngay:

– Cổ đâu có làm gì mà mất lập trường anh Tám?

– Nhảy xuống sông tự vận còn gì nữa ?

Tôi cười còn ăn khách hơn cả đào kép trong vở kịch Mượn Mỹ của Nguyễn Vũ xạo:

– Cô ấy tự vận hồi nào?… Đó là cổ đi tắm. Ban đêm không đèn đuốc nên lọt xuống sông. Cổ chẳng biết lội nên bị nước trôi suýt ra sông Sài gòn. Chớ tự vận hồi nào? Nếu không nhờ thằng Đỏ đi chài về trông thấy thì cổ chết trôi anh phải chịu trách nhiệm đó. Cổ là dân của anh mà !

Tám Đột vỗ đùi, kêu:

– Vậy mà tôi nghe đồn nó tự vận?

– Không trúng đâu!

– Tôi định đến bàn vấn đề bảo quản tài sản (?!) cho gia đình cô: Cô đi công tác thoát ly. Còn bà má và anh chị đều vắn số, chánh quyền phải a…a… bảo quản. (Mô Phật! Công an Việt Cộng mà chăm sóc tài sản nhân dân thì phước đức ông bà để lại.)

Tôi bảo:

– Cô ấy vừa lấy lại sức, mai tôi đã cho trinh sát đưa cô ra Đồng Lớn để liên lạc với địa phương lo việc tiền trạm đón đoàn văn công R xuống.

Tám Đột hăm hở xin giúp một tay nhưng tôi bảo tôi đã lo xong. Sáng hôm sau, y như lời, tôi cho tổ trinh sát đi dò đường, tôi với nàng đi sau. Nàng thở dài. Tôi buông lời áo não:

– Em với anh như…

– Thôi anh đừng nói thêm gì nữa ! – giọng nàng đầy nước mắt – Khi em đọc thư của chị Út em sung sướng vô cùng. Gương mặt của anh trong buổi mừng công hiện lên trong đầu em. Em thầm nghĩ anh đi khắp thiên hạ mà không thuộc về cô nào hết,-nay lại đến Củ Chi của em và gặp em. Quả là duyên trời định.

Thiên Lý hôm nay là một Thiên Lý khác. Cách đây ba hôm một Thiên Lý u sầu và vui buồn bất chợt, đang kể chuyện vui lại chợt buồn như trời đang nắng sụp mưa, một trạng thái .bất bình thường của một người con gái đứng trước những biến thiên ghê gớm.

Trời âm u hứa hẹn một trận mưa phủ phăng như ngày tôi chôn thằng Chi ở nghĩa trang Ba Sòng. Thì hôm nay tôi và nàng đang đi vào nghĩa trang, nghĩa trang của tình yêu tuyệt tích. Thiên Lý âu sầu:

– Em nói hết ý nghĩ của em cho anh nghe để rồi không bao giờ còn có dịp được nữa. Mong anh đừng cười và chê em nhe.

– Em nói đi. Em là…

Thiên Lý xua tay:

– Cám ơn anh, nhưng anh đừng nói nữa. Em định về gặp má. Má sẽ… sẽ…

Thiên Lý ngưng lại giây lâu, sụt sịt rồi tiếp:

– Thành hôn xong em sẽ ở nhà luôn nấu cơm cho anh ăn.

– Cô gái Nhị Bình anh dũng chống Mỹ mà thế à ?

Tôi pha trò nhưng nàng cười buồn. Nàng lắc đầu nguầy nguậy:

– Em không ở được với cách mạng một ngày nào nữa! Ý nghĩ này em có từ lâu.

– Tại sao?

Rờ là gì anh?

– Rừng, rét, run rẩy…

Nàng cắt gọn. :

RờRợ.

Tôi giật mình như bị cứa vào tim nhưng cố trấn tĩnh:

– Cách mạng thì phải gian nan vậy chớ sao em!

– Em không nói về sự thiếu thốn vật chất. Em hiểu cách mạng là phải hi sinh nhưng không thể là mọi rợ.

Tôi kêu lên như chim bị tên:

– Sao? Cách mạng là mọi rợ?

Thiên Lý quắc mắt nhìn tôi.

– Đúng!

Tôi vô cùng kinh ngạc. Chưa bao giờ tôi nghe ai phê phán cách mạng bằng những tiếng kinh hoàng này. Mà lại là của một cô gái chưa đầy hai mươi tuổi. Cô ta chỉ sống với cách mạng trong một thời gian ngắn.

Như đọc được ý nghĩ trong đầu tôi, nàng tiếp:

– Em thấy hết tất cả sự thực. Giấc mơ của em tan vỡ hoàn toàn. Em biết anh không như em. Do đó nếu chúng ta có là người yêu của nhau hay là vợ chồng thì cũng chỉ đồng sàng dị mộng. Cho nên em quyết định bỏ tất cả, cả anh, để đi nơi khác .

– Nghĩa là sao?

– Em xin lỗi anh nhé . Anh cho phép em nhe!

– Em cứ nói đi anh nghe.

– Em mới vừa quyết định về thành hôm qua.

– Còn trước đó?

– Em vẫn còn có ý định kết hôn với anh. Với anh, em sẽ tìm được hạnh phúc trong một gia đình mới.

– Tại sao em thay đổi nhanh vậy?

– Là vì em thấy anh say mê cách mạng ghê gớm quá. Xông tên đục pháo như bỡn. Trong lúc anh đi họp với ông Năm Lê ở nhà, xuống bếp nấu cơm, em nghe các anh các chị thuật lại công tác của anh. Anh quả là một anh hùng giải phóng. Hai lần mang đanh hiệu anh hùng pháo binh phải không anh?

– Rỡm thôi ! Anh có nhận đâu mà !

Nàng xua tay:

– Nhận hay không thì anh vẫn là anh hùng. Có thể nào một anh hùng như anh lại có một người vợ chán ghét cách mạng? Em biết chắc chắn anh không thế nào bỏ cách mạng (nàng lầm, vài năm sau tôi cũng đi) để đi theo em. Còn em thì không muốn làm phiền lòng anh vì sự có mặt của em trong cuộc đời cách mạng từ tấm bé của anh. Em sẽ trở thành gánh nặng của anh.

Ghê gớm thật, cô bé này. Không biết cô ta nhìn thấy những gì ở trên đó mà cô lên tiếng ngọt ngào chỉ trích cách mạng như thế. Tôi không thấy được như cô hay sao? Đúng ra tôi cũng có thấy, thấy nhiều chứ. Nhưng mỗi một lần thấy một vết nhơ sau chiếc áo đẹp đẻ của cách mạng thì tôi lại tự xóa đi bằng cách ngụy biện bao che cho cách mạng. Riết rồi thành thói quen. Những chuyện mọi rợ trở thành bình thường không làm cho tôi phản ứng tự nhiên nữa. ..

Như vụ vợ Nguyễn Chí Thanh vô R bằng máy bay và bọn Lê Đức Anh, Trần Độ, Trần văn Trà cho lính đem võng kiệu chị Sáu, băng rừng về gặp anh Sáu. Như vụ tổ săn thịt phục vụ cho bọn triều đình, việc chúng hay tin B52 sắp bỏ bom lẳng lặng chạy sang Cao Miên để phần lớn cán bộ nhân viên ở lại mà tôi nghe Thiên Lý kể hôm nào. Và biết bao nhiêu chuyện khác nữa. Tôi tự nhủ: Cách mạng phải thế. Như thế mới là cách mạng. Đến đổi như tên Hồ bỏ thuốc độc cho Dương Bạch Mai uống chết ngay tại Quốc hội mà tôi cũng coi là một sự bình thường. Vâng, cách mạng phải dã man mọi rợ như thế. Mọi rợ dã man chính là cách mạng. Nếu không, không phải là cách mạng. Thiên Lý bất ngờ làm tấm gương cho tôi soi. Tôi nói với Thiên Lý:

– Anh đã đi theo cách mạng từ thuở bé em ạ .

(Tôi định nói tiếp: Đi đã quá xa trên đường quá nhiều đoạn lầy lội và trước mặt cũng không khô ráo gì, nhưng không thể bỏ vì sợ phí uổng sự hi sinh đã qua của mình.)

Nhưng tôi ngập ngừng không nói tiếp. Thiên Lý bảo:

– Thì anh cứ đi. Còn em thì một bước cũng không. Dù mai đây cách mạng thành công em cũng không.

– Em không tìm được một sự dung hòa nào giữa bản thân em với cách mạng sao?

– Đó là sự thành hôn với anh.

– Em sẽ vì anh mà biến đổi. Nói tóm lại, em hi sinh cho anh.

– Em yêu anh nhưng không thể làm vợ của anh.

– Tại sao lạ vậy?

– Yêu đương là điều mơ mộng. Yêu trên giấy, trong hồn, trong gió, trong mây. Còn vợ chồng là một thực tế va chạm hàng ngày. Trước một cảnh tàn phá quê hương anh căm thù đế quốc Mỹ, em lại đổ lỗi cho bác Hồ. Một chiến sĩ hi sinh, anh cho rằng Tổ Quốc sẽ ghi công, còn em bảo là ngu dại. Hai con người mang những ý nghĩ đối ngược với nhau như thế có thể nào sống chung ăn chung ngủ chung không anh?

Tôi đành im lặng. Đây là một chị Sáu Bàu không biết là thứ mấy của Bến Mương. Chị Sáu bắt buộc phải ở với giải phóng. Khi có điều kiện, chị tung hê không luyến tiếc. Đó là kết quả của sự chịu đựng. Nóng quá phải quạt. Lửa cháy đến nơi phải chạy. Ngộp quá phải tung ra. Chị Sáu Bàu không có nhận xét Rờ là Rợ về cách mạng như Thiên Lý . Nhưng cả hai cùng nhìn cách mạng bằng một cặp mắt. Cái này là cái kia. Cái kia chính là cái này.

Chúng tôi đi song song nhau dưới một bầu trời ảm đạm điểm vài nụ cà nông vui vẻ ở xa xa và vài cánh hoa trực thăng gần gần, nhưng cơ hồ những hiện tượng đó không làm đứt quảng câu chuyện.

– Em ra ngoài có bà con gì không?

– Em sẽ tìm người cậu em ở Châu Đốc. May ra thì gặp. Còn không thì cũng may.

– Em không thể nấn ná để anh tìm cách phục vụ cách mạng hay sao?

– Không ? Anh đừng bận tâm. Còn em thì không muốn ân hận về sau. Tức là có cơ hội bỏ mà không bỏ để đeo đẳng suốt đời Thôi anh về, đi xa thêm nữa chỉ đau lòng. Xin anh nhận em là người yêu vĩnh viễn của anh.

Thiên Lý hôn tôi rất khẽ cơ hồ như gió thoảng. Rồi quay đi đuổi theo tổ trinh sát. Tôi đứng nhìn theo mà tưởng đất sụp trời nghiêng. Tôi thét lên một tiếng:

– Thiên Lý !

Rồi vụt chạy theo. Nàng đứng lại. Chúng tôi lại hôn nhau. Không nỡ rời. Nhưng phải chia tay. Trong cái hôn môi đẫm nước mắt cuối cùng, nàng thầm thì:

– Giá anh đừng cứu sống em!

o O o

Năm 1970 tôi theo gót chân nàng về Sài gòn. Tôi đi lên Châu Đốc để tìm nàng, nhưng giữa cảnh xa lạ, nào ai biết tôi là ai và tôi đi tìm ai? Không phải tôi đi tìm nàng để nối lại đường tơ, mà để biết rằng nàng đã có chồng có con và đang sống một cuộc đời bình thường ở một nơi mà nàng thích. Tôi xuống bến chợ ngồi nhìn ghe qua lại, nhìn tàu cặp bến, kẻ xuống người lên như nước chảy. Không có ai là Thiên Lý. Trên mặt đất này không biết có còn tiếng Việt Nam nào có nghĩa là Thiên Lý nữa không? Có người con gái nào mang tên Thiên Lý nữa không? Chỉ có trong lòng tôi một đóa hoa phong nhụy, một thực thể, một dư âm, một đường tơ tưởng đứt mà không bao giờ.

Chương 67

Chiếc thắt lưng Mỹ: Vành khăn tang Việt Nam..

Sự hoang vắng lan đần khắp Củ Chi sau trận khai quang Crimp, với hàng ngàn dân bị xúc ra ấp chiến lược, nhiều khúc địa đạo bị phá, nhiều nơi bị lộ, mộ dân mã lính mọc lên đó đây thương binh chật binh xá. Những bề bộn đổ nát sau một trận ruồng dọn hoài không hết. Nó cứ lòng thòng như nỗi ngao ngán thất vọng của người dân. Cuộc chiến tranh này có mòi vô tận. Nhà cửa, ruộng nương, cuộc sống của người dân trở thành mục tiêu tàn phá của súng đạn hai bên. Mỹ phá có chu kỳ , du kích phá triền miên. Thử xem một nhà nông không cày được ruộng vì trực thăng soi. Thử nhìn một con trâu chết vì lựu đạn gài của du kích v.v… Người chủ ruộng bị xúc ra ấp chiến lược được cho tôn làm nhà, gạo ăn thuốc men, nhưng đó không phải là tất cả. Còn nếu ở lại, Việt Cộng lùa họ xuống địa đạo như cá , nếu cuộc ruồng kéo dài năm bảy ngày thì mạng họ sẽ ra sao? Từ hai phía người dân như cá bị cặp gấp kê trên lửa. Cả hai bên chỉ nghĩ đến chiến thắng mà không cần đếm xỉa đến thân phận con người.

Chúng tôi dọn dẹp nhà cửa cho má Hai, chuyển lúa thóc ra ngoài, đắp cao những nấm mộ và cúng kiến, như những đứa con trong gia đình. Nhà Sáu Phấn bây giờ cũng vắng hoe. Chú Tám định chở lúa của Mười đi bán dùm rồi ra Phú Hòa Đông ở luôn. Chú Tám đã đóng xong chiếc ghe nhưng vợ con đã bị xúc ra ấp chiến lược nên không có ai dùng phải kêu người tới bán rẻ . Y không thể ở nhà mà không có vợ con. Chị Sáu có nhắn về cho chồng biết chị đã bán được con heo nái và bầy heo con. Đó là vốn liếng cắc củm bấy lâu nay của chị.

Sáu Phấn nhờ anh em tới khiêng tủ ghế thảy xuống mương để khi hòa bình rồi có xài. Nhưng anh chết trong cuộc hội nghị tham mưu quận đội gần mười hai người ở tại Bến Mương, đâu có trở lại mái nhà xưa. Vợ góa con côi giống y như trường hợp Hai Giả . Rồi đến Tám Mang, cô mụ kiêm thợ may, dẹp tiệm. Bà già cô ra Trung Hòa tá túc với người em còn cô dính lem lem với giải phóng không dám đi theo. Cô ở lại xin đầu quân vào H6 làm chị nuôi, nhưng được vài tuần thì Sáu Phấn bảo như vậy không tiện. Nên tôi phải thương lượng với phòng y tế quận nhận cô vào công tác. Tôi phải chở cô đến. Dọc đường cô cằn nhằn:

– Anh Hai không để ý gì đến em hết á !

– Em có chồng rồi, anh đâu dám!

– Em đâu có hứa gì với ai….

Trước khi chia tay nàng cũng như nhiều nàng khác muốn anh Hai giúp đỡ...

Biết bao công việc đa đoan, việc lớn việc nhỏ, việc nước việc nhà , vui buồn lẫn lộn, hạnh phúc và đau khổ. .. Ngày này qua ngày khác đến, đều một công thức như nhau.

Lụi hụi mà tôi về H6 đã được một năm. Tết sắp đến. Đây là cái Tết thứ mười tám tôi không được lạy bàn thờ ông bà . Tên lính Lê Dương dẫn xác đi khắp Việt Nam, trừ mảnh đất chôn nhau cắt rốn thì không về được.

Bao giờ kháng chiến thành công
Chúng ta cùng uống một chung rượu đào
Tết này ta lạm xa nhau
Chắc rằng ta sẽ Tết sau xum vầy.

(Hồ Chí Minh 1946)

Năm 1966. Hai chục năm chẵn. Rượu đào đâu? Thành công đâu? Còn xa nhau bao nhiêu năm nữa. Tết sau là tết nào? Cái Tết ngày mai ăn khỏi trả tiền chăng? Rõ cù lần! Cách mạng khởi đầu là mặt trời. Dần dần trở thành mây đen và bây giờ thành địa ngục. Lộ mặt tất cả:

Hồ: Ác;
Đảng: Cướp;
Cách mạng: Rỡ;
Giải phóng: Ngu.

Tuy mùi cháy khét còn nồng nặc nhưng ai còn sống cũng chuẩn bị ăn Tết như thường. Một hôm Sáu Phấn đến gặp tôi với nét mặt phấn khởi:

– Thầy hay tin gì không?

– Tin bả được heo hả ?

– BBC cho hay Tết này ngưng bắn 24 tiếng. Tôi đến cho thầy hay liền để mình chuẩn bị kế hoạch ăn Tết!

Tôi lơ đảng đáp

– Ngưng 24 tiếng thì làm được cái gì?

Việt Cộng lợi dụng ngưng chiến để chuyển quân, tiếp tế vũ khí chuẩn bị chiến tranh. Đó là cái mừng của chúng chớ chẳng phải chúng thực tâm muốn có một bầu không khí yên ổn để dân chúng ăn Tết. Ai mà quên được cái chết Mậu Thân 1968? (Tôi sẽ kể tới đó.)

Bây giờ thi hành lịnh ngưng chiến chúng cũng kèm theo một chỉ thị kêu gọi toàn dân toàn quân đề cao cảnh giác!

Nhiều người gởi bánh tét, bánh phồng đến ủy lạo H6. Bà Hai ở Ngã Ba Sòng, nhạc mẫu của thằng Chi cho cô Chạnh đem vô một gánh bánh tét và gạo nếp như đem trả của cho đàng trai. Hội Phụ nữ Quận do Tám Phụng đại diện đến cho mắm muối, bòn bon thèo lèo. Các nàng dũng sĩ cũng đến chúc mừng ông thầy pháo.

Tôi bảo Năm Dị sang nhà má Hai đốt nhang cúng vái trước những ngôi mả mới. (Bàn thờ đã ngâm dưới ao.) Sáu Phấn đại diện H6 đi thăm mả thằng Chi, thằng Đức và vô C5 ủy lạo thương binh.

Tôi nằm nhà lắc lư trên võng và ăn bánh phồng bánh tráng với thằng Đỏ. Tôi không muốn sang nhà má Hai để trốn những hình ảnh đau lòng. Trước khi đi Thiên Lý có yêu cầu tôi giúp nàng mở cửa mả cho má, anh chị và cháu bé của nàng. Nàng ngất xỉu mấy lần. Khi tỉnh dậy nàng nói:

– Em nhờ anh săn sóc mộ má, anh chị và cháu. (Nàng không dùng tiếng “của em”) ở ngoài đó em sẽ đi chùa và làm tuần bách nhật.

Bây giờ sang đó, cảnh vắng người buồn không chịu nổi nên tôi không đi. Tôi yêu Thiên Lý như một tia chớp lóe lên rồi tắt, yêu cả những ý tưởng căm ghét cách mạng của nàng . Đời này ai có chân lý và tình cảm riêng tư nấy. Từ nay tôi sẽ đau đớn mỗi khi nhớ nàng. Sao chúng tôi không thành chồng vợ được? Tôi không có cách gì cầm nàng ở lại. Hay chính tôi cũng tán thành hành động của nàng? Tôi không biết. Nhưng khi nàng đi rồi thì tôi chỉ tiếc vì đã để mất một người con gái đẹp yêu mình chứ không ân hận vì đã giúp nàng đi thoát.

Tám Đột không hay biết gì về kế hoạch bí mật của tôi nên sau khi tôi trở về, gặp lại anh ta không hạch hỏi. Nhất là tôi thay mặt Thiên Lý bảo: “Ngôi nhà nàng giao cho công an quản lý.” Mồm con khỉ đột dù to mấy cũng bị trám dễ dàng.

Nhiều người say. Dân say, anh cũng say, nhà cửa của mình mà những tên cha chài chú chóp nào ở đâu kéo tới đánh nhau rồi cho mình hai chữ bình an trong 24 tiếng? Vậy mà mừng húm. Hồi chín năm vui lắm, liên hoan có cả múa lân vui mút mùa, đâu có hạn chế như bây giờ. Nhưng nghĩ cho cùng nếu tôi còn ở ngoài Bắc, thì hoặc ở Ba Vì, hoặc ở Lam Sơn Tết rưới nước mắt, lấy rượu làm vui có hơn gì ở đây? Nông trường Lam Sơn có mười ngàn lính cuốc đất uống rượu bằng hai triệu dân Thanh Hóa thì ngẫm ra câu Dụng tửu quân giải phá thành sầu cũng hữu lý lắm vậy.

Bây giờ anh chàng Huế Nghệ Năm Dị lâm vào cảnh của dân Nam kỳ trước đây ở ngoài Bắc. Hắn uống rượu như nước. Mặt đỏ như gà chọi, cất giọng mỉa mai:

– Hồi trước khi các ông buồn, các ông thường ngâm câu:

Đất Bắc anh gìn con tí ngẳn
Trời Nam em giữ cái bề hê

Bây giờ tôi thấy câu đó thắm thía vô cùng và xin đối lại:

Đất Bắc em gìn con cá lẹp
Trời Nam anh giữ Củ Chi chi.

Tôi cạn ly với hắn và nói:

– Bến Mương này thiếu gì đàn bà giá . Ai biểu ông trung với nước hiếu với dân hoài chi rồi la!

– Thằng nhỏ có hai nhiệm vụ chiến lược, bây giờ cái nhiệm vụ quan trọng nhất lại không làm được mà cho làm nhiệm vụ thứ hai! Khẹc… khẹc…

– Tụi tôi mười năm, ông chỉ mới chịu hai năm thôi mà !

Bỗng thằng Đỏ từ đâu chạy về cấp báo:

– Anh Hai ! anh Hai !

Mọi người nhảy dựng lên, tưởng Mỹ tới. Thằng Đỏ nói cà lăm:

– Thím Hai . . . thím Ba tới ! Có . . . chị Ba nữa .

– Thím Hai thím Ba nào?

Thằng Đỏ đến rỉ tai tôi. Tôi đến miệng hầm nhìn ra thấy một tốp đàn bà con nít đi hàng ngang, đầu người nào cũng quấn khăn trắng lốp. Vợ Hai Giả , vợ Ba Thanh! Chết rồi ! Tôi muốn chui trốn để khỏi đối diện với hai bà vợ tử sĩ này. Cho đến nay tôi vẫn còn cất cái sắc-cốt của Hai Giả dưới hầm, và vụ anh bị khui hầm cùng với Ba Thanh vẫn còn được giữ kín. Hầu như không ai còn nhắc tới Hai Giả và Ba Thanh đi công tác ở Dĩ An nữa. Chính tôi cũng quên đi. Hôm nay lại bật ra.

– Mấy bả đi tới kìa !

Thằng Đỏ như hiểu tâm sự tôi. Nó nhìn tôi lo lắng và bảo:

– Em ra nói anh đi vắng được không anh?

Bất giác tôi xua tay:

– Không! Để anh gặp, mấy bả có chửi thì anh chịu.

Các bà đã tới nơi. Thấy bếp đang lên khói, các bà quẹo xuống đó . Thu báo cho tôi. Tôi cho mời mấy bà đến hầm làm việc của tôi. Năm Dị, Thu và mấy cậu khác thấy khách đến thì nhường chỗ cho các bà ngồi.

Người đàn bà trạc bốn mươi tự giới thiệu là vợ Hai Giả, giới thiệu luôn vợ Ba Thanh và các bà khác. Chị Hai nói:

– Nhân dịp ngưng bắn, tôi đem sắp nhỏ vào thăm… cơ quan. Còn cô này là người có chồng ở công trường 9 gốc Bến Mương vừa hi sinh, nên đi với tôi cho có bạn.

Tôi nói ngay:

– Tôi là người thay cho anh Hai. Rất tiếc chị vô mà anh Hai lại đi công tác xa… .

Vừa nói tôi liếc nhìn các bà và mấy đứa trẻ . Những chiếc khăn tang trắng chứng tỏ họ đang chịu tang. Tôi thầm nghĩ. Nhưng tôi cũng cố chối. Ngồi hầm này vừa chứng kiến những giọt nước mắt lâm ly bây giờ lại ngập màu trắng của những chiếc khăn tang buồn thảm. Tôi ngỏ lời mời khách ở lại ăn Tết, nhưng chị Hai nói:

– Chị em tôi muốn mời Ban chỉ huy đến nhà chị Chín Kiểu dùng một bữa cơm đạm bạc!

Tôi nghe nguy cơ sắp đến rồi. Như vậy là bà lớn biết gốc của bà nhỏ . Các bà đánh ghen và muốn có sự chứng kiến của cơ quan mà tôi là người chịu trách nhiệm chăng?

Đầu năm xui thật. Tôi làm mặt tỉnh nhận lời:

– Dạ ! Hổng mấy khi chị Hai vô thăm, đáng lẽ anh em chúng tôi phải đến đó chớ đâu dám nhọc lòng chị, mấy cô và mấy cháu mời. (vợ Ba Thanh chừng hăm lăm; còn cô có chồng lính công trường 9 chừng hai mươi tuổi.)

Nghe tôi nói, phái đoàn đứng dậy kiếu từ. Đối phó với các bà còn mệt hơn thảo kế hoạch pháo kích Đồng Dù . Nhưng đã trót thì phải trét. Tuy làm gan mà bụng dạ rối bời. Tôi tự đặt ba giả thuyết: Thứ nhất: Hai bà đánh nhau to. Giả thuyết này có khả năng nhất. Tôi sẽ tùy cơ ứng biến. Thứ hai: Chỉ khẩu chiến sơ sơ. Tôi sẽ dùng lý luận ba phải xử chìm xuồng. Thứ ba: Hai bên hòa thuận với nhau! Khả năng này chắc không có. Tôi vừa đi ra đường thì đụng Năm Tiều.

– Ê! ngưng chiến 24 tiếng mày định triệu tập hội nghị ve chai chưa thằng cu?

– Rối như tơ vò đây bác nó ơi !

Tôi thuật chuyện vợ Hai Giả vô cho anh nghe. Anh đã vô đế ở đâu rồi, hơi thở nặc men cay, nghe tôi nói anh la luôn:

– Đù mẹ mấy thằng chánh trị. Chánh trị cái con mẹ gì kỳ vậy. Chồng người ta chết cả năm nay không có giấy báo tử Làm ăn cái kiểu đó, coi không được.

Tôi bỏ nhỏ :

– Anh Năm Lê bảo tôi cho bà lớn lẫn bà nhỏ của ảnh hay, nhưng tôi ngại quá, tôi ém luôn.

– Mày ngại, để tao nói cho !

Tôi mừng như vừa chiến thắng một trận giặc lớn. Năm Tiều hâm hở đi trước. Tôi theo sau. Vào đến nhà tôi mới bật ngửa ra. Nhang đèn trên bàn thờ sáng choang. Khói bay xốn mắt. Nhìn lên bàn thờ thấy đến ba tấm hình: Hình chồng trước của chị Chín Kiểu đứng nghiêng và hình Hai Giả với Ba Thanh chụp chung. Chị Hai, chị Chín, chị Ba mắt đỏ hoe.

Vậy là họ biết cả rồi. Năm Tiều vọt miệng nói ngay:

– Chú Hai Giả và chú Ba Thanh hi sinh ở Dĩ An, nhưng Hai Lôi sợ ba thím buồn hai chú nên giấu để lựa cơ hội sẽ nói ra chớ không phải ém luôn.

Vợ Hai Giả vốn quen với Hai Tiều trong những lần trước chị vào thăm chồng, nói:

– Dạ, ba sấp nhỏ hi sinh hôm trước thì hôm sau tôi hay liền nhờ người cậu của nhà tôi làm ở Sở Hỏa Xa cho tin. Ngoài ra mấy ông Phượng Hoàng có đem mấy tấm hình cũ (chị trỏ lên bàn thờ) cho cậu tôi nhìn.

– Chết chưa ! Tụi nó biết gia đình thím hả ?

– Dạ vì trong ba lô có giấy tờ nên mấy ông coi và tìm ra. Nhưng mấy ông không làm khó dễ gì.“Chúng tôi không thù người chết. “ Mấy ông nói: “Tụi Đại Hàn gặp miệng hầm là ném lựu đạn liền, nếu đụng Mỹ thì chồng chị chỉ bị bắt đưa ra Côn Đảo thôi.”

Tôi và Năm Tiều sững sờ. Vậy mà lâu nay cứ giữ bí mật . Hai đứa đốt nhang vái. Năm Tiều còn pha trò:

– Mày chết dưới hầm mà còn sống lại được là nhờ thằng Hai Giả với thằng Ba Thanh phù hộ đó . Mày phải xá bàn thờ tụi nó đi !

Tội nghiệp chị Chín, hai đời chồng, một thời chống Pháp, một thời chống Mỹ. Cả hai đều yểu mệnh. Đứa con của Hai Giả có với chị mới một tuổi mà đã quấn khăn tang. Riêng chị Hai thì được hai đứa con trai, thằng Nhơn mười hai tuổi, thằng Nghĩa bốn tuổi. Chị nói:

– Thằng Nhơn ra đời hồi ảnh đánh trận Trảng Bom bị thương về nhà dưỡng bịnh. Còn thằng Nghĩa thì ảnh ngoài Bắc về mấy năm nó được mấy tuổi.

Năm Tiều sẵn trớn nhắc chuyện đánh Tây hồi trước còn tôi thì nhắc kỷ niệm ở Hà Nội, chiều thứ bảy nào hai đứa cũng đạp xe qua cầu Ái Mỗ ra thị xã Sơn Tây uống bia, đôi lúc hứng ra luôn Hà Nội coi hát bóng.

Chuyện gì rồi cũng qua. Hai người đàn bà cùng mất chồng thấy không còn lý do để ghen nên (bên ngoài) đối xử với nhau rất thuận thảo. Thức ăn đầy tràn nhưng tôi và Năm Tiều nuốt không vô. Thấy cổ họng nghèn nghẹn, nói năng thèn thẹn nên chỉ uống rượu suông rồi từ giã ra về. Về đến nhà, Năm Tiều kêu đói. Sẵn AK treo trên vách anh xách ra làm nửa loạt và xách hai con gà tự túc của tổ nuôi quân đem vô bảo:

– Mày kêu tụi nhỏ xé phay đem lên làm sương sương rồi tối sẽ tính.

– Anh nổ súng vi phạm lệnh ngưng bắn đó !

– Cái đếch! Mình lòn về Nam bằng đường Trường Sơn còn không sợ vi phạm lại sợ bắn mấy phát AK? Tao hỏi mày: ông Sáu Vi ngồi một đống trên R đó, có vi phạm không? Vi vi cái củ … chi tao nè ! – Được trớn Năm Tiều ria luôn – Cái 1 sự mình đi về đây, ở đây, mặc quần áo quái gở như thế này và đánh trận này trận kia có phải là vi phạm không?

Tôi lặng thinh. Nỗi buồn xa quê xâm lấn tâm hồn hai thằng Lê Dương tha hương đã hai chục năm, gia cư bất biết. 1 Năm Tiều bỗng nhiên thở dài:

– Thằng Hai Giả chết lãng nhách, cũng vì sự phân công không hợp lý. Nó chết bỏ lại hai con vợ và một bầy con nít. Con nhỏ Văn công của mày giải quyết có ổn không?

– Chúng tôi giúp đưa cổ ra Đồng Lớn để chuẩn bị biểu diễn.

– Thằng ! Mày nói gạt anh Năm hả Lôi?

Liệu bề chối không khỏi ông Phó ban Tác Huấn, tôi khai thiệt. Anh gục gặt đầu:

– Bỏ thì thương vương thì tội. Tao biết hồi nó nhảy cóc nhảy nhái ở đoàn Văn công của thằng Năm Sang. Nhờ nó có giọng ca thiên phú nên được bắt về R.

– Tội quá anh à !

– Ừ thì tội ! Nhưng mày phải giấu nhẹm nghe. Mấy thằng xã ủy hay được thì nguy to.

– Nó lại thù tập thể của nó anh à !

– Tại sao?

– Nó gọi R là Rợ.

– Chắc mấy thằng chú, bác nó mò nó và hứa cho vô đảng chớ gì. Chú khác với chó có một chữ u và dấu nặng thôi. Đâu đâu cũng vậy chớ không riêng gì R.

– Nếu có thì đó cũng là việc nhỏ. Vấn đề là nó nhận xét đám Ba Kê hách dịch. Lúc nào cũng làm như ta đây là đàn chị. Nó bảo thằng Thanh Hùng và con Ngọc là đồ ngu, và nó cũng ngu tuốt. Nó có gặp Lưu Hữu Phước và mấy chú mấy bác văn nghệ sĩ lớn. Chú bác nào cũng nhếch nhác ích kỹ và ti tiện so bì từ hột đậu phộng trở lên. Lại còn có chế độ trung táo đại táo nữa. ở rừng với nhau là gian khổ đáng lẽ phải chia xẻ nhau từng miếng khô từng vắt cơm chớ đâu có bắn được con khỉ về giao cho nhà bếp, thịt nạc dành cho trung táo xương quăng cho đại táo gặm. Cùng chống Mỹ mà ngồi riêng mâm, ăn riêng khẩu phần coi thiệt mọi rợ.

Năm Tiều gạt ngang:

– Thôi bỏ đi mày. Bây giờ để tao trải bản đồ ra mình xem các cụm quân Mỹ và bàn thảo kế hoạch. Tụi nó làm cái kiểu này chưa có rút đâu.

Năm Tiều rút bản đồ trong xắc-cốt ra trải lên bàn. Hai thằng mọp đầu vào nghiên cứu. Năm Tiều lấy bút chì đỏ khoanh vòng mấy điểm nói:

– Độ chừng mười ngàn quân tham chiến. Mẹ, nó chuẩn bị đưa thêm linh nên mới làm hung vậy. Nó có hai điểm xuất phát:một là Phú Lợi, hai là Đồng Dù. Đù mẹ, chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ nó vây kín Hố Bò và Bến Dược. Nó đánh có diện có điểm đúng bài bản ghê, mày thấy chưa. Diện là Củ Chi, còn điểm là Phú Mỹ Hưng và An Nhơn Tây. Ở Phú Mỹ Hưng nó đào xới Hố Bò Bến Dược. Người ta bảo nó dùng chó đánh hơi, nhưng đâu có . Nó chỉ bới ở những vùng nó nghi ngờ là gặp. Điểm thứ hai là An Nhơn Tây, trọng điểm là Bến Mương và Trại Bà Huệ. Nó đánh tiêu căn cứ tụi thằng Tám Giò và Một Sơn và H6 mày nữa. Cơ giới, không quân, thủy quân, lục quân của nó triển khai nhanh chóng và phối hợp nhịp nhàng. B52 rải thảm, phản lực bắn phá, trực thăng tỉa . Đất còn nghi ngút khói là trực thăng đã thả bộ binh, thủy quân lục chiến đã lên bờ. Xe tăng từ Đồng Dù thọc vào Xóm Đưng rồi chia làm hai mủi chĩa thẳng vô Bà Thiên và Xóm Mới. Rồi từ Xóm Mới đánh thẳng lên Bào Đưng, từ Bà Thiên đánh lên Bến Mương trong lúc đám xe tăng trên Hố Bò chia làm sáu mũi như bàn tay sè chụp, đánh cùng một lúc sáu mũi, mũi một đánh Sở Cao su Phú .Hòa, mũi hai đánh đồn điền Simma, mũi ba đánh Trại Gian Bầu, mũi bốn gặp mũi từ Xóm Mới đánh lên, ở Bào Đưng, mũi năm đánh xuyên đồn điền Solirenes thẳng tới Cổng Bông Giấy, mũi sáu đánh thẳng Xóm Thuốc. Nếu không nhanh chân các ông như mình bị xe tăng cán nhẹp ruột. Cùng một lúc với các mũi tấn công của xe tăng và bộ binh, B52 rải thảm ở An Điền bên kia sông Sài gòn vùng cực nam Củ Chi, và Trảng Cỏ vùng cực bắc Củ Chi. Vậy là tụi mình bị nút kín trong cái ve ba-xị-đế. Nó để một cửa thoát cho mình là Quốc Lộ 1 . Nhưng nếu láu táu thì bị hốt ngay vì đó là cái hom chứ không phải là cái lỗ rách của chiếc giỏ.

Năm Tiều nhìn tôi. Có lẽ ông Phó ban Tác Huấn bị ở trên xạc cà rây nên đổ quạu với tôi. Tôi cười giả lả :

– Thắng lợi của ta kỳ này là các chả chạy thoát, thắng lợi của H6 là thằng Tư lịnh pháo chết đi sống lại, thắng lợi của đội dũng sĩ là con Út Nhỡ quào rách mặt một thằng Mỹ.

– Địt bà thằng đài giải phóng và đài Hà Nội, lúc nào cũng cười lính Mỹ gà tồ ra trận chưa rành động tác cơ bản. Tao đã nghiên cứu nhiều trận rồi, tao muốn bịt mồm mấy cái đài này lại, để nó tuyên truyền láo toét, thanh niên mình ham đầu quân giết Mỹ, đến chừng đụng trận nó bắn không ngóc đầu lên được rồi mất tinh thần bỏ về nhà hết ráo. Tao nghe có một buổi phát thanh về Nam, đài Hà Nội dám nói đại khái như thế này: linh Mỹ nghe quân ta nổ súng thì đâm đầu chạy, còn một số khác thì giơ súng lên, từ từ ngồi xuống lăn qua như học ở trường, rồi mới lắp đạn. Đạn lắp xong thì quân ta đã tới kêu giơ tay lên!

Năm Tiều cười mũi:

– Bởi vậy cho nên trận nào quân ta cũng diệt cả trăm, bắt sống cả chục Mỹ. Mẹ kiếp bắt sống Mỹ còn dễ hơn bắt cá trong giỏ, ai nghe mà chẳng ham.

Tôi đưa đà :

– Bởi vậy cho nên thằng giết kịch bất lương tên là Nguyễn Vũ mới viết ra cá i kịch Mượn Mỹ diễn ở đại hội Mừng Công trên R có đám trí ngủ ở Sài gòn vô coi. Chúng tưởng đó là thật nên nhào vô kiếm chát rần rần. Có hai ba con đĩ lũng nữa. (Bây giờ mấy con này đã biết mình ngồi phải cọc thì quá muộn)

– Quăng tụi đó xuống Củ Chi này vài bữa tiếp tay bắt Mỹ với đám con Bảy Mô để trở thành dũng sĩ! Tao mà biết đài giải phóng ở đâu thì tao đến tao dộng bá súng vô miệng tuị đó cho gãy răng.

– Không phải tụi đài giải phóng nói ẩu, cũng không phải thằng Nguyễn Vũ viết càn như vậy đâu anh Năm, đó là do Trung Ương chỉ thị.

Năm Tiều vỡ lẽ ra bèn khom xuống bản đồ lằm bằm:

– Nhưng nói cho cùng mình cũng không trách được tụi thằng Ba Châm, Út Lịa, Bảy Nô không đánh được trận nào.

– Tai hại nhất là cái kho của Bảy Hót bị hốt sạch.

– Đù mẹ ai ngu quá, giao cho cái thằng tên Hốt làm hậu cần nên bị hốt sạch.

– Vậy ông phó tư lịnh của mình tên Phón thì sao?

Năm Tiều bật cười. Tôi tiếp luôn:

– Còn ông phó ban tác chiến và huấn luyện khu thì lại tên Tiều. Chẳng trách gì lính tráng lẫn cán bộ chạy tuột dênh chỉ còn có cái quần tiều.

Năm Tiều cười hô hố rồi hết quạu luôn. Anh xếp bản đồ nhét xắc-cốt rồi ngồi lắc lư, cái đầu vuông như cái gối đệm:

– Năm nay là năm Ngọ cho nên mình chạy là phải. Mình còn mặc quần tiều là quới lắm nghe mậy. Năm tới mặc xi-líp lội sông Sàigòn cho coi.

Tiệc dọn lên. Hai thằng Lê Dương, một già, một sồn sồn ngồi cạp giò gà nhậu rượu đế. Đột nhiên Năm Tiều hỏi:

– Hồi ở ngoải mày có ra Hà Nội ăn Tết lần nào không?

– Năm 62, năm con trâu già.

– Có gì lạ không?

– Có ba cái đèn xanh đỏ quanh bờ hồ và ở trên đầu Tháp Rùa. Và nghe pháo chuột nổ trên đài, nghe thơ chúc Tết của Bác vào lúc giao thừa nữa chớ!

Năm Tiều đang bưng ly rượu bỗng buông xuống bịt mũi:

– Thôi, thôi mày đừng nhắc tới thơ của ổng. Hôi ê lắm! Chỉ có ba thằng triều đình và đám rau muống xực được thôi. Tao không bao giờ nghe.

– Sao vậy cha? Thơ của bác đọc vào giờ thiêng liêng mà không nghe thì phí của giời quá!

– Thơ trật vần nghe chối tai còn hơn heo kêu.

(Tôi đã nói lính sợ Năm Tiều như sợ cọp đã đành. Cấp trên cũng ngán anh. Anh muốn nói là nói, không biết nể nang ai, không ai bụm họng kịp. Nhưng không ai dám phê bình cảnh cáo anh, vì đó là trực tính của một người lương thiện. Anh nói đúng, chớ không sai chuyện gì. Hơn nữa về thành tích chiến đấu anh không thua ai trong quân khu này, nhưng vì cái tật phát ngôn tự do mà không ngóc đầu lên nổi. Người ta thành phần bần cố nông được đề bạt vượt cấp, nhiều người cùng lứa lên tới thượng tá giữa chức trưởng phòng, còn anh lẹt đẹt chỉ ôm cái phó ban hàm)

Tôi rót rượu cho anh và nói:

– Anh ở đây với tôi nghe pháo chuột nổ và thơ bác!

– Ngày mai yên ổn, mày không có kế hoạch gì sao? Tao định về nhà thăm vợ.

– Vợ nào?

Năm Tiều cười phì, nhìn tôi:

– Cái thằng! Vợ còn hỏi vợ nào?

– Tôi hiểu anh mà anh Năm! Há há!

Năm Tiều bị tôi điểm trúng yếu huyệt làm thinh. Tôi rủ anh đi Hố Bò. Anh gật. Tôi nói:

– Nếu Mỹ rút thì bà Sáu Tĩnh trở về rồi. Anh không lên tụi em nuôi vịt xiêm Q16 chốt mất.

– Q16 vô rồi, thế nào cũng có cu 17 cu 18 xuống cho mày coi. Toàn là cu, cu bầy!

– Tiện dịp tôi hỏi thăm cái hầm ông Ba Xu tôi đào hồi năm ngoái với cô Là.

– Mày mà đào hầm! Có em mày mới đào phải không? Nhưng ông cấm lính chui hầm sao ông lại đòi hầm?

– Hầm chớ không phải địa nghe cha non!

– Địa là tía của hầm, hầm là con của địa. Ổng bảo chịui xuống địa là mất tính chiến đấu, sao ông lại đòi hầm để chui ?

Năm Tiều quăng cái xương gà một cách giận dữ – Bây giờ tao mới hiểu. Các ông ra kỹ luật là để cho người khác chớ không phái để mấy ông thi hành, rõ chưa? Tao vô đảng mấy chục năm đâu có thấy thằng ông nội nào có vợ bé mà bị kỷ luật? Kể cả đồng chí Tổng bí thư Lê vòi đi khắp nước mà Hồ chủ tịch có rầy rà gì không? Thậm chí thảy năm, bảy lỗ một lúc cũng cứ là lãnh tụ như thường. Gần nhất là các tên R, rồi ở ngay bên cạnh mình là Năm Lê, vợ lớn làm rùm beng nhưng ban tổ chức Trung ương có dám làm gì mấy chả không? Nhưng hễ tụi mình ngủ với đàn bà góa thì bị kỷ luật sắt Một đại úy chết lãnh nhách. Hai người đàn bà góa, một lũ con nít bịt khăn tang trong ngày Tết vì mất cha mất chồng là do kỷ luật sắt mà ra đó mày ạ !

Năm Tiều ngưng ngang nốc hai ba hớp rượu giằn mạnh ly xuống bàn và tiếp:

– Tao nói thiệt với mày. Gặp mặt mấy bả trước bàn thờ Hai Giả tao muốn chui đi cho đỡ nhục. Vậy chớ bây giờ một ông kẹ nào chui vô cái địa đạo của bà Chín Kiểu thì mọi sự êm rơ thôi, chẳng có kỷ khỉ gì cả.

Năm Tiều vừa dứt lời thì liên lạc hỏa tốc đến. Tôi cầm thơ xem, không biết của ai. Mở ra thấy chỉ có một dòng:

“Cậu Lôi, được thư theo chân liên lạc tiên gặp tôi. B.X “

Tôi đưa cho Năm Tiều xem. Năm Tiều liếc qua rồi bảo:

– Ông kẹ gọi chắc bảo mày giàn trận mới. Thôi đi đi. Tao về thăm cái lọp nhà… Coi nó xệu xạo vậy chớ bỏ lâu không thăm cũng có thằng rình, đổ mất. Ba cái pháo chuột, năm tới nghe.

(Nhưng Năm Tiều chết trước khi nghe pháo chuột Tết năm Mùi.)

Chương 68

Giang tả cầu hôn hay liêu trai tân thời:

Bà Chánh ủy của ông Tư lệnh

Thằng Lạn đạp như bay. Tôi hỏi:

– Ổng ở đâu em?

Lạn vung tay.

– Tuốt ở trển.

– Lâu gặp em quá, có gì lạ không?

– Em đi Liên Xô mới về , hì hì . . . hà .

Chiếc xe sụp lỗ suýt lật ngang.

– Lần nào gặp em cũng đi Liên Xô về . Có gặp con Thanh không?

– Em bỏ đường đó lâu rồi. Tụi nó mất hang dời đi đâu không rõ.

– Còn thằng Chín Hung, Hai Nhị đi Tây Ninh?

– Đám dê đó sát nhập vô đâu mất tiêu không thấy nữa. Lần chót em gặp con Thanh nó khóc quá tay. Tôi hỏi sao khóc Nó nói chú nó (là tên quân báo Nguyễn Duy Nam) bắt nó ra Đồng Dù lấy tin. Nó phải mặc quần áo kiểu thành thị, uốn tóc và học nhảy đầm nữa.

Tôi chợt nghĩ tới con Ua, tay chân của Chín Lộc. Lạn tiếp:

– Nó có nhắn anh, gởi lời thăm anh. Nó than với em đời nó kể như tiêu tùng rồi.

Tôi gượng gạo:

– Hoạt động cách mạng mà tiêu tùng cái gì?

– Trời ơi! Anh không biết thằng chú nó muốn cắm nó vô Đồng Dù hoặc các nơi có nhiều Mỹ tới lui để lấy tin sao? Kỳ trước gặp anh, nó có than về vụ đó mà. Láng cháng với Mỹ thì tàn đời thôi.

– Anh biết rồi, thằng tía nó là Phạm Xuân Hoàng nòi quân báo mà. Chú nó đi theo tía nó rồi hi sinh nó chớ sao?

Đến bến đò Đồng Sõi thấy có chiếc thuyền bằng nhôm giống như ca nô sơn đen bóng loáng. Tôi hỏi:

– Xuồng ở đâu mà đẹp vậy?

– Cái bọng B26 anh hạ kỳ rồi đó.

– Tụi D8 hạ chớ phải tao đâu.

– Ừ! thì nhờ vụ pháo kích của anh, mấy ổng mới ăn có nếu không, bơ mỏ chớ làm nên gì. Nhưng mấy ổng dở cái là không bắt được phi công.

– Trời ơi ? Phi công mà bắt sao được? Máy bay rớt là tụi nó tới liền. Ở miền Bắc kia, tụi nó còn cứu được phi công huống gì ở trong này phi cơ rơi ngay bên rào bót.

Vọt qua sông Sài gòn dễ dàng vì nhằm ngày hưu chiến không có giang thuyền, nếu ngày thường thì lên ruột. Cậu liên lạc đẩy thuyền dấu trong bụi rồi chỉ đường cho chúng tôi đi. Lạn vác xe đạp, tôi theo sau, băng một hơi lên đường 14, lại đèo tiếp .

– Anh định chừng nào tuyên bố?

– Tuyên bố ma họ !

– Anh giấu em hoài, em biết hết trơn.

Tôi lấy làm ngạc nhiên. Mấy cô phao tin chắc. Nhưng cô nào? Cô Bảy dũng sĩ hăm rước má vô coi mặt. Cô Lam thì dắt ra Ràng gặp gia đình rồi, cô Là cầu nhàu vì má qua không gặp. Ua, Chia còn lững lơ đó, nhưng bà Ngoại đã hứa gả… cả hai. Tôi nào biết gì đâu… Tôi bèn hỏi Lạn.

– Còn em có chỗ nào chưa?

– Em thì trong veo như cua sáng trăng, có lẽ chừng nào em lạn mòn một trăm cặp vỏ xe mới có người yêu như anh.

Tôi cười:

– Mòn tới cặp thứ mấy rồi?

– Mới tới hai chục thôi. Còn tám chục cặp nữa. Hì hì. Anh đã thiệt, con gái xã, huyện, tỉnh, khu bu anh vậy mà anh phủi hết, kỳ này lên tới R… Q hục hục…

– Thôi mày ơi ! R râu râu rụng R rún rún rung rinh, R Q mà sướng ích gì.

– Người ta kể cho em nghe hết trơn rồi.

– Kể chuyện gì?

– Cô gái Nhị Bình với ông thầy pháo đẹp đôi phải biết?

Tôi giật mình.. Sao thằng này biết chuyện đó? Tôi chưa kịp hỏi thì Lạn tiếp:

– Con Thiên Lý học cùng trường với em ở quận mà.

– Rồi sao?

– Vừa rồi đoàn của nó diễn ở Trảng Bàng…

Tôi sốt ruột gạt qua:

– Tao biết rồi….

– Thì nó khai hết với em chớ. Ban đầu em hỏi nó ở trên R có mối nào chưa? Nó chê một nhánh so đũa có cả chục con dê chồm tới, dê cụ cũng lăm le. Nó có hỏi thăm anh.

– Mày đặt chuyện chớ làm gì nó biết tao.

– Em biết gốc ngọn đâu mà đặt được. Em hỏi sao nó quen với anh thì nó bảo diễn tuồng ở đêm mừng công anh lên đọc diễn văn có đúng không?

– Có ! Rồi sao nữa?

– Nó nói nó đứng gần anh lúc anh cởi đồng hồ cho cô Kim Chi nào đó và lột cây P38 cho ông già kéo màn. Có không? Nó bảo khi nó ca bài Cô gái Lục Bình (Tôi cười: Cô gái Nhị Bình) nó dòm xuống nó thấy mấy cô ở văn phòng ngồi vây chung quanh anh làm nó ca suýt trật nhịp.

Tôi chối ngang. Tôi không muốn nghe lại chuyện đau lòng. Nhưng thằng Lạn vô tình cứ lãi nhãi rồi kết luận:

– Thiệt bất ngờ hả anh?

– Bất ngờ cái gì ?

– Bất ngờ là người trong mộng của cô gái Nhị Bình lại đóng quân ngay bên cạnh nhà mình. Nếu không có trận ruồng này thì bây giờ anh không có sang sông đâu. Chừng nào làm anh cho em hay em về dự tiệc trà với!

Thằng Lạn chân đạp miệng nói tía lia.

– Chừng nào có thì tao cho hay.

– Mà chừng nào?

Tôi thấy cay cay mắt nên hỏi.

– Không biết! Mày có nghe gì là lạ trong không khí không Lạn?

– Lạ gì mà lạ . Em quen ba cái mùi hóa học này rồi. Anh nhớ hồi năm ngoái em đèo anh qua Trảng Cỏ không? Nó vừa rắc thuốc khai hoang ở vùng này. Ngoài ra nó còn rải thảm ở An Thành. Không khí khó thở, cỏ cây khô cháy, đường sá lởm chởm!

Lạn đạp tới đâu thuyết minh tới đó không ngớt miệng như coi phim.

– Công sự này là chỗ bà Huyện đội phó Sáu Hòa và ông Năm Đùng đặt pháo phòng không lúc D8 bắn hạ B26 bên Đồng Chà Dơ. Nếu hụt bên đó, qua tới Bến Súc thì cũng sẽ hạ mã… Đây là ngã ba Rạch Bắp. Tụi Mỹ định chốt ở đâu để chọn đường liên lạc qua sông của mình, nhưng không hiểu sao tới nay chưa đóng. Từ đây lên tám cây số thì đụng… còn đạp thẳng thì tới sở cao su… Đây là Bưng Còng trong đó có quân y của ông Tám Lê và quân y quận. Từ Bưng Còng đi lên năm cây số thì có cái nhà thờ còn nguyên. Bộ đội mình thường đóng quân trong đó vì Mỹ không oanh tạc. Người ta gọi là nhà thờ Rạch Kiến. Lên một cây số nữa là Suối Cát, qua cầu Xung Nô cách ngã ba Đường Long vài trăm thước . Từ đó lên Long Nguyên, ấp Lâm Vồ… Từ Bến Súc đi ba cây số là Sở cao su Bào Nổ và ấp Bến Chùa. Phòng Hậu Cần K30 của Năm Minh và Hai Nhơn đóng trong đó. Lên tuốt nữa là ấp Đòn Gánh, ấp Suối Tre. .. (tên đại tướng mặt đỏ chết ở vùng này sẽ kể sau. )

– Ở đâu mày cũng đi tới hết!

– Em là con ngựa bà mà anh. Ai cỡi bảo đi đâu là đi đó.

Đến xế chiều thì chúng tôi đến ấp Bến Chùa. Nhà cửa san sát còn nguyên, quán xá tua tủa, rợp hai bên mép đường. Quân ta dập dìu như ở thị xã Sơn Tây Thanh Hóa ngày chủ nhật. Có những ông bạn tôi gặp ngoài Bắc bây giờ lại đụng đầu ở đây đứa quen đứa chỉ biết mặt, lướt qua không chào hỏi. Thằng Lạn pha trò:

– Anh coi chừng đạp bể bánh tráng của người ta không có tiền đền nghe!

Lạn dắt tôi đến một đường mòn trỏ vào nóc nhà lẩn khuất trong vườn và bảo nhỏ :

– Ổng ở trong đó, anh vô đi!

Tôi móc năm trăm đồng đưa cho Lạn và dặn:

– Ở ngoài này chờ anh.

Rồi đi theo hướng nó chỉ.

– Em ăn Tết với ông Trần Hưng Đạo đủ rồi!

Tôi thấy cảnh trí sinh hoạt mà rùng mình. Tụi Mỹ nó nuôi cho mập rồi thịt chớ đâu phải nó đui. Tôi vừa quẹo vô đường mòn là có người chặn lại. Tôi nhận ra quen quen mà không biết là ai. Thì người kia chào hỏi và nói:

– Anh Lôi phải không?

– Phải.

– Chú Ba dặn hễ anh tới là cho vô liền.

À, anh lính gác ở bên Rạch Lỡ, Xóm Thuốc hôm trước. Tôi đi vào mảnh vườn cây ăn trái còn nguyên chưa có dấu vết đạn bom. Bụng nghĩ mà thương cho cái vườn sầu riêng của Bảy Mô. Cách một con sông mà hai cảnh đời.

Tới cổng nhà tôi dừng lại. Hai cột cửa ngỏ bông giấy leo đan chằn chịt rợp mắt, trên đầu bông tím lẫn trong lá xanh. Không biết bao lâu rồi mắt tôi không được nhìn bông hoa mà toàn ngó máy bay, hố bom và hầm, địa? Cảnh nhà im vắng tĩnh mịch. Tôi bước qua sân gạch tàu đỏ au bốn phía có gân xi măng bao bọc. Dăm ba bụi cỏ xanh tươi mọc ở kẻ gạch bị nứt. Một giàn bầu râm mát che mặt tiền ngôi nhà ngói xưa. Trước cửa có một chiếc bàn tròn với bốn chiếc ghế đẩu như chực hờ đón khách tới ngồi nghỉ chân. Bên hiên nhà một hàng mái vú chạy dài tới tận phía sau. Ắt hẳn là những mái nước mưa. Nhà tôi cũng có một hàng mái bên hiên nhà như vậy. Mùa nắng cả xóm đều tới xin nước uống. Tôi nhớ nhà đứt ruột đứt gan.

Tôi kéo ghế ngồi và móc thuốc rê hút (không dám hút cáp-tăng sợ mất đạo đức, còn quân khu ủy uống rượu Tây thì cái chùm nho đạo đức không rụng trái nào). Tôi vừa bật lửa thì có người đẩy cửa bước ra. Đó là một người lính (gác tầng hai). Anh ta mà tôi vào ngồi ở bên chái nhà.

Tôi nhìn quanh chưa khắp nhà thì mùi nước hoa từ bên trong bay ra báo hiệu một sự xuất hiện bất ngờ. Quả thật một nàng mặt hoa da phấn bước ra, miệng tủm tỉm cười:

– Mời anh Hai uống nước !

Tôi như tỉnh mộng nhìn thấy trên bàn để sẵn chai bia lẫn nước ngọt và mấy cái ly pha lê trong trắng lạ thường. Tôi ngỡ rằng đây là một trời nào khác không phải trong vùng đất chiến tranh. Tôi bàng hoàng tưởng lạc Thiên Thai, giây lâu mới định hồn.

– Em tên là Khánh. Anh gọi em là Khánh nghen! Anh Hai uống la-de hay nước ngọt?

Giọng nói này hình như tôi đã quen ở đâu. Tôi chưa xác định được thì từ bên trong một bà mệnh phụ bước ra, tươi cười, hai cánh tay mũm mĩm như hai thỏi ngà . Bà vui vẻ :

– Cháu Hai về đó hả?- rồi bà bước lại bên tôi nâng mặt tôi lên và nói một hơi – Đâu để dì xem thử coi mặt mới ra sao mà mười bốn tuổi đã đánh xe tăng tây. Trời đất, con trai đất này dễ được mấy đứa. Mưu trí và gan dạ cỡ nào mới chiến đấu như vậy được.

Tôi ngồi chết trân không hiểu. Bà bảo cô gái:

– Con đi vô coi mấy món đã chín chưa?

Khánh vâng lời mẹ biến nhanh. Bà đăm đăm nhìn tôi, giọng càng thân mật:

– Ngồi uống nước tự nhiên đi cháu Hai rồi chốc nữa dượng Ba dậy sẽ làm việc với cháu.

Tôi càng ngạc nhiên. Giấy ông Tư lệnh gọi sao hai mẹ con bà nào ra tiếp mình. Kẻ gọi bằng anh, người kêu bằng cháu ngọt như mía lùi. Không khéo mình lại rơi vào ổ Phượng Hoàng chết như Hai Giả, Phượng Hoàng này móng nhung. Tôi vừa đối đáp cầm chừng với bà ta mà bụng thì thầm trách mình hấp tấp không tham khảo ý kiến Năm Tiều mà nhảy lên xe đi liền. Có thể thằng Lạn bị lừa. Tôi móc túi lấy mẫu giấy ra xem. Chữ ký tắt “B.X” có gì bảo đảm đó là của ông Tư lệnh Ba Xu đâu. Nhưng tôi cố giữ nét mặt bình tỉnh trước mặt người đàn bà . Còn bà thì cứ nói không ngớt miệng:

– Cháu về đây thì coi như nhà của cháu. Đừng có ngại gì. Quần áo gì mà mốc cây mốc cời vầy nề ? Trời đất dép xe hơi nặng như sắt mang sao cho nổi. Còn cái nón nữa, người ta ra trận phải đội nón sắt chớ dùng nón vải làm sao đỡ đạn.

Bà nhìn quanh lưng tôi rồi kêu to.

– Người ta chỉ huy đeo colt hoặc K54 hoặc tệ lắm cũng P38 còn cháu sao mang AK?

Bà xét nét từng điểm một rồi hỏi tới:

– Cận vệ của cháu đâu?

– Dạ cháu cho ở nhà coi cơ quan hoặc về thăm gia đình.

– Để dì thay hết mấy thứ này cho !

Bà gọi vào trong.

– Đứa nào đó đem thức ăn ra cho anh Hai bây dùng. Cỗ bàn gì mà lâu lắc vậy?

Khánh bước ra với dĩa bàn hột vịt lộn và dĩa nhỏ muối tiêu. Đi sau Khánh là một cô bé khác bưng dĩa rau và dĩa chanh. Khánh giới thiệu ngay là em của nàng, tên Ngọc.

Bà chủ nhà bảo:

– Cháu Hai dùng đi kẻo đói bụng!

Tự tay bà khui bia trong lúc Khánh trở vào rồi ra ngay với chiếc xô nhôm đầy nước đá với cái gắp đúng kiểu thành thị. Nàng gắp từng cục nước đá nhẹ nhàng bỏ vào ly cho tôi.

Bà chủ tiếp:

– Dì có tất cả ba đứa. Con chị nó còn đang bận nấu : nướng. Cháu ngồi đây ăn tự nhiên nghe… Hai đứa bây ngồi tiếp chuyện với anh!

Bà đứng dậy đi vào. Cô bé Ngọc cũng đi theo mẹ bỏ cô chị ở lại với tôi.

– Em học lớp mấy, Khánh?

– Dạ, em vừa đậu tú tài.

– Rồi đi ban gì?

– Dạ, ban ông táo!

Khánh pha trò và cười ngặt nghẽo tự nhiên làm rung rinh mớ tóc quăn, nàng đưa những ngón tay mủi viết che hàm răng trắng đều và tiếp:

– Má (không nói má em) bắt ở nhà không cho đi nữa.

Tôi chưa đụng đến món ăn thì nàng nhanh nhẹn và lịch thiệp cầm lấy một quả trứng đập khẽ vào mép dĩa, khảy mấy mảnh vỏ bể rồi bằng hai tay chúm quả trứng sóng sánh nước đưa mời tôi. Tôi đưa tay nhận lấy và chợt nhận thấy sự tương phản của hai bàn tay Thiên Lôi xù xì với hai bàn tay ngọc.

– Anh phải ăn cho hết dĩa hột vịt, không má rầy.

– Rầy ai?

– Rầy em.

Tôi vừa húp nước trong quả trứng mà nơm nớp lo sợ, cảnh giác. Đây là viên đạn bọc đường của tư sản chăng? Hồi chỉnh huấn cải cách ruộng đất đơn vị tôi có nghe một bài học phụ (tức là truyện, thơ, nhạc, bài báo bổ túc, củng cố cho bài học chính trị) nói về một chủ tiệm tạp hóa ở Hàng Đào. Ông ta để cán bộ vào kiểm kê tài sản. Cán bộ vào kho thì đụng nhằm nàng tiên lõa thể ngồi trên võng tơ lụa, và anh cán thay vì kiểm tra tư sản, về cơ quan lại làm bản kiểm thảo và sút cán luôn.

Khánh là cô gái Hàng Đào? Tôi không đến nổi yếu đuối như anh cán kia và cô Khánh cũng đâu có giở trò gì. Hơn nữa bên ngoài bộ đội cán bộ đang đi nghễu nghến đầy đường, Phượng Hoàng đâu có dại gì lót ổ ở đây. Tuy tự biện luận như vậy nhưng vẫn không yên tâm. Tôi vừa ăn xong một hột thì Khánh lại mời. Tôi mời lại nàng. Nàng vui vẻ nhận lời nhưng nói:

– Em cũng ăn nhưng chỉ thích cái tròng đỏ béo béo và cái mề đòn đòn, còn nước thì anh phải húp và con thì anh phải ăn dùm nhé ! Em sợ lắm!

– Được !

– Vậy thì chia hai.

Đến đó thì bà mẹ lại xuất hiện. Sau lưng bà thấp thoáng một bóng hồng. Đi gần tới cửa bà tránh qua và khẽ đẩy cô gái tới:

– Con ra chào anh đi:.Mắc cỡ gì ! Con gái lớn rồi… Đây là con Mai, chị hai đứa kia.

– Chào cô Mai. Mời cô ngồi ăn hột vịt với chúng tôi.

– Chỉ không sợ gì hết, anh khỏi phải ăn dùm. Anh chỉ ăn dùm em thôi.

Khánh vừa dứt lời thì bà mẹ bổ túc:

– Nó nấu nướng nên mặt đỏ lơ đỏ tưởng chớ không phải thoa son đâu. Ở đây chớ phải Sài gòn sao mà dám xài son phấn !

Rồi bà hỏi tôi:

– Bữa hổm cháu pháo kích ở bển phải không?

– Dạ anh em khác, không phải cháu.

– Cháu có lên R lãnh huy chương phải không?

– Dạ phải.

– May cháu về chớ ở trên luôn thì. . . chíp chíp. . . Mỹ nhiều bom quá hà. Nó bỏ ở An Điền người ta đếm đúng một ngàn hố, hố to một trăm thước bề kính, sâu chín thước. Con đừng có chun xuống địa đạo nghe con. Dì nghe nói vừa rồi con chết ngộp dưới đó dì khóc cả đêm.

Bà bảo Khánh:

– Con đi vô lấy thêm húng cây, lựa mấy ngọn không có sâu Rồi hấp lại ba cái hột vịt cho nóng.

-Dạ!

Khánh vừa nhổm dậy thì… Một giọng ồm ồm rồi một người đàn ông mặc pyjama màu hột gà bước ra.

– Thôi, không phải lấy thêm gì nữa!

Thảo nào!’Tôi kêu lên:

-Anh Ba!

Rồi đứng dậy chào kính. Anh xua tay và đưa cho tôi bắt. Thì ra ông Tư lệnh.

– Cậu mới đến hả? Hai dì cháu tâm tình đã đời chưa .

– Ngọc, Khánh, đứa nào lấy rượu cho Dượng chút, con!

Ngọc bước đến bên chiếc tủ búp-phê lấy chai rượu như bầu linh dược có nút bằng pha lê và một cái ly nhỏ xíu miệng niềng vàng đem lại để trước mặt anh Ba.

Anh vừa mở nút vừa nói:

– Tao nhờ ba cái này, nếu không sụm luôn chớ lội sao nổi!

Coi bộ ông Tư lệnh hơi bèo nhèo, sụt sịt, không được hoạt bát lanh lẹ như ở buổi tiệc thịt chó hôm nào. Anh vừa rót rượu vừa nói:

– Ở trên Cục Hàng Quí mới gởi cho tao một hộp sâm. Nhưng không có hổ cốt. Ở trển nhờ có Tư Khanh cho bao tử nhím và gạc nai ngâm thập cẩm với sâm. Xuống đây chỉ có sâm. Lớp tao ngâm rượu, lớp tao xắt lát ngậm thường xuyên. Sao? Sau trận pháo kích lính tráng lẫn dân chúng phấn khởi chớ?

– Dạ, phấn khởi dữ!

– Mẹ, tụi chín Lộc không nắm được tin, suýt chút nữa bị hốt cả đám! Mỹ dọn sạch Củ Chi để đưa Tia Chớp Nhiệt Đới vào Tình hình sắp tới căng hơn nữa. Uống bia đi Lôi, rồi tao nói chuyện cho nghe!

Ông Tư lệnh dùng ngôn ngữ thân mật của người anh đối với thằng em suốt buổi nói chuyện. Tiếng đồn quả không sai. Hồi kháng chiến Lê Đức Thọ cắm mốc ở nhà địa chủ Bạc Liêu và lấy luôn con gái, Lê Duẫn quơ bà Nga học sinh thành, Phạm Hùng cưới con gái hội đồng, Trần văn Chè suýt tóm cả cả mẹ lẫn con luật sư Lê Đình Chi, Nguyễn Hương Vũ cướp vợ chưa cưới của thằng Lượng Thanh Niên Cứu Quốc Cần Thơ, Võ Quang Anh đớp con Thu Hồng bồ của thằng Sơn Lâm. Bao giờ các ông kẹ cũng giữ đúng lập trường giai cấp địa chủ . Bây giờ sang thời kỳ chống Mỹ , ông Tư lệnh đi không lệch chút nào. Ông liếc bà, ý muốn bà đi vô để ông nói chuyện công tác nhưng bà cứ ngồi tự nhiên bắt buộc ông Tư lệnh phải bảo:

– Bà vô coi mấy món xào kẻo khét.

– Xí có con Ngọc ở trong khét sao được mà khét?

Tuy nói vậy bà vẫn vâng lời.

Anh Ba vô đề ngay. (anh nói tiếng Pháp)

– Mày có nghe nói Vl, V2 không Lôi?

– Dạ, hồi kháng chiến tôi có nghe nói mình dùng Bazooka chớ chưa nghe nói Vl V2. Có phải là loại vũ khí mà Hitler bắn qua biển Manche để đánh quân ăng-lê không anh Ba?

– Ừ, phải! Vậy là mày có biết. Còn hỏa tiễn Kachín Sa của Liên Xô?

– Dạ , đó là pháo từ hành, nói theo tiếng bình dân là hỏa tiễn giàn mướp, đặt một bệ hai tầng mười hai trái, do xe mười bánh kéo như pháo 122 ly. Nhưng nó không phóng xa được như pháo 122 ly, nó chỉ xài cho mục tiêu gần từ mười cây số trở lại thôi.

– À, mày biết cũng khá.

– Dạ, hồi ở ngoải tôi có dùng. Kỹ sư mình nghiên cứu tháo ra đặt trên bệ DKZ75 dùng kính ngắn 75 để câu điện bắn đìa-réc vào mục tiêu cố định như DKZ. Tụi pháo viên tôi ở khu Xuân Mai đã bắn thử cho đồng chí Lê Duẫn xem tại Ba Thá, với sự tham quan của pháo binh các quân khu. Cự ly từ tám trăm thước đến một cây số thì bắn rất kết quả, kỹ sư đặt cho nó cái tên H12.

Anh Ba gật đầu:

– Nếu vậy thì tốt lắm. Trên R đã hứa cho xuống đây một tiểu đoàn. Nay mai sẽ xuống tới. Tao đặt cho nó là Tiểu đoàn 9, trực thuộc H6 của mày.

– Dạ, thứ đó bắn gián xạ như 105-122 ly thì độ tản mác rất lớn (tức là sai mục tiêu xa). Tôi sợ mình bắn chết hết dân ấp chiến lược chung quanh Trung Hoà và Đồng Dù quá anh Ba!

Bất thần bà ở trong bẹ cửa lên tiếng oang oang:

– Bộ ông muốn đưa thằng Lôi về đánh Sàigòn hả?

Ông quắc mắt:

– Cái bà này!

– Tôi nghe nói ba cái V1, Và (bà cũng nói tiếng Pháp) thì tôi biết rồi. Đó là loại vũ khí lợi hại chớ không phải như mút co tông, mi trai dơ đâu (Bà phát âm tiếng Pháp rất đúng) .Còn ba cái chim-sa, chim-siếc gì tôi không biết nhưng chắc cũng là đồ ác hiểm . Ông tính đem về để giết hết dân sao? Tôi nghe bà con ở ngoài Sàigòn thán oán dữ lắm.

– Than oán gì? Người ta bắn trúng sân bay Biên Hoà, Đồng Dù, Trung Hoà chớ trật hay sao?

– Trúng một trái, trật mười trái. Trầy da một thằng Mỹ, chết một trăm dân. Sao không giỏi đánh lại tụi đỗ dù đó?

Bà vung tay và sấn tới gần. Anh gạt tay bà ra:

– Đừng có nghe miệng đàn bà, Lôi! Đừng có thèm nhìn giọt nước mắt của họ. Làm tướng cầm quân ra trận ,chỉ biết có chiến thắng. Nếu cứ nghĩ tới số thương vong không thể đánh được giặc. Khi cần hi sinh, ta dám hi sinh hằng trăm mạng, lúc không cần, một giọt máu cũng không cho rơi.

– Xí! Một giọt máu không cho rơi! Cả trăm mạng con người ta rắc chung quanh đồn Bến Súc hồi năm 1946 là đáng hi sinh hay không đáng? Đánh giặc gì ngu vậy mà cũng cầm quân! Xí , xí , xí!

Ông Tư Lệnh xám mặt, môi ông giật giật. Ông đưa tay cầm bầu rượu rót. Tôi thấy tay ông run run. Chắc ông tức lắm. Vì trận đó chính ông chỉ huy cùng với Tô Ký. Bà chưa thôi:

– Cháu Lôi nghĩ coi! Đồn Bến Súc có mấy chục lính Tây, mình hi sinh cả trăm mà không lấy được. Tưởng đào địa đạo vô giữa đồn rồi tung lên, ai dè khi tung lên thì miệng hầm còn cách rào bót cả trăm thước. Báo hại thằng Điền con chị Hai chết. Chỉ còn có hai đứa con gái, không ai nối dòng, ông thấy chưa?

Tôi suýt kêu lên khi nghe nhắc lại tích xưa. Và chẳng ngờ bà là dì Ba của cô xã đội phó, em của má Hai ở bên Hố Bò.

Ông Tư Lệnh bị bà Tư Lệnh kiêm Chánh Ủy rẹc cho mấy loạt ngồi im, điềm tĩnh nhâm nhi rượu nhân sâm. Nhưng bà Chánh ủy chưa chịu tha. Bà nói hăng hơn:

– Ai cần mấy ông giải phóng mà tài khôn? Mấy ông lấy được một khúc xương thì ôm đó mà cạp. Còn tụi Nam Kỳ người ta an phận rồi, mấy ông lại chui về khuấy phá. Có phải tại các ông mà bom đạn bời bời không? Hễ Mỹ bỏ bom chỗ nào thì các ông tránh xa chỗ đó, các ông chạy sang nơi yên ổn có dân để núp ló. Nay mai rồi cái vùng này cũng sẽ nát bấy như bên Củ Chi. Giảo phóng rồi mấy ông ở với ma.

– Bịt tai lại mầy, Lôi! Đừng có nghe đàn bà nói, mệt lắm! – Rồi ông chỉa hai ngón trỏ vào hai bên tai – Trình độ của bả ấu trỉ lắm. Bả là cán bộ Phụ nữ hồi chín năm, rồi về thành bị Mỹ Ngụy hủ hoá.

Bà Chánh ủy như ngồi phải cọc, nhảy dựng lên:

– Ông thiệt nói tôi hủ hoá không ? Còn ông , ông đạo đức hả? Mấy ông của ông đạo đức dữ hả? Thiệt hôn, tui khai hết cả đám đạo đức của ông ra cho coi. Đừng tưởng tôi không biết!

Tôi đâm sợ hãi. Bỗng dưng Tư lệnh và bà Chánh ủy choảng nhau. Nếu không can sợ mấy cái lập trường cứng rắn của hai bên sẽ thất nghiệp, nên tôi lôi tay bà Chánh ủy:

– Dì Ba vô coi món gì ở trỏng kẻo em Ngọc làm khét.

Bà Chánh ủy đứng dậy nguých ông Tư lệnh một cái như trời sập rồi đi rèn rẹc khua guốc côm cốp trên nền gạch làm tôi suýt đau tim. Ông quay qua tôi:

– Hứ! Đàn bà! – rồi tiếp – Cậu đừng có bị nhiễm quan điểm tư sản. Đánh giặc là đánh giặc. Bảo vệ nhân dân là bảo vệ nhân dân. Nếu khi đánh giặc mà ta có làm hại sanh mạng nhân dân thì đó là chuyện bất đắc dĩ, không nên coi đó là tội của chúng ta. Đàì BBC la ầm ĩ về cái vụ pháo kích sân bay Biên Hoà do đó tụi trí thức mới lũ lượt vào quì dưới chân ông Sáu Vi, kể cả tên sư hổ mang, mà xin chức tước đó chớ! Nếu không ai bẫy lũ đó ra đông như vậy ? Đồng Dù và Trung Hoà vừa rồi đã khuếch trưong chiến quả của ta.

– Tôi nghe nói có mấy ông mình phải đem võng tới khiêng, có không anh Ba?

– Có! Nhưng chỉ vài tên thôi. Chứ cả bầy như bầy… quân ngũ nào khiêng nổi và cám sú đâu cho đủ ăn cho ăn?

Ông Tư Lệnh nói một hơi, có vẻ lấy lại oai phong, nên tiếp:

– Do đó tôi đã nhận tiểu đoàn mới này về giao cho cậu. Cậu có đọc quyển Đại Tướng Va-Tu-Linh của Liên Xô chưa? Làm tướng phải thế.

– Dạ ông ta hi sinh một lúc cả sư đoàn, ủa, cả một cánh quân!

– Để cuối cùng lấy được Bá Linh! Làm tướng phải vậy!

Ông đề cập tới trận ruồng Operation Crimp:

– Cậu coi đó, nó đóng quân trong ruột mình bảy ngày, trong lúc đó có ba tiểu đoàn của ta và trung đoàn Q16 mà chớ gở được một cái vãy của nó. Để cho nó tung hoành đào xới tung địa đạo hốt hết gạo, quân trang và thuốc men. Vì sao? Vì cán bộ già nên chậm lụt, còn tụi Mỹ thì cơ động nhanh chóng. Cán bộ trẻ ở trong này chỉ có gan dạ và quyết tâm nhưng không có kiến thức quân sự. Đánh Mỹ không thể xung phong như Hoàng Thọ ngày trước mà thắng được. Phải có khoa học. Nhưng khu ủy cứ xét lập trường. Cho nên … đây là tao nói riêng với mày thôi. Tao đề nghị đặc cách mày lên chỗ Sơn Tiêu, đưa Sơn Tiêu lên làm Tư Lệnh phó giúp tao, nhưng mấy ổng chê Sơn Tiêu kém đạo đức, còn mày có em đại úy ngụy. Những thằng đạo đức như gà thiến không làm gì được hết lại giữ chức vụ tối cao quyết định tất cả. (Ý ông nói Chánh ủy Tư Trường và mấy ông mặc áo bà ba mang guốc vông).

Ông Tư Lệnh thở dài, rót rượu mời tôi bằng cái ly của ông vừa uống, rồi tiếp:

– Chiến trường này cần cán bộ, tao nhất định đưa mày thay Sơn Tiêu. So với Hai Thán, Sáu Cúc, Hùynh Thành Đồng, Năm Sĩ, Ba Châm mày có kém thằng nào? Mày còn hơn xa một số Tham mưu phó đó nữa chớ!… Tao vừa được chấp nhận cho thêm nhiều mìn, B40, AK để trang bị lại cho các tiểu đoàn. Vũ khí của mình xài từ đời Minh Mạng tới bây giờ, tội cho lính quá. Mày có dự trên Đồng Xoài rồi mới thấy thương thằng nông dân cầm súng CKC đánh với súng máy của Mỹ!

Bà Chánh Ủy bước ra hai tay bưng hai dĩa xào thơm bát ngát, nét mặt hầm hầm:

– Ông muốn dụ dỗ con tôi hả?

– Cái bà này! – rồi ông dòm thẳng mặt bà – Tôi hỏi, bà có bức tranh quý, bà đặt nó ở phòng khách hay đút nó vô buồng?

Bà Chánh Ủy không trả lời mà ngồi xuống bên tôi, kêu vọng vô trong:

– Con Khánh hay con Ngọc có đó không, lấy miếng chanh đem ra đây. Ăn đi con! Về đây coi tụi nó như… em của cơn vậy. Còn chuyện dượng Ba nói, đừng có nghe. Ổng lúc nào cũng đánh đá thoi thụi, đêm nằm chiêm bao la lối om sòm bắn bắn! Ở đó mà treo bức tranh. Tôi hổng biết, treo ở đâu thì treo, miễn nó còn đó cho tôi thì thôi.

– Bà này ! Đâu phải ai đánh giặc cũng chết hết ! Nó đánh Tây từ hồi mười bốn tuổi tới bây giờ ba mươi mấy… rồi Lôi?

– Dạ, hôm nay thêm một tuổi là ba mươi bốn.

– Ừ hai mươi hai năm còn sống nhăn! Đàn bà có tánh…

– Tánh gì? Mấy ông có đẻ được đâu mà biết thương con người ta !

Bà quay sang ôm tôi rồi khóc hu hu:

– Con ơi là con! Đi cách mạng gì quên cả gia đình. Ba mươi bốn tuổi chưa vợ con. Cách mạng giỏi sao không lo vợ cho con, chỉ nói miệng tài.

Ông Tư lệnh đập hột vịt lộn côm cốp vô cạnh bàn, lột húp nghe rồn rột tỏ vẻ giận dữ, xơi hai hột liền không dám chọc bà Chánh ủy nữa, đứng dậy bắt tay tôi:

– Thế nhé Lôi! – rồi quay lưng vô. Đi được vài bước, ông còn trở lui – Bà vô bắt gió dùm chút coi. Ba cái hóa học này làm tôi rêm mình quá trời.

Bà Chánh ủy lau nước mắt, và gắp thức ăn bỏ vô chén tôi rồi thình lình hỏi:

– Má nghe con định việc hôn nhơn với con xã đội phó hả ?

Tôi đang nuốt miếng thịt xào bỗng nghẹn ngang: Thì ra cô ta đã nói thiệt với gia đình nên dì Ba mới hay, nhưng đã hay, sao dì còn xưng má với mình?

Tôi hoang mang chưa biết trả lời cách nào thì dì tiếp:

– Dì là bạn của mấy bà Hai Mặn, Ba Cầm (vợ Ba Xu, Lê Đức Anh hồi chín năm). Ba của sắp nhỏ cũng là cán bộ, hi sinh hồi 47 nên dì phải về nhà nuôi con. Dì biết vợ ổng là đầm lai đẹp lắm. Hai ông bà chỉ có một đứa con gái thôi hiện ở trên quân y R K71-B chớ đâu. Dì biết rành mà. Phải ổng có con trai thì hai bên làm suốt với nhau rồi. (Tôi cười thầm ông suôi trai ngủ với bà suôi gái cũng tốt thôi.) Dì đâu có muốn mang tiếng giựt chồng người ta . . .

Dì ngưng lại cố nén xúc động hồi lâu.

– Mấy ổng đi theo cách mạng hư hỏng hết, không có ông nào đàng hoàng… Ăn đi cháu. Bữa nay hưu chiến, ăn cho no, mai mốt rồi sẽ không còn cái Xóm Chùa này nữa để cho cháu tới thăm dì.

Tôi ăn mà không thấy ngon, trong bụng nôn nao nhớ tới Thiên Lý. Duyên tình hoàn cảnh gì trớ trêu oái oăm kỳ cục vậy? Vừa từ giã người yêu lại sang sông Sài gòn thăm (hai) bà già vợ chắc má Hai tương kế tựu kế nhờ ông (em rể) Tư Lệnh gọi tôi sang đây để má coi mặt chớ gì. Tôi lại cười thầm trong bụng: Lưu Bị giang tả cầu hôn, còn tôi vượt sông Sài gòn để cho người ta coi mặt. Dì Ba gọi vọng vào trong:

– Con Mai có đó không đem thêm nước đá ra đây con !

Dì Ba gấp nước đá bỏ vào ly tôi rồi trở lại câu chuyện:

– Ở cái vùng này đàn bà góa có ba đứa con gái lớn như dì khó sống lắm con à . Nếu không dựa vào một người quyền thế làm sao chịu nổi với ba ông xã ủy quận ủy tỉnh ủy kia. Nay xã ủy tới lạc quyên, mai quận ủy tới yêu cầu ủng hộ cách mạng, mốt ông tỉnh ủy tới xin lúa nuôi quân. Không có ngày nào ngớt. Con Khánh học hết Tú Tài mà phải đi dạy bốn lớp từ lớp vỡ lòng tới lớp ba. Con Ngọc thì tỉnh đội muốn bắt đi làm thơ ký, còn con Mai giỏi Anh ngữ nên thằng Tư Linh muốn đem về cơ quan làm địch vận. Dì không cho đứa nào đi đâu hết. Đi theo cách mạng là hư thân mất nết cầm chắc trong tay. Dì nghe nói ngoài Bắc con cái tố cáo cha mẹ nữa mà .

Tôi ngồi lặng thinh, nhai nuốt muốn không vô. Mong dì sớm dứt chuyện để tháo lui, nhưng hình như dì ấm ức lâu nay nên gặp tôi dì tố khổ. Dì trở lại chuyện cô xã đội phó:

– Dì nghe chị Hai dì nói về vụ của cháu với con Là lâu rồi. Nó đang làm xã đội trưởng thay cho thằng Năm Thuận sọc dưa chớ gì? Vừa .rồi, máy bay rớt bên Đồng Chà Dơ nó xung phong lấy được cây súng colt hiệu Ngựa bay, người ta đòi tịch thu, nhưng dượng Ba thưởng cho nó luôn, nó đeo nhỏng nhảnh làm oai với mấy ông cán không có colt. Ở đây là vậy đó con. ông nào có colt thì dân mới dòm, đi mình trơn không ai ngó tới. Còn mang AK thì họ coi là tèng xí chuột, ngó có nửa con mắt thôi.

Dì Ba lại tiếp luôn:

– Dì nghe chị Hai dì nói, dì cũng mong gặp con. Dì có nghe dượng Ba nói về con nhiều lắm. (Dì đã chính thức coi ông Tư lệnh là dượng Ba của tôi rồi) Dượng Ba khen con trí thức và biết đánh giặc. Chị Hai của dì bữa nay đi Bình Dương công tác (quân báo của Chín Lộc) – Dì bật cười khan – Sẵn dịp bả dám mua đồ sửa soạn đám cưới lắm à ! Con đã xin phép nghỉ chuẩn bị đám cưới chưa?

-Dạ cháu có biết gì đâu thưa dì!

Dì Ba gật gù và nói thẳng:

– Vậy tốt lắm. Theo dì chỗ đó không xứng với con đâu. Nó là cháu kêu dì bằng dì ruột, đáng lẽ dì phải nói vô, nhưng dì thấy không được thì dì nói không được. Nó lóc chóc lắm. Con gái mà không lo công dung ngôn hạnh lại mang súng rểu rểu đi phá làng phá xóm. Được cái tích sự gì ba cái ngử ấy?

Tôi thấy bị chạm tự ái, nên cười:

– Xin lỗi dì, nếu nói như dì thì ai giải phóng đất nước thưa dì?

Dì Ba cười nhạt:

– Con muốn dì trả lời hay dì im lặng?

– Xin dì cứ nói, con xin nghe.

– Câu nói này dì đã từng nghe hàng ngàn lần từ cửa miệng của những cán bộ tới đây họp với dượng Ba và ngay cả từ cửa miệng dượng Ba nữa. Dì dượng đã từng cãi lộn với nhau về cái câu này. Ai có lý lẽ nấy, không ai chịu thua ai. Dì biết hai dượng cháu chỉ học một sách của lão Hồ thôi nên dì xin hỏi dượng: “Dân Nam kỳ có cần đám Bắc kỳ giải phóng để ăn độn khoai một năm tám tháng không?”

Bà Chánh ủy này độc địa thật, tôi thầm nghĩ, hèn chi bả khẩu chiến với ông Tư lệnh không kém một tiếng nào. Tôi đành chịu thua. Bà quay sang tôi:

– Má nói thiệt với con. Má thấy con má thương. (Bây giờ bà lại xưng má với tôi) Dượng Ba con cũng đồng ý từ lâu nhưng chưa có dịp. Bữa nay má nói thiệt. Má có ba đứa con gái. Con Mai thì thùy mị giỏi việc tề gia nội trợ, con Khánh thì giỏi ngoại giao và giáo dục, con Ngọc còn nhỏ nhưng gả cũng được rồi. Vậy con thấy vừa ý đứa nào má gả không cho con, má không đòi hỏi một xu. Sẵn có dượng Ba ở đây, con chỉ hứa là được. Con xem sắp nhỏ như vậy mà gả cho ai? Con cũng biết ở đây đâu có mặt nào xứng với chúng nó.

Tôi không biết đáp lại bằng cách nào. Đành phải hoãn binh một cách cổ điển:

– Dạ, cháu xin cám ơn dì Ba. Vấn đề hôn nhân là trọng hệ, xin phép dì Ba cho cháu suy nghĩ một thời gian.

– Thời gian là bao lâu? Một ngày, một tuần hay một tháng?

– Dạ cháu bận công tác quá dì à !

– Bận thì dượng Ba sắp xếp cho cháu nghỉ. Dượng có thể rút con về văn phòng với dượng luôn cũng được mà . Con ở bên cạnh dượng Ba giúp cho ổng việc tham mưu còn hơn lăn xã vào chiến trường. Con không nhớ câu của Khổng Minh nói với Lưu Bị hay sao? “Làm tướng không nhất thiết phải ra trận. Ngồi trong trướng gấm mà quyết thắng ngoài ngàn dậm. Đó mới là tướng tài.”

Bà Chánh ủy không phải là tay vừa. Đúng dì là Chánh ủy của Quân khu chớ không phải lão Từ Trường cù lần không biết bắn súng cũng không nói được câu gì nghe lọt lỗ tai như dì. Dì kêu vô trong:

– Con Ngọc mời dượng ra đây chút!

Tôi mọc ốc đầy mình, không biết xoay trở ra sao. Ba mặt một lời. Nếu ông Tư lệnh đồng ý mọi đề nghị của bà Chánh ủy thì ông trưởng ban H6 này chẳng khác trong vòng đổ chụp.

Nhưng may quá, Ngọc trở ra nói:

– Dượng Ba nói buồn ngủ, biểu má vô cạo gió. Việc đó để tính sau!

– Xí nhỏ em dữ không? Bơ lớn còn nhỏng nhẻo! Đứa nào ra đây tiếp chuyện với anh bây nè !

Nói vậy rồi bà đứng dậy

– Con ở lại đây chơi vài ba bữa cũng được mà. Giặc giả còn hoài chớ đã hết đâu mà vội.

Chương 69

Chắc rằng ta sẽ Tết sau… mút mùa

Ngồi trong nhà bà Chánh Ủy mấy tiếng đồng hồ tôi cảm thấy mệt như đánh một trận giặc và khoẻ như được hửi dầu nhản ở dưới địa đạo hôm nào. Mệt vì bị bà Chánh Ủy bao vây tấn công tơi bời, còn khoẻ vì được đối diện với ba nàng công chúa trong cái ốc đảo Hoà Bình của Quân khu IV này. Khoẻ hơn nữa vì có một nàng đã tỏ tình hêu với tôi, hôn tôi. Tôi không từ chối nhưng cũng không dám nhận hoàn toàn. Đó là tình yêu bất chợt của chàng lãng tử với ba cô nương trên Chuyến Xe Đêm nửa dân gian nửa thần thoại của Paoutowski . Cô nào cũng tỏ tình với chàng nhưng chàng lại lạnh lùng quay lưng, để rồi sau đó hối tiếc!

Về chiều, khu vực này càng rộn rịp hẳn lên. Lớp dân đi lại đón xuân, lớp quan lớp lính đi công tác ghé các quán tìm hương hoà bình. Tôi gặp đủ mặt hết. Ba Châm, Ba Hùng, Bảy Gấm, Sáu Thiệt, Năm Dũng, Bảy Ưng, Hai Phán… Toàn dân đạo chích Trường Sơn chui về đây bôi mặt thay tên đổi họ. Ông nào cũng K54 kè kè bên hông như muốn các cô nàng trông thấy cho rõ ta là ai. Tuy rằng câu chuyện Suối Máu vừa mới xảy ra còn nóng hổi. Trước một ngày hưu chiến, quân ta bị một cú nặng nề. Giang thuyền Bình Dương đổ lên Suối Gâu bắn rầm rầm một lúc rồi rút. Một đoàn cán bộ từ trên R, có lẽ được phân công về đây công tác, nghe tình hình êm bèn kéo nhau qua suối. Có ngờ đâu chúng chơi theo lối nhả bừa, rút một số lớn, chừa lại vài ngoe… toàn súng máy. Bên ta chết nằm chật suối. Bây giờ Suối Gâu trở thành Suối Máu.

Tôi vừa đi vừa ngẫm nghĩ: Hôm nay mình thêm một tuổi, xa nhà thêm một năm, đeo thêm một nỗi buồn và một niềm vui. Khổ thì thực mà vui thì mơ hồ.

…Sắp ra đường 14, Lạn đón tôi, vui vẻ:

– Nhờ Đức Thánh Trần em ăn Tết đã đời.

Tôi lên xe ôm eo ếch cậu thanh niên nghe dây xích nghiến mới biết mình phí sức nhiều và thấm mệt. Bỗng thấy bên ven đường mấy chiếc võng giăng giữa những khoảng cây cau, cây xoài ở mé đường, người nằm võng đầu băng trắng lốp.

– Thương binh ở đâu hả Lạn?

– Em không rõ . Mấy bữa nay mình có đánh trận nào đâu !

– Vậy sao thương binh nhiều vậy?

– Em chắc là tồn kho hồi trận ruồng trước.

Tôi nhớ cái vụ lính Q16 ăn kỷ niệm Quốc Khánh bằng thịt chó hôm nọ và vụ cái võng khiêng anh thương binh lòi ruột đi tìm quân y nên tôi đoán đây lại là mấy ông lính vịt xiêm ngơ ngơ ngáo ngáo không biết đường đang tìm quân y của Tám Lê bên Bưng Còng.

Ở đây có đến hai Bưng Còng. Cũng như bên Củ Chi có đến ba cái Gò Nổi chung quanh Trung Hòa: Hai Gò Nổi trên, một Gò Nổi dưới và Gò Nổi giữa. Lính ta thường đem danh từ này ra mà pha trò : “Gò Nổi nào cũng hấp dẫn cả. Miễn ta khiêng pháo tới đặt được ở đó thì bắn trúng hồng tim thôi.”

Bên này thì Bưng Còng trên là quân y của Tám Lê, Bưng Còng dưới là Rừng Bưng Còng. Chắc đám này không biết đường. Nghĩ vậy tôi bèn bảo Lạn ghé lại. Tôi bước vô thấy một tiểu đội lính ngủ ngáy như sấm, đứa dựa lưng vào gốc cau, đứa nằm dài trên cỗ. Súng ống thì gối đầu hoặc treo lên nhánh cây. Cái kiểu này rủi gặp biệt kích thằng Rắc thằng Lệnh thì hốt xương.

Tôi đập cậu nằm bìa. Cậu ta bật dậy hốt hoảng. Tôi hỏi.

– Tìm quân y hả ?

Anh lính giụi mắt giây lâu mới tỉnh hồn nói như máy:

– Đây là những trường hợp nặng, bên C5 không giải quyết được. Ông Tư Chuyền bắt tụi em vô khiêng đi. Ông ta dời chỗ khác, nếu bỏ nằm đó, ông không chịu trách nhiệm.

Tôi định hỏi cậu ta ở đơn vị nào thì cậu reo lên:

– Em nhớ thủ trưởng rồi. Thủ trưởng cho em cái đùi bò và hai cặp dừa. Chúng em là em nuôi của chị Sáu Tĩnh đây.

Rồi cậu đập một cậu khác – Diệu, Diệu đến nơi rồi.

– Các cậu ở Q16, D2 của Tám Bá hả?

– Dạ đó là thủ trưởng của em. Ông nằm trên võng kìa!

– Có nặng không?

– Dạ không nặng mà cũng không nhẹ ! Tụi Mỹ khó đánh ác ghê thủ trưởng ạ! Chúng em mãi nghe đài Giải phóng và đài Hà Nội mà nầm.

– Nằm gì ở đâu?

– Dạ nầm, tức nà nầm nẫn, nẫn nộn đấy ạ !

– Vậy lầm gì?

Thấy câu chuyện kéo dài tôi móc thuốc hút và mời cậu lính rồi bảo Lạn dựng xe nghỉ chân. Cậu lính vừa rít thuốc vừa xuýt xoa:

– Đồng chí tiểu đoàn trướng của em dắt chúng em đi tập kích đám Mỹ cụm ở gần Bến Dược. Sau trận mới biết chúng cụm quân khiếp lắm. Bên ngoài là hai bãi đổ trực thăng có thả chó kỹ thuật, kế đó là dây kẽm gai rồi tới xe tăng. Xong ở trong cùng mới tới bộ binh ạ . Chúng nó niên hoan với điếm ở bên trong có nhạc và rượu nữa ạ ! Sau khi nó rút chúng em lượm được bao nhiêu là tàn dư!

– Rồi trận tập kích ra sao?

– Dạ chúng em ở xa xa bắn vào. Tức thì chúng trả hỏa. Ối giào, kinh khủng. Toàn súng máy. Rồi máy bay tới tung hỏa châu, rồi pháo bắn chận đường, trực thăng tới rà trên đầu bay cả mũ. Thế mà đài bảo là lính Mỹ gà tồ ra trận chưa thuộc động tác cơ bản. Ở trên R em nghe dũng sĩ Củ Chi như thần thánh, xuống đây em có gặp bà nào ông nào đâu.

– Thong thả rồi cậu sẽ gặp Võ thị Mô, Tư Gừng, Út Nhỡ. Cậu không biết chớ vừa qua nữ dũng sĩ Út Nhỡ đã diệt được một tên Mỹ dưới địa đạo kia đấy !(Từ quào tôi nâng cấp diệt.)

– Em thấy khó lắm thắt lưng Mỹ nắm thủ trưởng ạ ! Mình còn ở xa mãi đâu nó đã quạt rồi, nàm sao nại gần mà lắm.

Tôi cắt đứt câu chuyện cù nhầy nhức tai, bảo:

– Cậu khiêng thương binh lên thẳng đường nầy nhé . Chịu khó vừa đi vừa hỏi ai cũng biết điểm của Tám Lê .

– Các đồng chí này cần giải phẫu sớm. Có hai cậu bị chạm vỏ não cứ nói nhảm, nói gì không nói lại cứ la: Bác Hồ bú bôi tao. Đảng muôn năm… cắn… cu tao? Thất chính trị bỏ mẹ nhưng tụi em đâu có bịt miệng kịp.

Tôi lên xe kêu Lạn phóng như chạy trốn. Lạn nói:

– Lính cứt ngựa hiền chớ gặp lính nhà mình nó rượt Tư Chuyền nó bắn cho tét đít.

– Tám Lê còn bị nữa là Tư Chuyền. Cái kiểu khiêng thương binh tới mà cứ xét tiêu chuẩn mới nhận hoặc không nhận thì sẵn súng nó rẹc thôi.

– Cái vụ tiêu chuẩn hồi trước không nghe nói, chỉ thấy từ hơn năm nay.

– Đó là do đạp cứt Ba Tàu. Bệnh nhân trước khi vô nhà thương phải được khám lý lịch. Bần cố nông mới được vào, cậu biết không?

– Ở bên Tàu hả anh?

– Ở Hà Nội, hồi cải cách ruộng đất đã xài cái công thức ấy đấy chú ạ .

– Vậy xuống địa đạo phải công thức gì?

Sông Sài gòn buổi sáng phẳng lặng như tờ, nhưng đừng tưởng đó là thơ. Giang thuyền sẵn sàng chờ đón bạn nếu bạn lơ tơ mơ không chịu vọt nhanh.

Trở lại Quê Hương yêu dấu Củ Chi tôi mới thấy Hòa Bình là quí giá biết bao. Trong mấy chục tiếng đồng hồ bình thường người dân dắt nhau đi chơi, nhậu nhẹc, đi tảo mộ. Dù không làm gì hết cũng vui đời. Thế mà tụi thằng Hồ thằng Duẫn không chịu thấy điều đó. Chúng cứ gào Anh dũng tiến lên trong khi chúng ngồi mát ăn bát vàng nhìn dân miền Nam anh dũng tiến lên trong mưa bom bão đạn. Cái mã mẹ chúng nó ! Nếu giải phóng quân Miền Nam gồm vợ lớn vợ bé , dòng họ nội ngoại chúng nó chẳng có gào thét hi sinh đâu. Kêu gọi hi sinh thì dễ , nhưng hi sinh thì khó .

Lạn vác xe đạp băng ruộng, lên đường 15 thì mới chạy. Tôi đã từng đến đây nghiên cứu địa hình đánh Giang thuyền với cô xã đội phó nên nhận ra nhà của Sáu Mã Tử ở giữa đồng. Hắn có học lớp pháo binh Nhân Dân của tôi, nhưng từ khi Năm Cội bị thương ở Bào Lách thì Mã Tử lẫn Năm Đầu Ban đều thụt mất. Sau trận này, lòng đất Củ Chi chứa cả trăm bom pháo lép nhưng có ai dám đào?

Đang đi xảy gặp Tư Lan, cô bé du kích có lần tôi xung công phục vụ ở chỉ huy sở của tôi. Lạn nói với cô nàng:

– Ngồi buồn lại gặp chiếu manh. Tôi giao ông Tư Lệnh pháo cô dắt về B.M. dùm, tôi phải đi công tác hỏa tốc.

– Ảnh đi đâu cũng trở về B.M. Xí. Bộ hết chỗ rồi sao?

– Thì cơ quan của ảnh mà bà nội. Giữ B.M. nên kêu tắt là B.M chớ sao!

– B.M. là Bảy Mô chớ Bến Mương à !

– Chưa chi đã bể ghè rồi!

Nói vậy rồi Lạn phóng thẳng. Tôi hỏi Lan.

– Xã em bị thiệt hại nặng hay nhẹ vậy em?

– Nó lùa xúc hết trơn dân An Phú rồi anh ạ . Ba em cũng bị, chỉ lọt mình em thôi.

– Bộ em xuống địa hả?

– Địa gì? Xuống đó để rắn hổ mổ à? Em xuống hầm.

– Hầm không thông ra địa à?

– Có cái thông, có cái không. Nhưng từ ngày B52 cày đường 15 ai còn dám nữa. Anh có gặp ông Chín Tống cho em hỏi thăm.

– Thân mến dữ hả ?

– Thân gì! Kỳ rồi em dắt đại đội của ổng đi pháo kích cụm Mỹ ở gần Nhà Mũ. Ổng cho đi có hai khẩu cối thôi, chớ phải đem nhiều thì quăng mất hết. Mới chuẩn bị lấp chân cối không hiểu sao tụi nó hay nó xổ cho điên đầu. Đạn ghim vô thân cây nghe pực pực ớn quá trời. Em với con Là chạy chưa ra khói vòng vây thì pháo Trảng Bàng câu tới. Con Là bị miểng sơ sơ. Còn em mất… khăn rằn đầu tóc.

– Bọn Tư Chuyền có né khỏi không?

– Ổng cho thương binh đi trước. Còn nhân viên thì chui hầm. Cũng may nó tìm được kho ông Bảy Hốt ở Bến Dược nên nó chăm chú vào đó, chứ nếu nó xuống xóm nhà chú Tư Thiên thì nó khui không sót một cái nào.

– Ở đó là ổ địa sao không xài?

– Ông Tư Chuyền bây giờ mới ló lên, Tết không có đồng bào, tụi con Nga thằng Quỷnh ăn bánh tráng cầm hơi trong đó. Mấy ông già nào lạ hoắc mới tới gần bên nhà con Là cất trại gọi là cơ sở sản xuất khu cũng bị xúc hết. Hồi hôm em mò lên đó. Xóm nhà vắng hoe nghe lạnh mình. Bà Tám Khỏe, chú Tư Thiên, chú Hai Bơi, bác Bảy Xe chui hầm nên không bị xúc.

Tư Lan có vẻ lo âu. Nàng nói tiếp:

– Ba em bị xúc, bỏ lúa chín không ai gặt. Em không có đồng xu dính túi. Em định kêu người ta đến bán lúa đứng nhưng đâu ai mua, nhiều người bị xúc ra ấp chiến lược trồi về tom góp đồ để trở ra chớ không ở nhà nữa. Họ nói ở ngoài Mỹ nó cho gạo, quần áo, và tôn lợp nhà. Họ rút cột nhà ra ngoài đó dựng chòi ở đó, nếu làm ăn được thì ở luôn.

– Du kích có bị xúc không?

– Hai đứa con chú Năm em mới vô bộ đội, quọt quẹt ba cái không biết cơ sở nhiều. Sợ nhất là ba em, nếu có người chỉ chọc ông là bí thư chi đội thì đi Côn Đảo chết luôn. À quên nữa, ông Sáu Mã Tử lấy được đồng hồ phi công…

– Máy bay rớt tụi nó tới vớt phi công tức thì, đồng hồ đâu mà lấy?

Lan kỳ kèo cho tôi ghé bằng được nhà nàng, ngôi nhà còn nguyên nhưng bên trong hoang tàn. Nàng bắt tôi phải ở lại ăn cơm với thịt gà, như bữa cúng ông bà mồng hai Tết. Không có cây nhang, không một ly rượu, không cả trà.’

Mà chắc ông bà cũng đi qua bên kia sông Sài gòn lánh nạn chớ có ở nhà đâu mà hưởng. Ăn xong tôi khoác AK sửa soạn đi. Tư Lan lột ra, nguých:

– Anh Hai không để ý để tứ gì hết á !

– …?

Tôi nhìn nàng như muốn bảo. “Thì bây giờ để ý cũng chưa muộn. Được không?”

– Hôm bữa ở trong chỉ huy sở em nằm kế bên mà anh cũng không gì…

– Anh muốn điên đầu vì trận địa sắp nổ súng, đâu còn tình cảm nào khác..

– Xí lúc nào cũng vậy… Hứ! Thôi, nghỉ anh đi…

Tôi lên đến văn phòng D8 của Ba Tố thì gần đúng trưa. Hai chân kéo lê hết muốn nổi.

– Còn ngưng bắn không già Tố?

– Kệ mẹ nó thầy, ngưng không ngưng cũng vậy thôi. Thầy vô đây ăn Tết với tụi tôi cái đã.

Năm Dùng nói tía lia.

– Tụi tôi nghe tin thầy tử vì đạo, định cử phái đoàn tới thăm, nhưng chưa kịp đi vì bận họp đội đại hội ve chai, thì thầy tới vậy xin mời thầy chủ tọa luôn.

Sáu Đồng Đen (có nước da lãnh đạo) tiếp:

– Nghe nói thầy được tiên cô cho hai bầu linh dược mà tái sanh hả? Mùi đó hấp dẫn không cho tụi này biết với?

Cả bọn cười rần rần . (Đám cán bộ đại đội gồm Ba Tố. Năm Dùng, Sáu Uya, Chín Tông, Sáu Lức, Út Thành, Sáu Đồng Đen sau này chết hoặc bị bắt hết.) Ba Tố là người ít ăn ít nói và kề cận trong công tác với tôi nhất, đỡ cho tôi: .

– Các cha muốn biết linh dược mùi gì thì xuống địa, giả bộ chết, tôi sẽ kiếm cho hửi.

Sáu Uya nói:

– Nó đòi các cô tiên sản xuất linh dược kia chớ đâu cần linh dược. ..

Sáu Đồng Đen cười cạch cạch như súng thụt lòng:

– Tôi không cần cô tiên cũng không cần linh dược chỉ cần cái bầu đựng linh dược thôi.

– Cái bầu của chị hĩm ở Thanh Hóa bể rồi cha nội ơi!

Thấy Sáu Lức vẻ mặt buồn xo, tôi hỏi tại sao. Lức nói:

– Tết nhớ nhà quá thầy Hai ơi !

Bàn tiệc bỗng nhiên tắt tiếng cười, mặt thằng nào thằng nấy méo xẹo, Năm Dùng đập tay xuống bàn:

– Lê Dương coi bốn biển là nhà lấy rượu làm cơm, thằng nào buồn bị phạt.

– Cách mạng sắp thành công rồi, buồn gì? Nè, tôi chứng minh cho coi.

Út Thành cầm cái hộp khui ra, trút cục thịt vô dĩa rồi nói.

– Kỳ thầy Hai mới xuống Củ Chi, mình thành lập hội ve chai ở nhà con Là, mình nhậu thịt chuột nhiễm hóa học với bác sĩ Tư Chuyền, kỳ này mình nhậu thịt Mỹ, còn đòi gì nữa?

Chín Tống lắc đầu:

– Thôi cha non ơi! Chút xíu nữa tôi rửa chân leo lên bàn thờ ông bà rồi.

Sáu Uya cười ha hả:

– Ông biết tại sao không? Tại ông nhờ hai tiên cô Là và Lan dắt đường mà không được tiên cô cho hửi trước lấy hên.

Cả bàn tiệc cười rần phát nữa, hứng thú trở lại. Sáu Lứccũng cười theo. Năm Đùng vỗ vai tôi:

– Thầy Hai qua sông trở về sao coi bộ bèo nhèo vậy?

Sáu Lức đáp thay:

– Chắc thầy cần thêm… Ráng về BM tôi xin linh dược dũng sĩ cho thầy.

– Em Bảy Mô chui giỏi nên chưa bị xúc. Bầu linh dược chắc còn đầy.

– Không !Linh dược của dũng sĩ Út Nhỡ mới cực mạnh!

– Ý đừng ngạo nó nghe, nó quào trầy mặt Mỹ chớ tụi mình có làm được gì!

Một bầy lãng tử lưu linh ăn uống nói năng văng mạng coi trời bằng vung. Nhờ vậy gạt phăng đi được nỗi buồn vạn kiếp xa nhà. Nhậu xong tôi vác AK một mình ngất nghễu đi về Bến Mương thân yêu. Xa cái mảnh đất nhất thần thổ này có một đêm mà sao nhớ. ước gì gặp một em cặp kè vừa đi vừa hú hí đỡ buồn. Tôi nghe nôn nao trong lòng. Không biết việc gì đang chờ đợi ở nhà.

Mỗi một đoạn đường của đất Củ Chi đều ghi một kỷ niệm của tôi: chiến đấu, tình yêu, bạn bè, sống chết, vui buồn lẫn lộn. Ở đây tôi gặp ông Ba Râu kháng chiến hai mùa đi liên lạc hồi chín năm, bây giờ là quản kho. Ở kia, cặp Chín Lộc, Hai Xót ăn sầu riêng với nhau. ở gần chợ An Nhơn được Tám Phụng, Bảy Mô đãi nước mía khi tôi mới về nhậm chức H6, đoạn đường này nàng Lia đèo tôi đi, ở khúc quanh đó là rẽ vào cái hầm cá trê của ông Tám Giò. Nhà má Mười, vườn bà Tám, lò chén, cây dừa cây cau bụi chuối ở Bến Mươngđền quen mặt tôi như tôi sánh đẻ ở đây vậy. Riết rồi trẻ con cũng gọi tôi là Thầy Hai, cái tên thân mến cho cả vùng.

Về đến chợ An Nhơn thì chân bước ngập ngừng. Ở đây tôi thuộc từng mái phố lá. Tôi đến đây cô sẫm lai còn ung dung bán xi-rô và cho tôi mượn quyển Buồn Nôn. Tên Bọ Chét quay phim cảnh Đấu Tranh Chính Trị với Ngụy Quyền với chục rưởi con nít tham gia, cũng ở tại đây tôi nhậu với Tư Linh tại chiếc quán cóc xơ xác mà đã vô cùng. Bây giờ không còn gì, không có ai lui tới.

Cái quán Chệt Tư bán cho tôi với giá không xu nào, lại gả cho tôi cả đứa con gái xinh đẹp tên Mính (mà tôi không dám nhận) bây giờ đã tan tành. Sau khi tái sanh tôi đã làm Bao Công mở cửa tiệm chẩn bần cho dân để tạ ơn trời đất. Lớp cho vợ Bảy Nô đem về Phú Hòa Đông, lớp cho Tám Nghi cung phụng Năm Lê, lớp tặng người nghèo như bà Sáu Bầu. Tám Đột cũng ăn có một phần. Nhờ cái quán này tôi có vải liệm thằng Đức và má Hai, may quần áo cho nhân viên H6, chu cấp tiền cho Tư Lan, Lụa, Là, Tư Chuyền v.v…

Một sự giàu có bất ngờ, tôi hiểu ngay đó là của trời cho nên tôi trả lại cho thế gian. Gã Lê dương nằm xuống cũng chỉ được như thằng Chi là quí rồi. Dăm bảy người đưa ra nghĩa trang, vài dòng nước mắt. Một cái hòm đóng bằng gỗ tạp, quần áo lỏng lẻo phải độn thêm hai khúc chuối cây. Thế đó . Vinh quang ra phết.

Đi một mình, tôi lại nghĩ dại. Nếu bất ngờ một trái pháo mồ côi rơi xuống đây, mình chết, cha mẹ ở nhà đâu biết mà cúng cơm? Bất giác nước mắt tuôn trào rồi chảy xuống môi. Tôi quệt ngang, như sợ có ai trông thấy. Bỗng có tiếng kêu:

– Anh Hai đó hả?

Tôi quay lại và nhận ra tên thiếu úy chăn bò Tư Thêu.

– Mày đi đâu vậy Thêu?

– Đi kiếm chỗ làm kho, cái ở dưới Phú Mỹ Hưng tiêu tùng rồi.

– Cái bên Bưng Còng cũng tiêu. Gạo đâu lính ăn?

– Tại tụi Mỹ chớ phải tại tụi em đâu. Giấu ở ngách nào nó cũng bới ra đốt hết. Hầm hố nó cũng đào dập hết. Anh biết trên Bến Mương này có chỗ nào làm kho được không?

– Lên đó tìm chớ tao không rành.

Đột nhiên Thêu ngoẹo cổ mếu máo:

– Làm thế nào chớ kiểu này chắc chết quá anh !

Tôi làm thinh. Trong bụng lại vang lên lời ông Tư Lệnh chỉ thị :

1- Bám theo dân, đưa chiến tranh vào ấp chiến lược.

2.- Đưa ác liệt vào đô thị.

3.- Địch ngụy vận làm tan rã ngụy quân ngụy quyền.

4.- Diệt từng đơn vị quân đội địch.

Bốn điểm đó, làm sao thi hành nổi với tình hình này?

Tôi hỏi một câu vô nghĩa:

– Mày thấy tình hình ra sao Thêu?

– Anh thấy chớ em có thấy gì khác ngoài mấy cặp bò xe và mấy cái kho.

– Hầm và địa không ở được nữa à?

– Thứ đó bây giờ lạc hậu hết rồi anh à !

Tôi lặng thinh, bước đi nặng chình chích. Thêu than thở:

– Hầm Hố đâu còn anh Han Hố Bò bây giờ thành Hố chuột rồi anh không biết sao? Sau Xê-đa-phôn, em không còn gặp ai hết. Con Là lãnh được cây côn của thằng phi công Mỹ rồi biến đâu mất với chú Xã đội trưởng chỉ huy hai ông Mã Tử và Đầu Ban.

– Còn chú Tư Thiên đâu?

– Ổng cũng thăng thiên độn thổ đâu biệt tăm rồi.

Tư Thêu nhìn tôi cười hí hí. Tôi gạt ngang:

– Thôi mày!

– Anh đâu có túng thiếu gì mà phải…

Thấy tôi vẫn làm thinh, Tư Thêu chồm qua mặt bàn liếc chừng mấy người khách ngồi bàn bên cạnh rồi đưa tay che miệng nói nhỏ rí:

– Bà Tư Lệnh có tới ba tiểu thư hả anh? Anh qua bên sông chuyến này sa hủ nếp rồi.

Tôi gạt ngang nhưng bụng nghĩ thầm: sao nó nói trúng bon? Tư Thêu tiếp luôn:

– Cô nào cũng đẹp. Nhưng con út thì mới quá dò. Xé phai cũng được nhưng tội gì ăn thịt gà dò trong lúc có gà tơ. Theo em thì con giữa đẹp sắc sảo nhất, lanh lợi và biết tâm lý khách, nhưng anh muốn cưới làm vợ thì phải chọn con chị. Con chị đoan trang nhu mì, ít hay cười với khách.

– Sao mày biết rõ vậy?

– Thì em cũng có tới quán đó uống la-de để rửa sơ cặp mắt. Ngó hoài mấy bà cố nội dũng sĩ nịt xanh-tuy-rông của Mỹ, vác AK ăn nói rổn rảng cũng chán chớ anh. Nên em tới đó để thưởng thức mớ tóc bồng, cái áo ni-lông mỏng thấy dây xú-cheng… hớ hớ. Anh thấy chung quanh ổ của ông Tư Lệnh có nhiều quán cóc ghê chưa? Nhưng cái quán của bà Tư Lệnh là đắc khách nhất. Có thể nói là không có ông lớn ông bé nào không đến trình diện.

-Thì ổng ở đó.

– Không…! Trình diện các nàng Kiều kia. Nhưng tôi chắc không ông nào vô nổi cái cửa tò vò đó đâu. Các nàng có học thức, không có chịu cỡ thiếu úy chăn bò như em. Còn thượng úy thì… già cóp bình thiếc, các cô toàn oánh phủ đầu bằng hai tiếng chú, bác. Nghe các nàng hô như vậy quân ta đâu có tinh thần mà xung phong bịt lỗ… châu mai nữa.

Bụng nghĩ tới Lụa, người góa phụ trẻ một con yêu tôi và hiến dâng cho tôi cả thể xác lẫn tâm hồn. Tôi luôn luôn nghĩ tới sự bất hạnh của những người đàn bà chết trận. Lụa, Mười, Tư Mai, chị Chín Kiểu. . . Có người đã chịu cảnh phòng không gối chiếc hai mươi năm. Và dì Ba, mẹ của Khánh Ngọc nữa. Đến bây giờ con gái đã đổ tú tài mới đi bước nữa với ông Tư Lệnh mà cũng oánh du kích chớ đâu dám ra mặt vì ông còn có bà lớn. Trí óc tôi vướng vít vào chuyện ông Tư Lệnh. Ông ở đây quá lộ liễu . Cái vùng này rồi sẽ tan hoang. Mỹ nó nuôi béo để mổ thịt chớ nào phải nó đui mù gi!

(Quả thật chỉ một tháng sau, ông Tư Lệnh phải vọt sang Củ Chi để tránh B52 và tôi phải mang quân đánh giải vây cho ông thoát khỏi địa đạo.)

Tư Thêu giục:

– Về Hố Bò đi anh Hai ! Coi con Là có đó không?

Tôi ngẫm nghĩ một chút rồi lắc đầu.

– Để tao về Bến Mương coi công việc ra sao.

– Thì mai về ! Bến Mương cũng còn đó chớ có dời đi đâu mà anh sợ.

– Không được.

Nói xong tôi quay đi. Tư Thêu kêu tôi hai ba tiếng nhưng tôi làm như không nghe, cứ lũi đi. Vì nếu quay lại nó sẽ cám dỗ tôi. Chỉ một câu thôi tôi cũng xiêu lòng.

Trời chiều vàng ối buồn tênh. Nhà cửa ruộng đồng không một bóng thấp thoáng. Con đường bị B52 cày năm nào vẫn còn lởm chởm, có nơi đứt như thân rắn bị chặt ngang, nhiều hố bom dưới ruộng đã thành đìa, ai thả chà, cá úc lưa thưa trên mặt nước. Một chú chim thằng chài từ đâu bay sà xuống đậu trên cành cây khô để rình xớt cá… nhưng chợt thấy tôi vọt bay đi. Đất ruộng khô nẻ. Vài nơi đã gặt. Còn cả đồng lúa chín rạp sao chủ bỏ đi đâu không thấy ngó ngàng tới? Tết nhất mà cũng không về nữa sao? Ly hương ngay trên quê hương ! Cảnh trời chiều làm cho tôi não ruột và nhớ nhà. Tôi sực nhớ ra là tôi có ý định rước má tôi vào từ lâu mà chưa thực hiện được. Định lợi dụng mấy ngày hưu chiến (hình như có 24 tiếng đồng hồ thì phải) nhưng lại có lệnh khẩn… Bây giờ đã sắp hết hạn rồi. Tôi đi bươn về cơ quan. Cái Tết này thật là y như lời của Bác.

Xuân này khác hẳn mấy Xuân qua.
Thắng lợi tin vui khắp nước nhà.

(Đám lính đọc xong ứng khẩu họa lại)

Xuân này bỏ hết mẹ cùng cha.
Nhà mình không ở, ở nhà người ta!

Cô Thu nấu bếp, người con gái quê mùa, đã cứu tôi dưới địa đạo và chồng là cậu quản lý đi móc gia đình để xin tiền làm đám cưới, đã về. Thằng Đỏ thủ trại luôn ba ngày Tết.

Gặp lại tôi như gặp lại gia đình. Cả ba chạy ra mình tôi ríu rít. Tôi mệt nhừ, chui xuống hầm ném cây AK nằm vật ra.

Thu đứng ở miệng hầm hỏi thăm lăn xăn, còn thằng Đỏ thì càu nhàu:

– Cán bộ tiểu đoàn người ta đi có cận vệ còn anh đi đâu cũng vác AK đi một mình. Xe đạp cũng không chịu dùng!

Bỗng cậu Quản chạy vô báo cáo:

– Có mấy ông D8 đến tìm anh. Tôi nói anh vừa về mệt lắm, để anh nghỉ.

Tôi ngồi dậy bảo.

– Cho vô.

Tôi nghe có tiếng trọ trẹ của Sáu Uya.

– Thầy Hai lên lon lên gáo rồi? Phải đãi anh em chớ!

Tôi chui ra hầm. Cả một đám võ tướng súng ống khua lộp cộp: Sáu Uya, Năm Thủ, Tư Tây, Chín Tống, Tôn Sứt, Năm Thủ và ông chánh trị viên Sáu Phấn của tôi. Sáu Uya nói tiếng nặng chình chích:

– Kỳ này thầy Hai ra chỉ huy Bộ Binh thì D8 mình mới ngóc đầu lên nổi.

Tôn Sứt cười, với cái môi chưa vá :

– Chuyện đó tính sau. Bây giờ anh Sáu có gì ngon làm một bữa tiễn chân thầy Hai.

Cô Thu bắt hết ba con gà tự túc luộc xé phai. Sáu Phấn về nhà lấy rượu đem lại. Thằng Đỏ và vợ chồng cậu Quản sửng sốt nhìn nhau. Thằng Đỏ hỏi:

– Anh Hai được thuyên chuyển hồi nào?

Tôi được Tám Hà, Phó Phòng Chính Trị Quân Khu, đề bạt quyết định của Bộ Tư Lệnh bằng miệng. Anh giải thích cho tôi nhiệm vụ sắp tới của Quân Khu và bảo rằng chỉ có tôi mới đưa Tiểu đoàn I lên được. Để mấy ông già lụm khụm Ba Châm, Út Lịa, Hai Phái chỉ huy thì chỉ có chết lính v.v… Nói xong ông Phó Phòng đãi cho tôi một ly nước lá ổi và hai cục kẹo mè rồi tiễn tôi ra khỏi miệng hầm không quá ba thước tây. Tôi là con ngựa chiến. Tướng nào cũng cỡi được. Trận nào cũng xông lướt, cuối cùng là ngã quỵ, nhưng chiến công được ghi và sử sách thì bảo đó là của tướng nọ, tướng kia chớ đâu có ghi tên con ngựa. Nhưng công bình mà nói tướng không có ngựa không đánh giặc được. Bộ binh hay pháo binh cũng đều là những con ngựa chiến mà thôi. Nhưng tôi ra chỉ huy bộ binh thì có khác: Chết dễ hơn ở pháo binh. Thế thôi! Tôi biết trước việc thuyên chuyển này sẽ làm cả H6 buồn và quyến luyến nên tôi cố giữ nhẹm đến phút chót là hôm nay.

– Sắp thành lập Trung Đoàn rồi đó các cha !

– Cái tai hại là ở trên giao cho ông cụ Ba Châm làm E trưởng!

– Thôi chuyện đó còn lâu. Bây giờ hãy nói chuyện Mỹ vô đông quá làm cho nắp hầm bí mật lên giá đây nè ! Thằng Mã Tử ăn 500 một cái.

– Các cơ quan lo, chớ mình ăn thua gì?

– Giỡn hoài cha, có khi mình cũng xuống hang trầm chớ !

– Chỉ thị của Bộ Tư Lệnh là lính tuyệt đối không có xài hang

– Phải tùy cơ ứng biến chớ cha nội! Nguyên tắc cứng ngắc sao được.

Cả bọn đấu khẩu bạt mạng bỗng bật cười. Sáu Uya trọ trẹ toàn dấu nặng:

Nguyện tặc thị cọ khi cựng ngặc, nhựng cọ khị phại mệm dẹo mợi được chợ.

Đang thiếu đề tài lại nghe ông Triều Đình bỏ một hơi cả chục cái dấu nặng cả bọn Nam kỳ xoay vào chọc ghẹo. Tôn Sứt bảo:

– Bữa nay tiễn chân thầy Hai, nhưng tôi xin hỏi đồng chí Uya, anh em mình nhậu như vầy đã đủ chưa?

Sáu Uya nhấp miếng rượu rồi gật.

Đụ rồi! Đụ rồi!

(Mọi người bụm miệng) Chín Tống hỏi gằn:

– Tôi thì chưa đủ , còn anh đã đủ rồi à ?

– Thời kỳ chiến tranh, Mỹ vô Đồng Dù mà mình còn ngồi đây nhậu như vầy là đụ lắm rồi.

– Anh thấy đã thiệt hả?

Đụ rồi ! Đụ rồi ! Đạ lặm đặ lặm !

Mọi người không nhịn được nữa bèn buông tay ra, kẻ ngửa cổ, người đập bàn, cười rần lên một hồi. Sáu Uya không hiểu tại sao, cứ gật gù nhâm nhi:

Đụ rồi? Các cha còn đòi gì nữa?

– Ai có đòi gì đâu?

Tư Tây là tay tắn mắt nhất trong hàng cán bộ đại đội vẫn chưa chịu thôi. Tư Tây bảo cô Thu cho xin một chén nước mắm và một muỗng mỡ heo. Tư Tây cầm dĩa nước mắm hỏi Sáu Uya:

– Nước gì đây?

Nược mặm chợ nược gị!

Tư Tây lại đưa muỗng mỡ và hỏi.

– Còn cái này?

Đọmợ lợn.

Tư Tây bảo:

– Chút nữa nhậu xong mình phải ăn vài chén cơm để giằn bụng. Bữa nay quản lý không chạy đồ ăn kịp vậy tránh ăn đỡ món này nghe anh Sáu!

Mọn gị!

Tư Tây đổ muỗng mỡ ra dĩa rồi khuấy lia, bảo:

– Món này nè .

Sáu Uya kêu lên:

Nược mặm độ lộn mợ ăn thì tuyệt rồi!

– Anh nói cho đúng dấu đích-tê nghe coi anh Sáu? Nói vầy nề: Nước mắm đổ lộn mỡ.

Nược mặm độ … – Sáu Uya ngưng lại và cười -Các cha phá tôi hoài!

Nhưng Năm Thủ còn chưa tha. Năm Thủ móc túi ra một tờ giấy bạc và hỏi:

– Cái này gọi là gì?

– Giấy nặm động.

– Một phần mười của năm đồng là bao nhiêu?

Nặm cặc !

Cả bọn lại cười rộ lên. Tư Tây bảo:

– Anh đã đem nước mắm đổ 1… mợ rồi lại còn nắm c…người ta nữa. Như vậy thì mất quân phong quân kỹ . Phạt một ly bầu!

Sáu Uya nín mũi uống.

– Các cha chơi ác quá. Thôi, đụ rồi đó nghe.

– Lại đụ ! Tại sao anh cứ ham bỏ dấu nặng vậy? Đâu anh nói đủ coi.

Sáu Uya vẫn phát âm y như trước.

Đụ!

– Lại cũng đụ. Mới đây mà làm hai ba phát không bỏ dỡ phát lào.

Sáu Uya chùi mép bằng tay áo và bảo:

– Thì tại trời bảo vậy mà: Anh yêu em vì bởi chữ u, Bỏ thêm dấu nặng chữ đ đứng đầm

Từ đó Sáu Uya có biệt hiệu là Sáu Đổ Lộn Mỡ.

Ngày hôm sau cậu trinh sát Tiểu đoàn đến dẫn tôi về đơn vị. Cậu bé tên Thung. Nói là bé nhưng cũng đã hai mươi tuổi. Thung sanh đẻ ở Sa-nhỏ nên thuộc đường các vùng ven Quốc Lộ I và Tỉnh lộ số 7. Trước khi về nhậm chức, tôi được một tuần lễ nghỉ phép. Tôi bèn bảo Thung dẫn tôi ra Ràng để tìm cây móc móc gia đình. Ai muốn móc cũng phải ra đây. Nhưng cái số tôi là số không thoát khỏi những bộ móng mềm của cọp cái. Tôi vừa ra tới Bàu Đang gần mã thằng Chi chết trong trận pháo kích Trung Hòa thì gặp cô Nga nhỏ đi lơn tơn một mình, coi có vẻ bạt mạng lắm.

– Em đi đâu vậy Nga?

– Em đi móc má em bên Bình Dương, còn anh?

– Anh đi móc má anh dưới Thầy Gòn !

Nga cười khoe hai hàm răng rực rỡ:

– Hồi hôm em hổng có nằm chiêm bao mà sao sáng nay lại gặp, kỳ chưa?

– Em hổng nằm chiêm bao thì anh nằm.

– Không hẹn…

– …mà gặp mới hay chớ ! Bao lâu rồi em không gặp má ?

– – Gần hai năm. Còn anh?

– Hai chục năm!

– Trời đất !

Thiệt chớ đùa sao?

– Em đâu có nói anh đùa, nhưng lâu quá hà ?

Tôi nhắc chuyện băng bó cái móng chân của em hồi năm lúc tôi mới về Củ Chi và bảo:

– Ước gì em vấp chảy máu cho anh băng như hồi tối hôm đó!

– Chị Là thiếu chút nữa ăn thịt em ! Nhớ không? Anh vô C5 có một lát mà chỉ đi vô bắt anh về.

Thằng Thung điệu đàn. (Nó cũng biết Nga ở quân y của Tư Chuyền. Cả Củ Chi biết nàng Hằng Nga này mà!) nên khi thấy anh hùng ngộ thuyền quyên mết nhau nó bỏ đi xa phía trước và không ngó lại. Thỉnh thoảng tôi nắm tay nàng rồi buông ra chớ không dám nắm luôn, sợ thằng bé có mắt ở sau lưng. Nga nói với giọng châm chọc lẫn hờn mát:

– Anh ra ngoài đó chắc gặp chị Chín Hòa. Chỉ cũng thường đi móc gia đình dùm các anh.

– Sao em biết?

– Em có lính tính như vậy?

– Linh linh thường khi trật lất!

– Chị nào nghe nói về anh cũng nôn nao muốn gặp. Còn người đã gặp anh nhiều lần rồi anh cũng bỏ xó !

– Ai vậy?

Nga lặng thinh quay mặt ngó bên lề đường. Một chốc nói:

– Nhưng em không có gặp chị đó mà em nhờ người khác móc.

– Nếu tiện anh nhờ chung cây móc với em cho đỡ tốn tiền.

– Anh biết chị Tám Lệ không?

– Anh không có quen với ai vùng đó hết.

– Còn không quen?

– Thiệt. Anh có ra vùng Ràng nghiên cứu kỳ đó rồi về.

– Vậy mà để khổ cho người ta.

– Anh làm gì mà để khổ?

– Anh biết ai tên là…. Nhưng ở xóm đó kêu là Quắn!

Tôi giật nẩy người. Chết rồi. Nga khui trúng tủ. Nga tiếp:

– Quắn là cứu thương ấp. Nó vô quân y học và xin thuốc… gặp em hoài mà.

– À, à …có Cô ấy băng cho ông Quận Hai Khởi kỳ đó.

Nga điềm nhiên tiếp:

– Cổ bảo là quen thân với anh lắm phải không?

Tôi chưa biết nên chối hay nhận, nếu chối thì chối cách nào. Nhưng cũng may, Nga trỏ về phía Trung Hòa và bảo:

– Uổng công cho anh pháo kích!

– Tại sao?

– Anh bắn bay cái chuồng cu, nay nó cất cái mới cao hơn. Đi nhanh qua khoảng trống, núp vào bụi cây để nó trông thấy

Thằng Thưng đứng nép bên bụi cây chờ tôi tới, bảo:

– Mình ghé quán Ba Cô xã chút đi anh!

– Quán nào nghe lạ vậy? ở vùng trại Giàn Bầu này chỉ có quán cô Chín thôi mà.

Thung tuôn luôn một tràng làm như nó đã sắp trước mọi chuyện và tôi không biết gì hết.

– Ba Cô ở trên An Phú mới tản cư ra coi nới lắm. Anh vô thì chắc như bắp. Còn nếu không khoái thì tạt qua quán con Khuân. Con nhỏ này là cháu của tôi. Tôi kêu má nó bằng chị… Con nhỏ này hơi đô nhưng mặt mày coi khá lắm. Dô nó thì anh khỏi lo tài chánh, hút cáp-tăng trớt mỏ. Má nó làm tổ trưởng tổ xe bò của ông Bảy Hốt mỗi đêm tải gạo được bảy ngàn đồng lận. Gia đình nó không liên hệ gì ngoài thành hết. Anh khỏi lo bị qui mất lập trường. Mất gì thì kiếm lại dễ chớ mất lập trường thì muôn năm kể như đi luôn. Đó, như con Bảy Mô dũng sĩ số 1 trên R gởi nhà báo nhà quay phim tới gặp nó, Liên Xô cũng đòi gặp nó, nhưng nó chỉ làm tới đội phó thôi, chớ không lãnh đạo được.

Thằng Thưng đi ngang tôi và nói liên miên. Tôi làm như không rành, nên hỏi:

– Tại sao vậy cậu?

– Tại vì nó là địa chủ. Ba mẫu sầu riêng. Cả trăm mẫu ruộng.

Tôi cười thầm:

– Cái thằng này lém ghê !

Nó trỏ vô xóm:

– Tiểu đoàn mình đóng vùng này. Văn phòng tiểu đoàn và C4 đóng ở đầu trên kia. Cl và C2 đã kéo xuống Phú Hòa Đông do ông Ba Châm, TuưNhựt và Út Lịa chỉ huy có ông Tư Công tổ trưởng trinh sát đi theo.

Ngang mấy nhà có lính, vài cậu trêu chọc phóng ra:

– Ê ! mày dắt em tao đi đâu đó mậy? Đừng có làm bậy bạ nghe !

– Mày dắt đùm bà xã tao đi qua nhà bà già vợ tao nhé !

Thưng quạt trả:

– Người ta là mèo của thủ trưởng đó. Tụi mày vác sào quơ còn chưa tới.

(Tôi nghĩ bụng: sao nó biết giỏi vậy? Trong lúc Nga che mặt quay ngang.)

Tôi bảo:

– Nè, Thưng, nếu có ai hỏi anh, em nói anh tên là Hai Hà nghe !

– Tên gì nghe con gái vậy?

– Trước là Hai Lôi. Giờ đổi ra Hai Hà. Hết làm Thiên Lôi lại hóa thành Hà Bá!

– Tụi Mỹ vô Đồng Dù đông nghẹt. Dân đi chợ Bắc Hà về nói đó là Tía chớp nhiệt nhót hay Anh Cả Kiết gì đó. Tui nói thiệt với anh Hai, là nếu nó đừng chơi B52 với pháo bầy, chỉ xài Bộ Binh thôi là tui chấp nó bắn một chục la phan, tui chỉ bắn một viên.

– Em không ngán cá lẹp, bù nốc à ?

Thằng Thưng ngẫm nghĩ giây lâu rồi gật đầu:

– À quên! còn hai món này nữa. Cá lẹp bắn dai như trâu đái còn bù nốc xoáy bay nóc nhà quăng lựu đạn xuống miệng hầm… ờ ờ cũng ngán chớ.

– Em không ngán xe tăng à ?

– Dạ ngán chớ thủ trưởng. Nó vừa bắc cầu Bến Mương để rượt mình đó. Nó càn dẹp hết miệng địa, miệng hang.

– Em không ngán chó đánh hơi hầm à ?

– Áy dà dà… Nghe mấy bà đi chợ Bắc Hà về nói trong Đồng Dù có nhiều chó lắm. Con nào con nấy bằng con bò, em ớn quá ! Thứ đó đánh hơi thì trúng phóc, làm sao mình phục kích được anh? Nhưng em ngán nhất là…

– Là gì?

Thằng Thưng cười:

– Nói vậy em không ngán cái gì hết. Chỉ ngán mấy cô y tá cưa dò ! Rồi Mỹ chụp không chạy được!

Nga bật cười.

– Cái anh này !

Thưng cười hắc hắc:

– Mấy ngón tay của mấy cô mềm nhưng ác lắm, rờ tới đâu rụng tới đó ! Thôi ghé vô C3 kiếm ba hột bỏ bụng rồi đi tiếp anh chị ! Đường còn xa !

Thưng dắt tôi vào xóm đóng quân. Người tôi gặp đầu tiên là Hai Phái chính trị viên D (lính gọi là CTV dê). Thực ra Hai Phái không dê ai có kết quả cả mà chỉ mang tiếng thôi. Hắn là người gốc rau, uống rượu thì nhăn mặt như khỉ già ăn bần, hút thuốc thì chỉ phà khói ra, đến gần nghe mùi quần áo đến phát ói. Hành quân thì để lính lội bộ còn hắn đi xe đạp. Thằng Thung và thằng Khánh, liên lạc viên của y, bảo:

– Em chẳng thấy ông tắm nguyên con bao giờ mà chỉ cởi áo nhúng nước lau khúc trên rồi mặc áo vô. Vậy là xong. Lâu lắm mới thấy ông giặt đồ. Em bảo: Thủ trưởng đưa em giặt cho, ông xua tay: Thôi… thôi… chưa cần. Theo ông Chín Câu, phó chính trị viên Tiểu đoàn, nói thì ổng không có sổ sách gì hết. Toàn nhớ tuồng bụng. Tiền phụ cấp mỗi tháng 500, không xài một xu với lính, chi để đãi các cô dũng sĩ. Có cây K54 nhưng không bao giờ chùi, người sao của vậy, nhưng được cái là em nào mượn ổng cũng cho.

Hai Phái dắt tôi đến nhà của Ban chỉ huy đại đội 3, gặp lúc các ông đang uống trà úp, nghĩa là dùng cái chén úp lên cái tô châm nước rót uống chớ không có bình. Hai Phái nạt:

– Thấy Tiểu đoàn tới sao không chào hỏi?

– Dạ, tụi này không được báo trước.

– Dạ, đang mặc quần tiều mà đứng dậy bất tiện quá thủ trưởng à !

Hai Phái xua tay.

– Ờ phải ! Thôi miễn.

Rồi giới thiệu:

– Ông răng hô này là Út Sương, chánh trị viên C; ông gà mờ này là C Trưởng, ông chăn bò này là C Phó.

Rồi quay lại tôi:

– Cho các đồng chí biết đây là Tham mưu Trưởng Tiểu đoàn.

Ban chỉ huy C đều biết tôi cả nên thân mật mời uống trà.

Bỗng một người ở đằng sau nhà bước vô. Hai Phái giới thiệu luôn:

– Ông này ở trên mới đưa về tên là Ba Nhẫn CTV phó đại đội

Kể từ đây về sau, xin viết theo ký hiệu bộ đội Việt Cộng dùng trong thời chiến theo kiểu Trung Cộng:

F : Sư đoàn

E : Trung đoàn

Et : Trung đoàn trưởng

Ef : Trung đoàn phó

Ev : Chánh Ủy Trung đoàn

D : Tiểu đoàn

Di : Tiểu đoàn trưởng

Df : Tiểu đoàn phó

Dv : Chính tri viên Tiểu đoàn

Dvf : Phó chính trị viên Tiểu đoàn

C : Đại đội

Ct : Đại đội trưởng

Cf : Đại đội phó

Cv : Chính trị viên Đai đội

Cvp : Phó .chính trị viên Đại đội

B : Trung đội

B t : Trung độ i trưởng _

Bf : Trung đội phó

A : Tiểu đội trưởng

Af : Tiểu đội phó.

Ba Nhẫn nói:

– Mới thấy thầy Hai ở bên kia sông Sài gòn bây giờ về đây lại gặp.

Tôi ngạc nhiên nhìn Ba Nhẫn.

– Ủa, đồng chí thấy tôi ở đâu?

– Trong quán ba con Thỏ Bạch chứ đâu!

– Quán Ba Cô hồi nảy hả?

– Không… Quán bên Bến Cát kìa. Người ta uống nước đá bằng ly. Còn anh uống nước đá trong lòng bàn tay em bụm. Tôi ngồi trong góc nhà chớ đâu. Anh mút mấy ngón tay của người ngọc mà! Đã thiệt!

Hai Phải lỏ con mắt:

– Thỏ Bạch ở đâu vậy?

– Má mấy cô đó cáp với ông chánh trị viên D thì vừa.

– Hề hề ! Vậy để bữa nào ông Tham mưu trưởng dẫn tôi qua coi mắt chút nghe!

– Ngặt một điều là chắc mấy cô ấy phải kêu ông bằng bác!

– Sao vậy?

– Tôi nói là má của mấy cổ kia mà ! Nhưng má của mấy cổ cũng bị người ta đỡ đầu đỡ luôn cả đuôi rồi ! Mà tôi khuyên cho mấy cụ nhà mình, có qua bên đó thì chỉ uống nước đá rồi bịt mắt ra đi chớ có liếc qua liếc lại nghe chưa. Có ông kẹ nằm_trong buồng.

Định ghé nghỉ chân rồi đi móc, chẳng dè lại dính vô công tác. Hai Phải cho tôi biết kế hoạch tác chiến. Sau vụ pháo kích Đồng Dù và Trung Hòa quân Mỹ truy lùng gấp mười lần trước đây. Củ Chi, Bến Xúc, Bến Cát v.v… đều trở thành những vùng oanh tạc tự do (Destroyed zones). Không một cơ sở nào đứng được. Cả đến du kích cũng chạy lang thang. Đám dũng sĩ của Bảy Mô, lớp nhảy vô cơ quan, lớp vào bộ đội hụ hợ kiếm cơm, còn phần lớn bỏ ngũ về nhà. Khu ủy đã lẻn qua sông sau tiệc thịt chó ở Bến Chùa. Quân y của Tư Chuyền cũng rục rịch sang sông.

Trước tình thế nguy ngập đó Quân Khu chủ trương thọc mạnh thọc sâu ra vùng địch tấn công để phòng ngự. Tấn công vùng địch thì có bộ binh. Chứ pháo binh thì khó ăn. Do đó đưa tôi ra bộ binh, nhưng cũng đồng thời đưa Huỳnh Thành Đồng xuống Trung An để gây một cuộc sóng gió khác như trận pháo kích sân bay Biên Hòa.

Tôi về nhận chức Tham mưu trưởng DI chưa ngồi nóng đít (qua buổi uống trà úp) là phải bắt tay vào chiến đấu. Hai Phải đưa cho tôi thêm một cậu trinh sát tên là Thuận và một b phó trinh sát tên là Xướng. Xướng chừng hai mươi tuổi. Còn Thuận mới mười sáu. Thuận đầu quân lên R nhưng bị chê là vịt đẹt không vác đạn nổi, lại thêm tật nói đớt. Tuy xấu trai nhưng được Hai Phái khen nức nở:

– Nó theo anh vài năm, nó sẽ chỉ huy nổi một đại đội.

Tôi nhận lãnh công tác một cách tự nguyện. Và đành bóp bụng để cho Nga đi một mình. Tôi đưa tiền cho Nga móc cả hai bên gia đình và hẹn sẽ gặp nhau ở nhà Tám Lệ với sự có mặt của hai bà già.

Như vậy là tôi có tới sáu con mắt trinh sát trong chuyến này. Vừa kết hợp cả công lẫn tư. Thằng Thuận quả là một trinh sát viên chẳng những rành đường mà lại thuộc từng nhà . Nó dắt tôi cắt xéo ra Đồng Lớn Phía đầu Cỏ ống mà không đi thẳng đường xe dứa ra Bàu Trâm qua ngang bờ tre nhà Chín Thành tới nhà ông Hai. Nó nói liền tù tì không nghỉ:

– Ông già này không biết tên gì, nhưng người ta gọi là ông Hai Bắc, di cư năm 54, có con trai tên là Hai Thân làm ấp đội trường. Bà Hai đi buôn gà. Bà vác giỏ đi mua gà ở vùng quanh vài nhà thì nhảy xe lam đi Sài gòn một chuyến. Bây giờ có nhà gạch ba căn, trâu cả bầy. Ông Chín Nửa thường nhờ bà Hai móc gia đình ở Phú Xuân. Vợ ổng làm cô giáo tóc quăn còn ổng C phó mà lem luốc như thằng chài tép…. Đó là nhà Út Siêng. Chồng bả đi Côn Đảo, có con gái gả được rồi mà bả còn ngựa lắm. Mấy ông Hai Phải, Ba Châm, Ba Râu đều có ghé nghỉ lưng tại đó. Nghe nói ông Năm Trầu cũng vừa lò mò tới xin nước uống. Cán côn, cán gáo đụng đầu lộp cộp.

Thấy rặng cây như hòn đảo giữa ruộng, tôi hỏi:

– Đó là đâu?

– Dạ, là suối Tầm Đình. Cái xóm bên kia suối thuộc Trảng Bàng. Bên đó có cụm pháo Chà Rẫy rót qua Củ Chi mình ác lắm. Suối đó chảy ra Bàu Ràng thành suối Trung Hưng rồi chảy luôn ra cầu Công Sở Lộ số 7.

Qua khỏi Bàu Đồng Lớn, thấy có một xóm nhỏ đông đúc. Thuận nói:

– Đây là xóm Bàu Sỏi, con nít 14-15 đông lắm. Mấy ông Năm Tân, Tư Trường thường đóng quân ở đây để rủ tụi nó đi theo. Tư Trường, chánh trị viên Cl, có vợ ở ấp chiến lược Cây Bài có em vợ lấy Mỹ ở Đồng Dù, đẻ sanh đôi có hai đứa con gái thiệt ngộ. Tôi có tới nhà ngó thấy rõ ràng. Ối trời tụi nó uống toàn là sữa bò không ngộ sao được. Đẹt ngắt như em vầy là tại hồi nhỏ ăn toàn cua đồng ốc bưu.

Tôi chặn ngang hỏi thêm vụ này, Thuận vung tay:

– Mỹ vô đông, người mình càng đi làm cho Đồng Dù mạnh. Lương ngày 500-1000. Dại gì không đi. Ở nhà đánh xe bò có bữa pháo ăn mà cả đêm chỉ được 800 ông Bảy Hốt cho tới 1000. Vợ Chín Tiền, cán bộ K20, anh em cột chèo với ông Út Sương cũng đi làm trong đó. Lâu lâu vô thăm chồng mang theo một thùng đồ hộp.

Đi tới một đoạn nữa, Thuận lại tiếp:

– Đây là nhà má Chín, má của chị Chín Hòa. Cô giáo dạy Bình Dân vừa thay cho cô Tám Lệ. Bà nội này phòng không cỡ 75 ly. Cán bộ không đeo colt bả không có ngó, lính tải tụi tôi bả đâu thèm dòm. Nói cho ngay tại vì bả trẻ đẹp lại học giỏi. So với cô gì đi với anh hồi nãy (Nga) thì một chín một mười.

– Ai chín, ai mười?

– Cô Hòa mười.

Đi một quãng nữa qua một khu vườn cây ăn trái không nhiều vết đạn bom, Thuận lại tiếp:

– Đây là nhà chị Tư Rẻ . Bà này có chồng làm tới Tiểu đoàn trưởng Công Binh trên R. Có đứa con trai 4-5 tuổi mà ổng không thấy về. Ông Năm Tiền thường ghé đây dữ lắm. Hai đứa em gái là Sáu Niêm và Bảy Lợi cũng có chồng lính Công trường 9 của ông Năm Truyện hay Binh Vận gì đó cũng không thấy về . – Thuận vừa chỉ chỏ vừa thuyết minh – Qua khỏi Trảng Đồng Găng là đụng đầu Đồng Lớn, ở đó có cô bồ.tèo Út Hương của ông Quận Khởi. Nàng đã làm ông bị rớt sao mất đảng tịch vì cái bầu bất hợp pháp. Ở đây còn có cơ quan quân báo, kêu là cụm Quân báo Quốc lộ I, đóng tại nhà cô giáo Tám Lệ. Cô cũng có con nhưng chồng bà Sáu Huỳnh hình như phục vụ cơ quan đóng trong nhà .

– Sao em rành hết vậy?

– Em bị R chê , về nhà xấu hổ, nên tắp đại vô DI, đi làm trinh sát dẫn đường Phú Hòa. Em hứa với anh từ Bàu Lách xuống Bàu Tròn, từ Phú Hòa ra Trung Hưng, ra Bàu Trâu, Dân Hàn, Lào Táo tới Mít Nài anh hỏi nhà ai trâu bò ruộng mạ ra sao em biết hết.

– Ở xóm Ràng người ta làm nghề gì?

– Họ đươn rổ thúng. Có nhà đặt tên con là Rổ, Rá, Bàn, Nia. Chị út Quắn ở xóm đó . Chị có người anh tên là Ba Quyết ở C3 vừa rồi suýt coi đồng hồ ở trận Bàu Lách.

– Coi đồng hồ là sao?

– Là bị bom napan cháy tay cong lên như coi đồng hồ. Ảnh quánh giặc gan lắm! Một mình dám đánh một xe jeep ở cầu Công Sở. Trận đó có em tham gia một chân.

Đến một ngôi nhà lớn, ở trước ngỏ có để khạp nước dưới tàng cây vú sữa làm phước cho người đi đường. Thuận nói.

– Đây là nhà của má Mười. Bả vô đạo Cao Đài, thường đi đọc kinh cái Thất ở ngoài lộ số 1 nên bả bố thí nước ! Mình lại đằng kia uống nước trà rồi đi tiếp.

Đi vài công đất, nó dừng lại bảo:

– Đây là nhà của chị nuôi em.

Chủ nhà là một người đàn ông nấu nước trà Huế đãi khách. Người chủ nhà hỏi:

– Bữa nay sao mày không đi với Út Sương?

Thuận cười hề hề :

– Tôi lên Tiểu đoàn rồi !

– Giỡn hoài tụi !

– Thiệt mà ! Hồi trước tôi là trinh sát đại đội ông Út Sương, bây giờ lên làm trinh sát tiểu đoàn, không lên tiểu đoàn là gì? Đây là… – Thuận thấy tôi nháy mắt nên ngưng lại và nói trớ qua – đây là ông bạn của tôi.

Nốc cạn tô trà Huế, tôi giục Thuận đi. Thuận hỏi chủ nhà :

– Lâu nay thằng Lộc có thọc vô đây nữa không anh?

– Nó đi ai mà biết được! Nếu rủi nó đang ở ngoài hè cũng không ai hay.

Trên đường đi tôi nhớ cái khạp nước của nhà má Mười mà buồn lòng. Trong kháng chiến chống Pháp vào khoảng 1947 Trung đoàn 300 của tôi hành quân từ Ba Thu về khu rừng Sát Nhà Bè. Khi đi ngang qua xóm Phong Được, ngoại ô Sài gòn, trời mưa tầm tả, trời tối như mực, đường sá sình lầy ngập tới gối, hành quân rất khổ nhọc (không có được tâm ni lông mà choàng như bây giờ) nhưng tình đồng bào làm cho chúng tôi tiến bước không sờn chí. Ông già bà cả, chị em phụ nữ cầm đèn chai soi đường cho chúng tôi đi. Các bà mẹ trao tận tay chúng tôi những chiếc bánh ú bánh tét, Chúc anh vệ quốc đoàn kỳ khai đắc thắng, mã đạo thành công. Riêng đám con nít lóc cóc chúng tôi thì được các anh thanh niên cõng chuyển đi từng chặng. Cả Trung đoàn trên một ngàn người đi qua mà đồng bào vẫn đứng chờ thâu đêm tới mút đuôi mới thôi. Bởi vậy bọn chúng tôi hát bài Đoàn Quân Đi Chiến Sĩ Vô Danh một cách say mê.

Đoàn quân đi thấp thoáng trong đêm không một vì sao. . .

hoặc

Khi ra đi đã quyết nuôi chí căm hờn…

Lòng yêu nước trước kia là tự nguyện còn bây giờ là yêu nước bắt buộc. Bây giờ cũng kháng chiến mà dân bỏ nhà bỏ cửa, mình đi tới đâu dân trốn hết ráo, gạo phải đi tìm mua từng hột. Nhưng tôi không muốn kể cho đám trẻ nghe. Nếu chúng nó nghe, tôi khó bề mà giải thích cho thông. Bất ngờ, thằng Thuận hỏi:

– Anh liệu B52 nó chơi ra tới đây không?

Tôi không biết trả lời thế nào thì Xướng hớt:

– Vùng này meo quá, chắc nó không dám chơi cầu âu vậy đâu

Tôi bảo:

– Nó dám rắc bom cách vách bót năm trăm thước đó nghe em! Đừng có tưởng nó không làm được!

Chương 70

Một phen lên ruột vì “ngầu với em ”
Lại duyên em tình chị?

Tôi nhớ lúc vô gặp Năm Lê lần trước anh có nói với tôi hai chuyện lịch sử: một là chiến lũy Maginot bên Pháp và Nã-phá-luân. Nã-phá-luân, ai cũng biết, là một võ tướng đại tài Về mặt tình ái ông cũng nổi tiếng không kém trên chiến trường. Nhưng đời ai lại khỏi gặp rủi ro. Ông đã lấy được một người đàn bà đẹp nhất Paris thời bấy giờ là Joséphíne Beauharnais. Người thường không có con thì..cũng quan trọng nhưng có thể giải quyết bằng cách xin con nuôi. Nhưng làm vua mà không con thì nguy khốn cho chiếc ngai vàng. Bà Joséphine đã có con trai và con gái với người chồng trước nhưng với Nã-phá-luân thì lại trơn lu. Sau một thời gian mà không thấy người đẹp mang bầu ông bèn quyết định ly dị. Bà ta cũng đành ngậm đắng nuốt cay để cho chồng ôm cầm thuyền khác. Nhưng người ta đàm tiếu rằng ngoài lý do không con, đức lang quân của bà còn nghi ngờ cái tiết hạnh của bà . Bà là tay bay bướm của Paris hoa lệ lúc bấy giờ làm sao chịu nổi những đàn ong bướm vo ve trước ngỏ sau nhà và ông chồng đang chinh chiến miền xa cũng được báo cáo khá đầy đủ. Cho nên cuối cùng ba xôi nhồi một chỏ, người đẹp đành phải cầm bút ký tờ ly dị với chồng. Nã-phá-Luân ly dị xong cưới ngay công chúa nước Áo tên là Marie Louise. Năm sau một hoàng tử ra đời. Người cha mừng rỡ cho đại bác bắn chào mừng và sau đó lén vợ đem hoàng tử về cho cựu hoàng hậu xem mặt.

Joséphine vẫn yêu Nã-phá-luân tới chết không lấy ai khác. Khi ông bị đày đi đảo Sainte Hélène thì Joséphine xin theo nâng khăn sửa trấp. Thư đến tay ông làm ông đau đớn lắm. Nhưng giới chức bắt buộc ông phải trả lời rằng “không thể được !”. Thư chưa về đến thì Joséphine đã qua đời.

Cả một trang.tình sử bi thương cho một đời danh tướng. Tuy vậy lúc ông bị đày ở đảo Sĩ Hélène ông vẫn được người con gái của viên chủ trại giam yêu và ông này rất lấy làm hân hạnh con gái mình được một vị hoàng đế như Nã-phá-Luân yêu…

Đời tôi không sợ nỗi bất hạnh nào bằng không con. Tôi không biết bịnh tật ở Trường Sơn có diệt mầm mống sinh sản của con người hay không, hơn nữa cũng đã ngoài ba mươi rồi, trẻ trung gì nữa. Tôi cần có vợ có con. Thấy con nít tôi rất ham, nghe vợ lính có bầu tôi rất mừng. Nhân viên xin tuyên bố tôi cho phép và giúp đỡ đầy đủ, thấy đàn bà chửa tôi rất kính trọng, thấy đàn bà bế con tôi cho là hạnh phúc nhất đời.

Tại sao tôi chưa lấy vợ ? Chỉ có tôi mới hiểu tôi thôi ! Chiến tranh! Chiến tranh ở Nga chống Phát xít Đức làm cho đàn bà sợ không dám đẻ con, còn nông dân thì không dám cất nhà.

Sáng hôm sau tôi vừa thức dậy thì Bảy Sơn cho biết tôi sẽ làm việc với một nhân viên của cụm I Quân Báo Quốc Lộ . Bảy Sơn là Trưởng ban Quân báo huyện Củ Chi, lại kiêm luôn thợ vẽ các tấm địa đồ. Nói là vẽ nhưng thực ra y vẽ thì ít, cóp thì nhiều. Cóp các bản đồ của Pháp bỏ lại, cóp những bản đồ của Mỹ hành quân đánh rơi… chớ y làm sao vẽ nổi?

Bảy Sơn ra đây đóng quân ở nhà người anh ruột là Sáu Sắc. Đã biết nhậu từ lúc Hai Khởi dắt tôi vô yết kiến ông Quận đội trường Tám Giò ở dưới hầm đào luồn dưới gốc bụi tre nóc ni-lông, và tôi được đãi một bữa nhậu mắm chua, nên Hai Sơn không dè dặt như với người khác dù là anh em đằng mình. Đàng mình thì đàng, cũng có thứ ma-bôn lắm. Bảy Sơn để cho tôi ở với y, còn Xướng, Thung và Thuận thì chỉ tới ăn cơm, còn ngủ ở một nhà gần đó.

Y đem cho tôi một ly cà phê sữa và giải thích.

– Anh chuẩn bị mục đích yêu cầu cho kỹ đi rồi đi làm việc. Đây là cà phê của Mỹ hành quân bỏ lại con nít lượm bán cho tôi chớ không phải xa xí phẩm đâu anh Hai.

Tôi nói ngay:

– Thứ này thằng Đỏ cận vệ của tôi lượm cả thùng sau trận càn Cedar Fall.

Tôi uống xong ly cà phê, y đưa tôi xuống hầm. Nhà chỉ có một cái hầm. Ban đêm tôi và Bảy Sơn phình bụng ngủ ở trên. Vùng này pháo ít lắm. Tôi vừa chui vào thì dội ngửa, ú ớ không ra tiếng:

-Mai…?

– Anh…?

Cả hai người đều sửng sốt nhìn nhau. Đó là Năm Mai, chị ruột của dũng sĩ Bảy Mô. Lần đầu tiên Tư Linh dẫn tôi đến nhà nàng dũng sĩ cho biết mùi Hoa Củ Chi, tôi gặp Mai. Nàng ở thành về thăm em gái. Con bé Liên lúc đó mới ba tuổi. Tư Linh có ý gạ cho tôi nàng dũng sĩ, còn cô chị thì phần y. Quả thật Bảy Mô rất mến tôi. Nàng đem đàn măng-đô ra cho tôi đàn. Hai đứa tâm tình với nhau trong vườn sầu riêng thơm bát ngát. Từ đó tới nay tôi chỉ gặp Tư Linh đâu một hai lần. Lâu nhất là lần dàn cảnh cho thằng Bọ Chét quay phim Địa đạo chiến. Không hiểu Tư Linh đã hòa điệu với nàng bản Tân Cổ nào rồi… Sao hôm nay lại gặp đây. Mai là quân báo? Năm Mai nói:

– Nghe anh Bảy Sơn nói em sẽ làm việc với anh, em…

– Em thế nào?

– Em hồi hộp quá trời !

– Tại sao?

– Em cũng không biết tại sao nữa.

Trời ơi! Gái một con. Tôi sẽ vương tơ người đàn bà này nữa ! Má con Hoàn cũng đẹp nhưng là cái đẹp hiền hậu chất phác, còn má con Liên đẹp sắc sảo mặn mà, trong mắt lấp lánh đa tình và khôn ngoan. Lụa và Là không sánh nổi với Mai và Mô. Khổ nổi là chị lại đẹp hơn em. Và Mô tuy là con gái nhưng không đẹp bằng Mai. Nếu phải lấy một trong ba em (3M: Mai, Mô, Mười) để làm vợ thì tôi phải suy nghĩ rất nhiều mới quyết định được.

Mùi nước hoa thành thị.tỏa ra từ Mai làm cho tôi ngây ngất và hơi mất tự nhiên. Tôi cũng không ngờ là phải công tác trong một cái hầm với một người đàn bà đẹp như vậy. Có lẽ Mai cũng như tôi nên nàng tìm cách tự trấn tĩnh. Nàng lôi chiếc giỏ xách bằng ni-lông tím đặt trên bàn chắn ngang hai đứa và moi ra những bánh kẹo trà thuốc lá, hai ổ bánh mì.

– Em mua chi tốn tiền vậy?

Tôi không gọi nàng bằng chị như những lần có mặt Bảy Mô nữa. Nàng cũng gọi tôi bằng anh tự nhiên.

– Chị Ba mua cho anh để cám ơn anh.

– Cám ơn về chuyện gì?

Nàng trách yêu:

– Anh mau quên quá ! Chị Ba vô thăm nhà (có lẽ nàng muốn tránh nhắc tới Mô trong không khí này) bị sốt rét, anh cho y tá vô tiêm.

– Trời vậy mà cũng cám ơn! Vậy anh ăn cơm, ăn sầu riêng ở nhà và lính của anh tới xin đủ thứ thì anh có phải cám ơn không? (Tôi cũng cố tránh tiếng Mô.)

Mai chỉ lườm và cười mà không nói, làm lộ chiếc răng duyên viền vàng ở khóe mép.

– Ba má và chị Ba đều mạnh hả em?

– Má thì khỏe nhưng Ba bịnh hoài. Ba lo đủ thứ. Trận ruồng vừa rồi ba không ăn ngủ được. Ba lo cho… (có lẽ không tránh được tiếng Mô) dì Bảy con Liên, lo cho nhà cửa vườn tược

– Chiến tranh là như vậy, biết làm sao bây giờ.

Nàng ngồi thờ thẫn, đôi mắt tràn ngập buồn lo. Đột nhiên nàng hỏi:

– Anh có quen với ai là Mai…

Tôi cướp lời nàng.

– Chỉ có em là đóa mai độc nhất…

– Khanh. Mai Khanh!

Tôi suýt bật ngửa ra nhưng tự trấn tĩnh kịp. Nàng tiếp:

– Chỉ cũng công tác như em, nhưng ở trên R.

– Sao em biết ở trên R.

– Thỉnh thoảng có gặp nhau. Chỉ nói chỉ là chị nuôi của anh và là vợ của ông gì trên R.

– À, à chị Mai Khanh ở trên trường pháo binh anh dạy hồi trước lâu rồi.

– Chỉ nói Tết vừa qua chỉ có xuống tìm anh.

– Ờ! ờ nhưng anh bận công tác không có ở nhà.

– Chỉ cho em biết tin bí mật. Nhưng với anh em cứ nói.

– Tin gì mà bí… dữ vậy?

– Trên đó bị B52.

– Ối ! Chuyện đó mà bí cái gì. Anh biết rõ hết trơn.

Tôi sực nhớ tới bắp chân trắng ngần của Huỳnh Mai bị đĩa đeo. Rồi nhớ tới Thanh Tuyền đeo cổ tôi lội qua suối, nhớ Ba Ánh, và các cô trên R gặp tôi trong lễ mừng công. Huỳnh Mai bị B52 chết rồi. Bữa chiều hôm đó thằng Hùng nhường nhà cho tôi làm tổ uyên ương với Mai nhưng nàng bị ông Bảy Đậu xách luôn về R đút đầu cho B52 ăn. Huỳnh Mai,… Rồi lại Mai Khanh, bây giờ lại cũng Mai. Mai hỏi.

– Anh suy nghĩ gì vậy?

– À anh nhờ em xem địa hình dùm từ Tua Đồng Chùa đến quá chợ Suối Cụt.

– Đến chỗ khúc quẹo phải không?

– Phải, nhưng phải xem cho kỹ từ địa hình, không được nói đại khái.

– Ối tưởng gì chớ ba cái đó em nằm lòng. Từ Đồng Mã vô Vườn Cau, đến lò bánh mì, rạp hát, cây xăng, Thất Cao Đài nhà máy xay lúc em kể anh nghe không sót thứ gì hết.

Mai nói xong, móc trong giỏ xách ra một ổ bánh mì.

– Hai ổ kia khác, ổ này khác.

Nàng moi ruột bánh mì lấy ra một lọn giấy bằng ngón tay út rồi mở ra.

– Anh cần cái này?

Đó là tấm bản đồ Củ Chi đủ chi bết tỷ lệ 1/25.000.

– Trời ! ở đâu em có được?

– Anh muốn là em phải tìm.

– Sao em biết anh muốn?

– Biết chớ.

– Anh còn muốn cái khác nữa.

Tôi vừa nói, mắt nhìn vào mắt nàng, tay vừa đặt trên tay nàng đang vịn góc tấm bản đồ không cho cuốn vô . Thấy nàng để yên tôi bóp nhẹ rồi bóp mạnh. Nàng cười mắt lấp lánh như sao. Tôi lần bóp đến cổ tay, nàng vẫn cười, đôi môi nở như nụ hoa đẹp vô cùng. Tôi bèn nâng lên rồi chồm qua mặt bàn hôn khẽ một cái. Nàng rút lại nhưng tôi kềm chặt, nàng không rút ra được. Tôi lôi mạnh, nàng phải trườn người lên bàn và chạm mặt nhau. Tôi hôn lên gò má nàng. .Làn da nóng rực như hơ lửa. Hơi thở nàng ngắn và nhanh. Tôi hôn liên miên khắp mặt rồi dài xuống cổ. Cái cổ trắng nõn từ nãy giờ tôi ngồi ngó lom lom chắc nàng cũng nghe xốn xang vì tia mắt. Tôi lôi nàng qua phía tôi, nhưng nàng lấy tay ghi mép bàn chống lại. Tôi bèn rời chỗ và sang ngồi bên cạnh nàng. Đó là chiếc giường ngủ của chủ nhà chớ không phải ghế. Tôi hôn tiếp như một kẻ nhịn khát nhiều năm chưa được uống. Tay tôi bắt đầu di chuyển qua làn áo ni-lông hường mỏng.

Nàng chặn lại, thỏ thẻ:

– Tới đây thôi anh à!

– Em không yêu anh sao?

– Không yêu mà vầy.

Ngọn đèn leo lét trên bàn như cũng ngã nghiêng chấp chới theo hơi thở mạnh của nàng. Da thịt đàn bà thiệt là tuyệt trần. Chiếc áo của nàng thơm phức. Tóc bết mồ hôi nghe cũng ngọt ngào. Nàng vuốt mặt tôi quay lại nhìn và lắc đầu:

– Anh yêu em rồi cũng không đi đến đâu.

– Tại sao vậy?

– Anh biết mà .

– Anh biết em nói tới dì Bảy?

– Em quen anh sau mà đến trước !

– Cũng sẽ hiểu thôi. Em đẹp quá, anh không cầm lòng được

– Em đã có một đời chồng rồi. Anh còn trai. Hơn nữa em của em nó đã yêu anh. Em làm chị, như vầy có lỗi với nó. Anh yêu nó phải hơn. Nó còn trinh tiết. Em của em, em biết. Đã có bao nhiêu người trên R xuống cầu hôn với nó, có cả nhạc sĩ, kịch sĩ, cũng đẹp trai, có học nhưng không hiểu sao nó không ưng ai mà lại yêu anh.

– Sao em biết?

– Con nhỏ đó ngang bướng lắm. Vậy mà nó lấy đờn cho anh đờn, rồi nói chuyện với anh ngoài vườn cả buổi. Sau này nó còn đem sầu riêng tận cơ quan cho anh, không gặp anh kỳ đó nó về buồn lắm. Em hỏi tại sao, nó không nói nhưng em biết.

– Em thiệt là một người đàn bà lạ lùng.

– Ba con Liên tử trận ở Đồng Xoài, em hay nhưng em không nói ra để mọi người đừng có ve vãn em. Nhưng không hiểu sao bữa nay em hồi hộp quá. – Ngập ngừng một chút – Hôn em đi anh! Một lần thôi và không bao giờ nữa.

Mai hôn tôi, ghì đầu tôi siết vào mặt nàng, một cái hôn dài thật dài. Rồi nàng buông tôi ra, nhìn tôi, thờ thẫn:

– Em biết dì Bảy con Liên yêu anh, nên những lần anh đến nhà, em tránh né. Em cố giằn lòng. Nhưng hôm nay em đành có lỗi…

Nàng sụt sịt hồi lâu.

– Anh phải hứa với em:là không bao giờ cho dì Bảy biết.

– Anh hứa .

– Còn một điều nữa anh cũng phải hứa.

– Điều gì?

– Đừng bao giờ tìm em, hỏi thăm em, nhất là đừng bao giờ cho em gặp mặt.

– Nhiều điều quá, anh không hứa nổi.

– Anh nên quên em như…

Tôi trám miệng nàng bằng đôi môi nóng hực của tôi.

– Không! anh không quên em được! Anh không quên em được Mai à !

– Chừng nào anh cưới dì Bảy?

– Không bao giờ.

Mai la ré khe khẽ:

– Hả, tại sao?

Vừa tới đó thì bé Liên gọi. Nàng sửa lại tóc tai, xốc lại áo, quệt nước mắt vào vai áo tôi, lau mắt kỹ lại rồi bảo:

– Thôi đi lên, anh!

Con bé đang chơi với đám con gái chủ nhà cũng bằng tuổi nó. Thấy tôi và má nó bước lên, nó khoe với bạn:

– Dượng Bảy tao đó nhỏ à!

– Vậy hả?

Tôi ẵm bé Liên lên hôn. Nhưng nó mắc cỡ cứ quay mặt né, tôi phải hôn tóc nó. Mai bảo:

– Liên quay lại cho dượng Bảy hôn… Hôn má nó đi anh!

Con bé con chủ nhà la ré lên:

– Á ngộ ! á ngộ ! chú Bảy ơi ! chú Bảy ơi!

Bảy Sơn chạy tới dớn dác. Con bé chỉ chỏ:

– Ông gì ổng hôn má con Liên.

Mai đỏ mặt, ngượng nghịu trước mặt Bảy Sơn. Nàng bình tĩnh bảo:

– Tôi bảo dượng Bảy hôn má con Liên.

Đứa bé cãi.

– Ờ thì tôi nói ổng hun má con Liên chớ tôi có nói gì.

Tôi tức cười vì sự hiểu lầm (cũng không lầm) của đứa bé một cách thú vị nên không đính chánh. Chỉ có Mai cãi lại:

– Tôi bảo dượng Bảy hôn gò má con Liên chớ không phải hôn má con Liên tức là tôi.

Bảy Sơn cười:

– Hôn gò má con Liên hay hôn má con Liên cũng không sao hết phải không cô Năm?

– Anh quỉ này, bày chuyện cho con nít. Anh Hai sắp làm em rễ tôi rồi đó.

Bảy Sơn vẫn xơn xơn nói tiếp:

– Cô kêu ảnh bằng em rễ hay Bảy Mô kêu ảnh bằng anh rễ ? Tôi coi bộ cô chị xứng hơn cô em đó !

– Anh nói chơi hoài anh Bảy !

– Trong chơi có thiệt!

Mai nói:

– Công tác xong rồi, tôi xin kiếu nghe mấy anh!

– Ờ ăn cơm rồi hãy về cô Năm!

Nhìn Mai dắt bé Liên đi tôi nghe buồn trĩu lòng. Mai ra gần đường lớn tôi mới tỉnh hồn.

-Để tôi ra hỏi thêm vài chi tiết.

Vừa nói tôi vừa đi theo Mai. Bảy Sơn đứng ở bẹ cửa nói với theo:

– Cái chỗ đó, con gái không sánh được đâu anh Hai!

Tôi đi theo khỏi đầu bờ tre mới gọi một tiếng. Mai quay đầu lại, nước mắt dầm dề chưa kịp lau, mắt đỏ hoe. Tôi bước nhanh tới bế bé Liên đi song song với nàng. Hồi nhỏ thấy vợ chồng người ta đi với nhau ở ngoài đường, tôi mắc cỡ, bây giờ muốn được như vậy vô cùng mà không được. Tôi lặng thinh đi bên nàng. Cả hai không nói gì hết. Nàng cứ sụt sịt. Tôi đưa nàng ra khỏi ấp Mây Đắng (cái tên nghe mới lạ lùng!) để ra Quốc lộ I về nhà. Tới mé đường nàng dừng lại:

– Thôi anh trở lại đi, để người ta dị nghị !

– Em về mạnh giỏi, ráng cho con học nghen!

Tôi hôn bé Liên rồi trao bé cho nàng. Nàng bế con, nước mắt ròng ròng. Nếu ai trông thấy chắc bảo rằng vợ chồng từ biệt nhau. Đời tôi toàn biệt ly. Hết biệt ly lại ly biệt. Tôi đứng sững sờ nhìn Mai dắt con đi trên ven lộ cho tới mờ hẳn. Sao tôi không nói câu này, câu kia để an ủi nàng. Để nàng đi xa rồi mới nghĩ ra.

Nhìn ven vườn trước mặt, từng làn khói bay lên đầu rặng cây xanh. Đó là khói cơm chiều báo hiệu gia đình sum họp. Tôi hình dung những đứa trẻ nhảy nhót trước sân, bà mẹ đang nấu nướng, người cha đang tưới rau chờ cơm. Hạnh phúc đơn sơ như vậy mà tôi không có.

Chương 71-72-73-74-75-76-77

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: