2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI : QIV- (71-77)

2000ngaydem_bia4Cái Chết Bi Thương của Cô Văn Công R

Chương 71

Cô quân báo trẻ: Anh muốn ăn dưa hấu non không?

Sáng hôm sau anh du kích xã Phước Thành tên là Ngọc chở tôi đi quan sát trận địa đường số 7. Đây là lần chót trước khi bố trí trận đánh. Đây có thể gọi là trận tập kích theo chiến thuật của Hoàng Thọ thời kháng chiến chống Pháp, nghĩa là trận địa nằm giữa, ba phía là địch, trước mặt là Quốc lộ .Lính nào gan thì xung phong diệt địch băng qua lộ là về khu giải phóng, anh nào nhát, chậm chân, địch khóa đít khóa đầu thì chịu chết. Nhưng phải đánh để trả đũa trận càn Cedar Fall vừa rồi. Trận này nó vừa đánh, vừa bắt sống, vừa các đồng chí ta đầu hàng, tổng cộng cả ngàn. Gọi là trả đũa nhưng trận này nếu thành công cũng không thấm thía gì so với số thiệt hại kể trên.

Ngọc là một thanh niên mười tám tuổi, trắng trẻo đẹp trai và gan dạ, nghĩa là gặp lính mặt không biến sắc. Bảy Sơn đưa cho tôi bộ đồ tây, đôi giầy đen, cái kiếng mát, cái nón nỉ xám tra vào cho có vẻ thành thị, y dặn tôi ba điều bốn chuyện rồi tôi lên xe. . . đạp cho thằng Ngọc đèo ra Quốc lộ I. Từ ngày tôi bỏ học tới giờ là hai mươi năm, mới trở lại thành thị Nam bộ, tôi thấy cái gì cũng khác, có vẻ văn minh, cơ giới hơn trước xa. Ở tận ấp nhỏ mà cũng có rạp hát và nhà máy xay lúa, lò bánh mì. Xe cộ như nước.

– Anh cứ bình tỉnh nghe .

– O K ! (Tiếng OK tôi mới vừa học ở Bảy Sơn để khi cần lấy le với thiên hạ thì bật ra.)

Đôi giày của Bảy Sơn hơi chật cho nên mang một lát thì nghe hơi đau. Có lẽ vì lội bộ nhiều quá mà bàn chân của tôi trở thành chân vịt chè rè, chớ trước kia đôi giày cỡ này thì tôi mang vừa đúng. Vừa đạp, Ngọc nói tía lia:

– Con Út ganh lắm! Nó muốn xã. đội phân công cho nó đèo anh đi, nhưng xã đội bảo nó chưa quen công tác này. Ra lộ rủi gặp lính nó đái trong quần mà mang khốn.

– Coi bộ cổ vô ấp chiến lược hồi hôm cũng dạn dĩ mà !

– Ở trong bóng tối anh đâu thấy cái mặt nó xanh hay tím. Nó thích mang trường bá đỏ nịt bao đạn như các bà dũng sĩ vậy đó anh. Kỳ rồi xã đội gởi nó đi học lớp bắn nhân dân, ủa bắn pháo nhân dân, nhưng lên tới quận thì bị gạt sổ.

– Sao vậy?

– Ở trên coi chim coi cẳng sao đó mà chê, tống trở về. Nó ức lắm. Anh có biết cơ quan nào nhét nó vô dùm! Mình sắp ra khỏi ấp Mây Đắng, Quốc lộ trước mặt kia nghe anh. Ở trên dặn em đạp qua Tua Đồng Chùa, băng qua lộ, vòng ra sau cho anh biết bề dài bề ngang của ấp rồi qua vườn cau mới ra lộ trở lại. Em sẽ cho anh qua cửa bót đường số 7 cách lộ chừng một trăm thước.

– Gần vậy lính gác trông thấy làm sao?

– Thấy thây kệ nó. Buổi sáng chợ họp kế bót, người ta đen nghẹt, nó đâu có để ý.

– Em đạp chậm để tôi quan sát.

-Đạp chậm nó nghi anh ạ.

– Ừ thôi đạp nhanh nhanh.

– Kỳ này có máy bay tới mình chơi như Đồng Lớn bữa hỗm không anh?

– Thứ gì cũng chơi. Nhưng anh đi thăm bà con chớ đâu có làm gì mà em hỏi?

– Thôi mà anh Hai. Anh giấu ai chớ giấu cả tụi dính cu em được sao. Chị em là Tư Lan xã đội phó xã Phước Thành này mà !

Tôi cười dã lã :

– Nhưng anh chỉ là trinh sát thôi, ở trên biểu đi thì đi chớ đâu có biết gì!

– Thôi mà cha nội. Ông là thầy chỉ huy pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù kỳ rồi mà ai không biết!

Không thể chối được nữa, tôi tìm cách đánh lạc hướng trận địa, nhưng thằng nhỏ cứ mổ tới:

– Em biết anh điều tra đánh tụi Cọp Đen mà anh Hai. Tôi không lộ bí mật cho ai đâu.

Tôi làm thinh, nghĩ bụng: Con nít mà cũng biết, thì đánh quái gì ! Mấy thằng cha Ba Châm, Tư Nhứt, Út Lịa làm ăn như vầy cho nên đem lính ra đây là bỏ xác không lấy được.

Tôi vẫn tiếp tục đánh lạc hướng thằng bé:

– Có khi nào em sắp đi đánh người khác mà em cho hay trước không?

– Cố nhiên là không rồi !

– Vậy nếu em biết các anh sắp đánh tụi Cọp Đen là các anh thành công một nửa rồi đó.

– Tạ i vì . . . hì hì . . . thanh đông kích tây !

Rồi tôi kiếm chuyện hỏi vớ vẫn:

– Hình như đất ở đây thấp hơn ở Tua Đồng Chùa hả em?

Ngọc không đáp mà cười hắc hắc:

– Anh cao kiến thật. Anh vừa mới nói ra là em biết mục tiêu của anh rồi.

– Em biết rõ Tua Đồng Chùa không Ngọc?

– Tụi đó chừng trung đội. Có bà con em ở trỏng nữa. Bữa nay nhà em có đám giỗ để em chở anh về ăn giỗ hỏng chừng anh gặp vài thằng ở đó.

– Thôi em ơi! Anh không quen ngôn ngữ của họ, mình nói lở một tiếng ló đuôi là nó nắm đầu ngay. Anh nói cho em biết, hồi trước tụi Pháp nó chỉ xét cái gót chân thôi. Hễ gót chân nứt là nó bắt. Tụi nó tinh vi lắm.

– Sao vậy anh?

– Nó nói Việt Minh lội sình nên gót mới nứt chớ người ta đi giày đi dép làm sao nứt? Cái gì đó Ngọc?

– Đó là xóm Cây Da. Kia là xóm Tháp. Còn cụm nhà kia là xã Thái Mỹ. Chỗ đó có cái rặng cây nhô ra giữa đồng. Nếu bảo Củ Chi là bàn tay thì xã Thái Mỹ là ngón tay cái. Tre trúc anh thấy kia là vườn của dân trong gấp Mây Đắng mới dọn ra. Chừng một hai năm nữa dân trong ấp Mít Nài cũng ra đây hết!

Dứt lời Ngọc chạy một hơi rồi quẹo vào một đường mòn. Tôi la lên:

– Đi đâu vậy Ngọc?

– Ghé nhà em ăn giỗ no bụng rồi đi đâu thì đi.

Lỡ rồi, không trở ra được. Tôi đành để cho nó đèo vô nhà . Nhà chật phải dựng thêm rạp. Hai ba ông già ngồi uống trà nói chuyện. Ngọc thắng xe dựng vào cọc rạp rồi xớn xa đi vô.

– Heo làm rồi chưa Ba?

– Má mày chỉ làm gà vịt ca-ri, hầm,.còn heo thì đặt bên chợ heo quay cho nó gọn con à ! Mày chở ông nào về đó, mời ổng vô chơi.

– Ông thầy giáo dạy ở Hốc Môn, ủa ở Sài gòn! Thầy của con đó ba không nhớ sao. Nhưng ông bận lắm. Không ở lâu được. Có gì ăn bỏ trong giỏ xách thầy trò con cầm theo.

Bà má ở sau nhà bước ra:

– Đi vô đây lấy. Có liền đây nè.

– Không ở uống rượu được sao thầy giáo?

– Dạ cám ơn bác, để khi khác. Bây giờ em Ngọc phải đưa cháu xuống Hốc Môn gấp.

Tôi móc thuốc ra mời các cụ rồi đốt thuốc để lấy sự bình tỉnh. Đánh giặc không sợ mà ăn giỗ lại sợ, mới kỳ. Thế mới biết có tịch thì nhúc nhích.

Ngọc tay xách một giỏ đầy, không từ giã ai hết cứ lửng thững đi ra. Hai thầy trò vừa phóng được một lúc khá xa gần đến Ngã Tư Quốc lộ và Lộ 7 thì thấy có chiếc xe máy ở phía sau. Một chiếc xe đò đi Trảng Bàng-Suối Sâu chạy qua mặt bụi bay mịt mù che lấp chiếc xe máy. Trong bụng tôi nôn nao, bảo Ngọc:

– Anh thấy hình như chiếc xe máy đuổi theo mình.

– Xe ngoài này như kiến chớ phải có một chiếc đó sao mà anh lo.

Tôi thọt tay vào áo đụng bá cây P38 lạnh ngắt.

– Hình như anh có tính tính là nó rượt mình!

Ngọc quay lại và nói ngay:

– Con nào dám rượt, em kêu bằng …Tía.

Tôi cười ngất. Nhưng chiếc xe có vẻ như mở hết tốc lực. Bụi xoắn sau xe như rồng phun khói. Tôi hơi lo:

– Dám nữ Nhân Dân Tự Vệ lắm nghe em!

– Ối, tụi đó hả… ờ mà dám lắm. Con nhỏ bận áo hồng. Nó lại giơ tay ngoắc nữa kìa.

Ngọc buông giọng hơi lo, hết còn cà rởn.

-Ờ, nó ngoắc thiệt.

Thì chiếc xe kia đã tới sát đít. Mẹ kiếp, đúng nó rượt mình rồi, chỉ còn cách là móc cây K54 đã lên đạn sẵn, hễ nó kêu đứng lại thì bắn rồi mạnh thầy chạy, mạnh trò trò dông, chơi theo kiểu cao bồi xứ Mẽo, họa may thoát thân.

– Thắng xe, Ngọc.

– Hổng được anh! Anh lãi cho nó một phát. Em giựt xe phóng luôn.

– Chạy đường nào?

– Chạy bừa chớ biết đường nào.

– Anh Hai !

Có tiếng kêu the thé xuyên qua tiếng máy nổ rồi chiếc xe vọt qua mặt, rồi hãm máy lại rà sát chân tôi. Nàng áo hồng tóc quăn như rễ đứng lại đưa tay vỗ đầu gối tôi. Ngọc quát:

– Con quỉ hà nàm, làm tao hết hồn.

Tôi cũng hoàn hồn nhìn ra… con quỉ… Ua!

– Trời, em làm trò gì vậy Ua?

– Hề hề… anh Ngọc ngừng lại.

– Tao công tác gấp.

Ua vừa rà xe theo, vừa thở hổn hển vừa nói đứt quãng:

– Ở trên bảo em kiếm anh Hai nè!

– Sao biết đây mà kiếm?

– Ông Bảy Sơn. Dừng lại mau. Bộ muốn đứt đầu hả?

Thằng bé đành thi hành lệnh của nàng Ua. Ua cũng dừng lại và quát:

– Anh Hai lên ngay, em chở.

– Chuyện gì vậy?

– Ngồi lên ngay không được chậm trễ một phút nào. Đây là lệnh trên.

Tôi nhìn thằng bé. Nó hất hàm:

– Chắc có chuyện khẩn cấp, anh Hai đi với nó đi anh.

Tôi hơi rối trí, nếu là ở đơn vị thì tôi không thể nghe lệnh kẻ dưới cấp của tôi như vầy đâu, nhưng ở giữa lòng địch, mạng sống của tôi tùy thuộc lũ nhóc này. Vã lại tôi cũng biết nàng Ua là người của Quân Báo Khu thuộc Sáu Huỳnh. Chớp nhoáng suy nghĩ, rồi nhảy lên ngồi cho em mang đi lên non xuống biển gì thì đi !

Ua rồ máy vọt cái ồ qua mặt Ngọc. Tôi còn nghe tiếng Ngọc phóng theo:

– Quỉ vặt con nhỏ hà bá này !

Ua quay lại vẫy tay:

-Báy bay !

Tôi hỏi:

– Sao em biết anh ở đây?

– Ôm cho chặt kẻo té gãy họng bây giờ nghe ông Ngố!

Một tay tôi ghì mép poọc-ba-ga một tay tôi lòn qua eo ếch nàng hoành ra trước bụng quặp chặt, nhưng tâm trí hoang mang, gặn hỏi:

– Sao em biết anh ở đây chớ?

– Anh lên trời thử coi em có bắt được không!

Tôi ớn quá, bụng hơi ân hận vì đã nộp mạng cho chằng. Tôi biết rành con bé này: gan dạ, nhưng rất xốc nổi, liều mạng. Hai nàng hận tôi không cưới nàng. Mẹ kiếp, đi trăm sông ngàn núi sống nhăn, về đây chết úp mặt… lỗ chân trâu. Giữa nàng và Chia, nàng biết tôi ngã hẳn về Chia. Nàng hận tình mà trả thù kẻ bội bạc chăng? Trước mặt là Củ Chi, sau lưng là Đồng Dù, quanh đây là đồn bót lớn nhỏ . . . Mạng mình như chuông treo chỉ mành. Nghĩ vậy, tôi hạ giọng thống thiết:

– Ua à ! Em giận anh sao?

Giọng nàng nhát gừng.

– Giận gì mà giận?

– Anh công tác lu bù đâu có thời giờ mà tìm em.

– Xí, không có thì giờ tìm em sao có thì giờ đi với em khác?

– Em nào đâu?

– Anh qua tìm mấy con nhỏ ở Bến Súc có không?

Tôi giật mình nhưng chối phắc:

– Ông Tư lệnh kêu gấp không ở nhà ăn Tết được chớ đâu phải anh ham!

– Xí uống nước đá còn mút tay người ta !

– Tầm bậy. Ai nói với em vậy?

– Anh tưởng anh vô quán Ba Con Thỏ đó có một mình anh sao?

Ai chịu cha ăn cướp? Tôi tiếp tục giải thích. Nhưng nàng gạt ngang:

– Vậy ai vừa đi vừa móc gia đình với anh đang ở trong Ràng kia?

Tôi rướm mồ hôi hột, nên dã lã:

– Đó là chuyện tình cờ chớ anh đâu có hẹn hò gì.

– Anh mà lơ mơ em chia hai trái da láng (lựu đạn Mã Lai) với anh, nói cho anh biết.

– Chạy đi đâu vậy Ua? Em định giết anh sao?

– Để anh sống anh cũng bỏ em. Em giết anh rồi tự tử luôn cho coi!

– Anh không có dịp gặp em chớ anh đâu có bỏ em!

Tôi úp mặt vào lưng nàng hít hít và ôm chặt eo ếch nàng hơn rồi đưa tay ngược lên. Ua rùng mình kêu lên:

– Anh làm em té gảy cổ cả hai đứa bây giờ nè.

– Gảy cổ chết sướng hơn, sống làm quái gì không được ai yêu!

– Xí, ghét anh lắm. Nhiều lúc em muốn vô cho anh nửa loạt AK rồi em rẹt luôn vô ngực em, nhưng em nghĩ chết rồi đâu còn yêu được?

– Giết thì giết ngay bây giờ đi, thương tiếc làm gì?

– Bộ anh không muốn gặp má hả ?

– Má nào?

– Má ở Sài gòn lên chớ không phải má con Nga đâu.

– Hả?

– Má đã xuống chờ anh ở Ràng. Có má thằng Thức nữa.

– Thằng Thức… à, cái thằng chồng tí tẹo của em đó hả?

Ua bật cười. Má thằng Thức là vợ Sáu Huỳnh. Tôi chưa kịp hỏi gì thêm thì Ua tiếp:

– Chị Tám Lệ công tác chung tổ với em, đi rước má chớ ai. Con Nga nhờ móc bà già nó. Em xin chú Sáu đi móc má, nhưng chú bảo con gái đi Sài gòn không tiện, để chị Tám ẵm con đi. – Ua tiếp ngay – Má lên kỳ này anh phải quyết định đó. Kỳ trước ba lên, ngoại đã hứa gả em cho anh. Ba cũng đồng ý, nhưng ba bảo còn chờ ý kiến của má. Bây giờ anh tính sao?

Tôi đáp:

– Thì để về trỏng anh với em cùng gặp má.

– Má chịu em là chắc rồi.

– Ừ thì hễ má chịu… ý ý em chở anh đi đâu đây, Ua?

– Đừng có hỏi gì lộn xộn hết. Em là người hiểu anh nhất. Em biết trong tình cảm anh cần gì? Trong công tác anh cần gì. Anh đừng lo. Em chạy là đúng chóc yêu cầu của anh. Tới bót Suối Cụt kìa! Coi đó. Mang kiếng mát vô ông Ngố!

Tôi nôn nao muốn về nhanh để gặp má tôi. Đã hai mươi năm trời xa cách, không biết má giờ ra sao. Nhưng lỡ ngồi trên lưng cọp cái rồi, tôi đành làm oai:

– Em chạy đâu đây Ua?

– Thì về Ràng gặp má !

– Đi công tác cho xong đã, việc công phải trên việc tư.

-Ừ được, vậy để em cho anh cong đuôi một chuyến!

Ua vọt như bay, tôi nghe gió rát mặt. Một chốc, Ua bảo:

– Tới bót Suối Cụt rồi đó. Muốn vô thăm thằng xếp bót không?

– Đừng có giỡn.

– Em nói thiệt. Ở đây lính nào em cũng biết. Xếp nào em cũng quen !

Nói xong Ua quẹo về hướng bót. Tôi cào lưng Ua bảo quay lại. Ua cười ngặt nghẹo:

– Vô chợ uống cà phê chút mà sợ sao, người tình cũ, ủa, người tình trên chiến trận của em!

Tôi sực nhớ hồi kháng chiến chống Pháp công tác thành lái xe thẳng vô bót Ca-ti-na nộp ông trung tá Nguyễn Văn Thi nhà mình mà rởn ốc. Ở trong rừng tôi là con hổ, nhưng ra chợ tôi là con chuột, con chạch. Tôi cảm thấy trơ trọi và bị đe dọa từ bốn phía. Ua bớt ga rồi rà xe vào lề, bảo:

– Ra đây anh phải ngầu mới được, đừng có lớ ngớ mà lộ tịch đó ông mảnh.

– Ngầu là sao?

– Nghĩa là anh dắt tay em đi, ôm eo ếch xà nẹo, anh ôm em quýu trước mặt thiên hạ như người ta ngoài này, lột bỏ cái con ma nhà quê ở trong kia đi.

– Tưởng gì chớ cái đó, anh dư sức.

– Xuống cho em đổ xăng.

Tôi nhảy xuống thọc tay túi quần đi bọc ra phía trước ôm ngang hông Ua, miệng hút gió oeo oeo. Ua nhìn tôi:

– Bản gì nghe lạ tai vậy?

– Shine no Yoru.

– Là cái gì?

Tôi xoay mặt Ua sang hôn một cái:

– Ngầu như vầy được không?

Rồi hất mặt bảo chị bán nước đá còn trẻ:

– Cho hai ly si-rô đá đi người đẹp.

– Chị Ba, bịt của em nè…

Chị bán nước đá ngớ ra tái mặt. Ua tiếp:

– Người tình không trận tuyến của em nè . Ủa người tình trên trận chiến…

Người đàn bà kêu lên:

– Ơ! ơ!… đồ con quỉ!

Ua đưa một ngón tay lên môi ra dấu bảo chị Ba im rồi tiếp:

– Chị cho nước đá uống chơi cái đi. Trời nắng quá hè !

Rồi rút khăn trong túi quần quay sang lau mồ hôi cho tôi.

– Ảnh đi dạy học ở Sài gòn mới về thăm em. Em sẽ đưa ảnh lên đó bây giờ nè.

Chị Ba đã nhận ra tôi và tôi cũng không lạ gì chị. Tôi hỏi :

– Chị Ba đã hết sốt rét hẳn chưa?

– Ờ ! ờ! hết lâu rồi cậu à.

– Bánh mì chị gởi cho em dòn lắm.

– Ờ!ờ…! chị gởi cho con Mai đem cho em.

Tôi chợt thấy chiếc xe máy đèo lính trờ tới. Trên vai áo đều mang phù hiệu Đầu Cọp. Cây P38 trước bụng tôi như trở mình. Thép chạm vào da lạnh ngắt . Mấy người lính cũng uống nước đá. Chị Ba bào sột sột, tay luýnh quýnh. Ua nhảy vô hăng hái bảo:

– Chị đưa em phụ cho.

Rồi cắt chanh, xúc đường tay quậy lia, miệng tiếp chuyện với khách:

– Nghe nói gánh Hùng Cường Lệ Thủy tối mai diễn ở đây hả các anh?

– Cái rạp này nhỏ quá họ hát bể rạp làm sao?

– Em ở đâu tới hay ở đây mà coi mặt lạ vậy?

– Tôi ở Sài gòn với anh tôi. Đây là quán của chị Ba tôi.

– Ủa, chị Ba sao lại già hơn anh Hai?

– Ở Sài gòn dạy học trong mát có máy lạnh nên coi vậy chớ không trẻ đâu.

– Còn em thứ mấy?

– Thứ… a a… Tám.

Một chàng quay lại chìa tay cho tôi:

– Rua cái đi anh Hai. Em cũng. .. thứ Tám nè!

Cả bọn cùng cười. Rồi trả tiền mở máy xe. Chàng thứ Tám còn nói với:

– Nhà em ở Phú Nhuận, mời anh Hai và em Tám khi nào rảnh ghé chơi .

Tôi móc điếu thuốc cắm lên môi, chưa kịp móc hộp quẹt, thì Tám bật zippo cho tôi đốt. Tôi rít một hơi và nói:

Merci.

Ua hỏi.

– Mẹc-xi là gì?

– Cám ơn. Tiếng Pháp.

– Anh phải nói thanh kêu mấy ảnh mới hiểu.

Ba người lính vụt đi. Tám ngồi sau xe còn giơ tay hôn gió trở lại. Tôi nâng ly nước đá mà bủn rủn tay chân. Ua bảo:

– Anh thấy lính nó ngầu với em chưa? Ghẹo gái rất nhã nhặn chớ không phải chung vô mùng người ta rồi bị la, ông già xách dao vô như như…

Tôi giục.

– Thôi trả tiền rồi đi.

Bỗng tôi thấy một bé gái đứng sau xe nước đá. Bé Liên!

Không biết nó đến đây hồi nào. Bé Liên trố mắt nhìn tôi. Nó không kêu tôi bằng dượng Bảy một cách mừng rỡ nữa. Thấy tôi nhìn, nó vụt chạy. Vừa chạy vừa khóc mờ:

– Má ơn có người nào hun dượng Bảy!

Chị Ba gọi nhưng nó không quay lại. Tôi không ngờ Ua lại đưa tôi đến đây. Mới từ giã hôm qua, định bụng là sẽ không bao giờ tái ngộ để làm khổ nàng hay tôi tự làm khổ tôi, thì nay lại gặp. Ua lôi tay tôi:

– Làm cái gì đứng chết trân như bị ai hốt hồn vậy anh?

Quả tình tôi đang mất hồn. Từ trong nhà Mai bước ra với bé Liên. Chợt thấy tôi, nàng biến sắc, còn bé Liên trỏ vào Ua:

– Người đó hun dượng Bảy.

Rồi nép mình vào Mai, lại thút thít. Ua thừa biết chữ dượng Bảy nghĩa là gì. Bèn móc túi trả tiền nước đá. Ua mua cây kẹo mút đưa cho bé Liên. Rồi thấy xe đạp cà lem, Ua ngoắc lại mua luôn đưa cho bé. Vừa xoa đầu, vừa nói:

– Đây là cà lem sầu riêng ngon lắm. Để dì… Tám mượn dượng Bảy đi công chuyện rồi đem về trả chớ không có mất đâu!

Nói xong, Ua hôn bé rồi quay ra hôn tôi, bảo như ra lệnh:

-Đi dượng Bảy! Chụt!

Ua dắt tay qua phía cây xăng. Vừa đi vừa rù rì:

– Có nghe mùi gì không?

– Mùi gì?

– Em hôn cháu dượng Bảy rồi ngầu dượng bảy, ắt dượng Bảy phải nghe mùi dì Bảy chớ.

Chắc Ua không biết chuyện giữa tôi và Mai. Mặc dù vậy tôi vẫn ngờ. Nên không dám quay lại. Và mặc dù không quay lại tôi vẫn thấy Mai đứng trông theo với hai giọt lệ, cố nén nhưng không cầm được. Đó là lần cuối cùng tôi gặp Mai.

Ua vẫn châm chọc:

– Bà đó bén lắm. Anh mà liên hệ công tác với bả thì sẽ dính nhiều nữa đó. Duyên chị mà tình em. Đó là tuồng cải lương. Còn ở đây thì duyên em tình chị há há.

Tôi theo Ua qua cây xăng. Ở đây lại cũng đụng đầu…Cọp . Một anh chàng cười với Ua:

– Đi đâu cũng gặp cô. Bộ nhà cô ở đâu đây hả?

– Đổ đầy cho tôi cậu Bình.

Thấy Ua không trả lời, Cậu thiếu niên tên Bình rút vòi xăng ra khỏi xe của mấy người anh rồi châm qua xe Ua, vừa châm vừa nói:

– Chị này là cháu vợ bé thứ 11 của Trung sĩ Lịnh đó thưa thiếu úy.

– Vậy à ? Vợ bé gì mà đông dữ vậy, tui kiếm một bà lớn mà đỏ con mắt.

– Ổng còn hơn Trung tá Tỉnh trưởng (Mã Sanh Nhơn) nữa đó. Ông Trung tá chỉ có hai, ba bà thôi còn ông Trung sĩ, một chục có đầu.

– Vậy cho tao làm Trung sĩ thích hơn Trung tá… há há !

Viên Thiếu úy rồ máy xe vọt đi. Ua bảo cậu Bình:

– Từ rày không được cho ai biết chị là cháu vợ… bé của ông Trung sĩ nghe chưa?

– Oai vậy mà chị không muốn khoe à?

– Nếu tao có làm thì phải làm bà đại úy, đại tá kìa.. . phải không thầy pháo ủa… ông thầy giáo?

Ua rồ máy xe và nói trong tiếng nổ.

– Úy, tá em coi thường, chỉ cần ông Thiên Lôi thôi!

Tôi lại ngồi lên. Nàng vọt.

– Đi đâu nữa?

– Lên Thiên Đàng!

– Ừ! muốn lên thì cho lên.

Nàng chạy thẳng quốc lộ, loanh quanh qua các phố rồi tuốt vô chợ quận Củ Chi. Chợ quận mà nhỏ xíu. Tuy vậy địa thế hiểm trở vô cùng. Muốn đánh cái thị trấn này phải có hai trung đoàn bộ binh và một trung đoàn pháo binh và phải hi sinh to lớn. Cái đầu cọp trên vai anh lính làm tôi rùng mình.

Đánh Mỹ dễ hơn đánh Sài gòn. Vì Mỹ không có lý tưởng ở Việt Nam. Có chăng cũng tạm bợ. Ua trỏ sang phải:

– Đó là sân tê-nít của tụi cố vấn Mỹ .

– Mấy thằng?

– Không rõ. Anh có muốn gặp người tình cũ không?

– Sao em luôn kiếm chuyện châm chích anh hoài, không để anh yên vậy?

– Không phải em kiếm chuyện mà tại anh có chuyện. Em để cho anh yên, nhưng chính anh lại không để cho em yên.

– Anh làm gì mà không để em yên?

Ua vỗ pạch pạch vào túi quần sau.

– Anh không làm gì em? Anh nói vậy mà nghe được? Cái khăn in mấy đốm máu em còn giữ đây ! Anh tưởng đó là trò chơi hả? Cả đời em đã giao phó cho anh rồi. Em không lấy chồng nào khác ngoài anh.

Tôi rỡn ốc lên từng cục. Cô bé này ghê gớm thật! Ua tiếp:

– Em nói cho anh biết kẻo sau này anh trách tại sao không nói trước. Bất kỳ anh cưới người đàn bà hoặc con gái nào, ở chỗ khác em không biết thì thôi, chớ còn ở đất Củ Chi này, như con Mô, con Cấm, con Lam, con Thảo, con Là, con Lan, con Nga lớn, con Chia, con Nga nhỏ, con Khánh, con Ngọc bên Bến Súc… chị Mười, chị Mai… thì đám cưới của anh sẽ ăn AK hoặc da láng. Và anh, em, và người vợ chưa kịp hưởng tân hôn của anh sẽ chồng xác lên nhau tại buổi tuyên bố đó… Anh nên nhớ rằng đời con gái chỉ có tiết trinh là quý nhất. Em đã mất với anh. Ngoại đã hứa với Ba gả em cho anh. Bây giờ Ngoại đã chết vì thằng Giắc. Em thề sẽ giết nó để trả thù cho Ngoại xong rồi sẽ tuyên bố với anh.

– Bây giờ định chở anh đi nạp cho Mã Sanh Nhơn để lãnh mười ngàn hay đi đâu?

– Một triệu em cũng không thèm. Nhưng nếu anh phản em, thì cái đầu anh chỉ đáng một xu thôi. Em nói thiệt đấy! Bây giờ anh sẽ gặp người tình…

– Ai vậy?

– Con Chia, quên à ? Má nó với má em bán vải ở chợ này. Nó cũng ở đó.

– Thôi, thôi ! Anh không có thì giờ !

– Ý mà quên. Bữa nay nó không có ở nhà. Xe jeep đã tới chở nó đi ngày hôm qua rồi. Hừ! thề non hẹn biển, chụp ảnh chụp hình tặng nhau, khóc lóc như đám ma… Bây giờ ra sao?

Đang chạy thẳng bỗng nàng quẹo gắt làm tôi suýt té nhào. Nàng quay ra phóng một hồi lâu, có hơn một tiếng đồng hồ rồi trỏ bên tay phải, hỏi tôi.

– Anh biết cái gì đó không?

– Đồng Dù .

– Anh muốn tới gần đó không?

– Bất cứ cái gì ở xa nhìn rõ hơn lại gần.

Ua cười:

– Đối với em, ở gần hay ở xa anh đều không nhìn rõ hết. Anh chỉ thấy bề ngoài con Ua là một đứa con gái cao-bồi, lung lăng, liều mạng, chớ anh không thấy trái tim của nó đâu. Anh lớn hơn em gần mười tuổi, nhưng em yêu anh. Vì em cảm thấy anh có đủ khả năng lèo lái đời em. Còn thằng Thức con chú Sáu Huỳnh, trẻ con, biết gì mà chú định cưới em cho nó. Em gặp anh lần đầu tiên là yêu liền. Nhớ không?

– Em chở anh ghé nhà Bảy Mô . . .

– Chị Bảy cũng yêu anh đấy, nhưng không bằng em đâu. Tất cả những đứa em vừa kể tên gộp lại không bằng con Ua đối với anh, nói cho anh biết.

– Anh hiểu em rồi.

– Chúng nó thấy anh có tài, có địa vị nên muốn chiếm làm của riêng. Chúng nó không đời nào dám chết cho anh. Con Ua này, khi cần, dám!

Ua chạy tới ngả ba Trùm Tri rồi dừng lại:

– Đây là cổng trước Đồng Dù. Mình không qua được. Nó xét ngặt lắm!

– Vô làm gì đó?

– Em nói là đi qua không phải đi vô ! Con Chia đang ở trong đó !

– Hả?

– Anh có nghe em nói chứ?

– Nghe rồi .

– Nó lấy thằng thông dịch viên cho Mỹ . Thằng này thỉnh thoảng lấy xe ieep chở nó về nhà đem đồ nọ đồ kia cho má nó bán. Có lần em gặp nó ở nhà, em rủ nó công tác. Nó có điều kiện hơn em ở ngoài này. Nhưng nó bảo nó sợ lắm. Tức là nó quên tất cả những gì nó nói với anh trong hầm nhà nó. Có em thấy, em nghe. Và em cũng hứa với anh nữa. Nhưng em khác nó. Nó quên. Em thì không. Em không quên gì cả.

Tôi nghe như chín nẫu cả tâm can. Ua vẫn nói liên miên:

– Rồi anh sẽ thấy con Ua này làm gì. Anh pháo kích Đồng Dù bằng đại pháo. Em sẽ đánh tụi nó bằng một hộp cô ca. Hộp cô-ca nhỏ tí, nhưng tiếng nổ sẽ to lắm.

Tôi bẽ tay lái cho cô nàng sang lãnh vực khác. Tôi trỏ bên này bên kia và hỏi nàng. Nàng giải thích rành rọt:

– Đã đi thì đi luôn một chuyến để biết hết địa hình. Nay mai biết đâu anh sẽ cần tới. Biết đâu em sẽ bỏ xác ở vùng này anh sẽ biết chỗ mà tìm. Đây là con đường 15 đi thẳng vô Phú Hòa Đông. Khúc trên từ Hố Bò đến An Nhơn bị B52 cày nát hồi trước. Xóm nhà đó là ấp Cây Trâm. Bên trái, tuốt ở trong sâu là xóm Ba Xa có con đường nhỏ từ Bàu Điều đi thẳng xuống đây. Sâu hơn nữa là xóm Gia Bẹ rồi tới Truông Viết và Trảng Lắm. Anh biết bên kia xâm Gia Bẹ là đâu không?

– Là suối Xóm Mới, kế đó là Bàu Chứa có nhà ngoại chớ gì?

– Anh giỏi lắm. Anh đừng quên Bàu Chứa là quê vợ của anh nghe!

Tôi hôn lưng nàng thắm thiết, úp mặt hồi lâu:

– Anh nghe trái tim em rồi, Ua ạ ! Quê vợ anh !

– Ờ ! tốt lắm. Lâu nay em mới nghe được một tiếng nói của anh. Anh đừng quên nhé !

Tôi hỏi tiếp:

– Còn vành đai thép ở đâu Ua?

– Cái vành đai đó chỉ nghe thôi, anh à. Không có thật đâu. Ông Tám Quang bảo chị Nhã Nam viết bài vậy thôi. Từ Phú Hòa Đông vòng qua đường số 1 toàn là đồng trống du kích làm sao mà đào hố đào hầm? Để chút nữa em chạy trên đường số 8, anh sẽ thấy xe tăng nó ủi láng hết xóm Phú Hiệp rồi. Trên nhà mình Bào Cạp, Bào Tròn, Bàu Chứa du kích Năm Cội bị càn tróc hết, còn vành đai nào nữa? Du kích ở Xóm Mới, Gia Bẹ , Trung Viết, Trảng Lắm cũng bỏ hầm chạy tứ tán. Nhiều người lẫn ra ấp chiến lược, em có gặp.Ông Xã đội trưởng xã Phú Hiệp ở Gia Bẹ, nhưng ổng không dám về nhà!… Cách Đồng Dù chừng vuông vức mười cây số mỗi cạnh, tính ra bốn chục cây số vuông châu vi, du kích nào đào nổi một đường hầm để bao quanh nó? Cái vành đai đó phải sáu, bảy chục cây số!

– Còn cái bót gì kia?

– Bót Cây Trâm.

– Em rành hơn thằng Đức nhiều.

– Nó là dân mới, không biết bằng em đâu.

Thấy mấy cụm đen đen giữa đồng, tôi hỏi:

– Phải xe tăng Mỹ không?

– Tụi nó cụm quân đó. Trực thăng lên xuống đều đều là Mỹ chớ không phải Sài gòn. Trực thăng chở đồ ăn, nước tắm và gái điếm cho tụi nó. Nó cụm ở đâu con gái tới đó. Có khi nó cụm sát ven lộ, em chạy xe thấy chúng nó ló đùi lòi mông trên xe tăng. Mới đầu em mắc cỡ, thấy riết rồi quen đi.

Bỗng Ua hỏi tôi: :

– Anh Hai ơi ! Anh muốn ăn dưa hấu không?

– Dưa hấu qua Tết rồi đâu còn mà ăn!

– Dưa hấu mùa nghịch… Dưa hấu non đấy mà ! ăn đỡ khát nước!

Nàng chở tôi đi một hồi nữa rồi rẽ vào một đường mòn và nói:

– Bên phải là ấp Bầu Tre, bên trái là sở cao su Ba Lăng. Tụi thằng Giắc thường phục kích ở sở cao su này. Có khi nó dám băng qua suối bên Gò Mã rồi tới nhà Ngoại mình đó. Năm Cội không ngán xe tăng Mỹ mà lại sợ biệt kích thằng Giắc.

Xe đổ xuống dốc. Đường đất lồi lõm, Ua thắng xe bảo tôi:

– Mình đi chỗ khác.

– Để làm gì?

– Ăn dưa hấu !

– Thôi, để khi khác đi em!

– Khi khác là khi nào nữa? Sợ không còn kịp. Dưa này không dễ kiếm. Sợ cả đời anh tìm không ra nữa đâu.

Tôi đẩy xe tiếp nàng, trở lại đường cái. Nàng lại chạy. Qua Ngã Ba Tân Qui tới ấp Bầu Trâm, thình lình nàng rẽ sang trái rồi cho xe tuột dốc. Lần này dốc êm hơn, Xe chạy trên dấu xe tăng đã lì. Hai bên đường là ruộng dưa xanh um nhưng không thấy trái. Giữa màu xanh nhô lên mấy túp chòi lợp bằng rạ xiêu vẹo ngã nghiêng.

– Nghe như mùi hóa học hả em .

– Thuốc xịt rầy chớ không phải hóa học đâu anh. Kìa anh xem dưa mới ra bông vàng tươi đẹp ghê không?

Vừa nói nàng rẽ vào một con đường mòn nhỏ.

– Anh muốn hái không?

Tôi lấy làm lạ, thì nàng tắt máy, dựng xe bên chòi rồi vào trong:

– Anh ơi vào đây có dưa… non nè!

Tôi mon men vào. Bên trong không thấy dưa. Chỉ có bộ vạt tre xiêu vẹo giống y như bộ vạt mà nàng Quán bắt tôi đi họp xã ủy tới nửa đêm mới thả cho về với Lan kỳ đi nghiên cứu trận địa ngoài. Ràng.

– Anh ngồi nghỉ đi. Hết mệt em lái cho về .

Tôi ngây thơ cứ ngồi móc thuốc hút và ngó ra các hướng . Kia là cây trụ cao của Đồng Dù. Trực thăng đáp xuống cất lên như chuồn chuồn trên mặt nước. Tôi nghĩ tới các trận đánh sắp tới mà nao nao trong lòng. Chiến sĩ hi sinh, vợ góa, con côi. Nhưng ông. Sáu Vi bảo: “Cứ nắm thắt lưng Mỹ mà đánh” thì phải nắm mà đánh, còn đánh trúng hay trật và nó đánh mình thiệt hại ra sao thì không đáng kể.

Ua đi tìm nước để rửa mặt. Thời may gặp khạp nước uống hay nước tưới dưa bên góc chòi. Ua nhúng nước khăn lau mặt tôi rồi ngồi như cởi ngựa trên đùi tôi áp ngực nàng vào mặt tôi

– Dưa non nè!

Tôi ngước lên nhìn nàng. Nàng đè đầu tôi xuống, ấn nó vào nơi kẽ hở giữa hai quả dưa non. Tôi đưa hai tay ôm quàng sau lưng nàng và siết chặt hai thân người vào nhau. Nàng kêu the thé :

– Ái uôi, đau… gãy xương sống em!

– Coi có ai đi ngang không?

– Ai đi thì đi , thây kệ họ. Nhớ em không?

– Nhớ… chớ sao không?

– Nhớ mà cặp với con Thiên Nga bay ra Ràng rước má chung ha !

– Anh đã bảo đó là chuyện tình cờ không phải hẹn hò gì hết !

– Tới Tết nữa kia nó mới rước được bà già nó vô đây.

– Nghe nói vùng đó mới có trận đánh, chắc bả tản cư.

– Ai nói cho anh biết? Cha chả chắc hai người than thở với nhau suốt đêm hả? Chị Tám Lệ không có đi tới đó đâu mà hòng! Móc quác rồi!

– Tại sao em biết?

– Em bảo chị đừng đi mà cứ đặt chuyện nọ kia chớ sao ! Để bả vô coi mặt anh hả?

– Em ác vậy?

– Chớ còn nó định chiếm anh trên tay em thì có ác không? Anh có .yêu em không, nói một tiếng đi? Không có chối quanh chối quẹo.

Tôi đưa tay cởi ra hàng nút áo và chiếm luôn một bên trận địa bằng tay, còn bên kia thì tấn công bằng lối khác một cách thô bạo nhưng chủ nhân không phản đối mà lại tỏ vẻ hài lòng. Nàng rên khe khẽ và gục mặt xuống đầu tôi, rồi đưa hai cánh tay ôm siết như muốn ép nát hai quả dưa non.

Thấy tôi cứ nhởn nha như bò gặm cỏ non buổi chiều, nàng giục:

– Làm gì thì làm nhanh đi để người ta tới.

Tôi cũng sợ người ta tới, nhất là nhân dân tự vệ, nên không còn lòng dạ đâu để làm gì. Nàng bèn thoát y tôi và tự thoát y rồi đàn áp tôi một cách độc đoán.

– Ai dạy em cái kiểu này vậy?

– Xí, Mỹ nó làm vậy em thấy hoài, chớ ai mà dạy. Tụi con gái bảo là xay lúa!

Tôi để cho nàng chủ động, tha hồ mà hành hạ tôi như một tên nô lệ ở dưới… quyền sinh sát của nàng. Nàng yêu tôi với tất cả sự ham muốn hằn hộc và giận hờn.

– Anh không yêu em như trước nữa sao?

– Yêu chứ!

– Sao anh không tỏ vẻ gì hết vậy?

– Em là tư lệnh kiêm chánh ủy. Anh là lính chỉ có việc tuân hành! Nghe chưa?

Rồi nàng âu yếm:

– Chúng ta đã thành hôn với nhau rồi ! Từ nay em là vợ anh. Ngôi chòi rơm xơ xác này chính là Lâu đài tình ái của chúng ta là một kỷ niệm bất diệt của chúng ta.

Ua kéo lê tôi đi trên con đường phiêu lưu vô tận.

– Mình đi Sài gòn luôn nghe anh!

Ua cúi rạp mình nói trong hơi thở hổn hển.

– Không được!

– Nhát hít như thỏ đế!

– Thằng cha Hai Tốt nó đứng ở Cầu Bông nhìn mặt giao liên hợp pháp của mình đó em ơi !

– Thì mình đi qua ngã Bình Dương.

– Không được ! Anh còn công tác khẩn ở nhà .

– Mình mướn phòng ngủ ở với nhau vài ngày. Em đang trong thời kỳ rụng trứng. Chắc thế nào cũng có thai. Hồi nảy em làm vậy để không cho anh xài chứng minh thư nhân dân, Ủa hì hì… áo đi mưa. Em muốn có con với anh. Em sẽ về nhà má ở và nuôi con. Không đi công tác nữa.

– Bỏ luôn à?

– Em yêu anh. Em không muốn phải rơi vào tay mấy ổng hoặc tụi Mỹ.

– Ổng nào?

– Ối trời! Anh không biết hay sao còn hỏi? Toàn là con nuôi, em nuôi, cháu nuôi. Mấy ông nuôi bao nhiêu, ông Tư Chuyền nạo mệt bấy nhiêu.

– Yêu anh rồi em sẽ ôm hận Chinh Phụ Ca !

– Sịt! trước khi chết em chỉ gọi tên anh.

– Chớ không hô bác Hồ muôn năm à?

– Tại sao phải hô như vậy?

– Hồi kháng chiến chống Pháp, chiến sĩ ta ra trận, trước khi xung phong, hoặc lao đầu vào lỗ châu mai đều hô như vậy.

– Em không biết bác Hồ là ai?

– Vậy em đi công tác này có nghĩa gì?

– Em thích phiêu lưu khác người. Việc gì người ta sợ thì em làm.

– Như hồi nãy vậy hả?… Ai dạy em vậy?

– Ối tụi Mỹ ! … Tụi nó bảo gái điếm làm như vậy. Em có coi hình nữa. Còn nhiều lắm.

Ua nói một cách tự nhiên không chút ngượng miệng.

– Chuyện gì mình muốn làm mà làm được thì cứ làm ngay! Để mai một không có dịp rồi hối tiếc. Bữa nay nếu không cho anh ăn dưa hấu non thì biết bao giờ nữa?

– Em ghé quán nước đá uống một ly rồi về .

– Cha! muốn gặp tình nhân cũ hả? Duyên em tình chị cũng đẹp chớ! Em cho anh biết không một người nào chung thủy được khi họ ở ngoài này đâu. Vợ mấy ông cán bộ đi làm trong Đồng Dù đều dâng dưa cho tụi Mỹ hết ráo!

Ua vẫn chưa giải phóng cho tôi.

– Chốc nữa chạy qua xe nước đá em bớt tốc độ để anh ngó qua chút cho đỡ khổ! Gái một con trông mòn con mắt phải không ông thầy… giáo?

Tôi lặng thinh, mắt nhắm nhưng vẫn thấy Mai bế con, nước mắt hai hàng chiều hôm trước.

Chương 72

Mẫu Tử trùng phùng
Anh em ruột: em Quốc Gia, anh Cộng Sản.

Ua đưa tôi về nhà Tám Lệ. Ba Xuyên, một người đàn ông sồn sồn, vẻ mặt khắc khổ, nước da đen đúa chạy ra khi Ua vừa tắt máy xe ngoài sân. Bắt tay tôi xong, quay sang Ua:

– Sao về trễ vậy nhỏ?

Ở ngoài đó bữa nay lộn xộn quá chú Ba.

– Chuyện gì vậy?

Cọp Đen về đầy Bầu Tre. Thằng Rắc chận xe xét gắt quá Cháu phải chờ cho tụi nó rút mới vọt được.

Ba Xuyên quay sang tôi:

– Bà già xuống rồi. Ua dắt anh Hai qua luôn nhà má vợ Bảy Lập đi cháu.

Ba Xuyên là cán bộ của Sáu Huỳnh chỉ huy cụm quân báo này nên rất nể tôi. Ua nói:

– Để cháu tắm rửa sạch sẽ rồi qua trình diện má cháu luôn thể?

– Mày nói cái gì Ua?

Ua chạy thẳng vô nhà . Ba Xuyên nhìn tôi để tìm câu giải đáp Nhưng tôi vẫn đứng lặng thinh. Ba Xuyên tế nhị nên không hỏi. Anh mời tôi vào nhà cho biết những chi tiết quan trọng về Đồng Dù. Chưa dứt câu chuyện thì Ua đã trở ra với bộ mặt tươi tắn, quần áo khác màu, thơm phức, đứng trước mặt Ba Xuyên:

– Chú Ba cho phép cháu đi bao lâu chú Ba?

– Cháu đưa anh Hai sang đó ở chơi một chút rồi về nhận công tác mới.

Ua đưa tôi theo con đường quanh co qua các nương rẫy tươi xanh. Nàng bảo:

– Ở đây có hai mỹ nhân. Anh gặp người ta phải nghiêm chỉnh nghe. Chị Tám Lệ là cán bộ của chú Ba, có một con rất đẹp không kém Tư Mai đâu. Người thứ hai là Chín Hoà làm cô giáo, em của Bảy Lập, chủ nhà. Anh gặp người ta đừng có ngúc ngắc cái đuôi nghe chưa? Anh léng phéng thì anh chết…

Nàng véo lưng tôi một cái rất đau.

– Còn điều này nữa!

– Điều gì?

– Khi gặp má thì anh phải nói rằng em là vợ anh nghe chưa?

– ….

– Nghe chưa?

– Nghe rồi!

– Để cho mấy bà đó dạt ra hết đi đừng có gắm ghé với anh nữa. Nhất là con bé Nga y tá. Cho nó vỡ mộng nghe chưa!

– Nghe rồi.

– Có em, anh mới công tác rất tiến bộ được, còn với con nhỏ đó thì anh ngóc đầu lên không nổi.

Tôi nôn nao gặp lại má tôi. Tôi ra đi khỏi nhà hồi mười ba tuổi bây giờ băm ba. Má tôi chắc đã già lắm. Vừa bước tới giữa sân, Ua đã la lên:

– Má ơi! Má! Anh Hai về tới nè!

Tôi chạy vọt vô cửa. Nhìn thấy… không nhìn thấy gì hết. Chỉ một vầng hào quang. Miệng tôi kho khan kêu lên và nghe tiếng đáp lại:

– Má!

– Con!

Má tôi ôm chầm lấy tôi. Không như ba tôi lúc gặp lại tôi ở quán dì Ba. Ông chỉ đứng lặng im và nói:” Mày đó hả, Lôi?” như không có vẻ gì xúc động. Còn má tôi khóc như mưa. Ướt cả vai áo tôi. Tôi thấy bé trở lại như ngày còn ở nhà. Ba tôi có đôi lần đánh tôi bằng roi, nhưng má tôi không bao giờ.

Phút trùng phùng thiêng liên. Tôi không muốn một tiếng động nào xảy ra. Nhưng ….

– Anh!

– Anh Hai!

Má tôi bảo:

– Mấy đứa em của con đó!

Tôi quay lại. Một người đàn ông trung niên bước tới:

– Em là thằng Gấu nè, anh Hai!

Một người đàn bà đứng bên cạnh một người đàn ông khác và một lũ con nít:

– Em là con Sáu nè, anh Hai. Đây là chồng con của em.

Cả gia đình chủ nhà, nhân viên cơ quan đóng ở đây và cô y tá Nga đều có mặt. Má tôi nhìn quanh một thoáng, rồi hỏi tôi:

– Mấy cô ở đây, đứa nào là dâu của má vậy con?

Tôi đang lựng khựng thì Ua bước tiến lên trước nắm tay má tôi, giật giật và dõng dạc tuyên bố:

– Con đây má! Mấy người kia không phải!

– Ủa, vậy sao con?

Má tôi nhìn tôi như hỏi: Vợ gì trẻ dữ vậy con?

Ua như hiểu cái nhìn chất vấn của má tôi, nàng rất thông minh và nhanh nhẹn như một người trải đời, và đáp ngay:

– Vợ chồng không câu nệ tuổi tác má ạ. Miễn yêu nhau thì thôi. Có nhiều cặp vợ chồng rất xứng đôi vừa lứa, môn đăng hộ đối, ruộng đất trâu bò, quan huyện suôi gia với quan phủ nhưng… vợ chồng không yêu nhau má à! Con với anh Hai thương nhau và công tác phối hợp với nhau. Con tìm thấy nơi anh Hai một thủ trưởng dìu dắt con, còn con được anh Hai xem như cánh tay đắc lực của anh. Như vậy thì đúng như lời ông bà mình đã nói: Đồng vợ đồng chồng tát biển Đông cũng cạn má à ?

Má tôi ngạc nhiên trước sự lưu loát của cô bé còn mọi người thì ngẩn ngơ. Những người quen với Ua thì không ngờ cô bé loắc choắc nổi danh cao-bồi này lại khôn ngoan như vậy. Má tôi không nói gì, chỉ nhìn tôi chờ câu trả lời. Nhưng tôi cũng không nói gì. Tôi ở thế kẹt… bốn phía. Càng nhúc nhích càng kẹt nặng.

Thằng em trai tôi vốn là một đại úy Việt Nam Cộng Hòa, thấy thế bèn phá vây cho tôi:

– Thôi bây giờ mời má cùng tất cả bà con dùng bữa chiều. Mâm cỗ đã dọn ra từ lâu rồi chỉ chờ anh Hai về là nhập tiệc Còn việc lớn lao kia má sẽ định liệu sau.

Mọi người quay sang bộ ván đầy thức ăn bày biện rất mỹ thuật. Ắt hẳn có bàn tay đàn bà trong đó.

Má tôi vẫn chú ý đến Ua. Bà hỏi:

– Sao trong khu mà tóc tai con lại quăn queo thế này?

Ua nhanh tay chộp lấy chõm tóc giở tung lên và gật đầu một cái. Mái tóc dài tự nhiên của Ua xõa dài xuống vai. Rồi nàng vén lên chụp cái đầu tóc giả lên.

– Tóc con đâu có quăn đâu má !

Mọi người vui vẻ, kẻ đứng người ngồi. Bộ ván chật nứt, chủ và khách thân mật như bà con lâu ngày mới gặp lại. Ua nói năng duyên dáng hơn bao giờ hết. Tôi thấy rõ nàng lanh lợi hơn lúc tôi mới gặp rất nhiều. Riêng Nga thì buồn xo. Tôi để ý thấy nàng gắp có một miếng thịt nhỏ mà ăn hoài không hết. Còn tôi thì ruột rà như tơ vò . Tôi chỉ gợi chuyện nhà với em trai và em gái tôi . Vừa nói vừa nghĩ kế thoát thân. Chưa thấy tí ánh sáng lóe lên ở cuối đường hầm thì bỗng có tiếng chân người. Tôi nhìn ra thì thấy Ba Hỉ, bí thư xã. Ba Hỉ hăng hái đi vào, phía sau là hai nàng còn trẻ măng. Ba Hỉ hỏi:

– Má chú Hai là ai đâu? Tôi nghe nói bà vừa tới nên đem hai món quà hiếm có cho bà.

Ba Lập hỏi:

– Quà gì? cứ đem vô dọn luôn ra cho bà con dùng luôn một thể.

Ba Hỉ cười:

– Quà này không dọn lên mâm dược. Hì hì !

– Quà gì mà lạ vậy?

Ba Hỉ nửa cà rỡn nửa nghiêm chỉnh nói một hơi:

– Quà này có hai chân hai tay. Nó biết cười và biết khóc. Thưa bác, không nói giấu gì bác và xin bác xá lỗi cho. Đây là hai cô gái. – Ba Hỉ quay lại – Cô áo tím tên là Miền, cô áo xanh tên là Điền. Cô Miền có người anh là nông hội xã còn ba má cô Điền là điền chủ. Cả hai cô chưa quá hai mươi. Đây, bác và anh Hai xem mắt. Bác đành bụng cô nào làm dâu bác thì xã tôi sẽ đứng ra làm lễ tuyên bố. Sẵn dịp bác vô đây, đám cưới xong bác dẫn thím Hai về trình diện bác trai.

Hai.cô thẹn thùng đưa tay che mặt và đứng núp sau gốccột. Má tôi lại nhìn tôi. Trước sự việc bất ngờ tôi càng bị kẹt cứng. Tôi chưa hề quen hai cô. Mấy lần trước liên hệ công tác với Ba Hỉ, anh có hỏi việc vợ con tôi, tôi nói thật tôi còn chân trơn, thì anh bảo: “Để tôi kiếm dùm cho, không đòi đầu heo đầu gà gì hết.” Nào ngờ anh làm thật.

Anh đưa đến như vầy, không dò xét trước, rủi ro lỡ duyên người ta rồi ai chịu trách nhiệm. Thằng em trai tôi lại gỡ rối tơ lòng cho tôi lần nữa:

– Trước nhất tôi thay mặt gia đình cám ơn anh đã có lòng tốt đối với anh Hai tôi. Quả là chuyện xưa nay tôi chưa từng biết! Vậy mời anh Ba nhận ly rượu mọn của tôi cái đã, rồi sau đây má tôi và anh Hai tôi sẽ quyết định.

Tôi tưởng nàng Ua nổi khùng lên, nói vung vít bể bạc thì tôi chỉ có nước độn thổ. Nhưng tôi rất đổi ngạc nhiên. Nàng không tỏ vẻ bất mãn gì hết. Ngược lại nàng rất tự nhiên:

– Chà! Bác vô bữa nay gặp chuyện vui quá. Nhưng có nhiều cô dâu ứng thì thế này mà cô nào cũng đẹp chắc anh Hai khó chọn lựa, vậy em đề nghị bắt thăm. Trời khiến sao, anh phải chịu vậy. Anh Hai thấy sao?

Tôi đáp:

– Để má quyết định.

Má tôi rất văn nghệ. Bà nói:

– Bây giờ để má thường các con dâu của má trước đã. Đưa chén đây, má bỏ thịt và bánh mì cho.

Nhưng không thấy chén nào chìa ra cả . Thằng em trai tôi bảo:

– Các chị Hai của con mắc cỡ má à ! Má cứ gắp bỏ vô chén mấy chị là được. Bắt đầu từ đâu? Cứ theo thứ tự ABC cho công bình. Chị Điền, chị Miền, chị Nga rồi chị Ua.

Ba Lập lên tiếng phản đối.

– Rồi con Hòa em gái tôi mất chỗ hay sao?

Ua bảo:

– Em đứng chót nhưng quay ngược lại thì em đứng đầu.

– Sao kỳ vậy được?

– Trong quân sự người ta gọi lấy đuôi làm đầu mà.

Má tôi nhìn Ua. Có lẽ bà ngạc nhiên trước sự ứng đáp của con nhỏ tóc quăn. Sợi dây căng thẳng suýt đứt lại tan đi với sự pha trò càng lúc càng ròn rã của mọi người dưới sự dẫn đầu của thằng em tôi.

Tiệc xong, nàng Ua hối hả trở về vì đã trễ giờ phép hơi lâu. Còn các mỹ nhân khác thì lúi húi dọn dẹp giúp chủ nhà.

Tôi đến hỏi thăm má tôi về việc gia đình một lúc và lôi thằng em trai về hầm nói chuyện riêng cũng là chuyện quan trọng nhất của cuộc trùng phùng này.

Lúc tôi về R thay mặt đoàn pháo binh 69R để nhận huân chương, tôi có gặp anh Ba Thành là người bản sở và là thủ trưởng cũ của tôi trong kháng chiến chống Pháp. Lần đó tôi có báo cáo với anh rằng tôi có một đứa em trai làm đại úy Thủy Quân Lục Chiến ở Sài gòn. Ba Thành bẩm lên trên và ở trên đã cho tôi về Củ Chi công tác đồng thời móc em tôi ra vận động cho nó làm Binh Biến như Phùng Văn Mười ở Bình Dương. Việc này được giao cho Quân báo Chín Lộc mắt toét, người đã từng sang học nghề tình báo ở Liên Xô. Móc tới ngoéo lui cà trật cà duộc gần hai năm em tôi mới ra gặp tôi. Đây là lần gặp gỡ giữa hai anh em ruột rất nguy hiểm cho sinh mạng của cả hai đứa. Có điều lạ lùng là cả hai anh em đều là đại úy cả, nhưng kẻ đứng bên này, người ở bên kia.

Lúc còn nhỏ, ba má tôi thấy nó èo uộc nên gởi cho một nhà hàng xóm nuôi dùm. Nhà này nuôi con rất khỏe và đặt tên con rất oai hùng. Hùm, Cọp, Beo. Tới phiên nó thì lãnh tên Gấu. Còn tôi, má tôi đang đi cấy thì nghe sét đánh thì chuyển bụng. Bà bỏ về nhà và sanh ra tôi, nên bà ngoại tôi bảo đó là nhờ Thiên Lôi nên đặt tên tôi là Lôi. Lôi 33.

– Gấu à ! Anh muốn nói với em một chuyện quan trọng.

– Em biết rồi ! Có bà gì cứ đến nhà em hoài.

– Ừ chính là vì bà đó mà anh nói với em hôm nay.

– Em không thể làm Phùng Văn Mười đâu anh à.

Tôi vỗ vai nó:

– Đúng! Như vậy anh không cần phải nói gì thêm với em nữa.

– Anh theo lý tưởng của anh, em không phản đối mà cũng không trách. Em có lý tưởng của em.

– Anh cũng không trách mà cũng không phản đối. Có điều là em phải thận trọng kẻo cấp chỉ huy của em hay được thì nguy to.

Đại úy Gấu cười:

– Anh tưởng em đi lén sao? Em xin phép đại tá Trung đoàn trưởng của em đấy.

– Em nói thiệt?

– Đại tá sếp em đã báo cáo lên Tướng Tư lệnh Sư Đoàn và vị Tư lệnh thích lắm.

– Em có giỡn không?

– Không! Em nói thiệt đó mà.

-…nghĩa là sao?

– Ông ấy gọi em lên. Em run quá. Kiểu này chắc mất chức và tù, nhưng không. Tất cả dự đoán của em đều sai.

– Cái thằng!

Đại úy Gấu móc thuốc ra. Hai anh em cùng hút. Trong khói thuốc mịt mù, Gấu bảo:

– Tướng Tư lệnh cho phép em đi thăm anh bảy ngày.

– Thiệt à?

– Nếu không thì sao một đại úy như em lại bỏ đơn vị mà đi được anh. Nói thật với anh, anh đừng buồn nghen! Ổng giao cho em sứ mạng biến anh làm một Phùng Văn Mười trong hàng ngũ Việt Cộng đấy.

– Không thể được!… Em về báo cáo láo với ông ta.

– Không! Em sẽ nói sự thực. Trước khi em đi, ổng còn căn dặn: Cộng Sản là những người cuồng tín và thú tính, khó nói sự thực cho họ nghe. Lại càng khó dùng tình cảm để lay chuyển họ . Vậy nếu không đạt được kết quả chính trị thì coi như cậu đi thăm anh ruột của cậu như những cặp anh em khác cùng hoàn cảnh với cậu trong Sư đoàn của mình mà tôi biết. Điều này càng cho họ thấy rõ chúng ta là những con người quyết tử chống họ, nhưng là những người có trái tim.

Đại úy Gấu phà một làn khói bát ngát. Tôi thầm phục ông tướng đó. Tuy vậy vẫn tìm cách nói quanh, phủ nhận những cái tốt của người khác, như một thói quen của các cấp chỉ huy giáo dục tôi và nay đã trở thành quán tính của tôi, không biết từ bao giờ.

– Ông ta lừa cậu đó . Cậu về mà không kết quả, chắc cậu sẽ không yên thân đâu.

– Ở bên anh chuyện đó đã xảy ra sao?

Tôi lặng thinh. Đại úy Gấu tiếp:

– Tôi sẽ về báo cáo mọi việc như đã thấy, cả việc anh Ba Hỉ tặng quà cho má.

Đêm đã khuya. Hai anh em ngồi bên nhau. Khói thuốc như mây bao bọc hai mái đầu. Tàn thuốc chừng như đã vun thành núi. Tôi muốn nói với em tôi một điều mà không nói được Tôi muốn nhờ em tôi một việc nhưng rồi cũng không nhờ. Việc ấy tôi giấu kín trong tim.

Hai anh em cùng một dòng máu nhưng kẻ bên ni, người bên tê. Gần nhau gang tấc mà xa ngàn dậm, không phải cái xa của mặt trời mặt trăng cả ngàn năm ánh sáng mà là xa cách giữa hai nhịp tim đập.

Tôi vào giăng võng ở miệng hầm. Má tôi đã ngủ. Tôi không muốn má tôi thức dậy. Tôi muốn tôi trở thành tên lính canh cho giấc ngủ của má tôi. Mới đây mà đã hai mươi năm.

Lúc tôi vác nóp đi kháng chiến với ba tôi thì má tôi còn trẻ. Nay má tôi đã bạc đầu, có cháu ngoại cháu nội. Tôi bằng tuổi má tôi thời đó mà chưa có con cho má tôi bồng. Muộn mất hai mươi năm. Ba má tôi muốn đứa cháu đích tôn. Tôi cũng muốn có vợ có con bình thường, hường một thứ hạnh phúc bình thường của những cặp vợ chồng nông dân. Tưởng dễ nhưng lại khó.

Tôi có một ngàn chuyện chứa trong đầu. Chuyện giữa tôi và thằng Gấu coi như đã giải quyết xong. Đường ai nấy đi. Thấy cách suy nghĩ nói năng của nó. Tôi hiểu nó hơn tôi tưởng. Nó không phải là tên lính đánh thuê như người ta thường huấn luyện tôi và rồi sự nhồi nhét đó trở thành nếp suy nghĩ của tôi từ lúc nào không rõ. Bây giờ thì tôi đã hiểu rằng mình lầm.

Còn chuyện vợ con? Đó là cây gươm linh treo lơ lững trên đầu tôi Tôi như một Thúy Kiều. Sống làm vợ khắp người ta. Hại thay! thác xuống làm ma không chồng. Tôi không sống lâu đâu mà hòng vợ con. Bom đạn Củ Chi này không phải như bất cứ chiến trường nào tôi đã từng biết. Không ở đâu cán bộ hi sinh nhanh chóng dễ dàng và nhiều như ở đây. Tôi sống ngày nào may này ấy. Thì vợ, con mà làm gì? Vợ góa, con côi. Nấm mồ trăn trở. Tôi như thấy trước mắt cái gương mặt thằng Chi trắng bệt, xanh như lá . Nó mới hai mươi hai tuổi. Vợ chưa cưới. Vợ cưới rồi có nỗi khổ của vợ cưới rồi, vợ chưa cưới.có niềm đau của vợ chưa cưới. Thu Hà ! Gương mặt nàng đầm đìa nước mắt núp sau cây bằng lăng ở Trường Sơn. Hứa đó nhưng chắc gì đã tới đâu . Tôi nghe đầu võng lắc lắc rồi tiếng thầm thì:

– Anh Hai ngủ hay thức?

– Ai vậy?

– Em! Anh ra đây em băng cái móng chân tách cho anh!

Trời ! Nga. Từ chiều tới giờ tôi quên khuấy đi nàng Hằng Nga của tôi. Trăng mọc giữa đêm đen và chỉ rọi ánh sáng xuống cho tôi. Bên cạnh một nàng Ua xông xáo, hoạt bát, duyên dáng, Nga chỉ im lặng, một sự chịu đựng vô biên, cũng như nàng đã từng chịu đựng khi tôi băng cái móng chân chảy máu của nàng. Nàng chịu đựng những tai tiếng mà những bậc chú bác kính mến đã vu oan cho nàng vì không được nàng hạ xuống cho cấp anh. Tôi hiểu cái móng chân tách của tôi ở đâu.

Tôi bật dậy đi theo nàng. Trong đêm tối mịt và giữa sự im lặng tuyệt đối, tôi nghe tiếng tim đập và hơi thở của nàng. Tôi ngửi thấy mùi hương của tóc và da thịt trinh nguyên. Nga là một Hằng Nga của gã Thiên Lôi lạc xuống dương trần.

Tôi quơ đụng và nắm cườm tay tròn mát rợi của nàng như đã cầm được hạnh phúc cụ thể vô cùng. Tôi ngoan ngoãn đi theo nàng. Tôi thầm nhủ.

– Coi chừng lại vấp tách móng chân.

Nhưng đi đâu? Ra cái hầm lúc chiều đi ngoài vườn tôi trông thấy. Ngó tìm hầm, đó không những là thói quen của các nhà quân sự mà là thói quen của tất cả mọi người ở đây. Hễ ra khỏi nhà thì dáo dác tìm hầm, hoặc hỏi thổ địa hầm đâu. Hai Giả xuống Thủ Đức chết vì lựu đạn Đại Hàn ngay dưới hầm. Vì đó là cái hầm quốc tế. Ai cũng có thể bị cán bộ địa phương vô trách nhiệm nhét xuống đó.

Cái hầm ngoài vườn là loại hầm tấn tức là hầm có vách đất dày bốn phía chớ không có nắp che trên đầu. Nếu đại bác rơi ngay theo kiểu cò ỉa miệng chai thì lãnh đủ.

Tôi dắt Nga ra đó bấm đèn pin lên. Thiệt là buồn ngủ lại gặp chiếu manh. Mùng giăng chiếu trải lại có cả một cặp gối, một chiếc rách lòi gòn. Nga mang cả ba lô theo. (Nàng đựng dụng cụ để băng cái móng chân tách của tôi chăng?)

– Em định trả ơn cho anh hả?… Móng chân anh đâu có tách đâu. Chỉ có trái tim anh rách thôi.

– Trái tim anh chỉ còn cái cuống thôi. Còn bao nhiêu thì anh đã cắt ra từng mảnh chia cho người ta hết rồi, chớ có đâu mà rách!

Tôi khẽ vỗ ngực.

– Còn nguyên cho em đây nè Nga à !

– Em không mong nhận được nguyên trái tim anh, chỉ xin được một mảnh nhỏ thì em cũng đủ hạnh phúc lắm rồi.

Tôi sửa soạn tổ ấm xong rồi kéo tay Nga ngồi bên mép chiếu trải dưới đất, không có giường. Tôi vuốt lưng nàng và nói:

– Không rước được má xuống chắc em buồn lắm hả Nga?

– Không có má xuống thì có má lên, em đâu có buồn. Dù sao em cũng có má !

Nga là một người thùy mị thâm trầm khác hẳn Ua sôi nổi liếng thoắng. Nàng nói cười đều chậm chạp nhưng ý tứ được trau chuốc trước khi thành lời. Tôi hỏi tiếp:

– Em thấy má có thích em không?

– Hồi tối lúc anh nói chuyện với chú Năm (Gấu) má kêu em lại nói chuyện tới khuya em mới dọn giường cho má ngủ . Má biểu em nằm với má nói chuyện tiếp.

– Má với em nói chuyện gì?

– Má hỏi thăm gia đình bên em.

– Chuyện gì nữa. Má hỏi thăm chị Ua. Em nói em mới biết chỉ lần thứ nhất.

– Má có nói gì chị Ua không?

– Má nói con gái mà hoạt động thành thiệt là giỏi!

– Má nói có bấy nhiêu thôi à?

– Má còn nói đi như vậy ai nấu cơm cho chồng ăn, có con ai nuôi cho!

Tôi hỏi chơi vậy thôi chớ tôi biết ý má tôi, em trai lẫn em gái tôi ngả về ai. Nếu chọn dâu bất cứ bà già nào cũng ngán nàng Ua hết.

Tôi tưởng cái chuyện Ba Hỉ tặng hai món quà cho má tôi là hi hữu ở thế gian thời này, chẳng dè sau khi mọi người tản ra, vào lúc chạng vạng thì… Ba Hai (ba chiến sĩ) bất ngờ tới. Ba Hai đầu bạc trắng, trước kia từng làm Đại Hương Cả trong làng. Ba nói với má tôi, giọng sang sảng:

– Tôi nghe tiếng chú em này lâu rồi. Nay mới gặp. Hân hạnh hơn nữa là được biết chị là mẫu thân của chú. Vừa rồi chú Ba Hỉ có nói với tôi việc đem hai đứa nhỏ cho chị xem mắt. Chị thương thì nó nhờ, còn không thương thì của đâu còn có đó, không mất mát đàng nào. Riêng tôi cũng có một đứa, tôi muốn chị xem qua. Số là tôi có đứa con gái út đã gã cho thằng Bảy Lập kéo đờn Tây trong Văn Công quận là chủ nhà này. Anh suôi tôi tức là ông già ruột của nó còn một đứa con gái tên là Chín Hòa. Con nhỏ đang dạy lớp bình dân ấp này, dung nhan coi cũng mặn mòi chớ không đến nổi xấu xí chi. Tôi xin mạn phép anh suôi tôi đến đây thưa với chị. Nếu chị cho phép thì mai tôi sẽ dẫn nó đến ra mắt và nếu chị thương thì chắc anh suôi tôi cũng mừng lắm.

Má tôi lấy làm sung sướng thấy bà con thương con mình rất nồng hậu, nhưng bà không biết quyết định như thế nào, đành mượn kế hoãn binh:

– Nó thương ai tôi cưới nấy.

Tôi hỏi tiếp Nga:

– Má có gì về các cô Miền, Điền và Hòa không?

– Coi mòi má thương chị Tám Lệ nhất, ngặt chỉ có con.

Nga khôn khéo loại ra ngoài vòng chiến tất cả các đối thủ bằng một đối thủ của nàng. Nhưng đối thủ này lại có nhược điểm vô cùng to lớn nàng không cần đánh cũng thắng. Làm thế nào bà già cưới đàn bà có con cho con trai mình được? Tôi nói:

– Anh biết ý má thương em nhất chớ chẳng phải cô Tám đâu!

Vừa nói tôi lôi tay nàng ngã xuống gối đầu lên cánh tay tôi. Vẫn biết việc Nga đi với tôi ra đây là nghĩa gì rồi, nhưng tôi không muốn để cho nàng có tư tưởng tôi là nước lớn đối với xứ nhược tiểu. Tôi tiếp:

– Riêng anh thương em nhất!

Vừa nói tôi xoay mặt nàng qua và hôn môi.

– Em thấy chị Ua văn minh quá lại công tác giỏi nữa.

– Nhưng không sánh với em được. Má nói em công, dung, ngôn, hạnh vẹn toàn.

– Mới gặp em sao má biết được?

– Trời ! mấy bà già coi dâu tinh vi lắm. Mấy bả chỉ cần xem cái bếp là biết hết.

– Em thấy chị Miền cũng đẹp quá trời.

(Viết đến đây tôi thấy tim gan quặn thắt. Tết năm 66 tôi đứng ra làm chủ hôn cho Xướng và Miền. Xướng đã lên B trưởng trinh sát của tiểu đoàn. Năm sau vào mùa khô, trực thăng Mỹ đổ quân ngay rún căn cứ của tiểu đoàn ở rừng làng An Nhơn đánh ngay trung đội trinh sát và quân y của tiểu đoàn. Hai bên cận chiến bằng tiểu liên. Quân Mỹ ở trên mặt đất chạy khơi khơi bị bắn chổng gọng bởi súng của trinh sát từ dưới hầm và công sự kiên cố quạt lên. Do đó Mỹ rút và kêu pháo giã gạo.

Xướng và chú bé Thưng cận vệ của tôi hi sinh cùng một số y tá của tiểu đoàn. Em Miền lúc đó mới 19 tuổi. Mái tóc xanh mướt của người vợ trẻ đã phải quấn vành khăn trắng trong khi đứa bé con của liệt sĩ còn nằm trong bụng mẹ. Nàng lấy xác chồng đem về chôn ở quê nhà. Còn chú bé Thưng thì cha mẹ đem về Sa Nhỏ nơi bé chào đời.

Tôi còn cậu bé Thuận đi theo, tôi đánh bao nhiêu trận Thuận có mặt bấy nhiêu. Sau này thành lập Trung đoàn Quyết Thắng Quân Khu, tôi làm Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng, tôi đề bạt Thuận lên Trung đội phó và đưa nó về Tiểu đoàn của Út Sương lúc bấy giờ đã lên Phó Chính trị viên Tiểu đoàn. Thuận hi sinh trong Tết Mậu Thân không rõ ở đợt I hay đợt II.

Bộ ba Xướng, Thung, Thuận đều chết. Chết thay cho tôi. Nếu tôi cưới vợ thì đất Củ Chi lại thêm một người đàn bà góa, bạn của Miền! Than ôi! Đất Củ Chi có là đất thép hay đất bùn thì nó cũng đã vùi chôn không biết bao nhiêu con người đổ máu và hi sinh vô ích cho nhóm lãnh đạo phương Bắc.)

Tôi nói.

– Đối với anh, không ai bằng em! .

Anh không sợ Má văn công, Mông y tá sao?

– Ăn không được thì khuấy cho hôi. Đó là tâm lý người đời Cho nên họ phao đồn như vậy.

– Yêu em thì sau này đừng có ân hận nghe ông thầy pháo.

– Tại sao anh phải ân hận?

– Em không biết… Rủi anh nghe về em như thế này mà em ra thế khác thì anh hận chớ sao!

– Thế khác là thế nào? Anh chỉ thấy em như thế này. .

Các chú các bác đến quân y nhiều quá , chú Tư Chuyền phát cáu đòi đuổi em vì em quến khách, lộ bí mật địa điểm. Có lần chú nói thẳng: “Đây là quân y không phải chỗ mấy ông uống trà. Có uống trà thì ra quán Sáu Tĩnh mà uống”‘

– Trong số khách đó có chú Lôi phải không?

– Anh chỉ đến có hai lần. Lần đầu đang ăn khoai mì nấu thì bị chị Là vô kéo về. Lần sau anh vô thăm chiến thương sau trận pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù.

– Thôi, anh không vô đó nữa. Từ biệt luôn Quân y!

– Tại sao?

– Vì em ở đây rồi, anh vô đó làm gì nữa . Anh có bị thương thì cũng ráng lết qua Bưng Còng chớ không dám vô C5.

– Có em săn sóc cho anh, không hơn người khác à?

– Đám y tá y tướng của em biết em yêu anh, chúng nó ghen, chúng cưa giò anh bỏ mạng!

– Anh nghĩ chuyện gì đâu không hà !

– Tình đời là thế đó em. Bất tài người ta khinh. Có tài người ta ghét. Anh được em yêu nhưng sẽ bị cả trăm người ghét, cả ngàn người thù.

Nga lặng thinh. Hồi lâu nàng nói:

– Em vừa nghe anh nói một lời quý báu. Nhờ đó em hiểu thêm đời.

Nga mở mắt thau láu ngó tôi. ánh trăng khuya lọt kẻ nóc chòi xơ xác lắp lánh trong mắt nàng. Tôi không ngờ đêm nay chị Hằng trên trăng lại làm cho Nga dưới đất đẹp đẽ bội phần.

Nàng quàng tay vào cổ tôi như vuông lụa phất qua và rủ rỉ:

– Em yêu anh quả là bất ngờ, không suy nghĩ. Kể từ gặp anh đến nay đã hơn một năm rồi. Lúa nào em cũng thầm ước gặp lại anh để nói với anh một lời. Em yêu anh như một người thầy, một người bạn và một người chồng.

Nàng hôn tôi thắm thiết. Cái hôn trút hết những tình cảm đè nén lâu nay. Tôi bảo:

– Em cho anh nhiều quá sợ anh không có gì để đáp lại.

– Anh chỉ yêu em là đủ.

– Anh yêu em suốt đời…

-…suốt đời, không phải chỉ suốt đêm nay nhé.

Tôi hôn nàng như một lời hứa.

– Nhưng em xin anh một điều.

– Em sợ có con?

– Không. Chính là ngược lại. Em muốn có một đứa con với anh. Vì thế lúc yêu, em không muốn có sự ngăn cách nào.

– Em nghĩ rằng anh nghĩ tới ai khác?

– Không! Đố anh biết em muốn gì?

Tôi ngờ nàng ghen với cô nọ nàng kia. Thực ra tôi yêu ai cũng yêu với tất cả trái tim, không nửa vời không lừa lọc nhưng chưa bao giờ tôi hứa sẽ cưới ai. Tôi đang suy nghĩ tìm câu trả lời thì nàng quơ tay vào túi tôi, bảo:

– Đưa em cái bóp của anh coi.

Tôi hiểu ý nàng.

– Anh bỏ trong sắc… Em định xét chứng minh thư nhân dân của anh chớ gì.

Nàng tát nhẹ má tôi, rồi cụng trán tôi, cười rút rích.

Nàng lần tay bấm từng nút áo bóp. Tiếng nút áo bật ra rắc rắc như tiếng pháo tí hơn. Tiếng khua xào xạo của vải vóc làm tôi ngây ngất. Đã nghe mùi da thịt và tràn ngập trong lòng hầm. Nàng lấy trong ba lô một tấm khăn trắng lót trên gối nằm lên, rồi bảo:

– Đêm nay chúng mình thành hôn. Em có lỗi với má vì không thưa qua một lời, nhưng nếu má biết em yêu anh thì chắc má rất vui lòng. Yêu em đi anh, chàng. trai lý tưởng của đời em! Nếu một trái pháo rơi ngay vào hầm trong lúc này em vẫn tìm thấy hạnh phúc chết trong tay anh.

Nàng nói những câu giống như tiểu thuyết. Mà tiểu thuyết thật! Củ Chi này là pho tiểu thuyết đẫm máu và nước mắt hãi hùng nhất của dân tộc Việt Nam. Chưa một tiểu thuyết nào của nhân loại hãi hùng hơn Củ Chi, hai tiếng Củ Chi. Góa phụ mười tám tuổi . Vợ chồng con cái chết chung một hầm. Đôi tân hôn nhận một món quà bất ngờ trong lúc giao hoan: một quả đạn pháo 105. Đau thương hơn nữa, đôi vợ chồng mới cưới dắt nhau về quê vợ đạp lựu đạn gài, người chồng tử thương !

Nghe đến cái hạnh phúc chết trong tay anh tôi như bị một luồng gió lạnh chạy qua xương sống, sửng sờ. Tự nãy giờ pháo Đồng Dù và Trung Hòa thay nhau nhịp trường canh cho dân Củ Chi ngủ yên hơn ở những nơi khác. Ánh sáng hỏa châu lọt tận góc địa đàng này. Tiếng oanh thỏ thẻ.

– Sao anh ngồi trân trân vậy?

Tôi giật mình đáp như máy:

– Em như đóa hoa đẹp, anh muốn ngắm thật lâu trước khi hái.

Thật vậy, thân hình nàng đẹp như một bức tượng pha lê sợ đụng mạnh sẽ vỡ tan. Ánh trăng mờ chiếu làm cho làn da ngà càng nổi bật. Tôi bắt đầu cúi xuống nụ hồng, nhưng nàng ghì đầu tôi xuống môi nàng, thầm thì:

– Hôn em trước. Em muốn nhận cái hôn đầu tiên của vợ chồng trước khi em…

Tôi không có kiên nhẫn nghe gì thêm.

Chúng tôi đã gặp nhau trong một phút liêng liêng ở đỉnh núi cao nhất của tình yêu. Tôi trong tay nàng. Nàng trong tay tôi. Những phút câm lặng. Những hơi thở và những tiếng tim đập nghe rõ như tiếng trống khải hoàn. Một cuộc chiến chinh, cả hai đều thắng. Đã toại hưởng, tôi vẫn còn say mê nhìn thân thể của nàng lấp lánh trăng. Tôi lại hôn nàng, hôn khắp. Nàng vụt ngồi dậy rút chiếc gối ra như giật mình.

– Coi chừng dính gối người ta biết!

Rồi nàng cầm lấy chiếc khăn trắng nâng lên, đưa cho tôi với tất cả tự hào.

Lúc ba tôi vào thăm tôi ở cơ quan Chín Lộc thì tình hình còn yên ổn, nghĩa là pháo vẫn giã gạo hằng đêm rung mặt đất, nhưng chợ An Nhơn vẫn còn xe nước mía, tài tử giai nhân qua lại dập dìu. Nhưng tôi đã phải gấp rút đưa ba tôi về vì sợ rủi ro thì tôi sẽ ân hận không biết dường nào. Bây giờ tình hình căng lên gấp mười lần. Pháo giả gạo không kể giờ giấc. Ngoài ra biệt kích còn thọc mạnh vào khu, hơn nữa xe tăng càn. Lần này lại có vợ chồng đứa em gái, em trai, cả một gánh nặng, cho nên tôi không muốn gia đình tôi ở lại lâu hơn.

Hai mươi năm xa cách, một lần thấy mặt mẹ và các em, như vậy cũng đủ rồi. Nếu muốn hơn thì biết bao nhiêu cho cùng? Trước khi chia tay với đứa con trai tưởng đã vùi thân nơi nào rồi, má tôi nhờ người đi chợ mua đồ về cúng. Má tôi bảo tôi lạy bàn thờ như thuở nhỏ tôi ở nhà mỗi lần có đám giỗ . Má tôi không vui khi biết tôi luôn luôn xông pha lằn tên mũi đạn. Má tôi bảo:

– Họ có làm gì mà con giết họ? Má ở nhà mấy chục năm nay đâu có ai động đến gia đình mình.

Thằng em tôi nhìn tôi. Tôi cũng nhìn nó trong làn khói hương lờ mờ . Hai anh em ruột nhưng mỗi đứa một đường cùng đứng bên mẹ ruột, còn biết nói năng gì với mẹ và với nhau! Thằng nào cũng có lý tưởng để tôn thờ. Thôi thì mạnh anh anh đi, mạnh em em bước. Má tôi vái cô hồn các đảng và những người khuất mặt khuất mày phò hộ cho tôi, chớ không vái câu nào cho em tôi. Hình như chỉ có tôi mới gặp tai nạn còn em tôi thì không. Má tôi dặn tôi:

– Con là chỉ huy, con đừng đánh lính như ông Tô Ký hồi xưa nghe. Con có thương họ, họ mới thương con. Con có nhớ tích Hán Cao Tổ bị giặc chém mà có người tướng là Kỷ Tín nhảy ra đỡ ngọn giáo không?

Câu dặn dò đó đối với tôi còn thắm thía hơn ngàn lần bài học chính trị của đời tôi.

Rồi phút chia tay phải đến. Tôi đưa má tôi và các em ra đường lớn. Tôi đứng nhìn theo bụng nghĩ thầm không biết bao giờ gặp lại má và các em. Bất thần tôi quỳ xuống đất gục đầu lạy má tôi hai lạy bụng thầm bảo:

– Con bất hiếu xin lạy má đền ơn sanh thành dưỡng dục.

Chương 73

Trở lại Năm Lê, con cọp trong hang.
Người xưa cảnh cũ còn đâu nữa.

Có lẽ tôi phải dùng một quyển sách riêng để ghi lại những trận đánh của Dương Đình Lôi từ mười bốn tuổi tới bây giờ thì mới phải. Không nhiều lắm, chỉ chừng non trăm trận thôi. Và bảy, tám lần bom đạn đã chiếu cố đến thân thể gã Thiên Lôi này, đã ban cho gã những nụ hôn có máu. ở trong bộ hồi ký này tôi chỉ xin ghi lại vài ba trận có liên hệ tình cảm, tình đất, tình người và tình yêu thôi.

Cho nên trận Suối Cụt do tôi chỉ huy xin gác lại, hẹn với độc giả ở một lần khác. Tiện đây tôi cũng muốn những ai là kẻ thù của tôi trước kia và là bạn bây giờ xin hãy quên đi những trận đọ súng so gươm cốt nhục tương tàn. Những trận chiến khốc liệt giữa những người cùng nòi giống.

Ai thắng ai bại thì đất nước cũng tan nát.

Sau trận Suối Cụt tôi lại được lệnh khẩn cấp về gặp Năm Lê, Tham mưu trưởng Quân Khu. Đời chiến binh của Thiên Lôi luôn luôn nhận được những lệnh khẩn cấp. Lúc nào tôi cũng chạy, chạy và chạy chớ không có đi đứng bình thường trên cái đất Củ Chi này, càng về sau càng chạy, cho đến ngày chạy tuốt ra Sài gòn mới dừng lại xã hơi và biết mình còn sống.

Xế ngày hôm tiễn biệt gia đình, tôi và mấy cậu tùy tùng giục ngựa băng ngàn. Chúng tôi đến nhà Năm Minh Xã đội trưởng xã Phước Thành, nhờ du kích đưa qua lộ 7 để xuống Phước Hiệp. Tới nơi thấy mấy chú du kích đang gầy sòng tu lơ khơ (một loại bài cào nhập cảng từ Trung Cộng mà suốt đời tôi không chơi). Tô chén uống trà lăn cù trên ván. Cô út Mít Nài (tôi gọi vậy vì cô ở ấp Mít Nài) nhìn tôi tình tứ. Cô là nữ sinh tập tễnh theo du kích và có ý định gia nhập đội nữ của Bảy Mô để làm dũng sĩ, nhưng không được chấp nhận, bèn xoay qua đi học trường pháo binh nhân dân của ông Thiên Lôi, nhưng Xã đội trưởng Năm Minh lại bảo: “Con gái gì đi thụt pháo!” Út Mít Nài tò vè xin súng của thằng Thuận lấy được trong trận Suối Cụt vừa rồi. Nhưng Thuận bảo: “Tụi bây đánh mà lấy, súng gì mà súng cho?”

Xã này chỉ còn mấy cái nhà hoang du kích lấy làm trụ sở với ba người Năm Minh, Tư Lan Xã đội phó và Út Nài. (Sau đó ít lâu Năm Minh bị khui hầm bắn chết

còn Tư Lan thì trôi dạt nơi nào tôi không rõ. Có lẽ cô nàng đã gia nhập đội công tác tình báo luồn vào thành, được trả lương, để làm hột nhưn cho cuộc đánh Tết Mậu Thân sắp tới.)

Út Lan dắt bọn tôi vào nhà anh Bảy Điếc bí thư. Vợ chồng không con, anh bị cà nông làm vỡ màn nhĩ không nghe gì hết chỉ ra dấu. Chi bộ còn năm người mà cũng rục rịch bỏ xứ vì không chịu nổi cà nông nữa. Tư Lan chỉ tôi một nóc nhà , bảo:

– Đó là nhà anh Lắm B phó B6.

Lắm chết ở trận Mỹ đổ quân ở Gò Nổi trên, sau khi chúng tôi pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù . Thiệt vô cùng đau đớn. Khi vào nhà thì tôi được biết bà già đang làm tuần ba tháng cho con trai. Bà mời lũ tôi ở lại ăn cơm. Tôi đốt nhang cắm lên bàn thờ thằng cán bộ của tôi mà cảm thấy mình có phần trách nhiệm về cái chết này, nhưng tôi lại nghĩ: “Rồi đến phiên mình phủi chân leo lên bàn thờ như nó, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?”

Đêm đó, bọn tôi ở lại nhà anh Bảy, được chị Bảy đãi cháo gà. Sau Tết Mậu Thân, Bảy Điếc bí thư xã Phước Hiệp, Tám Thiện bí thư xã Tân An đều bị moi hầm bắn chết. Hai Khứ lên thay Bảy Điếc lãnh đạo cái chi bộ không còn đảng viên, nhưng chỉ hai tháng sau lại cũng bị khui hầm.

Rời nhà Bảy Điếc, Tư Lan dắt bọn tôi đến nhà cô Hai Cảnh ở ấp Bàu Điều, cô Hai có đứa con gái sáu tuổi cũng không biết mặt cha như bé Hoàn, bé Rớt, bé Tiền mà tôi đã gặp trên đường chinh chiến. Khổ nỗi là cô không biết chồng chết trận nào, ngày nào để làm giỗ, mà cũng không biết chắc chàng đã ngã gục hay chưa để lập bàn thờ. Cứ lơ lững như thế mấy năm nay. Đêm đó tôi không ngủ được, trước mặt chập chờn bóng dáng má tôi và các em trên nẻo đường chia tay. Mãi gần sáng tôi mới chợp mắt.

Sáng sớm Tư Lan lại dắt chúng tôi đi tiếp. Nàng không cho hút thuốc vì sợ biệt kích bắt mùi. Nàng bảo một lần mấy ông mảnh đi phục kích nằm hút thuốc bị biệt kích phát hiện suýt bị chúng bắt sống ở Truông Viết.

– Truông Viết ở đâu? (Tôi chỉ biết trên bản đồ chớ chưa đạp đất vùng này.)

Tư Lan bảo:

– Cứ thẳng đường xuống xóm Ba Xa rồi qua một cánh đồng là tới Truông Viết. Từ Truông Viết anh về Bàu Tre gần lắm. Chỉ băng cánh đồng chừng hai cây số. Nhưng rất may rủi . Vì hễ gặp bà nốc thì nó xớt liền, không thể nào trốn được !

Tôi và nàng đi tụt hậu nên nàng than thở.

– Dân ở Bàu Điều ra ấp chiến lược hết rồi anh ạ. Từ đó xuống Ba Xa nhà cửa không còn. Không biết rồi du kích chúng em ở với ai? Trước kia có dân thì chúng em được báo tin truyền, bây giờ toàn cây cỏ lấy ai mà nhờ cậy?

Đi ngang một ngôi nhà ngó i, nàng bảo:

– Đó là nhà của ông nội anh Lắm. Ông giở vách phía đồng trống vì trước kia bà nốc cứ rà sát. Thằng Mỹ ló đầu ra kêu Vixi! Vixi? Từ ngày ông đưa ruột gan ra cho nó xem, nó không quần nữa.

– Ở đây mấy em thường dùng hầm bí mật không?

Tư Lan xua tay:

– Hổng được đâu anh Hai ơi.Ông Bảy Điếc nghe nói các xã khác đào địa đạo trốn đã lắm, ổng cũng muốn chơi với địa nhưng đất này chỉ đào hầm bí mật cũng không được rồi, nói chi địa đạo. Mực nước lên đụng nắp hầm ló lỗ mũi lên, xuống đó có mà chết ngộp.

Đột nhiên tôi hỏi:

– Lâu nay em gặp Năm Cội không ?

Lan thẹn thùng đập vai tôi:

– Anh Hai hỏi em làm gì chuyện đó. Tụi em chưa có gì đâu. Từ ngày phối hợp nhau ở Cây Trắc đến nay tụi em đâu có gặp nhau nữa.

– Thằng Cội nó khen em lắm! Nó bảo tụi dũng dĩ Bảy Mô không có đứa nào bằng em. Chúng nó chỉ được cái tiếng thôi còn thực chất không có gì.

– Anh Cội cũng như tụi em, sáng bữa nào cũng dắt một tổ xuống Bò Cạp leo lên cây xoài mút canh chừng xem tụi Mỹ ở Đổng Dù có vô không? Tuy cũng khổ nhưng mấy ảnh còn có khoai, mì đào lên để luộc ăn thay cơm, còn tụi em thì đi đâu cũng gói cơm theo. Có khi ăn khín của mấy đứa nhỏ chăn trâu từ ngoài Cây Trôm thỉnh thoảng ló vô trong này! – Nàng vừa nói vừa liếc tôi, rồi đột nhiên hỏi – Sao anh không tìm chị Hai đi?

– Bận rộn thế này, có thì giờ đâu mà tìm, em?

– Anh lựa chọn kỹ quá, hay anh có hứa với ai?

– Hứa…thì cũng có hứa, nhưng phải chờ ngày dứt chiến tranh mới thực hiện được.

– Xin lỗi người ta nhé. Anh hôn em một cái kỷ niệm đi.

Tôi chỉ nắm tay nàng nâng lên và khẽ đặt một cái hôn:

– Anh hôn bàn tay em để em bóp cò súng chính xác cho Năm Cội nhờ!

Nhìn ra phía Quốc Lộ I tôi hãy còn thấy mấy chiếc xe đò lù mù trong sương sớm. Tôi hình dung má tôi đang trên đường vềé Tôi nghe hai giọt nước mắt rơi. Tôi vội gạt nhanh và quay mặt đi, không cho Lan thấy. Lan nói:

– Anh nên nhớ mấy nơi em chỉ, để sau này giàn quân thì biết đường tiến thối. Kia là xóm Gia Bẹ, còn đó là Truông Viết rồi kế là Sở Ba Lăng sát với Bàu Tre. Đường Hai Làng chạy ra Gia Bẹ thẳng xuống Cây Sộp trước cổng Đồng Dù, đụng Ngã Tư Trùm Tri tức là lộ 8.

Tôi đã từng xuống Phú Hoà Đông một lần (gặp Bảy Nô) nên biết đường Một Làng, đường Hai Làng còn phía trên là Bò Cạp, Bàu Chứa, Bàu Tròn. Các xóm này đều ngăn cách Đông Dù bởi con suối Bà Cả Bảy. Con suối này chảy từ ngả Ba Sòng đổ xuống Gò Nổi, Trung Hoà ra rồi mới cắt ngang cánh đồng Bàu Chứa với hương lộ số 2. Nó bao vòng phía Bắc Đồng Dù rồi giáo ranh Tổng Thế trước khi đổ ra sông Sàigòn. Tôi hỏi Tư Lan:

– Em có tham gia xây dựng vành đai thép không?

– Đai thép là cái gì hở anh?

– Hồi mới đến đây công tác anh được cấp trên phổ biến rằng Đồng Dù bị siết trong vòng đai thép. Lính Mỹ không dám ló đầu ra vì sợ súng du kích tỉa!

– Hổng biết có ở đâu không ! Chớ em cầm súng đã bốn năm mà em chưa nghe ông du kích nào nói đến cái đó cả.

Các xóm Phú Hiệp, Cây Sộp, rừng cao su, Sở Bà Hộ đài lên Bò Cạp, Bàu Chứa, Bàu Tròn cả Bàu Trăn của xã Phú Hoà Đông và Nhuận Đức đều bị xe tăng càn ủi trống trơn. Còn phía trên Quốc Lộ 1 thì các xóm Gia Bẹ, Xóm Mới, Truông Viết, Trảng Lắm cũng bỏ ra Trung Hoà và ấp chíến lược Cây Trôm. Du kích Phước Hiệp còn phải ly hương chạy tuốt lên Bàu Điều thì vành đai nằm ở đâu? nếu không ở trên đài Giải Phóng và đài Hà Nội hoặc trong sự tưởng tượng của ông Tám Quang? Đột nhiên Tư Lan hỏi:

– Anh có muốn mạ vàng không?

– Trời! cái thây anh như vầy, lấy vàng ở đâu ra mà mạ.

– Anh khỏi lo. Anh chỉ cần đào một cái hầm bí mật rồi chun xuống đó chỉ một ngày, leo lên, cả người anh sẽ vàng như nghệ.

– Tại sao vậy?

– Đất ở đây ngập nước và phèn đọng dữ lắm!

Chúng tôi ghé nhà má Hai, má của chị Cảnh xin cơm ăn. Lan cho biết ở cái xóm Bàu Điều nhỏ bé này cũng có vài ba ông mùa thu về đóng chốt. Ở nhà kế bên là nhà bà Bảy, má của Tư Nở. Sau mấy trận đụng Mỹ ở Sa Nhỏ, Lộ 6… cán bộ của đại đội 3 tiểu đoàn Quyết Thắng chết nhiều quá. Tư Nở ở trên R về làm đại đội phó C3 cũng bị thương. Sau khi lành, được về nhà ở Bàu Điều hơn mười ngày thì làm đám tuyên bố và chỉ một tháng sau bị thương ở Suối Cụt phải cưa giò, được cho về R an dưỡng nhưng ổng từ chối. Ổng về ở nhà vợ, chống nạng gỗ đi khắp xóm.

Ngoài bom, pháo, Nở không sợ gì nữa. Bên Việt Cộng không xài, còn bên Quốc Gia thì cũng không đánh làm gì một phế binh. Người trong xóm bảo:”Cụt giò như Tư Nở thế mà sướng. Khỏi chui hầm bí mật mà cả hai bên đều chê, không dám đụng tới! Thiệt là khoẻ vô cùng!”

(Sau năm 68 chính mảnh đất nước mặn đồng chua này đã chôn vùi thân xác lẫn tên tuổi của Ba Kiên, anh hùng Điện Biên. Vô đây được phong chức Tư Lệnh phó Quân Khu.

Sẽ kể chi tiết ở quyển sau)

Cũng ở đây, người em ruột của Năm Tiền (Trung đòan trưởng của bộ tác chiến Quân Khu) tập kết mới về mấy ngày cũng chết, bỏ lại một vợ hai con là thằng Cào 14 tuổi, con Thanh 18 tuổi. Năm Tiền đem đi theo hụ hợ.

Goá bụa cho đàn bà, chết chóc cho đàn ông. Không ở đâu như ở Củ Chi. Lại cũng ở xóm này thằng Rắc biệt kích chết hụt vì mình Trung Quốc. Nó vừa đi qua thì một tên lính bước tới đạp trúng, nổ tan xác. Nó về đồn lập một cái miếu nhỏ để thờ Thổ Địa đã không vùi hắn dưới đất.

Tôi ghé vào quán bên đường mua một chai đế, một chục rê thuốc giồng, mấy cuộn giấy quyến trao cho Tư Lan như một món quà đền ơn nàng đưa đường.

– Em về nói anh tặng cho ông già.

– Sao anh biết ba em ghiền rượu?

Tôi chỉ cười, phút chia tay không một hứa hẹn. Từ đó tôi không gặp lại nàng nữa.

Từ đây trở vô rún Củ Chi thì đi với hai cậu trinh sát của tôi khá an toàn. Tới quán Chín Khuân tôi tấp vào kiếm cái gì bỏ bụng rồi lội tiếp. Gặp nàng, tôi chưa kịp nói gì thì đã bị nàng a-lát-xô. Nàng hôn tôi túi bụi, vừa hôn vừa làm bàn:

– Quỉ mắc dịch đâu á. Hổng hun em thì em hun đại.

Nàng hôn như mưa rồi buông tôi ra. Thằng Thuận và thằng Thưng vỗ tay cười ha hả. Chín Khuân kêu thằng Thưng bằng chú lớn.

– Mày làm gì vậy con nhỏ?

– Hun anh Hai chớ làm gì?

– Bộ mày thương ổng rồi sao?

Chín Khuân vênh mặt:

– Ừ đó! Rồi sao?

– Thương thì thương chớ đâu có sao?

Đang ngồi ăn bánh ú thì liên lạc chạy tới, thở hồng hộc:

– Anh ở đây mà tôi tưởng anh còn ở ngoài Mít Nài với chị Út.

Rồi hắn đưa cho tôi một lúc hai cái thơ hoả tốc. Lại hoả chạy bay tóc. Một cái của D phó Chín Câu, một cái của E trưởng Ba Châm. Tôi mở ra.

Anh Hai,

Về mau. Mình làm một bữa tiết canh rồi kéo xuống quê hương Bảy Nô nghĩ dưỡng quân vài ngày. Tôi đã cho C3 và C4 hành quân. Còn đợi anh nữa thôi.

Chín Câu.

Thơ của Ba Châm chỉ có mấy chữ, nguyên văn như sau:

Đ/c Lôi,

Được thư tôi, đồng chí đìu động xuống Phú Hào (Hoà!) lặp tức. Mọi kế hoạc đã xẵn xàn. Chờ đồng chí.

Ba Châm.

Tôi giục mấy cậu trinh sát đi thẳng lên đầu trên xóm Sa Nhỏ gặp Chín Câu ăn tiết canh xong sẽ bàn kế hoạch hành quân. Chắc Ba Châm cũng xáp vô đó. Chín Câu là dượng rể của dũng sĩ Bảy Mô. Anh tập kết về được vài năm. Vợ con cả bầy đứa nhỏ nhất đã 10 tuổi. Nghe tôi nói, Khuân bảo:

-Ông Chín Câu chết rồi!

Thưng hét:

– Con nhỏ nói bậy đi! Thư hoả tốc mời anh Hai về nhà ổng ăn tiết canh nè. Coi hôn?

– Ừ! thì về đó đi đám ma luôn! Ổng bị một trái pháo mồ côi Trung Hoà hồi hôm qua. Ổng ghé đây mua một chai đề và vài món lặt vặt. Tôi hỏi ổng đãi ai. Ổng nói đãi bạn. Té ra là anh Hai. Ổng còn nói đi về nhà bắt hai con vịt.

Tôi đứng sững sờ không còn biết nóigì. Chín Khuân tiếp:

– Tới tối thì y tá C3 đến mua đồ nói ổng chết rồi. Bị trúng có cái miểng nhỏ xíu sau ót mà chết.

(Giống y như trường hợp thằng Chi ở Gò Nổi lúc di chuyển pháo bắn Trung Hoà, bị Trung Hoà bắn trả, giết một D phó)

Chín Khuân còn nói thêm:

– Anh Hai kỳ này đi đánh Tân Qui phải cẩn thận đó.

Thưng quát:

– Bậy nào! Ai bảo mà mày biết!

– Ở đây đồng bào hay hết rồi! Nghĩa trang đã đào sẵn huyệt kia kìa!

Thưng càu nhàu.

– Con nhỏ này nói chuyện nghe ghê bỏ mẹ!

Quả thật ở đây cái chết là vậy,
Mới thấy đó bỗng nhiên liền rụm đó
Hỏi ở đâu? Chỉ ở Củ Chi.

Bảy Chính C phó có lần đùa với cô Hai Lơn ở ngoài Đồng Lớn. Mẫu chuyện đã thành giai thoại.

– Ở đời này em muốn cái gì anh cũng cho em dc!

– Em chỉ muốn tiền.

– Anh cho em cả người anh, không trừ cái giống gì hết, em có nhận không ?

– Cho tiền thì em nhận, cho người thì không. Vì mắc công lập bàn thờ.

– Em ơi! Cho anh ngủ với em một đêm để sau này em có Bảng Vàng Danh Dự mà treo trong nhà hãnh diện với người ta .

– Thôi đi anh ơi. Thời buổi này lấy chồng đánh xe bò, làm ruộng chắc ăn hơn.

– Đánh xe bò cũng không chắc nghe mậy! Ông Hai trong tổ đánh xe bò của má mày cán mìn của du kích banh xác cả người lẫn bò thì sao? Ông Mười cũng vận tải gạo bằng xe bò bị pháo cũng chết. Có cái gì chắc đâu mậy!

Mà thật, sau đó ít lâu Bảy Chính chết trong trận đánh xe tank càn vào Bàu Đưng. Không một cán bộ đại đội nào còn sống sót sau khi chiến tranh kết thúc. Cái đáng nói là chết vì bom đạn rất nhiều mà chết vì mìn lựu của quân ta cũng không ít. Ở trong vườn thì quân Mỹ không đi tới, nó chỉ cho xe tăng ủi và bắn pháo, do đó du kích đem mình và lựu đạn ra gài ở ngoài đồng, chiến sĩ, cán bộ ta hay đi tắt còn nông dân thì đi làm ngoài đồng đạp phải. Có anh du kích gài xong luýnh quýnh đạp trái mìn của mình gào. Có anh lại đạp lựu đạn gài của đồng đội. Tội nghiệp thay có anh đi đồng cũng đạp mìn. Đau đớn hơn nữa có anh không rành cách xử dụng làm mìn nổ trước khi gài. Nhất là mình Trung Quốc, loại mình này (do Tám Nhiên trên R xuống chỉ dẫn cách xử dụng) đã giết quân ta bộn.

Đau buồn nhất và cũng trớ trêu nhất là Năm Tiều là người thông thạo các thứ vũ khí và là cán bộ trung đoàn lại chết vì một trái mìn Trung Quốc do bộ đội gài, cũng trên cánh đồng trứ danh Sa Nhỏ.

Tôi phải đến vĩnh biệt Chín Câu. Cảnh tượng thấy hết dám nhìn. Bà vợ và bầy con đứng bên quan tài, đầu bịt khăn trắng lớp. Chín Câu nằm im trong hòm gỗ. Tôi không kịp vuốt mặt anh nữa. Củ Chi mênh mông với bàn chân vạn dặm lội bộ của tôi nhưng vô cùng bé nhỏ trước họng pháo và dưới cánh B52. Chúng tôi chôn Chín Câu ngay trong khu vườn của anh. Như vậy cũng toại nguyện cho vong hồn anh vì lúc ở Bắc, chúng tôi thường nói với nhau, có chết thì ráng lết về Nam mà chết.

Trên đường về lúc đi ngang Ba Sòng, tôi ghé lại nghĩa trang để đốt nhang trên mộ thằng Chi và khấn vái vong hồn nó phù hộ chúng tôi. Lúc nó nằm xuống thi mảnh đất này mộ còn thưa thớt, bây giờ thì đồng đội ta chen chút với nhau. Gai mắc cở cùng cỏ hoang tràn lan hầu như phủ che kín mít. Tôi phải tìm hồi lâu mới nhận được mộ thằng Chi.

Chúng tôi đi vào Bàu Đưng rồi cặp theo rừng Làng Chắt qua sở Đất Thịt tới xóm Trại Bà Huệ. Dấu xích xe tăng còn hằn sâu hoắm trên mặt đất. Tre trúc trong vườn cháy đen còn bốc mùi khét khắp cánh đồng. Không còn một nóc nhà nào ló nóc trong vưòon như cách đây mấy tháng. Sư đoàn 25 của Mỹ vào dẫm nát Củ Chi.

Chúng tôi đến hầm Maginot của Năm Lê để nhận lệnh mới. Sự rào rắp hòng ngự càng rườm ra và trắc trở thêm lên. Chu vi an toàn càng mở rộng thêm ra. Không biết ông xã đội trưởng Ba Xây bị bắt trong trận tổng ruồng Junction City nay ở đâu. Đã đi đày hay được trở về câu tôm tiếp tế cho gia đình ngoài ấp chiến lược? Tôi không dám đi đến gần hầm Năm Lê chỉ đứng xa xa réo to lên. Có tiếng quát trả:

– Ông nội nào la um vậy?

Nhận ra tiếng quen, thằng Thưng chỉ cười gằn:

– Ông cố nội tụi bây chớ không phải ông nội đâu!

Một chốc có người xuất hiện bên hàng khoai mì còn xanh. Hai gã bảo vệ trông thấy tôi reo lên:

– Anh Hai mà tụi này tưởng ai!

– Tụi bây rào chà tre như lưới cá, tao không biết ngã nào mà vô.

– Biệt kích xe tăng dám tới đây lắm anh ơi.

– Tụi bây làm vầy chẳng khác nào bảo chúng nó: Lạy ông con ở bụi này!

– Ông lớn bảo, không làm được sao?

Tôi nhìn ra Tám Nghi, thượng úy, tay xạ thủ trứ danh từng chiếm huân chương ở Đông Âu trong cuộc thi bắn tám nước XHCN, vẫn còn ở đây. Mái tóc bơ phờ như đám tre bị bom, còn cái mặt thì dài ra, trông không giống thuở nào nữa. Hai đứa ôm mừng nhau trào nước mắt. Tôi hỏi Nghi về ông Ba Xây. Hắn bảo:

– Ngày nào cũng nơm nớp lo sợ ổng dắt Mỹ và biệt kích về. Du kích thì chạy ra Bến Mương không còn đứa nào ở đây để nhờ cậy nữa.

Tám Nghi dắt tôi lách qua những ngách hang vẫn như trước để bệ kiến ông Thần Núi rồi hắn lui ra ngay. Lần này Năm Lê có thêm nhiều nếp nhăn trên trán và ở hai bên khoé miệng. Dưới ánh đèn cầy lờ mờ hiện rõ lên nước da vàng ngoách của anh. Năm Lê bắt tay tôi và hỏi ngay:

– Bà già mạnh hả?

– Dạ cám ơn anh, tôi gặp má tôi mà tôi tưởng là bà ngoại tôi hồi ở Tân Bửu.

Câu nói hồn nhiên của tôi làm cho anh sững sờ một thoáng. Anh nói:

– Đã hai mươi năm rồi chớ phải hôm qua sao mậy?

Làm việc với tôi, anh luôn coi tôi như là em út hơn là cán bộ cấp dưới của anh. Và tôi cũng cảm thấy anh là một người anh đầy kinh nghiệm và mưu lược ở chiến truờng hơn là cấp trên của tôi. Bằng một giọng xúc động anh nói:

– Bà già tao ở dưới Bạc Liêu còn sống hay chết, tao cũng không biết.

Lần này không ngồi lâu trong hầm, mà anh dắt tôi ra ngoài, ngồi ở gần bờ tre. Tôi có cảm giác anh là cái cây sống trong chậu úp, là con cọp chỉ ở trong hang. Chỉ ở trong hang thì cọp đâu còn là cọp? Anh vô đề ngay.

– Mày rành địa hình ở Tân Qui không ?

– Dại chỉ biết trên bản đồ.

Anh bẻ nhánh chà tre vẽ dưới đất và giải thích:

– Đây là đường số 8. Đây là đường 15. Gần ngã ba là chi khu Phú Hoà. Tụi Sàigon đang đóng dã ngoại trong vườn cao su ở phía Tây chi khu. Còn đây là Đồng Dù. Phía bên kia là thị xã Bình Dương. Trinh sát báo cáo tụi nó đang căn lều trong vườn, không có công sự gì cả. Nhưng tao không tin lời báo cáo ẩu đó. Mày nhớ hồi 46 đánh đồn Bến Súc không?

– Dạ nhớ chớ anh Năm.

– Cũng do sự tiên liệu ẩu của ban chỉ huy, mình đào hầm chưa tới đồn mà tưởng là ở giữa đồn rồi nhô đầu lên là bị nó tiêu diệt gần hết đơn vị. Người chỉ huy hiện giờ trong tình trạng bán du kích bán chính quy chỉ có một cách tiết kiệm xương máu anh em là phải rõ địa hình trước khi giàn trận. Sở dĩ mày đánh Suối Cụt chớp nhoáng gọn gàng là nhờ nắm chắc địa hình. Đừng bao giờ tin ở trinh sát 100%, thậm chí 50% nghe tụi nó báo cáo, phải kiểm tra mới chắc- Rồi anh tiếp- Đánh trận này chậm nhất là nửa giờ phải rút ngay, nhanh là mười phút. Pháo Bình Dương sẽ câu qua chớp nhoáng. Trên đường rút lui sẽ bị sát thương nhiều hơn ở trận địa.

Anh từng là Tư Lệnh pháo Sư đoàn nên nói rõ thêm chức năng của pháo:

– Pháo là linh hồn trận địa. Liên Xô bị Đức tấn công bất ngờ là một yếu tố, nhưng còn một yếu tố nữa. Đó là nó bắn đến mật độ một quả cho một thước vuông. Xong cho xe tăng càn nhẹp hết rồi mới tới bộ binh. Tụi Sàigòn bây giờ cũng chơi kiểu đó! Nó giã cho nhừ đất rồi mới đổ quân.

Anh ngừng một chốc rồi tiếp:

– Mình biết cái chiến thuật của nó nhưng không có cách phá. Chỉ có một cách là ráng gồng mình đội bom pháo chờ tụi nó đổ quân tiếp cận mà đánh bằng súng bộ binh thôi.- Anh thở dài – Xương máu đầy đồng. Hi sinh nhiều quá!

Anh có vẻ suy tư. Trán anh nhăn cộm lên như giồng khoai:

– Tao không hiểu nếu bỏ Napoléon vô Củ Chi này thì nhà quân sự thiên tài đó sẽ xoay sở ra sao? Chắc chắn đây là một Waterloo thứ hai của ổng.

Rồi anh vỗ vai tôi:

– Cố gắng nhé. Tôi đã chỉ thị cho Ba Châm rồi, nhưng y già, chậm lụt và quen kiểu đánh Pháp, sợ không thích hợp với Mỹ đâu. Tôi cũng đã bảo Năm Tiều xuống góp ý với Ba Châm! Bây giờ còn sớm, cậu ở ăn cơm chiều với tôi.

– Dạ cám ơn anh Năm, để khi khác! Bây giò tôi phải dông ngay cho kịp đơn vị.

Anh kèo nào:

– Tao có lít rượu nếp than đây mà chưa uống, mày ở lại làm vài ly!

Biết tôi không muốn ở lại, anh bảo một cậu bảo vệ đem chai rượu ta. Màu rượu tím than ngon lành. Thứ này uống ngọt và say đằm chớ không hỗn như đế. Anh rót cho tôi một ly bầu, và bảo:

– Uống hết đi, cho nóng máy.

Tôi rốc cạn một hơi rồi đứng dậy. Anh bước theo tôi:

– Còn vụ vợ con mày ra sao rồi?

– Dạ, tôi chưa tính gì hết anh Năm.

Anh ngần ngừ một giây rồi nói:

– Băm mấy rồi?

– Dạ 34 ta, 33 Tây.

– Đây rồi cha già con muộn. Khổ lắm em ơi!

Anh vỗ vai tôi lần nữa, rồi ôm chầm lấy tôi. Chúng tôi chia tay lặng lẽ trong ánh chiều vàng vọt yếu ớt rơi trên những đọt khoai mì lắc lư trong gió nhẹ.

Tám Nghi đích thân dắt tôi ra khỏi vành đai bố phòng. Năm Lê đã sấp lưng vô hầm còn quay lại bảo Tám Nghi:

– Cậu dắt tụi nó, kẻo lớ quớ đạp mìn lãng nhách.

Tám Nghi nói:

– Lần này mày đi Tân Qui là đụng Trung đoàn 7 của Sư đoàn 5. Tuị nó xơi gần rụm Tiểu đoàn Phú Lợi mầy biết chớ?

Chúng tôi bắt tay nhau. Tám Nghi nói nhỏ rí:

– Chúc mày thành công.

Tôi và mấy cậu trinh sát nhắm Bến Mương trực chỉ. Xa H6 đã khá lâu, tôi nhớ như nhớ nhà. Đó là quê hương thứ hai của tôi. Nó mang nhiều thành quả trong một năm trời tôi chỉ huy H6. Nay trở lại xem nó ra sao. Đường đất bây giò hoang tàn. Trước kia mỗi lần vào làm việc với Năm Lê tôi đều đi xe đạp. Bây giờ thì không được nữa. Đường bị bom cắt đứt như thân rắn bị chặt ra nhiều khúc. Lòng tôi xao xuyến như thưở bé đi học về gần tới nhà gặp má.

Tới nhà Năm Giáo và Sáu Lễ, nơi cái địa đạo băng xuyên qua vườn, nơi tôi chết ngộp và được cứu sống bằng mảnh vải tẩm nước tiểu của cô Thu nuôi quân.

Cây cối ngã liệt địa, vườn tược trống trơn. Tôi sững sờ nhình thấy bên kia vườn má Hai: Bốn ngôi mộ song song. Cả gia đình má nằm đó: Má, vợ chồng thằng Út và đứa con năm tuôi vì xuống hầm mà chết ngộp. Ngôi nhà ngói của má đã dời đi đâu rồi. Chỉ còn lại cái nền với một miệng hố ở giữa toang hoác như cái mồm gớm ghiếc của Sáu Vi khi hắn ra lệnh tấn công (nướng quân) “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh “.

Ngôi nhà của má Mười chỉ còn một chái gần cây vú sữa phiá mặt trời lặn. Vắng hoe không một tiếng người . Gốc cau thân dừa đều mang vết thương. Còn tôi thì mang vết thương trong tim. Một cảnh điều tàn bày ra trước mặt tên lê dương khiến hắn chạnh lòng trong giây phút. Tôi bước đến dãy mồ bỏ ba-lô xuống, lấy bó nhang ra bật lửa đốt và cắm lên các đầu mộ. Bọn thằng Thưng, Thuận và Xướng ngó tôi với cặp mặt lạ lùng . Chúng nó không ngờ tôi làm như vậy. Tôi khấn vái:

– Xin vong hồn má Hai, vợ chồng em Út và cháu bé phù hộ cho chúng con…

Tôi nghẹn ngào không nói được nữa. Tôi quệt ngang nước mắt rồi xốc ba-lô lên vai. Xướng nói:

– Anh Hai còn nhang cho em ít cây để cắm mộ má.

Tôi đi ven theo bờ, bước lên những mô đất còn nguyên đi xuống bến sông nơi đã ghi biết bao kỷ niệm êm đẹp của tôi ở H6 này. Gốc dừa to còn đứng đó, chưa bị thưong nhưng chừng nó gầy đi đôi phần. Cái bẹ dừa nơi vợ thằng Út nhét cục xà-bông thơm để anh Hai tắm, đã rụng từ lâu. Cục xà-bông còn bằng ba ngón tay tôi cất vào đó để tắm lần sau, chắc đã bị mưa tan lâu rồi, nhưng mùi hương vẫn còn phảng phất đâu đây. Cây dừa um tùm nghiêng ra mặt nước , trước kia chim chóc đều ăn trái chín vẫn còn đó, nhưng không còn một tiếng chim. Nơi cái bến hạnh phúc này tôi đã hôn Lan, đã tập cho nữ phóng viên Nhã Nam bơi… Nhưng nó lại trở thành cái bến oan nghiệt của một đoá hồng nhan: cô văn công R Thiên Lý. Nàng trở về thăm nhà và đã nhảy xuống sông tự vận khi thấy cả gia đình đều năm dưới mộ. Chính chúng tôi đã cứu sống nàng và tôi đã đưa nàng ra Quốc Lộ để nàng đi ra sống với bà dì ngoài thành, vĩnh biệt ánh sáng sân khấu R. Cho tới này tôi vẫn nhớ như in nét mặt của nàng. Má Hai đã từ ngoài ấp chiến lược về để xem mặt tôi và chị ruột nàng âm thầm nuôi ý định xe duyên cho tôi với nàng.

Tất cả những cuộc tình duyên đậm đà của tôi đều tan vỡ. Dòng nước chảy mạnh từ Cây Điệp ra và Rạch Sơn như cuốn băng đi những mảnh tim tôi tung ra sông lớn chảy ra khỏi thành bọt biển tan tác bốn phương.

Bỗng có tiếng gọi:

– Anh Hai! Anh Hai!

Tôi quay lại thì thấy thằng Đỏ. Nó là liên lạc, là cận về và là bạn tâm tình của tôi. Hai anh em đã nằm khoanh bên nhau dưới cái hầm không nóc, nhưng có lớp rơm mà ngủ những giấc tuyệt vời, ngày tôi về nhậm chức ở H6.

Đột nhiện tôi buông tiếng hỏi:

– Tám Lù còn ở đây không?

Tám Lù là ấp đội trưởng ở bên cạnh cơ quan, có ý định đưa chồng Út đi dân công để ở nhà ve vãn vớ Út, nhưng tôi thu nhận cả hai vợ chồng Út vào tổ sản xuất cho H6. Rồi Tám Lù đã trở thành công tác viên và đồng hành dưới địa đạo của tôi trong trận tôi chết hút. Thằng Đỏ đáp:

– Không rõ ảnh đi đâu mất tiêu.

Trên chiếc băng gỗ tôi thấy chiếc quần cũ. Chắc là thằng Đỏ đang vá quần.

– Mày có về thăm ngoại không Đỏ?

– Dạ không?

Tôi vừa đến văn phòng cũ của tôi thì thấy vợ chồng Thu-Quản. Chắc họ đã móc được gia đình. Tôi thấy Thu đeo ba-lô ngược. Nàng đã có bầu. Trời ơi! Có bầu ở đây rồi đẻ ở đâu hỡi Trời. Có lẽ họ cũng nghĩ đến chuyện đó. Kệ nó! Đó cũng là đường lối của đảng. Tôi không còn biết hỏi thăm ai nữa. Vì hầu hết đều văng mặt, thay đổi từ ngày Năm Thủ về thay tôi. Năm Thủ với vẻ mặt không hào hứng lắm dắt tôi đến nhà Sáu Phấn, người chánh trị viên thời Hai Giả, thời Thiên Lôi và bây giờ vẫn còn là chánh trị viên H6. Mặt Sáu Phấn tóp lại, hàm răng trên nhô ra, nhìn tôi với cặp mắt mừng rỡ.

– Thầy Hai!

Rồi y oà lên khóc. Một thằng đàn ông trên bốn mươi tuổi đầu mà khóc như vậy làm tôi bỡ ngỡ không biết nói sao. Cái mặt của y méo xệch trông thật thảm thương. Tôi hỏi:

– Chị Sáu đâu anh?

– Ra Phú Hoà Đông hết ráo rồi. Dì Mười và con bé Hoàn không có trở về. Chỉ nhắn thăm.

Tôi nhìn qua nhà Mười, tổ ấm của chúng tôi mới hôm nào này xiêu vẹo hoang tàn. Tim nghe đau nhói. Còn biết nói gì khi chẳng có người nghe những lời âu yếm của tôi.

Sáu Phấn đánh tan sự im lặng:

– Thầy ghé đây rồi ra Tân Qui hả?

Tôi không đáp, bụng nghĩ thầm: Sao ai cũng hay tin hết vậy? Từ quán Chín Khuân vô tới đây. Thì ra ngoài đó chắc cũng rõ. Đánh làm sao?

Tôi và Năm Thủ ở lại nhậu với Sáu Phấn. Y than:

– Từ sau trận Mỹ xúc cả heo nái lên trực thăng tới nay, đồng bào xuống tinh thần quá thầy Hai.

– Để dần dần rồi họ lên thôi anh à!

Tôi trở lại căn phòng thì thấy thằng Đỏ đang ngồi chăm chỉ vá cái quần cũ. Hình tượng đó chẳng khác nào quân khu đang cố gắng vá cái quần rách Củ Chi này vậy. Nó đã mục, vá thì cũng tạm lành nhưng rồi sẽ rã nguyên con. Đỏ hỏi:

– Anh Hai không đem em theo được sao, anh Hai?

Tôi lắc đầu.

– Ở H6 bây giờ buồn quá anh ạ. Anh Quản và chị Thu tối ngày ở trong hầm. Cả đơn vị không biết làm gì. Chiếc xuồng đã bể không còn đi chài bắt tôm được nữa.

Bất ngờ, Tám Đột xã đội trưởng đến, tay xách con gà.

– Thầy phải ở lại nhậu rồi có đi đâu thì đi. Thầy rời khỏi H6 rồi cả Bến Mương này buồn hiu. Ông Ba Châm đánh Cây Trôm, khiêng về năm cái băng ca. Trong đó có cái của ông Ba Hà đại đội trưởng nữa. Ông Ba Châm giao cho chúng tôi chôn. Tôi bảo không có ván đóng hòm. Ông bảo: “Không có thì khắc phục làm sao đó thì làm! Du kích du kiếc gì ra trận khiêng chiến thương thì bỏ chạy về hậu phương không chôn được tử sĩ thì còn làm được việc gì?” Tôi. Tôi đành nhận rồi đào lỗ dập chớ biết làm sao? Không có một người dâh. Tôi chạy đi tìm chị Hai Xót thì chỉ cũng đi biệt tích lâu rồi.

Ngẫm nghĩ một hồi rồi y tiếp:

– Anh Hai! Anh tính sao thì tính chớ tụi Mỹ thế nào nó cũng chốt ở An Nhơn. Từ đó vô đây chỉ tàn điếu thuốc. Tụi tôi phải vọt qua sông thôi. Hỗm rày ngày nào xe tăng cũng cà rịch bên Bà Thiên, ngồi ở đây mà nhức xương. Còng cọc nó dội nát dốc cầu Bến Mương. Cường độ chiến tranh tăng lên quá mức.

– Sao nó đánh dốc cầu?

– Nó sẽ san bằng rồi bắc cầu mới đề xe tăng chạy chớ không phải nó bỏ chỗ này đâu.

Chờ khách đi hết Thu mang cái bụng bầu lạch bạch xuống hầm rồi đem lên cho tôi một cái gói bằng chiếc gối đệm.

– Của ai vậy?

– Đố anh biết của ai?

Tôi không đoán nổi.

– Anh mở ra thì biết.

Tôi bóc nhanh lớp ni-lông bên ngoài rồi lớp giấy dầu bên trong. Một bộ đồ và một chiếc khăn trắng có đốm như những chiếc hoa hồng khô. Bên trong chiếc khăn là cái đồng hồ và một bức thư. Tôi đọc nhanh. Dưới cùng ký tên :Mính!

Mính đã yêu tôi và cho tôi hết tất cả trong một đêm Mỹ sắp đổ quân và gia đình chuẩn bị bỏ cái tiệm ở chợ An Nhơn mà về Bình Dương an cư lạc nghiệp.

– Cô Mính có trở lại đây sao?

– Không anh à! Cổ gởi cho người ta.

Như máy, tôi tự bảo thầm: Lại một chữ M dứt đường tờ. Mai Khanh, Mai, Mô, Mính …. Tôi bảo Thu:

– Em đưa anh xem bàn tay nào đã cho anh hửi mùi huile camphée étherée hôm ở dưới hầm.

Thu ngần ngại. Tôi quát:

– Đưa anh xem!

Rồi bước tới cầm tay Thu tròng chiếc đồng hồ vào. Thu la lên:

– Anh Hai! Của người ta tặng anh.

– Anh tặng lại em.

Quản cũng chạy tới:

– Cái đồng hồ đó giá mười ngàn đó anh Hai.

– Còn cái mạng anh bao nhiêu? Không có em anh nằm dưới địa đạo rồi.

Chương 74

Kim Anh: Nàng tiên bên lề cuộc chiến

Hai đại đội do Tư Nhựt dẫn đi đến Tân Qui bằng con đường gập ghềnh xa: toàn những cây cầu khỉ cheo leo, khiêng vác súng nặng té lên té xuống, trấn nước cả người lẫn súng. Nhưng điềm gở báo trước sự thất bại thảm hại của trận đánh này, Tổ trinh sát tiểu đoàn đụng biệt kích Mỹ. Tưởng rằng chúng đã rút hết về ở sở cao su Bà Hộ dè đâu còn nín lại hai chiếc xe tăng phục kích tại Mội Nước Nhỉ, đường 15. Hai trinh sát viên bị bắn chết dọc đường. Tư Nhựt bảo khiêng giao cho địa phương rồi tiếp tục hành quân.

Hai đứa đó là thằng Ức nhà ở đồng Lớn, đứa kia là thằng Lợi, em trai của dũng sĩ Bảy Nê. Tội nghiệp thằng Ức ham súng, mới mười sáu tuổi, đầu quân mới được ba ngày. Cái tuổi đến nhà trường lại bị tung ra chiến trường chết oan uổng. đó không phải là lỗi của Ba Thâm mà là tội của tụi Hà Nội. Hàng vạn thiếu niên đã bỏ mình như thằng Ức. Út Sương C trưởng C3 đi sau tôi thở dài:

– Chắc chết tôi quá anh Hai!

– Gì vậy ?

– Lần này về Đồng Lớn, ghé quán má thằng Ức, tôi biết ăn nói làm sao đây?

Tôi lặng thinh. Trong đầu tôi hiện lên cái nghĩa trang ở Ngã Ba Sòng với những nấm mộ nhấp nhô chỉ có những đoá hoa mắc cỡ tô điểm. Cái mả thằng Chi chưa cháy hết nhang nay lại thêm hai thằng bé. Sau trận Tân Qui này không biết nghĩa trang này sẽ đặc thêm bao nhiêu.

Trong bụng tôi lại gợn lên một nghi ngờ. Sao ở ngoài quán Sáu Khuân lẫn trong bếp ông Năm Lê, người ta đều biết bô đội đi đánh Tân Qui? Làm sao đánh được khi địch đã hay? Tuy vậy tôi vẫn tiến tới và đã cho Ba Quyết đi tiền trạm. Ba Quyết là anh ruột của Sáu Quăn. Cô nàng đã lần bắt cóc tôi ra họp xã ủy ngoài rừng lúc tôi đi nghiên cứu trận địa pháo kích Trung Hoà và Đồng Dù. Ba Quyết có vợ và có một thằng con trai rất kháu. Hắn là một tay súng dũng cả. Đáng lẽ hắn được đề bạt lên C phó, nhưng vì tính nóng nảy nên cứ ở lỳ chức B trưởng. Ra trận đứa nào không xung phong hắn đánh và xách đầu phóng tới. Nhưng trong công tác thì hắn là một cán bộ rất đáng tin cậy.

Đến Mội Nước Nhỉ, chỗ hai cậu trinh sát vừa bị bắn chết, tôi đã ngửi thấy mùi thuốc TNT trong không khí. Cũng may Tư Nhựt cho lượm xác và tẩy vết máu, nếu không bộ đội đi qua thấy sẽ mất tinh thần làm sao đánh được giặc? Đêm nay không nghe tiếng pháo, nhưng sự im lặng này còn đáng sợ hơn là tiếng súng vì tôi biết đó là sự im lặng của bầu không khí bị nén, rồi sẽ nổ ra.

Tôi gặp Tư Nhựt D trưởng lần đầu tiên ở đây. Hắn không có vẻ gì xúc động khi nghe báo tin hai trinh sát viên bị phục kích. Âu đó cũng là một đức tính tốt của một người chỉ huy. Lắm lúc phải lạnh như tiền để tránh sự xao xuyến cho đơn vị. Tư Nhựt bảo tôi:

– Chín Câu xui xẻo quá! Mình ở đây nghỉ rồi mai họp trung đoàn.

Tôi hỏi:

– Hai Phái (chính trị viên D) đâu rồi?

Tư Nhựt cười nhếch mép, ló cái răng vàng ở góc miệng:

– Ổng đang thả dê đâu đó không biết.

Tôi nghĩ thầm:

– Quái lạ! Sắp xuất trận thì ông D phó chết. Trên đường ra trận hai trinh sát viên bỏ mình. Còn ban chỉ huy tiểu đoàn thì mỗi kẻ một nơi!

Vào nhà dân nghỉ ngơi, Tư Nhựt tâm sự với tôi:

– Kỳ này mình tấn công cấp trung đoàn nhưng phương tiện chỉ huy hẽo quá thầy .(Tư Nhựt gọi tôi bằng thầy mặc dù tôi là Tham mưu trưởng D). Không biết rồi ông Ba Châm chỉ huy các cánh ra sao.

Tôi mới về không rõ hiện tình của Trung đoàn. Đúng ra từ trước tới nay nó chưa phải là một Trung đoàn về mặt vũ khí, phương tiện thông tin lẫn quân số. Nó chỉ là một sự tập hợp đầu gà đít vịt của ba tiểu đoàn non nớt về mặt quân số và vũ khí mà thôi.

Tôi đáp lấy lệ:

– Chắc là ở trên đã lo cả rồi. Mình chỉ chịu trách nhiệm cánh mình thôi.

Tư Nhựt hỏi:

– Thầy có quen với ông Năm Tiền sao tôi nghe ổng nhắc tới thầy luôn?

– Tôi biết ảnh hồi chín năm. Lúc đó tôi mới mười sáu tuổi. ảnh chỉ huy đại đội thuộc Trung đoàn 308, còn tôi chỉ là lính lải ở Trung đoàn 300.

Tư Nhựt nói:

– Ổng là anh nuôi của tôi. Ổng là Lê Minh Tiền, còn tôi là Lê Minh Nhựt. Thực ra tên cúng cơm của tôi là Lê Văn Luông.

(Sau này VC lấy tên Lê Văn Luông đặt tên cho một con đường ở Sàigòn)

Tôi lại hỏi Tư Nhựt:

– Kỳ này U của ông Bảy Nô có phối hợp với tiểu đoàn mình không anh Tư?

-Ổng đâu có thích ông Bắc kỳ Châm. Hai ông ấy như nước với lửa. Ổng chỉ hứa tối mai lúc mình nổ súng thì ổng sẽ cho D7 đột nhập chợ Phú Hoà để kiềm chết và thu hút một phần các họng pháo mà thôi.

Rồi Tư Nhựt cho trinh sát dắt tôi đến một cái nhà gần đó nhưng không vào, lại bảo:

– Mấy ổng ở trong đó, thầy vào đi!

Tôi ngó vô nhà trống vách thì thấy cái đầu bạc thì biết là Ba Châm, nhưng sẽ chỉ huy trận đánh này. Kế đó là Út Lịa và Hai Phái, ngồi giữa Ba Châm và Út Lịa là một cô gái đầu quăn đang cười ngã ngớn với các chú bác. Tôi hỏi cậu trinh sát, cậu đáp với giọng không phấn khởi:

– Đó là cô Kim Anh, con của má Hai. Hai mẹ con đang làm công tác gì quan trọng lắm trên R. Hỗm rày bữa nào tôi cũng thấy cổ đạo xe ra chợ Phú Hoà Đông. Chắc mấy ổng nhờ làm chuyện gì . Thầy vào đó thì biết. Cỡ tụi tôi cổ đâu có thèm ngó.

– Chắc là thứ dữ.

– Cô ta làm em nuôi tất cả mấy ông lớn ở đây. Chị Bảy Nô ghen muốn sập trời. Thôi anh vô để mấy ổng đợi và hư tiết canh hết.

Tôi bước vào thì thấy đủ mặt bá quan văn võ. Có cả Bảy Nô và Tám Thiệt, chính trị viên D7 của Bảy Nô. Hai ông này là cột chèo với nhau nhưng không phải lấy hai chị em mà là…hai mẹ con. Út Lan là vợ của Bảy Nô, còn Tám Thiệt lại cuỗm má Út Lan. Cho nên lính bảo: ông dê trưởng là rể ông dê chánh. Toàn .

Đã nghe mùi mỡ hành bay từ sau bếp bay lên tới trên này.

Cuộc bàn cãi về trận đánh kết thúc rất nhanh. Không có ý kiến gì trái ngược. Rồi Bảy Nô nói:

– Bữa nay vợ tôi đãi mấy ông một bữa tiết canh.

Hai Phái buột miệng:

– Tiết canh xui bỏ mẹ, lại tiết canh!

– Nhưng đây là tiết canh của chị Bẩy không phải của Chín Câu!

Ba Châm cào cào mấy sợi tóc loe hoe trên cái đầu hói, cười:

– Vái trời bữa tiết canh hôm nay cho trót lọt!

Năm Tiều đập vai Bảy Nô:

– Vợ mày mà đãi tiết… canh ai ăn thì ăn chớ tao không dám.

Bảy Nô phản ứng:

– Chắc ông thích tiết canh của bà Hai Nguyện phải không?

Cả bàn cười rần. Bảy Nô lại tiếp:

Tiết canh của bả có rắc đậu phọng dòn dòn, dĩa to bằng hai bàn tay xoè.

Cả bàn lại cười to hơn nữa.

Hai Nguyện là vợ bé của Năm Tiều. Năm Tiều có hai con đã lớn, nhưng lúc Năm Tiều ở ngoài Bắc không biết hiền thê bị con ong bầu nào bé cái nhầm mà khi đức lang quân phản hội cố quán thì bà có thêm một thằng con trai năm tuổi. Năm Tiều không bỏ mà cũng không ở hẳn. Cứ đi đi về về thăm con nhưng đồng thời nại cớ để qui thêm một bà để lau colt chùi súng cho ông. Lính cười ông lâm cái cảnh con vòng con cởi thì ông cười hề hề:’Thời buổi chiến tranh này, sống chết nhấp nháy, vui được ngày nào hay ngày nấy.’ Cấp trên thấy ông đã già, vả lại vợ ông cũng xé rào nhà nên cũng làm lơ cho ông.

Út Lan nhỏ hơn chồng chừng hai chục tuổi. Không rõ chị yêu Bảy Nô ở chỗ nào. Có lẽ cây súng đeo tòong teng đó chăng? Đàn bà con gái mấy ai hiểu nổi. Thấy mấy cha già chế diễu, chị bèn ra miệng:

Tiết canh của ai chớ của tôi thì hên và bổ lắm. Mấy ông bạc đầu ăn một dĩa tóc đen lại liền! Còn đi ra trận thì oánh đâu thắng đó!

Đám trẻ cười, nhưng không dám cười lớn tiếng, chỉ liếc nhẹ Năm Tiều và Ba Châm. Năm Tiều gỡ gạc:

– Nếu vậy thì sao thằng Nô tháng nào cũng ăn mà đầu nó cứ bạc ra như lông chó cò vậy hả bà dê trưởng?

Ba Châm phản công tiếp:

– Tại nó ăn không đủ liều lượng nên tóc nó chưa đen.

dê trưởng nổi cáu nhưng cố dịu giọng:

– Mây ông không ăn thì thôi!

Rồi quay sang tôi:

– Anh Hai xuống phụ em bưng lên. Anh đừng có bắt chước mấy ông già đó tối ngày cứ tu ba cái đế mà xuống dốc.

Năm Tiều lại bắt mánh:

– Tu đế mới lên tinh thần chớ … hả mày Nô?

Út Lan đã quay lưng đi xuống bếp. Năm Tiều rỉ tai Bảy Nô:

– Mày có nghe câu này không? L.. rằng l.. chẳng sợ ai – Rồi nói to lên – chỉ sợ thằng say rượu …hé hé…

Tôi bị chỉ định làm phụ bếp, nên đi ra sau tiếp tay với chị Bảy.

Chị hỏi ngay:

– Anh có nghe tin con Mười không?

– Dạ không?

– Nó lấy sĩ quan Sàigòn rồi!

Tôi chống chế:

– …à!..Tôi có nghe chuyện đó! Nhưng tôi nghĩ cũng phải thôi. Đàn bà không có đàn ông, ở một mình sao được, nhất là ở giữa chợ.

Tôi nghe đau điếng trong lòng, nhưng cố giữ bình tĩnh, nói đỡ gạt cho qua.

– Anh không nên bi lụy vì nó! Đàn bà là vậy hết thảy…

Rồi đột nhiên chị nói to lên:

– Tôi đây cũng vậy nữa là nó!

Tôi nhìn chị, không hiểu chị muốn nói gì. Chị tiếp ngay:

– Tôi cũng chán đời lắm, anh Hai ơi! Anh Bảy có tôi bên cạnh kè kè đây mà ảnh cũng quơ quạng bắt hụt cô này cô nọ hoài hoài. Anh thấy con nhỏ đầu quăn đó không ?

Tôi bưng ngay mâm tiết canh lên bàn rồi không trở xuống nữa. Vì cảm thấy bà dê trưởng sắp mở màn…. Không khéo ông dê trưởng nổi cáu thì hỏng bét. Đàn ông là vậy. Mình có mèo thì được nhưng vợ mình thì không được ngó ông nào.

Bàn nhậu vui vẻ. Mấy ông thần vừa ăn vừa khen tiết canh của vợ Bảy Nô ngon. Còn tôi làm thinh cứ nốc rượu hết ly này đến ly khác, đến mức tôi uống như nước lã. Tôi cảm thấy buồn tình… đời.

Bảy Nô khuyên tôi:

– Mày không nên buồn! Đàn bà nay thằng này mai thằng khác. Mày ra trận nó còn vái cho mày cum để nó kiếm cây pháo mới. Con Mười đã có con còn mày là trai lơ mà! Các bà hĩm ở Thanh Hoá còn ngon hơn con nhỏ đó nhiều. Mấy con dũng sĩ không bằng nó hay sao mà mày buồn?

Năm Tiều bảo:

– Thây kệ nó. Cho nó uống say để nó quên đời. Vua chúa ngày xưa xiêu thành đổ quách cũng vì mỹ nhân. Thằng này cũng không thoát khỏi cửa tò vò đó.

Bỗng nghe tiếng véo von ngoài cửa:

– Chị Bảy, ở đằng này có đế không cho em mượn đỡ một chai . Ở đẳng hết cạn rồi! Mấy ổng hò hét dữ quá!

Tôi nghe tiếng quen quen bèn ngó ra. Chập chờn trước mắt tôi một mái tóc quăn. Tôi vẫy tay:

– Quắn! Em đi đâu đây?

– Em đi phục vụ các anh chớ còn đi đâu nữa. Em vừa gặp anh Ba (Quyết) em!

Rồi nàng sà đến bên tôi. Vợ Bảy Nô bước lên thấy tôi đang nắm tay cô gái bèn nạt:

– Con nhỏ này đi đâu tới chỗ người lớn uống rượu?

Năm Tiều cười khè khè:

– Nó đem tiết… canh lại cho thằng Lôi nhậu, mắc mớ gì mà bà dê trưởng cự nự?

Tôi lôi tay nàng vừa nói vừa hát lan man:

– Quắn, ngồi xuống đây uống với anh một ly coi nào… Tân Qui! Tân Qui về đi thôi. Địch Trương Lương nghe gió âm thầm than. Tân Qui nơi đó mồ chôn ai. Tân Qui ơi chờ ta xuống nơi tuyền đài….

o O o

Khi tôi tỉnh dậy thì thấy một vầng ánh sáng lờ mờ gần mặt. Tôi không biết đây là dương gian hay âm phủ bèn đưa tay quờ. Thì ra không phải là ánh sáng mà là vách mùng. Tôi nghe như vừa chết chìm mới được vớt lên xốc nước. Tôi nhớ nàng Thiên Lý trầm mình dưới rạch Bến Mương. Chắc cũng như thế này. Tôi nôn oẹ nhưng không ói ra gì hết. Tôi nghe cả người ê ẩm cổ khô rát mà lòng thì não nề vô hạn. Đột nhiên tôi nhớ thời còn thiếu nhi đi theo đoàn Tuyên Truyền của E300. Một lần đoàn đi ghe băng qua cửa sông Soài Rạp bị tàu bắn chìm. Mấy chục đứa chết. Vài ba đứa nhờ ghe thương hồ cứu sống sót. Trong đó có tôi. Lúc đó, khi mở mắt ra thì tôi có những cảm giác in hệt như trong lúc này. Tôi cố gắng cất giọng kêu mà mí mắt nặng nề nhắm khít:

– Thuận! Cho anh miếng nước !

Không nghe tiếng, chi thấy mơ màng một vật gì mềm mại đụng vào da mặt. Tôi cố đưa bàn tay lên xua đi. Tôi lại nghe cườm tay tôi bị bóp chặt và tiếng thỏ thẻ:

– Anh Hai đã bớt chưa?

Tôi cố mở mắt. Một mái tóc quăn đang nghiêng xuống mặt tôi. Cái bóng in trên vách mùng rung rinh. Tôi khẽ kêu:

– Quắn! Em giúp anh đó hả Quắn?

– Dạ, em là Quắn đây.

Tôi hồi tỉnh lại dần và chợt nhớ ra giọng nói là lạ không phải của Quắn – em Ba Quyết ở Dân Hàn. Rồi tôi ngửi thấy mùi thơm của tóc như mùi tóc của các cô nữ sinh bên kia sông Sàigòn.

Tôi lại kêu:

– Khánh hả em!

– Dạ, em là Khánh đây. Anh nằm nghỉ đi, đừng lo gì hết.

Trong im lặng vang lên tiếng muỗi vo ve, tôi lại nghe giọng nói không phải của Khánh. Cái giọng kia lại thỏ thẻ:

– Thằng Thuận về bên văn phòng tiểu đoàn. Nó nhờ em săn sóc anh đây.

Bây giờ tôi biết không phải Quắn cũng không phải Khánh. Tôi cố ngóc dậy. Nàng đỡ tôi ngã vào vai nàng bằng một cử chỉ âu yếm, không phải bình thường. Vốn là kẻ đa tình, nhưng không phải là mù quáng, nên tôi giật mình tỉnh táo trở lại để nhận ra đây là đâu và nàng là ai? Mớ tóc quăn loà xoà quẹt nhẹ trên mặt tôi làm cho tôi càng tỉnh hơn và nghe rờn rợn khắp châu thân.

Phải chăng đây là Liêu Trai Chí Dị, con yêu hiện lên ăn ở với chàng thư sinh? Phải chăng đây là gia đình bà goá phụ cùng ba người con gái xinh đẹp chận đường cám dỗ thầ trò Tam Tạng ở lại cùng họ hưởng lạc? Nàng lại thỏ thẻ:

– Em không phải là Quắn cũng không phải là Khánh nào hết.

Tôi sực nhớ ra buổi nhậu nên hỏi:

– Đây là đâu?

– Đây là nhà má Hai, còn em là Kim Anh con của má Hai. Lúc nãy em thấy mấy ổng nói xầy quá nên em bỏ về. Chập sau cậu trinh sát đưa anh lại đây nhờ má em săn sóc.

– Tôi nằm giường ai đây?

– Giường của em. Má ở dưới hầm ngựa đây này!

Kim Anh gọi má chớ không nói má em. Chạy đàng mồ mắc đàng mả. Sao đàn bà con gái cứ săn đuổi tôi và toàn những chuyện bất ngờ không vậy? Tôi đã tỉnh giấc Nam Kha . Tôi đã nhận ra nàng Kim Anh tóc quăn, da trắng, môi đỏ, tay ngà lúc nãy. Tôi bảo:

– Để tôi về văn phòng, kẻo sáng thấy cảnh này mấy ổng bảo tôi hủ hoá.

– Hủ lu gì! Mấy ổng còn tổ trời kia, phê bình ai?

Ngần ngừ một giây Kim Anh bảo:

– Anh còn yếu không đánh trận được đâu. Anh nên ở nhà dưỡng sức. Giặc giã còn hoài chớ đâu phải hết mà anh hối hả.

– Không được đâu em!

Tôi nói với giọng cương quyết rồi cố ngóc đầu dậy khỏi bờ vai mềm mại và thơm phức của nàng. Nhưng da thịt đàn bà hay dính với da thịt đàn ông. Tóc đàn bà tuy nhuyễn vậy mà buộc chân tráng sĩ dễ dàng, những ông cán to cán nhỏ bỏ đảng rời đơn vị về nhà làm ruộng, vui thú điền viên?

Nàng không cản tôi nhưng bảo:

– Anh ở đây chút xíu rồi em đưa cho về. Ngồi đó nghen.

Tôi có phải sắt đá đâu mà không vâng lời. Nàng đi một chút, đúng một chút rồi trở lại với chén cháo còn bốc hơi.

– Anh ăn đi cho khoẻ. Hồi hôm anh uống hết cả rượu Phú Hoà Đông kia đấy. Say rồi lại còn kêu:”Muời ơi! Mười hỡi, em bỏ anh sao!”

Tôi hơi xấu hổ vì nàng đã biết được tẩy của tôi. Nàng là con gái. Còn Mười đã qua một đời chồng. Nàng biết nàng đang có tôi trong tay.

– Chim đậu không bắt để bắt chim bay!

– Anh đâu có bắt chim chóc gì đâu?

Tôi lua xong chén cháo thì nàng lấy hai viên aspirin đưa cho tôi. Những ngón tay trắng và nhọn đặt hai viên thuốc cũng trắng vào lòng bàn tay đen sì, sần sùi của tôi như một búp măng bên cạnh một rễ cây gìa cỗi, làm tôi suýt rụt tay lại. Nàng quay lại rót nước trà đưa tôi.

Ôi ! Hai viên thuốc của nàng tiên ban cho thật là kỳ diệu. Nàng vén mùng rộng ra rồi ngồi bên mép giường bảo tôi như ra lệnh:

– Anh quay lưng lại em cạo gió cho!

Nói xong nàng nắm hai vai tôi xoay qua và vén áo tôi lên. Tôi nghe mùi dầu Nhị Thiên Đường bát ngát. Rồi những phát cào từ vai xuống tận lưng quần, cả hai bên bắp thịt nuộc lưng. Nàng vừa kéo áo tôi xuống vừa ra lệnh:

– Quay lại!

Nàng lại tiếp tục cạo gió ở cổ, bắt gió hai bên màng tang và giật gió giữa trán. Nàng lẩm bẩm:

– Gió ra bầm đen hết trơn!

Tôi nghe khoẻ người trở lại, định xin bà cho con đi nhưng nàng lại bảo:

– Anh nằm xuống đắp mền lại cho mồ hôi ra, ủa mà quên …

Nàng chạy đi rồi trở lại với nồi nước xông. Tôi bị trùm kín mít như Thái Thượng Lão Quân nhốt Tôn Hàng Giả trong lò Bát Quái. Nhưng cái lò của Kim Anh thì thơm bát ngát lá ổi, lá sả và rau húng. Có cả mùi dầu Nhị Thiên Đường nữa. Tôi tưởng tôi cũng tan theo khói.

Nàng giở mền ra. Mồ hôi tuôn như suối khắp người tôi. Tôi có cảm giác tái sanh. Tôi khác hẳn tôi lúc nãy. Tôi nói:

– … Tôi có lỗi với … cô!

– Xin đứt anh tiếng cô! Anh không có lỗi gì! Chắc anh lấy làm lạ phải không? Nhưng em thì không lạ với anh đâu. Đố anh biết em là ai?

Tôi lắc. Nàng kê má vào mặt tôi, giọng tự nhiên:

– Anh hôn em đi, rồi em nói cho nghe.

Tôi muốn hôn nàng tự nãy giờ nhưng nghe nàng bảo thì tôi làm bộ e dè. Nàng cười khoe hai hàm răng ngọc, giọng nhõng nhẽo:

– Không hôn không nói đâu.

Nhớ lời cậu trinh sát với tôi lúc nãy, tôi bắt mối, hỏi:

– Em làm liên lạc hợp pháp cho cơ quan nào hả?

– Anh ở trên R về đây phải không?

– ờ !

– Anh có dự lễ mừng công đoàn 69 ở R phải không?

– Phải!

– Anh đọc diễn văn phải không?

– Ủa sao em biết hết vậy, bộ em có mặt ở đó à?

– Em không có mặt nhưng em rước mấy ổng bả vô khu. Rồi sau đó nghe đài Giải Phóng. Ai không biết anh là ông anh hùng!

– Vậy làm sao em biết mặt anh?

– Trường pháo của anh đóng gần cơ quan ông Ba Đình phải không? Đó là cơ quan B6. Anh lui tới đó hoài mà!

Tôi mơ màng đáp:

– Ờ ! ông Ba Đình ở ban Binh Vận R.

– Em còn biết các chị Tiến, Huê và cả chị Mai Khanh nữa. Chị Mai Khanh có tâm sự với em. Hà hà… Lần đó anh nấu nước xông cho chị, bây giờ em thay chỉ trả ơn lại cho anh.

Tôi giật mình thon thót. Sao nàng biết cái tẩy đó của mình vậy? Tôi hỏi trớ ngang:

– Phải ông Ba Đình người Bắc không?

Nàng kể lể:

– Ổng làm trưởng ban chống càn liên cơ quan, sau khi B52 rắc bom gần đó. Ông Ba là thủ trưởng của em và má em! Hồi năm 60 má em đi liên lạc thành cho ông Tư Hoan.

– Tư Hoan nào?

– Ông Trần Bạch Đằng, bí thư khu ủy khu IV. Khi ổng rời khu IV ổng giao co má em công tác với ông Ba Đình. Ổng có xuống nhà này. Ổng với má em đi cặp như vợ chồng, có thẻ bọc nhựa lận lưng ai mà biết cho nổi. Ông Ba Đình thấy em bèn tỉ tê má em cho em công tác, ổng cung cấp tiền ăn và tiền di chuyển. Công việc dễ ợt. Chỉ cầm lá thư giao cho người khác hoặc nói miệng ba cái bí số gì đó mình phải học thuộc lòng. Có khi một tháng mới đi một lần. Khoẻ như vậy mà có tiền xài, nên má em nhận luôn. Vậy thôi chớ em đâu biết gì khác.

– Bao lâu rồi em không gặp ông Ba Đình.

– Từ sau ra trận ăn hụt B52 không biết ổng đi đâu, còn em cũng không có trở lại đó nữa mà cứ ở đây nhận công tác… Thôi, vậy anh đủ hiểu cái gốc của con nhỏ này rồi. Đừng hỏi thêm em khai lộ bí mật, phạm kỷ luật. Thôi, hôn em đi.

Nàng ép gò má nàng vào mặt tôi. Tôi hít một cái thật sâu vào phổi. Nàng nói trúng phóc không sai chút nào. Ba Đình là một lão già năm mươi tuổi, mang kính trắng nói năng rất bặt thiệp. Cơ quan ông ta đóng ngay sau lưng trường pháo của tôi, ở sát mé sông Vàm Cỏ Đông để được nhờ sự che chở chống biệt kích. Một lần tôi và Tư Thịnh, Ba Ân sang đó công tác, lão mời uống ca-cao và hút Ruby Queen. Tôi cấp cho cơ quan lão nửa tiểu đội súng trường. Một lần khác khi đi đốn cây cất nhà, tôi tạt vào đây xin nước uống, bất ngờ gặp nhân viên của ông ta chỉnh huấn tài liệu Trung Ương, tôi thấy có nhiều người mà người nào cũng che mặt bằng một miếng vải có khoét hai lỗ mắt rồi đội nón lên. Kẻ thì bới tóc, người lại kẹp đuôi gà, toàn giới nữ. Tôi hỏi:

– Hồi đó em có che mặt không?

Tôi đã dắt các bạn đi quá xa trận Tân Qui rồi chăng? Sự thật thì nó chẳng hấp dẫn chút nào so với mối tình Liêu Trai này. Nàng đáp:

– Ai cũng bịt hết. Không ai biết ai. Để rủi có bị bắt thì không khai báo được.

– Có ai bị bắt không?

– Bị thiếu gì!

– Bị bắt nữa à?

– Lần đó em được lệnh vô Chợ Lón gặp một bà sồn sồn nấu bếp cho một ông tướng Sàigòn tên là bà Phi Yến. Nhà có con chó tây sủa to làm em giật mình. Em mắng chó bằng mật hiệu: “Đừng có sủa! Đừng có sủa, nghe không?” hai lần. Thế là có một bà rước em vào dẫn ra sau bếp. Em đưa cho bà ta bức thư.

– Thư em giấu ở đâu?

Kim Anh đập vai tôi, liếc nhanh:

– Hỏi tới nơi à! Lúc đó cảnh sát xét và chiêu hồi như ông Hai Tốt tài chánh Quân Khu chận đường nhìn mặt dữ lắm. Lôi thôi là bị thộp ngay thôi, cho nên em phải giấu …trong một chỗ đặc biệt.

– Trong đòn bánh tét hả?

– Không! Đó là thường.

– Trong gót giày?

– Xoàng lắm!

– Trong đầu tóc?

– Kiểu đó bị bắt cái một!

– Vậy ở đâu?

– Ở trong chỗ … không thể nói được. Thôi mà đừng có điều tra em nữa!

Nàng chúi mũi vào mặt tôi. Tôi ôm cổ nàng. Chúng tôi hôn nhau. Tôi thủ thỉ:

– Anh biết rồi. Và chỉ có anh biết thôi!

– Anh quỉ nà. Anh nghịch lắm!

Nàng cắn khẽ gò má tôi và chuyển sang chuyện khác:

– Em tưởng anh là quân nhân thì cứng cỏi lắm nào dè cũng mềm như…

Vừa nói nàng vừa ép cặp vú sữa vào ngực tôi và ôm quàng lấy tôi. Tôi đâm rợn người, tự nhủ: hay con nhỏ này chơi trò đòn xóc hai đầu móc ruột mình đây?

Tôi đẩy nhẹ nàng ra và hỏi:

– Sao em biết anh mềm. Em không thích mềm, vậy chắc thích sự … ngược lại.

Nàng đỏ mặt, trông xinh quá:

– Anh quỉ thiệt. Nói năng cũng nghe ghét ghê. Em để ý anh lâu rồi. Mấy cô Huê, Tiến đều có chồng. Bà Mai Khanh chồng chết, có con lớn gần bằng em rồi. Hiện giờ bả là cộng tác viên đắc lực của ông Chánh ủy Tư Khanh ra vô thành như đi chợ… Anh đi đâu cũng quến đàn bà con gái.

-Không vậy thì sao em yêu anh?

– Ơ ơ.. ai nói với anh vậy?

– Cái gối, cái mùng, cái viên aspirin, nồi nước xông và…

– Ờ đúng, em yêu anh thiệt. Rồi sao?

– Đâu có sao!

Tôi phóng tay vào cặp gò nổi của đất Củ Chi anh dũng. Nàng kêu ớ ớ vài tiếng rồi im hẳn. Tôi đã khoẻ, tinh thần Đồng Khởi lên cao vót, định đi đến cao điểm cuối cùng, nhưng nàng chặn tay lại, rên rỉ:

– Khoan đã anh ạ!

– Biết còn gặp lại nhau nữa không?

– Em yêu anh trong hồn em!…

Tôi ém miệng nàng bằng một cái hôn. Nàng sắp xuôi tay bỗng vùng dậy:

– Coi chừng, má nghe hết rồi…ừ… ừ.. mà má cũng thương anh nữa… ơ… ơ… bả như vậy mà mấy ổng cáp với ông Bắc kỳ Châm. Má em là chủ đồn điền cao su còn ổng là dân cạo mủ. Chủ đồn điền đi tái giá với dân phu à?

– Thôi để anh về văn phòng lo công việc.

– Em không muốn anh đi trận này đâu.

– Em đâu phải là cấp trên của anh.

– Cấp trên cũng tùy, có nhiều ông ngu bỏ mẹ. Đánh trận nào cũng bỏ xác, tụi Sàigòn bêu rêu khắp chợ Phú Hoà, Trung Hoà.. nhiều xác nằm bên lề đường hai ba ngày không ai lấy. Nhất là sau trận Cây Trắc.

o O o

Trời sáng lúc nào không hay. Bộ đội đã rí rố ngoài đường (vậy mà gọi là bí mật kế hoạch đó) . Bắt đầu hành quân. Các ban chỉ huy D họp lần nữa để nghe Út Lịa phổ biến kế hoạch lần chót. Út Lịa là Ef nhưng có văn hoá hơn Ba Châm Et. Ba Châm nói không rành và chỉ hướng trên bản đồ còn trật.

Tôi thả trinh sát đi trước còn tôi đi sau cùng. Năm Tiều đi theo tôi một quảng xa. Anh tỉ tê dặn dò:

– Mày đừng có vì con nhỏ đó mà liều mạng ở chiến trường nghe mậy!

– Con nhỏ nào? (tôi tưởng anh nói Kim Anh)

– Con Mười, em vợ thằng Sáu Phấn ở Bến Mương trúng hôn? Nó lấy chồng sĩ quan thây kệ nó. Mày còn thiếu gì. Con nhỏ này nó cũng mết mày rồi đó.

Tôi lắc đầu:

– Thôi anh ơi! Tôi hết muốn rồi|

– Giởn hoài mầy tụi. Tao mà còn trẻ được như hồi chín năm thì tao bán trời không mời thiên lôi. Hồi đó tao làm đại trưởng thì cũng như mầy bây giờ vậy thôi nên tao thông cảm với lính. Nó rủi có nhảy dù đứt dây tao ngó lơ cho hết thảy, kẻo ngày mai nó chết, không biết mùi đời, tội nghiệp!

Đi một quảng xa nữa anh ngó dáo dác, thấy đứt đuôi đơn vị hơi xa, anh bảo:

– Kỳ này cẩn thận nghe.

– Anh có gì bảo tôi không?

– Thằng Châm nó tính chơi mầy đó.

– Em biết anh Năm à! Nhưng ổng là cấp trên.

Năm Tiều ngẫm nghĩ một hồi và tiếp:

– Nó không cho mầy đánh chính diện mà cho cánh phụ, mày biết chi không?

– Để em đội pháo chớ gì anh Năm!

(Thì cũng như Bắc Kỳ Hà Nội xúi dân Nam Kỳ nhào vô và phơi thây chặt đầu như trong Tết Mậu Thân)

– Bộ binh còn tránh né, phản công được nhưng pháo bắn mà mình đang rút lui thì chỉ có một cách là đội nó mà thôi. Bình Dương sẽ câu qua cả ngàn trái cho mà coi. Cả pháo nòng dài 155 nữa.

Vừa đến đó thì nghe văng vẳng phía sau:

– Anh Hai! Anh Hai!

Tôi quay lại thì thấy mái tóc bồng bay trong gió.

– Nữa rồi, dưng dưa hồi hôm chưa đủ, bây giờ còn chạy theo dưng dừa … nạo.

Năm Tiều vỗ vai tôi:

– Đánh mạnh rút nhanh nghe! Đi cho khoẻ!

Rồi quay lại. Kim Anh thở hổn hển:

– Mấy ổng bảo mời anh trở lại chút.

Tôi quát.

– Sao không bảo trinh sát mà bắt em chạy vậy?

– Trinh sát đi tiền trạm hết rồi.

Tôi nghe có lý nên dừng lại. Nàng đưa tôi một gói ni-lông trong đó có hai ổ bánh mì thịt, nói là của má bảo chạy theo đưa cho anh. Rồi dắt tôi đi:

– Mấy ổng đã ra khỏi văn phòng và đóng dã ngoại ngoài rừng kia cà!

Rồi nàng rẽ ngang băng xuống dốc đi vào một sở cao su mới lớn lá xanh non tươi, mát mẻ. Một lúc nàng dừng lại. Tôi không thấy ông nào hết bèn tỏ vẻ bất mãn. Nàng hồn nhiên vỗ ngực:

– Ông này nè! Không bằng mấy ổng sao? Hà hà… em gạt anh đó. Ông Ba Châm, Út Lịa còn ở đằng nhà cà rề ba cái đế.

Tôi cau có:

– Đang hành quân, lại bị em làm trở ngại, mất thời giờ.

Nàng ghịt tôi vào gốc cây cao su như trói và bảo:

– Xí! Em không muốn anh đi trận này đâu. Mấy đêm trước em nghe cú kêu ngoài vườn sau nhà em.

– Nó kêu mặc kệ nó chớ!

Nàng tát khẻ vào má tôi:

– Anh không biết! Má bảo cú kêu là điềm gở. Nó báo hiệu trong nhà sẽ có tai hoạ. Bây giờ anh là rể trong nhà, đi trận má lo lắm. Mấy ổng nhậu, nói oang oác lộ bí mật hết. Anh giả bệnh ở lại đi cho má yên tâm và em sẽ không phải khóc…

– Không được đâu em! Làm vậy mất cả uy tín với anh em. Sau này chỉ huy ai?

– Chú Năm Tiều nói với má sợ anh thất tình mà liều mạn.

Tôi gở nàng ra:

– Anh không phải là loại nhưng mê muội đến hủy hoại thân mình.

Nàng tò vẻ suy nghĩ một chút rồi bảo:

– Ừ ! thôi cũng được nhưng anh phải hứa rằng anh yêu em!

Nàng lại quấn tôi rồi chúi mặt vào ngực tôi mà hôn tôi như điên.

– Anh! Anh là người yêu lý tưởng của em. Em không muốn rời anh một phút nào. Anh đừng quên em nhé. Em sẽ nghỉ công tác ngoài đó để về trong này đi bên anh luôn. Anh chịu không?

Đến đây thì tôi phát sợ.

– Không được đâu em. Về trong này bom đạn em không chịu nổi. Anh không muốn em phải chịu nhọc nhằn nguy hiểm như anh.

– Đó mới là tình yêu thực sự.

Nàng nói một hơi dài như tiểu thuyết.

Chương 75

Đánh Tân Qui: Thoi vào không khí
Bảy Mô băng vết thương lòng tôi

Ba Quyết đầu chít khăn rằn hai mối quật ra sau. Đi qua mặt tôi hắn bảo:

– Tối nay anh Hai coi con gà của em nó gáy nghe!

Gần tới Tân Qui thấy lính phòng không D8 đang đào hầm công sự dưới sự đốc thúc của Ba Châm. Tôi đi trờ tới, hỏi:

– C1 vô chưa anh Ba?

– Vô rồi. C2 đã triển khai.

Ba Châm ra lệnh cho Tư Công, B trưởng trinh sát.

– Chú đưa ông Tham mưu trưởng vô C3 rồi trở ra báo cáo. Khi giàn trận xong thì bảo bộ đàm gõ máy cho tôi biết. Mấy chú nhanh lên, không thì C1 nó nổ trước làm lộ hết.

Tân Qui ở trước mặt. Đó là một cứ điểm lớn do địa phương quân đóng giữ, đôi khi có sự yểm trợ của Trung đoàn 7 Sư đoàn 5. Từng dự nhiều trận đánh đủ loại, nhưng chưa lần nào tôi hồi hộp như kỳ này. Trời mờ tối. Tôi theo một tổ trinh sát, vượt qua một bờ đê, đi vòng theo bờ tre rồi đến một con đường mòn sâu hóm vết xe bò. Những địa hình này đều không có trên bản đồ. Chúng tôi cà hục cà hửi và té lên té xuống lạch ạch như lội Trường Sơn. Tôi bảo Xướng:

– Cậu đi tới phía trước coi có vật gì che khuất, chớ nằm đây lòi lưng sao?

Xướng và Thuận chạy đi một chốc rồi trở lại dắt tôi đến một cái chòi hoang ở bìa rừng cao su. Xướng nắm tay tôi giật giật.

– Máy bộ đàm bên cạnh anh đây. Trung đội của Ba Quyết đang bố trí trước mặt mình.

Nghe có Ba Quyết tôi vững bụng lắm. Tôi ngó bốn phía thì thấy toàn đồng trống. Khu Tân Qui im phăng phắc không một ánh đèn. Tôi nghĩ thầm:

– Năm Tiều nói đúng. Pháo Bình Dương sẽ nhểu sau lưng mình. Đù mẹ, Ba Châm chơi xỏ. Ông ta đưa mình vô giữa hai gọng kềm lửa.

Tôi bảo Thuận tìm Út Sương hỏi xem toàn C đã giàn xong chưa để tôi báo cáo lên E. Thông ở đâu vọt đến thì thào:

– Tụi nó không canh gác gì hết anh ạ.

– Sao mày biết?

– Không nghe một tiếng mỏ, không có một ngọn đèn. Tụi nó đang ngủ. Mình cho nó ngủ luôn. Nè, anh Hai.

Thưng lại đập lưng tôi.

– Anh coi con Chín Khuân có vừa miếng lũm không?

– Mới mười sáu mà làm cái gì? Thôi, đừng đùa. Chú ý kìa.

Tiếng Út Sương.

– Anh Hai đâu? Xong rồi anh, báo cáo lên E đi.

Hắn là CV mà xông xáo hơn cả CT. Tôi kêu bộ đàm mở máy. Máy kêu xè xè. Chừng ba giây, hắn gõ vào máy năm cái. Tôi nghe tiếng gõ đằng kia đáp lại Cộc, cộc, cộc... Hắn báo cáo:

– Ê, nhận được rồi anh Hai!

Vừa đứt tiếng thì tạch… tạc… tạch… M16 ở cánh mặt nổ. Tôi nghĩ lộ rồi. Rồi AK nổ loạn xạ. Cl rồi C3 cũng nổ tiếp. Tôi bảo Út Sương. Tôi quát.

– Cho B thằng Bảy thọc nhanh để Năm Tân quất ngang sườn tụi nó! Ba Đức đâu, xốc tới ép tụi nó vào!

Ba Đức vọt lên.

– Yên chí đi anh Hai!

Tôi lại quát:

– Xướng, lên chiếm cái nhà trước mặt. Từ đó đánh thẳng vô trung tâm.

Đạn xẹt đan lưới tứ tung. Tiếng nổ ròn như pháo… Chịch, chịch... đạn ghim vào đất. Út Sương hét:

– Ngọc, Lạng chạy lên kêu Ba Quyết dồn lên.

Cối 60 của thằng Huyền thằng Đô thụt bung bung. Khẩu trung liên của trung đội 2 rạch màn đêm bằng một thỏi sắt đỏ lòm. Xướng xông lên rẹt một loạt AK vào nhà và quát:

– Thưng vô chiếm nhà .

Con nít khóc thất thanh. Xướng nhào vô quất đèn pin.

– Chủ nhà đâu?

– Dưới hầm hè ông ơi !

– Thuận, tung lựu đạn xuống !

Tôi la.

– Đừng tung để người ta lên.

– Lên mau để tôi lấy hầm làm chỉ huy sở.

Chưa đầy năm phút…

Cùm, cùm, cùm…

Pháo Bình Dương đề-pa…

Xòe xòe…. ùng ùng ùng... ngay sau lưng trận địa.

Tôi quát đám còn lụt thụt đàng sau:

– Chạy sát vào nhà !

Tôi giật đèn pin rọi xuống hầm. Toàn ông già đàn bà con nít. Tôi quát lính:

– Chạy lên. Không được ở đây, pháo ăn.

Ùng ùng… Pháo Bình Dương tiếp tục giã. Tôi quát:

– Tất cả chạy theo Xướng, đánh vào Sở.

Đạn tua tủa như pháo bông. Có tiếng rên la.

– Ai đó?

– Thằng Lạng, trinh sát C3.

– Hừ hừ hừ, hu hu hu. Em gãy chân rồi anh Hai. Nhà đó có lính.

– Thuận Xướng chạy lên tung lựu đạn vào!

Tróc… tróc… ầm!…

M79 bắn ra. Một vệt lửa nhoáng ngay trước mặt tôi. Tôi nghe nóng bỏng bên đùi phải và cả mặt mày như lửa táp. Bộ đàm, trinh sát và tôi té sấp. Xướng ria tiếp. Hai bóng đen vụt qua. Thuận tiếp nửa băng. Một thằng chết.

– Anh Hai chạy vô nhà.

Xướng ném một trái lựu đạn vô nhà. Lửa lóe lên.

– Nhà có ai, ra mau!

– Anh Hai có sao không?

– Không!

Tôi lê cái chân, biết vết thương không nặng lắm. Xướng giật đèn pin trong tay tôi quơ qua khắp nhà.

– Có hầm! Tống lựu đạn xuống.

Tôi quát.

– Mày là Đại Hàn hả. Gặp hầm là tông lựu đạn! Tao cấm!

Từ dưới hầm phọt ra tiếng nói lẫn tiếng khóc của đàn bà . Vết thương ngấm tôi không đứng được nữa, ngã khuỵu xuống mấy bao cát ở miệng hầm.

– Đừng liệng để tôi lên.

Một cái đầu quăn nhô ra, tay cầm cây đèn dầu. Xướng thét lên.

– Chị Chín, sao chị ở đây?

Tôi hỏi.

– Chín nào?

– Vợ Chín Tiền ở K20. Anh Hai, vợ anh Chín đây nè !

Người đàn bà thất thanh:

– Ai vậy Thuận? Ảnh bị thương chảy máu đầy mặt kìa !

Người đàn bà bước lại soi đèn vào tôi. Tôi quẹt tay đưa lên xem. Máu! Nãy giờ mặn mặn tôi tưởng mồ hôi.

– Em của chỉ là vợ anh Út Sương mình.

– Dưới hầm có lính không?

– Không. Họ thường ngủ ngoài trước nhưng hồi tối này không đến.

– Anh Út đâu kêu lại tao bảo.

Bộ đàm nói:

– Anh Lịa bảo kêu anh báo cáo !

Tôi vừa chụp máy vừa quơ tay:

– Xướng, Thuận mau chạy ra mang thương binh vào đây.

– Hừ hừ hừ. . .

– Thằng nào rên lớn vậy?

– Thằng Lạng bị gãy giò nằm ở ngoài !

Người đàn bà kêu:

– Má ơi, lên phụ con! Út, lên đi. Đằng mình!

Tôi nghe tiếng già Châm run run trong máy.

– Hai Lôi tới đâu rồi ? Tụi mày không vô được hả?

– Cánh tôi đã vô tới giữa Sở, không đụng ai hết. Chỉ còn nổ ở cánh phải.

Tiếng già Châm quát.

– Cho rút nhanh !

– Sao vậy? Tụi tôi đang chuẩn bị xung phong.

Không có tiếng trả lời nữa. Tôi đưa ống cho cậu bộ đàm. Đù mẹ, mình còn ở đây, mấy ông nội đã rút. Tôi chưởi thầm. Còn một lô thương binh bị ăn pháo nằm rên kia. Vợ Chín Tiền cầm cái khăn lông màu cứt ngựa của lính Mỹ, đến bên tôi trải xuống đất.

– Anh Hai nằm lên đây để em coi vết thương. Em có học cứu thương ở Hố Bò .

Tôi nghe lời nằm xuống.

– Anh đừng mắc cỡ. Em có chồng rồi, em không mắc cỡ.

Người đàn bà mặt mũi đen đúa nhưng có duyên. Giọng run run:

– Anh Hai thông cảm em. Em đi làm Đồng Dù mới có tiền nuôi anh Chín và má ảnh, có tiền đi thăm ảnh. Chớ em cũng biết…

– Tôi hổng nói gì đâu !

Bà già lóp ngóp bò ra, theo sau là một đứa gái chừng mười lăm tuổi.

– Ai vậy Chín?

– Má anh Chín. Kia là em út của tôi.

Bà già rên rỉ.

– Trời ơi ! Đánh thế này chết dân hết !

Chị Chín múc một chậu nước lạnh lau rửa vết thương đầy bùn của tôi. Nàng vừa băng vừa nói liền miệng:

– Em làm ở Đồng Dù ăn cắp bông băng gởi vô cho quân y ông Tư Chuyền hoài.

Có tiếng la lối ngoài trước:

– Khóc cái gì như con nít vậy Lạng?

– Hừ hù… Bỏ tôi xuống. Cái chân tôi muốn rụng rồi. Ông có bị thương đâu mà biết đau.

Chị Chín băng xong cho tôi quay sang Lạng. Chị lắc đầu:

– Chắc không được quá ! Gãy xương. Phải đưa về quân y!..

Ùng!…

Một tiếng nổ chát chúa bên hè nhà. Lỗ tai lùng bùng, nghe o o trong con ráy. Mùi thuốc .khét nghẹt. Cô gái la hoảng:

– Má ơi xuống hầm.

Cả nhà nhốn nháo. Tôi quát:

– Ở đâu ở đó đừng chạy lộn xộn chết.

Tôi khoát tay nhưng lạ chưa ‘ Tôi nghe đau buốt. Cánh tay tôi bỗng xụi lơ, không giơ lên được. Út Sương chạy tới:

– Anh Hai có sao?

– Không . Tình thế. . .

– Tôi cho lượm hết thương binh rồi. Mẹ , chừng một trung đội.

– Cho rút.

– Còn anh? Ông già Châm chơi ác quá !

– Tôi đi được. Bộ đàm bỏ máy gọi trung đoàn.

Hắn lắc đầu:

– Không có trả lời. Ổng rút lâu rồi.

Người đàn bà khuyên.

– Khoan đã anh. Chờ tụi nó quay họng pháo qua phía khác .

Một tiếng hỏi.

– Vợ Út Sương đâu?

– Dì ấy ra nhà bà già dượng Út để đẻ… ngoài ấp… Cây Bài.

Út Sương đứng tần ngần nãy giờ, có lẽ bàng hoàng trước cảnh này. Hắn buông một câu:

– Đẻ đâu không được mà phải ra ấp chiến lược Cây Bài.

Người đàn bà móc túi nhét mớ bạc vào tay Út Sương:

– Vợ dượng nhờ chuyển cho dượng mà lâu nay tôi chưa đi được.

– Sao hổng để lo đẻ mà đưa tôi chi vậy?

Mọi câu đối thoại ngắn dài đều mờ lấp trong tiếng pháo. Tôi ôm vai thằng Xướng đi ra lộ phía trước nhà . Mặt đất bằng phẳng nên bước dễ hơn. Pháo vẫn bắn, nhưng ai cũng chạy, không nằm lại nữa. Nằm lại thì đội thêm. Tôi mơ màng hỏi.

– Bộ có trăng hả Xướng?

– Dakota thả pháo sáng chọn đường mình.

Ra được một khúc tôi thấy máy bay quần trên trời.

Uồng uộc!…. Uồng uộc!..

Nó ria những loạt dài nín thở mà chưa dứt. Một tiếng non choẹt reo mừng:

Nó rọi đèn cho mình đi đã…

Uỵch. .. Tiếng nói bị cắt ngang. Thây người đổ. Không rõ pháo hay đạn máy bay trúng anh ta. Những bóng đen lố xố nhôn nháo lếch thếch bên đường. Một vai hai, ba súng. Lom khom khiêng vác. Hai người kè một. Ùng oàng ! Pháo vẫn rớt trên lộ. Mẹ, nó bắn ngay chóc. Đèn rọi sáng rực kiến bò ngó thấy. .

Ùng!...

Trước mặt tôi một cái băng ca bỗng biến mất. Tôi chạy lê qua hố đạn nóng hầm hập, khói nghi ngút. Bỗng thấy một cậu vác một người dịu oặc trên vai chạy qua mặt tôi.

– Ai vậy?

– Thằng Quyết.

Ờ ! Quyết. Ba Quyết, anh con Quắn ở Dân Hàn.. Lóe lên trong đầu tôi như tia chớp. Vợ nó hai mươi hai tuổi, con nó lên ba, tên Tiến.

– Có sao không?

– Bị thương…

– Sao?

– Vỡ sọ…

Trời ! Tôi nghe như lãnh thêm một vết thương. Thằng nhờ cậy nhất C3. Tôi định trận này xong cho nó lên C phó. Dù tính nóng nảy, đánh lính, vẫn là cán bộ tốt. Một cậu đi ngang giải thích:

– Nó bị ngay từ phút đầu.

– Anh em bị thương bao nhiêu?

– Gần hết đại đội.

– Út Sương hả?

– Tư Đông! Anh cũng bị? Trung đoàn đâu?

Út Sương nạt.

– Mình lo mình đi. Tiểu Trung cái gì nữa. Thưng chạy trở lại phụ cõng thằng Lạng. Đừng bỏ nó. Mau lên!

Những quả 155 xòe xòe qua đầu. Ùng ùng… trước mặt.

Sau lưng đuổi riết. Tới một nhà có cây rơm đằng trước, tôi bảo tạt vào đó. Tôi không còn lê chân nổi nữa, nghe ướt cả ống quần và áo.

– Thằng Bụng hả ?

– Anh Hai bị ở đâu ?

– Có gặp Tư Công không? Thằng Tân (C trưởng C1) đâu không thấy?

Tôi thấy Tư Nhựt cũng bị, tay quấn băng trắng đeo trên cổ. Tư Nhựt mếu máo:

– Tôi tin ông Ba Châm nên mới như vầy. Rụm mẹ nó hết tiểu đoàn rồi. Tụi đóng dã ngoại trong rừng cao su rút hồi nào không rõ. Mình tới, nó bên ngoài nhào vô. Bây giờ làm sao anh Hai?

Tôi gắt.

– Anh đi trước đi, để tôi lo.

– Đi gì được, còn mấy xác của C3 bỏ sát hàng rào dinh quận. Tôi đang chờ Tư Công cho trinh sát trở lại lấy.

Rồi hắn động viên tôi.

– Anh về trước đi. Đến Phú Hòa Đông có thêm dân công khiêng. Có chị Năm Đang ở đó.

Tôi bảo Xướng kè tôi đi tiếp. Đánh giặc chỉ nhờ cặp chân, lại bị thương chân mà là chân phải, như xe không có bánh. Tiến càu nhàu:

– Đánh chác con mẹ gì thế này !

Tôi quát:

– Cậu nào nói thế hả ?

Im. Lại càu nhàu:

Lịnh lọt không thấy? Tiếp viện cũng không!

– Im !

– Anh Hai bây giờ mới rút. Ông Ba Châm, Út Lịa đã vọt từ khi Dakota mới tới.

Tôi nhìn lại thì đó là lính Phòng không của D8.

– Ổng còn ra lịnh tôi ở lại chờ phản lực tới đặng bắn.

Rầm rầm rầm…

Bắn… Đại liên từ máy bay. Đại liên từ dưới đất. Pháo bông đan chéo. Một người nhảy lên công sự: Đồng đen! C trưởng C2.

– Anh có sao không anh Hai?

– Sơ sơ ở giò và vai.

– Phải tôi biết vầy, tôi cho Tư Lan theo cõng anh.

– Đến nước này còn đùa.

– Lính gì bị. thương khóc như con nít.

Tôi quát.

– Không con nít là gì? Mới mười sáu tuổi. Các cậu rút đi. Lệnh của tôi.

Pháo Bình Dương vẫn chưa dứt. Đạn nổ tối tăm mặt mũi. Khói mịt mù , khét lẹt, ho. Không còn thấy rõ mặt nhau. Nhiều cặp cán thương tung lên. Cả thương binh. Bị thương lại bị nặng thêm. Hừ hừ… Tiếng đù mẹ om trời.

– Tối quá anh Hai.! Làm thế nào?

– Chờ đây chút. Tao bảo tụi D8 tới khiêng.

– Ờ ! anh nói thì may ra. Chớ ông Tư Nhựt bảo họ trấm trơ.

Tôi ráng lê qua khỏi rừng tràm Láng The, sình lầy ngang đầu gối dài chừng hai cây số. (Bây giờ nhớ lại mà rởn ốc.) Không hiểu sao tôi sống được, đi được với hai vết thương đùi, vai và khắp người lốm đốm vết lớn vết nhỏ. Về tới bìa ruộng đường Hai Làng. Một đám đông đang đứng dưới lùm cây chờ khiêng thương binh. Một tiếng eo éo:

– Còn anh nào nữa không?

Xướng bảo.

– Còn nhiều lắm. Có ai khỏe tiếp khiêng ông này. Tôi đuối quá rồi.

– Ông nào vậy chồng Hai Nên?

Tôi hỏi.

– Ai đó, con Lan con Quắn hả?

– Có chị Bảy khỏe nhất. Ông nào chỉ cũng cõng nổi hết.

Tiếng cười khúc khích. Tiếng đấm lưng nhau làm tan không khí chết chóc. Một giọng quen quen:

– Ông nào vậy anh Xướng?

– A! Bảy Mô hả. Anh Bảy nè. Ra đây chị Bảy!

Mắt tôi đã mờ nhưng bỗng sáng lên ngay. Đúng là Bảy Mô. Nàng nhảy xuống ruộng:

– Trời ơi ! Có nặng không anh?

Tôi lắc:

– Em có sao không?

– Anh Hai ơi, dượng Chín (chín Câu) em hi sinh rồi !

– Anh biết. Đừng khóc.

Nàng nhào tới ôm tôi, nức nở. Tôi nói:

– Cũng may không trúng xương và mắt.

Mô kêu:

– Phượng ơi ! Trải võng ra, đem đòn xuống đây.

Tôi lắc:

– Đằng sau còn nhiều. Anh đi được. Các em ở đây chờ.

Mô kề vai vào dìu tôi thay cho Xướng. Xướng ngã uỵch xuống không ngồi lên nổi, không rõ bị thương hay kiệt sức.

Tiếng pháo vọng lại từ đường số 8. Nó chận mình từ xa. Mô dìu tôi và đưa tay lên bờ:

– Phượng, Lan kéo tao lên!

– Chị ẵm ảnh lên không nổi sao?

– Ở đó mà giởn, con quỉ!

– Thiệt chớ giởn. Ẵm ảnh lên đi. Hun ảnh vài cái là ảnh hết đau.

Phượng, Lan hai cô dũng sĩ đã có lần đào địa đạo với tôi sau nhà cô Tư Bé ở Bàu Trăn đụng cái nắp hòm.

– Thôi các em ở đây chờ lo cho tụi nặng. Anh còn đi được.

– Anh bị ở đâu vậy?

Tôi cố nhếch môi cười.

– Ở tim!

– Quỉ anh còn đùa.

Mô không cười. Mặt nàng xanh lướt. Mắt hõm sâu nhìn tôi. Máu, bùn, băng trộn quết lẫn nhau. Không biết là cô nào đó nói:

– Ông Hai Hổ cho đào có mười cái hố trong vườn cao su. Bây giờ không đủ số ông hắt đào thêm. Ai ở đó mà đào cho nổi. Lấp xong hết rồi. Còn năm thây để đó.

– Có thằng Quyết không?

– Hả? Ai?

– Ba Quyết ổ Dân Hàn!

Một tiếng gào lạc giọng.

– Anh Ba em !

– Nó hi sinh từ lúc mới vô.

– Ảnh đâu rồi?

– Không biết đứa nào vác đã tới chưa?

– Hu hu…

Tôi biết giọng con Quắn, em Ba Quyết. Quắn chạy hoảng xuống ruộng tới mấy nhóm đang khiêng vác.

– Anh Ba ơi ! anh Ba ! . . . chị Ba ơi , anh Ba chết rồi !

Não nề quá. Cảnh chiến tranh tôi coi thường nhưng kỳ này nghe em gái kêu anh mà đứt ruột.

– Út Nhở đâu? Bảy Nê đâu?

– Dạ hai chỉ ở nhà đi nghiên cứu trận địa đánh xe tăng trả thù cho thằng Lợi.

(Trả thù không được lại bị Mỹ đổ quân bắn chết. Thảm thương càng thêm thê thảm)

Phượng, Lan thấy Mô kè tôi nên lãng ra, cười trêu chọc:

– Thôi chị Bảy đưa anh Bảy về nhà đi!

Mô dìu tôi một mạch từ Phú Mỹ về đến xóm Ba Gia rồi từ đó theo đường 15 tới Rừng Làng. Tựa vào nàng tôi hầu như quên hết nỗi đau đớn. Tôi nhắc:

– Từ bữa ăn xôi sầu riêng của chị Ba nấu ở nhà em, tới bây giờ mình mới gặp nhau.

– Em không nhớ. Nhưng riêng em lúc nào cũng ở bên cạnh anh. Ngay cả trong giấc ngủ.

– Thiệt hả Mô?

– Ở đây chỉ có anh và em thôi. Em thấy không nên giấu anh nữa .

Tới khu Bến Đá , sông Sài gòn hiện lên. Mặt nước lấp lánh, bàng bạc. Nước dâng lên ngập nửa thân cây bần. Lòng nàng chắc cũng tràn đầy thương cảm đối với tôi. Lâu nay tôi vẫn biết nhưng cố quên đi. Tôi đối với nàng không như những em khác. Nàng: Một cái bóng. Một trái tim. Một tâm hồn. Có yêu thì nên trong mơ tưởng.

– Ai được cô nào dìu khỏe quá ta!

– Mấy anh kia… bị pháo đuổi các cô quăng chạy hết trơn. Bỏ nằm dưới ruộng khóc lóc.

– Người ta sắp tuyên bố đó !

– Chị Bảy thong thả đi sau nghen. Tụi này phải về tới Sa Nhỏ lận.

Tôi nói với Mô :

– Anh rất mến dượng Chín em !

– Chị Năm em cũng biết rồi.

Nghe nàng nhắc tới Năm Mai, tâm trí tôi hơi rờn rợn. Mới hôm nào… Mai dặn tôi đừng cho dì Bảy con Liên biết. Mai khỏi dặn tôi cũng không dám cho ai biết. Mô hỏi:

– Chị Năm bảo bé Liên kêu anh bằng Ba phải không?

– Ờ! ờ!.

– Thôi cũng được. Chỉ có con nhưng đẹp hơn em!

– Em đừng nói thế!

– Chị Năm với anh ra sao, Má đều biết hết! (Nàng dùng tiếng “má” suông)

– ????

– Chính chị Năm nói mà.

Té ra thế. Nước mắt nàng ướt vai tôi.

Hức..hức !…

Tôi không hiểu hay tôi không chịu hiểu nguồn cơn của những giọt nước mắt này. Khi tôi ẵm bé Liên tiễn chân nàng ra quốc lộ. Nàng bảo tôi:

– Dừng lại đi anh. Đừng đi xa hơn nữa.

Câu khuyên đó bây giờ lại vang bên tai tôi. Bảy Mô nói:

– Em yêu anh nên phải tạm xa anh!

– Sao vậy?

– Người ta đang tranh đua nhau để chiếm anh.

– Trời! Em theo dõi anh ghê quá.

– Em phải trông chừng anh chớ. Nhưng không bao giờ em cho ai biết.

– Tại sao?

– Em thành phần địa chủ mà. Yêu anh sẽ làm khổ anh hơn và anh sẽ không tiến bộ.

– Trời !

Cải cách ruộng đất! Nó lại xâm nhập vô tới đây để phá phách con người, tình cảm con người. Nàng tiếp:

– Cách đây vài tháng dượng Chín có thưa với má em và bảo em dượng sẽ làm mai cho em một người xứng đáng.

– Ai vậy?

– Ai thì anh biết đấy! Dượng không biết ai đó đã yêu anh và chắc cũng được anh yêu lại. Khi gặp anh ở xe nước mía gần An Nhơn thì người ta đã để ý anh rồi. Có nhiều ông ở R về theo đuổi em… ủa, theo đuổi người ta nhưng gia đình không ủng hộ.

– Người ta là ai vậy?

Hai đứa rù rì với nhau về tới Rạch Sơn thì trời sáng bạch. Tám Đột đã cho du kích bắc lại cầu. Mô dìu tôi đi qua không vất vả lắm. Có lẽ tang gia bối rối ở Tân Qui nên địch không quậy phía này. Bến Mương và An Nhơn yên ổn .

– Hồi gặp anh với chú Tư Linh ở quán cô xẩm, vui quá hả anh?

Tôi giật mình. Lúc đó tôi chưa quen cô xẩm nhưng sau này chính là Mính.

– Nay thì đìu hiu ghê rợn.

Tôi ngậm ngùi khi nghe mấy tiếng ấy từ môi một người con gái. Tôi tạt ngang:

– Bao lâu rồi, chị Mai không về nhà nữa?

– Nhà đâu còn mà về, anh!

– Em ở đâu?

– Ở hang với tụi nó. Phải anh ghé ngang nhà coi. Một cây sầu riêng cũng không còn nguyên. Không còn một tiếng chim chìa vôi hót. Hoa lá tan tành.

– Nhưng còn trái tim anh… và em!

Mô hất tóc ra sau vai rồi nhìn tôi đăm đăm:

– Hôm nay trời cho em gặp anh ở đây, quả là bàn tay người phàm không bố trí được.

Tôi nói với sự xúc cảm sâu xa như chưa hề nói với ai.

– Em ! Anh yêu em !

– Và chắc có lẽ mình lại xa nhau rồi !

– Anh vẫn còn ở Củ Chi, thì anh đâu có xa em nữa.

– Hôm nay em cảm thấy hạnh phúc vô cùng.

– Em muốn gì nói anh nghe.

– Điều em muốn, em đã đạt rồi.

– Gì?

– Đó là mấy tiếng em yêu anh vừa thốt ra.

– Mô !

– Mặc dù em biết anh đang theo đuổi…

– Không… anh chỉ gần gũi chớ không theo đuổi ai hết! Đó là sự thực.

Mô nhìn tôi. Nàng là một người con gái khác thường: có học, kín đáo, thâm trầm chớ không như những người khác mà tôi biết. Nàng muốn chiếm tôi, nhưng không bằng vũ khí thường mà bằng sự im lặng, chịu đựng và đau khổ.

– Hôm nay em được anh quàng vai em và nói với em những lời hiếm có, em thấy đủ rồi. Em không muốn gì hơn nữa.

Hai đứa nhìn nhau, im lặng. Tôi thấy nàng như một nữ thần đứng ở trên cao xa tắp. Qua ngã ba An Nhơn, nhìn thẳng lên Láng Cát, Mô bảo:

– Mình đi thẳng vô cổng Bông giấy đi anh. Rồi về Hố Bò đến C5 ông Tư Chuyền. Còn đi đường An Phú, đường trống sợ gặp đầm già . ‘

– Đi ngả nào chỉ có mình em và anh. Anh muốn đi với em ra ngoài trái đất mọi rợ này. Em cứ bơi lái trên sông Ngân Hà. . .

Mô nhìn tôi, cười. Nàng ngập ngừng:

– Sợ rằng:.. . .

Tôi nói tiếng Pháp.

– Sợ gì em? Muốn là được

– Sợ chúng ta chỉ đi bằng thuyền hồn thôi.

– Nghĩa là . . .

– Anh với em không có cơ hội yêu nhau trên cái đất này đâu. Mặc dầu… Bởi vì…

– Mặc dầu gì . Bởi vì gì?

– Bởi vì còn bé Liên…

– Anh là dượng Bảy của nó, nhưng mong sao anh không như Chín Câu dượng của anh!

– Em mong như vậy nhưng em sợ .lắm. Thôi bỏ chuyện đó đi. Em thấy anh mệt. Máu ra nhiều quá. Ghé vào cái bức tường đổ kia nghỉ chút.

Đây là nơi tôi cũng đã từng dạy cho du kích An Phú bắn cối và AK. Nàng dìu tôi tới gốc cao su, tàng lá xanh um phủ trên đầu. Vắng lặng ghê rợn chung quanh. Xác chiếc máy bay rớt đâu hồi nào, những mảnh nhôm vụn còn vương vãi chung quanh.

– Thành tích của anh đó !

– Anh thiết gì ba cái danh tiếng rởm kia. Thật ra anh chỉ muốn làm anh hùng trong tim em.

– Anh nói ! Người ta mong được đi R lãnh huân chương như anh mà không được.

– Đó là thành tích của Huỳnh Thành Đồng, không phải của anh. Anh nhận nó mà xấu hổ thôi.

(chương tới tôi sẽ kể cái chết lãng xẹt của Huỳnh Thành Đồng. )

Đột nhiên trong một cử chỉ bất ngờ và mạnh dạn, nàng ôm đầu tôi áp vào lồng ngực no nê của em. Tôi nghe tất cả địa ngục hóa thành thiên đàng. Nàng rủ rỉ:

– Anh có nghe tiếng trái tim em không?

– Có ! Anh hiểu em, Mô ! Nhưng mà… chúng mình rồi…sẽ như em vừa nói. Thế thôi !

Tôi hôn Mô.

Đó là cái hôn độc nhất của tôi đối với nàng. Cái hôn phi phàm, trong ngần như hoa như mây không gợn gì khác. Một tâm hồn. Hai tâm hồn xa mãi nhưng gần mãi, cho tới giờ đây Một tiếng: Mô ! Một cái hôn yêu cũng là cái hôn vĩnh biệt.

Còn trận Tân Qui? Đó là một trận đánh vô tổ chức, không có chỉ huy, lộ bí mật, binh sĩ không quyết thắng trước khi nổ súng, và mất tinh thần sau trận đánh.

Bảy Mô đưa tôi vào nhà Tư Chuyền. Nàng thủ thỉ:

– Anh nằm dưỡng bịnh. Em sẽ vào thăm anh.

Mặt nàng buồn nghiến. Tôi biết nàng yêu tôi, một thứ tình yêu rất tiểu thuyết.

Vết thương chiến tranh dễ trị. Vết thương lòng mới khó.

Chỉ sau mười ngày, tôi lại được giấy hỏa tốc. Lúc nào cũng hỏa tốc. Mà lại do chính tay Tư Nhựt cầm vào. Lệnh của Năm Lê. Tôi mở ra đọc xong, Tư Nhựt nói:

– Chuyến này mình thọc sâu xuống Trung An thầy ạ !

Tư Nhựt là D trưởng, tôi là Tham mưu trưởng D nhưng y lại xưng hô như vậy. Tôi cản nhưng y thành thật nói:

– Tôi so với thầy sao được, nhưng ở trên giao cho tôi nắm D là vì tôi thuộc đường đất. Còn thầy đã qua chiến tranh chín năm lại học trường quân sự…

– Mình học lẫn nhau thôi!

Tư Nhựt là một nông dân, gan dạ và có nhiều đức tính. Sau này ở trên chỉ định làm anh hùng giải phóng quân. Y nhường cho tôi. Tôi không nhận (tôi đã biết cái hư vị đó một lần rồi).

Khi gần Tết Mậu Thân, Tư Nhựt được đưa lên làm Trung đoàn trường mũi nhọn đánh vô Sài gòn đợt 1. Trước khi xuất phát y giao vợ con lại cho tôi. Y biết sẽ chết. Thiệt là lâm ly bi đát. Tôi sẽ kể sau.

Chương 76

Cái chết của đặc công Huỳnh Thành Đồng
và sợi dây lưng quần của cô nữ dân công.

Vừa đi Tư Nhựt vừa than thở.

– Thiệt hại nặng quá thầy Hai. Thiệt lãng quá ! Đánh như vậy lính đâu còn mà đánh nữa.

– Trên 40?

– Thằng Hai Hổ xã đội vô trách nhiệm. Y cứ dập, không có cả bó chiếu, nói chi hòm!

Hai đứa kéo vô quán làm sơ vài con khô mực. Cô bé bẽn lẽn nhìn tôi như nhắc lại những cái hôn táo bạo của cô hôm trước. Chính nơi đây tôi được nghe cô nói: “Sắp đánh Tân Qui.” Đó là nguyên nhân của sự thất bại nặng nề.

Tôi và Tư Nhựt đi ngất nghễu trên đường vắng lặng. Lúa hai ven đường xơ xác. Không một bóng người. Đồng bà thưa thớt Những bà mẹ, những bác nông dân tự cho mình cái quyền chạy ra ấp chiến lược bám thắt lưng Mỹ mà không ai được nói gì. Ai nói gì kia chớ? Trực thăng nó xúc cả heo nái heo con lẫn người ra ngoài đó, heo được uống cả sữa bột. Ai đút miệng vô đâu mà nói.

– Tôi quá tin ông Ba Châm thầy Hai à! Tôi nghe ở trên sắp phân tán E2 thành D độc lập. C3 mất sức chiến đấu.

– Nó chịu nặng nhất.

Bỗng từ đàng sau có tiếng người. Tôi quay ngó lại. Hai người khiêng toòng teng một cái võng. Tôi nghĩ thầm: Chắc bị pháo lẻ đêm qua. Không có ngày nào Củ Chi không đổ máu, không có ngày nào thế giới không bị lừa gạt về cái Củ Chi đất thép này (đến nay 1994). Chúng nó gạt thiên hạ đã đành, chúng nó còn gạt cả đồng chí chúng và tự lừa mình.

– Ai đó phải anh Hai không?

Hai đứa tôi đứng lại. Chiếc võng trờ tới. Trên chiếc võng một bọc ni lông dài màu xanh. Tưởng ai, ai dè con Quắn.

– Ai vậy Quắn?

– Anh Ba em !

Thằng Quyết. Đêm trước thấy lính nhà vác xác nó qua mặt tôi đã rụng rời tay chân. Tôi còn đau đớn. Quắn đi song song với tôi và Tư Nhựt giải thích:

– Ba em bảo em đi tìm cho được xác ảnh đem về chôn ở đất nhà. Em ra Phú Hòa tìm ông Hai Hổ một ngày. Ổng mới dắt tới vườn cao su. Mấy chục nấm đất mới, không biết cái nào? Em nói tên Ba Quyết. ông bảo: “Tôi nhớ rồi. Mới lúc chiều chú Ba có mượn tôi kiếm cho cây đòn để khiêng thương binh. Chẳng ngờ tối lại khiêng chú.” Ổng chỉ: “Cái mã kia kìa. Nhưng phải coi kỹ, bể sọ đầu mới đúng, bị chỗ khác thì không phải Ba Quyết.”

Tôi rợn xương sống. Nếu tôi bị dập ở đó ba má tôi làm sao biết được? Cái cuộc chiến tranh ái quốc ái quần này giết không biết bao nhiêu sinh mạng để làm gì ngoài những trò khỉ cho thế giới khinh miệt và cười chê.

Nước chảy ròng ròng xuống đất, tanh hôi lạ lùng, nhưng tôi và Tư Nhựt cố giữ vẻ thản nhiên. Những con ruồi bay theo đáp trên ni lông, trên chiếc đòn. Tôi và Tư Nhựt đứng nép qua, cúi đầu. Tư Nhựt giơ tay, giọng nói rưng rưng.

– Chào mày nhe Quyết!

Còn tôi không muốn nhìn cái võng lẫn cô em gái đi sau chiếc võng. Quắn nói:

– Đây là bộ đồ ảnh bỏ lại nhà, em đem tới mặc cho ảnh nhưng không mặc được.

– Cho anh gởi lời chia buồn tới gia đình.

Tôi và Tư Nhựt đứng lại chờ cho chiếc võng vượt xa mới đi tiếp Tư Nhựt nói:

– Chuyến này mình đi Trung An thầy ạ !

– Đừng kêu tôi vậy, lính cười cả anh lẫn tôi.

– Anh, thầy cả đại tá, tôi ăn thua gì.

– Về Bộ binh tôi phải học anh.

– Giỡn hoài ! Tôi nghe Tư Linh nói anh đánh Tây hồi mười bốn tuổi. Tôi chỉ là… không chó bắt mèo ăn cứt: Học thì không, kinh nghiệm thì ít. Chỉ quen đường đất vùng này.

– Kỳ này hai đứa mình phải gở lại cái Tân Qui.

– Hai ông Ba Châm, Út Lịa làm bể lính hết. Phải vùa một tụ cho tụi nó lấy lại tinh thần anh ạ. Kỳ này luồn xuống một đại đội thôi. Trước khi đi mình phải kiểm thảo trận đánh. Ông Ba Châm bị gọi về gặp ông Năm Lê . Cho ổng xanh mặt phen này. Ờ, chân anh đã lành hẳn chưa?

– Lành, nhưng đi còn sượng.

– Nghe đàn bà đi chợ về nói tụi Trung đoàn 7 Sư đoàn 5 mở tiệc ăn mừng ngoài đó. Tụi nó ngạo mình đấm vào lỗ không! Tức ói máu!

Tôi hỏi Tư Nhựt:

– Cái tay anh hết rồi hả ?

– Miễng sớt qua ngoài da thôi. Mấy bữa này xe tăng Mỹ cà rịch từ Lồng Cu 3 tới Bàu lách, lên tuốt Bến Đình. Nó vừa moi được một hầm 6 ông 2 bà ở An Phú .Chúng nó đang thăm dò để bung tới đường số 7 vào sâu Lô 6. Rồi luôn Ba Sòng nữa. Cha cha! Nó cắm nọc giữa rún mình rồi anh!

– Có ai ở trên xuống kiểm thảo mình không?

– Chưa biết. Nhưng ở trên bảo là mình có khả năng đánh cấp tiểu đoàn. Mặc dù vậy, trận Tân Qui cũng cho một số kinh nghiệm.

Tôi làm thinh. Hồi chín năm tôi ở D307 của Nguyễn Văn Tiên, có trận nào đánh cấp tiểu đoàn mà xộc xệch về mọi mặt thế này đâu. Hồi đó chiến thuật vững hơn, cán bộ tài ba hơn bây giờ nhiều. Những người lứa tuổi đó bây giờ như Ba Châm, Năm Tiều… đã lụt, chỉ còn làm được Tham mưu thôi. Nhưng đánh Mỹ bây giờ họ cũng đã lạc hậu. Các chiến thuật Lấy thịt đè người, Dao mổ bò giết ruồi, Công đồn đả viện đã phải rách nát trước các chiến thuật Trực thăng vận, Bủa lưới phóng lao, Phượng hoàng vồ mồi. Nhưng mình bắt buộc phải đánh. Chấp nhận.mọi hi sinh.

Thế là tôi và Tư Nhựt đi Gò -Môn (Gò Vấp và Hốc Môn nhập lại) để thi hành nghị quyết cấp trên. Bên cạnh cái chiến thuật “Nắm thắt lưng của Mỹ mà đánh” do “nhà văn” Nguyễn Chí Thanh (tác giả tùy bút “Cây đa bến cũ con đò khác đoan đăng trên 12 kỳ báo Nhân Dân để ca ngợi hợp tác xã) sáng tác bây giờ lại được bổ túc bằng một cái sự đời mới nữa “Đưa ác liệt vào lòng địch” mà chúng tôi là mũi nhọn tiền phong.

Theo kế hoạch thì chúng tôi gặp ông vua con Châu Thái Hùng, huyện đội trưởng huyện Gò-Môn. Hùng cho mấy chiếc tam bản rước một đại đội chúng tôi đến Trung An, một xã nằm sát sông Sài gòn, ở hai xã Tân Trạch Đông và Phú An Đông. Nếu cho tỉnh lộ 8A là cây đòn gánh một đầu gánh ấp chiến lược Cây Bài, một đầu ghim vào thị xã Bình Dương bên kia sông Sài gòn thì Ngã Tư Tân Qui và bót Cây Keo (cũng còn gọi là bót Thầy Mười vì ở gần đó có nhà thầy giáo Mười) là những điểm giữa của chiếc đòn gánh này. Tân Qui nằm ở phía ấp chiến lược Cây Bài, bót Cây Keo nằm về phía thị xã Bình Dương.

Hai cứ điểm này nằm trên trục lộ 8A cách nhau chừng bốn cây số đường chim bay. Quốc lộ I dẫn về Sài gòn gặp nhau với tỉnh lộ 8A ngay ấp chiến lược Cây Bài. Nói tóm lại muốn luồn Cl vào vùng Gò-môn chẳng khác nào bắt một con cá chui qua những mắc lưới đồn bót trên bộ và đặc biệt Giang Thuyền Bình Dương lúc nào cũng có thể đổ bộ trên hữu ngạn sông Sài gòn tấn công vào các vùng đất hẹp té được Mặt Trận Giải Phóng hóa phép thành khu Giải Phóng chiếm 3/4 đất đai Miền Nam nói chung và vùng giải phóng Quân Khu IV chạy dài tới cửa ngỏ Sài gòn! Trong khi trên thực tế, thì Củ Chi chạy tới Sài gòn là một nan lưới đồn bót cố định và được xây cất thêm càng ngày càng đông đúc vào thời điểm này. Có đến hàng trăm cái bót lớn nhỏ. Tân Qui chỉ là một cứ điểm trung bình có chừng 2C địa phương quân trấn giữ.

Riêng tôi và Tư Nhựt được một chiếc xuồng con rước vào căn cứ của Hùng, còn Cl và các tổ trinh sát thì phải hành quân qua rạch Nàng Âm vào lúc chiều tối để đóng ở ấp Phú Yên sát bờ sông Sài gòn chờ lệnh chúng tôi. Tôi hỏi Tư Nhựt:

– Anh có quen với Ba Hùng? (tức Châu Thái Hùng)

Tư Nhựt lắc .

– Nhưng nghe nói ông cũng là dân tập kết. Rất khó tính.

Chiếc xuồng con do hai người bơi theo con rạch quanh co, đổ ra sông Sài gòn một hồi rồi lại chui vào một con rạch khác. Hai bên bờ toàn là cây bần, cây mắm và lá dừa nước. Chừng một tiếng đồng hồ mới đến một khu vườn dừa cao và cây ăn trái. Tôi ngó lên thấy có một sợi dây phơi quần áo đen tím giăng giữa hai cây cau. Heo gà rải rác bên mương vườn. Tư Nhựt lên giọng lạc quan:

– Thế nào bữa nay mình cũng có bữa cháo gà .

Không ngờ gặp Hùng, chúng tôi thối chí: hắn có bộ mặt gà mái ấp, lạnh như tiền. Bàn bạc với hắn cả buổi, không có một miếng nước lã thấm giọng. Chúng tôi chủ quan nên không mang bình ton theo, đành chịu khát bàn chuyện cứu nước. Hắn làm như chúng tôi là Bộ Tư lệnh Quân Khu phải giải quyết tất cả mọi khó khăn cho hắn, nên bàn kế hoạch tác chiến nào hắn cũng than không khắc phục được mong các đồng chí thông cảm. Tư Nhựt hơi quạu:

– Phần tác chiến chúng tôi đảm trách, xin đồng chí cấp gạo cho chiến sĩ.

– Ở đây không có chế độ cấp gạo. Cơ quan nào cũng lãnh lúa tự xay lấy mà ăn.

– Tụi tôi là D cơ động làm sao xay lúa?

Hùng nhăn răng cười:

– Tại nó vậy tôi biết làm sao? (Nó là ai, có trời hiểu.)

Nếu gặp Năm Tiều chắc thằng cha quận đội này ăn đạp hoặc được thường vài ba chục đù mẹ. Mặt hắn có vẻ sáng sủa hơn Tám Giò quận đội Củ Chi. Nhưng Tám Giò còn đãi tôi và Hai Khởi một ly cà phê, trà và thuốc hút. Cuối cùng là nhậu mắm chua cá con, nhưng thằng này thì luôn luôn quác ra, làm như chúng tôi tới đây phá rối cuộc ăn hút của hắn.

Tư Nhựt hỏi tới vấn đề tải thương. Hùng lắc đầu:

– Ở đây chỉ có vài que du kích. Nhưng lâu rồi họ lặn mất hết. Nếu các đồng chí cần (cần thật chớ nếu con mẹ gì!) tôi sẽ liên lạc với xã đội Tân Thành Đông may ra kiếm được vài mạng. Nhưng xay lúa giả gạo thì may ra họ còn giúp, chớ tải thương thì e khó động viên. Có bắt họ đi ra trận, họ cũng trốn trước khi nổ súng.

Khác hẳn với những gì (rất lạc quan) mà ông Tám Quang Trưởng phòng chính trị Quân Khu thay mặt Bộ Tư lệnh phổ biến trước khi chúng tôi xuất quân. Cấp chỉ huy nào của Việt Cộng cũng có một cách lãnh đạo nhằm mục đích xua lính vào cái chết. Trước lúc vượt Trường Sơn, Nguyễn Văn Vịnh, Chủ nhiệm ủy ban Thống Nhứt thay mặt Trung ương Đảng báo cáo “Trường Sơn có quân y viện, có bếp nuôi quân, có cả mậu dịch bán với ba thứ tiền Việt Miên Lào!” Lũ binh sĩ và cán bộ nghe xong tưởng như đi dạo Bờ Hồ. Vô đó rồi hộc máu ra từng cục, lính chửi bác Hồ đểu. Nhưng đã vô lò sát sinh rồi. Cửa đóng then gài, chuồn trở ra không được. Tám Quang cũng lãnh đạo cái kiểu đó. Hùng nhìn tôi một giây rồi hỏi:

– Thấy anh hơi quen, hình như có ở 338 của ông Tô Ký .

Tôi gật, bụng không khoái lắm.

Cuối cùng tôi và Tư Nhựt cáo lui, chỉ nhờ hắn cung cấp xuồng ghe cho chúng tôi chở súng nặng đi trong rạch. Ở đây ruộng lầy, không thể vác đi được. Hắn đồng ý nhưng với điều kiện là phải báo trước một ngày thì mới có.

Hắn ngồi trong nhà nhìn chúng tôi đi chớ không thèm đưa ra bến. Tư Nhựt là kẻ rất đàng hoàng, nhưng bây giờ cũng không giằn được. Y đù mẹ và văng tục chửi thằng quận đội là đồ chó đẻ, đồng chí con gì vậy v.v….

Chúng tôi nhìn mấy người trong xóm có vẻ là du kích nhưng không dám ra mặt hơn, để hỏi thăm tình hình. Họ bảo xã Trung An này trống trơn, dân đi tứ tán hết, nhà cửa thưa thớt, chỉ có một con đường từ ấp Phú Yên ra ấp Nhà Việc gần đường số 8. Còn ngoài ra thì lội. Nếu đóng quân thì phải coi chừng trực thăng ở Đồng Dù đáp xuống hốt. D2 đã bị chụp mấy lần rồi! Chúng tôi chỉ được biết có thế. Ngoài ra thì mò mẩm tìm hiểu lấy.

Sau khi lên bờ tôi gặp Tư Công C trưởng Cl vừa lên thay cho Năm Tân bị thương nặng ở Tân Qui, Tư Công cho một tổ trinh sát đón chúng tôi đến bờ rạch xóm Bưng Tre (tức là con rạch Láng The). Con rạch này bắt nguồn từ đâu không biết, nhưng nó chảy qua cầu Phú Hiệp ở đường Một Làng, cách Đồng Dù chừng sáu, bảy cây số và đổ ra sông Sài gòn. Nói là rạch nhưng nó rộng lớn hai bờ rậm ri, nếu không có xuồng thì không tài nào lội qua được. Cuộc hành quân “đưa chiến tranh vào lòng địch” này quả là một cuộc đ đứng thiên nan vạn nan còn hơn cả Trường Sơn vinh quang.

Ở Trường Sơn có sốt rét, đói và leo núi, nhưng không có địch, còn ở đây thì nước ngập, bốn bề là địch và pháo. Nguy hiểm nhất là nước ngập cả vườn, nhà dân chỉ có cái nền là khô ráo. Không làm sao nấu cơm được ngoài vườn. Khổ nữa là củi ướt nhiều khói, bót bên kia sông Sài gòn hễ thấy khói là bắn qua. Lính lội sình móng chân nhét bùn, móng bị thối làm sưng hết cả bàn chân không đi được, chúng tôi kêu thằng quận đội mua cho vài chục cái cắt móng tay để lính dùng, và vài cái rề-sô để nấu cơm. Hắn bảo: “Các đồng chí tự túc lấy. “

Trên đường đi, tôi hỏi cậu liên lạc quận đội:

– Đồng chí Hùng ở đây hoạt động chắc mạnh lắm hả em?

Cậu bé bảo:

– Ổng đâu có ra khỏi nhà đó. Mấy ông được mời vô nhà là ưu đãi lắm rồi.

Tư Nhựt lại văng tục om sòm:

– Không có miếng nước uống, ưu đãi c… gì?

– Vậy mà hễ mấy ông về là ổng chơi toàn cà phê, Nestlé thôi Mấy con nhỏ áo hồng, áo xanh đỏ đi chợ mua đủ thứ về là đeo sát với ổng.

Tư Nhựt lại qua sông nghiên cứu trận địa vì y rành vùng này. Y bảo:

– Đơn vị mình cắm xuống đây là thất thế lắm thầy Hai, nhưng đó là ý muốn cấp trên. Nhưng thế này cũng chưa sao đâu khi lọt qua đường số 8 xuống vùng Bình Mỹ rồi thầy sẽ biết. Mình sẽ phải nấu cơm trên mặt nước . Một đứa treo soong trên tay, một đứa cầm lửa dưới đít soạng.

Đồn Thầy Mười xa xa kia. Nó chốt một trung đội để chận đường liên lạc băng qua đường số 8. Du kích bị nó đánh tan còn liên lạc thì phơi thây cũng nhiều. Do đó ở trên muốn chúng tôi bứng nó đi. Tư Nhựt qua sông xong, tôi ở lại lo chỗ trú quân và kiểm tra vũ khí chuẩn bị chiến đấu, không để xảy ra một trận Tân Qui của ông Ba Châm nữa.

Tôi và thằng Phước trợ lý cấp dưỡng Tiểu đoàn đi lãnh lúa. Lãnh cho được lúa cái đã rồi sau đó hãy tính đến việc xay. Có bộ đội chủ lực nào sinh hoạt như vậy chưa? Nếu có thì đó là bộ đội Việt Cộng. Lạ thay, trong trang thời đại nguyên tử này, nó phải đánh với một quân đội võ trang tối tân như quân đội Sài gòn và Mỹ. Và nên nhớ rằng “phải nắm thắt lưng mà đánh. ” Cái chiến thuật này đã đẻ ra vô số nghĩa địa và cái to nhất tên là Mậu Thân với nửa triệu nấm mồ vô chủ, trong đó có một cái mã to sù mang tên Lăng Bác!

Ông chủ nhà chúng tôi đóng quân mặt xanh như lá tràm. Ông không dám từ chối, chỉ muốn chúng tôi đi nhanh, nên mách cho chúng tôi chỗ lãnh lúa. Đó là anh Tư ở ấp Phú Yên. Chị Tư bán quán ở sát sông Sài gòn. Ra đây có nghĩa là vuốt râu cọp vì Giang thuyền Bình Dương thả trôi lều bều, không biết nó sẽ đổ bộ lúc nào, khoảng nào. Nhưng bụng đói thì đầu gối phải bò.

Chúng tôi vào quán thấy ba bốn ông nông dân sồn sồn mặc quần tiều, người áo vắt vai, kẻ ở trần đang ngồi uống trà. Tôi hỏi thăm thì họ chỉ ngay ông Tư trong đám. Anh là cán bộ kinh tài xã. Thằng Phước nói nhỏ.

– Ớn quá anh Hai. Rủi giang thuyền đổ bộ mình chạy đâu?

Tôi nói mà bụng cũng run.

– Có anh Tư đây lo gì !

Một người đàn bà cỡ bốn mươi tuổi, đầu tóc bới bánh lái, bước ra ngó hai đứa tôi với cặp mắt lạ lùng, lạ vì cách ăn mặc: đồ vải thô trên rừng không giống ở đây toàn xài vải ni lông. Chị bảo:

– Ông coi phát lúa cho mấy chú đi.

Tôi biết đó là chị Tư. Anh Tư nói ngay:

– Anh Ba Hùng có báo cho tôi hôm qua.

Thằng Phước ra miệng ngay:

– Anh Tư làm ơn cấp gạo cho tôi, chớ chúng tôi làm sao xay lúa? Chúng tôi là đơn vị lưu động đâu có vác cối trên vai được Vai chỉ để vác súng… cối thôi.

Tưởng đâu câu nói thống thiết đó làm anh động lòng, nhưng ngược lại, anh cười lạt lẽo:

– Mấy ông ở Hố Bò không quen vác cối xay, nhưng xuống đây phải tập rồi quen. Một vai vác cối xay, một vai vác súng cối. Có cối xay, súng cối mới nổ được.

Tôi muốn đá vô bảng mặt thằng đồng chí kinh tài, nhưng rừng nào cọp nấy, nên giằn lòng:

– Thôi được, anh Tư cho tôi lãnh lúa.

Chị Tư xía vô:

– Cái ông này, mấy chú kia (tức là D2 của Tám Lê) ở đây lâu quen rồi, còn mấy chú này mới xuống, ông phải giúp người ta chớ! – rồi quay sang tôi với cặp mắt cảm tình – Mấy chú đem lúa đổi. Một giạ lúa lấy 18 lít gạo. Dân xay lúa lời được trấu và cám cho heo gà ăn.

Tôi mừng thầm. Cái miệng nhân đạo của chị đã biến lúa ra gạo giúp chúng tôi.

– Cám ơn chị !

Tôi và Phước đi lãnh mấy chục giạ lúa. Giấy đều có chữ ký của anh Tư. Tôi hỏi anh:

– Ở đây không có kho sao anh Tư?

Anh lắc:

– Kho nước ngập, với lại mình làm kho Sư đoàn 5 nó nhảy xuống đốt hết. Chúng tôi bị cháy mấy cái ở Cầu Lớn rồi !

Sau khi lãnh lúa xong, tôi quay trở lại quán mua thuốc hút. Anh Tư mời tôi:

– Mấy chú mới xuống phải bám chắc Ba Hùng. Thôi, làm vài ly đón gió. Lạ phong thổ dễ bị chói nước lắm.

Tôi ngồi nhâm nhi khang mà mắt láo liên vì lạ nước lạ cái không biết bị tấn công, bao vây, đổ chụp lúc nào. Bỗng một nhóm ba người đầu bờm xồm, mặc áo ni lông đen cầu vai, quần tiều vào quán. Tôi đâm đứng dậy thủ thế, thì có tiếng kêu:

– Ê, Lôi !

Tôi ngó trân trân vào người vừa kêu.

– Tao là Vĩnh, Lục quân Trần Quốc Tuấn ở ty tiểu đội của mày nè.

Rồi hắn chạy tới ôm tôi hôn chùn chụt, buông ra rồi lại hôn như mưa. Chị Tư lẩm bẩm:

– Làm coi như vợ chồng !

– Tụi tôi còn hơn vợ chồng nữa đó chị Tư! – Rồi nói với tôi- Đây là chị nuôi của tao, còn đây là bạn của tôi từ mười năm trước đó chị Tư. Tưởng không gặp nữa.

– Mười năm mà còn nhớ, giỏi thiệt!

– Chết cũng không quên nữa là mười năm!

Anh Tư rót rượu, chị Tư nướng khô mực ra. Vĩnh cụng ly với tôi.

– Tao có gặp mày ở Quảng Oai Sơn một lần rồi từ đó biệt luôn. Thằng Phạm Hai không đi tập kết, nó ở lại kinh 6 Biển Bạch với con Út. Phải nó đi thì giờ này cũng như mình. (Tôi không hiểu Vĩnh nói như mình là sao. Anh dũng như mình, cực như mình hay ở trên coi mạng mình như kiến?) Nay gặp lại mày ở đây coi như tụi mình đã về Biển Bạch. Phải nhậu một bữa.

– Tao bận ghê lắm.

– Tao biết! tao biết! Nhưng bận gì cũng phải say một trận. Mày phải bám ông thần này (Vĩnh vỗ ngực) chớ không nhờ cậy thằng Châu mèo đái đó được đâu.

– Châu… nào?

Vĩnh rỉ tai tôi:

– Thằng Châu Thái Hùng! Ở đây bọn tao và Tám Lệ, Năm Dây kêu nó vậy, vì nó giúp gì cho mình cũng ri rỉ còn với các em thì nó rộng rãi như công tử Bạc Liêu. Mày tới cơ quan nó chưa? (Tôi gật) Có thấy mấy con gà mái tơ láng mướt trong nhà không? Đó là cái ổ… cách mạng to nhất của Gò-Môn. .. đóng tại làng Trung An. Mày cứ ở đây, bảo gì, cần gì tao làm cho. Thằng đó kể như mình nghỉ chơi đi ! Tao biết nó là Cf ở 338 nhưng đéo thèm nhắc. Mày không thấy cái mặt lưỡi cày, bộ răng chuột của nó à . Tướng đó khó chơi lắm. Nhờ nó cái gì nó cũng bảo tự túc, hoặc hứa mà không có ! Tao lo hết ! Tao lo hết cho mày! – Vĩnh đấm ngực – Tao sẽ cho lính tao tới phụ với mày.

– Đừng có hứa cuội nghe Vĩnh!

– Ê, giỡn hoài mày, ai chớ thằng này hổng chơi kiểu đó !

Tôi cười, giơ ly rượu lên:

– Vậy mày không hứa ra Bắc hai năm về là gì, Vĩnh?

Vĩnh cụn ly với tôi, nốc cạn rồi hai thằng tri kỷ ngã đầu vào vai nhau cười sặc sụa. Nó lè nhè:

– Không biết cô nàng Biển Bạch của tao nay đã thành hủ mắm chưa ?

– Tao cũng có một hủ….

Chị Tư vọt miệng:

– Mấy chú đừng lo, mắm để lâu càng ngon!

Chúng tôi lại uống, lại nhắc tích cũ. Nhưng không dám uống say dù cần phải say. Tôi bảo:

– Ngồi ở đây tao rét quá Vĩnh à !

– Mình ở Bạc Liêu Cần Thơ quen chém vè rồi. Ở đây cũng vậy. Tao chết, mày mới chết! Tao đã sống ở đây hai năm rồi!

-Trời đất, lão làng cỡ đó sao!

Vĩnh hứng tình, chu mõ hút gió queo queo vang cả quán. Anh Tư chị Tư đều khen tài của hắn. Tôi châm thêm:

– Nó ca vọng cổ mùi còn hơn mít nghệ chín cây nữa đó chị Tư. Nhờ vậy mà con Út đội giường thờ theo nó. Rồi con Sáu cũng mê nó luôn. Để khi rỗi, anh biểu nó vừa hút gió vừa diễn bài Khổng Minh tọa lầu cho anh coi cười lộn ruột.

Vĩnh nốc một phát quẹt miệng rồi gật gù:

– Tao sẽ về gặp lại em tao.

Hắn móc bóp lôi ra tấm hình nhỏ đã loang lở đưa cho tôi.

– Mày nhớ cái bờ kinh này không.

– Chẳng biết bờ nào?

– Bờ kinh 6 Biển Bạch chỗ tướng mình đóng.

– Ờ! ờ!

Tôi hình dung lại những hình ảnh xa mờ sau những lớp bụi chiến chinh, vẫn còn chưa biến dạng trong đầu. Vĩnh tiếp:

– Tao với mày đừng có đứa nào sẽ như anh Bảy Đồng của mình nghe mậy !

– Bảy Đồng nào?

– Huỳnh Thành Đồng tham mưu phó Quân Khu mày quên à?

– À! à ! Hắn ở Công binh F338 ông TÔ Ký đóng ở Xuân Mai. Ảnh ở đâu?

– Ảnh đang… ở sau bờ mía kia kìa.

Tôi mừng như tái sanh.

-Thiệt hả?

Huỳnh Thành Đồng Tiểu đoàn trưởng Z35, người đã chỉ huy pháo kích sân bay Biên Hòa. Tưởng đã chết ở Sông Bé. Súng ống quăng cả ở sông Sài gòn chạy lấy thân. Cái huân chương của ảnh tôi thay mặt lãnh ở đại hội mừng công R có mặt ông Sáu Vi, Nguyễn Hữu Thọ v.v… Nay lại gặp ở đây. Ảnh sẽ giúp mình cả tinh thần lẫn vật chất trong lúc gian nan này. Tôi hỏi:

– Có thể cho tao gặp ảnh được không?

– Ảnh nằm đó chớ đâu mà không được? Cái thằng!

– Tao muốn gặp càng sớm càng tốt !

– Khoan đã, để cưa thêm xị nữa rồi gặp không muộn gì. Ảnh đóng ở đó chớ không dời đi đâu hết. Đã ba, bốn tháng nay rồi.

Tôi yên trí nên nốc nhanh nốc mạnh. Xị rượu lưng rồi đầy lượt nữa. Vịnh vẫn cà kê. Tôi sốt ruột:

– Thôi đủ rồi Vĩnh. Làm quá mức không chạy được.

– Ừ đi thì đi. Nhưng đừng có gặp mà khóc như tao gặp mày lúc nãy nghe!

Vĩnh dắt tôi ra bờ. Qua một dãy mía sau quán. Đến một khoảng đất trống bằng chiếc đệm bốn bên là cây nua, cây bù xít um tùm. Đứng xa xa Vĩnh trỏ tay:

– Đó chả nằm đó.

Tôi nghĩ thầm:

– Chỗ này đào hầm được à?

Nhưng Vĩnh nói, giọng tỉnh queo:

– Mày không thấy chỗ đất mô mô đó à ?

– Nắp hầm mà làm vậy lộ chết!

– Nắp hòm chớ nắp hầm gì ?

Tôi điếng người. Lặng câm hồi lâu. Tai ù mắt hoa.

– Mày nói gì Vĩnh?

– Thì ảnh nằm đó chớ nói gì ?

Tôi hiểu rồi. À! thì ra thế.

– Thôi, đi vô mày. Tụi Giang thuyền đổ bộ êm lắm.

Bàn rượu vẫn còn nguyên, chưa dọn.

Huỳnh Thành Đồng? Con người to lớn. Đại đội trưởng Công Binh F338. Về Nam lúc nào không biết: Đánh sân bay Biên Hòa. Rồi được phong làm Tham mưu phó khu IV. Vợ ở Mõ Cày, Bến Tre. Rước vợ vô 1963 ở Tà Băng. Gặp vợ ở đò máy anh ta ẵm lên tay. Vợ dãy dựa suýt rớt xuống sông… Bây giờ nằm ở đây, im lìm như đất, dưới đất. Bốn bên không một đóa hoa. Không một cọng nhang.

Huỳnh Thành Đồng! Tham mưu phó Quân Khu IV!

Vĩnh không còn cái giọng châm biếm pha bi lụy nữa. Nó ngồi đờ ra.

– Thôi uống đi mày rồi lo công việc! Tao không muốn cho mày biết nhưng có thể sau này tao với mày gặp nhau dưới đó rồi mày trách tao.

Đột nhiên một tia sáng lóe trong đầu tôi:

– Khoan đi đã Vĩnht Mày hỏi chị Tư có gà vịt gì không cho tao một con.

Rồi chị bắt gà làm thịt, luộc để trên dĩa đem ra cho tôi.

– Đi Vĩnh ! Theo tao .

Vĩnh biết ý tôi, lấy bó nhang. Hai đứa ra mộ. Nấm đất lè tè vàng úa như một gò mối loạn trong rừng Tây Ninh. Tôi đốt nhang, cúng vái. Khói tỏa mênh mang. Lòng tôi tan nát bi thảm. Huỳnh Thành Đồng học cùng khóa pháo binh ở Sơn Tây với tôi về Nam lội khắp nơi. Biên Hòa, Bình Giã, Phước Long đều in dấu chân anh. Bây giờ nằm ở đây bẹp dí!

Chúng tôi quay trở lại. Tôi hỏi Vĩnh:

– Sao vậy?

– Ổng xuống đây thằng mèo đái không cho ở chung. Lạ cảnh lạ người !

– Sao không bám mấy ông xã đội?

– Xã mẹ gì. Chị Tư biết rõ. Ở đây làm gì có xã xiếc Ảnh tự đào hầm ở sau quán đâu đó. Giang thuyền đổ bộ lội vô quán ngồi im. Có lẽ ảnh bị ngộp nên tung lên chạy. Chẳng ngờ có hai tên ở sau bờ ngồi ăn mía. Nó rẹt một băng M16 rồi rút xuống tàu. Không biết đó là ai!

– Trời !

– Nó tưởng là thường dân.

– Có báo cáo về khu không?

Thằng mèo đái nhẹm luôn vì đó là trách nhiệm của nó.

Đại úy Hai Giả bị cài xuống Thủ Đức cũng chết oan ức như vậy. Đó là kết quả chiến thuật nắm thắt lưng của Sáu Vi !

Tôi vẫn tưởng anh còn ở đâu trên R. Dè đâu lại chết ở ấp Phú Yên xã Trung An bên bờ sông Sài gòn. Hạng Võ không biệt Ngu Cơ ở Ô Giang mà ở bờ sông Sàigòn. Ngu Cơ hỡi, nàng ở Mõ Cày nào có hay!

Tôi gặp anh sau khi anh ở Bình Giả về. Mặt mày trầy xước, tóc tai bù xù, chúng tôi nhậu ở Suối Dây với thịt nai của Bùi Khanh săn được. Mấy đứa làm cạn năm lít đế mua ở Xóm Mới. Tám Tiến, Năm Minh, Tư Tây, Tôn Sứt, Bùi Khanh, Đồng và Lôi. Mọi người hãy còn, mất một mình Đồng. Hồn thiêng hãy về báo mộng cho chị ở Mõ Cày!

Cũng may nhờ gặp Vĩnh bạn chí tình. Nó cho lính bắc thêm, sửa chữa mấy cây cầu Rạch Cây Da, Rạch Kè để chúng tôi vận chuyển DKZ và súng cối! Nếu đi cầu khỉ thì quăng cả người lẫn súng xuống sông.

Tư Nhựt móc được người em cột chèo là Sáu Sanh, trợ lý tham mưu quận Gò-môn. Sáu Sanh tìm được vài ông du kích xã Tân Thành Đông. Tôi vẽ sơ đồ và đặt kế hoạch. Muôn năm vẫn một chiến thuật: Đánh nhanh rút nhanh để tránh pháo Bình Dương. Chúng đã gây tổn thất cho chúng tôi ở Tân Qui hơn cả trận chính diện. Bây giờ chúng tôi rất ngại, nhưng với pháo, không cách gì chống được trong lúc rút lui.

Đêm xua đánh đồn thầy Mười. Tưởng hạ nhanh, không dè lằng nhằng tới ba giờ sáng. Lính bị thương nặng nhẹ trên mười. Chết năm cậu. Đồn chính vẫn còn đề kháng ác liệt. Dakota thả hỏa châu, tàu lá chuối cũng không che được thân kiến. Gà cồ Bình Dương lại gáy ầm ầm sau lưng và hai bên sườn chúng tôi. Ba lô cốt đã bị chiếm để làm bàn đạp diệt cứ điểm trung tâm. Tư Nhựt hét như muốn đập máy:

– Công! Ôm thủ pháo nhào đại vô cho thằng Bụng lên.

Ở Tân Qui cối của Ba Trác vẫn canh không cho tiếp viện. Lát sau nghe thằng Trung báo:

– Anh Công quỵ rồi.

Công là em nuôi Tư Nhựt mới lên C trưởng được mấy ngày. Tư Nhựt hỏi tôi.

– Bây giờ làm sao anh Hai? Pháo Bình Dương nó dập sau lưng mình rát quá !

Tôi giựt máy:

– Bụng! Bụng ở đâu?

– Tôi với thằng Bính ở trong lô cốt bên tay phải.

– Sao không bò lên bịt lỗ châu mai trung tâm?

– Trống trơn. Bò lên đứa nào ngã đứa nấy. Ba bốn đứa nằm trước mặt tôi đây chưa lôi ra được.

Tư Nhựt lại hỏi tôi:

– Cho đám trinh sát nhào vô đại được không thầy?

– Không được !

Quả tôi thấy khó . Đánh kiểu này y như chiến thuật a thần phù của Trần Bá Xoài ở Cần Thơ và Hoàng Thọ ở khu 7 hồi chín năm. Nghĩa là cứ đánh rồi tùy tình hình mà liệu. Chắc sẽ bị pháo dập nát ngoài hàng rào trước khi hạ được cứ điểm trung tâm.

Bỗng nghe tiếng rí rố sau lưng. Tôi bảo Xướng ra coi cái gì vậy. Xướng báo cáo:

– Ba Trác pháo kích Tân Qui về tới.

– Kêu nó vô đây.

Ba Trác Cf cối, người Hải Phòng, mập mạp trắng trẻo.

– Báo cáo Tham mưu trường, tôi Ba Trác…

Tôi đưa tay ra hiệu bảo ở đó chờ rồi đập thằng Thuận:

– Mày chạy lên coi thằng Bụng thế nào?

Thằng nhỏ vọt lên như con chuột, lủi nhanh dưới lửa. Tôi tiếc thầm: Phải đem một bộ phận công binh của thằng Vĩnh theo thì đỡ quá . Thận chạy về thở hồng hộc, tiếng khao khao:

– Nó chỉ còn một khẩu đại liên ở trung tâm. Mình ló con nào nó quét con nấy. Ba Bụng đang ở trong lô cốt bên phải nhưng không vô trung tâm được.

Tôi lẩm bẩm.

– Làm sao bịt họng đại liên?

– Cối mình đâu? Anh nói anh từng bắn thẳng…

Thằng con nít bất ngờ gỡ rối cho tôi, kẻ đã tập cho đơn vị Tôn Sứt bắn trực xạ ở nền đồn Bổ Túc nơi chồng của Mai Khanh chôn thây bên gò mối loạn. Lúc rối trí tôi quên chính tôi đã sáng tác ra cái lối cối bắn thẳng. Thằng Thuận nói:

– Ở phía sau có mấy bà du kích do anh huấn luyện pháo…

Đang nói bỗng thằng Thuận quát.

– Anh Hai hụp xuống.

Khào… Làn đạn bay qua trên đầu tôi!

– Mời Tư Nhựt lại đây Thuận.

Tư Nhựt chạy tới, giọng run run:

– Pháo nó nã rát quá anh Hai.

– Để tôi! Ba Trác! Pháo còn mấy quả?

– Dạ mỗi khẩu còn một cặp!

– Đem lại đây một khẩu chuẩn bị bắn thẳng.

Hắn ngần ngừ, vì chưa từng bắn kiểu đó. Thằng Ty liên lạc nói:

– Anh Hai để em bắn cho!

– Mày học ở đâu.

– Em có học của anh hồi trước. Nhưng hiện giờ không có que và dây giật.

-Tại sao?

– Dạ bắn ở Tân Qui xong bỏ hết, anh Trác định về nghỉ, nhưng nghe đây còn nổ nên anh tạt vô coi.

– Chạy ra sau chặt ít khúc sậy hay dây gì cũng được !

Một chốc Ty về:

– Sậy dòn không buộc cò được.

– Anh nào có dây lưng quần cởi ra.

– Đâu có ai bận quần lưng rút, toàn là quần tây gài nút, còn quần cụt thì dây thun không xài được.

Ba Trác đã đem khẩu cối tới. Nhưng không có dây. (sau khi pháo kích y đã vứt hết mọi thử râu rìa, cho mang đê cối và nòng về thôi ) Thằng Ty la lên:

– May ra mấy bà du kích có anh Hai.

Tôi tuột quần dài ném cho Ty:

– Mày ra đổi mấy cổ lấy sợi dây lưng rút và chặt hai ba khúc sậy đem vô cho tao.

Tiếng pháo Bình Dương vẫn nhịp trường canh sau lưng chúng tôi tới cả trời rung rinh suýt sụp cả đất.

– Anh Hai tụt xuống.

Chéo! Chéo! Chéo! Thuận lôi tay tôi. Đạn qua trước rồi tôi mới hụp sau. Thằng Ty trở lại đưa hai sợi dây lưng và bốn, năm khúc sậy, mỗi khúc dài khoảng một thước tây.

– Ở đâu có đến hai sợi lận.

– Một ông già có sợi dàm trâu buộc ngang lưng đề phòng lội nước tụt quần tiều.

Thế là tôi có hai sợi cho hai que sậy. Tôi bảo Tư Nhựt:

– Anh kêu thằng Trung, thằng Bụng thu hút đại liên về phía nó để ở đây tôi bố trí bắn thẳng.

Rồi thằng Thuận dẫn đầu, thằng Ty vác đạn, Ba Trác vác lòng, tôi xách đế cối khòm khòm đi lên phía trước. Trung và Bụng đã làm đúng lệnh của tôi. Thu hút cả hỏa lực về phía chúng nó. Xướng báo cáo.

– Anh Hai xong rồi .

– Xong cái gì?

– Có chỗ đặt pháo rồi.

Ba Trác thì bảo Ty:

– Chạy tìm cho tao hòn đá để kê nòng súng.

– Trời, đá đâu ở đây? Đá bèo thì có.

Tôi quát:

– Tìm mau, ở đó mà giởn.

Ty chạy đi rồi trở lại:

– Có gạch thôi không có đá .

Ba Trác giật lấy hòn gạch. Tôi chụp lấy khẩu cối đặt lên nhưng nòng cối để nằm gối lên hòn gạch cứ lăn qua lăn lại. Tôi bèn giật chiếc khăn choàng tắm trên cổ thằng Ty chêm dưới nòng súng. Tôi đo từ mặt đất đến nòng cối đúng một gang tay. Theo thường lệ thì chẳng có ai bắn pháo cối như tôi. Trường dạy đặt nòng cối trên đế và bắn vòng cầu. Cho nên khi lấy hướng và độ xong thì pháo thủ ôm đạn cối thả vào nòng. Viên đạn chạy tọt xuống, hột nổ ở đuôi pháo sẽ chạm kim hỏa và vọt ra khỏi nòng bay đến mục tiêu.

Còn tôi thì khác. Tôi sáng tác ra cách bắn thẳng. Thay vì đứng trên đế, nòng pháo được đặt nằm theo chiều dài, họng cối chỉ cách mặt đất một gang tay nghĩa là chừng 20 độ. Như vậy thả trái pháo vào nó không chạy xuống. Do đó phải dùng que sậy đẩy nó xuống chừng 113 nòng pháo. Ở một đầu que sậy buộc sợi dây còn đầu kia thì chọc vào đầu trái pháo đã nằm sẵn trong nòng. Khi có lệnh thì người cầm sợi dây sẽ giật, que sậy đẩy trái pháo rơi xuống đáy nòng cối.

Tôi chỉnh hướng, tầm độ xong thì trong lỗ châu mai của cứ điểm trung tâm phụt ra những dây lửa quét qua quét lại phía thằng Bụng. Tôi nằm dài theo lòng cối và quát:

– Xong chưa ?

– Xong !

-Bắn!

Thằng Ty giật mạnh. Cụp! Trái đạn vọt ra. Tôi ngó theo. Một vầng sáng lóa xanh lè. Đạn đã chạm tường và xuyên thủng vào nổ bên trong. Tôi không thấy đạn súng máy phụt ra nữa thì biết trúng mục tiêu nên quát.

– Bắn tiếp!

Thằng Ty nối dây, Ba Trác nạp đạn. Ầm! Không còn tiếng súng bắn trả. Tôi hô: “Xung phong!” Một chiến sĩ đưa máy bộ đàm cho tôi. Tôi hét:

– Tư Nhựt! Cho trinh sát vô khiên chiến thương. Toàn đơn vị thu dọn chiến trường.

Xác lính hai bên lẫn lộn nằm chồng, nằm bên nhau. Phải rọi đèn pin để nhận mặt. Xác Tư Cường Ct nằm bên góc lô cốt trái với bốn xác chiến sĩ.

– Cho rút nhanh, Tư Nhựt.

Chỉ năm phút sau Dakota đã tới thả pháo sáng và ria vòng ngoài. Tư Nhựt chống nạnh, quát:

-Thằng Châu mèo đái đâu, vô đây mà hôi ! Đù mẹ thằng quận đội chó đẻ !

Đồng hồ tay tôi chỉ bốn giờ. Trời đã hừng đông. Nhờ sợi dây lưng của cô nữ dân công và sợi dàm trâu của bác nông dân mà cối bắn được hai quả. Nếu không, sẽ phơi xác cả trung đội chớ chẳng ít. Hạ một đồn chỉ có một trung đội nghĩa quân đóng giữ mà chết một Ct., một bt và mười một chiến sĩ. Nhưng hãy còn khá hơn trận Tân Qui. Nhờ sợi dây lưng quần chớ không phải nhờ tài trí của Tư Nhựt và Thiên Lôi. Nếu không có cái sợi dây phép đó thì chắc…

… Đường về nhà má vợ Tư Nhựt nước ngập lội lõm bõm. Vườn nhà măng cụt, sầu riêng nước lên tới gốc. Tư Nhựt cứ đi một quãng lại chửi rùm:

– Đù bà thằng mèo đái. Bây giờ tới phiên nó đi hôi !

Cái nhà ngói ba căn. Hai bộ ván gỏ hai bên. Chính giữa là cái bàn thờ. Bồ lúa đứng ở sát vách. Tôi quơ manh chiếu ném vô kẹt (bảo đảm miểng pháo văng) ngã ạch xuống, tay chân rã rời, hồn bay khỏi xác. Không biết qui phủ được bao lâu thì có người lắc chân lôi dậy:

– Anh Hai, dậy ăn cơm.

Dòm mặt trời đúng ngọ. Tôi bước lại bàn. Đồ ăn vung chùng. Thấy có hai chị em giống mặt nhau, tôi đoán là vợ và em vợ Tư Nhựt. Tôi đùa:

– Ông không sợ nghèo ba năm sao?

– Ông muốn chèo thì vô, sợ gì?

Thấy tôi bận quần tiều, bà già bảo:

– Mất quần như chú vậy cũng nên mất.

Tư Nhựt tiếp :

– Không biết cô dân công đó ở đâu má ạ ! Để con thưởng cô ta hoặc bắt làm dâu cho tiểu đoàn.

Vợ Tư Nhựt đem hai trái sầu riêng để trên bàn khui ra thơm bát ngát.

Tối hôm đó đánh luôn lô cốt Rạch Tra do Nhân Dân Tự Vệ thủ. Không có phát súng kháng cự nào.

Lính tôi hăm hở xông vô định lấy súng. Tôi quát:

– Nó gài mìn trong đó. Vô chết banh xác.

Tư Nhựt thừa thế quát to:

– Trở ra, rút mau. Nó tới bây giờ. Rút nhanh !

Nhưng pháo đã động tới. Ngay lô cốt. Đất đá bay như mưa. Tôn Võ Tư có dạy: “Địch lui ta không nên đuổi. Địch bỏ thành chớ nên vào.” Thấy chưa?

Về tới nhà thằng nào thằng nấy mặt mày không còn hột máu, thè lưỡi dài cả gang.

Tôi, Tư Nhựt và một số trinh sát Ct, Cf tiếp tục nghiên cứu. Chúng tôi cho 1A trinh sát qua sông Rạch Tra, luồn xuống chợ Nhị Bình trong đêm đó, qua luôn sông Bà Hồng, vùng đất không một bóng người, nhà không vườn trống. Hoang vắng lạnh người. Chúng tôi mắc võng ngoài vườn cau. Rồi tìm ổi ăn đỡ dạ, mà lại uống nước lã. Ruột sôi như sấm, không ngủ được. Thuốc hút ướt mềm. Rượu không có, không có cái gì ngoài trên răng dưới dế và những câu chuyện khào. Tôi mơ màng, nghe Ba Đức hỏi Tư Nhựt:

– Về nhà tấp nập vậy, ông có bắn được quả nào không?

– Súng K54 bắn ruồi chớ bắn gì.

– Thì bắn ruồi chớ bắn gì? Hí hí… Con ruồi nhà ấy mà ?

Tư Nhựt hiểu ý, gãi đầu đáp:

– Khách khứa đầy nhà , lại lu bu công việc. Tôi lôi bả ra sau vườn thừa thắng xông lên làm cú đứng. Mẹ ! Nước ngập tới mắt cá. Đỡ ghiền vậy chớ mất hứng quá cha!

Tôi cười, chõ mồm sang:

-Đứng cũng tốt chớ tía nó! Hắc… hắc!…

Tư Nhựt trả đũa .

– Bộ thầy cũng có kinh nghiệm hả?

– Trực xạ có khi hay hơn bắn vòng cầu. Tuy có hơi vất vả nhưng mục tiêu kề.

-Đúng ông gầy… thầy… pháo!

– Nhưng không cơ động bằng ông đặt dưới nước bắn thẳng bon!

– Hề hề… Tôi nghe mấy bữa trước, quân y rung rinh… hầm mấy em tơi bời khói lửa hết ráo.

Tôi tưởng thật, nên ngạc nhiên hỏi.

– Pháo nào? Sao tôi ở đó mà không biết?

Tư Nhựt cười đắc chí:

– Còn pháo nào nữa ông thầy ? Một quả , rơi hai con chim Thiên Nga !

Tư Nhựt cười đắc chí. Ba Đức tiếp:

– Nhưng cái cú trực xạ của anh không thể sánh nổi với cái miếng xay lúa của ông thầy pháo đâu nghe anh Tư!

Ba tên lê dương đầu đỏ cười sục sục giữa sự im lặng phập phồng của những tiếng súng vừa im.

Chương 77

Cái chết rùng rợn của tên cướp đầu đỏ bần cố nông Nguyễn Chí Thanh:
Điềm gở Mậu Thân.

Sau trận Thầy Mười, tình hình trở nên cực kỳ sôi động. Các cơ quan quân khu đều chạy tuột quần qua sông Sài gòn để tìm đất cắm dùi ở Bến Cát, Bến Súc, C khu đói và đau (Đ) cũ. Tôi không gặp lại Năm Lê trước khi anh rời cái chiến luỹ Maginot của Xã đội trưởng Ba Xây ở Xóm Bà Huệ . Cô Hiến, cô Thanh nấu bếp và Tám Nghị bị moi hầm bắt ngay ở đó. Tám Quang, cô Thảo cũng dông qua sông không ai tìm được. Mặt mấy ông lớn méo xẹo như những cái lò bị bão. Cho đến giữa năm 67 thì quân khu tả tơi này giải tán để chia thành 5 phân khu, chuẩn bị tổng tấn công Sài gòn vào Tết Mậu Thân.

Ở chương này tôi sẽ kể cho các bạn nghe về sự liều mạng nướng quân của bọn Hà Nội, đặc biệt là cái chết rùng rợn của tên giặc đầu đỏ Nguyễn Chí Thanh, một tên lính không có cấp bậc bỗng nhiên lại vọt lên thành Đại tướng rồi đứng lên đầu cả Võ Nguyên Giáp. Hắn là cháu cưng của Hồ nên Hồ đưa hắn vào Nam với chức Toàn quyền xứ Nam kỳ, tiền trảm hậu tấu, với cái tên ăn trộm Sáu Vi. Sáu Vi có cái bảng mặt vuông như khay trầu, bên má trái có cái sẹo to, có lẽ đó là dấu vết của một thời dao búa. Thợ ảnh chụp để treo trong đám lãnh tụ Hà Nội phải lấy nghiêng 3/4 để dấu cái thẹo đó và chải tóc hắn lưỡi mèo để che bớt cái trán dồ, còn bộ răng như cưa cá mập của hắn thì không sao núp kín dưới cặp môi thâm, dù rất dày, dày như hai múi bưởi của chị em ta.

Trận đánh đồn Thầy Mười đánh dấu một chặng đường lịch sử của Củ Chi: Nó cho biết rằng muốn đánh một cứ điểm do một trung đội địa phương quân phải dùng một tiểu đoàn chủ lực và phải hi sinh trên mười chiến sĩ, 1 Bt, lCt. Như vậy muốn đánh Sài gòn (đánh thôi, chưa nói hạ được) gồm có hằng chục sư đoàn trấn giữ thì phải có bao nhiêu quân đội và hi sinh bao nhiêu? Vậy mà bọn Hà Nội dám tấn công với những lực lượng tập hợp năm cha ba mẹ., rồi đặt ẩu cho những cái tên công trường 5, công trường 7 với sự hợp đồng chệch choạc, sự chỉ huy hầu như không có thì chẳng khác nào vác một cái vỏ trứng chọi vào một tảng đá. Chủ nghĩa Cộng Sản luôn luôn áp đặt và bành trướng. Nhưng bây giờ nó đã teo như mãnh da lừa và nhủn như cái c… c…

o O o

Tôi gắt tiểu đoàn chạy suốt không nghỉ. Chạy hộc máu, chạy cháy phổi, chạy bằng chân bằng cả đầu gối và hai tay. Chạy chết. Chạy cho thoát khỏi. Nhưng….ầm… ầm…

Mưa dưa hấu. Không nhiều, ba đợt trải thảm thôi. Tôi bò lên không nhớ mình tên gì, không biết mình còn sống hay chết. Dựa lưng vào gì cũng không biết. Ngủ hay thức cũng không biết. Bỗng nghe tiếng kêu văng vẳng:

– : Thiên Lôi ! Thiên Lôi đó hả ?

Tôi mở mắt ra thì thấy Tư Linh. Hắn cà gật cái đầu. Hắn thở như trâu cắt cổ. Hai thằng sống sót gặp nhau. Hắn cố nín thở để nói.

– Tin quan trọng.! Tin quan trọng!

– Quan trọng cái đếch!

Tôi quát và lại gục xuống… ngủ tiếp. Hắn rỉ tai tôi. Tôi kêu lên. Hắn lại bảo.

-Thiệt đó mày!

Tôi bàng hoàng sửng sất có đến mười phút mà không biết nói gì, không hiểu gì, cứ ngó hoài vào khoảng không đen đặc.

– Thiệt vậy sao? Thiệt vậy sao hả mậy?

Tư Linh ngồi soải bẹt hai chân ra như hai khúc gỗ, đầu nghẹo sang bên, không đáp. Tôi gắt:

– Sao không thấy ai báo cho tao biết?

Hắn gầm lên:

– Người ta đang dấu. Đù mẹ, báo cho mày?Mày là cái củ gì mà người ta phải báo cho mày?

– Xui quá ta ơi…

– Đừng có lộ ra. mất đầu ! Chút xíu nữa anh Ba Xu mình cũng phủi càng leo lên bàn thờ rồi.

– Ở đâu?

– Thì tại căn cứ đường 30 ở Long Nguyên.

– Trời, chỗ đó mà chết thì còn chỗ nào sống nổi!

– Hữu sanh hữa mạng mà mày. Tao bị trực thăng phang biết bao lần, và đội B52 mấy chập mà không sứt tí bòi nào hết. Còn ổng ở hầm sâu tới âm phủ nhưng chừng tới số thì cũng chết. .

– Xui quá là xui. Mẹ ! Sắp xuất chinh, nguyên soái lại chết, còn hơn cái kỳ bị gãy cụp. Đó là điềm xấu vô cùng.

– Đầu cu ở đó mà văn hoa ! Mày biết tụi thằng Hai Ninh ở đâu không?

– Chi vậy?

– Bảo nó điện cho Tư Cường điều động trực thăng vô Mi Mốt.

– Cấp cứu hả ?

– Cấp gì được mà cấp?

– Miễng hay sức ép?

– Trúng ngay trên giữa đỉnh đầu.

– Ổng có trối lại gì không?

– Không. Chỉ la một tiếng thất thanh rồi nằm dài, bất tỉnh luôn. . .

– Chậcc! Khổ quá, ổng ở trên R yên rồi, sao đi xuống dưới này làm gì cho bị vậy?

– Ở trển cũng ăn B52 liên tục nên ổng xuống dưới này chỉ huy và lánh nạn luôn. Không biết lẽ nào.

– Lánh nạn mà lại thọ nạn. Đù mẹ, chẳng ai biết được.

Tên tướng đầu đỏ đi xuống I/4 xem xét tình hình về vụ Tổng công kích Mậu Thân 1968 để bàn với Tư lệnh Ba Định.

Để chuẩn bị cho cuộc tấn công quan trọng này vô số công việc được tiến hành như: giấu kín hằng tiểu đoàn xe thồ trong rừng, mở đường băng rừng và quan trọng nhất là căn cứ cũ Bộ Tư lệnh Nam Bộ hồi chín năm của Trần văn Trà (một tên bất tài nhờ gặp dịp may mà lên đến Trung tướng). Năm 1950 Trà dời về Chiến khu Đ Đất Cuốc, Tân Uyên, Biên Hòa, tại đây Nguyên Bình giao quyền hành lại cho Trà để về Trung ương và chết dọc đường, người ta nghi là Lê Duẫn đã báo tin cho Phòng Nhì Pháp, đem lính commando phục kích.

Năm 1967, Bộ chỉ huy quân Giải Phóng đã biệt phái Trung đoàn Đặc Công-công Binh 429 do Tư Cường chỉ huy, xuống vùng Long Nguyên để thiết lập căn cứ.

Cả đơn vị thay phiên nhau xúc tác ngày đêm không lúc nào ngưng. Những gốc cây rừng to cả hai ba ôm được ngã xuống, cắt mỗi khúc dài sáu thước, bốn năm người khiêng mới xuể, dùng làm đà nắp hầm. Hầm đào sâu ba thước. Kiến trúc theo hình chóp nón với trụ chống đỡ có thể chịu đựng sức ép của B52 và bom từ 200 đến 250 kí-lô nổ trên nắp. Đường kính của các khúc gỗ dùng để làm nắp hầm phải từ hai đến ba tấc Tây. Ngoài ra trên nắp hầm còn có những lớp tre trúc đập dập xấp lớp để cản sức khoan xoáy của bom pháo. Đồng thời cũng có cả nắp đậy để chống bom hóa học.

Lòng hầm gồm có nhiều ngăn: nơi làm việc của Bộ chỉ huy, hầm ngủ của cán bộ, hầm quân y, hầm nhà bếp, hầm lương thực, hầm hội trường, hầm tù binh Mỹ. Đặc biệt có cả máy điện cung cấp điện cho các hầm về đêm. Có thể nói đó là một cái hang Pắc-pó nhân tạo thiết kế hiện đại như một thành phố tí hon dưới lòng đất.

Ở trên qui định là phải hoàn thành trước cuối năm 1967.

Khi hoàn thành xong thì Nguyên Chí Thanh xuống xem qua hệ thống hầm hố này và bỏ mạng tại đó.

o O o

Tôi đang ngồi bên cạnh Tư Lệnh cùng dựa chung một gốc cao su ngủ thiếp đi lúc nào không hay thì cậu cần vụ đập tôi dậy. Trời mưa lâm râm càng làm cho cảnh tượng thê thảm hơn là cảnh hai anh Hồng Quân Liên Xô trong Chiến Bại (La défaite) của Fadeev. Thằng Tặng, cận vệ của Tư Linh, giăng võng đã mắc xong. Tôi gọi Tư Linh vào. Thằng Tặng đưa cho hắn cốc nước trà, hắn chỉ hớp mấy hớp rồi nằm vật xuống võng ngáy pho pho. Tôi cũng uống nước, uống hết cả cốc và hỏi thằng Thuận cận vệ của tôi:

– Đơn vị đâu?

– Dạ, không biết.

– Trời đất, sao mày không biết đơn vị ở đâu, hả?

Thằng Thuận bứt đầu bứt tai lơ lơ láo láo. Tôi sực nhớ ra rằng hai thầy trò vừa tách đơn vị đi điều nghiên địa điểm để đặt pháo bắn vô Đồng Dù lần nữa. Dọc đường thì bị B52. May có nó bên cạnh, nếu không, chẳng ai biết tôi ở đâu mà tìm. Và cũng may thần kinh tôi chưa đứt sợi nào, nên tôi chưa quên cái tiền kiếp một giờ trước của tôi. Tôi bảo:

– Em biết chỗ nào còn quán xá gì không?

Thuận gan lỳ theo sát tôi! Nó là cậu cần vụ thứ 5 của tôi kể từ khi chỉ huy Bộ Binh. Cứ mỗi đứa lên vài tháng lại rụng, lâu lắm là ba tháng, nhanh nhất hai ngày. Tôi là kẻ bị đạn chê. Hồi chín năm, Nguyễn văn Trên, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 307 lừng danh toàn quốc gồm toàn lính ác chiến gốc Vĩnh Trà Bến, cũng kể là bị đạn chê như tôi bây giờ. Liên lạc và cần vụ của ông ta hi sinh đến cả chục mạng trong kháng chiến chống Pháp. Nghe tôi hỏi, Thuận lắc đầu:

– Bây giờ không biết ngả nào mà mò nữa anh Hai ạ !

– Lấy đèn pin mà đi.

– Dạ, mắt em sáng còn hơn mắt mễn nhưng bom cày cây ngã bít đường hết, nhà cửa không còn, đâu có chỗ nào để làm mốc chuẩn.

– Anh nhớ hình như đây là ngã ba . . .

– Dạ đâu để em đi thử.

Thuận vừa bấm đèn, tôi đã quát:

– Đi thầm nó !

Tôi sợ máy bay trông thấy. Giống như tên ăn trộm sợ ánh sáng. Đó là cố tật của Việt Cộng mà. Làm cái gì cũng bịp bợm lén lút sợ người ta bắt gặp. Thằng nhỏ đành phải đi mò.

Tôi lên võng nằm, mệt đừ nhưng không sao ngủ được. Khói thuốc TNT nồng nặc. Tôi cứ ho hoài. Câu hỏi tự nhiên nhá lên trong đầu tôi: Có thể nào xui xêo như thế sao? Hắn chết rồi ai thay? Không có ai bằng ổng. Một con người lạ lùng, một ông tướng mặt sắt. Nghe hắn đến là tướng tá sợ đái trong quần, tỉnh ủy tỉnh quéo mặt xanh như gà cắt tiết. Ngay cả Võ Nguyên Giáp cũng phải nể sợ vì hắn là con người ít mang tiếng lem nhem về đàn bà nhất trong Đảng, hoặc có mà tôi không biết. Xin nói cho công bằng: Nguyễn Chí Thanh không có đ. . . bậy bạ , không bao giờ mặc quân phục đại tướng hoặc có mà tôi không trông thấy. Mấy lần hắn đến huấn thị chỉ mặc sơ mi thường, không có cần vụ đi theo tò tò mang cơm mang nước. Linh gọi hắn là Đại tướng bần cố nông. Không biết hắn học hành tới đâu nhưng bộ đáng của hắn trông hệt một anh xã viên hợp tác xã nhưng nét mặt có phần hung ác mặt vuông, trán đồ, miệng quai xách. Hồ đã chọn đúng người để đưa vào Nam làm Toàn quyền đỏ khi Mỹ đổ bộ vô Sài gòn. Nghe đồn trước khi hắn vô Nam, Hồ đã tiếp riêng. Trước khi chia tay, Hồ đưa tặng cho một bao thuốc con Mèo Đen Craven A và bảo:

– Vận mệnh Miền Nam trong tay chú.

Tại sao Nguyễn Chí Thanh mà không phải Võ Nguyên Giáp, Phạm Hùng hoặc Lê Đức Thọ? Như đã nói trên, Hồ chọn Nguyễn Chí Thanh rất đúng. Giáp đã bị rơi đài phải về ẩn sĩ một thời gian học chơi dương cầm ở Hồ Tây. Thời gian này lẹo tẹo với bà thầy đờn xinh đẹp, mang tai tiếng cả Hà Nội. Giáp lại còn có đầu óc chính qui hiện đại, muốn biến quân đội thành một quân đội nhà nghề. Cuối cùng là tấm thân phì nộn bộ vó tài tử xi nê Tàu xì của Giáp không thể che dấu được bộ mặt xâm lược của Bác trên đường Trường Sơn. Do đó Giáp không được chọn vào ghế Toàn Quyền đỏ mà là Thanh mặt sắt.

Lê Đức Thọ thì không biết tí gì về quân sự mà chỉ lý thuyết suông sợ e không điều khiển nổi đám tướng đầu bò như Hoàng Văn Thái, Trần Độ, Lê Trọng Tấn, Trần Văn Trà, Đồng Văn Cống v.v…

Còn Phạm Hùng? Hùng làm Phó cối cả chục năm đội đít “Phạm Văn Vều”, tuy nổi đanh là tay xốc vác, phản ứng nhanh, tuyệt đối trung thành với Mác Lê, nhưng lại cũng như Thọ không biết tí gì về quân sự và tai hại hơn nữa là gốc dưa hấu ! Nên nhớ rằng bên ngoài Bác làm bộ đặt tay trên ngực và khóc mếu nói ” Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi,” thực sự bác là chúa ghét và nghi ngờ dân Nam kỳ và biệt đãi dân Trị Thiên Nghệ Tỉnh, kế đó là dân Rau Muống rồi Năm Eo, dân Dưa Hấu thì đội sổ muôn năm. Do đó dân Nam kỳ Thành Đồng Tổ Quốc vẫn không được xơ múi gì ráo sau khi hoàn thành nhiệm vụ đánh Tây, vác thây ra Bắc để “gặp Bác, bắt tay Bác.” (vô khám và đày lên núi đôn củi thì có. Dân Nam kỳ đã tởn tình yêu của Bác chưa?) Nói trắng ra, Bác sợ Hùng trở cờ.

Do đó, Nguyễn Chí Thanh tên trùm đỏ họ Hồ giao cho nắm vận mệnh miền Nam trong tay. Hắn vào đây như một Toàn Quyền có quyền bày đặt ra chánh sách mới, thay đổi chánh sách cũ và hành động một cách hoàn toàn độc lập không phải thỉnh thị Trung ương.

Tướng tá, ủy viên trung ương, dân theo đóm ăn tàn ở Sài gòn ra khu, nghe hắn vào thảy đều khiếp vía. Sự có mặt của hắn coi như chấm dứt mọi sự ăn hút, cấm câu ăn tiền của đám này. Vào đến R, Nguyễn Chí Thanh thay đổi ngay Chế độ cần vụ mà các ông to bà lớn ở trong này tự đặt ra cho mình. Với hắn, nói là làm, không có dằn dai chờ đợi.

Trước nhất hắn dẹp bỏ ngay chế độ huynh trưởng. Anh Ba, anh Tư quen miệng gọi nhau rồi dần dà trở thành nề nếp gia đình hồi nào không hay. Nhưng chính hắn lại thích làm huynh trưởng của đám đầu bò. Kế đó, hắn sắp xếp lại ba hệ thống quân dân chánh Đảng, mà hắn cho là trống đánh xuôi kèn thổi ngược, cho ăn rơ với nhau. Tiếp đến hắn nói rõ với mấy bọn xôi thịt Sài gòn rằng công cuộc cứu nước là việc chung, không ai được từ chối hoặc được biệt đãi hơn ai. Mấy ông bà sồn sồn, mấy tên nhà tu nhảy rào, mấy tên thầy chùa lỗ mũi trâu, mấy thằng kỹ sư ba xạo, lũ nhà văng và trí thức tịt ngòi, mấy gã tư sản yêu nước không có đồng xu dính túi thảy đều ngơ ngác nhìn anh Sáu Vi có bằng nửa con mắt. Sợ và ghét chớ không phục! Nhưng chẳng ai dám hé môi.

Tệ hại này là do chánh sách dụ dỗ, tâng bốc của Năm Quang tức Trần Bạch Đằng từ trước tới nay. Mỗi ông bà xôi thịt Sài gòn có cả tiểu đội hoặc một bán đội phục vụ . Các đàn bà như Dương Huỳnh Hoa và chồng là Hai Nghị sướng như tiên. Có lẽ ở thành, chúng nó cũng không được như thế. Tối rượu sâm-banh sáng sữa bò đều đều. Giải phóng quân phải giặt quần áo cho mụ nói gì chuyện nấu bếp rửa chén xách dép? Cặp uyên ương này vì cần phải có chỗ kín đáo để làm tình nên giải phóng quân phải cất nhà dựng vách bốn phía và làm phòng tân hôn cho chúng, trong lúc giải phóng quân thì ngủ võng muối cắn sốt rét thấy mẹ .

Còn Trịnh Đình Thảo thì đi đâu giải phóng quân phải khiêng như quan thái thú đi kiệu ngày xưa. Chuyện phục dịch cái đám trí thức này không tả xiết.

Nhưng dưới trào của đại tướng bần cố nông thì tất cả đều xuôi râu xếp giáp không dám ho he khi bị cắt hết các đặc ân. Ông đại tướng tuyên bố một câu xanh dờn:

– Các vị ra đây tiếp tay cứu nước, dân tộc ghi công. Nhưng trong lúc tình thế khó khăn chúng ta phải cùng chịu gian nan như nhau, cán bộ cũng như chiến sĩ, trưởng cơ quan cũng như anh nuôi chị nuôi. Nếu các vị không chịu đựng nổi, chúng tôi sẵn sàng và vui vẻ để các vị trở về sống lại cuộc đời cũ đáng hổ thẹn như những ai kia còn ngủ mê !

Bố bảo thằng nào dám phản ứng. Về lại Sài gòn ư? Có mà uống mật gấu mới dám!

Do đó thời kỳ này Lữ Phương (thứ trưởng Bộ Văn Hóa sau này) được đưa về tiểu ban Văn Nghệ R và công việc văn hóa duy nhất của hắn là nghiên cứu cách làm cho mấy con gà tự túc của hắn đẻ… trứng vàng. Còn Thanh Nghị thì được ở trên phát cho một chiếc xe đạp phế thải để chạy lọc cọc lán này qua lán khác và bị cả anh nuôi khi dễ như chó. Mỗi khi bưng cơm đến cho hắn, họ ném lên bàn rồi quay đi, không mời một tiếng. Họ cho là tụi này nghe hơi nồi chõ rồi nhào vô một lũ theo đóm ăn tàn, theo voi hít bả mía…

Dưới trào ông bần cố nông cán bộ từ đại tá trở xuống không được phép có cần vụ. Tướng chỉ được một. Còn từ thượng tá trở xuống phải ôm AK (có kèm K54) để chiến đấu khi có biệt kích tấn công bất ngờ. Lê Đức Anh bấy giờ đã đóng lon thiếu tướng, thừa lệnh Sáu Vi đã khui kho súng AK phát cho cán bộ dân quân chánh R.

Có một cú Sáu Vi chơi rất ngoạn mục. Cả dân R ai cũng biết và tán nhuyễn ra cười ngã nghiêng trong lúc uống trà. Đó là vấn đề ông trời con Tư Huệ . Chánh ủy kiêm tỉnh trưởng Tây Ninh. Tư Huệ trong kháng chiến tên là Nguyễn Việt Hồng, Chánh ủy Trung đoàn 300. Hồi chống Pháp, Tư Huệ sống như vua R. Vợ chồng y có một trung đội phục vụ . Nghe Sáu Vi đến, Tư Huệ trà nước tiếp đãi anh Sáu, anh Sáu không màng. Tư Huệ đem các món ngon vật lạ mua ngoài vùng Ngụy dâng đãi anh Sáu, anh Sáu cũng không ngó. Tư Huệ thừa cơ hội anh Sáu đến lều vua bèn than phiền rằng:

– Các đồng chí dưới cấp tôi được tập kết, từ ngoài đó trở về đồng chí nào cũng trên cấp tôi. Tôi lãnh cấp đại tá thì hơi hẹp bụng nhưng trung tướng thì hơi cao!

Ý anh Tư nhà mình đòi một sao với cành dương liễu như Lê Đức Anh. Anh Sáu bảo:

– Cấp bậc chỉ là tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, không phải nấc thang để bám lấy mà hưởng lạc…

Anh Sáu đả thông một hồi. Tư Huệ thụt cổ rùa luôn. Đó là mồm mép lãnh đạo Cộng Sản thôi. Thực ra chúng ganh ăn giết nhau như ngóe. Bọn nào giết hai đại tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái và hai trung tướng Đinh Đức Thiện, Trần Bình?…(!)

Mấy hôm sau, Ban chỉ huy tỉnh đội Tây Ninh được lệnh đi nghỉ mát. Riêng Tư Huệ đại vương thì từ giã hoàng hậu để trở về R làm lâu la dưới trướng của lũ đầu bò Bắc Kỳ. Đau đớn thay cuộc đời cách mạng lên voi xuống chó của tên Nam kỳ này. Tất cả các cơ quan R đều hả hê và tỉnh Tây Ninh được nhận một bộ chỉ huy mới là Ba Tới và Hai Dương. Ngoài ra ông xã đội Kà Tum tức là Trung đoàn trưởng Huỳnh Văn Một có công từ thời chín năm ở mặt trận Rừng Sát, sau 54 phải trốn chui trốn nhủi trong rừng, sau Đồng Khởi rút về Kà Tum thành lập lực lượng võ trang và trấn giữ vùng này suốt năm năm (đúng ra Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa coi như đồ bỏ không thèm để ý) nay lại được Sáu Vi cất nhắt cái vù. Nghe đâu Sáu Vi phong cho đại tá, nhưng Một không nhận, chỉ xin 100 AK phát cho bọn lục lâm săn nai săn thỏ kiếm ăn, để ruồng bắt đảng Rồng Xanh, một đám lính bất mãn đào ngũ do một tên Dt lãnh đạo và để chống các đồng chí Khơ-me đỏ thường lẻn
sang ăn cướp hoa màu của rẩy mình.

Với sự cải cách của Sáu Vi, các cơ quan R đã được giảm chính nhẹ nhàng và gom được một trung đoàn bổ sung cho công trường 9. Và đưa luôn trung đoàn Bảo Vệ căn cứ R của Tám Lê Thanh ra công đoàn bổ sung cho Công trường 5, thuyên chuyển Lê Thanh về I/4. Đám này bị nướng sạch với cái tên nghe rất hách “Mũi nhọn 1 và 2.”

Các bạn hẳn còn nhớ trong cuộc chiến tranh Nam Bắc, tức là chiến tranh Quốc-cộng, cũng còn được gọi là chiến tranh chống Mỹ, có một bà Thiếu tướng?

Đó là mụ Định, dân Bến Tre, hồi chín năm chống Pháp làm đoàn trưởng Phụ nữ Tỉnh. Chính Sáu Vi đã cất nhắc mụ Định một cách bất ngờ.

Trong một cuộc hội toàn bọn xôi thịt Sài gòn, bọn đầu sỏ các tỉnh, bọn tướng đầu bò Bắc kỳ, Sáu Vi đã tuyên bố quyết định đề bạt “đồng chí Ba Định giữ chức Phó Tư Lệnh Quân Giải Phóng Miền Nam.”

Các tên đực rực, các mụ nái xề mang danh trí thức yêu nước của Miền Nam, các tên lưu manh đội lớp thầy tu, các tên khoác áo cà-sa mang dép râu dùng cánh sen nhà Phật che bộ mặt đỏ, các tên luật sư thất nghiệp, lũ nhà văn tịt ngòi, có cả tên can phạm hãm con nít được xách đầu lên ghế chủ tịch Mặt Trận nữa v.v. .. Tất cả, tất cả đều gục mặt không dám ngó lên.

Bọn này đứa nào cũng mơ tưởng Sáu Vi sẽ cất nhắc mình vào ghế cao chức lớn, nào ngờ hắn ta lại cho một mụ đàn bà chữ không đầy lá mít ngồi trên đầu chúng. Có thể điều này làm cho chúng bất mãn kinh hồn. Bằng chứng là sau Tết Mậu Thân một trong những thành viên Trung ương của Mặt Trận là kỹ sư Hồ Văn Bữu đã dông về thành thú tội với chánh phủ Sài gòn.

(Sau năm 75, Hồ Văn Bữu đã bị bắt cải tạo tám năm và khi được thả ra, sống không hộ tịch. Nghe nói đã vượt biên, không biết đúng không?)

o O o

Đường dây hồi ức miên man của tôi bị cắt đứt vì có tiếng chân người đi tới. Tôi chồm dậy như máy, tay chụp vào khẩu K54, quát. Một ánh đèn nhoáng lên rồi tắt phụp. Thằng Thuận đã về.

– Có gì không?

Thằng bé ném một bọc xuống đất, nghe chừng nặng. Nó biết ý tôi nên không bấm đèn nữa. Tôi lấy mũ tai bèo che và móc hộp quẹt bật lên. Thằng bé móc ra và ấn vào tay tôi, nói:

– Cái quán bay đi đâu rồi thủ trưởng! Chi còn có mấy cây cột và xâu bánh này.

Miếng bánh tét đầu tiên nhai trong miệng thiu nhớt, chứng minh lời thằng bé nói. Tôi đập hai thầy trò Tư Linh dậy. Chúng tôi ăn bánh tét phế phẩm uống trà nguội, ăn luôn cả xác trà vì không dám nhóm lửa. Tôi hỏi:

– Tỉnh hồn chưa?

– Ngủ được một phát đỡ quá . Tao ngủ lâu chưa mày?

– Chừng hai tiếng ! Nào, mày tỉnh rồi phải không?

– Tao mê hồi nào mà mày bảo vậy?

– Hết mê rồi thì nói lại lần nữa cho tao nghe.

– Nói cái gì?

– Ông Sáu Vi đã chết thiệt à?

– Cái thằng! Mày mê thì có! Tao đã bảo là thằng Ba Tiến hỏi tao con đường đến thằng Hai Ninh để đánh điện cho thằng Tư Cường Công Binh đem máy bay vô sân bay Mi Mốt chở xác ổng về Hà Nội.

– Ba Tiến là thằng nào?

– Là Bí thư của ông Sáu Vi. Trời ơi ! Khổ quá sao mày không biết cái giống gì hết vậy?

– Miễng trúng đâu?

– Trúng ngay chóc cái đầu. Thôi đừng hỏi nữa. Bữa nào khỏe tao kể tiếp. Còn nhiều vụ ly kỳ nữa cơ. Bây giờ mệt lắm…. Mà không phải miễng bom.

Hắnchết thiệt rồi ! Một chuyện rất thường tình trong chiến tranh. Những cái chết mà chính tôi trông thấy tận mắt chớ không phải bằng báo cáo nhân dân hay bằng cái loa Giải phóng . Ở Trường Sơn chúng nó đem con bỏ chợ thật tình. Không có cách gì để sống ngoài cái sức còm cõi còn sót lại trong người. Tên tướng mặt sắt này đi vào Nam không mất một lạng thịt. Vô đến đây hắn còn chất nhờn đầu gối, lội hết chỗ này đến chỗ khác, chứ đâu có biết đến sự tàn phá của cái vòi bé tí của con muỗi đòn xóc.

Hắn có tiếng là người “đi sâu đi sát thực tế, phát hiện vấn đề rất nhạy bén, giải quyết mâu thuẫn rất kịp thời.” Điều đó đã được chứng minh ở sự giản chính các cơ quan R, nhưng nếu hắn lội bộ Trường Sơn thì hắn sẽ thấy rằng tiết kiệm được hai trung đoàn cần vụ và bảo vệ căn cứ R không thấm gì với hàng vạn sinh mạng con người đang sống dở chết dở suốt con đường mòn quái ác mang tên Bác Hồ kia! Tôi gạn hỏi:

– Bị B52 à?

– Chớ còn gì nữa !

– Mà xác còn nguyên à?

Tư Linh gào lên:

– Đừng hỏi nữa. Để tao kể cho nghe . Nghe xong rồi quên đi rõ chưa? Còn các cậu nữa? Không nên nói đi nói lại với ai ! – Hắn nghiến răng với hai cậu cần vụ – Tụi bây mà lép nhép cái miệng là bỏ bố nghe con! Chắc chắn ổng chết rồi. Thằng Ba Tiến chạy đi tìm Hai Ninh Phó ban Thông Tin mà không gặp nên hắn theo liên lạc hỏa tốc cùng với đội bảo vệ từ đường 30 chạy về ngang cầu Phố Bình, không biết đường đi bèn lũi đại vào rừng, gặp tao. Trông mặt mũi hắn mất sắc tao hỏi chuyện gì. Hắn bảo ông Sáu Vi đã chết nên chạy đi tìm Hai Ninh để đánh điện về R.

– Thôi vậy là hỏng rồi. Bị có nặng không?

– Căn cứ ở đường 30 chuẩn bị cho chiến trận sắp tới đã bị sụp gần hết. Nhưng ổng không có việc gì. Xong đâu đấy, ổng mới lên miệng hầm, đứng quan sát. Bất thần một nhánh cây gãy phóng xuống ngay đầu ông như búa tầm sét của Thiên Lôi.

– Trời đất !

– Thiệt là kỳ cục.

– Cây gì lại gãy kỳ vậy?

– Thì cây cối trên rừng chớ cây gì!

– Nhưng sao trước đó không gãy lại chờ ông lên mới gãy?

~ Trời ơi! ông nội hỏi những câu như vậy làm sao tôi trả lời. Chậc! Xui quá! Cả nhóm ba bốn người đứng chung quanh đó mà nó lại rơi trúng ngay ông. Thằng Ba Tiến đứng sau lưng ông có mấy tấc, không sao cả. Ổng vừa ngã xuống nó liền xốc ông dậy, nó nói ông đã xụi lơ và không có nói được tiếng nào hết. Ông Ba Xu đứng cạnh cũng không trầy chút da.

– Rồi mày có dẫn cho Ba Tiến gặp Hai Ninh không?

– Có chớ! Hai Ninh điện cho Tư Cường đem xe thồ xuống chở xác ông đi. Cũng may là tụi thằng Hai Ninh bị B52 dập mấy lần mà không chết. Nó cứ bám trụ ở Đường Long nên Ba Tiến mới gặp và cũng may là máy còn phát điện được. – Tư Linh hắc hơi hai ba cái liền — Tư Cường cho tụi xe thồ đến chở đi. Trời đất! thằng Ba Tiến nói là nó phải bó xác ông lại rồi chở bằng hai chiếc xe thồ. Một chiếc thì làm sao mà đi! Ổng đâu ngồi trên poọc-ba-ga được.

– Tao không tưởng tượng được là tụi nó thồ cách nào.

– Có lẽ đã tới Mi Mốt rồi. Ở đó có trực thăng sẽ đưa nhanh về Nam Vang rồi ra Hà Nội. Cấp cứu gì được nữa ?

– Đại tướng mà chết lãng nhách.

– Đại tiểu gì thì cũng chỉ một viên thôi.

– Mà ổng đi đâu dưới này chớ?

– Chắc là ổng đi xem tình hình để có chỉ thị cho Quân Nhu. Nhưng thằng Ba Tiến thì bảo với tao là đi lánh nạn. Một công hai việc.

– Trời đất! Lánh nạn gì ở I/4? Bom đạn như vầy mà xuống đây lánh nạn?

– Nó bảo trên R ăn B52 dữ quá, chịu không xuể.

Nguyễn Chí Thanh là ông tướng cao cấp nhất mà tôi được tiếp xúc nhiều nhất. Cho nên khi nghe hắn chết như vậy, nhất là một cái chết không đáng, lúc đó (1967) tôi cũng nao nao trong lòng.

Tháng 4 năm 1964 khi tôi mới về tới U-80 thì được cử lên R để nhận phần thưởng và cờ Lưu Luân của Mặt Trận tặng cho chiến công pháo kích sân bay Biên Hòa. Tôi được tôn vinh như một anh hùng. Sự thực thì tôi không có tham gia trận pháo kích này. Lúc xảy ra trận đó, tôi ở Phước Long với cô em Thu Hà (đã thuật ở phần trước) nhưng vì tôi là thầy dạy pháo cho nên ở trên bắt tôi làm anh hùng ngang. Tôi được ngồi ở hàng ghế đầu. Trong buổi lễ có mặt đông đủ các tướng tá Bắc kỳ: Trần Độ, Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn v.v… Nguyễn Chí Thanh đứng lẫn trong quan khách nói chuyện rất hào hứng với đám xôi thịt Sài gòn đang lu bu theo hắn như ruồi bu c… ngựa. Bỗng Trần Văn Trà nắm tay tôi lại bên Nguyễn Chí Thanh và hỏi tôi:

– Biết ông nào đây không?

Tôi rút chân thẳng thế đứng nghiêm theo quân phong quân kỷ.

– Báo cáo Đại tướng…

Ông đưa một ngón tay lên miệng và suỵt:

-B.M.

Da mặt hắn vẫn sạm đen, không có vẻ gì bệnh hoạn. Áo len nâu sậm, cổ cao, tay dài. Hắn đưa tay ra cho tôi bắt và không nói gì. Khai mạc lễ chính thức, tôi đại diện cho đơn vị chiến thắng ở sân bay Biên Hòa bước lên diễn đàn phát biểu cảm tưởng: Kính thưa các đồng chí õm tõi, trong đó có cả đồng chí chủ tịch Mặt trận, Phó chủ tịch Mặt Trận và bà Phó tịch nữa. Đặc biệt là có một cái ông gọi là Maurice Tư Thiên, đại diện Bình Xuyên là cái nghĩa gì, tôi không hiểu được nhưng ở trên bảo là phát biểu là cứ phát ào. Mà thực ra nó có phải là cái cảm tướng của tôi đâu. Từ I/4 lên R, trung tá Ba Hải, trưởng phòng Chính Trị của U80 đã gà sẵn cho tôi rồi. Ban đầu tôi còn từ chối, nhưng Ba Hải bảo:

– Ông Cục trưởng Cục Chính Trị Quân Giải Phóng có biết mặt mày. Tao nghĩ là trong đám đặc công ở R không có thằng nào có văn hóa bằng mày, lại nữa mặt mũi chúng nó trông rất ác tướng không nên ló ra trước mặt đám trí thức thành thị mới vô v.v….

Do đó, cuối cùng tôi phải nhận mần một cái cảm tưởng. Tôi đủ sức mần, nhưng Ba Hải sợ trật đường lối nên thảo sẵn dàn bài cho tôi. Tôi cười cười chấp nhận, nhưng bụng nghĩ có quan trọng mẹ gì. Hồi ở Hà Nội, có nhiều lần thầy Lôi đi với em suốt buổi tối chủ nhật, sáng thứ hai vô trường đâu kịp soạn giáo án mà vẫn cương tuồng bụng re re học sinh từ cấp thiếu úy đến thượng tá ngồi nhóc mỏ cá kèo nghe, sá gì cái cảm tưởng này. Còn khỏe hơn nữa là lên tới R, ông Cục Trưởng Cục Chính Trị Quân Giải Phóng đã soạn sẵn cho ba, bốn trang lâm ly rồi. Cứ đó mà đọc. Ông ta cũng soạn cho bốn, năm người khác trong đó có mấy ông bà trí thức gà mờ ở thành mới vô . Do đó tất cả cảm tưởng trong buổi lễ đều rất ăn khớp với nhau không có điểm nào chệch choạc hoặc râu ông này cắm cằm bà kia.

Tôi được ông Cục Trướng Cục Chính Trị giới thiệu với hội trường như một anh hùng vừa lập xong cái chiến công Biên Hòa. Cả hội trường vỗ tay vang dậy hồi lâu. Tôi đọc cảm tưởng một cách chậm rãi và rất hùng hồn.

Mấy mụ sồn sồn ngó tôi lom lom. Mấy tên mặc áo nhà sư đầu bóng lưỡng thì chậm rãi gật gù. Hóa ra một đám Lỗ Trí Thâm lên cổng chùa vào đây ngã mặn. Chứ không, sao lại hoan nghênh kẻ sát nhân như tôi. Cán bộ đến dự gồm toàn thứ cao cấp của Cục Tham Mưu, Cục Hậu Cần, Cục Chính Trị ngồi như cá mòi ở cuối hội trường không có dịp ngửi hương phấn của Sè thành e lệ. Tôi liếc thấy một cô đào Hát bóng ở Hà Nội. Cô nàng đẹp lắm nhưng tiếc thay cái bông hoa lài đã cặm bãi cứt trâu, bây giờ vô đây không biết món gì mà lại lọt vào hội trường này?

Tôi đọc tới đoạn quan trọng thì lên gân:

– Quân đội là con em của nhân dân, phải tận trung với nước, tận hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành (lặp lại hai lần), khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng! (tôi nghĩ là: kẻ thù nào cũng đánh bại chứ sao lại đánh thắng?)

Tôi biết câu này là do ông Sáu Vi sáng tác nên vừa đọc xong, tôi ngó xuống ngay hắn. Hắn gật gù và giơ nắm tay lên trước ngực tỏ ý hài lòng, trong lúc hội trường ào ào đứng bật lên như đạp phải lửa. Mỉa mai thay những tên đặc công đánh trận Biên Hòa, sau khi nổ súng rồi bị trực thăng nhảy chụp không có đường rút lui, phải nơ ba cây DKZ 25 lủi như chuột còn kẹt ở bờ sông Bé, nghe nói gần phân nửa bị bắn chết, hai khẩu DKZ rơi xuống sông không mò được…

Tất cả đám xôi thịt không.phân biệt gái trai già trẻ đều ngồi phải cây cọc Nguyễn Chí Thanh một cách hết sức êm ái nên tha hồ nhún nhảy và vỗ tay khoái cảm rã rít. Khi tôi hoàn thành bài cảm tường thì các ông to bà lớn động cởn lại một phen đứng dậy vung tay múa chân hoan hô giải phóng quân anh hùng.

Kế đó là ông chủ tịt Mặt Trận Nguyễn Hữu Thọ lên sân khấu tặng huân chương Quân Công Hạng Ba cho đội đặc công (gọi là Đoàn Pháo 69). Tôi thay mặt Đoàn lãnh Huân Chương. Tiếp đến vợ chồng bác sĩ Phùng Văn Cung trao cờ Luân Lưu (Phùng Văn Cung là tên bác sĩ thiến heo, vô rừng chích toàn gây áp-xe cho bệnh nhân). Tôi lại cũng tiến ra thím xực luôn lá cờ rồi quay ra trình cho hội trường xem. Bà ta cảm động ôm quàng lấy tôi mà hôn. Tôi nghe ớn quá trời vì bả già cóp. Tôi chỉ đáng con bả. Giá được con gái bả hôn thì thích hơn.

Hội trường lại thêm một phen cảm động quá sá ngán. Máy ông phó nháy chớp lia, mấy ông phó nhòm thì quay ống kính theo tôi bấm máy chạy rè rè. Tôi nghe cái cục vinh quang chạy lên tận cổ. Tôi dõng dạc oai phong bước xuống sân khấu đến ngồi vào ghế của mình. Ông đại tướng chồm lên vỗ vai tôi, rồi đưa tay ra cho tôi bắt:

– Cậu khá lắm! Quân đội phải thế!

Phần lễ chính thức tối đó coi như chấm dứt để bước sang phần văn nghệ do đoàn Văn Công Giải Phóng của chị Ba Thanh Loan phụ trách. Trong lúc ngồi xem, ông đại tướng cứ hỏi chuyện tôi hoài. Mình ở trong rừng thiếu chất tươi, xem Văn Công được một đêm còn hơn uống thuốc La Vạn Linh Bổ Thận nhưng tôi đâu dám bất mãn với ông đại tướng, cứ phải luôn miệng trả lời. Ông hỏi thăm tình hình của đoàn Pháo 69 mà Cục Chính Trị lếu láo giới thiệu với hắn tôi là Đoàn Phó. Vốn là người đi sâu đi sát với lính nên hắn hỏi thăm tôi ngay về tổ chức của đoàn. Làm sao đột nhập vào vùng tạm chiếm. Vấn đề chuyên chở nòng pháo. Vấn đề rút lui v v Chẳng lẽ mới nhận huân chương đó, bây giờ lại nói không biết gì, tôi bèn bịa và trả lời xuôi rót nên ông ta tin tưởng tôi là Đoàn Phó đoàn 69 và đã chỉ huy trận pháo kích thật. Hóa ra mấy tên đầu bò bịp tên đầu bò. Tôi không ngờ chúng nó lại thủ đoạn với nhau như thế. Do cái loại báo cáo tô hồng này mà Cải cách ruộng đất bét nhèo ra rồi lão Hồ mới hay.

Nhưng Sáu Vi không dừng lại ở những nét chung chung đó. Hắn hỏi sát đáy quần chúng cơ.

– Anh em ăn có no không?

– Dạ no. (Gạo mục và đói thấy mẹ. Trồng khoai sắn tự túc Mỹ đánh tan hoang hết)

– Có trộn khoai sắn gì không?

– Dạ không ? (Không trộn khoai sắn, chi ăn khoai sắn vì không đủ cơm. )

– Mỗi tháng khẩu phần bao nhiêu?

– Dạ 30 lít chẵn. (Lắm lúc không có lít nào phải đi ăn chực ngoài ấp chiến lược hoặc trong xóm. )

– Tiền thức ăn bao nhiêu, có tạm đủ không?

– Dạ, 8 cắc cho sơ cấp và lính, một đồng hai cho trung cấp (sự thực ít khi lãnh đủ. )

– Không được, phải hủy bỏ ngay cái chế độ đó. Phải đồng cam cộng khổ. Sinh hoạt phí có phát đều không?

– Dạ có ! (không mấy khi có.)

– Anh em có thắc mắc gì không?

– Dạ không ạ . (Anh em chỉ chưởi cha mấy tháng quản lý tham ô và cấp trên hưởng lạc thôi chứ không dám thắc mắc.)

– Anh em có ra ấp chiến lược mua sắm không?

– Dạ đơn vị cấm ngặt ạ ! (Sự thực thì cán bộ ăn hút mê man ngoài ấp chiến lược lấy vợ luôn ngoài đó)

– Chế độ sinh hoạt Đoàn Đảng có duy trì tốt không?

– Dạ có ! (chỉ họp để thi hành kỷ luật các ông dâm ô ngoài ra ai cũng ớn họp.)

– Có kết nạp đoàn viên đảng viên mới không?

– Dạ có ! (sự thật thì không ai vô đoàn, còn đảng viên thì bị khai trừ nhiều hơn kết nạp. )

– Anh em miền Nam về được quê hương có phấn khởi không?

– Dạ phấn khởi lắm. (Mừng thấy bố nữa là khác.)

– Đồng chí có gia đình chưa?

Dạ chưa ! (Làm sao đứng lại để cưới vợ được mà có ?)

Ông ngưng một chút để cho tôi coi Văn Công. Tưởng gì ai dè kịch Đánh Mỹ của các dũng sĩ Củ Chi. Nào là Bảy Bê, Bảy Nề, Bảy Mô, Út Nhỡ, Tư Gừng, Năm Cội v.v… Đến cái màn Mượn Mỹ (tôi đã kể ở phần I) tôi mắc cỡ quá chừng. Vì sự thực không có gì hết ngoài cái tổ chức gọi là Đội Nữ (gồm toàn Nữ Du Kích của các xã) nhảy cóc nhảy nhái võ trang bằng súng trường bá đỏ đâu có làm ăn được gì. Tôi biết rành mà chúng lại đem diễn láo cho tôi xem.

Ông đại tướng lấy làm thú vị, vừa coi vừa gật gù khen ngợi:

– Thành đồng phải thế! Thành đồng phải thế!

Khi vở kịch Mượn Mỹ chấm dứt ông lại hỏi tôi một loạt nữa.

– Cậu có gặp mấy cô này không?

– Dạ có gặp luôn ạ . (Gặp cả ở dưới hằm.)

– Có đúng như trong vở kịch không?

– Dạ đúng, nhưng vở kịch còn kém so với thực tế.

– Là thế nào?

– Dạ đội nữ anh dũng hơn nhiều. Vở kịch không diễn tả được cảnh trực thăng bắn.

– À ! đúng, cái đó thì khó đem lên sân khấu. Mỹ có vẻ khờ lắm phải không?

– Dạ không.

– Sao tôi nghe đài Giải Phóng nói thì tôi mường tượng đó là những thằng người làm bằng sáp.

– Dạ tôi chưa bắt được thằng nào nhưng máy bay của nó thì rất… ác.

Tôi không dám đẩy cây thoa mỡ bò với ông đại tướng về cái khoảng Mỹ khờ vì tôi đã đánh với nó nhiều trận. Phải nói khi xáp chiến thì 50/50 nhưng lúc rút lui thì nó cho trực thăng và pháo truy kích gây số thương vong gấp năm, mười lần tại trận địa.

Hết vỡ tuồng Mượn Mỹ (*) thì tới vỡ Gái Bán Bar hay US go home (*).

(*) Hai vở kịch này của tên bồi Nguyễn Vũ, tên cúng cơm là Ngô Y Linh.

Cô đào hát bóng đóng vai gái bán bar. Lính Mỹ đến nhậu và bị dán truyền đơn ngay cả trên lưng mà không hay… Con nhỏ rã rê với tên Mỹ, chân trắng nõn suông như ống chỉ, cặp mông ngún nguẩy làm tướng tá tao nhân mặc khách đều mê tơi, nhưng ông Đại tướng lại quèo tôi hỏi tiếp:

– Này, đơn vị bộ binh mỗi khẩu súng trường được bao nhiêu đạn? Du kích được bao nhiêu?

– Dạ súng trường 100, tiểu liên 150-200, trung liên 500-600. Du kích 100-200. (sự thực du kích đào bom lép nổ tan xác thiếu gì.)

– Còn pháo?

– Dạ nếu 105 ly thì 10 quả. Cối 120 ly cũng cỡ đó. DKZ-75, cối 81 thì 10-12 quả.

– Đạn 105 vác cách nào?

– Dạ thì thanh niên xung phong vác theo bộ đội.

– Làm sao vác nổi?

– Dạ hai người một quả, thay phiên nhau.

Ông đại tướng ngẫm nghĩ một chốc rồi lại hỏi tiếp. Tôi hơi phiền trong bụng vì không được thoải mái xem kịch. Các tên Lê Trọng Tấn, Trần Độ, Trần Văn Trà ngồi trơ trơ đó, sao hắn không hỏi mà cứ hạch mình. Tôi biết hắn muốn đi sâu đi sát . Bị một vố Cải Cách Ruộng Đất rồi ê càng, Bây giờ không dám nghe các ông bà trung gian tâu lên bệ hạ nữa.

– Đơn vị cậu mỗi ngày sốt rét bao nhiêu? Có sốt ác tính không?

– Dạ chừng một vài người thôi. (Sự thực trên 2/3.)

– Ngoài sốt rét ra còn bệnh gì khác nữa không?

– Dạ phù thủng, kiết lỵ, quáng manh, gan, lá lách, dạ dày, sốt ác tính cũng lai rai.

– Nhiều vậy sao?

Tôi bị ló đuôi, bèn trở cờ:

– Dạ đó là hồi năm kia, anh em chưa quen nên bịnh nhiều, bây giờ thì không thế nữa.

– Đoàn của đồng chí có cứu thương không?

– Dạ có . (Thực ra là không, chỉ một vài anh y tá vườn bắt theo đơn vị băng bó thương binh ẩu tả để chở đi bệnh xá cưa cắt thôi. )

– Bệnh xá có phương tiện khá không?

– Dạ tôi nghe nói khá. (Sự thực chẳng có thuốc men gì. Một giáo sư Liên Xô đã vào thăm cái gọi là Bệnh Xá của Quân Khu ở Bưng Còng. Y tá phải biểu diễn một màn cưa chân thương binh bằng cưa sắt như kiểu chín năm chống Pháp. Ông giáo sư lắc đầu chịu thua. )

Cái tính đi sâu đi sát với lính và dân của ông đáng cho cán bộ thuộc cấp sợ xanh mặt lắm chớ không có đùa đâu. Ba tên tướng ngồi bên cạnh ông nghe tôi trả lời chắc phải nhấp nhổm như ngồi bàn đinh. Biết đâu nay mai ông gọi ba trự này sạc-cà-rây một mách?

Tôi viết chương này để mọi người Việt Nam biết rằng cái chết của tên tướng đầu đỏ báo hiệu xấu cho Tết Mậu Thân thảm bại. Sự thảm bại này kéo theo cái chết của Hồ. Đó không phải là một chuyện thường mà là hình phạt của Thượng Đế ban cho thầy trò tên cướp và bọn lâu la.

Cám ơn nhánh cây rừng có mắt đã hủy diệt dùm dân tộc Việt Nam một cái mầm Staline.

o O o

Tôi và Tư Linh ngủ ngoài rừng giữa cái đêm kinh hoàng đó. Đến sáng mới mò đường (mò thật chớ chẳng phải nói đùa vì bom B52 đã thay đổi toàn bộ địa vật). Chúng tôi mò được quán cô Sáu Tỉnh (hoặc Sáu Tiệm). Cô Sáu là người rất mến tôi ngay từ lần đầu tôi bước chân xuống Củ Chi.

Cái quán bay cả nóc chỉ còn một cái chái xiêu xiêu, lòi cả miệng hầm. Bên trong hai ba trự đang ngồi uống trà tán nhuyển về trận B52 và mừng cho sự sống sót của mình.

Thấy tôi và Tư Linh, ông thiếu úy đánh xe bò mừng rỡ:

– Lại đây trụng lòng trà đế quốc vài chung thầy Hai.

– Ê ! ổng lên E phó rồi nghe mậy!

– E, Ê gì cũng một viên thôi.

Tôi và Tư Linh sà vào. Khói thuốc thơm mịt trời. Thấy quanh bình trà toàn là những ông kẹ con nên tôi không ngại gợi lại chuyện đêm qua!

– Chuyện đó đã đành rồi t Nhưng đem về tới sân bay Mi Mốt bằng cách nào?

Tư Linh nói.

– Mình chỉ dùng xe đạp thôi chớ xe mô-tô làm sao đèo được? Ban đầu tôi cũng không hiểu thồ cách nào. Vì thồ xe đạp thì chỉ thồ người sống chớ làm sao mà thồ người chết? Nói xin lỗi, chẳng lẽ trói rùn ông lại rồi ràng trê n poọc-ba-ga?

Bảy Hốt hớp ngụm trà và gật gù:

– Đây là nghề của tôi rồi. Để tôi nói cho hai ông nghe. Ba cái vụ Thồ này là gốc từ ngoài Bắc nhất là trong chiến dịch Điện Biên. Ông ba Kiên trung đoàn trưởng Q16 vô hồi nẳm, ổng có phổ biến kỹ thuật thồ, trong đó có cách thồ chiến thương bằng võng ở những đoạn đường phẳng. Chẳng khó khăn gì. Lấy một cái đòn dài buộc vào sườn xe trước luồn tận xe sau.

– Nghĩa là hai xe đạp.

– Ngoài đó gọi là thồ đúp hoặc thồ gia công. Giữa hai chiếc xe ta treo cái võng trên cây đòn. Chiến thương nằm trên võng. Xe chạy êm ru!

Tư Linh nói:

– Nhưng từ căn cứ 30 đến sân bay Mi Mốt đâu có phải gần như hồi Bộ Chỉ Huy đón ổng vô. Ít nhất cũng phải đạp mất một ngày. Đó là nói trường hợp đường suông sẽ, không bom pháo, đổ chụp!

Tư Linh thở dài sườn sượt ra vẻ chán nản cực độ.

– Đù mẹ, giữa trận mạc thì lính lãi cũng một phát mà đại nguyên soái cũng chỉ một phát thôi.

Tôi bảo:

– Nhưng đám ma lính lãi thì chỉ có cóc nhái ễnh ương tiễn đưa, còn Nguyên Soái thì có kèn trống mày ạ !

Tư Linh rút thuốc bật lửa hút mấy hơi dài rồi nói.

– Phải rồi ! Nhưng nằm trong hòm có nghe gì? Nhớ hồi ổng mới vô sân bay Mi Mốt, tụi tao đi đón.

– Ủa, mày được danh dự thế à ?

– Danh dự gì ! Tao đi trong đám bảo vệ, toàn cấp úy trở lên, nhưng đến nơi chỉ đứng xa xa vòng ngoài. Bữa đó không biết được điện hồi nào, mà anh Ba Chè nhà mình hớt hãi tập họp các ông tướng. Chín Vinh, Lê Trọng Tấn và mấy ông Thượng tá Cục Trưởng, Cục Phó B1, B2, B3. Chỉ trong vòng hơn một tiếng đồng hồ chuẩn bị là cả đoàn xuất phát. Tao còn nhớ ông Ba Chè có chọn tám dũng sĩ khỏe nhất thuộc Bộ Chỉ Huy. Không biết ổng định làm gì. Ổng bảo đi là đi. Cả đoàn vừa đi vừa chạy. Chỉ băng qua biên giới một tiếng đồng hồ là đến sân bay. Đây là cái sân bay của thằng chủ đồn điền cao su chứ không phải sân bay hành khách. Tao là cái thằng cầm đóm điếu nên được phân công đứng sau mấy ông tướng để sai vặt. Chờ chừng mười lăm phút thì trực thăng tới.

Tôi hỏi.

– Từ Hà Nội vào gì mau vậy?

– Không! Từ Nam Vang.

– Ủa, ông đi từ Nam Vang à?

– Chớ sao. Mày không biết ông già Ca Văn Thỉnh làm đại diện của mình đang ở đó à? Mình oánh xí cú mứng nên thằng vua Thổ phải chịu. Nó là học trò của ông Thỉnh ở Chasseloup Laubat mày biết không? Người Á Châu trọng nghĩa thầy trò nên ổng muốn gì cũng được. Nó cho ông tướng nhà mình xuống Mi Mốt bằng trực thăng có khó khăn gì. Ổng bước xuống thang tươi rói, không mất giọt mồ hôi.

– Vậy tao gặp ông trên đường Trường Sơn là nghĩa gì?

– Ổng đi quan sát một vài trạm để đề xuất vấn đề , chỉnh đốn nọ kia vậy thôi. Mày biết ổng mà . Ổng đi đến đâu là thay đổi rần rần đến đó. Ông ba Chè mình giới thiệu qua các ông khác rồi quay lại vẩy tay cho tao. Tao đã được dặn dò kỹ lưỡng, nên thấy ổng vẫy tay là biết thời cơ lập công dâng đảng đã đến. Tao chạy ra sau đuôi máy bay giơ tay ngoắc, lực sĩ chạy tới vòng qua trước cửa. Ông Ba Chè khúm núm:

“Thưa anh Sáu, anh Sáu đi đường xa mệt mỏi, mời anh Sáu lên kiệu.”

Tôi gắt.

– Kiệu?

– Ừ, ổng kêu là cái kiệu vì nói võng nghe hèn hạ, hoặc sợ phạm húy của ai đó tao không rõ. Tao thấy ông đại tướng rõ hơn hồi ở Hà Nội. Nước da ổng cũng mầu đồng điếu. Chẳng phải vì ông dầm mưa dãi nắng mà đó là nước da lãnh đạo. Ông mặc áo len màu nâu, quần kaki xanh chân đi dép lốp. Ổng lấy làm ngạc nhiên khi bốn lực sĩ của tao xỏ võng vào đoàn và kề lại trước mặt ông chờ ông bước lên. Ổng xua tay lia lịa:

– Không không có như thế được !

– Dạ dạ…

Ông Ba Chè lắp bắp tiếng được tiếng không. Ông Lê Trọng Tấn cũng phụ họa:

– Dạ mời anh Sáu…

Ông càng xua tay mạnh hơn.

– Không ! Không ! Tôi còn khỏe, tôi đi bộ được. Chiến sĩ ta lội núi vượt rừng khổ cực, tôi không thể nằm võng cho các đồng chí khiêng như vậy. Đến đổi Bác Hồ đi công tác còn phải xăn quần lội suối… (vài chục thước thôi!)

Thiếu úy xe bò chắn ngang.

– Ổng không nhận thật à?

– Không ! Đó là sự thực chính tao thấy. Ổng không nằm võng cho tụi nó khiêng thiệt mà.

Tôi nghĩ bụng:

– Ối! Những chuyện đạo đức như vậy tôi biết thiếu gì. Đó chỉ là một lối mị dân, gạt lính. Bác Hồ đang đi xe hơi, thấy xã viên tát nước bèn dừng lại tát vài gàu (Báo Nhân Dân la ỏm tỏi). Bác về dinh Toàn Quyền uống sâm đặc và hút thuốc Mèo Đen (không báo nào nói), bác đập ruồi (các báo chụp hình đăng lên) nhưng bác giết Dương Bạch Mai tất cả lại câm như hến.

Thì cũng như tướng mặt sắt này giả bộ đạo đức không chịu nằm võng cho lính khiêng, nhưng cứ ba bốn tháng thì mụ sề vác cái bề hê vô trong này phục vụ cho con tì ngẩn của hắn. Ngoài ra các mụ tướng khác cũng tùng dấu theo đó mà vô thăm chồng. Mỗi lần các mụ tới Mi Mốt thì lính khiêng về R còng xương sống, có ai dám nói gì đâu ! Và mỗi lần các mụ ra về thì chở theo vô số vải vóc, đồng hồ, bút máy, radio cả xe đạp đem về miền Bắc xây dựng xã hội chủ nghĩa.

Nhưng, mặc dù được vợ thăm viếng như thế, hắn ở trong này vẫn tòm tem như thường! Các bạn hẳn nghe danh anh hùng Nguyễn Văn Trỗi chứ? Tên đặc công đặt bom ở cầu Trương Minh Giảng bị cảnh sát Sài gòn bắt được và đồng bào cầu này gọi là tên ăn trộm gà ấy mà ? (vì hắn bị đuổi phải chui trốn trong chuồng gà) Trời có cô vợ xinh xinh tên là Q. Sau khi Trỗi bị xử bắn thì đảng ta ra lệnh cho Mặt Trận rước cô nàng vô khu để “Bác Sáu huấn luyện tinh thần yêu nước cho cháu gái, để cháu gái nối bước theo chồng! “ Do đó thị Q. được bác Sáu cho ở chung một nhà để tiện việc huấn luyện, đến nổi ( bọn cần vụ rỉ tai nhau: “Bác Sáu cưng vợ ông anh hùng này quá sá ? , Huấn luyện được kết quả 500%. Nên sau đó có tiếng xầm xì: “Bác Sáu gởi bà anh hùng về Sài gòn để nạo.”

Chuyện này chỉ có bác Sáu biết. Có lẽ tư tưởng Mác Lê duy vật không cho phép bác dùng chứng minh thư nhân dân.

Chuyện này ít ai hay, nhưng sở dĩ tôi rành là vì chính thằng bạn của tôi tên là thằng T. nó quê ở Gò Công có đi học trường Mác Lê Moscowa đàng hoàng, khi về Hà Nội nó viết cái luận án Phó Tiến sĩ trình Ban Tuyên Huấn Trung Ương bị Tố Hữu ngâm tôm hoặc vứt sọt rác gì đó, nên không được trở qua nữa mà lại bị đưa về Nam. Nhưng cái chức Phó Tiến sĩ hàm của hắn vô Nam thì xài ở đâu? Bèn cho hắn xách dép Nguyễn Chí Thanh. (Tôi có gặp hắn làm nhiệm vụ trên đường Trường Sơn vài trạm. Nguyễn Chí Thanh muốn xem tình hình “mậu dịch bán bằng ba thứ tiền Việt Miền Lào” ra sao chắc. Chỉ được vài ngày thì hắn biến mất. Thì ra hắn tách riêng đi xe hơi.)

Thằng Phó Tiến sĩ đang làm tên nâng cu sửa dế cho ngài đại tướng trong thời kỳ ở R chung với bọn Lê Đức Anh, Trần Độ, Lê Trọng Tấn v.v… Hắn ở một nhà còn thằng bí thư ở nhà khác: Hai cái cách nhau xa xa. Nếu cần, bác Sáu gọi. Kỳ dư thì không được tới chầu.

Bữa đó vì có chuyện gấp nên thằng T vô chiếu triệu mà lại lò dò vô tới. Chuyện không ngờ nó thấy bác Sáu nằm trên võng còn cháu Q thì ngồi dưới đất nhổ tóc ngứa. Nó rình một hồi thì cháu Q được bác Sáu đề bạt lên bụng bác. Chập sau bác Sáu lên giường cỡi áo ra nằm sấp cho cháu Q cạo… gió. Nó chỉ dám ngó có bấy nhiêu thôi vì ngó lâu sợ cụ Hồ nổi giận thì khổ thân ! Những chuyện như vậy sống để bụng, chết đem theo mới phải. Nhưng thằng bí thư đã xì ra với tôi trong một đêm ngã mặn ở Tiểu ban Văn Nghệ R. Trước khi kể, nó bắt tôi thề độc “Không được nói với ai!”

Con quỉ đỏ mặt vuông này bị búa Thiên Lôi đả nát sọ là một việc may mắn cho dân tộc Việt Nam vô cùng. Chính hắn là tên có nợ máu trong Cải Cách Ruộng Đất, nhưng hắn là con cưng của lão Hồ nên lão ta đưa tên Hồ Viết Thắng ra đỡ đòn. Nếu hắn còn sống thì dân tộc ta còn phải điêu đứng hơn so với ba tên chăn bò hiện nay nhiều.

Đọc trên một ngàn trang sách, không thấy địa đạo Củ Chi đâu cả. Xin thưa: Củ Chi đâu có địa đạo như trên đài Giải Phóng và đài Hà Nội. Củ Chi đâu có địa đạo như một nhà báo ngoại quốc ngây thơ bị Việt Cộng gạt và đem ngòi bút tuyên truyền không cho chúng.

HẾT QUYỂN IV

(XIN MỜI XEM TIẾP QUYỂN 5)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: