2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QV (78-82)

2000ngaydem_bia5

Chương 78

Vài trận “Bảy Món Ăn Chơi”
với “Anh Cả Đỏ” và “Tia Chớp Nhiệt Đới”

Nói chuyện đánh Mỹ trên đất Củ Chi thì không cùng. Vả lại chúng tôi cũng không thể nào nhớ hết trong 2000 ngày đêm trấn thủ vùng đát từ “thép” đến “bùn” này. Bởi vì đêm bảy ngày ba, trưa cũng không nghỉ. Có khi đang ngủ vụt ngồi dậy thấy xe tăng đã lúc nhúc như bọ hung, lính Mỹ vàng đồng, trực thăng đen trời, chỉ quơ lấy súng vừa núp vừa bắn. Có khi đang ăn cơm pháo nó giã, buông đủa vô hầm. Có khi đi ven đồng bị “cá rô” rượt, chỉa AK bắn mà chạy thoát thân, lại có trường hợp hai thằng cùng đi bị Mỹ đuổi bất ngờ, cắm đầu chạy, chừng dừng lại thấy thằng bạn mình đâu mất, nó đã bị bắn gục phía sau lưng.

Vì thế trong chương này tôi chỉ xin kể dăm ba trận mà tôi còn nhớ rõ để cống hiến độc giả. Nếu độc giả nào có tham gia kháng chiến chống Pháp và có cầm súng trong bộ đội sẽ thấy sự khác nhau giữa hai anh chàng Pháp và Mỹ như thế nào. Chính vì không hiểu được sự khác biệt này mà bọn Hà Nội đã nướng quân một cách vô tội vạ, nướng luôn cả hai trung đoàn đã từng là anh hùng trong trận lịch sử Điện Biên Phủ. Chỉ nội pháo binh của Mỹ thôi, tôi tin chắc Võ Nguyên Giáp cũng không hiểu tí gì, đứng nói chi các loại cơ giới khác như xe tăng, trực thăng, tàu chiến…

Các bạn có khi nào bị pháo bắn mà đạn pháo nổ rồi mới nghe tiếng đạn pháo đi không? Các bạn có khi nào bị pháo bắn mà đạn pháo nổ hàng loạt dòn như tiểu liên không? (Tiếng nổ to gấp ngàn lần, nhưng nổ loạt). Đó là pháo siêu âm của Mỹ, thường gọi là pháo nòng dài tức là 175 ly và cà nông 40 ly mà Việt Cộng quen gọi là cà nông quarante. Đánh với Pháp chúng chỉ xài 105 và bắn từng quả. Một trái nổ xong, ta có thể ăn trầu hút thuốc đã đời hoặc ngủ một giấc rồi mới đến trái khác.

Pháo Mỹ khi đụng trận rồi không nổ như thế bạn ạ. Nó nổ, mình không quen, túm giò không chạy được. Trong một trận đánh mà tôi sẽ kể sau đây, ông Hai Phái, chính trị viên của tôi đã bò lăn xuống đất, tôi tưởng y bị thương, bèn tới xốc y dậy, y bảo y không bị thương, chỉ mất tinh thần không chạy được thôi.

Muốn cho các ông lớn Hà Nội hiểu rõ vũ khí của Mỹ, không gì giản dị bằng ném họ vào Củ Chi này chơi với Mỹ một trận nho nhỏ, cho họ đội pháo Đồng Dù thôi, không cần chi tới B52, thì họ sẽ hiểu bom đạn của Mỹ như thế nào.

Trong mấy chương trước, tôi có thuật lại trận đánh đồn Paris Tân Quy, 95% binh sĩ thương vong là do pháo. Trận pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù cũng thế. Đơn vị chúng tôi không ngán chạm mặt trực tiếp với lính Mỹ mà chỉ sợ lúc rút lui. Số thương vong tại trận có khi chỉ một phần mười so với số thương vong lúc ra khỏi trận địa. Nhiều khi nổ súng xong là chúng đem trực thăng tới xúc quân về và gọi pháo giã nát đất. Phần lớn cán Bộ Chỉ Huy ở miền Nam, cao lắm là chỉ học được chiến thuật Mao Trạch Đông và xài đại bác “cà lăm”, “không giật” Liên Xô, Trung Quốc. Thậm chí nhặt nhạnh ba cây pháo tép của Pháp từ thời Pétain làm trùm vứt lại, đem ra đối đầu với pháo siêu âm của Mỹ. Đứng trước các chiến thuật trực thăng vận “bủa lưới phóng dao”, “phượng hoàng vồ mồi” của Mỹ thì than ôi, cụ Mao quả là danh hề quân sự. Cụ Mao dạy, và chúng tôi cũng đã gạo rất kỹ, rằng phải “đánh gọn rút nhanh”, “dao mổ bò giết ruồi”… Rút nhanh . Nhanh sao bằng pháo bắn, nhanh sao bằng trực thăng bay? Dao mổ bò có nghĩa là tập trung một lực lượng lớn để tràn ngập một đồn nhỏ. Ví dụ đồn nhỏ như đồn Thầy Mười do một trung đội Nghĩa Quân đóng, thế mà muốn hạ được nó chúng tôi đã phải hy sinh đứt một tiểu đội, một C phó, và một B trưởng. Nhưng nên nhớ rằng trong cái Củ Chi nhỏ bằng bàn tay nằm dưới cánh các loại máy bay thám thính của Mỹ, không dễ gì tập trung được một lực lượng lớn. Hơn nữa có lực lượng lớn đâu mà tập trung. Chưa bao giờ tập trung được một trung đoàn. Có lần Q16 Bắc Việt sắp sửa dàn trận, Mỹ cho pháo giã tan tành. Chưa đánh đã thua. Đó là trận tập kích bộ binh và xe tăng Mỹ cụm ở trảng Dầu Bà gần đường số 6 tại ấp Bùng Binh xã Đôn Thuận đầu năm 67. Cả ba tiểu đoàn 7, 8, 9 của Q16 Bắc Việt định ăn chắc, hốt gọn một tiểu đoàn của Mỹ. Nhưng mới vừa tới, khai triển đội hình chưa xong thì đụng một trung đội Mỹ án ngữ đường 15. Chúng kêu pháo dã chiến Chà Rầy và pháo tầm.xa 155 Đồng Dù. Cả hai dàn pháo câu vô ngay chóc. Tiểu đoàn của ông Bá Lùn bị bắn tan tành không sót một ngoe nào. Lần đó tính ra chúng bắn chừng năm ngàn trái pháo trong vòng hai tiếng đồng hồ để diệt một tiểu đoàn Bắc Việt. Ba Kiên, anh hùng trận Điện Biên, E trưởng, sống sót về gặp tôi ở Củ Chi hôm sau, ôm tôi khóc nức nở và lắc đầu: “Mỹ chơi ác quá đồng chí Hai Lôi ơi ! Tụ i Tây mà đóng kiểu này, chúng tôi ăn gỏi ngay!” Tôi tìm lời an ủi ông anh hùng và hứa sẽ kết hợp với nhau để trả thù. Nói cho đồng chí ta mát bụng vậy thôi, chớ đánh Mỹ thì chỉ thủ huề chớ không dễ gì diệt gọn. Ba Kiên lúc này như con gà chết, bi quan với câu “Sanh Bắc Tử Nam” của lính Bắc Việt mới vô Trường Sơn coi trời chẳng bàng vung. Nhưng khi vô đụng Mỹ thì teo lại, mất tinh thần.

Đó là vào khoảng năm 1967 là lúc có đủ mặt hai sư đoàn “Anh Cả Đỏ” “Tia Chớp Nhiệt Đới” ở đất Củ Chi. Và lúc này tôi cũng đã tổ chức lại tiểu đoàn hoàn chỉnh hơn gồm có bốn đại đội tác chiến và một đại đội văn phòng gồm trinh sát. liên lạc, văn thư, chính trị, tham mưu, hậu cần v.v… Gà hai bên đã biết tiếng gáy nhau và cũng đã từng nạp nhau vài ba đòn sơ vấn cho nên đã biết mặt nhau rồi. Bây giờ chỉ còn buông đuôi ăn trót tại trường đá Củ Chi.

Nói là “chỉnh đốn hoàn bị” thực ra bởi vì quân số hao hụt mà không có nguồn bổ sung nên đó chỉ là giật gấu vá vai, nhổ râu ông nọ cắm cằm bà kia thôi. Nhất là các ban chỉ huy đại đội chết quá nhiều, không có cán bộ, tôi đành bắt cán bộ trung đội lên làm đại đội phó, đại đội trưởng. Chỉ huy một B còn không xong, lại chỉ huy một C? nhưng “gặp thế thì thế thời phải thế” chớ biết làm sao! Lính thì toàn lính mới toanh, động tác cơ bản chưa rành, còn lính cũ thời Đồng Khởi thì đã chết hoặc lên cán bộ B, C.

Riêng vũ khí bộ binh thì lấy súng trường bá đỏ bắn phát “một cắc một chùm” làm chính, trung liên cũng xài đồ cũ thời kháng chiến chống Pháp.

Trung liên mới RPD của Liên Xô, một băng năm mươi viên gọn nhẹ, nhưng ở trên để dành cho hai công trường 5 và 9 chớ ít lọt xuống tới chúng tôi. Ngoài ra mỗi tiểu đội chỉ một khẩu B40. Ở mỗi đại đội có một trung đội hỏa lực gồm ba súng cối 62 ly, một đại liên. Ở mỗi D thì có một BDKZ 57 ly gồm ba khẩu và một B cối 82 ly gồm bốn khẩu và một B phòng không gồm hai khẩu 12 ly 8. So với hỏa lực của Mỹ thì chẳng khác nào ta đem con gà tre chọi với gà nòi.

Nhưng theo chỉ thị của ông Sáu Di thì phải “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh!” ông đã chết rồi nhưng huấn thị của ông được các ông lớn nhắc đi nhắc lại luôn miệng. Đánh với Mỹ bom pháo ngút trời, nếu chậm chạp hoặc lộ bí mật địa điểm là chỉ trong vòng 15 phút thì đã có phi cơ, trực thăng hoặc pháo tới.

Chúng tôi phải thiết lập nhiều căn cứ đóng quân ở Phú Hòa, ở Rừng Làng, Ràng, Sa Nhỏ, Đồng Lớn, Gót Chàng. .. và ở khắp Củ Chi. Hễ chuyển quân tới là công sự đã sẵn sàng, giặc đổ quân là đánh ngay chứ không phải xài “địa đạo chiến” theo kiểu găn gỏi ba thằng Mỹ như chúng tôi đã từng giàn cảnh cho tên nhà báo gà tồ Burchett hồi mấy năm trước. Người lính chúng tôi phải luôn luôn trong tư thế sẵn sàng đánh giặc trong lúc hành quân hay đóng quân .

Trận đánh đầu tiên như gà mới vào nước nạp là trận chúng tôi đụng một tiểu đoàn biệt kích Mỹ đổ xuống Đồng Lớn và tiến về phía Ba Sòng. Trời đã về chiều, đáng lẽ theo lệ thường thì chúng cho trực thăng xúc về Đồng Dù, nhưng lần này chúng lại cụm ở Gò Nổi Trên (nơi chúng tôi đặt súng cối pháo kích đồn Trung Hòa lần trước). Lúc đó tôi và ban chỉ huy C3 đang nghiên cứu trận địa Dân Hàn, định đánh tụi lính tại cầu Công Sở trên đường chúng đi từ Suối Cụt vào Trung Hòa.

Tư Nhựt (tiểu đoàn trưởng) cho cấp tốc gọi tôi về để tổ chức tập kích Mỹ. Đó là lệnh của Quân Khu chớ không phải của tiểu đoàn trưởng.

Mưa tầm tã, trời tối đen như mực, người đi sau không thấy người đi trước, phải quơ tay để giữ liên lạc. Ra tới trường học thuộc lộ số 6 (cao su) thì gặp Tư Nhựt cùng hai ông đốc chiến Ba Châm và Năm Tiều, cán bộ tác huấn Quân Khu. Cả hai đều mang cấp bậc trung đoàn. Ba người đang dụm đầu vào ngọn đèn dầu lờ mờ đặt trên tấm bản đồ trải dưới đất ướt chỗ lồi chỗ trũng. Gió thổi ù ù, mưa tạt như xối nước.

– Lôi, mày về đó hả ! Vô đây mau!

Năm Tiều thấy tôi vào nên lên tiếng trước. Tôi ngồi xuống giữa Năm Tiều và Tư Nhựt, móc gói thuốc Capstan ném ra. Chỉ phút chốc khói tỏa ấm áp và làn khói phủ mờ bản đồ.

Trong xó nhà, một cậu liên lạc bị thương không biết từ lúc nào, đang rên khóc hù hụ. Ba Châm bực mình quát:

– Đem bắn mẹ nó đi ! Lính gì bị thương khóc như con nít.

Ở vòng ngoài tôi thấy có Năm Tân C trưởng Cl, Năm Dầy C trưởng C4 hỏa lực của tiểu đoàn. Thấy tôi về, Tư Nhựt nhìn sang hai ba lần có ý ngầm hỏi: “Đánh thế nào đây thầy Hai?”

Tư Nhựt, con người kiêu hãnh nhưng chân thật. Lúc tôi mới về, anh thấy tôi mảnh khảnh có vẻ thư sinh, nhưng nghe tôi là “thầy pháo” chắc y cho rằng tôi chỉ biết dạy học trò trên sách vở thôi, còn thực nghiệm chiến trường thì không có bao nhiêu. Nhưng qua nhiều đợt điều nghiên mặt trận, bố trí hỏa lực, và sau các trận đánh Suối Cụt, hạ đồn Thầy Mười và tập kích đồn Paris Tân Quy thì anh tỏ vẻ phục tôi, nên anh cũng bắt chước các cán bộ C gọi tôi bằng “thầy” và mỗi lần quyết định một việc quan trọng anh đều chờ ý kiến tôi. Nhưng tôi không bao giờ lấn lướt quyền hạn tiểu đoàn trưởng của anh, mà ngược lại tôi tìm mọi cách nâng uy tín của anh lên đối với các cán bộ C và B để anh dễ dàng làm việc.

Tôi đã biết địa thế Gò Nổi Trên, nhưng không rõ tụi Mỹ đội hình ra sao nên chưa phát biểu ý kiến, mà để chờ mấy ông kẹ lên tiếng trước. Ba Châm rít một hơi thuốc lào rồi bảo:

– Thằng Lôi mày đi chính diện còn mấy đứa kia thì chỉ đánh xuyên hông.

Tôi nhìn điểm Gò Nổi và hỏi:

– Anh Ba có nắm được đội hình tụi nó chưa?

– Bị đánh một phát nó ré lên thì mình biết chớ gì. Để sáng nó rút mất không đánh được, ở trên khiển trách.

– Anh Ba đừng nóng ! Để đợi trinh sát đủ các mặt về đã !

Tư Nhựt biết khi tôi nói như vậy là chưa khai hoả được nên vuốt nhẹ Ba Châm.

Năm Tiều đồng cấp với Ba Châm, nói mạnh miệng hơn:

Biết địch biết ta trăm trận trăm thắng nghe cha! Biết địch gồm có các điểm: quân số, hỏa lực và bố phòng của địch. Quân số của nó thì ta đã biết, một tiểu đoàn. Súng ống thì chắc các loại mình đã chơi rồi. Còn cách bố phòng thì ta chưa biết. Bắn phát đầu phải diệt được hỏa lực chính của nó, ví dụ như đại liên, trung liên của nó thì mới xung phong được. Chứ nếu chỉ diệt được một vài cây ARI5 mà xung phong lên thì sẽ bị nó quét sạch.

Ba Châm ngồi im, bộ râu mép quặp xuống, nhúc nhích lia:

– Các cha làm sao đó thì làm. Chớ để tụi này rút về Đồng Dù mà không sứt mảy lông thì cả bọn mình “không còn chỗ đội nón”.

Năm Tiều gật:

– Tôi đưa đầu cho các chả chém! Đánh Mỹ chớ phải đánh u sao mà dễ vậy?

Còn đang cãi cọ, bỗng trinh sát về báo cáo:

– Tụi nó bố trí hình tam giác. Ba đại đội tựa lưng vào nhau để phòng ngự. Một đại đội hướng về Ba Sòng, ta đã phát hiện nó khoảng nhà tía vợ xã đội Ba Tâm, một đại đội hướng về lô cao su lộ 6, một đại đội hướng về đường số 7.

– Như vậy được rồi, Tư Nhựt quyết định đi. -Tôi bảo.

Tư Nhựt bị trận Tân Quy cũng dưới quyền ông E trưởng Ba Châm mà C3 bị nhai hết một B nên lần này hơi ngán cái lối “đánh võ rừng” của già Châm. Anh định gạn hỏi thêm trinh sát vài điều, nhưng tôi biết già Châm sẽ gầm lên.

Bọn tôi chỉ huy tiểu đoàn rất hợp lý hơn có hai ông già đốc xúi này, nhất là ông già Châm thì ông ta đi trận nào kể như lính mất tin tường trận nấy. Tôi nháy Tư Nhựt bảo:

– Vừa đi mình thảo luận thêm.

Tôi nhìn đồng hồ. Đã 2 giờ sáng. Hết giờ rồi. Phải kết thúc nhanh, để trời sáng càng thuận lợi cho máy bay, tai hại cho mình.

Tôi bảo:

– Tín hiệu: khăn trắng buộc ở tay. Cứ ra lệnh và gọi tên nhau bằng tiếng Việt Nam, không cần ám hiệu vì Mỹ không nghe ra.

Tư Nhựt ra lệnh hành quân chớp nhoáng. Xướng, B trưởng đội trinh sát dắt “tai mắt” đi đầu. Tôi dắt C3 và C4 đi kế. Ba Trách, C phó điều khiển một đại liên và một DKZ đi cặp hông tôi dọc theo bờ ruộng bên phái, hai C đi phía bên trái. Sau cùng là C phó Năm Dầy điều khiển hai cối 82 ly của D và hai cối 62 ly của C3.

Tôi dặn Năm Dầy khi biết hướng địch thì cứ để cự ly 200, 300 mà bắn vào giữa đội hình chúng.

Trời vừa dứt mưa, không khí còn ẩm ướt, nếu để xa có thể đạn đi không chính xác sẽ vỡ mặt quân của Ba Đức chốc nữa sẽ tấn công từ phía đường số 7 lên.

Trời tối om, đường lầy lội, tôi bảo mọi người nhón chân để không khua nước. Xướng dừng lại. Tôi biết gần tới khu địch đóng quân. Không rõ chúng nằm ngồi thế nào mà êm ru. Không có tiếng động, cũng không có một đốm lửa thuốc lá. Tôi khẽ bảo Năm Dầy cho anh em dàn hàng ngang và sẵn sàng xung phong. Bỗng nghe một tiếng ầm. Tôi biết là Ba Trác đã nổ DKZ. Tôi nghe tiếng Tư Nhựt lẫn Út Sương thét lên xung phong. Tôi quát Năm Dầy:

– Nổ mạnh vào!

Tum! Tum! Tum! Ành, ành, ành!

Cối giã dòn tan. Bộ binh xông lên.

Xáp lá cà với quân Mỹ. Chúng kêu, la rống, không biết nghĩa gì. Cứ bắn, đâm, la hét áp đảo tinh thần. Chúng chạy đùn cục xuống ruộng nước. Tôi không cho đuổi chúng để Năm Dầy phóng pháo. Trong vòng mười phút, tiếng Ba Trác vang lên:

– Xơ ren đơ! Xơ ren đơ! Đụ mẹ mày ba thằng Mỹ chó đẻ !

Xơ-ren-đơ là tiếng của Tư Linh ban địch vận dạy để khi ra trận kêu gọi lính Mỹ đầu hàng (surrender). Nhưng không thấy thằng nào giơ tay giơ súng lên cả. Tôi biết cái lối đánh của Mỹ nên ra lệnh rút ngay, không chậm một phút.

Đơn vị vừa ra khỏi trận địa là pháo Trung Hòa rót vào rung đất. Kế đó pháo Đồng Dù giã vào xóm Ba Sòng để chận đường rút lui của chúng tôi.

Tôi la:

– Rút mau. Tụi nó hủy diệt trận địa rồi.

Tôi ù cả tai không còn nghe gì nữa. Chỉ nghe loáng thoáng tiếng Ba Đức chửi thề và tiếng chiến sĩ bị thương kêu cứu.

Pháo bắn điên đầu. Tiếng nổ lụp bụp như đại liên chớ không rời ra từng phát đâu bà con ơi. Pháo của Tây là trò chơi con nít. Bắn một phát, uống ly cà phê rồi bắn phát nữa. Pháo Mỹ bắn cò điện tự động, không đếm được. Khói pháo đen bít cả đường đất địa hình, không biết lối nào mà chạy. Rất tiếc Võ đại tướng không vô đây cỡi ngựa xemhoa .

đội cắt ngang lộ 6 rồi cặp theo lộ 7 về xóm trại Bà Huệ. Về đến nơi thì biết Nam Tân, C trưởng Cl bị thương sọ não; Chín Xe Đò, B trưởng chết; Chín Nữa, C phó bị thương, C3 mất đứt một A vì trúng mìn clay-mo. Nhưvậy ngót mười chiến sĩ lẫn cán bộ thương vong.. Khôngbiết Mỹ chết bao nhiêu. Chúng tôi thu được sáu khẩu M79, ba máy PRC25, mười bốn khẩu ARI5, một súng bắn hỏa tiễn (như B40) và hai ống kính hồng ngoại tuyến.

Sau này ban tác huấn Quân Khu mới đoán là một tiểu đội bị diệt gọn trong bãi mìn vì Mỹ có kính hồng ngoại tuyến nhìn thấy người trong ban đêm. Không biết trúng hay sai, nhưng mười hai chiến sĩ đã tan xác không hốt lại được một miếng thịt. Do đó chúng chết mà không mồ mả chi hết.

Chúng tôi kéo về Thuận Đức gần cầu Rạch Sơn nằm liệt địa, định nghỉ vài tiếng đồng hồ rồi di quân vì đây là điểm pháo của Đồng Dù. Nhưng nằm chưa thẳng lưng thì trực thăng lại đổ quân và xe tăng tới ủi rừng. Không biết chúng được điệp báo mà đuổi theo chúng tôi hay là tao ngộ chiến. Nhưng dù thế nào chúng tôi cũng phải nghênh chiến vì không thể tránh né được. Một tốp trực thăng đổ quân xuống đầu Rừng Làng. Chúng đụng ngay đội quân y và trinh sát. Một trận đánh cận chiến giữa hai bên xảy ra ở ngay bìa rừng.

Thương binh ở trận Gò Nổi vừa được băng bó xong đã phải cầm súng đánh tiếp, bắn được phát nào hay phát nất hơn là nằm chờ bị bắt.

Bảy Phúc, quân y sĩ, trước kia là phụ tá của Tư Chuyền ở C5 vừa mới được chuyển về phụ trách quân y cho tiểu đoàn đã bị bắn chết ngay từ phút đầu dưới hầm. Mỹ phát hiện được cứ điểm của chúng tôi nên thả xe tăng càn tiếp. Ủi xong, chúng rút ra để nhường chỗ cho pháo dập. Bạn có thể tưởng tượng là pháo từ Đồng Dù, Trung Hòa và các cụm pháo dã chiến từ Trảng Bàng, Bình Dương câu liên tiếp hai tiếng đồng hồ! Một con dế cũng không thể sống sót thì công sự bằng bê tông cũng không thể đứng nổi. Nhưng chúng tôi vừa cầm cự vừa rút chạy về Sa Nhỏ cho nên tránh khỏi bị tiêu diệt toàn bộ ở Rừng Làng.

Chiến thuật của Mỹ là “tìm và diệt” cho nên chúng tôi đi đâu thì có “cá rái cá nhái, cá lẹp, đầm già, cồng cộc, thần sấm” theo đến đó và cuối cùng là dưa hấu bầy rơi lả tả như mưa.

Chúng tôi đóng thành thế phòng ngự tam giác. C1 ở Đồng Lớn, C3 ở Cỏ Ống, C2, C4 và C5 ở Sa Nhỏ. Chắc chúng đã nắm được sự bố phòng của chúng tôi nên mới 10 giờ sáng (hôm sau) chúng đã cho trực thăng phóng pháo sơ sơ rồi đổ quân thành hai cụm, một ở giữa đồng Sa Nhỏ, một ở đầu ấp Cỏ Ống cách C3 không đầy một cây số.

Tôi đang ngủ trong nhà ông Mười ở cuối ấp Sa Nhỏ, thì ông đập vai tôi: “Con ơi! Mỹ đổ quân rồi. Hai! Mau lên!” Tôi bật dậy, ló đầu ra cửa sổ thì cánh quạt trực thăng quạt xước cả nóc nhà làm da mặt và tóc tôi muốn bị lột ra. Tôi rút đầu vô và ngó theo thấy thằng Mỹ ghìm đại liên bên hông máy bay.

Văn phòng D đóng ở trong nhà cô Tư Thêm má con Tiền, chỉ cách có mấy bờ dừa mà tôi không vọt về được để dùng điện thoại chỉ huy các đơn vị. Tôi bèn quơ súng và chạy ra tiền duyên của C2 nhào xuống ổ đại liên của Năm Hỏi, B trưởng. Y mừng rỡ:

– Phen này mình trả thù cho Bảy Phúc ! Kìa, anh coi, tụi Mỹ đi ngay vô họng đại liên kia cà. Có thằng bỏ ống dòm khoát tay chỉ huy.

Tôi ngóc lên nhìn thấy lố nhố áo vàng tiến gần họng đại liên, còn một tốp đi cặp đường xe lửa từ Đồng Lớn vào Sa Nhỏ. Tôi hỏi:

– Ba Đức ở đâu?

– Dạ, ảnh bên tay mặt tôi. Còn anh Bảy ở phía trái. Tôi ở giữa.

Tôi yên trí vì ở hai đầu có hai cán bộ đại đội mà tôi tin cậy đang chỉ huy. Mỹ đã tới rất gần nhưng tôi bình tĩnh vỗ vai Năm Hỏi:

– Đợi cho nó tới gần chút nữa!

Năm Hỏi là B phó tôi mới đề bạt lên B trưởng. Hắn cũng gan như Ba Quyết (hy sinh ở Tân Quy), nhưng trầm tĩnh hơn Quyết và không chửi bới nạt nộ lính khi gặp mấy chú nằm lỳ không dám xung phong.

Từng đánh nhau với Mỹ bộn rồi, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhìn rõ hình thù chúng nó. Mẹ, to con thật. Đèo đẹt như lính mình thì phải bốn chú mới khiêng nổi một thằng ! Những bộ đồ vàng ghìm súng lom khom đi thẳng vào đại liên. RPD là loại súng mới Liên Xô nổ ác như đại liên. Xạ thủ run run tay nối dây đạn. Một tên Mỹ mang kính dâm ngóng cổ quay nhìn lại và bắt đầu ra hiệu cho bọn sau đi tới.

Năm Hỏi cất giọng run run:

– Bắn chưa anh Hai?

– Chưa. Chờ thằng mang kiếng đi qua khỏi bụi cây.

– Gần quá rồi anh!

– Gần vậy mình xông lên lấy súng rồi trở về chiến hào mới kịp.

Tuy miệng nói tỉnh, nhưng bụng tôi cũng run. Hai chiếc trực thăng võ trang bay sà trên ngọn cây, quạt lá cây lật ngược cả lên như bão tới. Tôi nom rõ mặt thằng phi công đỏ lòm. Năm Hỏi ôm khẩu AK, còn anh xạ thủ RPD thì đã xỏ ngón tay vào lòng cò, má miết sát vào thước ngắm. Năm Hỏi không nói nữa. Y nhìn tôi rồi hất hàm về phía trước, ý bảo: “Nó tới gần rồi, bắn nghe anh?”

Tôi xua tay: Chưa!

Bỗng thằng Mỹ mang kiếng la lên. Không rõ nó nói gì. Tôi quát:

– Bắn!

Khẩu RPD nổ dòn. Ở hai đầu chiến hào súng cũng nổ vang.

Xung phong!

Tiếng thét dậy lên. Trước mặt không còn bóng tên Mỹ nào, chỉ thấy khói và rần rật lính mình. Tiếng nổ liên tục, rinh tai.

Tôi quát:

– Đừng bắn bậy. Lấy súng mau trở lại chiến hào!

Năm Hỏi tay cặp AK, tay lột súng Mỹ. Tôi tháo được một Colt 12 và lột được hai khẩu M16. Năm Hỏi quơ được hai M79. Nghe tiếng trực thăng trở lại, tôi quát:

– Trở lại hầm! Bắn nó!

Tôi không xuống hầm kịp. Chỉ cách có hơn chục thước nhưng máy bay đã ria trên đầu. Tôi phải nằm bẹp bên xác một thằng Mỹ thật to bị bắn bể đầu. Ba Đức nhào tới, hét:

– Thầy Hai xuống mau. Nó còn xạ vòng ngoài.

Tôi vọt một phát xuống hầm và ngó lên trời. Mẹ , thằng phi công ở ngay trên đầu, sức với tay đụng. Tôi quát:

– Đại liên đâu không lia?

Tành tành… tành. Chiếc máy bay đảo nghiêng rồi vọt thẳng, khói bốc mịt mù như cái đuôi xoăn tít.

– Bắn vét đuôi nó! -Ba Dục quát tiếp.

Chiếc trực thăng này sau đó rớt ở rìa ấp Sa Nhỏ gần Bờ Sa. Còn một chiếc (bao giờ chúng cũng đi cặp) nhưng không chịu chạy thẳng, nó quay lại rà sát mặt đồng, ý chừng muốn cứu phi công.

Nhưng bị đại liên nổ rát quá mới bay thẳng. Chập sau, máy bay “trái chuối” (chinook) có hai cánh quạt tới ném lựu đạn cay xuống hầm chúng tôi. Chúng tôi phải rời hầm và di động vào vườn. Nhưng trong vườn cũng bắt đầu ăn bom và pháo.

Một đám Mỹ sống sót chạy dạt ra giữa Đồng Lớn mong trực thăng xúc lên an toàn, nhưng Năm Bụng, C phó cho súng bắn đuổi và cho một tốp xung phong bắt sống.

Chúng nằm xuống, dùng bờ ranh làm công sự đánh trả .

Thế trận lộn ẩu không có ranh giới giữa hai bên nên pháo và máy bay ngưng dập. Lợi dụng khoảng khắc đó, tôi cho đơn vị rút. Tới chiều tối xác lính Mỹ vẫn nằm phơi ngoài đồng, chúng không dám xuống lấy vì sợ chúng tôi trong vườn bắn ra. Chẳng ngờ chúng tôi đã về tới Phú Hòa lau súng nghỉ ngơi.

Sáng hôm sau xe tăng ở Đồng Dù mới lọ mọ ra lấy xác. Trận này cũng không biết Mỹ chết bao nhiêu. Nhưng đây là trận tiểu đoàn chúng tôi thiệt hại nhẹ nhất. Nghĩa trang Ngã Ba Sòng chỉ đào thêm có mười hai huyệt và hai mươi mốt lính lẫn cán bộ A, B, C vô nằm chật quân y Tư Chuyền.

Riêng du kích thì lên tinh thần vì họ lấy được nhiều súng, cởi được nhiều đồng hồ, lột được nhiều quần áo, nói chung, trúng “mùa hôi” nhất từ trước tới nay. Các anh chàng du kích lâu nay đói khát nay quơ được vô số đồ hộp, tha hồ làm tiệc rí rớ ăn mừng chiến thắng. Nào thịt heo, thịt bò, bơ sữa, cà phê, nước ngọt khui ra ăn uống và tán tỉnh nhau cả mấy ngày trời vẫn chưa hết tếu.

Chính trong trận đó chúng tôi mới nhìn thấy những đồng đô-la xanh móc được trong túi áo lính Mỹ . Ngoài ra còn có năm, sáu cái bóp và giấy tờ nhà binh Mỹ, chúng tôi đem nộp cả cho ông Tám Quang.

Riêng nữ du kích Ba Xưa thì chôm được một cây Colt 12. Cô ta giấu biệt cả tháng trời mới xì ra. Có lẽ cô không biết sử dụng và sợ hãi không dám giữ làm của. Nếu gặp ai khác như Tư Bé, Bảy Mô, Út Nhỏ, Út Là thì ém luôn rồi.

Út Chạy, bí thư xã Trung Lập, chơi ngon, xúc mười giạ lúa đem tới nhà cô Ba Xưa năn nỉ đổi lấy. Đi đâu anh ta cũng mang kè kè.

Chúng tôi cứ để anh ta mang cho oai, không thu làm gì mất cảm tình, sau này còn nhiều dịp nhờ bàn tay anh ta bắt dân công phục vụ chiến trường cho tiểu đoàn tôi.

Thu lượm xác chết đồng bọn tụi Đồng Dù mới cho bom pháo san bằng vườn tược ở Cỏ Ống và Sa Nhỏ. Chúng bắn không nhiều, cả một ngàn đạn 105 và 155 ly thôi. Sau ba trận liên tiếp ở Gò Nổi, Cỏ Ống và Sa Nhỏ, “Anh Cả Đỏ” “Tia Chớp Nhiệt Đới” bắt đầu theo riết chúng tôi. Chỉ vài hôm sau, trong lúc chúng tôi đang dưỡng quân ở ấp Ràng thì xe tăng được trực thăng dẫn đường bọc sau lưng ấp Ràng vây kín một khu rừng nhỏ (nơi cô Quắn đã đưa tôi tới “họp xã ủy” tay đôi với cô trong một cái chòi hoang giữa đêm khuya).

Anh chàng xạ thủ B40 Tô Văn Đực đã hạ liên tiếp ba chiếc xe tăng tại bờ rào trường học của cô giáo Chín Hòa, em gái Bảy Lập ở VC quận. Một chiếc trực thăng rụi nằm mẹp tại chỗ, hai chiếc được trực thăng móc đem về.

Tôi cho đơn vị rút nhanh.

Tôi vỗ vai thằng Đực bảo:

– Kỳ này tôi cho cậu đi R dự đại hội anh hùng.

Tội nghiệp thằng bé, mới 21 tuổi, tôi cũng không hỏi lai lịch nó quê quán ở đâu, cha mẹ là ai, có hứa hôn với cô nào chưa? Tánh nó lầm lì ít nói, ăn khỏe và ngủ mê man, có đập mới dậy, không đập là ngủ lu bù. Lính là vậy: đi xóm ghẹo gái và ngủ là hai công tác chính.

Thấy nó không nhanh nhẹn, tôi định cho nó sang tổ đại liên làm nhiệm vụ tiếp đạn (chớ không làm xạ thủ), chẳng ngờ anh chàng rất gan dạ. Thế mới biết thời thế tạo anh hùng. Nếu không đụng xe tăng thì Tô Văn Đực sẽ nằm trong danh sách những chiến sĩ vô danh.

Tôi vác bớt đạn cho nó, hai thầy trò cùng chạy. Trực thăng tới bắn như mưa bấc. Chỉ chạy liều mạng thôi chớ không chắc thoát, nhưng nếu nằm lại thì thế nào cũng ôm một trái cà nông. Tụi Mỹ khi đã bắn thì không có cái mục “tiếc” và tiết kiệm đạn. Hơn nữa, đây là vùng “oanh kích tự do” đã ghi trong bản đồ hành quân của Anh Cả Đỏ Tia Chớp Nhiệt Đới.

Nghĩ cũng lạ, cặp chân của mình, bình thường thì nó lặc lìa, sau mỗi trận đánh nó như không còn tuân lệnh chỉ huy nữa, nhưng khi chạy đua với trực thăng thì nó tự động, trực thăng ria hung bao nhiêu thì nó bật nhanh bấy nhiêu.

Hai thầy trò chạy một chập thì lạc đơn vị, không biết đường nào mà mò nữa. May gặp Sáu Khoắn, xã đội trưởng. Anh ta nghe bộ đội đụng trận thì núp xa xa để chờ cơ hội nhào ra “hôi” súng và quần áo Mỹ. Lần này không được cây nào mà chạy suýt chết. Thầy trò tôi bèn đeo dính y. Y chạy cũng có hạng nên cố theo kịp y là thắng trực thăng. Nhưng lần này đành chịu thua. Y vừa thở dứt vừa bảo:

– Không được, anh… Hai… ơi! Phải kiếm hầm chui.

May quá, bên đường có một cái hầm cũ từ đời cố lỷ cố lai nào. Thế mà ba cây thịt cứ phóng đại xuống cho đỡ khổ. Đạn ghim xuống đất cắm vào thân cây nghe lạnh mình.

Sáu Khoắn nhanh chân lủi xuống trước, tôi đẩy thằng Đực vào rồi không còn chỗ chui. Tôi cứ đứng chong ngóc bên miệng hầm. Chỉ huy, làm lớn phải làm láo, chớ lủi trước lính coi ra gì? Nếu đứng trơ trơ như thế này, pháo dập e bất tiện, nhưng cũng may, Sáu Khoắn trồi lên kêu om:

– Không được! Kiến bù nhọt cắn chịu không nổi.

Tôi quát:

– Hầm đâu mà chạy?

Sáu Khoắn tông thằng Đực ra và trồi lên, mặt như quỷ sứ:

– Kệ mẹ cứ chạy. Ôg giỏi thì xuống đây.

Bất chấp sự hoang mang của tôi, Sáu đâm đầu chạy, vừa chạy vừa phủi đầu, cổ. Cả ba lại chạy, phen này không gặp hầm nên nhảy xuống mương cau. Cứ quay ngó theo trực thăng, liệu bề mà né. Đạn bay ren rét ghim chịt chịt chung quanh.

Cũng nhờ Trời Phật phò hộ nên trận đó không bị thương. Hôm sau tôi đang ngất ngưởng vừa nhậu đế vừa tán dóc với Tư Nhựt trong quán thì Sáu Khoắn lù lù xuất hiện:

– Anh Hai ơi! ! Anh Hai !

– Cái gì vậy?

– Tôi vừa đi trở lại mặt trận tìm coi tụi du kích có bỏ sót “cun” (colt) không.

– Có sót không?

Sáu Khoắn lôi tay tôi tới chỗ hầm hôm qua. Tôi rùng mình. Cái hầm bay mất. Một lỗ sâu và to bằng nửa chiếc đệm. Một trái 155 rơi vào đó. Sáu Khoắn đưa tôi bó nhang, rồi đốt lên, bảo:

– Anh Hai vái thánh thần đã đỡ trái cà nông cho mình đi!

Tôi cười:

– Thần kiến lửa hay kiến bù nhọt?

Sáu Khoắn ngoẹo đầu:

– Không có ổ kiến thì ba thầy trò mình bay không còn miếng thịt.

– Từ rày trước khi nhậu, mình phải cúng ông thần Kiến một ly rồi mới uống nghe anh Hai.

Sau trận Ràng, xe tăng Mỹ hết dám nghênh ngang. Trước kia chúng muốn cắt vào chỗ vườn nào tùy ý, như vào chỗ không người. Mỗi lần chúng đi qua là cây vườn ngã liệt địa, chủ vườn thiệt hại không biết bao nhiêu mà kể. Nhưng bây giờ không thế nữa. Chúng ở ngoài đồng trống, muốn vào vườn phải dọn đường rất lâu. Như vậy có đủ thì giờ cho bộ đội, cơ quan di chuyển, du kích bố trí địa lôi hay chạy trốn. Cho nên mỗi khi vào vườn chúng đều thiệt hại.

Dần dần chúng cũng “rút kinh nghiệm” khá chính xác. Chúng thả biệt kích sục sạo trước hoặc cho một vài chiếc tăng đi trước để nhử du kích, nhưng ít khi an toàn. Sau cùng chúng thay đổi chiến thuật. Chúng chạy ngoài ruộng để tránh B40. Loại này chỉ bắn xa 100 mét, sau đó chúng tôi được trang bị B41 bắn xa 500 mét. B40 bắn đạn ra đụng gì cũng nổ, còn B41 bắn xuyên cả bùng nhùng lưới chì gai vẫn không nổ, đến khi húc vào vách tường hoặc xe tăng mới nổ.

Đến phiên chúng tôi đổi chiến thuật. Mỹ ít vô vườn thì chúng tôi đào công sự giữa ruộng, phủ rơm lên. Đợi chúng đến gần mới bắn. Bắn xong vọt lên chạy. Nhưng chạy sao thoát được lưới lửa của xe tăng? Chúng tôi phải bố trí trung liên, đại liên phục sẵn trong vườn để bịt miệng súng của xe tăng cho bồ nhà vác B40 tháo chạy. Nếu không, mỗi lần hạ xe tăng là mỗi lần bỏ mạng thì ai còn ham làm “anh hùng diệt tăng” để lãnh huân chương? (mà bụng đói meo như anh hùng Năm Cội).

Ngoài B40 ra, chúng tôi có một thứ bửu bối khác. Đó là mìn địa lôi, cũng còn gọi là mìn 8 kí lô hoặc 10 kí lô của Trung Quốc. Mìn kết hợp với B40 thì đánh tăng mới thắng to. Nhưng mìn rất tai hại. Nhiều khi chính quân ta lại giết quân mình bằng mìn còn gọn hơn bom pháo Mỹ. Số là chiến sĩ ta mang vác hành quân nặng nề nên đem chôn tạm đâu đó, tự hứa sẽ có ngày móc lên xài, nhưng rồi quên luôn.

Các bạn thử nghĩ con nít 15, 16 tuổi ở nhà bị pháo bắn, ruộng nương không làm được, lêu têu chết cũng uổng mạng nên gia nhập du kích hoặc bộ đội. Đâu có đứa nào lớn con, chỉ độ 35, 40 kí lô là nặng nhất, lại ăn khoai mì, cơm gạo thiếu thốn, đã lê cái thân còn không nổi lại còn vác trên 10 kí lô nên chôn nhẹ gánh là điều không đáng trách.

Cái việc này tôi đã từng chứng kiến ở trên Trường Sơn. Lính cụ Hồ ốm tong như nhái bén, chân như cái cọc màn mà lại vác đạn pháo, đế cối, nòng pháo nặng cả 50, 60 kí lô. Cho nên họ ném bỏ dọc đường cỏ mọc phủ lên, không ai ngó ngàng tới. Việc bồi dưỡng quân lính, Trung ương không hề nghĩ tới . Họ chỉ tìm cách khai thác đến giọt máu cuối cùng của lính mà thôi.

Tôi cũng chết hụt một lần vì trái mìn của fu kích “bỏ quên”. Hồi ấy đầu năm 70, khi đánh Mậu Thân xong, tàn quân năm cha ba mẹ khắp Quân Khu tập họp lại thành một trung đoàn gọi là trung đoàn Quyết Thắng do ông Năm đốc chiến, tức là Năm Tiều, làm E trưởng. Tôi làm E phó kiêm tham mưu trưởng và Mười Việt làm D trưởng D1. Chúng tôi đi về Quân Khu xin thêm vũ khí và lính bổ sung. Đi lên tới khu vực Bời Lời thì gặp một chiếc xe bò chở gạo. Người đánh xe bò thuộc lính cũ của Năm Tiều, gặp lại thủ trưởng mừng quá, hai bên ôm nhau hít hà rồi trao đổi văn hóa thuốc rê với nhau, vừa đi bên xe bò vừa tâm sự.

Tôi bất ngờ đạp miếng bom đứt chân nên ngồi xuống tự rịt lấy. Hai người đi một khúc chưa đầy 50 mét thì nghe một tiếng “ầm” rung đất. Tôi nhìn lên thấy đất đá bùng lên như núi lửa phun. Thôi bỏ mẹ rồi. Tôi dư biết đó là “ông địa”. Quả y như rằng, người và con bò cùng với chiếc xe đầy gạo mất hết. Sức tung của nó có thể làm lật gọng một chiếc xe tăng Mỹ thì bấy nhiêu đó thấm thía gì! Tội nghiệp bác Năm bầy trẻ bỏ lại hai bà vợ, còn Mười Việt vĩnh biệt cô vợ mới cưới chưa đầy ba tháng.

Nếu tôi có điều kiện thì tôi cũng lập miếu thờ “ông địa” như thằng Rắc thờ “ông địa” (trái địa lôi của du kích đã gầm hụt) ở trước cửa bót nó vậy.

Đánh Mỹ như trò chơi nguy hiểm, thấy cái chết như đồng xu lật sấp lật ngửa, chỗ nào cũng là mặt trận, giờ nào cũng đánh được, không kén nơi không chọn giờ gì ráo.

Đang hành quân bị trực thăng đuổi thế là chong đại liên bắn. Chúng đổ quân bao vây. Thế là thành trận đánh. Cán bộ tiểu đoàn gặp nhau hút thuốc uống rượu một hồi nóng máu rủ nhau đi tìm Mỹ đánh. Một lần tôi phát hiện được chỗ Mỹ đóng quân ở Bàu Đứng, tôi rủ Bảy Nô xách cối tới pháo kích. Chẳng ngờ tụi Mỹ có kiếng hồng ngoại hồng nội gì đó (hồng ngoại tuyến) phát hiện được, chúng cho xe tăng xả cà nông 40 ly, cả hai ban chỉ huy tiểu đoàn chạy tuột quần. về đến căn cứ, Bảy Nô văng tục om sòm và “thề” không chơi với Hai Lôi nữa. Nói vậy chớ đêm sau lại rủ nhau đi, bắn được sáu trái cối rồi rút về an toàn, sáng dậy nhìn mặt nhau cười. Tôi hỏi Bảy Nô:

– Trông kìa, Mỹ đã cho trực thăng lấy xác mấy chuyến rồi?

– Củ cặc, tụi bay còn trẻ giỏi giò chạy mau, tao chạy không kịp, rủi có bề gì bỏ chị Bảy lại cho ai?

(Bảy Nô là một người vui tánh xuề xòa, đánh giặc như đùa. Tuy lo mà cũng không khỏi. Sau này anh được phân công về Rừng Sát thành lập Quân Khu mới do Tám Quang làm chánh ủy. Qua sông Lòng Tào bị giang thuyền bắn chết cả hai thầy trò).

Căn cứ của chúng tôi ở Rừng Làng, Lộc Thuận, Rừng Tre v.v… mới cũ gì Mỹ cũng đều phát hiện được, chúng cho bộ binh có xe tăng và máy bay yểm trợ tấn công vào. Ở Lộc Thuận, Cl tử chiến với chúng. Ở Rừng Tre đụng C3, chúng bắt sống được vài cậu lính trẻ. Ở gần trại Bà Huệ, chúng bắt được cả thượng úy Tám Nghi, bạn tôi (tay xạ thủ hữu hạng trong cuộc thi xạ kích ở Đông Âu), chánh văn phòng của Năm Lê. Ở Sở Đất Thịt gần Bàu Đứng chúng đụng tiểu đoàn 7 của Bảy Nô, ở Cầu Xe đụng D9 của Q16 Bắc Việt do Hai Đồng chỉ huy. Trận này năm ăn năm thua, sau đó Hai Đồng lên Sóc Lào lại đụng Anh Cả Đỏ. Hai Khởi bị thương, Hai Đồng bị bắt sống trong trận này, bỏ vợ là cô Tám Mang mới có bầu. Cô dông ra Củ Chi lập nhà bảo sanh, rồi sau đó không rõ tông tích. Một trận khác ở Bàu Trâu, tôi dắt đơn vỉ tập kích một cụm quân “Tia Chớp Nhiệt Đới”. Tôi cho pháo dập rồi xung phong. Chúng không chống cự, kêu trực thăng tới bốc rồi cho pháo trả đũa. Hai Phái mất tinh thần không chạy được, tôi phải kéo xểnh như thây ma. Về đến nhà y bịnh luôn, xin về cơ quan làm chính trị, không ra trận nữa. Ở trên đưa một ông gốc khu 5 tên là Sáu Đoàn Tâm, cán bộ cũ của sư đoàn 305 Bắc Việt xuống thay. Chỉ một thời gian ông này cũng chết.

Tình hình chiến trường càng ngày càng trở nên ác liệt. Hầu như ba bữa một trận nhỏ, bảy bữa một trận lớn. “Người không rời súng, ngựa chẳng rời quân”, chúng tôi phải di động tránh né luôn ở khắp Củ Chi, sang cả bên Trảng Bàng ăn nhờ ở đậu. Ở đây tôi gặp Ba Tới, quen hồi chín năm. Ông ta mới về làm tỉnh đội trưởng Tây Ninh thay cho ông vua con Nguyễn Việt Hồng bị Sáu Di cách chức. Tôi rủ Ba Tới cho kết nghĩa tiểu đoàn 14 Tây Ninh và tiểu đoàn Quyết Thắng của tôi.

Ban chỉ huy D14 là Năm Sơn, Ba Nhị và Chín Hung (cháu ông Mười Huệ ở Bến Tre) rất chịu chơi. Chúng tôi bèn rủ nhau phục kích đánh một đoàn xe tăng Mỹ kẻo từ Suối Sâu lên Trảng Dầu. Sáng chúng kéo lên, chiều rút về Đồng Dù. Hai bên phối hợp nghiên cứu chiến trường, đồng ý bố trí hỏa lực xong, vào giờ chót D14 nghỉ chơi, rút lui.

Tôi và Tư Nhựt vẫn đánh, bắn cháy hai chiếc xe tăng tại Suối Sâu. Phản lực, Dakota, trực thăng tới làm mưa làm gió.

Chúng tôi rút về Cầu Xe. Phản lực tới ném bom ngay giữa đội hình của C2 làm chết một tiểu đội, sáu chiến sĩ bị thương vì bom Mỹ và đạn B40 nổ trong hầm. Tưởng thắng hóa ra không thắng.

Chúng tôi chôn cất thương vong liền tay, riết rồi cũng không còn sức, mà cũng không có thì giờ tẩm liệm, gói ghém và đào huyệt. Cứ dồn xuống công sự, tay lấp đất, miệng lẩm bẩm: “Thôi nằm đỡ đó chịu lạnh nghe tụi bay, tàn cuộc chiến tụi tao sẽ trở lại xây mồ mả và lập miếu thờ!” Rồi dông ngay trong lằn đạn của phi pháo. Nếu quyến luyến ở lại đó thì sẽ chết chùm. Chiến tranh lôi cuốn mãi, con đường đã đi qua có bao giờ trở lại, còn nói chi mồ mả , miếu đền?

Nay ngồi viết những dòng này, hiện lên trong trí tôi những xóm làng, vườn tược ở khắp Củ Chi, nơi đó chúng tôi đã để lại những mô đất lè tè, những chiến hào toang hoác, nơi yên nghỉ nghìn thu những bạn bè thân thiết của chúng tôi xưa đã từng đi suốt ba miền trong cuộc kháng chiến chống Pháp, và cùng nhau vượt Trường Sơn, về đây nằm nghỉ tại quê nhà… một cách vô lối.

Là người cầm súng, bất cứ ở trên trận tuyến nào và chiến đấu vì mục đích gì, cũng phải là người dũng cảm. Chắc bạn đọc tưởng chúng tôi là những gan lì tướng quân nên mới đánh với Mỹ như vậy nổi. Sự thực cũng có tí gan lỳý đó, nhưng có lúc người ta lại bắt buộc phải gan lỳ để tìm cái sống. Hồi chín năm Hoàng Thọ là tay nổi tiếng nướng quân. Y bố trí trận địa chỉ chừa một cửa sống. Thí dụ sau lưng là sông, trước mặt là cơ giới địch đang di chuyển trên đường. Muốn sống phải diệt địch vượt qua lộ về khu giải phóng chớ không thể lùi lại phía sau.

Chúng tôi ngày nay cũng bị Hà Nội lãnh đạo chỉ huy theo lối đó. Họ ném chúng tôi vào Trường Sơn với một lon muối và vài kí lô gạo để hành quân trên con đường không có dấu chân người dài hàng ngàn cây số. Phải tìm cách để sống nếu không muốn chết. Dù có trăm phương ngàn cách lính Trường Sơn cũng chết như rạ .

Về đến miền Nam, họ quăng chúng tôi vào những chiến trường cũng với phương châm đó: tự tạo điều kiện đánh giặc để sống còn. Nếu lười nhát sẽ bị giặc tiêu hủy. Giặc đây là Mỹ, một quân đội trang bị tối tân nhất thế giới, còn chúng tôi trang bị lạc hậu cũng nhất thế giới: súng ngựa trời và các loại súng mút thời Nga Hoàng mà cũng không có đủ nói chi súng máy.

Đứng trước một tình thế sống chết như trở bàng bàn tay, chúng tôi phải tìm cách sinh tồn. Đánh cũng chết mà chạy cũng chết. Người cầm súng có bao giờ chọn lấy con đường nhục nhã là chạy trốn địch? Cho nên sự gan lỳ của chúng tôi là một sự gan lỳ bắt buộc như anh lính Hồng Quân Liên Xô trong phim Bài ca người lính chiếu ở Hà Nội mà tôi đã xem. Đơn vị anh ta bị lính Hitler tiêu diệt sạch, chỉ còn một mình anh ta chạy trốn. Xe tăng đuổi theo. Anh ta quay lại thấy họng súng của nó to lớn vô cùng và đã sát sau lưng, nếu tiếp tục chạy thì họng súng kia sẽ nhả đạn. Anh ta bèn quay lại rút thủ pháo ném. Quả pháo rơi vào lòng xe tăng diệt cả bon địch… Và anh ta đã trở thành anh hùng một cách bất ngờ. Trong lúc ném quả thủ pháo anh ta không nghĩ gì cả, như một cái máy bật một cách tự nhiên.

Chúng tôi đánh Mỹ ở Củ Chi cũng gần như trong trạng thái tinh thần đó chứ không nghĩ rằng Củ Chi đất thép đất bùn gì cả. Đánh để tìm đường sống hơn là lủi trốn để rồi chết. Cho nên ai khen chúng tôi gan dạ, anh dũng là lầm.

Hồi khoảng 1949-50 gì đó, Đồng Tháp Mười bị một trận tổng ruồng kinh hồn. Trận này do trung tướng Pháp Bondis chỉ huy. Lúc đó tôi còn là một cậu bé mười bảy tuổi. Một biển cả mênh mông mà chỉ có vài chục chiếc xe lội nước (tank amphibie) và chưa đến chục máy bay, còn dưới sông thì có độ chục tàu há mồm (chaland de débarquement). Riêng bộ binh thì có chừng vài trung đoàn. Như vậy chẳng khác nào muối bỏ biển. Thế mà Bộ Tư Lệnh chiến khu VIII của Trần Văn Trà chạy tướt bơ, không dám quay mặt lại. Đại đội phòng không chỉ bắn rơi có một chiếc máy bay Skyraider ở Dốc Binh Kiều mà đã được nhạc sĩ Hoàng Việt cho vào bài ca bất hủ.

Có lẽ đó là trận ruồng lớn nhất của quân Pháp ở Nam Bộ. Vài trận đụng độ lẻ tẻ với Vệ Quốc Đoàn đã xảy ra. Số thương vong của hai bên chưa tới con số 10. Riêng ở miền Tây, Pháp dùng hai cây cà nông 105 và 90 ly trên đường Tầm Vu và Sóc Xoài đã bị Vệ Quốc Đoàn đánh lấy, kéo về chiến khu bằng hai con trâu mà Pháp không đuổi theo kịp.

Tôi nhắc lại vài ba sự kiện trước kia của các bậc đàn anh, không phải để đánh giá họ mà là để thấy thằng Tây so với thằng Mỹ ngày nay không bằng một phần mười.

Nếu Pháp dùng một trái bom thì Mỹ dùng đến một ngàn trái.

Nếu Pháp bắn một viên đạn thì Mỹ bắn đến một trăm ngàn viên.

Nếu Pháp dùng một phi cơ thì Mỹ dùng đến một, hai trăm phi cơ chưa kể B52.

Nếu Pháp dùng một xe tăng thì Mỹ dùng năm trăm xe tăng

Nếu một chục cây số vuông thời chín năm bị một phần mười quả bom 50 kí lô thì mỗi cây số vuông ở Củ Chi lãnh mười quả bom 100 kí lô và một quả bom đìa.

Nếu mỗi trận đánh cấp đại đội thời chống Pháp có một đến năm chiến sĩ hy sinh thì ở Củ Chi một trận đánh thường bổ đồng có mười chiến sĩ thương vong.

Trong kháng chiến chín năm, ba Bộ Tư Lệnh chiến khu VII VIII IX đều còn nguyên vẹn.

Trong kháng chiến chống Mỹ, ba Bộ Tư Lệnh đều bị tiêu diệt hoàn toàn. Nguyễn Văn Bảo, chánh ủy sư đoàn 330, anh ruột của Nguyễn Hộ, được đưa về làm chánh ủy Quân Khu IV chết năm 1965 ở Củ Chi trong trận bom B52 đầu tiên dội xuống An Nhơn.

Nguyên soái đầu đỏ Nguyễn Chí Thanh chết ở Long Nguyên cuối năm 67, còn Nguyễn Bình chết năm 49 là bị đồng đội phản thùng. Lê Quốc Sản, tư lệnh Quân Khu II, Nguyễn Hoài Pho, tư lệnh Quân Khu III đều chết vì bom đạn Mỹ.

Chúng tôi không phải là những nhà thống kê chuyên môn, chỉ xin nêu tên vài con số ước đoán với tư cách của những kẻ đã sống và cầm súng trong suốt hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Và sở dĩ chúng tôi cho những trận đánh kể trên là “bảy món ăn chơi” là vì trận tổng nướng quân Mậu Thân mới là món ăn thiệt mà chúng tôi sẽ kể ở những chương sau đây.

Xin trở lại tặng độc giả một “món ăn chơi” ở Cây Trắc.Trận đó D Quyết Thắng của tôi đụng với cụm quân Mỹ ở đường Một Làng xã Phú Hòa Đông. Ở đây có một cây trắc thiệt to nên có địa danh là Cây Trắc. Mỹ mở cuộc càn với 30 ngàn quân có B52 dọn bãi, gồm sư đoàn “Tia Chớp Nhiệt Đới” ở Đồng Dù và trung đoàn 11 kỵ binh thiết giáp. Mục đích chính là đánh vào khu vực Tam Giác Sắt Bến Cát và các xã ven sông Sài Gòn từ Nhuận Đức đến Hố Bò

Chúng tôi được lệnh Quân Khu phải cấp tốc hành quân bôn tập cụm quân Mỹ tại Cây Trắc. Năm Dầy C trưởng C4 của tôi cũng vừa bị tử thương vì pháo bắn sập hầm cùng với năm cán bộ và chiến sĩ. ớ trên bổ sung cho một C trưởng là Chín Tống, người Bến Tre tập kết. Chín Tống chuyên sử dụng súng cối, trình độ khá hơn Năm Dầy. Nhưng về kinh nghiệm chiến đấu, y chỉ là một tân binh. Trời mưa nên y dắt đại đội đi lạc đường suýt làm trễ giờ tấn công, nhưng nhờ có y bắn hai trăm quả cối trúng đích mà ba đại đội xông vào trận địa Mỹ dùng B40, thủ pháo, AK mà đánh với xe tăng và bộ binh Mỹ. Cánh Cl bị phát hiện và bị mìn clay-mo nổ bay gọn một trung đội. C2 và C3 đánh thủng một tuyến xe tăng nhưng không xung phong vào sâu được nữa, phải nằm cầm cự và bắt được bốn thông dịch viên.

Chỉ huy sở của D đặt trong một cái quán có hầm vững chắc do Ba Trắng, xã đội phó Phú Hòa Đông dẫn tới. Xong ông ta chuồn mất làm chúng tôi rất khó khăn trong việc định hướng. Xung phong không được mà chưa biết rút lui cách nào.

Trong hầm có ba người, Tư Nhựt, Đoàn Tâm và tôi. Đoàn Tâm vừa xuống thay cho Hai Phái mất tinh thần về làm chính trị ở quận đội. Đoàn Tâm hằng ngày hay giựt le về lập trường, đây là lần đầu hắn đụng trận với Mỹ trên đất Củ Chi, lại rơi vào tình thế nguy ngập nên cứ thở dài hỏi:

– Như vậy thì mần răng?

Tư Nhựt phát cáu, quát:

– Chết đến nơi, ở đó mà răng cỏ gì!

Trong lúc đó Cl, C2 báo cáo chiến sĩ bị thương nằm la liệt. Tôi cũng chưa tính ra cách giải quyết. Ba Thắng đã chuồn, dân công cũng lén trốn hết mà thương binh thì đông. Tôi biết nếu ở đây càng lâu sẽ có nguy cơ bị xe tăng càn hoặc pháo giã thì không đường rút lui, nên bảo Tư Nhựt:

– Để tôi lên C2 xem tình thế rồi cho mở đường máu.

Tư Nhựt đồng ý. Tôi vọt ra hầm. Nãy giờ ngồi trong hầm tối om, mới ra khỏi hầm mắt chói lòa như mặt trời mọc, tôi tưởng sáng rồi. Nhưng không phải. Đó là hỏa châu của Dakota, chúng quần khắp trận địa bắn pháo sáng như đèn điện giăng trên trời.

Mấy cậu trinh sát ngồi tựa lưng vào vách hầm chờ lệnh. Thằng Thuận hỏi:

– Anh Hai chạy đi đâu. Thương binh nằm đặc trước sân kia cà !

Tôi mọp trong lằn đạn, cố ra sân. Kẻ rên, người la. Tôi choáng váng.

– Dân công đâu hết rồi?

– Họ ở bên cái nhà đó, nhưng không còn người nào.

Đúng ra còn được năm, sáu người. Tôi cho tải thương binh nặng đi trước, rồi bảo thằng Thuận dắt tôi chạy lên chỉ huy sở của C trưởng Ba Đức. Ba Đức kêu lên:

– Nguy quá anh Hai. Tôi cho một trung đội đánh thốc vô trung tâm. Không thấy trở ra đứa nào hết.

Tôi bảo gọi Út Sương. Út Sương thở phào trong máy:

– Nguy quá anh Hai!

Tôi quát:

– Mở đường mà ra !

Đang tiến thối lưỡng nan thì trinh sát báo cáo:

– Anh Hai, em nghe có tiếng xe tăng từ phía Bà Hộ . Coi chừng tụi Đồng Dù ra tiếp viện.

Một trái pháo nổ rầm gần đó. Miểng phang nghe lạnh mình. Tôi quát:

– Tất cả tự lực chạy hoặc nằm tại đây…

Bỗng một giọng quen chọc ngang:

– Một giò cũng rán chạy đua với xe tăng tụi bay ơi!

Đang cơn nguy biến mà ai lại cà rỡn? Đó là ông Chín Nữa, C phó C3, dượng của tôi chớ không ai lạ. Ông ta là người rất “hút” đạn. Trận lớn nhỏ gì cũng bị thương. Không nặng, vai, đùi, sém tai v.v… Thế nào cũng lãnh một ít về nằm quân y rồi ra đơn vị. Đánh trận, lại bị thương trở vào viện.

Tôi nghe dượng nói như gợi ý, bèn bảo:

– Cậu nào bị gãy giò thì được cáng, còn bị thương tay, mình, phải rán đi chầm chậm chớ không còn dân công. Nằm đây chờ sẽ không có ai khiêng. Xe tăng nó tới rồi kìa.

Mà thật, động cơ nghe rõ dần, đất rung khe khẽ. Biết mình ra lệnh như vậy là quá ư dã man đối với chiến sĩ, nhưng còn cách nào khác? Chần chờ chỉ có chết thôi. Đoàn quân sứt tay gãy gọng vừa rên vừa lê chân cất bước trong tiếng pháo, tiếng động cơ xe tăng và dưới lằn đạn.

Nhiều chiến sĩ bị thương nặng quá nằm lại và chúng tôi cũng đành bỏ họ ở lại chết ờ đó, sau này xã đội sẽ chôn giùm. Chiến trận càng ngày càng tồi tệ về phía chúng tôi. Đầu năm 62-63, chiến sĩ chết còn được truy điệu, có hòm bằng gỗ tạp chôn, có nấm mả, có mộ bia. Năm 64-65 không còn truy điệu nhưng còn nấm mả. Năm 66 chỉ còn cái lỗ tun hút, cuộn ny-lông rồi dập, may có nấm, rủi khỏa bằng.

Bây giờ thì, chết không được chôn, cứ nằm đó cho rã thây để cho đất Củ Chi trở thành đất “thép”. Cái mả mẹ mày thằng Hồ tặc. Thành đồng tổ quốc làm cái đéo gì! Dân Nam Kỳ chết đau chết đớn vì tham vọng bá chủ của chúng mày.

Tôi và Ba Đức chờ cho người thương binh sau cùng băng qua đường mới gọi Tư Nhựt:

– Allô !… Tôi đã giải quyết xong công tác hậu cần.

– Đồng chí lo cho họ đi, để mặt trận cho tôi tính.

m ầm ầm! Một loạt pháo nổ gần. Khi dứt, tôi gọi Tư Nhựt. Không có tiếng đáp. Tôi biết là dây điện đã bị cắt đứt.

m ầm ầm! Loạt nổ kéo dài hơn một hơi thở. Lần này không phải pháo mà là B52. Tôi la lên trong hốt hoảng:

– Ở đâu nằm đó. Đừng chạy bậy!

Trong khói mù mịt, tôi ngóc đầu lên. Pháo sáng còn hơn đèn điện thành phố Hà Nội.

Cây vườn ướt sương lấp lánh đẹp như tranh. Nhưng kìa xe tăng đã tới. Bom B52 nổ cách chúng nó chừng vài trăm thước. Tôi nhổm dậy, tay quờ đụng một vật âm ấm. Ai vậy?

– Anh Hai!

Tôi nhận ra Bảy Mô. Trời đất, tường gặp nhau ở dưới âm ty.

– Sao em ở đây?

– Em nghe tiếng anh quát thương binh thì chạy tới tìm anh. Em bị thương ở đùi. Tụi em tải đạn cối cho Chín Tống, rồi chia nhau đi với Cl và C3 tải thương. Ông Năm Tần C trưởng bị thương sọ não, Năm Bụng C phó bị thương ở hông, trung đội của Năm Trung chết gần hết vì mìn Clay-mo ở trước hàng rào, ông Tư Linh (không phải Tư Linh binh vận bạn tôi) bảo tụi em nhào lên lôi thây. Em lôi được hai cái, đến cái thứ ba thì bị thương.

– Không ai võng à?

– Có còn ai mà võng!

– Vịn anh đi.

– Đánh gì kỳ vậy anh?

– Trận này D anh bị nặng nhất.

Chúng tôi dìu nhau ra khỏi trận địa. Bom pháo thưa dần. Chúng tôi đi chậm lại.

Tôi la to:

– Hết B52 rồi các cậu! Rán về tới Cây Diệp thì mới khỏe.

Bảy Mô kêu:

– Chân anh sao vậy?

Tôi ngó xuống, ống quần bên trái ướt dầm. Tôi tưởng là bùn đất, không ngờ là máu. Mô xé khăn quấn cổ buộc cho tôi rồi hai đứa cùng đi.

– Sao anh đi đâu cũng gặp em hết vậy?

– Sao em đi đâu cũng gặp anh hết vậy?

Hai đứa cùng cười. Về đến Sở Đất Thịt là trạm quân y dã chiến Quân Khu của Tám Lê. Ông bác sĩ này móm xọm. Nhìn mặt ông ta không thấy cái miệng, chỉ thấy cái cằm nhô ra như bánh lái ghe. Lần này nó càng nhô ra vượt mức.

Ông ta lắc đầu:

– Nhiều quá làm sao cho xuể hả ông Lôi? Ông coi kìa, thương binh nằm trắng lớp trong rừng cao su mà chỉ có một mình tôi. Nếu tôi biết trước tình thế này tôi bắt Tư Chuyền và Năm Hồng theo tiếp tay. Trước nhất ông phải cho khiêng họ đi ra khỏi rừng này. Tôi nghi B52 sẽ rắc bom xuống đây nội sáng nay. Vì nó dư biết đường rút của mình.

– Tôi không còn tên lính nào trong tay. Cả dân công cũng không có. Ông cứ để họ nằm đó đi. Sáng mai tôi sẽ cho đơn vị tới giúp…

Bỗng có tiếng người vang lên:

– Rán bò lên tụi bay. Nhất là mấy thằng mới có mèo. Đừng nằm đây hứng B52 uổng thân lắm. Còn thằng nào muốn sang Mỹ nếm mùi đầm Mỹ thì chờ xe tăng, trực thăng tới xúc.

Tôi nhìn lại thì ra dượng Chín của tôi. Ổng bị thương, tay treo cần cổ. Tôi và Bảy Mô kết bè với dượng đi về tới Sa Nhỏ, tạt vô quán Ba Trắng nghỉ chân. Chỉ có bà vợ bán hàng, còn đức lang quân xã đội phó thì vắng mặt. Bà vợ đóng kịch:

– Ủa, còn ba sắp nhỏ đâu, không thấy về?

Chín Nữa thừa biết sự anh dũng của ông Ba, nên vọt miệng đáp:

– Kỳ này ông xã đội của chị sẽ lãnh huân chương anh hùng.

– Sao vậy anh Chín?

– Ổng ôm thủ pháo xông vô xe tăng Mỹ diệt luôn ba chiếc chớ sao!

– Úy trời đất, rồi ảnh có sao không?

– Xe tăng nó tung mà ảnh không trầy miếng da!

Chị chủ quán biết mình bị tháu cáy nên lẩn ra sau. Chắc Ba Trắng nằm trong buồng nghe rõ lời Chín Nữa nói.

Mỹ vẩn còn càn tới càn lui ở Hố Bò, An Phú nhưng ở đây, những chàng lính đi trận về đã bắt đầu mua rượu và tép mỡ làm tiệc. Yêu cuồng sống vội còn hơn thanh niên Sài Gòn. Họ nhấc chuyện chết hụt đêm qua và cười.

Một cậu nhắc lại câu nói bất hủ của Ba Tố hay Năm Dầy gì đó:

– Em ơi! Cho anh ngủ một đêm rồi sẽ có “bảng vàng danh dự”‘ treo trong nhà, (hoặc) muốn có bảng vàng danh dự treo trong nhà thì cho anh ngủ một đêm thôi.(Câu này đã trở thành câu đầu môi của chiến sĩ mỗi khi đùa).

Cơ quan của ông đốc chiến Năm Tiều cũng rề tới rề lui vùng này. Nghe tôi về, anh đến thăm. Anh lôi tôi ra ngoài

– Mẹ, còn tệ hơn Tân Quy nữa hả tụi mày?

Tôi lặng thinh, anh tiếp:

– Tao ở nhà nghe tiếng súng thì biết. Mỹ đông quá mà lại súng nhiều. Mình có một D, như thằn lần ôm cột đình, làm sao chuyển nổi.

Tôi lắc đầu:

– Cái khổ là không có dân công tải thương anh à.

– Thằng Châm nó nghe tụi bay thua trận này, nó sẽ khoái chí lắm. Nó bảo: “Sao không giỏi chạy xe Honda nghiên cứu như kỳ Suối Cụt nữa đi!”

Thấy Bảy Mô trong quán, anh tiếp:

– Mày đi đâu cũng đeo cái của nợ đó theo. Trận Tân Quy xui là tại vì con Kim Anh, trận này là con “dì Bảy” nó.

– Cô ấy là dũng sĩ chớ có phải đầu quăn sao anh?

Năm Tiều dắt tôi và Chín Nữa về căn cứ của anh. Từ sau cuộc kiểm thảo, anh không còn trách nhiệm chỉ huy nữa, anh được cho làm tham mưu phó Quân Khu(dưới trướng Năm Lê). Anh lập một cơ quan riêng gồm ba nhân viên toàn là cháu anh: thằng Nừng khỏe mạnh chuyên vác ba lô và đào hầm cho anh, thằng Cào có bộ giò cuốc thì làm liên lạc. Con Thanh gọi anh bằng bác ruột thì nấu cơm, pha cà phê. Đi đâu cũng kéo một dọc bốn trụ. Bà con gọi là “gánh hát Tiều”.

Hôm sau Năm Tiều rỉ tai cho tôi biết, ở trên đưa về nhiều cán bộ miền Bắc, nhiều vũ khí tối tân của Liên Xô, Trung Quốc: Chuẩn bị giải phóng miền Nam trong vòng hai tuần lễ. Dễ như trở bàn tay.

Năm Tiều khoái chí làm tôi cũng mê man, nhưng nhớ lại trận Cây Trắc vừa rồi, sơ sơ thấy gần nửa đại đội thương vong. Còn phải mệt lắm mới tìm đủ số tân binh lấp lỗ trống.

Q16 lính dép râu (dân gọi là lính vịt xiêm) anh hùng Điện Biên của Năm Dũng và Ba Kiên thì cũng tiêu hao bộn rồi mà chưa đánh trận nào coi cho được, để lấy uy tín với đám em út miền Nam.

Dù sao thì cấp chỉ huy của chúng tôi cũng gồm những ông Hoàng Thọ đánh giặc liều mạng không cần khoa học. Lính phải tìm lấy sinh lộ. Nhưng Hoàng Thọ khác với những vị chỉ huy của chúng tôi bây giờ.

Ở chỗ Hoàng Thọ ra trận, xung phong trước lính chớ không ở sau lưng, trong hầm đốc xúi nướng quân.

Đang uống trà ngon miệng, bỗng Năm Tiều bảo:

– Thằng Nữa ở lại đây chơi, còn thằng Lôi thì về bên quán đi. Con dũng sĩ nó đang đợi mày, nhưng nhớ đừng có gầy trận nghe. Vết thương làm độc, vô quân y, mẩy em nhỏtrong nó đang ghen, nó cưa chân mày đó.

Chương 79

Những “bàn cờ thế” trên đất Củ Chi



Sau một thời gian đánh liên tục của tiểu đoàn Quyết Thắng, Quân Khu cho Tám Quang xuống làm một cuộc tổng kiểm thảo những trận đánh điển hình thắng và thua: Suối Cụt Tân Quy, Cây Keo (đồn Thầy Mười). Năm Lê, tham mưu trướng Quân Khu, đáng lẽ phải có mặt nhưng vì “đau xương sống” nên không đến dự. Đúng ra, ông ta ngại ra khỏi hầm.

Ít nhất trong vòng hai năm tôi đến làm việc với ông hai lần trong hầm này (nơi mà xã đội trưởng Ba Xây, ông Xây bị bắt trong cuộc càn Operation Crimp, nhưng Năm Lê vẫn không dời địa điểm). Và vì một lý do ngầm: Năm Lê không ưa cái mép của Tám Quang.

Cuộc kiểm thảo được tổ chức trong vườn chuối sau nhà cô Ba Lợi, có đủ mặt cán bộ tiểu đoàn và đại đội của tiểu đoàn và nhiều tai to mặt lớn của Quân Khu như Ba Hải, trưởng ban tác huấn khu; Ba Kỳ Nam, cấp chính ủy trung đoàn; Út Lịa, trung đoàn phó đang tại chức; Ba Châm, trung đoàn trưởng; Năm Tiều, trung đoàn trưởng cán bộ đốc chiến cố vấn của tiểu đoàn.

Mở đầu, Tám Quang, trưởng phòng chính trị, báo cáo tình hình thế giới, trong nước và Quân Khu. Ông cho biết lão Khơ xét lại đã bị hạ bệ, Kốt-xi-ghin lên, hoàn toàn ủng hộ chủ trương giải phóng của đảng. Cho nên đã có vũ khí mới viện trợ, chấm dứt thời kỳ tiếp trợ bằng những khẩu mút cơ tông “oảnh tầm sào” dựng cao hơn đầu lính ta.

Miền Nam có ba công trường 5, 7, 9, một sư đoàn pháo và một sư đoàn đặc công. Hai sư đoàn Mỹ “Anh Cả Đỏ” và “Tia Chớp Nhiệt Đới” đã có mặt đầy đủ tại Đồng Dù, Lai Khê và Dĩ An. Ngoài ra còn có một trung đoàn thiết kỵ và lữ đoàn Dù 179 tăng cường cho hai sư đoàn này khi có hành quân lớn. Sư đoàn 25 Sài Gòn đã rảnh tay để đánh phá vùng hậu cứ của Mặt Trận Giải Phóng. Cụ thể là hiện giờ nó được rải dài từ Hậu Nghĩa đến Tây Ninh để canh giữ trục quốc lộ I, trong lúc lữ đoàn Dù 173 Mỹ đang thiết lập căn cứ Trảng Lớn dưới chân núi Bà Đen ngay trước cửa ngõ căn cứ của R. Ở trên nhận định rằng sau cuộc hành quân ở vùng Tam Giác Sắt và tả ngạn sông Sài Gòn hồi đầu năm 1966, chúng sẽ mở cuộc tấn công lớn vào căn cứ R trong năm nay.

Do tình hình biến chuyển như vậy, Quân Khu xét thấy các đơn vị cần phải nhẹ gọn để luồn vào đô thị đánh các vùng an toàn của Ngụy. Bộ Tư Lệnh quyết định tạm thời giải tán trung đoàn. Tám Quang không nói ra nhưng ai cũng biết đó là trung đoàn của Ba Châm, một trung đoàn đánh đâu thua đó và chuyên môn bỏ xác lính tại trận. Bộ Tư Lệnh chỉ giữ lại trung đoàn Q16 của R tăng viện cho Quân Khu tức là trung đoàn (của hang Pắc Pó) anh hùng Điện Biên của Ba Kiên và Năm Dũng, và tiểu đoàn Quyết Thắng của Củ Chi, nay được Quân Khu nâng lên thành tiểu đoàn chủ lực cơ động của Quân Khu. Tiểu đoàn này sẽ được đưa vào sát nách Sài Gòn và Q16 sẽ thay thế nó ở địa bàn Củ Chi trong những ngày sắp tới.

Khi Tám Quang dứt lời, mọi người đều im lặng. Không một ai giơ tay lên. Ba Châm ngó xuống. Tư Nhựt và Hai Phái liếc sang tôi. Năm Tiều móc thuốc hút một cách ung dung. Không khí nặng nề bứt rứt vì ai cũng cảm thấy tình hình chẳng sáng sủa tí nào. Tôi nghĩ: tiểu đoàn Quyết Thắng còn quá ư xộc xệch, về mặt chiến thuật, kỹ thuật, quân số và trang bì làm sao luồn vào giữa lưới đồn bót mà đánh địch hữu hiệu? Sợi dây lưng của cô dân công đã giúp chúng tôi thoát nạn ở đồn Thầy Mười là một bằng chứng hùng hồn về sự xộc xệch đó. Một phương diện khác cũng không kém quan trọng, đó là nghệ thuật lẫn phương tiện chỉ huy. Trận tập kích Tân Quy thất bạ một phần lớn là do lỗi ở chỉ huy.

Thấy không ai có ý kiến gì, Tám Quang hỏi thẳng Hai Phái, đảng viên.

Hai Phái đáp xụi lơ:

– Dạ ở trên chỉ đâu chúng tôi đánh đó.

Còn Tư Nhựt gãi đầu gãi tai:

– Dạ, tinh thần chiến sĩ rất cao, ngặt vì vũ khí của ta không đáp ứng nổi cho chiến đấu.

Tám Quang ngắt lời:

– Chiến tranh do đảng lãnh đạo lấy con người làm yếu tố chính. Vũ khí cũng quan trọng nhưng tinh thần quyết định chớ không phải vũ khí. Nếu các đồng chí không có tinh thần quyết thắng thì đã không có sáng kiến dùng sợi dây quần của cô Tân cô… ô… -ông Tám Quang tằng hắng mấy cái liền, nuốt gặng rồi nói tiếp- Các đồng chí đã từng xem phim anh hùng Liên Xô Ma-tơ-rô-rốp, Đồng Tổn Thụy của Trung Quốc và Bế Văn Đàn, Phan Đình Giọt lấy thân mình lấp lỗ châu mai để giải quyết thắng lợi cuối cùng về ta. Những tấm gương đó có nghĩa là gì? Đó là tinh thần quyết định chứ không phải vũ khí. Đồng chí Hai Lôi nghĩ thế nào? Đồng chí đã tỏ ra là một người chỉ huy vừa dũng cảm vừa sáng suốt xin cho biết ý kiến.

Tôi nghĩ: ổng đã nói thế rồi, bố thằng nào dám nói khác, nên gật đầu, nói bọc xuôi:

– Dạ đồng chí trưởng phòng chính trị dạy chí phải ạ !

Tám Quang nói tiếp:

– Tuy vậy không phải là đảng coi thường sinh mạng chiến sĩ (đảng coi chiến sĩ như chó thôi chớ không coi thường). Các đồng chí Liên Xô rất khâm phục chúng ta đã biết khắc phục hoàn cảnh thiếu thốn để đánh Mỹ. Nhưng trong vài bữa nữa, các đơn vị sẽ thấy ông Ba Giỏi, Tám Dương phát cho các đồng chí vũ khí mới của Liên Xô hơn hẳn vũ khí của Mỹ . Hiện trên R mới có chín khẩu, sẽ trang bị cho các đồng chí cả. (chưa tới mười khẩu vũ khí mới, chưa biết là vũ khí gì mà đánh với hai sư đoàn Mỹ tối tân. Vậy là ghê gớm lắm đó các đồng chí “ngựa trời” của Năm Cội, anh hùng diệt tăng của đất Củ Chi ơi!).

Đến phần kiểm thảo các trận đánh, Ba Châm thua me gỡ bài cào. Sau khi Út Sương báo cáo về trận Suối Cụt, y lên tiếng trước nhất:

– Đồng ý là trận Suối Cụt có nhiều ưu điểm, nhưng có một sự vô kỷ luật căn bản.

Mọi người chưng hửng nhìn ông trung đoàn trưởng già (một loại Đạt Đức lão tướng lạc hậu trong kịch Tiền Tuyến của Liên Xô trong thời đánh Hitler. Do đó bộ tổng tư lệnh Hồng Quân đã đưa tướng Cu-nhiếp đến thay thế). Ba Châm nhìn thẳng vào tôi:

– Ai cho phép cán bộ tiểu đoàn ra vùng địch nghiên cứu trận địa?

Tôi giật mình. Không ngờ y vạch lá tìm sâu như vậy. Trận Tân Quy, Ba Châm đã có ác ý cho đơn vị do tôi trực tiếp chỉ huy (C3 của Út Sương) nằm vòng ngoài để đội pháo Bình Dương nhưng tôi bỏ qua, nay y lại bắt tội tôi ra vùng địch.

Nhưng Tám Quang chận ngay:

– Đó không phải là một hành động vô kỷ luật mà là một sự linh động. Vả lại Bộ Tư Lệnh chưa có một chỉ thị nào cấm cán bộ ra vùng địch để thi hành công tác. Hơn nữa, nhờ sự nghiên cứu tận tường nên trận Suối Cụt đã đem lại kết quả tốt đẹp nhất trong các trận đánh địch cụm quân từ trước tới nay. Ngược lại, trận tập kích Tân Quy đã không đem lại tiếng vang là vì sự nghiên cứu còn có chỗ thiếu sót

(Tám Quang đã đụng tới Năm Lê nên không dám nói mạnh. Thực ra phải nói là vác búa đánh vào khoảng không thì mới đúng).

Tuy vậy lão tướng Ba Châm vẫn còn ức. Ông ta chưa chịu im nên cố bới lông tìm vết để đổ lỗi cho tôi:

– Trong nguyên tắc bố trí hỏa lực pháo binh điều tối kỵ là bố trí “pháo giao đầu” thế mà đồng chí tham mưu trưởng D đã phạm khuyết điểm đó.

Tám Quang biết tâm lý của Ba Châm: ông ta là cán bộ trên tôi ba cấp thời kháng chiến chống Pháp mà bây giờ tôi lại tỏ ra linh động hơn ông. Nên Tám Quang an ủi ông bằng cách vuốt nhẹ:

– Trong chín năm ta có những nguyên tắc không thể đem áp dụng vào thời kỳ này. Hơn nữa, có khi ta lại làm ngược lại. Thí dụ hồi trước ta đóng quân trong vườn và nhà nhân dân, bây giờ nếu ta cứ chui rúc trong vườn và nhà nhân dân thì ta làm mồi cho pháo. Trong lãnh vực pháo binh, đồng chí tham mưu trưởng tiểu đoàn có đủ trình độ để bố trí hỏa lực hợp lý. Qua hai trận pháo kích Đồng Dù và Trung Hòa, kỹ thuật bắn pháo của đồng chí ấy chứng tỏ cho Bộ Tư Lệnh thấy rõ . Và trong trận Tân Quy, pháo binh ta đã không gây thiệt hại gì cho bộ binh ta. Đó là một thực tế chúng ta đều phải công nhận.

Ba Châm đành im.

Sự thực tôi không có thành kiến gì với Ba Châm lẫn Năm Tiều, là hai cán bộ có thành tích chống Pháp. Nhưng bây giờ các ông ấy đã già yếu và không chịu rời bỏ những kinh nghiệm lỗi thời xưa. Thời đó đánh Pháp phần lớn là bằng kinh nghiệm chớ không bằng kiến thức khoa học. Nói vấn đề ra trận, các ông không chạy nổi thì cũng đủ chết rồi. Chạy đua với pháo, trực thăng phải là đám trẻ chúng tôi, còn sồn sồn cỡ Hai Phái, Đoàn Tâm, Út Lịa cũng không kham nữa là Ba Châm. Chẳng những chạy, mà vừa chạy vừa đánh.

(Sau khi trung đoàn giải tán, Ba Châm được rút về làm tham mưu phó Quân Khu, dưới trướng Năm Lê. Chỉ ít lâu sau, trong một đêm, ông và cậu cần vụ vào nhà dân ngủ. Sáng thức dậy cuốn võng lơn tơn ra hầm bị biệt kích Mỹ phục kích ở ven rừng bắn chết cả hai).

Để vỗ an cán bộ, Tám Quang nhân danh Bộ Tư Lệnh khen (miệng) D Quyết Thắng của chúng tôi và nhấn mạnh:

– Quyết Thắng được Bộ Chỉ Huy R công nhận là một trong bốn tiểu đoàn đánh giỏi nhất miền Nam.

Rồi ra lệnh cho ban chỉ huy D đề nghị thăng cấp cho cán bộ và chiến sĩ do y duyệt xét ngay không cần trình lên Bộ Tư Lệnh.

Tan hội nghị tôi về văn phòng với Tư Nhựt và Hai Phái, định bàn việc tổ chức lại tiểu đoàn để đáp ứng nhu cầu mới của chiến trường. Nhưng cơm nước xong, thì nữ phóng. . .viên tới yêu cầu làm việc với ban chỉ huy để cô ta tường thuật trận Suối Cụt. Tư Nhựt từ sau trận này, tỏ ra điệu đờn với tôi nên nháy tôi và bảo:

– Thầy Hai có văn nghệ hơn tụi tôi, thầy nên tìm chỗ yên tĩnh mà “làm ăn”, ủa, làm việc với nhà báo đi! Còn công việc “dê” (D) chúng tôi ở nhà lo thay cho đồng chí.

Tuy đoán mò rằng tôi và cô nhà báo có xăng tăng với nhau từ trước, nhưng Tư Nhựt cũng không biết rằng trong lúc kiểm thảo, tôi ngồi cặp kè với nàng và trao đổi bang giao với nhau cụ thể rồi. Còn Hai Phái thì biết mình không dấm dớ được nên cũng không phản đối.

Ra khỏi văn phòng, tôi hỏi nàng:

– Đi đâu bây giờ em?

– Anh là tham mưu mà !

– Nhưng em là “dê trưởng”.

– Quỷ không hà !

Thế là tôi nhảy lên poọc-ba-ga. Nhờ chiếc xe Peugeot còn mới nên nàng phóng một hồi, qua không biết bao nhiêu bãi bom pháo (đi cho thật xa cái thế gian ồn ào này mà), từ Bàu Đưng vô Phú Hòa, tôi bảo dừng lại, nàng đều không nghe, cứ mải miết đạp, qua khỏi Lộc Thuận tới nhà Mủ nàng mới tốp. Trời đã xế dài. Hai đứa vào cái trường học ngả tó ngả xiêu, gần chỗ bãi B52 nơi Tư Linh báo cáo cho tôi cái chết của Sáu Di đêm nào. Nàng ngồi xuống chiếc băng gãy, lột chiếc nón hướng đạo rộng vành quạt lia.

– Anh làm như em là cần vụ của anh vậy.

– Tại sao?

– Em mỏi rụng cả hai chân.

– Thì anh đã bảo dừng lại từ Bàu Đưng kia mà ! -Tôi vừa nói vừa sụp xuống bóp chân nàng.

– Em ghét mấy ông “dê” (D) của anh lắm. Thế nào nay mai họ cũng đồn rùm. Anh không nghe ông “dê trưởng” của anh nói hai tiếng “làm ăn” rồi “ủa” sao?

– Anh ấy nói nhầm rồi sửa lại liền là “làm việc”, em không nghe à?

– Ông ta cố ý, tưởng em không biết.

– Nào, hết mỏi chưa?

– Còn!

– Chừng nào hết thì mình làm… việc… nhé ! -Tôi ngước lên nhìn nàng.

Nàng tát khẽ má tôi:

– Anh nữa! Anh cũng trong ban chỉ huy “dê“. Làm vi…ệc!?

– – Thì làm việc với em như em yêu cầu. Chứ chẳng lẽ em làm… việc một mình được?

– Cái miệng của anh có ngạnh. Nói đâu dính đó.

– Dính gì ?

– Kìa, mặt anh sao thờ thẫn vậy?

– Tại anh nhớ lúc mới gặp em lần đầu cũng ở vùng này.

– Lần đó anh bị bà xã đội phó nắm hồn thư nên không dám ngó em phải không?

Tôi làm thinh, chỉ cười trừ nhưng hai cái tay không nghỉ và càng lúc càng Bắc tiến.

– Anh không sợ bị trả thù à?

– Ai?

– Bắc kỳ thù dai chớ không phổi bò như dân Nam Kỳ anh đâu.

– Ai thù và thù ai mới được chớ?

– Ông già Kốt-ta-bít đó chớ ai.

– Anh có làm gì ổng đâu mà ổng thù?

– Anh đánh giỏi hơn ổng.

– Ổng còn chỉ huy anh đâu nữa mà thù.

– Ổng gần mặt trời, ổng tâu vô tâu ra, anh biết đâu được.

– Đạn có mắt em à! Những thằng cứ chạy tránh lại leo lên bàn thờ nhanh hơn những đứa liều mạng. Anh cứ kể như anh không sống. Thế là anh yên tâm. Em không thấy người ta lấy vợ rần rần, còn anh thì không sao?

– Ai yêu anh mà lấy?

– Có chớ !

– Ai?

Tôi ngước mất lên nhìn nàng.

– Anh ghê gớm lắm. -Nàng khom xuống ôm đầu tôi.

– Dám lừa em xuống Bến Mương để tập bơi.

– Tập bơi chớ đâu có làm… gì mà em gọi là lừa?

-.. Còn không nữa?

– Sao em biết… mà vẫn để anh lừa?

– Sau lần gặp tại bữa tiệc của Bộ Tư Lệnh ở Xóm Chùa anh còn gặp những ai nữa? Khai thiệt đi, không em vặt tóc anh

– Không có gặp ai hết!

– Anh ngủ ở nhà nào, anh Ba Tố ngủ ở nhà nào, em nói cho anh nghe.

– Thì nhà người ta chỉ có một cái hầm, anh ngủ bên ngoài pháo ăn anh làm sao?

– Anh bị thương mà đi suốt từ Tân Quy về tới đường Một Làng với ai?

– Thì đó là tình cá nước quân dân mà em!

– Tình quân dân ngọt như quả dưa hấu non của cô bé tình báo vậy hả?

– Đó là công tác chớ anh đâu có yêu cầu ai.

– Ứ công tác một mình với người ta trong hầm ở nhà Bảy Sơn, thích nhỉ?

– Chứ việc bí mật không lẽ đem ra bàn giữa gia đình?

– Bí mật nên “xã ủy” mời anh ra chòi họp giữa ban khuya phải không?

– Anh hoàn toàn bị động.

– Vậy mua cà rá trạm chữ “L” là do ai chủ động?

Tôi thấy cô nhà báo thu thập tin tức quá chính xác và đầy đủ nên không chối quanh nữa, mà bịa chuyện: Tuy vậy anh chỉ yêu có một người.

– Người nào?

– Em biết rồi mà còn phải hỏi.

– Nếu người ấy muốn cùng anh thay đổi cuộc sống thì anh nghĩ thế nào?

Không ngần ngại, nàng bật ra câu nói như đã kềm ở môi từ lâu:

– Em thấy em không thể sống ở đây anh à !

Tôi giật mình nhìn nàng trân trân, không ngờ nàng có ý nghĩ đó :

– Nghĩa là sao?

Nàng thở dài:

– Anh thấy chị Hằng có đẹp không?

– Người ta bảo “đẹp như Hằng Nga”, mà sao em lại hỏi thế?

– Nhưng em thấy mặt chị ấy rồi.

– Mặt chị ấy ra sao?

– Mặt rỗ nhằng rỗ nhịt thôi anh ạ.

Tôi biết cô nàng ngụ ý : cuộc kháng chiến này mới nghe thì lý tưởng lắm, nhưng đi vào thì vỡ mộng. Cô nàng là sinh viên đại học chắc ăn phải bả ông trí thức Tư Ánh rồi.

Bao nhiêu lửa dậy trong lòng tôi đều hạ xuống tiêu tan trong giây lát. Tôi bảo:

– Mình nên dời chỗ đi em ạ.

– Tại sao?

– Anh có linh tính là giang thuyền thả xuống sẽ bắn lên hủy diệt cái trường học xiêu vẹo còn lại này.

Nàng đứng dậy ôm ghì lấy tôi, thầm thì:

– Nụ cười của em đã rơi xuống lòng sông Bến Mương cho anh rồi, nên anh không yêu em nữa phải không?

– Không phải đâu. Chính vì thế mà anh càng yêu em.

– Hay vì em nói ra ý nghĩ của em?

Tôi lặng thinh. Chỉ hôn khẽ trên trán nàng. Rồi chia tay, không biết đây là người thứ mấy rủ tôi trốn về thành (thay đổi cuộc sống). Từ sau cuộc gặp gỡ này, tôi luôn luôn tránh né nhà báo. Cho đến năm 1992 (25 năm sau) tôi mới trông thấy lại nàng trên báo.

… Ít t lâu sau, Quân Khu đưa một tham mưu phó xuống làm cố vấn cho chúng tôi. Đó là ông Vũ Ba, thời kháng chiến ông đã từng chỉ huy tiểu đoàn ở Thị Vãi, Bà Rịa cùng với Hai Bứa và Ba Ngọt (Nguyễn Chí Sinh). Ông Sinh hiện là cục trưởng cục tác chiến R, người đã từng sang đánh giúp Pathet Lào. Sau này chỉ huy một trung đoàn vào Sài Gòn và bị Nhân Dân Tự Vệ bao bắt ở Gò Vấp vào Tết Mậu Thân ở tại chuồng heo..Và chính ủy Lê Hiền, Lê Hiền sau Cải Cách Ruộng Đất được phong đại tá chính ủy sư đoàn F350 bảo vệ thủ đô Hà Nội.

Thấy tiểu đoàn quá ư vất vả trong chiến đấu lẫn ngày thường, ông bèn đưa ra kế hoạch nghiên cứu trước chiến trường và có sẵn ý niệm bố trí quân, hỏa lực. Vì quân Mỹ cơ động quá nhanh, nên chờ cho chúng đổ quân xong, ban chỉ huy mới họp bàn kế hoạch chiến đấu thì không kịp. Có khi bàn xong, chúng đã rút hay đã thay đổi đội hình. Tôi là người được ông chỉ định đi khắp Củ Chi để vạch ra những phương án cụ thể này, lý do là tôi đã đến nhiều xã và có cảm tình với các xã đội nhất trong ban chỉ huy D.

Tôi sắp sửa lên đường thì liên lạc báo cho biết có hai ông già lem nhem nhưng có gác đờ co có mang AK tới xin gặp ban chỉ huy tiểu đoàn. Tôi không biết là ai, trong bụng sợ tụi thằng Lệnh, thằng Rắc giả dạng đột nhập căn cứ, nên bảo thằng Thuận ra xem xét cho kỹ. Thuận trở vào báo cáo:

– Dạ, mấy ông già khọm và nói tiếng trọ trẹ, lại mặc đồ cứt ngựa, mang dép cao su.

Tôi quát:

– Tụi nó không biết ngụy trang hay sao?

Vừa dứt tiếng thì tôi nghe tiếng Ba Đức vọng vào:

– Không phải đâu anh Hai. Đây là ban chỉ huy Q16 bồ tèo của mình đó.

Tôi biết rồi. Đây là các anh hùng Điện Biên Phủ. Tôi cũng đã từng nghe trung đoàn này được chị Ba Định đỡ đầu và hai ông trong ban chỉ huy E là em nuôi của chị Ba.

Tôi bước ra niềm nở chào hỏi, nhưng Tư Nhựt không xuất hiện, chỉ để một mình tôi tiếp khách. Thoạt trông thấy tôi hơi buồn. Các ông ấy già không kém gì Năm Tiều và Ba Châm, 1954 đã là anh hùng thì đâu có được 30 tuổi. E trưởng Nguyễn Văn Lực đổi ra là Ba Kiên có bộ răng Bến Tre, gầy tọp, nhỏ thó như ông tướng Dương Quốc Chính hồi năm 1950 từ Bắc vào Nam. Còn ông Năm Dũng, chánh ủy trung đoàn thì cũng nhỏ thó như vậy, đặc biệt có cặp mắt toét rất nặng. Ông ta hấp háy luôn và nhìn nghiêng.

Tôi cho làm một con cầy tơ để thết đồng đội từ phương xa tới. Năm Dũng hỏi tôi có phải là Hai Lôi, người đã cho một cái đùi bò cho lính ông ta năm trước nhân ngày Quốc Khánh không? Trong lúc chén thịt chó chúng tôi trao đổi kinh nghiệm tác chiến.

Sự thực các ông đến học kinh nghiệm của D Quyết Thắng. Trong khi D chúng tôi tập kích quân Mỹ ở Cây Trắc thì Q16 cho một tiểu đoàn (D7) đánh cụm bộ binh cơ giới Mỹ ở rừng Cả Chúc ở gần Bùng Binh (Bến Được). Tiểu đoàn này bị pháo ở Chà Rầy từ Trảng Bàng bắn bị thương vong hơn một trăm. Từ sau các trận Bàu Trâm, Trường Gà, Cỏ Ống và Rừng Cả Chúc đã mất hào khí Điện Biên. Không bao giờ dám tập trung, đánh cấp E mà chỉ chơi lẻ tẻ với lực lượng D là cùng.

Tôi .biết lính Q16 suốt Trường Sơn đã mất sức khỏe, bịnh sốt rét dây đưa, vô tới R không được bồi dưỡng, xuống Củ Chi không được nghỉ ngơi, ăn uống có khá hơn ở R nhưng vẫn chưa lấy lại được sức lực cần thiết cho những tay súng đối đầu với Mỹ, lại nữa chiến trường lạ lùng, bom pháo kỳ cục, không giống như Điện Biên. Rất nhiều lính Q16 bỏ đơn vị đi lang thang trong dân, sau những trận sống sót B52 họ càng chán nản.

Tôi nói với Năm Dũng và Ba Kiên:

– Chiến trường dạy chúng tôi thôi các đồng chí ạ. Thứ nhất phải nhanh nhẹn, thứ hai phải dùng công sự, thứ ba phải có gan đội bom pháo. Thế thôi, chứ nói về thành tích và kinh nghiệm thì so với các đồng chí, chúng tôi là những kẻ sanh sau đẻ muộn.

Năm Dũng tỏ vẻ rất hiểu đời và khiêm tốn:

– Bao nhiêu phương pháp công tác chính trị tốt thời đánh Pháp đi vô tới Trường Sơn bớt ngay hậu quả . Vô tới đây thì vô ích. Chỉ có một việc nắm vững quân số, chúng tôi cũng không làm được. Xin hỏi thật, lính các đồng chí có đào ngũ hoặc “dinh tê” không?

– Đào ngũ thì chuyện đó chúng tôi coi thường. Vì họ về nhà rồi không thể ở yên được lại trở về đơn vị. Còn “dinh tê” , là gì?

– Tức là bỏ về thành ấy mà.

– Ồ, chuyện đó cũng thường. Ở đây sát quốc lộ, họ chỉ vọt một cái là về Sài Gòn ngay. Cán bộ đại đội cũng đi.

Ba Kiên nói:

– Mình đánh với một tên vừa nhà giàu vừa có “võ”! Gay lắm. Ngày xưa chúng tôi áp đảo thằng Pháp ở lòng chảo Điện Biên khỏe ru. Chúng tôi vào tận hầm Đờ Cát cũng không gay go bằng đánh một trận nhỏ cấpp D như trận Rừng Cả Chúc vừa rồi. Thương vong trên một trăm! Rồi lấy lính ở đâu mà điền vào?

Hai ông anh hùng Điện Biên nhậu thịt chó rất phấn khởi. Hẹn sẽ hợp tác với chúng tôi và sau một trận chiến thắng nào đó sẽ làm lễ kết nghĩa anh em Nam Bắc một nhà. Trước khi hai ông ra về, tôi bảo anh nuôi gói mấy sườn chó và mua một lít đế hai ông cầm tay ra về.

Hai ông vừa đi khỏi, tôi tìm chỗ ngả lưng thì có trinh sát báo cáo: Sáu Huỳnh tới. Sáu Huỳnh lúc này đã lên làm trưởng ban quân báo khu thay cho Chín Lộc. Nghe ông già này tới, tôi ngồi bật dậy, chạy ra ngay. Vì ông ta đến chắc có tin B52 bán dưa hấu.

Ông ta đến báo cho mình tránh né kịp thời!

– Anh Sáu !

(Sáu Huỳnh là bạn kháng chiến của ba tôi, nhưng tôi quen miệng gọi bằng anh).

– Thằng Lôi! Mày còn đó hả?

– Còn chớ mất đi đâu anh? Sao coi bộ tơi bời hoa lá vậy bố vợ?

– Đội dưa chớ sao nữa?

– Binh tôm tướng cá của anh đâu hết rồi?

– Chết sạch. Thằng Chín Bù Lạch (Chín Lộc) về R làm phó chánh ủy quân báo R, Sáu Cúc về làm phó cối cho Năm Lê. Sáu Lễ và mấy thằng kia rụm hết. Có gì cho tao bỏ vô bụng chút rồi tao nói hết cho nghe. Đụ mẹ, tụi Mỹ kỳ này chơi tới gáo.

Tôi kêu thằng Thích, anh nuôi. Nó biết ý đem lên một tô hột gà bột và bình trà. Tôi rót nước còn Sáu Huỳnh múc hột gà đổ vô miệng theo kiểu uống thuốc một hơi hết nửa tô. Vừa ăn vừa uống vừa nói, mỗi câu mở đầu bằng hai tiếng con cặc hoặc đụ mẹ.

– Kỳ này ngoài Mỹ, tụi nó còn thêm trung đoàn Hoàng Gia úc Đại Lợi nữa. Nó quần nát bên kia sông rồi mới sang tới bên này. Đụ mẹ chạy như gà mắc đẻ. Chạy tới đâu đụng B52 tới đó. Nó đã bào láng An Thành, An Điền, Thanh Tuyền, nay nó lên tới Long Nguyên, Dầu Tiếng. Mấy thằng K20 của Tám Quang vừa ở bên này vọt qua bên đó. Rồi đám công binh Tư Thuật, Ba ân, Sáu Gấm phó ban tuyên huấn như đám cá vô rọ, bị một phát B52, không biết thằng nào còn thằng nào mất.

Nghe nói tới Long Nguyên, tôi giật mình bèn hỏi nhỏ:

– Vụ ông Sáu Di ra sao, anh rõ không?

Sáu Huỳnh ngó quanh rồi đưa tay lên miệng rù rì:

– Vụ đó thằng nào cũng biết nhưng không thằng nào dám nói ra, sợ đứt đầu.

– Nhưng anh có chắc không vậy?

– Còn gì nữa mà không chắc!

-Tụi công binh tệ quá. Hầm hố gì bết vậy? -Tôi làm bộ nói trớt ra.

Sáu Huỳnh bảo:

– Công binh làm căn cứ như chiến lũy Maginot mày còn đòi gì nữa. B52 bỏ có trúng chó gì, chỉ rung rinh đất thôi chớ đâu có sụp.

– Rung rinh thì sao đến đỗi?

– Ổng với ông Ba Xu mình thấy dứt loạt rồi nên bò lên.

– Trời! Bò lên đi đâu cho bị? Ở dưới đó là yên rồi.

– Ma xui quỷ giục mày à. Cả chục người đứng sau lưng và hai bên tả hữu của ổng mà không ai trúng cả.

– Đạn à?

– Không biết miểng đạn hay nhánh cây. Đứa nói cái này thằng bảo cái khác, không biết đâu mà rờ. Chỉ biết ông bể sọ chết ngay không nói được câu nào. Ông Ba Xu đứng kế ổng mà không hề hấn gì. Chính ông Ba Xu đỡ ông nằm xuống đất rồi kêu lên, nhưng ổng không trối trăn gì hết.

– Rồi cái xác làm sao?

– Mày hỏi tới hoài mậy. Mày muốn tao đi vô Hỏa Lò hả ?

– Tôi chỉ lo cái xác không đem về Hà Nội được.

– Đầu Củ Chi họ! Chuyện đó có cấp trên lo.

– Đã đành rồi, nhưng tôi nghe Hai Ninh nói xác ổng gói trong ny lông và thồ xe đạp bằng cách thồ gia công qua Mi Nốt để chở lên Nam Vang rồi về Hà Nội.

– Tao không biết cái vụ đó. Nhưng cái tin này giữ kín lắm. Không ai được biết. Thôi bỏ đi ông Thiên Lôi ơi.

– Kỳ này anh không có cho tụi tôi tin B52 sao?

– Có tin nhưng chưa chính xác. Mày nên nhớ bám gần đồn bót và xóm còn dân, đừng có bung ra các destroyed zones mà ăn mập luôn đấy. Nhất là dọc đường số 6 trở lên Sóc Lào, tụi Q16 bị nhiều cú rã bành tô rồi -Sáu Huỳnh nói nhỏ lại- Tụi D8, H6 xui quá, ba thằng cán bộ D Năm Thủ, Tám Mao, Tư Tây vừa ăn một trái bom đìa ở An Phú .

Tôi nhảy dựng lên, hỏi:

– Anh có nghe du kích thiệt hại gì không?

– Sao mày lo cho du kích dữ vậy?

– Vì tôi có hầm chung với tụi nó.

– Chớ không phải có dính với mấy con “phòn” đó à?

Sự thực tôi lo cho em Tư Lan. Nhớ hồi Tết khi đi Giang Tả cầu hôn về gặp em, tôi ghé. Nhà có một mình em ở nhà. Em giữ tôi ở lại.

– Bây giờ anh một thân một mình, tính đi đâu. Hay ở lại với tụi tôi một thời gian đi.

– Ở với tụi mày để ăn pháo hả?

– Vậy đi tìm thum của bà Hai Xót, Năm Đang xin “ngồi ké” chớ gì?

– Bời Lời nó chơi hóa học rụng hết lá rồi. Bây giờ nó đem xe tăng ủi từ Trảng Sa lên tới Suối Nhánh rồi lên tận sông Bà Hảo đó ông con. Bà khu ủy Út Tức của mày cũng chạy tuột… mất cái giỏ trầu có đựng cây Colt, chớ còn chỗ đâu mà ngồi thum? Hiện Mỹ đang xài tới hai mươi hai tiểu đoàn giăng ngang từ Lộ ủi Trần Lệ Xuân đến Lò Gò Xóm Giữa, Sóc Xoài lên tận biên giới. Chín Lộc biên thư cho tao bảo trên R bây giờ từ trung tá trở xuống phải mang AK chiến đấu chống càn bảo vệ tướng. Đụ mẹ, tướng thì cũng một phát như ông Sáu Di thôi chớ giỏi gì? Mà các ổng còn ở bên này đâu, mấy ổng chạy tuốt qua bên Miên hết rồi. Tha hồ xơi mắm bò hóc và “thuốc rượu không đau lưng”.

– Thuốc rượu không đau lưng là thuốc rượu gì anh?

– Cái thằng ngây thơ quá vậy. Như mày hiện giờ là cần thuốc rượu đó lắm. -Sáu Huỳnh vừa nói vừa nháy và ra dấu- “Vầy nè“, hiểu chưa?

– Hiểu rồi! Nhưng biết chừng nào tôi mới được sang đó?

– Ở đây còn Vườn Trầu, Sa Nhỏ, Phước Thành để mình ngồi thum. Qua đó thằng Khiêu Som Phan nổi khùng nó vác chà gạc lụi cho phèo ruột. Đụ mẹ kỳ rồi đoàn 69 bị khiển trách nặng vì tụi Mỹ đi thênh thênh mà không cắn được nó miếng nào.

– Sao vậy anh?

– Thằng Huỳnh Thành Đồng chết thì còn ai? Với lại Mỹ đổi chiến thuật. Trước đây nó đổ quân ngoài trảng trống rồi tiến vô rừng nên bị mình khìa. Bây giờ nó cho B52 dọn bãi trong rừng rồi đổ bộ binh và xe tăng xuống, mình gặp trở ngại trong hành quân và phục kích nên không đánh được. U60, U80 đều bị… nặng. Gạo muối chôn giấu ở khu vực Suối Dây, Suối Tha La bị hốt hết. Bà Út Tức của mày chắc phải xách giỏ trầu chạy ra Mõ Công Trại Bí ôm cái lá trầu héo ngồi thum chờ B52 thôi. Còn lão Huỳnh Văn Một không biết còn làm xã đội trưởng Kà Tum hay đi theo ông Sáu nắm thắt lưng Mỹ mà đánh ở dưới kia.

Thằng Phích dọn cơm với cá trê kho và canh khoai có rắc tiêu. Sáu Huỳnh ăn ngon lành, vừa ăn vừa nói liên miên.

– Binh tướng giờ còn mình tao, tao có hơn gì Tào Tháo ở Huê Dung đạo. Tao muốn ra quốc lộ I gặp Ba Xuyên tổ chức lại đường dây. Nhân viên chính của tao bây giờ chỉ còn con Ua.

– Tôi mới gặp nó . . .

Sáu Huỳnh cười:

– Gặ… ập? Hì hì!… Mày chém chạy coi chừng nó. Con nhỏ đó mê mày như điên. Nó khai với tao hết. Bà già lên đã hứa cưới nó cho mày. Mày lẹo tẹo với mấy con dũng sĩ xã đội, coi chừng nó chia hai lựu đạn với mày. B52 thì thoát chớ mày không có tránh né nó được đâu… Nè, điểm thứ nhất là đừng làm cho nó phì ruột, tao mất nhân viên.

– Nó muốn có con để có lý do về nhà đó tía vợ ơi .

Sau bữa cơm, Sáu Huỳnh từ giã. Tôi đứng ngó theo ông trường ban quân báo khu một mình một ngựa bôn ba từ Bến Cất qua Củ Chi, rồi từ Củ Chi đi đâu nữa?

Mới ngày nào kháng chiến chống Tây, anh làm huyện đội trưởng, trẻ khô. Tôi còn là con nít. Bây giờ tóc anh đã bạc, còn tôi thì sồn sồn. Chốc đây mà đã hai mươi năm. Hai mươi năm không bình thường. Hai mươi năm bom đạn. Hai mươi năm của tuổi thanh xuân đã mất đi.

Thế là tôi đi nghiên cứu trận đồ. Tôi mang theo một tiểu đội vừa bộ binh và trinh sát, có cả B40, gặp xe tăng cũng chơi được.

Trước khi tôi đi, ông Vũ Ba còn đả thông tư tưởng tôi : “Đây chỉ là ém quân thôi. Bộ Tư Lệnh có khiển trách, tôi chịu trách nhiệm!”

Có ông tham mưu phó che dù, tôi không lo gì nữa, cứ thẳng một lèo ra Đồng Lớn, tới ngay căn cứ của quận đội Tám Giò.

Tám Giò đã rời cái hầm dưới bụi tre ở gần Bến Mương, nơi tôi được ông tham mưu quận đội Hai Khởi đưa tới và được đãi một bữa mắm chua. Ra Đồng Lớn ông Tám cũng thủ một cái hầm vĩ đại và vô cùng bí mật, có rất nhiều ngách. Tôi trình bày những nhu cầu của tôi, ông quận đội nói:

– Tôi giới thiệu cho các xã đội thì họ chỉ thi hành nửa chừng, vì quyền hạn nằm trong tay xã ủy. Vậy đồng chí phải đến huyện ủy xin giấy giới thiệu mới chắc.

Tôi định rút lui.Nhưng tôi không biết ông Một Sơn ở đâu.

– Ờ dưới âm phủ chớ đâu.

– Hồi nào vậy?

– Trong cuộc càn Cedar Fall, ổng bị khui hầm ở Xóm Bưng. Mỹ đánh chất nổ, Hai Xót, Tư Bé, Tám Phụng chê hầm thối và sợ mấy ông nội táy máy tay chân, nên có bốn mạng rụi tèng heng thôi, nếu không thì tới bốn ông bà. Bây giờ ông Hai Mõ lên thay chức bí thư. Cả ban bộ đều dời chớ không dám ở trong Xóm Bưng xã Thuận Đức nữa.

Tám Giò cho liên lạc dắt tôi đến sào huyệt ông Hai Mõ ở Bàu Sót. Vô gặp được ông bí thư còn khó hơn gặp ma. Chỉ một mình tôi vào thôi. Hai Mõ người nhỏ thó, cỡ bốn mươi ngoài, đầu trọc giống như cái gáo dừa. Có lẽ vì thế có tên Hai “Mõ”. Ông nói giọng nhỏ rí, dường như sợ cóc nhái nghe:

– Anh Hai muốn gì tôi giúp nấy, còn về địa đạo thì tôi xin nói rõ để anh Hai khỏi tìm kiếm mất thì giờ… Dân Hàn trở vô ấp Ràng, Đồng Lớn, Sa Nhỏ không có địa đạo. Chỉ có một khúc sau nhà cô Hai Chạnh ở Ba Sòng và một khúc gần lộ 6 ờ An Nhơn. Mỗi khúc chứa được ba mươi người. Ở Xóm Trại, Gót Chàng, Bến Mương (nơi tôi chết ngộp, do ông Tám Đột quản lý), Xóm Bưng, Bàu Lách, mỗi nơi còn một khúc nhưng cũng chỉ chứa được cỡ đó. Không có nơi nào ém được một đại đội. Ngay ở Phú Hòa Đông địa đạo còn tốt nhất, nhưng cũng chỉ ém từng trung đội ở mỗi khúc mà thôi. Anh và Bảy Nô đã từng xài địa đạo đó nên biết rất rõ…

Tôi thấy hơi bi quan, nhưng ông ta làm sao đẻ ra thêm được? Đã vậy ông còn dặn:

– Anh đến họ cho xem, anh phải coi cho kỹ. Bởi vì địa đạo cũ đào từ Đồng Khởi (1960) tới bây giờ không xài, không tu bổ, không gì ráo hết, bây giờ chun xuống đó, lỡ có việc gì chúng tôi khổ tâm lắm đó nghe anh Hai.

Nghe ông bí thư nói, tôi rất thương tâm. Đó là lời thành thật. Người sống và chiến đấu thực trên đất Củ Chi thì không bao giờ tếu về “địa”. Chỉ có những người bên ngoài không biết gì mới tưởng tượng Củ Chi là thần thánh.

Rời cơ quan huyện ủy, tôi dắt cả bọn ra Ba Sòng và Gò Nổi để xem mấy khúc địa đạo, vì tôi nghĩ rằng có thể dùng nó để phục kích lính ở Đồng Dù hoặc Trung Hòa bung ra.

Lần ra đây quan sát địa hình để pháo kích, tôi còn thấy xóm làng trù phú, nhà cửa y nguyên. Chỉ một năm sau, tất cả hoang tàn xơ xác, chỉ còn những mái chòi lụp xụp ở mé ruộng của những người dân cố ở lại làm ruộng. Còn bao nhiêu đều chạy ra các ấp chiến lược Cây Trôm, Lào Táo, Suối Cụt. Pháo nện liên miên vào các khu vườn đã được khoanh từng ô trong bản đồ pháo binh. Chúng muốn bắn xóm nào, thậm chí ngôi nhà nào, cũng thảy ngay chóc nhất là các ngã ba, các con đường mòn giao liên thì nát như tương.

Tôi ghé nhà má Hai, nơi xác thằng Chi được đặt ngoài hàng ba trước khi đem chôn ở nghĩa trang Ba Sòng, vì Chi là chồng chưa cưới của cô Chạnh, con má Hai. Hai Chạnh đã thành hôn với Tư Đông, cán bộ của tôi. Cô đang mang bầu. Tội nghiệp Tư Đông được rút về trên bổ sung cho F100, đánh vô Sài Gòn bỏ xác không biết ở đâu, lúc con chưa biết mặt cha. Em Nhành là em út của Chạnh, mười ba tuổi, nhưng đã trổ mã con gái rất đẹp. Tôi định bụng chừng vài năm sẽ cưới cho thằng Thưng hay thằng Thuận trinh sát của tôi. Nhưng chỉ vài tháng sau cả hai theo trung đoàn mũi nhọn vào Sài Gòn rồi không thấy về nữa!

Dấu vết đạn pháo Trung Hòa giết thằng Chi còn đây, trên thân những cây cao su èo uột. Ba Tâm, xã đội phó, bị thương trong trận Tân Quy nhờ Tư Chuyền cứu chữa lành lặn, nay cả vợ chồng đến cám ơn tôi rồi bà vợ hối thúc chồng về, và khuyên tôi:

– Ban ngày mà ở trên mặt đất ớn quá. Các anh nên tìm hầm mà làm việc trong đó, đừng ở ngoài.

Chị vừa đi khỏi thì ông già của Ba Tâm tới. Ông bị mất con trâu vì pháo bắn kỳ trước, lần này thấy bọn tôi, ông sụp lạy:

– Các chú có đánh thì vô Đồng Dù đánh, để ngoài này cho bà con làm ruộng làm rẫy kiếm hột lúa củ khoai độ nhật.

Nghe ông già nói giọng rơm rớm nước mắt, tôi bủn rủn hết tay chân, không còn ham đánh đá gì nữa. Quân đội nhân dân, đánh giặc để bảo vệ nhân dân, giải phóng nhân dân, cái gì cũng nhân dân cả , nhưng đến đâu nhân dân đều sợ xanh mặt mà không thèm đếm xỉa tới.

Ba Tâm gượng gạo chống đỡ:

– Mấy ảnh đi móc gia đình chớ không có việc gì đâu ba ơi!

Ông già bắt buộc phải “tin” lời thằng con, nhưng còn nói rán:

– Chú coi đó, tôi có mấy con trâu, con thì bị pháo bắn xẻ thịt, con thì ăn lựu đạn gài, rốt cuộc tôi không còn làm ruộng được, hổng lẽ tôi kéo cày thay trâu?

Ba Tâm bảo thằng Cu du kích dắt tụi tôi đến chỗ ở. Cu hãnh diện:

– Các anh đừng lo. Vài chục thì ngại chứ mười người trở xuống, tôi có đủ chỗ.

Tôi nghĩ bụng: Ba Tâm không dám cho mình ở chung mà giao cho du kích. Nhưng không theo du kích thì theo ai ? Hai Giả xuống Thủ đức cũng được ở hầm “quốc tế”. Đó là loại hầm dành cho khách tỉnh, khu, ai đến chưa tậu được hầm đều được “đãi” cho loại hầm này. Do đó mà hầm bí mật trở thành hầm lộ bí mật hết ráo.

(Cũng tại đây năm 1969, Ba Thụng, trưởng ban đặc công khu và Tư Linh, trưởng ban binh vận khu, bạn tôi, đến công tác cũng được nhét xuống hầm “quốc tế” nên bị lính Trung Hòa hành quân chơi, khui hầm nắm đầu lôi lên hai ông trưởng ban gọn bơ).

Bữa nay thằng Cu chơi cắc cớ. Nó dắt một cậu trinh sát của tôi đi ém một chỗ khác, rồi đem giao tôi vào một cái nhà khác với thằng Thuận.

– Em đừng cho anh ở hầm “quốc tế” bị khui lãng nhách nghe !

– Không có đâu anh.

Nó đưa tôi đến một cái chòi ở ngoài mé ruộng. Ở đây có địa thế chui vô vườn và ngó ra ruộng đều tiện cả. Nếu xe tăng từ ngoài ủi vô thì mình có thể tẩu như phi. Nó không dừng lại kêu chủ nhà mở cửa, mà dắt tuốt vào trong:

– Chị Tám ơi! Có khách nè! -Rồi nó đẩy cửa bước vô buồng.

Trong bóng tối lờ mờ tôi thấy hai gương mặt trắng trẻo và ngửi mùi tóc đàn bà.

– Ai vậy?

. Chị Tám, chị Chín cho tôi gửi ông này nghe!

– Hầm chật rồi mà.

– Chật thì cho ém một ông! -Thằng Cu nói như ra lệnh, rồi quay lại cũng với giọng ấy- Thuận, theo tao!

Thằng thuận ngần ngừ. Cu bảo:

– Anh Hai ở đây bảo đảm, mày đừng lo! -Rồi lôi tay Thuận ra.

Thằng này chơi ác thật. Hay là có sự lãnh đạo của Ba Tâm.

Hai nàng kẹp tôi là Tám Phụng và Chín Tá . Cá hai đều quen với tôi trong nhiều cuộc tao ngộ tập thể với bà Năm Đang và bà Hai Xót. Riêng Tám Phụng thì có cảm tình đặc biệt với Thiên Lôi. Nhưng chỉ có dịp hôn nàng trong một lần gặp ở nhà má Hai ăn vú sữa ngâm nước đá.

– Anh Hai đến đây công tác hả? -Tám Phụng hỏi trước.

– Tôi chỉ đến… a… a… móc gia đình thôi.

– Móc gì mà móc hoài vậy? -Chín Tá chất vấn- Bộ kỳ trước móc bà già vô bỏ hàng rào thưa, kỳ này vô làm đám “tiên bố” hả?

– Giặc giã rần rần, vợ con gì cô Chín ơi!

– Anh đi đường mệt, ngồi trên giương nè nghỉ! -Tám Phụng vừa nói vừa nép sát vào bên trong, còn Chín Tá thì sà xuống võng bên cạnh đó.

– Hầm tốt không a… a… em?

– Đến địa phương thì nhờ mấy ổng chớ đâu biết tốt xấu gì anh!

Vài ba trái pháo nổ sau hè, miểng văng vô thân.chuối phực phực ghê quá. Nhưng đó là sự thường. Đạn nổ xong sự đời đâu lại vào đấy.

Ngồi hơi lâu, tôi ngả lưng ngoài mép giường. Chín Tá bỗng đứng dậy:

– Để em đi đằng quán chút nghe chị Tám.

– Chi vậy?

– Để mua ít đường về làm kẹo chuối ăn như kỳ trước vậy – Rồi cô Chín Tá đi ra.

– Nhớ mua gói trà . Anh Hai thích uống trà! -Tám Phụng dặn vói theo vừa dứt tiếng thì tôi lăn vào bên chân nàng, hôn hai bàn chân lia lịa.

Nàng không nói gì mà còn ôm miết đầu tôi vào hai ống quyển mịn màng, vừa thơm mùi đất vừa thơm mùi da thịt. Tôi hỏi:

– Sao em không lấy chồng đi Phụng?

– Em chờ anh! -Nàng đáp hồn nhiên.

Tám Phụng là người con gái có sắc đẹp, có học khá và có đạo đức nên kén chồng. Cán bộ dòm ngó cũng nhiều nhưng chưa ai lọt mắt xanh của nàng. Nghe nàng nói tôi bàng hoàng. Quả thật, hai đứa rất xứng đôi. Ai cũng tưởng rằng chúng tôi sẽ thành hôn như mây gặp gió. Riêng tôi cũng có lúc nghĩ: nếu thời bình mà kiếm vợ thì Tám Phụng là người con gái lý tưởng của tôi.

Nhưng bến đợi mà thuyền cứ mấp mé chứ không cặp bờ. Tôi luôn luôn nghĩ không trận này thì trận tới mình sẽ “rửa chân leo lên bàn thờ”, không nên để khổ cho người ta. Cô Chạnh là một ví dụ, thằng Chi chết lúc hai đứa chưa cưới nhau.

(Ở một chương khác tôi sẽ ghi ra một trăm danh sách đàn bà cơn gái góa bụa của đất Củ Chi này).

Bạn đọc thấy tại sao tôi cứ đụng hết cô này đến cô kia . Đó là sự thực, nhưng tôi chỉ ghi ra đây một phần… nhỏ. Sớm muộn gì cũng chết. Không tính chuyện một mái ấm vợ hiền con ngoan gì hết ráo.

Sống, yêu được bao nhiêu hay bấy nhiêu, để khỏi chết thèm. Đó là quan niệm của tên Thiên Lôi này trong thời gian sống ở Củ Chi.

Chín Tá đi mua đường tới xế không thấy quay về, chiều cũng không trở lại. Tám Phụng đi ra đi vào ngong ngóng:

– Con quỷ này đi đâu biệt tăm vậy cà?

Đêm nay là đêm trời cho tôi với nàng. Nàng khóc ướt cả cánh tay tôi. Lòng chinh khách cũng mềm đi tí chút.

– Chiều mai anh đi! -Tôi bảo.

– Biết còn bao giờ gặp lại anh nữa?

Nàng dúi vào tay tôi chiếc khăn tay, thầm thì:

– Anh giữ làm kỷ niệm. Em đã cho anh cả đời em…! – Rồi nàng nức nở gục đầu vào bẹ cửa.

Tôi bước đi, hai chân nghe như ngã xiêu. Ra tới khỏi sân, vọt qua một hố đạn đất nám đen còn mới. Nó là dấu nhạc đệm cho cuộc tình chúng tôi đêm qua mà chúng tôi nào hay. Tôi quay lại, dắt nàng trở vào buồng:

– Phụng à ! Anh đau khổ cho đến chết vì không sống được với em.

Nàng càng òa to lên, tức tưởi, nghẹn ngào.

– Em muốn gì anh cũng cho em được hết.

– Một đứa con!

Lạy trời, xin được như ý nàng. Xin trời cho nàng được những gì nàng ước mong cho nàng và cả cho tôi!

Rồi chúng tôi chia tay.

– Bao giờ anh trở lại? -Nước mắt ròng ròng, nàng nhìn tôi

– Biết bao giờ mà hứa? -Tôi dùng văn chương tiểu thuyết- Có thể ngày mai, cũng có thể không bao giờ!

Tôi cúi xuống hôn chân nàng và nơi đóa hoa hồng vừa hé nhụy chào xuân đêm qua.

Tôi còn gặp nàng sau này nhiều lần. Lần cuối cùng, tôi biết nàng có chồng. Mà tôi còn sống. Niềm đau cho một mối duyên tan. Đó là cuộc đời của tên Thiên Lôi.

Thằng Thuận và thằng Thưng đến, chúng tôi lại lên đường. Ba Tâm cho xem mấy cái miệng hầm ở Gò Nổi Dưới vào chập tối. Tôi rọi đèn pin xuống thấy nước, rễ cây chằng chịt.

Tôi không buồn bảo trinh sát chui thử nữa. Hầm này mà chui ư? Thà chết sướng hơn. Nhưng thằng Thuận cố làm gan:

– Để em do thám thử coi – Nói xong lột quần áo cầm đèn pin tụt xuống. Rồi trồi đầu lên liền, mặt nhăn như quỷ- Cái gì thú quá. Nước bùn chèm nhẹp. Ông nội tôi cũng không dám đút đầu vô.

Thăng Thưng đứng ở trên thọc đầu xuống:

– Thằng nhát quá, để tao thử coi.

Thuận leo lên:

– Hổng được đâu anh Hai! Chuột chết nổi lình bình. Mình ở dưới này vài giờ mà có ló lên cũng không chạy nổi, nói chi cả ngày.

Thằng Thưng lỡ miệng nói tài nên không dám rút lui, đành bặm môi tụt xuống. Nhưng vừa chui vô nó liền trồi ra và vọt lên, vuốt mặt lia:

– Mẹ, con gì chết sình, thúi muốn bể lỗ mũi.

Ba Tâm đậy nắp lại và giải thích:

– Từ hồi đào tới giờ tôi không có xài lần nào.

– Vậy làm chi cho mất công?

– Thì ở trên kêu đào thi đua với các xã khác thì tôi cho đào. Chớ tụi tôi chỉ xài hầm bí mật hai, ba người vô một cái thôi. Còn cái nạn hầm chông nữa.

– Sao?

– Có sụp thằng nào đâu, chỉ dính gà nhà. Hồi đánh Tây, giặc đi bộ, bây giờ tụi nó chơi toàn trực thăng nhảy cóc.

Cậu Thành lãnh trách nhiệm đi thám thính. Thời may hầm còn khá nên Thành ở dưới đó. Tôi ngồi hút thuốc với Ba Tâm trên miệng hầm.

Ba Tâm than từ ngày Ba Xây bị bắt, du kích tán lạc, anh ta phải cáng đáng mọi công việc. Du kích không nghe lệnh xã đội, mạnh chú nào chú ấy tìm cách sống riêng biệt, gặp mặt họ là chuyện khó, đừng nói kêu đi dân công. Bỗng có tiếng của Thành ở tuốt đằng kia kêu:

– Anh Hai ! Anh Hai!

Tôi và Ba Tâm chạy lại. Thành trồi lên.

– Sao giỏi vậy? -Tôi hỏi.

– Em tìm được ngách lên ở đây.

– Bộ có một khúc đây sao anh Ba?

– Dạ chỉ được chừng một trăm thước.

– Tốt lắm.

Thành leo lên, lấc đầu:

– Có con rắn tổ nái, đen ngời.

– Rắn gì?

– Ai biết rắn gì. Cũng may, em sợ nó mà nó cũng sợ em. Hai bên cùng lủi.

– Bậy quá. Phải bắt được nấu cháo tẩm bổ!

Ba Tâm vui mừng vì đã cho tôi được một khúc “địa” còn xài được. Anh lại dắt tôi đi coi tiếp:

– Khúc này ở giữa bãi hoang. Hồi trước tụi tôi đào gặp nhiều xương dữ lẩm. Nhưng lỡ đào một quãng rồi, không thể bỏ nên đào luôn.

– Xương gì?

– Xương Cao Đài. Cả chục bộ.

– Cao Đài ở đâu đây?

– Mấy ông già bảo là hồi kháng chiến, ông hai Bứa (tức Nguyễn Hồng Lâm, phó tư lệnh ban chỉ huy R, hiện nay là em nuôi ông Ba Tô Ký) xử tử Cao Đài ở đây. Ổng xỏ mỗi xâu cả chục người đào lỗ, đâm rồi xô xuống lấp đất. Nhiều người còn sống rên la dưới đất, trong xóm nghe lồng lộng cả đêm. Sáng hôm sau, ổng cho dân quân vác xà-beng ra xom cho thiệt chết.

Tôi lắc đầu:

– Như vậy không được.

– Tại sao?

– Mình chui “họ” sẽ mách cho lính đào bắt.

– Họ chết lâu rồi mà anh.

– Nhưng hồn họ còn thù.

– Anh nói gì kỳ cục vậy?

Còn đang dang ca, bỗng có tiếng réo thất thanh:

– Chú Ba ơi ! Chú Ba !

– Cái gì vậy ?

Tôi ngó về phía có tiếng réo. Thì ra cô Chạnh. Cô ta mang cái bụng bầu lạch bạch tới:

– Anh Hai có y tá đi theo không?

– Cái gì mới được chớ? -Tôi quát.

Chạnh nói tức tưởi:

– Con nhỏ trong xóm trại Giàn Bầy, chăn trâu bị lựu đạn nổ nằm ở bờ đập.

– Lựu đạn gì ?

– Lựu đạn gài… Anh Hai mau đi tới coi còn cứu được không? Miểng ghim vô đầu còn ngáp ngáp, còn con trâu chết tươi ơ… ơ….Tan xác.

Ba Tâm bảo tôi:

– Không phải lựu đạn đâu anh Hai. Nếu lựu đạn thì con trâu không chết. Đó là đạn 105.

– Trung Hòa bấn sao mình không nghe?

– Cà-nông lép, mấy thằng ông nội đào về “cải tiến” rồi đem gài.

Tôi ớn quá. Mấy thằng ông nội sẽ giết cả tôi chớ không chơi. Tôi nói với Ba Tâm:

– Một khúc “địa” đó cũng được rồi anh Ba, để tôi đi xã khác.

(Phải ớn mấy thằng ông nội mới được. Tụi nó gài dính bồ nhà không ít. Chính Năm Tiều đã chết vì tay tụi nó. Riêng tôi năm 69 cũng suýt lãnh một quả nguyên. Ông Ba Kiên E trưởng Q16 và gạc đờ co tên Ngọc ẵm một quả mìn. Rồi năm 70 cũng một em bé gái chăn bò chết vì một quả DH10 gài trong lùm tre ấp nhà việc xã Trung An, con bò chỉ còn cái bọng, cả người em tan nát bay dính đầy bụi tre, thịt xương gom lại không được một bao bàng).

Tiếp tục cuộc dò xét địa hình, tôi dắt cả đoàn đi xuống Gò Đình, Bàu Tròn và Bàu Lách. Thăng Cu tiếp tục đưa đường. Nó hỏi tôi bằng giọng giễu cợt, đớt đát:

– Cái hầm em giấu anh có “gọng”… không anh Hai?

– Mày là thằng quỷ à nghen ? Báo hại cô Chín bỏ đi mất.

– Vậy còn anh Hai với chị Tám, hầm “gọng” dễ thở chớ sao! -Rồi nó nói- Anh đừng có qua Bàu Lách vội!

– Sao vậy?

– Bên đó bây giờ đâu còn ai.

– Thằng Năm Cội đâu?

– Rụm rồi.

– Tại sao? -Tôi bàng hoàng cả người, tưởng như vừa bị thương.

– Xe tăng hay cà nông gì đó không “gõ”.

– Cà nông Trung Hòa hay Đồng Dù?

– Nghe nói của ảnh chế biến. Gài rồi đạp.

– Hừ… sao kỳ vậy?

– Em đâu biết tại sao? Mà chuyện đó cũng xảy ra hoài chớ bộ mới ảnh sao!

Cu là lính công trường 9 hẳn hòi bị thương, suýt cưa giò, vết thương lành cà thọt từ R về đây được Ba Tâm sắc phong là du kích. Nhưng bà con không biết thành tích của nó tưởng là lính đào ngũ, nên gọi nó là “dích cu” chớ không phải nó tên Cu. Có lần chỉ huy đám du kích đêm không xong, nó nổi dóa bảo.

– Tao là xạ thủ RPD của B1, Cl nghe tụi bay, không phải “dích cu” đâu mà lấp lửng.

Từ đó nó mới được du kích tín nhiệm.

– Về đây có tính chuyện với cô nào chưa? -Tôi hỏi Cu.

– Nhà em ở Gò Nổi Trên, em bỏ vòi qua Gò Nổi Giữa, cũng sắp xong rồi, nhưng ông già con nhỏ lại ra ấp chiến lược Lào Táo nên nó phải đi theo.

– Vậy là sút vòi à? Thằng Thuận chen vào.

– Nó thỉnh thoảng cũng có về trong này.

– Ở ngoài đó bị tụi thằng Rác cặm dùi rồi.

– Mày phải dời nhà xuống “Gò Nổi Dưới” thì mới rình tóm nó được, chớ ở “Gò Nổi Trên” không có địa hình. – Thuận tiếp.

o O o

Cuộc nghiên cứu này kéo dài một tháng, bàn chân tôi dẫm khắp Củ Chi. Tôi đã vẽ năm chục sơ đồ, dự án trên các xã Trung Lập, An Nhơn, Nhuận Đức, Phú Mỹ Hưng, An Phú, Lộc Thuận, Đôn Thuận đem về trình cho ông tham mưu phó Vũ Ba được ông khen:

– Cậu khá lắm!

Đó chẳng khác nào những bàn cờ thế. Người thế cờ đã dàn quân trước: “Trận địa của tôi như vậy đó, ai muốn chiến thì nhào vô!”

Ai thuộc tủ thì thắng. Đối Mỹ cũng vậy, nhưng ít khi chúng nó hành quân rơi đúng thế cờ của mình, mà ngược lại mình luôn luôn bị động vì cái thế cờ luôn luôn luân chuyển bằng cơ giới của chúng.

Nhưng cái chuyện đáng buồn nhất, như “dã tràng xe cát biển Đông, nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì”, là khi đệ trình lên ông Ba Xu, tư lệnh thì mười lăm ngày sau tôi được một mẩu giấy viết tay phê với những chữ:

Công tác chuẩn bị chiến trường rất tốt, nhưng tuyệt đối không được cho bộ đội ém hầm bí mật hoặc xuống địa đạo.

Chữ “tuyệt đối” gạch đít hai lằn đậm, và cuối cùng mẩu giấy có câu tái bút:

“Đồng chí tham mưu trưởng D sang gặp tôi ngay”.

Thế là ông Thiên Lôi lại băng sông Sài Gòn, bụng nghĩ mãi không ra chuyện gì.

Tư Nhựt cười hề hề :

– Ổng kêu thầy sang làm phò mã đấy! Đi mau lên!

Chương 80

Cấm xuống hầm, nhưng chính ông tư lệnh lại chui hầm và chết dưới hầm



Tôi sang sông đang cong lưng đạp xe thì có tiếng kêu từ ven rừng:

– Anh Hai!

Tôi chạy chậm lại và ngoảnh nhìn sang. Một bầy tiên cô vừa vẫy tay vừa chạy, trong số tôi nhận thấy Thảo, cô bé nấu cơm cho K20, tức phòng chính trị của Tám Quang và Tám Hà. Thấy Thảo quen với tôi, mấy cô kia dừng lại và tản ra hai bên chớ không tới gần tôi nữa. Sau vài câu thăm hỏi, tôi dắt xe tạt vào ven rừng. Thảo nói ngay:

– Tụi em vừa qua bên này bị một trận B52 suýt chết.

Thảo là con gái Bình Dương, đất nổi tiếng có nhiều gái đẹp. Thảo cũng mê giải phóng, tưởng vào khu sẽ mang túi dết đi tuyên truyền, đứng nói trước mi-cờ-rô cho đồng bào nghe nên bỏ trường theo ông Thọ. Chẳng ngờ vô đây bị giao cho tuyên truyền các cụ táo quân. Buồn tình ca, Thảo muốn về, nhưng các chú dọa “tử hình”. Rồi chú Tám nhận làm con nuôi. Lần tên Thiên Lôi gặp mấy ông lớn ở đó, Thảo tỏ tình và muốn Thiên Lôi tháo cũi xổ lồng nhưng làm sao nổi. Thảo đang ở trong hang cọp.

Tôi kéo nàng ngồi xuống mép giao thông hào cạn nhách, thủ thỉ :

– Anh qua An Thành là nhớ em.

– Còn ở bên Củ Chi không nhớ há?

– Ở đâu cũng nhớ hết.

– Nhiều đêm em khóc. .. Anh còn giữ chiếc khăn kỷ niệm của em không?

Nhiều khăn kỷ niệm quá, tôi đâu có nhớ khăn của ai, còn hay mất, nhưng cũng ừ đại:

– Anh xếp cất trong ba lô.

– Đâu đưa em coi.

– Cái ba lô kia cà, cái này anh chỉ đựng ít đồ để vượt sông cho nhẹ.

– Lâu lâu anh có lấy ra xem không? Đừng có giặt nghe!

– Giặt mất mùi sao?

Đâu có thời giờ mà nói chuyện nọ chuyện kia. Thảo bỗng nổi giận:

– Anh tệ lắm.

– Sao?

– – Bảo móc em ra mà cứ hứa cù lần.

– Ở đâu cũng công tác cách mạng chớ khác gì, em.

Thảo sụt sùi khóc. Tôi biết cái ngón con nuôi của các bố chú rồi. Ông nào cũng bỏ cái ngón “tồn liu”, “liu tồn” đó thôi.

– Con Thanh bị bắt với ông Tám Nghi rồi, anh có hay không ?

– Trời đất !

– Xe tăng càn rồi lính moi bắt ở trại Bà Huệ.

– Còn ông Năm Lê?

– Ổng đi hội nghị trên khu nên thoát. Ông Sáu Gấm bị B52 chết ở Dầu Tiếng, ông Hai Phần (Trần Hải Phụng) đau tim về R… Anh cứu em đi. Không thôi mai mốt chú Tám Quang về Rừng Sát, chú bắt em theo là hết gặp đó.

– Cách mạng thành công, mình gặp nhau trong vinh quang.

– Vinh quang gì, mấy chú kỳ thấy bà.

– Chú nào, có chú, chớ chú nào cũng kỳ hết sao?

– Chú nào cũng như chú nào!

( “Chú ” chỉ khác “chó ” có chữ “u” thôi)

– Sao anh không hứa với em đi? -Thảo gắt.

– Em không sợ “chú Tám” bỏ tù anh sao?

– Hứ! Em muốn có con với anh ngay bây giờ nè.

Mép bờ giao thông hào phút chốc hóa thành thiên thai. Khi vác xe đạp ra tới đường, tôi tưởng đã xa trần gian một thế kỷ. Thảo cứ nắm chặt lấy tay tôi:

– Em không cho anh đi ! Em không cho anh đi. Em sẽ theo anh luôn!

Nắng chiều vàng nhạt lấp loáng trên mặt sông. Đường trần gian lồi lõm gập ghềnh. Trần Thị Thanh Thảo của ba mươi năm xưa giờ còn sống hay chết? Gót Chàng, Phú Trung, Bến Chùa, Bến Súc và… là những mảnh đất từng in bóng hình em bên anh.

Ra khỏi thiên thai lại vào thiên thai khác. Cái sân gạch của dì Ba ấm nắng, tôi đã bước qua vài lần. Lần này không ngại chân. Khánh đã đứng ở cửa tươi cười:

– Em đợi anh từ hôm qua tới nay. Dượng bảo ra đón anh.

Bàn ghế, mọi trang trí trong nhà vẫn còn y nguyên. Chỉ có Khánh là thay đổi. Nàng chưng diện hơn lần trước tôi đến.

Khánh nắm tay tôi lôi vô và ríu rít nói:

– Anh không nhớ em gì hết… Anh ở lại đây chơi vài ba ngày coi có được không… Nhà em cũng là nhà anh… Má em thương anh lấm, bộ anh không biết hay giả đò không biết?

Tôi đáp:

– Chỗ tổng hành dinh tư lệnh mà em nói như đùa.

– Xí tổng hành… Chòi chớ dinh gì! Đây là nhà của em! Ổng ở đậu chớ nhà gì của ổng.

– Nói ngang như em thì mười cái đầu anh cũng bay.

– Anh sợ ổng chớ em hổng ngán ổng đâu. Ổng có vợ có con, vợ ổng là bạn của má em, vậy mà ổng còn lem nhem với má em. Tại tui em thương má nên mới để ổng ở đây chớ nếu không thương má thì tụi em tống ổng ra rồi.

Tôi đưa tay bịt miệng nàng. Nàng cắn tay tôi. Tôi để yên cho nàng cắn. Mấy khi da thịt trần tục được răng ngọc nàng tiên ngoạm, êm dịu phải biết.

Nàng kéo ghế cho tôi ngồi, rồi kề sát mặt thủ thỉ:

– Mỗi khi đi ngang qua giường liếc thấy hai cặp chân ló ra vách mùng, em tự hỏi: sao anh với em không được làm như vậy. Em ao ước được nằm kề bên anh. Cuộc đời ngắn ngủi, nhất là trong chiến tranh. Anh có nhìn thấy chung quanh đây không, tất cả đều bị sát phạt – nàng pha tiếng Pháp- Chỉ còn cái lõm này thôi. Nay mai rồi tới phiên nó. Lần tới anh về sẽ không biết mộ em ở đâu mà tới khóc.

Khánh rời ghế, nàng bước lại ngồi trên đùi tôi, áp mặt sát mặt tôi:

– Anh hứa đi, anh yêu quý của em!

– Ừ… ờ…

Bỗng có tiếng guốc từ trong buồng đi ra, rồi tiếng nói:

– Sao dám chặn khách của tôi vậy cô?

Khánh quay lại:

– Ai gặp trước làm việc trước chớ ông Tư Lệnh.

Tôi nâng Khánh dậy và đứng lên chào kính:

– Anh Ba khỏe?

– Sao coi cậu hốc hác vậy?

– Da, sáng tới giờ chỉ có nấm mối với lá lốt dồn bụng.

– Hậu cần đâu?

– Họ bị B52 tán hoán hết rồi!

– Thằng Đồng chết lãng nhách! -ông Tư Lệnh vừa nói vừa ngồi đối diện tôi- Con vô nấu món gì cho anh con ăn – rồi quay lại tôi- Tháng Châu Thái Hùng này lộng quá lắm. Nó bắt chủ lực quân xay lúa giã gạo ăn như du kích à? Thôi việc đó để tao tính sau. Bây giờ tính việc trước mắt.

Ông Tư Lệnh vừa dứt lời thì bà “chánh ủy” xuất hiện. Áo lụa trắng, da thịt nõn nà, tóc tai không mấy vén khéo. Bà bước lại ôm chầm lấy tôi rên rỉ, khóc lóc:

– Sao con ốm tong ốm teo vậy con. Tụi nó ăn hết gạo để con húp cháo phải không con? Quần áo con sao rách rưới vầy há con? Hu hu…

Bà khóc thiệt, không phải bôi cù là vào mắt như Hồ Chủ Tiệm khóc Dương Bạch Mai.

– Đánh giặc mà chịu đói chịu khát, còn ông ngồi nhà ngày nào cũng cơm bưng nước rót mà không biết lính sống cực khổ ra sao. Mà hở cái là hò hét “xung phong lên” ! Lại còn xúi con người ta vác mút cơ tông đánh đồn xây bằng gạch đá. Súng gì không bắn được phải tháo dây lưng quần con gái giật cò.

Bà “chánh ủy” bù lu bù loa, tố khổ giùm cho lính. Tôi nghe thiệt mát bụng. Nếu trong cuộc kiểm thảo với Tám Quang thì chúng tôi không đời nào dám hé môi nói về những đòn tàn nhẫn đó. Ông Tư Lệnh ngồi nghe, cặp môi giựt giựt. Có lẽ ông biết bất cứ chống đỡ cách nào ông cũng bị bà “chánh ủy” cả vú lấp miệng… ông ngay, nên quay sang:

– Con Khánh, con Ngọc, đứa nào vô buồng lấy cái sắc cốt ra cho dượng chút. Hồi còn trẻ, tôi cũng đánh giặc phong trần như nó vậy thôi.

– Nhưng hồi đó bom đạn ít.

– Bà đi vô nấu món gì đặc biệt cho nó ăn.

Bà “chánh ủy” coi hung dữ nhưng cũng biết phục thiện, nhưng trước khi đi vào bà còn ra lệnh cho ông Tư Lệnh:

– Ông để nó ở đây cho tôi, đừng có xua nó đi sớm nghe !

– Chuyện người ta khẩn cấp chớ chuyện nấu cơm sao!

-Xí! Chuyện gì các ông cũng khẩn cấp hết á ! Tụi nó chết chớ mấy ông tư lệnh tư lọt có trầy miếng da nào.

(Bà “chánh ủy ” rủa vậy nên sau này ông Tư Lệnh tiêu dên không hốt được miếng thịt).

Tôi định thừa lúc rỗi sẽ hỏi anh Ba về vụ ông Sáu Di thọ nạn ở Long Nguyên cho ra ngô ra khoai như thế nào, nhưng cuối cùng tôi nghĩ lại, không nên hỏi làm gì.

Một chốc yến tiệc dọn ra. Thôi thì đủ thứ đồ ăn do ba em Mai, Khánh, Ngọc chế biến dưới sự điều khiển của dì Ba, ngoài ra còn đồ hộp Sài Gòn. Dì Ba thương tôi thiệt tình chớ không phải lợi dụng. Thật ra tôi có gì để dì lợi dụng? Dì muốn tôi ăn “rắp ben” cả những ngày thiếu thốn vừa qua, nhưng có hai nàng ngồi bên cạnh nên tôi cũng chỉ “hử như mèo” tỏ ra đây cũng là kẻ hào hoa phong nhã chẳng kém dân Sè Goòng.

Cơm nước xong, chỉ còn tôi và Tư Lệnh. Anh móc bản đồ trong sắc cốt trải ra. Chỉ rất nhanh bằng mũi viết chì. Mắt tôi thu nhận chưa kịp thì anh đã xếp lại và bảo:

– Về nhà kiện toàn ngay đơn vị. Đường hành quân rất dài. nhưng kỳ này vũ khí thật tối tân sẽ tới tay các cậu. Đây là trận chiến cuối cùng.

Tôi tưởng sẽ có một cuộc pháo kích Đồng Dù quy mô hơn, chàng ngờ đó là trận tổng công kích vô cùng đẫm máu chỉ còn vài tháng nữa, mà cái chết của tên đại tướng bần cố nông là điềm gở báo trước cho lão Hồ. Trời nhá nhem tối, tôi đứng dậy cáo từ.

Dì Ba níu kéo, Mai Khanh khẩn khoản. Ngọc đứng ở cửa buồng lặng thinh. Ông Tư Lệnh bảo:

– Thôi để cho người ta đi, khóc lóc cái gì?

– Ông cô con đi lính đâu mà ông thương?

Khánh thực tế hơn, để cho ông bà đấu khẩu, nàng lôi tay tôi ra trước sân, đứng bên bụi bông trang trong bóng tối vừa phủ xuống.

– Anh hứa đi rồi em cho anh đi.

– Hứa thì dễ lắm em à ! Nhưng giữ lời hứa là chuyện khó.

– Sao lại khó? Chỉ khi nào anh không yêu em thì lời hứa mới khó khăn thôi.

Tôi nói nước đôi (như Nixon nói trong bài lễ nhậm chức tổng thống mà đài BBC Luân Đôn nhận định là một cách nói nước đôi tài tình. Nghĩa là người nghe có thể hiểu thế nào cũng xuôi cả):

– Anh yêu em hay không yêu em, em biết rồi. Còn việc. . . đó thì phải từ từ.chứ không thể nhanh chóng được.

– Em chỉ muốn em là hôn thê của anh thôi.

Có lẽ Mai đứng bên trong nghe tới câu đó nên sợ “cuộc chiến kết thúc bất lợi cho phe ta” nên lên tiếng… ho. Và đó là cơ hội giúp tôi trì hoãn.

– Có người tới.

– Tới tới! Chị Mai cũng yêu anh nhưng má định gả em cho anh.

Mai lớn tuổi hơn Khánh. Mai đằm thắm hơn. Còn Khánh thì “à la Saigonaise” nên cử chỉ rất là hiện sinh.

– Thôi đành hẹn kiếp sau vậy -Tôi nói thầm trong bụng- Anh là một tên lính lê dương không biết đâu là nhà, sanh vô gia cư, tử vô địa táng, em yêu làm gì cho khổ.

o O o

Chiến trường ngày càng trở nên ác hệt. Đất Củ Chi, cửa ngõ của Sài Gòn không còn chỗ nào yên ổn để dưỡng quân. Chúng tôi phải dạt qua Trảng Bàng ở đậu Chín Hung (cháu ông Mười Huệ, Bến Tre), lắm lúc phải lên tận Rừng Tre, Cầu Xe, Trảng Cỏ để dung thân. Anh Cả ĐỏTia Chớp Nhiệt Đới liên tục “bủa lưới phóng lao” chúng tôi. Không ngày nào là không có tiếng bom pháo nổ bên tai.

Một hôm tôi và Tư Nhựt ngồi ngoài rừng uống trà bàn về chuyện hai cặp oan ương Đoàn Tâm, Út Siêng và Vũ Ba, Năm Đang.

– Tội nghiệp hai ông Tâm và Ba, bốn mươi tuổi đầu mới lên xe hoa.

– Giỡn cha ! -Tư Nhựt nói- ông Vũ Ba góa vợ, còn Đoàn Tâm mới trai lơ. Trai lơ mà gặp cái “mang cá mè nhóp nhép” của bà út Siêng thì mê tít!

– Cá mè gì! Chồng bả đi Côn Đảo cả chục năm rồi. Để cái mang cá mè nó nhóp nhép hoài tội nghiệp.

Tư Nhựt nói:

– Thôi thì xáp được cặp nào mừng cặp nấy cho đời đỡ lạnh. Để như tôi đây “cám treo để heo nhịn đói”! Một năm trời về hạ được cái đồn Thầy Mười rồi làm “cú đứng” ngoài vườn.

– Ê tôi không có kinh nghiệm nên thua ông.

– Bộ phò mã mà cũng gian nan vậy à?

– Phò mã chưa có áo mão nên còn đứng dựa bụi bông trang! Ê, cú đứng có hay không ta?

Tư Nhựt trút chung trà vào miệng nuốt ực, rồi vừa sặc ho liên miên vừa nói rướn:

– Làm bậy đõ ghiền chớ đã điếc gì!

Bỗng thằng Thưng chạy vô hớt hãi:

– Tụi tôi bắt được một con “canh tơ” (indicateur: tên chỉ điểm).

Tư Nhựt đứng dậy gầm lên:

– Lôi đầu đem bắn nó đi. Mình bị B52 là vì tụi này.

– Đâu đem vô đây coi! -Tôi bảo.

Nó ngất xỉu ngoài ven rừng.

Tôi chạy theo Thưng. Được lệnh Tư Nhựt, Thưng vừa đi vừa lên đạn AK rong róc. Ra tới nơi, thấy một nàng nằm dựa gốc cây, mắt trợn ngược. Tôi kêu lên:

– Là! Em đi đâu đây?

Không thấy tiếng đáp, tôi bảo Thưng:

– Đi kiếm chút nước. Không phải “canh tơ” đâu em ! Xã đội phó xã Mỹ Hưng đó.

Sẵn bi đông bên lưng, Thưng vạch miệng Là rót nước, còn bao nhiêu rưới lên mặt. Giây lâu Là hồi tỉnh. Mắt nàng nhìn tôi trân trân:

– Anh đi cứu dượng Ba mau.

– Dượng Ba nào?

– Dượng Ba tư lệnh chớ dượng Ba nào?

– Ở đâu?

– Ở chỗ cái hầm… hầm… – Là quơ tay và tắt tiếng.

Tôi hiểu ngay đó là cái hầm ở gốc cây… kỷ niệm khi tôi về Củ Chi lần đầu tiên, nàng dẫn tôi đi “nghiên cứu” trận địa.

Tôi trở lại gặp Tư Nhựt. Chỉ trong vòng 15 phút, đích thân tôi dắt một đại đội đi cứu chúa. Tư Ếch và Năm Đầu Ban cùng đi với Là nhưng bị cảnh vệ giữ lại ở ngoài rìa rừng. Bây giờ kéo ngọn dắt chúng tôi chạy.

Một cuộc chạy đua mù mịt, liền sáu tiếng đồng hồ. Tôi không cần biết có bao nhiêu lính rụng lại phía sau. Chúng tôi theo con đường cũ của Là vừa vạch ra. Sau này Là cho tôi biết nàng đã ra Sa Nhỏ, qua Cỏ ống thì đồng bào bảo đơn vị đã đi về hướng Cầu Xe. Nàng tới Cầu Xe thì người ta lại cho biết chúng tôi đã biến về phía Trảng Cỏ. Nàng phóng tới Cây Da thì gặp C3 đang đào công sự ở đó. Họ cho biết ban chỉ huy D ở trên Trảng Sa.

Băng qua lộ 6 xuống Rừng Tre, chúng tôi đến nơi, ghé quân y Tư Chuyền bắt thêm một y sĩ mang theo bình dưỡng khí .

– Ổng ở dưới đó mấy ngày rồi? -Tôi hỏi Là.

– Hơn hai ngày.

– Ai đưa ổng tới đó vậy?

– Còn hỏi nữa!

– Cách đây mấy hôm anh gặp ổng ở bên kia sông.

– Ổng mới chạy B52 qua đây. Đến nhà mình lúc nửa đêm, đập cửa hỏi hầm. Em dắt ông đi ngay ra đó, chớ đâu có hầm nào nữa.

– Ai xuống với ổng?

– Một cần vụ thôi. Ổng vừa xuống thì sáng hôm sau tụi nó chụp ngay trân. Đóng chốt luôn không rút. Anh phải quạt tụi nó thì mới móc ổng lên được.

Tôi kêu thằng Xướng chặt tre làm cáng. Lúc đi hối hả không nhớ gì hết. Chỉ có “con buồi” là không quên bỏ lại thôi.

Trời lại mưa mới khổ chớ!

Trực thăng quần trên đầu. Chúng còn chốt ở đó. Tư Ếch và Năm Đầu Ban thổ địa dắt đường. Tôi bàn kế hoạch qua loa rồi cho pháo. Cứ bắn già vào đội hình của chúng chớ không cho bộ binh xung phong. Tụi Mỹ chỉ phản công yếu ớt không có pháo Đồng Dù trả hỏa. Tôi có linh tính là ông Tư Lệnh đã thối ra ma rồi. Ba ngày ở dưới đó chịu sao thấu. Cũng may chiều tối hôm đó chúng rút toàn bộ. Trực thăng Chinook tới câu luôn cả bùng nhùng và công sự xi măng. Đại bác được câu lên sau cùng. Như vậy chúng đã bỏ chốt, chứ nếu chúng thay quân, chốt tiếp, thì ông Bốn, Năm, Mười Xu cũng lìa đừng nói Ba Xu.

Cho trinh sát tới trước dò xét an ninh rồi tôi ra lệnh công binh tới tìm miệng hầm. Trời mưa lầy lội lại thêm xe tăng càn nhẹp cây cối, dấu tích cũ không còn nguyên nên mãi một tiếng đồng hồ sau cả tiểu đội bới móc mà cũng không tìm ra. May nhờ Là nhớ cái cây có chừng hai bên miệng hầm kỷ niệm nên tìm thấy khung gỗ ló cạnh. Cũng may là xe tăng càn ngang mà không sụp. Cái nấp hầm thật chắc.

Thằng Xướng tay móc được cái khoen dây chì rồi ra sức lôi bật lên. Một tiếng “ồ” vang lên. Đó là không khí tràn xuống hầm.

Tôi rọi đèn pin. Thằng Xướng vọt nhanh xuống hầm, rồi trồi lên, nhắm mắt hả họng “ngộp quá!”. Nó lại một hơi dài rồi giật cái đèn pin trên tay tôi chui xuống. Chừng vài chục giây nó lại trồi ra, báo cáo:

– Hai người nằm dưới bùn. Chỉ mặc quần tiều.

– Em coi còn cái ngách nào dưới đó không?

– Có nhưng ổng chỉ xuống có hai người thôi.

Xướng lại nói:

– Ngộp quá, hôi thối chịu không nổi.

– Vô coi ông còn thở không?

Xướng lại chui rồi ló lên. Tôi quát:

– Còn thở không?

– Còn.

– Lôi ra miệng hầm ngay. Lôi anh Ba trước.

– Chân ổng quay ra ngoài.

– Cứ nấm lôi đại. Mau lên kẻo trực thăng trở lại thấy đèn, nó bắn bỏ mạng.

– Anh kêu đại liên chuẩn bị, hễ nó tới thì chơi .

Xướng ném trả tôi cái đèn pin rồi thụt vô hang. Ỳ ạch lui ra, chui vô hai ba lần, nó lắc:

– Nặng quá, bùn trơn nắm trợt lớt không lôi được. Anh tìm cho em sợi dây.

Nhờ sợi dây nịt da (như sợi dây lưng quần cô dân công) thằng Xướng lôi được chân ông Tư Lệnh ra miệng hầm. Tôi rọi đèn thấy hai bàn chân xanh lét. Thằn Xướng leo lên rồi hai ba đứa nắm sợi dây nịt rút lên, làm như con nít đẻ ngược, hai chân ra trước, cái đầu ra sau.

Thân người ông lên tới đâu chúng tôi nâng đỡ tới đó và xếp hai tay ông vào bên hông để khỏi vướng miệng hầm vốn rất hẹp, chỉ vừa thân người lách nghiêng’ mới lọt. (Vậy mà những tên nhà báo bất lương dám viết rằng ông Tám Lê giải phẫu thương binh, đỡ đẻ dưới hầm, làm sao đàn bà chửa và thương binh xuống hầm được. Bọn này ở đâu, hãy trả lời giùm).

Lên được trên mặt đất rồi thì mọi chuyện đều dễ dàng. Ông Tư Lệnh đã tái sanh.

Nằm trên mặt đất, ông Tư Lệnh… thật thảm thương!

Ông đã sống sót bên cạnh ông Sáu Di, nay lại chết hụt lần nữa. Nhưng lần sau Mậu Thân ông chết thật. Không như cô Thiên Lý chết dưới sông được chúng tôi cứu sống và về thành.

Y sĩ làm việc một chốc, dượng Ba tỉnh dậy. Tôi cho khiêng đi ngay về Trảng Cỗ để quân y tiếp tục săn sóc.

Húp xong muỗng sữa đầu tiên, ông hỏi:

– Ai đưa tôi xuống hầm vậy?

Tôi đứng cạnh đó không biết trả lời sao cho tiện. Vì có lẽ ông chưa lãng trí để có thể quên ai là người đã ký lệnh. . . với hai lằn gạch đậm đen mới hôm nào.

Chương 81

Những người con gái mang danh hiệu anh hùng rởm và đạo quân đầu tóc Củ Chi
được treo bảng vàng danh dự trong nhà .



Cái việc làm bịp bợm của tên tướng đầu đỏ Nguyễn Chí Thanh “phong cho Nguyễn Thị Định là phó tư lệnh Quân Giải Phóng” và danh hiệu dũng sĩ (rởm) do ai bày đặt không rõ đã kéo theo được tử sĩ đàn bà con gái. Tội nghiệp thay cho những cô em ham làm tướng ếch, tướng nhái mà vỡ bụng nối đuôi nhau rửa chân lên bàn thờ. Sau đây là một số chị em ta tôi có biết hoặc có nghe “danh”

Đứng đầu bảng vàng rởm là nàng Tư Bé, huyện đội phó, 19 tuổi, một cô gái cộc kệch quê mùa ở Bàu Trân đánh xe bò, cha mẹ không cho đi theo du kích, nhưng bé ham danh hiệu dũng sĩ, nên một đêm trốn gia đình thoát ly. Trong lúc đám dũng sĩ rởm tan hàng, bọn huyện ủy không còn ai để làm “công tác chính trị” nên đã bơm cô bé chăn bò lên làm huyện đội phó. Tội nghiệp thay, nào biết gì chiến thuật quân sự, nên lớ ngớ đã bị Mỹ đuổi bắn chết ở Đồng Lớn năm 1968 ít lâu sau Mậu Thân.

Mang số hai, ngay sau cái ngày kỷ niệm đó, cô Bảy Nê, đội trường du kích Củ Chi được tên trưởng phòng chính trị Quân Khu Tám Quang, tay lẻo mép số một, phong cho danh hiệu “đội dũng sĩ” đã bị Nhân Dân Tự Vệ bắn chết trong trận đột nhập ấp chiến lược Cây Bài thuộc xã Phước Vĩnh Ninh năm 1969, sau khi lên thay cho cô Tư Bé trong chức vụ huyện đội phó. Cô có ý trả thù cho em trai là thằng Lợi trinh sát tiểu đoàn của tôi bị xe tăng bắn chết trên đường đi đánh trận Tân Quy, nhưng thù em không trả được mà lại gặp em ở tuyền đài.

Cầu thủ số ba là xã đội phó tên Là, người bạn gái thân mến của ông Thiên Lôi, sau khi Năm Thuận rút êm đi câu tôm bán lấy tiền nuôi vợ con ở ngoài ấp chiến lược Suối Cụt thì Là được ông bí thư Tư Thiên. phong chức xã đội trưởng. Nàng con gái mới hai mươi tuổi bị xe tăng ủi nhẹp hầm cùng với một số du kích xã nhà Phú Mỹ Hưng, không biết mồ mả ở đâu, cũng như chồng của chị ruột của nàng (Lụa) đi dân công Bình Long biệt tích không biết ngày giỗ quải. Với cái chết của nàng cùng ông bí thư Tư Thiên coi như xã Phú Mỹ Hưng không còn người lãnh đạo.

Kế theo là cô em Út Thành (số bốn), trẻ hơn Là một tuổi quê ở Trung Lập Thượng, được ở trên khen thưởng thành tích khiêng thương và cũng chết trong lúc tải thương trận Suối Cụt năm 1967.

Số năm thuộc về cô gái tên Năm, quê ở Bến Cỏ, thị xã Phú Hòa Đông không chết, nhưng bị thương tàn tật suốt đời bỏ Củ Chi về Sài Gòn (sau có gặp lại tôi ở Châu Đốc) . Đây là một người con gái đẹp, nước da trắng, có đôi chân vũ nữ, nhưng tiếc thay…

Tiếp theo dòng nữ nhi lên bàn thờ là cô Thu (số sáu), y tá 20 tuổi bị pháo bắn chết.

Cô Hiền (số bảy) bị Mỹ khui hầm bắt sống.

Cô Lan (số tám) nhân viên điện đài phòng tham mưu bị Mỹ đánh chất nổ.

Cô Huê y tá (số chín) bị pháo bắn chết.

Cô Lan chị 18 tuổi (số mười) và cô Lan em 16 tuổi (số mười một) bị chôn sống cùng với mười hai nhân viên ban tham mưu quận trong xóm Bà Huệ trước cô Út Hương vài tuần. Út Hương là nhân viên văn phòng K30 hậu cần Quân Khu bị biệt kích bắn chết trên đường tải gạo Bến Chùa xã Thanh An, mười hai người chết chụm.

Út Mến chết chung với xã đội trường Là, nhưng mười ngày sau mới biết, trong lúc đó bé Hạnh, cứu thương quận Nam Chi (Củ Chi phía Nam) bị thương rồi bị bắt sống.

Duộc “dũng sĩ” này còn dài dằng dặc, nhưng đại khái cái chết cũng giống nhau, nên xin tạm ngưng… (pháo bắn chết, xe tăng, biệt kích, lựu đạn du kích…) để sang các bức tượng vọng phu bằng đất bùn của Củ Chi.

Cô Lụa, chị cô Là, con của má Hai ở Phú Mỹ Hưng, có chồng đi dân công Bình Long mất tích. Chị Tám Khỏe cũng đồng số phận nhưng chị có tới bốn đứa con. Mặc dầu con đông, nhưng chị còn đẹp gái. Thầy chú ngắm nghé cũng bộn, nhưng chỉ có chàng Ba Tố- D phó – à lọt mắt xanh của chị thôi. Ăn ở với nhau không chánh thức (vì giấy báo tử ông chồng đi dân công Bình Long chưa về, hoặc không bao giờ về), nhưng ai cũng coi đó là một cặp uyên ương. Lửa đang nồng, duyên đang đượm thì D phó Ba Tố cùng toàn bộ ban chỉ huy D8 lãnh một trái bom đìa tại An Phú. Chi Tám vừa khóc chồng chưa khô nước mắt lại phải khóc chồng. Phải chăng đàn bà con gái Củ Chi có nhiều nước mắt nhất thế giới?

Đau khổ nhất là chị Út Việt có chồng là đại đội trưởng cối 120 ly của D8. Vợ chồng mới cưới chưa hết tuần trăng mật thì anh Út lãnh một quả dưa hấu của cô hàng B52. Tội thay cô vợ trẻ ở xã An Nhơn Tây trở thành góa bụa mà không xây được mộ chồng.

Cô Mười có chồng là đại đội phó công trường 5 xác bón cây rừng ở Bình Long, trong lúc nàng là gái một con, còn hơ hớ thanh xuân, biết bao nhiêu ông cán tò vè… mà không ưng để về Sè Goòng lấy lính.

Chín The, chị ruột Mười, chồng chết hồi chín năm, sau lấy Sáu Phấn chính trị viên D H6 rồi cũng đến phiên theo ông theo bà năm 67, vì Mỹ đánh hầm ở Xóm Bưng. Đời bà hai lần làm vọng phu, lần trước chỉ tám năm, lần sau muôn năm !

Chín Kiểu cũng có chồng chết trong chín năm, nhưng gặp đại úy Hai Giả. Đau khổ thay, Hai Giả bị kỷ luật về chuyện tình ái lăng nhăng với bà, nên bị đày đi Thủ Đức rồi chết ở đây, trong hầm bí mật quốc tế, do lính Đại Hàn khui và ném tặng một cặp vú sữa made in USA banh xác.

Trong lúc chị Ba và chị Năm (chị ruột của Bảy Mô) đều chịu cảnh phòng không chiếc bóng, nhưng anh Ba chết trong chín năm, chịu cảnh góa bụa tới già, còn Năm Mai thì ôm con nhỏ lúc tuổi thanh xuân. Anh Năm lên bàn thờ không biết ngày nào.

Chị Hai Nguyện cùng quê với Năm Mai là Gót Chàng, chồng E trưởng Năm Tiều. Hai vợ chồng chê đất Củ Chi khó ở nên chỉ trong năm 70, kẻ trước người sau cách nhau vài tháng, rủ nhau xuống xin nơi xây tổ ấm đất Diêm Vương.

Hai Xót, Hai Tràng đều ca bài Hòn Vọng Phu chín năm. nhưng Hai Tràng thì yên phận thường dân, còn Hai Xót thì bị cách mạng phong cho chức khu ủy cặp bồ với Chín Lộc mắt toét, trướng quân báo khu.

Tám Mang có chồng chưa cưới là Năm Hoa, sắp cưới thì Hoa bị thương cụt cả hai chân. Cô nàng sợ cách mạng quy cho mất lập trường nên không dám từ hôn, nhưng không xáp vô nữa. Chàng ta buồn tình “dông” lên R. Hai năm sau cô em đẹp duyên cùng Hai Đồng, tham mưu trưởng 68 (to lắm), nhưng lại ở góa vì đức lang quân bị Mỹ bắt sống ở Sóc Lào.

Như vậy, kể ra cũng chưa bi thảm bằng nàng Hai Chạnh ở Ba Sòng. Chồng sắp cưới là thằng Chi, trung đội trưởng của D tôi, bị pháo Trung Hòa bắn chết trong trận pháo kích do tôi chỉ huy, tại Gò Nổi Trên. Sau đó lại tái giá với Tư Đồng ở F100 (công tác thành). Anh chàng này cũng văng dên trong Mậu Thân ngày Tết.

Hai chị em Ba Lội và Tư Thêm đều góa bụa. Chị Ba có chồng là Tôn Sứt, cán bộ của tôi, chết năm 67 lúc hai người đang sắp hát tình ca phối ngẫu. Còn anh Tư đã có một con với chị Tư nhưng anh không giận hờn vợ con gì hết mà lại đi Bình Long không về.

Ba Cấm, Bắc Kỳ di cư ở xã Trung Lập, rất đẹp, có chồng là Tư Bình, C phó của tôi, anh chàng chết ở trận Rừng Tre (tôi cũng suýt chết) trong lúc cô nàng mới 20 tuổi, chẳng bằng Bảy Lợi được một cục “để trên đầu trên cổ với người ta” rồi chồng mới thăng thiên.

Tuy vậy cũng còn biết ngày để giỗ quải còn hơn là chồng cô Hai Điển, 22 tuổi, có một con nhưng chồng công tác trên R, không rõ công tác gì (có lẽ đi săn thịt rừng phục vụ các tên đầu bò chăng ?) mất tích luôn (hay bị voi dày chết ?)

Cô Tám Lệ ở Đồng Lớn xã Trung Lập, có chồng là Bảy Phúc làm quân báo khu bị khui hầm năm 66. Xin độc giả nhớ tên người con gái xinh đẹp này để về sau còn tái ngộ.

Đặc biệt nhất là cô Út Xè, 22 tuổi mà đến ba đời chồng. Cứ ông này rơi càng tỏm, ông khác lại xung phong bịt lỗ châu mai, lại rụng luôn ống điếu, đến ông thứ ba là Út Hùng – B phó trinh sát D8-, quê ở Xóm Ràng xã Trung Lập cũng rớt giò heo luôn. Mỗi ông cách nhau trên dưới một năm.

Cô Hai Lớn, 23 tuổi nhà ở Xóm Ràng xã Trung Lập, chồng là Hai Huyền chết trong trận Bàu Dưng.

Cô Hai Chân, một con, xóm Trung Hưng, chồng là biệt động thành F100 chết trong trận Mậu Thân.

Đau đớn nhất là vợ ông Chín Câu – phó chính trị viên D -, cậu của Bảy Mô, tập kết về gặp vợ (đã ba con, thêm một thằng cu nữa) nhưng lại bị pháo bắn chết ngay sân nhà.

Cô Ba Lóng có chồng là Ba Hỹ bị biệt kích Lệnh bắn chết trong nhà năm 66.

Ba Bảnh, hai con, bán quán ở Sa Nhỏ chồng bị Mỹ bắt.

Út Siêng, hai con, ở Đồng Lớn chồng bị bắt, sau đụng ông chính trị viên D Đoàn Tâm trong lúc ở Xóm Thuốc.

Cái gáo Hai Hương đã sút cán từ lâu, bỏ trống nhưng không có “cán” mới tra vào.

Hai Cảnh có chồng ở công trường 9 chết mất tích.

Vợ Bảy Sơn và vợ Hai Khứ âm thầm chia buồn với nhau. Bảy Sơn xã đội trưởng Phước Hiệp chết trận ở Suối Cụt năm 68. Hai Khứ lên thay chết năm 69 vì lính E69 sư đoàn 5 khui hầm bắn chết trong lúc Hai Định, ấp đội trưởng Vườn Trầu bị Mỹ bắn chết năm 68 bỏ lại vợ và một bầy con

Thằng Ngọc, 20 tuổi, chết ở Tua Đồng Chùa bỏ vợ chưa cưới, là anh ruột của Lan đầu quăn. Ngọc có lần đèo xe đạp cho tôi đến Suối Cụt (ghé nhà ăn giỗ )

Cô Tư Lan, người yêu của “dũng sĩ” Năm Cội chết không rõ nguyên do năm 1966. Cội chết 67.

Hai Lắm – B phó C3 Dl – chết trận ở Suối Cụt năm 67 bỏ vợ hưởng tuần trăng mật một mình.

Năm Lê gốc ở Xóm Chùa xã Tân An Hợi, C trưởng C3 D7 chết ở Rừng Tre năm 68, bỏ lại một vợ một con. Tuy vậy cũng còn “vinh quang” hơn ! Thà là chết ở chiến trường còn hơn chết ở trên giường thê nhi như câu hò lơ trong kháng chiến. Ông Mười Thương chính trị viên xã đội Tân Phú Trung đi về thăm vợ là Tư Nguyễn ở xóm Cỏ Ống xã Lộc Hưng dẫm phải lựu đạn gài của đồng chí ta mà phèo ruột.

Út Hùng B trưởng thông tin chết chồng. Bảy Kỉnh chết năm 68. Ba Xưa có chồng là B trưởng trinh sát chết tại Rừng Làng. Cùng hàng B trưởng của Dl tôi có Ba Quyết, anh của nàng út Quắn ở xóm Dân Hàn. Quyết ra trận rất gan dạ. Vào trận Tân Quy bị bắn vỡ sọ ngay phút đầu khai chiến bỏ vợ và con trai ba tuổi. Nàng tái giá với Sáu Cương, vui duyên với ông C phó này được ngót một năm thì ông lại chết trong một chuyến về thăm vợ.

Cô Mỹ Linh, 20 tuổi ở Bến Cỏ, có chồng đi công trường 9 biệt tích.

Đau đớn nhất là chị Út Lan, chồng là Bảy No, D trưởng D7. Chị mới 21 tuổi rất đẹp, chưa có con, bị cấp trên ghen ghét nên điều anh ra Rừng Sát bỏ vợ phòng không. Anh bị giang thuyền bắn chết trên sông Lòng Tào năm 67.

Nhưng chưa đau khổ bằng Tư Nhựt và Sáu Thưa D trưởng Dl (tôi là tham mưu trưởng). Hai anh em cột chèo chết hết để hai chị em ruột nhỏ lệ canh chầy khóc phu quân bất tái lai vào lúc nửa chừng xuân thắm. Tư Nhựt bị bọn đầu bò phong chức E trưởng và phóng vào Sài Gòn, còn Sáu Thưa bị biệt kích bắn chết ở Bến Chùa.

Vợ Năm Thơm C trưởng và vợ thằng Mẫm C phó cùng chịu tang một lúc vì hai đức lang quân chết cùng một loạt FM ở trận Vườn Trầu.

Độc giả chịu khó đọc thêm một giờ đồng hồ nữa. Trí nhớ của tôi còn khá, tôi cố gắng ghi lại giùm cho bọn vô ơn Việt Cộng, kẻo chúng cho đám tử sĩ này vô một “túi mất tích” không thèm gửi giấy báo tử cho gia đình vợ con họ

Kẻ sợ pháo nhất thế giới là ông huyện đội trường Tám Giò, nhưng oái oăm thay ông lại chết vì một trái pháo lẻ (còn gọi là pháo mồ côi), nghĩa là chỉ bắn có một trái mà trúng ngay ông ta, ở Bố Heo xã Lộc Hưng. ông bỏ lại vợ và một bầy còn. Còn ông bí thư quận ủy là Một Sơn (tự là ông Thợ Thiến vì ông bí thư là cùng nghề với đồng chí tổng bí đao ngày nay), lại bị xe tăng đào hầm đánh chất nổ. Không nhớ anh đi trước hay em.

Trong các bà góa có một bà lớn… nhất. Đó là Út Lịa, chồng làm tới trung đoàn trưởng, nhưng mà bom đạn nào có nể ai. Ông quan năm đầu bò phơi xác ở trận Rừng Tre trong một cuộc ác chiến với Mỹ. Mỹ đâu có gà tồ phải không ông? Đến đại tướng kỳ lô nó còn chơi gục nữa là cỡ nhép như ông!

Sáu Uya (cái tên Huế kỳ quặc) chính trị viên D D8 chết năm 68. Ông quan năm chết ông quan tư cũng nối gót theo sau. Đó là Năm Thủ (người thay tôi chỉ huy H6), một anh chàng gan phủ mình, dám sô lô một mình một quả bom đìaAn Phú

Buồn tình nhất là Tám Lệ, một thằng bạn thân thiết của tôi ở Hà Nội. Về Nam, cưới vợ đẹp, giàu, có xe Peugeot cỡi nhong nhong khắp Phú Hòa Đông . Hắn đẹp trai như tài tử xi nê ma. Trước khi vào Mậu Thân ở trên phong chức hắn phó chánh ủy trung đoàn Mũi Nhọn do Tư Nhựt làm E trưởng. Cả hai cùng bị nướng ròn. Lệ bỏ vợ đẹp con ngoan: không biết có đồng chí cán nhớn nào “giúp đỡ” hay không ?

Năm 68 là năm Lửa Thiêu đám giặc Đỏ. Quan năm, quan sáu chết lổm nhổm. Tư Quân- E trướng E268- chết ở Bàu Tre. Vợ Năm Re có đến nhưng mả nhiều quá mà không có mộ bia không biết mộ chồng, nên khóc giọt nước mắt quốc tế ca rồi trở về. Vậy cũng trọn nghĩa tào khương.

Quan lính chết nhiều đã đành, đám xã đội cũng góp phần không nhỏ. Ở trên độc giả thấy dăm bảy trự, sau đây một số khác, tôi suýt quên. Sau Tám Giò huyện đội, đến Hai Khứ, bây giờ đến Ba Coi xã đội trưởng Nhuận Đúc, Năm E thay Tám Giò, đến Bảy Đạo, Ba Cà, Ba Lá quận ủy viên, Hai Đời bí thư xã Trung Lập, Tư Mạnh trợ lý tham mưu quận (biết quái gì mà tham mưu). Đám quận đội và quận ủy chết sạch. Sau này phải chia Củ Chi làm hai: Nam Chi và Bắc Chi.

Chị út, vợ của út Đầu Đỏ (tên thật lạ) quản lý D7 Củ Chi bị Mỹ bắt ở Xóm Trại Giàn Bầu. Kế đó là nàng Út Hương (chúng tôi gọi là ốc Hương) vợ Hai Khởi tham mưu quận đội, sau lên D trưởng của D268. Khởi cấy rau muống ở ngã tư Quán Giắt, Thanh Hóa. Về trong này thím xực thêm nàng ốc nên bị khai trừ đảng nhưng chàng không nao núng, chỉ sợ Mỹ xơi tái thôi. Mà thật, sợ cũng không khỏi. Khởi bị khui hầm năm 69.

Vợ Năm Cao ở Ba Cụm. Cao là C phó C3 D1 của tôi. Cao chết năm 66 ở Cỏ Ống xã Lộc Hưng. Đến đây tôi đã kể được 64 sự tích “vọng phu Củ Chi”, xin rán kể đến chẵn một trăm thì ngưng.

Vợ Út Sương ở ấp chiến lược Cây Bài, Sương là C trưởng, sau vì ban chỉ huy D khuyết được đề bạt là phó chính trị viên D, chết năm 68.

Vợ Năm Thơi ở Trảng Cỏ, Thơi là D trưởng D2 E Quyết Thắng chết năm 67 ở Bàu Lách.

Vợ Ba Nhẫn ở Trung Hưng, Nhẫn là D trưởng E Quyết Thắng chết năm 67 ở An Nhơn Tây. Nhẫn có vợ con ở Trung Hưng nhưng còn quơ con bé Trang (con gái Hai Tràng ở Gót Chàng). Sở dĩ hắn xơi tái được cô bé này là vì hai đứa thường trốn chung hầm bí mật ở Gò Đình. Hắn già rơ nên bỏ ngón hoài, con nhỏ chịu hết nổi đành xuôi tay cho chàng nuốt. Một bữa Mỹ ruồng, con nhỏ xuống hầm không được vì cái bụng to chừng đó má nó mới hay, thì sự đã rồi. Nhẫn chết lãng nhách. Lần đó hắn kéo tiểu đoàn về An Nhơn, Mỹ càn vừa rút, hắn cùng một C trưởng, một quản lý đi moi tìm đồ hộp. Chẳng ngờ bị lựu đạn nổ chết cả ba. Đó là cú phục hậu của du kích An Nhơn đối với hắn, kẻ đã cậy quyền ỷ thế quơ mất cây nhà lá vườn của bọn địa phương. Thời kỳ này tôi làm E phó kiêm tham mưu trưởng.

Vợ Tám Thôn. Thôn là phó chính trị viên D đặc công của Gia Định 4, chết năm 69 ở Gò Đình xã Nhuận Đức.

Vợ Út Xiềng ở bến Chùa xã Thành An. Xiềng là C phó chết ở Bàu Lách năm 67.

Vợ Sáu Ly ở Bàu Trâu xã Phước Thành, Ly là C phó chết năm 68.

Vợ thằng Quảng du kích Trung Hưng xã Trung Lập, chết năm 66.

Vợ Tư Linh (người Hà Nội), Linh bạn tôi, trưởng ban binh vận khu bị bắt 69.

Vợ Ba Thụy ở Thủ Đức, Thụy trưởng ban đặc công H11 phân khu 1, bị Mỹ khui hầm bắt năm 69 ở Gò Nổi.

Vợ Năm Thêm ở Sài Gòn. Thêm cấp bậc đại úy E Mũi Nhọn chết năm 68.

Vợ Sáu Nam ở Trảng Cỏ xã Đôn Thuận , Nam phó chính trị viên E368 bị pháo chết ở Sa Nhỏ.

Vợ Sáu Đồng ở An Phú, Đồng C trưởng C4 D7 chết năm 68 trận phá vây Vườn Trầu.

Vợ Năm Rỗ xã Phước Hiệp, Rỗ là xã đội trưởng (thay cho Hai Khứ) mới cưới vợ xong, ẵm vợ không ẵm lại ôm cà nông 155.

Vợ Bảy Điếc, Điếc bí thư xã Phước Hiệp bị Mỹ bắn chết năm 68.

Vợ Tám Thế, Thế vốn là C trưởng C3 D7 về làm quận đội phó Nam Chi bị bắn chết 68.

Vợ Út Thành, Thành quận trưởng Nam Chi, Thành theo gót Năm E, sau này tới tên Năm Ngó làm quận đội trưởng.

Chín Nữa, có vợ là cô giáo, là dượng của tôi. Ông là C trưởng C trinh sát Quân Khu bị xe tăng bắn chết dưới hầm cùng năm đội viên trinh sát ở Bàu Lách, bỏ vợ và hai con, trai 10 tuổi, gái 7 tuổi.

Mười Long, trợ lý D Quyết Thắng, mới cưới vợ là cô Nguyệt cứu thương, chết năm 68 ở Hóc Môn. Nguyệt là con nuôi của “hạm” Năm Lê (sẽ kể tiếp).

Sáu Lễ phó ban Quân Khu chết ở Bàu Nổ xã Thành An năm 68.

Cô Sáu Niêm (chị của Bảy Lội) có chồng là đặc công F100 chết 68.

Ba Xây xã đội trường An Nhơn Tây bị bắt sống năm 66 bỏ vợ và một bầy con.

Huỳnh Thành Đồng, tham mưu phó Quân Khu chết lãng nhách ở Trung An vì thằng Châu Mèo Đái, có vợ ở Bến Tre, chưa có con.

Cô Hai Việt, nhà ở xóm Cỏ Ống, chồng đi công trường 9 chết ở Bình Long.

Vợ Bảy Theo ở Phú Hòa Đông, Theo là C phó chết ở Rừng Tre năm 68.

Cô Thu và Ba Quản Lý (hai vợ chồng đã cứu tôi dưới địa ở H6) chết vì một trái pháo Đồng Dù lúc cô Thu đang có thai năm 66.

Vợ chồng thằng Út và con gái nhân viên sản xuất của H6 chết dưới hầm năm 66.

Độc giả thân mến! Tôi xin kể tiếp mười trường hợp nữa cho chẵn một trăm.

Vợ Sáu Gấm, Gấm là cán bộ phòng chính trị Quân Khu chết năm 66 ở Đồng Cà Tông, Dầu Tiếng vì B52.

Vợ Sáu Mành và Hai Bi, Mành và Bi bị cá rô rỉa năm 65 cùng một lúc.

Vợ chồng Bảy Phúc, quân y sĩ, bị Mỹ bắn chết năm 66 tại Rừng Làng.

Út Đức, trợ lý tham mưu quận về thăm vợ ở Tân Thành Đông bị lính bót bắn chết năm 66.

Vợ Năm Nhân ở xóm Cây Dương xã An Tịnh, Nhân là quận đội trướng quận Trảng Bàng bị bắn chết năm 67.

Trường, quận đội trường Trảng Bàng bị mìn nổ chết năm 69 (không rõ Trường quê quán ở đâu).

Sau đây là ba trường hợp đặc biệt: Hai tên to đầu nhất Quân Khu, nói rõ hơn là toàn Bộ Tư Lệnh Quân Khu chết chung một lỗ trên đường về nhậm chức gì đó chánh phủ ma của Huỳnh Tấn Phát.

Trần Đình Xu, tự Ba Xu, tự Ba Dính, tư lệnh Quân Khu IV Việt Cộng.

Nguyễn Xuân Trường tự Tư Trường, không biết tí nào quân sự, chính ủy Quân Khu. Cả hai đạp trúng bãi mìn. Cả đoàn tùy tùng gồm hai mươi người đều tan xác, không nhặt được một miếng thịt.

Nhưng trường hợp sau đây mới là đặc biệt nhất: Anh chàng Tám Lùn, đội trưởng đội liên lạc hỏa tốc của quận Nam Chi. Anh ta bị lính trong tua Cầu Rạch Láng The bắn văng mất “cây súng ngắn K54 và hai viên đạn”. Anh ta không chết, vợ anh ta không góa chồng. Nhưng đối với vợ anh ta thì anh ta có khác gì đã chết. Còn chị Tám không góa chồng có khác gì góa chồng?

Trường hợp thứ một trăm này thật khó phân xử. Không biết có nên xếp chị Tám vào chung với đội Vọng Phu Củ Chi hay không? Xin độc giả cho biết tôn ý. Và còn rất nhiều, nhiều lắm, nếu kể ra phải nguyên một quyển.

Cán bộ chết sạch đến nỗi phải đưa một cô bé nấu bếp không biết bắn súng lên làm quận đội phó. Đó là cô Bảy Phán từng nấu cơm cho Tám Giò. Một cậu thanh niên mới vô đảng là Mười Nguyên, lên làm bí thư quận ủy. Cậu chiến sĩ bị trúng thương ở trận Gò Nổi, bị Năm Tiều hăm bắn bỏ (tên là Cao Hoài Nở) được đưa lên làm trưởng ban chính trị trung đoàn. Bộ Tư Lệnh Quân Khu chỉ còn có Hai Phón (tức Trần Hải Phụng) nhờ trốn ở Cao Miên nên mới sống sót.

Tôi viết chương này để mọi người thấy sự hy sinh dã man dân miền Nam của bọn Hà Nội, nhằm đạt kỳ được tham vọng của chúng. “Chúng mày chết bao nhiêu mặc kệ để đón bác Hồ dzô!” Và miễn trong những xác chết thê thảm đó không có cái nào là con cháu vợ chồng, ông nội ông ngoại của bọn thằng Duẩn, thằng Chinh, thằng Giáp… thì chúng mày tha hồ đi vô nghĩa địa Giải Phóng Miền Nam.

Chương 82

Mất đất, mất dân, mất mạng và mất tinh thần.



Sau khi duyệt qua đạo quân đầu tóc Củ Chi, xin mời các bạn trở lại chiến trường Củ Chi. Từ khi ông tư lệnh Ba Xu chết hụt dưới hầm của cô xã đội phó, D1 Quyết Thắng của tôi càng ngày càng tổn thất. Nhưng sự tổn thất nặng nề nhất là mất đất. Nói rõ ra là không còn chỗ đóng quân. Dù giữ bí mật đến đâu cũng không dám ơ lại ba ngày. Bom, pháo, xe tăng, B52 đến liền liền. Trước đây ba ngày một tiệc nhỏ, bảy ngày một tiệc lớn, bây giờ ngày nào cũng có tiệc… máu. Nếu dân đi hết ra ấp chiến lược mà vườn ruộng còn nguyên thì chúng tôi vẫn sống khoẻ ru, đằng này dân đi mà đất đai cũng mất. Cuối cùng là mất tinh thần và mất tin tưởng.

Qua hai cuộc càn vĩ đại Cedar Falls và Manhattan, sư đoàn 25 Mỹ (Chớp Nhiệt Đới) chỉ mới khai quang từ rạch Thai Thai (tức Bến Được) thuộc xã Phú Mỹ Hưng tới xã Nhuận Dức (quê hương của Năm Cội) và xã Phú Hòa Đông biến khu vực này thành vùng tử địa không còn dân cư. Thời gian đó tình hình của Củ Chi hãy còn kha khá, nhưng bây giờ, cuối năm 67 (sắp vào Mậu Thân), thì tình hình rất tồi tệ. Mỹ đã đánh lên tới bắc Lộ 6 tức vùng Trảng Cỏ, Bời Lời.

Còn bên kia sông Sài Gòn thì sư đoàn 1 (Anh Cả Đỏ) kẹp Bộ Tư Lệnh Quân Khu 1 trong hai quận Bến Cát, Dầu Tiếng. Mỹ từ Dầu tiếng đánh xuống, từ Bưng Còng đánh lên và từ sông Thị Tính đổ qua bằng mọi thứ chiến thuật, xe tăng càn ủi, thả biệt kích, cụm quân ở Rạch Kiến hoặc Bưng Còng, có khi một cuộc càn quét kéo liên miên hàng tháng liền trên vùng đất Thanh Tuyền làm cho Bộ Tư Lệnh Quân Khu IV như một bầy chuột bị cháy đồng.

Trước kia Quân Khu gồm bảy tỉnh, đất đai quá rộng lớn, một Bộ Tư Lệnh không chỉ huy nổi. Liên lạc chậm trễ còn hơn thời vua Minh Mạng. Ngày xưa chạy ngựa nhưng không bị bom pháo chọn đường, còn bây giờ “ra ngõ đụng bom”, cho nên Quân Khu phải chia thành năm Phân Khu. Phân Khu 1 gồm các quận Củ Chi, Trảng Bàng, Bến Cát, Dầu Tiếng, Gò Vấp, Hóc Môn và phần đất nội thành Sài Gòn gồm cả từ quốc lộ 1 đi xuống. Phân Khu 5 nằm phía bên kia sông Sài Gòn dọc theo quốc lộ 13 bao gồm Thủ Đức, Dĩ An, Lái Thiêu, Nhơn Trạch. Phân Khu 4 là địa phận Rừng Sát, do tên lẻo mép Tám Quang về làm chánh ủy.

Chúng tôi vẫn còn ở nguyên đất cũ dưới quyền ông Năm Lê, nay được đề bạt phó tư lệnh kiêm tham mưu trướng. Trước kia ông thụt trong hầm Đờ Cát Tri ở trại Bà Huệ (nhà của xã đội trướng Ba Xây bị bắt trong cuộc càn Cedar Falls), bây giờ ông phải vọt qua sông cùng với đám bầu cua của ông với các cô con cháu nuôi, trừ Tám Nghi và cô Hiền bị moi hầm bắt sống.

Bây giờ tình hình cấp bách và “chết như nháy mắt” không còn có thể nhởn nhơ nhậu nhẹt thành lập hội ve chai chống Mỹ như năm ngoái. Làm việc gì cũng như giật chạy, kể cả làm tình. Chỉ dăm ba câu nhiệt đới, hôn nhanh hít chớp chứ không có ở đó tình ca liên khúc mùi mẫn được.

Nếu ngày xưa trong Cải Cách Ruộng Đất, đảng ta hô to khẩu hiệu tiếu: “Tựa hẳn vào giai cấp bần cô nông, đoàn kết với trung nông lớp dưới, lôi kéo trung nông lớp trên, cô lập phú nông và tiêu diệt địa chủ” (một đảng do những thằng ngu đứng đầu, ngày nay còn sót lại một thằng thợ thiến heo làm tổng bí thư) thì ngày nay ở cái đất Củ Chi này, chúng tôi cũng phỏng theo đường lối của đảng mà nêu lên khẩu hiệu “Tựa hẳn vào gạo để nấu cháo húp, đoàn kết cá mòi hộp, lôi kéo đậu phộng kho, cô lập thịt heo thịt bò, ra sức tìm thịt rừng và triệt để khai thác đồ hộp Mỹ vứt lại sau các cuộc ruồng”.

Ban đêm các cơ quan phải đi tìm gạo mà mua lấy của dân vì ông Bảy Hốt, tổng cuộc lúa gạo Quân Khu đã bị Mỹ hốt, con đường vận tải gạo qua sông Sài Gòn bị giang thuyền chặt đứt, may lắm một tháng mới có một chuyến, nhưng gạo chỉ để các ông lớn xơi chớ đâu tới đám cò con. Cơ quan nào cũng tự tổ chức lấy những chuyến vượt sông qua Củ Chi đến các vùng quen cũ như Sa Nhỏ, Trung Hòa, Cỏ Ống v.v… để làm những cú vét và lén lút tha về ổ giữa đêm. Nhiều cô gái không biết bơi cũng phải buộc phao ni lông thả xuống sông, đeo chắc rồi nhờ các chàng trai lôi qua. Để đền ơn đáp nghĩa, các cô phải bù lại bằng nọ kia…

Nhiều khi không may, bơi qua mới nửa sông lại đụng giang thuyền. Thế là làm ma đói. Nếu thoát khỏi giang thuyền thì trên đường cõng gạo về lại gặp biệt kích, bộ binh, Mỹ cụm, hoặc pháo, hơn nữa, lãnh dưa hấu bầy. Thời buổi này B52 như cơm bữa. Ban ngày ban đêm gì đất đai cũng gồng mình hứng dưa hấu, đất rung khe khẽ xa xa hoặc đất sàng như sấp sụp dưới chân là chuyện không phải khó tìm chung quanh đồn điền Michelin dài xuống đồng Cà Tông, qua Long Nguyên, Bà Tứ v.v… Vì lẽ đó mà ở Hà Nội có cái đám ma lén lút của ông đại tướng và một cái hòm chôn không có xác và có một ông đại tướng khác thay vì khóc lại cười vì nhờ ai mà địch thủ của ông ta vắng mặt trên cõi đời này, nhất là trong các hội nghị của Bộ Chính Trị.

Hẳn ta từ Hà Nội đi máy bay vô Nam Vang. Ngồi trực thăng xuống Mi Nốt, đi theo con đường đạo chích vô đất R. Và từ R xuống Long Nguyên kiểm tra công tác chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân. Cái hầm của hắn trú ẩn còn kiên cố hơn cả hầm của Đờ Cát mà trước kia hắn chỉ huy cuộc tấn công ở Điện Biên. Cái hầm Đờ Cát do máy móc đào và xây cất. Còn cái hầm của hắn do một trung đoàn công binh (do Tư Cường chỉ huy) kiến thiết, có thể chống cả bom B52. Thật vậy, B52 rắc bom gần đó, hầm không hề hấn gì. Chờ khi ngài đại tướng (cướp) ló đâu ra khỏi miệng hầm thì búa sấm sét của Thiên Lôi mới giáng xuống ngay sọ. Hắn chết không kịp nói một tiếng. Quả thật hoàng thiên đoản mạng tên gian hùng.

Ở ngoài Hà Nội, trước khi Hồ chủ tiệm á khẩu vì nghe tin thảm bại Mậu Thân, “người” đã kêu vợ “chú nó” tới ăn cơm tối với bác gọi là đền đáp cho sự hy sinh đức lang quân mẹ đĩ trong lúc báo Nhân Dân báo tin rằng tên cướp chết ở viện 108 (tức bệnh viện Đồn Thủy cũ) vì đứt mạch máu.

Trong tình hình sôi bỏng này, Sáu Đoàn Tâm- chính trị viên quê D đi Quân Khu mang chỉ thị về. Hắn trình bày cho tôi và Tư Nhựt nghe. Hắn nói lòng vòng làm cho tôi sốt ruột, quát:

– Đồng chí nói thẳng cho chúng tôi biết ý đồ ở trên là gì?

Hắn cười nhăn răng như khỉ ăn bần:

– Thì cứ xốc tới ! Nắm thất lưng Mỹ mà đánh!

– Xì! Chuyện đó xưa rồi! – Tư Nhút ngoách ra nói với giọng bất mãn.

Sáu Đoàn Tâm tiếp ngay:

– Nhưng qua các trận Cây Trắc, Bàu Trâu , Lộ 6 v.v.. mình đều thấy đâu dễ gì nắm thắt lưng “Anh Cả Đỏ” ! Nếu cứ tập trung D mà đánh thì thất bại.

Tư Nhựt nói như than thở:

– Quân số của mình hao hụt nặng quá. Sau các trận Dầu Bà, Rừng Tre, Cầu Xe, Trảng Cỏ ở trên chỉ thị bổ sung cho mình có chục rưỡi lính cò mửa thì làm sao? Lính bị thương hơn hai phần ba không phải vì chiến đấu mà vì bom pháo trực thăng. Hằng ngày các đại đội báo cáo quân số, đều ở trong tình trạng súng thừa lính thiếu. Năm ngoái CKC không đủ cho lính cầm. Còn năm nay đến AK mà cũng dư, không có người cầm. Tệ hơn nữa loại trung liên dĩa của Liên Xô mà phải chôn, vì loại này cần đến hai người tiếp đạn. Nay mình chỉ còn xài có RPD vì nó chỉ cần có một xạ thủ chính và một xạ thủ phụ kiêm tiếp đạn thôi. Tôi đành phải chấp thuận cho họ chôn bớt chớ làm cách nào khác được.

Những điều Tư Nhựt than thở tôi đều biết cả. Làm tham mưu trưởng mà không biết cái tình trạng đó thì còn biết cái gì nữa. Tôi đau lòng lắm. Mỗi khi cho chôn một khẩu súng thì chẳng khác nào chôn một chiến thương. Chôn sống! Đúng vậy. Chôn súng là chôn sống chứ còn gì nữa. Chỉ có bọn Hà Nội mới không biết nên cứ hò hét: thừa thắng xông lên. Có thắng đâu mà thừa!

Càng ngày càng phải chôn thêm súng phóng lựu (trom blom), mìn, chỉ trừ B40 là còn giữ lại. Nếu chôn cả loại này nữa thì lính chỉ còn trên răng dưới dế gặp xe tăng chỉ còn cắn nó thôi.

Tôi nói đỡ vớt:

– Mình còn D7 của Bảy Nô cũng có bạn!

Tư Nhựt chửi thề rùm trời và bảo:

– Thằng cha đó mắc con vợ bà chằng không dám ra trận. Thầy không nhớ lần mình rủ nó đánh trận Bàu Đúng, nó đồng ý rồi sau chạy rót sao? Còn D2 của Ba Thụy thì ém lút ở Gò Môn (Gò Vấp – Hóc Môn) phân tán ra thành du kích. Lính tráng trở thành lại cái hết rồi đánh đá gì ! Nay chỉ còn có D1 mình với Q16 thôi, nhưng Q16 là lính Bắc vô đây không xoay trở như mình được. Thầy không nhớ trận Bàu Trâu họ phối hợp với mình mà rút chạy trước, đến chừng kiểm thảo toàn trận, thằng Ba Đức của mình nổi nóng đập lộn với họ hay sao? Đó là đơn vị anh hùng Điện Biên mà còn vậy, huống gì ba thằng du kích mình lôi đầu lên cho cầm súng AK trong đơn.vị.

Sáu Đoàn Tâm sợ Tư Nhựt nổi khùng bới móc thêm mà lở lói cái danh hiệu anh hùng Điện Biên nên móc túi lấy ra một tờ giấy quyết định của khu cho tôi về làm trưởng ban chính trị quận đội Củ Chi và đồng chí Tư Nhựt đi dự đại hội thi đua R, và các đồng chí Út Đức, Hai Mạnh cũng có quyết định thuyên chuyển.

Tôi ngồi chết trân.

Tình hình này mà mất một số cán bộ như vậy thì còn làm ăn gì được nữa!

Đoàn Tâm mỉa mai tôi:

– Tôi nghe cấp trên chuẩn bị thành lập trung đoàn và giao cho “thầy” chỉ huy đó!

Tôi suýt xài nho “con cặc” nhưng tốp kịp. Đụ mẹ, tiểu đoàn chỉ cỏn hơn 150 lính mà nói chuyện thành lập trung đoàn, chắc bắt mấy gốc cao su cầm súng?

Tôi biết trong ruột Đoàn Tâm. Từ ngày nguập với bà Út Siêng thì tìm cách xin ra khỏi ban chỉ huy D. Út Siêng là bí thư xã Trung Lập, lại là em út của các bà Năm Đang, Hai Xót, đang có chân trong khu ủy lại cho các anh vái lỗ tai thì xin gì mà chả gật. Thế nên cuối cùng một thằng chính trị viên D của quận đội lại ra làm trưởng ban chính trị quận đội với lý do là “đau dạ dày”!

Tôi biết cả, nhưng không thèm nói ra. Hắn ra khỏi D, tôi và Tư Nhựt càng dễ làm việc và lính càng khoái. Hắn chế tôi, tôi cũng đâu cớ chịu im. Tôi nói:

– Nay mai, đội dũng sĩ diệt Mỹ toàn miền thành lập, sẽ mời đồng chí về làm chánh ủy đó đồng chí à !

Tư Nhựt nói công khai:

– Nếu chọn chiến sĩ thi đua thì thầy Hai xứng đáng hơn tôi. Vậy tôi đề nghị ở trên xét lại.

Tôi đã ớn ba cái danh hiệu anh hùng, chiến sĩ thi đua này từ ngoài Bắc kia, cây kim bỏ vô hộp quẹt cũng báo công chấm điểm.

Tôi cũng đã từng đeo bông hồng to tổ bố cấp sư đoàn, rồi về R làm anh hùng phá sân bay Biên Hòa, nay không ham nữa nên nói:

– Anh nên đi đi anh Tư à. Ở trên sáng suốt chỉ định anh là đúng đó. Anh đã chiến đấu bảy năm qua trên đất Củ Chi này rồi, còn tôi chân ướt chân ráo mới có ba năm.

Tư Nhựt ngắt lời:

– Ba thì ba, nhưng công lao huấn luyện, tác chiến, tham mưu, tổ chức của thầy ở D1 này là số một, tôi không bì kịp đâu. Tôi là D trưởng nhưng có biết mẹ gì công tác quân sự, chỉ đánh càn ăn may thôi. Thằng lơ xe đò này nay có khả năng ít nhiều chỉ huy D1 là nhờ thầy nhiều lắm. Tôi mà đại diện Quân Khu đi R thì tôi mắc cở với anh em cán bộ A, B, C và lính lắm.

Tôi nhất quyết gạt ngang:

– Anh làm anh hùng thì đó là danh dự cho D1, mỗi đứa góp cho anh một chút và anh là tiêu biểu cho D mình. Anh đừng từ chối nữa.

Tư Nhựt không có học trường nào nhưng rất thông minh và gan dạ, lại gương mẫu không lem nhem bất cứ thứ gì. Nhiều lần giữa đêm thanh vắng y tâm sự với tôi và gọi tôi bằng thầy. Tôi bảo đừng xưng hô như thế anh em cán bộ không đồng ý. Y bảo:“Thử hỏi thầy không đáng tôi gọi bằng thầy hay sao? Thằng nào dám thắc mắc?”

Một con người như vậy mà bị cấp trên đút vô lò lửa Mậu Thân đành đoạn. Đi dự đại hội về, Tư Nhựt được phong làm trung đoàn trưởng trung đoàn mũi nhọn của Quân Khu (cũng là của R) đánh vào Sàigòn. Thử hỏi sống sao nổi? (sẽ kể sau). Chính tôi làm báo công (tôi biết cách) cho Tư Nhựt mang đi R. Làm xong, tôi đọc cho y nghe. Y ôm tôi khóc ròng. Nhựt là lơ xe đò, học ít, càng không biết khoa học quân sự. Không biết ai đưa Nhựt lên làm tiểu đoàn trưởng ngang xương nắm sinh mạng cả mấy trăm chiến sĩ. Khi tôi về làm D phó kiêm tham mưu trưởng, Nhựt hơi gờm tôi, sợ tôi vượt hơn y. Nhưng công tác một thời gian, y mếntôi và thú thật, tôn tôi lên làm thầy. Tôi thật tình không dám nhận. Khi ở trên kêu bầu chiến sĩ thi đua, y đề cử tôi, nhưng tôi từ chối và đề cử ngược lại và làm báo công cho y. Y nói:

– Tôi chưa từng thấy ai cao thượng như thầy đó, thầy Hai. Ở cái xứ này người ta toàn tranh công và dẫm lên đầu nhau để lên chức, chứ không ai như thầy tự hạ mình xuống để nâng bạn mình lên.

Y biết những trận nào do ý kiến của ai mà thắng, nay trong báo công đều bồi cho y. Tôi hiểu con người thành thật của Tư Nhựt nên không nói nhiều:

– Anh cứ yên tâm! Chúng ta là một! Thành tích của tôi là của anh, anh Tư à!

Tư Nhựt đi xong, tôi dắt tiểu đoàn sang đất Trảng Bàng để mong tìm thấy một vài ngày an bình mà chấn chỉnh tổ chức. Một mặt tôi cho người về kiến trúc căn cứ ở Rừng Tre, Lộc Thuận. Cái việc bị xe tăng Đồng Dù đẩy lên tận Trảng Cỏ, Sóc Lào, Bà Nhã chỉ còn là thời gian. Xe tăng hằng ngày thọc lên tận Hố Bò, rề xuống An Nhơn coi như chỗ không người. Chúng đã ủi láng hết rừng rú từ Cổng Bông Giấy vô tận Bàu Đưng, quân y của Tư Chuyền đã bỏ Hố Bò vọt lên Lộc Thuận hay Rừng Tre gì đói tôi không còn liên lạc. Mạnh ai nấy tìm đường sống.

Chạy qua đất Tây Ninh để tựa lưng hai thằng Năm Sơn và Chín Hung D14, nhưng sang đây lại gặp Ba Tới kêu giọng ve sầu:

– Cho ở đậu đất nhưng không phát gạo đâu nhé. Tụi này cũng đang lâm nguy. Tụi Mỹ đánh liên miên. Ban ngày chưa đủ, nó còn tranh thủ ban đêm.

Hắn cười nhe bộ răng xếu xáo trông càng bi quan:

– D14 của tao (ông ta lớn hơn tôi chừng một con giáp dân kháng chiến chín năm) bị sát nhập vô E268 rồi, đâu còn phối hợp với mày. Riêng tao bị thiến nửa cái bao tử, ngày ăn có một chén cơm!

– E268 ở chỗ nào?

– Ở ngoải vô. E này cũng anh hùng Đê Bê (Điện Biên) thuộc nòi 308.

– Thôi đi ông nội, Q16 cũng anh hùng Đê Bê nhưng chán lắm. Ở trên cho tôi một cán bộ làm D phó là Năm Triêm. Ông này cũng là dân kháng chiến hai mùa hết xí quách rồi, lại vừa vượt Trường Sơn vô tới, mặt mày vàng lườm như nghệ. Nếu đụng một trận với Mỹ là bành tô ngay.

Tôi hiểu tâm lý nên cho anh đi móc vợ vô sum họp để rửa chân leo bàn thờ nay mai không gặp mặt. Thật vậy, mười năm, bà chỉ đã ăn trầu, trở thành mẹ chiến sĩ. Còn Năm Triêm chỉ đánh có vài trận là vô nhị tỳ.

Tôi cho D bố trí thành thế phòng ngự vòng tròn. C1 giữ mặt đồng ruộng Lộc Thuận, ngó qua Sa Nhỏ và Cỏ Ống; C2 giữ mặt Cầu Xe và Lộ 6; C3 ngó qua Ba Cụm; C4 giữ phía sau đường 15 và Bùng Binh, còn quân y, trinh sát, liên lạc văn phòng ở giữa rún.

Phân Khu bổ xuống 80 tân binh miền Bắc, cho D khác nào đó húp cháo loãng. Nghỉ dường quân nhưng nào có nghỉ dưỡng được ngày nào. Mỹ đuổi theo, chúng tôi phải nghinh chiến, bắn cháy ba xe tăng, trực thăng tới đánh luôn tại Trảng Dầu. Chúng bắn hỏa tiễn. Chợ Suối Sâu gồm phố xá sầm uất, nhà máy xay lúa, tất cả cháy rực trời. Đồng bào chửi cha giải phóng báo đời.

Kéo về Bà Nhả, bị dân đuổi đi không cho đóng quân, không bán gạo. Không kể tình cá nước mẹ gì ráo trọi. Chúng tôi ở ngoài rừng không có nước nhưng không dám vô xóm xin sợ lộ bí mật, gặp Phượng Hoàng kêu Mỹ tới là chết cháy, nên đi tìm đầm hoặc suối trong rừng thời may gặp một cái giếng lạng, thò đầu xuống thấy lấp loáng trắng nhưng sâu lắm. Tôi cho trinh sát tuột xuống xem xét. Trời ơi! Đó là xương người. Xương của Cao Đài, hồi 45 các ông nội Tô Ký và Hai Bứa giết họ ném xác xuống đây. Quả báo! Bây giờ lính các ngài tới, có nước mà không dám uống.

Nhờ có thằng Đức, C trưởng C2, là dân Trảng Bàng thuộc xóm làng nên dắt đi tìm dân gặp Tám Bụng, làm xã đội trưởng không nhớ là xã nào. Bụng là em ruột của Năm No, E phó thuộc công trường 9 của Năm Sài Gòn. No mất tinh thần sau các trận Bình Long, Bình Giả bỏ về nhà làm vườn, bị khu đòi lên hạ chức còn C phó hụ hợ ở trường huấn luyện tân binh, ăn nói trật đường rầy không kể gì Đảng Bác.

Tôi hứa cho Bụng một cây AK còn CKC có sức vác bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu. Nhưng Bụng chỉ lấy AK chớ du kích đâu có ngoe nào mà đòi CKC?

Ở đâu cũng không yên vì không còn nhân tâm. Dân ghét giải phóng ra mặt. Tây Ninh chỉ còn rừng có dân mà cũng như không, bộ đội của dân mà dân bỏ đói, giải phóng đi tới đâu dân chạy tuột quần đến đó. Dân không che chở quân nên quân cứ ăn dưa hấu liên miên.

Một lần trôi dạt luôn năm địa điểm liền trong ba ngày. Rừng Tre, Trảng Cỏ, Trảng Sa, Sóc Lào. Vừa đến Sóc Lào thì phải đi ngay vì có đầm già tới liếc. Phải cấp tốc hành quân. Từ chạy đến chạy.

Chạy lòi mắt cá
Chạy lả xương mông
Chạy không gạo nấu
Chạy đứt ruột cùn
Chạy tàn chạy mạt
Chạy khạc ra tro
Chạy ho ra bụi
Chạy lủi vô bờ
Chạy lờ con mắt
Chạy thắt ống chân
Chạy sưng cần cổ
Chạy lỗ máu đầu

Đến đóng ở Xóm Suối ngang Trảng Dầu Bà. Xe tăng không đến mà phản lực rắc bưởi ngọt, C2 của thằng Đức bị trúng giữa đội hình. Lính chết chung một hầm. Một hầm khác không trúng nhưng bị sức ép, đạn B40 nổ dưới hầm. Thật là họa vô đơn chí. Phải dùng hơn một B để tải thương, một B đào hầm… chôn tử sĩ. Còn lính đâu mà đánh giặc. Trời ơi, bom napalm nó cháy không có nước nào tưới tắt được.

Xác chiến sĩ đen thui “tay coi đồng hồ”. Có những chiến sĩ tay chân cong queo, mặt mày cháy đen, tóc tai trụi lủi, mà cặp mắt còn nháy lia, miệng mấp máy: “Thủ trưởng ơi! Xin bắn em một phát cho sướng cái thân!”

Hai dòng lệ lăn tròn. Mùi da thịt khét nghẹt.

Củ Chi có hơn 200 miles địa đạo và bác sĩ Tám Lê giải phẫu dưới hầm hiện ở đâu. Đụ mẹ thằng Duẩn, thằng Giáp nói láo. Chúng giết dân Nam Kỳ tươi tốt như thế đó. Dân Nam Kỳ hãy nhớ những hình ảnh này.

Có 200 miles địa đạo mà Củ Chi không liên lạc nhau được, phải chia thành hai quận Nam Chi, Bắc Chi, ngay cả xã cũng không còn nguyên.

Trung Lập đẻ ra Thượng và Hạ, An Nhơn nứt ra Đông và Tây, Phú Hòa Đông thêm Phú Hòa Tây. Hố Bò, An Phú, Phú Hòa, Bến Mương, Rừng Làng, Bàu Lách, Bàu Đúng xưa là tổ ấm của các hội ve chai chống Mỹ, là nệm êm của các cặp dũng sĩ nam nữ mùi mẫn, nay là bãi ỉa của lính Mỹ.

Mỗi lần vặn đài lên nghe: “Củ Chi đất thép thành đồng”, lính làu bàu chửi lại. Một hôm thằng Đồng Đen đá luôn cái radio bay lên ngọn cây. Lính dọa kỳ này gặp cô nhà báo Nhã Nam sẽ bắt trói, nấu chì đổ vô miệng cô ta. Đám lính khác đòi thọc ma trắc vô suối bà Cả… Bảy. Nhưng có đứa bảo cô ta lại… đực, có suối đâu mà thọc.

Tình hình đã bi đát lại càng bi đát thêm. Con ngựa chiến Thiên Lôi này chỉ được chủ ném cho vài cọng cỏ cháy mà cứ ủi chạy không ngừng. Một buổi sáng tôi nằm mê man vì đêm qua đào hầm quá mệt, thì thằng Thuận đập võng tôi:

– Anh Hai! Anh Hai. Dậy có khách.

– Khách nào? Kốt ta pít I hay II?

– Em không quen.

Tôi nghĩ thầm chắc là Ba Châm hoặc Năm Tiều mà trẻ nhỏ thường gọi là ông già Kốt ta pít là tên nhân vật bảo thủ trong phim Liên Xô.

Tôi uể oải ngồi dậy. Thằng Thuận giục:

– Anh cho ổng vô không? Cảnh vệ đang giữ ở ngoài.

Tôi gật. Một chập sau, quả thật nó dắt một ông già đầu trọc lóc lún phún xám tro vô tới. Tôi vọt xuống võng, chạy lại nắm tay:

– Anh Tám ! (Tám Hà chớ không phải Tám Quang).

– Thầy Hai khỏe chớ? Lâu nay không gặp nhau.

– Anh xuống đây chắc có chuyện gì quan trọng lắm.

– Cần tới chú mày đây!

(Tôi nghĩ bụng: Việc gì cũng được, xin chớ bắt con làm anh hùng giả, đọc diễn văn thiệt như năm trước. À, trà ông Sáu Di đâu còn mà khen tôi!)

Tám Hà mặc quần tiều, mình mẩy lấm mem. Tôi kêu trẻ xách nước cho ông rửa chân rửa mặt. Dù hèn gì cũng thể, dù bể cũng còn kêu cạch cạch, tôi kêu trẻ pha trà và chạy đi kiếm đồ nhậu. Anh Tám cười với cái miệng móm sọm và cặp mắt hom hem:

– Chú em được tôi đãi mấy mắt me chua trước khi lên đường ra bộ binh, bây giờ cứ lấy me chua mà đáp lễ, chớ làm to chuyện.

– Me cũng không còn, để tôi bảo chúng đi bắt con dọc về nấu với măng le.

– Chà ! Sắp Tết Mậu Thân nên chú đãi tôi thịt khi hả? Ăn thịt khi xui lấm đó chú em! (mà xui thật chớ chẳng đùa)

Uống trà được vài tuần, anh móc trong cái sắc vải lấm mem một tờ giấy xếp nhỏ :

– Còn đây, tưởng mất rồi chớ ! -Anh nheo nheo cặp mắt rồi lấy kiếng đeo lên cười hóm hỉnh- Thời buổi này cái gì cũng có thể đánh rơi được hết, kể cả bản thân mình chú em à!

Tôi mời anh điếu Capstan thứ hai. Anh xua tay, đùa:

– Xa xí phẩm! Hì hì... Để chút nữa tôi sẽ lấy nguyên bao bỏ túi về dọc đường. Thuốc này hút cho sang chớ không ăn nhập gì hết. Thuốc Cẩm Lệ xứ tôi kìa mới đã, kéo một hơi là tê cả mình.

Nói là xa xí phẩm là anh chế giễu tụi thượng cấp thôi, chớ anh cũng rút một điếu.

Tôi bật Zippo cho anh đốt. Anh vừa phì phà vừa bảo:

– Cậu đọc cái quyết định này rồi thi hành ngay.

Đọc xong, tôi kính cẩn:

– Thưa đồng chí phó phòng…

Anh xua tay:

– Lên chức rồi! Lên chức rồi, chú không hay sao? Tám Quang đi làm chánh ủy, tôi “bị” đôn lên làm trưởng thay cho y.

Anh Tám lại mỉa mai. Tám Quang hồi kháng chiến chống Pháp cấp dưới của anh, ra Bắc được đi Trung Quốc về nước thăng trung tá, trong lúc anh đã là trung tá từ lâu (1956), nhưng khi về Nam, Tám quang lại được phong trưởng phòng, anh là phó . Lúc nào anh cũng có giọng châm biếm rất tế nhị. Anh nói:

– Tôi đang làm sĩ quan liên lạc đó ông thầy pháo à !

– Ban chỉ huy D như vậy là chỉ còn có Hai Mạnh và Năm Triêm thôi sao anh? Hai Mạnh già yếu, còn Năm Triêm mới về còn đeo con ma sốt rét Trường Sơn.

– Cậu cứ lo cho thân cậu đi. Mấy vụ khác ở trên đã tính toán xong cả rồi. Ngoài Bắc đưa vô một lô úy, tá, có cả vầy… vầy nữa mà. Bộ Tư Lệnh Quân Khu đã được tăng cường. Phó tư lệnh có đến hai, ba ông mới. Tham mưu phó cũng bốn, năm. Phó phòng cũng sáu, bảy ông. Phó nhiều lắm. Toàn là thứ dữ học bên Tây bên Tàu mới về.

Bỗng anh hỏi bất ngờ:

– Sao chú không lập gia đình đi. Hừ! Chú giấu tôi hoài. Nữ dũng sĩ cáp với anh hùng pháo binh đẻ ra dũng sĩ anh hùng con phục vụ quân đội. Sao! Chừng nào tôi được uống “chung rượu đào” của chú?

– Chắc chưa đâu anh Tám à !

– Băm bốn, băm lăm rồi còn chưa thì chừng nào, không sợ cha già con muộn sao?

– Già rồi, còn sợ già gì nữa anh Tám. Lấy vợ thời buổi này…

Tôi thuật lại việc Tư Nhựt về nhà sau trận hạ đồn Thầy Mười… Anh Tám cười hắc hắc.

– Thì Mỹ chơi phản lực mình cũng phải chớp nhoáng chứ chú em!

Sau bữa nhậu đạm bạc, anh Tám bắt tay tôi từ giã. Anh bảo:

– Tình hình sắp tới vô cùng ác liệt. Anh em mình thử xem thời vận thế nào. Cậu đi sớm nhé!

Rồi chia tay. Tưởng đó là lần cuối cùng của hai anh em tôi.

Anh em nghe tôi được quyết định đi nhận nhiệm vụ khác thảy đều buồn. Chúng nó đến than thở, rầu rĩ, hứa hẹn, đủ thứ tình cảm buồn vui.

Thằng Đức, C trưởng, ôm tôi khóc ròng. Tôi cũng không cầm được nước mắt. Nó nói:

– Thầy đi thì Quyết Thắng sập tiệm luôn đó thầy ơi!

Quả thật trong Tết Mậu Thân, cả tiểu đoàn chết sạch, cả ban chỉ huy lẫn liên lạc cần vụ cận vệ quản lý nuôi quân.

Dù tôi còn ở lại cũng chẳng cứu nổi mà cũng chết luôn. Vì cái chiến thuật đui mù của tụi Hà Nội. Thằng Võ Nguyên Giáp may mà không vô đây, chớ nếu vô tì nó sẽ không còn manh giáp.

Từ pháo binh ra bộ binh, bây giờ lại trở về pháo binh. Sau ba năm dẫm nát đất Củ Chi “Anh Cả Đỏ”“Tia Chớp Nhiệt Đới” đã bủa lưới phóng lao cả trăm lần nhưng phóng hụt tên Thiên Lôi, đã cho Phượng Hoàng vồ cả ngàn lần nhưng tên Thiên Lôi vẫn còn sống sót.

Tên Thiên Lôi đã quất ngược lại thủng lưới Anh Cả Đỏ và đập con Phương Hoàng Nhiệt Đới quẹo cổ bao nhiêu lần từ Cây Trôm dài lên Suối Cụt, Suối Trâu, Trảng Dầu, từ quốc lộ 1 vào các ấp chiến lược Cây Trâm, Cây Bài, xe tăng cháy khắp Củ Chi. Ở Cây Trắc, Phú Hoà Đông, Lộ 6, Sa Nhỏ, Cỏ Ống, Ràng, Bàu Trâu, Rừng Làng, Trảng Cỏ máu tên Thiên Lôi đổ ở Tân Quy, ở Cây Trắc, Cây Trâm v.v… Khắp người Thiên Lôi đều mang “huân chương” của Bác Đảng, kể cả trong háng, trừ chỗ “quý nhất” của con người. Đôi lần chết hụt, một lần hết thở dưới địa….

Cả trăm địa danh có bom nổ, đạn cháy, dấu chân Thiên Lôi, Đôn Thuận, An Phú, Lách Bàu Đưng, Bình Mỹ, Thạnh Lộc, Trung An, An Phú Đông, cầu Bà Bắp sát thị xã. Từ Hậu Nghĩa sang Bình Dương, Tây Ninh đến biên giới Miên Việt… Từ B52, pháo 105, 155, 175, rốc-kết, cà nông 37, lựu đạn, mìn…thứ nào Thiên Lôi cũng có nếm qua ít nhiều hoặc đội chính diện.

Cây cỏ cháy khôn không còn cái lá, đất tun hút hố bom đìa, xóm làng bào láng, đi đứng toàn ban đêm, không còn địa hình địa vật, chỉ xem hương với sao trời.

Kể không hết gian lao chết chótc của đơn vị, của quê hương và của bản thân, nhưng tên Thiên Lôi này không màng “thành tích”. Một đêm vứt súng bỏ đi …(1970).

Xin trở lại thực địa tang tóc bi thương của Quân Khu IV trước thềm Mậu Thân 68. Tôi được đưa trở lại chỉ huy H6 kiêm luôn D89 của Quân Khu.

Tôi nhớ mãi lời động viên của anh Tám Hà:

– Cậu về đó (H6 và D89) bây giờ vui lắm. Nhưng nhớ đừng có “nhởn phố” Bến Chùa nghe. Tụi Mỹ nuôi cho mập rồi giết thịt đó chẳng phải nó đui đâu. Không khéo lại bị hốt một cú như ở chợ Long Hoa năm 64 đó.

Tôi thấy lính còn thưa quá thưa nên không đem thằng Thuận làm cận vệ nữa, chỉ lấy một AK hộ thân rồi một mình một ngựa đáo lai Củ Chi đất bùn. Tôi gặp Năm Tiều đốc chiến và ban bộ ở gần nhà Tư Thêu, má con Tiền. Bé Tiền bất ngờ gặp tôi kêu la bài hãi:”Má ơi! Cậu Hai về!”.

Tư Thêu ra cửa thẹn thùng. Năm Tiều bảo:

– Kìa, trông nó về! Nay nó về sao đứng đó không chạy ra hun nó một cái!

Tôi được đàn bà goá yêu cũng đông như con gái. Trời ơi! Vợ con đồng chí bất hạnh bỏ lại cho mình, thì làm sao mình từ chối?

Sau này, trước khi lao vào lò lửa Mậu Thân, Tư Nhựt cũng trối trăn giao vợ con lại cho tôi. Thảm não vô cùng.

Đêm đó Tư Thêu than thở với tôi:

– Anh qua bên đó, chắc em phải dắt con qua ấp chiến lược, chớ ở đây còn ai? Mẹ con em làm sao sống nổi (với bom đạn)?

Tôi lấy đi một ít quần áo, còn để lại mấy bộ, ý cho nàng hiểu rằng tôi còn trở về. Bụng tôi không đành để nàng đi, tuy rằng tôi chẳng dám hứa chắc điều gì, bởi vi không có cái gì chắc chắn trong cao điểm chiến tranh này.

Nước mắt, cái đó tôi đã quen nhìn, quen nếm rồi, nhưng lần này hơn cả lần mẹ con nàng Mười và bé Hoàn, mẹ con Tư Mai và bé Liên, tôi vô cùng bịn rịn, vì linh cảm ra đi là không có dịp trở về gặp mẹ con nàng nữa.

Nấn ná rồi cũng phải chia lìa.

Mất một đêm, hai cần vụ của Năm Tiều mới đưa tôi băng qua Rừng Tre, ra đường 15 ra Bùng Binh. Thời may gặp đuôi tôm của hậu cần. Nghe tiếng léo nhéo, tôi nhận ra Tư Thê, anh thiếu uý chăn bò, đến nay sau năm năm tải gạo cũng chưa lên được trung úy, mà có lên thì cũng chỉ huy cái đuôi tôm mà vẫn không xoá được danh hiệu thiếu úy chăn bò.

– Ê, cho thầy Hai đeo đuôi tôm được không? – Thằng Gàu cận vệ hỏi Tư Thê.

– Gạo bị cháy khét ngú, ăn không vô, lính chửi tắt bếp.

Nghe Tư Thê trả lời ăn trét, Gàu lại quát:

– Thầy Hai có công lệnh gấp, cho đi ké được không ông thiếu uý?

– Tụi nó bỏ bom napalm cháy cả kho.

Cả bọn cùng cười. Một anh lính trong ban vận tải giải thích:

– Ổng ăn bom đìa ở An Phú chết hụt nhưng bể màng nhĩ đó các ông ơi! Có đi thì nhào xuống đi, gấp cũng như huỡn thôi.

Hai cậu cận vệ dưa tôi sang sông và hỏi:

– Thầy biết chỗ Sáu Phấn ở không?

– Ở Đường Long chớ đâu. Tao rành hồi chín năm lận mà.

– Nhưng bây giờ B52 phá hết rừng, thầy không tìm ra đường đâu. Phải qua Bến Súc lên Phú Bình qua sông Thị Tính rồi lên Long Nguyên chưa qua suối Xuy Nô phải không? Tụi H7 (thông tin) mới ăn B52 trên đó. Củ Chi minh bây giờ Mỹ chê rồi nên nó qua bên này sông.

Thằng Gàu nói:

– Nhưng ông Sáu Phấn vừa dời tuốt lên Thanh Điền. Phải qua suối Xuy Nô, qua lộ 7. Đám ông Tám Lê bị B52 trong trận càn Manhattan đã vọt lên Bàu Nổ tới nay không biết có đi nữa không? Chú Năm dặn tôi đừng có dắt thầy đi ngã Bến Chùa mà thầy ghé lại là nguy lắm!

– Sao vậy? – Tôi hỏi chơi chứ dư biết tại sao.

Vì đi ngang đó tôi sẽ ghé vào quán nước đá ba con thỏ bạch Mai, Khánh, Ngọc và quán thịt nướng má con Rớt. B52 nó rắc mầm sống mới không biết giờ nào mà né.

Hai cậu đưa tôi đến hang cọp Năm Lê rồi trở về. Cái hang này còn mới toanh không được hoàn chỉnh như cái hầm nhà Ba Xây ở Trại Bà Huệ. Tới đây mà không gặp Tám Nghi để tâm sự thì thật buồn. Cô Hiền cũng bị moi hầm bắt chung với nó.

Năm Lê lên chức tư lệnh phó Quân Khu kiêm tham mưu trưởng nhưng cái mặt càng xanh lướt và càng dài ra. Tay chân nghều ngoào như tay vượn sở thú. Cái hầm của ông ta ở ắt phải sâu tới âm phủ và nắp phải cao tới ngọn cây.

Ông có vẻ không vui. Đãi cơm và rượu tôi, ông nói:

– Vừa ăn vừa làm việc. Bây giờ không có rảnh rang như hổi ở bển được. Mày về làm lại cái H6 và chỉ huy luôn cái D89 giùm tao chút. Tụi nó phá nát hết công lào của mày ở H6. Mày ra bộ binh, tao biết là thằng Năm Thủ về thay không được nhưng phải bắt mày đi. Bắt đi rồi trả về. Tao chỉ huy cũng chẳng ra thằng chỉ huy máu đẻ gì hết – ông thần giận dữ- Thằng Hai Giả không làm gì được trong ba năm trời nhưng còn khá hơn thằng Năm Thủ. Thôi bỏ chuyện đó đi, bây giờ tao cho mày biết là trung đoàn 15 của Anh Cả Đỏ đang xẻ Bến Cát như xẻ khô. Dọc hai bên Suối Cát nói ủi hai con đường rộng cỡ một cây số y như đường ủi dọc đường 9 sông Bến Hải vậy đó. Tụi liên lạc hoả tốc của mình bị cá rô rỉa lúc cắm đầu băng qua khoảng trống đó. Mười lăm phút thôi, nhưng là mười lăm phút cảm tử. Ban đêm trực thăng vừa soi trên mặt sông Sàigòn vừa soi trên hai con đường đó để kiểm soát những cuộc hành quân của mình từ Dầu Tiếng xuống. Xẻ ngang xong nó đang cắt dọc như vẽ bàn cờ theo kiểu Nhuận Đức bên Củ Chi. Nó bỏ Củ Chi vì bên đó nó coi như đã làm cỏ xong rồi, thỉnh thoảng có ngọn cỏ nào lú lên, nó phát qua là xong. Bây giờ nó sang bên này!

Anh thở dài:

– Ở trên đưa xuống một lô úy tá nhưng họ lớ quớ không quen chiến trường, chỉ tổ làm mồi cho B52 thôi. Đám này vô tới đây mới thấy chiến tranh không phải giơ cái lập trường ra mà chọi được. Nhiều cậu đã mất tinh thần ngay. Đấy như cái anh Mười Thứ cũng đi học Liên Xô về vô đây chỉ D1 bộ binh không xong, cho về làm quận đội trưởng càng nát bét. Mấy cậu bên Củ Chi vừa qua đây báo cáo, cậu ta về nhậm chức bèn gửi công văn triệu tập tất cả xã đội trưởng đến để y huấn thị như kiểu chánh quy. Cả tháng sau không có ma nào tới cả. Tới sao được với tình hình này. Cậu ta nổi xung gửi công văn thúc giục rồi quở trách nhưng chẳng ông xã nào tới . Liên lạc cho cậu ta biết là đường giao thông giữa các xã, và giữa các xã với quận đã bị chặt đứt hết. Cậu ta đổ quạu:”Sao không ‘nuồn’ dưới tầng ba địa đạo xuyên qua đít Đồng Dù?” (tôi bịt miệng quay ra cười). Cậu thấy tai hại chưa? Chính Trung Ương cũng hiểu như anh Mười Thứ hiểu (và toàn thể thế giới cũng như vậy), chớ đâu biết rằng địa đạo chỉlà một thứ bịa đặt. Còn địa đạo thiệt thì bỏ ngập nước, sụp lỡ từ bốn, năm năm nay rồi. Cậu đã từng hiểu địa đạo trong vườn nhà ông Hai Lễ và Năm Giáo ở Bến Mương một lần rồi và chính ông Tư Lệnh cũng đã nếm mùi địa rồi phải không? Nếu cậu cứu trễ vài tiếng đồng hồ thì ổng sẽ ra sao?

Có lẽ cảm thấy đi hơi xa đề, nhưng Năm Lê vẫn nói tiếp:

– Cả ban chỉ huy pháo binh (H6) vừa rồi lãnh nguyên trái bom đìa ở An Phú là vì không chịu di dân qua sông. Mày thấy địa đạo hầm hố đào sâu mấy thươcmà bám trụ? Là cán bộ quân sự không lẽ tụi nó không chịu hiểu bom đìa khoan chín thước, bom 250 bốn thước? Đánh địch phải hiểu thằng địch nó có nanh, có càng ra sao, chớ không phải giơ cái lập trường cải cách ruộng đất ra mà được. Anh B (tư lệnh) bảo hiện giờ chỉ có mày là xây dựng lại được H6 để ứng dụng cho chiến trường sắp tới thôi. Pháo binh sẽ đóng một vai trò quyết định. Mày có xem phim “Đánh chiếm Bá Linh” của Liên Xô chắc mày thấy vai trò của pháo binh Liên Xô?

– Dạ , em hiểu.

– Nay R cho thêm hai CH12 tức là hoả tiễn dàn mướp của Nga, Sáu Phấn không sử dụng được. Thằng Đặng Quanh Long (tức Tám Quang) ít có khen vậy mà nó khen mày. Tao biết D1 mến phục mày và mày cũng thích ở đo, nhưng tình hình này trong hàng cán bộ huấn luyện tác chiến không có ai bằng may. Thôi, nói vậy là mày rõ rồi. Lo về chỉnh đốn lại cái H6 và D89.

Tôi nói vài câu quyết tâm rồi rút lui. Ra ngoài gặp đám bầu của ông tham mưu trưởng, trong đó có Sáu Thân cấp thượng úy tới thay điếu đóm cho Tám Nghi. Sáu Thân mặt vàng lườm, bụng bin rỉn như chói nước.

Y kêu vài ba cậu lại giới thiệu:

– Đây là thằng Hai Lôi. Tôi biết nó hồi 53. Lúc đó nó mới ra trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn, về tiểu đoàn 307 của tôi – Sáu Thân hỏi tôi- Còn cây cạc-bin của con trai Bảy Viễn tặng cho cậu đâu rồi?

– Ra Bắc người ta tịch thâu.

– Nhớ lại hồi 52, trận đánh Hoà Hảo mình chết như rạ, mà nó cũng trắng đồng, ghê quá. Nhưng so với bây giờ là… chẳng nghĩa lý gì!

– Sao anh bịnh mà không nghỉ trị bịnh lại về đây, anh Sáu?

– Về đây dưỡng bịnh đó chú em. Chứ ở trên đó bịnh gì cũng có một thứ thuốc thôi.

– Rễ bồ hòn hả?

– Không, vitamin “B” ! há há …!

– “B12” gửi mua thiếu gì. Để tôi tìm mối mua cho anh.

– Không, B52 khỏi phải mua!

Một cậu liên lạc bảo tôi:

– Chú Năm (Lê) bảo anh vô chú dặn gì thêm.

Tôi trởi lại, Năm Lê đưa cho tôi cái bản đồ Sàigòng tỷ lệ 1/2500, dặn ba điều bốn chuyện và bảo:

– Mày không được nói với ai một câu nghe chưa! Tuyệt đối, tuyệt đối và tuyệt đối.

– Dạ.

Tôi xếp nhỏ tấm bản đồ lại nhét vào xắc-cốt rồi quay ra.

—->Chương 83-84-85-86

Advertisements

2 Responses to “2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QV (78-82)”

  1. Viet Nguyen Says:

    Cam on tac gia va nguoi post truyen nay. Truyen nay doc se ly’
    thu’ hon neu post them ban do CU CHI cho ban doc de hinh
    dung hon .

    • Lê Thy Says:

      Chào bạn Nguyễn Việt,

      Rất tiếc trong sách 2000 Ngày Đêm …. không có bản đồ Củ Chi mà tác giả là cố văn sĩ Xuân Vũ đã qua đời mấy năm nay rồi nên tôi không biết tìm ở đâu tấm bản đồ ấy . Tôi sẽ cố gắng tìm, nếu có sẽ đăng lên đây liền .

      Lê Thy


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: