2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QV (83-86)

2000ngaydem_bia5Chương 83

Lại bị đưa trở về Củ Chi chuẩn bị bàn đạp
vọt vào lò bát quái Mậu Thân 68

Tôi về H6, anh em sống sót đều ôm tôi khóc ròng. Nhất là Sáu Phấn, anh không nói ra lời. Còn tôi, tôi tưởng anh đã già hàng trăm tuổi. Mới xa nhau một năm mà đầu anh bạc ráo trơn, má cóp, mắt trũng sâu như hai hố bom đìa.

Một anh nào nói:

– Anh Sáu bữa nay ra khỏi hầm là mặt trời sắp bể hai rồi đó anh à .

Sao vậy?

– Ảnh không có lên. Cần gì ảnh gọi liên lạc hoặc tụi tôi tới báo cáo xin chỉ thị.

Tôi biết sáu Phấn là người mộc mạc, chân chất, nhưng không có khả năng tác chiến hoặc lãnh đạo một tiểu đoàn. Ở trên giao thì anh không dám từ chối. Anh thích ở nhà làm việc lặt vặt hơn tới cơ quan H6.

Từ ngày Mỹ lùa cả heo lên trực thăng Chinook anh càng thất thần. Xa vợ con anh càng như mất hồn.

– Anh có được tin gì chị Sáu và cháu bé không anh Sáu?

– Bặt luôn từ ngày tôi qua sông.

– Chú Tám (Cần) có gặp anh không?

– Ổng cũng đi đâu mất luôn. Chắc ra ấp chiến lược chớ gì! – Biết tôi hỏi lòng vòng để dò xem tin tức mẹ con bé Hoàn, anh nói luôn- Cả dì Mười nó tôi cũng không gặp mà cũng không có chút tin tức gì.

Có lẽ anh biết mà giấu tôi đó thôi, nên tôi cũng vờ như không biết, chứ thực ra trong lúc hội bàn đào trước khi xuất phát đánh Tân Quy, người ta đã cho tôi biết cô nàng đã lấy sĩ quan Sài Gòn.

Và Năm Tiều đã khuyên tôi: “Đừng vì con nhỏ đó mà liều mạng!”

Sáu Phấn lôi tay tôi về hầm. Hầm của anh là một cái núi con. Tôi có cảm tưởng là anh đã đào một ngàn thước khối đất để móc cái lòng và đắp nấp hầm này. Nhưng trớ trêu thay, Sáu Phấn không chết vì bom đạn mà vì những quả lựu đạn con con sau này.

Sáu Phấn lụm cụm một hồi mới lôi ra hai ba món gói rất kỹ. Một chai đế, hai cái ly cối và một gói vuông vuông ràng rịt rất kỹ.

– Đây là chai rượu gốc và cặp ly ở nhà, vợ tôi bảo tôi mang theo trước khi bả từ giã đi xuống Phú Hòa Đông. Bả dặn chừng nào gặp thầy Hai mới được uống. Trời, vợ tôi nó cũng mến thầy và mong thầy trở thành tía con Hoàn cho bả vui, nhưng mãi tới nay, đôi chim con Bắc con Nam, biết bao giờ gặp lại. Bụng tôi cũng muốn thầy ừ một tiếng để dì Mười nó có nơi nương tựa.

Sáu Phấn nghẹn ngang, mà tôi cũng rưng rưng. Quả thật có lúc tôi cũng muốn bước tới cho xong, để lang bang mãi khó lòng qua! Mười không có văn hóa cao nhưng làm vợ thì chắc là vẹn toàn.

Tôi nói như bao nhiêu lần tôi nói với các cô bạn:

– Tình hình này có vợ con vướng bận quá anh Sáu à ! Để dứt chiến tranh đã.

– Cái cuộc chiến tranh này kéo dài còn hơn chín năm nữa đó thầy Hai.

Sáu Phấn vừa nói vừa mở cái gói ra. Bên trong là những chú tôm khô đỏ au, bóc vỏ thật sạch.

– Tôi cất đã…lâu lắm. Có đến cả năm cũng nên. Dầu cực ăn mấy cũng không ăn.

– Để lâu vậy nó mốc hết anh Sáu.

– Lâu lâu tôi đem ra phơi rồi gói lại.

Hai anh em ngồi nhâm nhi tôm khô rượu đế.

– Đế Sa Nhỏ sao sánh kịp, thầy Hai ! Cái này là của vợtôi kháp lấy. Thầy đi mệt, uống cho đã đi rồi ngủ. Lạy trời đêm nay đừng có B52 để hai đứa mình ngủ chung và tâm sự và bàn công tác.

Tôi nghe lạnh lẽo quá chừng. Dù uống nửa chai lít mà cũng không đánh tan được cái khí âm bao chặt lấy hai đứa.

– Tụi nó chết hết rồi, chỉ còn có mình tôi thôi thầy ạ . Trời, bốn đứa: Năm Thủ, Sáu Uya, Ba Tố, Ba Dứa lãnh một trái bom đìa, không lượm được một miếng da. Kỳ đó họ phân công tôi ở nhà, xong công tác về sẽ múa ve chai một bữa. Dè đâu có đi mà không có về ! Mồ mả cũng không biết đâu. Nhưng phải vậy thôi đâu, để mai tôi dắt thầy ra thăm mả thằng Tôn Sứt và hai cậu cận vệ của nó. Ba thầy trò nằm bên nhau, chết như một tổ tam chế. Thầy coi đó, thầy vắng có một năm mà trở về trống bao nhiêu chỗ (còn tôi, chết hụt bao nhiêu lần?). Thầy đi có vài bữa thì hai vợ chồng Ba Tâm và con Thu (cứu tôi dưới hầm) lãnh một trái 155 của Đồng Dù. Năm Dị chết và thằng Đỏ cụt hai giò. Tôi tội nghiệp nên cho nó đi R chữa bệnh (tôi không buồn hỏi cụt hai giò bằng cách nào). Khi qua đây, Tư Kỹ- C phó trinh sát, với thằng Tâm, thằng Lan qua trắc pháo đi nghiên cứu Dầu Tiếng bị phục kích chết mất xác ở Làng 8. Thằng Đức – B phó trinh sát, mất tinh thần xin về hậu cần. B trinh sát nay chỉ còn bốn đứa. Tụi Mỹ đánh rát quá tôi phải vọt qua sông. Cả D8 cùng đi theo. H6 chia làm hai bộ phận: ông Năm Thủ ở bên Củ Chi, thằng Tôn (Sứt) ở bên Bến Cát, nhưng rốt cuộc cũng chết hết. Mười mạng đi dứt trong mấy tuần lễ. Bên này thằng Tôn và Năm Đùng nhờ quận đội Bến Cát cho đất từ Rạch Bắp lên Bưng Còng nên còn ngoi ngóp thở được. Cuộc càn sơ sơ của tụi Mỹ vừa rồi lại giết luôn thằng Tôn và hai cận vệ. Rồi thằng Tám Mau phó chính trị viên D, một chị nuôi và hai thằng liên lạc bị một trái pháo mồ côi của Lai Khê bắn qua. Cả cái H6 bây giờ chỉ còn tôi và Năm Đùng. Còn D8, thằng Mười và Tư Cư làm sao gánh nổi?

Sáu Phấn nói một hơi như tụng kinh sám hối không dứt đuôi. Nghe Sáu Phấn “báo công một năm thành tích của H6” mà tôi bủn rủng cả tay chân. Nhìn cái mặt gầy trờ xương và dài sọc của hắn tôi càng tê tái tâm can. Tôi được Năm L6e xách cổ ném về đây là để củng cố lại H6, nhưng chính cái gốc cây đã tróc thì làm sao vun xới cho nó lên xanh? Muốn đứng vững phải có đất chắc dướ chân. Ở đây đã mất đất, mất người và người còn lại (như Sáu Phấn) thì mất tinh thần, thì tôi làm gì được? Tôi bảo Sáu Phấn:

– Bây giờ anh đang làm gì?

– Ngày nào cũng chỉ đôn đốc đào hầm để trốn B52 chớ còn làm gì nữa thầy?

Tôi nghĩ: B52 bây giờ là một cái dịch. Nó bỏ không sót chỗ nào. Trước kia còn có cái lệ buổi sáng chống B52, trưa chống pháo , còn bây giờ không có lệ gì nữa. B52 bỏ cả lúc nửa đêm.

Tôi ngồi uống rượu với Sáu Phấn mà bụng rối như tơ vò, nhưng bên ngoài cố làm tỉnh như kiểu Khổng Minh toạ lầu. Tôi nói theo công thức Sáu Di để an ủi bạn:

– Ở trên đã có kế hoạch đánh lớn. Anh đừng lo!

Rồi tôi hỏi thăm vợ con anh. Sáu Phấn lắc đầu:

– Thầy với dì Mười nó thì không biết còn gặp lại không, chớ vợ tôi thì kể như hết mong rồi!

(Mà thật! đó là lời trối của Sáu Phấn, viên đại úy 42 tuổi mới có con oe oe)

Đang nói chuyện liên miên, bỗng có tiếng oang oang từ trên trời vọng xuống, từng tiếng nghe rõ như radio:

“Nghe đây! Nghe đây! Tôi là Võ Văn Phán, cấp bậc thiếu tá, nguyên là trung đoàn phó tập kết trong sư đoàn 338 của thiếu tướng Tô Ký ở Xuân Mai, về Nam năm 1964, nhận lãnh chức vụ tham mưu phó Quân Khu I…”

Gió tạt nghe không rõ, một lúc máy bay mới quay trở lại, tiếng loa lại tiếp:

“Hỡi.. anh em giải phóng hãy trở về với chính nghĩa Quốc Gia!”

Tôi thấy mặt mày Sáu Phấn tái ngắt. Anh lắp bắp:

– Bỏ mạng rồi thầy Hai ơi!

– Cũng thường thôi anh Sáu. Cái mửng này tụi nó cứ chơi hoài ở ngoài Trường Sơn chứ phải mới đây sao?

– Nhưng mà thằng Bắc Kỳ này có tới đây. Nó làm tham mưu trưởng mà ! Phải dời đi mau mau không thì B52 tới ngay. Loa dứt là bom tới đó.

. Nếu nó tới thì mình đi cũng không kịp.

– Thầy có nên nó ở ngoài Bắc không?

– Có chớ. Mặt nó đen sì, môi thâm. Kên lập trường dữ lắm Mẹ kiếp lập trường bây giờ hành lập bò . Hôm trước tôi nghe nó bị trực thăng chụp ở Cầu Xe, tôi có đánh dấu hỏi. Tại sao chụp ngay chóc hầm nó và không có bắn dọn bãi? Đó là con vợ nó báo cho lính tới thôi.

Sau này cũng có một vụ khu hầm tương tự. Đó là trường hợp Hùynh Minh Đạo, tham mưu trưởng kiêm quận đội phó Củ Chi. Lính đổ ngoài đồng rồi đi thẳng vô ngay nắp hầm cạy lên trúng phóc, móc anh chàng lên mặt mũi thật sạch sẽ.

Nghe dứt lời của loa, Sáu Phấn hỏi tôi:

– Bây giờ tính sao thầy Hai?

– Chạy không kịp đâu anh Sáu. Rủi nửa chừng mà B52 tới hoặc pháo giã mình không có công sự, cứ lêu bêu trên mặt đất thì càng nguy. Chi bằng bám trụ ở đây. Rủi ro thì “cò ỉa miệng chai” ai nấy lãnh. Tử sanh hữu mạng thôi chớ biết làm sao bây giờ anh Sáu!

Thấy tôi có vẻ tỉnh táo, Sáu Phấn cũng bớt hoảng hốt. Sự thực ra tôi đâu có gan gì đến nỗi nhưng bên ngoài cứ làm tỉnh. Mình là chỉ huy mà tỏ ra rối ren thì cả đơn vị mất tinh thần.

Tiếng loa tạt đi xa dần rồi biến mất. Tôi bảo Sáu Phấn gọi hai cậu cận vệ tới chia bài đánh tu-lơ-khơ để bớt lo lắng. Thấy mấy cậu bé tôi càng nhớ thằng Đỏ. Tội nghiệp một trái pháo ban mai giết hai vợ chồng cô Thu và tiện mất hai chân cậu bé. Trong các cậu cận vệ, nó thương tôi nhất.

Tôi đã có ý chờ con Thanh, con Nữ, con của vợ Sáu Phấn và chị Chín Kiểu lớn lên sẽ cưới một đứa cho nó. Nhưng bây giờ tật nguyền như vậy ai mà ưng. Cũng như Năm Hoa bị Tám Mang ngó lơ vì mất cặp chân.

Ván tu lơ khá giả tạo không có tinh thần, nhưng cũng trấn tĩnh phần nào được bốn thầy trò. Rồi tới khuya, lăn ra ngủ quên mất pháo và B52.

Nhưng tới sáng thì trực thăng đáp tới ầm ì. Sau này người ta còn đồn rằng có hai anh lính của K30 tức hậu cần Quân Khu bất mãn vì cấp trên bắt vác gạo, chạy đuôi tôm qua sông Sài Gòn và đánh xe bò liên tục ba năm, chết hụt không biết bao nhiêu lần mà không được lên chức nên “mần một cú” cho bõ ghét.

Nhưng phần lớn dư luận cho rằng chính Bảy Phán là nhân vật chính của tấn thảm kịch này. Bảy Phán mới biết rõ cơ sở kho tàng và hầm bí mật cùng nhân viên, xã đội trong vùng Bến Chùa.

Trận này lính Dầu Tiếng phối hợp quân Mỹ đánh cú rất độc địa. Nhà nào có hầm cũng bị sục sạo không sót một gốc cột. Nhiều cán bộ thuộc K1O, K20, K30 tông nắp hầm chạy ra bìa rừng bị trực thăng bắn chết hết. Xác đếm được đến cả trăm, nằm lển nghển ngoài bìa rừng, sình thúi năm sáu ngày sau không hết. Lần đó quận đội phó Sáu Hòa, cô nàng xinh đẹp nổi tiếng vùng Bến Cát, cũng bị thương, nghe đồn là chết ngoài bìa rừng. Đau đớn thay cho… ông Thiên Lôi!

Đó là mặt trên bờ. Còn dưới sông thì có giang thuyền Bình Dương, rải dài từ Bến Chùa tới Thanh An, một đoạn đường dài ba cây số, như đăng chận cá. Ngoài ra, Mỹ còn đổ quân trên đường 14 từ Thanh An đến suối Gò Gấu, xa xa có cụm canh chừng, ai ló ra đều bị chúng vớt hết. Trong lúc đổ thì trực thăng đổ quân giữa rún cho lính lục soát từng nhà, bù-nốc rà sát ven rừng tỉa từng phát.

Các kho gạo, kho thuốc men bị khui và thiêu hủy. Hại thay lại là thời điểm quan trọng. Các nguồn dự trữ này là để phục vụ cho Tết Mậu Thân.

H6 ở ngoài vòng nhưng cũng có thiệt hại vì một số nhân viên đi dạo phố Bến Chùa để rửa mất, bị kẹt trong vòng vây mất năm, sáu chú.

Sáu Phấn lo âu bạc hết cả đầu là phải. Sau khi các thứ quân rút, B52 tới. Vui vẻ như thế nào, dù các bạn không nếm mùi cũng tưởng tượng ra. Những trái bom nổ chụp xuống đầu với độ là những miếng bom “giao” với nhau thành một tấm lưới mênh mông chụp xuống mặt đất rộng vài cây số vuông, và mỗi lần chụp cách nhau chừng 30 giây hoặc không cách nhau giây nào.

Một con dế nằm trong lưới này không trúng miếng cũng tức thở mà chết nữa là người. Mà dù có sống sót thì cũng điếc Nhiều anh chàng đã phát điên vì đứt thần kinh hệ.

Tôi ở với Sáu Phấn độ ba tháng. Việc đầu tiên là tôi cho xây ba căn cứ khác nhau, mỗi căn cứ cách nhau từ một đến hai ngày đường. B52 chỉ bay mất năm phút. Hễ có tin B52 là chuồn sang căn cứ mới. Có cơ quan (không nhớ là K nào) cũng được tin Liên Xô cho, hộc tốc chạy. Không hiểu tin vịt hay mật mã sai “cốt” mà vừa đến nơi lại lãnh B52 nguyên gói. Có đám què quặt lê lết ở sau lại không sứt miếng da! Thiệt buồn cười ra… nước đái!

Một hôm trong một bữa nhậu đế tôm khô, Sáu Phấn tâm sự với tôi:

– Thầy biết tại sao thầy lại trở về đây không?

– Tại nhu cầu cách mạng!

– Không phải đâu! Tại thăng Phấn này.

Tôi trố mắt nhìn anh. Anh tiếp:

– Tôi đã làm đơn gởi cho ông Năm Lê. Tôi đã nói thẳng nếu ở trên không trả thầy về H6 tôi sẽ từ chức.

– Giỡn hoài anh!

– Tôi nói láo cho pháo ăn tôi. Thầy có muốn coi bản lưu không? Ký tên Sáu Phấn chính trị viên D rõ ràng!

Rồi bỗng anh nghẹn ngào:

– Nếu tôi có bề gì thì thầy săn sóc giùm vợ con tôi. Con bé mới một tuổi rưỡi.

Tôi kêu lên:

– Có việc gì mà anh trối trăn như vậy, anh Sáu?

– Tôi linh tính là lần xa vợ con này tôi không còn gặp lại nữa!

Trước đây mấy hôm tôi bảo mấy cậu trinh sát tìm mua cho tôi ba con gà để tôi cúng mộ ba thầy trò Tôn Sứt, một việc làm nhân nghĩa và đúng tục lệ ông bà, như tôi đã làm đối với Huỳnh Thành Đồng ở Trung An khi xuống đánh đồn Thầy Mười.

Tôn Sứt, Bùi Khanh, thằng Sâm ở trên R có biết bao kỷ niệm với tôi. Nó đánh trận Bổ Túc bị thương sứt tí mô , nên thành danh Tôn Sứt. Nhưng các cô vẫn yêu cái chỗ sứt duyên của nó. Nhưng chưa kịp cưới nhau thì đã mạng vong bỏ vợ góa lại trần gian.

Mặc dù có ý định cúng tế như vậy nhưng thấy Sáu Phấn bi quan quá mức, tôi không dám bày ra nữa. Sợ làm cho anh rầu, sụp luôn không ngóc dậy nổi, nên dẹp bỏ ý định đó.

Tôi thấy lúc nào anh cũng đăm chiêu hoặc thở dài sườn sượt. Tôi có cảm giác anh là con rùa không dám ló đầu ra khỏi vỏ. Tôi bảo:

– Để tôi đến ở với anh cho vui và dễ bàn tính công việc.

Anh mừng rỡ chấp nhận ngay:

– Lâu nay tôi cũng muốn đề nghị với thầy như vậy mà không dám nói ra.

Nhưng tôi chỉ ở với anh một thời gian ngắn. Trong thời gian này tôi ra lệnh cho mỗi chiến sĩ đào hố cá nhân hình chữ L mỗi cạnh năm thước, sâu một thước rưỡi. Bảo đảm sống trước đã rồi sau đó mới chiến đấu. Ngoài ra tôi còn chỉnh đốn kiện toàn lại ban chỉ huy D và các ban chỉ huy C, B, A và các trợ lý bảo vệ, tham mưu, hậu cần, và phỏng theo kiểu tổ chức của 307 hồi xưa mà tôi học được hồi còn .

Một hôm lại có lệnh khẩn gọi tôi đến gặp Năm Lê. Đi ngay không có thì giờ chuẩn bị. ở đó mà rù rờ, B52 từ Guam tới mất 28 phút, từ Utapao mất có 15 phút. Chậm chân sao kịp? Gặp tôi, Năm Lê nói ngay trong tiếng cười hề hề :

– Tao đâm ra sợ mày đó Lôi.

– Sao vậy anh Năm?

– Mày như con ngựa bà chạy khấp. Bây giờ tao nói ngay nhé. Các bà già trầu và mấy lão guốc vông áo bà ba lại đòi trả mày về Củ Chi cho mấy ông bả nghỉ ngơi ăn trầu xỉa thuốc.

– Đơn vị nào anh Năm?

– Quận đội.

– Trời đất?

– Vì mày rành đất Củ Chi và nhân dân các xã. Chớ để ông Bắc Kỳ Thứ thì hỏng cả. Ổng kêu mấy chục xã đội trưởng lên trình diện, chẳng thằng nào léo tới làm ổng nổi cáu. Mẹ kiếp, chỉ huy du kích, xã đội còn khó hơn chỉ huy một binh đoàn. Muốn triệu tập một ban chỉ huy xã đội phải bò dưới gầm giương nó coi nó đéo vợ nó mấy cái đêm đó. Nếu nó làm tới hai ván liền thì đừng hòng nó đi họp vì nó lỏng đầu gối, nhưng nó đổ thừa là nó bận việc nọ việc kia toàn là việc đảng không hè. Còn nằm trong hang mà đánh công văn triệu tập thì tới năm Tý năm Dần nó mới tới cho. Lôi à ! Mày đừng có phiền anh Năm mày nhé ! Không phải ý kiến của tao điều động mày, mà là mấy bà già trầu ngoáy và mấy lão xỉa thuốc ông Tề kia, nhưng kể ra họ cũng sâu sắc lắm. Họ biết hiện giờ chỉ có mày mới khiển nổi đám dũng sĩ Năm Cội, Bảy Mô, Bảy Nê và giúp luôn cả cái Q16 bết bát nữa. Như tao đã nói với mày lần trước là hiện giờ ở trên đang sửa soạn… vậy đó. Và Củ Chi sẽ là bàn đạp cực kỳ quan trọng, Nếu không có Củ Chi vững mạnh thì không nhảy vọt được. Nếu thằng Tám Giò chưa chết thì tao cũng đề nghị khu ủy thay thế nó. Chứ chiến trường mới nó không kham. Cứ lọ mọ với ba cái hầm và bom lép thì Mỹ nó ăn gỏi hết.

Tôi còn nói được gì? Năm Lê tiếp:

– Mày không phải trở lại H6. Cần gì tao cấp cho đủ hết, rồi thằng Nông và thằng Quyết đưa mày đến anh Ba (Xu) ngay. Ảnh cũng cần gặp mày để chỉ thị cho việc gì đó. Chỉ có hai cậu này mới được dẫn khách vào căn cứ của ảnh mà thôi. Và khách phải do tao chấp thuận. Thôi, vậy đi, không còn nhiều thì giờ nữa.

Thế là tôi đi theo hai cậu liên lạc đi đến căn cứ ông Tư Lệnh.

Chắc ổng đã rời khỏi cái nơi êm ấm của dì Ba rồi từ sau lúc Hai Phán leo lên trực thăng.

Tội nghiệp các nàng thỏ bạch của tên Thiên Lôi. Tay ngọc chân ngà môi son má phấn giờ này không biết còn ở đó hay là trôi dạt nơi nào. Ra rừng làm sao mà kham nổi?

Đã hai lần gặp Năm Lê. lần nào tôi cũng định hỏi về cái tai nạn của ông Sáu Di, những lần nào sắp hé môi rồi cũng ngưng. Có hỏi ông cũng không nói thật mà lại quở mình là đằng khác.

Nhưng thời may trên đường đi gặp Hai Ninh ở H6, anh này là một trong các nhân vật rõ cái tai nạn trên kia.

Tôi bèn mời anh ta điếu Capstan và lôi tay ngồi lại trên một thân cây bị xe tăng ủi lật.

– Sao coi bộ không vui vậy bồ nhà?

– Vui mẹ gì được. Mới đội một phát lát da đầu coi đây !

Hai Ninh mọp xuống vò vò đầu.

– Ê, vụ đó có thật không ta?

Tuy tôi không nói “vụ đó” là vụ gì nhưng Hai Ninh cũng hiểu là vụ gì. Hai Ninh ngó dáo dác. Thấy hai cậu liên lạc đứng xa xa bèn rỉ tai tôi:

– Thật 100% rồi chớ còn gì nữa.

– Tôi không tin chút nào.

– Tao đích thân gói uy lông.

– Rồi làm sao đưa về Hà Nội?

– Tao chỉ chịu trách nhiệm đưa về tới Minốt thôi, còn từ đó ra Hà Nội ai biết được.

Tôi thầm nghĩ: mấy ông nội Miên đỏ dám chê thúi vứt bờ vứt bụi lắm!

Hai Ninh đứng dậy bắt tay tôi và dặn:

– Đừng có nói tùm lum nghe cha nội. Đứt đầu rán chịu lấy.

– Ai mà nói ra làm gì để đứt cái đầu… Nhưng đầu nào?

Hai Ninh cười nhưng không dám cười bình thường, chỉ một nửa, như cửa vừa hé bỗng khép lại. Bây giờ tôi mới để ý thấy cái miệng của hắn hơi méo méo, bèn hỏi:

– Ê cái miệng của cha sao vậy? l

– có sao đâu?

– Bộ cha không có rọi kiếng sao?

– Chạy đứng lại không được mà ở đó rọi kiếng.

– Góc mép trái hơi lệch đó nghe cha. Có cần điều chỉnh thì tôi lấy thước lô-ga-rít của pháo binh tôi sửa lại cho đúng hướng đúng tầm, chớ để vầy phóng trật mục tiêu hại thường dân lắm !

– Giỡn hoài nhà pháo, thôi để tôi đi.’ -Nói xong hắn quay đi.

Nhưng tôi níu lại thầm thì:

– Ê cái vụ “nhánh cây” có thiệt không tía nó?

– Nhánh cây gì? -Hai Ninh gắt.

– Lịch sử Việt Nam sẽ ghi cái nhánh cây đó, mà ông là một trong mấy người chứng kiến! Ngồi xuống nghỉ chân chút nữa đi. Tôi có đế và tép khô nề, bẻ nhánh lá giang chua làm đỡ vài hớp cho nóng máy. Bây giờ còn sớm, ông qua suối Xây Nô cá rô nó rỉa tiêu trên như Chín Mành đó.

Nghe tôi “dọa” Hai Ninh cũng lưỡng lự. Tôi bèn lôi tay hắn rề lại gốc cây bật rễ có cái lỗ tun hút.

– Có gì thì hai anh em mình chui xuống đây cũng đủ mà ! -Vừa nói tôi vừa móc tép khô ra đưa cho hắn ba con.

– Ở đâu có thứ ngon này?

– Ở đâu có thì thôi.

– Mày đi đâu cũng no như cưỡng. Em út bu đen phủi không hết. Vụ con gái ông Ba mày định ngâm tới chừng

– Tôi có định gì đâu?

– Người ta đồn rùm, nói mày sẽ cưới con nhỏ giữa.

– Không có đâu cha nội. Chỗ quan quyền người ta sang trọng, mình là bần cố nông vô đâu xứng.

– Mày là “bần cố nội” tao chớ bần cố nông! Bần cố người ta lên chức rần rần sao bần cố nội mày đứng chựng ở đó?

– Thôi đi ông.. . Nè , làm hết bình toong này mới đi nghe.

– Làm hết nhiêu đó có lết chớ đi sao nổi.

– Có ba cái đế vô rồi, B55 cũng không ngán nữa là B52, B53.

Hai Ninh không có chân trong hội ve chai chống Mỹ của tụi tôi nên mới làm sơ sơ mặt đã đỏ ké ! Tôi một ngụm, hắn một ngụm chớ đâu có ly tách gì. Mỗi lần cầm chiếc bình toong, hắn sục sạc coi còn bao nhiêu rượu, rồi lắc đầu hai ba cái mới uống, uống xong nhăn mặt quẹt miệng lia.

– Mày chơi ác quá !

– Hừ, uống rượu mà làm như uống thuốc Bắc vậy cha nội. Đây là vũ khí chống B52 kết quả nhanh nhất. ê… Trận đó đất đã “gung ghinh” tới ông chưa?

Hai Ninh nhìn tôi mắt đỏ ké, ngẫm nghĩ một hồi mới nói:

– Thằng Mỹ nó đui, chớ nếu nó rắc tới chút nữa là cái hầm của Tư Cường tiêu hết. …

– Tư Cường nào? -Tôi biết mà còn làm bộ hỏi.

– Tư Cường công binh. Chính ổng chỉ huy làm cái hầm đó .

– Vậy à? Để làm gì mà… dữ vậy?

– Hừ, mày cứ dụ khi tao làm bộ hỏi bí mật hoài.

– Tôi làm bộ chớ tôi biết hết trơn rồi cha ơi. Chưa chắc cha biết rõ băng tôi. .

Hai Ninh trợn mắt:

– Mày biết cái con củ cặc họ! Tao ở ngay đó mà biết thua mày à?

– Ông biết thằng bí thư của “ổng” là ai không?”

– Là ai?

– Nó là bạn tôi, đậu phó tiến sĩ bên Liên Xô mới về.

– Mày nói nó là thằng Ba T… chớ gì?

– Còn ai vô đó.

– Trật lất. Xuống đây ông có “bí” mới rồi.

– Không có bí mới nào hết. Cũng thằng T… đó thôi. Ông cần biết thì tôi nói rõ tên cúng cơm và lý lịch của nó cho ông nghe. Xuống đây nó có gặp tôi nhậu một đêm nữa mà ! -Tôi tháu cáy hắn một hơi luôn.

Hắn đành chịu thua:

– Nếu vậy thì chắc tôi lầm. Vì trong đám tùy tùng có đến năm bảy đứa cả Nam lẫn Bắc, tôi không biết đứa nào.

Tôi thắng thế bồi thêm:

– Thằng nào trắng trẻo mặt tròn, đẹp giai giống như ông cụ Mao là bí thư của ổng đó. Nó là thành phần địa chủ, nhưng đầu hàng bần cố nông sau Cải Cách Ruộng Đất nên được ổng cho đi gần để ổng truyền lập trường cho sau này có thể làm chánh ủy một Quân Khu như ông Trần Độ vậy. Tướng Trần Độ ngày xưa cũng chỉ là kẻ xách dép cho đồng chí Trường Chinh thôi. Nhưng khi về Hà Nội, ổng làm tới chánh ủy đại đoàn 308 và sau 1955, làm tư lệnh kiêm chánh ủy Liên Khu 3. Hễ gần mặt trời thì sáng láng, ông ơi!

Thấy tôi nói thông suốt, Hai Ninh lơ mơ nói:

– Chắc vậy tôi hiểu lầm.

Tôi thừa thắng đẩy tiếp:

– Đi bên cạnh ổng có hai thằng bí. Bên trái là thằng T… bạn tôi, bên phải là một anh Bắc Kỳ. T… là bí thư chính trị văn hóa, thằng kia là bí thư quân sự.

– Vậy là đúng rồi! -Hai Ninh vỗ đùi đánh bép- Hôm bữa đó ổng đứng ở giữa, bên cạnh ông là anh Ba mình, còn bên trái là ai tôi quên mát, nhưng ngay đằng sau là hai cậu bí thư. Vậy mà nhánh cây không xọt ai hết, nhè ổng mà xọt ngay chóc. Tôi nghe một cái “pực” thì thấy ổng ngã ngửa ra đất. Anh Ba mình xốc ổng lên. Tôi cũng bu lại nhưng bị ảnh quát nên lùi ra . Chung quanh “ổng” có chừng năm sáu người thôi chớ không nhiều. Anh Ba hoảng hốt la lên mà đâu có ai hiểu ổng ra lệnh gì. Không có y tá y tướng gì bên cạnh ráo hết. Vì mới dưới hầm bước lên bịnh gì mà đề phòng. Trời! Óc của ổng dính đầy tay anh Ba. Chính tôi cởi cái áo của anh Ba bọc cái đầu ông lại chớ ai. Trời! ổng không nói được tiếng nào rồi đi xuôi. Tôi lén bước lại nhìn, mặt ông ngày thường nước da đồng điếu mà đã đổi ra xanh lét như da rắn lục cườm thấy ghê hết sức.

Tôi lắc đầu:

– Ông nội định đẩy cây thoa mỡ bò với tôi hả?

Hai Ninh sửng cồ:

– Tao đẩy mày té vàng té bạc gì hả thằng Thiên Lôi?

Tôi cười nhạt:

– Đi bên cạnh ổng phải là tư lệnh hoặc chính ủy. Ổng đến đâu như vua xuất cung nhất đẳng quân thần phải nghinh tiếp. Tướng nhèm chưa được tới gần ổng nữa là thiếu tá cỡ ông. Thôi đi ông nội con nít, ông đừng có đặt chuyện kể cho oai.

Hai Ninh cười khè khè mà không có vẻ giận dỗi, nói:

– Đúng thiên Lôi, mày nói đúng. Cỡ tao còn lâu mới được đứng cách ổng một cây số chớ làm gì được nhìn thấy mặt rồng. Nhưng tao cho mày biết nếu không có tao sẽ không nên việc gì cả.

– Khỉ khô ! Thiếu tá Ninh ổng coi như rác.

– Nè. tao nói cho chú em mày biết là chỉ có tao vô được cái hầm đó thôi. Để chi mày biết không?

– Để hốt rác và chùi đít ổng ỉa?

– Tầm bậy! Mày nên nhớ là trong đó có điện. Nhưng điện không quan trọng bằng điện đài -Hai Ninh vỗ ngực- Tao gắn, tao dựng, tao thử phát đi, tao thử bắt tin, bắt mật mã từ Hà Nội đây cu con ơi. Đây là tổng hành dinh của bộ tổng tư lệnh mày nghe rõ chưa? Không có thằng Hai Ninh này, tư lệnh tư lọt đều điếc và câm chớ làm được mẹ gì, chỉ huy được ai?

Tôi vẫn lắc:

– Ổng vô đây là toàn quyền quyết định như nguyên soái trấn biên cương, không cần phải xin chiếu chỉ triều đình. Ổng cần gì mà phải liên lạc với Hà Nội?

– Tao hổng biết. Nhưng chính điện đài dưới hầm bắt được mật mã Hà Nội. Nhưng nếu không cần xin lệnh ở ngoải thì ông phải liên lạc với R.

– R nào nữa? Ổng là tía của R, lại phải xin lệnh của mấy ông Chín Vinh, Sáu Nam à ?

– Củ cặc họ ! Mầy nói ngang tao không nói nữa.

Thấy Hai Ninh hơi tự ái, tôi vuốt nhẹ:

– Tôi công nhận là ông có xuống đó gắn điện đài, nhưng ông nói ông Sáu xin lệnh ở Hà Nội và liên lạc với R là không đúng, nên tôi phải cãi chớ.

– Không liên lạc với R thì ổng cũng liên lạc với các cánh quân để chỉ huy chớ!

– Cánh quân nào? Tôi thấy ở đây có cánh quân nào có mật mã đâu, chỉ có bộ đàm thôi.

Hai Ninh hơi giật mình nên rút lại:

– Tao hổng biết! ừ thì tao nói láo. Nãy giờ tao nói láo hết thảy. Mày đừng có nhớ làm gì. Mày có kể lại với ai thì đó là do mày biết, chớ không phải tao nói nghe chưa. Mày đổ thừa cho tao, tao chối đấy.

Tôi làm thuận, sợ ông bạn già giận nên hồi lâu mới tìm cách trấn tĩnh hắn:

– Nói thiệt chớ tôi không biết gì hết. Tôi chọc anh kể nghe chơi.

– Chơi! Chuyện vậy mà mày cho là chơi à?

– Chiến tranh mà anh Hai. May ai nấy nhờ, rủi ai nấy chịu, chớ ai muốn ông Sáu thọ nạn làm chi. Mà rủi ổng chết rồi, cũng không nên giấu làm gì. Trước sau rồi thiên hạ cũng biết, không phải ở trong Nam này biết mà thôi đâu mà ngoài Hà Nội người ta cũng biết. Và biết rồi.

Hai Ninh ngớ ra:

– Sao mau vậy được?

– Tôi không biết bằng cách nào, nhưng ngoài đó đã biết hết rồi. Hiện Củ Chi cũng biết. Cái gì mình càng giữ bí mật thì càng bật mí. Anh có nghĩ rằng Bảy Phán nó biết không? Nếu nó biết thì Mỹ cũng biết. Mỹ biết thì cả thế giới biết chớ bịt sao được?… Hiện giờ có cả lô trung tá, đại úy từ ngoài Hà Nội vào để tăng cường cho Quân Khu mình. Tôi có dịp gặp một vài người ở Q16 và E268 mới tới bổ sung. Trong câu chuyện chuyên môn họ trao đổi với tôi, họ có ló mòi, do đó tôi đoán là ngoài Hà Nội trong hàng tướng tá đã biết cái tin này.

(Quả thật tôi đoán không sai, chừng sáu tháng sau cái chết của Sáu Di, báo Hà Nội đăng cáo phó đại tướng Nguyễn Chí Thanh đau tim, đảng hết lòng cứu chữa nhưng không khỏi. Rồi sau báo Nhân Dân đăng tin Hồ chủ tịch một cơm bà Nguyễn Chí Thanh. .. Hai cái tin này đủ xác nhận chuyện gì rồi! Bọn Công Sản thường hay giấu như mèo giấu… Nhưng chúng giấu rồi chính chúng bới ra!)

Tôi cố phục rượu ông trưởng ban H7 (tôi trưởng ban H6, ngang cấp nhau mà ! Nên ông ta không ngại lắm). Tôi bảo:

– Hồi nãy anh nói Mỹ đui là sao anh Hai?

– Thôi thằng cu con, đừng có dụ nai tơ lên nó đục gân.

– Ông mà “nai tơ” hả? ông đục gân tôi thì có. Thôi dẹp cái vụ kia đi, ông kể cho tôi trận B52 nghe để tôi rút kinh nghiệm chút.

– Rút kinh nghiệm cái con… bà gì. Nó rắc trúng thằng nào thằng ấy chịu chớ kinh nghiệm gì. Bộ mày chưa đội sao mày hỏi tao?

– Đội nhưng mới vỡ lòng chừng ba bốn trận thôi, sao bằng anh đã lên đại học.

Hai Ninh nổi quạu ngay:

– Thằng Sáu Huỳnh gần đây cho tin vịt hoài.

– Sao vậy anh?

– Nghe theo nó chạy hộc gạch, rồi chẳng có đếch gì cả . Tệ hơn nữa, chạy đến nơi lại đút đầu ngay trận cho nó nện trúng ngay chóc. Mới vừa rồi đây, tụi tao bị một cú rục tùng. Còn chút nữa tao cũng xí lắt léo rồi.

– Hèn chi cái miệng của anh hơi lệch cán cân.

– Giỡn hoài mày! Kỳ đó nếu thằng Mỹ nó rải tới thêm một tấm.thảm nữa thì rụm cả hầm. Nhưng không hiểu sao nó lại rải ngang.

– Anh nói sao tôi không hiểu gì hết.

Hai Ninh ngồi xổm xuống đất lấy que vẽ nguệch ngoạc :

– Vậy nè! Thay vì kéo dài ra nó lại mở rộng mày hiểu chưa? Trước đây thì nó cũng rải liền mí như đợt trước rải xong, đợt bắt từ mí mà rải tới, đợt ba rải tới nữa, như vậy thành tấm thảm hình chữ nhật dãy dọc. Không biết sao mấy chục trận gần đây nó lại rải bề ngang. Nghĩa là ô đầu tiên ở đây, ô kế là bên phải, ô kế là bên trái hoặc bên phải không ai đoán được. Rồi ô kế cũng không biết bên nào để mà chạy. Chạy nhanh cũng có thể kịp. Hoặc chạy tới, chạy lui hoặc tạt qua phải, hoặc qua trái. Có khi liều mạng, ‘chạy tới chỗ nó vừa “trải xong, mình ngồi”. Nhưng bây giờ nó rải loạn xị không có lề lối nguyên tắc gì nữa, nó rải.cả trên ô nó vừa rải. Cho nên tốt nhất là năm mím dưới hầm mà cầu Trời khẩn Phật thôi.

– Thằng Mỹ nó linh động lắm anh Hai à ! Đánh với nó bằng bộ binh cũng vậy chớ không riêng gì B52 mà thôi đâu. Pháo binh còn ác nữa. Có khi nó bắn cả trăm, cả ngàn, cả chục ngàn trái. Có khi chỉ một trái. Một ngàn không trúng ai mà một trái lại chết cả hầm.

– Thôi tao đi nhé Trễ rồi !

– Gì mà gấp vậy anh! Còn chút dưới đáy bình toong và mấy con tép, anh làm một cái cho ngọt rồi chia tay. Coi như mình ăn Tết con khỉ già rồi đó anh Hai.

– Đường dây vừa làm xong, nó bỏ tiêu hết rồi.

– Nó nào?

– B52 chớ nó nào. Ở trên bảo phải làm nhanh cho kịp.

– Kịp gì?

– Kịp gì ai biết kịp gì. Nhưng không có cái đéo gì trong tay hết trơn, báo cáo lên, ở trên bảo khắc phục. Dây điện chớ phải dây chuối đâu mà khắc. Tao cần năm chục ngàn thước mà chưa có thước nào.

– Vậy anh chọc cho Mỹ ném xuống cho anh như Khổng Minh lấy tên của Tào Tháo vậy.

Trời chiều ráng mọc đỏ ối. Rừng thẫm lại trông rất thê lương. Một thằng bạn già trông càng thê lương hơn. Hai Ninh cắm cúi đi. Tôi ngó theo. Tưởng đó chính là mình, mình sẽ như thế, không lâu.

Hai cậu liên lạc Nông và Quyết mắc võng toòng teng dưới một thân cây đổ nằm ngủ ngon lành. Ở đây vào thời điểm này là vậy. Ăn nhậu, chơi bời, hò hét, ngủ nghê được phút nào hay phút ấy, để rồi biết đâu trong nháy mắt tan xương.

Ai ngờ một ông đại tướng hét ra lửa như Sáu Di mà chết như một con vịt bị phang vỡ sọ ngay trong ao nhà .

Ba mươi năm qua, 1967-1995, bây giờ khi ngồi viết những trang hồi ký này tôi vẫn còn nhớ nguyên câu chuyện kể của Hai Ninh và lời dặn “đừng cho ai biết”. Thiên hạ đã biết cả rồi. Nhưng có lẽ còn một điều chưa ai biết. Một cái dấu hỏi nghi ngờ. Có bàn tay bí mật nào theo dõi hắn ta từ Hà Nội vào tận đây để thừa cơ hạ thủ chăng?

Cái gì mà Cộng Sản chẳng dám làm. Chúng giết Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn và những ai khác nữa, thì sợ gì mà không chơi tên Sáu Di. Tên này nhờ Hồ nâng đỡ có vẻ lấn lướt ông đại tướng Quảng Lạc kia. Thù hận của những kẻ có súng ống em út trong tay bộc phát ghê gớm. Staline giết Kirov bằng tay một tên Bolchevik khật khùng, ám sát đại tướng Frunze trên bàn mổ. Mao Trạch Đông giết Lưu Thiếu Kỳ, Bành Đức Hoài bằng tay mụ đàn bà.

Thì Việt Cộng ngán gì ai mà không dám làm. Nhất là ở giữa rừng sâu, chỉ có cóc nhái mới rõ được. Nhưng đau đớn cho mụ góa răng đen mỏ quạ ở Hà Nội ăn cơm với Hồ chủ tiệm mà chẳng rõ được nguyên do cái chết của chồng mình . Nhưng cũng đáng đời cho một tên cướp. Cái xác hắn không biết có về tới Hà Nội không? Theo nhiều luồng dư luận xầm xì thì hai cái xe thồ xác ông đại tướng đã không đến được Minốt.

Bạn đọc hãy giở bản đồ ra xem sẽ thấy từ Long Nguyên (nơi có cái hầm của Sáu Di) về tới Tây Ninh, qua biên giới Việt Miên là bao xa? Rồi từ đó qua tới Minốt là bao xa nữa. Ít nhất 100km, mà là đường rừng. Và đường rừng nát bét vì B52. Phải qua những điểm nóng và luôn luôn bị trực thăng soi, đuổi, canh chừng không hở của sư đoàn 5 Sài Gòn. Từ Long Nguyên muốn qua biên giới Cao Miên phải qua suối Ván Tám rồi suối Bà Chiêm, xong phải vượt sườn núi Cầu sát đường 14 là cái chốt thường trực của sư đoàn 5. Nếu không qua được núi Cầu phải trở về suối Bà Chiêm để đi lên suối Ngô. Từ đó dưới có thể lên Bổ Túc (chỗ tôi và Tôn Sứt thực tập DKZ). Từ Bổ Túc mới đi Kà Tum. Xong đoạn đường này mới mong qua được Minốt.

Riêng từ Bổ Túc đến Minốt cũng phải mất hai ngày nếu xe đạp êm xuôi không bị bom pháo, lính ruồng ngăn cách. Còn từ Long Nguyên đi Minốt nếu đạp xe trong rừng và không bị bom đạn cũng mất ít nhất bốn ngày. Nên nhớ lúc Sáu Di bị nhánh cây thọt bể đầu là vào cuối năm 1967, tất cả các mặt trận đều sôi động hằng giờ hằng phút. Nếu cố công thồ thì ít nhất phải một tiểu đội xe đạp chạy băng dưới bom đạn.

Một cái xác bó ny lông, phơi sương phơi nắng trong bốn ngày thì sẽ ra sao? Cho rằng cái xác này có được ướp như xác Lê nin đi nữa thì cũng không tránh khỏi ruồi nhặng bu theo và khi đến Minốt thì chắc là…

Một cái nhánh cây lạ lùng!

Nhưng dù ai giết hoặc trời hại tên giặc đầu đỏ mặt vuông miệng quai xách này thì có cũng là một sự may mắn vô vàn cho dân tộc. Vì nếu hắn còn sống thì chính hắn sẽ là tổng bí thư thay cho me xừ Duẩn, chớ không phải anh gà tồ Nguyễn Văn Linh đâu. Hắn là tên tội phạm trong Cải Cách Ruộng Đất và chủ trương ép nông dân vào hợp tác xã . Hắn sẽ còn tàn bạo hơn cả Lê Duẩn chớ không thua chút nào. Hắn thù trí thức, văn nghệ sĩ, nhất là dân Sài Gòn, hắn chửi thẳng vô mặt hồi tôi làm “anh hùng rởm” đọc diễn văn ở đại hội Mừng Công trên R năm 1964.

Viết đến đây tôi bỗng nhớ một chuyện nhỏ về hắn ở Hà Nôi. Hắn có hỗn danh là tên mặt sắt vì mặt hắn đen sì. Trong một buổi tiệc tùng chi đó có các bà phu nhơn thiếu tướng trung tướng đến dự nữa. Bà nào cũng khăn mỏ quạ răng đen mút chỉ, riêng bà Phạm Kiệt lại son phấn quần áo sang trọng. Phạm Kiệt là dân khu 5 được phong thiếu tướng chỉ huy lực lượng công an võ trang đóng tổng hành dinh gần bờ sông Hồng.

Hắn vô sau cùng. Cả buổi tiệc đứng lên. Hắn mặc áo sơ mi lụa trắng cho phản xì nước da lãnh đạo của hắn, không đeo lon gáo gì cả. Huấn từ xong, hắn đảo mắt qua các bà phu nhơn. Bà của hắn thì cú sụ như bà cán gáo già cóp. Bên cạnh đó lại là bà Phạm Kiệt mặt hoa da phấn rực rỡ tương phản vô cùng. Hắn bèn trỏ mặt bà ta và bảo tướng Phạm Kiệt:

– Vợ anh ăn mặc như một con đĩ!

Cả bữa tiệc sửng sốt vì lời “thân ái” của một ông đại tướng và là lãnh tụ đảng. Riêng bà Kiệt xấu hổ bỏ đi ra khỏi phòng tiệc, trong lúc hắn vẫn tiếp tục xỉ vả bà ta và rêu rao bốn đức tính cần kiệm liêm chính.

Hắn cũng ghét Võ Nguyên Giáp, đến không nhìn mặt nhau. Hắn càng ghét văn nghệ sĩ, nhất là Nhân Văn Giai Phẩm, cho họ là những tên phá đám. Trong lúc Nhân Văn Giai Phẩm bùng nổ to, một lần hắn đến huấn từ cho văn nghệ sĩ ở viện mạ kền của Hoài Thanh hô hào chống Mỹ , hắn cương:

– Dù phải chống Mỹ đến một triệu năm chúng ta cũng chống.

(Hồ chủ tiệm có nói… “năm năm, mười năm hay lâu hơn nữa “, còn hắn lên tới một triệu năm ! Ghê gớm thay ông đã đại tướng bần cố).

Văn nghệ sĩ tức cười nhưng bụm miệng.

Ra về, đạp xe song song với tôi, Nguyễn Tuân hỏi:

– Ông có nghe đồng chí ấy nói gì không?

– Dạ có chớ.

– Quelle notion de chiffres! Ông ta có khái niệm thế nào về những con số?

– Dạ, triệu năm là một triệu năm!

…. Những chuyện lãng xẹt như thế cũng còn nhiều nhưng ghi ra đây càng thêm mất mặt bầu cua của đảng. Xin trở lại chuyện Củ Chi. Ủa, không phải! Củ Chi đã mất sạch rồi. Bây giờ tôi đang ở Bến Cát trên đường về yết kiến ông tư lệnh Ba Đình, tức là Ba Xu, nghĩa là “Ba Đình giá có Ba Xu”. Đâu mà rẻ hơn cá ươn thế, ít nhất cũng năm, sáu xu, một cắc chớ?

Thằng Nông và thằng Quyết dẫn tôi đi, vì B52 càn tan tành, tôi không nhận ra đây là đâu. Thằng Quyết bảo:

– Đây có thể là Đường Long.

– Tại sao?

– Vì mình chưa băng qua trảng Suối Cát. Qua suối đó mình mới lên thẳng Phú Bình.

Mặc cho nó dẫn đi đâu tôi theo đó. Hồi chín năm tôi đã từng ở vùng này và còn trẻ như hai đứa nó, bây giờ trở lại già ngắt mà cách mạng chưa tới đâu. Vậy hồi đó nghe mấy câu chúc Tết của cụ Hồ, các ông to bà nhỏ đọc rung đùi muốn đứt võng. Ai cũng mơ tưởng:

Chúng ta cùng đồng chung một ly đào
Tết này ta tạm xa nhau
Chắc rằng ta sẽ Tết sau sum vầy

Rượu đào không. Sum vầy cũng không mà chỉ có máu đào con khỉ Mậu Thân và ly tán tang thương thôi cụ ạ !

Tôi sốt ruột về Củ Chi nên thay vì chờ tối để băng qua Suối Cát như Năm Lê dặn, tôi bảo hai cậu cứ dắt tôi chạy càn. Chỉ chừng hai cây số trống thôi mà mệt muốn đứt hơi như lúc đoàn ăn trộm vượt ngọn sông Bến Hải. Qua cú chạy việt dã này tôi mới thấy sức lực của tên Thiên Lôi bắt đầu sa sút như Chí Phèo sau một trận say đã cảm thấy mùa thu của đời mình.

Lúc mặt trời sắp lặn thì chúng tôi tới bìa một khu rừng. Đứng lại lấy hơi, xong tôi hỏi đây à rừng nào? Thằng Quyết lắc đầu:

– Rừng nào cũng như rừng nào, em không biết. Anh coi đó cây không còn lá làm sao nhớ tên được.

Tôi mới nhận ra. Cành cây khẳng khiu, chơ vơ không có lá. Dưới gốc lá khô đơm vun mà không có dấu chân người.

– Nó rải hóa học hồi nào vậy tụi bay?

– Em đâu biết. -Thằng Quyết nói- Anh đứng đây, em và thằng Nông vô báo với trạm gác.

– Đi mau kẻo biệt kích nó chơi tao.

– Ở đây là bảo đảm anh không có thứ đó. Nhưng anh phải đứng xích lại đằng kia, đừng đứng ở mối đường làm lộ bí mật.

– Cái thằng!

Nó dạy tôi. Nhưng tôi cũng nghe lời nó mà di chuyển cách đó chừng một trăm thước. Vừa đứng yên thì gặp mấy cô tíu tít đi qua. Một cô reo lên:

– Anh Hai đi đâu lạc đây?

– Nhỏ nào đó?

– Em đây, anh không nhớ à?

– Em nào cái bụng thè lè vậy?

– Trời ơi? Anh không nhận ra em sao? Lam nè!

(Nói vậy chớ sao tôi không nhận ra. Hai chiếc nhẫn có khắc chữ “L” má nàng đem vô cho hai đứa ở Ràng mà! Quên sao được, nhưng thấy nàng đang mang bầu tâm sự nên tôi đóng kịch cho qua đi cái tâm sự não nề).

Lam đứng lại quay ngang, còn cô kia thì vui vẻ:

– Bộ anh Hai quên em rồi hả?

– Thảo, ủa không… Đứa nào anh nhớ mài mại.

– Quỷ anh chớ nhớ mài mại nữa!

– Anh oánh giặc riết rồi chỉ còn nhớ Mỹ.

– Đào hầm chung với em mà quên được à nghen.

– Em Lan hả? Nhiều Lan quá…

– Không, em là Phượng.

– À nhớ rồi ! Kỳ đào hầm gặp xương Cao Đài ở dưới gốc trúc. Vậy mà anh tưởng em… Mai ở trên trảng Đồng Rùm.

– Đồng Rùm ăn B52 nát tan hết rồi.

– Sao đi qua đây chỗ nào cũng nghe cũng thấy cũng đội B52 hết vậy cà? Chắc anh phải lộn về Củ Chi quá ! Mà em vô cơ quan hồi nào vậy?

– Lâu rồi. Em có lên R mới biết Đồng Rùm bị B52 đó chớ. Sông Bà Hảo bây giờ không qua được. Lò Gò Xóm giữa Kà Tum Kà Tiếc gì em đều có đi hết. Bây giờ em mới ở luôn trong cơ quan, khi nào em mời anh ghé chơi.

Còn một cô nãy giờ đứng ngó tôi, thấy cô Phượng dứt lời mới xen vô:

– Còn em nữa, nhớ hay quên, ủa ủa nữa coi! Quỷ anh đâu á !

– Anh xin lỗi là quên tuốt rồi.

– Anh mà nhớ ai làm chi.

– Ai đâu tự giới thiệu coi.

– Thơm nè.

– À Thơm…

– Thơm nào? Để em nhắc cho. Hồi anh trên R về, vô K29 gặp chú Tám Quang và chú Tám Hà ở Gót Chàng. Vừa tới nơi bị đầm già liếc bắn rốc kết nhớ chưa?

– Nhớ rồi. Còn Thảo đâu?

– Nó theo chú Tám Quang đi Rừng Sát rồi. Còn em mắc đi học y tá trên R, nếu không chắc cũng dính vô đó.

– Không dính vô đó thì dính chỗ khác.

– Thôi đi tụi bay ơn -nàng Lam giục.

– Ừ đi thì đi !

Lam không chào hỏi tôi thêm câu nào. Có lẽ nàng đau khổ. Nhưng tôi hiểu nàng. Kỳ đó sau khi về H6 nàng được phân công đi cơ quan khác. Ít lâu sau tôi ra chỉ huy bộ binh, coi như đã đứt đoạn tơ lòng. Rồi thời cuộc dồn dập ào ạt xua tới, tôi đâu có nghỉ ngơi phút nào. Hơn nữa tôi là con ngựa bà không muốn trao dây cương cho riêng một ai cầm giữ… Bây giờ thì nàng đã yên nơi. Có lẽ chiếc nhẫn nàng đang đeo kia, có chữ “L” là tên Lam (thay vì tên Lôi), còn chiếc kia cũng mang chữ :’L” là tên “Lôi” (thay vì tên “Lam”) hiện đang trên tay của Là (cũng là “L”) chớ không có trên tay nàng mà cũng không có trong túi tôi.

Thôi vậy cũng là êm đẹp. Nàng đã có chồng và sắp có con. Tôi càng mừng chớ không buồn và trách móc gì hết (tại duyên phận chúng mình nó như thế Lam à !)

Hai thằng nhóc trở ra. Một cậu đi trước dắt đường. Còn đứa đi sau thì vừa đi vừa sụt lùi khỏa lá cây nguyên lại như cũ. Nhưng làm sao tránh được dấu chân trên lá nát. Biệt kích Kangoroo ở Trường Sơn đi bằng gậy, nó phóng những bước da ba, bốn thước, chớ còn bước thường như mình đây thì lá nào còn nguyên? Tụi Mỹ nó tinh vi lắm, thấy một lá nát là nó dò tìm dấu ngay.

Cây rừng trụi. lá. Không khí hắc mùi hóa học. Tôi đoán chắc chúng khai quang khu này ngót một năm nên mùi hóa học hơi phai đi, chớ nếu còn mới thì thở vào sẽ nghe khô phổi như ở Trảng Cỏ mấy năm trước.

Thằng bé chỉ khỏa sơ một khúc đường rồi đi xõng lưng. Con đường mòn càng sâu vào trong càng rõ rệt, không có quân ngũ nào khỏa lá cho kịp. Kẻ ra người vào liền xì chớ có phải một hai người thôi đâu.

Một cái giếng được đậy nắp gỗ rất kín. Chắc là đề phòng hơi hóa học. Tôi biết gần đến nơi rồi.

Ông Tư Lệnh từ sau ngày được bọn tôi cứu khỏi “địa đạo”, ở Phú Mỹ Hưng càng lặn sâu, lặn kỹ. Ông không còn đóng chốt ở nhà dì Ba nữa là phải lắm. Nếu diên trì ở đó thì chắc chắn không thoát trận chụp của Võ Văn Phán vừa rồi. Ông ấy có tính cẩn thận và phòng xa, tôi biết từ hồi chín năm. Tuy ít khi bị bom, nhưng bao giờ ông cũng bắt nhân viên đào hố cá nhân. Cả hai bà phu nhân (vợ ông và vợ Tô Ký) cũng phải đào. Hai bà mới được một cái hố cạn như mèo quào, cho nên kỳ đó thằng bé Lôi mới ngồi chắn miệnghầm mà bị miểng bom chạm vai cũng ở vùng Long Nguyên Bà Tứ này. Bây giờ ông đâu có được nghênh ngang cưỡi ngựa đi từ đây xuống tận Bến Súc để quan sát trận địa như hồi 1947 nữa.

Đối với Mỹ ngày nay, thằng Tây hồi chín năm chỉ là một đám trẻ con. Nếu Mỹ bây giờ là Tây thời đó thì nó đã bị chúng tôi xơi tái dễ dàng. Nhưng khổ vậy, Mỹ là Mỹ chớ không phải là Tây, càng không phải là con hổ giấy như Mao xếnh xáng nói.

Gặp lại anh Ba mình kỳ này coi bộ ảnh xuống gà quá cỡ. Vừa gầy vừa xanh và cặp mắt mất thần, bộ râu quai nón rất đẹp ngày xưa nay đã thành cái chổi xể rối ren như đầu óc của ông vậy, còn tóc thì một bên trắng một bên tro. Làm tướng như ông khổ thật mà rồi chết uổng thân, lon gáo ai mang, ông chỉ được đứng ở Ngã Ba Chú Ía gác đường cho các đồng chí “nhớn” đến thăm em (có đường đeo bảng hiệu Trần Đình Xu ở Sè Goòng thay đường Phát Diệm cũ).

Anh nói ngay:

– Khu ủy (chớ không phải Quân Khu) điều động cậu về làm quận đội trướng Củ Chi, và thường vụ khu ủy đã đồng ý.

Tôi không hỏi lý do lý diếc gì, chỉ hỏi cho có lệ:

– Anh Ba chỉ thị tôi về đó phải làm gì trước nhất?

Anh không trả lời mà hỏi lại tôi:

– Cậu có rành loại hỏa tiễn giàn mướp Liên Xô không.

– Dạ, tôi có dùng nó gác trên bệ DKZ 75 để bắn từng phát thẳng vào mục tiêu cố định. Đó gọi là trực xạ. Chớ không bắn vào mục tiêu rộng lớn. Đó gọi là gián xạ, nghĩa là bắn vòng cầu vào các khu quân sự, như sân bay hoặc kho quân nhu.

– Vậy không dùng để pháo kích Đồng Dù hoặc Trung Hòa được à?

– Dạ, đó không phải là loại vũ khí để pháo kích. Chỉ dùng nổ để bắn xe tăng, tàu, lô cốt…

– Sao vậy?

– Dạ, bắn gián xạ thì độ tản mác của nó rất lớn. Có thể sai biệt từ 800m đến 1000m, cho nên chúng tôi chỉ bắn mục tiêu trong vòng một cây số, còn xa hơn thì không bảo đảm chính xác. (Nói rõ ra là pháo kích trật lại chỉ chết dân).

– Vậy thì mình hì hục tải xuống đây, cất giấu chỉ toi công.

Nhưng có lẽ ông Tư Lệnh cảm thấy không nên nói vậy trước mắt thuộc cấp, nên trớ qua bằng một giọng hằn học :

– Các cậu quan niệm vũ khí vô sản còn nặng mùi tư bản lắm, phải sửa đổi mới được, còn không sẽ đi chệch lập trường.

– Dạ!

Tôi nói nhỏ rí. Bụng nghĩ không nên cãi lại. Có lẽ ông Tư Lệnh cũng không rõ khả năng và tác dụng của loại hỏa tiễn này. Ông Tư Lệnh đã vượt qua được cơn chới với, ngon trớn tiếp ngay:

– Các cậu cầm quân không nên chỉ thấy có tiếng nổ và xác địch. Có khi không có tên địch nào chết mà một tiếng nổ có tác dụng hơn cả trận đánh lớn. Cậu thử tướng tượng một trái hỏa tiễn phóng vào đô thị, dù không trúng cứ điểm quân sự, nhưng tiếng nổ của nó ảnh hưởng tới tinh thần đồng bào bao lớn? Dù phải hy sinh vài người, vài chục người dân thì cũng tốt như thường. Chiến tranh vốn là như thế mà ! Kỳ rồi cậu pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù hy sinh một B trưởng và vài cậu du kích phải không? Không tính sự tổn thất của địch là bao nhiêu, đạn cà nông nổ tung, trực thăng, xe tăng bị cháy v.v… Chỉ có cái vang âm của những trái pháo của cậu mà thôi. Nó to lớn cỡ nào cậu có biết không? Nó bay vô tới Sài Gòn và sang tận nước Mỹ kia đấy. Rồi ba thằng kép Mỹ, ba con đào Mỹ phản chiến nó sẽ nhao nhao lên… Cậu có biết con đào lủng của Mỹ nó sang tận Hà Nội chiêu hàng phi công Mỹ ở Hỏa Lò không? Hàng chục triệu dân Mỹ đang chống chính phủ Mỹ. Mình đánh bao nhiêu trận, chết bao nhiêu lính cũng không đạt được kết quả đó cậu ạ. Cậu rõ chưa nào?

– Dạ rõ ạ !

– Vậy thì giàn mướp giàn bầu giàn bí gì cũng chơi ráo. Miễn cho nó nổ được trong đô thị thì đó là thắng lớn. Chiến tranh là giết người. Bên nào giết nhiều thì bên đó thắng.

Tôi làm thinh. Từng sử dụng các loại pháo ở Hà Nội tôi biết rõ… Nhưng còn dám nói gì khi ông Tư Lệnh đã bảo như thế. Nghĩa là còn có nước thi hành. Bố thằng nào dám lý luận khác với ông.

Ông Tư Lệnh nói thêm:

– Bây giờ cậu về Củ Chi làm quận đội trưởng nhưng tôi giao quyền cho cậu điều động các D của Quân Khu hiện ở Củ Chi, kể cả Q16, nhằm phục vụ một việc. Là pháo kích một lần nữa Trung Hòa và Đồng Dù. Nhưng lần này dùng hỏa tiễn giàn mướp chơi tụi nó.

– Dạ!

Ông giơ tay chặn ngang:

– Cậu phải đem nó vào ấp chiến lược Cây Bài để bắn tụi trực thăng, hạ tại trận ít nhất vài ba chiếc. Cây Bài ở sát Đồng Dù không xa hơn một cây số. Vậy bắn trực xạ được chứ?

– Dạ được ạ !

(Được nhưng không về được đứa nào. Cũng như pháo kích sân bay Biên Hòa xong, đội đặc công 69 của Huỳnh Thành Đồng sống mây thằng, súng vác về được mấy cây?)

Ông lại tiếp:

– Đó là việc thứ nhất. Còn việc thứ hai là tập trung tất cả du kích, dũng sĩ tái lập lại D7 Củ Chi theo biên chế chánh quy, cũng do cậu chỉ huy luôn. Ngoài cậu ra tôi không thấy có ai làm hai việc đó kết quả. Cậu nghe rõ chưa?

– Dạ rõ ạ!

– Việc thứ ba là giúp cho hậu cần Quân Khu cất giấu đạn pháo và một số đầu đạn hỏa tiễn DKB để chuẩn bị kế hoạch mới của R do Quân Khu đảm nhiệm phần lớn, trong tương lai rất gần. Cậu lập lại cho tôi nghe cả ba công việc đó xem nào.

Tôi lập lại ron rót như trả bài.

Vừa đến đó thì một cô gái xuất hiện. Cô đến đeo vai ông Tư Lệnh, nhõng nhẽo:

– Ba, ba ăn cơm chưa để con dọn lên?

Ông trỏ vào tôi bảo:

– Con hỏi anh này thì rõ ? Con biết ai đó không?

Cô bé lắc đầu. ông bảo:

– Không có ảnh, con không ra đời được, đừng nói chi ngày nay làm y tá.

Rồi quay lại tôi, ông tiếp:

– Con nhỏ hồi má nó có bầu, nhờ mày đỡ miếng đạn đó Lôi. Bây giờ bây lớn đó.

– Dạ .

– Nó vừa học xong lớp y tá tao kêu về đây. Để ở trên đó B52 nhộn nhạo quá trời.

Cô bé bưng cơm lên. Vừa cầm đũa, ông hỏi tôi:

– Còn vợ con mày chưa tính sao Lôi? Tình anh em tao hỏi thiệt, mày đừng phiền tao nhé !

– Dạ,. bận công tác luôn, có lúc nào nghỉ đâu anh Ba!

– Còn vụ mấy đứa nhỏ cửa dì Ba (ông kêu bằng dì Ba, sợ lộ bí mật với con gái), mày không chấm đứa nào à?

– Dạ, em đâu dám chê, anh Ba, nhưng người ta chân guốc chân giày chớ đâu có đi dép cao su uống nước giếng như mình mà vô được, anh Ba!

– Vậy tao nghe chúng nó nói với nhau, con Khánh nó nói mày đã hứa với nó rồi.

– Dạ, em đâu có hứa.

– Mày giấu tao hoài!

– Dạ, em không có hứa, chớ em đâu có dám giấu anh Ba.

– Vậy tao hỏi thiệt, mày không có để ý đứa nào sao? Nếu có, con nhỏ ở cơ quan nào, tao tạo điều kiện cho hai đứa ở gần nhau.

– Dạ, thưa thiệt anh Ba, em không có ý định gì hết.

– Mày đã 34, 35 gì rồi mà chần chờ hoài sao được. Cha mẹ già cần có cháu bồng. Mày rước bà già vô kỳ đó có vui không?

– Dạ vui chớ, thưa anh Ba.

– Còn vụ thằng em mày, thôi dẹp đi. Không có bày đặt vận động cái gì hết. Thằng Chín Lộc chọc cứt không nên lỗ ở đây nó có làm ra trò gì đâu. Tao cho nó về trên R rồi.

Tôi sợ thon thót khi ông nhắc tới thằng em đại úy Thủy Quân Lục Chiến của tôi, may quá ông gạt sổ rồi. Nhẹ cái thân tôi.

Trước khi từ giã, ông bất tay tôi, còn căn dặn:

– Rán cẩn thận nghe “em”! (một lần duy nhất ông gọi tôi bằng tiếng ấy). Nếu có để ý nơi nào cho tao hay, tao giúp được gì sẽ giúp.

Tôi bước lên khỏi hầm, đầu óc lâng lâng. Một ông tư lệnh Quân Khu ở dưới hầm sâu hai thước trong một khu rừng trụi lá vì hóa học. Bên cạnh có một đứa con gái đẻ ra và lớn trong chiến tranh. Hình ảnh đó không bao giờ phai nhạt trong đầu tôi. (Không biết sau cái chết bất ngờ của ông Sáu, anh Ba cho con gái về coi sóc món ăn thức uống cho cha, hay vì bể ổ với dì Ba mà chị Ba cho con gái về đây kiểm tra ông bố?)

Tôi bảo thằng Nông và thằng Quyết tìm chỗ cho tôi nghỉ tạm qua đêm. Chúng bảo:

– Đêm là giờ của đám cô hồn tụi em mà nghỉ gì anh . Anh ra Bến Chùa có thủ trưởng chúng em ở đó chờ!

Thế là ba chân bốn cùng tôi theo chúng ra Bến Chùa. Cái khu phố tử địa nhưng đối với những kẻ gan cóc tía thì coi đó là khu nghỉ mát hòa bình và tình ca tươi mát. Chín Nữa đã phục kích sẵn ở đó.

– Hề hề… Tao bảo tụi nó, mày làm xong việc với anh Ba thì đưa về đây cho tao.

Tôi có ông dượng thiệt bảnh. Đi đâu cũng gặp. Đánh trận nào cũng bị thương, nhưng không chết, cũng không cưa cắt gì hết. Và chuyện gì dượng cũng giễu cợt được hết.

– Mày có định làm rể ông Tư Lệnh không?

– Thôi dượng ơi! Đầu quăn tóc rối đâu có hợp với cách mạng.

– Không! Tho nói là con gái ruột của ông kia chớ không phải Tam Nương trong quán nước đá. Này! -Dượng vừa nói vừa chỉ tay vào nhà dì Ba- Mày có muốn ghé thăm em này không?

Tôi lắc.

– Vậy thì em kia! -Dượng trỏ tay về phía quán em Lụa.

Tôi làm bộ:

– Em nào ờ đó, dượng?

– Thằng? Mày giấu tao hoài may. Tao đánh giặc thua mày chớ cái món đó mày phải tôn tao làm sư phụ nghe mày!

Liệu bề không chối được, tôi bèn khai thiệt.

– Duyên chị tình em. Vậy khỏi lo thất nghiệp mày ạ. Cũng như tao vậy thôi, hai chị em con B. con T. tao tém luôn một lúc.

Tôi nói;

– Đúng ra thì tôi gặp con em trước rồi cô chị sau.

– Không, tao nói là tao tém cùng “một lúc”, mày nghe rõ chưa, nghĩa là…

– Vậy mà… được sao dượng?

– Vậy mới tài chớ may… Hì hì, tao hỏi thiệt nghe, mày có thấy rõ tiểu thư của ông Tư Lệnh chưa? Nó giống bả nên y hệt đầm lai. Nhưng mà ở gần ổng, bố thằng nàocũng không dám mó.

– Dượng nói vậy chớ tới chừng nó lên cữ thì nó theo, như con gái ông Sáu Nam trên R chạy theo tôi, chớ cần gì phải o.

– Vấn đề là mày có OK Sa lem nó hay không thôi. Tao chắc ông Tư Lệnh gật liền.

Vừa nói hai dượng cháu đã tới gần quán cô Lụa. Chín Nữa kéo tôi đứng lại rù rì:

– Bây giờ còn sớm, lính mình còn bồi dưỡng trong đó, mày vô cái là lộ mặt địa ra ngay. Để tao đi xích hầu. Tao móc con Rớt ra. Rồi mày liên lạc với má nó, đặt kế hoạch nội công ngoại kích đêm nay úp đồn.

– Bây giờ là hơn 10 giờ rồi dượng.

– Ờ thì càng khuya gà “vô đĩa” càng êm chớ sao mày tụi!

– Trời? Dượng biết cả con Rớt nữa sao?

– Mày quên rằng tao hiện là trưởng trinh sát của ông tham mưu trường, tai mắt tao ở khắp nơi nghe mày.

– Vậy dượng đặt kế hoạch cho tôi đi.

– Kế hoạch mẹ gì. Mày đã có nội ứng sẵn rồi. Si nhan là nó úp vô cái một, còn tao cũng lo hạ cái lô cốt của tao.

– Vậy à?

– Chậc! Mày nên nhớ là đời chiến chinh vui nhờ cái “lá xanh” ấy (bản nhạc nổi tiếng “Lá Xanh” của Hoàng Việt sáng tác năm 1948 ở Tháp Mười). Nếu không oánh Mỹ sao vô? Nhưng mà mày có sẵn “chứng minh thư nhân dân” đó không. Nếu không, tao cho.

Tôi có trong bóp nhưng làm bộ ngây thơ:

– Dạ chứng minh thư tôi bỏ lại ngoài Hà Nội rồi.

– Nè, tao cho một hộp để phòng thân. Nếu muốn khỏi bi nắm đầu thì đi đúp-li-ca-ta nghe chưa? -Dượng vừa nói vừa móc sắc cốt- Đây là loại đờ luých, tao gởi mấy con nhỏ quân báo mua ngoài Sè Goòng đó nghe mày… Thằng Tôn chết ở đó. Còn Út Lịa, Năm Thủ, Sáu Uya nằm bên kia… Tao cũng nằm đây thôi -Dượng bất thần trỏ tay nói-Không biết ở dưới kia tụi nó có cần không tao gởi cho vài lố.

Mấy hôm sau tôi về tới Củ Chi. Một mình đổ bộ xuống Đồng Sởi băng qua Xóm Chùa. Nhờ Sáu Mã Tử và Năm Đầu Ban của cô Lan xã đội kiêm bí thư (thay cho ông bố) đưa tôi ra Sa Nhỏ.

Tôi vô quán đãi các cậu một bữa khô mực la de rồi chia tay. Chẳng ngờ chủ quán là má Bảy ở xóm Thuốc Súng sống sót sau một trận B52 cùng với ba cô con gái ra đây bán quán sống vất vưởng qua ngày. Chỉ cách có mấy tháng mà nay gặp lại thấy mà đầu bạc trắng. Má mừng rỡ.

– Tao tưởng mày về bên Bến Cát ỡ luôn với con Sáu Hòa rồi !

– Quê hương con là đất Củ Chi. Đi đâu rồi cũng về chớ má !

Sáu Mã Tử nhạy miệng:

– Ảnh bây giờ là… (nhưng bị tôi trợn mắt nên tốp).

Sáu Mã Tử và Năm Dầu Ban đưa tôi luôn tới văn phòng quận đội ở Đồng Lớn. Đó là một cái chòi xơ xác. Từ ngày Tám Giò chết, Mười Thứ lên thay, du kích tản mác không làm sao chỉ huy được.

Thấy tôi về, anh em mừng lắm. Năm Đầu Ban nói ngay:

– Đây là ông Quận mới của mình.

– Người ta nghe trước chú mày rồi.

– Có đường “dây luộc” nào oánh mau vậy?

– Hễ ảnh vừa được quyết định là tụi tôi biết ngay. -Hai Văn tiếp.

– Ông Mười Niên Xô vừa mới hui nhị tỳ.

Tôi kêu lên:

– Ổng chết vì nghiệp gì? Bom hay pháo?

– Ổng không chết vì bom pháo nhưng đối với tụi tôi ổng không phải là người chỉ huy.

– Các cậu đừng nói vậy. Ổng quen chỉ huy quân chánh quy chớ không chịu tác phong du kích. Nay ở trên cho ổng ra làm tham mưu trưởng E268, rồi ông sẽ chơi tụi Mỹ cho coi.

Dù tôi có lời ngăn chặn như vậy, các nhân viên vẫn chế giễu ông quận Thứ. Cô Bảy Phán, người nấu bếp thời Tám Giò, bây giờ đã lên chức y tá, ôm chầm lấy tôi, áp mặt vào ngực tôi rủ rỉ:

– Nghe anh sắp về, em không ngủ nghê gì được.

– Em chuẩn bị nấu món gì cho anh bồi dưỡng kẻo qua bên đó thiếu chất quá.

– Em có nhốt sẵn một chục con chuột ú núc. Em sẽ quay chão đãi anh.

– Chuột ăn hóa học, mình ăn vô bị cùi cả đám.

– Lâu nay tụi em ăn, cù hết rồi sao?

– Bố náo! Bố náo! Ai nại đãi thủ trưởng thịt chuột như thế.

Tôi ngoái nhìn lại thì thấy cậu Hồng liên lạc của quận đội . Mọi người cười cái rần. Rồi mạnh ai nấy góp chuyện chế giễu ông thủ trướng cũ của họ. Nàng y tá Phán bắt đầu:

– Anh Hai nghĩ coi, em nớn thế lầy mà ông kêu em bằng con nủng lầy nủng lọ.

Hai Văn tiếp theo:

– Ổng chửi địt bố mấy thằng Mặt Trận.

– Tại sao vậy?

– Ổng triệu tập ban chỉ huy xã đội cả tháng không ông nào đến. Ổng kêu em đến hỏi ný ro. Em bảo là đường liên lạc bị Mỹ cắt không ai đi được. Ổng trợn mắt: “Sao mở đài ra tôi nghe Củ Chỉ địa đạo thôn niền thôn xã niền xã, mà ngay cả ở An Nhơn An Phú chúng nó không sao nuồn tới đây được nà gì? Nại còn nói địa đạo xuyên qua sông Sài Gòn nữa cơ. Rõ bố náo. Địt bô mấy thằng Mặt Trận Giải Phóng nừa chúng ông. Nghe mê ny. Khi vào tới đây nó bỏ chúng ông, cá rô cá nẹp, bù nóc bay tua tủa trên đầu, xe tăng chạy hàng đàn trên mặt đất, cả cái Đồng Nớn không có một cái hố để chui, mà bảo nó địa đạo thần thánh! Thần thánh cái mả mẹ chúng nó!”

Hai Văn vừa “tường thuật” vừa ra bộ, cả bọn cười lăn chiêng.

Cậu Minh thư ký đánh máy chêm thêm:

– Tên ổng là Nguyễn Văn Thứ mà ông chỉ ký số 10 và chữ Thứ bằng tiếng gì em không đọc được, em hỏi, ông bảo đó nà tiếng Niên Xô, các cậu các cô còn khướt mới sang được bên đó . Ổng kêu chị Phán là con lủg, còn chúng em thì xây nố cố no nẩn quẩn trong nhà chẳng nàm ra cái tích sự gì. Chị Phán tức nên có cự lộn với ổng: “Nè chú Mười, chú là người lớn, chú ăn nói nên cẩn thận một chút, dân Củ Chi này dữ lắm đó, chú chạm tự ái họ, họ không chịu đâu. Còn vụ địa đạo, không phải tụi tôi nói trên đài, chú có thắc mắc thì gởi thư lên luật sư Nguyễn Hữu Thọ chớ đừng mắng mỏ bông lông thằng này thằng nọ trước mặt chúng tôi”.

Tôi cũng tức cười. Nhưng đáng cười nhất là đám lãnh đạo Hà Nội. Chúng không hiểu cuộc chiến tranh này nên xài phí cán bộ một cách oan uổng. Tội nghiệp cho cả lô úy tá được gởi vô đây chuẩn bị cho Tết Mậu Thân. Họ có biết gì đâu, ngờ nghệch trước vũ khí tối tân của Mỹ và chết mất xác. Ba trăm ngàn cán bộ và cán binh mà chúng nhìn nhận là có thật và chính là do sự ngu xuẩn, tàn bạo của chúng.

Tối hôm đó tôi ngồi làm việc với Hai Văn về tình hình các xã đội và lực lượng du kích. Hai Văn tỏ ra rất bi quan, nhưng tôi bây giờ lại đóng vai thượng cấp, cũng như Năm Lê, Ba Đình đối với tôi, nên tôi nói đủ cách để kẻo níu tinh thần hắn lại để khỏi sa hầm.

Sáng thức dậy, tôi cũng chưa dám ra sân. Em Phán nằm bên cạnh còn ngủ mê mệt. Đêm hôm qua em khóc hưng hức trách móc đủ thứ: nào là anh không thương em, nào là anh ngó đâu đâu không thèm ngó đây v.v… Nên tôi phải ngăn dòng lệ thảm của nàng. Trời hỡi, ngủ một hầm ba, bốn người, lại nằm võng mà tên Thiên Lôi này cũng rán sức già phụng sự em trong không khí hãi hùng, sợ lộ bí mật các em khác hay (mà chúng hay hết), thì còn gì uy tín của ông tân quận trướng cái Củ… Chi! (nhưng chắc cục uy tín vẫn còn nguyên, không sứt mẻ tí nào).

Cho nên sáng dậy hơi uể oải. Sức khỏe tên Thiên Lôi này bắt đầu xuống chút đỉnh. Tôi vừa ló đầu lên thì nghe giọng rau muống om xòm:

– Mấy thằng nởm kia, có nhanh nên không? Cá nóc (trực thăng OH6A) nó rà bên Ba Sòng mà chúng bay cứ tà tà đi rạo bờ hồ thế.

Bảy Phán vọt lên cười khéc khéc:

– Bờ hồ nào chú Mười?

– Tao nói nà Bờ Hồ ngoài Hà Nội kia, con nủng!

Đoán chắc đây là Mười Thứ nên tôi niềm nở:

– Anh đi đâu về sớm vậy anh Mười?

– Ông nà ông Nôi đấy phải không?

– Dạ phải.

Mười Thứ bắt tay tôi. Tôi lôi y vô nhà. Nghe tiếng mà chưa gặp lần nào. Tội nghiệp! Đúng là dân chánh quy, đầu đội nón cối của quân đội miền Bắc, chân đi dép râu, quân phục cứt ngựa xốc xếch, áo sút nút còn quần ống cao ống thấp. Mười Thứ lắc đầu:

– Bố tiên sư, mình đi cho sớm để khỏi bị chúng rà, thế mà mới nú ra nà đã đụng đầu.

– Anh đi đâu, tôi cho giao liên dắt đường, đi một mình rủi bị nó rượt biết đâu mà chạy. Ở bên Bến Cát nó dám đáp xuống bắt người kia đấy.

Mười Thứ chưa hết giận mấy thằng nhóc và Bảy Phán, cứ lầu bầu:

– Tôi nói nà nói cái Bờ Hồ ngoài Hà Nội chứ ở đây nàm đếch gì có bờ hồ. Những bàu nà bàu. Bàu Trâm, Bàu Nách, Bàu Tròn, Bàu Vuông… bàu nào cũng có bù nóc tới, chán bỏ mẹ! Ông Năm Dũng, anh hùng Điện Biên, biệt danh Hùm Xám, vô đây chưa chi đã bị cá rô rỉa chết ở Bến Cát.

Mười Thứ béo tròn, trắng mưa như công chức Sài Gòn. Có lẽ anh ta đi chuyến đặc biệt vô đây nên còn nguyên cái mã du học Liên Xô.

Anh ta quay lại tôi:

– Cậu về năm nào? Đi băng tầu nặn hay sao mà áo quần còn tươm tất, súng ống còn mới nguyên vậy? Cậu trông tớ này, mới vô có mấy tháng mà quần áo mặt mũi không còn cái thể thống gì nữa.

Tôi cười:

– Có anh đi tàu lặn, chớ tụi này làm gì có tàu mà đi! Mang gạch bốn tháng đó anh ơi!

Mười Thứ cười giả lả:

– Nói chung trong này bị chiến tranh nhưng sinh hoạt cao quá. Tớ mua được mấy thước vải tê-tô-rông kia để về cho mẹ đỉ. Gớm, hàng đế quốc tốt quá ! Nhưng nếu mình nói ra thì bị quy mất nập trường. Cậu biết quán con Sẩm nai Ba Mầu không? Ối giào, nếu tớ chưa có vợ thì tớ sẽ cua con nhỏ này. Nhưng tớ có con rồi! -Hắn rỉ tai tôi rồi cười ha hả- Nó đẹp còn hơn con đào xi nê Trà Giang của mình ngoài đó… đó.

Trước khi rời chức vụ, Mười Thứ bàn giao công việc cho tôi. Anh ta đóng cửa thật kỹ rồi bảo:

– Đám nhân viên này chả có ý thức giữ bí mật gì hết… Trước nhất mình cho cậu biết nà hiện có hai cơ sở nữ công tác bí mật, một ở Trung Hòa, một ở Củ Chi. Hai cơ sở này nằm im để báo cáo tình hình địch cho ta thôi. Còn hai cơ sở nữa ở Đồng Dù, chờ quân báo Bảy Sơn huấn truyện xong sẽ đánh chất nổ vào câu nạc bộ sĩ quan. Kế đó nà khu ủy chỉ thị cho tôi cung cấp một nực nượng du kích để chuyển một trăm quả DKB xuống Nhuận Đức. Công tác chót nà tập trung du kích xã để kiện toàn D7 và củng cố nại đội nữ dũng sĩ Củ Chi của ông Tám Quang, Tám Queo gì đó !

Tám Quang là trưởng phòng chính trị Quân Khu đó nghe ông bạn!

– Trưởng phòng gì bố náo bỏ mẹ! Địt mẹ, tôi đến đây gọi chúng nó họp, chẳng ma nào tới cả, dũng sĩ cái gì. Trước đây ông nàm ăn với đám này ra sao mà nay chúng bỏ về nhà cả! Chúng coi nệnh nọt của cấp trên chẳng ra cái thứ gì!

Mười Thứ vừa nói vừa “địt” luôn mồm. Đây là lần đầu trong đời tôi nghe một anh Bắc Kỳ có chức cao ăn nói bạt mạng như Mười Thứ. Người thứ nhất là ông Hoàng Thọ. Hoàng Thọ bị Lê Duẩn xử tử lén ở rừng Cạnh Dền. Còn Mười Thứ thì cho ra làm tham mưu trưởng trung đoàn 268 Bắc Việt, nhưng tôi chắc anh ta cũng không thọ hoặc lại cũng kêu than như khi làm quận đội trưởng Củ Chi.

Quân lính ở Củ Chi này là thứ quân hồi vô phèng, thách đại tướng thử vô đây chỉ huy một trung đoàn hoặc cái quận đội này trong vài trận đánh Mỹ rồi ổng sẽ hết kêu gọi thừa thông xông lên!

Mười Thứ giao xong công tác cho tôi như trút được một cái nợ đời. Tôi hiểu anh ta nên không phiền hà cũng không chế giễu gì cả , lại còn xuất quỹ quận đội, lúc đó còn 5000, tặng anh 2000 bỏ túi xài chơi, như một lời cám ơn cụ thể.

Tôi vô cùng nao núng, nhưng chẳng lẽ xin về D1 với Tư Nhựt? Bỏ cái cục nợ này cho ai? Chuẩn bị đánh Sài Gòn, lấy Củ Chi làm bàn đạp quan trọng nhất. Tất cả công việc chuẩn bị cơ sở giao cho Thiên Lôi mà chẳng giao cho một thứ phương tiện gì cả . Trong lãnh vực quân sự, lệnh phải đi đôi với phương tiện: Máy bay xe tăng, tàu chiến, súng đạn v.v.. còn ở đây chẳng có thứ gì ngoài mấy cái địa đạo chết người và đám du kích bất trị!

Bí thư quận ủy: Một Sơn; quận đội trưởng: Tám Giò, hai cái đầu sỏ của quận đều chết. Hai Mỏ thay Một Sơn, Mười Thứ thay Tám Giò, Hai Lôi thay Mười Thứ. Tình hình từ xấu đến tệ. Củ Chi phải chia thành Nam Chi và Bắc Chi vì đường đi lại bị cắt nát.

Bắc Chi gồm các xã : An Nhơn Dông, An Nhơn Tây, An Phú, Phú Mỹ Hưng, Thái Mỹ, Trung Lập Thượng, Phước Thành, Phước Hiệp, Tân An Hội, Tân Thông Hội và Tân Phú Trung.

Nam Chi gồm các xã: Nhuận Đức, Trung Lập Hạ, Phú Hòa Đông, Phú Hòa Tây, Phước Vĩnh Ninh, Trung An, Tân Thành Đông, Tân Thành Tây.

Như ngay một xã cũng phải chia đôi: Trung Lập (Thượng và Hạ), Phú Hòa (Đông và Tây), An Nhơn (Tây và Đông)…

Các bà già trầu Năm Đang, Hai Xót nghe tôi về cũng kéo phái đoàn xách gà vịt tới ăn mừng và khoe công trạng: “Nhờ tụi tôi ông mới về được đây!” Hai nàng Tám Phụng và Tư Bé đòi ở luôn với quận đội cho bảo đảm, chứ đi với hai cô cứ chạy cà còng hoài có ngày bỏ mạng. Khổ cho ông Thiên Lôi này, một nàng y tá Bảy Phán đủ làm cho Thiên Lôi sút cán búa rồi, giờ lại thêm Phụng và Bé, nàng nào cũng mến anh Hai sắp nhỏ hết trơn.

Có đêm nằm giữa hai em, tay chân muốn táy máy mà đâu có dám, cứ hễ vừa thanh đông thì lại bị kích tây. Bị kẹp giữa hai cái đồn Bạch Hạc, súng đã lên đạn mà kẻ thù vẫn ung dung trước mặt kia, không bóp cò được. Thiệt tức dội. Trước đây bị hai chị em Lụa Là, Ua Chia đóng chốt, nhưng tôi còn xoay trở hạ được cả hai.

Đã bị đưa vào thế kẹt, bữa sau lại càng kẹt thêm. Trời đang mưa tầm tã, chỉ có nàng Tư Bé ở nhà, còn Tám Phụng và cô Phán đi công tác. Tôi sai mấy đứa liên lạc đi quán “mua nước mắm bằng cái dài nhôm”. Chúng nó biết âm mưu của ông thủ trưởng nên thi hành lệnh ngay.

Tư Bé thổ lộ với tôi rằng nàng đã để ý “chàng” từ ngày nàng Ua đèo tôi về Củ Chi ghé nhà nàng xin nước uống và được ba nàng đãi dừa nạo.

Thiệt là ngồi buồn lại gặp chiếu manh. Trời mưa giúp cho tôi cơ hội trổ tài thầy pháo. Hai đứa đưa nhau xuống hầm.

Lòng hầm ẩm ướt vì mưa dột nên phải mắc võng. Trời càng mưa không khí càng ấm áp. Mấy gốc cột lung lay, ngôi nhà chuyển động răng rắc như sắp đổ với sức nặng trăn trở của hai tay chơi cờ hiếu chiến. Chàng vừa định thọc xe vào cung, còn nàng thì cũng đã ngả sĩ sẵn sàng tiếp đón thì có tiếng kêu:

– Có anh Hai nhà không?

– Không!’ Anh Hai đi công tác Phú Hòa Đông -Tư Bé nhanh miệng.

– Anh Hai ơi ! Anh Hai… quận đội.

– Anh Hai… đi Phú…

Nhưng bước chân đã vào nhà với tiếng quần áo ướt khua rột rẹt đến gần miệng hầm. Tư Bé vội hất tôi qua và sửa sang lại bộ vận vừa quát:

– Anh Hai không có ở đây!

Rồi vọt lên.

Qua đối thoại giữa hai người “nữ dũng sĩ”, tôi nhận ra giọng Bảy Mô. Chết một cửa tứ. Hầm không có ngách, chui ngã nào?

– Văn phòng đi đâu hết hả cô Tư?

– Ờ… ờ Đi công tác hết rồi.

Tôi bí quá đành nằm im. Nhưng tôi biết Bảy Mô thông minh, nếu tôi nằm nín dưới hầm thế nào nàng cũng lục lạo, bất gặp. Tôi bèn bước lên, cố giữ sự bình tĩnh:

– À em. Em đi thi đua R về hồi nào vậy?

– Mới dzìa! Sao cô Tư nói anh đi công tác?

– Trời mưa sợ tụi thằng Lệnh đột nhập bất ngờ nên vừa nghe tiếng hỏi là anh lủi xuống hầm.

– Hầm này em biết không có ngách mà !

– Thì lủi đại vậy thôi…

– Xí biệt kích gì dám vô đây?

Thấy mặt nàng “dũng sĩ” hầm hầm, tôi nói lướt ngay:

– Em lên R có vui không? Chắc được bầu anh hùng… dũng sĩ diệt Mỹ rồi hả? Oai ghê. Để anh kêu bầy trẻ mua bánh ăn mừng. Thay quần áo đi em, kẻo lạnh…

Tôi xổ luôn ra phan, nhưng cô em cứ đứng im, tay chân run lẩy bẩy không biết vì mưa hay vì gì khác.

– Kìa em Bảy, xuống hầm thay đồ đi.

Mò xuống hầm một chốc rồi trở lên, mặt nàng càng hậm hực. Bao nhiêu chứng tích của cuộc cờ còn ít nhiều dưới đó đâu đã kịp phi tang.

Nàng nói:

– Má vô lần nào cũng không gặp anh.

– Anh bận chớ phải anh tránh né gì sao em. Mà em cũng đâu có cho anh biết trước.

Tôi kiếm lời dỗ ngọt, rồi cũng qua truông. Đâu phải lần đầu nàng nghi tôi. Của đáng tội, nàng nghi đâu đúng đó.

– Em lên R, hội nghị có đông vui không?

– Cũng được được.

– Có ông nào tên Sáu không?

– Không. Chỉ có ông Mười Khang.

– Mười Khang là ông nào?

– Em không biết, nhưng nói tiếng Bắc lai giọng Nam (tức phó thủ tướng Phạm Hùng), anh ở ngoải mà không biết à?

– Trời ! Biết sao nổi em. Họ thay tên đổi họ liền xì !

Tôi biết ngay cơn bão chính đã qua nhưng còn cái đuôi quất lại:

– Biết vầy em ở luôn trên đó làm gạc đờ co cho cô Ba.

– Cô Ba hào? -Tôi biết là Ba Định nhưng giả bộ hỏi.

Mô làm thinh. Tôi cũng có cách đối phó chớ. Bề gì cũng tham mưu trưởng mà ! Tôi bảo:

– Em về đây thủ văn phòng giùm anh vài ngày, anh có công tác gấp liền bây giờ.

Bảy Mô trừng mắt:

– Anh đi đâu?

– Anh đi vô… Tư Chuyền bàn công việc chuẩn bị nơi chỗ cho chiến thương.

– Gấp gì gấp dữ vậy?

– Sắp vào đợt rồi, em không hay gì sao.. Phải có hầm cho một trăm thương binh kia đấy. Kỳ này nổ to chớ không phải lem nhem như mấy kỳ trước.

Bảy Mô thừa biết trong quân y có hai cô Nga rất bén nhạy, nên hạ giọng:

– Để mai, em đi với.

Thời may, Năm Hồng, quân y sĩ của quận đội ở đâu lót tót tới . Theo sau là hai cô y tá tay xách một con gà.

– Dạ, kính chào anh Hai quận đội.

– Xách gà đi đâu vậy chú em?

Năm Hồng là người Hà Nội, trẻ măng, ở đâu trên R mới đưa xuống nhưng vì sợ súng đạn nên đáng lẽ đưa ra D1, xin về đây.

Năm Hồng sốt sắng:

– Em nghe nói anh Hai ở bên Bến Cát mới về, nên em xách con gà trống này lại.

Tư Bé đứng yếu xìu nãy giờ, chộp được cơ hội lên tiếng ngay:

– Mình liên hoan mừng em Bảy đi R về.

– Úy ! Không được đâu chị Tư. Đây là gà y tế chớ không phải gà nấu cháo!

– Gà y tế là gà gì?

– Em sẽ lấy máu nó tiêm vào người bồi dưỡng cho anh Hai.

Mọi người đều sửng sốt, không biết chuyện gì lạ vậy. Năm Hồng giải thích ron rót:

– Đây là phát minh mới của Trung Quốc, mình đã tiếp thu và thực nghiệm ở Hà Nội rồi. Trong hoàn cảnh thiếu thốn của chiến tranh miền Nam, mình sẽ áp dụng nó với chiến sĩ.

– Em đã thực hành chưa? -Tôi hỏi.

– Dạ, em đã làm cho một số chiến thương cấp cứu rồi. Thay vì truyền bioplasma hoặc nước biển, em tiêm máu gà cho họ. Nhưng phải là gà trống cái mào thật đỏ tươi như con gà này.

Năm Hồng trao con gà cho tôi xem.

– Nó phải khỏe, không có bệnh hoạn gì, như vậy máu mới tốt, tiêm vào chiến sĩ mới mau lành bệnh.

– Kết quả có khả quan không?

– Rất tốt ạ. Máu gà trị được nhiều bệnh lắm, nhất là bệnh thiếu máu. Mỗi con gà có một số lượng máu tiêm cho năm người. Bây giờ em đề nghị anh Hai chọn năm cá nhân xuất sắc của văn phòng để em tiêm ạ.

Tôi ngẫm nghĩ hồi lâu. Trời ơi ! Thời kháng chiến không biết ai phát minh ra cái vụ chích nước dừa xiêm. Sau đó lại lấy phát mình của Liên Xô cấy phi la tốp (Filatov) tức nhau đàn bà đẻ xắt nhỏ phơi khô, mỗi viên to bằng mút đũa, rạch da đem cấy vào. Nó sẽ làm sung sức người già và biến người trẻ thành thần đồng. ở miền Tây Nam Bộ rất thịnh hành vụ cấy này. Nhà báo Phạm Anh Tài (tức Sơn Nam) đã từng viết một bài bút ký “Rủ nhau đi cấy” để tuyên truyền cổ động cho filatov của Liên Xô. Bây giờ lòi ra cái vụ tiêm máu gà cồ vô mạch máu ! Không biết có kết quả gì không?

Tôi bảo Năm Hồng một cách ba phải có vẻ hòa hoãn:

– Khoan đã đồng chí. Bây giờ không có đủ năm người.

Tư Bé nói:

– Ai tiêm thì tiêm, em không dám.

– Đây là phát minh của Trung Quốc chớ phải đùa sao?

– Em sợ tiêm xong em mọc mòng rồi gáy e e thì chết dở !

Cái vụ tiêm máu gà cồ bị đùa cợt bất kể nó là của Trung Quốc, cho nên cuối cùng rồi sanh mạng con gà cũng tiêu tùng nhưng một cách thực tế hơn; mọi người được húp cháo gà ngọt lịm.

Tôi bảo Năm Hồng:

– Lần này, cậu phải lo chỗ cho một trăm chiến thương đó nghe.

– Tay chân đâu mà em đào nổi một trăm cái hầm?

Rùng ! Rùng !

Mặt đất rung rinh nhè nhẹ. Mọi người ló đầu ra cửa ngóng về phía Bến Cát. Bóng dáng B52 xuất hiện mờ trong mây. Những trái bom nhỏ bằng hạt tiêu đen rơi xuống hàng loạt. Tôi liên tưởng đến H6 của Sáu Phấn. Không biết nó nện ở đâu? Những cái mả vừa đắp xong lại bị bới tung lên, còn người sống thì không hốt xác được mà chôn.

Từ một tháng nay ngày nào cũng có vài ba trận giã gạo ở phía Bến Cát. Chúng nó biết vùng đó đã trở thành hậu cứ của Bộ Tư Lệnh và các cơ quan Quân Khu. Củ Chi đã bị bào láng rồi thì tới Bến Cát.

Tội nghiệp cho ông Ba Xu, mới vừa ở trong nhà có bàn tay dịu dàng bắt gió, bây giờ ra rừng bị thở không khí hóa học cay xè. Sau vụ chết hụt dưới địa ỡ Củ Chi, chắc ông không dám chui nữa.

Năm nay là năm khói lửa mịt trời ở Củ Chi, Trảng Bàng, Bến Cát, không có một ngày yên tĩnh. Anh Cả Đỏ và Tia Chớp Nhiệt Đới đuổi riết Q16, E268 Bắc Việt, D1, D7 của Quân Khu. Truyền đơn nở trắng đồng thay bông lúa.

Tôi cần có một quận đội phó để giúp đỡ nhưng không biết đề bạt ai. Bảy Mô đã được đề nghị một lần, nhưng mấy bà già trầu gạt tên nàng trước nhất với lý do: thành phần địa chủ. Việc này làm tôi nhớ lại một người bạn tôi quê ở Hưng Yên, cấp thượng úy, xin kết hôn với cô Đào, con tư sản. Đảng ủy không đồng ý. Hai người lén rủ nhau ra Bãi Cháy hưởng tuần trăng mật rồi tự vận, ngư phủ vớt được xác cả hai.

Ở KI7B cũng có một cặp trai gái tự sát vì không được lấy nhau. Họ tìm hạnh phúc bằng cách chia đôi quả lựu đạn. Cũng vì “đảng quỷ” không cho phép. Nhưng bí ẩn bên trong ít ai biết, đảng ủy có một tên muốn cô nàng mà cô nàng không muốn, chính tên này không cho phép.

Bây giờ tới Bảy Mô. Tôi biết có một đám mây đen phủ trên đầu nên không dám…

B52 cày Bến Cát trong lúc trực thăng quần đảo từ Cầu Xe xuống Ba Cụm, Trường Gà, Cỏ Ống, Ba Sòng, Đồng Lớn như cơm bữa. Có một lần chúng đáp xuống đất và xúc ông thiếu tá Hai Phán, tham mưu phó Phân Khu 1, ở vùng gần nhà “nữ anh hùng Năm Cầu Xe”. Rồi ngày hôm sau, trực thăng lại đổ bộ ngoài đồng Sa Nhỏ, lính đi thẳng vào rừng đến ngay chóc miệng hầm, khui lên nắm đầu gọn hơ đồng chí Hoàng Minh Đạo, tham mưu trưởng quận đội và Ngô Phước Tòng, trợ lý ban cán bộ phòng chính trị K20.

Đồng bào xầm xì cho đó là một cuộc dàn cảnh do vợ các ông này đạo diễn cho khỏi mang tiếng là chiêu hồi; xấu mặt chút đỉnh.

Nhưng vẫn chưa hết, một cuộc khui hầm khác được diễn ra không kém phần ngoạn mục. Đó là cuộc khui hầm ở rừng Đồng Lớn, Mỹ bắt được trên mười ông lớn bà bé của hậu cần R. Tuy đó là những màn bi kịch không lạc quan chút nào (Liên Xô có một vở kịch dở ẹc tên là “Bi kịch lạc quan ” mà bọn văn nghệ liếm Hà Nội khen hết mức, coi như đây là mẫu mực sân khấu).

Ban ngày không yên, ban đêm cũng chằng được ổn. Đơn vị hành quân thường được Dakota bắn pháo sáng soi đường, hoặc trực thăng xẹt đèn “ló” sáng trưng, con kiến bò trên mặt đất cũng trông thấy. Đã vậy người ngủ trong hầm cũng đâu có chợp mắt được. Máy bay phát loa kêu gọi dân chúng còn cố bám ở lại các vùng Cỏ Ống, Sa Nhỏ, Đồng Lớn, Lộc Hưng ra ấp chiến lược để tránh bom đạn.

Lính Trung Hòa càng lộng hơn. Chúng kéo cả pháo 105 ra khỏi bót, qua Ba Sòng. Sa Nhỏ tập tễnh theo chân ăn cổ bọn “Tia Chớp Nhiệt Đới”. Bây giờ Củ Chi là một cánh đồng trống láng te, thỉnh thoảng có vài khóm cây lưa thưa không đủ xây căn cứ.

Một hôm tôi gặp Mười Thứ ở bên Đồng Lớn. Tôi mừng rỡ bắt tay y:

– Sao, ông ra chủ lực thấy phấn khởi chứ?

– Phấn cái mẹ gì! Sư nhà nó, giao cho tôi toàn công tác quái gỡ.

– Công tác gì thế anh Mười?

– Mình phục kích ở Xóm Suối chưa đánh đã bị nó phát hiện (nó trước khác nó sau), nó pháo bay một đại đội. Hiện giờ mỗi C chỉ còn năm mươi tay súng. Bố thằng tham mưu trưởng nào cũng không đánh được.

Tôi giật mình, E268 là chủ lực của khu, trước khi xuất phát lớn lại bị tiêu hao như vậy thì làm sao? Tôi đành tìm cách an ủi anh Mười sắp nhỏ:

– Không sao đâu. Có người về R cho tôi biết cán bộ ta ngoài Bấc vô đông lắm. Mấy trăm cấp úy, trên trăm cấp tá. Có cả tướng, mà tướng lớn nữa đó anh Mười, chớ không phải tướng trung đâu!

– Ông nào lớn hơn ông …

– Ông nào?

– À, tớ chỉ nói thế thôi.

– Này, ở đại hội mừng công nă m 64 tô í có hân hạn h được bắt tay anh…

Mười Thứ không nói gì, vội vã phang ngang:

– Cao lắm là ông Mười Khang chớ gì!

– Mười Khang nào? -Tôi hỏi.

Mười Thứ rỉ tai tôi, rồi bảo.

– Vào thay ông kia đấy.

– Ổng về Bắc công tác nông thôn tiếp… Ổng giỏi về hợp tác xã mà !

Mười Thứ lại rỉ tai tôi:

– Đừng có nói với ai hết nhá.

Tôi gật đầu, làm bộ ngạc nhiên không biết gì về vụ Sáu Di chết ở Long Nguyên.

Cán bộ ngoài Bắc mới vô, lạ nước lạ cái kiểu như Mười Thứ, đến đất Củ Chi, lại phụ trách công tác phức tạp là quận đội, phần lớn không làm được việc gì. Họ đâm ra bất mãn hoặc chê dân Nam Kỳ vô kỷ luật. không chỉ huy được. Một số xin thôi công tác, một số chết lãng nhách trước sự mỉa mai của đồng bào “sinh Bắc Tử Nam”.

Chết cho Nam Kỳ , nhưng chết như thế nào cho đáng cái chết. Chỉ một số ít thích nghi được với chiến trường, chịu khổ, chịu nguy nhưng rồi cũng lớ ngớ nên cũng bị bắt, bị khui hầm hoặc chết mà không ai báo cáo về trên.

Thử tưởng tượng một em bé 16, 17 tuổi đang học cấp hai ở miền Bắc, bỗng nhiên bị lùa vào Trường Sơn đi giải phóng miền Nam. Chúng có biết gì là bom pháo, sốt rét, nên chết thảm thương. Khi gần xảy ra Mậu Thân, những đơn vị thiếu niên này bị đưa vào Trường Sơn, không có súng. Chỉ tay không, hộc tốc đi đêm đi ngày, vô cho kịp Tết. Nhiều đơn vị vô tới trường tân binh của Lê Xuân Chuyên (em nuôi Trần Độ, hồi chánh Mậu Thân. Năm 1975 Việt Cộng vô Sài Gòn bắt đem ra Hà Nội xử bắn, gởi trả ba lô về cho vợ ở Hàng Xanh). Vô tới đây chỉ học động tác cơ bản vài tuần rồi bổ sung cho các đơn vị, phần lớn là đến Củ Chi, lò nướng BBQ vĩ đại nhất của Bác Hồ.

Nhiều cậu cầm súng không nổi vì ốm yếu, bệnh hoạn nhưng vẫn phải đi. Tôi đã xin được hai trăm “tay súng” kiểu này để trấn thủ Củ Chi trong tết Mậu Thân.

Ông Mười Thứ tâm sự với tôi:

– Quân đội ở đây là thứ không nghe lệnh cấp trên, coi cấp trên như thảo giái!. Mình vừa ra lệnh vừa lạy mà chúng vẫn không thi hành. Chỉ huy một anh du kích còn khó hơn chỉ huy một đại đội chính quy. Tôi xin chịu! ông đến lãnh chức quận trưởng thay tôi bằng cho tôi cục vàng.

Lôi tôi còn biết khuyên dứt làm sao được. .

Hôm tôi tổ chức tiệc tiễn anh Mười rời cơ quan. Tôi nói cho anh em cơ quan đỡ buồn:

– Ở trên vừa thành lập trung đoàn, đồng chí Mười Thứ được đưa ra làm tham mưu trướng trung đoàn. Chúng ta sẽ sát cánh chiến đấu với trung đoàn mới này và luôn luôn coi đồng chí Mười Thứ là cố vấn của quận đội ta.

Sự thực Mười Thứ ra trung đoàn 168 vừa thành lập, quân số chừng chục rưỡi anh lính vịt xiêm như độc giả thấy ở chương trước. Rồi cái trung đoàn này tan biến đâu mất không nghe đánh đếm ở đâu.

Còn Mười Thứ kể từ đó tôi cũng không gặp lại nữa.

Chương 84

Tâm sự những con thịt sắp bi đút vào lò quay Mậu Thân
DKB là loại vũ khí gì, do Tàu hay Nga cung cấ

Tôi được ông Ba Xu tư lệnh cho về làm quận đội 1 trưởng Củ Chi là vì tôi thuộc địa hình vùng này. Mục đích của ông là giao cho tôi chôn giấu “vũ khí mới”. Bây giờ ngồi viết lại những dòng này tôi mới thấy khiếp đảm cái tâm địa giết người của nhà Hồ. Chúng giết người không ngán tay bằng bất cứ phương cách nào, kể cả thuốc độc, giết bất cứ ai, kể cả đồng chí của chúng. Nhưng sở dĩ người ta lầm bọn Bộ Chính Trị và Trung Ương đảng Cộng Sản là vì mồm chúng luôn luôn rêu rao: Phục vụ dân tộc, giải phóng nhân loại, “Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi” (Hồ tặc)… Lầm, lầm to nếu ai tin chúng. Sau năm mươi năm nói láo bịp dân Nam Kỳ, ngày nay bộ mặt thật nham hiểm của chúng đã rơi xuống. Và một trong những nguy cơ sụp đổ mà chúng phải đối phó rất là khó khăn, là vấn đề Nam Bắc, ngay cả trong đảng cướp mặt đỏ. Dân Nam Kỳ đã sáng mắt ra với câu nói trên kia của “Bác” rồi. Họ sẽ lật đổ Cộng Sản Hà Nội chớ không phải đế quốc nào cả.

DKB là chữ viết tất “đạn khoan bê tông” cũng như SKZ là “súng không giật” hoặc DKZ là “đạn không giật” vậy. Chính ở ngoài Bắc chế tạo đạn này chớ không phải
Nga Tàu gì ráo.

Được lệnh ông Ba Xu, tôi tiễn Mười Thứ xong, thì hộc tốc đi xuống Phú Hòa Đông để tìm địa điểm chôn giấu. Theo tôi nghĩ thì đạn này đưa bằng tàu từ ngoài Bắc đổ lên bãi Cồn Chim, ở quận Thạnh Phú tỉnh Bến Tre. Không phải chỉ trong thời điểm Mậu Thân mà suốt mấy năm tên Phạm Ngọc Thảo là tỉnh trưởng Kiến Hòa.

Xin phép dừng lại ở đây một đoạn khá dài để nói về tên gián điệp nguy hiểm này, đã được ông Diệm cho làm tỉnh trưởng Kiến Hòa.

Thảo là ai? Tôi xin nói ra một ít những gì tôi biết về tên này. Hắn còn có tên là Thảo Lé vì hai mắt hắn bất đồng. Hắn hơi gầy, khuôn mặt giống y Phạm Ngọc Thuần, anh ruột của hắn. Thuần làm phó chủ tịch ủy Ban Kháng Chiến / Hành Chánh Nam Bộ kiêm Miền Nam Việt Nam nghĩa là có quyền hành cả miền Nam Việt Nam chớ không riêng ở Nam Bộ trong thời chống Pháp, cùng với Phạm Văn Bạch là chủ tịch.

Tôi biết Thảo Lé ở Bến Tre, lần đầu tiên gặp tại quận Sóc Sài, tại nhà chị Sáu Thôi là đoàn trường Phụ Nữ Cứu Quốc, trong một bữa tiệc rất lớn, tiễn chân Thảo lên Nam Bộ nhậm chức trưởng ban đặc vụ trực thuộc ủy Ban Kháng Chiến / Hành Chánh Nam Bộ. Tại sao có bữa tiệc này? Vì mụ Sáu Thôi có chồng tên là Phan Thêm, bí thư tỉnh ủy Bến Tre. Tên này được đưa về làm chính trị viên của “ban đặc…vụ” này. Lúc bấy giờ tôi là ủy viên Thiếu Nhi Cứu Quốc trong ban chấp hành Thiếu Nhi Cứu Quốc tỉnh (hình như là năm 1947, 48 gì đó), đang đi tổ chức Thiếu Nhi ở các quận, cùng với cô Thu Ba. Một người bạn của tôi tên là Hồ Hoàn Kiếm đang là tình nhân của cô bé này. Kiếm đang làm bí thư riêng cho Phan Thêm. Kiếm có rủ tôi đi theo ban này. Hồi đó dễ dàng lấm, muốn vô cơ quan nào chỉ cần một người giới thiệu, không khảo tra lý lịch ba đời cụ kỵ gì cả, thế là thành cán bộ rồi. Tôi cười với Kiếm :“Cái ban gì lại ‘đặc… vụ ‘ thì tao không chơi” nên không đi theo. (Thực chất của nó là chỉ huy gián điệp toàn miền Nam của Cộng Sản).

Sau buổi tiệc đó, ban đặc vụ đi công tác “đặc vụ”, còn tôi thì đi tổ chức thiếu nhi. Mãi đến năm 49 thì phải, quân UMDC (Unités militaires démocratiques Chrétiennes?) của Le Roy chiếm đóng tỉnh Bến Tre, tôi chạy xuống miền Tây và vô làm phóng viên cho tờ báo Tiếng Súng Kháng Địch. Năm 1950, tôi đi theo chiến dịch Long Châu Hà với Sơn Nam (tức là Phạm Anh Tài) lên Ba Thê, Bảy Núi và các vùng Định Mỹ, Ba Dầu. Bất ngờ tôi gặp Thảo Lé là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 410 thuộc trung đoàn Tây Đô do Huỳnh Thủ làm trung đoàn trưởng. Nguyễn Văn Sa (anh thằng Điếc, bạn tôi) làm chính trị viên. (Hồi đó chưa có chức chính ủy, sau này Lê Đức Thọ vô mới bày đặt chức này).

Thảo Lé lầm lì, ít nói, đánh giặc rất gan. được lính kính phục. Vợ y là bà Phạm Thị Nhiệm, em của giáo sư Phạm Thiều (giám đốc đài phát thanh Nam Bộ phân sở A; Huỳnh Văn Tiếng, chồng ca sĩ Xuân Mai (sau ly dị) phụ trách phân sở B).

…. Tôi đọc thấy tài liệu nói là Thảo Lé đã cứu Đức Cha Thục ly kỳ như phim kiếm hiệp, được Đức Cha nhận làm con đỡ đầu và tiến dẫn với ông Diệm. Ông Diệm dùng Thảo liền lập tức. Có người phản đối, thì ông Diệm hỏi:

– Các người hiểu Thảo bằng Đức Cha không?

Thế là ai đó hết ý kiến.

Sở dĩ tôi đá động đến Thảo Lé một chút là vì tôi nghĩ là những chuyện đổ vũ khí miền Bắc lên bãi Cồn Chim có dính với cặp mắt bất đồng của hắn không nhiều thì ít, chớ không phải tôi muốn đặt vấn đề “Thảo Lé là cái gì”. Vì hai lẽ:

* Ván bài đã lật ngửa rồi, khách thua, thua phộc túi; khách ăn, ăn no phè, sòng bài đã tỏ tịa, còn nhắc làm gì nữa.

* Biết đâu sẽ chẳng có người hỏi vặn tôi: “ông biết Thảo Lé bằng Đức Cha không?” thì tôi… Nhưng cũng xin nói rằng trong lịch sử gián điệp tôi chưa biết hoặc đọc thấy trong sách ghi tên gián điệp nào thành công dễ như Thảo . Vậy xin để cho những ai “biết Theo Lé bằng Đức Cha” nói, còn tôi xin trở lại vũ khí DKB.

Tôi dắt ba cô cậu “dũng sĩ” đi xuống Phú Hòa Đông (bây giờ chia hai vì tình hình quá căng thằng, thành Phú Hòa Đông và Tây). Ở trên bảo đặt DKB trong ấp chiến lược Cây Bài bắn vô Đồng Dù, thì lại cũng ở trên không cho phép. Một người là tư lệnh Ba Xu kiêm phó bí thư khu ủy, một đàng là mụ Hai Xót, ủy viên khu ủy. Mụ ta vểnh mỏ chửi Ba Xu mà tôi phải dẩu tai nghe:

– Tư lệnh gì ngu vậy. Đặt trong ấp chiến lược bể hết cơ sở của tôi sao? Dẹp đi ! Thứ đồ ba cái hỏa tiễn.

Tôi suýt cười:

– Dạ, cái “ấp… chiến lược” của chị có bể cũng có cách hàn lại mà chị Hai!

– Tôi nói không được là không được. Cãi tôi là bị kỷ luật.

Gà mái đá gà cồ. Tôi đang lưỡng lự không biết phải làm sao, thì may quá, tôi nảy ra ý kiến chôn mớ vũ khí đó bằng những cái hầm của các lò chén lò nồi ở đây.

Số là dân xã này đào đất sét để nặn chén, nên có những cái hầm sẵn thất nghiệp, nghĩa là không có chứa đựng gì hết. Đào một cái hầm để cất giấu mười trái DKB thì phải dùng cả chục nhân công chớ không ít. Bây giờ có sẵn, thiệt là trời cho.

Mụ Hai Xót hầm hầm dọa tôi:

– Cậu muốn làm gì phải cho tôi biết.

Tôi nghĩ thầm: Con mẹ này ghê thật. Tôi sẽ cho bà chạy một bữa sút trứng non cho coi…

(Cách đó vài hôm, xe tăng càn, tôi kêu đám em út của tôi giở nắp hầm, nhưng mấy đứa nhỏ bảo hầm không đủ chỗ. Tôi bảo mụ: ” Vậy thì chỉ có nước chạy đua với xe tăng thôi chị Hai. ” Thêm chị Hai bầy trẻ đeo cứng tôi. Tôi phải lôi mụ ta qua một cánh đồng trông càn trên lúa chín, hang hố, chướng ngại… Vô đến mé vườn, mụ ngã lăn ra, giang tay giang chân thở như trâu cắt cổ. Cho bà bỏ cái thói làm tàng).

Chiều hôm đó, tôi được giấy của ban tham mưu quận đội Đào Hải, trưởng ban cho tôi biết có việc gấp. Tôi phải về ngay.

Thì ra DKB đã tới. Hai anh chàng Bắc Kỳ từ trên R mới xuống. Chúng nó phụ trách sử dụng DKB. Một thằng tên Lũng, một thằng tên Lanh (tên cúng cơm, không phải bí danh Trường Sơn). Tưởng xa lạ gì, chẳng dè đó là học trò pháo binh của tôi ở Sơn Tây, cả hai đều cấp bậc B trưởng.

Gặp tôi, hai đứa mừng suýt chết. Tôi kêu chị nuôi nấu nướng đãi hai chàng một bữa no nê, xong uống trà, hút thuốc thơm.

Lanh trình bày với tôi:

– Đây là vũ khí mới thầy ạ . Lúc thầy bắn thực nghiệm ở Xuân Mai thì chưa có loại này.

Năm 1963, tôi đã bắn thực nghiệm loại hỏa tiễn từ hành (H12) Kachiusa của Liên Sô bắn xa 8kum. Nhưng quân giới Việt Cộng thùng bệ và nòng DKZ 75 ly (không có chó bắt mèo…) để thí nghiệm. Thay vì bắn vòng cầu, với sự “sáng tạo” phi thường của các ông quân giới, thì bắn thẳng chỉ xa được 1km. Nó có sức nóng rất cao (2000 độ ?), có thể xuyên sắt thép, cho nên dùng bắn xe tăng tàu chiến rất hiệu quả .

Nhưng vì nó nặng nề, cồng kềnh nên không thể dùng cho du kích chiến được, nên Liên Xô chế tạo B40 và B41 gọi là hỏa tiễn tay như Pháp gọi là Tromblon VB nhưng tầm bắn xa của B40 chỉ trong vòng một trăm tới 200 thước. Còn B41 thì đi được năm trăm thước và phá bùng nhùng lưới chì gai hoặc xuyên thép, bê tông. Sau này Việt Cộng có đủ B40 để trang bị cho mỗi tiểu đội để đánh xe tăng Mỹ .

Tôi đã từng học và dạy trường pháo binh, nên tôi sử dụng hầu hết các loại pháo mặt đất của Liên Xô, Tàu, Nhựt, Đức, Pháp, Mỹ, nhưng chưa hề nghe tên DKB.

Lanh cho tôi biết Quân Khu này sẽ có đến 80 quả DKB . Tôi bảo hắn cho xem thử hình thù ra sao.

Vừa đi hắn vừa nhắc lại chuyện cũ:

-Hồi đó em chưa biết gì về pháo phiếc hết. Thấy thầy bắn ngay tệnh chiếc lô-cốt, em phục quá.

Thằng Lũng tiếp thêm:

– Tội nghiệp con chó mực của ai bị làm vật hy sinh, bỏ trong lô-cốt bị cháy thui.

– Đồng chí Lê Duẩn còn phải vỗ vai khen thầy, và các cố vấn Liên Xô đều đến bắt ta mời thầy hút thuốc lia lịa. Sau đó lại còn cái màn bắn mục tiêu di động, thầy bắn chiếc rờ moọc giả lôi sau đít xe môlôtôva cũng tan luôn.

Tôi nói:

– Ở ngoài đó có đủ thứ phương tiện nên bắn dễ lắm. Còn vô đây không có gì hết. Ngay cả ống bót pháo để đo mặt đất thăng bằng cũn gkg có. Tai hại hơn, bắn pháo mà không có bản đồ dùng cho pháo binh thì khác nào thằng mù tuị bây ơi!

Hai đứa dắt tôi đến chỗ DKB nằm. Tôi thấy mấy cái thùng gỗ, mỗi cái dài một mét, ngang bốn tấc. Bên ngoài thùng đạn của Trung Cộng, Liên Xô đều có in chữ đen rất đậm tuy tôi không đọc được, nhưng bụng vững tin hơn, còn các thùng này thì trơn lu không có chữ nghĩa gì hết. Thằng Lanh lấy vít và búa xeo ván ra.

Bên trong hai trái đạn trám bít lòng thùng gỗ. Chúng đen thui như thổ táo, trên thân cũng không có chữ nghĩa, số siếc gì hết ráo, chỉ có mấy chữ DBK bằng sơn trắng nhưng có vẻ người in cũng run tay (vì làm điều bất chính) nên các chữ cũng không ngay thẳng. Trên hai đầu đạn có hai ống nhôm. Tôi biết đó là để tô (ngòi nổ) nên không hỏi làm gì. Hai cái đuôi dài có khía như đuôi đạn cối đặt bên cạnh đầu đạn, trong đó có chứa thuốc phóng.

Tôi hỏi thông Lanh.

– Đây là vũ khí mới hả?

– Dạ.

– Bắn cách nào? Ai sản xuất vậy? Trung Quốc hay Liên Xô ?

– Dạ của mình. Mát-anh Việt Nam đó thầy.

Tôi ngẩn người ra, nhưng không để lộ vẻ ngạc nhiên, sợ tụi trẻ mất tin tưởng ở vũ khí mới. Chính tôi đã mất tin tưởng trước chúng nó.

Thằng Lanh giải thích tiếp:

– Đây là do ông kỹ sư méo mồm sáng chế đấy thầy.

– Kỹ sư méo mồm à ai?

– Dạ, em cũng không biết, nhưng tụi pháo binh cùng đi với em rỉ tai em như vậy thì em cũng biết vậy chứ không gặp ông kỹ sư đó bao giờ. Hình như ông ta là cục phó Cục Quân Giới, làm trưởng khoa sáng chế, điều khiển một nhóm kỹ sư ở đại học Bách Khoa, trong đó có thằng thiếu úy Trần Quang, con trai trưởng của ông Trần Độ (tức Chín Vinh. Cha: Vinh, con: Quang).

Lanh tiếp thêm:

– Đám kỹ sư này hiện ở trên đất Miên, lập Binh Công Xưởng chuyên môn sản xuất cho mình xài.

Thăng Lanh lại tiếp:

– Súng này dễ bắn lắm thầy ạ !

– Súng đâu?

– Dạ, ủa… quên, ở đây chỉ có đạn thôi, em chưa lãnh súng. Nhưng em thấy súng rồi. Nó như cái máng cho lợn ăn vậy. Muốn bắn, ta chỉ cần đặt trái đạn lên máng. Chiếc máng kê trên hai chân gác tréo như gàu sòng tát nước. Phía sau đuôi có hai sợi dây điện hai cực, mỗi mối gắn vào bình điện đặt xa đuôi chừng năm đến bảy thước, khi được lệnh bắn ta kéo công tắc. Hột nổ bốc cháy thuốc tống phóng đầu đạn đi.

– Rồi sao nữa?

– Dạ, thì đạn đi vòng cầu hoặc đi thẳng.

– Rồi sao nữa?

– Dạ nếu cái hạt nổ gắn ở đằng đầu rơi cắm xuống đất hoặc có vật gì cứng cản ngang thì nó mới nổ, còn nếu đạn rơi đánh phịch xuống đất thì nó câm luôn.

Tôi bảo:

– Tao hiểu rồi. Đậy nắp “hòm” lại, đem “chôn” đi!

Thằng Lanh và thằng Lũng ngó tôi hồi lâu rồi chậm rãi thi hành lệnh. Có lẽ chúng lấy làm lạ vì những tiếng tôi dùng, không phải vô tình. Đạn dược như vậy thì bắn làm sao?

– Các cậu biết “độ tản mác” của nó là bao nhiêu không? -Tôi biết nhưng vẫn hỏi.

– Dạ từ 800m đến 1 000m ạ !

Tôi không hỏi cũng không nói gì thêm. Vũ khí mà đơn sơ như ống thụt bố trẻ con chơi thì bắn chính xác làm sao được (độ tản mác tức là cái sự không chính xác của viên đạn. Việt Cộng thường dùng danh từ né đi để che lấp sự ẩu tả của mình).

Thằng Lũng lại nói:

– Ở đây em thấy có nhiều tre trúc, vậy tiện cho việc sử dụng súng lắm.

– Nghĩa là sao?

– Dạ chiếc lòng máng bằng sắt rất nặng, muốn di chuyển phải hai người khiêng. Để đỡ tốn sức người, ở trên đơn giản hóa bốn cái chân bằng sắt nặng trên hai mươi ký.

Nghĩa 1à ….

– Dạ khi cần bắn thì chặt gỗ rừng làm chân chống chiếc máng lên ạ.

– Rủi gỗ mềm bắn nó gẫy cây làm sao?

Nghe tôi hỏi, cả hai lặng thinh. Súng ống giết người mà làm như trò chơi. “Cứ bắn! Nghe tiếng nổ là được rồi. Bên Mỹ tụi phản chiến sẽ ào ào đứng lên chống đối. Một phát súng, dù bắn trật mục tiêu, rủi chết dân chúng, nhưng vẫn có tác dụng chính trị rất lớn!” . Đó là lối lãnh đạo chiến tranh của Việt Cộng, do chính miệng ông tư lệnh.Ba Xu truyền đạt cho tôi.

Trong vài chương sắp tới, bạn đọc sẽ chứng kiến “tiếng gầm” của DKB. Nó như thằng câm bay lộn trên trời rồi nhào xuống đất, cũng câm luôn.

Năm 1965, đại tá Nguyễn Văn Bảo (anh ruột của Nguyễn Hộ vô Cộng Sản hồi 17 tuổi, ông này đáng lẽ vô Trung Ương khóa 1, nhưng vì là dân Nam Kỳ nên chỉ được lãnh chức hàm, mãi tới nay mới biết mình ăn bánh vẽ và lên tiếng phản đối). Bảo về Nam bằng tàu ngầm, đổ bộ lên bãi Cồn Chim cùng một số ăn trộm trâu đeo hàm trung tá, thiếu tá . Từ đó bò về khu VI rồi lên R tản đi ăn trộm khắp nơi. Bảo về tới Củ Chi thì ăn loạt B52 đầu tiên vùi xác, chưa kịp đào hầm khoét vách nhà nào. Lúc đó Nguyễn Hộ đang “lãnh đạo” công nhân ở Sài Gòn chuẩn bị nổi dậy.

Bảo đem theo chuyến tàu ăn trộm kể trên được bốn khẩu pháo Liên Xô 120 ly. Súng này bắn xa được 6km, nhưng mỗi khẩu nặng 500 ký lô. Ở ngoài Bắc phải dùng xe môlôtôva để di chuyển, về Củ Chi làm sao khuân vác. Tuy vậy chúng cũng lọ mọ cõng về tới đây để rồi vùi xác luôn với chủ, chưa bắn được phát nào. Những chuyện đó tôi biết rõ vì tôi là người sử dụng chớ ngoài ra không ai khác. Cùng “đi” với anh Cả Bảo và bốn khẩu pháo Liên Xô còn có một số “tá” trẻ chưa vợ, trong đó có thiếu tá Út Việt.

Mãi ba năm sau, không có pháo nào ở miền Bắc vô bằng ngõ Cồn Chim nữa hết. Có lẽ vì tên Thảo Lé đã văng dên nên không ai mở cửa biển cho vào. Khi tôi trở về Bến Tre năm 1965-66 gì đó, tôi có đến Cồn Chim thì thấy xác một chiếc tàu vùi chôn giữa bãi cát. Nó bị Không Quân Việt Nam Cộng Hòa đánh chìm và bốc hết vũ khí.

Xem thấy mặt vũ khí mới rồi về văn phòng, tôi nằm ngay chừ như chết. Đám nhân viên văn phòng tưởng tôi ốm, chạy lăng xăng lo thuốc men và tẩm bổ. Tôi đau thật, nhưng bệnh của tôi chúng làm sao chữa được, vì là bệnh nội tâm, “bệnh DKB”. Thấy vũ khí ở trên cho luồn về để chuẩn bị “ăn to”, tôi mất tinh thần thật chứ không phải chơi. Thà cứ để như trước kia đánh chập chùm năm ăn năm thua với Anh Cả Đỏ và Tia Chớp Nhiệt Đới mà có khí thế hơn, chớ vác ba trái DKB này tận ven đô mà pháo vô Sài Gòn thì thiệt là trò hề, chẳng khác nào súng cà lăm của triều đình Huế hồi xưa vậy. Nhưng ở trên bảo thì cứ làm. Làm tới đâu hay đó. Bác bảo đi là đi, nhưng bác không bảo lủi cũng cứ lủi.

Bỗng thằng Ngọc, liên lạc hỏa tốc, chạy về báo cho tôi biết có “ba ông kẹ” muốn gặp tôi. Tôi ngồi bật dậy, khoác súng và sắc cốt vọt ngay. Bụng nghĩ chắc là ông Ba Xu hay ông Năm Lê xuống kiểm tra công việc chăng?

Đi dọc đường gặp Đào Hải, trường ban tham mưu của tôi. Hải nói hụt hơi:

– Có ông Tư Chi tới.

Tôi nghĩ bụng “Tư Chi là Trần Văn Trà, ông Trà xuống tận đây là chuyện không nhỏ”. Rồi cả đoàn chạy bạt mạng tới nơi hẹn, băng qua đường số 7 cắt ngang nhà cô Tám Chá cũ, đi cặp Lộ 7 men theo rừng cây mua đến một lối mòn nhỏ. Cậu liên lạc dắt tôi đi vào đường mòn một quãng khá xa thì thấy mấy cái đầu lố nhố, rồi lộ ra mấy cái lưng áo cứt ngựa của quân chính quy Bắc Việt.

Thằng Ngọc bảo:

– Đó là toán bảo vệ mấy ông lớn, còn mấy ổng ở trong sâu.

– Ông lớn nào? -Tôi gắt.

– Tôi nghe nói Năm Sài Gòn, Tư Chi và ông gì nữa.

Năm Sài Gòn là Năm Truyện, sư trưởng công trường 9, Sáu Khâm sư trưởng công trường 5. họ tới đây là có chuyện to rồi!

Đến chỗ đám người lúm khúm, chúng tôi ngồi bệt xuống đất để nghỉ lấy lại sức, và thở cho khỏi đứt hơi.

Thằng Ngọc dẫm nhằm một cặp chân từ trong bụi ló ra. Nó kêu oai oái:

– Chân thây ma nào đây?
– Đây là căn cứ của tao, thây ma nào? -Đào Hải bảo- Đây là thằng Mười Long ở văn phòng ông Năm Lê mới cưới vợ không có chỗ giao duyên nên tới đây mượn hầm của tao làm đỡ đỡ. Kệ nó, để cho hai vợ chồng nó yên thân. Mai thằng Long phải luồn vô ven đô bỏ vợ lại đây. Mẹ, cưới chưa kịp… gì hết đã đi công tác. Các chả chơi ác quá.

Vợ Long là cô Nguyệt nấu bếp của Năm Lê. Thay vì gởi cô ta sang Bưng Còng cho Tám Lê (quân y sĩ) nạo, thì ông lại gán cho Mười Long. Thằng Long nào biết gì, tưởng là ân huệ của cấp trên nên đớp ngay cô bé, dắt đi trăng mật. Năm Lê phong cho chức B phó, vào ven đô đợt một, nằm lại luôn, không về với vợ nữa.

Nghỉ khỏe một chút, cả bọn chúng tôi do Đào Hải kéo ngọn, chạy việt dã bạt mạng. Đến lúc lỗ tai hơi lùng bùng, Hải dừng lại trỏ tay, bảo tôi:

– Các chả ở trong đó, anh Hai vô đi, tụi em ở ngoài này canh gác chờ anh.

Tôi vừa đi trên lối mòn vừa dớn dác ngó. Bỗng một giọng nói vang ra:

– Thằng Lôi đấy à? Vô đây!

Giọng ai không phải của Tư Chi (Chi là Lê Đình Chi, luật sư, đi kháng chiến bị phi cơ Pháp bắn chả ở Tháp Mười. Trà định nơm bà vợ lão ta. Bà vợ muôn thủ tiết với chồng nên đưa con gái là Thoa ra đỡ gạt. Thoa lúc đó đang mùi với gã Thiên Lôi… Bây giờ ông ta lấy tên Tư Chi để làm kỷ niệm với bố vợ chăng?)

– Mày số dách đó nghe Lôi ! Nhớ “moa” là D trưởng 303 Hoàng Thọ không?

Nghe đến đó tôi biết là Năm Sài Gòn. Hồi đó Hoàng Thọ bị Lê Duẩn mạo thư Nguyễn Bình gạt xuống miền Tây, bất giết ở Cạnh Đền, Năm Truyện lên thay. Tôi chỉ là mật mã viên trong văn phòng Lê Đức Anh.

Tôi đáp:

– Giỡn hoài anh Năm, em có gì mà anh gọi là số dách?

– Mày vừa là thầy pháo, vừa là D trưởng, vừa là quận trưởng. Hỏi ai được như mày! Tao kể ra còn thua mày đó. Mày có đổi chức tao, tao đổi liền!

– Chọc quê em út hoài anh Năm!

Tôi ngó chung quanh không thấy ai là Trần Văn Chè cả . Thì bỗng một người lên tiếng:

– Tao cũng là Tư Chi, nhưng Chi này phải lấn rách áo mới xúc được chén cơm chớ không phải Tư Chi kia, ăn cơm xong có người rửa chén.

Năm Truyện tiếp:

– Đó là tham mưu trưởng của tao. Ông kia, mày lạ à?

Tôi nhìn lại. Thì ra Tư Nhựt.

Hai đứa nhào lại ôm nhau. Tư Nhựt hôn tôi như mưa, vừa hôn vừa kêu:

– Nhớ thầy quá thầy Hai ơi! Về tới đây mà không gặp thầy buồn còn hơn không gặp vợ. Thầy mạnh giỏi chớ?

– Mạnh. Còn ông?

– Sốt rét li bì.

Năm Truyện nói:

– Tư Nhựt được danh hiệu anh hùng miền Nam và thăng cấp E phó, quyền E trưởng.

Tư Nhựt lắc đầu:

– Đó là nhờ thầy Hai. Không có thầy tôi không làm nên giống gì hết. Kỷ niệm nhiều quá hả thầy Hai?

Bỗng có tiếng súng đoàng đoàng. Thằng Ngọc chạy ào vào kêu:

– Xe tăng càn, xe tăng càn, anh Hai.

Tôi bình tĩnh bảo:

– Em coi rõ hướng địch rồi vô báo cáo.

Chập sau nó vô. Tôi bảo:

– Mình chuyển sang căn cứ dự bị. Em ghé quán gùi một két bia và khô mực. Mà này, có đứa nào bảo nó đi theo, mua gà rồi đem vô sau.

Thằng Ngọc dạ một tiếng rồi chạy vù. Tôi còn dặn:

– Nhớ lấy nước đá !

– Mày vậy là cha Tây rồi! -Năm Truyện vỗ vai tôi.

Tôi dắt cả phái đoàn về căn cứ dự bị. Cũng phải chạy chớ không dạo mát được. Tới nơi cũng đã xế chiều. Càn vô rừng tìm chỗ bẽ nhánh cây mà ngồi, nằm chớ đâu có giường ghế gì, có hầm là quý rồi. Tôi bảo Đào Hải cảnh giới bảo vệ bốn bề. Đào Hải là người Bắc, rất quý tôi. Tôi cũng rất thương hắn. Tôi định kiếm vợ cho hắn. vừa kiếm xong, chưa kịp cưới thì hắn chết thui dưới hầm (sẽ kể tới).

Năm Sài Gòn và Tư Chi oải gân (lớn tuổi hơn Tư Nhựt) nên ngả xuống lá cây ngủ liền, giao phó thân xác cho thằng Thiên Lôi. Còn tôi và Tư Nhựt tri âm, xa nhau hơn một năm, nay gặp lại, Nhựt hỏi ngay:

– Sao chưa vô đề cho rồi, ông nội?

Tôi lặng thinh. Trong lòng ngổn ngang trăm mối trăm bề. Biết vô đề nào bây giờ?

Tư Nhựt tiếp:

– Con nhỏ lên trên R được hoan nghênh nhiệt liệt và được danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ toàn miền Nam. Cô bé bị sốt rét nặng, nhờ bà Định đem về nhà riêng nuôi một thời gian mới mạnh. Cô bé đâu rồi?

– Đang đi với bà Năm Đang chuẩn bị cơ sở xuống đường.

– Còn lấn cấn vấn đề gì?

– Cô ta là địa chủ, ông không biết à?

– Địa thì địa chớ, dũng sĩ hai lần không bù lại được sao?

– Bà Năm Đang đã kết nạp cô ta vô đảng, bị Hai Mõ phản đối. Ổng cho là sớm và sai nguyên tắc đảng. Tôi đề nghị cô ta làm quận đội phó, ổng cũng gạt. Trong lúc đó lại phong cho Tư Bé… Thôi bỏ đi, nói chuyện khác vui hơn.

Tôi hỏi Tư Nhựt:

– Ở gần mặt trời có đánh hơi được gì sắp tới không?

– Thì chắc dưới này thầy cũng hay rồi.

– Mù tịt, hay cái gì?

– Đánh toàn miền Nam. Nếu thuận tiện, lật luôn Sài Gòn. Nếu bất lợi cũng sẽ gây được thanh thế với dân Sài Gòn. Vì lẽ đó, ông Năm xuống đây.

– Còn ông Tư (Nhựt)?

– Tớ sẽ đi mũi nhọn vô ven đô trước nhất.

Tôi nhìn nét mặt Tư Nhựt không vui. Hắn là người hồn nhiên, chân thật, không bao giờ giấu dốt với tôi. Đặc biệt gan dạ, lính rất kính nể.

Tư Nhựt nói:

– Anh Năm muốn ghé đây bắt thầy đi theo làm sĩ quan tham mưu cho ổng trong trận tới này. Theo tôi thầy phải là tham mưu trưởng E mới đúng. Thầy nghĩ thế nào?Nếu thầy đồng ý, tôi đề nghị anh Năm xin với anh Ba cho thầy đi theo cho vui. Một mình tôi, thiếu thầy, tôi thấy lạnh lạnh thế nào!

Tôi lặng thinh:

– Ở trên đã coi chưn coi cẳng cả rồi. Đặt đâu thì mình ngồi đó chớ đâu dám cãi. Hễ lãnh nhiệm vụ thì làm hết khả năng thôi. Cứ ở đây cà lơ với Anh Cả Đỏ hay Tia Chớp Nhiệt Đới cũng được rồi.

Năm Truyện đang ngáy pho pho bên cạnh, bỗng lên tiếng:

– Giỡn hoài mày nhỏ. Thằng Tia Chớp Nhiệt Đới là thằng chuyên môn đánh du kích ở Phi Luật Tân, Thái Lan, Nhựt Bổn cho nên Westmoreland mới trấn nó vô Củ Chi đó đừng có giỡn! Qua mấy trận Gò Nổi, Cây Trắc, Bàu Trâu chưa ớn nó sao? Để tao nhắn Tám Hà tới sau sẽ bắt mày theo.

Năm Truyện tỉnh ngủ luôn, ngồi đậy nói chuyện râm ran. Tôi hỏi bật mí:

– Anh đi sâu xuống “đó” à?

– Chớ không đi thì làm sao về Sài Gòn thăm nhà được mày? Quê mày ở Nhà Bè phải không? Thằng Năm No nói với tao như vậy. Nó đang tu dưỡng tại trường Trung Sơ.

Tôi biết “tu dưỡng” nghĩa là gì nên không hỏi. Năm Truyện nhìn cái ba lô tôi. Tôi biết ý:

– Anh đi xuống dưới đó, mà mang cái bao tử trâu của anh coi bộ bất tiện quá !

– Mày kiếm đâu được cái ba lô Mỹ bảnh vậy?

– Thì oánh Mỹ lấy của Mỹ chớ đâu anh Năm? Để tôi đổi cho anh.

Nói xong tôi trút đồ ở trong ba lô của tôi ra. Năm Truyện cũng làm như vậy đối với cái ba lô của anh. Tôi thấy ngoài mấy cái áo cũ mèm và chiếc võng ny lông không còn món gì có giá trị hết. Trà thuốc cũng không có. Chỉ có một cái hộp nhôm méo mó. Tôi nhặt lấy định vứt đi. Anh chận tay lại:

– Của quý trong đó, đừng dục của tao.

Tôi mở ra, đó là quân hàm trung tá hai sao. Vô đợt, anh chết ngay ở ven đô vào ngày đầu trận. Lính Sài Gòn bắt được ba lô, tướng là trung tướng Trà hoặc Hoàng Văn Thái.

Anh buồn rầu nói:

– Hai chục năm có bấy nhiêu đó mày ơi! Mai mốt còn sống đem về cho má bầy trẻ coi chơi chớ ăn uống gì được.

– Phải thêm hai sao nữa cho anh thì mới đúng chớ.

– Sao ở đâu mà thêm? Trọc đầu còn chưa được. Rụng bớt thì có !

Tôi chợt nhớ đầu mùa kháng chiến ở miền Đông, tôi bỏ nhà ra đi vào trại Đồng Tử Quân, rồi vào Rừng Sát, xong xuống Tháp Mười và dạt xuống miền Tây học Lục Quân, tập kết đi khắp miền Bắc, trở về đây trụ lại bốn năm ! Già lúc nào không hay! Đọc trong mắt Năm Sài Gòn, tôi thấy nỗi buồn man mác. Tuổi này phải ở nhà bế cháu nội cháu ngoại, trồng rau nuôi gà, hưởng thú thanh nhàn, chớ có đâu mà ăn bờ ở bụi khổ sở như vầy. Tôi muốn đánh tan đi nỗi buồn đang tụ hội trong lòng người lính già đang bật lên trong đáy mắt:

– Đồng Xoài, Bình Giả có gì vui, kể cho em út rút kinh nghiệm với, anh Cả !

– Vui mẹ gì! B52 cào đứt mẹ nó nửa trung đoàn chủ lực của tao, côn hai trung đoàn què quặt cả ba tháng chưa lợi nghĩnh. Một thằng trung tá của tao bị đứt thần kinh tới nay còn điên điên khùng khùng chưa bình thường trở lại.

Năm Truyện móc thuốc vấn hút và lại tiếp:

– Lứa tao còn Hai Búa, Ba Ngọt, Ba Thành, Tô Ký. Còn cán bộ của tao thì rụi tèng heng hết ráo rồi.

– Còn anh Năm Lễ nữa chớ anh!

– Anh chàng đó “chơi bời” kỹ lắm nên chưa trầy da.

– Kỹ gì kỹ anh Năm ơi! Con người có số. Tới số rồi thì “cò ỉa miệng chai” tránh đâu cũng không khỏi. Anh Tám Châu quận đội trường quận này, chuyên môn ở hang, mà rồi vừa ló ra, bị một trái pháo mồ côi. Còn tôi đi lạch xạch chỗ nào cũng lội cũng càn, đường nào cũng đi, không biết ngán, liên lạc trinh sát đi bên cạnh tôi ngã tất cả tám đứa, mà tôi chỉ bị thương lễu sơ sơ hai lần. Anh thấy có phải là cái số không. Lần đó tôi với xã đội trưởng Ba Bụng ở Ràng, chui hầm đụng ổ kiến bù nhọt thối trở ra chui hầm khác, một chút đi ngang thấy cả ổ kiến lửa bị pháo tan tành. Không phải số thì là gì? Còn ông Bảo, ông Sáu Di đi đâu có hộ vệ như vua mà chỉ một phát B52 rơi ngay chóc. Ai đội thay được?

Thằng Ngọc về tới, mang theo một bòng đủ thứ thập vật. Lấy đất làm thảm, lấy lá cây, nhánh cây làm chén đũa. Khai vị bằng bia và khô mực. Tôi muốn đánh tan nỗi buồn của Năm Sài Gòn, nhưng không biết khơi chuyện gì. Nói xà quần một lát lại rơi vào vụ mấy chục cô dâu của công trường 9 nay chích bóng lẻ bạn vào tuổi hai mươi.

Năm Truyện càng buồn. hơn. Anh nói:

– Biết làm sao bây giờ. Chúng nó muốn nhau thì cưới hỏi. Có thằng cưới xong ra đánh trận đầu đã nhảy lên bàn thờ ngồi.

– Có thằng vợ chửa thì bỏ đi. Có thằng con khóc oe oe không biết mặt cha. Vì vậy tôi không dám tiến tới anh Năm à ! Lỡ để khổ cho người ta. Mắt tôi thấy đã nhiều nên sợ quá.

Tư Nhựt càng động lòng trắc ẩn. Chị Tư có bầu gần ngày sanh nở. Đi R thì còn ngày về chớ xuống Sài Gòn, sợ e khó gặp mặt vợ con. Tôi nghĩ thầm trong bụng. Trung đoàn mũi nhọn tức là thọc sâu đánh mạnh. Bom đạn của Mỹ Ngụy như hốt nắm lúa vảy vô bụi tre, có thể nào sót được. Ở Củ Chi mà còn khó sống, xuống Sài Gòn sống sót làm sao?

Tôi cũng buồn cho Tư Nhựt. Tuy là được mang danh hiệu anh hùng và đề bạt lên cao, nhưng tất cả những cái đó đâu có thay được tiếng khóc tiếng cười của cháu Thơ. Phải chi Tư Nhựt có được một đứa con trai cũng còn đỡ khổ chút ít.

Tôi tuy chưa vợ con, nhưng cũng mơ ước cuộc sống gia đình bình thường. Mỗi khi về nhà gặp con bé Tiền, bé Rớt, bé Liên, bé Hoàn tôi đều thấy hạnh phúc dù không phải là vợ con mình. Do đó tôi cũng đoán được nỗi sầu của Tư Nhựt, nhưng không tiện nói ra. Tư Nhựt nốc bia liên tục trong cái đít bình toong Mỹ, lầm lỳ không nói.

Năm Truyện bảo:

– Bữa tiệc này thiệt là đặc biệt.

– Tôi mừng các anh đi, mang chiến thắng trở về.

– Chuẩn bị mà hốt dưa hấu, dưa leo chớ chiến thắng thì hơi khó! -Tư Nhựt ăn nói tự nhiên- Nhưng không sao, dù có thế nào thì mình cũng được chết nơi quê nhà, vẫn hơn là nằm nơi chốn mưa phùn gió bấc.

– Anh nói gì vậy anh Tự -Tôi gạt nhẹ.

Năm Truyện và Tư Nhựt ngồi lặng lẽ. Tư Nhựt rót rượu thêm ra dĩa nhôm châm ngọn lửa. Ngọn lửa xanh lè nóng nảy dưới những thân khô mực queo quắt trên tay của Tư Nhựt. Mấy cái râu cong quắn vô như những chiếc nhẫn to.

Đột nhiên Tư Nhựt xé đôi con khô đưa cho tôi, tay kia nâng ca bia lên trước mặt tôi và nói giọng run run:

– Thầy Hai uống miếng cho ngọt rồi tôi sẽ nói chuyện này với thầy.

Năm Truyện cười:

– Nhựt! Chú làm cái gì như tráng sĩ Kinh Kha sắp sang Tần vậy?

– Không phải đâu anh Cả à! Tôi với Hai Lôi là bạn tâm giao. Tuy mới biết nhau, nhưng tôi thương thẩy còn hơn ruột thịt và phục thẩy là người thầy. Tôi nói không khách sáo tự đáy lòng của tôi. Tôi là tên lơ xe đò, học hàng chẳng có chi, quân sự chính trị càng dốt. Nếu không có thầy Hai tận tình thì tôi làm sao chỉ huy nổi một tiểu đoàn gần một ngàn con người ta với đủ loại vũ khí, binh chủng để đánh một đạo quân Mỹ trên đất Củ Chi này. Tôi chưa từng thấy ai cao thượng như thầy Hai. Cái danh dự anh hùng này chính là của thầy, nhưng thầy nhường cho tôi đấy chứ. Nay tôi xin tặng lại thầy!

Tư Nhựt móc trong túi ra một chiếc huy hiệu. Nhưng tôi chặn tay Nhựt lại:

– Anh đừng làm vậy anh Tư. Anh xứng đáng đeo huy hiệu đó.

Bằng một giọng cực kỳ xúc động, Tư Nhựt nói tiếp:

– Trước khi tôi đi vào chiến trường, tôi xin gởi vợ con tôi lại cho thầy. Tôi biết thầy là người tốt. Nếu tôi có mệnh hệ nào xin thầy dìu dắt giúp đỡ mẹ con nó. Tôi rất tiếc thầy không về sớm sớm để tôi gả dì Ba nó cho thầy, bây giờ tôi đỡ lo. Nhưng chuyện đời ai mà biết trước được. Cũng như nơi chiến trận, ai biết mình sẽ sống để trở về. Một sợi dây lưng quần đã chuyển bại thành thắng. Tư Nhựt, Hai Lôi kẻ chân trời người góc bể ngờ đâu lại là tri âm?

– Đừng nói thêm gì nữa Tư Nhựt. Chúng ta đã hiểu nhau – Tôi nói không suông lời và nghe khoé mắt nóng ran.

Tư Nhựt quệt nước mắt:

– Tôi đã nhắn vợ tôi ra Bến Chùa để tôi gặp lại con tôi. Tôi sẽ xin phép ở lại đây đêm nay.

– Được rồi Tư Nhựt, cậu không phải lo! – Năm Truyện nói – Nhưng cố gắng đừng cho thê nhi biết sự mềm yếu của lòng mình. Anh hùng cỡ Từ Hải mà còn ngã vì một lời than của Thúy Kiều, thì chúng mình cũng có khi mềm lòng, mình có phải là sắt đá đâu.

Tư Nhựt lại tiếp:

– Anh đừng có uống rượu nhiều như trước đây nữa, Hai Lôi à! Lúc nãy chạy qua đồng tôi thấy sức khoẻ anh đã sút nhiều. Đánh với Mỹ chân phải nhanh, tay phải khoẻ, đầu phải cứng.

– Anh cứ yên tâm mà đi làm nhiệm vụ. Tôi xin hứa trước anh Cả của chúng ta tôi sẽ làm theo lời anh dặn.

Trời chiều , lại chuyển mưa. Tiếng gầm như súng nổ, mây đen hốt hoảng chạy tán loạn trên đầu. Tôi bắt tay Tư Nhựt, Năm Sàigòn, Tư Chi. Tư Nhựt ôm tôi hôn rất lâu. Rồi chia tay.

Kể từ chiều hôm đó tôi không còn gặp Tư Nhựt nữa. Cả ba danh tướng chiều nay tôi đãi tiệc ở đây đã đi vào tử địa của Hà Nội dành cho họ.

Năm Sàigòn chết ngay ở trận đầu ngày đầu đợt đầu. Còn trung đoàn mũi nhọn của Tư Nhựt rụi tèng heng hết cả ban chỉ huy, trong đó có Tám Lệ, quyền E phó, bạn của tôi, một thanh niên tuấn tú khôi ngô như tài tử xi-nê của vùng Bình Dương. Chết vừa cưới vợ chưa kịp có con nối dòng.

Ác không, Hồ tặc!

Những người vợ trẻ con côi của họ nay ở đâu, có được bình yên không? Cháu Thơ của Tư Nhựt nay đã trên ba mươi tuổi, có biết chăng lòng chú Lôi khi viết những dòng này. Nó tơi bời đau đớn vô cùng khi nhớ tới ba cháu. Chị Tư ơi ! Khi nghe tin anh Tư chết, chị phát điên, chị ẵm cháu bé đi lang thang khắp cùng Trung An, gặp ai cũng hỏi có thấy anh Tư ở đâu không? Nào ai biết được mà trả lời. Chỉ có một kẻ trả lời được cho chị, nhưng hắn đã á khẩu khi nghe thảm bại Mậu Thân. Rồi hắn cũng chết. Đó là cái hình phạt Trời dành cho hắn vì cái tội hắn dùng bom đạn giết dân miền Nam vô cùng thảm khốc.

Chương 85

Âm mưu thiêu sống toàn bộ cán bộ người Nam để đưa Bê Ka vào nắm quyền. Hại thay nằm dưới mồ dân Nam Kỳ mới rõ ra thì đã muộn

Tôi đến gặp Năm Tiều. Bây giờ anh là tham mưu phó Quân Khu dưới quyền Năm Lê. Năm Lê vừa lên chức tư lệnh phó. Phó là cái ghế của dân Nam, bất cứ ở ngành nào. Riêng Ba Xu thì được chức tư lệnh, nhưng cái chết của anh lại không rõ ràng. Cho đến nay tôi vẫn chưa hiểu nổi. Nói chuyện này nhớ chuyện kia, đôi khi lạc đề phải dùng phản lực quay lại.

Năm Tiều nói nhỏ với tôi:

– Ở trên giao cho mày nhổ hết tất cả đồn trên quốc lộ I và đường số 8. Kể cả đồn Trung Hòa và Thái Mỹ.

Tôi ngơ ngác:

– Giỡn hoài anh Năm!

– Lệnh đó nghe mày nhỏ, không thi hành thì đứt đầu chớ giỡn !

Tôi nghe mồ hôi ướt lưng. Hai tháng qua về làm quận đội cặp giò tôi suýt bong gân mà chưa xong công việc nào khả quan. Tiểu đoàn Quyết Thắng, sau khi Tư Nhựt đi R và tôi trở lại H6, rồi từ H6 sang quận đội Củ Chi, thì xệ luôn, bóc không lên phải dẹp danh hiệu Quyết Thắng. Bây giờ trước tình hình nhiệm vụ mới (lúc nào cũng mới), ở trên bắt tôi phải tẩm quất cho nó xừng trở lại. Quân số tiểu đoàn chỉ còn hơn một đại đội, súng ống xộc xệch, gặp Mỹ thì lủi trốn để “bảo toàn lực lượng”. Tôi phải gom du kích các xã lại lấp lỗ hổng. Ông Mười Thứ đã làm nhưng như bắt cóc bỏ đĩa nên ổng gọi dân Nam Kỳ là vô kỷ luật, và trên cho ông đi chơi chỗ khác.

Bây giờ Quyết Thắng trở thành D7 Củ Chi, gồm hơn phân nửa là du kích, dũng sĩ, lính vịt xiêm, hầm bà lằng. “Binh quý hồ tinh, bắt quý hồ da”, nhưng với tôi, “hồ” gì cũng tốt trừ Hồ chủ tịt. Xã đội trưởng làm đại đội trưởng, chính trị viên xã đội làm chính trị viên đại đội. Hai anh du kích của An Nhơn Tây và Phú Mỹ Hưng là Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử biết chỉ huy cái giống gì mà tôi cũng đưa lên làm đại đội phó, phát “colt” cho đeo đàng hoàng.

Công kiêng chiến là một chiến thuật quan trọng của bộ binh, cần có sự yểm trợ của công binh và pháo binh, còn du kích bắn “cắc bùm” chơi, mệt nghỉ khỏe bắn, biết gì mà bắt hạ đồn?

Thái Mỹ là một đồn của nghĩa quân Sài Gòn có từ đời Pháp tới nay chưa bao giờ bị tấn công. Với một tiểu đoàn như D7 của tôi, lính tráng năm cha ba mẹ mà làm sao hạ? Và hàng chục đồn khác trên quốc lộ phải được quét sạch để dọn đường cho đại quân tấn công Sài Gòn, một ông tư lệnh khùng cũng không hạ một quân lệnh như thế.

Thấy tôi ngồi thừ ra, Năm Tiều vỗ về:

– Chuyện đó để tính sau, bây giờ lo vụ Tết nhất cái đã.

– Ủa, Tết rồi sao anh Năm?

– Cái thằng! Mày mớ ngủ hả? Bữa nay là đưa ông Táo về trời, mày không hay à?

Tôi thở dài:

– Trời, lại thêm một tuổi!

– Mày tuổi con gì?

– Con chó !

– Tao con… -Năm Tiều cười méo xệch cái miệng- phải được con trâu, con heo còn khỏe. Đằng này là con… cặc!

Tôi đang rầu mà cũng bật cười:

– Tết năm nay là Tết con gì, anh?

– Con khỉ! Khỉ già dòm giếng! Khỉ già ăn bần, khỉ già ăn ớt, khỉ già bạc đầu.

– Hôm qua tôi gặp anh Năm Sài Gòn, Tư Nhựt và Tư Chi luồn xuống dưới.

– Dưới nào?

– Dưới Sài Gòn chớ dưới nào anh ! Coi bộ Tư Nhựt phấn khởi lấm.

– Sao vậy?

– Ảnh mới được huy chương anh hùng giải phóng và lên chức E phó.

– Đầu cặc! Nó mà mừng mày cạo đầu tao bằng búa!

– Không mừng thì rầu à?

– Trời kêu ai nấy dạ mày, Lôi ơi.’ Chỗ anh em tao nói cho mày biết tại sao họ “chê” mày, mày biết không?

– Tại sao?

– Không phải chê mà cũng như chê. Cái này không phải tao nói mà Năm Lê nói với tao. Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Năm Sài Gòn có xin mày cho đợt một cho công trường 9 chủ công, nhưng ông Ba Xu bảo mày là “con heo nái”.

Tôi giật mình. Năm Tiều cười khà khà:

– Heo nái chớ không phải heo… gì đâu! Là vì mày đào tạo cán bộ nọ kia. Như heo nái đẻ heo con, hiểu chưa. Đem tế thần mày còn ai dạy học trò pháo, cối v.v… Mà thời gian tới chiến tranh kéo dài, binh chủng pháo rất cần, rõ chưa?

– Chưa rõ !

– Cái thằng tối dạ quá mậy ! Còn một lý do nữa, trận mở màn này chỉ là một cú đấm thăm dò xem lực lượng địch phản ứng ra sao. Nếu nó yếu thì mình bứt dây oánh tuốt, nhược bằng nó mạnh thì mình “a lê dông”: Tiền tuyến có thể nhẹ bom đỡ hơn trung tuyến là cái cửa ngõ Củ Chi này. Mấy con trâu già để sống dai nuôi mệt, nên người ta lùa vô lò mổ cho sớm. -Năm Tiều ngó dáo dác- ê, đừng có học lại ai nghe, tao chối đó. Riêng con trâu già Năm Tiều thì lội hết nổi rồi nên còn ở lại chuồng chớ không phải người ta thương xót gì. Mày thấy Năm Sài Gòn không? Tóc bạc rồi. Xí quách còn bao nhiêu mà chạy đua với trực thăng nổi.

– Tư Nhựt đâu phải trâu già, anh Năm.

– Trâu cổ cũng cho vô lò mổ luôn với lý do khác. Tao nói mày cứ ngẫm ra thì rõ. Bây giờ trên R, trên khu rau muống mọc đầy. Con chuột cống và mụ đàn bà đái không cao hơn ngọn cỏ là phó tư lệnh R, nghe oai ghê, nhưng họ cho nằm ở ghế số 6 và số 7. Thôi, mày thông minh nói vậy mày hiểu rồi. Lo nhang đèn cúng đưa ông Táo đi.

Tư Thêm, má con Tiền, đã về hồi nào. Nàng núp trong buồng nghe hết câu chuyện bèn bước ra:

– Sao có chuyện kỳ vậy chú Năm?

– Chuyện gì, con nhỏ biết gì mà xía vô.

– Lâu nay cháu tưởng Nam Bắc một nhà chớ?

– Một mà hai, hai mà một.

Tư Thêm có chồng công trường 9 hy sinh ở Bình Long, nàng là người có văn hóa cao nhất so với các “nàng thân mến” của Thiên Lôi. Cán bộ nói chuyện có khi bị nàng chọc vô bản họng trợn trắng. Thấy nàng muốn cãi lý với ông Đốc Chiến, tôi bảo:

– Đó là suy luận thôi em à!

– Nếu suy luận đó đúng thì sao?

– Không đúng đâu, em đừng lo. Bác Hồ nói “Miền Nam luôn luôn ở trong trái tim tôi”. Thôi đừng cãi! Vô lo đưa ông Táo về trời.

Tết buồn hiu. Hơn hai mươi năm xa nhà. Năm nay vẫn xa nhà. Nhà ló nóc, thấy đó mà không về được.

Bỗng thằng Ngọc hớt hãi chạy vào:

– Anh Hai ơi, có hai ông già nào tới. Cả hai đều hỏi anh.

– Ai vậy cà? -Tôi vừa nói vừa bước ra sân.

Thì ra ông Mười Niên và Tám Dọn. Mười Niên là khu ủy viên, còn Tám Dọn (bí danh Tám Đánh Xe Ngựa ở Hóc Môn hoặc Tám Lê Thanh) là phó tư lệnh Quân Khu. Tôi mời hai ông đi vào. Cả hai biết Năm Tiều đã lâu nên tôi không phải giới thiệu. Nói chuyện qua loa một chốc rồi họ kéo đi đâu không biết. Tôi đoán là đi tìm hai mụ Năm Đang và Hai Xót chuẩn bị phóng tay phát động quần chúng xuống đường yểm trợ quân đội.

Năm Tiều cười mỉa:

– Đó cũng là hai con trâu già Nam kỳ được đưa đi thịt, nhưng hai tên này có biết mẹ gì về quân sự. Chỉ nói mép thôi.

Tư Thêm dọn bánh tét, nước trà ra đãi tôi và Năm Tiều. Nàng lại thắc mắc:

– Theo như chú Năm nói lúc nãy thì… Mấy chú bác người Nam bị lót đường cho người Bắc hay sao?

Tôi bảo:

– Anh đã nói đó chỉ là suy luận thôi mà !

Nàng không chất vấn Năm Tiều nữa, nhưng tỏ ra không thông.

Đây là thắc mắc của một người đàn bà nông dân, có lẽ nào những ông già kháng chiến hai mùa không biết thắc mắc.

Bỗng một đám linh lạ ăn mặc ny lông đen, ba lô đen, chân đi dép cao su đúc trắng (loại của lính Miên xài), nai nịt AK hẳn hoi, bao đạn còn đỏ chói, lố nhố trước sân. Một chú lùn lùn, đầu trọc bước vô hỏi:

– Dạ, ở đây có phải văn phòng của anh Hai Lôi không?

Tôi nhận ra ngay thằng Hòn, cần vụ của anh Tám Hà. Tôi hỏi ngay:

– Anh Tám ở đâu mà mày đi đây, Hòn?

– Dạ. Bác đứng ngoài bờ tre.

Tôi chạy ra lôi tay anh Tám vô và bảo đám lính canh chừng máy bay. Tôi biết phái đoàn này đi đâu và sẽ dừng chân ở trạm nào sắp tới, nên nói ngay với anh Tám:

– Bây giờ không đi ra Bàu Dưng được đâu anh Tám. Vô đây nghỉ chút đã.

Tám Hà luôn luôn tỏ ra thân ái với tôi. Đặc biệt anh có lối nói chua chát, móc ngoéo cấp trên. Đáng lẽ anh phải là phó chánh ủy Quân Khu mà lại chỉ là phó phòng chính trị, dưới Tám Quang vốn là cấp dưới của anh trước kia.

Anh vô nhà giở nón tai bèo quạt lia và nói:

– Gần Tết rồi mà khí trời nực quá . Đôi dép thằng Miên bó mấy đầu ngón chân chặt cứng, băng qua vùng Cỏ Ống mệt muốn đứt hơi. Cho tôi cởi dép để mấy ngón chân thở một chút!

Năm Tiều rót nước mời. Anh nói:

– Trời đã bức lại uống nước nóng chịu sao thấu.

Tám Hà tuột luôn áo ngoài và nói:

– Xin lỗi nghe… Mẹ, ở trên đó cả bầy cán bộ mà toàn là thứ ho lao ho tổn nên người ta mới đùn tôi xuống dưới… Phải còn thằng Năm Dốn Bà dom đem (tức là Năm Dũng, chánh ủy Q16 Bắc Việt) thì nó sẽ đi thay tôi. Rủi nó bị “cá rô rỉa” ở Bàu Nổi rồi nên tôi phải đi. Tư Trường bí thư khu ấy mà không chịu đi hưởng vinh quang lại chỉ định tôi.

Nghe nói tôi đoán có cái gì không ổn trong lòng anh, và thấy thắc mắc của Tư Thêm rất bén nhạy. Tám Hà cũng là dân Nam. Anh hỏi tôi:

– Tụi Năm Sài Gòn, Tư Nhựt đã tới đâu rồi?

– Dạ, chắc họ xuống khỏi Rạch Tra.

– Rạch Tra chỗ cậu đánh đồn Thầy Mười đó hả? Có ai bắc cầu cho lính qua sông chưa?

– Dạ… không biết.

Tám Hà cười cái miệng móm mém và vỗ ngực:

– Tôi bây giờ không còn là phó phòng nữa nghe chú em. Chánh ủy tiền phương mặt trận A, đợt một đây! Oai ghê chưa! Chánh… quỷ!

Từ ngày biết anh, tôi chưa bao giờ nghe anh đùa kiểu đó Anh rất khiêm tốn và không bao giờ cho ai biết chức vụ của mình. Không hiểu tại sao hôm nay anh có lối pha trò kỳ lạ vậy. Nhưng anh thuộc loại cây cao bóng cả nên tôi không dám nói gì.

Tôi đáp:

– Tôi đã cho sửa cầu Rạch Kè và sẵn ca nô đón bộ đội tại ngã ba sông Thị Tính. Đơn vị sẽ đi từ Thanh An theo đường 14 xuống cầu Ống Cộ.

Nghỉ ngơi giây lát rồi anh Tám ra đi . Tôi đứng nhìn theo ruột gan quặn thắt. Ổng làm sao chạy nổi? Đánh với Mỹ là tất yếu phải chấp nhận chạy đua với trực thăng.

Chiều hôm đó, một tiểu đoàn cán bộ lại tiếp tục xuống luôn. Họ xuống lo căn cứ để ém quân vùng ven đô. Theo cấp trên hứa hẹn thì bộ đội sẽ ăn Tết ở Sài Gòn. Họ đi rồi, tôi cảm thấy lòng trống hoang. Mặc dầu Năm Tiều đã khai thông về việc tại sao ở trên không dùng tới tôi, nhưng tôi vẫn không tin hoàn toàn. Hay là mình có thằng em đại úy Thủy Quân Lục Chiến? Cũng được. Vậy càng khỏe thân!

Tôi ngồi hút gần nửa gói thuốc mà không muốn đi ngủ. Đến lúc thắng Tiền lôi tay tôi bắt lên võng mắc sẵn tôi mới biết là khuya lơ.

Tôi chợp mắt mà không sao ngủ được. Đêm Củ Chi vắng lặng, ghê rợn lạ thường. Nếu có pháo nổ, hỏa châu, trực thăng soi, máy bay mâu hốc chụp hình thì đó cũng là chuyện bình thường, coi như không có chuyện gì xảy ra. Nhưng đêm nay im vắng lạ thường, cái ỉm vắng ngột ngạt nặng nề, cái im vắng của vùng không khí nén trước giờ bùng nổ . Người tôi cảm thấy bứt rứt khó chịu như sắp bệnh.

Trước mắt tôi chập chờn bao nhiêu hình ảnh ghê rợn. Một bộ mặt máu me đỏ lòm, một cánh tay lung lơ ngoắc vẫy. Bỗng tôi thấy Bảy Nô hiện lên, mình mẩy ướt mem:

– Hề hề! Khoẻ hả mày nhỏ?

– Anh Bảy, anh đi đâu về vậy?

– Tao ở sông Lòng Tào mới tới đây. Mày cho vợ tao hay giùm.

– Hay cái gì anh Bảy?

– Biểu nó cúng cơm cho tao. Bảo vợ Sáu Phấn nữa!

– Trời ơi! – Tôi kêu ré lên và vùng ngồi dậy.

Mấy đứa trong văn phòng hỏi:

– Anh Hai nói chuyện với ai vậy?

– Bảy Nô!

– Anh Bảy được phân công đi Phân Khu 4 Rừng Sát với chú Tám Quang lâu rồi mà.

– Tao mới gặp! Thôi ngủ đi, không có việc gì hết. Tụi bay ngủ đi.

Sáng hôm sau, tôi đang dò đường trên bản đồ ven đô để ước đoán xem căn cứ nào sẽ bị quân ta tấn công trước, thì liên lạc tới. Đây là sự thường, nhưng không hiểu sao tay tôi nhận xấp công văn mà run lẩy bẩy. Tôi đùa một số bao thừ ra, không khui, và cuối cùng nhặt lấy một chiếc, xé phăng ra. Thôi rồi, đúng y trong mộng. Công văn của Ba Kỳ Nam ở Rừng Sát gởi quận đội Củ Chi:“Đồng chí Bảy Nô cấp bậc trung đoàn trưởng đã anh dũng hy sinh trong lúc chiến đấu trên sông Lòng Tào… Nhờ cho vợ con đồng chí hay dùm”.

Trời! Qua sông bị tàu bắn chớ anh dũng cái gì. Tôi đút thư vô túi không biết làm gì nữa. Tôi bảo thằng Tiền và thằng Gàu theo tôi đi Phú Hoà Đông cho chị Bảy hay, đồng thời tìm thêm địa điểm giấu DKB trên R nói gởi xuống thêm.

Người xưa cảnh củ còn đâu. Nhớ lúc anh đóng quân ở đây xóm làng vui nức, lính tráng ngập đường. Nhà cửa phong quang. Nay tiêu điều xơ xác. Bom đạn lẫn vết xe tăng cày nát đất đai. Kim Anh, nàng bây giờ ở đâu? Có nhớ chăng đêm thần thoại Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai, có nhớ chăng gốc cao su hẹn thề còn ghi lời hứa của chinh phu? Đời không có niềm vui nào trở lại hai lần.

Tôi đến nhà bà má của chị Bảy. Ngôi quán đã dẹp đi vắng hoe. Giữa nhà một chiếc bàn thờ tang còn mới. Một người đàn bà mặc áo hồng, tóc quăn hiện ra nhìn tôi trân trân rồi kêu lên:

– Anh Hai hả ?

– À tôi chị Bảy.

– Anh Bảy đã hy sinh rồi. -Chị kêu lên.

Tôi khựng lại hồi lâu.

– Sao chị biết?

– Ảnh hiện hồn về mà !

– Mộng mị không đúng đâu chị?

Bà má trong nhà bước ra. Trông bà già tóp đi như đến trăm tuổi. Bà run run nói:

– Thằng Nô chết rồi con ạ !

Chị Bảy tiếp:

– Ảnh hiện về nói rõ với em, đầu ảnh bị thương, ảnh bị tâu bắn trên sông. Ảnh biểu em cúng cơm và khuyên em lấy chồng.

Tôi lặng thinh. Mắt người đàn bà đỏ hoe nhưng trong ánh mắt có tia hy vọng rọi thấu tim tôi. Tôi biết Út Lan (chị Bảy Nô) không yêu chồng. Có lần chị than thở với tôi, nhưng tôi gạt ngang. Chị cố bước tới, bao nhiêu lần tôi né tránh. Cho đến hôm nay, cơ hội đến hoàn toàn thuận lợi cho chị. Út Lan mới 22, 23, rất đẹp và đa tình. Nhưng không thể nào tôi chấp nhận một mối tình như vậy được. Lúc sinh tiền anh Bảy và anh Năm Tiều coi tôi như em út, hai anh kêu tôi bằng thàng chớ không kêu bằng chức vụ. Tôi không móc bao thư trong túi mà nghe ngực cộm lên nhột nhạt. Chuyện đã rõ rồi, mình còn đứng đây làm chi nữa.

– Chào má, chào chị Bảy! Con đi có việc gấp.

– Ở chơi ăn cơm mà, anh Hai.

– Để khi khác.

– Anh thiệt vô tình.

Ít lâu sau, út Lan lên tận văn phòng quận đội. Tôi chạy trốn lấy cớ đi công tác gấp. Tôi biết nếu tôi ở lại thì không thể nào qua khỏi đoạn cầu tình ái này. Lương tri đã giúp cho tôi chiến thắng trong một trận đánh gay go khốc liệt hơn cả đánh Mỹ . Làm đĩ chín phương cũng chừa một phương lấy chồng, chính là tôi đối với Út Lan vậy.

Hôm sau từ Phú Hòa về văn phòng, đụng nhằm Hai Văn, chánh vãn phòng. Trông thấy tôi, Hai Văn kêu lên:

– Chết hết rồi anh Hai ơi!

Tôi như chim bị đạn, sững sờ:

– Ai chết, ở đâu?

– Ban tham mưu của mình, Đào Hải, Sáu Phấn, con Mặn, con Lan, hai cán bộ DKB trên R cùng chui một hầm bị súng phun lửa của Mỹ cháy hết.

– Còn ai nữa không?

– Tất cả mười hai người.

– Có Sáu Phấn thiệt hả?

– Xác nhận rồi, có anh Sáu.

– Ổng lơn tơn đi đâu cho bị vậy?

– Ảnh đi tìm chỗ chôn DKB.

– DKB đồ ăn hại, chưa làm gì đã phá.

Tôi ngã người xuống hầm không còn biết gì nữa. Mười hai người ban tham mưu quận đội của tôi. Đào Hải là trưởng ban, thằng Bắc Kỳ dễ thương và lanh lẹ vô cùng, tướng cậy của tôi. Trời nỡ đoàn mạng chúng nó khác nào chặt tay chân tôi. Tôi bật dậy bảo mấy đứa nhỏ đi kêu ban chỉ huy đến.

Mộ tập thể này là thứ mấy chục rồi? Mộ tập thể cho ban chỉ huy D8 chưa xanh cỏ: Sáu Uya, Năm Thủ, Ba Tố, Sáu Đực và nửa tiểu đội cận vệ. Củ Chi nổi tiếng địa đạo rởm, nhưng nổi tiếng hơn vì những nấm mồ tập thể thật.

Hai ông xã đội và bí thư An Nhơn, Tư Quân và Ba Thắng đến. Sáu Bương và Tám Đột cũng thất thểu tới. Tám Đột nói:

– Kỳ này khủng khiếp hơn kỳ tụi mình chui địa mà thầy chết ngộp đó thầy Hai. Buổi sáng tôi nghe xe tăng rù rù bên suối Bà Cả Bảy rồi im luôn. Tôi tưởng là không quan trọng gì. Trưa trưa tôi nghe súng nổ. Tôi ngóng chừng thì đoán ra căn cứ của Đào Hải tham mưu, cho nên chiều lại tôi vội mò sang. Trời ơi! Thấy trận càn mà hồn vía lên máy. Xe tăng nó ủi sập nhà cửa, cây cối tre trúc mẹp như cỏ Chung quanh miệng hầm chừng một công đất soong nhôm chai lọ bị cán nhẹp bể nát, quần áo văng dính đầy gốc cây. Miệng hầm hả ra toác hoác.

– Hầm gì?

– Hầm cá trê kiểu hầm ông Tám Dò ở dưới gốc bụi tre hồi năm ấy mà.

Hai Khởi chen vô:

– Cái hầm của ông Tám Dò chứa được ít nhất hai chục người. Tôi có xuống dưới nhậu mắm chua với thầy Hai.

Bảy Phán tiếp:

– Hồi đó em nấu bếp cho ổng chớ ai.

Tám Đột nói:

– Tôi cũng có xuống hầm đó một lần, do ổng kêu tới phân công tác chớ không phải tự động mà tới được đâu. So với cái hầm của Đào Hải thì kín và chắc hơn nhiều. Đào Hải cũng dựa địa hình xây hầm nhưng không kín bằng ông Tám. Do đó mà tụi xe tăng quần kiếm thấy ngay.

– Không có địa à?

– Địa bây giờ đâu còn nữa thầy Hai. Ai còn dám xài địa như hồi nẵm. Có tôi da đồng xương sắt mới dám chui lần đó với thầy. Và thề tới chết không chơi với địa nữa.

Tôi bảo:

– Mấy cha nội đó chui hầm cá trê vậy thì phải thủ trước. Hễ .thấy bị lộ là nhào lên chơi liền. Có chết cũng nổi danh, để nó thui như vậy mất danh quá.

Tám Đột lắc đầu:

– Tụi nó gặp miệng hầm là phun lửa ngay đó thầy Hai. Ở dưới hầm trở tay không kịp đâu. Đây đâu phải là lần đầu tiên tụi nó chơi đồ độc.

Tôi biết tôi giận mà la bậy vậy thôi, chớ một khi đã chui xuống hầm thì đã xuống tinh thần đến 80%, có khi tên mình là gì cũng không nhớ. Lần đó sống sót nhờ linh dược cô Thu tôi cũng thề không chơi với địa nữa.

Những tên nhà báo bất lương chưa biết địa đạo và quân Mỹ hung ác ra sao, chuyên nói bậy để thần thánh hóa Củ Chi. Sự thật đó chỉ là những cái hang chuột. Một số lính và quan Mỹ chủ bại sống sót về xứ quay lại ca ngợi đường hầm Củ Chi ghê gớm hơn cả chiến lũy Maginot là để nói rằng: “Việt Cộng chúng nó tài ba ghê vậy nên chúng tôi thua là phải!”

Nếu thực sự có địa đạo thôn liền thôn xã liền xã và có cả bệnh viện, nhà kho, nơi giải trí dưới đó thì mười hai mạng của ban tham mưu quận đã không chui xuống hầm cá trê để bị súng phun lửa thiêu rụi.

Hỡi những tên bất lương nói láo nên dẹp bút và câm mồm lại để thiên hạ khỏi bị lừa một cách đê tiện vì sách vở của chúng bay.

Tôi đưa tiền tác chiến phí cho Tư Quân và Ba Thắng.:

– Tôi ủy nhiệm các đồng chí lo mồ yên mả đẹp cho anh em. Nhớ mua nhang đèn cúng vái vong hồn họ về phò hộ chúng mình trong những ngày sắp tới.

Hai Khởi an ủi tôi:

– Đây là chuyện thường xảy ra chớ đâu có đặc biệt gì thầy Hai. Miệng hầm không nghi trang kỹ thì xe tăng nó càn lòi ra ngay chớ đâu phải lỗi của thầy. Mấy ông đó cũng đã từng ở hầm chớ đâu phải tay mơ.

Tôi tội nghiệp Sáu Phấn vô cùng. Khi tôi rời H6 ra chỉ huy D Quyết Thắng, ảnh khóc lóc than thở: “Thầy đi chắc tôi chết chớ không chỉ huy nổi đâu!” Ngày tôi gặp anh bên Bến Cát tới nay, cách nhau chưa đầy một năm mà trông anh già cả chục tuổi. Một bước cũng không ra khỏi hầm. Lúc nào cũng sợ biệt kích ăn thịt. Tội nghiệp, nghe tôi về cùng chỉ huy H6 với anh, anh mừng khôn xiết. Đem rượu và tôm khô để dành cho thầy Hai đầy! Hai đứa uống cạn chai. Một bước cũng không dám ra khỏi hầm mà rồi cũng chết. Tử sanh hữu mạng. Ở xứ Củ Chi này sống chết nháy mắt.

Hồi Hai Giả xuống Thủ Đức bị lính Đại Hàn ném lựu đạn, ba lô gởi về, tôi nhẹm một thời gian, bây giờ làm sao giấu được. Tin ban tham mưu quận đội bị cháy chết chắc đã đồn đi khắp nơi rồi!

Tôi kêu Ba chỉ huy C công binh tới:

– C có mấy cây B40?

– Dạ, mười cây. -Hai Khởi đáp.

– Ông về lựa cho tôi một trung đội trang bị toàn B40, RPD và AK.

– Không được đâu thầy Hai.

– Tôi thề diệt đám xe tăng này, không để chúng nó tung tăng nữa.

– Thầy chưa nghiên cứu làm sao đánh được?

– Hồi đánh Pháp, Hoàng Thọ chèo xuồng cho vợ đi trên sông Vàm Cỏ bị Tây bắn chết, ổng nổi đóa, hôm sau đem cờ ra treo ở mé sông nhử máy bay tới bắn. Ổng hạ được một chiếc đầm già để trả thù cho vợ. Bây giờ anh em mình chết thảm như vậy, chẳng lẽ mình ngồi im, không bằng Hoàng Thọ? Đừng có ai có ý kiến gì thêm. -Tôi la to.

Ba giờ chiều hôm sau, tôi dắt trung đội ra Ràng rồi qua Bàu Điền băng qua Lộ 7. Đi suốt đêm tới gần sáng mới tới nơi. Tôi bố trí đội hình từ đầu chợ Bắc Hà tới ngã tư Đồng Dù. Tôi ngồi trong bụi ăn miếng bánh mì với mẩu đường thẻ của một em gái cho giắt theo lưng. Tôi vừa nuốt vừa chạy một lượt khắp mặt trận, nhắc nhở anh em quyết trả thù cho đồng đội. Sáu Hoàng, C phó và thằng Bọ Ngựa liên lạc của tôi nay cho làm A trưởng. Sáu Hoàng tì bá B40 vào ngấm thử và nói:

– Ở đây khúc quanh, hễ nó tới là tôi bửa ngay tam tinh.

– Ờ anh ngắm đầu, đừng ngắm đuôi huốt mất. Nếu có xe Jeep đi đầu, cho nó qua, đừng bắn.

Năm Đầu Ban mới vô bộ đội, cũng rất hăng:

– Anh cứ tin đi ! Tôi nhất định hạ ít nhất một chiếc.

Anh chàng Mã Tử ở đâu bò tới, thầm thì:

– Đèn pha nó rọi kìa anh Hai !

Bảy Nê cũng sẵn sàng. Thằng Bòn nằm bên Nê nhắc chừng:

– Chị đừng có run. Ý… ai kìa cỡi xe Honda giống bà Ua.

Quả thật Ua tới. Nàng bạo gan, táo tợn. Dừng xe bên tôi, chõi chân xuống đất, bảo:

– Anh sẵn sàng nhé. Nó tới rồi!

Tôi nhắc Nê và Bòn:

– Bắn xong chạy băng qua đường về địa điểm, coi chừng lạc xuống ấp Bào Hóc bị bót Tân Thông nắm đầu!

Xe tới lù lù năm sáu chiếc. Tôi hét “Nổ!”

– Xung phong!

Bảy Sơn, Sáu Hoàng, Nê, Bòn và toàn đội hình vừa bắn vừa hô xung phong. Khói lửa mù mịt. Những khối thép đen thù lù như quái vật bị trúng đạn dừng lại quay ngang, lủi vô lề, không còn vẻ hung hãn như trước đó mấy phút.

Tôi hét:

– Băng qua đường!

Bảy Sơn đẩy tôi chúi lủi:

– Anh Hai đi sát vào phố, lô cốt nó bắn xỉa chọn đường.

Nhanh như chớp, cả đơn vị rút về phía Cây Sộp lên Trảng Lấm. Phía Đồng Dù bắt đầu giã cấp tập.

– – Bắn cháy một M41.

Tôi lột được cây colt cửa thằng Mỹ đen. Tôi đá cho nó một cái, nó rên ò ò.

Tôi quát:

– Rút nhanh vô sở Ba Lăng, mau lên.

Hai chiếc bù bốc HUIA rà sát mặt đường số 8 rọi đèn quay vòng tìm kiếm và bắn liên tục về phía rừng Bào Hóc.

Tư Quân lén cho vợ theo (mà tôi không hay), cô vợ trẻ làm y tá của tiểu đoàn. Còn Tư Quân làm D phó. Sau Mậu Thân, Quân lên E phôó cũng ăn quen về thăm nhà ở đây, khinh địch bị biệt kích thăng Rắc gài giết chết lãng nhách.

Bảy Sơn khen tôi:

– Anh đánh cú này còn thần tốc hơn cả Suối Cụt.

– Đó là nhờ con Ua vẽ bản đồ cho tôi.

– Vậy anh thưởng cho cô nàng cái “cán búa” Thiên Lôi đi!

Về tới cơ quan, Năm Tiều ra đón:

– Thăng quỷ, mày vẫn ẩu tả như hồi mày 14 tuổi đánh xe tăng Pháp. Đánh ngay cửa Đồng Dù chớp nhoáng ba mươi phút. Ông Ba Xu sẽ cảnh cáo cho coi.

Bữa sau Ba Xuyên cho nàng Ua vô, cho tôi biết tin sơ khởi: bốn xe M41, bốn xe tăng bị cháy tiêu. Hai M41 hư nặng. Chừng bốn mươi lính Mỹ chết và bị thương.

Hôm sau tôi bảo Tư Quân:

– Cậu dắt một đại đội lên mộ tập thể của anh em mà cúng vái lần nữa như mở cửa mả vậy.

Tư Quân chưa kịp quay đi thì một ông già áo quần lếch thếch, khấc khăn đầu rìu bước vô, khúm núm:

– Dạ thưa đây có phải là dinh sở của quận trưởng Hai Lôi không?

– Chi vậy ông già? -Thằng Tiền trinh sát hỏi xẵng.

– Dạ, có việc tôi mới đến, chớ ở không đâu mà đi chú em !

– Ổng kia kìa. -Thằng Tiền chỉ vào tôi.

Ông già run run nói:

– Dạ thưa quận trưởng, tôi là ông nội của con Mận. Tía nó đi công trường 9 tử trận, tôi cho nó đi cơ quan, chẳng may vừa rồi nó bị Mỹ đốt cháy. Tôi nghe được tin, vô đến nơi thì đã chôn tập thể rồi.

Ông già nghẹn ngào, ngưng hồi lâu. Ông cố nuốt ực và tiếp:

– Hôm qua tôi đi chợ, thấy mấy ông phục kích trước cổng Đồng Dù, tôi bèn trịt ngang không đi chợ nữa, nín trong bụi cây chờ mấy ông hạ xe tôi mới ra giết tụi Mỹ trả thù cho con và cháu tôi.

Nói xong ông buông chiếc gói ny lông đánh phịch xuống đất và đá luôn một đá. Cái gói tròn tròn lăn lăn rồi dừng lại. Ông già cúi xuống nắm mép ny lông giở lên. Một vật đen ngòm đỏ sậm be bét văng ra dưới đất.

Thằng Tiền la lên:

– Cái gì vậy ông già?

-Ghê quá !

– Thúi òm!

Tôi nhìn lại, mới nhận ra là một cái thủ cấp Mỹ.

Ông già nói:

– Mấy ông có đi tới mộ tập thể cho tôi đi theo với, để tôi tế anh em và đứa cháu tôi. Còn mẩy thăng râu chổi chà trong Củ Chi nữa, tôi phải giết chúng nó thì tôi chết mới nhắm mắt.

Anh em trong văn phòng kẻ bịt mũi quay đi, người che mắt liếc dòm, còn tôi thì ngơ ngẩn không biết nói gì. Tôi như bị một búa Thiên Lôi giáng xuống đầu.

Tụi Mỹ mang văn minh tới đây đồng thời nung nấu chí căm thù của dân Việt đối với chúng. Thời chống Pháp cũng vậy có những nông dân theo bộ đội tối đi phục kích, hoặc sau trận phục kích bộ đội đã rút, họ mổ lấy tim gan lính Pháp về xào ăn, uống rượu để trả thù chúng đốt nhà hãm hiếp vợ con họ. Dã man chống đối văn minh, ai cản được, ai hiểu được?

Trước Tết, ông già kể trên lại theo D7 chúng tôi đánh quận lỵ Củ Chi để tự tay giết Mỹ, nhưng bom đạn tàn bạo giết ông trước khi giấc mộng trả thù cho cháu được hoàn thành. Người ta gọi ông là ông già Củ Chi cũng như ở Bến Tre có ông già Ba Tri thời xưa và ông già B52 ở Bến Tre thời nay vậy (tức là ông già bị hai trận B52 mà còn sống).

Sau trận đánh hạ tám xe tăng ở ngã tư ngay trước cửa Đồng Dù, bà con kéo đông nghẹt trên các đường đi. Tưởng họ đến tặng quà và hoan hô chúng tôi, nào ngờ kéo nhau ra vùng “ngụy” để lánh nạn. Hỏi tại sao? Họ đáp thẳng: “Đi trốn B52! Chừng nào êm rồi về!”

Họ đã thấy sự tàn phá của loại máy bay bỏ bom tấn này ở đường 15 từ Hố Bò đến Láng Cát, nay hãy còn dấu vết nên họ kéo đi, không có cái mồm chính trị nào ngăn được.

Mụ Hai Xót, Năm Đang méo mặt ngồi im. Hai Mõ, bí thư quận ủy hỏi:

– Làm sao bây giờ chị Hai, chị Năm?

Mụ Hai Xót đổ quạu:

– Sao chú không tự hỏi chú mà chú hỏi tôi?

Thế là huề cả làng. Cứ để họ đi.

Nhớ hồi nẵm, khi tên nhà báo bất lương Bọ Chét tới đây đòi quay phim “Địa đạo chiến” mà nực cười. Bọn nhà báo ngoại quốc, không rõ vì ngây thơ hay vì bị mua chuộc đã hàng chục năm ròng (nay vẫn chưa hết) đi tuyên truyền không công cho phe Cộng. Thời kháng chiến có tên chủ tịch công đoàn Pháp tên là Léo Figuère sang chiến khu Bắc Việt gặp cáo Hồ rồi về Paris viết báo ca ngợi Việt Minh, chống quân đội Pháp. Sau đó mới có mấy cái vụ Henri Martin và Raymondienne cởi truồng năm ngăn xe lửa chở vũ khí xuống Marseilles để đưa sang Việt Nam.

Thời nào cũng có những thằng ngu, bán lương tâm cho quỷ đỏ như vậy, hay chính chúng nó là quỷ sa tăng cũng nên.

Tên Bọ Chét thấy sự thực Củ Chi không có địa đạo “thôn liền…” gì hết chắc xấu hổ vì điểm Bọ Chét bị điếm Hồ lừa. Nhưng chưa chịu bỏ tật nói láo bèn xoay qua đòi quay phim đấu tranh chính trị của đội quân đầu tóc. Chính hai mụ già trầu này chạy sút quần mà chỉ quy tụ được chục rưỡi bà má hom hem, bắt được thêm dăm bảy chị nông dân đang cấy dưới đồng, lưa thưa như vậy mà đấu tranh chính trị cái gì? Bọ Chét bèn bỏ tiền ra mua cà lem nước đá ở chợ An Nhơn (hồi đó còn nhóm) để rủ rê con nít tới đấu tranh chính trị với “ngụy”, rồi bắt ép mấy chủ xe lam vùng “ngụy” vào chở khách đi “đánh trâu’. Xe cắm cờ đỏ, cờ xanh lèo tèo chạy quanh để Bọ Chét quay phim đem về trình quốc tế “cuộc đấu tranh anh hùng” của dân miền Nam chống Mỹ .

Quốc tế ngu. Quốc tế mù. Quốc tế uống máu què, cong lưng tin sự thực là như vậy nên hơn năm mươi phái đoàn từ Nam Mỹ đến Anh Quốc, từ mụ A.L. Sướng đến lão già dềnh Russel vác mặt đến Hà Nội hoặc gởi băng thu tiếng nói của mình đến ủng hộ mặt trận côn đồ bịp của tên luật sư có tiền án lem nhem.

Bây giờ năm 1967, trước Tết con khỉ già, hai mụ khu ủy viên này ngồi ngó đạo quân đầu tóc, đầu trụi vác mùng vác chiếu ra trú ngụ vùng ngụy mà không dám hó hé nửa câu.

Đó là kết quả của những cuộc đánh trâu, đánh bò lên đường xuống đường do đảng lãnh đạo.

Vài hôm sau, dường như để cho đảng ta khỏi bể mặt, có một phái đoàn “dân quân chánh đảng” từ Hố… Bò ra thăm tôi. Gồm có chú Tư Thiên, bí thư xã ủy, cô Là, xã đội phó mới lên xã đội trưởng, chị Tám Khỏe, phụ nữ giải phóng hụ họ, chú Tám Xe, chuyên gia đánh xe bò của tổ hậu cần khu của ông Bảy Hốt, bồ tèo của mụ quán Sáu Tỉnh, chị nuôi của hàng tá lính vịt xiêm.

Phái đoàn này do cô bé xã đội phó, em nuôi của tôi dẫn đầu. Cô nghe tôi được phong chức quận trưởng quận đội thì ra “yết… kiến”. Cô thuộc hệ thống chỉ huy của tôi. Cô hăng say chống Mỹ vừa hăng say săn đuổi ông anh nuôi. Cô đã từng “lựu đạn chiến” với cô Ua tại quán cô Chia năm trước. Tôi tưởng họ từ “địa đạo âm phủ” mới chui lên.Mặt mày hốc hác, áo quần te tua như bầy cô hồn. Chỉ vài ngày sau Tết, bốn người bị xe tăng càn nhẹp dưới hầm cá trê làm cho Củ Chi nổi tiếng thêm vì một nấm mồ tập thể.

Hai ông già Tư Thiên và Tám Xe gợi cho tôi một cảm giác thương tâm. Sao người ta không để họ an hưởng tuổi già với con trâu cày lạc hậu mà bắt họ xây dựng thế giới đại đồng văn minh cho nhân loại?

Nàng xã đội thấy trong văn phòng của ông quận có nhiều áo tím áo hồng phất phới, nào dũng sĩ Bảy Nê, nào quận đội phó Tư Bé, nào các em các cháu, đứa kêu bằng “anh”, đứa gọi bằng “ba” thì có vẻ sôi máu căm thù.

Tôi thừa biết nàng ra đây để làm gì. Kiểm soát con ngựa bất kham này sao nổi. Bốn phía quân vương tiền hô hậu ủng, cung phi mỹ nữ muốn nhiêu có nhiêu mà .

Tôi đưa nàng sang nhà bên cạnh để giao “công tác” cho xã đội. Vừa ngồi, nàng hỏi ngay với giọng cộc lốc:

– Anh sang bên dì Ba có gặp má hông?

– Có chớ. Anh đến thăm má chớ gặp gì!

– Má có nói gì với anh không?

– Má thấy anh bận quá nên má chưa kịp nói.

– Em biết ba con hồ ly tinh đó hốt hồn anh rồi. Áo trắng, đầu quăn, ăn nói theo Sài Gòn ngọt xớt nên anh quên hết .

– Anh đâu biết hồ ly tinh nào mà em nói vậy.

– Người ta đồn là dì Ba gả một trong ba con Mai, Khánh, Ngọc cho anh. Anh chịu đứa nào gả đứa nấy. Có không, khai thiệt đi!

– Tầm bậy! Anh sang đó để nhận chỉ thị của dượng Ba. Ổng là tư lệnh, ổng kêu thì phải tới chớ! Làm việc xong là anh dông liền.

– Ờ, dông liền qua quán bà Lụa phải không?

– Không qua đó làm sao gặp má mà thăm, em nói kỳ !

– Anh đừng có né. Bà Lụa cũng bắt hồn anh rồi. Em biết, không phải mới đây đâu ! -nàng nói một hơi- Em thương anh trước. Em cho anh hết lúc em dẫn anh đi coi hầm… Cái hầm sau này được dượng Ba chui suýt chết, em đi kêu anh về giải vây đó, nhớ không? Kỷ niệm vậy mà quên hả? Em nói thiệt kỳ này ra đây em xin làm ở văn phòng quận. Xã đội trả lại cho chú Tư, chú giao cho ai thì giao.

– Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử vô D7 rồi, còn ai mà giao.

– Kệ chú. Để anh đi lung tung lâu nay không ai săn sóc, anh ốm nhom ốm nhách thấy không? Côn em cũng ăn ngủ không được, hễ thức giấc là kêu tên anh. Chị Tám nói em điên. Lần này em ở lại đây chừng có bầu mới về, mà không về nhà, qua bên sông ở với má, nuôi con.

– Sắp đánh lớn rồi, em nói vậy mất đảng tính hết.

– Đảng tính, tính sau, bây giờ em phải lo cho em trước đã.

Nàng òa lên khóc mùi mẫn làm tôi rối loạn tinh thần. Nàng quệt nước mắt vào vai tôi rồi tiếp:

– Chồng chị Tám chết rồi anh không hay sao?

– Chị Tám… ơ…ơ…

– Không phải chồng dân công chết ở Bình Long đâu. Chồng mới cưới cơ!

– A… ai?

– D phó bạn anh mà anh không biết à? Kỳ anh về lần thứ hai uống rượu với thịt chuột bị hóa học, mấy anh thành lập hội ve chai chống Mỹ đó quên sao?

– Hội ve chai chống Mỹ chết hết rồi, chỉ còn mình anh, biết đứa nào?

– Chỉ than với em: “Phần số chị rủi ro quá em ạ. Trong ba năm chết hai người chồng. Con lớn rồi không thấy cha về. Có cha ghẻ cũng chết luôn”. Anh ấy linh tính thế nào mà một lần ăn nằm với chị, ảnh bảo: “Mình làm đám cưới đi em à”. Chị nói chị đi bước nữa, còn anh trai tân mà cưới hỏi rình rang người ta cười anh chết. Ảnh nói làm vậy mới chánh thức để sau này con mình (con chỉ chớ không phải con ảnh) có quyền lợi của chánh phủ cho. Thấy ảnh nói vậy chị cũng đồng ý. Ảnh chị thương nhau ở buổi nhậu thịt chuột đó. Ảnh nói với chú Tư Thiên đại điện chi ủy, còn bên ảnh thì mấy anh em xách rượu đem trà tới đám cưới . Chỉ có vậy thôi với sự chứng kiến của chú Tư. Chị không còn cha mẹ, chú Tư cũng như cha: Đêm đó ảnh với mấy người bạn uống rượu tới khuya. Rồi anh với chị thành vợ chồng.

– Ai cưới chị Tám? Nói ra nghe, cứ lòng vòng hoài.

– Anh Ba Tố chớ ai.

– Nó chết rồi!

– Chớ còn gì nữa. Cả ban chỉ huy D8 lãnh một trái bom đìa ở An Phú, anh không biết à? Chị Tám ra đó tìm lượm từng miếng xương… Mà không biết xương ai.

– Anh biết vụ bom nhưng không biết Ba Tố cưới chị Tám. Sao nó không cho anh hay?

– Anh đang ở bên sông với ông Sáu Phấn.

Tôi ngồi lặng thinh. Bạn bè quanh tôi lần lượt leo lên bàn thờ hết ráo rồi. Bây giờ ngồi nhớ lại mới thấy cô đơn. Mà thật, lâu nay tôi uống rượu khan bậy bạ một mình, không có tri âm tri kỷ, không còn những buổi nổ trời rung đất nữa.

Sáu Phấn đã chết. Tư Nhựt trối lại hôm nào nhờ giúp đỡ vợ con. Hai Phái, thằng keo kiệt khó thương, cũng trăn trối “coi sóc giùm các em nuôi” cho tao. Bảy Nô ứng mộng.

Toàn là dân Nam Kỳ . Tới phiên tôi trối gì, trối với ai ngoài cô Là?

– Em muốn có đứa con với anh, anh không nên từ chối nữa. Anh thấy anh Ba Tố và chị Tám không. Chỉ nói hai người ăn ở với nhau mới có một lần rồi ảnh vậy đó Anh! Anh đừng làm khổ em nữa.

Nhưng tôi làm sao cưới? Mậu Thận đợt một sắp nổ ra. DKB, quận Củ Chi, nhổ đồn hạ bót trên quốc lộ, chặn xe tăng… cả chục thứ chiếm hết đầu óc tôi còn tâm trí đâu mà cưới? Tôi bèn làm vừa lòng nàng, còn việc cưới .thì khất lại sau Mậu Thân. Đó là chánh sách muôn thuở của đảng. Cứ hứa rồi quên.

– Mày có tin rằng sau khi nổ súng, mình trụ lại nổi ở ven đô không? –Câu hỏi của Năm Tiều vang lên trong đầu tôi.

Mày là con heo nái… -lại một câu nói khác của Năm Tiều.

Tôi bảo:

– Đừng giận anh nghe Là ?

Giao “công tác” của quận đội xong cho nàng xã đội. Công tác hơi nhiều nên tới nửa đêm tôi trở lại văn phòng.

Vừa ngả lưng thì có tiếng bắn ầm ầm trên trời. Không phải trực thăng soi, cũng không phải pháo. Đó là tiếng máy bay mâu hốc bắn để chụp hình. Nó tới đâu là B52 theo ngay sau đó. Đồng bào từng đội B52 quen rồi nên ngửi thấy những tràng dưa hấu lúc chúng chưa bay tới. Nó như một con ác điểu xòe cánh đen bao trùm từ mé sông Sài Gòn vô tận Phước Vĩnh Ninh. Nó sẽ trả thù cho tám chiếc xe tăng và bốn mươi lính Mỹ vừa ăn B40. Ăn một trả ngàn. Đó là Mỹ (Mong rằng Mỹ cũng sẽ làm như vậy trong hòa bình, đừng ăn rồi ngậm nuôi luôn, làm cho những binh sĩ Mỹ trăn trở, không nằm yên trong lòng đất).

Chiếc mâu hốc vừa biến đi thì có tiếng ò e trên nền trời càng lúc càng to. Mấy đứa cần vụ chạy ào xuống hầm trốn pháo. Đó cũng là thường lệ thôi. Bài bản Mỹ chơi có khi đổi nhạc cụ nhưng vẫn những bản cổ điển đó. Trực thăng soi, pháo, bom B52… Nhưng bữa nay không có gì hết ngoài tiếng “đờn cò” rồi bật ra:

“Tôi là Bảy Hốt, không phải là Bảy Hốt hậu cần mà Bảy Hốt tự Tám Bụng, tiểu đoàn phó tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn mũi nhọn do Tư Nhựt và Hai Lôi chỉ huy và Q16 công trường 9 sắp tấn công nay mai. Tôi đã trở về với chánh nghĩa Quốc Gia. Kêu gọi cán binh trung đoàn mũi nhọn ra hồi chánh. Hồi Chánh hoặc Tử Thẩn”.

Mụ Hai Xót từ trong hầm chui ra, quệt ghèn hỏi tôi:

– Thằng nào vậy đồng chí Lôi?

Bảy Hốt. Nó là cán bộ C phó của Quyết Thắng khi tôi là tham mưu trưởng. Tài ba trung bình, thành phần: con của chủ nhà máy xay lúa ở Phú Hòa Đông, nhưng hắn ăn rất khỏe, tám chén một bữa ăn. Do đó hỗn danh Tám Bụng và mấy mụ già trầu lầm tưởng, một tên ăn no vác nặng như hắn chắc phải là bần cố nông nên trước khi vào ven đô, cấp trên phong cho y chức tiểu đoàn phó.

Tám Bụng vừa dứt tiếng thì tới một giọng khác:

Tôi là Hai Phán, tham mưu phó phân khu…”

Mụ Hai Xót cự tôi:

– Để nó nói hoài vậy nghe được sao đồng chí? Vác bá đỏ ra mà khen nó chớ !

Tôi cười:

– Mình vừa đánh nó phải để cho nó trả lại, nếu không nó chẳng chịu êm đâu. Chị bắn có một phát là Đồng Dù trả quả một trăm trái pháo chạy không kịp.

Mụ đành im.

Sau này tôi tìm hiểu thì mới biết rằng lúc đó anh Tám bầy trẻ dẫn đơn vị xuống đường, đi tới Rạch Tra thì quèo một cô y tá tên Thu Hà rồi trịt ngang vì thấy đơn vị quá chệch choạc, lính gồm trẻ con miền Bắc và du kích xã , còn cán bộ thì gồm Tư Nhựt, E trưởng, Hai Phán chính trị viên E, Năm Tân, Ba Đức, Sương và hắn. Những anh chàng dốt như vậy mà cầm sinh mạng lính thì hắn làm sao tin tưởng được. Chuồn là thượng sách. Quả thật, cả đám này chết rụi ở đợt một. Riêng Hai Phán thì dông trước ba, bốn tháng. Hắn cho vợ ra Sài Gòn móc trước, nên trực thăng đổ quân ngay miệng hầm xớt hắn đi, khỏi mang tiếng chiêu hồi.

Hai Phán dứt lời “chào các bạn” thì tới Tám Bụng, hai ông cán bộ D thay nhau nhắn nhe “cán binh Việt Cộng” gần tới sáng mới thôi.

Để chấm dứt bản tình ca Củ Chi pháo Đòng Dù và Trung Hòa xướng sơ sơ vài chục quả gọi là lót lòng cho chúng tôi mạnh chân mạnh công chạy đua giựt cúp Mậu Thân anh hùng

Tôi nghĩ: Ta chưa ra quân mà địch đã biết trước. Đó là một trong những nguyên nhân thất bại của cuộc tổng tấn công tàn bạo.

Chương 86

Lệnh hỏa tốc đưa thịt vào lò BBQ Sài Gòn

Một buổi sáng tôi chưa thức dậy thì đã có tiếng đập cửa. Tôi biết ngay giọng của con bé Thanh, vừa là cháu kêu bằng bác, vừa là “chị nuôi” của Năm Tiều. Con bé mới 15 tuổi nhưng đã trổ mã và lâu nay cũng háy nguýt tôi bàng cặp mắt ướt ướt. Năm Tiều cũng biết điều đó, nên đã chận trước theo kiểu bỏ hàng rào thưa:

– Mày kêu tao bằng bác có hơi khó coi, nhưng đời mà, biết đâu may… rủi! Vậy chớ thằng Bảy Nô D trưởng lấy con Lan, còn thằng Tám Thiệt chính trị viên D quơ bà má con Lan thì sao?

Tôi chỉ cười. Những lần tôi tới làm việc với ông Năm đốc chiến thì nàng Thanh sốt sắng pha cà phê sữa, còn tôi cũng không bỏ cơ hội để đánh du kích, tấn gọn rút nhanh.

Năm Tiều cũng biết nhưng nghi binh làm như không thấy gì. Kỳ này quả là cơ hội ngàn năm có một cho anh Hai.

Cô bé vào nhà, đám nhỏ đi công tác hết ráo chưa có đứa nào về.

– Có thư hỏa tốc nề anh Hai. -Tiếng cô bé ở miệng hầm vọng xuống.

– “Tóc” của ai?

– Của bác Năm.

– Đem xuống đây coi -Tôi nói giọng lè nhè- Đêm qua anh thức khuya họp ở ngoài đồng cảm lạnh dậy không nổi.

Tôi có sáng kiến diễn lại cái vai trò của bà ngoại cô bé một cách bất ngờ trong truyện cổ tích “Cô gái khăn quàng đỏ” của Perrault.

Tôi kéo tấm vải dù phủ mặt và rên khe khẽ.

Cô bé xuống hầm và giở tấm vải:

– Anh đau làm sao đi công tác nổi. Để em bắt gió cho.

– Ừ lấy dầu cù là trong sắc cốt treo ở đầu võng kia.

Thế là cô bé vạch lưng anh Hai cạo gió. Cạo lưng xong đến cạo ngực.

Gió hỡi gió reo lên đi
Ta vui ca mài thanh gươm chánh khí!!
Con sói già ló đâu ra hỏi cô bé. Chợt thấy cái đầu sói, cô bé giật mình lùi lại hỏi:
– Sao mặt ngoại ốm vậy ngoại?
– Ờ tại ngoại bệnh.
– Sao răng ngoại dài vậy ngoại?
– Để ăn thịt con! -Và bà ngoại tốc mền ngồi dậy vồ con bé xé xác nhai ngon lành.

Đó là chuyện cổ tích, còn ở đây bé Thanh biết “con sói” đang nằm đây mà vẫn cạo gió cho nó, không biết sợ là gì.

Cạo gió, cạo mưa xong, cố nhiên phải tới cạo mây, cạo mưa. Nàng đưa cho tôi bức thư hỏa tốc của ông tư lệnh Ba Xu

“Đi lãnh gấp hai trăm tân binh ở làng 13. Xong chân chỉnh D7 đánh Trung Hòa và Thái Mỹ. Ba Xu”.

Tôi bàng hoàng hết cả người. Tôoi bật đèn pin viết thư cho Ba Xuyên bảo con Ua vẽ sơ đồ đồn Trung Hòa và đồn Thái Mỹ, rồi hộc tốc kêu Hai Khởi đi với tôi qua sông. Hắn sẽ đi lãnh tân binh vì làng 13 là quê hắn. Vợ hắn là thợ may ở hậu cần đang ở nhà bà già ruột chờ sản xuất nhi đồng, cho hắn đi công tác này công tư lưỡng lợi, còn tôi sẽ đến yết kiến ông Ba Xu để hỏi xem hà cớ mà ông ra một lệnh ác ôn như vậy. Nếu ông không cho một cái “phản lệnh” (tức là thôi không đánh đồn nữa) thì tôi sẽ xin thêm súng đạn, chớ hiện số súng đạn tôi đang chôn cất để dành tổng tấn công, không có lệnh trên không được xài.

Hai Khởi và tôi, hai đứa nuốt cơm nguội rồi cuốc thẳng xuống bến sông bất chấp giang thuyền, đứng chờ để lính Bảy Hốt đem ghe máy đuôi tôm tới đưa qua sông. Trời chiều bảng lảng, tâm sự đầy ứ, lo âu rối ren tràn ngập trong lòng. Tôi dựa gốc cây bần nhìn mé sông rậm rạp thân cây đầy vết đạn.

Không trái bần khô khỉ bạc đầu

Câu thơ của ai chợt dội lên trong lòng càng não nùng. Tết con khỉ Mậu Thân này cán bộ chúng tôi bạc đầu trăm tuổi hoặc xuống mồ. Tư Nhựt lẫn Năm Truyện đều trăn trối mà không dám nói ra.

Bỗng chiếc đuôi tôm đâm mũi vào bờ. Khách nhanh nhẹn vọt lên đất ruộng như thoát chết. Năm Nấp, người lái đuôi tôm, la lên:

– Anh Hai qua sông hả, xuống mau!

Nhưng tôi không màng sự giục giã đó. Tôi đang bận nhìn anh thương binh cụt giò đang đeo trên lưng một người. Tôi kêu lên:

– Đỏ ! Mày hả Đỏ? Ủa, Lạn nữa.

Đúng là một thảm kịch đang diễn ra trước mặt tôi. Thằng Lan đang cõng thằng Đỏ. Bạn đọc hẳn còn nhớ thằng bé liên lạc H6 của tôi? Nó bị trái pháo mồ côi cụt hai chân, còn vợ chồng cậu quản lý (cô Thu đã cứu tôi dưới địa đạo năm nao) thì chết hết trong lúc cô Thu đang có bầu.

– Mày đi an dưỡng về đó hả Đỏ?

Đỏ cũng nhận ra tôi không khó khăn gì, hắn kêu lên:

– Anh Hai! Em đi an dưỡng ở R về.

– Mày chở nó từ đâu vậy Lạn?

– Từ mé bên này sông Bà Hảo.

– Trời đất, chân cẳng mày như vậy làm sao mày đi hả Đỏ?

– Dạ một bên cụt, một bên còn nửa cái bàn chân, em rán chõi nạng cà nhắc, liên lạc họ cũng chiếu cố.

– Bây giờ mày định đi đâu?

– Dạ về nhà ông ngoại em ở Phú Hòa Đông. Em về chăn trâu cho ông kiếm cơm cũng được.

– Cụt giò mà chăn trâu cái gì? -Tôi quay sang Lạn- Lâu nay mày đi đâu tao không gặp, hả Lạn?

– Dạ, em đi học Liên Xô mới về đây, anh Hai.

Cái điệp khúc mỉa mai chua chát nó cứ nhắc đi nhắc lại mỗi lần nó chở tôi đi, nay vẫn lập lại “em đi Liên Xô !”

Tôi móc sắc cốt cho mỗi đứa một ngàn rồi xuống ghe. Không nói gì thêm. Ghe quay mũi ra sông, tôi ngó ngoái lại Thằng Đỏ đang vịn gốc cây, còn thằng Lạn vác chiếc xe đạp lên bờ đắp rồi trở lại cõng thằng Đỏ. Nó sẽ đèo thằng bé đi về Bến Mương.

Ghe rẽ nước ào ào. Lòng tôi ngổn ngang trăm mối. Bảy Nô, Sáu Phấn, Sáu Uya, Ba Tố, Tư Nhựt… bao nhiêu bạn bè đã nằm xuống và sẽ nằm xuống. Và bao giờ sẽ tới phiên tôi?

Tôi đến gặp Năm Lê trước nhất. Anh giống như con vượn già ở trong hang núi, mặt cóp lại, răng lồi ra, hai tay dài ngoằng. Anh ở trong cái hầm đào dưới đất vuông dài như cái hòm mà nắp hòm dày chừng một thước. Đường xuống hầm tối om, phả i qua cái bếp. Bên cạnh bếp là buồng tắm và cầu tiêu, và ống hơi thông lên mặt đất. Đại khái là một hệ thống ăn ở phục vụ cho anh mà muốn hoàn thành phải tốn 200 ngày công hoặc hơn.

Về tới đây mà không gặp các em Thảo và Tám Nghi lòng tôi bùi ngùi. Hai người đã bị xe tăng moi hầm bắt hồi năm ngoái ở xóm Bà Huệ. Nếu chúng moi tiếp sẽ bắt được ông tham mưu trưởng quân khu Năm Lê.

Năm Lê khai thông mặt trận sắp mở cho tôi nghe:

– Đây là cơ hội ngàn năm có một.

– Nghĩa là sao anh Năm? -Tôi bị kẹt với những cái lệnh khó xơi, nên túng quá phải hỏi.

Anh cau mặt:

– Thì ở trên bảo vậy, mình phải nghe vậy, không nên hỏi.

– Nhưng anh còn không hiểu, bọn tôi hiểu làm sao?

– Tao cũng như mày.

Tôi bèn hỏi sang DKB:

– Loại vũ khí mới này có chắc ăn không anh Năm?

– Cái thằng, mày là thầy pháo mà sao lại hỏi tao?

– Anh là trung đoàn trưởng pháo binh mà anh Năm. Anh phải khai thông cho em út chớ.

– Trung đoàn trưởng là khi trong tay có đủ phương tiện thì mới chỉ huy được, chớ mày nghĩ đạn pháo mà chôn trong đất như vậy, thuốc phóng bị ẩm ướt, rồi đế pháo đặt không thăng bằng, bố tao cũng không dám bắn.

– Tôi đã thấy mặt nó rồi anh à.

– Ra sao tao đâu có biết.

– Đạn thì như đạn moọc chê, còn súng thì như máng heo và nạng tre chống.

– Rồi bắn cách nào?

– Đuôi đạn có hai dây điện. Muốn bắn câu nó vào bình điện và kéo công tắc…

Tôi nói tỉ mỉ cho ông tham mưu khu nghe. Nghe xong anh lắc đầu và hỏi:

– Mày định sử dụng làm sao?

– Dạ, đem bắn thử vô Trung Hòa hai quả.

– Tốt không?

Tôi lặng thinh không nói gì hết. Nhưng anh thừa biết kết quả nên nói:

– Thứ giết người mà làm đơn sơ như vậy thì sẽ giết đồng bào chớ không giết được địch.

– Dạ, anh Ba bảo miễn có tiếng nổ trong lòng địch là tốt rồi.

– Mà nó có nổ không chớ?

Tôi đành phải bẩm sự thực để sau này nếu có gì không như ý mấy ổng sẽ không khiển trách mình được.

Bữa hôm đó tôi cho hai trung đội đem hai trái ra gần Trung Hòa để thằng Lũng và thằng Lanh, chuyên viên DKB, bắn thử. Một trái xòe lửa xanh lè. Lính sợ bỏ chạy tứ tán, khè đã đời rồi nằm im, không nhúc nhích. Đó là trái tịt ngòi.

Trái thứ hai, vừa châm lửa thì điện phừng lên, trái đạn vọt đi khỏi lòng máng, cái đuôi khói đen xoay tít. Đám lính bị lửa phọt vô mặt nhào lăn, hai đứa bị cháy nám nhưng không lột da.

Anh lính quan trắc (ở phía trước đầu súng) chạy dội lại, la hớt hãi:

– Lại lép!

– Ở đâu? Tôi quát.

– Chắc nó lọt vô vòng rào bót.

– Rút nhanh? -Tôi quơ tay lia lịa- Rú… út.

Chưa bao giờ trong đời sử dụng pháo của tôi thấy mình phiêu lưu một cách nguy hiểm như vầy. Hồi ở trường pháo binh Cục R, tôi đã từng mạo hiểm lấy kính ngắm sơn pháo 75 ly của Pháp gắn qua súng DKZ 75 là loại súng bắn trực xạ để bắn gián xạ, tức là bắn vào các mục tiêu che khuất, ở trận địa không thấy mục tiêu. Như vậy là đã mạo hiểm tối đa rồi, nhưng lần đó chỉ là bắn thử ở giữa rừng, trúng trật cũng không ai chết.

Còn ở đất Củ Chi này, hiện giờ không còn một mảnh đất xéo để lính tập bắn AK, hễ nổ một phát bất cứ ở hóc hẻm nào là Đồng Dù hoặc Trung Hòa đều hay và đáp lời sông núi ngay. Cho nên cách thử DKB tốt nhất là bắn vào đồn. Cứ bắn. Trúng chợ búa, nhà dân hay trường học cũng chẳng có làm sao. Vì dân miền Nam đang ở trong tim bác Hồ chớ đâu có ở ngoài mà sợ !

Mọi người ngơ ngác không hiểu tại sao tôi ra lệnh như vậy, nhưng họ cũng cứ cắm đầu chạy, còn hai ông chuyên gia Lũng và Lanh thì tiếc rẻ cái máng heo ăn. Hai đứa nhìn tôi tỏ vẻ không hài lòng. Tôi biết, nên vừa chạy vừa nói:

– Các cậu giỏi thì ở lại mà tháo đạn lấy súng về.

Chúng nó không rõ cái tật bắn pháo của Đồng Dù và Trung Hòa. Sau này cả hai đều chết vì pháo… Một đứa vì DKB, một đứa vì pháo Đồng Dù.

Còn tôi choảng với Mỹ nhiều trận quá rồi, nên rành sáu câu. Chúng nó nghe lụp cụp ngoài này thì sẽ phản pháo tức thì. Quả thật, cả đơn vị tôi vừa vô tới Gót Chàng thì u u u vút vút vút đạn pháo của Đồng Dù lẫn Trung Hòa hợp tấu cả tiếng đồng hồ. May mà không chết đứa nào, nếu có thì thật là lãng toành!

Hai cậu chuyên “da” bây giờ mới nổi da gà. Nhớ hai trái “đạn khoan bê tông” DKB tôi cũng hơi tiếc tiếc cái thuốc nổ TNT bên trong. Phí quá , nhưng ai dám đụng tới nó nữa. Thứ đạn câm này hay gầm thình lình. Chỉ có Năm Cội mới dám đi đào móc bom lép đem về cưa ra nấu như kho cá để lấy thuốc nổ làm đạp lôi, nay cậu ấy chết cũng vì đạp lôi, quá là sanh nghề tử nghiệp, bây giờ đâu có ai dám nối nghiệp. Hú hồn hú vía DKB !

Hôm sau, hai cậu chuyên gia đang ngồi bàn tán với tôi về “tính năng tác dụng” của DKB (tính tác con khỉ), thì một người đàn ông đội nón mây to vành chạy đến, hớt hãi hỏi đây có phải là văn phòng ông Lôi không. Tôi nhận ra là ông Chệt, tía của cô Mầu ngoài Ràng, quán mà tôi đã từng đến uống bia và nhờ cô ta mua đèn pin cùng các thứ “quốc cấm” khác.

Nhìn thấy tôi, ông Chệt lột nón xá lia:

– Chào ông quận! Chào ông quận!

– Có chuyện gì vậy ông chủ?

Ông Chệt đứng dậy ngoẹo đầu qua vai, nói một hơi không kịp thở:

– Không biết có chuyện gì mà ở trong đồn lính chạy tán loạn rần rần. Bây giờ ở trong đồn chỉ có lính chứ không còn đàn bà con nít nữa.

– Họ chạy đi đâu?

– Chạy đi đâu không biết. Có người tới quán tôi nói là ông bắn hỏa tiễn vô trong đồn nhưng không trúng đồn mà trúng ngay nhà vợ lính. Một trái đen thùi lùi nằm ở trỏng nên họ sợ nổ, bỏ chạy hết.

– Còn đồng bào ở Ràng có sao không?

– Nhiều người bị thương, nhà cửa nát hết.

– Đạn lép mà bị thương cái gì?

– Người ta bị thương là tại pháo Đồng Dù, chứ không phải hỏa tiễn của mấy ông.

…. Năm Lê ngồi nghe tôi kể chuyện cố làm nghiêm. Tôi dứt lời, đốt thuốc hút được vài hơi y mới nói:

– Tao không hiểu mấy chả muốn cái gì. Đạn dược như thế mà đem ra bắn có chết dân không. Lần này lên gặp ông Ba Xu mày phải báo cáo cho rõ để ông ấy định liệu. Nhớ nói là tao đã biết tình trạng DKB rồi nghe không.

– Dạ, ổng đã chỉ thị cho tôi, miễn có tiếng nổ trong lỏng địch là tốt rồi.

Năm Lê ngồi im, không nói gì hết.

Tôi nằm vất vưởng trong quán nàng Lụa chớ không xin vô gặp ông Tư Lệnh nữa, vì ổng không rành pháo bằng ông Năm Lê. Có điều tôi ân hận về sau là tôi đã không cương quyết đề đạt ý kiến là không nên dùng DKB cho trận tổng công kích vào Sài Gòn. Vì Sài Gòn đông dân và vì DKB giết quân ta trước nhất. Quả thật về sau DKB chỉ làm được hai nhiệm vụ giết dân và giết lính. Mười trái bắn nổ hai trái, thuốc phà đui mắt một pháo thủ, trật bốn trái, tịt bốn trái. Hỡi ông kỹ sư méo mồm, ông là ai không cần biết, cứ coi đó là tác phẩm của thằng Hồ. Đám dân đen, nhất là dân Nam Kỳ chết bao nhiêu thây kệ, miễn chiếm được Sài Gòn để “rước bác Hồ” thì thôi.

Tàn dân tàn quân anh dũng thừa thắng rởm bò lên đưa ngực đỡ đạn lót đường cho Bắc Kỳ vào làm cha!

Ba hôm sau Hai Khởi dắt hai trăm tân binh về tới. Ở nhà tôi đã cho đi lãnh súng AK của Bảy Sử, trưởng ban quân khí. Về tới là tôi cho ráp vô ngay. Hai trăm tay súng gà mờ. Tôi cho chia làm ba đại đội (không đủ quân số), cho tập ngắm, bắn sơ sịa, rồi coi cậu nào lanh lợi, khỏe mạnh phong chức B trưởng, B phó, A trưởng, A phó để đưa qua sông về nhập cục với D7 thành lập tiểu đoàn Quyết Thắng (lần thứ hai) của Củ Chi do tôi chỉ huy.

Tình hình nôn tới, không côn thì giờ để học tập, chỉnh đốn đội ngũ hoặc trau dồi kỹ thuật gì nữa. Lò đã mở nắp, củi gộc, củi bởi, củi khô, củi ướt bất kể, cứ đút vào. Con ai cháu ai chớ đâu có con cháu của Bộ Chính Trị mà Bộ Chính Trị thương xót. Nhìn những gương mặt bấm ra sữa ôm AK, nịt bao đạn, tôi biết mình sẽ đưa họ đi đâu nhưng lệnh vua nào ai dám cãi.

Tôi tập họp đơn vị đọc thư chúc Tết Hồ chủ tịt, đọc nhật lệnh Võ đại tướng, thư Quân Khu ủy, thư Bộ Chỉ Huy R… Ngoài ra còn cho chặt một cây tre làm cán cờ xỏ cờ Mặt Trận nửa xanh nửa đỏ vô, cho một tổ vác đi trước, oai phong lấm lét vô cùng. Dăm bảy chục đồng bào đứng bên lề đường vẫy tay, con nít bà già vỗ tay lẹt đẹt không ra cái lễ gì. Nhưng tôi cũng rán gân cổ bảo:

– Tết này ta đón Xuân ở Sài Gòn!

Tôi thách tướng Võ Nguyên Giáp đến Văn Tiến Dũng vô đây chơi với Mỹ Ngụy một vài ván cho biết mặt. Thách cả bọn Tàu Ô, thầy của chúng, những tên đã từng giúp cho Giáp bưng mâm Điện Biên Phủ nữa. Vác ba cái binh thư “Luận trì cửu chiến” của già Mao vô đây mà phá những chiến thuật trực thăng vận, Phượng hoàng vồ mồi, Bủa lưới phóng lao, Tìm và diệt của Mỹ. Vô đây ! Xin mời vô đất Củ Chi này chơi vài ngày.

Đụ mẹ các ngài chỉ là những thằng lạc hậu nhưng đầy cuồng vọng. Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, Chu Huy Mân, Trần Văn Trà, Trần Độ tiếng là Bộ Chỉ Huy R nhưng chỉ huy chỉ rùa trận nào thôi, tối ngày chỉ lo cạo râu để nhởn nhơ với các cháu gái và con nuôi chớ biết chiến tranh làm gì. Tên đại tướng bần cố nông Nguyễn Chí Thanh mới mon men xuống tới Long Nguyên cách Củ Chi 20km đã toi mạng ngay rồi kia.

Bay định xua lũ nông dân ngờ nghệch này vào miệng hùm hang rắn. Chúng bay định giết họ bằng tay Mỹ Ngụy để khỏi mang tiếng ác. Dã tâm của chúng mày nay đã bị lột trần.

Dắt đám trẻ con miền Bắc về Củ Chi, tôi chỉ mong có một điều là tìm được một nơi không có bom pháo trong vài ngày để ổn định tinh thần chúng kha khá và để luyện tập thêm một số động tác cơ bản sử dụng súng, lựu đạn và những động tác chiến đấu cần thiết ở chiến trường, chạy, lăn, bò, toài v.v…

Nhìn nét mặt non choẹt của chúng tôi thấy thương tâm. Rồi đây sẽ không còn được chục đứa trở về gia đình. Con cái của ai bị lùa vào đây vậy. Chắc chắn toàn là “cháu yêu” của bác Hồ, nhưng chắc chắn không có con cái của đám đầu nậu trong Bộ Chính Trị và chánh phủ. Bọn này “bận” đi giải phóng miền Nam ở bên Ba Lan, Tiệp Khắc, Trung Quốc, Đông Đức, Liên Xô để về nước tiếp tục vô Bộ Chính Trị, để bọn con cháu bần cố nông gánh vác nhiệm vụ vinh quang.

Tôi giao Hai Khởi huấn luyện đám tân binh này và đi lo chỗ cất giấu.DKB ở trên đưa xuống. Mặc dù tôi không tin tưởng nó sẽ “khoan bê tông” nhưng lệnh trên phải thi hành.

Một hôm về tới nhà thì thắng Tiền bảo có người muốn gặp tôi. Tôi đã chán những ông bà đòi gặp này lắm rồi. Họ từ Quân Khu hoặc R xuống để dự chiến dịch Mậu Thân, coi Củ Chi như trạm nghỉ chân, nhưng muốn cho cặp chân nghỉ được vài giờ thì không gì bảo đảm bằng hầm. Nhiều ông bà đòi địa đạo vì họ tưởng Củ Chi “thôn liền…” oai lắấm. Nhiều ông biết điều chỉ xin hầm cá trê trốn đỡ. Nhưng hầm đâu mà cung cấp cho đủ. Không thấy cả ban tham mưu quận đội chết cháy dưới hầm, mùi khét còn nồng nặc Củ Chi đó sao?

– Ông nào vậy, Tiền? -Tôi gạn hỏi thằng Tiền.

– Ông Tám Lệ.

– Sao mày biết?

– Ổng đòi vô. Em không cho. Ổng bảo “Nghe tên Tám Lệ là thủ trưởng mày rước tao liền”.

Quả thật Tám Lệ, anh chàng bảnh trai có bộ vó giống kép xi nê quê ở Bình Dương. Tám Lệ vào gặp tôi. Tôi cười:

– Coi cậu Tám Bình Dương mướt dữ he!

– Còn mày sao bèo nhèo vậy?

– Đang chạy vắt giò lên cổ đây mày ơi. Mày đi đâu qua đây?

Tám Lệ hỏi:

– Có gì nhâm nhi không, rồi tao kể chuyện cho nghe.

Tiệc nhậu chỉ có hai thằng. Lâu lắm tôi không có bạn nhậu. Nói đúng ra là uống rượu đã thành thói quen, uống trước khi ra trận để “dạn gà”, uống rượu sau trận để dập tắt nỗi buồn vì đồng đội rửa chân lên bàn thờ quá đông, uống rượu nửa đêm, uống rượu nắng chang chang, uống rượu trong bình toong, uống rượu trong chai lít, uống rượu với me, với chuối sống, không có lý do gì cũng uống. Rượu là bạn đường chống Mỹ, rượu mạnh hơn cả lập trường, cao hơn cả đảng tính. Bữa trước uống với Tư Nhựt là tri âm, mỗi ngụm là một trời tâm sự. Hôm nay với Tám Lệ mỗi chén là một nỗi niềm.

– Tao nghe mày thăng chức E phó hả?

– Ừ, phó cho Tư Nhựt. Y E phó làm nhiệm vụ E trưởng. Còn tao D trường làm nhiệm vụ E phó.

– Trung đoàn mũi nhọn?

– Ờ, trung đoàn mũi nhọn.

– Tao bị chê nên ở lại Củ Chi với các em gái hậu phương.

Tám Lệ cười nhếch mép:

– Tao mong bị chê mà không được! -Tám Lệ thở đài.

Tôi biết tâm sự của Lệ. Cũng như Tư Nhựt thôi, khác gì. Kinh Kha mà anh Tám Hà nhắc tới hôm nọ, ngày xưa chỉ là một, nay xã hội chủ nghĩa có cả trăm. Biết bao nhiêu thằng lạnh lùng vung gươm ra sa trường mà mang bầu tâm sự của Tư Nhựt và Tám Lệ.

Nhưng Tư Nhựt sắp có được một mụn con, còn Lệ mới cưới vợ chưa có con. Niềm đau khổ của Lệ là ở chỗ đó. Mà Lệ lo là phải.

– Tao đã bảo vợ tao ở lại đi lấy chồng.

– Cái thằng nói nhảm quá mậy.

– Tao nói thiệt mà. Vợ tao khóc quá tay.

– Ai lại nói với đàn bà một câu như vậy.

– Không nói vậy thì nói gì.

– Mày có biết bài thơ này của Simonov không?

Rồi tôi đọc một hơi bằng tiếng Pháp lẫn tiếng Việt.

Đợi anh về
Đợi anh về em nhé
Dù ngày có lê thê
Dù tuyết có rơi dầm dề
Em! Em ơi cứ đợi
Dù ai đến nói với em
Rằng anh chết thảm thê
Em cũng đừng tin lời họ
Hãy cứ đợi anh về. . .
Anh sẽ về

Nhờ bài thơ này mà Hồng Quân chiến thắng ở Stanlingrad. Anh Hồng Quân nào cũng chép bỏ trong ba lô Mày không muốn chiến thắng à?

Tám Lệ nốc cạn một chén và quẹt ngang môi:

– Đó là thi phú, còn đây là sắt máu.

– Nhưng mày phái tự tin chớ?

Tiệc xong, Tám Lệ bắt tay tôi, ôm tôi hôn thật lâu. Xong hắn rơm rớm nước mắt:

– Tao không còn gặp mày nữa đâu Lôi! Nè, hình vợ tao đây. Sau này nếu mày có gặp cô nàng mày bảo hãy nhớ và làm theo lời tao dặn.

Tôi biết còn một câu trọng đại trong ánh mắt của hắn mà hắn không thể nói ra nhưng tôi đọc được.

(Hắn chỉ huy trung đoàn mũi nhọn đánh vào Sài Gòn. Cả hai, Tư Nhựt và Tám Lệ đã không trở về cùng với cả đơn vị mũi nhọn. Sẽ kể tiếp).

Tám Lệ đi rồi Hai Tiến đến lôi lưng tôi:

– Tụi văn nghệ đòi xuống địa đạo nghỉ ngơi.

– Cái gì?

– Mày cứ cho tụi nó xuống dưới đó đi. Có một thằng nhà văn muốn mô tả địa đạo mà chưa có dịp xuống dưới đó còn thằng quay phim thì càng háo hức.

Tôi hỏi:

– Có thắng nào tên là Nguyễn Vũ không?

– Nó đi cánh khác.

– Nếu có nó đi ở đây, này đừng có giới thiệu tên nó ra với ai hết nghe !

– Sao vậy, bộ dưới này không ưa văn nghệ à?

– Ưa chớ sao không, nhưng ba cái kịch “Mượn Mỹ” của thằng chả làm mấy con lủng sĩ la oai oái.

– Bộ tụi nó khoái lắm hả?

– Khoái mẹ gì. Nghe radio phát thanh tụi nó đứa bụm mặt chạy, đứa tắt liền!

– ????

– Tại vì ổng phịa bỏ sách bỏ vở. Thực tế, có con nào bắn trầy da thằng Mỹ đâu. Chỉ có con Út Nhỡ là quào rách mặt được một thằng vì thằng này lủi xuống địa đuổi theo nó. Ấy vậy mà con Nhã Nam trương lên đài một cái tin là một nữ dũng sĩ hạ được bốn tên Mỹ, toàn đội hạ được hai mươi mốt tên trong trận càn Ma-hắt-tăng.

– Ủa, nói vậy không có vụ “Mượn Mỹ” à?

– Có đầu cặc. Mày ngây thơ bỏ mẹ đi, ông bí thư à !

– Vậy sao tụi kịch của bà Thanh Loan dám đem diễn ở đại hội mừng công cho ông Sáu Di coi. Ổng cười khoái chí quá trời !

– Ổng tưởng thật nên ông khoái chớ sao. Ổng hơi tao cả chục câu hỏi. Tao cũng đẩy cây thoa mỡ bò với ổng, ổng cũng khoái luôn. Mà thật, lúc đó chưa xuống Củ Chi tao cũng tưởng Củ Chi “thôn liền…” và chuyện “Mượn Mỹ” là có thật. Khi về đến nơi, tao mới vỡ lẽ “thôn” chẳng có cái nào “liền” cái nào, còn Mỹ thì tới mốt mới quờ được sợi lông chưn của nó ! -Tôi nói thầm- ổng đẻ ra cái chiến thuật “đội bạt bom Mỹ, nắm thắt lưng nó mà đánh”, ổng mới lọ mọ xuống tới Long Nguyên thì đã đội một trái rồi!

Tôi hỏi Hai Tiến:

– Sao bữa đó mày không đi với ổng?

– Người ta có cái số mày ạ ! -Tiến trầm ngâm- Bữa đó tao đang “ở cữ” (rét) không ăn cơm ăn cháo gì được hết. Tao kêu thằng y sĩ tới đo nhiệt độ đàng hoàng trình ổng, để ổng không nghi mình là dân sọc dưa. Trong đám tướng tá của mày ở Hà Nội cũng lắm thằng sọc dưa hà hà… Do đó mà ổng chọn người khác đi với ổng, tao mới được ở nhà. Nếu tao không sốt chắc cũng “đi theo” ổng rồi! -Hai Tiến tiếp- Tao tưởng ở trên R ăn B52 mệt quá, xuống Củ Chi mới thọ, nào ngờ xuống đây mới hay là chẳng có địa….

-…“Địa lu” thì có, chớ địa đạo thì không. -Tôi nháy Hai Tiến và tiếp- Để tao phân công tác các em hướng dẫn tụi văn nghệ xuống “địa…” nghe ! Một sức một. Nhưng tao cho mày biết gái Củ… Chi anh rũng tuyệt vời nghe. Mỹ tụi nó còn không ngán đó. Thiếu gì Mỹ đen con, Mỹ trắng con oe oe ở đây.

Rồi tôi họp các em đội nữ lại cáp chạng và.phân công cho mỗi cô một cán bộ văn nghệ. Để các em khỏi ngại ngùng, tôi đả thông:

– Đây là văn nghệ sĩ đi theo bộ đội lấy đề tài để quay phim, viết truyện, vẽ tranh và màn kịch. Vậy các em phải hết sức giúp đỡ các anh về mọi mục đích yêu cầu để phục vụ chiến dịch. Các anh ấy chưa quen đường đất ở đây, các em muốn các ảnh khỏi đi lạc thì phải níu thắt lưng các ảnh mà đá… ánh. Rõ chưa?

– Rõ… õ!

Phân công xong, tôi quay lại Hai Tiến:

– Rủi ổng nghi mày “liên việt” với cô bé thì sao?

– Ổng bị bà quấn rế làm một mẻ ê càng rồi nên không dám bỏ ngón “bác cháu” nữa.

– Theo mày thì hai bác cháu “bang giao” chưa?

– Lâu rồi. Nhưng sợ ông đại sứ của bác Sáu kém tinh thần diệt địch mà bác cố gắng xung phong nên sáng nào bác cũng ho hen, sổ mũi.

– Mày có xem xi nê ma được chầu nào không? Khai thiệt đi rồi tao cho mày xuống địa nghỉ mát. Có không?

– Lâm ly “gùng gợn”. -Hai Tiến tiếp- ống cũng ma mãnh lắm. Ổng sợ đi Củ Chi bỏ con bé ở nhà mấy chú Chín chú Ba đến giúp đỡ cháu, nên trước khi đi, bác đem cái cục cưng của bác gởi bên Phụ Nữ Giải Phóng. Ở bên đó yên ổn hơn.

Tôi hỏi nhỏ:

– Tao nghe nói con bé đó có đi quân y bí mật hết mấy ngày. Có không?

– Thôi mày ơi ! Kín miệng lả yêu nước, đừng có hỏi nữa. Tao ngứa ngáy tao nói tét bét ra rồi mất hết.

– Bí mật mẹ gì, ở dưới này hễ thấy có mòi tanh cơm tanh cá thì mấy chú mấy bác gởi cháu đi yết kiến thầy nạo Tư Chuyền hay Tám Lê là thắng lợi chăm phần chăm.

Hai Tiến hỏi:

– Mày từng thấy mấy bà quấn rế tả nị xẩy chưa? Tao mục kích bà Hoạn Thư này làm thịt bác trai rồi. Kể ra bác ta cũng biết điều. Tại bữa tiệc bà chị nói mát vài câu. Tướng tá lẳng lặng rút lui có trật tự. Đến khi về tới dinh ông Sáu, bà mới cà niềng cà lỗi. Bác trai sợ nhất cái gì mày biết không?

Tôi đáp:

– Sợ bả về méc bác Hồ!

– Ăn thua gì ông già đó. Méc ổng thì ổng xử chìm xuồng như các vụ anh Ba Lê Duẩn và anh Sáu Lê Đức Thọ thôi. Bác bảo: “Các chú ấy lấy vợ hai trước khi luật hôn nhân gia đình ra đời”. Mày coi bác có đanh đá, ủa đanh thép không? Phán một câu mà bao nhiêu đồng chí Trung ương có V2 đều vỗ bụng cười rần khỏe ru như cu bà bóng.

Tôi hỏi:

– Vậy bác Sáu sợ cái gì nhất ở bác gái?

– Mày là nhà văn hay mô tả tâm lý, đoán thử coi!

– Sợ bác gái nhào từ trực thăng, xuống đất thằng Thổ làm thằng vua nó “hốt hền”!

– Bác gái làm vậy, bác trai còn khoái nữa chớ sợ gì? ..

– Thôi, chịu thua! Nói nghe coi.

– Bác nói bác về ngoải đề nghị với Trung Ương đem con bé ra Hà Nội rồi cho đi Liên Xô.

– Đi Liên Xô thì học tập càng tiến bộ chớ sợ gì.

– Cái thằng, mày không hiểu tâm lý gì hết. Đi Liên Xô thì bác trai dứt đường tơ còn gì?

Hai Tiến cười khẹc khẹc:

– Đó là tao đoán vậy thôi, chớ bụng bác nào thì cũng cứt không thôi mày ơi. Ở gần mấy ông lớn rồi mày mới thấy chẳng có cái mẹ gì thiêng liêng hết cả.

Tôi cũng cười đáp lễ:

– Có một cái thiêng liêng nhất, mày muốn không, tao cho một cái. Loại USA bảo đảm chăm phần chăm.

– Thôi mầy ơi ! Mày chưa có vợ con mày tự do mần cách mạng trong bóng tối lẫn ngoài ánh sáng, còn tao có vợ con rồi. Tao không muốn noi gương anh Ba, anh Tư.

—>Chương 87-88-89-90-91

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: