2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QV (87-91)

2000ngaydem_bia5Chương 87

Bữa tiệc máu Mậu Thân

Tôi lại được lệnh hoả tốc viết trên mẩu giấy bằng hai ngón tay tréo. Đang úm em đã quá chời mà phải “biệt ly sầu”, để băng qua sông Sài Gòn nhận lệnh.

Khu vực Bến Chùa không hiểu vì sao lại phồn vinh trở lại với cán binh xa mã rập rình. Tôi lại vào nhà dì Ba (tổng hành dinh của ông Tư Lệnh ở trong Đường Long mới dời ra đây). Ba em Mai, Khánh, Ngọc mới hôm nào, nay vắng bóng Khánh. Cô nàng đi thoát ly theo cách mệnh.

Trong nhà đầy nghẹt những người là người. Toàn những ông mặt rằn râu quấn nha trảo của Ba Xu được lệnh về họp khu ủy. Còn tôi là báo cáo viên về chiến thắng cuộc đột kích Củ Chi vừa rồi vào đêm 30 Tết.

Dì Ba là người ra đón tôi trước nhất. Bà ôm tôi rên rỉ:

– Dì sợ quá con ơi! Hễ nghe nói đánh ở đâu là dì sợ cho con dì không ngủ được.

Tôi ló đầu xuống bếp thấy mấy em Mai và Ngọc nói chuyện gì lầm thầm, bèn bước xuống “hừ’ một tiếng. Hai em biết là anh Hai khuấy chơi chớ hổng ai dám vô trồng khoai đất này, nhưng các cô vẫn làm bộ hốt hoảng đập vai đấm ngực anh liên hồi. Anh Hai thừa cơ hội ngàn năm có một bỏ lẹ vài ba ngón “xàng xừ líu” , rồi hỏi:

– Dượng Ba đâu?

– Ổng ở dưới hầm.

– Sao tối om vậy?

– Có bình ắc cu dưới đó. -Mai đáp.

Nhưng Ngọc lại bảo:

– Ổng mới đi ra vườn với mấy ông đầu bạc.

Tôi vuốt má hai em rồi đi thẳng ra vườn. Lúc nào hễ các ông họp thì có tiệc lớn. Thiệt là một nơi lý tưởng để ăn nhậu. Vườn cây rậm rạp, trời chiều mát rượi, bàn ghế thênh thang, chén tách ngổn ngang.

Tôi liếc sơ thấy có mấy mặt quen, Bảy Tùng, Năm Đăng , Tám Lê Thanh, Tám Nghĩa, Ba Ân. Trong số này chỉ có Tám Lê Thanh là phó tư lệnh Quân Khu là lớn nhất nên tôi đến trước mặt y, dập chân chào theo điều lệnh nội vụ:

– Tôi, Dương Đình Lôi, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 7 xin trình diện.

Tám Lê Thanh, tức Tám Dọn, gốc là anh đánh xe ngựa ở Gò Vấp, không biết đi mần cách mạng vô sản hồi nào, được phong chức trung đoàn chịu trách nhiệm bảo vệ R, vừa bị Nguyễn Chí Thanh dẹp dọn cho lính ra đơn vị cầm súng, còn y thì xuống Quân Khu 4 lãnh chức phó cho Ba Xu . Tám Dọn bèn sửa đổi tên đánh xe ngựa ra “Lê Thanh” cho có văn hoa.

Biết tôi rành y sáu câu nên y cười xòa, tay gãi đầu tóc bờm xờm:

– Thôi mà cha! Trình diện con mẹ gì. Tôi biết cha lâu rồi ở đây có ai chánh quy chánh rùa gì mà làm cho ra vẻ !

Thấy tôi chưa chịu “tan hàng”, ông Bảy Tùng ốm yếu hom hem (khu ủy viên) khoát tay bảo:

– Thằng cha Tám nói vậy thì chú mày kiếm ghế ngồi cho khỏe cặp giò rồi nói chuyện oánh chác bên Củ Chi nghe chơi.

Ông Năm Đăng, mặt tua tủa râu chổi xể, gò má nhô cao, tức Lâm Quốc Đăng (không rõ tên thật là gì) là người mở đường Trường Sơn đầu tiên thấu tới Nam Bộ (từng làm tư lệnh vùng Mã Đà, Phước Long). Sau này vô Mậu Thân chết ở Gò Vấp, người ta tưởng lầm là Trần Văn Trà, nhưng mấy tên to đầu toàn ở sau đít dí điện cho đám em út thừa thắng xông lên chớ đâu có xung phong mà chết như vậy!

Năm Đăng kẻo ghế cho tôi ngồi và .ngó tôi:

– Kháng chiến hai mùa hả. Băm mấy đây?

– Dạ băm lăm.

– Ờ cũng cứng cạy rồi ! -ông rót trà mời- Thôi nói chuyện nghe. Đừng có xưng hô kiểu đó nữa. Lớn bé gì cũng một viên là xong. Thằng cha coi như gà chết đó là Bảy Tùng, phó chánh “quỷ”, thằng cha mặt khỉ đột là Tám Dọn, phó tư “lọt,, hồi trước đánh xe ngựa mướn… Hì hì… bị con ngựa cái đá văng nên đi theo cách mạng. Còn cha miệng móm xóm đó là Tám Nghĩa, dân ăn cướp Bình Xuyên vượt ngục Tây, bây giờ làm giao bưu, chuyên môn bắt nhân viên chạy bộ đua với trực thăng bù nốc… Có gì hay bên lề Củ Chi nói nghe chơi chớ chuyện báo cáo tôi biết rồi. Các cha đánh ít nhưng con đĩ lũng Nhã Nam đía thêm lên rồi đài Giải Phóng nhơn gấp ba, ra tới Hà Nội con số địch chết lên gấp mười.

Thằng Thành, cần vụ của tôi, nghe vậy bèn vô nhà lôi cả đống lục cục lòn hòn lớp vàng lớp xanh để một đống dưới đất. Tám Dọn nhăn mặt xua tay:

– Ê, ê! Coi chừng mày nhỏ. Làm nhẹ nhẹ tay để nổ chết bọn già này hết.

Tôi trấn tỉnh mấy ổng. Bảy Tùng nói:

– Súng gì kỳ cục vậy Lôi?

– Dạ, đây là M79 súng phóng lựu của Mỹ bắn từ 50 đến 200 thước. Cũng như trom lông của Pháp hồi trước.

Tám Dọn có biết vũ khí chút ít nên bảo:

– Lôi, mày nhắm bầy gà kia dộng một phát cho thằng chả coi.

– Gà của bà Tư Lọt, tôi không dám. Làm ẩu nghe cha.

– Bắn gà ăn thịt chớ bộ làm ẩu với bả sao mà sợ ổng la?

Tám Dọn khịt khịt mũi rồi vỗ vai tôi:

-Mày đánh thủng vô Củ Chi là giỏi lắm. Hồi trước tới giờ thằng cha Ba Châm không rờ được cái lông chân của nó.

Tám Nghĩa tiếp:

– Ê, vô trỏng có biết được phòng cố vấn Mỹ không?

– Dạ vô được, nhưng không phá được, tụi Mỹ bốn năm thằng bị thủ pháo ta chết sạch.

– Mày có gặp mấy con đầu quăn không? Gặp tao, tao bắt vài con về coi chơi.

Tôi chưa kịp đáp thì Bảy Tùng nói tướp:

– Hỏi gì cái chuyện đó cha. Mỗi thằng cố vấn ít nhứt có ba con đấm bóp. Tụi nó chuyên môn ngủ ở truồng. Chắc là các bốt nó ném tùm lum trong phòng hả mậy Lôi?

– Dạ, rưọu thì nhiều lắm, lấy không hết.

Tôi bảo thằng Thành vô nhà lấy mấy chai rượu còn nguyên, cái radio, ống nhòm, đồ hộp, xố-xích v.v.. ra để trên bàn. Mỗi ông cầm lấy săm soi trầm trồ.

Tám Dọn quơ cặp ống dòm đưa lên mắt rồi la lên:

– Ủa, sao tối thui, không thấy gì hết trọi vậy nè?

Tôi mở hai nắp da đậy mặt kính rồi vặn núm điều chỉnh, hỏi:

– Thấy chưa anh Tám?

– Ờ, ờ thấy rồi! – Tám Dọn đưa tay chụp chụp trước mặt.

Bảy Tùng hòi:

– Anh làm gì vậy anh Tám?

– Tôi bắt mấy con gà chớ làm gì!

– Gà đâu đây mà bắt?

– Trời. Gần xệu hà! Vói tay bắt được mà. Anh hổng tin thì coi nè – Tám Dọn đưa ống dòm qua Bảy Tùng. Đó thấy chưa? Ủa, gà đâu rồi… Sao bây giờ nó ở tuốt đằng kia?

Bảy Tùng nói:

– Tại anh coi ống dòm nên gần vậy chớ sao.

– À, vậy hả? Trời, có ống dòm, bữa nào tàu giang thuyền của nó chạy dưới sông, mình coi chắc đã lắm.

Thấy mấy khúc xố-xích đen đen đỏ đỏ, Tám Nghĩa hỏi:

– Ê, mấy cái gì giống như cặc bò vậy Lôi?

– Dạ, xố-xích Mỹ đó anh Tám.

– Chà, nốc rượu Tây với xố-xích rồi lật mấy con đầu quăn ra dượt. Ba thằng Mỹ này đánh giặc mà sướng như vua. Còn mình nứng cặc kiếm gò mối mà xeo chới biết làm gì. Mấy con mẹ sồn sồn thì kiếm mấy thằng trẻ như thằng Lôi nè, chứ mấy bả chê mình rậm rề. Phó tư lệnh, phó chánh uỷ nghe cho oai chớ xìu trân “oánh chác/ gì được!

Tôi mở xắc-cốt lấy hộp xì-gà mới nguyên khui ra mời, các cha thò tay rút lia lịa. Năm Đăng hỏi:

– Còn gì nữa không em Lôi?

Tám Nghĩa đốt thuốc rồi lắc đầu:

– Nhứt gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu.

– Ê, đừng nói bậy mất đạo đức nghe cha!

– Già chừng nào càng mất nết chừng nấy.

– Thuốc gì khét ngứ, còn thua thuốc Gò Vấp của tụi!

– Đem mà un muỗi quách!

Khói thuốc mù mịt, mỗi ông một câu tha hồ lếu láo.

– Thằng cha Ba Xu đâu không thấy ra họp bàn kế hoạch tấn công đợt hai?

– Ổng mắc tấn công bà Ba Trắng ở dưới hầm Đờ Cát.

– Nhảy mũi cái nào cái nấy muốn bể trời mà hễ thấy thì ham.

– Cái thứ đó trời gầm không bỏ mà. Thì cũng như ông Tám Xe Ngựa này thôi. Ở trên R, rờ bà em nuôi Út Tuất (chị nuôi của Lôi, bà khu ủy viên này đã từng rủ Lôi về nhà làm ăn) nên bị đá văng xuống đây làm “phó… lọt”.

– Ê đây không phái buổi kiểm thảo nghe cha!

– Tôi còn biết ông oánh xe ngựa tới nhà bà Út Siêng bên Đồng Lớn vào giác nửa đêm nghe cha! Ai dám kiểm thảo ông?

– Tụi lớn đầu mình nhảy dù công khai không ai dám kiểm thảo, còn lính lỡ mò đàn bà giá cũng đem ra chi bộ cảnh cáo khai trừ.

– Kỷ luật là để dành cho tụi nhỏ chớ phải cho bọn đầu vồ mình sao. Thằng cha Ba Xu đéo đàn bà giá ban ngày trong hầm kìa, thằng nào vô coi rồi kiểm… thảo!

– Các cha nói xấu gì tôi đó?

Có tiếng nhảy mũi to và tiếng hỏi ồm ồm tiếp theo.

Mọi người nhìn lại thì thấy ông Tư Lệnh kỳ này khác những kỳ tôi gặp trước. Ông coi có vẻ bảnh tẻng, râu cạo nhẵn nhụi, áo sơ mi lụa mỡ gà, quần tây đen ủi thẳng có “pli”.

Tôi đứng dậy, cung kính:

– Anh Ba khỏe?

– Ừ, Lôi hả? Mới khỏe sau khi nghe mày báo cáo đánh Củ Chi thôi. Có đem chiến lợi phẩm về không? À, kia rồi… lủ khủ có cả M79 nữa hả?

Tám Dọn vọt miệng nói ngay:

– Anh cho thằng Lôi thử M78, 79 gì đó coi! Có bầy gà đang ăn ở gốc đầu kìa. Cho nó làm một phát lượm mấy con gà làm cà ri nhậu.

Tôi bảo thằng Thành xách M79 rình pháo kích bầy gà. Đất tung tóe. Gà gãy giò, sứt cánh, văng đầu nằm lây lất bên gốc cây.

– Mấy ông làm gì ác vậy… Gà của người ta nuôi… -Có tiếng tru tréo đi tới gần.

Ông Tư Lệnh dỗ ngọt:

– Tôi bảo thằng rể quý của bà thử súng chút mà ! Chết mấy con tôi kêu thông Hai Nhơn hậu cần đền cho bà gấp ba !

– Xí, tôi không ham gấp mấy hết á ! Gà của tôi nuôi, tôi để dành.

– Để dành đám cưới mấy đứa con gái của bà chớ gì! Nhưng nếu không thử súng, ra trận thằng rể của bà sơ suất rồi nó chết, con bà cưới ai?

Tiếng tru tréo im bặt. Ông Tư Lệnh đã bấm trúng yếu huyệt của bà nên bà đổi giận làm vui, tới bên tôi, giọng thân mật chưa từng có từ trước tới giờ:

– Con ra trận rán kỹ lưỡng nghe con, má lo lắm. Lần nào con về gặp dượng Ba con rồi con đi, má cũng van vái và khóc hết nước mắt. Lỡ có bề gì…

Bà quẹt nước mắt đổ liên hồi. Bà khóc thật. Bà thương tôi thật chớ không phải màu mè. Lần này bà gọi tôi bằng “con” xưng “má ” trước mặt mấy ông lớn. Bà kéo tôi ra góc vườn bảo nhỏ:

– Lôi nè, con đánh Củ Chi như vậy là được rồi. Dượng Ba con có đưa con xuống Sài Gòn đừng có đi nghe không. Bộ ổng muốn con xuống tiếp với cánh thằng Tư Nhựt hả?

– Dạ con không biết dì à. Nhưng luật nhà binh, trên chỉ đâu phải đi đó, chớ đâu dám cãi.

– Ừ không dám cãi, nhưng đi nửa đường tắt ngang cho lính chém vè. Như vậy tụi lính còn mang ơn con nữa đó. Má nghe nói tụi Tư Nhựt gặp nguy hết rồi. Út Thời kéo xuống một trung đoàn tiếp cứu nhưng kéo tới Tân Thành Đông mắc lầy không đi được, phải trở lại, chắc còn dồn cục trên chợ Thanh An.

– Sao dì biết rõ vậy?

– Chời! Mấy bà giao liên hợp pháp nằm cả đống bên nhà con Sáu Bến Chùa kìa. Họ qua đây xin cơm, nói với má. Đâu có qua lọt Hóc Môn mà xuống Sài Gòn. Tụi Sáu Huỳnh cũng nằm ỳ kia. Tụi Sài Gòn nó bịt kín đường số 9, Thủy Quân Lục Chiến dầy đặc. Bom pháo nó phóng xuống các xã từ Quốc Xuân, Thanh Lộc tới An Phú Đông. Các nơi về báo cáo với dượng Ba con, má rình nghe hết ráo. Ổng đâu có ngồi yên, cơm nước không ăn được. Má chỉ nấu cháo cho ông húp thôi, nhưng chỉ vài muỗng là ông buông xụi không ăn nữa. Ổng nằm vật ra than: “Như vậy là đợi một rục tùng hết rồi”. Nhưng ổng kín miệng không than với ai. Bề ngoài ổng làm tỉnh vậy đó, chớ trong bụng ổng như lửa đốt!

Dì Ba ngưng một chút, quệt nước mắt rồi hỏi tôi:

– Con có biết thằng cha Bắc Kỳ lùn lùn mắt toét kêu là Ba Kiên, Ba Kiếc gì đó không?

– Có. Dạ thằng chả là trung đoàn Q16 ở ngoài Bắc vào ! Trung đoàn đó thắng ở Điện Biên nên được biệt danh là Hùm Xám Điện Biên, vô đây để tấn công Sài Gòn đó dì!

– Hùm xám hùm đen gì cũng sút móng hết rồi. Thằng chả về báo cáo với dượng Ba, đánh Tân Thông, Trảng Bàng không xong, chạy bỏ thây lềnh đường, không có dân công khiêng thương binh, thằng chả bảo khu làm sao thì làm. Thằng chả trọ trẹ om sòm: “Giặc như thế, ta như thế, đánh cái đéo gì được mà đánh! Trung ương có giỏi vô đây mà đánh!” Dượng Ba tánh nóng nhưng lúc đó lại im rơ trước sự lỗ mãng của cấp dưới. Dượng chỉ vuốt ve: “Đồng chí để tôi lo”., Dì thấy người Bắc cơm ghe bè bạn vô tới đây mà chết như vậy, thiệt tội nghiệp. Thấy thằng chả khóc mếu máo thảm thiết, dì bảo mấy đứa nhỏ khui xá xị mời thằng chả. Cũng là người mình không hè.

Tôi đứng lặng thinh, không còn biết chống đỡ ra sao. Dì Ba nghe chuyện tận gốc chớ dì đâu có đặt ra được. Dì Ba tiếp:

– Hồi sáng có một thằng cha khác cũng Bắc Kỳ, tới bàn với dượng Ba, bảo dượng Ba tính kế khác, chứ nếu nghe Trung Ương thì chết hết lính. Dì nghe nói tụi đặc công đặc kiếc gì đó đi vô Sài Gòn bốn chục năm chục trở về còn chục rưỡi thôi. Còn lính bộ binh thì từ bên Phú Hòa Đông lội sông qua đây như bão tố (dì chỉ Năm Đăng), thằng cha râu rìa như Trương Phi kia kìa thấy vậy bèn kêu thằng Chín Nữa (bảo vệ Bộ Tư Lệnh) bắt hết đem giam ở suối Gò Gấu (Suối Máu) không cho đi lang bang ngoài đường. Hồi nãy con có nghe đài không?

– Đài nào dì Ba?

– Đài Sài Gòn nói tình hình dưới đó bình thường. Còn đài Giải Phóng thì nói đài phát thanh Sài Gòn, Tòa Đại Sứ Mỹ, Bộ Tham Mưu Sài Gòn bị đánh tiêu hết. Trời đất ơi! Mấy tháng cha ngoài Bắc vô đây bày chiện hại người ta quá đi thôi. Tổng tấn công cái gì, có chục rưỡi lính mà tấn dzô Sài Gòn!… Dì nhớ lại hồi chín năm, mấy ông Tô Ký, Hoàng Thọ với dượng Ba con (Ba Xu) hì hục đánh có cái đồn Bến Súc mà không xong làm tiêu cả tiểu đoàn, anh con Là chết trong trận đó (thằng Điều) làm má Hai con cụt dòng. Bây giờ người chết như lá rụng đầy đường, lính cho xe tăng ủi qua hai bên lề rồi lấp đất lại. Chời ơi! Con cháu của ai vậy hổng biết

Dì Ba thút thít khóc. Tôi vỗ về :

– Dì đừng có lo. Con chịu trách nhiệm mặt trận Củ Chi chớ không có đi xuống Sài Gòn đâu!

Bỗng có tiếng nói ồn ồn:

– Hai má con nói gì mà lâu vậy?

Tôi bèn lôi tay dì Ba vào. Ông Tư Lệnh bảo:

– Bà vô coi trẻ nhỏ lo giùm các món. Bữa nay tôi đãi các cha dân chánh để mấy chả đãi mình hoài coi cũng kỳ.

Tôi nhìn thấy đã có thêm mấy bộ mặt mới. Toàn là thứ dữ đầu sỏ của Quân Khu. Chợt có một thằng cha già hom hem đeo mắt kiếng bước tới. Đám kia dớn dác nhìn quanh. Ba Xu đứng dậy nhường ghế:

– Mời anh Sáu ngồi.

Tôi không biết anh Sáu nào, nhưng chắc là ông kẹ lớn (sau này mới biết đó là Sáu Dân tức Võ Văn Kiệt).

Nhưng ông Tám Nghĩa Bình Xuyên đâm hơi làm không khí thân mật:

– Bữa nay có “điền chủ” Rạch Giá tới thâu lúa ruộng tụi mình.

– Phá tôi hoài cha! -Sáu Dân cười giơ bộ răng bàn nạo.

Kỳ này ông định bẻ cổ bao nhiêu đám vịt tàu của nông dân đây?

– Bậy hoài! Vụ đó do thằng Nhơn (chủ tịch Rạch Giá thời kháng chiến) chủ trương chớ phải tôi sao?

– Ông cũng trong tỉnh ủy thì cũng có trách nhiệm chớ.

– Chuyện xưa nhắc lại làm gì ông bạn ơi!

Ngoài Sáu Dân tôi còn thấy thêm một lão cái lưng dài xọc, mặt ngựa, một lão to con vai gấu ngồi bên một mụ đàn bà rất thân mật.

Đối diện với mụ ta là một mụ khác, gò má cao, môi thâm. Sau này tôi hỏi dì Ba mới biết lão lưng dài là Tư Trường, bí thư khu ủy, lão vai gấu là Nguyễn Hộ, còn mụ kia là Sáu Thiệt, vợ của Nguyễn Hộ. Riêng mụ môi thâm là Ba Tú, người Huế, không biết làm cái giống gì trong quốc hội Sài Gòn mà lại lọt ra được đây.

Hộ phụ trách công vận tức vận động công nhân. Sáu Thiệt phụ trách phụ vận tức vận động phụ nữ. Còn mụ Tú Bà thì phụ trách trí vận. Còn một tên mặt thỏ mỏ dơi là Sáu Vinh.

Sau này Vinh về R gặp Xuân Vũ cãi nhau kịch liệt. Trần Bạch Đằng phải cho người xuống dàn xếp, sau đó Xuân Vũ bỏ về Sài Gòn. Sáu Vinh phụ trách báo chí vận. Tên hắnn là Viễn Phương, cán bộ sở thông tin Nam Bộ thời Huỳnh Văn Tiếng làm giám đốc, sau lủi vào thành sửa lại là Phương Viễn, có vợ tên Lưu.

Sáu Vinh thấy tôi thì kêu to:

– Ê Lôi! Con Nhã Nam nhắc ông luôn. Nó có làm cái phóng sự ông cởi quần lấy dây lưng nữ du kích đánh đồn Thầy Mười trên đài Giải Phóng.

Ba Xu gạt ngang:

– Nói cho rõ là nó mượn dây lưng du kích để giật cò súng cối cha nội ơi ! Nói như cha người nghe tưởng nó cởi quần nữ du kích ở giữa trận hay sao?

Có mấy tên phụ trách Công Giáo vận, Hoa kiều vận nhưng dì Ba không biết tên gì.

Mặt trời vừa lặn thì thức ăn dọn ra tràn trề trên các bàn nối đuôi nhau như một cái đám cưới nho nhỏ, cà ri, gà chiên bơ, lòng gà xào củ hành… bánh mì, rượu Tây ê hề.

– Khui rượu đi Lôi! -Ba Xu bảo.

Nhưng Năm Tiều xung phong làm việc này.

Ba Xu còn dặn lại:

– Lôi bảo tụi nó canh gác mặt sông và hai đầu cho kỹ nghe.

Ba Xu ngồi gằm mặt ăn chớ không dám huênh hoang nói láo vì các nhân chứng ở ngoài thành đều có mặt ở đây. Lúc đó Tư Trường là bí thư khu ủy, còn Sáu Kiệt chỉ là thường vụ khu ủy nên mọi người đều chờ ý kiến Tư Trường.

Bỗng nhiên bà Sáu Thiệt bật lên tiếng khóc hu hu rồi nghẹn ngào:

– Tôi xin từ chức, hức hức…

Mọi người sửng sốt không biết chuyện gì cụ thể nhưng cũng đoán được sự thất bại trong Sài Gòn. Năm Hộ (không rõ Hộ thứ mấy, tôi chỉ biết anh ruột y là Nguyễn Văn Bảo tức Tư Bảo là chánh ủy sư đoàn 330 của Đồng Văn Cống, được đưa về làm chánh ủy Quân Khu IV, bị bom B52 trận đầu tiên chết ở Láng Cát, xã An Nhơn Tây. Trong trận đó, bộ phận cối 120 ly của Hai Giả cũng bị hủy diệt luôn) vuốt ve bà xã:

– Đừng bị xúc động mạnh, em! Cách mạng không phải lúc nào cũng thắng. Người cách mạng khác người thường ở chỗ là người cách mạng không thối chí, thua keo này bày keo khác.

Sáu Thiệt vẫn tức tưởi kể lể:

– Cơ sở của anh Chín Lộc là tiệm may của vợ Tư Mạnh (Bắc Kỳ di cư, Mạnh bị biệt kích thằng Lệnh bắn chết ở nhà ngoài của cô Chia và Ua) bị khui lấy hết súng, có cả DKZ nữa. Cả nhà bị bắt. Một dây chuyền bị phá vỡ khắp đô thành làm sao nối lại được!

Sáu Thiệt móc tờ báo trong giỏ xách ra trải trên bàn. Mấy cái đầu bạc dụm lại xem. Bà Thiệt vừa trỏ tấm hình vừa nói tiếp:

– Không có đơn vị nào hoàn thành được nhiệm vụ. Mấy anh thấy lính mình chết trước đài phát thanh và tòa đại sứ Mỹ không?

– Ối ba vụ đó nhàm gì. Giỏi lắm chừng vài chục mạng. Làm cách mạng là phải hy sinh. Sợ hy sinh làm sao cách mạng thành công? -Tư Trường mặt xám ngoẹt nhưng cố nói lướt- Đợt đầu mình mới thăm dò thôi. Đợt hai mình mới tấn công thực sự.

(Trung đoàn mũi nhọn của Tư Nhựt đã nát bét rồi, Tư Nhựt E trưởng, Hai Phái chính trị viên E, Tám Lệ E phó đều chết, lính chạy trồi về đây là thực tế hùng hồn chứng minh cho sự thật bại của đầu đợt một. Tôi nghe bà vợ Năm Hộ báo cáo mà nghĩ thương cho Tư Nhựt. Nhớ lúc y sắp đi Sài Gòn. y uống rượu và trối trăn lại với tôi. Bây giờ dự đoán của y trúng boong).

Tư Trường nói tiếp:

– Chúng ta dự định là khi nghe tiếng súng thì quần chúng cơ sở dưới sự hướng dẫn của cán bộ ta sẽ nổi dậy cướp chính quyền, nhưng sự thực đã không xảy ra như vậy, mà ngược lại. Tuy thế chúng ta không nên bi quan, chúng ta phải tin tưởng ở quần chúng. Các đồng chí phụ trách vận động các ngành cứ trở lại bám cơ sở tiếp tục vận động, chỉnh đốn hàng ngũ. Nên nhớ các phong trào Huỳnh Tấn Mẫm, Phật Giáo xuống đường, vụ đặt bom giết tên Mắc-ra-ma, đặt chất nổ ở kho bom Thủ Đức, vào Nha Cảnh Sát Quốc Gia, đều do chúng ta khởi động và lãnh đạo cả. Nói chung các tầng lớp nhân dân Sài Gòn đều chờ mong ta đến giải phóng họ. Đó là yếu tố quyết định thắng lợi của ta…

Tư Trường cứ nói, mụ Thiệt cứ khóc, Năm Hộ dỗ dành. Cả bữa tiệc gồm hơn năm mươi tên to đầu ngồi ngẩn ngơ không ai cầm đũa nổi. Thức ăn nguội dần. Mấy chiếc đèn măng sông tỏa ánh sáng vàng nhạt nhẽo xuống những tô cà ri và những ổ bánh mì làm cho các bộ mặt càng trơ trẽn.

May nhờ bà Tư Lệnh xuất hiện. Bà ta không có chân trong khu quỷ khu ma gì, cũng không có học công tác chính trị chính triếc gì, càng không được ông đại tướng Sáu Di “huấn luyện” như vợ “anh hùng Trỗi”, nhưng thấy buổi tiệc khựng lại lạnh tanh thì bước ra quơ tay:

– Mời các ông các bà xung phong đi chớ. Công tôi làm tôi nấu cả ngày nay, bây giờ các ông các bà ngồi ngơ ngáo không ai gắp miếng nào, rượu khui ra không ai chạm ly, vậy chẳng hóa ra uổng công tôi hay sao?

Ông Tư Lệnh như tỉnh giấc mơ hoa vẫy tay bà tới, ông vuốt lưng bà làm sợi dây quai tréo của xú chiêng càng cộm lên sau lớp áo lụa trắng, dịu ngọt bảo:

– Không phải chê tài nấu nướng của em đâu, mà chuyện quốc sự có phần gay cấn.

Bà Tư Lệnh xua tay:

– Chuyện gay cấn thì để đó lo sau. Nhưng ở đây tôi hỏi các ông các bà có con trai con gái rể dâu gì đi xuống đường dưới Sài Gòn không? Chắc là không có rồi . Vậy có gì làm buồn. Con ai chết chớ con các ông các bà còn nguyên.

– Chị nói vậy sao phải, chị Ba! -Tư Trường lắc lia cái đầu vuông như chiếc gối đệm- Chiến sĩ hy sinh, mình là chỉ huy mình đau xót lắm chớ.

– Đau xót thì thôi đừng đánh nữa. Đánh biết thua mà vẫn đánh là sao? Thua rồi đau xót là huề vốn sao?

Bà Ba quen lấn lướt ông Tư Lệnh nhà, nên coi các ông kẹ ở đây cũng là cá mè một lứa nên cứ nói xơi xơi chẳng ai bụm miệng được.

– Chời ơi chời ! Tôi mà có con trai là tôi muôn năm không cho nó đi giải phóng của mấy ông. Chị Hai tôi có thằng con trai cho đi Vệ Quân Đoàn hồi 45 chết cụt dòng rồi. Làm sao chỉ đẻ được nữa. Các ông…

– Thôi bà ! -ông Tư Lệnh nạt.

Bà Tư Lệnh cười trừ:

– Tôi có nói sai xin các ông thứ lỗi. Tôi ở nhà tối ngày ôm đít ông táo chớ có học hành gì mà hoạt bát như chị Sáu với chị Ba.

Tuy bà Tư Lệnh phạm thượng chút đó, nhưng lời nói của bà cũng phá tan được không khí bi thảm do tờ báothành và những giọt nước mất của mụ Sáu Thiệt gây nên.

Bà Tư Lệnh vui vẻ mời:

– Xin các ông các bà cầm đũa nâng ly. Cà ri bữa nay hơi ca… ay!

Mọi người như tỉnh hồn. Đúng như bà Tư Lệnh nói. Con ai chết thì dù có đau xót mình cũng chỉ sơ sơ thôi. Chỉ trong vài phút buổi tiệc lại rân ran tiếng nói cười, tiếng lè nhè nặc mùi rượu. Và tờ báo in hình chiến sĩ giải phóng hy sinh đã chất đầy xương gà cà ri lùi xùi vàng ngậy như núi.

Tư Trường vừa tiêu diệt xong miếng lườn béo thì ông Tư Lệnh kính cẩn gắp cái đùi gà chiên bơ bỏ vô chén Tư Trường:

– Anh Tư làm cái đùi gà tơ nốc một ngụm uých ky khô cho ngon đi anh Tư.

– Tôi mải tính phục thù vụ đánh Bộ Tổng Tham Mưu.

– Anh để đó tôi lo.

Phía bên kia bàn, Năm Hộ vẫn vuốt ve mụ vợ:

– Em đừng quá bi quan. Cách mạng còn dài…

Tám Nghĩa cười trêu ghẹo:

– Hai vợ chồng già mùi hả ? Tối nay pháo Đồng Dù giã sập nhà người ta đó.

Năm Đăng mới làm một ly mà râu đã xừng ra như chổi chà, giọng y khàn khàn như dĩa hát cũ chạy kim tà đầu:

– Đéo bà coi dễ ăn, ai dè khó nuốt.

Bỗng Tư Trường kêu “ơ” một tiếng kém lạc quan cách mạng.

– Gì vậy anh Từ -Sáu Dân ngơ ngác hỏi trong lúc Tư Trường tay cầm đùi gà, tay ôm cái cằm bạnh, mặt nhăn như khỉ ăn ớt.

– Gì vậy anh Tư -ông Tư Lệnh hỏi ông Chánh ủy với vẻ lo âu

– Không biết tôi đang nhai bỗng chạm miếng gì cứng như sắt, hình như mẻ răng!

Tám Nghĩa cười hô hố:

– Vậy chắc là miếng M79 rồi?

– Đừng nuốt! Đừng nuốt! Nhả ra anh Tư.

Tư Trường gục đầu xuống bàn phun đánh phèo một cái. Sáu Dân gật gù:

– Tại anh táp miếng to quá. Cạp nhỏ nhỏ vậy. Tuy đùi gà tơ vẫn có gân có miểng trong đó nữa.

Năm Đăng chen vào:

– Chẳng khác lúc Tào Thào sắp xuống Giang Nam cạp cái giò gà già !

– Bậy nào, nói vậy đồng chí ví Sài Gòn mình như Giang Nam khó nuốt sao?

– Tôi là thằng chăn trâu đâu dám nghĩ xa vậy anh Sáu.

Sáu Dân biết Năm Đăng học khá nên móc “thành phần lãnh đạo” của mình, bèn quay qua ông Tư Lệnh:

– Tại ông hết đó. Ai đời lại cho M79 bắn gà! Rồi không bảo trẻ con nó móc hết miểng đạn.

(Không phải là điềm xui xẻo mà Mậu Thân trở thành bại thân và chính Tư Trường cùng Ba Xu chết vô cớ sau Mậu Thân).

– Tại ông ham đùi gà tơ chớ tại ai? -Bà Tư Lệnh nói ngang chấm dứt mọi ý kiến.

Tôi ngồi gần mấy ông lớn không thoải mái nên tìm cách thối lui để nhậu “hậu thường” với đám bạn bè khoái hơn.

Tôi nhìn vào sau nhà thấy Năm Tiều đứng ở cửa sau vẫy vẫy. Đúng là có tiệc riêng trong nhà. Tôi đứng dậy nói với anh Ba:

– Để em chạy lo việc canh gác cho chu đáo rồi trở lại.

– Ừ mày đi đâu thì đi. Tao còn giao công tác mới cho mày.

Tôi vào nhà, thấy đầy nhà những ông kẹ con. Trời đất, lính ở đâu mà đặc nhà vậy? Ngọc cản tôi lại, bảo:

– Anh đừng vô, anh vô đó họ mần thịt anh à !

Rồi đưa cho tôi miếng giấy bìa vở học trò. Sẵn đèn măng sông chói vào, tôi nghiêng ra cố đọc:

“Chúng tôi lính trung đoàn mũi nhọn đánh Sài Gòn về có ghé quán này ăn bì bún, uống nước cam, trà, cà phê, tổng cộng bốn ngàn….

Đồng ký tên ngày mười hai Tết Mậu Thân con khỉ khô”.

dưới cùng mẩu giấy cả dọc chữ ký, nào C phó, B phó, A phó, A trưởng. Nhưng không thấy C trưởng và chính trị viên C. Những anh đại đội trưởng và chính trị viên đã bỏ xác ở mặt trận.

Tôi đứng chết điếng không biết làm gì. Bên trong nhà tiếng ồn ào bát nháo vọng ra cùng với những làn thuốc thơm nồng nặc.

– Anh đi ra ngoài đó đi! Để họ rút hết rồi anh hãy vô. Họ có súng ống đủ hết. Anh phải né đám người điên này!

– Họ là lính của Quân Khu, họ phải có kỷ luật chớ!

– Nhưng lúc này anh không nên gặp họ. Họ đang chửi bới cấp trên.

Năm Tiều mưu lược hơn tôi ở những khúc quanh ngoắt ngoéo này. Anh bảo:

– Mày không nên vô đó làm gì. Đó là đám chó điên. Gặp mày là nó ngoạp ngay.

Nhưng tôi không nghe ai hết. Tôi vẹt Ngọc lẫn ông Đốc Chiến và đi thẳng vào nhà. Thiệt là một cảnh tượng hết chê. Giò cẳng bùn đất quai dép đứt lòng thòng còn dính trong chân, gác lên những vỏ chai lăn lóc trên mặt bàn, một thân hình nằm vắt qua hai chiếc ghế đẩu giang tay giang chân, mồm há hốc trong khi một chai rượu trút vào:

– Nào thừa thắng xông lên!

– Ưc ực. Ngàn năm có một, hắc hắc…

Một bàn tay khác bốc một nấm bùn nhét vào mồm lẫn mũi anh chàng và bị phun ra tua tủa văng đầy đất. Trong lúc đó ngồi dựa vách nhà năm sáu trự, đứa ngủ đứa thức ca vọng cổ trêu chọc giọng Ngọc Hoa, Thanh Hùng phát ra từ đài Giải Phóng đang ca bài Cô Gái Nhị Bình.

– Mẹ kiếp, mùi riệu!

– Nghi… êm! -Tôi bất thần quát.

Cả bọn giật nẩy người, nhiều đứa đang ngủ gật bật choàng dậy thau láu mắt nhìn tôi.

– Gì thế nhỉ? ông thì lia cho bỏ mẹ.

– Tôi nhân danh Bộ Tư Lệnh cảnh cáo các anh. Tất cả nghe lệnh tôi. Đứng dậy ra sân tập họp thành trung đội ba hàng ngang. Cậu nào cao cấp nhất đến nhận lệnh của tôi ngay bây giờ.

Một cậu mang K54 từ góc tường đứng dậy lóp ngóp bước ra:

– Tôi trung đoàn phó trung đoàn tiếp trợ trung đoàn mũi nhọn, xin trình diện Bộ Tư Lệnh.

– Đồng chí là trung đoàn phó à?

– Vâng ạ ? Em là trung đoàn phó.

– Sao để lính tráng bừa bãi thế này? -Tôi vừa hỏi vừa nhìn dáng dấp và nét mặt anh cán bộ nói tiếng Bắc. Tôi mang máng nhớ đã gặp anh chàng này ở đâu.

Bỗng anh ta kêu lên:

– Anh Hai phải không, anh Hai ở Phú Mỹ Hưng, nhà cô xã đội Nà !

– Cậu là ai? -Đúng ra thì hắn trên tôi một bậc, nhưng vì tôi “đại diện Bộ Tư Lệnh” nên cứ vững bụng đối đáp. Hơn nữa, trông anh ta mới hơn hai mươi.

Anh chàng nhắc lia lịa vụ xin dừa “ủy lạo” nấu thịt chó năm trước.

Hồi đó cậu bé mới là A phó hay A trưởng gì đó, mà bây giờ là E phó. Chưa có quân đội nào thăng chức nhanh đến thế. Tám cấp trong hai năm!

Tôi vừa chợt nhớ ra thì Diệu ôm chằm lấy tôi khóc hu hu:

– Chúng em chết hết ráo… về được có bấy nhiêu đó anh Hai ơi! Hu hu…

Tôi cầm lòng không đậu, bệu bạo cũng muốn khóc theo, nhưng làm tướng đâu để rơi lệ trước ba quân. Tôi kéo ghế bảo:

– Cậu ngồi đó đi rồi tôi tính cho.

– Em là thằng Diệu nè. Anh cho tụi em cái đùi bò đấy, nhớ không?

– Quân số còn được bao nhiêu?

– Hơn hai mươi thắng.

– Có hoàn thành được công tác không?

Diệu gục đầu xuống bàn rú lên thảm thiết. Đôi vai gầy nhom run run hồi lâu, rồi cậu ngóc dậy:

– Ban chỉ huy trung đoàn chết hết anh ạ. Đơn vị còn sổng sót cử em thay thế chớ đâu phải cấp trên phong cho.

– Mục tiêu của trung đoàn cậu là gì?

– Em đâu có biết. Ban chỉ huy cũng đâu có .biết. Các ông ấy bảo cấp trên ban lệnh cho hành quân về phía Sài Gòn rồi sẽ cho quân báo dắt tới mục tiêu. Tụi em cứ đi, khi gần tới một nơi kêu là Quốc Xuân hay Thanh Xuân gì đó thì bị tụi Sài Gòn chận lại không đi được nữa, rồi kế bị pháo dập chạy tán loạn. Đường sá không biết, lại không có ai hướng đạo, chạy loanh quanh, ban chỉ huy hy sinh. Ban chỉ huy tiểu đoàn lên thay lại chết. Em mới là đại đội phó, nhưng là cao cấp nhất còn sống sót nên anh em đôn lên trung đoàn phó.

– Thôi được rồi, để tôi thay mặt Bộ Tư Lệnh giải quyết mọi khó khăn cho cậu. Bây giờ cậu ra hướng dẫn cho anh em tìm nhà trong xóm đóng quân tử tế, chỉnh đốn hàng ngũ, giữ lại quân phong quân kỷ . Cần gạo thóc thì cứ mua, bảo Hai Lôi sẽ thanh toán đầy đủ, chớ đừng vô quán ăn rồi viết giấy như thế này người ta chê lính cách mạng vô kỷ luật nghe không.?

– Vâng ạ! Nhưng chúng em là người Bắc, đồng bào ở đây không ưa nên gọi là lính “vịt xiêm” không có tiền, mua họ không bán.

Tôi lấy giấy bút ra viết mấy câu cho Diệu cầm làm tin mỗi khi mua hàng. Diệu mừng cám ơn rối rít:

– Anh cứu chúng em lần thứ hai ! -Rồi thất thểu bước ra.

Năm Tiều đến ngồi gần bên tôi thầm thì:

– Tao phục mày luôn. Vừa đánh vừa vuốt. Nếu mày làm hung tụi nó đám chơi mày lắm. Tao và thằng Thành cũng hờm sẵn đây, hễ có chuyện là xông ra.

– Tội nghiệp đám trẻ con này quá chú Năm. Chúng nó không biết Sài Gòn ở hướng nào, lại xông vào sình lầy sông rạch bơi lội sao nổi? Vậy là…

(Tôi muốn nói vậy là ba trung đoàn đi tuốt. E mũi nhọn của Tư Nhựt, E tiếp viện của Út Thời và E của Ba Kiên, một nửa đánh Tân Thông, một nửa đi Sài Gòn. Ba E rửa chân sạch sẽ “đi đái” xong, “leo lên bàn thờ” ngồi chong ngóc hết rồi, nhưng tôi không nói ra).

Năm Tiều nói:

– Như vậy cũng êm rồi. Dặn con Ngọc đừng có lộ ra cho ông Ba Xu biết.

Năm Tiều ở lại trong nhà và nhậu với đám cần vụ của ông. Chỉ mình tôi trở lại bàn tiệc. Tư Trường còn ê răng không gặm đùi non nữa mà ăn miếng lườn nạc trắng phau.

Năm Hộ vừa ăn vừa rù rì với bà vợ, thỉnh thoảng lấy tay chùi nước mắt cho mụ. Riêng mụ Tú Bà thì được Sáu Dân, Tám Nghĩa o bế coi bộ gần gũi trong tình đồng chí nước mặn đồng chua. Thịt cá ê hề, nhiều chai rượu khui ra nếm thử rồi bị chê hôi riềng hôi bù xít nên không ai uống.

Xì gà cháy khét ngứ, khói mù mịt. Rõ đám bần cố hỉ học làm sang, thấy món gì của Mỹ cũng đớp thử “xem nó ra sao”. Tám Nghĩa không ngại gì hết. Y mó món này sờ món khác. Nhờ Năm Tiều chỉ cách, y làm oai với Sáu Dân. Y lấy cây tăm xỉa răng xoi đít một điếu xì gà và bảo:

– Phải xoi vầy hút nó mới ra khói, anh Sáu. Anh nhớ xoi ngay đít, đừng xoi đàng đầu. Đít nó tròn um và láng lức thấy không?

Y đưa thuốc cho Sáu Dân rồi nói tiếp oang oang:

– Chà, cái hộp của nó đựng thuốc mà coi cũng khéo. Còn mình, cây viết Hồng Hà giắt túi mực chảy dính áo tùm lum!

– Đứa nào bơm đèn cho sáng lên coi bay, kẻo anh Tư mắc cổ miếng M79!

– Ảnh nhai rau muống già từ trẻ tới già, miểng B52 anh nhai cũng nát nữa là miểng M79! Ê, còn thằng cha Mười Thơ (Mai Chí Thọ) kia sao gắp hoài không nói gì hết vậy? Bộ có kế hoạch riêng phụ nhĩ với bà Tú hả?

– Đến đây để ăn chớ bộ để nói sao?

Cụp keng, cốc chát, hi hí, hục hục… khói tỏa mù trời. Rượu đổ ngập bàn. Thịt cứ rội thêm. Dưới sàn ba con chó giành xương.

Ba Xương cắt xố-xích Mỹ đưa cho Tư Trường:

– Làm khúc dồi đi anh Tư. Bảo đảm là không có miểng M79 trong đó.

Ba Xu ngoắc tôi lại, hỏi nhỏ:

– Mày vô trong đó có chuyện gì vậy Lôi? Canh gác có kỹ không? Nhớ coi chừng phía đường đất đỏ, giang thuyền nó hay đổ quân lên đó.

– Dạ không có chuyện đó đâu, anh Ba cứ yên chí.

– Thằng Chín Nữa nó vừa mê gái vừa ham nhậu, tao sợ nó quên nhiệm vụ canh gác. Mỹ nó hay nó hốt hết bữa tiệc này là Quân Khu kể như rắn mất đầu. Ăn xong còn phải họp bàn kế hoạch đợt hai.

Ông Tư Lệnh vừa nói dứt tiếng thì có tiếng chân người từ ngoài đường đâm ngang qua mấy liếp chuối xông vô điểm tiệc. Mọi người ngơ ngác nhìn ra. Bỗng trong bóng tối vọt ra một tốp người mà vừa nhìn thấy tôi thất sá hồn kinh.

Rồi một tiếng la khoái trá :

– Đám cưới tụi bay ơi! Đám cưới! Đám cưới tụi bay ơi!

Thế là ào ào một đám người xông vào như xung kích. Không nói không rằng họ ồ ạt chen vào bốc hốt quơ quào, gầm gừ la ó như một bầy thú đói không biết gì khác ngoài ăn. Cái “đám cưới” này dành cho họ! Còn những ông lớn bà lớn thì ngồi như đóng đinh xuống ghế, dớn dác nhìn nhau, không hiểu bọn hung thần này từ đâu tới.

Cũng may có tiếng Năm Tiều vang lên:

– Chủ nhà chúng tôi không biết các chiến sĩ chiến thắng ở Sài Gòn mới về nên không dọn sẵn tiệc để tiếp đón, vậy tạm đây xin mời các chiến sĩ dùng cùng chúng tôi ly rượu miếng thịt của đám cưới.

Các ông bà cũng khôn vong. Mấy hôm rày ông tư lệnh phó Lâm Quốc Đăng tức Năm Đăng đã truyền lệnh bắt cả chục tốp lính từ Sài Gòn trồi về cái kiểu này, nhưng đêm nay ông lại im lặng không dám thi hành chính sách bắt trói đem giam ở suối Gò Gấu nữa. Giữa lúc quá ư đói, họ hung hăng và bất mãn, họ có thể làm bất cứ việc gì. Câu nói bất ngờ của Năm Tiều đã nối được nhịp cầu tri âm giữa quan và lính!

Năm Đăng biết học tập Hồ chủ tiệm, lùi một bước để tiến hai bước.

Sáng hôm sau, ông kêu cả đại đội cảnh vệ của Chín Nữa đi lục hết các cơ quan đóng trong khu vực Bến Chùa gom lại và ra lệnh cho họ đi bắt các đám lính từ Sài Gòn trồi về, như để rửa cái hận đêm qua.

Tôi không dám can mà cũng không hướng ứng, lấy cớ rằng có lệnh về gấp Củ Chi để triển khai kế hoạch.

Tôi và Năm Tiều ngồi trong quán nàng Lụa uống la de, thằng Thành đứng ngoài đường cái dò xét tình hình.

Tôi nói với Năm Tiều:

– Tôi phục lăn “ông đốc chiến”. Nếu không có ba tấc lưỡi của anh chắc đêm qua xảy ra một cuộc đại chiến bất phân thắng bại.

– Ừ, nếu ông tư lệnh phó sửng cồ kêu bắt trói thì đám cọp đói dám làm loạn lắm đó. Tao thấy trong quán tao đã ớn rồi. Đụng tới nó, nó lảy cò. Bà thủy có khi nào bắt thường gà. Nó ra vành móng ngựa lãnh án thì mình cũng tiêu dên rồi.

– Hì hì, bỏ ba bà lại cho ai, phải không “chú Năm”? Tôi hỏi thiệt chú nghe.

– Mày lại định đổ mực Tàu lên lý lịch của tao đó hả?

– Kỳ này nghiên cứu chiến trường mình tạt qua An Phú chút nghe chú Năm.

– Bậy nào. Mày có đi thì đi một mình, còn tao xin kiếu cái đất đó.

– Sao vậy chú?

– Bả là vợ lính Hoàng Thọ cũ mày biết không? Tao thấy bả trống chưn nên mới nhảy vào. Bả cho tao nhảy nhưng hăm tao mẻ răng: “ông mà lẹo tẹo với ai thì tôi thiến!” Mà thiệt, bả đã từng lội qua Phước Hiệp hỏi tội bà Sáu Nguyện tại sao dám nẫng cục cưng của bả đó mày ơi!

– Còn bà lớn có huấn thị anh câu gì không?

– Mấy thằng ông nội về trước đồn tao có vợ ngoài Bắc nên bả trả thù tao, bả quơ thằng nào lọt ra đứa nhỏ.

– Còn thằng con trai?

– Thằng con trai lớn của tao với bả tên là thằng Tiên. Hồi đó tao cũng oai như mày bây giờ vậy. Tao chêm bả cựa đầu hồi bả mới mười sáu tuổi. Bả kêu như tiên nên đẻ ra bả đặt là thằng Tiên đó chớ.

– Rồi bây giờ đứt đường tơ?

– Đứt không đứt mà dính không dính lắm. Lâu lâu tao về thăm thằng nhỏ. Nó đã mười ba tuổi rồi, học ngoài Trảng Bàng. Con trai lớn xộn vậy mà tao không săn sóc nuôi nấng gì hết, bây giờ lại mắc coi chừng con Thanh.

Năm Tiều nốc ngụm bia rồi tiếp:

– Nè, sẵn đây tao nói luôn. Con Thanh nó thấy mày đá bóng với mấy con nhỏ kia tao biết nó cũng rạo rực lắm. Ở Củ Chi này nó cũng không thua đứa nào. Tao không nói gì hết. Hai đứa bây muốn làm gì thì làm, nhưng hễ nó sình ruột thì mày phải kêu tao băng chú chớ không có chạy chối được đâu !

– Hì hì… Nó mới mười sáu mà chú… ú!

– Mười thấy thì mười, ai mà ngăn cho được ? -Bỗng Năm Tiều vỗ đùi- Mày dại quá Lôi!

– Gì vậy chú Năm?

– Chiến lợi phẩm thì đem nạp cho mấy chả bấy nhiêu đủ rồi. Còn ba cái tiền Mỹ đưa cho mấy chả làm chi. Bỏ túi rồi nhờ Chệt Hứa đem đổi mình xài phải đỡ không? Trời! Gặp tao là tao ỉm.luôn đem về cho má sấp nhỏ.

Tôi sực nhớ bèn mở sắc cốt lấy ra một cọc đô la xanh, ngó quanh không thấy ai, bên để trên bàn:

– Anh tưởng tôi ngu lắm hả ? Tôi chỉ nạp một ít cho có vị .

– Còn đây bao nhiêu?

– Chừng một ngàn rưởi.

Năm Tiều nhảy cỡn lên:

– Thiệt hả mậy? Đổi ra mình sống cả đời. Đưa tao một ít tao cho mẹ đĩ làm vốn buôn bán và mua cho thằng cu một cái “xây cô” ba cửa sổ.

– Mẹ đĩ nào?

– Cả ba chia đều.

– Nói đều nhưng chắc thiên vị bà Nguyện hơn vì bả mới hai mươi ngoài, còn hai bà kia vô hội mẹ rồi.

– Cái thằng! Mày cũng vậy chớ phải riêng tao sao. Mà mấy lão già dềnh cũng khác gì. Mày thấy con mẹ bún bò Huế không? Mấy chả búng tay cái là được, nhưng có cha nào thèm. Quơ mấy em học sinh đã hơn.

Nhậu hết cả két bia, Năm Tiều ngồi sát bên tôi, lấy giọng quan trọng:

– Năm Lê đã phổ biến cho tao kế hoạch tác chiến của Quân Khu, vùng Củ Chi do mày phụ trách. Thằng chả là phó tư lệnh nhưng kiêm tham mưu trưởng. Mấy thằng cha Tám Xe Ngựa với Năm Bù Đốp (Năm Đăng) biết mẹ gì quân sự mà lãnh phó một, phó hai trên chả. Chả không thích nên trong buổi tiệc chả ngồi im rơ mày không thấy à ?

– Tại ông rơi hầm chông nên lãnh phó ba chớ so với Tám Xe Ngựa ông là sư mòng.

– Tao biết rồi! Ổng bỏ vợ lớn là tội lớn. Làm gì thì làm không được bỏ vợ tào khang mày biết chưa? Bây giờ tao vô đề nè. Thằng chả bảo tao nói lại với mày đừng buồn.

– Buồn gì mà buồn cha?

– Có chớ! Mày qua anh Năm mày sao được. Tụi thằng Tư Nhựt, Hai Phái đã lên E trưởng, E phó cả rồi mà mày còn D trưởng mà so khả năng chúng nó thua mày xa. Quận trưởng Củ Chi là đồ bỏ, chỉ huy mấy con lũng sĩ đối với mày như ăn cháo. Mấy phen về H6, ra D Quyết Thắng, ở trên đã rõ khả năng của mày, nhưng sở dĩ kỳ vô Sài Gòn mà mày không được đi là… là vì…

– Tôi biết! Tôi biết anh Năm ơi!

– Không phải vì lý do mày có thằng em đại úy Thủy Quân Lục Chiến đâu, mà là vì mấy chả muốn giữ mày lại “để nái”. Mày biết ông Ba Xu và ông Năm Lê cưng mày lắm. Cán bộ đánh đấm thì dễ tìm, nhưng cán bộ huấn luyện đào đâu ra .

– Vậy hả? -Tôi làm bộ thông suốt tư tưởng- Tôi không để ý gì hết anh Năm à. Mấy ổng kêu đâu mình làm đó. Thiên Lôi mà !

Thực ra tôi không có rạo rực đi Sài Gòn. Tư Nhựt được phong làm anh hùng đề bạt E phó quyền E trưởng nhưng hắn đâu có phấn khởi. Hai Phái lãnh chức chính trị viên E mà trối ,dài với tôi: “Mày ở lại lo giùm mấy đứa em nuôi của tao!”

Bây giờ đã rõ. Cả E một ra đi là không trở về.

Bỗng thằng Thành chạy vô thở hào hển:

– Anh Hai ơi anh Hai ! Chú Chín kêu anh ra phụ giúp.

– Giúp trói tụi lính đào ngũ hả?

– Dạ không phải.

– Gạt tao hoài. Tao là chỉ huy, tao nỡ nào trói tụi nó đem đi giam mậy! Tao không có nhẫn tâm làm như vậy được.

– Không phải đâu anh Hai à ! Chú Chín bảo tôi vô mời anh ra giùm. Có trường hợp đặc biệt.

Năm Tiều đốc chiến:

– Mày ra coi việc gì chút. Nó biết tao ở đây mà nó chỉ kêu mày, vậy là nó cần mày.

Tôi cực chẳng đã phái nịt súng quảy xắc-cốt đi theo thằng Thành.

– Gì vậy Thành?

– Anh Chín Tống…

– Tao biết, rồi sao? Kêu tao làm gì?

– Anh Chín Tống…

– Đại đội trưởng súng cối cũ của tao.

– Ảnh bị chú Chín Nữa bắt, hai người giằng co sắp bắn lộn nhau.

– Vậy à? Mày chạy dông ra trước bảo đừng làm vậy, có tao tới.

Thằng Thành chạy vút đi, tôi vừa đi vừa ngóng ra phía trước sợ nghe tiếng súng nổ. Chín Tống bây giờ chỉ là đại đội trưởng thật là tội nghiệp. Anh ta hiền và gan dạ, không khi nào kèo nèo cấp bậc. Đám cựu trào từ Bắc về đã chết hết, Tôn Sứt, Ba Tố… chỉ còn sót Chín Tống. Tại sao y trốn mặt trận về đây?

Tôi ra đến đường lớn thì thấy một đám lính áo cứt ngựa lẫn áo đen có cầu vai bị trói ngồi lóc nhóc bên lề đường, Chỉ có hai người đứng múa tay hất mặt với nhau. Tôi quát ngay:

– Hai Lôi đây Chín Tống! Đút súng vô bao!

Chín Tống quay lại. Chợt thấy tôi, quăng súng chạy tới ôm choàng.

– Hụ hụ… -Y khóc mùi mẫn như con nít bị đòn.

Tôi cũng đứng chết trân. Chín Nữa từ từ đút súng vô bao, nói nhỏ rí:

– Thằng Tống chớ phải thằng nào, tao bắn bể đầu.

– Thôi dượng Chín cho cháu xin!

– Ở chiến trường lệnh là lệnh. Ông Năm Đăng kêu tao bắt trói lính đào ngũ là tao bắt trói hết, bất kể lớn nhỏ… Tao bảo nó đưa tay cho tao trói, nó không đưa. Nó còn cự nự bảo không phải lính đào ngũ. Tao bảo đưa tay tao trói tượng trưng thôi, nó cũng không chịu. Nó bảo làm vậy nhục nó. Tao dọa bắn. Nó cũng rút súng: “Đụng tới tao, tao bắn nát óc”. Mày nghĩ coi, tao nhịn… tao nhịn…

Tôi biết hai ông trời con này dễ gì ai nhịn ai. Cả hai đều có thành tích cả. Quả thật một thằng đại đội trưởng bị bắt trói còn mặt mũi nào chỉ huy lính. Tôi đành hạ giọng năn nỉ dượng Chín của tôi:

– Dượng Chín à ! Tống đã từng là đại đội trưởng của tôi trong nhiều trận đánh bộ binh lẫn xe tăng Mỹ. Nó không hèn nhát đâu. (Chín Tông lớn hơn tôi nhưng tôi quen kêu như vậy vì Tống cũng gọi tôi bằng thầy như những người khác lớn hơn tôi về cấp chức lẫn tuổi tác) Thôi dượng cho tôi lãnh riêng nó về với tôi. Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn.

Có lẽ Chín Nữa cũng không ham bắt trói lính tráng và sĩ quan trước mặt dân chúng làm nhục họ, nhưng lệnh trên phải thi hành, nên nghe tôi nói thì gật:

– Trường hợp đặc biệt duy nhất đó . Tao không tha cho ai nữa, nhưng mày phải ký tên nhận lãnh, tao trình ông Năm Đăng,

Tôi đã ký giấy ăn chịu đêm qua, bây giờ… rột. Tôi đưa miếng giấy cho Chín Nữa. Đám lính áo đen giải phóng lẫn đám áo cứt ngựa nhao nhao lên đòi tôi lãnh. Tôi bảo:

– Các em chờ đó, chút anh trở lại giải quyết. Thôi đi, Chín Tống.

Tôi dắt chàng dũng sĩ Sài Gòn vô quán. Năm Tiều đang ngoẹo đầu trên lưng ghế ngáy như trời gầm.

– Anh Năm, dậy nhậu tiếp!

‘Tôi thuật lại mọi việc cho Năm Tiều nghe. Năm Tiều vốn tính bộc trực, nói ngay:

– Thằng cha Năm Đăng giải quyết vấn đề như vậy dở ẹc Tụi nó là gà rót rồi. Muốn cho nó đá lại, phải om, chớ bỏ cho đạp mái là bỏ luôn gà con. Tụi nó bỏ chiến trường là vì không thuộc địa hình, không nhận diện được đối phương, không cập nhật được đồn bót, điểm tấn công. Muốn tụi nó cầm súng quay lại mình phải giáo dục và hướng dẫn kỹ càng hơn chớ. Trói giam tù, làm nhục lính là biện pháp hạng bét. Tôi hổng phục ông phó tư lệnh đó chút nào.

– Anh đừng nói om, tai vách mạch rừng nghe anh Năm.

– Tôi nói thiệt chớ, tôi không ngán ai. Thằng này đánh giặc cũng vài trăm trận rồi. Đối xử với lính vậy coi sao được? Cần nghỉ tôi cũng về nhà cày ruộng chớ sợ gì mất chức tham mưu phó Quân Khu? (lúc đó anh đã được đề bạt tham mưu phó).

Chín Tống nghe nói bèn sụp quỳ xuống ôm chân Năm Tiều khóc tiếp. Tôi kéo y ngồi lên ghế, rót bia:

– Uống đi em, rồi mình tính tới.

– Tao sẽ bổ sung mày về đơn vị thằng Lôi.

Chín Tống vẫn còn ấm ức, kể lể:

– Em đánh giặc cũng đã mấy chục năm rồi anh Năm và thầy Hai! Nhưng chưa bao giờ em lại chỉ huy ở tình huống lạ lùng như vầy. Anh nghĩ coi, đơn vị xuống gần Quới Sơn thì không còn biết gì nữa. Em là đơn vị yểm trợ bộ binh nhung bộ binh đâu không thấy. Pháo kích đồn nào em cũng không biết. Liên lạc với ai để xin chỉ thị cũng không biết. Loay hoay rồi bị máy bay phát hiện. Em phải vứt súng xuống sông, không biết sông nào, lặn qua sông không còn một tên lính. Đúng là đem con bỏ chợ. Em không dám nhìn mặt mấy đứa lính sống sót của em. Vậy mà lội về tới đây lại bị bắt trói là sao? Em nói thiệt, lúc nãy thằng nào đụng tới em là bể đầu ngay. Chú Năm ơi! Thầy Hai ơi ! Lính của em chạy ra đồng bị cá rỉa chết sạch. Chính em trông thấy trước mắt em. Em ra lệnh, tụi bay cứ việc chạy. Đứa nào biết lội lặn xuống sông may còn sống sót. Tội nghiệp mấy cậu Bắc không biết lội cứ loanh quanh trong vườn rồi bị pháo ăn. Hu hu. Em nhục quá. Chỉ huy gì ra lệnh chạy và bỏ lính. Bây giờ em còn dám nói gì với tụi nó nữa.

Chín Tống vừa khóc vừa nói, hết khóc lại nói, hết nói lại khóc như một thằng điên.

Bỗng từ cửa buồng ló ra một bộ mặt: Lụa!

– Anh Chín đói bụng em làm cho tô bún thịt nướng.

Tôi bảo:

– Đem ra ngay.

Lại một bộ mặt khác ló thêm: con Sáu Bến Chùa. Nhà Sáu gói bánh dừa bán tiếp tế cho bộ đội đi tổng tấn công, có đến cả ngàn cái. Sáu nói giọng đầy nước mắt:

– Ông Xiềng, ông Điểm, ông Năm Thôi, cả văn phòng ông Tư Nhựt bị đầm già phát hiện kêu pháo Bình Dương, pháo Tân Sơn Nhứt dập chết hết. Tội nghiệp ông Hai quản lý cà thọt chân chạy không nổi, anh Hồng Văn Thư, anh Cảnh, anh Minh quân khí, ông Chín Phước đẹp trai cấp dưỡng, cả thằng Thắng em vợ chú Năm nữa cũng rụm luôn rồi chú Năm ơi, chú cho chị Sáu Nguyện biết đi! Hu hu…

Cô bé kể có dây có nhợ, đến chỗ thằng Thắng chết, Năm Tiều trợn trắng mắt ra, rồi quát:

– Con nhỏ nào đó, về đi! Kể lể khóc lóc cái gì!

– Chồng chưa cưới của nó là thằng Xỉềng ở K9.

– Chưa cưới chớ phải cưới rồi sao khóc. Chết thằng này lấy thằng khác, khóc lóc cái gì!

Năm Tiều đứng dậy lơn tơn đi tới cửa buồng. Tôi sợ ảnh đổ quạu dám bạt tai con nhỏ, nên bảo:

– Tao biết rồi bay ơi, đừng có nói nữa.

Lụa tiếp:

– Đêm qua lính về ghé quán em chật hết nên kéo qua quán con Ngọc. Họ ăn xong ghi giấy ký tên để lại đây, bảo đưa lên Quân Khu trả. Họ nói tung hê đủ thứ chuyện. Họ nói chú Hai Phái không phải bị tử thương mà do ai đó bắn ngang. Lúc chú kêu: “Đảng viên Cộng Sản tiên lên” thì viên đạn xuyên qua màng tang chớ không phải từ trước bắn lại phía mình.

Năm Tiều dằn mạnh ly bia và gầm lên:

– Mày cũng biết Hai Phái Hai Phiếc nữa!

– Dạ cháu biết chớ. Chú Hai về họp với dượng Ba ghé đây ăn bún hoài mà.

Tôi vẫy tay bảo Lụa:

– Thôi đi vô làm bún cho anh Chín đi em! Tin tức sơ khởi không chính xác đâu. Vài ngày tụi nó lục tục kéo về đủ mặt cho coi !

Nhìn gương mặt sa sầm của ông đốc chiến, tôi không còn biết nói gì. Trong buồng, tiếng khóc ri rỉ của cô Sáu Bến Chùa nghe nhức xương.

Năm Tiều đột nhiên nói bâng quơ:

– Kiểu này ông bà đâu có dám về mà Tết với nhứt.

Bỗng thấy dáng Chín Nữa ngoài đường, tôi ngoắc. Chín Nữa tạt vào.

Thấy Chín Tống đang lua bún, y nói giọng xìu trân:

– Đó là lệnh của mấy ổng, không phải lệnh của tao ra. Mày đừng giận tao tội nghiệp nghe Tống. Có giận cũng giận vài ngày thôi, đừng giận lâu.

Chín Tống cứ lua bún làm như không nghe. Chín Nữa thở dài:

– Ở trên bảo mỗi lính ta phải đeo sẵn hai mươi thước dây để trói lính Sài Gòn. Bây giờ.:. hết trơn dây rồi chú Năm!

Năm Tiều nạt:

– Thôi mày ơi, đến nước này còn cà rởn!

Tôi biết Năm Tiều sợ bà vợ bé thứ ba là Hai Nguyện nhất. Chính ông làm tài khôn dắt thắng em trai của bà ta vô bộ đội, rồi bây giờ cúng cơm không nhang đèn ở Sài Gòn nên ông ta hốt hoảng. Tôi nói ngay tim đen ông ta:

– Thì ông cứ nói dóc là xong chớ gì.

– Nói thể nào?

– Bảo là ông cho nó về R để sửa soạn đi Liên Xô, như thằng Lần đi ba năm nay vậy.

– Đi ba năm mà chưa tới Liên Xô! Nói láo vài lần thôi chớ nói hoài được sao? -Năm Tiều ngồi thở dốc- Tụi nó nói om lên mày không nghe sao? Đụ mẹ, ba cái tổng tấn công này tao coi bộ hố rồi đó nghe mày.

Bỗng ngoài đường có bóng hồng tươi tắn xuất hiện tiến về hướng quán. Năm Tiều trỏ ra:

– Kìa thần L… Tới kêu mày nữa đó.

– Ai?

– Ai thì mày biết chớ!

Cô bé xăm xăm vào quán. Tôi nhìn ra Ngọc.

– Chị Lụa, có ông Hai Lôi ở đây không?

– Không có Hai Lôi ba kéo gì hết á !

– Ơ kia kìa! Anh Hai, dượng Ba kêu anh trở lại dượng bảo.

– Bảo sao người ta ở đó không bảo, để người ta sắp qua sông lại kêu! -Tôi làm mặt giận với con bé nhưng cũng đứng dậy nịt súng và quơ xắc-cốt mang lên vai.

Ngọc quay lưng ra liền. Lụa ngó theo, làu bàu:

– Nó đặt chuyện chớ dượng Ba dượng Tư nào!

– Chuyện quân sự của người ta! -Năm Tiều gạt ngang.

– Quân sự sao không kêu trinh sát cảnh vệ đi, lại bảo con ranh đó.

Tôi vỗ vai Chín Nữa, bắt tay Chín Tống rồi nói với Năm Tiều:

– Chú Năm ngồi đợi chút. Làm vài chai nữa đi chú.

. Tôi chạy theo, con bé đã ngoe ngoảy đi ra tới đường. Tôi hỏi:

– Chuyện gì vậy Ngọc?

– Ai biết đâu nà !

Về tới nhà, thấy trong ngoài lặng trang, tôi hỏi:

– Má… á đâu?

– Bả đi Sài Gòn công tác cho ổng.

– Khánh không có về à?

– Đi vô địch vận của Tư Linh lâu rồi, không biết à ? Còn chị Mai đi nấu bánh tét cho bộ đội.

Tôi hơi nghi trong bụng. Như vậy là cô bé báo cáo “tình hình địch” quá rõ ràng. Thời cơ ngàn năm có một. Nhưng Ngọc mặt quạu đeo chớ không hồ hởi như những lần trước tôi về đây. Có điều là tôi thấy nàng lớn hơn trước nhiều. Ngọc dẫn tôi đi ra sau vườn. Qua bãi chiến trường đêm qua còn thấy chai cốc ngã lăn, bàn ghế xiên xẹo, xương xẩu đầy đất… mà ớn lòng. Ngọc dắt tôi ra luôn hậu bối tận mí vườn sát mé rừng.

– Dượng Ba chờ anh ở ngoải.

Ra đến cái chòi nhưng bên trong rất tươm tất. Giường ghế tủ kiếng… y như một ngôi nhà con. Đây là nơi nghỉ mát và ngoạn cảnh của ông bà tư lệnh đây !

– Dượng ở trỏng, vô đi.

Tôi bước vào, lạnh tanh không có bóng ai hết. Vừa quay cổ lại thì đụng nhằm gương mặt Ngọc đưa tới. Tôi chưa kịp phản ứng thì nàng đã trách:

– Anh là chồng chị Khánh hay chị Mai?

Tôi ú ớ trước một câu hỏi bất ngờ như trời sét.

– Chị Mai khoe anh là chồng của chỉ, chị Khánh cũng khoe anh là chồng chỉ. Chồng ai, nói đi?

– Không có chồng ai hết. Bạn thôi.

– Không có bạn bè gì hết. Em biết rành. Anh đừng có chối. Chị Khánh đưa cho em coi cái khăn bàng lông mới…đỏ thén. Trước khi đi, chỉ còn dặn: “ở nhà anh Lôi có đến em đừng rớ tới nghe, chồng của chị đó. Em phải kêu bằng anh đàng hoàng!” Xí, đàng hoàng sao được mà đàng hoàng. Trong nhà có ba chị em thì hai chị phải nhường cho em út chớ, phải không anh?

– Em mới có mười sáu mà Ngọc. Anh tới ba mươi lăm, vợ chồng coi sao được.

– Được chớ sao không. Bộ anh chê em hả?

– Không phải chê.

Ngọc ngồi lên giường, đầu rũ xuống khóc nức nở. Em biết anh sắp ra trận, biết anh có về nữa không. Trận này em thấy ai đi đều không về. Em muốn cho anh món quà làm kỷ niệm.

– Quà gì vậy?

Ngọc thò tay vào vạt áo mằn mằn. Tôi chưa lấy lạí hồn vía. Phảng phát đâu đây hình dáng của Mai, những lần tôi húp nước đá trong tay Mai, ôm Khánh hôn vội ở kẹt tủ trước khi ra về. Bây giờ tới Ngọc, một trái đào chưa chín. Ngọc vụt đứng dậy. Chiếc quần lãnh đen tụt xuống đất để lộ đôi chân ngọc ngà.

Tôi trở lại quán, chân còn loạng choạng, tim còn đập. Những giọt ngọc lệ còn ướt vai tôi, nhưng tôi cố làm tỉnh, nói với Năm Tiều:

– Kế hoạch có thay đổi chút ít chú Năm à !

Chín Nữa đang nâng ly, cố nốc cho cạn rồi đặt xuống bàn đánh cộp, quẹt miệng:

– Đầu cặc! Kế hoạch mới gì!

– Thiệt mà dượng, chốc nữa về bển tôi sẽ phụ nhỉ với chú Năm.

– Mày tưởng tao là con nít nên gạt. Mấy chả nhậu xong là giải tán đi liền không có mạng nào còn ở lại đó hết. Kế hoạch mới gì? Khai thiệt đi, mấy ván?

Tôi ngồi im, chịu thua ông dượng. Năm Tiều đáp thay:

– Ba ván ni… ền, không bỏ ván là… o!

Chín Nữa còn tiếp:

– Ông Ba Xu ổng đem con Thanh xuống đây, mày biết chi không?

– Kỳ rồi nó về ở chung với ổng trong Đường Long.

– Thôi mày lo kế hoạch mới cho xong đi, kỳ này làm phò mã.

Tôi trở lại vụ Chín Tống:

– Tôi cần pháo yểm trợ. Có mặt ông tham mưu phó đây, tôi xin ký lệnh điều động ảnh về đơn vị tôi được không?

Năm Tiều khoát tay:

– Lệnh lạc con mẹ gì, cần thì đưa nó về bển. Mày muốn sai khiến cách nào tùy ý mày.

Tôi đứng dậy hỏi Chín Nữa:

– Chừng nào dượng móc dì Chín vô?

– Định mấy ngày ngưng bắn. Nhưng tình hình này móc quác rồi. Đợi năm sau! Đụ bà, con cặc để xài mà chỉ xài có một khả năng, còn khả năng chính lại không có đất “dụng võ”.

– Mày là tổ sư mà than không đất. Hai chị em con Biền và con Trong đẻ một lượt mặt giống y mày cho hết chối.

Tôi bàn với Năm Tiều sẵn dịp qua đây nên ghé thăm ông “thầy nạo” (tức bác sĩ Võ Hoàng Lê, xếp quân y Quân Khu, sau này máy thằng nhà báo bất lương nói dóc là ổng đã giải phẫu óc dưới địa đạo. Có lẽ nhờ vậy ông ta được phong đại tá và tặng danh hiệu anh hùng quân đội) để xin một mớ thuốc men, bông băng, chớ bên C5 Tư Chuyền ớn lắm.

Năm Tiều vốn hết chất nhờn trong đầu gối nên la cà bên vùng “đất hòa hình” này ăn hút được càng lâu càng tốt, về bên xứ Củ ăn pháo liền xì mệt ứ hơi, nghe tôi nói chưa hết ý là đã gật đầu.

Quân y Bưng Còng ở cách “tổng hành dinh” của ông Ba Xu độ nửa ngày đường. Ở đây là “trại cưa” và là “phòng nạo” . Trại cưa giò cưa tay chiến sĩ vì không có thuốc trị, còn nạo là “nhạc phẩm” thứ nhì do các chú nuôi, anh nuôi gởi tới đã sẵn dấu nhạc biến hạ nằm trong sâu, ông bác sĩ chỉ cần móc ra thành lời. Do đó ông bác sĩ còn có tên là “thầy Nạo”.

Gặp mặt, Năm Tiều hỏi ngay:

– Mùa này nạo có khá không?

Thầy Nạo cũng nhẵn mặt với danh từ này nên không quạu đáp ngay:

– Tuần nào cũng có, ngày nào cũng có.

– Kiếm cho tao một “cái” ngâm rượu được không? Năm Tiều đấm đấm lưng- Lúc này tao hay đau lưng vặt .

– Thì tại anh có tới V3!

– Có tiếng mà không có miếng mày ơi! Chỉ có thằng “dê bảy” này là hẩu xực thôi.

Năm Tiều biết tôi vô Bưng Còng có ngầm ý khác chớ không chỉ xin băng băng mà thôi, nên quay lại bảo tôi:

– Hồi hôm mày họp khuya với anh Ba mệt, bây giờ kiếm chỗ ngả lưng, xế xế mình qua sông.

Ông thầy Nạo lắc đầu:

– Chiến thương đông quá anh Năm ơi! Anh về tâu lại với mấy ông cho giao liên hợp pháp mua giùm pini, strép…cho nhiều. Thiếu mấy thứ đó, ăn uống lại thất thường, vết thương đã không chịu lành còn khoét to ra… Đó anh coi đầy hết cả, mà không có dân công đào hầm, cứ để họ nằm tô hô ra như vậy. Mấy ông chỉ lo tiền phương, còn hậu cần thì không có gì hết ráo. Chỉ có ba cái nước sôi nấu trong soong như nước cạo heo thôi.

Tôi không muốn nghe làm gì lời ta thán của ông thầy nạo. Quân y từ thuở nào tới bây giờ cũng vậy, bởi vì mấy ông lớn và con cháu các ông có đi đánh giặc đâu mà mấy ông lo. Tôi vừa quay ra là đụng một cô bé xinh như nữ thiên thần.

– Nhìn gì? Nhớ không?

Tôi vẫn cứ ngớ ngẩn. À… nhớ ra rồi, con bé ở Bến Mương lúc tôi ở H6, nó vẫn tới chơi và thích vọc bàn đánh máy.

Hồi đó tôi vẫn quen để nó ngồi trên đùi và chỉ cho nó mổ cò chiếc bàn máy cũ mèm A, Z, E, R, T..: Máy Remington không biết ai lượm ở đâu cho tôi. Nó rất mến tôi và thường gọi tôi bằng “ba”. Chính tôi dắt nó vô gởi cho Tư Chuyền ở C5. Chứng ngờ bây giờ nó ở đây và lớn thế.

– Sao cháu ở đây?

– Cháu à? Con chớ sao cháu? Con được chú Tư gởi qua đây học y tá cấp tốc để phục vụ chiến trường Sài Gòn.

– Vậy hả?

– Ba tới hầm con nghỉ. Ba đi đâu coi bộ mệt vậy? Ba già quá trời .

Con bé nói tía lia làm tôi xúc động. Giá mà tôi có được một đứa con lớn bằng ấy. Lâu nay, tôi yêu ai người ta cũng “xin con”, nhưng tôi lại không quên xài “chứng minh thư” nên không ai được như ý. Bây giờ được một cô gái lớn kêu bằng “ba”, tôi thực sự xúc động. Tôi chán chê cái nghiệp đánh đấm này rồi, lắm lúc muốn giải nghệ về vườn sống cảnh đơn sơ mộc mạc mà không được. Cái lá đã rơi trên dòng nước thì không có cách gì xoay ngang.

Vừa rồi lại nghe Năm Tiều nhắn lời của Năm Lê đối với tôi, tôi càng ê ẩm. Thì ra cấp trên cũng không tin mình. Họ nghi tôi vì tôi không tích cực trong vụ móc thằng em Thủy Quân Lục Chiến. Ung Văn Khiêm, địa chủ Long Xuyên, bỏ sự giàu sang theo đảng từ năm 1930 mà vẫn bị đá văng như cái giẻ rách. Nguyễn Thanh Sơn cũng là địa chủ theo đảng trước cả Phạm Văn Đồng mà nào được sơ múi gì. Còn mình là thứ tép riu, họ muốn bóp lúc nào mà không được.

Kể từ khi nghe Năm Tiều nói, tôi không tích cực như trước nữa. Bố trí trận địa xong, tôi giao cho cán bộ đại đội hoặc tiểu đoàn, còn tôi lùi ra sau chỉ huy bằng điện đài. Ba mươi lăm tuổi rồi, chưa vợ con thì chừng nào mới có? Cô bé Bến Mương đã mang lại cho tôi một tình cảm bất ngờ. Lâu nay tôi vẫn ghét đám bố nuôi, chú nuôi, anh nuôi vì bọn “chứ” cũng như “chó”, cha với con cũng là giả nốt. Nên tôi không bao giờ nhận là cha chú của cô bé nào hết.

– Ba không thương con chút nào hết.

– Ừ, ba không thương ai hết.

– Trừ con !

– Ừ, có thể trừ con.

Cô bé đưa tôi xuống hầm, lấy thermos rót nước châm trà rồi pha sữa lăng xăng, rồi ngồi trước mặt tôi.

– Sao bữa nay ba buồn vậy?

– Lính chết và đào ngũ nhiều quá con! -Tôi hồn nhiên đáp.

– Chết thì con biết rồi. Mấy đêm nay con đâu có ngủ vì lo giải quyết chiến thương. Còn đào ngũ thì…

– Con không thấy được. Nhưng đó là sự thực.

– Nói chớ con cũng biết. Vì nhân viên quân y cũng bị sung công đi bắt lính đào ngũ đem đi giam, để họ nói tùm lum làm mất tinh thần chiến sĩ. Mà cần gì lính đào ngũ mới nói, mấy anh chiến sĩ nằm ở đây họ cũng nói. Họ mê man vẫn nói, vẫn chửi, vẫn gào thét như điên. Họ chửi tiếng Bắc khó nghe nhưng con vẫn hiểu… Bác Hồ là cái gì hả ba?

– Hả? -Tôi giật mình như bị lửa chích.

– Bác Hồ thì con biết rồi, nhưng con muốn biết bác là người gì mà bác đem con bỏ chợ.

– Ai nói với con vậy?

– Thì mấy ông lính “vịt xiêm” nói chớ ai.

– Tầm bậy nào. Thôi đừng có nói nữa.

Tôi không muốn nghe những chuyện “thất chính trị” như vậy nên gạt ngang. Cô bé vẫn không bị phật ý. Cô cười cười và thay đổi cách xưng hô:

– Ông nhớ lần ông bị thương trận Paris Tân Quy không?

– Nhớ chớ sao không?

– Ai rửa vết thương và tắm cho ông?

– Cô Nga nhỏ.

– Ai nữa.

– Ba không nhớ,

– Vậy mà la nhớ ! -Cô bé ngồi xích lại gần tôi và tát má tôi

(Tôi nhớ mà tôi chối. Chính cô ta tắm cho tôi và bảo: “Ông sắp ra viện vì vết thương sắp lành, bằng chứng là tôi vừa cọ sơ sơ là nó… đã lên cò. Hí hí!” Giọng cười cô bé nghịch ngợm vẫn còn vang trong đầu tôi).

Cô nói tiếp.

– Ông đánh ở đâu tôi cũng biết vì chiến thương họ về đây họ kể lại. Họ nói trận nào có ông trực tiếp chỉ huy thì họ tin chắc thắng. Do đó tôi cũng mến ông. Tôi tiếc hồi đó tôi còn nhỏ quá. Bây giờ tôi hết tiếc rồi. Tôi đã mười sáu tuổi Chẳng may bây giờ lại gặp ông.

– Sao lại chẳng may?

– Là vì sắp vô đợt hai. Người ta chụm hết củi này, sẽ lôi tới củi khác. Củi đó là ông chớ ai khác được.

– Cô đừng nói nhảm.

– Tôi yêu ông thật đấy. Hồi ở Bến Mương lận chớ không phải tới bây giờ.. Từ đó tới giờ tôi vẫn lắng nghe tin đánh trận của ông. Ông đánh thắng trận Thầy Mười nhờ sợi dây lưng của cô du kích chớ gì. Ở đây cũng có người quen với ông, ở cùng làng với ông.

Tôi nhảy tưng lên:

– Ai vậy?

– Bộ yêu ngươi ta hả?

– Biết ai mà yêu.

– Tên đẹp lắm !

– Tên gì?

– Ánh.

Trời ơi ! Tôi kêu thầm. Ba Ánh, em của Nguyệt. Cái tên đẹp, cái con người đẹp cùng quê lâu nay như biến mất trong tôi, nay lại bùng lên như ngọn lửa thiêng. Đêm đó xem văn công R xong tôi về nhà Ba Thành (tức Ba Thắng, cục phó cục chínlii trị) gặp nàng. Nàng than thở muốn rời cơ quan về nhà. Rồi tôi chia tay với nàng. Cô bé nói:

– Nhưng bây giờ chị ấy không muốn gặp ai hết.

– Tại sao?

– Không biết!

– Nói tên tôi thì cô ta cho gặp liền.

– Nghe tên anh (nàng lại đổi cách xưng hô) em chắc chị ấy càng trốn mất.

(Về sau mói biết là ông chú nuôi Ba Thắng đã tặng cho cô bé quả bầu non. Ba Thắng sắp được xuống Quân Khu IV làm chánh ủy lắp vô chỗ trống của đại tá Nguyễn Văn Bảo (anh của Nguyễn Hộ), vị Tư Trưởng sửa soạn về R làm to hơn. Để ở trên R sợ quả bầu bể ra có mùi làm hư mặt các chú các bác nuôi, trong đó có cả bác Sáu Di, nên thay vì gởi cho thầy nạo R, cô bé được đưa xuống cho thầy nạo Năm Lê)

Cô bé Bến Mương ăn nói rất dạn dĩ không sụt sè gì cả. Có lẽ cô đã từng rờ mó, nghe thấy mọi sự thực chán chường ở quân y nên không ngại miệng như những cô gái khác. Thực tình tôi chưa từng gặp một người phái nữ nào bạo dạn như thế.

– Uống hết ly sữa đi rồi em nói tiếp chuyện này cho nghe.

Tôi thấy kỳ kỳ nhưng vẫn không muốn rời khỏi nơi đây. Tôi vâng lệnh nàng một cách hồn nhiên. Tôi vừa để ly sữa xuống, ngó lại thì nàng đã tồng ngồng, lồ lộ trước mặt tôi, trên người từ đầu đến chân không một mảng da nào được che kín. Nàng xốc tôi đứng dậy, vừa đưa tay hoạt động lăng xăng khắp người tôi, vừa bảo:

– Chỉ một lần thôi, anh nghe rõ chưa? Em yêu anh rồi tới chết không yêu ai nữa. Và cũng không lấy chồng.

Tôi cứ như kẻ mất hồn để cho nàng điều động thân thể lẫn giác quan của tôi….

Cuối cùng nàng hôn môi tôi và bảo:

– Trước khi anh chết ở chiến trường, anh gọi tên “em” chớ đừng có hô ai muôn năm nghe. Còn em rủi có bị đạn em cũng hô “anh” muôn năm, chới không có hô ai đâu. Má em nói thằng cha đó ra lệnh chặt đầu ông ngoại em hồi 45.

Chương 88

Người vợ điên
và bức thư tuyệt mệnh của thằng đồng chí

Chúng tôi về tới Củ Chi thì Năm Tiều về văn phòng của y, tôi về văn phòng của tôi. Cô Tư Bé dũng sĩ từ ngày được bổ nhiệm làm quận đội phó thì bám riết theo, không về nhà nữa. Đánh với Mỹ mà bắt đàn bà con gái đưa ngực ra đỡ đạn thì thiệt là dã man. Ngực họ đâu phải là vật đem ra xài phí như vậy.

– Bé ơi, anh Hai về nè em!

Nàng nhảy ra hầm hôn tôi rối rít:

– Sao anh đi lâu quá vậy?

– Mới có ba ngày lâu gì. Ở nhà có việc gì xảy ra không ?

– Ối, thiếu gì!

– Cái gì nói mau.

– Lính từ Sài Gòn trồi về quá sá. Xe tăng ủi sạch xóm Đất Thịt rồi Cơ quan tham mưu chạy tản lạc hết… À quên, có bà già điên.<

– Bà già nào?

– Em mới nghe trinh sát báo cáo. Thôi anh ngủ đi. Xuống hầm em kìa. Bốn giờ sáng rồi. Anh nhắm mắt một chút cho khỏe. Rủi sáng có chụp thì còn sức chạy.

Tư Bé đẩy tôi xuống hầm. Tôi nghe tiếng nàng làu bàu:

– Anh công tác kiểu này không mấy lúc mà sụp cho coi.

Tôi lên võng cô quận đội phó nằm ngay chân thật đã, mùi con gái còn đầy ắp trên võng làm tôi mơ màng. Mắt cay xè, cố nhắm lại yên giấc nghìn thu mà không sao ngủ được. Bao nhiêu hình ảnh xáo trộn trong đầu: kế hoạch, quân số, vũ khí, mục tiêu, rượu trà bánh trái ngổn ngang.

– Rất tiếc cô không có con gái, nếu có cô gả cho con, không đòi gì hết, để cô làm mai con gái Ba Xu cho con.

Lời bà Sáu Thiệt còn văng vẳng trong tâm tôi. (Tội nghiệp trong đợt hai, bả từ Sài Gòn ra bị cảnh sát bắt được, trong giỏ xách có cây K54 ở chợ Gia Huynh, Trảng Bàng).

Chập chờn trong đầu tôi những khuôn mặt đỏ rượu, những cái mồm đầy ứ thịt, những cái mép dày, một bên ngậm điếu xì gà, một bên ngậm cây tăm xỉa răng. Những cặp mắt trợn lên kinh ngạc và hốt hoảng nhìn những con ma đói ào vô cướp thức ăn. Những cái xương lổm nhổm trên những thân xác trên tờ báo.

Bỗng Tư Nhựt hiện ra mình đầy máu me, mặt bể nát, tay y nắm chân tôi lạnh ngắt: “Ê Lôi! Ngủ hả ? Sáng mai đổ chụp nghe, coi chừng. Đừng chui hầm. Tao bảo vợ tao đi tìm mày. Năm Sài Gòn, Tư Chi mới gặp tao. Trí O chưa xuống tới!” Nói bấy nhiêu rồi Tư Nhựt bỏ đi. Vừa lên khỏi hầm còn quay lại: “Hai Phái bị bà con nhà cho viên kẹo?”

Tôi ngồi dậy tính hỏi, còn Tám Hà đâu? Nhưng Tư Nhựt đã biến mất. Không khí trong hầm lạnh ngắt như âm ty.

Tôi la lên, tay quơ tìm cái đèn pin mà không gặp lại đụng cái gì lạnh ngắt đang thở phì phì dưới đít võng. Thì ra thằng Thành. Thằng bé thức dậy lè nhè:

– Gì vậy anh Hai?

– Tư Nhựt mới đi.

– Anh mớ rồi. Ngủ đi anh!

– Y vừa lôi chân tao.

– Ảnh chết rồi còn đâu mà lôi.

Tuy biết vậy nhưng tôi cứ nghe bàn chân tôi lạnh ngắt, rờn rợn tôi không ngủ được nữa. Cứ lăn qua trở lại hoài. Vừa mờ sáng tôi kêu trinh sát chạy cho các đại đội hay bảo chuẩn bị công sự đánh chụp dù.

Quả thật quân Mỹ có đổ xuống Sa Nhỏ nhưng rồi rút ngay, không hiểu chúng định làm trò gì, tôi sợ ăn pháo nên không cho nổ súng.

Tôi vốn tin dị đoan nên lập tức tìm ông đốc chiến để đoán bài giải mộng.

– Anh có thấy chuyện gì không?

Năm Tiều không trả lời mà cười hề hề và hỏi lại:

– Hỏi thiệt mày nghe, hôm qua tổng cộng pháo bắn mấy quả?

– Đâu có quả nào chú Năm ơi!

– Hồi bù nốc tới, tao thấy mày chạy hơi chậm. Nè mấy con Nga bên Tư Chuyền lâu nay đi đâu mất hết mậy?

Tôi đem chuyện chiêm bao bàn với anh. Anh bảo:

– Hồi hôm tao cũng gặp nó, nhưng đó là chuyện thường, có gì đâu mà lo vớ vẩn.

– Tôi chưa cho các đơn vị rời công sự.

– Cẩn thận vậy tốt, chú em. Cái điệu này là nếu có đổ dù nó sẽ đổ ở Củ Chi, nghĩa là nhảy sau lưng các đơn vị mũi nhọn của mình để chọn đường về.

– Chú có nghe đài BBC hay VOA gì không?

– Có nghe nhưng tao quên hết rồi. Đại khái nói là mình đánh vô 27 thị xã, Huế, Cần Thơ, Mỹ Tho v.v…

– Vậy là đồng loạt tấn công đó chớ anh!

– Không hạ được Sài Gòn thì dầu có chiếm được mấy cái đó cũng không ăn thua gì.

– Tại sao?

– Muốn tắt đèn vĩnh viễn thì phải phá cái nhà máy đèn !

Tôi từ giã Năm Tiều, đến D7 kêu cả ban chỉ huy D họp. Tôi bảo chuẩn bị diễn tập đánh đồn, trong vòng hai tuần lễ sẽ vô đợt hai.

+ Tập đánh bộc phá sào (là loại cổ lỗ sĩ dùng hồi đánh Tây. Trái bộc phá gắn trên đầu cây tre dài bốn, năm mét, có dây điện lòng thòng phía sau, hễ lính dựng được vào tường thì đằng sau châm điện. Đánh kiểu này không mấy khi hạ được đồn, vì anh lính vác sào không mấy khi tới được chân đồn).

+ Làm bốn cây thang tre để bắc qua chiến hào hoặc trên bùng nhùng cho chiến sĩ chạy lên đó xung phong.

Công kiên chiến là lối đánh hao xương tổn máu nhất, nhưng Bộ Tư Lệnh giao cho tiểu đoàn 7 phải “quét” sạch các đồn bót trên quốc lộ I.

Năm Tiều đã phản ứng lúc được lệnh, nhưng y chỉ nói với tôi:

– D7 toàn là lính mới và con gái… Đánh cái máu què họ chớ đánh đồn. Ba trung đoàn rã bành tô bây giờ kiếm gỡ!

Nhưng than ôi, lệnh là lệnh. Ở ngoài Bấc ông Hồ và ông Giáp có biết lực lượng của Mỹ Ngụy ra sao mà hô tổng tấn công (nếu biết sẽ chẳng có lệnh này), trong Nam vẫn phải thi hành. Ngàn năm vẫn “muối xát lòng ai nấy xót xa”. Con cháu các lão có đứa nào đi giải phóng miền Nam đâu mà các lão ấy lo!

Mấy năm trước con ngựa chiến Dương Đình Lôi này pháo một đêm hai, ba đồn, hết đạn cũng bắn, sáng ngày có chụp dù cũng chạy đua với trực thăng như chơi. Nhưng năm nay nó thấy hơi mỏi vó. Từ ba lăm sang ba sáu, gần tuổi bốn mươi rồi. Chất nhờn xài liên tục có còn nhiều đâu ở đầu gối mà vọt nhanh nữa. Năm Tiều nhận xét đúng: “Mày chạy hơi chậm!” Tôi nghe bộ xương bắt đầu rêm và tinh thần cũng bớt thừa thắng xông lên.

Tôi từ Sa Nhỏ lội về Đồng Lớn, lòng buồn rã rượi. Giấc chiêm bao đêm qua và hai sự việc với Ngọc và cô bé quân y phải chăng là điềm báo trước cho Thiên Lôi sắp về chầu trời. Ngọc và cô bé đều coi sự việc ấy là những món quà tặng cho tôi là kẻ ra đi không trở về. Có lẽ mình phải tìm đường khác mà đi thôi.

Tất cả bạn bè cùng lứa hoặc cùng chiến đấu từ 1965 (khi tôi về Củ Chi lần đầu) tới nay đều đã chết. Chỉ mình tôi là bị đạn chê.

Thằng Thành thấy tôi buồn buồn cũng tìm cách an ủi:

– Không có lẽ chú Tư Nhựt, chú Hai Phái và chú Tám Lệ đều chết một lúc sao anh?

– Ai biết đâu!

– Chết thì hai người trong ban chỉ huy E thôi chứ, rụm như vậy sao được.

– Súng đạn mà mậy!

– Trời tối rồi, ghé quán má thằng Ức kiếm bậy bánh trái gì ăn, anh Hai!

Hai thầy trò cứ thẳng đường xe bò giữa xóm mà đi, bỗng nó bảo.

– Đi tắt ngã này mau hơn anh!

Tội nghiệp thằng bé này. Đây là thằng cận vệ thứ sáu của tôi kể từ thằng Đỏ bị thương cụt chân tới nay. Cứ vài tháng rơi một cậu.

Đạn như mưa mà tôi bảo chạy truyền lệnh xuống đại đội cũng phải chạy. Có đứa ngã ngay khi mới vọt lên khỏi hầm. Tôi buột miệng hỏi:

– Bây giờ tao cho mày “ước” một điều, mày ước gì, Thành?

– Về nhà làm ruộng.

Tôi thở dài. Ai cũng muốn bình yên sinh sống, không gì đáng sợ bằng cái chết. Đứng ở ngoài xúi người ta đi vào cái chết thì ai chẳng làm được. Nhưng dám đi vào đó thì mấy ai? Tội nghiệp Tư Nhựt, bỏ vợ bỏ con. Đứa con đã đặt tên nhưng chưa biết mặt.

Khi đi ngang bờ trúc nhà Hai Tân, quản lý C3 của Út Sương D Quyết Thẳng của tôi lúc trước, thấy trong nhà đèn đuốc sáng trưng khác thường. Giờ này mà còn ai thức, lại có tiếng ồn ào, hay là có ai hy sinh chăng?

Thanh niên xóm này ít đi bộ đội. Có mấy cậu xin gia nhập D7 của tôi nhưng Bảy Ga không nhận.

Tôi thình lình bước vô nên cả đám bảy, tám mạng đang ngồi quanh bàn không đứa nào chạy thoát. Điểm mặt sơ qua, tôi thấy có Hai Tân, thằng em thứ bảy của hắn ở nhà đánh xe bò cho Bảy Hốt đã có vợ, bốn tự lính thuộc C4, thằng ấy, thằng Quý , Út Nhị (quản lý C4), thằng Tây thông tin, thằng Thơ.

Thằng Tây hốt hoảng kêu lên:

– Ổng tới cà, bây!

Trên bàn còn đầy tô, dĩa thịt gà xé phay, cháo, và lố nhố những chai la de uống dở, lớp chưa khui.

– Mấy cậu làm gì ở đây?

Hai Tân vui vẻ:

– Khuya xót ruột, nấu cháo ăn. Anh Hai làm một chén với tụi em!

– Đơn vị ở đâu mà mấy cậu về đây?

– Dạ, dạ…

– Tụi bay đào ngũ phải không?

– Dạ, dạ…

Cậu nào cậu nấy mặt xanh như chàm. Tôi bảo:

– Chiến trận còn đang tiếp diễn mà chúng mày trốn về đây là sao?

– Dạ tình hình găng quá anh Hai, chớ không phải tụi em nhát -Hai Tân thâm niên cao nhất trong bọn lên tiếng khẩn cầu như Tào Thạo kể công- Anh Hai thông cảm cho tụi em. Hồi anh Hai, tụi em xung phong rào rào. Ngặt kỳ này anh Hai không đi, mấy ông Út Sương, Ba Đức chỉ huy không xuể , phầ thì đơn vị bị pháo dập cả giờ đồng hồ tan nát hết, mất hướng chiến đấu, tụi em như vịt chạy lạc bầy, mạnh con nào này lủi, đâu có biết đường về chuồng…

– Thôi! Còn ở đâu nữa hay chỉ có tụi bay đây thôi?

Thằng Tây đáp nhanh:

– Dạ còn một tốp nữa do thằng Thượng còn dẫn ra Xóm Ràng đang đóng ở nhà con Ba Cưng, hơn mười đứa.

Tôi thấy thằng nào thằng ấy đầu bù tóc rối, mặt mày tay chân trầy trụa, quần áo tả tơi nhưng tay thằng nào cũng đeo đồng hồ sáng rực. Có đứa đeo một bên hai chiếc hoặc hai tay hai chiếc đồng hồ mặt mới toanh dây i-nốc, có đứa đeo dây chuyền vàng, ngón tay có cả nhẫn nữa.

Tôi quay lại bảo thằng Thành:

– Cậu về kêu trinh sát lại đây trói hết dẫn qua sông giao cho Năm Đăng đưa lên suối Gò Gấu giam hết cho tao!

Hai ba đứa tụt xuống sụp lạy tôi, van xin. Hai Tân kể lể:

– Tội nghiệp tụi em, anh Hai. Anh Hai nghĩ tới tình cũ nghĩa xưa chút. Nếu có anh Hai đi thì D Quyết Thắng tụi em dầu hèn cũng thể chớ đâu có ra đám tàn quân vầy nè. Anh Hai cho tụi em “đói” công chuộc tội, chớ anh Hai giải tụi em cho ông Năm Đăng chắc tụi em bị xử bắn hết trơn… Anh Hai nghĩ coi đánh giặc gì mà chỉ huy không biết mục tiêu ở đâu làm sao lính tấn công?

Hai Tân dừng lại nuốt nước bọt, Mười Thơ B phó thông tin của tôi trước đây, tiếp ngay:

– Anh từng biết tụi em ở với anh trước kia mà anh Hai. Tụi em cũng biết chạy như vậy là tệ lắm, nhưng đơn vị đâu có còn đứa nào. Út Sương chết ngay từ đầu, xác còn bỏ tại đó, đâu có bè qua sông được. Khổ lắm anh Hai ơi! Đời thằng lính không có gì khổ bằng không có chỉ huy.

– Tụi bay làm hư danh trung đoàn mũi nhọn của khu, tội thật không tha được.

Thấy tôi nghiêm khắc, mỗi đứa góp một câu năn nỉ. Đứa thì nhắc trận đánh Mỹ ở Gò Nổi, đứa gợi lại trận Cây Trắc, đứa lại “hồi ký” trận Suối Cụt… làm cho tôi dịu dần.

Thằng Tây còn tiếp lời:

– Sở dĩ tụi em bỏ chạy vì không còn ai chỉ huy hết anh Hai à ! Phút đầu tiên ông Hai Phái đã bỏ chỉ huy sở E chạy xuống Dl để tránh né. B thông tin của tụi Dl tụi em trở thành thông tin của E, vì thông tin E bị đầm già phát hiện kêu pháo bắn, rồi nó trút bom đìa đâu có hầm hố nào chịu nổi. Cả đám quân y, liên lạc, trinh sát, thông tin của anh Tư Nhựt đều rụm hết.

– Tư Nhựt chết lúc nào?

– Vô trận là ổng chết ngay, kế đó là Tám Lệ E phó, sau cùng là Hai Phái.

– Hai Phái chết thế nào? -Tôi hỏi tiếp.

– Em không rõ nhưng vết thương kỳ lắm.

Hai Tân lấy lại hơi thở tiếp ngay:

– Em thay cho Hai Tiến làm quản lý Dl, Năm Triệu làm D trưởng, Út Sương chính trị viên D, Năm Tân D phó, Ba Đức tham mưu trưởng.

Tôi kêu lên:

– Thằng Nín mà làm D phó. (Nín là Năm Tân, hồi trước là B trưởng của tôi).

– Dạ, mà y cũng đã bị thương rồi. Nói chung cả ban chỉ huy Dl và E mũi nhọn đều chết hết. Chín Tống cùng đi với D8 pháo ở phía sau cũng bỏ DKZ, trọng liên xuống sông mà chạy. Năm Sài Gòn cũng chết ngay từ đợt đầu. Nghe nói Bộ Tư Lệnh Tiền Phương chỉ còn ông Tám Hà, nhưng em không gặp. Tình hình nó như vậy đó chớ phải tụi em hèn nhát đâu.

Tôi rụng rời tay chân, nhưng còn quát gượng:

– Thôi được tội đào ngũ cửa tụi bay tạm gác lại đó, bây giờ xét tới tội ăn cướp của đồng bào, dân chúng.

Cả bọn lại sụp lạy, đầu bổ lia như chày giã tỏi, xin tha tội.

Thấy đau lòng quá, tôi bảo:

– Tao tha cho cái tội này, nhưng phải kiểm thảo.

Thằng Ty cùng quê Nhà Bè với tôi, tôi thường tâm sự với nó về một ngày nào đó mình sẽ về lội qua sông… nên nó rất mến tôi. Nó bảo mấy đứa kia:

– Thôi anh Hai chơi điệu vậy mình phải đưa ra hết tụi bay. Thằng nào đập kiếng tiệm đồng hồ, tiệm thợ bạc lấy vàng vòng và đồng hồ trút ra mau, nếu không tao khui ra hết.

Thăng Thơ vừa móc một chùm bỏ lên bàn vừa nói:

– Thắng nào đập kiếng lấy trước rồi tao mới chạy ngang hôi được có bốn cái xây cô và mấy sợi dây chuyền thôi.

– Em mở tủ lấy được một xấp tiền.

– Còn thằng nào giật bông tai, cà rá của mấy bà đi chợ? Đưa ra !

– Em chỉ lượm được có bốn cái đồng hồ nữ.

Lần lượt mỗi đứa đem một hộp chiến lợi phẩm cho tôi. Bỗng Hai Tân kêu lên:

– Dạ, em còn giữ hai ngàn tiền ăn của D1, nhưng ông Út Sương chết rồi, em giữ giùm chớ không định lấy. Anh với em cưa đôi được không?

Tôi quát:

– Mày đem về nộp cho quản lý D7 để đóng tiền ăn cho tụi bay. Thằng Tây ra Ràng kêu mấy đứa kia về đây tổ chức lại thành hai tiểu đội, tao sẽ cho người ra dắt về gia nhập D7 chiến đấu tiếp, nghe không?

– Dạ ! -một tiếng đáp đồng loạt vang lên- Anh Hai chơi điệu quá trời.

Bỗng một giọng nhi nhí:

– Dạ, còn em chưa phản tỉnh.

Tôi nhìn lại, một anh già sồn sồn tôi không nhớ mặt:

– Dạ, báo cáo thủ trưởng, em có tội.

– Tội gì?

– Dạ em đã bốn hai mà chưa có vợ (trường hợp ông Hai già quản lý Quyết Thắng tôi cáp cho bà Hai Xót) nên em túng sinh lý.

– Ông hãm hiếp người ta hả?

– Dạ không có, em chỉ đi vòng ngoại vi rồi pháo bắn gấp quá em không vô trung tâm được.

Tôi suýt bật cười vì những danh từ nhà binh của y dùng, nhưng cố làm nghiêm:

– Tôi sẽ mở cuộc kiểm thảo “do dân, vì dân, của dân” sau, bây giờ gác lại hết.

Tôi bảo thằng Thành gom ba cái chiến lợi phẩm kia về nộp cho quan đốc chiến rồi rút lui. Trước khi đi tôi còn dặn:

– Các anh là lính đào ngũ, sẽ bị đưa ra tòa án binh khu. Một là ngồi tù, hai là tử hình. Nhưng tôi tạm gác lại đó vì chiến cuộc còn tiếp diễn, nhưng tôi cho các anh biết trước là mặc dù tôi thâu nhận, nhưng không giữ được cấp chức cũ. Rõ chưa?

Hai Tân luôn luôn nhanh nhẩu:

– Dạ, chúng em không dám đòi chức gì hết ạ !

Tôi sắp quay lưng đi, bỗng thấy tâm thần bứt rứt khó chịu khác thường. Thấy trên bàn thờ của chủ nhà có đủ trang bị, tôi bèn hỏi mượn và bảo:

– Có còn chai rượu nguyên nào đó không? Đem cho tôi một chai.

– Dạ, còn cả két la de và rượu.

– Lấy ba cái ly sạch đem ra đây! Thành, em đốt nhang trên bàn thờ cho anh.

Rồi tôi mở xắc-cốt ra, lần mò tìm một tấm hình Tư Nhựt anh hùng giải phóng quân ngực đeo bông hồng to tổ bố chụp trên R trước khi lãnh chức E trưởng mũi nhọn đi vào Sài Gòn. Tôi nghiêng vào ánh đèn xem. Nụ cười buồn. Môi nhếch có một bên, có vẻ chua chát.

Tôi đặt lên bàn thờ và rót rượu. Đám lính thấy chuyện lạ cũng tự động đứng giàn ra hai bên. Tư Nhựt làm thủ trưởng của họ từ lâu hoặc trong trận này.

Tôi cố gắng cất giọng van vái. Tôi từng làm như vậy nhiều lần chớ không phải mới lần này. Năm Tiều cũng tán thành cử chỉ này của tôi.

– Tư Nhựt, trung đoàn trưởng trung đoàn mũi nhọn, tức Lê Văn Luông, sống khôn thác thiêng, xin hồn về chứng giám và phò hộ cho Dương Đình Lôi, người bạn tri âm.

Cả đám lính đào ngũ đứng im phăng phắc. Có đứa sụt sịt khóc.

Tôi quay lại bảo:

– Đứa nào đại diện rót rượu cúng vái cho ổng về phò hộ tụi bay cho qua khỏi làn tên mũi đạn!

Tôi cảm thấy Tư Nhựt, Hai Phái, Tám Lệ chết thay cho tôi. Nếu tôi được ở trên y theo lời yêu cầu của Năm Sài Gòn thì chắc chắn tôi sẽ lãnh chức E phó kiêm tham mưu trưởng E này, và tôi đã “ở lại” chơi Sài Gòn trong đợt đầu tổng nướng quân.

Tôi cúng vái xong thấy lòng nhẹ nhàng: lưng vừa quay ra lại đụng một người lù lù đi vào, mà là một người đàn bà . Dưới ánh sáng mờ mờ hắt hiu, tôi thấy bà ta bồng một đứa bé túm kỹ trong khăn, mà miệng thì lầm bầm: “Nó sai chồng tao lên đường xuống đường, chồng tao chết nó ăn luôn xác…”. Người đàn bà từ từ tiến vô giữa nhà rồi đi thẳng lại bàn thờ, nhìn vào tấm ảnh nới giọng bình thường:

– Anh Tư! Anh bảo em tới đây tìm anh Lôi. Em tới nè mà sao không thấy ảnh. Hắc hắc! Ảnh đem cây súng đánh bót Thầy Mười bắn cho nó lòi phèo…

– Tôi nè chị Tư! -Tôi bước tới trước mặt người đàn bà- Chị không còn nhớ tôi sao?

– Anh Hai ! -Vợ Tư Nhựt kêu lên rồi gục đầu vào vai tôi.

Tôi nghe hơi thở của đứa bé sơ sinh chạm vào ngực tôi. Chị nói:

– Con anh nè !

Tôi ngẩn ngơ, không hiểu mình chiêm bao hay sống thực. Chị vẫn nói thao thao bất tuyệt:

– Anh Tư về báo mộng cho em! ảnh bị thương mình mẩy máu me dầm dề. ảnh nói “Anh chết rồi, anh về thăm em và con. Em đi tìm Hai Lôi nhờ ảnh nuôi con mình. Em nên coi ảnh như cha của con mình”. Hu hu hu…

Tôi đứng chết trân như trời trồng. Nhìn lên bàn thờ thấy cặp mắt của Tư Nhựt như rướm lệ. Hắn chết đau đớn quá.

Vợ sắp sanh lúc hắn về ngang trong chuyến đi cuối cùng vô Sài Gòn, tạt về thăm trong lúc vợ đau bụng đẻ. Khuya hôm đó chuyến xuồng liên lạc chở anh ta và Tám Hà qua Rạch Tra, cũng là chiếc xuồng chở vợ hắn đi nhà bảo sanh. Trên chiếc xuồng ly biệt đó, y đặt tên cho đứa bé là Thơ mặc dù trai hay gái.

Tới bây giờ đứa bé ra đời lúc cha đứa bé nằm ở đâu?

Tôi nói lầm thầm:

– Tôi sẽ làm những gì ông mong ước cho ông thỏa nguyện dưới suối vàng.

Tôi nhẹ tay đỡ đứa bé và thì thầm:

– Từ nay con là con của ba.

Tư Nhựt như mỉm cười thỏa nguyện. Tám Phụng, chị Hai Xót bất ngờ đi vào. Bà nói với tôi:

– Nó điên, không ai nói gì nó nghe. Nó đi khắp nơi tìm cậu. Pháo bắn không chịu chui hầm. Tội nghiệp quá trời, tụi tôi phải canh giữ nó mấy ngày nay. Bây giờ gặp cậu nó mới tỉnh tỉnh lại đó.

Rồi chị quay lại chị Tư:

– Thôi đừng khóc nữa em! Tư Nhựt nó chết nhưng còn được đứa con nối dòng, cỏn nhiều người trụi lủi thì sao? Mới cưới mà chết thì sao? Mà con của nó được cậu Lôi nhận làm con nuôi là phước đức lắm rồi.

Mấy hôm sau, trong sự hồi phục bình thường, chị Tư đã cho tôi biết là người em cột chèo của Tư Nhựt là Sáu Thưa, chồng của Ba Mạnh, em gái của chị (chị tên Hai Lành) cũng chết ở Sài Gòn đợt một. Vậy là hai chị em trở thành góa phụ trong mùa xuân tổng phản công.

Chị Tư đưa bức thư ngắn ngủi của chồng viết lại cho tôi. Đã nói miệng với tôi ở rừng chiều hôm trước mà còn chưa chắc, y còn viết thư đưa cho vợ trao lại cho tôi. Trời ơi! Một mẩu giấy con, mấy dòng chữ nguệch ngoạc, một trời tâm sự đắng cay. Tới bây giờ bé Thơ gần ba mươi tuổi mà tôi vẫn còn nhớ như in từng chữ lẫn tuồng chữ của Lê Văn Luông.

Thư không đề ngày cũng không đề nơi viết:

“Hai Lôi thân mến,

Nếu tôi có chuyện gì bạn nuôi con giùm tôi. Và nếu có thể, bạn săn sóc vợ tôi như tôi. Tôi xin cám ơn bạn, một người tôi chưa thấy ai sánh bằng.

Luông”

Tôi hiểu ý Luông, hiểu rất rõ mặc dù anh không nói trắng ra, nhưng tôi chỉ nhận với anh một trong hai việc mà thôi. Còn việc kia, xin bạn dưới suối vàng hiểu cho tôi, tôi không thể.,,,

Chương 89

Nàng Kiều và đám đặc công F-100, N10
trước cổng cư xá Mỹ,
Tổng Tham Mưu
và đài phát thanh Sài Gòn

Tin Năm Sài Gòn, Tư Nhựt dẫn các E mũi nhọn, Q16 và các đơn vị đi vào Sài Gòn bị tiêu diệt sạch sành sanh lan ra nhanh khắp Củ Chi, nhất là trong hàng cán bộ, nhưng không ai dám hé môi. Người nào cũng gằm gằm cái mặt và không ham bắt đài Giải Phóng, đài Hà Nội tếu ồm ồm như trước nữa vì họ biết các đài này phóng đại tô màu 500% nên họ chỉ lén bắt đài BBC và VOA mặc dù bị cấm rất ngặt.

Tôi đem mấy chục cái đồng hồ phát cho mỗi tiểu đội trưởng hoặc các B phụ thuộc D để coi giờ canh gác hành quân, đưa cho Năm Tiều một bụm dây chuyền cà rá để ông tặng cho mẹ đĩ . Tôi giữ lại vài chiếc để phòng khi hết tiền thì đem ra đổi thuốc, rượu. Còn số tiền của Hai Tân thì tôi cho quản lý mua thức ăn gấp đôi để tẩm bổ chiến sĩ vì sắp tới ngày vô đợt. Nuôi lợn béo để giết thịt.

Cuộc tập đợt công đồn đã xong, tôi cho D hành quân qua Trảng Bàng để tiếp cận mục tiêu: Thái Mỹ. Dọc đường, tôi ghé quán, thấy mía ngon tôi mua hai lóng cho thằng Thành và tôi, vừa đi vừa xước. Mía Tây vàng tươi, ngọt gắt cổ. Tôi nghĩ chắc lính khát nước. Cả ngàn con người mà nước đâu cho đủ uống. Tôi sực nhớ đoạn truyện Tàu trong đó Tào Tháo thấy quân sĩ khát nước bèn nói gạt: “ở phía trước có vườn quýt”. Thế là quân sĩ thèm chảy nước miếng, hết khát. Hai Lôi này không làm công tác chính trị bịp kiểu đó, nên bảo thằng Thành:

– Mày chạy tới truyền lệnh dừng lại.

– C nào anh Hai?

– Toàn D, kêu các ban chỉ huy C lại tao hội ý.

Chập sau, tất cả bốn ban chỉ huy tới. Tưởng có chuyện gì khẩn cấp, các cậu ngơ ngác chờ lệnh tôi. Tôi cười bảo Sáu Hoàng:

– Cậu có thấy đám mía tây đó không?

– Dạ thấy.

– Cậu vô hỏi chủ nhà mua xác cả đám cho tôi.

– Chi vậy anh Hai? Bộ anh định làm lò đường ở đây hả?

– Cậu đi mua rồi ra đây cho tôi biết giá cả. Tôi sẽ trả tiền.

Sáu Hoàng dắt hai cậu liên lạc đi rồi trở lại báo cáo đã mua xong với giá đặc biệt. Tôi bảo các ban chỉ huy cho đốn hạ xuống chia cho lính giải khát. Trời còn sớm, ăn xong đi tiếp. Cấm không được làm tiếng động và hút thuốc.

Bỗng có tiếng gọi. Tôi quay lại thì thấy gương mặt một cô gái trong vành nón lá. Cô vừa đi tới vừa nói cười vui vẻ:

– Em đoán là anh chớ không ai.

Cô bé là Lan, nữ du kích xã Phước Hiệp do ông Bảy Điếc làm bí thư, có ông già ghiền rượu.

– Sao em ở đây?

– Cuộc đời trôi nổi vậy chớ sao anh! -Lan sụt sịt khóc. Mới cười lại khóc- Từ ngày gặp anh, em đi luôn. ở nhà không phương sanh sống nên qua đây đi làm mướn lấy tiền. Hôm trước em nghe nói anh đã trở về H6 bên Bến Cát mà !

– Ờ anh có trở về rồi lại trở qua Củ Chi.

– Anh có duyên nợ với Củ Chi.

– Không biết có hay không mà đi không dứt! -Tôi nói một hơi- Tội nghiệp thằng Cội quá trời. Phải nó còn sống thì hai đứa bay đã thành… rồi, xứng đôi biết bao!

– Cái gì cũng không qua số phần anh à… Mỗi khi em nhớ trận phối hợp với ảnh đánh xe tăng ở Bàu Chứa em ứa nước mắt.

– Nó khen em gan dạ. Đứng núp gốc cau mà dám bấn tám phát CKC. Con Nhánh, em nó, ở trong đội Nữ của Bảy Mô trong tiểu đoàn anh kia cà… Em có muốn trở lại đội không?

Lan đáp không lưỡng lự:

– Thôi anh ạ, lâu nay em cày cuốc quen rồi, cầm súng không lanh nữa ! Anh à , mấy ngày Tết lính mình chết nhiều quá. Em đi chợ Hóc Môn thấy toàn mặc đồ cứt ngựa, chân đi dép cao su trắng. Nắng sình mặt vàng, ruồi bu, em không dám ngó!

Rồi nàng móc túi đưa tôi một xấp bạc. Tôi liếc thấy 1500 đồng. Tôi gạt ngang bảo:

– Để gởi về mua rượu cho ông già. Anh cho thêm em nè!

Tôi móc xắc-cốt lấy một cái đồng hồ (chiến lợi phẩm) và 1000 đồng ấn vào tay nàng.

Tội nghiệp đã một thời con gái mang danh dũng sĩ! Cuộc gặp gỡ bất ngờ và ngắn ngủi như một kỷ niệm cứ in hoài trong trí nhớ của tôi. Và một cái tên: Cội. Thằng thanh niên nông dân cục mịch từng mang danh dũng sĩ diệt xe tăng và chết vì mìn đánh xe tăng. Thằng Lôi này loay hoay rồi cũng theo chân nó thôi. Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi ! Sánh nghề tử nghiệp mà me xừ Lôi! Không nhớ sao?

Trảng Bàng là một quận giàu có của tỉnh Tây Ninh. Tôi đem tiểu đoàn tới đóng ở một xóm nhà ông đại điền chủ Tám Râu do địa phương quân giới thiệu.

– Chào chú Tám.

– Ý đừng kêu vậy tội chết. Tại tôi để râu cho già chớ sự thiệt thì tôi chưa đầy bốn mươi. Còn “toa” là Hai Lôi phải không? -Tám Râu gọi ngay tôi như thế và xưng “moa”.

– Dạ.

– Đừng dạ thưa, đừng dạ thưa với “moa”. Coi nhau ngang hàng là tốt. Moa hân hạnh gặp toa.

Tám Râu giàu có ai cũng biết, nhưng còn chơi đởm. Năm nào cũng lạc quyên cho Giải Phóng năm trăm giạ lúa. Ngoài ra gà vịt, heo cúi, những thứ giúp đỡ râu ria bất thường thì không kể.

Ngôi nhà của Tám Râu còn nguyên chưa thấy dấu vết bom đạn. Có thể nói đây là một thái ấp như khuôn viên của Hoàng Cao Khải ở Ngã Tư Sở Hà Nội. Vào trong nhà càng thấy sự so sánh đó không ngoa. Nền nhà lót gạch bông, tủ ghế cẩn sa cừ, liễn, hoành phi mạ vàng lộng lẫy.

Trên bàn đã dọn sẵn rượu và mấy cái ly chân cao. Mình lội bùn, ăn uống rừng rú, quần áo như chăn bò, thấy sự sang trọng của người ta mà mất tự nhiên.

Tám Râu rất lịch thiệp:

– Mời “toa” ngồi uống vài ly nhỏ rồi ăn cơm với “moa”. Vợ “moa” đi Sài Gòn chưa về nên trẻ con ở nhà nấu nướng không rành, xin miễn chấp.

Tôi đáp từ ngay một cách thành thật:

– Tụi tôi ăn rừng ở rú mà anh Tám. Được ngồi ghế ăn cơm uống rượu Tây như vầy là sang trọng quá rồi, đâu dám chấp nhất gì.

Tám Râu mời ly nào, tôi cạn ly nấy.

Y có vẻ như phùng tri kỷ nên nói chuyện râm ran và rót rượu mời tôi liên tục.

Khi xong tiết mục khai vị thì Tám Râu tự tay đến tủ lấy một chai Hennessy cổ lùn đem ra đưa trước mặt tôi:

– “Toa” làm thứ này được chớ?

– Dạ được anh Tám.

(Thằng Thiên Lôi này thứ cay nào lại không nuốt được. Từ Vodka Nga, Whiskey Tây Mỹ, đến đế ta, cả rượu cồn của y tá cũng nốc tuột, sá chi hen nết sy!)
Sec hay mix?

– Dạ anh Tám sao tôi vậy.

– Chà, coi bộ “toa” cũng chịu chơi hả?

– Dạ thì buồn buồn cũng lai rai riết rồi quen. Hành quân có trẻ quảy bi đông theo tẩm gân đều đều mới lội theo chiến sĩ nổi chớ anh Tám!

– “Toa” chắc cũng ba lăm ba bảy?

– Dạ Tết này ba sáu.

– Gia cảnh vợ con, song đường ra sao?

– Dạ còn độc thân, cha mẹ còn đủ.

Tám Râu đặt xong chiếc ly mới miệng bịt vàng trước mặt tôi, rồi gọi xuống bếp:

– Kiều a! Bưng lên đi cháu.

– Dạ ! -Một tiếng dạ xa xa vẳng thoát ra từ một cổ họng chắc có lẽ của một giai nhân.

Gã Thiên Lôi đoán phỏng như vậy cũng như lúc lâm trận nghe tiếng súng trường nổ thì biết là mút cơ tông Anh, Mỹ, Nhật hay Pháp, Manufactures d’Armes St- Etienne, thường gọi là MAS, còn nghe trung liên thì biết FM của Anh hoặc Bỉ vậy mà.

Quả nhiên, nháy mắt đã thấy một cô gái tóc quăn lơi, áo đen da ngà , hai tay bưng hai dĩa từ dưới bếp đi lên. Hình như Tám Râu có ý cho tôi ngồi vào chiếc ghế để thực khách có thể nhìn thẳng xuống bếp. Cho nên dù không cố ý, gã Thiên Lôi vẫn thấy nàng Kiều trong suốt lộ trình từ bếp lên tới phòng ăn, từ dáng đi cho đến khuôn mặt.

– Cháu đem lên cậu Hai dĩa muối và tiêu riêng ra. Sợ khách của cậu không ăn cay.

– Dạ được anh Tám. Tiêu, ớt, hành, tỏi tôi đều dùng được cả. (Đói thứ gì cũng nuốt ông điền chủ ơi).

– Vậy cháu gắp thêm một dĩa dưa tỏi. Nhớ rưới dấm lên dĩa xà lách nghe cháu.

Tôi nhìn hai con bồ câu quay vàng nghĩnh nằm há mỏ trên dĩa. Tám Râu đẩy một dĩa đến trước mặt tôi rồi lấy khăn giấy trong hộp trao cho tôi:

– Đây là văn minh Mỹ. Họ xài khăn giấy. Chớ Tây thì xài khăn bằng vải. Thời kỳ chiến tranh này mình chấp nhận cả. Còn văn minh của nước mình thì tùy theo văn minh nước người. Độc lập cũng vậy!

Tám Râu nói đến đó thì ngưng ngang.

Tôi ăn bồ câu quay mà nhớ tới Hàng Buồm Hà Nội. Ở cái phố nhỏ này chỉ còn một tiệm ăn ngon và đặc biệt còn có bồ câu quay.

Bóng nàng Kiều thấp thoáng tới lui lên xuống tùy theo lệnh của ông cậu Tám Râu. Anh chàng ăn uống rất sành, mời mọc rất bặt thiệp, chẳng kém một nhà ngoại giao sành sõi chút nào. Khi được nửa tuần rượu, nàng Kiều lại bưng lên một dĩa xào. Tôi thoáng thấy trên nét mặt của cô gái có nét bất hạnh.

– Đây là nấm rơm tươi của nhà. -Tám Râu nói- Người ta thích bán nấm tươi để mua đồ hộp ăn cho sang. Còn tôi lại khác. Thịt tươi ngon hơn thịt hộp. Sở dĩ Mỹ hành quân quăng bỏ cả đống đồ hộp là vì họ đã có đồ tươi ê hề kia rồi. Có phải không “toa”?

– Dạ đúng.

Trước khi bước qua phần tráng miệng, Tám Râu đột nhiên nói:

– Con nhỏ này kêu tôi bằng cậu nhưng nó không phải là cháu ruột của tôi. Ba năm trước ông Ba Bê, bí thư huyện ủy và Năm Nhân quận đội trường Trảng Bàng đem nó gởi cho tôi dài hạn, cho nó ăn ở và bảo bọc nó luôn, hễ có ai hỏi thì đáp là cháu học ở Sài Gòn về chơi!

Tám Râu ngưng một chút mời tôi dùng trái cây và tiếp:

– Được ít lâu thì nó dẫn về vài cô cậu nữa và hỏi tôi xin ở ngoài lẫm lúa. Tôi để cho các cô cậu tự do. Lâu lâu tôi cho tiền và gạo, còn việc làm của họ tôi không để ý. Và cũng không có ai đến đây để hỏi tôi xem họ là ai. Một bữa vợ tôi nói nhỏ với tôi rằng họ đào hầm bí mật ngoài vườn.

Tôi gạt ngang, bảo đừng có ngó vào đó. Và không được nói với ai. Kể từ hôm đó, vợ tôi không ra vườn nữa.

Tá m Râu lại tiếp :

– Bỗng một hôm, vào lúc nửa đêm có tiếng gõ cửa nhà tôi. Tôi sợ quá. Bụng nghĩ chắc lính ở trên Tây Ninh được ai mách nên xuống xét nhà tôi chớ gì. Tôi đã tính sẵn câu trả lời từ lâu, nên tôi bình tĩnh ra mở cửa. Ai dè không phải lính Quốc Gia mà là ông Năm Nhân. ông đập vai tôi tỏ vẻ mừng rỡ và nói to: “Nhờ anh mà cư xá Mỹ sập tiêu rồi!”

Tôi buột miệng nói:

– Vậy là cách đây đã bốn năm hả anh Tám?

– Sao “toa” biết rành vậy?

– Dạ đặc công thành đánh cư xá Mỹ là vào đêm Giáng Sinh 1964. Mỹ chết bốn, năm tên.

– À, té ra “toa” cũng có tham gia trận đó nên mới biết rành vậy.

– Dạ, tôi chỉ nghe tin và đọc báo thôi.

Tám Râu lại tiếp:

– Mấy ngày Tết tôi thấy nhóm người của con bé đi đâu mất hết, rồi mới hôm qua họ lại về, nhiều người băng bó nằm ngoài lẫm. Có nhiều vết thương thấy có mòi nặng đó “toa”. Nhưng sao không ai săn sóc hết. Chỉ con nhỏ thay băng sơ sài. Tôi không dám hỏi, chỉ sai người nhà đi mua bông băng cho họ.

Tôi ngồi nghe mà tâm trí để đâu đâu. Tôi biết đó là đám đặc công N10 hoặc F100 của Ba Hoàng, trưởng phòng quân báo R. Tôi đoán Chín Lộc, tên Bắc Kỳ mắt toét trước đây đóng ở nhà bà ngoại con Ua đổi về R là để tăng cường phòng này.

Tám Râu dặn tôi:

– Nếu nó nói chuyện với “toa” thì “toa” kín miệng đừng học lại những gì tôi nói với “toa” nhé.

– Anh Tám đừng lo. Tôi còn biết nhiều hơn nữa, chớ đâu phải chỉ có bấy nhiêu.

Tám Râu nhắp rượu rồi chép môi:

– Con gái mà mưu trí như vậy thật là đáng phục… Nhưng nếu tôi có con sẽ không cho đi công tác này. Tội nghiệp con nhỏ có nhan sắc… -Tám Râu ngưng ngang như lúc nãy.

Hai người im lặng nhìn nhau. Tôi thấy thương hại cô bé. Một sắc đẹp như vậy mà người ta nỡ đút nó vào miệng sói hang hùm. Thời chống Pháp cũng có biết bao nhiêu vụ “địch vận” bằng đàn bà con gái. Rốt cuộc chẳng đi đến đâu. Nhiều nữ cán bộ rất đẹp đi địch vận, đành mang quả bầu đầy tràn ân hận trở về cơ quan rồi tàn cuộc đời.

Bỗng Tám Râu hỏi tôi:

– Bây giờ tình hình Sài Gòn ra sao rồi “toa”?

– Dạ có lộn xộn rồi yên ổn trở lại rồi.

Tám Râu (làm bộ) giật mình (Y đóng kịch rất khéo nhưng tôi vẫn nhận ra):

– Ủa, sao tôi nghe nói mình… làm chủ toàn thành phố?

– Dạ… Cũng có làm chủ, nhưng chỉ vài tiếng đồng hồ thôi anh Tám ạ. Tụi nó phản công và chiếm trở lại hết.

– Còn các nơi? Tôi nghe mình chiếm đi mười mấy tỉnh.

– Dạ chỗ nào mình đánh cũng chiếm được hết nhưng rồi mình rút lui để bảo toàn lực lượng anh Tám à !

– À à phải rồi, đúng là như vậy, chớ đâu phải tụi nó mạnh phải không “toa”?

Nàng Kiều lại bưng dĩa bánh ngọt đặt trên bàn. Nàng vừa quay lưng đi thì Tám Râu gọi giật lại và nói:

– Bữa nay bất ngờ, cậu tìm được tri âm, còn cháu gặp đồng chí. Hà hà… Cậu bữa nay vui hung nên quá chén. Vậy cậu xin phép ông bạn quý rút lui sớm, cháu thay mặt cậu tiếp bạn của cậu giùm nghe!

– Dạ.

– Cháu ngồi đây này ! -Nói xong Tám Râu đứng dậy đẩy ghế bước lại vỗ vai tôi, giọng thân mật, nói bằng tiếng Pháp- Chúc “toa” đại thắng nghe!

Tôi không biết Tám Râu đùng chữ đại thắng nghĩa là gì?

Nàng Kiều thứ mười nên gọi là Mười Kiều. Có lẽ không phải tên thật. Mười đây là 10 trong “N10” chăng? Còn Kiều thì quả thật nàng cũng là một người con gái ba chìm bảy nổi như Thúy Kiều. Nhưng Thúy Kiều bán mình chuộc cha, lớp giữa gặp Từ Hải đóng vai mệnh phụ, lớp chót tái hồi Kim Trọng. Còn Mười Kiều này… vâng lệnh đảng bán mình cho Mỹ , không tái hồi được với ai hết, sống một cuộc đời cười đau khóc hận tới chết!

Nàng thỏ thẻ :

– Lúc nọ em gặp con Thanh, con gái Phạm Xuân Hoàng, cháu của Phạm Duy Nam. Nó nói với em đã gặp ở một trạm giao liên anh trên đường từ R về Củ Chi, anh có dắt nó đi chợ, mua thịt heo ở chợ chồm hổm. Nó cũng thuật lại việc chú nó đóng cặp vợ chồng với nó đi công tác ở Sài Gòn. Và bắt nó học nhảy đầm, học tiếng Mỹ và cắt tóc ngắn uốn quăn đi chơi bời với Mỹ để làm địch vận.

– Ờ có, anh có gặp cô ấy ở Trảng Sa. Anh biết hết mấy chuyện đó.

– Nhưng có chuyện anh không biết.

– Chuyện gì?

– Nó yêu anh.

– Anh hơn nó hai mươi tuổi. Anh bằng tuổi chú nó mà.

– Vậy mà nó vẫn yêu anh. Nó thú thật với em như vậy ! Kiều tiếp- Đôi khi ở chung với nhau, nó tâm sự với em nhiều lắm.

– Kỳ Tết này cô ấy công tác ở đâu em biết không?

– Trước kia thì nó mạo hiểm lắm. Sau một chuyến công tác nào đó, em nghe nói nó tự tử nhưng cấp cứu kịp.

– Tại sao vậy?

– Đi láng cháng với Mỹ, anh nghĩ coi làm sao thoát được. Em đoán chắc nó buồn đời vì cái công tác oái oăm.

– Công tác cách mạng mà có công tác oái oăm em?

– Có chớ anh, chính em đây cũng có lần em muốn tự tử.

Tôi nhìn cô gái có nét bạc mệnh, không hỏi nữa, nhưng hiểu tại sao. Nàng lặng thinh có lẽ vì đoán được rằng tôi hiểu được những nỗi u uẩn đau đớn của một tấm hồng nhan làm công tác địch vận mà địch ở đây là Mỹ, một loại người dâm bạo.

Nàng khẽ quẹt đôi mắt đỏ hoe:

– Năm 1964, vào đêm Giáng Sinh em đã lái xe tắc xi vô đánh cư xá Mỹ.

– Làm sao vô được?

– Tụi Mỹ mà anh! Thấy gái là anh bảo nó chết nó cũng dám chết cho gái. Trên xe có sẵn trái mìn. Qua xong cổng gác là em vọt ra khỏi xe cho xe phóng vô.

– Một loại tắc xi không người lái như máy bay không người lái !

– Bây giờ nghĩ lại em còn rùng mình. Không hiểu tại sao em dám làm chuyện đó.

– Vì cách mạng chớ sao!

– Có lẽ em căm thù chúng nó hơn là vì cách mạng. Chính nó đã phá nát đời em. Em phải vào đó ngủ với chúng nó, đi chơi với chúng nó. Anh nghĩ coi, ba bốn thằng cùng dày vò em một lúc. Em quyết đánh tan xác chúng nó.

– Rốt cuộc giết được bao nhiêu?

– Ba, bốn đứa !

– Chỉ có vậy thôi?

Nàng Kiều ngồi lặng thinh.

Chỉ có vậy mà tan nát một đời hoa. Nàng đau đớn lắm, nhưng đó là công tác! Cấp trên bảo thì phái vâng. Trước khi nhận công tác, công tác viên phải thề “tuyệt đối hy sinh cho cách mạng, cấp trên giao việc gì. dù khó khăn đến đâu cũng không được từ chối”. Đó là một trong mấy điều tâm niệm của công tác viên. Đôi khi gặp những trò chơi ghê tởm của tụi Mỹ đen, Kiều kể, nàng đã muốn trốn thoát nhưng nhớ lại lời thề cao quý (?) của nàng trước cấp trên, nàng lại cố gắng chịu đựng, coi sự chịu đựng đó là một sự hy sinh cho cách mạng nên gồng mình chịu.

Bây giờ… nàng đã bị biết mặt nên không dám trở lại Sài Gòn nữa. Nàng hối hận tràn lòng. Đang học trung học, đẹp lại thông minh, bỗng dưng lại bị người ta “móc” đi làm cách mạng giải phóng. Cách mạng cần sắc đẹp con gái để đánh giặc. Thiệt lạ kỳ. Thế mà nàng cũng nghe theo một cách hết sức dễ dàng.

Bây giờ… nàng biết mình không có con được nữa. Qua những cuộc chơi bời quên cả thân xác và danh dự do bọn Mỹ đẩy vào, bộ phận sinh dục của người nữ công tác viên đã vỡ tan không còn bình thường nữa. Nhưng đó là hy sinh cho cách mạng giải phóng. Lạ thiệt , cách mạng đoạt thắng lợi bằng bộ phận sinh dục của đàn bà.

Bây giờ… cô bé đang chích hằng ngày ba hũ pini do cách mạng cung cấp không bảo đảm rằng bệnh của nàng có trị được hay không, và cách mạng cũng không hề lo cho tương lai của người nữ công tác viên đã từng hy sinh thân mình để giết bốn, năm tên Mỹ cho cách mạng vui lòng.

Nàng Kiều khóc mê man. Tôi cũng muốn khóc. Cái thân phận của nàng thì cũng như số phận của tôi. Ngẫm ra cho cùng thì cả hai đều là nạn nhân của sự yêu nước mù quáng. Chính nàng Kiều cũng kể cho tôi biết rằng “ông anh hùng Nguyễn Văn Trỗi” bị đồng chí của ông ta lừa ôm bom đi đặt ở cầu Công Lý để có dịp cuỗm cô vợ xinh đẹp của ông ta mà ông ta nào có hay. (Tôi đã viết chuyện này trong quyển “Cách mạng tháng Tám, cha đẻ còng số 8”).

Xương má u tuổi trẻ đã hy sinh tiếc uổng dưới thời Hồ không biết bao nhiêu mà kể. Nay mở choàng mắt ra, ôi thôi đã muộn. Chết ở Trường Sơn, chết ở Miên, ở Lào, ai biết hết tên tuổi những thanh niên ưu tú của đất nước để làm gì? Đó là câu hỏi quan trọng mà kẻ sát nhân cần phải trả lời.

Sáng hôm sau, do lời yêu cầu của nàng, tôi mới ra sau lẫm lúa để xem qua các cộng tác viên N10 và F100 bị thương sau khi “đại thắng ở Sài Gòn mang đầu máu về. Bọn họ độ bảy, tám mạng, kẻ nằm võng, người ngồi trên giường, tay, thân, đầu cổ băng trắng lớp. Có một anh đang nằm trên tấm ván nhỏ, tay treo trên một thanh cây rên hừ hừ. Bỗng một cậu bé ốm tong teo, mặt choắt lại, nhảy cò cò đến trước mặt tôi:

– Anh Hai, em nè!

Tôi nhìn hắn nhưng không nhận ra ai. Hắn tía ha một hơi:

– Em là thằng Tẻo nề, nhỏ như con nhái, mặt thỏ mỏ dơi, đi trinh sát thì chuyên môn báo cáo láo, cho nằm với tổ B40 thì đụng xe tăng mang đầu chạy, còn về bộ binh thì nằm mép không dám xung phong, bị Chín Nữa bạt tai mấy lần…

-Ờ, tao nhớ mày rồi. Nhưng sao mày lại về đây, oai vậy?

– Lần đó em bị thương được đưa qua Bưng Còng ông Tám Lê trị…

– Rồi sao nói hết nghe!

Thằng Tẻo ngập ngừng. Một anh chàng băng tay treo trên cổ tiếp:

– Vết thương lành xong không dám về đơn vị, rồi nghe người ta dụ dỗ… bảo rằng đi theo F100 đánh vô Sài Gòn thì được thăng ba cấp, rồi thằng Tẻo mê nên không về đơn vị mà nhập vô F100 của Chín Lộc.

Thằng Tẻo gạt ngang:

– Thôi mày! Mày không mê thăng cấp sao cũng nằm ở đây như tao?

Nàng Kiều ra vẻ chỉ huy:

– Các đồng chí không nên nói móc nhau nữa. Ai nghe thăng cấp mà không ham.

Các ông bạn không im mà lại tươm tướp. Một giọng Bắc rướn lên to:

– Mẹ, tin cấp trên kỳ này bán lúa “rống”.

Tôi lại ngồi xề bên tấm bạt xệu xạo, móc tiền bảo thằng Thành chạy đi mua vài hộp sữa, ký lô đường cát, vài bao thuốc Capstan. Chỉ chốc lát khói lửa mịt mù. Cô nàng giới thiệu tôi với anh em và nói:

– Rất may là chúng ta gặp anh Hai. Tôi yêu cầu ảnh ra gặp anh em mình để giúp đỡ. Lương thực đã cạn, thuốc men không có…

Một anh chàng chừng mười bảy tuổi nói:

– Chúng em nghe cấp trên bảo đánh được cứ điểm nào hãy cầm cự chừng một tiếng đồng hồ thì đại quân tới tiếp viện. Nhưng tụi em năm mấy tiếng đồng hồ, chịu cho tụi nó bên trong “tróc” M79 muốn nát lưng, rốt cuộc không có ma nào đến, tụi em phải rút.

Tôi gỡ gạc:

– Tại đại quân đi lạc đường nên kẹt ở Quới Xuân không vào được kịp thời.

Những cặp mắt đầy nghi ngờ đổ về phía tôi. Tôi biết họ không tin tôi nhưng họ không dám cãi lại hoặc hỏi tiếp. Xưa nay quyền nói láo tuyệt đối là quyền của cấp trên. Bọn cá kèo chỉ biết cúi đầu vâng theo.

Tôi hỏi:

– Cậu nào đánh đài phát thanh? Cậu nào đánh Tổng Tham Mưu, Tòa Đại Sứ Mỹ?

Một cậu người Bắc nhanh nhẩu:

– Chúng em chẳng biết đài phát thanh hay Tổng Tham Mưu gì cả. Mà cũng chẳng biết mục tiêu mục tiếc gì. Cả chỉ huy cũng không biết. Nghe xa xa có tiếng súng nổ, đồng chí đại đội trướng bảo bắn. Thế là cứ nhắm bóng đèn mà lia hoặc thấy nhà nào to lớn là xả súng vào.

Một anh chàng băng chéo qua mặt lấp mất một bên mắt nói giọng giận dữ:

– Đụ mẹ thằng Bắc Kỳ mắt toét (Chín Lộc) bảo tụi em rán cầm cự một tiếng đồng hồ thì có công trường 9 tới, tới mụ nội tôi chớ tới đâu.

Út Tẻo giới thiệu thêm:

– Nó tên là Bảy Tăng, chỉ huy đánh Tòa Đại Sứ Mỹ đó anh Hai. Còn em và thằng Nam Hỏi đánh đài phát thanh. Thằng Hỏi bị súng M79 bắn xẹt ngang mép rụng trụi hết hàm răng trên, băng bịt miệng nói không được nên nằm đăng kia im rơ… Cuối cùng tụi em biết thằng cha mắt toét gạt nên em bảo đánh mìn cho tụi mình chết hết, thành chiến sĩ vô danh, hoặc chui xuống cống mà ra. Tụi em lớp chết lớp bị thương. Lỡ vô rồi ra không được, em bảo bỏ xác đó tìm đường chui ra.

– Rồi làm sao bay lết về tới đây được.

– Đó là nhờ sáng kiến của bà “Thúy Kiều” này nề. Bả bỏ tụi em vô hòm đậy nắp lại, lính gác Cầu Bông mới cho qua. Bây giờ nằm đây chờ đi quân y mà không ai rước. Nhiều đứa còn miệng trong người đau nhức la om, nhất là mấy ông Ba Ke. Các ông chửi tiếng trọ trẹ em nghe không được tức cười quá tay, nhưng càng cười vết thương càng nhức. Đụ bà ! Xin lỗi anh Hai nghe! Một lần thì tởn tới già . Em không chơi trò này nữa. Em xin về bộ binh với anh Hai. Chết cỏn xác.

Một giọng Bắc nhói lên:

– Địt bố chúng nó , đem con bỏ chợ !

Tôi trở vào nhà. Bữa cơm sáng đã dọn trên bàn. Tám Râu vui vẻ:

– Mời “toa” ăn cơm. Cháu Kiều cũng ngồi đây luôn với cậu.

Tôi ngồi ăn mà buồn tênh, gan ruột rối bời. Hình ảnh vợ Tư Nhựt bế con đi lang thang chưa nhòa trong đầu tôi, bây giờ lại đến đám đặc công nheo nhóc này. Đang ăn bỗng có trinh sát chạy tới gọi tôi về chỉ huy sở. Thì ra Sáu Huỳnh. Coi bộ anh Sáu bầy trẻ không được lạc quan lắm. Anh đang ngồi nghe đài với ban chỉ huy D.

Tôi vọt miệng hỏi:

– Quân ta chiếm tới thị xã thứ mấy rồi anh Sáu?

– Thôi mày! Đừng có tếu.

– Hôm qua tôi nghe đài nói mình đã chiếm thành phố Huế rồi mà !

– Ừ chiếm Sài Gòn rồi nữa!

Nói xong Sáu Huỳnh đứng dậy bước lại lôi tôi ra góc rơm, chỗ hai con bò đang nhơi:

– Bà Sáu Thiệt bị bắt rồi.

– Ở đâu? Hồi nào?

– Mới bữa nay. Trong giỏ trầu của bả có quả tang cây K54. Bả đang luồn trở lại Sài Gòn để triển khai kế hoạch đợt hai của Bộ Tư Lệnh. Như vậy phải thay đổi toàn bộ.

– Sao vậy?

– Thì đề phòng bả khai ra hết chớ sao.

– Bả là vợ ông Hộ đảng viên kỳ cựu mà !

– Kỳ gì kỳ, nó cho uống nước xà bông cũng phải “ói” ra -Sáu Huỳnh than- Cơ sở ở Sài Gòn bị lộ hết rồi! Vợ con thằng Tư Mạnh thợ may bị tóm hết, vợ con tao cũng không dám ở nhà.

Tôi đang tự hỏi: mấy chuyện đó ăn nhập gì với mình mà Sáu Huỳnh cho biết. Bỗng Sáu Huỳnh bảo tôi:

– Cái vụ thằng em Thủy Quân Lục Chiến của mày bị thằng mắt toét nêu ra ở cuộc họp với khu ủy vừa rồi, nhưng tao đánh hơi biết. Tao hỏi thằng chả , thằng chả chối ngang.

Nghe tin B52 tôi không sợ bằng mấy cái tin hành lang này. Tôi đã báo cáo với Ba Thắng ở R hồi đại hội mừng công. Rồi Chín Lộc bàn với tôi. Tôi đã móc nó vào Ràng, nhưng đường ai nấy đi.

Thế mà vụ tổng tấn công vỡ lở, chuyện đó lại trở thành vấn đề!

Một thằng thiếu nhi đi theo kháng chiến từ 1945, ở trong quân đội hai mươi năm liền, bị thương cả chục lần, đánh cả trăm trận, chết hụt không biết mấy keo lại bị tình nghi là gián điệp. Nếu hồi đó tôi làm gián điệp thì tôi chỉ cần nói một câu là rục tùng cả Mặt Trận Giải Phóng và R.

Chương 90

Quân đội nhân dân
không lấy cây kim sợi chỉ của dân

Thằng Tăng thằng Tẻo đều là lính cũ của đất Củ Chi, nghe bọn công tác thành dụ khi “thăng ba cấp” thì mừng lắm nên cuốn gói đi theo, tưởng đóng lon thượng úy dễ dàng, chẳng dè bây giờ đứa gãy tay, đứa bể đầu mà không có một viên thuốc, thì mới sáng mắt ra. Bây giờ nằm ở trong cái vựa lúa địa chủ mà chửi cha lãnh tụ vô sản.

Tám Râu chơi thiệt điệu. Anh cho làm heo vật bò đã tiểu đoàn trên một ngàn miệng ăn. Rượu uống thả cửa. Bọn chỉ huy tiểu đoàn cùng ngồi bàn với hắn uống toàn rượu Tây, rượu Mỹ.

Sau tiệc rượu, anh mời tôi vô buồng, nhắc ghế cho tôi ngồi rồi nói với giọng trịnh trọng, tỉnh tuồng không có vẻ say sưa:

– Bữa nay là tiệc liên hoan chiến thắng bộ đội hạ đồn Thái Mỹ, đồng thời cũng là bữa tiệc tạm biệt với “toa”. Lâu nay “moa” cảm phục tài năng và đạo đức của “toa” và bộ đội “toa”. Đóng quân ở đây không có động đến tài sản của dân, không khuấy rầy dân mà lại giúp đỡ dân tận tình.

Tám Râu hé cửa sổ chỉ tay ra phía ngoài:

– Bây giờ bà con đang xách gà tới nhờ vô máu trị bịnh thiệt tài tình.

(Ở một chương trước, tôi có nói sơ qua về phương pháp vô máu gà trống tơ cho người bịnh hoặc người khỏe mạnh. Hồi thời kháng chiến chống Pháp có cách cấy nhau đàn bà đẻ được truyền từ Liên Xô gọi là cấy Phi ta tốp (Filatov). Do cũng là cách trị bá bệnh rất thần hiệu, không hiểu tại sao Tư Bản không chịu học tập lại rẻ tiền này?

Gà trống tơ được bắt trói kỹ lưỡng rồi giở cánh ra, bác sĩ Năm Hồng của quận đội tới lấy ống kim chích vào nách rút máu rồi tiêm vào mạch máu cho bà con. Theo lời truyền miệng thì nhiều bịnh đàn bà và nhất là chứng biếng ăn mất ngủ được trị có kết quả lắm. Một con gà trống tơ có đủ số lượng máu truyền cho bốn, năm người. Từ sau trận Thái Mỹ, bác sĩ Năm Hồng không hở tay. Anh ta phải truyền nghề cho mấy cô y tá mới đủ sức phục vụ đồng bào).

Nghe Tám Râu nói, tôi tiếp lời ngày:

– Đó chẳng qua là đáp đền ơn nghĩa của đồng bào ở vùng An Phú này thôi anh Tám ạ. Có đáng chi mà anh phải nhắc.

Tám Râu dường như không để ý câu nói của tôi, giọng anh cảm động:

– “Moa” sắp phải xa “toa” rồi, Hai Lôi à !

– Anh đi đâu?

“Moa” phải về Sài Gòn -Tám Râu không để tôi hỏi lý do, nói tiếp- Tài sản này tôi xin giao lại cho anh làm chủ . Tất cả ! Từ hột lúa đến ngôi nhà, từ chai rượu đến con cá dưới ao, anh thay mặt tôi mà sử dụng cho cách mạng. Ngày nào còn gặp “toa” thì “moa” sẽ tính tới.

– Anh Tám nói gì vậy?

– Tôi nói thật mà, thật tự đáy lòng chớ không đùa.

– Hay là trong lúc đóng quân ở đây, anh em có làm điều gì phật ý anh chăng?

Tám Râu xua tay:

– Bộ đội của anh thật là có kỷ luật cao. Chỉ huy làm sao thì lính làm vậy. Tôi đi là vì tình thế bắt buộc chớ không phải do sự giận hờn, phật ý các anh. Xưa nay sở dĩ tôi ở đây là vì vùng này còn nguyên lành, chưa bị một phát đạn nào. Chớ nếu có thì tôi đã không có cái hân hạnh làm quen với một sĩ quan tài ba như “toa”? Đó là thật lòng của “moa”. Xin “toa” đừng nghĩ khác!

Nói xong Tám Râu móc trong ngăn kéo lấy ra một gói vuông vắn buộc ràng cẩn thận, rưng rưng nước mắt:

– Đây là số bạc mọn. Một nửa “moa” tặng cho “toa”, còn một nửa tặng cho anh em chi dụng. Khi nào “toa” uống rượu thì nhớ uống giùm “moa” một ly nhé !

Rồi Tám Râu đứng dậy ôm tôi hồi lâu. Tôi hiểu ý anh. Ngoài tình cảm riêng tư giữa hai người, anh còn muốn tôi trở thành người trong gia đình của anh. Chẳng là lâu nay, anh có ý xe duyên cho tôi với cô Trúc Mai, cháu kêu anh bằng cậu đang học ở trường Gia Long, Sài Gòn. Ngờ đâu, Trúc Mai là chị của Huỳnh Mai, người con gái đã yêu tôi lúc tôi làm đại biểu đoàn 69 đánh sân bay Biên Hòa đọc diễn văn trong đại hội mừng công năm 1964. Huỳnh Mai đã gửi thư về nhà cho Trúc Mai biết về mối tình của chúng tôi. Rồi sau đó, R ăn B52, Huỳnh Mai chết không để lại một dấu vết gì. Khi tâm sự với tôi, Trúc Mai hỏi tôi có quen với ai tên Huỳnh Mai không. Tôi lắc đầu một cách hồn nhiên. Cũng may, lúc đứng ra đọc diễn văn trước đại hội, tôi được ban tổ chức không cho mang một tên tuổi nào, cho nên Huỳnh Mai cũng gọi tôi bằng một cái tên khác do tôi bịa ra (cũng như Chín Vinh, Tư Chi vậy .) Tám Râu mong muốn trói chân chim bằng một sợi tóc Trúc Mai. Nhưng lòng gã Thiên Lôi như lượn sóng thủy triều có khi nào chịu dừng lại ở bến bờ nhất định nào, cho nên rồi lại bỏ lỡ cơ hội trong khi cánh cửa hạnh phúc đang mở trước mặt chàng.

Trở về đơn vị, tôi nằm không yên. Không phải vì mối tình Trúc Mai chớm nở mà chính vì sự rời bỏ quê kiêng của Tám Râu. Lâu nay đất An Phú là ốc đảo hòa bình. Dân giàu có, thực phẩm sung túc phủ phê. Cách mạng dựa vào đó như một bức tường hiếm có. Bây giờ chiến trận nổ bùng. Tụi N10 của cô Kiều đóng đô ở đây kéo theo vệt máu chưa khô từ Sài Gòn, kế đó đơn vị của tôi đánh đồn Thái Mỹ. Không khí yên ổn đã bị phá tan. Rồi đây bom đạn sẽ đến. Tám Râu là người hiểu biết tình hình và biết cách đối phó. Anh đóng thuế cho “nhà nước giải phóng” cả ngàn giạ lúa, tặng chơi một kỳ lạc quyên năm trăm giạ. Đây là loại người có thể xếp vào hàng bà Nguyễn Thị Năm ở Thái Nguyên hồi đầu cách mạng 45. Thế nhưng sau khi bác đảng về thủ đô bà bị cách mạng Cải Cách Ruộng Đất đấu tố Bà “chị nuôi” cụ Hồ kêu lên “ông em” là chủ tịch nhà nước nhưng ông em nuôi ngoảnh mặt làm ngơ để cho bà chị bị xử bắn. Có lẽ Tám Râu sợ phải vướng vào cái cảnh của bà chị nuôi của Hồ nên dông trước cho yên thân, một là tránh bom đạn, hai là đề phòng bọn Ba Bê, Năm Nhân, huyện ủy Trảng Bàng chăng?

Nghĩ thêm về cách mạng tôi thật không hiểu. Như tôi, dày sành đạp sỏi hai mươi năm đi trên đường cách mạng, thế mà họ nghi tôi là gián điệp. Cũng bởi vì tôi không chịu móc thằng em đại úy Thủy Quân Lục Chiến của tôi làm một trận binh biến như Phùng Văn Mười ở Bình Dương năm 63? Ai ở cho vừa lòng cách mạng?

Đang nằm thiu thiu thì có tiếng quào quào đầu võng. Tôi ngóc dậy thì thấy một bóng người nhỏ thó.

– Anh Hai, anh… Hai, cho em báo cáo.

Tôi biết ngay đó là thằng Đá, liên lạc của tôi. Nó là người Bắc, học sinh lớp 8 bị bắt đi giải phóng miền Nam.

– Có chuyện gì vậy Đá?

– Em mới bắt được cái gói này.

– Gói gì?

– Thủ trường đi xuống hầm rồi em trình bày.

Vùng này chưa bị bom đạn nên lính ngủ trên mặt đất. Riêng tôi thì các cận vệ mến anh Hai nên đào cho anh Hai một cái hầm tạm tạm khá hơn mèo quào một chút. Thấy thằng bé nói có vẻ quan trọng tôi bèn xuống hầm, nó bò theo.

Tôi móc đèn pin rọi lên thì nó cũng vừa đưa cái gói ra. Tôi cầm lấy cái gói, chỉ bóp bóp không cần mở ra cũng biết là vấn đề gì rồi. Tôi hỏi ngay:

– Của thằng Thượng phải không?

– Trời, sao thủ trướng biết tài vậy?

– Cậu nó là Năm Thơi, trước là C phó của tao. Sau đánh mấy trận ở Cây Trắc, Dầu Bà, tao đề bạt lên C trưởng, rồi trước khi đi xuống Sài Gòn, tao bảo Tư Nhựt chọn nó lên phó chính trị viên D. Nó đánh giặc ít sáng kiến, nhưng không bỏ mặt trận, nhờ tánh lỳ.

Thằng Đá nhìn tôi ngạc nhiên. Tôi tiếp:

– Cậu nó bảo nó trốn về tìm tao xin nhập vô D7, còn y ở lại dưới đó. Mày lấy cái bọc này ở đâu vậy?

– Dạ, lúc đi hái ngó sen ngoài đầm.

– Sao mày lấy được?

– Dạ… -thằng Đá ngập ngừng- Dạ… lâu nay em chú ý thấy nó đi đâu cũng ôm tò tò cái bọc, không dám rời ra. Em nghe trong đơn vị xầm xì mấy ông đào ngũ từ Sài Gòn về bị bắt giam bên suối Gò Gấu, một số được trả về đơn vị cũ.

– Đơn vị cũ còn đâu mà về.

– Dạ thì em nghe vậy thôi. Còn một số thì bị đi tù. Ai về cũng có thắt lưng một số vàng. Có ông được cả bụm dây chuyền hoa tai.

Tôi làm bộ hỏi:

– Vàng ở đâu mà giắt lưng?

– Dạ thì họ lấy của người ta ở dưới đó.

Tôi chìa cái bọc để cắt ngang câu chuyện:

– Công mày phát hiện, tao cho mày lấy vài món, còn bao nhiêu tao báo về trển.

Thằng Đá xanh mặt:

– Dạ, xin thủ trưởng đừng báo cáo tên em trong đó. Rủi ở trên hiểu nhầm, em mất hết danh hiệu giải phóng quân. Em có đọc mười lời thề trước khi đi.

– Tao không ghi tên mày đâu!

Tôi vừa nói vừa thọc tay vào bọc lôi ra một cái đồng hồ rồi mằn mặn rút thêm một sợi dây chuyền, bảo:

– Đồng hồ thì mày đeo. Còn dây chuyền thì đem về Bắc cho em gái hoặc chị mày.

– Dạ em không có chị em gì hết.

– Cái thằng! không có thì cất đó sau này cho người yêu! Bộ mày tính không cưới vợ à?

– Dạ em đâu có chắc còn sống mà cưới vợ.

Tôi nhét đại vô túi nó rồi bước đến ngả mình trên võng.

Đây không biết là vụ trộm thứ mấy của đoàn giải phóng thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng. Lúc nãy nghe Tám Râu khen tôi hãnh diện bao nhiêu, bây giờ tôi xấu hổ bấy nhiêu. Tội nghiệp bác Hồ, “người tổ chức và rèn luyện quân đội ta” hiện giờ nằm ngoài Hà Nội cũng trên chiếc võng chờ tin chiến thắng như tôi. Chắc bác tưởng tượng cảnh các cháu bác anh dũng tiến vô giải phóng Sài Gòn để gắn tên bác lên chói lọi ánh mặt trời Đông Phương Hồng và hàng ngũ răm rắp, lưỡi lê tuốt sáng giới, đầu ngẩng cao, mũ lóe rực sao vàng, nào ngờ đâu đó chỉ là những tên ăn cướp một đám cướp được tổ chức rất chu đáo có tên là giải phóng quân. Đập tủ kiếng thợ bạc, hiệu vàng, quơ hết thiệt sướng tay. Trong chiến tranh chúng đã lòi mặt thật, trong hòa bình cái mặt nạ giải phóng càng rơi nhanh.

Chiều hôm sau tôi kéo quân về Củ Chi, các tổ hỏa đầu quân, anh nào cũng mang theo một soong thịt gà kho sả. Đó là kết quả thiết thực nhất công tác vận của bác sĩ Năm Hồng, những chú gà bị hút máu xong chết ngoẻo bị đem ra vặt lông làm thực phẩm.

Như vậy là tôi có trong sắc cốt mấy chục cái đồng hồ, còn nữ trang thì không biết bao nhiêu, tôi không đếm hết. Tôi định họp ban chỉ huy D để bàn cách giải quyết, nhưng họp hành bàn cãi thế nào cũng lọt tai chiến sĩ, sẽ có dư luận không tốt, nên tôi âm thầm chuồn cho mấy cán bộ nghèo, vợ con nheo nhóc, một số thì tôi giao cho Năm Tiều để ông tặng mấy bà vợ của ông, một số tôi cho anh nuôi, trinh sát, pháo thủ để họ coi giờ thi hành nhiệm vụ.

Cả chục chiếc dây chuyền, cà rá, lắc… thì giữ lại để cho em. Ngoài ra không quên một chiếc đồng hồ cước cạnh để dành cho Chín Nữa, người đã cho tôi radio lẫn đồng hồ. Đời tôi chưa bao giờ thấy trận nào lấy được nhiều chiến lợi phẩm của “địch” như thế! Cây kim sợi chí không thèm lấy của dân mần chi. Trận Mậu Thân thật vĩ đại!

Một đêm tôi đang ngủ có người kéo chân tôi.

– Ai đó?

– Đá . dạ Đá.

– Bộ mày chỏm được cái túi khác hả?

– Dạ không, thằng Thượng muốn gặp cậu.

– Biểu nó lại đây.

Một chập sau, Thượng gặp tôi. Tôi hỏi ngay:

– Mày tính sao?

Nó sụp lạy tôi, rên rỉ:

– Cậu Hai ơi. Cậu cứu giùm cháu.

– Ơ kìa, chuyện gì vậy nhỏ?

– Chắc phen này cậu Năm cháu giết cháu mất.

Tôi biết tỏng nhưng còn làm tỉnh:

– Mày về đây chiến đấu dưới quyền của tao, còn sợ gì nữa?

– Dạ, em làm mất một trăm ngàn, mười lăm cái đồng hồ và dây chuyền cà rá.

– Ở đâu mà y có?

Thằng Thượng im lặng hồi lâu. Tôi đốt thuốc và hỏi:

– Mày đánh mất ở đâu?

– Dạ không biết đứa nào nó khuấy chơi lúc em lặn dưới đầm để nhổ ngó sen với con Ẻng.

Tôi giả bộ đánh trống lảng:

– Mày lặn xuống đó thấy cái gì của nó không?

– Đâu có mở mắt ra được mà thấy anh Hai.

– Rồi đứa nào quơ cái bọc của mày?

– Em nghi thằng Đá với tháng Tiền nhưng chúng nó chối. Tiền thì cẩu cho em hai ngàn để xài chơi, còn lại bao nhiêu gộp với đồng hồ, cà rá, cẩu dặn em đem về đưa cho mợ Năm em làm vốn món ăn nuôi con, cẩu trối lại như vậy. Cẩu không còn trở về trông thấy mặt mợ Năm em nữa đâu.

– Mợ Năm mày ở đâu?

– Dạ ở trên Trảng Cỏ.

– Mày có thương đứa con gái nào không?

– Dạ… không… có.

– Sao không lại có?

– Dạ không có thương đứa nào hết.

– Tao biết mày thương em gái chị Ba Cưng ngoài Ràng.

– Dạ hổng có.

Tôi tra hoài, nên nó khai thật:

– Dạ em thương con Múi em chị Mầu, em gặp nó hai ba lần mà không biết nói gì. Bữa nọ em gặp, em nắm tay đại, nó giựt lại, nó còn nói nó sẽ thưa ban chỉ huy C, em sợ quá nên không gặp nó nữa.

Tôi móc xắc-cốt lấy ra sợi dây chuyền vàng có tấm lắc đưa cho nó và bảo:

– Bữa nào mày gặp nó mày cho nó sợi dây này thì nó sẽ thương mày, nó không mét ban chỉ huy nữa đâu.

– Thiệt hả anh Hai?

– Còn gói đồ của mày tao cất kia. Nhưng mày phải khai thật, ở đâu mày có nhiều đồ quý vậy. Nói láo tao không che chở được.

– Hu hu…

Thằng Thượng bật khóc. Tôi quát nó nín. Nó vừa quẹt nước mắt vừa kể lể:

– Cậu Năm em không biết sống chết, còn ông Tư Nhựt, Năm Truyện, Tư Chi thì chết hết rồi. Đoàn bộ (tức văn phòng E và các cơ quan trực thuộc như thông tin, liên lạc, trinh sát, hậu cần…) đều bị pháo dập nát hết từ phút đầu. Ai còn sống sót chạy ra ruộng đều bị “cá nhái” bắn chết sạch. Ai lội được qua bên phía bên kia sông đeo núp trong đám dừa nước thì còn sống. Nhưng tụi nó đổ quân ném lựu đạn vô bụi rậm, lớp bị thương, lớp bị tức nước nổi phình như cá bể bong bóng. Sông rộng, có đứa chết chìm.

– Sông nào?

– Sông nào không biết sông nào.

– Mày đi cánh nào, có du kích dẫn đường không?

– Dạ, em theo cậu Năm em. Ổng được thăng phó chính trị viên D, chỉ huy D2 thuộc E cửa ông Tư Nhựt, đánh vô thành Cổ La Cổ Lư gì đó .

– Cổ Loa, là căn cứ pháo binh Sài Gòn.

– Dạ, còn D1 và D3 thì đánh vô Tân Sơn Nhút. D em có một ông già với một du kích dẫn đường. Gần sáng mới tới nơi. Em bò, thấy đèn sáng trưng mà hồn vía lên mây. Hồi nào tới giờ đâu có thấy đèn như vậy. Dây kẽm gai dày bịt, không có cuốc xuống để đào công sự như hồi ở Củ Chi anh chỉ huy. Cậu Năm em trỏ vô trong bảo: “Tụi nó ở trong đó! Tụi bay nằm đây chờ lệnh”. Không có kềm để cắt dây kẽm thì làm sao vô được.

Tôi hỏi:

– Còn Tư Nhựt ở đâu?

– Dạ ở đâu em đâu có biết! Nằm dưới ruộng nước lạnh run. Trên đường xe lam, xe gắn máy chạy như tên bắn, em hụp đầu xuống cỏ chờ lệnh, ngó lại thì thấy cậu Năm em biến đâu mất. Bỗng nghe tiếng súng nổ thì em biết có lệnh trên. Lính không băng không chui qua lưới chì gai được nên phải ào vô cổng, bị tụi nó xả trung liên chết có đống ngay trước cổng, có đứa nào vô lọt được đâu. Bên trong tụi nó hạ nòng pháo bắn thẳng chọn đường mình vô. Mấy đứa vọt qua được cổng thì quay trở ra nhưng không ra được.

– Năm Thới lúc đó ở đâu?

– Dạ cậu Năm em đi đâu không biết. Tụi em còn mấy đứa lủi đại vô phố và nhà dân. Dân chạy tán loạn. Tụi em mới thừa cơ đập tủ kiếng lấy đồng hồ và nữ trang. Lúc này em gặp cậu Năm, ổng đưa cho em một bọc, bảo: “Tao lựa toàn thứ tự động”. Lệnh trên là bám trụ tại chỗ, chờ viện trợ tới. Hồi mới phát xuất cũng nói vậy. Đơn vị nào chiếm được căn cứ thì nằm tại đó sẽ có đại quân tới tiếp cứu. Nhưng nằm cả ngày đâu thấy ai. Cậu Năm em ra lệnh rút lui. Cậu bảo em rán tìm đường về Củ Chi, còn cậu rút về An Phú Đông.

– Sao mày biết An Phú Đông?

– Dạ, em nghe vậy thì hay vậy chớ đâu biết An Phú Đông là đâu. Cậu dặn em cứ đem cái bọc về cho mợ Năm em… chớ cậu chắc hết về.

– Còn tiền bạc ở đâu mà có tới cả trăm ngàn?

– Dạ đó là tiền của tiểu đoàn!

– Đưa cho mày rồi đơn vị lấy gì ăn?

– Dạ, đơn vị đâu còn ai mà ăn!

– Chết hết sao?

– Dạ, thì như em báo cáo lúc nãy. Đâu còn ai mà ăn. Mạnh ai nấy quơ hốt kiếm ăn . Nhưng em không biết đường đi cứ đeo theo cậu Năm và một tốp còn sống sót bị thương qua rạch Bến Cát. Lại bị pháo đuổi, trực thăng rượt theo nên phải trở lại.

– Trở lại đâu?

– Dạ em nghe cậu Năm nói là An Nhơn hay Gò Vấp gì đó. Ở đây lại đụng với Nhân Dân Tự Vệ, lớp bị thương, lớp bị bắt, phải cõng nhau chạy trốn. Tụi Bắc Kỳ đầu hàng hết cả đám. Tụi em gặp nhau chừng chục rưỡi, đứa ở C cối, thông tin. Cậu Năm ra lệnh mò trở lại lôi xác bỏ xuống mương lạng trong vườn lấp đất. Tưởng vậy đã êm, nào ngờ đầm già phát hiện kêu pháo bắn, phản lực tới ném bom. Cậu Năm với em lạc nhau. Em không biết đi đâu nên cứ nhắm hướng may rủi, lủi tìm đường về. Ở dưới đó sẽ chết. Em về tới sông Rạch Tra, lên đường số 8 qua lối Trung An mới chắc mình còn sống! Hu hu -Thằng Thượng lại bật khóc- Cậu Năm em không biết sống chết, ổng hy vọng có chút tiền gởi về cho mợ Năm mà em không đem về được.

Trước thảm cảnh của gia đình Năm Thới, tôi bảo:

– Tiền đó là tiền ăn của D2, tao phải giữ lại để khi họ về đây tao đưa cho họ mua gạo. Còn một mớ vàng đây mày đem về cho bả. Nhưng đừng có nói um lên rồi tụi nó nói bộ đội giải phóng là ăn cướp nghe không. Nay mai biết đâu tới đơn vị mình xuống đó, sẽ bắt chước đập kiếng của người ta.

Thằng Thượng vui vẻ trở lại:

– Thú thiệt với anh là em không có đập cái tủ kiếng nào hết, nhưng tụi nó đập thì em cũng hôi vài cái. Cậu Năm em bảo: “Có lấy thì đừng lấy hết, phải chừa lại cho người ta vài cái”.

– Rồi mày có chừa không?

– Dạ chừa gì được mà chừa? Em chừa thì tụi khác quơ sạch, chừa cũng như không, nên em không chừa. Chậc! Đánh giặc gì kỳ quá anh Hai à!

– Sao kỳ ?

– Em đánh mấy trận với anh, thì anh ra lệnh rõ ràng. Hướng giặc đi, lệnh nổ súng, lệnh rút lui, thương binh tử sĩ có người cáng, hướng rút quân… nên em không sợ hãi. Còn ở đây bắn thì mạnh ai nấy bắn, không có đội ngũ gì hết, rút thì cũng mạnh ai nấy rút, không có lệnh lọt gì ráo. Mà bắn cũng không biết bắn mục tiêu nào. Địch ra sao cũng không trông thấy.

– Vậy ông Tư Nhựt đâu?

– Em không biết.

– Có dây thông tin không?

– Lúc em chạy thì có thấy dây điện quấn trên cây nhưng không biết của mình hay của địch.

– Mày có nghe ông Năm Truyện còn sống hay chết?

– Năm Truyện nào?

– Ổng là Tư Lệnh Mặt Trận A đánh vô Tổng Tham Mưu đó. Mày đi trong cánh của ông mà không biết sao?

– Em không biết gì hết. Chỉ nghe xầm xì là ông Tư Nhựt, ông Hai Phái đều chết ngay ở trận đầu. Nhưng người ta giấu lắm.

– Tại sao Hai Phái chết?

– Dạ em không biết.

– Tao ở nhà còn biết. Ổng hô đáng viên Cộng Sán tiến lên thì bị bắn vén ót, có không?

– Sao kỳ vậy mà em không biết. Có lẽ nào lính lại bắn chỉ huy? Như cậu Năm em, có ai bắn ổng đâu. Bị rượt cùng đường, ổng bảo lính: “Đứa nào giỏi thì chui tìm đường sống. Tao hết khả năng rồi. Thằng nào muốn lên thay tao, cứ lên!”

Sau đây tôi xin nêu ra tổ chức các Bộ Tư Lệnh Tiền Phương trong đợt một đánh vào Sài Gòn để bạn đọc rõ:

Lê Đức Anh, được nâng lên hàng thứ hai trong Chính Trị Bộ, chỉ sau có Đỗ Mười. Ở R tên là Sáu Nam, bị con gái mắng thẳng vô mặt là “tên Công Sản vô liêm sĩ” vì thành tích mò các cháu gái và có vợ bé. Hắn phát cáu, tát cho con gái một tát giữa buổi tiệc rồi sau hắn lén đến xin lỗi. Nay bị trời hành thành ..Lê Ngoạ Triều.

Trước nhất là căn cứ của tổng chỉ huy do các tướng đầu bò Bắc Kỳ làm chủ. Căn cứ được đặt tại Long Nguyên trong khu rừng già thuộc ấp Nhà Mát xã Long Nguyên quận Bến Cát, cách Sài Gòn chừng năm chục cây số đường chim bay, cách quận lỵ Bến Cát mười ba cây số, cách căn cứ Lai Khê của sư đoàn 5 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mười cây số về phía Tây Bắc, bên một dòng suối đổ ra sông Thị Tính. Phía dưới ấp này là Suối Tre, cũng đổ ra sông Thị Tính. Độ cao mặt đất từ 32 đến 44 thước so với mặt biển.

Long Nguyên có đường lộ đá đỏ chạy từ quận lỵ Bến Cát lên đồn điền cao su Dầu Tiếng do chủ sở Michelin Tây xây đắp từ khi có đồn điền này để cho xe chủ sở hay xe mủ chạy. Có những cầu sắt và cầu đúc xi măng bắc qua những nhánh suối ăn thông với sông Thị Tính (Việt Cộng gọi là cầu đen hoặc cầu trắng). Còn có con đường đá đỏ khác, thời các sở cao su còn hoạt động để cho xe sở chạy từ Bến Súc đường 14 qua Long Nguyên (gọi là Đường Long), phải qua cầu sắt bắc qua sông Thị Tính tại ấp Phú Bình, nhưng hai con đường này và các cây cầu đều bị Việt Minh phá hoại từ lúc kháng chiến đánh Tây. Nay chỉ có người đi bộ qua lại được thôi.

Mặt mũi trông xinh tệ. Ai đây? Tên Trần Văn Trà, bí danh ăn trộm: Tư Chi, giải phóng gọi là Tư Chè, tình địch hèn hạ của Thiên Lôi. Một tên liếm bát rất sạch cho đám Bắc Kỳ, nhưng cuối cùng, vì tranh ăn mà bị đá văng ra khỏi mâm cỗ. Năm 1949 ở Tháp Mười, luật sư Lê Đình Chi bị bom chêt, hắn tới định chôm bà goá còn măng. Bà này muốn thủ tiết với chồng nên đưa con gái ra dưng dưa để trám miệng hắn.

Trong chín năm đánh Tây, nơi này từng là căn cứ của Bộ Tư Lệnh Nam Bộ, sau khi Nguyễn Bình bị kêu về Bắc, giao lại cho Trà là tư lệnh và Lê Đức Anh làm tham mưu trưởng, xuất phát từ căn cứ Long Nguyên. Trà cho mở chiến dịch Bến Cát đánh dọc quốc lộ 3 và trên sông Sài Gòn. Lực lượng gồm có D302, 303, 304 của E Đồng Nai cũ, cùng các lực lượng địa phương của tỉnh Gia Định do Tô Ký chỉ huy. Trong chiến dịch này Trà và Anh bị quân Pháp đánh thọc vào căn cứ phải bỏ chạy khỏi Long Nguyên về Đất Cuốc quận Tân Uyên tỉnh Biên Hòa, để sau cùng phải chạy lên chiến khu Dương Minh Châu tỉnh Tây Ninh, rồi lên tận Sóc Xoài gần biên giới Việt Miên sau này là căn cứ R.

Bây giờ cũng chính Trà cho hồi sinh căn cứ Long Nguyên để cho Bộ Chỉ Huy R ẩn náu. Năm 67 (vào khoảng tháng Bảy) một trung đoàn Công Binh (429) do Tư Cường chỉ huy từ R xuống đây thiết lập căn cứ “vĩ đại” này, gọi là căn cứ của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương do Ba Xu đặc trách. Quyết định ở trên phải hoàn thành trước Tết Mậu Thân để kịp sử dụng trong cuộc tổng tấn công.

Tôi đã từng đến các căn cứ của Năm Lê, Ba Xu. Đây chỉ là trò chơi của trẻ con so với cái căn cứ tiền phương này.

Các bạn độc giả thử tưởng tượng hơn một ngàn nhân công (lính công binh) làm việc mỗi ngày: đào đất, cắt cây, khiêng vác… trong vòng sáu tháng. thì cái hầm Đờ Cát Tri có lẽ còn thua xa.

Hầm dưới đất hình nón, cây làm đà ngang đà dọc và trụ cột bề kính ít nhất ba tấc, bề sâu ba mét, nắp đắp đất dày ba mét, vách đất dày hai mét. Gồm có phòng ngủ cho các tên tướng đầu bò (có phòng đặc biệt cho tên Sáu Di) có phòng họp, có giếng sâu 23 thước., có bếp kiến trúc theo Hoàng Cầm, phòng chứa lương thực, quân y và vũ khí. Mỗi phòng ngủ đều có cửa lên xuống và tấm chắn dày hai mét. Các phòng ăn thông nhau bằng hầm ngầm có nắp, đặc biệt có máy phát điện nhỏ để cung cấp ánh sáng và có đường dây điện thoại giữa các phòng với nhau.

Nói tóm lại, đây là một thành phố nhỏ có thể chứa từ 100 đến 200 người do sức lao lực tay chân của bọn nô lệ da vàng gốc Nam Kỳ làm quần quật bất kể ngày đêm để cho bọn Bắc Kỳ xâm lược ăn cướp chính quê hương của mình và biến nó thành thuộc địa của đế quốc Bắc Kỳ mang danh hiệu Giải Phóng Quân.

Theo ý đồ “ở trên” thì kiến trúc khổng lồ này sẽ có thể ăn B52 mà không bị đổ nát (rõ thật ngông cuồng). Pháo 105 ly không hủy diệt được. Chúng không biết rằng chỉ vài quả pháo 175 hoặc hơn 100 ký thì nắp hầm sẽ bay tung. Còn bom đìa thì khoan sâu đến mười thước, sức phá bề kính là 100 thước, rộng bằng miệng đìa lớn, do đó nên có tên là bom đìa (mỗi quả nặng 750 pounds).

Sáu Di tức Nguyễn Chí Thanh bị một nhánh cây gãy rơi trúng đầu chết ngay không kịp ngáp ngay trước miệng hầm khi hắn vừa bước lên.

Lúc đó chưa xảy ra chiến trận. Hắn chỉ xuống đây xem qua cho biết sự tình, nào dè bị trời đoản mạng (trước khi hoàn thành hầm này).

Bộ Chỉ Huy tối cao trong trận Mậu Thân đóng trong hầm này, gồm:

1- Tổng Chỉ Huy: Trần Văn Trà; Phó: Trần Độ (Chín Vinh), Lê Trọng Tấn. Còn các tên khác như Hoàng Văn Thái (Đồng Văn Cống); Nguyễn Thị Định và Nguyễn Hồng Lâm (tức Hai Búa) không ra mặt hẳn và cũng không có ở trong này.

2- Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Phân Khu 1 : Ba Xu tư lệnh; Tư Trường chánh ủy.

Bộ Tư Lệnh biệt phái (tiền phương) do Năm Sài Gòn F trưởng công trường 9 làm tư lệnh; Tám Hà chánh ủy; Tư Chi (trung tá pháo binh) tham mưu trưởng. Cánh này đánh Tân Sơn Nhứt, Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Pháo Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Lực lượng gồm có:

+ E mũi nhọn do Tư Nhựt làm E trưởng, Hai Phái chính trị viên E.

+ Một E của công trường 9 đi tập hậu nhưng không vô được, chỉ tới Tân Thành Đông rồi quay về.

+ Một E của Năm Sĩ thuộc F304 thời Điện Biên Phủ tức E88 chỉ lọt được một D xuống khỏi Cầu Bông thì bị lính Dù chặn đánh tiêu diệt gọn. Còn hai D kia và E bộ bị mắc lầy ở Mỹ Hạnh, bị trực thăng và bom pháo xơi, kéo về Bến Chùa thì mất phiên hiệu, số tàn quân còn lại nhập qua cho Q16 của Ba Kiên (gốc 325 Bắc Việt).

+ Q16 của Ba Kiên không có xuống Sài Gòn mà làm nhiệm vụ kềm chế vùng trung tuyến Củ Chi Trảng Bàng với E268 để đánh phản kích, bị lữ đoàn Dù 173 Mỹ, xe tăng và sư đoàn 25 Mỹ xơi tái toàn bộ.

+ E268 đánh đồn Tân Thông và đồn Cầu Ván đều mang máu chạy rót, chết trên 300 lính và cán bộ A, B, C, D.

3- Cánh hữu ngạn sông Sài Gòn (tức Phân Khu 5) do Nguyễn Văn Sinh tức Ba Ngọt làm tư lệnh, (nguyên là lữ trưởng F330 về Nam làm trưởng phòng tác chiến, Cục Tham Mưu R). Theo kế hoạch thì cánh này sẽ gặp cánh của Năm Sài Gòn ở Gò Vấp để đánh chiếm Tân Sơn Nhất và tỉnh lỵ Gia Định. Gồm có các D Phú Lợi I, II, III của tỉnh Bình Dương, một E của công trường 7. Ba Ngọt thọc sâu xuống tới Xóm Mới, xã An Nhơn Gò Vấp thì bị Nhân Dân Tự Vệ bao bắt được.

4- Cánh phía Nam (tức Phân Khu 2 và 3) từ quốc lộ 4 vô Phú Lâm, Phú Thọ Hòa, Chợ Lớn do trung tá Hai Nan chỉ huy. Ông này đánh sơ sơ ba sợi vô tới Chợ Lớn rồi hồi chánh trong đợt một.

5- Cánh Rừng Sát Nhà Bè (tức Phân Khu 4) do Mười Đài làm tư lệnh, Tám Quang (chúa nói phét, kẻ tổ chức đám con gái “dũng sĩ”) làm chánh ủy. Bộ hạ gồm có Năm Kỳ Nam chánh ủy và Hai Lơn phó tư lệnh. Bọn này chỉ huy đám đặc công đánh hãng dầu ở Nhà Bè, nhưng chẳng được trò hề gì ngoài việc nã vài trái DKB (tức đạn khoan bê tông) vào hãng Shell làm cháy lam nham mấy cái bề hê Ba Tàu và cháy xà lan dầu gần cầu Phú Xuân.

Bọn đầu bò R ở trong căn cứ Long Nguyên này cho đến khoảng tháng Bảy 1968 thì cả bọn bồng bế nhau chạy lấy người qua xứ Cao Miên ở đậu. Khoảng tháng Chín 68 tôi có đến đấy để học tập về thành lập chính phủ ma do Huỳnh Tấn Phát cầm đầu và vụ đàm phán ở Paris. Vì vậy tôi mới có dịp đến đây ngó cái tác phẩm vĩ đại của Tư Cường công binh đoàn 429, nơi ghi dấu nhục nhã của chiến tranh Giải Phóng Miền Nam: cái chết của tên Sáu Di, đại tướng đầu đỏ.

Nói tóm lại, các cánh tấn công Sài Gòn đều đánh lam nham không một nhiệm vụ nào được hoàn thành 5%, 10% nhưng đài Giải Phóng và đài Hà Nội đều la ó ra rả suốt ngày đêm: đài phát thanh, cơ quan Tổng Tham Mưu, Tân Sơn Nhứt đều bị quân giải phóng chiếm lãnh hoàn toàn, các tỉnh lỵ lần lượt hết tỉnh này đến tỉnh khác được giải phóng, đồng bào ùa ra đường đón mừng quân giải phóng.

Mẹ kiếp, quân giải phóng ăn cướp đến đâu đồng bào chạy bạt mạng, không dám dừng lại dòm xuống dưới xem mặt quân giải phóng mồm ngang miệng dọc ra sao!

Chương 91

Tướng đầu đỏ tưởng bở
nhào vô Sè Goòng coi đã hết sức bà con ơi!

Một bữa trưa tôi mở đài Sài Gòn nghe tin tức để biết hiện giờ quân ta làm chủ được bao nhiêu phần đất của Sè Goòng rồi. Nào là Tổng Tham Mưu, Tổng Nha Cảnh Sát, Đại Sứ Quán Mỹ, đài phát thanh v.v… Nghe đài Giải Phóng nói thì ta đã làm chủ tình hình hết ráo rồi. Bỗng nghe đài phát ra một giọng mỉa mai:

… Tội nghiệp, có lẽ đây là lần đầu tiên thằng cháu bác Hồ thấy chiếc xe bình bịch. Chàng khoái quá bèn bảo ông chủ nhà mở máy cho chàng cỡi thử. Chàng ta leo lên khuỳnh tay, tưởng như xe đạp, mở hết ga tốc độ. Chiếc xe vọt như bay, cháu bác Hồ không biết tốp lại bằng cách nào, xe đụng vào tường nhà. Chàng ta vỡ sọ… há há

Tôi nghĩ như vậy quân ta cũng có vô được trong đó rồi. Nhưng mà vô tới đâu? Không nhất thiết ở giữa Sài Gòn mới có xe bình bịch.

Vừa tới đó thì có tiếng chân đi vào. Tôi ngó ra thì thấy hai người lôi thôi lếch thếch đi vào. Đó là Năm E quận đội trưởng và Sáu Hùm tham mưu trường quận đội Nam Chi. Mỗi người vác trên vai một bao con.

Từ ngày Tám Giò chết vì một quả pháo mồ côi ở Bố Heo thì chức quận đội trưởng cứ thay như thay tã. Cứ anh này lên được vài bữa là ngủm rồi anh khác lên, tới Năm E là người thứ tư. Còn Sáu Hùm là em Năm Hổ xã đội trưởng xã Phú Hòa Đông không biết tí nào về quân sự nhưng cũng bị bắt lên làm tham mưu trưởng quận cho có vị.

Tôi hỏi ngay hai người:

– Có việc gì hay đến thăm chơi vậy hai cha?

Năm E đáp:

– Lúc này ai rảnh mà đi thăm ai thầy Hai. Nghe nói thầy vừa làm được một cú ngon lành, tụi tôi đem đồ nhậu tới làm một bữa, sau đây cũng nhờ thầy phụ lực.

– Phụ lực việc gì. Tôi cũng bận lắm.

– Để nhậu ba sợi rồi hãy bàn. -Năm E trỏ hai cái bao và nói- Đây là hai bao, một bao là khô cá kèo, một bao là tôm khô Tôi ở dưới Phú Hòa Đông đóng đáy được khá lắm nên đem phơi khô để dành khi ngồi thum. Nhưng lúc này phải vớt đáy lên phơi rồi, vì tụi giang thuyền Bình Dương cứ thả rề lên rề xuống gặp tụi tôi là nó rỉa tiêu hết… Chịp…thà được làm chức D phó của anh, như Tư Quân mà còn sướng hơn là làm quận đội trưởng như tôi anh Hai à.

Tôi cười:

– Bộ anh tưởng tôi làm Dê trưởng khỏe lắm sao mà đòi làm Dê phó?

– Mệt thì cũng mệt có chập, còn làm “cu dê trưởng” (quận đội trưởng) mệt cầm canh anh ơi!

– Thì tại anh có mang thêm chữ “cu” (q) nên mới mệt.

– Từ nổ súng tới nay tôi chỉ làm liên lạc thôi chớ có chiến đấu trận nào.

Sáu Hùm tham gia vào câu chuyện:

– Đánh giặc như thầy, Bảy Nô nằm dưới sông Lòng Tào cũng mát bụng. Chỉ tội bà Út Lan một hai mươi ngoài !

Năm E ngó quanh thấy không có ai khác bèn nói:

– Tôi lên thăm anh chút, còn nhờ thì nhờ nhiều. Chiều nay nhờ anh cho một tổ trinh sát đi với tôi bố trí mấy chuyện. Sau đó, sẵn dịp tôi rước hai ông Tám Thế và Hai Thành về làm quận đội phó.

Tôi nói:

– Hôm nọ chính anh đưa trung đoàn mũi nhọn qua sông đi xuống Sài Gòn, nay bộ đưa mũi nhọn đi nữa hả?

– Không, kỳ này rước ông kẹ bự.

– Bự cỡ nào?

– Cỡ nào không biết mà thằng quận đội trưởng này phải đích thân lâm liên lạc. À quên, trong bao còn có một ít đồ hộp Trung Quốc nữa.

– Đồ hộp Trung Quốc ở đâu mà anh có được?

– Ông Sáu Hùm tham mưu trưởng của tôi đi chôm của hậu cần khu giấu trong rừng để dành cho công trường R, chớ cỡ tụi tôi làm gì có đồ quý đó . Bắt cóc nhái ăn cho có.

– Anh ở gần đường dây có nghe tình hình gì không?

Năm E lại dáo dác ngó quanh:

– Tình hình gì? Lính chạy vọt về thấy mà tội nghiệp. Tụi nó chửi bới, la lối với nhau tôi nghe lóm chớ tôi biết cái gì.

– Tụi nó la lối ra sao?

– Tụi “cứt ngựa” bảo là đảng bác đem con bỏ chợ.

– Đám Q16 đâu có vô đợt một, chỉ toàn mũi nhọn của Tư Nhựt.

– Có chớ. Tụi nó về nói giọng trọ trẹ địt mẹ địt bố om xòm tôi nghe mà. Còn mũi nhọn của Tư Nhựt thì tà ngay trận đầu -Năm E rĩ tai tôi- Năm Sài Gòn và ban chỉ huy rụm hết. Tư Nhựt nghe đâu cũng không còn.

– Trận nào?

– Tôi đâu biết trận nào! Nghe rõ càng xót ruột nên tôi làm bộ không nghe gì hết cho xong.

– Mình phải nhìn nhận sự thực chớ giấu được sao?

– Với ông tôi mới nói, ông đừng có lặp đi lặp lại, tôi sẽ chối nghen. Ông hứa đi tôi mới nói.

– Ừ, hứa thi hứa.

Khô cá kèo chiên và tôm khô ngâm dấm dọn ra. Chúng tôi vừa nhậu vừa tâm sự. Tôi biết Năm E sợ kỷ luật vì nói thật những tin tức bại trận (Bọn Việt Cộng thì bao giờ cũng la lối “đại thắng”) nên không dám nói hết. Tôi bèn phục rượu cho y. Rượu vào lời ra.

Cạn độ nửa chai đế, tôi mới quẹo chuyện vó Sài Gòn. Năm E hơi nóng mặt bảo:

– Tôi thấy lính lvịt xiêm về tới đây la lối bất mãn quá anh Hai ạ. Chúng nó nói là đánh giặc gì không biết giặc ở đâu chỉ huy lại không ra lệnh được. Tụi nó nói thấy đèn đuốc đường sá của lính Sài Gòn thì cóng tay cóng chân hết ráo. Nhiều đứa đầu hàng dữ lắm.

– Ai đầu hàng?

– Tụi Bắc Kỳ của lính ta chớ ai. Nam Kỳ cũng vậy… vừa xuống tới Phú Hòa Đông là đã có một ông dê phó cuỗm một bà y tá hay dân công gì đó trốn, dông thẳng ra Sài Gòn, làm cả cuộc hành quân phải đổi hướng. Ban chỉ huy lên ruột… Rồi khi nổ súng, một tham mưu trưởng trung đoàn đã dẫn một đại đội chạy vô Ngã Ba Hàng Xanh đầu hàng luôn (ông dê phó là Năm Hốt tự Năm Bụng dắt cô Hà y tá . Còn tham mưu trưởng trung đoàn là ông Phan Vân Xướng, cùng đi trong chuyến hồi chánh tập thể này có Bùi Thiện, Đoàn Chính, Cao Huynh, Nguyễn Long là học sinh Hà Nội bị lùa vào đường Trường Sơn Giải Phóng Miền Nam).

Tôi gạt ngang:

– Không có đâu ! Đó là tin phao đồn của tụi lính Sài Gòn để làm lính mình mất tinh thần. Sự thực trung đoàn mũi nhọn đang đánh và chiếm từng phần vô Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung là trường tân binh của tụi nó. Và hiện giờ sân bay Tân Sơn Nhất đã tê liệt hoàn toàn. Mình còn vô tới đề lao Chí Hòa thả hết tù chính trị, giết chết hết bọn cai ngục. Cái đài Sài Gòn đang nói ồm ồm là một cái đài khác ở địa điểm bí mật, chớ cái đài trước kia đã bị đám đặc công N10 đánh sập rồi. Tôi có gặp tụi thằng Tăng thằng Tẻo bên An Phú. Tụi nó thuật lại trận đánh cho tôi nghe đây mà, làm gì có chuyện đó.

Năm E thấy tôi nói lướt, khỏa lấp các mẩu tin của y thì hơi nhợn. Y cũng thừa biết tôi ở gần mặt trời hơn y, nhưng vẫn còn lải nhải chớ không im hắn. Y nói gượng:

– Ờ chắc không có lý đâu. Tụi Sài Gòn nó đồn bậy.

Tôi đổi đề tài:

– Anh nói đón ông bự nào?

– Ông già hớt cua đầu bạc trắng lần nào xuống đây cũng ghé chơi với anh.

– À tôi biết rồi.

– Cả Bộ Tư Lệnh Tiền Phương…

– Bây giờ tập họp trên R. Tôi mới gặp mấy ổng đi ngang qua đây!

– Còn một mình ổng thôi. Nay anh gặp không tài nào nhận ra. Râu dài như cụ Hồ, tóc xửng lên như bông gáo, mặt đen thui, y như thằng mọi.

Tôi ngồi im nhìn mấy thỏi khô cá kèo nằm trên dĩa. Năm E hỏi:

– Anh định kế hoạch vô đợt hai thế nào?

– Cá của ông quận đội nướng thật ngon.

Năm E cười ngất. Chắc y cho tôi say, nói lạc đề. Chớ y không ngờ tôi đang nghĩ tới tài nướng quân của bọn chỉ huy cao cấp. Chúng nó cầm que củi đút vào lò tay không biết nóng. Chúng nó rắc mớ cá kèo lên vỉ đỏ than. Những con cá còn ngáp ngáp dãy lia trước khi chết, chúng nó cũng không biết nóng.

Năm E đang uống ngon lành bỗng vỗ vế:

– Bọn Sài Gòn bảo đã bắt được xác Trần Độ hồi mình mới vô đợt một.

Tôi nhảy dựng lên:

– Hồi nào?

– Tôi nghe đài Sài Gòn nói rõ ràng mà. Nó bảo là trong ba-lô có quân hàm vàng chóe hắn hai ngôi sao. Hai ngôi sao là trung tướng phải không anh? Nhưng tôi cho là Năm Sài Gòn.

(Tôi nhớ lúc chia tay, Năm Truyện đổi ba lô bao tử trâu miền Bắc lấy ba lô Mỹ của tôi. Trong lúc soạn đồ anh có cho tôi xem cặp quân hàm trung tá của anh. Năm E nói đúng!)

Nhưng tôi vẫn hỏi gặng:

– Sao anh biết không phải là Trần Độ?

– Tôi hứa chắc với anh không phải là Trần Độ mà ! Trần Độ tên Chín Vinh phải không?

– Sao anh biết?

Năm E cười có vẻ tự đắc. Rồi y kể cho tôi nghe tại sao y chắc đó không phải là xác Trần Độ.

…. Chiều mùng Hai Tết tôi và Sáu Hùm đem ghe máy băng qua sông, lên bên Phú An cặp đường 14. Lính nhà mình đi xuống Sài Gòn dội về từng tốp, tôi gặp thiếu gì! Tôi buộc ghe máy xong đi tới chỗ hẹn ở gần ngã ba đường Đất Đỏ. Đây là công tác đặc biệt nên liên lạc hỏa tốc của ông Ba Xu đem lệnh thẳng xuống Nam Chi cho tôi, bảo đúng giờ hẹn ra đó để đón ông kẹ đưa qua sông đi xuống Sài Gòn. ông dặn tôi phải cẩn thận. Tôi và Sáu Hùm đi gần tới nơi thì Sáu Hùm nắm tay tôi lôi thụt lại, nói nhỏ:

– Lính Mỹ! Bỏ mẹ rồi!

Hai đứa nhảy tránh vào bụi. Tôi ngó cổ ló ra. Một tốp lính áo vàng lố nhố đang chỉ chỏ phía bờ sông. Ở chỗ này tụi giang thuyền cũng thường đổ bộ nằm im để chơi chúng tôi vì chúng biết đây là đường dẫn cán bộ, bộ đội qua sông. Tôi nhìn kỹ thì thấy đám người đội nón cối, mang B40, một người đứng gần chúng tôi nhìn đeo K54 quàng ngang ngực kiểu tập kết. Lại có vài ba bộ bà ba đen lẫn trong đám. Tôi bảo Sáu Hùm:

– Mấy chả đó ông nội ơi, không phải lính Mỹ đâu.

Rồi hai đứa đi tới. Một anh nón cối lùn bân hỏi giọng Bắc:

– Các anh có phải nà quận đội không?

– Dạ tôi đây! -Tôi đáp.

– Đúng dồi! -Anh kia mừng rỡ kêu lên.

Tôi cũng nghĩ bụng: Vậy là mấy cha này rồi. Anh Lùn dắt tôi đi tới trước mặt một ông to béo đang ngồi ở một mô đất nón cối trật qua một bên cổ, dây súng choàng trước ngực, cất giọng trọ trẹ:

– Trong hai anh có anh nào tên Năm E không? -ông ta vừa đứng lên vừa hỏi.

– Dạ tôi. Còn anh này là Sáu Hùm.

– Tôi lắm. Anh là quận đội trưởng Nam Chi phải không ?

– Dạ phải.

Trời đã chạng vạng, nhưng tôi còn trông rõ mặt ông to béo kia. Miệng ông ta hô kiểu bàn nạo Bến Tre, mắt lồi, mặt dài ngoẵng, trông rất xấu xí. Áo ông ta mở nút phanh ngực, tay lại cầm gậy cán ngoéo để một bên với xắc -cốt da. Quần áo ông cũng như đám người kia, ka-ki vàng loại phát cho bộ đội về Nam (cũng có đám mặc đồ cứt ngựa). Ông ta tự giới thiệu:

– Tôi thứ chín, kêu tôi bằng anh Chín. Tên tôi là Vinh, nhưng cứ kêu tôi anh Chín cũng đủ. Trường hợp đặc biệt lắm mới kêu tên tôi.

– Dạ!

– Nhờ đừng kêu tên nhé! Bí mật quân sự!

Rồi ông hất hàm hỏi:

– Các anh có được bao nhiêu ghe xuồng?

– Dạ, không có chiếc nào hết.

– Rồi làm sao mà công tác?

– Dạ, tụi này mượn của hậu cần khu, công tác xong thì trả ngay cho họ cất giấu để máy bay thấy đánh tiêu hết.

– Mỗi chiếc tải được bao nhiêu người gồm cả súng ống RPD, AK, B40, B41 ?

– Dạ, tụi em vừa chở E mũi nhọn, một chiếc được hai chục người, mình còn bao nhiêu nữa thủ trưởng?

– Suỵt! Anh Chín! Quên rồi sao?

– Dạ. Anh Chín.

Ông ta quay mặt lại anh lùn lùn, chắc là đội trưởng bảo vệ. Cả đội gồm trên dưới sáu chục lính.

Thấy ông có vẻ gấp rút, tôi bèn đáp:

– Có lẽ phải đi hai chuyến, anh Chín.

– Nghĩa là sao ?

– Nghĩa là mỗi chiếc chở mười lăm người. Mỗi chuyến đi được ba chục người. Chở tới nơi xong quay lại chở một chuyến nữa.

– Như vậy ai đi trước tới nơi phải chờ tốp sau đến rồi mới cùng đi.

– Dạ phải! Đi như vậy cho nhẹ chạy mới nhanh.

– Qua sông phải mất mấy phút?

– Dạ nếu vọt qua bên kia thì mất mười lăm phút thôi, nhưng mình phải chạy dọc theo sông, chừng mười phút thì mới đến bến lên bờ được.

– Là bao xa ?

– Dạ chừng một cây số rưỡi.

– Như vậy có an toàn không ?

– Dạ an toàn. Chúng tôi có bố trí du kích gác. Nếu có giang thuyền từ Bình Dương lên thì bắn báo động.

Ông ta giơ tay coi đồng hồ và nói:

– Bây giờ là sáu giờ, thôi đi cho sớm !

– Dạ, anh Chín không phải lo. Đến nơi, có quán anh Chín uống nước dừa tươi hoặc uống xá xị, la de, đợi tốp sau đến rồi đi tiếp.

– Vô quán lộ bí mật hết sao ?

– Dạ đây là quán của vợ con cán bộ xã bán. Lúc trước các đoàn của anh Năm Truyện, Tám Hà đi xuống đây và cũng ghé quán đó.

Ông ta vỗ vai tôi:

– Hỏi cho biết chớ tôi tin ở anh chớ!

Tôi cho mười lăm người xuống mỗi ghe. Anh Chín ngồi ở giữa chiếc sau. Tôi bảo xả hết tốc lực băng thẳng qua phía bên kia sông rồi cập bờ chạy xuống đổ bến thuộc đất ấp Phú Yên, ngay quán kinh tài xã Trung An.

Ông ta mừng quýnh đứng dậy chộp rộp làm chiếc ghe lắc lư. Anh tài công la:

– Ông gì ơi! Làm ơn ngồi xuống để lật ghe bây giờ.

Ông ta ngồi xuống, với giọng run run bảo tôi:

– Anh anh… Coi chừng hai đầu có tàu tới không ?

– Dạ không có đâu thủ trưởng. Ủa… anh Chín. Hễ có là du kích báo động ngay.

Tôi cho mấy cậu lính trước mũi bước lên và bảo:

– Các anh đi qua hai phía quán ngó chừng để anh Chín lên sau.

Ông ta bước thật dài rồi tới mũi ghe nhảy phóc lên bờ. Tôi nhảy theo và đẩy ông ta vào quán ngay.

Trời chiều, mặt trời vừa khuất. Mặt sông gợn lên những lượn sóng ngắn tấp vào bờ dồn dập. Hai chiếc ghe quay mũi trở lại hướng cũ, sóng cuộn sau lái như loài thủy quái dậy. Trông vẻ mặt nhớn nhác của ông ta, tôi trấn tĩnh:

– Ở đây dân chúng đang trúng mùa, cuộc sống bình yên lắm anh Chín à.

Ông ta ngồi lặng thinh không dám hỏi han gì hết. Có lẽ sợ lòi cọng rau muống ra miệng. Tôi hiểu vậy nên không gạ chuyện ông ta nữa, nhưng đám bảo vệ tán phét râm ran ngoài bờ dừa.

Mấy đứa con chủ nhà chạy ra dòm và cười khúc khích.

– Đám Bắc Kỳ này lại xuống oánh Sài Gòn tiếp với đám kia chớ gì ?

Câu nói của một cô bé làm ông ta nhìn tôi sửng sốt, ý bảo: vậy thì bến này lộ bí mật rồi!

Tôi khẽ xua tay ngầm đáp: không sao đâu anh Chín.

Ông ta không biết rằng nơi đây là đầu dây đưa nhiều đơn vị đi Sài Gòn rồi, nào phải riêng có ông ta. Tôi định bước ra nhắc nhở đám vịt xiêm bảo khép mỏ lại đừng có pa tăng nữa mà ông Chín teo… ruột, nhưng ông ta níu tôi lại.

– Anh ở đây có gì tôi. . . hỏi! -Rồi kề tai tôi- Kỳ này tôi đề bạt cậu lên cấp trung đoàn. Còn cậu kia là gì?

– Dạ, nó là tham mưu trưởng quận đội. -Tôi nói to lên và trỏ Sáu Hùm.

Nhưng ông ta vẫn xầm xì:

– Các cậu khá lắm. Cậu kia lên D trưởng nhé.

Thấy ông chủ quán để ý tới Chín Vinh hơi nhiều thì tôi cũng hơi ngại. Nhưng đó là cách ăn mặc của ông ta. Quân phục ka ki vàng ngoách, đầu đội nón cối, tay lại chống gậy, mang giày bố, nửa giống lính mã tà Tây, nửa pha nông dân miệt rẫy.

Thấy mấy cô gái bu tới xem, cô nào cũng mặc áo màu bằng lụa hoặc vải bông, quần lãnh láng mướt, ông ta hỏi:

– Bộ các cô là văn công đang diễn kịch ở đây à ?

– Dạ không phải đâu anh Chín. Các cô là con gái trong xóm, chiều chiều ra bờ sông hứng mát thôi.

– Sao ăn mặc như văn công vậy?

– Dạ họ ăn mặc như vậy hằng ngày chớ không phải chưng diện gì đâu.

Ông chủ quán chặt dừa nạo cho con gái đem ra mời ông Chín, ông ta vừa cám ơn vừa nhìn hàng dừa xiêm lùn trái sai oằn và hỏi:

– Dừa “bé ” sao nhiều trái quậy?

Đám con gái cười rần về cái tiếng “bé ” của ông, nhưng ông không hiểu tại sao. Bây giờ ông đã lòi đuôi rau muống rồi, vả lại. thấy bà con đối xử rất thân mật nên ông không giấu gốc gác nữa, nên cũng cười nói đối đáp với mọi người.

Tôi nói:

– – Đây là loại dừa xiêm, nó cũng già rồi chớ không phải bé đâu anh Chín.

– Thế hở? Nhưng sao gọi là dừa xiêm phải gọi là dừa ta chớ.

– Dạ xưa nay bà con vẫn gọi đó là dừa xiêm, còn dừa ta thì to trái, nước không ngọt.

Ông Chín uống nước dừa xong bèn bước vô quán. Ông chủ nhà kêu con gái lấy bao thuốc Capstan để trên dĩa đem tới đặt lên bàn mời khách. Thấy có hộp quẹt Zippo để trên bao thuốc, ông Chín hỏi:

– Chiếc bật lửa này mua ở đâu vậy ông chủ quán?

– Dạ, ở đây có bán thiếu chi!

– Thế à? Tôi tưởng là hàng hiếm lắm chứ.

Tôi đỡ lời ngay:

– Dạ, quán nào cũng có bán hết, anh Chín ạ !

– Vậy mua cho tôi vài cái nhé , được không ?

– Dạ, hiện giờ tôi chỉ còn có bốn cái thôi! -ông chủ quán tiếp.

– Vậy để bận về hãy mua anh Chín ạ. Mua bây giờ mang cho nặng chớ ích lợi gì !

– Sợ người ta mua hết.

. Dạ không, thứ này quán cóc nào cũng có bán hết mà!

Ông chủ quán tiếp:

– Tôi mới bán cho bộ đội xuống đường hết hai lố một lúc.

– Vậy ông chủ để dành cho tôi mười chiếc, lúc trở về tôi lấy nhe!

Ông uống hết ngụm nước dừa rồi chép miệng khen:

– Nước dừa ngọt như pha đường ấy. Tôi chưa bao giờ nếm nước dừa tuyệt vời như thế. Xã này là xã gì thế anh E?

– Dạ xã Trung An, quận Củ Chi. Nhưng bây giờ Củ Chi chia đôi thành Nam Chi, Bắc Chi. Trung An thuộc Nam Chi. Còn bên kia là Phú An thuộc quận Bến Cát. Chút nữa mình sẽ qua đường số 8 thuộc quận Hóc Môn.

Tôi mở bao thuốc mời ông và quẹt Zippo, ngọn lửa bật lên xanh lè gió thổi mạnh mà không tắt. Ông rít mấy hơi và khen:

– Thuốc ở trển khét quá, đây mới thiệt là thuốc thơm.

Rồi ông đi quanh quán hết nhìn kệ này đến kệ khác. Đến chỗ treo bình toong dây thắt lưng Mỹ vải dù, ông hỏi:

– Ở đây cũng có bán các thứ này à ?

– Dạ thiếu gì! Hễ có tiền là mua được. Trong chợ Bắc Hà bán còn nhiều hơn. Từ ngày xuống đường, loại này bán càng chạy hơn.

Ông bảo chủ quán:

– Lây hết xuống đây, tôi mua phát cho các cậu kia.

Ông lại trỏ mấy chiếc khăn trong hộp bảo chủ quán lấy ra cho ông mua luôn phát cho các cậu mỗi người một cái để làm kỷ niệm. Thấy mấy chục hộp sữa con chim lăn lóc trong góc tủ, ông hỏi:

– Sữa này có để dành cho trẻ con không? Để tôi mua luôn. Các cậu bỏ trong ba lô, khi cần thì dùng thay cơm cháo. Ơ kìa, lại có sữa Hòa Lan hộp nhôm nữa cơ. Mua hết cả cho tôi. Ối giáo! Lạ i có có cà phê, bia, rượu Tây nửa cơ à ? Để bận trở về mình ghé làm một chầu túy lúy chú E nhé, rồi hãy sang sông về trên đó.

– Bên Củ Chi cũng có thiếu chi, ông Chín.

– Thế à! Tôi xuống đồng bằng lần thứ nhất nên trông lạ quá. Sao một cái quán nhỏ bằng bụm tay thế này mà món gì cũng có. Lạ thế?

– Dạ ông Chín mua máy đuôi tôm, máy hút nước cũng có. Đưa tiền buổi sáng, buổi chiểu có máy về tới nhà.

Ông Chín còn đang vui chuyện thì tôm khô, củ kiệu, khô mực và la de nước đá đã dọn ra. Ông chủ quán vui vẻ mời:

– Ông Chín làm một ly ấm bụng rồi lội tiếp.

– Kìa, nướng khô bằng gì mà nhanh thế?

– Dạ trong cái dĩa nhôm kia. Chỉ cần chút rượu thôi!

Chuyến sau đã tới. Mũi ghe lướt lên bờ. Ông Chín bảo chủ quán kiểm điểm các món hàng tính tiền. Nhưng tôi nói:

– Đó là quà của anh Ba chủ quán biếu anh em đó anh Chín. Không có lấy tiền đầu… Tôi nói thiệt mà.

Ông Chín rất dỗi ngạc nhiên. Tôi tiếp:

– Anh Chín muốn mua món nào thêm, tôi sẽ bảo chị Ba đi mua, chuyến về sẽ có đủ.

Trời sẩm tối hai đội hợp nhất tiếp tục hành quân. Tôi bảo Sáu Hùm đi trước với một tổ tiền vệ còn tôi đi bên cạnh ông Chín.

Ông có vẻ cảm động và ngạc nhiên về cuộc tiếp xúc với dân quê Nam Kỳ mà ông cho là lẩn đầu tiên. Đi được một quãng, tôi trỏ tay vào phía vườn, nói:

– Ông tham mưu phó khu nằm ở đó anh Chín, ở trong rẫy

– Sao vậy?

– Dạ, ổng đi nghiên cứu đánh tàu, chẳng may bị lính giang thuyền bất ngờ đổ bộ bắn chết. Mà cũng không biết là tham mưu phó khu.

– Ai vậy?

– Dạ, nghe nói ông là anh hùng đánh sân bay Biên Hòa.

– Hừ! Đánh tàu, chưa đánh, lại bị tàu bắn…

Hai anh du kích xã Trung An dẫn đầu dừng lại, ra lệnh cho đoàn phải lột giày để lội sình và qua cầu khỉ.

– Cầu khỉ là cầu gì? -ông Chín hỏi.

– Dạ, cầu khỉ là cầu khỉ.

Mấy ông Bắc Kỳ con phản đối không chịu cởi, cứ để nguyên giày mà đi, tôi lôi Sáu Hùm ra sau nói nhỏ:

– Chốc nữa gặp khúc đứt mày chịu khó cõng ổng qua giùm.

Sáu Hùm vùng vằng:

– Ổng mập phệ như vậy, ai cõng cho nổi.

– Cậu xem có mấy đứa bảo vệ toàn là con nít đẻn, vác AK còn rệt bệt, làm sao cõng nổi. Coi vậy chớ không nặng lắm đâu. Tại sao mày biết không?

– Tại sao?

– Ổng ăn toàn rau muống không hè!

– Thôi đi cha nội!

– Đây là nhiệm vụ của mình mà!

– Nhiệm vụ là dắt đường chớ đâu phải cõng.

– Tao nghe Hai Lôi nói ở trên R các cha lớn di chuyển toàn bắt lính cõng như quan đi kiệu nghe mậy. Thậm chí mấy bà phu nhơn ngoài Hà Nội vô trong R thăm phu quân họ cũng bắt lính khiêng.

Chợt thấy chòm cây lù mù và nhà ngói tường vôi bên phía trái, ông Chín hỏi:

– Đó là đâu vậy ?

– Dạ đó là ấp Cầu Lớn, còn cái vết trắng trắng đó là chợ Phú Hòa Đông. Dân cư đã bỏ đi ra ấp chiến lược hoặc ra đường số 8 ở hết rồi.

– Mình không vận động họ về được sao ?

– Dạ, họ sợ bom đạn nên trốn đi.

Tới một cái rạch có cầu ván bắc qua mà không có tay vịn, ông lại hỏi. Sáu Hùm đáp:

– Đây là rạch Cây Da vì có cây da đứng bên mé rạch. Còn cái nhà kia bỏ trống vì chủ nó là một thằng du kích vừa đi chiêu hồi.

Ông Chín giật mình hỏi:

– Nó có đem tin gì cho giặc không?

– Dạ vợ nó đẻ trong này không có mụ nên ra ở nhờ mụ săn sóc chớ không hợp tác với giặc.

– Vậy là tốt.

Đi một quãng nữa tới đường đê bị trúng đạn pháo đứt nhiều nơi, trời mưa và nước lụt làm hỏng nhiều đoạn phải lội mới qua được. Nhiều cậu bị tuột mất giày kêu la oai oái. Nhiều cậu rút kinh nghiệm cởi giày máng trên cổ lội qua.

Ông Chín dừng lại ở mép bờ chờ tôi đến. Tôi bảo Sáu Hùm giúp đỡ. Sáu Hùm cực chẳng đã phải đưa lưng làm ngựa cho ông Chín cỡi. Tay ông cầm gậy, lưng ông đeo súng, ống dòm, bình toong lục cà lục cục đủ các thứ đều chất trên lưng anh tham mưu trưởng quận đội Sáu Hùm.

Tôi biết nó không khoái lắm, nhưng không thể thối thoát. Nó phải cõng ông già Chín qua bốn, năm khúc đứt. Tưởng đã được yên thân nào dè tại đụng con rạch lớn nhất trong mấy con rạch đổ ra sông Sài Gòn vùng này. Nhịp giữa là một thân cau, nó lăn qua lăn lại. Tuy có tay vịn nhưng ai không quen đi cầu khỉ sẽ rơi. Bằng chứng là mấy cậu Bắc Kỳ rơi lõm bõm xuống nước. May mà nước ròng, chớ nếu nước lớn ắt có kẻ chết chìm.

Ông Chín tới chống nẹ hỏi:

– Rạch gì thế này ?

– Dạ Rạch Kè.

– Còn cầu gì?

– Dạ cầu khỉ.

– Rạch Kè thì cầu Kè chớ sao cầu khỉ. Cầu khỉ gió không tay vịn, nhịp cầu lại lắc lư thế này làm sao đi? Anh đùa với tôi đấy à?

– Dạ không! Đó là cầu khỉ thật.

– Làm sao bộ đội vác súng lớn qua cầu được?

– Dạ được chớ ạ. Đó là nhờ họ đi quen. Đẻ ra đã đi cầu khỉ rồi, lớn lên cũng đi cầu khỉ đi bộ đội cũng đi cầu khỉ nên nhiều người đi khỏi cần tay vịn.

– Cậu bố láo!

– Dạ thưa anh Chín em nói thiệt. Không tin anh Chín lên lưng em cõng qua cho coi!

Ông Chínt chống nẹ ngó xuống dòng sông lởm chởm những gốc cừ ló lên mặt nước, ông hỏi:

– Cái gì giống hầm chông thế kia?

– Dạ đó là những chân cầu cũ trước kia, gãy không xài được nữa.

– Anh có chắc cõng tôi được không ?

– Em đi cầu khỉ hồi má em bồng em mà. Lớn lên em bò qua cầu, lớn chút nữa em đi. từ đó ngày nào em cũng đi. Em đi cầu khỉ trên ba mươi năm rồi, anh không tin em sao .

– Không khéo ngã xuống cây đâm thủng bụng.

Sáu Hùm biểu diễn một màn đi cầu khỉ với một người nằm trên lưng đeo cả bình toong, ống nhòm, súng đạn và cả cây gậy ngoéo nữa. Đám bảo vệ đứng xem như xem xiếc, đứa hoan hô, đứa hít hà sợ thủ trưởng lăn xuống rạch.

Sáu Hùm danh bất hư truyền, chân anh ta bước vững từng bước. Bàn chân đặt ngang thân cau tròn, hai tay ôm mông anh Chín, hễ thân cau lăn qua trái thì thân anh nghiêng qua phải để lấy thăng bằng (có lẽ không kém gì nghề đi dây của bác Hồ giữa Liên Xô và Trung Cộng), từng bước, từng bước anh đem cái thân phì nộn của ông Chín qua tới mút nhịp giữa, nhưng khi tay anh vừa vịn đầu cọc để bước xuống nhịp chót không có tay vịn, Sáu Hùm bảo ông Chín ôm chặt để nó chạy xuống đầu cầu thật nhanh. Chỉ còn cách một bước nữa là tới bờ thì hai thầy trò lại rơi tòm xuống nước. Hai người sợ nước trôi đeo chắc chân cầu. May quá không ai bị thương. Đám cận vệ phải nhảy xuống giúp sức thủ trưởng mới bò lên. Ông Chín nhận khuyết điểm ngay:

– Tại tôi. Tại cây cù ngoéo của tôi, nó móc ở trụ cầu giật ngược lại nên mới bổ nhào xuống sông, chớ không phải tại chú Hùm trật chân. Thôi được, tôi sẽ thưởng chú huân chương giải phóng và thăng chú lên cấp tiểu đoàn bậc trưởng.

Cả đám cận vệ thích thú phụ họa mỗi đứa một câu:

– Thích nhỉ, qua một cây cầu “khí gió ” mà bằng đánh Mỹ cả chục trận.

– Tớ sẽ học đi cầu khỉ mới lập công được!

Ông Chín ngồi thở dốc, cho phép cả đoàn hút thuốc nhưng phải che lửa thật kỹ. Ông thân mật hỏi tôi:

– Còn cầu khí gió nào nữa hết anh Năm ?

– Dạ, còn một cái nữa, nhưng ít nguy hiểm hơn cái này.

– Một ngàn năm tôi còn nhớ “Rạch Kè “.

– Qua cái kia là tới ấp Bàu Trâm, chỉ đi trên giồng cát.

Vào được trong ấp hy vọng tìm nhà nghỉ ngơi, nhưng dân đã bỏ nhà đi từ hôm súng nổ tới nay. Nhà không vườn trông lạnh lẽo rợn người. Phải vọt luôn. Từ Bàu Trâm qua ấp Nhà Việc phải qua một xóm nhà đông độ một trăm nóc. Rồi lại qua một cánh đồng vài trăm thước mới tới Đồng Mả. Đây là cánh đồng mả loạn hay đồng ma cũng thế. Giữa đêm mà ngồi giữa cánh đồng này chẳng khác ngôi giữa đám oan hồn. Vậy mà hai anh du kích bảo cả đoàn dừng lạ đây để họ vô xóm bắt liên lạc với du kích Bình Mỹ. Tôi coi đồng hồ: tám giờ. Đáng lẽ chỉ mất bốn mươi lăm phút mà đội bảo vệ ông Chín hành quân một hai tiếng đồng hồ. Tôi lại đến bên ông Chín rù rì xin lỗi việc lộn mèo xuống sông. Ông cười vui vẻ:

– Không sao! Tại cầu khỉ lại gặp cây gậy khỉ nên mới làm trò khỉ!

Rồi ông hỏi tôi có rành đường xuống Bình Mỹ không ?

– Dạ rành. Tôi đã từng làm D phó của D2 Gò Môn. Bắt đầu qua khỏi đường sô 8 thì toàn lội sình, không có đường mòn, bộ đội nấu cơm bằng rề sô, anh nào cũng thối hết móng chân. Dân di chuyển toàn bằng xuồng. Phải qua Rạch Tra lớn bằng ba Rạch Kè, giao liên chỉ có xuồng con, mỗi chiếc chở năm, bảy người.

– Vậy một trung đoàn làm sao hành quân?

– Dạ, tôi không rõ.

Ông Chín thở dài, rồi hỏi:

– Đồng Ma chôn những ai mà nhiều mả thế?

– Ở Củ Chi cũng có Đồng Mả, chôn toàn tín đồ Cao Đài bị mình biết hồi cách mạng mới nổi lên.

– Mình là ai?

– Dạ, mình là Việt Minh. Cụ thể là Hai Bứa, Ba Tô Ký. Hồi đó tôi còn nhỏ, nghe nói là mấy ông xỏ xâu cả dọc người đem ra đồng đào lỗ bắn rồi lấp đất. Những người chưa chết rống lên ban đêm; cách hai ba cây số còn nghe. Không biết Đồng Mả này có giống Đồng Mả Củ Chi không ?

Ông Chín ngồi lặng thinh. Bỗng mấy cậu bảo vệ tới báo cáo có tiếng người tới gần. Ông Chín bảo quan sát cho kỹ.

Chập sau, các cậu lại trên báo cáo tiếp:

– Dạ thưa anh Chín, lính của mình.

– Lính mình ở đâu đây?

– Dạ, họ đánh Sài Gòn về.

Ông Chín đang hút thuốc bỗng đánh rơi điếu thuốc, kêu lên một tiếng thất thanh:

– Hả?

Cậu bảo vệ nói tiếp:

– Dạ, lính mình thật, một tốp năm người lôi một người bị thương nặng vừa mới chết. Chúng em tiếp với họ đào lỗ dập.

Ông Chín kêu lên và vùng đứng dậy nhớn nhác, miệng kêu ư ử không ra tiếng gì. Hồi lâu mới bảo:

– Cậu nói lại nghe xem nào ?

– Dạ thưa anh Chín, lính mình đi Sài Gòn về. Một người bị thương chết. Bốn người kia đào đất dập. Tụi em vừa giúp sức với họ. Họ nói họ thuộc sư đoàn 304 ngoài Bắc vào.

Ông Chín lại kêu “hả hả ” cả chục tiếng liền.

– Trời ơi! 304, sư đoàn của tôi làm chánh ủy. Sao tụi nó lạc loà i chết vùi dập như vậy hả ?

– Dạ, em không biết. Em chỉ nghe chúng nó nói thế.

– Chúng nó đâu rồi?

– Dạ, chúng nó còn gục đầu trên cái mộ đất mới đằng kia. Để em bảo chúng nó tới trình diện anh Chín và nhận lệnh của anh Chín.

Ông Chín xua tay trong bóng tối như tìm một cái gì.

– Để tôi đến trình diện chúng nó. Trời ơi! Những thằng lính của tôi sao vô đây chết vô danh nhục nhã thế này. Tôi đã đem con tôi bỏ chợ.

Rồi ông Chín lọm khọm bước tới, như không còn đủ sức lê tấm thân của ông nữa. Ông vừa đi vừa khóc, nhưng cố nén tiếng rống trong cổ họng nên nó thành tiếng hục hục như cổ họng ông sắp bể ra.

… . Bỗng thình lình ánh chớp sáng lòe, đi theo tiếng nổ long trời lở đất. Xè xè xè, ầm ồm ầm, tiếng pháo 175 cực nhanh của Đồng Dù.

Tôi quen tụ i này như cơm bữa. Ngày nào đêm nào không đội dăm quả ăn cơm không ngon. Không của Đồng Dù 175 thì của trung Hòa 105, không của Trung Hòa thì của Bình Dương 155, của Chà Rầy 105 và 155, của Trảng Bàng 105, không khi nào yên.

Tôi đè ông Chín nằm xuống và lôi mấy cậu cận vệ phủ lên. Dứt loạt tôi lại hỏi:

– Anh Chín có sao không?

Rồi kế loạt khác. Từ Tết tới nay các khẩu đều bắn chụm về phía này để chặn hành quân của ta xuống Sài Gòn. Tôi tìm một mả đá ong lôi ông đến, đè ông xuống một trụ đá Chúng giã rời rời, không kéo dài nhưng không dứt loạt nên không dám chạy mà chỉ nằm bẹp dí đưa lưng cho chúng giã.

Bỗng một tiếng kêu lên:

– Thầy mẹ ơi! Chết con rồi!

Ầm ầm ầm! Đất đá miểng đạn rơi lạch bạch, đi veo véo. Khói thuốc khét lẹt cả mũi.

– Sao không nghe tiếng đề pa ?

– Dạ đạn nổ rồi mới nghe anh Chín ạ!

– Pháo gì lạ thế?

– Dạ loại cực nhanh.

Dứt một loạt tôi bảo:

– Từ nãy giờ mình bị Đồng Dù và Trung Hòa. Coit chừng pháo Bình Dương, thành pháo thủ cách mình chỉ sáu cây số thôi. Nó có 105 lẫn 155 nhưng không phải cực nhanh.

Tôi vừa dứt tiếng thì nghe cụp cụp… ầm ầm.

– Ở đâu mà nổ gần thế?

– Dạ nó bắn ở cánh đồng mình vừa qua.

– Sao nó lại bắn giữa ruộng?

– Dạ, tụi nó chận đường giao liên của mình. Có một anh D phó của mình trên đường xuống Sài Gòn cặp với một cô y tá dông ra Sài Gòn (Năm Bụng và nàng Thu Hà) và mới đây có một anh E phó dắt nguyên một C đi chiêu hồi (Phan Văn Xướng và Đoàn Chính, Cao Huynh, Bùi Thiện, Nguyễn Long. . . ).

– Bỏ mẹ rồi!

Ông Chín kêu lên nột tiếng thật thanh. Tôi tưởng như trông thấy nét mặt xám ngắt của ông. Hồi lâu ông mới nói:

– Sao ông Ba Xu không báo cáo gì với tôi hết. Như vậy thì chúng nó biết tôi xuống đây rồi. Trở lại mau, trở lại mau.

Cậu đội trưởng bảo vệ báo cáo tiếp:

– Dạ có hai cậu hy sinh, bốn cậu bi thương.

– Các cậu giải quyết lấy! -rồi quay lại tôi- Trở lại, trở lại mau.

Tôi nói:

– Anh Chín đi với Sáu Hùm, để tôi ở lại đi tìm du kích giải quyết thương binh tử sĩ.

– Không được. Cả hai phải đi với tôi và một nửa đội bảo vệ Một nửa ở lại giải quyết thương binh tử sĩ.

Tôi phải nghe lệnh ông ấy, hộc tốc trở lại đưa ông về điểm phát xuất hồi chiều. Kết quả một cuộc hành quân, Đồng Mả thêm mấy cái mả và ông tướng biết thế nào là pháo cực nhanh.

Câu chuyện trên đây do quận đội trưởng Năm E kể lại cho tôi nghe, đến nay đã gần ba mươi năm mà tôi vẫn còn nhớ nguyên. Tội nghiệp, sau chuyến đi đó, Năm E lẫn Sáu Hùm bị xe tăng càn chết ở Phú Hòa Đông, không kịp lãnh lon lãnh gáo lớn nhỏ để đeo với người ta.

HẾT QUYỂN V

—>(Mởi xem tiếp Quyển VI)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: