2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QVI (92-96)

2000ngaydem_bia6

Chương 92
Lão chánh ủy Bộ Tư Lệnh Tiền Phương cãi lộn với chánh ủy R

Năm E thấy mọi người trong bữa tiệc cá kèo rút lui hết, chỉ còn một mình tôi thì tâm sự to nhỏ:

– Tối bữa đó giao ông Chín được cho giao liên Phân Khu đưa về Long Nguyên, tôi mừng bằng đầu thau kiếp khác. Trời đất, ổng sợ pháo còn hơn ông Tám Giò quận đội nhà mình. Bận đi thì ổng đi ở giữa đoàn, bận về ổng đi đầu, tụi tôi chạy theo không kịp.

– Như vậy là ổng chưa tới đường số 8?

– Mới tới Đồng Mã ấp Nhà Việc thì quay lại! Ổng nhận định rằng mấy ông nội hồi chánh báo cho tụi Sàigòn tin ổng xuống đường cho nên pháp mới bắn chận như vậy. Tôi thuyết phục ổng ráo nước miếng. Bảo đó là những trận giã gạo thường xuyên của chúng hằng đêm, chỉ có tăng số lượng pháo một chút thôi. Nhưng ổng nhất định không nghe, bắt phải quay đầu lại… Đưa ổng tới đường 14, tôi phải trỏ qua Đồng Mả mò mẫm đào hầm chôn tử sĩ, đem thương binh về quân đội Nam Chi kêu thằng Tư A giải phẫu, nuôi báo cô năm đứa từ đó tới nay… Tộii nghiệp không biết con cái của ai từ Bắc vô đây nằm chen trong Đồng Mả. Ổng là người từng cầm quân ra trận nhiều năm mà sao nhát dữ vậy anh Hai?

– Trận hồi Pháp không có pháo cực nhanh. Một trận lớn nó bắn truy kích mình chừng năm. bảy quả là nhiều, còn trận nhỏ đánh xong rút lui vừa đi vừa hút thuốc lá nói chuyện tiếu lâm về tới nhà máy bay cũng chưa tới mà . Hơn nữa, mười năm sống trong hòa bình lên xe xuống ngựa, kẻ hầu người hạ, không quen với cảnh lang bang của tụi mình.

– Ừ, mình ông đi có tới sáu chục cân vệ, ba cứu thương, một bác sĩ. Còn cả quận mình chưa được một bác sĩ.

Vừa đến đó thì có chuông điện. Tôi cầm lấy ống nghe . Tư Quân, D phó cho biết có một ông già đầu bạc kiếm tôi.

Tôi biết đó là ai liền bảo liên lạc dắt lại đây ngay.

Đó là anh Tám Hà , chánh ủy Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của cánh A Năm Sài Gòn. Gặp tôi Tám Hà ôm tôi khóc ròng. Nước mắt ướt cả vai áo tôi.

Đời một danh tướng lại khóc như trẻ con với cấp dưới .

Anh nói trong nghẹn ngào:

– ….

Câu gì lấp vấp tôi nghe không rõ.

Ngọn đèn dầu đỏ chạch lắc lay như một giọt máu đỏ thấm loang ra. Gương mặt Năm Sài Gòn, Tư Nhựt, Tư Chi, Tám Lệ hiện ra trước mắt tôi.

– Thôi, gác chuyện đó đi anh Tám. Anh ở đây chơi với tụi tôi vài bữa dưỡng sức rồi sẽ tính tới.

Đứng ngoài cửa là thằng Hòn cận vệ của anh. Một thầy môi trò đi đâu cũng có nhau như hình với bóng, từ khu 6 chuyển về R, rồi lai được phân công về I4. Tôi dắt anh đi thẳng ra sau rửa mặt . Anh noi:

– Cho tôi tắm cái mới được. Mấy bữa rày đâu có công tác vệ sinh thân thể

– Ừ sẵn lu nước đây, tôi tắm luôn với anh.

Tôi quay trở vô bảo Hai Tâu:

– Cậu kiếm gì thêm cho tôi đãi khách.

Hai Tâu là kẻ được tôi cải tử huờn sanh hôm nọ nên hết lòng đái công chuộc tội, hăm hở nói:

– Để tôi làm tiết canh vịt ăn cho bổ. Hiện giờ còn nồi cà ri, anh với ổng làm tiếp rồi có mồi mới đem lên ngay.

Tôi kêu thằng Đá đem quần áo cho tôi, xà bông thơm đem ra. Trong bóng tối hai anh em vừa làm tiên nữ tắm suối vừa nói chuyện thoải mái hơn ở trong nhà. Anh nói ngay:

– Chết trụm hết rồi Lôi ạ.

– Tôi có nghe tin sơ sơ.

– Cậu nghe sao là đúng vậy đó. BộTư Lệnh Tiền Phương chỉ sót lại một mình tôi. Năm Truyện, Tư Nhựt, Tư Chi, Tám Lệ chết ngay trận đầu. Chỉ có Hai Phái cù cưa được qua ngày sau rồi cũng ngã ở gần đường xe lửa Gò Vấp.

– Trời còn thương tôi nên cho anh em mình gặp nhau lần này.

– Lần này nữa chắc thôi đó chú em à !

– Tôi tưởng ngày mai ngày mốt kìa anh mới xuống Vì Năm E cho tôi biết y mới rước anh qua sông hôm kia. Anh phải ở Long Nguyên lâu lắm để bàn kế họach kỹ với ban chỉ huy.

– Còn kế hoạch gì nữa mà bàn. Tôi về đây là để đề nghị mấy chả cho rút quân và xoay mũi nhọn nơi khác. Nhưng chạy đằng mồ mắc đằng mả. Ra khỏi lưới của ven đô về Long Nguyên ăn một trận B52 suýt chết. May chỉ bay một mép râu?!-Anh bao giờ cũng có lời nói châm biếm chua cay- Họ không cầm mình ở lại thì mình nấn ná làm gì. Vừa xong là tôi kêu thằng Hòn vô đầy hai bình toong nước rồi hai thầy trò đi nga. Nhắm Củ Chi trực chi. Ghé đây thăm cậu để cậu được chiêm ngưỡng cái cục vinh quang xuống đường chiến thắng trở về.

Tôi đưa tay lần mò đếm mấy cặp ba sườn của anh hỏi.

– Còn nguyên hay gãy cái nào ?

– Miểng pháo đều dội ra hết , chỉ miểng bom mới ghim vô vài ba cái thôi -Anh vỗ lưng tôi cái bép. Sức cậu còn bảnh lắm. Ba ván liền không bỏ ván nào phải không?

– Hổng có đâu anh Tám ơi! Xăng nhớt phải để dành châm vô đầu gối để chạy đua với trực thăng.

– Hồi tối tôi có ghé Ba Cụm mua một chai đế đem xuống đây. Nếu không có thì giờ thì hai anh em mình ra rừng làm cạn rồi chia tay . Hì hì kỳ này chia tay lẫn chia chân nữa đó Lôi à!

– Anh đã đến đây thì phải ở lại ít nhất hai ngày chớ đâu vội vã được. Tôi đã bảo đi kêu Năm Theo, C phó của tôi đem bộ tông-đơ mới tới cúp tóc cho ông chính ủy mát mẻ rồi nhậu.

Anh Tám nói:

– Tẩy trọc luôn đi ông thợ.

Năm E nãy giờ nằm vật bên góc ván ngáy khò khò, nghe nói cắt tóc cho ông chánh ủy bèn ngồi bật dậy chào:

– Anh Tám mạnh giỏi!

– Ủa chú Năm mầy cũng ở đây?

– Hồi nãy em thấy anh vô đang nói chuyện ngon trớn với thầy Hai nên em tranh thủ làm suơng sương một giấc. Cái chuyện hớt tóc xin hoãn lại ngày mai hả anh Hai. Bây giờ để anh Tám đi vài ly tẩmg gân và nghỉ cho khỏe cái đã.

Tôi bảo:

– Cá kèo của ông nhậu gắt cổ quá hè, anh Tám đi mệt không nuốt nổi đâu. Coi còn cháo vịt đem ra đây trong lúc chờ đợi tiết canh.

Năm E nói:

– Chuyện dưới Thày Gòn như thế nào anh Tám “toả” lại mấy câu cho tụi này nghe coi. Chớ hỗm rày mạnh Giải Phóng Giải Phóng nói, mạnh Thày Gòn Thày Gòn nói, không biết nên tin ai.

Tôi bảo:

– Người có lập trường mình thì phải tin Giải Phóng chớ hổng lẽ tin Thày gòn?

– Nếu vậy thì hiên giờ mình dã chiếm được 19 tỉnh lỵ, thành phố Huế và làm chủ ba phần tư thành phố Tây Nguyên.

Tám Hà cười:

– Ừ, đúng đó. Tôi mới ở dưới đó ăn phở tái rồi đi xe bình bịch về đây gặp Hai Lôi ở ngoài Đồng Lớn. Tôi bắt Hai Lôi bỏ lên xe chạy vô đây. Nhậu xong sẽ trở lại Sàigòn. Trụ sở Bộ Tư Lệnh đặt ở gần sân bay Tân Sơn Nhứt.

– Trời, đã vậy hả anh Tám? Anh cho tôi đeo vè xuống đó chơi vài tiếng đồng hồ cho thoả mãn dân cày coi nào.

– Ờ đi thì đi. Tôi sẽ cho com-măng-ca tới chở hết quận đội đi một chuyến.

Năm E cười méo xệch cái miệng quai xách:

– Thú thiệt với anh Em, hồi đi bộ đội từ giờ chưa lần nào em bị sạc cà rây quay mòng mòng như chuyến vừa rồi. Mẹ, cái thân thằng quận đôi trường làm liên lạc mà

không xong.

– Sao vậy?

– Em làm đầy đủ nhiệm vụmà rốt cuộc không được khen, lai bị ông Ba Xu khiển trách là em dẫn “ông Chín” (Trần Độ) đi vô bãi pháo suýt chết. Mẹ, cái đất Củ Chi này chỗ nào không là bãi pháo muốn không đi vào bãi pháo thì chỉ có cách là đi ra khỏi đất Củ Chi.

Tám Hà xua tay:

– Vậy kỳ sau cậu đừng làm liên lạc nữa để người khác.

– Trời, từ cha sanh mẹ đẻ tới giờ tôi chưa thấy ông nào đi đêm không đèn mà nhanh như ổng vây đó anh Tám. Ổng đi như gió cuốn mưa rơi. Pháo nổ ở đâu ổng cũng bảo nổ gần ổng. Tai sao lúc nào pháo cũng đuổi theo ổng vậy. Chời ơi chời! Pháo ở Củ Chi này là vốn mà làm sao tôi bịt hong nó được.

– Chỉ có ông thầy pháo đây lấy pháo trị pháo thôi, chứ tụi mình thủ chỉ có cách là mang cái hầm thủ trên lưng thì nới khỏi lo.

Năm E rót rượu mời anh Tám và nói nhỏ

– Tiêu hết hả anh Tám?

– Giỡn hoài chú . Tiêu sao được mà tiêu!

– Tôi tội nghiệp Năm Sài Gòn ghê. Thằng cha đó đánh giặc gan, chơi bời với anh em rất điệu. Không phân biệt cấp bực. Còn Tư Nhựt thì tội nghiệp, vợ đẻ ra con không biết mặt cha. Bả trở thành điên khùng bồng con di lang thang tìm chồng, pháo bắn không thèm chui hầm Còn Tám Lệ mới cưới vợ giàu trẻ mà không được hưởng gì hết . Riêng Tư Chi thì tôi không biết mặt.

– Tư Chi là dân Bến Tre, thuộc dòng pháo nòi, nó cũng là học trò của Hai Lôi ở Sơn Tây.

– Có đúng là tiêu hết hả anh Tám?

– Tôi còn đây sao nói tiêu hết được chú em !

Tôi nói:

– Năm Sài Gòn chơi điệu. Thấy ông chánh ủy ốm yếu nên cho ổng ở lại hậu phương

Nhìn đôi mắt ông chánh ủy già tôi thấy hai giọt nước mắt lăn nhanh xuống gò má . Anh quệt ngang và nói:

– Thôi nhậu đi . Tôi đến đây để nhậu với thầy Hai, không phải để bàn chuyện đánh đá.

– Ừ phải, thôi uống đi ! -Năm E nhại lại.

Nhậu tới khuya. Năm E gục. chỉ còn tôi cầm cự với ông chánh ủy già. Ông mới rỉ rả tâm sự với tôi:

– Nếu ai khác không phải là Năm Sài Gòn thì Tám già này không có trở về nghe chú Hai. Tôi năm nay đã 65 tuổi rồi. Đi bộ không mang ba lô chỉ và i cây số là kéo “đờn cò” rồi nữa là ra trận đánh với trực thăng. Nhưng có lẽ ở trên sáng suốt nhìn thấy khả năng quân sự xuất sắc của tôi nên mới giao cho tôi trong trách lớn vậy. Thiếu gì ông khỏe mạnh chức to mà không được cái danh dự của tôi. Hì hì… Nhìn đi nhìn lại ở đợt một toàn là cán bộ gốc miền Nam để tiên phong và cũng đều leo lên bàn thờ tiên phong nhất. Đám hùm đen hùm xám Điện Biên đâu có được vô tuyến một, Họ dược ém ở trung tuyến không hè chú em. Chỉ có một mình chú là cán bộ miền Nam có khả năng mà được ở lại hậu phương Củ Chi thôi. Ba Ngọt hăng lắm Nếu trở về kỳ này chắc y lên tướng đấy, nhưng y không có về được. Y mặc áo trắng như dân thành. y dắt Bộ Tư Lệnh thọc sâu xuống tận Gổ Vấp để tránh bom pháo vô nhà dân đóng văn phòng, tưởng dân sẽ ủng hộ nổi dậy cướp chính quyền , chẳng ngờ dân đi báo cho Nhân Dân Tự Vệ bao vây bắt như lấy đồ trong túi. Một đại tá cực trưởng Cục Tác Chiến bị bắt như thế đó . Nghĩ cũng hiểm có chớ.

– Trường hợp Hai Nan, anh Tám ?

– Anh Hai Nan thì bỏ chỉ huy sở lặn êm vô Sài Gòn, không biết bằng đường nào, rồi dắt được cả vợ con ra trình diện. Nói tóm lại năm cánh thì bốn cánh bị thiệt hại nặng, nặng nhất là cánh một của Năm Sài Gòn. Bốn Bộ Tư Lệnh tê liệt, chỉ trừ Bộ Từ Lệnh của cánh Mười Đài còn nguyên vì nó không làm được gì ngoài việc đốt cháy bồn xăng của hãng Shell và vài xóm dân nghèo.

Tôi ngồi nghe, không hỏi gì thêm. Anh Tám nốc rượu liên miên. Ông già không phải bợm rượu nhưng kỳ này coi bộ anh uống mạnh hơn tôi. Anh tiếp:

– Bây giờ quân cũng tôi mà tướng cũng tôi. Chỉ huy không có lính trong tay thì đánh bằng cái gì. Tôi về đây để xin mấy chả cho rút về hết. Nếu để ở dưới thì không còn gì hết, sau này khó gầy dựng lai .. -anh nốc rượu khan và tiếp- Nhưng họ có nghe đâu Ho bảo tôi trở lại và bám trụ ở dưới dưới phát động du kích chiến tranh … Lửa cháy mày mà ở đó phát triển du kích chiến tranh thì chừng nào mới đánh được ? Mà có người dân nào đâu để phát triển du kích … Chẳng lẽ mình phát triển ba cây măng cụt bị bom, ba cây dừa cụt ngọn? Dân họ thấy mình tới thì bỏ đi hàng đàn. Họ càn lên đầu mình đi chớ không phải ở đó thắm tình cá nước như người ta tưởng tượng (anh Tám dùng tiếng mấy thằng chả, họ, người ta để ám chỉ cấp trên không còn vẻ kính nể như trước đây). Họ dự định là khi có tiếng súng

của ta tấn công thì đồng bào sẽ “nhất tề vùng dậy” để cùng ta lật đổ chính quyền Sài Gòn, nhưng sẽ thực thì hoàn toàn trái ngược. Bộ đội toàn ở ngoài vườn nấu cơm bằng rề sô. Không ma nào thí cho một lon gạo, một tô nước. Họ nhìn mình với cặp mắt sợ hãi. Nhiều nơi xảy ra cướp bóc .

– Ai cướp, anh Tám?

Anh Tám cười mũi:

– Thì còn ai nữa. Vô phố cứ ào tới hốt …

– Không có kỷ luật gì sao, anh?

– Cọp đói gặp thịt người, ở đó mà kỷ luật! Tôi thuật lại tình trạng tan rã và hỗn loạn cho mấy chả nghe…

Anh Tám im hẳn không nói nữa, cứ ngồi rót rượu uống một mình.

Buộc lòng tôi phải hỏi:

– Rồi mấy ông bảo sao, anh?

– Mấy chả bảo là tôi hữu khuynh theo đuôi quần chúng bảo mạnh, đủ thứ hết. Ông Hồ lại còn hò hét: ở chiến trường mà bất tuân mệnh lệnh cấp trên thì cứ tử hình

Anh Tán ngưng ngang . Hồi ]âu mà tíếp:

– Tôi đã từng làm chánh ủy liên trung đoàn 81-82 từ hồi 1947 trong lúc hắn mới là chính trị viên D thôi. Bây giờ hắn chỉ huy ngược lại mình. Hà hà… Chỉ huy bảo thì phải nghe chớ sao bây giờ.

(Sau này khi về Sàigòn tôi gặp lại anh Tám, đúng ra là anh tìm gặp tôi để xác nhận coi phải là Dương Đình Lôi không. Hai anh em kéo nhau ra quán quân nhân Quân Đoàn III tâm sự cả buổi trời. Anh mới thuật lại toàn bộ câu chuyện cãi nhau giữa chánh ủy Bộ Tư Lệnh Tiền Phương- Tám Hà và phó chính ủy R – Trần Độ. Anh bảo: Tôi đã báo cáo tỉ mỉ sự thiệt hại củ quân ta tan rã và bị tiêu hao 90%, chỉ còn lại đám tàn quân không còn tinh thần chiến thắng nữa. Tôi bảo thẳng với thằng Chín Hô (Trần Độ) rằng mình đã đút đầu vào miệng cọp và cọp đã ngậm lại. Hắn vỗ bàn quát Tôi cũng vỗ bàn quát lại. Hắn bảo tôi hèn nhát. Tôi cười: “Thằng nào hèn nhát thằng đó biết, không cần phải có người khác bảo đảm “. Hắn tưởng vụ hắn chạy thụt đầu về Long Nguyên không ai biết ngoài đám cận vệ. Sự thật ai cũng biết hết ráo. Nhưng cậu còn lạ gì.’ Tổng binh Tổng. Quận binh quận. Chúng nó che chở cho nhau, giấu khuyết điểm cho nhau. Sự thực thì hắn được lệnh xuống Sài Gòn tổ chức tấn công đợt hai đây, nhưng xuống chưa tới đường số 8, còn cách Sài Gòn độ ba chục cây sô, đã trôi ngược trở lại. Bây giờ ngồi trong hầm ở trên đó, sáng cà phê tối sữa bò, nghe đài Giải Phóng và đài Hà Nội tường thuật chiến thắng.

Hắn bảo tôi hèn nhát, ức quá tôi đáp: “Đồng chí phó chánh ủy cứ xuống đến nơi xem tình hình cụ thể giữa địch và ta rồi sẽ thấy sự ‘hèn nhát’ của tôi rõ hơn, chớ đồng chí ngồi trên này sợ e khó nhận xét “.

Hắn nhảy dựng lên trỏ vào mặt tôi: “Tôi nhân danh ban chỉ huy và thay mặt Trung ương thì hành kỷ luật đồng chí”.

Tôi gạt tay hắn và nói bình thường: “Đồng chí muốn thi hành kỷ luật gì thì cứ thi hành nhưng đồng chí không được trỏ mặt tôi. Trong điều lệnh kỷ luật của quân đội không có điều nào cho phép cấp trên trỏ mặt cấp dưới của mình”.

Hắn vẫn lồng lộn vì bị tôi điểm trúng yếu huyệt của hắn. Hắn càng gào to: “Đồng chí là chánh ủy mặt trận, đồng chí chạy bỏ chiến trường, không còn ra cái thể thống gì hết, sau này còn chỉ huy ai? “

Tôi cười nụ bảo: “Thiêu gì cán bộ chạy bỏ chiến trường nhưng vẫn chỉ huy như thường đồng chí phó chánh ủy à “.

Hắn đứng dậy, chồm qua mặt bàn hét: “Tôi thay mặt Bộ Chỉ Huy quyết định đồng chí trở lại chiến trường, một là nắm lại các đơn vị (đơn vị còn đâu mà nắm, chúng đã lùi về Củ Chi bị ông Năm Đăng bắt trói lùa vô trại giam suối Gò Gấu hết rồi. Trong số đó có C phó cối Chín Tống tôi xin ân huệ cho về C pháo của D7 tôi. Chú thích của Thiên Lôi), hai là phát động du kích chiến tranh trong dân chúng để chuẩn bị vào đợt hai.

Tôi nói: “Ở trên quyết định thì tôi đi, nhưng tôi vẫn cứ đề nghị Bộ Chỉ Huy xét lại đề nghị rút quân về tổ chức lại và đổi mục tiêu tấn công. Còn ở trên có nghiên cứu đề nghị của tôi hay không thì tùy ở trên .

Hắn lại còn nhấn mạnh: “Đồng chí là đảng viên, là cấp ủy đảng ở mặt trận đồng chí phải thi hành nghị quyết của Trung ương ” .

Tôi cười xòa: Thưa đồng chí ủy viên Trung ương đảng. Tôi bắt buộc phải nói ra điều này. Thứ nhất; Tôi vô đảng trước đồng chí, và khi tôi là chánh ủy liên trung đoàn thì đồng chí là chính trị viên tiểu đoàn… Còn ở trận tổng tấn công này thì tôi đã vào đến ven đô trong khi đồng chí chưa đến đường số 8″.Tôi (Lôi) cười: “Sao anh không nói thêm hắn mới bị mấy trái cực nhanh đã đái trong quần và chạy thụt lùi lại cho tụi du kích đến cười pể pụng? “

Anh Tám uống nhiều bia và nói rất nhiều chuyện chứa chất kinh niên trong lòng: “Trong đám tướng Bê Ka trên R, tên Chín Hô là phách lối nhất vì hắn ỷ hắn là đàn em của Sáu Di. Sáu Di là bần cố nông nên đề bạt hắn chớ hắn đâu có thực tài. Về quân sự thì dốt nhất, chỉ biết lem nhem ba cái chính trị nên Sáu Di xách chóp ném vô Trung ương. Bọn nó thâm độc lắm, cậu biết không? Đợt đầu tất cả cán bộ miền Nam đã nướng sạch. Đề rồi cậu xem, sau này toàn dân Bê Ka sẽ lấp vào các lỗ trông đó để chỉ huy lính miền Nam. Y hệt như hồi kháng chiến chống Pháp! Dân miền Nam sẽ lại làm nô lệ muôn năm!”)

Trở lại bàn nhậu ở Củ Chi.

Anh Tám kể tiếp:

Bộ Tư Lệnh hoàn toàn tê liệt: tư lệnh, tham mưu trưởng hy sinh. Ban chỉ huy trung đoàn mũi nhọn: Tư Nhựt, Hai Phái, Tư Chi, Tám Lệ cũng chết. Tát cả đoàn bộ rã bèng không tập họp được. Mà tôi cũng không thuộc đường đất. May sao gặp ông già trong xóm, ông cho tôi mượn chiếc xuồng câu. Tôi và thằng Hòn bơi qua sông cặm ở mé bờ giả làm dân câu tôm. Tụi lính Sài Gòn gặp tôi hai, ba lần, chúng nó thấy bộ vó tả tơi và râu tóc bạc như lông chó cò của tôi thì tin. Một bữa chúng kéo đến rất đông. Một thằng hỏi: “Bác có thấy Việt Cộng lội qua sông không?” Thằng Hòn vọt miệng: “Việt Cộng toàn là dân Bắc Kỳ làm gì biết lội mà qua đây”. Thằng Hòn chỉ một xác trôi lềnh bềnh giữa sông “Thằng chõng trôi lên trôi xuống theo nước ròng nước lớn đó, mấy ông không thấy sao ? Mấy ông làm phước đem tàu lại vớt về chôn giùm để tôi câu tôm bán, để nó như vậy ai dám ăn tôm mà mua”.

Tám Hà khoe anh đóng vai lão câu tôm rất khéo. Đúng ra anh đã trở thành thợ câu hẳn hoi chớ không phải đóng vai nữa.

Anh tiếp:

– Đầm già phát hiện được dây điện của mình. Nó kêu pháo bắn nát hết. Xong rồi nó đổ quân tìm kiếm khắp khu vườn ven rạch, chúng ra tận các gò đìa, phóng chĩa dài như chĩa cá. Hễ bị chĩa trúng phải la. Nó lôi đầu lên hoặc nó ria tiểu liên xuống. Chết vinh quang vậy đó.

Sáng hôm sau tôi kêu người đến hớt tóc cho anh. Anh bảo cạo trọc luôn, nhưng tôi bảo hớt đờ mi cua.

– Coi cũng còn khá trai đó anh Tám?

Anh hớt chòm râu gói trong tờ giấy học trò đưa cho tôi bảo giữ làm kỷ niệm, có khi sau này không còn gặp thì thấy đó mà nhớ nhau. Con người ai cũng già, cũng chết. Ai cũng sợ chết. Chỉ có thằng nói phét mới bảo nắm thắt lưng Mỹ mà đánh. Đó, xuống Sài Gòn mà nắm!

Bỗng anh cười:

– Mẹ hắn! Nói chuyện với hắn tôi tức muốn bể ngực nhưng mình bị lép đành phải nhịn chớ biết làm gì bây giờ.

Một chốc anh tiếp:

– Trà (Trần Văn Trà) còn tình nghĩa hơn. Anh ta nói riêng với tôi: “Anh ráng trở xuống làm một cú nữa đi anh Tám. Xong không xong mình sẽ tính cách khác. Anh trở xuống gom hết các cánh tổ chức lại, ở trên này có viện binh mới tôi sẽ gởi xuống cho anh Ba Xu bảo ảnh đưa hết cho anh. Cố gắng nhé anh Tám! Ở dưới đó bây giờ không có anh không xong!” Thằng chả cũng xúi mình đút đầu vô họng cọp nhưng kiểu thằng chả làm mình dễ chịu hơn. Có chết cũng mát ruột, còn thằng kia (anh gọi Chín Hô) thằng con nít mà làm phách chó! Hắn nhỏ hơn tôi gần chục tuổi mà.

Anh còn ấm ức nên chốc chốc lại xùy ra:

– Không phải chuyện quân số và vũ khí mà vấn đề là tình thế. Mình phóng ra một mũi nhọn trong tình thế mù mờ về thực lực địch. Bây giờ sau khi phóng ra mấy mũi, nó phản ứng mình đã thấy rồi. Tình thế hoàn toàn bất lợi cho mình. Nói theo sách vở, thiên thời, địa lợi, nhân hòa, mình không có cái nào cả . Địch có tất cả. Đợt một coi như mình thảm bại. Vậy mà vẫn tổ chức đánh đợt hai. Đúng là chiến thuật “a thần phù! đánh ẩu…

Anh nói nhiều, rất là nhiều.

Chiều hôm sau tôi đưa anh Tám đi một quãng xa đến ranh Phú Hòa Đông nơi Năm E đặt trạm liên lạc.

Anh bắt tay và ôm tôi:

– Thôi về lo công việc. Hẹn gặp nhau ở Sàigòn.

Tôi đứng nhìn anh bước xuống ghe máy băng qua sông. Nước trào ra sau lái trắng xoá. Phút chốc anh đã biến dạng trong mày hoàng hôn ảm đạm.

Đó là chuyến đưa khách đi tàu Sàigòn lần cuối cùng của Năm E và Sáu Hùm. Mấy hôm sau xe tăng càn vô Phú Hoà Đông bắn chết cả quận đội Nam Chi. Những vùng có thể khả dĩ trú đóng cả D trước kia bây giờ bị bom pháo và xe tăng xé nát hết. Các đơn vị Sàigòn và Mỹ đánh vùng ven đô lên tới Củ Chi, Trảng Bàng không lúc nào dứt tiếng súng.

Tám Râu đã vô cùng sáng suốt khi bốc cả gia đình vô Sàigòn trước khi Mỹ tới An Phú. Thằng cha nói phét tổ sư đã bị trời đánh vỡ sọ chết rồi. Còn thằng láo mầm non nào mọc lên bảo nắm thắt lưng Mỹ đánh nữa không ?

Tám Hà đi rồi, tôi không còn ai để nói chuyện. Tâm sự của anh sao giống tâm sự của tôi vậy? Lâu nay tôi chẳng nói ra, vì không có ai đồng bệnh, bây giờ nghe anh nói thì mới thấy hai anh em rất gần nhau.

Chương 93

Thiên Lôi được lệnh vác búa đi Sè-Goòng

Công việc cứ rối mù lên. Làm không hết, nhưng nếu không làm cứ bỏ như thế thì cũng chẳng sao. Trước kia đơn vị phải di động luôn, bây giờ chúng nó khoá chốt khắp nơi. Tôi cho đơn vị nằm yên tại chỗ. Giặc đụng thằng nào thằng ấy đánh, nhưng phải bảomật thật kỹ để khỏi ăn bom pháo.

Một hôm tôi nhận được thư hoả tốc. Ngày nào cũng hoả cho nên rồi lờn. Nhưng lần này thì linh tính có chuyện đại sự nên xé ra đọc:

“Lôi theo liên lạc đến gặp tôi ngay. B.X.” đó là thư của ông Tư Lệnh. Tôi đi ngay. Gặp anh ở gần Đường Long gần cái hầm vĩ đại.

Anh bảo:

– Tao đã suy nghĩ nát nước rồi. Bàn với Năm Lê, Năm Tiều một đêm. Đành phải quyết định đưa mày xuống đó. Ừ, thay cho Tư Nhựt. Mày có sáng kiến và xoay sở nhanh hơn tụi kia… Đợt hai chưa vô được vì không có cán bộ và hàng ngũ chưa chỉnh đốn xong. Mấy ổng thúc quá , tao không ngồi yên được. Các tỉnh đều ở trong tình trạng như Sài Gòn. Lam nham không xong mảng nào. Rút thì mất mặt. Còn đánh tới thì cũng… khó.

Tôi ngồi lặng thinh, một chốc mới hỏi:

– Một mình tôi hay cả D7, anh Ba?

– Mày phải dẫn D7 đi chớ.

– Nhiệm vụ gì anh Ba?

– Trung đoàn mũi nhọn.

Tôi hơi rùng mình. Mũi nhọn? Tư Nhựt đã tà rồi. Bây giờ tới mũi nhọn Hai Lôi. Tài gì? Cái giàn Tư Nhựt, Hai Phái, Tư Chi, Tám Lệ là những con gà nói từng đá độ ở trường lớn, còn cái giàn Hai Lôi, Bảy Ga, Tư Quân, Hai Khởi so chung sao bằng. Hơn nữa, lính của Tư Nhựt là lính có trui rèn trong khói lửa, còn lính của Hai Lôi là lính địa phương mới toanh, lại đèo thêm mấy nường lũng sĩ nhõng nhẽo. Cán bộ đại đội như Năm Đầu Ban, Sáu Mã Tử, Tư Ếch là dân đặt trúm lươn đâu phải tay bóp cò thiện nghệ. Đem ra chọi với Thủy Quân Lục Chiến, Trâu Điên, sư đoàn 5 và những Anh Cả Đỏ, Tia Chớp Nhiệt Đới thì nắm mấy phần thắng trong tay?

Nghe ông Tư Lệnh bảo mà tôi như bị dao cùn cứa ruột non.

Có lẽ ông Tư Lệnh cũng đọc được tâm trạng của thằng em nên trấn an:

– Lính của câu làm mấy trận Củ Chi, Suối Cụt, Thái Mỹ liên tiếp thắng to vừa rồi, hiện lên tinh thần dữ lắm. Đưa họ xuống đường mở đầu đợt hai là nắm chắc phần thắng. Vừa rồi tôi có vô quân y của Tám Lê thăm anh em thương binh, có gặp cả mấy cậu ở N10…

– Dạ N10 đánh đài phát thanh. Có thằng Tăng thằng Tẻo là lính cũ của tôi đó anh Ba. Tụi đó gan lắm.

Tôi muốn nói luôn vụ tôi cho bác sĩ của tôi chạy chữa vết thương cho họ ở vựa lúa ông Tám Râu, nhưng lại ngưng.

Ba Xu tiếp:

– Mấy cậu đó tôi biết, các cậu đã chiếm toàn bộ đài phát thanh rồi. Tụi Ngụy canh giữ đài bỏ về ăn Tết nên quân ta ăn ngọt. Chương trình giải phóng đã chuẩn bị sẵn, chỉ cần đưa vô máy là phát ra toàn miền Nam, bọn Ngụy mà nghe được thì sẽ buông súng đầu hàng hết ráo… Nhưng tiếc quá, mình không đủ sức đề trấn áp chúng, chờ đại quân tới, nhưng đại quân bị dẫn lạc đường, thành ra mấy cậu phải bỏ mục tiêu.

Tôi hỏi đưa đà :

– Còn Tổng Tham Mưu Sài Gòn, anh Ba?

– Hiện mình đã đưa toán quân mới vào bao vây chặt và kêu gọi chúng đầu hàng. Hy vọng sẽ có một vụ binh biến hoặc buông súng tập thể.

– Dạ, còn tụi nhảy sau lưng Q16 ở Quới Xuân, anh Ba?

– Ối đó là tụi đóng dã ngoại không biết chiến sự ở Sài Gòn…

Ông Tư Lệnh nói ron rót. Ông lại còn móc bản đồ trải trên bàn chỉ cho tôi những điểm “quân ta đang làm chủ”.

Tôi không hỏi gì thêm mà chỉ tỏ vẻ nghe say sưa ông Tư Lệnh bố trí trận đồ và vẽ nên viễn ảnh chiến thắng. Ông xếp bản đồ lại và tiếp:

– Đợt hai mình sẽ khuếch trương chiến quả mạnh hơn. Bởi vậy quân nội thành cần được tăng viện để dứt điểm.

Tôi nhận lệnh xong đứng dậy, ngó quanh quất thấy hầm hố sơ sài, bèn hỏi:

– Bộ anh mới dời lên đây hả anh Ba?

– Ừ, mới lên.

– Sao anh không ở chung với mấy ổng?

– Mấy ổng bị B52 rải suýt trúng nên cuốn gói dông rồi ! -Anh trỏ tay về phía đất Miên- Giao cái hầm vĩ đại đó lại cho Phân Khu 1 mà tao chưa dám ở.

Tôi nói thầm trong bụng: cái hầm có cô hồn Sáu Di!

Từ giã ông Tư Lệnh, tôi bước ra ngoài hầm móc tờ quyết định thăng cấp E bậc phó Dương Đình Lôi kiêm luôn tham mưu trưởng E “Mũi Nhọn II”. Ngoảnh nhìn bốn phía suối rừng lạ hoắc. Chiến khu Long Nguyên thời chống Pháp, cậu bé này làm cán bộ mật mã ở nơi đây, lén vác địa lôi đánh xe nồi đồng ở ngoài quốc lộ kia.

Tuổi thanh niên của gã Thiên Lôi ăn cơm bảy phủ sống đủ mọi nơi từ Nam chí Bắc. Chốc đây mà đã hai mươi năm. Chiến tranh vẫn còn là chiến tranh, chỉ khác là khẩu súng trường MAS nay đổi lại khẩu M79 USA.

Đang đi bỗng nhớ những lời dụ khị của ông Tư Lệnh tôi suýt bật cười: Anh em với nhau từ thuở còn hàn vi mà ông anh lại nỡ gạt đứa em để xua nó vào lửa, làm như Sài Gòn sắp giải phóng đến nơi!

Bọn Cộng Sản tài thật. Hễ nói láo được là cứ nói, bất kể với ai.

Đi một quãng xa, bỗng nghe như có một vật gì cồm cộm trên ngực. À, thì ra cái quyết định thăng cấp! Lúc nãy khi xem xong tôi không xếp kỹ mà cứ nhét đại vào túi.

Tôi móc ra xem lại. Lúc nãy mắt tôi không nhầm. Tôi được thăng cấp E thật. Tôi liếc nhanh trên tờ pơ luya mỏng kêu rèn rẹt trong gió phất. Những dòng chữ thưa rĩnh thật rõ nét. Tôi chợt nhớ đến bàn tay của cô em Huỳnh Mai. Nếu em còn sống chắc em sẽ sung sướng lấm khi đánh bản quyết định này.

Dưới cùng có chữ ký “Tư Chi – Bộ Chỉ Huy Quân Giải Phóng”.

Tôi rùng mình. Đây là bản tử hình mà người ta nhờ kẻ địch hành quyết đấy em ạ.

Không thù nào sâu bằng thù tình yêu. Lê Duẩn sau khi ôm trọn người ngọc đã cho Nguyễn Văn Trấn văng cả ghế Tư Lệnh kiêm Chánh ủy Miền Tây chỉ vì hận làm kẻ đến sau.

Biết đâu tên này cũng theo cái mửng đó của ngài tổng bí thư và gã Thiên Lôi này đã từng giao du thân mật với nàng kiều Tháp Mười trước khỉ bị hắn phỗng tay trên đem về làm bà Tư Lệnh ở chiến khu Đ?

Ôi cái nghiệp oan oan tương báo của ái tình!

Chương 94

Cảnh cũ ngưòi xưa đâu tá!

Tôi đi ngang Bến Chùa, bảo thằng Đá và thằng Tiển dừng lại kiếm cái gì bỏ bụng. Từ Long Nguyên về tới đây cuốc bộ suốt ngày vừa băng qua những hố bom thường vừa lội qua những hố bom đìa. B2 đã phát quang rừng rậm thành đồng trống. Không còn nhận ra cảnh cũ. Đi qua vùng Sáu Phấn làm căn cứ H6 tôi cũng chỉ đoán chừng chớ không chắc trúng. Mà y cũng đâu còn để đón tiếp mình. Sáu Phấn là con người chân thành mộc mạc và lo cho gia đình nhất.

Thế nhưng bây giờ không còn lo được nữa. Chết thiêu cùng với Đào Hải và cả văn phòng quận đội Củ chi. Ban chỉ huy H6 chỉ còn sót mình tôi. Hai Giả bị khui hầm ở Thủ Đức. Sáu Phấn đi chuyên chở chôn dấu DKB ở Củ Chi rồi chết ở Củ Chi. Còn tôi lang bang khắp Củ Chi đến Trảng Bàng. Mộ tập thể này mấy chàng lãng tử Ba Tố, Tôn Sứt nằm đâu đây. Tôi ngậm ngùi nghĩ tới những người bạn gái của họ không biết mồ mả người yêu ở đâu để đốt nén nhang. Chắc B52 đã san bằng và thể xác họ đã vùi tan trong cát bụi.

Ngày tôi trở lại để chỉnh đốn H6, Sáu Phấn lôi ra chai rượu và gói tôm khô: “Tôi để dành cho thầy đây: Tôi sợ tôm mốc, nên mỗi lần có nắng tôi đem ra phơi rồi gói lại. Thầy coi nè, con nào con nấy đỏ au. Còn rượu thì càng để lâu càng trong vắt”. Lời nói của người bạn như còn văng vẳng bên tai.

Bây giờ kẻ dương gian người âm cảnh. Dè đâu đó là bữa tiệc cuối cùng. Bất giác tôi rút nút bình toong còn nửa rượu rót vung ra khắp đất:

– Sáu Phấn, Ba Tố, Tôn Sứt về đây uống rượu và phù hộ cho tôi.

Thằng Tiển và thằng Đá bảo chung quanh đây không còn tiệm quán nhà cửa gì hết.

– Còn quán bà Lụa đâu?

– Không có quán nào hết anh à !

Ngôi chùa ăn bom nhưng chưa đổ, cố đứng như hòn núi nhỏ giữa biển đất lởm chởm nhưng xóm nhà dì Ba đâu? Tôi từng về đây uống những ly la de, nước ngọt ngon lành. Tôi từng húp nước đá trên những ngón tay của những nàng nữ sinh. Ở đây tôi cũng từng nghe bà Tư Lệnh chỉnh đốn cái đầu ông Tư Lệnh một cách thẳng thừng.

Ôi cánh cửa hạnh phúc đã từng phen mở rộng cho gã lê dương giang hồ này đã bay mất, không biết họ đã đi phương nào hay đã bị vùi sâu dưới đất mà mình không biết. Và Lụa, má Hai và bé Rớt tía lia. Nếu tôi ưng thì gia đình của tôi đã là Bến Mương, là Hố Bò hoặc Bến Chùa, nhưng không đâu là tổ ấm của cánh chim bạt gió này. Nó vẫn còn bay trong khói lửa cho đến lúc gãy cánh rã xác tan tành.

Tội nghiệp hai thằng nhỏ cận vệ của tôi từ mấy tháng nay. Tôi vất vả bao nhiêu chúng cực khổ bấy nhiêu. Nửa đêm đang ngủ đập dậy đi thư hỏa tốc cũng chạy ngay, đạn bắn như mưa kêu đi truyền lệnh cũng phóng. Thằng Đá ở ngoài Bắc còn thằng Tiển ở trong Nam. Mười sáu mười bảy tuổi biết Mỹ Ngụy là gì? Tại lũ to đầu bày đặt lý tướng nọ kia rồi xúi giục trẻ con làm bậy.

Ba thầy trò xuống bến đò Dòng Sỏi ngồi chờ mong chộp được một chuyến qua sông. Thời may gặp Tư Thêu, anh thiếu úy đánh xe bò của nông trường Lam Sơn. Anh ta vẫn còn ôm cái vỏ B26 bị tôi bắn rớt ở Đồng Chà Dơ năm nào làm đò đưa khách của Tố Hữu:

Thuyền em rách nát
Mà em chưa chồng
Em đi với chiếc thuyền không
Khi mô xa bến rời dòng tham ô
Trời ơi em biết khi mô
Thân em hết nhục dày vò năm canh?

– Mày vẫn còn đây à Thêu?

– Chớ đi đâu bây giờ hả anh?

– Từ ngày thằng nhà báo mũi lõ (Bọ Chét) tới Củ Chi, bây giờ là năm năm phải không?

– Em cũng không nhớ là năm mười năm, hai mươi năm hay lâu hơn nữa. Hí hi… Trời, có trận em đang ở giữa sông anh ơi.

– Trận gì?

– Dưa hấu chớ trận gì. Nó tung em lên bờ, tỉnh dậy mới biết mình ăn dưa hấu đã đời. Em không còn biết đường nào nữa. Cái ghe nhôm của em cũng bị ném lên bờ nằm bẹp dí, em phải “gò” sửa lại. Anh coi đó, đúng là cái lỗ bị bão 52.

Tên thiếu úy vẫn yêu đời:

– Em ở đây nhưng biết hết tin tức Sè Goòng.

– Sao mày biết được?

– Tụi Tư Tăng, thằng Tẻo đều đi ngang qua đây chớ đi ngã nào? Thương binh cũng do em chở qua cho ông Tám Lê chớ ai?

– Tám Lê bây giờ ớ đâu?

– Em không biết? Có lẽ đã trôi qua đất thằng bò hóc rồi !

Tôi ngoặt lại:

– Đám thằng Tẻo thằng Tăng đi đâu?

– Em không biết.

– Mày thấy có đứa con gái nào không?

– Có hai ba nàng, có nàng tóc dợn sóng ba đào coi có vẻ Sè Goòng mắt ướt sầu ly biệt lắm.

– Thằng giỡn hoài mậy.

– Em nói thiệt mà. Bộ anh có quen sao?

– Công tác viên của tao. Vợ con mày ra sao?

– Em cho dông vô Dầu Tiếng lâu rồi.

– Mày biết quán em Lụa dời đi đâu không?

– Làm sao em biết được.

– Xuồng mày chở hết ba người không?

– Hết, nhưng một người phụ bơi, hai người phụ tát. Nếu không tát nhanh thì Hà Bá mời.

– Mày ở đây hoài sao?

– Ở ôm cái gốc bần này, lâu lâu vọt về Dầu Tiếng thăm má thằng Cu, chớ đi chỗ khác làm sao mà vọt. Với lại em ở đây hễ gặp lính mình oánh Sè Goòng lội dzìa em bảo quay trở lại Củ Chi tìm nơi tá túc. Qua sông bị bắt trói vô trại giam ở Suối Máu. Ông Trương Phi phi còn hăm tử hình nữa đó !

– Mày cũng biết vụ ông Trương Phi… nữa sao?

– Em còn biết nhiều chuyện nữa chớ!

– Chuyện gì?

Tư Thêu đến gần bên tôi rồi kêu lên:

– Bình toong của anh còn nước cay không cho em súc miệng sơ sơ di rồi em kể cho nghe.

Tôi đưa cho Tư Thêu. Hắn không lột ra khỏi vai tôi mà khom xuống rút nút rồi kêu lên:

– Bi đông Mỹ đâu mà xài đồ Trung Quốc vậy ông nội?

– Đổi cả đồ phụ tùng cho ông Năm Sài Gòn rồi.

Tư Thêu ngẩn ngơ:

– Ông hay tin gì chưa?

Tôi làm bộ không biết. Tư Thêu nói:

– Nếu ông chưa biết thì tôi không nói.

– Nói nghe thử coi.

– Ổng lên bàn thờ rồi. -Tư Thêu rỉ tai tôi.

Tôi tiếp tục đóng kịch:

– Tin vịt đó ông chăn bò à ! Tư lệnh gì mới xáp trận mà chết!

– Cha nội còn tàng nữa. Lính nó qua đò tôi nói om sòm ra, thòi lòi dưới gốc lá, khỉ đột trên ngọn bần còn rành kia cha. Chẳng những ông Năm Sài Gòn mà ông Tư Nhựt, Tám Lệ, Tư Chi cũng phủi cẳng hết rồi.

– Thôi mày ơi! Tin gián điệp đấy cha nội. ông Trương Phi mà nghe được thằng nào nói thì ổng cho mò tôm đó. Mũi nhọn của Tư Nhựt còn tung hoành dưới Sài Gòn kia kìa. Tao đi đón quân mới tới đưa xuống tiếp thu mấy căn cứ mình chiếm dược đây ! Mày lo chuẩn bị ghe máy để đưa vài trung đoàn qua sông.

Tư Thêu nhìn tôi tỏ vẻ nghi ngờ, tay thì vặn nắp bi đông lại . Tôi hỏi:

– Sao không uống, bộ chê ít hả?

– Không phải chê ít chê nhiều, mà rượu dưới đít bình lạt nhách, thôi không uống nữa.

Đột nhiên Tư Thêu hỏi tôi:

– Hổng biết ông Tám đi tới đâu rồi anh Hai?

– Ông Tám nào?

– Bộ ổng không có ghé anh hay sao? Tôi đưa ổng qua sông đấy. Ổng hỏi tôi có biết anh ở đâu không?

– À, ổng có ghé tao chơi hai ngày.

Rồi tôi tiếp luôn:

– Đấy mày thấy không ? Ổng về báo cáo tình hình và xin viện binh đấy. Ổng xuống trước chuẩn bị đợt hai, nếu không, cán bộ cỡ ổng trở xuống làm chi?

Nói láo dây chuyền. Lớn láo lớn, nhỏ láo nhỏ. Ông Ba Xu bịp Hai Lôi, Hai Lôi đẩy cây thoa mỡ bò với tên thiếu úy chăn bò. Hai Lôi biết mình bị lừa. Còn Tư Thêu, không biết hắn biết tôi nói láo với hắn không. Biết mình nói láo mà không cần người nghe biết mình láo hay không, thằng Cộng Sản vẫn tiếp tục nói láo, nói láo đến đổi chính hắn tưởng mình nói thật.

Tư Thêu đưa tôi qua sông xong, tôi còn nói láo thêm một phát nữa:

– Tụi thằng Tẻo, thằng Tăng chiếm đài phát thanh xong đó mày ạ !… Về R phen này tụi nó sẽ lãnh huy chương và mỗi đứa thăng ba cấp.

– Vậy à anh? Nếu em biết em đã xin thôi chức chăn bò để đi với tụi nó xuống đường kỳ rồi. Hì hì … ý mà thôi, đi với tụi nó rồi ai thăm má thằng Cu.

Tôi làm thinh. Không biết thằng chăn bò nói thiệt hay mỉa mai tôi. Tôi giục hai cậu cận vệ đi cho nhanh. Trời vừa sụp tối thì trực thăng cũng vừa vác đuốc rọi khắp mặt sông.

Ba thầy trò cứ cắm đầu chạy cho xa vùng tử địa (là bờ sông).

Nhưng kể từ vô đợt, bất cứ vùng nào cũng là vùng oanh kích tự do. Ở đây vốn là quê nhà của tôi… Chỉ cách mấy tháng mà trở thành lạ chân lạ mặt. Không còn tấm vách tường nhà mủ để làm vật chuẩn.

Vài dây ruộng lúa chín như tấm thảm vàng bị khoét thủng bởi bàn tay thần sấm. Tôi cứ nhắm hướng nhà cô xã đội mà đi. Tôi mang máng cảm thấy qua nhà Sáu Mã Tử, Năm Đầu Ban, Tư Ếch. Nhưng nhà cửa đã biến đi đâu hết. Tội nghiệp mấy cậu du kích này, bạn thân cận của Năm Cội, lần nào tôi về nhà cô em xã đội cũng xách tôm, ếch vô đóng góp mồi nhậu, bây giờ đã là cán bộ đại đội của tôi.

Đây là nền nhà của má Hai. Tôi còn nhớ được là nhờ gốc vú sữa cháy khô như thân người cụt đầu. Lần đầu tiên tôi về đây, ghế uống nước mía ở lò đường, đêm đầu tiên tôi nằm gối tai bèo trên ván gõ nhà má… Bây giờ không còn gì hết. Tôi cố tìm cây dừa cô em xã đội rắn mắt bảo tôi leo lên và ngó xuống… năm nào. Bây giờ cô em không biết trôi dạt nơi nào.

Ngôi nhà của Lụa sụp hẳn một bên, hai mái như đôi cánh con gà trùm lên chiếc ổ không có trứng. Nhà của chị Tám Khỏe và chú Tư Thiên ở sau kia, bên ven rừng cao su nhưng không thấy ánh đèn hoặc tiếng người. Cách đây vài tháng họ có vô văn phòng quận đội thăm tôi. Bây giờ không biết sống chết. Đám trẻ con hàng xóm tôi không biết tên, coi tôi như ruột thịt. Trước kia, tôi không để ý tiếng reo mừng của chúng, bây giờ thiếu chúng mới thấy sự lạnh lẽo của đất trời.

Từ đây mà về tới đơn vị thì không lội nổi, nhưng ở lại thì ở đâu? Ba thầy trò quay lại nhà chị Tám mong tìm cái miệng hầm chui xuống đó ngủ đêm nay. Trong nỗi tuyệt vọng, không dè lại gặp chị.

Chị ré lên:

– Cậu Hai đó hả?

– Ờ tôi đây chị Tám! -Tôi nhận ra tiếng của chị.

– Hồi nãy tôi có nghe tiếng chân đi, nhưng sợ biệt kích Mỹ. Đến chừng nghe tiếng cậu kêu mấy chú cận vệ thì tôi nhận ra cậu… Cậu đi đâu đây?

– Tôi ở bên sông về.

– Có gặp má Hai không?

– Có.

– Con Lụa bán quán có khá không?

– Khá ! -Tôi đẩy cây luôn hai phát liền- Con Lượm thằng Quỳnh di học chung với con Rớt. Trường học do con dì Ba dạy ở gần sát hè nên không sợ bom pháo.

– Lúc này bên đó cũng yên hả cậu?

– Quán xa đông nghẹt như chợ Sài Gòn vậy chị ơi!

– Thôi đi, đi vô nhà kẻo pháo bắn. Cậu thấy không, trước sân có một cái giếng, phía sau rừng có một cái ao. Tôi lọt kẽ giữa, B52 đó cậu.

Chị hối vô nhà, nhưng nhà đâu mà vô. Cái miệng hầm tum húm. Vừa chen vô tôi vừa hỏi:

– Ủa, còn chú Tư với cô xã đội đâu?

Chị Tám ngập ngừng:

– Ờ ờ chú Tư đi mua rượu. Còn con Là đi công tác.

Tôi la lên:

– Rượu đâu mà mua? Công tác gì?

Chị Tám ngoẹo đầu một bên miệng méo xệch:

– Chú Tư với con Là bị xe tăng càn nhẹp rồi cậu ơi.

– Ở đâu?

– Tôi đoán vậy vì ba ngày rồi tôi không gặp hai người.

– Hình ai trên vách hầm vậy?

– Anh Ba Tố chớ ai !

Chị vừa nói vừa rọi đèn sát vách. Trong kẽ nứt cắm mấy cây nhang loe hoe. Trong hầm thiếu không khí nên đèn đã tắt hồi nào. Chị nói:

– Ảnh hy sinh được bốn tháng mười ngày rồi.

Tôi móc hộp quẹt đốt cây nhang đang cháy dở. Chị vừa van vái vừa quẹt nước mắt:

– Cậu Hai về nè, anh Ba… Anh phù hộ cho cẩu với.

Chương 95

Chiếc áo kỳ lạ của người mẹ điên

Tôi về tới Củ Chi thì hoả tốc họp ban chỉ huy D truyền lệnh cấp trên. Tôi nói:

– Trừ tôi, các đồng chí trong ban chỉ huy D sẽ thăng lên bậc E, phó chính trị viên D lên phó chính trị viên E, D phó lên E phó.

– Ai là E trưởng ?

– Tôi đoán là Năm Tiều. Tôi chỉ là E phó kiêm tham mư trưởng. Nếu giờ phút chót ỏo trên chưa bổ nhiệm thì tôi là quyền E trưởng kiêm tham mưu trưởng.- Tôi nói thêm – Việc này phải giữ bí mật tuyệt đối, không được phổ biến.

– Nhưng quân số đâu đủ E?

– Đó là nhiệm vụ của cấp trên. Hiện giờ ta gọi D6 là E Quyết Thắng.

– Khi hành quân xuống đường nếu có chiến sĩ hỏi ta, ta trả lời cách nào?

– Tôi sẽ thỉnh chỉ thị sau. Còn bây giờ tuyệt đối bí mật.

Bác sĩ Năm Hồng tăng cường nhân viên để vô máu gà. Bảy Ga đi ngang vỗ vai bảo:

– Sắp gáy to rồi đó nghe ông bác sĩ. Ông báo hại đây rồi dân Củ Chi này con gái mọc mòng gáy như gà trống không ai ngủ được.

Tôi muốn bảo ông ta chuẩn bị bông băng và mọi thứ dụng cụ cho nhẹ nhàng để xuống đường nhưng sợ lộ bí mật nên chỉ bảo sơ sơ.

– Ông bác sĩ vô xong lượt này, tạm ngưng để đi công tác gấp.

– Dạ, chỉ riêng bộ phận quân y hay cả D?

– A a.. chỉ bộ phận quân y.

Bà Năm Đang, Hai Xót và nàng Tám Phụng bỗng đâu kéo đến. Bà Năm bô bô cái miệng:

– Anh Hai mang chuông đi đánh xứ người không cho tụi này hay gì hết.

– Quân sự mà cho sao được chị Năm!

– Hạ được đồn Thái Mỹ dân Trảng Bàng lên gà lắm, còn Củ Chi mình anh tính sao?

– Tụi tôi hổng có phân bì đâu, nhưng các anh lập công tụi em phải làm tiệc đãi cho mát lòng anh em chớ.

Thấy nàng Tám Phụng duyên dáng, Bảy Ga bảo:

– Đãi thì đãi nhanh lên kẻo tụi này hụt ăn đó cô Tám.

– Ăn tiệc chớ “ăn đó cô Tám” là ăn cái… gì của cổ?

Một cậu nói:

– Vậy thì ông bác sĩ đừng tiêm cho mấy bả nghe!

– Sao vậy?

– Mấy bả mọc mòng chớ sao!

Cán bộ chiến sĩ cười rân. Nàng Tám Phụng đỏ mặt đỡ gạt:

– Người ta nói ngay mà mấy anh bẻ quẹo không hè!

Tôi bảo:

– Mấy chị có đãi thì làm mau mau lên chớ chậm thì không kịp vô đợt. Nhưng mấy chị nên nhớ hỏi ý kiến ông “Tư Lệnh Đồng Dù”‘, ông “Chánh ủy Trực thăng”, hễ mấy ổng gầm thì dẹp luôn chớ không có tiệc tùng gì được.

Ban chỉ huy D nhất trí là không lộ bí mật về vụ xuống đường của D nhưng thằng nào cũng lẻn về nhà hoặc đi thăm bồ bịch. Tôi biết vậy nhưng để yên cho chúng nó đi. Để tôi… cũng đi. Thi đua nhau ta cùng đi!

Ở chế độ nào thì tôi không biết, chớ trong chế độ Cộng Sản thì chính cán bộ nhà nước vi phạm luật nhà nước, những tên tướng phạm điều lệnh quân đội, những tên Bộ Chính Trị phạm kỷ luật đảng nặng nề, thô bạo nhất, mà không hề bị trừng trị, ngược lại còn được che chở rất kỹ.

Người ở trong ngó ra, kẻ ở ngoài nhìn vào thử xem có đúng vậy không? Mấy anh chàng trong ban chỉ huy D len lén biến dạng bữa trước thì bữa sau tới cán bộ C, B. Chỉ có đám chiến sĩ là chịu thiệt thòi nhất.

Lúc đi vào Trường Sơn cũng vậy, lũ nhóc con đang học bỗng bị lùa đi, không biết đi đâu, đến chừng biết đi đâu là hết trở về được.

Tôi tìm Năm Tiều. Gặp mặt, tôi hỏi ngay:

– Tính sao “chú Năm”?

Năm Tiều với tay rút chai rượu Mỹ (đánh lấy hồi trận đột nhập Củ Chi, tính đem qua cho ông Ba Xu hôm bữa tiệc nhưng thấy nhiều rượu ngon quá, Năm Tiêu én lại đem về), đặt trên bàn bảo:

– Cưa cho đứt khúc này rồi sẽ hay.

– Anh được quyết định chưa?

– Quyết định gì?

– Tôi E phó thì anh E trưởng chớ ai vô chỗ đó?

Năm Tiều rùng mình:

– Bộ mày tính tao thay mũi nhọn Tư Nhựt hả ? Tao chưa được chiếu chỉ của hoàng thượng.

– Tôi bị cú “rờ văng” này nặng lắm anh Năm.

Tôi kể chuyện năm xưa tôi và nàng Kiều kéo dài từ Tháp Mười tới Miền Tây lâm ly bi đát cho anh nghe. Anh Năm rót rượu, hai đứa ực khan một lúc thì cô bé Thanh mới đem khô cá lóc tới. Anh vừa nhai vừa rứt nhậm nhày và kêu:

– Có thứ gì khác không? Bay đem thứ này tao gặm sao vô ?

Rồi tiếp:

– Chưa chắc người ta chơi cú rờ văng đâu chú em. Nghi oan tội nghiệp ông. Người ta là người lớn mà, đâu có hèn hạ như vậy.

– Lớn cỡ anh Ba mặt nám không? Anh xem ông Bảy Trấn có tội gì mà bị lột lon lột gáo cho ra đâu? Đang là Chánh ủy kiêm Tư Lệnh Miền Tây, từng là chủ bút Le Peuple ở Sài Gòn thời Mặt Trận Bình Dân, từng làm phó bí thư Xứ ủy Nam Kỳ, khét tiếng anh Bảy Camel, cỡ ảnh đóng lon trung tướng cái một như ông Trà ông Vịnh, khuyết điểm gì mà bị hạ từng công tác? Một chức việc cho Trung ương cũng không được. Phải chăng vì anh Ba hận làm “kẻ đến sau của anh Bảy?

– Hận gì mà hận. Cỡ ông mà quơ được nàng Kiều hơ hớ như vậy là phước lớn. Ổng phải mang ơn anh Bảy nhà mình chớ. Hận là hận làm sao?

– Đời này thiếu gì người lấy ân báo oán, anh Năm ơi!

– Thôi bỏ đi, đừng nói tới nữa uống rượu đắng nghét. Mày định chừng nào đi?

– Ở trên cho hai tuần.

– Chắc họ chê tao trâu già không kham ruộng lầy.

Hai anh em ngồi uống, thỉnh thoảng mới phóng ra một câu.

Năm Tiều hỏi:

– Mày mới gặp ai?

– Ông Ba Xu.

– Mấy lần có tao họp, ổng với ông Năm Lê luôn luôn có ý kiến giữ mày lại để đào tạo cán bộ sau này. Không hiểu sao lần này ông thay đổi ý kiến.

– Quyết định không phải do ông ký.

– Tụi E1 của Trí O thuộc công trường 5 ở trên vừa gởi xuống đó. Chuẩn bị đợi hai xuống Quang Trung. Nhưng vừa đặt chân tới Sa Nhỏ, trang bị toàn AK với B41 đã chạm ngay xe tăng của tụi Nhiệt Đới 25, hạ được có một chiếc bên Phú Hòa vừa sấn vô đầu ấp Sa Nhỏ, nó dạt ra kêu pháo Đồng Dù, pháo Chà Rầy với cả phản lực làm tan nát hết cái ấp Sa Nhỏ, tre trúc mới vừa mọc lên sau trận mày đánh tụi đổ chụp năm rồi, chưa chi đã nướng gọn một D với cả ban chỉ huy E. Thây xác tụi du kích Út Chạy, thằng Nhanh cứ lôi lắp xuống hố bom, dân đâu còn mà đóng hòm chôn đàng hoàng như lúc trước. Mỹ nó có cho nắm thắt lưng nó đâu mà tưởng bở… Trí O mới lên sư phó, mới vô tới miệng lò trung tuyến mà đã rụi hết một E rồi còn đấm đá gì mà xuống Hóc Môn?

Tôi chạm ly cuối cùng với Năm Tiều:

– Thôi, tôi đi nhé.

– Ừ, đi thì đi. Không biết gặp nhau ở đâu.

– Gặp ở đâu thì gặp.

Rồi tôi đi. Trời chiều bảng lảng. Cánh đồng trước mặt không rõ là tên gì. Tôi cứ nhắm hướng ra Ràng. Ở đây không biết bao nhiêu kỷ niệm. Tôi nhớ nhất thằng Quyết, nó vừa vác cây B40 đi vô Tân Quy miếng láp đáp: “Anh Hai coi em ‘chơi’ tụi nó!, nửa giờ đồng hồ sau, anh em vác nó ra, sọ bể nát. Hai hôm sau ông già đào mả móc xác con về chôn trong vườn nhà, gặp tôi và Năm Tiều ở Ba Sòng gần mả thằng Chi.

Ôi chiến tranh!

Tôi đến nhà Mầu. Không biết để làm gì, nhưng thấy cần phải đi. Tiệm quán đóng cửa khít rim. Tôi đập cửa dữ dội và xưng tên hai ba lần nàng mới ra mở cửa.

– Em đang mong anh.

Tôi buồn rầu hỏi:

– Để làm gì?

– Em sắp đi. -Rồi nàng ôm choàng lấy tôi khóc rưng rức.

Tôi hỏi:

– Ở nhà đi đâu cả?

– Ba má em đi Chợ Lớn với con Mi rồi mắc kẹt ở dưới luôn. Má em nhắn về, nói nhà cậu em chết hết. Má biểu em bỏ nhà đi Sài Gòn. Ổng bả không về nữa.

– Hả ?

– Nhà cậu mợ em ở Phú Lâm cháy hết trơn cả nhà chết bốn người.

– Ừ em đi mau đi. Anh đưa cho đi!

Nàng đốt nhang trên bàn thờ Quan Công và hỏi:

– Anh biết ai đó không?

Tôi giải thích cho nàng nghe tiểu sử Quan Công và hai vị tướng hầu cận là Châu Xương và Quan Bình. Nàng nói:

– Anh còn rành hơn em…

Nhìn tôi sững sờ, nàng hỏi:

– Sao anh có vẻ khác thường vậy?

– Đâu có gì khác thường?

Nàng ngồi bên tôi rủ rỉ:

– Lúc trước em không cho anh, không phải vì em tiếc, mà em để dành… Anh à, đêm qua anh có nghe máy bay loa không?

Tôi có nghe nhưng lấc đầu:

– Không có nghe gì hết. Uống rượu say ngủ luôn.

– Uống với ai?

– Uống một mình.

– Đêm qua em cũng ở nhà một mình. Pháo cứ bắn ngoài hè sợ quá ! Sao anh không đến với em?

– Công việc lu bù.

– Chừng nào anh xuống đường?

– Sao em biết?

– Hết mấy ổng rồi tới anh chớ sao không biết!

– Mấy ông nào?

– Anh tưởng em điếc hay sao?

– Em nghe mấy cái loa đầm già mà bán lúa giống.

– Em không nghe đầm già đâu. Lính về đây nói còn hơn loa đầm già. Họ nói tỉ mỉ chớ không sơ sơ đâu. Ông Hai Nan…

Tôi xua tay. Hai Nan đánh cánh Phú Lâm, chính là tên thủ phạm giết gia đình cậu của Mầu. Bị tôi chắn ngang, Mầu vẫn nói càn tới:

– Còn nhiều ông nữa, em nhớ không hết tên, nhưng toàn là ông lớn!

Mầu nói xong móc trong túi ra mẩu giấy. Tôi đọc qua:

“Chúng tôi là lính Quyết Thắng đi mua hàng của quán này, tổng cộng là 4200 đồng. Yêu cầu ban hậu cần trả vì chúng tôi không còn tiền ăn trong một tháng nay”.

Mỗi giấy ký tên một đơn vị khác. Cũng cái điệu như bên quán dì Ba. Tụi lính đói đặt chế ra kiểu trả tiền mới không ai ngờ. Tôi đọc thấy một tên quen quen: “Diệu”. Hình như tôi có gặp anh chàng này ở đâu. Diệu quyền tham mưu trưởng E268.

Tôi hỏi:

– Em có thấy cậu nào quen không?

– Cái ông ký tên trong tờ giấy đó nói là có quen với anh và hỏi nhà cô Là ở gần đây không?

À, đúng rồi ! Tôi nghĩ thầm, cậu bé xin dừa khô nấu thịt chó. Hồi đó là quản lý đại đội thì phải. Bây giờ là quyền tham mưu trưởng E. “Tiến bộ” nhanh nhỉ!

– Còn ai em quen nữa không?

– Ông nào ông nấy mắt thụt lút, răng chĩa ra như muốn ăn thịt em, em không dám dòm lâu.

Hồi lâu Mầu nói:

– Em muốn nói với anh một chuyện…

Tôi báo cho nàng biết:

– Em bị tụi Q16 gạt rồi. Nó ăn chịu rồi ký giấy cho E Quyết Thắng. Quyết Thắng đâu có về ngã này. Thôi, chuyện đó dẹp qua đi em .

– Không phải chuyện đó nữa đâu, chuyện khác.

Chập sau, khi chúng tôi trở thành vợ chồng với nhau, Mầu mới rủ rỉ:

– Anh về Sài Gòn sống với gia đình em nghen anh!

– Không được? -Tôi đáp như có cục gì lợn cợn trong cổ họng.

– Được mà ?

– Đã bảo không được!

Mầu im không dám nói nữa.

Tôi thức giấc vào lúc gần sáng. Nàng lấy chiếc khăn trắng tinh lốm đốm những cánh hoa trinh xếp lại, rồi bỏ túi áo trên của tôi, gài nút lại, bảo:

– Em đã hiến cả đời em cho anh rồi. Người Tàu chúng em tin tưởng đó là cái bên trong mọi việc làm ăn. Anh đi cho được may mắn luôn. Nhớ em nhé. Anh có vô Chợ Lớn tìm đến số nhà… Đó là tiệm của cậu em. Ba má em sẽ ở đó

Rồi nàng hôn tôi, nước mất đầm đìa.

Tôi bước ra đồng, cảnh vật mờ sương, cắm cúi đi, đầu óc đặc sệt không suy nghĩ được gì. Mặt trời lên lúc nào không hay đỏ bầm ở phía Phú Hòa Đông như mồm con hổ đói há ra.

Cảnh vật chết hoàn toàn. Bỗng chân tôi dẫm lào xào trên giấy. Trên cành cây khô ven đường mấy mẩu giấy vướng lắc lư như cánh bướm. Tôi không nhìn, nhưng kìa nhiều giấy quá, những tờ giấy bằng bàn tay, cả trên cành cây lẫn mặt đất.

Tôi uể oải cúi xuống lượm. Trời ơi! Trước mắt tôi rợp trắng cá một góc đồng. Tôi liếc qua và vò xé vứt vào bụi. Đấy là những đơn về những “ông lớn” Mầu vừa nhắc.

Tôi rẽ sang ngã khác để tránh những tờ giấy.

Từ đằng kia một người đàn bà bồng con đi lại. Phải là một người đàn bà điên mới đi trên đường trống trong giờ này. Đúng, đó là người đàn bà điên vợ Tư Nhựt. Bà ta ẳm con bé Thơ vừa đi vừa múa tay hò hét khúc hát quen thuộc Bài Ca May Áo:

Chiến sĩ ta ngồi đâu ngủ đó
Ngủ không giăng mùng muỗi cắn rồi la

– Chị Tư! -Tôi quát to.

– Ai đó?

– Tôi, tôi là Hai Lôi đây này.

Tôi xưng tên tôi để mong chị tỉnh cơn ác mộng, nào ngờ đâu chị lại bị xúc động mạnh hơn.

Chị kêu rú lên:

– Chồng tôi đâu? Chồng tôi đâu?

– Anh Tư đang ở nhà chị à . Để tôi dắt chị về gặp ảnh.

– Không! Không! Chồng tôi chết rồi. Chúng nó giết chồng tôi ăn hết thịt xương rồi ! Con ơi con! Hu hu! Con ra đời không biết mặt cha. Cha con nói chuyện với con hồi con còn trong bụng mẹ. Cha con chết khi con ra đời khóc oe oe được hai bữa.

Tôi sợ chị đánh rơi đứa bé nên đưa tay ẵm. Bé Thơ mới được hơn một tháng, mắt đen láy nhìn tôi. Tôi chưa có con nhưng tôi hiểu nỗi đau lòng người cha ra đi lúc con sắp chào đời.

Tôi không biết nói gì. Mọi lời nói đều trở thành láo toét. Tôi dỗ ngọt đưa hai mẹ con về đơn vị, định bụng ở đó sẽ gặp mấy bà Năm Đang, Hai Xót nhờ hai bà giúp đỡ .

Cơn điên của người mẹ cứ nổi lên từng chập, rồi lại dịu xuống không có chừng có đổi gì. Về đến nhà tôi mới để ý thấy chị mặc chiếc áo lạ lùng. Trên chiếc áo bà ba của chị dán đầy những truyền đơn như những mụn vá ly kỳ.

Cán bộ và chiến sĩ ta bu lại đọc.

+ Tư lệnh phân khu 2 và 3 Hai Nan cùng gia đình hồi chánh.

+ Cục trướng cục tác chiến R Nguyễn Văn Sinh tức Ba Ngọt, tư lệnh phân khu 5 tức hữu ngạn sông Sài Gòn bị nhân dân tự vệ bắt ở Xóm Mới, Gò Vấp.

+ Năm Sài Gòn tức là Năm Truyện, tư lệnh công trường 5 kiêm tự lệnh Mặt Trận Tả Ngạn sông Sài Gòn cùng toàn bộ ban chỉ huy trung đoàn mũi nhọn bị tiêu diệt ngay phút đầu của trận đánh vào phi trường Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham Mưu.

Vừa nghe hai tiếng “mũi nhọn”, vợ Tư Nhựt ré lên:

– Chúng mày ác lắm. Con đẻ ra không gặp mặt cha. Chúng mày ăn tươi nuốt sống chồng tao!

Bỗng có tiếng đầm già ù ù từ xa. Mọi người tự động chui xuống hầm. Tiếng máy bay mỗi lúc một gần… Rồi bỗng một tiếng “xòe” và tiếp theo là tiếng loa:

“Allô! Allô! Đồng bào Củ Chi nghe đây. Trận tổng công kích Tết vừa qua đã đem lại thất bại nặng nề cho quân Việt Cộng và Bắc Việt do tướng Giáp chỉ huy. Trên hai mươi lăm ngàn quân chính quy và du kích đã bỏ mạng ở ven đô và vùng quanh các thị xã. Chúng đã không chiếm được một cứ điểm nào, các Bộ Tư Lệnh chỉ huy đánh vào Sài Gòn đã rút chạy hoặc bị tiêu diệt. Số còn lại đã ra hồi chánh. Tiếp theo là tư lệnh phân khu 2 và 3 Hai Nan hồi chánh, có chánh ủy Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của R cũng vừa hồi chánh tại Lái Thiêu. Xin mời đồng bào nghe tiếng nói của ông Trần Văn Đắc tức Tám Hà, chánh ủy của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương: Đồng bào Củ Chi thân mến, tôi là Tám Hà, chánh ủy mặt trận phân khu I…”

Tôi đang ngồi dưới hầm bèn ló cổ ra miệng hầm để nghe cho rõ.

Đúng là giọng anh Tám. Lúc chia tay anh vỗ vai tôi: “Hẹn gặp ở Sài Gòn”. Câu nói đó có hai nghĩa. Bây giờ tôi mới rõ.

Tôi rêm nhức cả mình mẩy. Như thường lệ, tôi đi tìm ông đốc chiến để uống rượu và tâm sự. Ông cứ uống một ngụm, giằn ly chép miệng:

– Có lý nào, có lý nào như vậy được?

– Lỗ tai tôi đâu có nghe lầm.

– Tám Lệ tao còn không tin nữa là Tám Hà hồi chánh.

– Tám Lệ chết lúc mới vô đợt, ông nội ơi.

Năm Tiều ngồi im hồi lâu lại chép miệng:

– Hồn ai nấy giữ!

Sáng dậy, tôi về tập họp đơn vị điểm binh để chuẩn bị xuống đường. Mãi không thấy các ban chỉ huy dắt đơn vị tới. Tôi hỏi Bảy Ga, Ba Thắng, Tư Quân, Hai Khởi không ai nói gì. Tôi biết đám lính anh dũng của tôi đã chuồn quá nửa. Chẳng lẽ tôi lại làm ông Trương Phi đi lùng bắt chúng nó đem về? Tôi bảo ban chỉ huy:

– Để coi, chiều nếu được quá nửa quân số thì xuất quân.

Vừa dứt lời, một thằng bé lùn lùn đầu trọc mới hớt, tóc lên lún phún, từ ngoài sân chạy vô. Vừa chạy vừa kêu:

– Anh Hai ơi! Anh Hai ơi !

– Cái gì vậy?

Tôi nhìn ra thằng Hòn dáng điệu hớt hãi. Tôi nói thầm: “Thôi, thiệt rồi!”

– Chú Tám “đi” rồi anh ạ. -Thằng Hòn nói.

– Đi đâu?

– Chú bảo tôi mượn xe đạp của mấy ông ủy ban xã , rồi đạp qua cầu Lái Thiêu đi luôn. Hu hu hu! thằng Hòn ôm chặt và gục vào ngực tôi.

– Mày nói thiệt hả Hòn?

– Em thương chú Tám lắm anh Hai à ! Em với chú trở xuống kỳ sau không tìm gặp ông già cho mượn xuồng câu tôm nữa… Chú bảo em về nương náu với anh. Hu hu…

– Ừ! Thôi mày ở đây tao tính cho! -Tôi cố ôm nó cho khỏi ngã .

Ngoài trời, những tờ bươm bướm rơi lả tả như những mảnh khăn sô tơi tả.

Chương 96

Phụ đề tên tướng đầu đỏ “Sáu Di”
Tên ăn trộm bây giờ mới thú tội và nói láo:
Nguyễn Chí Thanh chết ở Hà Nội vì bệnh tim

Trên tờ Tuổi Trẻ số đặc biệt 30 tháng Tư 1995 xuất bản ở Sài Gòn, tên bồi Văn Phác đã khai thật hành vi ăn trộm của tổ chức gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, thực ra là quân Bắc Việt cầm cán chớ không phải Quân Giải Phóng nào cả.

Bức hình mà chúng tôi cho in kèm theo đây xác nhận sự có mặt của bọn này ở Miền Nam trong mưu đồ ăn cướp Miền Nam từ năm 1964. Tên mặc áo quần sáng ngồi hàng đầu hút thuốc chính là tên “đại tướng đầu đỏ Nguyễn Chí Thanh”.

Trước nhất, chúng tôi xin nói sơ qua về lý lịch tên bồi đã tự tố cáo hành vi ăn trộm gà của bè lũ chúng.

Tên hắn là Văn Phác, khi viết bài này thì hắn là thiếu tướng, nhưng lúc được tên Thanh chọn lựa vô Nam để xách dép cho Thanh thì Phác chỉ là thiếu tá , đang làm chủ nhiệm tờ tạp chí Văn Nghệ Quân Đội ở số 6 Lý Nam Đế, bên cạnh tòa soạn báo Quân Đội Nhân Dân ở đường Phan Đình Phùng.

Trong lúc hai thượng tá Võ Doãn, chủ nhiệm báo Quân Dội Nhân Dân, và Lê Quốc Vinh được đi học Liên Xô và xin ở luôn bên đó không chịu về Việt Nam nữa thì Văn Phác một lòng nâng bi Nguyễn Chí Thanh cho nên được Thanh đề bạt khá nhanh.

Phòng Văn Nghệ Quân Đội bấy giờ có những người chính yếu sau đây: Nguyễn Khai, Phùng Quán, Hồ Phương, Trọng Oánh, Nguyên Ngọc, Nguyễn Ngọc Tấn, Thanh Tịnh, Chính Hữu, Tạ Hữu Thiện… Phùng Quán thì nằm trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm, Tạ Hữu Thiện thì chống đảng với tác phẩm Lửa Thanh (do nhà xuất bản Lao Động in chớ không phải nhà Văn Học). Nguyễn Ngọc Tấn về Nam lấy tên là Nguyên Thi bị máy bay Mỹ bắn chết ở miền Đông Nam Bộ khoảng năm 65, 66 gì đó. Nguyên Ngọc về khu 5, sau năm 75 trở ra Hà Nội làm chủ nhiệm báo Văn Nghệ trong phòng trào “cởi mở”. Vì cởi quá mạnh nên Nguyên Ngọc bị mất chức. Nguyễn Khải là cây bút số một của Ban Tuyên Huấn Trung Ươong, nhưng sau này lại quay ra chống đảng với nhiều bài, trong đó có bài: “Hà Nội dưới mắt tôi: Tiền”, thật ác. Còn ông thi sĩ Thanh Tịnh thì theo đảng sát đáy quần …. chúng ta.

Tờ Văn Nghệ Quân Đội do Văn Phác làm chủ nhiệm là tờ nổi tiếng lập trường, chỉ có mấy tên tướng tá đọc và khen thôi, ngoài ra, đến lính cũng không ngó tới. Nhưng Phác ta vẫn cứ ra đều vì có sẵn tiền và nhà in của đảng. Tuy không viết nhưng Phác lại có nhiều “bút danh” : Văn Phét, Văn Chó, Phác Cẩu.

Cái bút danh đầu tượng trưng cho tài nói phét của hắn trong cương vị chủ nhiệm. Cái bút danh thứ hai, ba là vì hắn có cái răng khểnh ở mép trái. Nhiều anh em văn nghệ sĩ gọi thẳng là “Phác Chó”, có anh em nhã nhặn hơn thì gọi là “Phác Cẩu’, vì không có khả năng viết văn, nhưng lại có quyền sát sanh, quyền tâu cáo lên trên. Hắn không biết gì về văn học, nhưng đảng cần lập trường ngay ngắn để dễ chỉ huy nên hắn cứ là “lãnh tụ” con của đám văn nghệ sĩ quân đội, dưới quyền Ban Văn Hóa Tư Tưởng nằm trong Ban Tuyên Huấn Trung Ương của Tố Hữu. Nhờ “lập trường” vững nên vô Nam hắn được Nguyễn Chí Thanh cho xách dép hầu hạ điếu đóm một thời gian loanh quanh ở R hú hí với các cháu gái nấu cơm, nhưng trước đó hoặc sau này kẻ làm bí thư cho tên đại tướng thầy Ba Nguyễn Chí Thanh là Thuận, mà Phác nói là bác sĩ riêng của Thanh, sự thực không phải. Thuận là phó tiến sĩ đi học Liên Xô về, và vì là người Nam Bộ nên được Thanh xài trong lúc vô Nam Bộ.

Báo Tuổi Trẻ cho biết là năm 1974, Văn Phác làm chủ nhiệm Cục Chính Trị Quân Giải Phóng Miền Nam, từ một tên thiếu tá chủ nhiệm một tờ báo nhèm, lại phóng lên làm chủ nhiệm Cục Chính Trị Quân Giải Phóng? Trong lúc Lê Đức Anh làm Cục Trưởng Cục Tham Mưu, thiệt là lạ ! Báo Tuổi Trẻ còn cho biết trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, Phác làm chánh ủy quân đoàn dã chiến 232, quân đoàn đó là quân đoàn nào? Chẳng có quân đoàn (ít ra là một tổ chức gồm mười sư đoàn Corp d’ Armée). Đoàn quân ô hợp Bấc Kỳ vô tới Nam trở thành một đám tàn quân thảm hại mất khả năng chiến đấu, đồng bào trong Nam gọi là “đám lính cứt ngựa” (vì bọn này mặc quần áo màu cứt ngựa) hoặc “lính vịt xiêm” (vì chúng mang dép râu đi như vịt xiêm). Xin mời bạn đọc lời thú tội của tên Văn Phét đăng trên đặc san Tuổi Trẻ số đặc biệt 30 tháng Tư 95 xuất bản ở Sài Gòn nói láo về cái chết của tên giặc đầu đỏ Nguyễn Chí Thanh với tên bài “Chuyện bây giờ mới kể” như sau:

Một ngày cuối tháng Tám 1964 tôi có việc bận ở toà soạn nên về nhà muộn. Hồi đó, tôi đã từ chủ nhiệm tạp chí Văn Nghệ Quân Đội chuyển sang phụ trách báo Quân Đội Nhân Dân. Vào khoảng giữa trưa, bỗng một đồng chí liên lạc hối hả đen đưa tôi một công văn hỏa tốc trong đó chỉ có mấy dòng ngắn gọn của phó chủ nhiệm Tổng Cục Chính Tri Phạm Ngọc Mậu, hẹn 14 giờ tôi vào gặp anh có việc gấp.

Tôi vào cơ quan sớm trước giờ hẹn. Ít phút sau anh Mậu đến.

Anh cười:

– Mình nói cậu biết nhưng phi “bem ” tuyệt đôi. Chắc cậu cũng chưa biết anh Thanh đã được phân công thay mặt Bộ Chính Trị vào trực tiếp lãnh đạo chiến trường. Anh đề nghị chọn một số cán bộ đi cùng đợt này, trong đó có cậu đấy. Đã có quyết đinh của Quân ủy Trung ương đây rồi. Hôm nay tôi mời cậu vào là để phổ biến nhiệm vụ.

Mấy hôm sau tôi được triệu tập dự một lớp học đặc biệt. Số cán bộ được tập trung đi B lần này lớn nhất từ trước đến nay, phần lớn là từ cấp tá trở lên, và là cán bộ đơn vị chủ lực gồm đủ mặt các anh tài của bộ binh, pháo binh, công binh, đặc công và đủ cả cán bộ tham mưu, chính trị, hậu cần. Buổi kết thúc, lớp học được Bộ Chính Trị đãi một bữa tiệc mặn tại nhà kịch Bộ Quốc Phòng. Cũng là một buổi kết thúc rất đặc biệt. Có gần đủ mặt các đồng chí trong Bộ Chính Trị và Quân ủy Trung ương đến dự. Và đặc biệt, bác Hồ cũng đến dự buổi gặp mặt này.

Trong buổi liên hoan, riêng tôi cứ thấp thỏm vì sao một nhân vật quan trọng như đồng chí Nguyễn Chí Thanh lại vắng mặt ở đây. Tôi đến hỏi anh Mậu. Anh ghé vào tai tôi nói nhỏ:

– Ông Thanh đã đi bằng đường đặc biệt, vào tới trong đó an toàn rồi, đang điện ra giục các cậu vào gặp đấy. Còn vào làm gì kể cả cậu, tới trong đó anh Thanh sẽ giao nhiệm vụ cụ thể.

Vài ngày sau chúng tôi được lệnh lên đường. Để bảo toàn lực tượng, chúng tôi được chia ra nhiều tốp nhỏ và mỗi tốp đi theo một đường khác nhau. Lúc đó chiến trường đang cần một số cán bộ bộ đội chủ lực có kinh nghiệm vào gấp để xây dựng “quả đấm chủ lực” của Miền nên phần lớn đi bí mật theo đường biển. Tốp năm người chúng tôi cũng được làm một cuộc hành quân mạo hiểm theo đường mòn trên biển. Sau bảy ngày đêm, con tàu bé nhỏ của chúng tôi chẳng khác gì một chiếc lá tre lênh đênh giữa đại dương chất đầy vũ khí, thuốc nổ trong khoang, thêm năm cán bộ đi cùng, đổ bộ trót lọt vào cửa sông Cổ Chiến thuộc tỉnh Trà Vinh. Từ đó chúng tôi chuyển sang đường giao liên trên bộ, lặn lội cả tháng trời ròng rã mới tới trạm đón của R (tên gọi tắt cơ quan Trung ương Cục ở Miền Nam). Chúng tôi được đưa về Cục Chính Trị Miền. Ngay sáng hôm sau, anh Hai Chân (Lê Văn Tưởng) đưa chúng tôi sang gặp anh Thanh ở ban chỉ huy Miền gần đấy.

Anh Thanh niềm nở ra đón chúng tôi vào nhà. Anh vui vẻ giới thiệu nhà xinh xắn do các đồng chí vệ binh dựng lên rất nhanh để anh vừa làm việc vừa ngủ ngay bên hầm trú ẩn. Nhà để trống bốn bề vì ở miền Nam cả đời không có gió bão nên anh Thanh muôn để vậy cho thoáng. Bàn làm việc của anh và ghế đều làm bằng các cây nhỏ ghép lại. Giường cũng bằng cây, có thêm một chiếc võng ny lông mắc vào hai cây cột. Anh ngồi đu đưa trên võng và bắt đầu bằng việc xưng tên:

– Các cậu này! Vào đây vui thật, mỗi người đều được đặt một tên và được phong thứ nữa. Nguyên Chí Thanh bây giờ tên là Sáu Di đấy nhá! Cái tên này cũng có lai lịch, để rồi nói sau. Từ nay câm tiệt gọi tên cúng cơn. Các cậu cũng vậy, đều đặt tên mới và gọi bằng thứ.

Anh vui miệng giới thiệu anh Trần Văn Trà, chỉ huy trưởng ban chỉ huy Miền. là Tư Chi; anh Lê Trọng Tấn, chi huy phó, là Ba Long; anh Trần Độ, phó chính ủy, là Chín Vinh; anh Lê Đức Anh, tham mưu trưng, là Sáu Nam v.v… Một cuộc đặt tên cho chúng tôi diễn ra sôi nổi ngay tại nhà anh. Tôi vốn họ Trần, thấy chưa có nhận thứ tám, nên xin đặt tên mình tà Tám Trần.

Sau đó, anh nói về tình hình và nhiệm vụ cụ thể cho từng người. Trước hết anh hỏi chúng tôi trên đường đi có theo dõi chiến trường Bình Giả không ? Cũng nhờ Tổng Cục Chính Trị phát cho mỗi người một cái đài Panasonic của Nhật nên chúng tôi không nên nỗi ù ờ lắm. Sau khi nghe chúng tôi trả lời, anh sảng khoái nhận định: Đây là đòn đầu tiên, trung đoàn chủ lực của ta diệt chiến đoàn Ngụy ngoài công sự. Nhưng ta còn phải vươn lên có nắm đấm chủ lực lớn hơn, mạnh hơn, đủ sức diệt gọn cả tiểu đoàn chủ lực Ngụy trong công sự mới hòng xoay chuyển nổi tình hình. Anh càng nói càng say sưa, hút thuộc lá liên tục. Anh nhắc đi nhắc lại nhiệm vụ cần kíp trước mắt là phải có phong trào chiến tranh nhân dân mạnh. Bỗng anh nắm chặt bàn tay giơ cao trước mặt chúng tôi:

– Nhớ tà phải có quá đấm chủ lực mạnh mới mong nắm chắc phần thắng trong tay.

Sau chiến thắng Bình Giả, đại tướng Nguyễn Chí Thanh lại cùng tập thể Bộ Chỉ Huy quân sự Miền ráo riết chỉ đạo việc chuẩn bị chiến dịch mới. Mọi người đều tâm đắc với lời nhắc nhở của đồng chí chính ủy Quân Giải Phóng Miền Nam là: “Thỏa mãn dừng lại lúc này là có tội, phải thừa thắng xông tới, quyết tâm đập tan chiến lược chiến tranh đặc biệt của địch “. Vào trung tuần tháng t/1965 nổ ra chiến địch lớn Đồng Xoài, lớn về mục đích yêu cầu, lớn về lực lượng tham gia, về thời gian kéo dài của chiến dịch. Một Bộ Chỉ Huy tiền phương được thành lập để trực tiếp đôn đốc kiểm tra, giúp đỡ các đơn vị tham chiến gồm anh Ba Long (Lê Trọng Tấn), anh Chín Vinh (Trần Độ) và anh Năm Thạch (Hoàng Cầm) v.v…

Chính ủy Nguyễn Chí Thanh và chỉ huy trưởng Trần Văn Trà ở chỉ huy sở cơ bản chỉ huy chung các hướng toàn Miền phối hợp với Đồng Xoài.

Trong khi chiến dịch Đồng Xoài đã diễn ra trên địa bàn tỉnh Phước Long, thì quân và dân khu 5 thắng lớn trong trận Ba Gia ỡ Quảng Ngãi. Trong khí thế chiến thắng dồn dập trên khắp các chiến trường, ngay hôm sau, đại tướng Nguyễn Chí Thanh ngồi viết một mạch bài báo lấy tựa đề là Ba Gia gọi Đồng Xoài, phân tích sâu sắc về hai chiến thắng vang dội này với bút hiệu Trường Sơn. Bài báo đã được đài phát thanh Giải Phóng phát đi phát lại nhiều lần và gây được sự chú ý đặc biệt của dư luận trong nước và ngoài nước. Trong bài báo đó, anh Thanh đã nêu bật một nhận đinh có ý nghĩa về chiến thắng Ba Gia-Đồng Xoài, cùng với thắng lợi đánh phá tơi bời chiến lược bình định, gom dân lập ấp chiến lược của địch, là biểu hiện sự phá sản hoàn toàn chiến tranh đặc biệt của Mỹ Ngụy. Chiến thắng Ba Gia-đồng Xoài chứng tỏ quân và dân miền Năm đã giành quyền chủ động trên chiến trường.

Sau đó, anh Thanh còn viết tiếp một số bài nổi tiếng khác, nêu ra nhiều ý kiến mới và sự phân tích sâu sắc của anh như bài “Mỹ giàu nhưng không mạnh…”

Tôi nhớ hoài một buổi đầu tháng Ba 1965, anh gọi tôi lên hỏi:

– Chú có nghe tin gì vừa rồi không?

Tôi chưa kịp trả tời, anh nói ngay:

– Các đài phương Tây vừa đưa tin hôm nay Mỹ đã cho hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến từ Okinawa đô bộ vào Đà Nẵng rồi. Chắc nó còn tiếp tục đổ tiếp quân Mỹ vào nữa. Chú báo ngay cho bên tham mưu theo dõi sát, nắm kỹ tình hình để Bộ Chỉ Huy Miền có cơ sở bàn biện pháp chủ động đối phó. . .

Tôi nhìn lên tấm lịch treo ở cột nhà. Hôm đó là 9 tháng Ba 1965. Trong buổi giao ban hôm sau ỏ Bộ Chỉ Huy bàn là đi đến kết luận chính xác là phải chuẩn bị thật tốt, bảo đảm chắc thắng chiến dịch Đồng Xoài, đồng thời phải chuẩn bị ngay cuộc đọ sức trực tiếp với quân đội Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Namé

Sau đỏ, anh đã dành nhiều thời gian đi xuống các đơn vị chiến đấu và cơ sở gặp gỡ trò chuyện với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân để mong tỏ ra câu trả lời cho những vấn đề nóng bỏng đang đặt ra, đặc biệt là việc xây dựng quyết tâm đánh Mỹ trong bước chuyển từ chiến lược chiến tranh đặc biệt sang chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ ở Miền Nam Việt Nam.

Hồi đó đại tướng Nguỹễn Chí Thanh mới ngoài 50 tuổi, còn khoẻ, xông xáo. phương tiện đi lại duy nhất là xe đạp, lại thường phải đi đêm, nhưng anh đạp chẳng thua kém gì chúng tôi. Bộ đô hành quân quen thuộc của anh thường là bộ bà ba đen hoặc nâu , chiếc mủ tai bèo, một đôi bốt ngắn để chông rắn chàm oạp và một khẩu súng ngắn bên sườn.

Cuối năm 1965, được sự chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục. Quân Ủy Miền triệu tập hội nghị mở rộng do đại tướng Nguyễn Chí Thanh chủ trì, để bàn gấp những vấn đề cấp bách đối với chiến tranh cục bộ của Mỹ. Hội nghị có ý nghĩa lịch sử này không tổ chức ở chỉ huy sở của R mà bí mật chuyển ra rẫy sản xuất của cơ quan. Rẫy này nằm ở gần biên giới, rất quang quẽ, thoáng mát. Thỉnh thoảng anh Thanh ra rẩy kết hợp vừa làm việc vừa nghỉ ngơi. Anh em vệ binh làm cho anh một cái nhà nhỏ giữa mấy khóm chuối, xung quanh là những hàng dừa, đu đủ, mía, dọn cỏ sạch, vun đất mới đỏ chói, trông rất vui mắt.

Hội nghị Quân ủy Miền đã diễn ra tại ngôi nhà này. Mở đầu hội nghị, anh Tư Chi (Trần Văn Trà) và anh Năm Thạch (Hoàng Cầm) trình bày tỉ mỉ diễn biến, kết quả và kinh nghiệm sốt dẻo qua những trận đầu tiên của sư đoàn 9 của ta đọ sức với quân Mỹ.

Cuối cùng, đại tướng Nguyễn Chí Thanh nhấn mạnh nhiệm vụ của công tác chính trị, tư tưởng lúc này là xây dựng cho được quyết tâm đánh Mỹ, quyết tâm đập tan kế hoạch phản công mùa khô 1965-66 của địch.

Trước khi kết thúc, hội nghị Quân ủy Miền nhất trí phát động phong trào thi đua dám đánh và quyết thắng Mỹ với những khẩu hiệu đầy sức sống đã thành câu nói cửa miệng của quần chúng: tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt v. v…

Không mấy chốc phong trào giành danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt Ngụy khởi đầu tư T4 (đặc khu Sài Gòn), nhanh chóng phát triển thành cao trào rộng lớn toàn Miền không sức gì cản nổi.

*

Nhiệm vụ nặng nề của chiến trường đã làm đồng chí Nguyễn Chí Thanh xuống sức nhanh. Đầu năm l967, anh được Bộ Chính Tri triệu tập ra Hà Nội bàn chiến lược chung của cả nước và kết hợp kiểm tra sức khỏe.

Sau khi chiến thắng vang dội của quân và dân ta trong chiến dịch Giôn Sơn Xi Ti của Mỹ ở miền Đông Nam Bộ, đại tướng Nguyễn Chí Thanh điện vào Bộ Chỉ Huy Miền cho anh Hoàng Cầm và tôi mang tài liệu ra báo cáo, làm việc xong lại vào.

Chúng tôi về tới thủ đô Hà Nội giữa lúc Mỹ tăng cường chiến tranh phá hoại, không quân Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc hằng ngày.

Một ngày đầu tháng Bảy 1967, đại tướng Nguyễn Chí Thanh gọi tôi và anh Cầm vào làm việc ở Tông Cục Chính Trị. Anh báo kế hoạch trở về B2 và nói rõ thời gian cụ thể là 7 tháng Bảy 1967 anh sẽ đi trước với bác sĩ Thuận (bác sĩ riêng của đại tướng Nguyễn Chí Thanh) bằng đường riêng. Một tuần sau anh Cầm và tôi đi tiếp theo đường cũ của chúng tôi.

Tối 6 tháng Bảy 1967, tôi và vợ tôi đến thăm anh và chị Cúc là vợ anh. Hai anh chị rất vui vẻ tiếp chúng tôi. Anh cho biết sức khỏe của anh rất tốt, không có vấn đề gì. Tôi cũng nghĩ như thế.

Sáng 7 tháng Bảy 67, tôi vào Tổng Cục Chính Trị làm việc với anh Song Hào như đã hẹn. Tôi bước lên cầu thang thì thấy anh Hào đang từ trên gác vội vã đi xuống. Nhìn thấy tôi, anh nói ngay:

– Anh Thanh phải đi cấp cứu rồi. Ta vào 108 ngay xem thế nào?

Tôi giật thót người, đứng sững lại ít phút coi chạy vội ra xe. Khi qua nhà anh, thay chị Cúc đang đứng thẫn thờ ở sân . Tôi rẽ vào hỏi chị:

– Tình hình của anh thế nào chị?

Chị lắc đầu:

– Nguy lắm. Tôi vừa ở dưới ấy về, các bác sĩ không muốn tôi ở luôn dưới đó. Anh cho tôi đi cùng với.

Tôi đưa chị ra xe. Khi tới nơi, các đồng chí lãnh đạo và nhiều người khác cũng đứng đông chật ở cửa buồng mổ. Bên trong chỉ có hội đồng bác sĩ đang làm việc. Không khí nặng nề quá. Tôi lách qua đám được nhìn vào, thấy anh Thanh đang được bơm oxy trên bàn mổ.

Tôi quay ra thì đồng chí Võ Nguyên Giáp vừa đến. Một bác sĩ đưa anh một áo choàng trắng. Anh vào một lúc lâu, khi ra anh ngập ngừng nói với một sô đồng chí đứng gần:

– Anh em bác sĩ rất cố gắng, nhưng khó lắm rồi!

Vừa lúc ấy, bác sĩ Thuận ra, len tới ôm lấy tôi nói trong nước mắt:

– Chúng ta mấtt anh Thanh rồi!

Lúc đó là 8g30 sáng ngày 7 tháng Bảy 1967.

Bệnh nhồi máu cơ tim đã vội cướp đi đại tướng Nguyễn Chí Thanh, trong lúc sự nghiệp cách mạng và kháng chiến rất cần những người lãnh đạo tài, đức vẹn toàn như anh .

Bạn đã đọc hết bài báo của tên Văn Phét. Thật không hổ danh tên nói phét cháu bác Hồ. Nhất là ở đoạn nói về “quả đấm và giành quyền chủ động”. Quả đấm là gì? Chủ động gì

Chúng tôi có mặt trên chiến trường Củ Chi, Tây Ninh (chiến trường sôi động nhất vì là cửa ngõ Sài Gòn, mục tiêu tấn công của quân Mỹ, căn cứ Đồng Dù), không thấy lúc nào quân Giải Phóng “đấm” được một cú “coi cho được”, mà chỉ bị Mỹ nện cho tơi bời… Các trận Bình Giả, Ba Gia, Đồng Xoài chúng tôi biết rất rành. Các trận này là sự thảm bại của quân Giải Phóng. Quân số các đơn vị tham chiến bị tiêu hao một phần ba hoặc một nửa, nhiều cán binh bị B52 lần đầu đã điên luôn, tuy sống sót về nhà nhưng không sao chữa lành bịnh được. Hai công trường 5.và 9 xơ xác, mất hồn. Thế mà tên Thanh còn lếu láo dám chê “Mỹ giàu nhưng không mạnh”. Đó là cách nói lấp liếm nhà nghề của Việt Cộng.

Về cái chết của tên bần cố nông này, tên Văn Phác càng tỏ ra là một tên Đại Phét. Hắn phịa ra một đoạn gượng ép dối trá để che lấp cái chết thê thảm của tên đại tướng đầu đỏ Chúng tôi đã viết về cái chết này ở trong bộ hồi ký 2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi, tập IV (sắp tái bản) và tập này nói rõ mảnh đất mồ chôn hắn. Sự thực nơi hầm trú ẩn cho Bộ Chỉ Huy Tiền Phương R trong chiến dịch Mậu Thân 68 không cần phải B52 oanh tạc, mà chỉ pháo của sư đoàn 5 bộ binh Sài Gòn cũng đủ đập tan. Nhưng quả thật B52 có oanh tạc vùng kế cận, ngôi hầm này không bị tổn thương, nhưng tên đại tướng này lại bị “trời đánh”. Số là sau khi đợt bom đã dứt hẳn thì Bộ Chỉ huy R và Bộ Tư Lệnh Quân Khu IV từ dưới hầm chui lên để xem tình hình và dời đi chỗ khác, không hiểu sao một nhánh cây từ trên cao gãy ngang và rơi xuống chọc ngay óc o của hắn, làm hắn ngã xuống và chết nay không kịp trối một tiếng nào.

Tôi được Tư Linh, trưởng ban Địch vận Khu cho biết, lúc y chạy đi tìm phương tiện để “cứu cấp”. Sau đó xe thồ chở một bọc ny lông chạy đi qua Mi Nốt để trực thăng từ Phnom Penh đến chở về đó, rồi máy bay Hà Nội vào đem về “cứu cấp”. Hy vọng đại tướng sẽ được cứu sống ở bệnh viện 108 và bác sĩ Thuận nào đó không phải rơi nước mắt ôm Văn Phác mà kêu rằng : “Chúng ta đã mất anh Thanh!” như me xừ Phét kể lể một cách láo khoét.

Chưa chắc cái xác của tên đại tướng đã được đưa về tới Hà Nội, vì từ hầm trú ẩn ở Long Nguyên mà sang Minốt phải mất bốn ngày xe thồ. Còn từ đấy về tới Hà Nội thì không biết mất bao lâu nữa. Có người bàn rằng sở dĩ hắn chết thê thảm như vậy là vì xui xẻo. Số là trước đó vợ hắn ở Hà Nội vô (cũng bằng máy bay qua ngõ Mi nốt, có giải phóng quân võng về R thì bắt được ngài đại tướng rà rê với cô cháu gái cưng yêu là vợ cố anh hùng đặc công Nguyễn Văn Trỗi, bà ta nổi tam bành bỏ về Hà Nội, và ông tướng đi Củ Chi để kiểm tra tình hình chiến trường chuẩn bị Tết Mậu Thân, chẳng dè lại vong thân.

—->Chương 97-98-99-100

2 Responses to “2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QVI (92-96)”

  1. Tran Cong Tam Says:

    MTGP mien Nam thanh lap nam 1959, quan My~ vao mien Nam
    VN nam 3/1965. Nhu vay ai danh ai truoc. Cam on tac gia da
    cho nhung nguoi the he sau nhu chung toi biet them ve chi
    tiet chien tranh VN. Cam on ban Le Thy post len bai viet nay.

  2. nguyen ngoc lanh Says:

    Cái lũ ôn dịch MTGPMN mãi sau 30/4/1975 mới biết rõ mưu đồ thâm độc của bọn chóp bu Hà Nội ! Nhưng muộn quá rồi, những cái vỏ chanh MTGTMN lúc này đã khô khốc sau khi bị vắt kiệt nước không hơn không kém…nào là luật sư, bác sĩ, kiến trúc sư, kĩ sư…v…v…kéo nhau vô RỜ để rồi bị đám chủ soái Bắc Kỳ nó lừa nhẹ tênh như lừa đám trẻ bệnh down…hóa ra sau 30/4/1975 thì “Miền Bắc được giải phóng khỏi chủ nghĩa xã hội đói rách tả tơi xơ mướp kia để tận hưởng cái không khí, cái tiện nghi sẳn có của tư bản mà miền Nam đang có…” éo le thay!!!


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: