2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QVI (97-100)

2000ngaydem_bia6

Chương 97
Những chuyện khóc hổ ngươi cười ra nước mắt

Thiên Lôi được lệnh vác búa đi vô Sài Gòn tiếp viện cho E mũi nhọn của Tư Nhựt và Hai Phái. Tôi xin trở lại phía trước một chút. Như tôi đã viết về lý lịch của tôi là tôi có một người em ruột làm đại úy Thủy Quân Lục Chiến của Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã khai điều này với ông Ba Thắng cục phó Cục Chính Trị R trước khi tôi “hạ san”. Như vậy là rõ ràng: em đi đường em anh đường anh. Khi về tới Củ Chi thì Chín Lộc từ ban quân báo khu bảo tôi cho địa chỉ của nó để y liên lạc với ý định vận động làm một cuộc “binh biến” như Phùng Văn Mười ở Bình Dương (?) tôi không rõ. Nhưng trên bảo tôi phải nghe. Vấn đề có em làm sĩ quan Sài Gòn thật là nguy hiểm cho bản thân ai sa vào hoàn cảnh đó. Có lẽ (tôi chỉ đoán thôi) Chín Lộc không vận động được chú em tôi nên phải dùng đến cái lưỡi của tôi. Tôi mời gia đình tôi vào Khu (ở Ràng hai năm trước) có má tôi, hai em gái, một em rể và thằng em ruột Thủy Quân Lục Chiến. Tôi nói chuyện với nó. Nó cười, bảo là cấp trên của nó có biết nó có anh ruột (là tôi) đi tập kết về hoạt động ở Củ Chi nên cho phép nó vào tiếp xúc và nói rõ chánh nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa cho tôi nghe. Thế là vì tôi vận động nó lại bị nó vận động. Nhưng chẳng ai nghe ai. Đó là sự thực.

Như thế là huề cờ. Không ai thua ai. Tôi không thể bỏ Hà Nội thì nó cũng không chịu rời Sài Gòn. Nhưng nay lại nảy sánh vấn đề… cho tôi. Thằng bạn đời là Tư Linh (Phó ban địch vận Khu) của tôi đã rỉ tai tôi về vấn đề ấy: mấy chả “ghim” mày đó ! Bề mặt tôi không để ý lời khuyên đó. Nhưng trong bụng thì hơi run. Đóng quân trong vùng đất hẹp té dưới cánh các thứ máy bay do thám của Mỹ và gián điệp, phượng hoàng của Việt Nam Cộng Hòa làm sao một tiểu đoàn có thể giữ được bí mật trong năm năm trời mà không bị bom pháo? Cấp trên nghi ngờ tôi, nên không thăng cấp (tôi cũng không cần – cứ công tác để ở trên xem kết quả mà đánh giá con người tôi) – và đến Tết Mậu Thân, tôi không được ở trên “cho vô Sài Gòn”, đi với E mũi nhọn của Tư Nhượng mà tôi đang là Tham Mưu Trưởng. (Cũng may cho tôi! Nếu đi thì đã không về.)

Sau khi E mũi nhọn bị hủy diệt. Toàn bộ Ban chỉ huy E là Tư Nhựt E trưởng, Hai Phái chính trị viên E, Tám Lệ (bạn tôi từ Bắc về) E phó cùng với Bộ Tư Lệnh Tiền Phương: gồm có Năm Truyện (tức Năm Sài Gòn F trưởng) Tư Lệnh, Tư Chi tham mưu trưởng Bộ Tư Lệnh cũng bí tiêu diệt ngay từ phút đầu nổ súng – riêng Tám Hà Chánh ủy Bộ Tư Lệnh Tiền Phương bỏ ra Sài Gòn (đi xe đạp qua cầu Lái Thiêu). Lúc đó ở trên mới chiếu cố đến Thiên Lôi này. Tức là kêu Thiên Lôi xách búa đi Sài Gòn để tiếp nối đợt hai.

Rất tiếc Trần Văn Chè bây giờ không còn ở trên cõi đời, nên tôi không thể hỏi vài câu. Có phải ông Tư lệnh Quân Giải Phóng tin tưởng tôi có phép thần thông để cứu nguy cho những xác chết? Hay ông ta đem tôi nướng luôn để trả mối hận thù tình xưa? Bà tư Lệnh Kim Thoa con luật sư Lê Đình Chi chính là bồ nhí của tôi trước khi thăng thiên làm nội tướng cho ông Tư Lệnh lúc bấy giờ đang săn khỉ dọc ở miền Đông chiến khu D.

Cũng tốt thôi, như vậy Thiên Lôi này cũng được tiếng thơm lây vì dã “hy sinh vì nước”. Trò dời, ai xem rõ được ruột gan con người khi con người đã khoác áo rộng và đội mũ cao? Trước không cho đi vì: Thiên Lôi là con “heo nái”, tức là cán bộ huấn luyện đào tạo pháo binh. Nó chết lấy ai thay nó? Rồi bây giờ cho nó đi: để tiếp sức cho E mũi nhọn (đã “tà” và gãy rồi). Lý do nào cũng chính đáng cho cấp trên đùn cả cục vinh quang cho Thiên Lôi này. Ừ đi thì đi. Có con ngựa nào chủ đã lên lưng mà không chịu xông trận?

Nhưng nên nhớ là E mũi nhọn của Tư Nhựt là tiểu đoàn Quyết Thắng của tôi đôn lên thành E chớ không có đủ quân số! Nay đã đưa xuống Sài Gòn rồi. Trên Củ Chi này chỉ còn le the… ba sợi du kích và dũng sĩ dưới xã xách đầu lên. Xã đội trưởng thí cho làm C trưởng, C phó, anh tổ trưởng nào nhậm lẹ cho làm A trưởng, B trưởng. Tất cả họp thành một D đưa vô đợt hai do Thiên Lôi chỉ huy. Đi chết cho tổ quốc thì ai dám từ chối?

Tôi cấp tốc đi tổ chức lại các C và các bộ phận chuyên môn để sửa soạn xuống đường. Một hôm gặp bà quận ủy Hai Xót, cô cán bộ Phụ Nữ Giải Phóng Tám Phụng và bà Khu ủy Năm Đang. Thấy tôi đi cùng hướng với các bà và tôi có cận vệ nên mấy bà xin tháp tùng cho khỏi sợ biệt kích thằng Giác xơi tái.

Trời chiều bảng lảng. Không pháo không bom là giờ lý tưởng của đất Củ Chi này. Cho nên câu chuyện nổ râm ran trong đoàn khách lữ hành. Bà Khu ủy bất ngờ hỏi tôi:

– Anh Hai (Lôi) có biết vợ Tư Luông không?

Tôi biết chớ sao không biết, nhưng để coi bả nói chuyện gì, tôi bèn hỏi lại:

– Tư Lưông nào?

Bà Khu ủy đập vai tôi:

– Ở chung với chồng người ta mấy năm mà không biết. Tư Luông là Tư Nhựt đó !

– Tư Nhựt . ờ ờ. Tư Nhựt thì biết, chứ Tư Luông không quen.

– Ảnh hy sinh rồi!

– Ảnh là anh hùng giải phóng của R. Tôi làm báo công cho ảnh chớ ai, chị Năm!

Bà Khu ủy lại đập vai tôi, lần này mạnh hơn và trách:

– Tôi nghe người ta nói bao nhiêu thành tích của anh, anh dồn cho ảnh hết phải không?

– Đâu có chuyện đó chị Năm. Công của ai nấy báo chứ, dồn sao được mà dồn?

Năm Đang chắc lưỡi:

– Hai chị em sẩy hết rồi !

– Sẩy gì chị Năm?

– Tư Nhựt chồng cô Lành, Sáu Thưa chồng cô Mạnh. Hai anh em cột chèo đều hy sinh ở đợt một. Xã đội ở dưới Rạch Tra lên báo cho bà má vợ ở xóm Bà Nga.

Tôi mà không biết thì ai, nhưng còn làm bộ:

– Vậy hả chị Năm?

– Quỷ anh, còn đóng kịch nữa.

– Tôi chỉ biết có Tư Nhựt… thôi, chứ đâu biết Sáu Thưa thế nào

Bà Khu ủy chắc lưỡi:

– Tội nghiệp đứa nhỏ không biết mặt cha!

Tôi lặng thinh. Còn biết nói gì bây giờ? Nói câu gì cũng vô ích cả. Nên tôi không nói gì hết. Bà Khu ủy tiếp:

– Nó bồng đứa nhỏ còn trong tháng đi ngoài năng, đầu quấn khăn tang ở ngoài Suối Cụt đi vô. Tôi chận lại an ủi rồi dẫn nó ra ấp Mây Đắng gởi cho nhà cơ sở của mình. Hai mắt nó sưng vù. Con so, con gái mà . To xương, mắt tóc đen thui, đặt tên là con Thơ -Bà Khu ủy tiếp- Cả trung đoàn chết hết. Cán bộ D không còn sót một người nào.

Cái nguồn tin không có trên giấy báo, trên đài này tôi đã nghe đến mòn tai rồi, nhưng nay nghe lại -mặc dù không đầy đủ- tôi vẫn thấy choáng váng cả người. Chưa bao giờ có một tình huống lạ lùng như vậy. Từ thời đánh Tây tới nay, chưa khi nào bộ chỉ huy lại hy sinh một lúc và cán bộ không còn ai. Đơn vị như rắn mất đầu làm sao mà đánh giặc? Tôi đi bước thấp bước cao như trong ác mộng.

Mới hôm nào đây Tư Nhựt từ R về, cùng đi với Năm Truyện và Tư Chi gặp tôi ở ven rừng Đồng Lớn hai đứa làm nửa chai Anít . Tư Nhựtt đã được huy hiệu anh hùng Giải Phóng và lên chức E phó quyền E trưởng chỉ huy E mũi nhọn cùng với Hai Phái chính trị viên E. Tuy được nhiều cái vinh quang ít ai được cùng một lúc, nhưng Tư Nhựtt lại không vui. Nhựt lại than thở những lời biệt ly. Tiên tri trăn trối “Tôi có mệnh hệ nào ông lo giùm vợ con tôi !,, Tôi không muốn nghe những lời não nề như thế nên gạt ngang. Vậy mà nay đã thành sự thật rồi! Tội nghiệp cho hai mẹ con nàng biết bao nhiêu ! Tôi còn làm gì được “lo giùm” là lo làm sao?…

Tôi đang suy nghĩ mông lung thì chị Hai Xót nói:

– Bây giờ anh phải lo cái gánh nặng đó !

– Gánh nặng gì mới được?

– Nó đi tìm anh đó.

– Tại sao lại tìm tôi?

– Không biết Tư Nhựt đã nói với nó những gì mà nó bảo mọi người là nó đi tìm anh. Nó còn nói anh là “ba… con Thơ” tức là…

Tôi nói:

– Ảnh có nhờ tôi giúp đỡ vợ con ảnh thôi chớ ai mà nhận làm ba con bé !

– Ba nuôi không được sao?

– Ba nuôi rồi ba thiệt mấy hồi !

Hai Xót tung. Năm Đang hứng.

Câu chuyện nửa chơi nửa thiệt bữa chiều hôm đó bỗng trở thành kỳ lạ. Sự đời nghĩ cũng éo le. Sẵn ngon ngọt tôi xin kể luôn. Đây là chuyện một năm sau… Tình hình Củ Chi càng găng hơn. Tôi gặp vợ Tư Nhựt ở Gò Đình xã Trung Lập Hạ… Bộ Tư Lệnh không còn đất sống nên phải chạy qua Cao Miên. Ông Tư Lệnh Ba Xu thì về trên R làm Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng cho chánh phủ lâm thời gì đó. Còn Năm Lê vẫn còn ở lại với chức Tư lệnh phó kiêm tham mưu trưởng Quân Khu. Anh gọi tôi tới và theo thói thường từ xưa, vẫn kêu tôi bằng thằng.

Chuyện dài lắm bạn đời ơi. Xin hãy rán đọc để cùng với chúng tôi cười ra nước mắt. Năm Lê bảo: “Anh Ba (tức Ba Xu) cho mày xuống E Quyết Thắng để thay lão Bảy Thành – (tức Bảy Ưng thay tôi làm Quận trưởng Củ Chi năm trước.) Mấy tháng trời lão không có đánh một trận nào, báo cáo toàn khó khăn, xin cấp cho đủ thứ mà lão thừa biết cấp trên không cho. Vì không có! . -Anh móc trong túi ra một tờ pơ-luya xếp nhỏ đưa ra cho tôi- Quyết định thăng cấp cho mày E phó tao giữ lâu nay. Mày biết tại sao tới bây giờ người ta mới chịu phong cho mày cấp E, mà chỉ cấp E phó thôi không?

Anh móc thuốc đưa, rót trà cho tôi rồi tiếp, giọng nói khàn khàn qua làn khói:

– Vì mày bị nghi ngờ là Tư Đức. Mày nhớ Tư Đức Trung đoàn trưởng hồi trước chớ?

– Dạ nhớ anh Năm ! Nhưng em không rành những chuyện thời đó vì em còn con nít.

– Tư Đức dưới thời Nguyễn Bình đã ngầm có ý định đưa cả một trung đoàn về thành đầu thú. Nhưng trên đường đi thì Hai Giá, trung đoàn phó, lại biết được ý định của Tư Đức nên Hai Giá có âm mưu sẽ lái cho cả đoàn về nạp mạng cho Nguyễn Bình. Cho nên Tư Đức rút súng hét: “Mày phản tao hả Giá?” rồi bắn mấy phát. Hai Giá chết gục. Tư Đức bắn Hai Giá xong thì chạy, nhưng bị vệ sĩ của Hai Giá bán chết – Câu chuyện xảy ra giữa Đồng Tháp Mười năm 1947. Đó, bây giờ người ta nghi mày là Tư Đức, sẽ dẫn bộ đội về Sài Gòn nạp mạng cho Mỹ nên người ta không cho mày đi với E mũi nhọn mà cũng không thăng cấp cho mày gì ráo.

Tôi hơi nóng mũi đáp ngay:

– Tôi đánh giặc không phải để thăng cấp anh Năm à !

– Ấy, mày đừng có nóng, tao biểu mày là thằng từng đánh xe nồi đồng hồi 13 tuổi kia mà, hồi đó tao làm tham mưu trưởng E 300 mà cũng phải ớn mày. Để tao nói hết cho mày nghe…

– Tôi đi theo cách mạng đến nay đã trải 35 tuổi rồi, đánh cả trăm trận, có khi nào tôi mè nheo cấp bực không? Tôi chỉ yêu cầu cách mạng đối xử với tôi cho công bằng. Anh coi từ ngày tôi về quân khu này, tôi làm được những gì và cách mạng đối xử với tôi ra sao? H6 không hoạt động được, ở trên đưa tôi về H6. Củng cố xong H6, ở trên bốc tôi ném ra bộ binh. Bộ binh vừa khá, ở trên xách óc tôi cho về quận đội, quận đội mần ăn được thì lại kêu về D8, D8 đứng vững ném tôi trở lại bộ binh, D Quyết Thắng làm nổi đình nổi dám bắt đưa đi mũi nhọn, giao cho tôi D7 toàn là tân binh và du kích. Bây giờ D7 trở thành E mũi nhọn thì đưa tôi ra thay Bảy Ưng. Đã thế lại còn nghi tôi là Tư Đức? Nếu tôi là Tư Đức thì sao đơn vị tôi đánh đấm như thế? Nếu tôi là Tư Đức thì tôi đâu có đội bom pháo tôi trọc đầu Tôi chỉ cần chỉ điểm cho B52 là cả Bộ Tư Lệnh cũng tan hết chớ tôi thèm đánh chi ba cái thằng lính quèn cho mang tiếng… là Tư Đức?

Năm Lê cười giả lả :

– Cách mạng lắm lúc cũng sai bét. Nhưng không lẽ cách mạng lại đi xin lỗi mày? Mày thấy Cải Cách Ruộng Đất ở ngoài Bắc sai lầm như vậy mà rồi mấy ông kẹ có xin lỗi ai đâu. Chỉ nói vài câu, đăng một bài báo phơn phớt rồi hòa cả làng!… Thôi lãnh quyết định rồi xuống làm nhiệm vụ đi. Tao hiểu mày. Anh Ba hiểu mày. Như vậy là đủ rồi Lôi ạ,

E Quyết Thắng đang chờ đợi mày… Nói thiệt nếu không có anh Ba thì họ sẽ đối xử với mày… không phải như vầy đâu! Mày đi xuống đó đi rồi tao sẽ cho cán bộ xuống sau. Ở đây chỉ còn tao hiểu mày coi mày như thằng em thời xưa thôi. Còn anh Ba sắp sửa đi rồi! – lại rót trà rút thuốc mời tôi rồi bắt tay tôi từ biệt.

Tôi cầm quyết định thăng cấp mà không phấn khởi chút nào. Tôi đi một mình không có cận vệ, lê gót xuống bến đò Dòng Sỏi, qua trạm hỏa tốc ở An Phú theo liên lạc xuống E Quyết Thắng đang đóng ở Gò Đình Trung Lập Hạ tôi đã nói ở trên.

Nhà của dân không còn cái nào. Có còn thì đó không phải là cái nhà. Hố bom hố pháo trên mỗi thước đất. Những vũng nước tù xanh rêu. Những con nhái kêu buồn nghe muốn khóc được. Những thằng bạn cũ từ kháng chiến chống Pháp, tù Bắc về, đến nay, ngoảnh đi nhìn lại không còn thằng nào. Chỉ còn thằng Lôi với chức trung đoàn phó chỉ huy một trung đoàn chưa đến 200 lính! Mà phần đông là du kích và tân binh. Tôi cố lê chân đến văn phòng Ban chỉ huy trung đoàn. Trời đã nhá nhem. Bỗng nghe có tiếng kêu:

– Anh Hai! Mới xuống tới hả’? Vô đây rồi tôi dẫn lại chỗ ông Bảy Ưng cho!

Tôi vào nhà. Người gọi tôi là Năm Tân D trưởng, D1 của E Quyết Thắng. Năm Tân là em nuôi của Tư Nhựt, cán bộ cũ của tôi. Trước ở với tôi hơn chỉ là B trưởng, đã một lần bị thương sọ đầu. Lính chết dữ quá. Thằng nào sống sót cứ lên vượt cấp nhấp nháy. Thấy hắn lục soạn sắp xếp đồ trong ba lô, tôi chưa kịp hỏi hắn sắp đi đâu, thì hắn đã nói:

– Em được E cho đi an dưỡng. Em đang chờ vợ em vô tiếp tế rồi mới đi. Qua bên Miên không có dự trữ thì làm sao sống nổi anh Hai ơi .

Tôi nghĩ thầm: trước kia mày bần thần cô vợ đi làm Đồng Dù nọ kia… nhưng nay mày mới thấy sống là nhờ nó. Tội nghiệp hắn. Lù khù chậm lụt nhưng chấp hành mệnh lệnh khá. Vừa rồi đánh Rạch Kiến nướng lính cũng khá. Lại đi Sài Gòn trốn về được nên thăng D trưởng. Thôi cũng mừng cho nó, không đến đỗi để vợ con phải lang thang như vợ con Tư Nhựt.

Vừa buộc ba-lô, bỗng hẳn ngẩng lên nói:

– Anh xuống đây thật may!

– May cái gì?

– Chị Tư chờ anh hổm rày!

– Chị Tư chị Năm nào chờ tao?

– Chị Tư Nhựt chớ chị Năm nào?

Tôi ngẩn người ra hồi lâu. Năm Tân nói tiếp:

– Chỉ nghe ông Bảy Ưng nói anh sắp xuống đây. Tội nghiệp chỉ lắm anh à ! Chỉ như khùng như điên. Có lúc chửi liền miệng. Có lúc lên đồng bóng nói nhảm không ngừng. Chỉ bảo nó làm quận trưởng mà chun vô mùng mò tao.

Năm Tân nhìn dáo dác, thấy không có ai, bèn tiếp:

– Chỉ chửi om sòm không có kiêng nể ai hết… Nó bắt chồng tao đi. Chồng tao chết. Nó ăn luôn xác. Nó nói láo chồng tao đang làm quan Năm ở Sầy-goòng.

– Sao mày không can chỉ ? Để chỉ chửi bới như vậy mất uy thế cách mạng hết ráo!

– Cũng có lúc chỉ tỉnh khô ăn nói phải thế lắm, chỉ nói với em: anh Hai Lôi là ba con Thơ. Em nói: ờ ờ ba nuôi! Chỉ tát cho.em một cái tóe lửa, lõ cặp mắt nhìn em như muốn nuốt sống. Ba ruột, không phải ba nuôi! Rồi chỉ bắt đầu lên cơn ứ ứ ự ự. Hai Lôi là chồng của tao. Hai Lôi đánh đồn Thầy Mười, về xóm Bà Nga ăn sầu riêng nhà tao. Rồi chỉ khóc kể nghe lạnh mình. Anh Hai ơi! Anh Tư có dặn em nếu anh có mệnh hệ nào thì … há há hớ hớ hớ … . Em hỏi chỉ anh Tư dặn điều gì chị nói cho em nghe được không? Chỉ liền xách cái ghế đẩu ném một phát như trời giáng. May em hụp kịp, nếu không chắc bể đầu. Rồi chỉ nghiến răng trỏ mặt em: “Mày là thằng con nít, hỏi chuyện người lớn làm gì? Mày phải đi tìm cho được xác anh Tư về đây, nếu không tao cách chức mày. -Năm Tân tiếp- Anh Hai ơi ! Em sợ chị Tư không thoát khỏi bệnh điên rồi chết. Quần áo chị rách te tua, tóc tai chỉ bờm xờm, cứ bồng con nhỏ đi lang bang ngoài đường gặp mặt ai cũng hỏi: có biết Hai Lôi ở đâu không? Hằng ngày em canh chừng, sợ chỉ nổi cơn rồi đốt con nhỏ chết. Mấy bữa rày em sợ quá nên mới dời lại đây. Ở đẳng ngủ nghê không được. Nội nghe tiếng cười rú của chỉ cũng mọc ốc đầy mình rồi. Từ hôm nghe ông Bảy Ưng nói anh sắp xuống đây thay ổng, chỉ có mòi tỉnh táo. Bầy vịt của chủ nhà chưa mặc áo lá nhưng chỉ đã dặn trước hai con để làm thịt “đãi ba con Thơ”, chỉ nhìn bầy vịt, và hỏi: “đứa nào chịu xung phong xuống đường trước?”

– Mày nói thật hả Tân? -Tôi gắt hỏi.

– Trời, chuyện hệ trọng như vậy mà em dám đặt ra hay sao anh?

– Chuyện khùng khịu vậy mà hệ trọng cái gì?

– Để anh gặp rồi biết em nói láo hay nói thật.

Tôi buồn lòng quá đỗi nên nói lảng sang chuyện đơn vị:

– D của mày bây giờ ờ đâu?

– Dạ , một mớ thì ở đây còn một mớ đang đóng dưới Phú Hòa Đông do thằng Năm Tài bên D2 đưa qua làm D phó. Thằng Tài ở trong đội trinh sát của anh Tám Lệ bạn của anh đó. Xuống đường, anh Tám làm chính trị viên phó E. Anh Tám, Năm Sài Gòn, Tư Nhựt chết một ngày.

– D của mày bây giờ còn bao nhiều lính?

– Trời ! Anh hỏi làm chi? Còn chưa được… một trăm.

Tôi nghĩ thầm. Tiểu đoàn của tôi lúc quân số thấp nhất cũng đến bốn trăm. Non một trăm lính cũng gọi là D sao?

Tôi hỏi:

– Mày đi an dưỡng, giao đơn vị cho ai?

– Cho Ba Nhẫn kiêm luôn. Ổng với Hai Tân quản lý và đám văn phòng cứ đêm đêm ra bìa ruộng phía Trung Hòa ngủ ở đó, sáng kẻo vô ngồi thum bí mật trong bàn tròn. Ông Bảy Ưng E trưởng cũng vậy, không có căn cứ gì hết. Anh xuống đây rồi cũng phải đào hầm chết luôn. Anh còn nhớ con Trang cứu thương của quân y D mình hồi đố không? Con chị Hai Tràng ở Gót Chàng đó !

– Nhớ, rồi sao?

– Nó mang bị tương lai rồi.

– Ai vậy?

– Chỉ có thầy Nhẫn. Hai đứa cứ ngồi thum chung rồi vậy đó. Nó gặp anh nó sẽ khóc cho coi.

Tôi chép miệng và hỏi qua:

– Còn Năm Thơi đâu?

– Ổng xuống đường rồi chạy về được bây giờ làm D trưởng D2 đang ở dưới Trung An ngồi bờ sống canh thòi lòi và coi nước lớn nước ròng, chờ vớt thằng chổng. Nếu anh gặp cũng không nhìn ra. Y như là thằng Đồng Thổ, ủa, y như thằng cha già câu tôm. Còn thằng Tài là trinh sát của anh bây giờ làm phó cho Năm Thơ (Năm Thơi cậu thằng Thượng quơ được một bọc nữ trang bị xớt mất ở mé đìa sen bên nhà Tám Râu) Thằng nào còn sống tại bây giờ đều lên tiểu đoàn hết. Tại cấp trên đề bạt chớ tụi này đâu có ham. Nuôi heo cho mập để quay mà! Chịp, khổ quá . Không làm không được mà làm thì không có ra cái đám ớt gì. Nhớ hồi anh huấn luyện tụi em ở suối Xuy-dô. Có thằng nào biết coi bản đồ đâu! Hạ mệnh lệnh chiến đấu mà cũng không biết cái nào trước cái nào sau. Bây giờ chỉ huy cả ngàn con người ta mà chỉ huy cái nỗi gì. Bởi vậy lính Mỹ chốt ở Rạch Kiến, em với Tư Bính xách lính đi đánh, nướng đúng năm chục mạng. Xẹp luôn tới bây giờ. Ông Bảy Ưng kêu cứu. Chỉ có anh may ra cứu nổi thôi. Chớ ổng thì từ ngày làm E trưởng cứ chuyên môn đi ngồi thum tối về “an ủi” chị Tư. Hổng biết ổng an ủi như thế nào mà chị Tư… chậc! Tội nghiệp chỉ quá anh à . Chồng chết rồi, không ai đối xử tốt với chỉ nữa. Anh nghĩ coi nhà có một cái hầm mà tối ông Bảy ưng chui vô đó chiếm mất rồi mấy đứa trinh sát Bắc cũng mượn hơi chui theo, chị Tư phải ra sau chái nhà giăng võng đưa con không hầm hố gì hết. Em thấy xốn con mắt quá nên tránh đi cho khuất. Em bỏ chỉ ở trong đó một mình, em ra ngoài này.

– Chừng nào vợ mày vô -Tôi hỏi ngang để chấm dứt câu chuyện.

– Em hổng biết được.

Tôi biết vợ Năm Tân, chính là cái vết thương lòng của hắn nên tôi không hỏi tới nữa. Nhưng Năm Tân dã chịu đựng tiếng đời dị nghị mỉa mai lâu rồi tim hắn có lẽ cũng chai nên hắn cứ nói phom phom với giọng buồn não:

– Em thưa thật với ông thầy. Không phải em sọc dưa, không chiến đấu nổi nữa. Nhưng em muốn đi cho xa. Vợ em đang có bầu… mà không biết của ai. Rủi không phải của em như lần trước thì chắc em tự vận. thôi thì không thấy để coi như không có gì hết. Chớ anh nghĩ xứ sở mình ở đây. Bây giờ lên trên xứ Miên ở, biết chừng nào về? Anh là người từng trải anh coi em xử sự như vậy có được không? Nếu anh là em. anh sẽ làm sao?

Tôi làm thinh, bản họng cứng ngắc. Còn biết làm sao nữa. Đút đầu vô lỗ châu mai chớ còn làm sao nữa? Mà cũng chẳng trách gì được. Thằng đàn ông không có ở nhà hết năm này sang năm khác thì chuyện nhà nó phải vậy chớ sao!

Bỗng có tiếng réo ngoài đường vọng vào:

– Liên lạc xuống tới chưa Năm Tân?

– Xuống rồi ! Năm Tân đáp rồi quay lại tôi- Mình đi anh Hai!

– Đi đâu?

– Đi lại thăm chị Tư em chút! -Hắn tiếp- Tội nghiệp thằng Bính chị Tư sống dai tới giờ này, rồi cũng lên bàn thờ thôi. -Năm Tân quảy ba lô lên vai. Tôi đi theo hắn- Đi anh, kẻo rồi không còn dịp. Chỉ nói với em chỉ tìm anh lâu rồi. Hụt kỳ này không biết bao giờ gặp được.

Ra khỏi cái gò đất trúc mọc lưa thưa, ngó chung quanh toàn là đồng hoang vừa đi Năm Tân bảo:

– Ban đêm ở đây tránh được pháo phiếc chớ trong Bàu Tròn Bàu Chứa tụi nó toàn chơi pháo bầy không hầm nào chịu nổi. Không cà nông thì xe tăng nó nả đạn lửa, cục nào cục nấy bằng bắp tay. Thứ đó mà trúng một phát thì thân thể cha sanh mẹ đẻ không còn hốt được nhúm thịt. -Hắn trỏ tay- Anh thấy đống đất thù lù đó là hầm của ông Bảy Bình bán quán. Nhờ ổng mà tụi này mới có gạo muối mà ăn. Nếu không thì cạp đất. Một lần em vô ấp chiến lược Trung Hòa, em thấy chị Tư ở chung nhà với má con Chín Yá. Bả ở Gò Nổi tản cư ra. Thấy nguy hiểm quá nhưng em đâu biết làm sao để cứu chỉ, cũng may là lính đồn không bắt bớ gì. Tụi nó thù mình, nhưng không đánh đàn bà của mình lạc ra ở đây. Nhờ đó mà mình mới có liên lạc hợp pháp. Mấy lúc sau này chị Tư đi liên lạc cho bà Năm Đang để được cấp tiền cấp gạo nuôi con. Chỉ gặp em chỉ khóc hoài, chỉ than chồng chết, buồn quá nên đi làm này nọ cho khuây khỏa chớ bộ tướng chỉ lờ khờ, đâu được như con Ua mà ra thành? Trước kia chỉ lang thang bên Cây Dương và Bàu Me bên Trảng Bàng. -Vừa đi Năm Tân vừa nói chuyện.- Vợ cán bộ trung đoàn mà vậy đó. Đâu có ai ngó ngàng tới giùm. Chị không có mền võng chiếu chăn gì. Em xuất cả quân nhu cho đỡ chỉ cái võng để đưa con. Còn vợ Hai Tân buôn bán ngoài ấp chiến lược thỉnh thoảng ra vào cũng cho thêm chỉ món này món nọ hoặc chút tiền. (Hai Tân xuống đường quơ được khá nhiều nữ trang – Tôi sẽ kể sau). Con Thơ lớn lên coi cũng lạ lùng. Nó không biết cười. Không chịu ai ẵm bồng ngoài chị Tư. Hễ đặt nó xuống là nó ré lên khóc. Cho nên một tay chị bồng nó một tay chị giặt quần áo, nấu cơm, thiệt khổ. Mỗi lần nhìn thấy chỉ, em không cầm được nước mắt, nhưng biết làm sao? Em nói thiệt, em muốn trốn đi cho rảnh mắt mọi sự đời.

Năm Tân kể khổ liên miên, tôi nghe đầy lỗ tai, không muốn nghe thêm nữa, nhưng nó cứ tuôn ra có dây. Mặt trăng lưỡi mèo mờ nhạt trong mây soi xuống cánh đồng mù mịt. Ven đồng là rừng tre. Xa xa kia là đồn Trung Hòa. Còn kia là Ba Xa, Gia Bẹ. Bỗng Năm Tân dừng lại trỏ tay phía trước:

– Kìa chỉ ra chờ mình đó.

– Sao chỉ biết mà chờ.

– Chắc hai đứa liên lạc nói với chỉ chớ gì!

Bên cây rơm đen sì, tôi thấy có bóng người đàn bà bồng con đứng. Hình dáng rất rõ trên nền trời. Hòn Vọng Phu! Tôi chợt nghĩ. Một trong hàng trăm Hòn Vọng Phu của đất Củ Chi. Ý nghĩ này làm tôi nghe xót xa tâm can.

Bỗng có tiếng kêu như thét:

– Nín! Mày đi đâu đó!

(Nín là tên cúng cơm của Năm Tân) Nhưng Năm Tân không trả lời. Tôi nhắc. Năm Tân cười khì khì.

– Cái lỗ tai em bể màng nhĩ rồi anh ạ. Hôm xuống Sài Gòn, lặn qua sông pháo thụt nổ xuống nước, như cá rộng trong thùng thiếc mà ai cầm cây đập ngang hông và trên nắp, chịu sao thấu được! Cho nên ai nói với em ở xa xa là phải la lớn chớ nói nhỏ như hồi trước em không có nghe!

Bóng người đàn bà di động về phía tôi, rồi tiếng ré lên:

– Mày đi với ai vậy Nín?

– Ai rồi chị sẽ biết!

Bỗng người đàn bà chạy ào tới và kêu lên:

– Anh Hai ! Anh Hai !

Năm Tân cười:

– Chị coi kỹ lại đi ? Coi chừng lộn đó !

– Lộn sao được mà lộn. Ở Củ Chi này chỉ có anh Tư mày và anh Hai mặc áo kiểu lu-dông đó (blouson) chớ không ai khác.

– Áo kiểu gì chị Tư? -Năm Tân hỏi gặng.

– Áo có nhiều túi để bỏ thuốc hút, có chỗ giắt viết trên tay áo, túi có con rít xéo qua xéo lại, lộn bề nào bận cũng được, gọi là áo hai da. Mày còn hỏi nữa thôi?

Năm Tân nín thinh, chỉ gật đầu, nhìn tôi rồi đưa hai tay vỗ vỗ đầu đứa bé :

– Lại đây chú Năm bồng, Thơ!

Nhưng con bé úp mặt vào ngực mẹ, chị Tư nói với tôi:

– Em chờ anh, em tìm anh lâu rồi!

Cả ba người đều đứng im , chị Tư xoay đầu đứa bé ra và bảo:

– Ba về kìa con, lại ba bồng đó!

Dường như nó biết nghe, hay có bàn tay vô hình nào sai khiến, con bé nghe mẹ nói vừa dứt tiếng thì giơ hai tay ngã oằn người sang tôi. Tôi đưa tay bồng, vỗ nhẹ lưng nó:

– Ba nè con! -Bất giác tôi nghẹn ngào.

Bây giờ tôi hãy còn nhớ như in trong đầu cái phút giây lạ lùng ở mé ruộng hoang, vong hồn Tư Nhựt chợt về đây chăng? Ba người: mẹ, chú và… ba con bé. Có lẽ chú Năm và mẹ nó cũng không cầm nước mắt được như tôi.

Tư Nhựt ơi! có hay, tao đã đến đây thăm vợ con mày, nhìn thấy con mày trên mảnh đất đã từng thấm máu và mồ hôi mày, dưới vòm trời thủng từng lỗ hỏa châu. Nay mày đã nằm yên ở đâu đó, vợ con mày không tìm được. Vợ mày phát điên còn tao thì ruột gan như đứt từng đoạn . Nhớ lại những lúc hai đứa tâm sự với nhau và nhớ cái buổi chiều mày nói với tao như trối trăn. Mà ngờ đâu đó là lời trối trăn thật. Men rượu biệt ly còn cay đầu lưỡi, lời than thở của mày còn văng vẳng bên tai tao mà nay hai đứa không còn gặp nhau được nữa!

Con bé ôm cổ tôi cứng ngắc, mặt nó áp sát vào mặt tôi. Tôi hôn nó mà nước mắt ràn rụa nghĩ đến số phận của những đứa bé mất cha: con Rớt, con Liên, con Hoàn… và rồi con mình sẽ như chúng nó.

– Thôi đi vô nhà anh Hai, đứng ngoài này lâu không tiện.! -Năm Tân khẽ giục.

tôi giật mình. Giờ hoàng hôn đến là giờ lữ khách đi ! cũng là giờ pháo bầy hợp tấu.

Tôi muốn đánh tan cái phút bi lụy thường làm yếu lòng người. Ly biệt cũng buồn mà sum họp cũng chẳng vui. Tôi nói với chị Tư:

– Cháu sổ sữa quá hả chị Tư?

Đúng ra Tư Nhựt gọi tôi bằng thầy, coi tôi như anh, nhưng tôi kêu vợ Nhựt bằng chị cho phân biệt ngôi thứ. Chị Tư nói:

– Nó uống sữa xe tăng nên nó nặng hơn con nít người ta đó anh… Hai!

– Sữa xe tăng là sữa gì hả chị?

– Là sữa của anh Mỹ lái xe tăng cho đó anh!

Năm Tân tiếp:

– Tôi nhận thấy Mỹ nó có hai tánh tốt: Một là xe tăng Mỹ không có cán nhẹp mả lính mình. Hai là nó không bắn đàn bà con nít.

Chị Tư bảo:

– Thằng Năm pha trà mời anh Hai uống đi em!

Tôi ẳm bé Thơ đi theo chị vô nhà. Nàng đứng ở thềm chờ tôi bước tới. Chị đứng sát bên tôi đưa tay nựng má đứa bé nói giọng âu yếm:

– Nay thì con gặp ba con rồi, hết khóc nghen con! -Vừa nói chị nom vào, gió bay làn tóc chị chạm mặt tôi. Tôi đứng chịu trận chớ không dám lùi vì sợ chị phát điên thì khốn. Cũng như luồng dây đứt vừa nối lại, hễ rời ra thì tắt điện.

Cái nhà không vách, chỉ có một mái và bên trong bị cái hầm choáng hết. Bên miệng hầm, hai cậu liên lạc ngồi hút thuốc lá nói chuyện. Năm Tân bảo:

– Thằng Hồng đâu, lo cơm nước cho anh Hai sáng mai đem ra rừng.

– Anh Hai nào?

– Anh Hai xuống thay ông Bảy Ưng mày còn hỏi!

Hai cậu nghe thế bèn rột chạy ra phía sau. Vừa lúc đó trong hầm lại ló ra hai cái mặt quen quen nhưng vì đèn bị gió quạt ánh sáng xao động tôi phải nhìn một lúc mới rõ:

– Ủa Bảy Sơn! Đi đâu đây?

Bảy Sơn bò ra ngoài, vẻ mặt thiểu não, giọng nhão nhè :

– Em bị ngưng công tác rồi anh ạ. Bây giờ anh Chín Khánh thay em.

– Ủa sao kỳ vậy?

– Chuyện dài lắm anh Hai ơi? Có anh tới đây, em sẽ thuật qua với anh. Để mai mốt biết còn gặp anh nữa hay không? – Rồi mặc cho mấy người chung quanh nhìn ngó, Bảy Sơn kể.- Anh chị Sáu (Sáu Sắc quân báo quận) của em nhắc anh luôn. Sau trận Vườn Trầu anh về trển, ở dưới này thay đổi hết. Không biết em có khuyết điểm gì, ở trên không nói mà quận kêu về để đưa lên khu thay công tác khác. Cán bộ chết nhiều quá nên biên chế thay đổi lung tung. Chị Tư Bé quận đội phó bị chụp chết ở Đồng Lớn, cô Bảy Nề vô ấp chiến lược Cây Trôm bị phục kích, Năm Trầu chiêu hồi. Bảy Đạo cũng chiêu hồi rồi dắt lính về khui hầm. Ông Bảy Ưng sang E Quyết Thắng. Anh về Khu chắc D7 rã luôn, bị sát nhập vào E268 miền Bắc, mất tên luôn. Tư Quân lên làm chính trị viên phó E. Ổng là cán bộ của anh. Ảnh tưởng học được chiến thuật của anh nên xách lính đi đánh Củ Chi lần nữa để lấy tiếng. Nào ngờ tới Bàu Tre bị biệt kích thằng Giắc bắn chết hết đội trinh sát trong đó có thằng Bòn là trinh sát tin cậy của anh. Anh Tư Quân cũng chết. Đó là do anh Tư Quân không dùng tụi em mà chỉ lấy tin do bà con của ảnh nên không chính xác. Em đâu có dính dáng gì trong vụ này mà bị ở trên nghi ngờ và đổ tội cho em.

– Họ nghi làm sao?

– Cái nghi nói không củng. Ai cũng có quyền nghi người khác nhưng người khác không có quyền đính chánh, mà có biết đâu để đính chánh? Riêng K3 tức D7 cũ do Hai khởi làm D trưởng cứ bị xe tăng quay liên tục ở Sa Nhỏ tới Lộ 6. Từ khi ảnh làm D trưởng chưa bao giờ dám về Phước Thạnh Phước Hiệp như anh lúc trước. Lính Trung Hòa, Suối Cụt tung hoành trên Lộ 7 Mít Nài. Rồi xã đội trưởng Hai Đen chiêu hồi, Năm Minh cũng nối theo ra Sài Gòn. Mười Tùng bỏ vợ ở Tân Thông dẫn con Thắm ra Sài Gòn xây tổ uyên ương. Bảy Diều, Hai Khói, Năm Rỗ của Phước Hiệp lần lượt phủi cẳng lên bàn thờ. Ba Xuyên sợ Mười Tùng chỉ cơ sở nên chạy vô tận Đồng Lớn. Các bà Năm Dang, Hai Xót, cô Tám Phụng không dám ra ngoài này như trước. Anh Chín Khánh kiêm luôn công tác của em, ảnh xuống Tân An Hội bị lính thằng Giắc khui hầm bắn chết. Ở trên càng nghi em tợn. Rồi ông Tám Thiện, Thị đội cũng bị khui hầm. Họ không biết hệ thống Phượng Hoàng hoạt động rất mạnh, nên xem thường và bị lộ mặt hết. Anh nhớ mấy lần anh ra điều nghiên trận địa, em đều giấu anh rất kỹ không cho ai gặp không?

Tôi hỏi:

– Còn Năm Mai ra sao?

– Cô ấy nghỉ công tác từ lúc con Mô bị thương ở Thái Mỹ. Rồi Hai Khởi bị Mỹ bắt trong căn cứ Sóc Lào. Bảy Ga bị rút về trên không biết làm gì.

Thấy tình hình quân báo nguy ngập như vậy mà Bảy Sơn lại mắc nạn, tôi thấy mình không có cách nào cứu bồ nên đành nói một câu ba phải cho qua truông:

– Mình người ngay không sợ kẻ nghi ngờ Sơn ạ. Chuyện đó rồi sẽ được đưa ra ánh sáng…

Nghe Bảy Sơn kể mà tôi cũng run gân. Họ nghi tôi là Tư Đức thời Nguyễn Bình! Tôi đổi cây K54 cho Bảy Sơn lấy cây Colt 12 Mỹ và cho y năm ngàn. Sơn khóc.

– Anh ở đây rán mà giữ gìn. Tình hình này còn căng thêm nữa đó anh.

Nghe chuyện của người lớn, chắc con bé cũng no nên không bú mà ngủ say trên tay tôi. Chị Tư ở sau bếp bước vô, thấy bé Thơ ngủ thì cười:

– Chưa ai dỗ trẻ con bằng anh… Hai.

Năm Tân tiếp thêm:

– Tại… chị nói anh Hai là ba nó !

Bảy Ưng ở đâu ló đầu vô cười khà khà hơi thở đầy mùi rượu, hất mặt về phía chị Tư:

– Đó bây giờ cô gặp “ba con Thơ ” rồi, còn khóc lóc, lên đồng nữa hết? -Nói xong Bảy Ưng quay sang cười với tôi- Năm ngoái tôi thay ông làm quận trưởng, năm nay ông thay tôi làm E trưởng, vậy huề nhé !

Chị Tư nguýt ngang, nhưng cố xã giao:

– Mời chú Bảy ở lại liên hoan với anh Hai.

Bảy Ưng sượng sùng (không rõ có chuyện gì vậy) lắp bắp:

– Li… en hoan hả? ờ ờ. Li… ên thì liên!

Bảy Ưng móc xắc-cốt lên cây đinh trên cột rồi ngồi xuống ngó láo liên. Cái đầu bạc trắng lắc lư, cái mũi làm khịt khịt đánh mùi:

– Làm món gì đãi thầy Hai đây mấy… đứa?

– Hì hì anh Bảy có lộc…

Chợt một người bước vào. Bảy Ưng giới thiệu ngay:

– Ba Thọ, trướng ban chánh trị E.

Ba Thọ giơ tay ra cho tôi, vui vẻ:

– Tôi với Hai Lôi mà cần gì giới thiệu. Ở ngoài Bác, tụi này khắc giờ thân nhau trên sân cỏ trường Pháo Binh mấy năm trước, hổng ngờ lại gặp nhau ở đây.

– Thôi ngồi vô! -Tôi kéo tay Ba Thọ.

Một chiếc đệm rách trải ra làm bàn nhậu. Một con vịt luộc. Một con rô-ti. Chị Tư có vẻ không vui. Khách ở đâu không mời mà tới rần rần. Tôi rút 500 đưa cho một cậu liên lạc bảo chạy ra mua thêm đồ bổ ở quán ông Ba Bì. Bảy Ưng móc trong xắc-cốt ra một gói đưa cho tôi, bảo:

– Năm Lê phát trăm hai. Tôi đưa cho Ba Thọ hết hai chục. Còn bao nhiêu giao cho ông sử dụng. Tôi chỉ lận lưng vài tờ đi đường.

Năm Tân coi bộ không kính trọng thủ trường, vì hắn sẽ đi an dưỡng . Còn Bảy Ưng thì sắp rời chức cũ, ai làm gì được ai?

Chị Tư vớt hai con vịt ra để trên hai cái dĩa rồi đặt trên nóc hầm, đốt nhang van vái khóc lóc thảm thiết:

– Anh Tư ơi ! anh Tư! Vong hồn anh có linh thiêng thì xin về đây chứng tỏ. Bữa nay có anh Hai về thăm em và con. Anh đã dặn em nếu anh có bề gì thì còn anh Hai giúp đỡ… Nay quả như lời anh trăn trối. Em đã gặp được anh Hai. Con bé Thơ nó không chịu ai bồng mà nó để cho anh Hai dỗ nó ngủ từ nãy giờ.

Chị vái xong cắm nhang trong kẽ nứt của nóc hầm chắp tay xá xá, rồi tiếp:

– Nếu anh có linh thì anh cho anh Hai nằm chiêm bao biết anh nằm ở đâu để em đi tìm. Và nhắc cho anh Hai nhớ những lời anh nói với ảnh hồi còn sanh tiền.

Chị gục đầu vào vách hầm khóc tức tưởi.

Bảy Ưng nói:

– Chồng mình là người Mác Xít không nên tin dị đoan như vậy.

– Mác Xít là cái gì mà không tin? -Chị Tư quay mặt ra trợn mắt quát.

– Hỏi Hai Lôi thì biết.

– Chồng tui chết thì tui cúng tui hổng biết dao mác gì hết. Bữa nay là ba tháng mười ngày, đúng bách nhật rồi. Ảnh chết tui không biết ngày nào, nên không mở cửa mả, nay phái cúng để ảnh đi đầu thai. Còn mấy người không cúng sẽ mất dầu thai mác mác cái gì.

Thấy chị sắp đổ quạu tôi can:

– Thôi anh Bảy, đừng làm cho chỉ điên lên không ai can được

– Điên gì mà điên, cái miệng nó leo lẻo khôn tổ bà.

Đợi cho tàn cây nhang, tôi bảo Năm Tân:

– Chú Năm nó đem vịt ra chặt đi. Mình trước cúng người khuất mặt, sau anh em mình ăn. Mau mau kẻo pháo nó thụt thì nhang tàn hết thơm.

Trong bầu không khí chẳng ra làm sao, thân mật không ra thân mật mà thiêng liêng thì càng không thiêng liêng, tội cho mạng những con vịt xuống đường, mọi người ngồi vào mâm.

Mới vào tiệc, Năm Tân gắp một cái giò vịt bỏ vô chén Bảy Ưng .

Bảy Ưng trợn trắng:

– Thằng cha chơi xỏ tao hả mậy?

Tôi chữa ngượng cho ông E trưởng bèn gắp phân nửa cái phao câu bỏ tiếp cho Bảy Ưng, Năm Tân.

– Chà! phao câu thì ăn nguyên cái chớ phao câu “chẻ hai” đâu ngon! Còn cái giò là tôi có ý muốn nói với anh Bảy hãy rán chạy, lúc này Mỹ nó nhảy cóc liền xì. Phải có cặp giò trường bảo mới sống nổi.

Ba Thọ có lẽ biết hó chuyện gì gay cấn giữa ông E trưỉng và chú D trưởng nên nói lảng sang chuyện khác. Anh ta quay sang tôi:

– Ông về đây tôi mừng lắm. Bây giờ E trưởng như rắn có đầu. Những đơn vị mới về tập họp lại chưa biết chỉ huy là ai. Hơn nữa mỗi D hùng cứ một nơi khó thi hành lệnh trên lắm. Ông để tôi kể sơ qua các sứ quân cho ông nghe. Tám Thôn D phó phụ trách dân vận. Tám Càn D phó đang đào công sự trong Xóm Bưng. Ba Nhẫn, Năm Tài phụ trách D1, D2 chỉ có Năm Thơi. (Tôi biết cả nhưng ngồi im như không biết. Năm Thôi là cậu thằng Thượng. Ba Nhẫn là C phó đều là cán bộ cũ của tôi từng đi đánh Tân Qui…) kể như E mình chỉ còn D3 vì D3 trước ở Bình Dương nay trả về E Phú Lợi rồi! Sau bữa tiệc này ông Bảy lên đường, phủi tay rảnh nợ, chỉ còn ông và tôi.

Bảy Ưng vừa nuốt xong cái “phao câu chẻ hai” liếm mép mỡ bóng láng nói:

– Nợ tôi thì rảnh nhưng nợ thầy Hai còn đó. Hì hì… má nó chờ ông mà phát điên đấy! Ông không về chắc ngày mai nó càng nhảy tưng nhảy tưng ngoài đồng kìa, ông coi, bữa nay nó bận áo tết-tô-rông coi phải thế bà E trưởng quá rồi.

(Bảy Ưng cố tình ghép chị Tư cho tôi, nếu có ai bắt lỗi thì ông trớ ngang vì Tư Nhựt cũng cấp E, tôi cũng cấp E).

Anh ta tiếp:

– Ông nên giúp thằng Tư Nhựt ông thầy pháo à ! Để nó đi lang bang hoài không nên ! Đàn bà không thể thiếu đàn ông được. -Rồi ông ta rỉ tai tôi- tại con nhỏ nó nứng l… quá chớ gì?

(Tôi giật mình, không ngờ anh ta nói tàn nhẫn như vậy).

Có lẽ Năm Tân ngồi cạnh nghe tiếng gió nên đoán được. Tôi thấy Năm Tân mím môi lại mắt chớp chớp. Bảy Ưng đã chạm tới chị dâu của y. Y gắp cái giò vịt.

– Ông Bảy cạp luôn cái giò đi!

– Giò thì phải làm cả cặp mới chạy được -Bảy Ưng nói gượng.

– Dạ phải. Nhưng mà rủi bị bò cạp kẹp thì làm sao chạy hả ông Bả… ảy? -Năm Tân tiếp thêm.

Bảy Ưng lõ mắt nhìn Năm Tân, môi lặp bặp:

– Mày nói bò cạp ở đâu mà kẹp tao mậy?

– Bò ở dưới ruộng, dưới hầm thiếu chi!

Bảy Ưng sượng sùng nhìn Năm Tân:

– Cái thằng, bộ mày có bị kẹp rồi hay sao mậy?

– Có chứ! Nó kẹp một phát trên tay một phát dưới bắp chuối.

– Hừ hừ! Chắc không đau hả mậy?

– Dạ đau lắm mà tôi không dám la. Sợ trẻ nhỏ nó cười !

Chị Tư có vẻ hả hê nhìn thằng em lém. Năm Tân quay sang tôi:

– Tôi ngủ ở đây nhưng nghe chị tư tôi than khóc, tôi chịu không nổi nên phải bỏ đi tìm chỗ khác đó anh Hai à ! Vài bữa nữa, em phải đi, không biết rồi chị tư em với cháu bé sống chết ra sao?

Bảy Ưng bắt mối nói ngay:

– Sống chớ chết chóc gì! Có Hai Lôi “nưng” đỡ mà, chú mày lo dữ không?

Con bé nãy giờ được mẹ đem vô cho ngủ trong hầm, nghe tiếng cười nói của người lớn, thức dậy khóc om lên. Chị Tư bò vào bế con ra. Ánh đèn chiếu vào cặp mắt đen như hột nhãn của bé Thơ. Bảy Ưng lại có đề tài:

– Con nhỏ này tóc đen mun, nữa nó cũng giống má nó, chớ hổng có giống ba nó đâu!

Rồi anh ta nắm bàn chân con bé giật giật. Mỗi cái giật là anh ta cố ý để tay anh ta đụng vào đầu gối chị Tư.

Năm Tân thấy vậy bên bảo:

– Chị Tư ngồi gần vách hầm coi chừng có bò cạp ở lỗ nẻ chui ra kẹp chị đó !

– Nó kẹp thì chị sẵn có móc tai đây, chị đâm nó lủng mặt hết kẹp bậy.

Bảy Ưng hơi tái mặt bèn nâng ly rượu gần cạn nốc cái trót rồi chép miệng quẹt môi, thở khà:

– Bò cạp kẹp mát da chớ đâu có đau!

Bây giờ xin trở lại vụ Thiên Lôi xách búa xuống Sài Gòn.

Phiên hiệu viết tắt của lính tráng Hà Nội.

E= trung đoàn
D= tiểu đoàn
C= đại đội
B= trung đội
A= tiểu đội
E trưởng = trung đoàn trưởng
D trưởng= tiểu đoàn trưởng
C trưởng= đại đội trưởng
B phó= trung đội phó
A trưởng= tiểu đội trưởng
F= Sư đoàn
E phó= tiểu đoàn phó
Chính trị viên E= chánh ủy trung đoàn
Chính trị viên phó E= phó chánh uỷ
D phó= tiểu đoàn phó
Chính trị viên D= chính trị viên tiểu đoàn
C phó= đại đội phó
Chính trị viên C= chính trị viên đại đội
B phó= trung đội phó – không có kinh tế viên
A phó= tiểu đội phó

Từ trung đoàn trở lên gọi là chánh ủy chớ không gọi là chính trị viên

Chương 98

Đường vinh quang xây xác quân nào<

Ta yêu Dương Thái Chân trước Đường Huyền Tông mà! Đó là lời nói đầy phẫn nộ của man tướng An Lộc Sơn ném vào mặt Dương Thừa Tướng là anh của Thái Chân khi ông này báo tin cho em gái được vua tuyển làm vương phi, lúc An Lộc Sơn đứng ngay bên cạnh.

Phải! An Lộc Sơn yêu cô thôn nữ Thái Chân trước ông vua Đường, nhưng vì vua là con trời nên cuỗm ngay của An Lộc Sơn cái đóa hoa mỹ miều ấy. An Lộc Sơn đành ngậm miệng để trấn ải Bình Lư xa nàng!

Thiên Lôi này không phải là An Lộc Sơn nhưng cũng bị trấn ải Củ Chi. Tâm địa con người! Tri nhơn tri diện bất tri tâm. Tôi nghĩ xiên xẹo như thế về tướng Chè không biết đúng hay sai. Rủi sai sau này xuống dưới kia gặp lại anh “Ba”. Ảnh “em chả, em chả” thì buồn lắm! Rồi bây giờ tưởng sao, lại được lệnh đi onh Sài Gòn, tiếp viện cho Hai Phái và Tư Nhựt! Cái thân phận Thiên Lôi, Ngọc Hoàng sai đâu đánh đó. Đi thì đi, sợ gì!

Tôi cho mời các ban chỉ huy D đến họp. Bảy Ga, Tư Quân… Vì đây là công tác chẳng lấy gì phấn khởi nếu cả đơn vị hay thì lính dám trốn về nhà lắm. Nên nhớ cái tiểu đoàn Quyết Thắng của tôi (và Tư Nhựt) chỉ huy trước kia đã trở thành trung đoàn Quyết Thắng Mũi Nhọn do Tư Nhựt đem xuống Sài Gòn trong đợt một vừa rồi. Còn cái D7 hiện giờ tôi chỉ huy gồm bốn phần năm là du kích xã đội còn bao nhiêu là tân binh. Cán bộ đại đội gốc là xã đội đưa lên, như Tư Ếch, Tư Đầu Ban, Sáu Mã Tử… chưa có kinh nghiệm chiến đấu tập trung. Ngoài ra còn một đội “dũng sĩ” của Tám Quang để lại do dũng sĩ thứ thiệt Bảy Mô chỉ huy. Lãnh đạo một đơn vị năm cha ba mẹ như vậy còn khó hơn lãnh đạo một sư đoàn chánh qui. Trong tình trạng đợt một vô Sài Gòn như thế, tin tức không có cách gì bịt được nếu họ biết họ sẽ đi tiếp viện cho một đơn vị không còn nữa, thì trong một đêm ngủ thức dậy, chỉ còn thấy súng chớ không có lính.

Tôi âm thầm lấy một trung đội trang bị mạnh làm tiền trạm, đi lót ổ trước cho cả đơn vị xuống đã, gồm có cối 60, B40, M79, AK do thằng Bòn chỉ huy.

Tôi giục Bòn:

– Thôi, đi lẹ lên! Mày dẫn đầu vô Bàu Đóng băng qua Sở Đốt Thịt vô Gót Chàng rồi ra Bến Mương. Không được ghé đâu lâu.

Còn tôi với cô nữ cận vệ Bảy Nê từng là dũng sĩ diệt Mỹ, và hai cậu bé trinh sát có tài chạy nhanh như chớp: Tiễn và Đa ! Bảy Nê không hiểu sao đang làm đội phó của đội nữ lại xung phong về làm gạc-đờ-co cho anh Hai – Hỏi tại sao, Nê đáp: “Để học hỏi nơi anh Hai về cách chỉ huy tác chiến và học thêm chữ nghĩa?” Chữ nghĩa ai cần mà học.

Tiễn là liên lạc của phòng tham mưu, gốc Trảng Bàng. Còn Đá là dân làng Đan Phượng thuộc tỉnh Hà Dông hay thuộc phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây gì đó. Cả hai đều “gan to bằng thúng” đạn địch bắn như mưa, tôi kêu chạy xuống truyền lịnh cho các C, chúng cũng chạy không do dự một giây. Đi đâu có hai đứa nó vác AK theo là tôi vững bụng vô cùng.

Nhớ lại thời kháng chiến chống Pháp, anh Tiên D trưởng 307, là một vị chỉ huy bị “đạn chê” tôi cũng ớn lắm. Đã là chỉ huy thì ra trận phải gương mẫu với lính. Ông gì thì ông cũng chỉ một viên thôi. Ảnh ra trận như ở nhà, bình tĩnh lạ lùng. Anh Tám D phó cũng vậy. Lính thấy hai anh được bổ sung về đây thì lên tinh thần vô cùng. Thuở đó tôi mới ra trường Lục Quân, với cấp trung đội bậc phó nên biết rành. Anh Tiên có tới sáu cậu liên lạc. Chỉ từ Bến Tre các cậu xuống Cần Thơ đều hy sinh, mà anh Tiền không hề bị vết thương nào.

Tôi bây giờ cũng có cả tiểu đội liên lạc trinh sát, cận vệ. Các em lần lượt thằng Đỏ thằng Xanh… Rồi cuối cùng đến thằng Bòn và hai con chích chòe Tiễn, Đá cũng hy sinh, còn một mình tôi. Đi chuyến này chưa biết ra sao.

Ngó lên phía trước thấy thằng Bòn dẫn một toán đã đến trường học bên con đường đá đỏ. Nó vẫy tay. Tôi kêu Tiễn, Đá đi nhanh theo.

Người xưa cảnh cũ đâu còn. Tôi về Củ Chi năm 65. Bầu trời Củ Chi còn trong xanh, mặt đất Củ Chi còn nâu mướt. Tiếng chày giã gạo, tiếng trâu nghé ngọ còn là những điệu nhạc êm đềm bất hủ của đồng quê! Tuy đã bén mùi bom đạn nhưng người dân hãy còn tự do hưởng thú vui mộc mạc. Đến nỗi bà Năm Đang còn bắt chủ xe lam ngoài chợ Củ Chi vào để dựng nên “cuộc đấu tranh chánh trị” để cho tên bụng phệ nhà báo quốc tế Bọ Chét quay phim trình quốc tế kia mà. Thằng nói láo, bịp cả thế giới nay đã chết mẹ nó rồi mà cuộn phim “Củ Chi tranh đấu” vẫn chưa xong. Nếu nó trở lại đây vào năm nay (1968) thì nó sẽ quay được cuộn phim “Củ Chi trâu đánh” không còn một miếng vườn, không còn một mái nhà. Y như bộ mặt tướng già Mác bị bom Mỹ cạo sạch râu. Mỗi một bước chân đi dẫm trên một mảnh đạn. Mắt nhìn xa hay gần đều thấy tro than và hố bom. Và có ý nghĩ chính mình cũng sẽ hóa thành tro than nay mai.

Các tiểu đoàn địa phương hoặc các đơn vị của công trường 5 đều quen mặt đồng bào ở các vùng Đồng Lớn, Ràng, Sa Nhỏ, Cỏ Ống, Phú Hòa v.v… nay đâu còn mống nào. Các má gặp chúng tôi hành quân cứ hỏi thăm. Chúng tôi chỉ đáp: “Các ổng đổi công tác rồi!” Chỉ tính từ cuộc càn Cedar Falls năm 1967 tới nay, chẵn một năm, cũng thấy sự tổn thất của Củ Chi. Không còn một xã đội du kích nào. Không còn một bí thư xã nào! Đồng bào và cán bộ ở hang ở hầm trong lúc những người khác bỏ quê ra ấp chiến lược Vì đồng không nhà trống nên chúng tôi cứ nhắm hướng mà đi chớ không còn đường sá gì nữa. Mãi đến lúc lội qua một con lạch thì mới sực nhớ ra rằng đây là con suối từ Hố Bò chảy ra. Đứng ở rừng làng ngoảnh nhìn lại thì tầm mắt phóng xa tận Hố Bò không bị một rặng cây nào chặn ngang, còn nhìn ra sông Sài Gòn thì thấy nước trắng xóa ở những khoảng cây bần mọc lưa thưa ở ven bờ.

Chúng tôi cứ nhắm hướng mà đi. Bỗng tới một lùm cây. Bên cạnh có một mô đất mới đắp rất cao. Tôi dừng lại bảo Nê :

– Chắc là đây, Nê à !

Cô bé hiểu ý tôi, dừng chân, kêu thằng Tiễn đến. Thằng bé cũng hiểu ý bèn bỏ chiếc bòng xuống, mở ra lấy nhang và giấy vàng. Tôi lẳng lặng lấy chiếc hộp quẹt Zippo bật lửa, Nê cầm giấy và nhang đưa vào. Giấy bốc cháy, tro tàn bay theo gió cuộn quanh chúng tôi như những mảnh oan hồn người chết chưa tan. Nê cặm nắm nhang lên đầu mô đất. Khói quyện có cục rồi hòa trong không khí mênh mông của buổi chiều ảm đạm. Nê bảo:

– Anh van vái họ phò hộ chúng mình đó anh Hai!

Tôi bất giác nói lầm thầm:

– Sáu Phấn, Năm Triêm, Tư Hải, thằng Phích, con Hồng, con Lan…

– Thằng Ngọc với ba, bốn cậu miền Bắc nữa anh à. Tất cả là mười hai người thuộc phòng tham mưu quận đội nằm dưới mô đất này đó anh. Cao cấp nhất là anh Sáu Phấn D phó.

Tôi nghẹn ngào không nói được, cho khoát tay ra hiệu để đi tiếp, không muốn đứng lâu ở chốn này. Súng phun lửa Mỹ đã thiêu rụi cả một văn phòng dưới hầm. Sáu Phấn, ông bạn của tôi, một con người hiền hậu từ Bắc về làm chính trị viên H6, kỳ đó từ bên kia sông được lệnh qua đây để chôn giấu DKB chuẩn bị tổng tấn công, rủi bị xe tăng ruồng, chui xuống hầm với văn phòng tham mưu nên nằm chung trong nấm mộ tập thể này. Trước đó ít lâu, tôi được lệnh về củng cố H6 thành D8 do Phấn phụ trách, Phấn đãi tôi lít rượu và tôm khô. Anh cất để dành cho tôi cả năm trời. Phấn uống rượu với tôi, mặt buồn dàu dàu, than thở: “Uống cho hết đi thày Hai, tình thế này, biết còn gặp nhau nữa không?” Dè đâu đó là lời vĩnh biệt. Lần nào uống rượu với tôi, bạn bè cũng đều than như thế.

Bây giờ trở về Bến Mương người không còn mà cảnh cũ cũng tan hoang.

Bốn thầy trò lầm lũi đi. Riêng tôi thì lòng nặng nề u thảm xiết bao. Ở đây là quê hương của tôi. Hai năm trước tôi về đây khi H6 đang xuống dốc. Những nhờ mảnh đất đãi người này tôi đã cùng Sáu Phấn dựng lại nó, khá nề nếp. Ở đây có Má Mười, có vợ chồng tháng Út, có đôi trai gái hiền lành do tôi vun đắp thành vợ chồng. Có thằng Đỏ liên lạc rất mến tôi, có vườn sầu riêng, có bóng nàng Mai Khanh từ trên R đi đường thành vào thăm tôi, có nàng Thiên Lý… Tất cả đã chết trừ Mai Khanh…

Ở đây tôi bị một trận ruồng, cực chẳng đã phải xuống địa đạo, may nhờ có cô Thu cứu sống bằng nước tiểu của cô. Nếu không có món “tiên dược” đó thì đã chết rồi!

Đang nhớ ngược về thời gian trước bỗng có tiếng chân tới gần. Rồi tiếng kêu:

– Anh Hai hả?

Tôi nhìn ra phía trước. Hai ông nông dân ở trần trùi trụi. Một người đến đập vai tôi, quát:

– Không nhận ra tôi sao?

Tôi đang ngớ ngẩn thì người kia lại tiếp:

– Tám Đột và Sáu Bương nè !

– À, anh Tám anh Sáu! – Tôi nhận ra tiếng quen nhưng mắt chưa nhận ra người.

Sáu Bương bí thư và Tám Đột an ninh xã An Nhơn. Thật họ không còn ra người ngợm gì nữa. Sáu Bương nói:

– An Nhơn bây giờ chia làm hai xã rồi nghen anh Hai. An Nhơn đây thuộc quyền tôi còn từ Ba Sòng Gò Nổi trở ra là An Nhơn Tây thuộc quyền của Ba Tâm. Tình hình bây giờ khó khăn lắm (tôi biết). Trong xã mà không liên lạc với nhau được, nên phải chia đôi.

Tám Đột hỏi một dây:

– Tôi thấy mấy cậu trinh sát đi phía trước là tôi biết có anh theo sau. Bây giờ đi đâu đây? Ghé tụi này phụ nhĩ tình hình đấm đá cho nghe với. Ở dưới hang tôi toàn nghe máy bay loa tin tức Sài Gòn và đọc truyền đơn của chúng nó rải chớ đâu có biết giống gì?

Tôi cười gượng:

– Tụi tôi cũng vậy thôi ! -rồi nói lãng sang chuyện khác- Bến Mương bây giờ trông lạ quá không giống hồi xưa chút nào. Có cái địa đạo nào còn chui được không?

– Nhẹp lâu rồi anh Hai à. Mà nếu còn anh dám chui không? Tám Đột cười banh miệng méo xẹo- Một lần đó suýt tiêu tùng không tởn hả?

Tôi gật, nói cứng:

– Anh chui thì tôi chui theo, sợ gì!

Bỗng thấy từ khúc quanh kéo tới hai ba người vừa đi vừa nói chuyện nghe rặt giọng Bắc.

Tôi hỏi:

– Lính nào vậy anh Tám (ở vùng này mà người Bắc thì chỉ có lính nhà ta thôi).

– Ai biết lính nào? Nhưng mấy cậu ấy nhập vô du kích ở đây rồi. Mấy cậu nói là đi đánh Sài Gòn về. Rồi ỳ ra ở đây luôn. Tôi thấy tội nghiệp nên nhận họ ở lại cho đeo vè cái xe bể.

Họ đi tới. Trời! Tôi kêu thầm. Cậu nào cậu nấy xanh xao, chân cũng cà tong cà teo. Vậy mà còn ở trần để lộ những bộ sườn non cộm lên như bò ốm nuốt que sắt. Một cậu vác cuốc đến nói với Tám Đột:

– Mai mình giồng thêm vài luống nữa nhá, anh Tám. Trời tháng này không mưa nó lâu bắt rễ quá. Trông cho nó ra lá non luộc ăn mà không thấy.

– Mưa cho mình chết lẹ. Chỗ đâu mà ở, trù mạt không hè !- Tám Đột gạt phắt.

Sáu Bương bảo:

– Đây là ông Hai Lôi, các cậu có xin vô tiểu đoàn ông thì xin.

Tôi móc thuốc mời từng cậu. Chắc thấy tôi mang K54 đeo xắc-cốt nên các cậu khúm núm:

– Xin thủ trưởng một điếu.

– Lâu quá chúng em không có thuốc hút.

Một cậu lại vọt miệng nói:

– Ở đây thì hút xách chớ nằm lại dưới Rạch Tra thì còn đâu mà hút?

Tôi biết nhưng hỏi:

– Các em ở “dưới” về hả?

– Vâng, chúng em vô đợt một đấy ạ ! Có cậu kia thì không vô.

– Các cậu ở đơn vị nào, ai chỉ huy.

– Chúng em ở Q16 đi bổ sung cho E mũi nhọn không biết Ban Chỉ Huy E là ai.

– Rồi sao?

– Bá cáo thủ trưởng là đơn vị vẫn hoàn thành kế hoạch như thường ạ !

– Nghĩa là sao?

Cả bọn đứng im. Cậu này nhìn cậu kia qua làn khói thuốc, có ý đùn cho nhau trả lời.

– Thì cứ bá cáo sự thực đi rồi xin về đơn vị! -một cậu giục.

Tôi biết tính người Bắc cẩn thận kín đáo chớ không thẳng ruột ngựa và bộc lộ như người miền Nam, bèn bảo:

– Trong chiến đấu mà lạc đơn vị trên một chiến trường lạ là sự thường, có gì mà các cậu ngại. Tôi được lệnh đi xuống dưới vừa tiếp viện vừa thu dụng quân mình đây. Các cậu cứ cho tôi biết để tôi liệu định. Nếu tôi không vớt các cậu thì ông Năm Đăng bắt trói cả dấy.

Một cậu nói:

– Nếu thủ trưởng đi xuống đó thu dụng thì chúng tôi là những người cần được thủ trưởng thu nhận, còn nếu thủ trưởng đi xuống dưới đó để tiếp viện thì thưa thực với thủ trưởng, có còn ai mà tiếp viện. Đồng chí Tư Lệnh đã hy sinh. Chúng tôi được lệnh đồng chí chánh ủy những thương binh nào còn đi được thì tự lực mà đi về trên chớ chờ người xuống rước thì không biết chừng nào. Do đó chúng em mới lần về. Người bị thương cũng đi mà người không bị thương cũng đi. Qua Rạch Tra bị pháo dập mấy trận liền, ớn lắm. Mặc kệ, chúng em coi như đã chết rồi. Sống được thì may, không sống cũng thế thôi. Thủ trưởng xem thân hình chúng em đây từ dưới đó mà mò về đây mất hai tháng. Đói đã đành. Bệnh cũng trải chiếu xuống đất nằm, không có ai phục vụ một bát nước, đừng nói chi thuốc men.

Cậu bé “không đi Sài Gòn” nãy giờ đứng im, bây giờ lên tiếng:

– Riêng em ở trong đoàn bảo vệ đồng chí Phó tư “nệnh” xuống Sài Gòn đấy ạ !

– Ai vậy? Ổng đâu? -Tôi gắt- Các cậu phải cho tôi gặp ngay mới được!

– Dạ chuyện dài lắm. Thưa thủ trưởng, đoàn đi đơn Rạch Cây Da thì “nộn nại”.

Đùng, đùng, đùng!

Chớp nhoáng nhì nhằng ngoài đồng. Tám Đột cười:

– Đồng Dù chào mừng anh sai đó, thôi vô căn cứ có hầm bảo đảm hơn. Ở đây lâu không được đâu. Cầu Rạch Sơn tụi tôi đã bắc lại rồi. Anh vọt qua mau không lo pháo chặn đâu!

Cả đoàn kéo vô căn cứ của Tám Đột và Sáu Bương. Tình thế thay đổi, cách sống cũng đồi thay. Phải thích hợp với pháo, bom, biệt kích thì mới sống được. Pháo là thứ võ sĩ mù. Nó đánh những cú bất ngờ tưởng không ăn thua mà chết. Như D phó Chín Câu, dượng rể của Bảy Mô đang ở sau vườn bắt vịt về làm thịt nhậu mà một trái pháo mồ côi rơi giết chết. Có ai ngờ’? Làm sao đo được? Loại pháo điện tử, khi nó tới, nổ rồi mới nghe tiếng gió hú. Cũng như khi nghe tiếng gõ cửa là kẻ trộm đã vào nhà. Bom thì dễ trốn, nhưng nó rơi ngay nắp thì không có hầm nào chịu nổi. Còn biệt kích? Loại này có thể chống được, đánh trả cũng không khó, nhưng nó đến ngay lúc mình ăn cơm hoặc ngủ mê thì làm sao mà chống? Trung đoàn trường Ba Châm bị biệt kích bắn chết ngay trong hầm lúc ngủ trưa !

Vậy muốn sống phải trốn tránh ba thứ ác ôn kể trên. Hút chưa được tàn điếu thuốc, Tám Đột trỏ tay bốn phía, nói:

– Anh Hai biết đây là đâu không? (Tôi lắc) -Tám Đột tiếp- Đây là nền nhà của Má Mười, phía sau lưng mình là cái miệng địa gần nhà ông Tư Lễ và Năm Giáo, còn đó là cái mả của ba Mười má Mười. Má Mười sợ quá bị động tim chết. Còn ba cái kia, hai cái lớn, một núm nhỏ là của vợ chồng thằng Út và đứa con nhỏ chết ngộp dưới hầm, anh nhớ không?

– Nhớ chớ sao không nhớ, cái địa đạo còn chui được không?

– Còn ai đâu mà chui. Mà nếu có chui chắc cũng không chui được. Xe tăng Mỹ nó cán nhẹp hết rồi. -Tám Đột chỉ tiếp- Ngoài gốc vú sữa cũng có mấy cái mả nhưng không có mộ bia, không biết của ai, tôi cũng không nhớ ai chôn hồi nào nữa ! Chết nhiều quá anh à ! Không biết sao tôi còn ngo ngoe đây!

Tôi bảo thằng Đá thằng Tiễn đốt nhang cẩm lên mỗi nấm mộ và đốt giấy vàng rải chung quanh.

– Tụi Mỹ tuy ác nhưng cũng hiền.

– Tại sao?

– Đàn bà con nít nó bắt được nó cho đồ hộp ăn. Còn mồ mả nó không cán. Anh tin di, chỗ nào nó thấy có chân nhang là nó tránh.

Trời chiều đã buồn thảm lại còn đứng bên mộ những người thân thì càng buồn hơn. Tôi giục Tám Đột:

– Thôi về căn cứ nghỉ chút đi anh Tám!

Trời ơi Ngày tôi còn ở đây tuy bị bom pháo liên miên nhưng cũng có nhà cửa, bếp núc, chỗ ăn chỗ ngủ chớ đâu như bây giờ. Tất cả gom lại chỉ một cái hầm như hang cá thòi lòi. Biệt kích nó tìm thấy nó bịt miệng hang tóm gọn.

Nếu xuống hầm thì không có đủ chỗ, nên cả bọn ngồi quanh miệng hầm. Tôi bảo mấy đứa nhỏ canh chừng xa xa, hễ có chuyện gì thì báo cho biết. Tôi ngồi lại đây là vấn đề tình cảm từng sống chết với nhau, cũng là để hỏi thăm tình hình đi chặng tới. Địa phương mới sát chớ mình chân ướt chân ráo dù có võ trang mạnh cũng không dám xông pha như ở mặt trận.

Tám Đột nói:

– Các xã Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn (chia ra Đông Tây) cũng tiêu tàn hết, khác nào xã Nhuận Đức. Quận đề nghị Khu cấp cho mỗi du kích một tháng mười lít gạo. Nhưng khi có khi không. Ở trên bảo tự lực. Thiệt không biết nói sao. Gạo lãnh về, ngồi lượm thóc cả buổi mới nấu được một nồi cơm. Đến cối xay cũng bị pháo bắn gãy hết răng, còn cối giã thì thủng đáy. Dân còn loe ngoe, mấy người lỳ lợm ở lại bám đất bám vườn. Vậy mà tụi lính Trung Hòa cũng tới xét nhà . Gạo phải đem giấu, nếu nó thấy có nhiều nó lấy hết vì nó biết đó là gạo tiếp tế cho mình. Tình hình đó mà ông Sáu Phấn đem DKB về bắt tụi tôi phải cất giấu. Cất giấu chưa xong ông đã bị súng phun lửa… cùng với Đào Hải.

Tôi buồn rầu:

– Hồi nãy tôi có đốt nhang trên nấm mồ tập thể của phòng tham mưu. Chịp!Tội nghiệp quá. Sáu Phấn rất sợ chết bỏ vợ bỏ con mà rồi cũng không khỏi.

Tám Đột tiếp:

– Hôm Tết, mấy ông H6 có về. Tụi tôi dẫn họ đến đắp mộ cho cao. Tư Cư, Ba Quản Lý, Thầy Mười… Ờ, thầy Tám Lù Đù anh nhớ không Nó thoát ly hổng biết đi cơ quan nào, nay trở về cũng thấy đeo “cun” (colt) xề xệ.

Tôi móc gói thuốc bỏ ra đất. Mỗi người rút một điếu. Khói tỏa âm u.

Tám Đột tiếp:

– Mấy người này coi vậy mà có phước, chết còn có mả có mồ, chớ mấy ông trong trại Bà Huệ gần nhà Ba Xây, có ai tìm được miệng hầm mà đắp mộ. Tôi và thằng Ba Thắng không dám tới ban ngày, chờ tối lại soi đèn tìm cả canh cũng không thấy. Bữa sau trở lại mới tìm được miếng ván lòi ra giữa những dấu xích xe tăng. Định vun lên một nấm mộ tạm tạm rồi sau này sẽ tính, nhưng bị đầm già phát hiện, tụi tui phải chạy cong đuôi không đáp được. Tội nghiệp ông Tư Mạnh với con Lan cứu thương, hai người chống nhau như nước với lửa, nay lại chết chung một hầm. Xuống dưới đó giờ chắc đã hòa thuận trở lại rồi. Còn Ba Trạch với Út Nhỏ không biết có chuyện gì với nhau không mà thấy cô nàng cũng mang nhang tới đốt cặm đó. Ba Trạch thiệt rủi. Pháo bắn, cả bộ đội không ai chạy, chỉ có mình y vọt ra đồng trống rồi trúng có một miếng nhỏ xíu mà chết …! – Tám Đột kể một hơi, dừng lại thở ra- Con người có số anh!

Cô bé Nê nấu cơm xong đem tới. Khô cá kèo khô lươn đem đi từ nhà nướng thơm phức, Nê để trên nửa đọt lá chuối, còn canh chua thì nấu với bầu chín để nguyên trong soong, cái soong móp méo như một đời của tôi vậy. Cả bọn ngồi lua, mồ hôi xuống ướt lưng. Tám Đột nói tiếp:

– Tôi lâu lâu có bẻ ít bông trang rau mát đem để trên mộ của mấy ổng, van vái mấy ổng phù hộ mình, mấy ổng chết như vậy chắc hồn ma linh lắm phải không anh?

Thăng Tiễn vọt miệng:

– Ở dưới đó có chị Lan là dân An Phú của tôi đó chú Tám! Chú có cắm bông trên mộ chí, chú nói giùm tôi đến thăm chỉ nghen”

Cơm xong tôi đứng dậy ngó quanh. Thấy dòng nước Bến Minh đầy kỷ niệm năm xưa mà ngậm ngùi. Vợ thằng Út như còn đó, ẵm con đứng chờ chồng đi chở lúa tự túc bên Thanh An về. Em Thiên lý nhảy xuống sông tự vận khi biết cả gia đình đều chết, may được anh em H6 chúng tôi mò vớt lên và cứu sống… Bất giác nước mắt tôi chảy dài nóng hổi. Tôi quệt ngang không muốn để ai thấy và đưa tay cho Tám Đột:

– Tôi phải đi cho kịp tốp trước, anh Tám! -Tôi uể oải đứng dậy nói.

Tám Đột bảo đám du kích:

– Mình đưa anh Hai qua khỏi cầu Rạch Sơn rồi về bây!

Anh ta cũng quệt ngang mắt như tôi. Rồi anh vác cái mác đi trước. Tôi đi giữa. Mấy đứa nhỏ Bắc Kỳ theo sau.

Tôi nghe một cậu nói với thằng Đá và thằng Tiễn những lời để cải chánh về sự có mặt của chúng ở đây:

– Chúng tớ đâu có tụt hậu. Chúng tớ bị đơn vị bỏ rơi, chúng tớ không biết đường nên phải quay trở lại đó chứ. Đường sá gì ninh tinh quá không biết nối nào.

Tôi biết là hai cậu muốn thanh minh về sự “bê quay” của mình. Cũng như trên đường Trường Sơn có khối cậu chịu gian khổ không thấu nên phải trở lại, thà mang tên “bê quay” hơn làm “nợn nuộc”. Tôi bảo:

– Các em đừng lo. Cứ ở đây với anh Tám, làm du kích cũng chiến đấu vậy! Chừng nào anh quay trở lại sẽ nhận các em về đơn vị với anh. Đừng buồn mà mất tinh thần hết.

Các cậu mừng rỡ vô cùng, một cậu ôm mặt khóc và nói tức tưởi:

– Tụi em vô đây không có thành tích gì hết mà đã trốn thế này, xấu hổ quá !

Một cậu lại bảo:

– Chúng mình có trốn đâu! Ông Tám ra lệnh cho mình rút lui đó chứ!

Nhìn thấy mấy đứa nhỏ, không đứa nào tới hai mươi tuổi, nheo nhóc, bệnh hoạn, tôi móc túi cho mỗi đứa 500.

Rồi đưa luôn cho Tám Đột một xấp không biết bao nhiêu, và cố nói với giọng bình thường:

– Thôi anh ở lại rán sống nghe anh Tám! Tôi phải đi! Mai mốt mình sẽ nhậu một trận.

– Ờ anh Hai đi mạnh giỏi. Có về cho tụi tôi hay mình nhậu một bữa tại đây.

Đoàn chúng tôi qua cầu. Tôi quay đầu lại nhìn. Những bàn tay cong queo gầy guộc đen thui đưa lên vẫy theo chúng tôi.

Tám Đột đứng ngẩn ngơ, bóng anh chìm trong trời chiều man mác.

Cô bé Nê tuy còn ít tuổi nhưng rất khá về môn tâm lý. Thấy tôi buồn, cô gợi chuyện:

– Để em sắp hạng cho anh Hai nghe nghen .

– Hạng gì?

– Hạng các cô ấy mà !

– Cô nào đẹp nhiều cô nào đẹp ít hả?

– Không phải. Cô nào thích anh nhiều nhất.

– Chẳng có cô nào thích anh cả em à.

– Theo em người thích anh nhất là chị Tư quận đội phó. Thứ hai là chị Tám Lệ ở ngoài Ràng.

Tôi làm bộ gạt ngang:

– Người ta có con rồi cô ạ !

– Có con nhưng đẹp hơn con gái, mà chồng lại chết. Thì có sao đâu!

– Còn thứ tư là ai? -Lòng ngổn ngang trăm mối, nhưng tôi cố gượng hỏi.

– Thứ tư là chị Tư Thêm má con Tiền.

– Cô ấy cũng có con rồi.

– Chị ấy có trình độ và khôn ngoan nhất vùng này đó, mấy bà cán còn phải nể chị ấy -Nê ra vẻ thầy đời.

– Còn ai nữa không?

– Còn một nàng nữa! Còn một chục nàng nữa!

– Ai?

– Khó nói lắm! -Nê cười khúc khích rồi tụt lại sau tôi.

– Khó cũng cứ nói nghe!

– Đó là cô giáo Chín Hòa. Cô giáo rất yêu anh nhưng làm bộ như không gì hết.

– có gì mà khó nói. Đó cũng thường trong tâm lý con gái.

– Còn một cô nữa. Nhưng để khi khác em mới cho anh hiểu.

– Em không nói anh cũng biết rồi. Anh chỉ coi cô ấy như một đứa em gái thôi.

– Hừm ! Sao vậy? Cô ta không thích là em gái anh đâu – Nê nói giọng khác khác.

Cả hai lặng im. Tôi đi chậm lại như để nghe mùi tóc của Nê bay thơm trong gió. (Tội nghiệp “cô em gái” ấy chẳng bao lâu lại chết trong một cuộc đột nhập ấp chiến lược Lào Táo, với mảnh hồn trinh nữ lang thang không bến đỗ trên quê hương mình. Sống, chết cũng đều lang thang như nhau).

Sông Sài Gòn lấp lánh trước mặt. Giang thuyền vắng bóng nên chúng tôi đi đứng khá tự do, cười nói râm ran. Những đơn vị đi Sài Gòn đều lần lượt dẫm chân trên lối mòn này đi xuống để rồi cũng đội về trên những nẻo này. Đi thì lén lút. Về thì tả tơi. Tro than trên mỗi bước.

Từ xóm Thuốc xuống Bến Đá, Bến Cỏ không biết bao nhiêu bom pháo đã đổ xuống như để xóa dấu chân người, nhưng chân người lại dẫm lên xóa hố bom, vết đạn như những bàn tay khâu vá thương tích trên thân người. Rốt cuộc mặt mũi quê hương tan nát. Từ xóm Dược, Bến Sức, Hố Bò chúng tôi đi dần xuống đụng Kinh Hố Bò, Kinh Bò Lạp, Láng Các, đến chợ An Nhơn đến ấp Bến Minh, cầu Rạch Sơn là nơi chúng tôi vừa vượt qua. Tất cả những địa danh ấy đều gắn liền với sinh mệnh của chúng tôi, của riêng tôi mỗi một tấc đất là một giọt máu, mỗi gốc cây dừa cây xoài là một kỷ niệm. Trước kia xóm làng xanh tươi bát ngát cây lá mát rợi bóng mát che ngợp quê hương. Phù sa tưới gốc trầu, liếp rau vồng mì, Củ Chi như một khu vườn hoa thơm trái lạ. Nay hoàn toàn trơ trụi. Tất cả các xóm đều nằm dưới mưa pháo mưa bom. Từ Trảng Cỏ đến Bến Đồn, từ Sa Nhỏ đến Bào Dương Bào Tranh, từ xóm Bưng đến Gót Chàng, Xóm Mới, Gò Nổi, tất cả đều là khu vực đánh phá tự do (destroyed zones) của Mỹ. Dọc bờ tả ngạn lẫn hữu ngạn sông Sài Gòn là những khu vực phá sạch. Từ nơi xuất phát của chúng tôi (Sa Nhỏ) đến ngoại ô Sài Gòn, đo đường chim bay thì chừng 40 còn đi ngoằn ngoèo theo vết chân du kích thì có ngót 80 cây số.

Nếu là đường sinh lầy những bom pháo thì lội chỉ trong hai ngày là chúng tôi tiếp cận mục tiêu. Nhưng đánh người ta thì người ta đánh lại chớ ai có dại để cho mình tự do múa gậy vườn hoang hay sao?

Đang đi bỗng thằng Tiễn bảo:

– Anh Hai à ? ở đây gần bờ sông mình tắm một mách hết nực rồi hãy đi tiếp!

– Coi tụi tiền đạo có ra dấu gì không? Coi chừng xuống sông rồi thành “nợn nuộc” đó !

– Không có gì đâu anh Hai. tình hình êm ru hè ? -Thằng Đá bất chước giọng Nam Kỳ nói.

– Ờ tụi bây xuống trước đi !- Tôi bảo.

Tiễn và Đá như hai con chích chòe, chuyền cây xuống một khoảng trống ở mé sông. Bỗng Tiễn dội trở lại kêu ơi ới:

– Anh Hai! Anh Hai! Bò của ai lội qua sông cả bầy kìa.

– Bò gì! Ở đâu? -Tôi quát- Tụi bây coi kỹ lại coi! Bò gì ở đây? Bò ở đây là bò xe. Ai lùa qua sông vào lúc này? Bộ điên sao?

Tiễn bật ống dòm ra, lội tới gần mé nước, xem một lúc rồi quay lại đưa ốm dòm cho tôi.

– Anh xem dùm coi! Em không nhận ra là cái gì. Nhưng thấy giống như lưng bò, bò vàng lẫn bò đen. Đó, cả bầy đang lội ngược dòng. Bộ nó muốn lên xóm Dược.

Tôi vẫn không tin. Bò gì lại bơi qua sông? Tôi đã qua lại con sông này mòn cả chân bạc cả đầu, nhưng chưa bao giờ gặp bò qua sông.

Tôi lấy ống dòm và bảo:

– Tụi bây cảnh giới hai đầu, để tao xem.

Thằng Đá leo trên cây che tay nhìn một lát rồi nói:

– Thây ma đó chớ bò heo gì.

– Ờ đúng!

Tôi buông ống dòm xuống trước ngực và tán thành ý kiến thằng Đá! Quả thật là thằng chổng. Một bầy chổng trôi bập bềnh trên sông. Thảo nào từ nãy, tôi đã thấy những bầy quạ bay rà rà trên mặt nước mà không hiểu tại sao! Không ngờ nó báo tin mà mình không biết.

Nê từ trên xa nghe nói chạy ào xuống vừa thở hổn hển vừa hỏi:

– Thằng chổng ở đâu… ở đâu mà cả bầyy, anh Hai??

Tôi đưa ống dòm cho Nê. Nê xem một chốc rồi nói:

– Thật rồi. ở đâu mà nhỉều vậy? Nó trôi lẫn trong những cụm lục bình nên khó thấy.

Tiễn tiếp:

– Bây giờ em thấy rõ rồi. Đó là anh em nhà mình. Chắc là lính của ông Tư Nhựt hoặc tiểu đoàn Gò Môn chớ gì? Nói chung là E Quyết Thắng.

Tôi nạt:

– Sao mày biết rõ vậy? Im đi! Đừng có bép xép cái miệng.

Thằng Tiễn im. Thằng Đá cũng không biết nói gì. Cô Nê cũng chẳng hé môi.

Tôi quát:

– Thôi, trở lên, không có tắm tiếc gì nữa!

Cả bọn riu ríu quay lên. Những đi một quãng tôi lại bảo:

– Tiễn, mở bòng ra lấy nhang và giấy vàng đem xuống đốt.

Thằng Tiễn và thằng Đá y lệnh. Tôi đứng ngó theo. Nhưng bụng không đành. Làm gì bây giờ? Làm sao mà lội vớt cho được?

Thằng Tiễn trở lên, mặt dàu dàu:

– Còn nhiều lắm anh Hai à. Thằng chổng thấy ghê quá !

Tôi quát:

– Tụi bây không được kêu là thằng chổng nữa nghen. Đồng chí của mày đó !

– Vậy chớ kêu bằng gì anh Hai?

– Kêu gì thì kêu nhưng cấm không được kêu chổng.

Tôi kiếm gốc cây tựa lưng. Nê thủ thỉ:

– Ở tuất dưới đó mà trôi ngược về trên này!

Tôi hỏi:

– Sao kỳ vậy?

– Em chắc là lên đến ngã ba sông Thị Tính gặp chỗ nước xoáy. Nước lớn chảy vô thế mạnh. Đến nước ròng chảy ra thì yếu nên khi tới ngã ba Thị Tính thì nó lềnh bềnh. Rồi tới nước lớn lại chảy mạnh tống lên đây, đó anh Hai.

Thằng Tiễn thằng Đá, đốt nhang và giấy xong trở lên. Chúng nó vẫn còn ấm ức, nhưng sợ tôi rầy, nên nói lầm thầm với nhau:

– Lính mình chớ lính ai !

– Ờ, kaki vàng là Quyết Thắng còn áo đen là Gò Môn.

Thằng Tiễn lại nói:

– Mấy ông nội ở với ông Tám Đột nói mấy ổng đi Sài Gòn trong ba lô bỏ theo giấy bố, quân hàm, đợi chiếm xong là tra vào đi dạo phố. Mẹ! trên bộ không đi lại đi đường thẳng.

Tôi nghe mà não lòng, nhưng không muốn nói gì nữa. Cố đi nhanh cho xa bờ sông để tránh cái hình ảnh “đàn bò đen bò vàng” nhấp nhô phập phồng trên sông.

Lên tới lộ, tôi quay mặt ngó xuống. Dòng sông lấp loáng nhưng mắt tôi lại bị choáng hết với những vệt vàng vàng đen đen. Chừng vài bữa nữa sẽ rục như trái bí trong lu nước mưa. Xương cốt biết đâu mà mò ! Con cái nhà ai? Tôi gục đầu chua xót, nghĩ.

Bất giác tôi bảo hai thằng nhỏ:

– Tụi bây nhớ chỗ này cho tao nghe không?

– Chi vậy anh Hai?

– Chi, kệ tao đừng hỏi !

Bỗng cô Nê lôi tay tôi lại:

– Ở đằng trước, anh Bòn khoát tay kìa anh Hai!

– Có chuyện gì vậy?

Cả bọn nép vô bờ đứng đợi tin tức. Thì ra không phải địch mà ta ! Lại lính ta đi dạo Sài Gòn về, nhưng tốp này có vẻ bi đát hơn chớ không được như mấy cậu ở với Tám Đột. Cậu thì băng đầu, cậu thì treo tay trên cổ, cậu lại chống gậy nhảy cò cò. Thấy tôi, cả bọn ùa lại, rối rít:

– Thủ trưởng có thuốc cho xin điếu.

Tôi cố ém tiếng kêu trong họng, tay móc gói thuốc.

– Sao các em… thế này? -Tôi nghẹn ngào (Đã biết rồi còn hỏi).

Bỗng một cậu còn khỏe mạnh chạy tới:

– Anh Hai! Em là Vàng nề. Nhớ không?… Em nằm y xá con Nga chung với anh đó .

– Mặt mày em sao vậy?

– Nhiều chuyện lắm anh Hai ơi! -Thằng bé rẻ lên khóc hụ hụ làm cả bọn lặng ngắt. Vài cậu quay ra bập bập điếu thuốc.

Thằng Vàng nói:

– Em bị chó bẹc-giê nó quào! -Vàng xăn tay áo lên cho tôi xem. Những dấu răng máu đọng khô đen nổi trên da thịt thằng bé. Nó tiếp- Em vật lộn với nó. Em đang là A trưởng. Trước khi xuống Sài Gòn mấy ông phong lên B trưởng. Em ở trong D ông Tư Bính. Chủ công đánh vào sân bay Tân Sơn Nhút. Tụi em vượt được lô cốt canh cửa, nhưng vô trong không biết đường nào mà chạy. Tụi nó đưa xe ieep và GMC có gắn đại liên ra chận tụi em lại, quét hết quá nửa. Em không biết phải đánh mục tiêu nào nên chạy tìm chỗ núp để phản công. Lủi vô một đám tranh cao quá đầu. Tưởng khỏi lòi lưng. Trời ! mình đánh đồn là nhờ bóng đêm. Bây giờ vô đây đèn điện sáng như ban ngày, khớp quá, chân run chạy không được. Vô đám tranh tưởng êm rồi, nào ngờ trong đó lại đụng bùi nhùi kẽm gai, đâu có bò lăn gì được. Rồi tụi nó thả chó bẹc-giê vô săn tụi em. Con nào con nấy to bằng con bò. Nó nhào tới cắn xé em. Nó cao ngang ngực em, nó chồm lên cần cổ em. Em vật không lại. May nhờ anh Tư Bính tới bắn cho nó một phát. Nếu chậm một chút chắc nó xé em ra thành mảnh rồi.

Thằng Vàng kể một hơi. Nó vừa dừng lại, tôi hỏi:

– Còn Tư Bính đâu?

Tư Bính là cán bộ cũ của tôi. Chính tôi đề nghị nó lên C trưởng rồi D phó. Nó đi Sài Gòn với Tư Nhựt hồi nào tôi cũng đâu có biết, nay nghe thằng Vàng nhắc mới nhớ ra:

– Ờ, Bính Chân Lư!

Vàng trỏ tay phía sau. Thì Tư Bính cũng vừa tới, chống gậy lụp cụp đi xuềnh xoàng. Bính người cục mịch, dân Bác Kỳ vô Nam lâu đời nên nói tiếng giống Nam Kỳ và tác phong cũng như dân dưa hấu. Bính la lên:

– Anh Hai, anh đi đâu đây?

– Đi tiếp viện Tư Nhựt, Hai Phái chớ đi đâu mà hỏi. Mày điên sao Bính?

– Còn con mẹ gì mà tiếp với chả viện. Thôi quay về cho được việc ông nội con nít!

– Giỡn hoài mậy! Bộ muốn tao dứt đầu hả?

Bính gục vào vai tôi khóc như con nít. Tôi nghe nóng cả vai. Một hồi hắn ngóc lên nói:

– Em nói thật đó. Mấy ông đem con bỏ chợ… ợ. Hụ hụ hu hu.

– Mày là cán bộ lãnh đạo, không được phát ngôn bừa bãi như thế! – Tôi quát.

Bính hạ giọng, tay quệt nước mắt lia lịa, nhưng miệng vẫn còn hụ hụ như bò rống:

– Anh Hai ơi! Em đánh cả trăm trận rồi. Không trận nào như trận này. Đánh giặc gì đánh vậy chớ!

Tôi trợn mắt. Bính rỉ tai tôi;

– Rụm cả rồi. Anh xuống…

– Tao được lệnh xuống chiếm lãnh trận địa gom tui bây lại, tao chỉ huy.

– Ờ anh đi thì đi !

– Mày cố gắng đưa lính mày về tới Sa Nhỏ, đừng có tấp bậy dọc đường nghe không

– Đoàn thương binh này trên bảy chục. Tôi cao cấp nhất nhưng đâu có chỉ huy được. Qua Rạch Tra bị một trận pháo dập tan, đến bờ bên này coi lại mất hai mươi mấy đứa. Mặc kệ hồn ai nấy giữ, em còn biết làm sao?

Trời chiều chưa bao giờ ảm đạm như hôm nay .

Bây giờ tôi mới hỏi:

– Mày bị thương ở đầu lẫn chân à ?

– Và sau lưng nữa. Bỉ chó cắn nát cả áo. Nè anh coi (nát cả lưng chớ áo gì!)

Tôi móc túi đưa cho xấp bạc chiến phí:

– Mua đồ bồi dưỡng cho tụi nó. Thôi tao đi cho kịp.

Bính ngó theo rồi bỗng kêu:

– Anh Hai anh Hai! Em muốn nói anh chuyện này.

Tôi bảo đám của tôi đi trước rồi quay lại. Bính kéo tôi vào lề đường, rủ rỉ:

– Kỷ này tôi về cưới vợ, anh Hai à. Băm mấy rồi.

– Cưới ai?

– Con Hai Loan, con Ba Cung, con Nữa, con Xưa. Đứa nào cũng được cả.

Lâu nay Bính bị con gái chê xấu tướng, chân lư lại kém vãn hóa ! Từ ngày lên D phó Bính cũng biết ve vãn các em. Bính gặp em nào cũng vạch áo vỗ bạch bạch: K54 vỏ còn đỏ tươi nè, chịu hôn em? Nhưng chẳng cô nào cho nắm tay cả. Bây giờ tôi mới nghe Bính cương quyết cưới vợ. Những bốn mục tiêu cứ rình hoài mà không bóp cò được. Cứ ngắm cái nốt ruồi di động…

– Em nghỉ đánh giặc về nhà làm ăn anh Hai à !

– Nói bậy nữa! -Tôi nạt- Cái thằng này!

– Em nói thiệt đấy. Để rồi anh coi.

Nói xong, Bính mở chiếc ruột tượng trong lưng rồi thò tay vào móc ra một vốc nào đồng hồ, nào dây chuyền dúi vào tay tôi.

– Anh Hai cầm lấy, cho mấy em giùm em.

– Mày xuống đó làm gương cho chiến sĩ vậy đó hả?

– Em đâu có, em đâu có anh Hai. Em đã thấm nhuần quan điểm quân đội nhân dân mà.

– Thấm nhuần mà một ruột tượng đó hả?

– Không phải em đập tủ kiếng đâu anh Hai à. Em lượm trên xác chết chiến sĩ mình đấy.

Tôi biết “lượm” như thế nào rồi. Ai chịu cha ăn cướp? Quan điểm nhân dân! Không lấy cây kim sợi chỉ của dân. Ừ, nó đâu có lấy kim chỉ mà rầy nó ! Nhưng không lẽ từ chối. Tôi hỏi:

– Mày muốn cho cô nào, tao cho.

– Cô nào cũng được, miễn anh đừng nói bung ra thì thôi. Nè anh Hai, em nói thiệt đó, Tư Nhựt, Hai Phái, Tám Lệ, Năm Thêm, toàn bộ ban chỉ huy E mũi nhọn đều hy sinh hết rồi. Cả đoàn bộ, thông tin, quân y, quản lý, trinh sát cũng không còn ai. Anh có đem cả D7 xuống nhập cả bọn kia lại cũng chỉ như muối bỏ biển thôi anh Hai à. Em nói thiệt đấy. Nhớ hồi đánh vô Suối Cụt cái bót nhỏ xíu mà D1 đi còn lỏng lẻo. Nay mình vô Sài Gòn, có một E thì trám sao bít? Mấy ổng biểu mình chiếm rồi trụ, chỉ trong vòng ba tiếng đồng hồ có quân tiếp viện nhưng chờ mấy ngày có thấy “rờ rẫm” gì đâu? Tụi Bắc Kỳ nó phát cáu, nó “địt” rân trời. Ai nó cũng “địt” bất kể ai !

Biết Bính sẽ nói càn, tôi trợn mắt. Bính im nhưng vẫn làu bàu:

– Mấy đứa bị thương nằm lền khên dọc bờ mương. Mỗi lần pháo dập, những thằng nhẹ thì lăn xuống mương còn mấy đứa nặng thì cứ nằm ỳ ra đó mặc cho lính tới, giết, tha, nhưng tụi nó không giết mà lại bỏ lên trực thăng chở đi. Sau trận pháo, tụi còn lại tiếc ngẩn tiếc ngơ: “Phải chi mình nằm cho nó bắt đem về Sài Gòn”. Anh Hai ơi! Em về tới đây coi như mẹ đẻ ra em một lần nữa. Anh nghĩ coi trên bờ thì pháo, bom, bộ binh, ngoài đồng thì Thủy Quân Lục Chiến, dưới sông thì tàu. Mạnh thằng nào nấy lủi. Ra đồng thì bị “cá rô” rỉa, “cá nhái” chụp, chỉ còn có cách nhảy xuống sông lủi vô lá dừa nước, ô rô, cóc kèn. Thằng nào bơi qua sông được thì bò lên tìm đường về. Còn bao nhiêu thì đi tắm biển lặn luôn. Em không hiểu sao em về được tới đây? Từ dưới Rạch Bà Hồng mà về tới đây mất hai tháng trời, chết nhiêu chết, mạnh thằng nào thằng ấy tìm đường sống. Gặp mặt nhau không dám nhìn. Nhìn không ra cũng có, mà vì xấu hổ cũng có.

Tôi hỏi:

– Còn thẳng Bảy Thành quân y sĩ đâu?

– Để anh bắt nó trở xuống hả? Anh xuống dưới hỏi bà Thủy thì biết.

Tôi sốt ruột, đau lòng quá gắt ngang:

– Thôi để tao đi. Mày về lẹ đi !

– Em đợi anh về dự đám cưới em nghen!

– Ừ, chờ tao về dự.

– Em nói thiệt. Cái ruột tượng này của thằng nào bị pháo bắn chết. Em chạy ngang tưởng ruột tượng gạo nên quơ lấy chẳng dè không phải gạo.

Tôi xua tay:

– Tao biết mày rành quan điểm quân đội nhân dân lâu rồi.

Bính còn bỏ câu thoòng:

– Toàn “Xây Có – Ôtômalắc” không hè anh Hai. Thứ này ngâm nước một ngày vớt lên cây kim gió vẫn búng búng như thường, coi thiết đã !

– Sao mày biết rành vậy?

– Ông già câu tôm lột được một cái trong tay thằng chổng ổng nói vậy đó, chứ hồi nào tới bây giờ em có đeo đồng hồ đồng biếc gì mà biết?

Rồi Bính rỉ tai tôi:

– Em Nê lúc này coi mởn ra ! Bộ không muốn làm “dũng sĩ” nữa sao theo cận vệ… ệ cho anh Hai vậy? Anh có chích “Bi” cho em chưa? Hé hé… hé!

– Mày nói bậy đó.

Trông mặt nó vừa đểu vừa hài quái dị hết sức.

Bính cười khe khẻ rồi chổi gậy đi theo đoàn, còn ngoảnh – Từ đây về tới Sa Nhỏ cũng mất ba ngày. Em về tới là đi nói con Ba Xưa ngay.

Tôi bước lại ôm hôn nó như hôn một đứa em. Không muốn rời nhau. Trời ơi! cái thằng Bính là thằng Bính.

Bao nhiêu năm nay tôi chỉ huy nó nhưng không nói chuyện tâm tình với nó bao giờ. Kể từ cái ngày tôi mới về Củ Chi chưa nhậm chức tước gì, gặp nó ở chuồng trâu nhà con Năm Biền con Sáu Trong, ăn tóp mỡ nhậu với ớt hiểm rượu trắng cay xé môi. Nó cứ uống ồng ộc. Kiểu ngồi của nó không khác Trần Bá Xoài và Hoàng Thọ. Thời đó nghe đồn nó cũng có ngấm nghĩa con bé chủ quán. Nhưng con nhỏ chê nó cù lần. Rồi thôi không nghe nó ve ai nữa. Cái kiểu ve gái của nó thô kệch lắm nên không cô nào ưng. Cho tới bây giờ cũng bằng tuổi tôi, nhưng tại nó kiến tôi là anh cả nên tôi coi nó là em, chớ em gì mà em!

Nó cứ ôm tôi không chịu buông ra. Chưa bao giờ tôi run từng miếng thịt như hôm nay. Thằng Bính mà khóc thì trời sập đến nơi rồi. Nó nhổ cái mặt nó ra khỏi vai tôi và nhìn tôi bằng cặp mắt đẫm ướt:

– Bây giờ anh bảo em làm gì hả anh Hai?

– Mày là chỉ huy làm sao coi cho được thì làm.

– Theo anh thì anh làm sao?

– Đánh nữa, chớ chạy à? Mỹ Ngụy nó cười cho thụt sịnh.

– Em biết. Nhưng lính đâu còn đứa nào. Em đâu biết ai chỉ huy em. Đánh mục tiêu nào ? Liên lạc bằng gì. Chiến thuật tiền pháo hậu xung hay bộc phá khai khẩu? Mấy đứa này nó kháo với nhau em nghe được, em la chúng nó.

– Kháo thế nào ?

– Nhất “xẩy cồ” nhì “xị dện” (1)

– Nói bậy. Thôi đi đi!

Bị tôi quát mấy lần, nhưng thắng Bính chưa chịu đi. Đám thương bịnh binh của nó đứng, ngồi, nằm, dựa gốc cây tự nãy giờ không biết nghĩ gì khi nghe hai ông chỉ huy nói chuyện với nhau.

Tôi thấy cũng xấu hổ không kém thằng Bính, như chính mình cũng chuồn thục mạng từ Sài Gòn về đây vậy. Nếu tôi cùng đi với Tư Nhựt kỳ đó thì chưa biết bây giờ tôi ra sao? Tôi biết chúng là lính miền Bắc. Có đứa xâm trên tay trên ngực câu “Sanh Bắc Tử Nam” bây giờ áo rách lòi ra, tôi mới thấy dòng chữ ấy. Trước kia có nghe nói chớ chưa thấy hiện thực.

Chúng không cần giấu giếm, nhưng một khi nó đã lòi ra, như cái mặt nạ rơi xuống, cái mặt thật lòi ra, thì không che đậy nữa. Có che thì người ta cũng thấy rồi.

– Các em ờ tỉnh nào?

– Dạ chúng em ở Ninh Bình, Hà Nam, Bấc Ninh… có đủ

– Có em nào ở Hà Nội không?

– Dạ có hai thằng. Một thằng chết ở Rạch Tra, còn một thằng bị thương gãy xương đùi, không đi được còn nằm ở đằng sau. Chắc không sống nổi. Chúng em đã khiêng nó mấy tháng nay. Vừa rồi nó không cho khiêng nữa. Nó bảo chúng mày về đi. Tao sống cũng chỉ vài ngày nữa là cao…

– Em học lớp mấy?

– Dạ lớp mười ba.

– trường nào có lớp kỳ vậy.

Một cậu đáp thay:

– Mười ba trừ mười đó thủ trưởng.

– Ừ, cũng như các anh tập kết. Trừ 10. Thí dụ 35 trừ 10 còn 25 tuổi.

Tôi cố pha trò đánh tan cái không khí bi đát nhưng cái cục “bi” quá to, cái chất “hài” còm quá không xoi thủng mà cũng không gặm mòn nổi, nên đành móc túi lôi ra một nắm bạc, dúi cho cậu bé:

– Chia nhau mua thuốc hút.

Trời ! gặp thương bịnh binh mà chỉ cho tiền mua thuốc hút. Có thằng chỉ huy nào dã man tán tận như tôi không. Nhưng tôi còn gì khác để cho chúng. Thằng Bính dập chân, giơ tay chào tôi theo kiểu chánh qui . Tôi không biết nó chế diễu tôi hay kính trọng tôi. Thôi, đằng nào thì cũng được.

Cuối năm đó, lính Mỹ chốt Rạch Kiến. Bính chỉ huy một tiểu đoàn lính mới nhập ngũ và lính Bắc, được lịnh trên phải nhổ chốt. Bính tử trận cùng với hơn một trăm lính thương vong, lúc vừa cưới được vợ. Đem một D qua sông Sài Gòn đánh Rạch Kiến rồi không về với vợ nữa. Nào ai biết được trong túi áo túi quần của chàng dũng sĩ Sài Gòn có tấm ảnh người yêu hay không? Ôi tình ái! Kẻ nhảy ra người nhào vô !

Chúng tôi đi tới Bến Đá thì mặt trời vừa sụp. Tôi bảo đám trẻ:

– Tụi bây có tắm thì tắm đi.

Thằng Tiễn nói:

– Nước sông mênh mông, có bấy nhiêu “bò” nhằm gì !

(l) Seiko và Citizen – hai hiệu đồng thông dụng lúc bấy gìờ .

Chương 99

Nấm mộ hồng nhan bạc mạng

Mấy đứa nhỏ nhảy tưng mừng rỡ. Còn tôi thì tìm gốc cây ngả lưng. Giờ này không có biệt kích và máy bay, chỉ sợ pháo thôi.

Trước kia đây là vùng trù phú đông đúc dân cư. Từ Bến Đá chạy dọc sông Sài Gòn đến Bến Dược, chiều chiều tài tử giai nhân dập dìu.
Áo màu quần lãnh chen nhau đi tìm anh bộ đội. (Tìm chồng giữa chốn ba quân). Còn anh bộ đội cũng thả bộ đi quán tìm người quen (tìm vợ chợ đông). Lính thì cuốc bộ, cán nhỏ cũng đi lô-ca-chưn. Cán lớn thì đi xe đạp, lưng nịt “cun”, hai vai nặng gánh non sông: một bên xắc-cốt, còn bên kia đài hát ví von.

Đêm xuống, quán đốt đèn khí đá sáng lóe từng vùng. Cà phê hủ tiếu y như Sài Gòn, nào thua ai. Dưới sông thì tàu đò mỗi ngày một chuyến chạy từ Dầu Tiếng đến chợ An Nhơn. Hành khách nườm nượp. Mấy ông giải phóng mượn đầu heo nấu cháo vác cờ xanh đỏ nhảy xuống tàu trương lên để chụp hình đem ra khoe với quốc tế rằng miền Nam đã giải phóng ba phần tư đất đai, bốn phần năm dân số. Nếu bảo thầy kiện là loại người bán nước bọt ăn tiền, thì tên Nguyễn Hữu Thọ là tên bịp nhất thế gian. Không ai lừa được cả thế giới như xừ đó. Chính cái danh hiệu rởm của xừ đã lừa cả thế giới. lich sử cổ kim chưa ai hơn xừ về ngón bịp.

Thời đó bà Năm Đang tiếp thằng Bọ Chét nhà báo “quốc tế”, vô quay phim “đấu tranh chính trị”. Tên lưu manh đội lốt nhà báo này đòi “nếm mùi Củ Chi nguyên chất” không chịu dùng “áo mưa”. Bà Năm và Tám Quang cũng phải chiều ý hắn. Nạn nhân là một cô gái. Sau vụ đó cô nàng xấu hổ bỏ ra thành mất tích luôn đến nay. Cô bé Hương quân nhu nay ở đâu? Hãy hô to lên “Hồ Chủ Tịch muôn năm” thêm lần nữa. Bây giờ, chỉ ba năm sau, Củ Chi đã trở thành cái mặt trống thủng đánh không kêu. Tôi ngồi hút thuốc miên man nhớ lại dĩ vãng yêng hùng thì bỗng thằng Đá chạy lên mặt mày hớt hải:

– Anh Hai, anh Hai xuống coi cái này nè

– Cái gì vậy! -Tôi bật dậy đi theo thằng nhỏ- Lại bò?

Đến mé sông, Đá chỉ tay về một lùm cây sà ra mé nước. Tôi nhìn theo, xa xa thấy một vật phập phồng vướng vào một nhánh chà ở ven bờ không trôi theo nước được. Hai thầy trò bèn đi dọc ven đất, rẽ lau sậy đến chỗ đó. Nước vỗ lách tách mé bờ. Một mùi thum thủm len trong không khí.

Tôi chưa kịp nói gì thì thằng Đá đã sụt lùi và la lên:

– Thằng chổng nữa anh Hai! Thằng chổng đàn bà ! -Nó nói tiếp- Anh không thấy tóc dài xấp xài chung quanh nó đó sao anh Hai?

Tôi thấy chớ sao không thấy, nhưng bụng không muốn nói ra. Những mớ tóc đen phập phều chung quanh cái xác như những lá hẹ dưới ruộng sâu. Bất giác tôi bảo:

– Mày trở lại kêu con Nê với thằng Tiễn mang ba lô lại đây.

Chúng nó đến. Tôi nói như ra lệnh chiến đấu:

– Mở bòng lấy võng ra. Hai đứa tụi bây căng hai đầu. Lội xuống. Còn con Nê đi đốn một cây đòn đem lại đây mau.

Thằng Đá thằng Tiễn hạ võng xuống, múc cái xác lên võng.

– Thúi quá anh Hai!

Cả hai vừa thi hành lệnh của tôi vừa quay ra nhăn mặt. Tôi đốt cắm vào miệng mỗi đứa một điếu thuốc cho khói thuốc báng mùi hôi. Khi rề được cái xác vào bờ, tôi mới chắc chắn đó là một đứa con gái, với mớ tóc dài vắt lòng thòng bên mép võng. Chắc là nữ dân công hay thanh niên xung phong gì đây, chớ đàn bà có đi đâu mà chết chìm vào lúc này?

Con Nê chặt được cây đòn mang tới. Hai đứa bé khiêng cái võng lên lộ. Tôi bảo con Nê chạy theo gọi hai trinh sát tiền tiêu trở lại.

Sẵn cuốc Mỹ trong lưng, chúng tôi chôn cái xác ở ven rừng, đắp nấm làm dấu rồi nhảy xuống một cái hố bom đầy nước bên đường tắm sơ.

Xong lại tiếp tục hành quân.

Tối mịt mới đến căn cứ của Năm E, quận đội trưởng. Năm E không còn giữ nổi cơ sở của Tám Dò. Từ khi Tám Dò bị pháo chết, căn cứ của y cũng bỏ hoang. Năm E tạt xuống Phú Hòa Đông ở đậu với Sáu Hùm. May nhờ một du kích lạc bầy đã từng học bắn cối với tôi trước kia dắt vô tận nơi, chớ nếu không thì đêm nay chúng tôi không biết ăn quán ngủ đình nào. Anh ta bảo:

– Đây là hang của Sáu Hùm. Còn ông Năm E độn thổ nơi nào tôi không biết.

Nói xong anh ta rút lui.

Vợ Sáu Hùm là cô Bảy Bánh Ú thấy chúng tôi đến thì vừa mừng vừa sợ. Mừng là vì được gặp bộ đội còn sợ là sợ bể căn cứ của chồng mình. Xin nhắc sơ qua tiểu sử của đôi uyên ương ở hang này một chút. Sáu Hùm là xã đội trưởng Phú Hòa Đông, em ruột của Năm Hổ xã đội trướng Trung An. Hai anh em đều chịu chơi. Từ ngày làm xã đội trưởng Sáu Hùm chứng tỏ rằng mình rất am hiểu chiến lược của đại tướng Sáu Di “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”, bằng cách đào hang thật sâu và ăn ở đâu không cho ai biết. Thành tích nổi bật nhất của anh Sáu là tiếp sức với Năm E cõng ông Chín Vinh qua cầu Rạch Cây Da để đi xuống Sài Gòn, nhưng chưa tới nơi thì bị pháo bầy bắn, ông Chín hùng dũng ra lệnh cho cõng ông quay lại để ông trở về Long Nguyên giải phóng Sài Gòn. Lúc đó tác giả của chiến lược “nắm thắt lưng”… đã bị cây chọi bể sọ rồi. Tôi không nhớ rõ ngày tháng chỉ nhớ là Sáu Hùm có thuật lại cho tôi rằng trong lúc ngồi trên lưng Sáu Hùm, ông Chín Vinh có hứa rằng khi xong trận này, ông ta sẽ đề bạt Sáu Hùm lên tiểu đoàn trưởng. Sáu Hùm kể lại chuyện đó với tôi không phải để nhắc lại lời hứa của ông Chín, một lời hứa rất dễ nói ra những cũng rất dễ quên khi hết xong rồi việc, mà là để tự mỉa mai mình. Sáu Hùm nói: “Anh Hai nghĩ coi, ba thằng du kích của em, em còn không chỉ huy nổi, làm sao em nắm một tiểu đoàn? Trời! em thấy anh chỉ huy đánh mấy trận Suối Cụt, Thái Mỹ , Bàn Điều. Củ Chi, đánh tám chiếc xe tăng ở ngay cửa Đồng Dù em ớn xương sống. Em có đầu thai ba kiếp cũng không làm được như anh…”. Cho nên Sáu Hùm an phận đào hang trốn thật kỹ. Từ lúc cưới cô Bảy Bánh Ú thì Sáu Hùm càng chơi kỹ, ít ai thấy mặt hắn vào ban ngày.

Còn cô Bảy trước kia là dũng sĩ của đội Bảy Mô. Vì trong nhà gói bánh ú bán kiếm sống nên có danh là Bảy Bánh Ú. Lúc đó Tư Gừng và Năm Cội đang nổi danh là dũng sĩ diệt xe tăng đã từng lên R lãnh huy hiệu do chính tay Sáu Di trao tặng năm 60, 61 gì đó, cùng lúc tôi làm anh hùng giả thay mặt cho đoàn 69 của Huỳnh Thành Đồng. Khi mới về Củ Chi tôi thường xuống đây để xem qua tình hình chiến đấu. Rồi khi ra chỉ huy D1 thì thường liên hệ với các xã đội để nhờ giúp đỡ mọi việc. Tôi gặp Sáu Hùm trong một cuộc họp, sau đó, liên hệ công tác giùm. Rồi Hùm nhờ tôi mai mối cô Bảy. Chính tôi đã nối sợi dây tơ hồng cho hai người và xuất cả tác chiến phí cho hai người làm đám cưới. Cho nên bây giờ cô Bảy mới vui vẻ tiếp tôi, chớ ông lớn nào cô cũng không cho tới đây. Nếu ai có hỏi “anh Sáu bầy trẻ” ở đâu thì cô chỉ đáp: “Không biết”. Gặp mặt tôi, cô Bảy trêu ngay:

– Cô Kim Anh đâu còn ở đây mà anh Hai xuống tìm?

– Cô Kim Anh nào?

– Anh mau quên vậy? Nhà cô ở đằng sau kia.

– À… à tôi nhớ rồi.

Hồi đó lính mình kéo đi đánh Paris dân Quy có ghé ngang đây. Cô Kim Anh thấy tôi say rượu bèn đem về nhà “cạo gió”… tôi hỏi:

– Sao không thấy nhà cổ?

– Cổ về thành lâu rồi. -Cô Bảy sốt sắng Mời anh Hai vô nhà em. Đứng ở ngoài lâu không nên. Giác này tụi Trung Hòa thường thụt chận đầu mình đi lên đi xuống Sài Gòn.

Biết ý cô Bảy sợ hầm chật, người đông, nên tôi bảo tất cả tản khai phòng ngự hễ có địch thì tự động nổ súng ! Chỉ để cô Nê và hai đứa nhỏ ở lại phụ với cô Bảy nấu cơm thôi. Chừng nào chín, kêu lại ăn. Cứ y lời mà thi hành.

Hang uyên ương của cặp vợ chồng này cũng tươm tất lắm. Có lót ván, có ngách đầy đủ, nhưng nếu có biệt kích nó ném lựu đạn xuống thì làm sao? Tuy sợ cũng phải vô hang chớ đứng xớ rớ ở ngoài rủi trái pháo nào nổ một phát thì hết có “xuống dường”, lên đường gì ráo.

Cô Bảy cũng còn giữ tác phong dũng sĩ:

– Vườn cao su bây giờ bị xe tăng ủi sạch. Nếu xe tăng tới thì anh cho nổ súng rồi chạy băng qua đường 15 xuống căn cứ của anh Sáu làm ở dưới mà sông. Còn địa đạo thì lâu rồi không có xài, mà em cũng không biết miệng nó ở chỗ nào. Anh chịu khó chờ anh Sáu em về, ảnh sẽ báo cáo với anh.

Bỗng thằng Đá nói với tôi:

– Anh Hai à, lúc nãy em định tìm một tấm gạch bể để làm mộ bia cho người ta mà không có. Bây giờ để em hỏi lại chị Bảy có miếng ván nào cho em xin một miếng để em trở ra cắm đỡ, chớ nếu không làm dấu, chỉ vài trận mưa là mất nấm, còn tìm sao được?

Cô Bảy nghe vậy bèn hỏi phăng tới:

– Mộ ai vậy anh ai?

– Tôi cũng không biết là ai. Đang tắm, gặp thì vớt lên chôn.

Cô Bảy rùng mình, lắc đầu:

– Cả tháng nay anh Năm E xả đáy chớ đâu có đóng nữa.

– Sao vậy?

– Ai dám ăn cá tôm mà đóng? Với lại… nó “vô” có mà bỏ luôn cả miệng đáy.

– Vậy bữa trước ảnh đem lên cho tụi tôi cả bao khô cá kèo. Tụi tôi đãi mấy ông R nhậu ngọt xớt có sao.

– Đó là lúc chưa xuống đường. Còn bây giờ thằng chổng nhiều quá hè. Tôm càng xanh mà em cũng không dám ăn.

– Ăn thì ăn chớ sợ gì, cô Bảy. Bộ Sáu Hùm cũng sợ nữa sao?

– Ảnh với anh Năm E cũng nhậu cầm chừng chớ không dám ăn mạnh miệng như trước.

Bỗng thằng Tiễn đưa cho tôi hai miếng giấy. Tôi hỏi :”Giấy gì?”. Nó nói:

-Ttrong túi áo thằng chổng có cái gói này. Khi chôn, tụi em lật ngửa lại mới thấy. Đúng là con gái mặt trắng bệch, hai con mắt bị cá rỉa mất, sâu tun hút.

Thằng Tiễn bịt mũi lắc đầu. Tôi kê vào ánh đèn đọc.

Chữ đánh máy còn đọc được. Chữ ký tên bằng mực nguyên tử hơi nhòe nhưng tôi nhận ra là chữ ký của Bẩy Gấm quận đội Gò Môn và của Hai Phái, chính trị viên E. Cô bé tên là Nguyễn Thị Xuân 20 tuổi, cứu thương. Một quyết định đề bạt cô lên A trưởng. Còn một cái thì lên B phó. Xem xong, tôi hỏi cô Bẩy:

– Cô có biết cô bé nào tên Xuân, cứu thương quận đội không’?

– Có em biết con Xuân lâu rồi. Nhiều ông cán đeo nó lắm, nhưng nó còm ham tiến bộ, không muốn lấy chồng. Nó đang ở dưới quân y ông Tư Giám. Nó được đề nghị cho đi R học lớp y tá nhưng ở trên không cho vì thành phần không cơ bản. Chịp! con nhỏ chết mà khôn thiệt. Nó hết đường quay về quê quán. Nhà nó ở xã này nè anh Hai. Nhưng cha mẹ nó ra ngoài thành hết rồi.

Tôi bảo:

– Cô tìm cho tôi một tấm ván chắc chắc để tôi khắc tên nó chút.

Đây là lần thứ hai tôi khắc mộ bia. Lần trước cách đây sáu năm, tôi khắc trên đá bằng con dao cùn của hợp tác xã Hàng Bạc rèn. Anh chàng lính quê ở Hải Dương có vợ, ba con, tên là Hoàng Đình Khiếu, vừa mới lãnh được gạo anh ta ăn no quá mà bể bao tử chết. Trong lúc tôi cũng kiệt sức mà cái tên anh ta dài cả cây số, phải chi anh ta tên là Võ Văn Tư, TôVăn Ba ngăn ngắn thì đỡ cho tôi biết bao.

Bây giờ lại khắc tên làm bia cho nữ đồng chí.

Tôi lấy mũi dao khắc trên gỗ rồi lấy than củi vẽ theo nét khắc cho rõ dễ đọc chớ sơn cọ đâu có sẵn mà vẽ vời cho đẹp. Thôi như thế cũng được. Còn hơn Hai Phái và Bảy Gấm chết ở đâu ai mà dựng bia? Té ra ba người: Một người được lên chức và hai người ký tên quyết định đề bạt đều không còn trên cõi đời. Tôi đưa tấm gỗ vuông dài, có lẽ là một tấm ván lấy từ một nắp hầm cũ, mang tên Nguyễn Thị Xuân, cho thằng Đá, bảo:

– Mai tụi bây trở lại cắm dùi lên mộ nó làm phước. Rồi đến tao và tụi bây… sẽ có người khác làm cho.

Vừa đến đó thì có tiếng chân. Tôi nhìn cô Bảy. Cô Bảy biết ý nói ngay:

– Anh Sáu em với anh Năm E đi đón thương binh về đó.

Năm E và Sáu Hùm vừa đi vừa nói chuyện rù rì. Tôi ló đầu ra khỏi miệng hầm kêu:

– Năm E, Sáu Hùm! Hai Lôi nè!

Trời đã tối. Hai cái bóng dừng lại trước cửa hầm. Sáu Hùm la lên:

– Anh Hai hả?

– Ờ, tui đây.

Năm E vác cặp dầm đen đút vô bụi rồi hai người xuống hầm. Thằng Đá và Thằng Tiễn thấy hầm chật nên vọt lên trên mặt đất.

Năm E lột cái choàng tấm bịt trên đầu lau mặt và hỏi:

– Bộ anh Hai đi xuống dưới hả?

– Ờ, tôi được lệnh trên đi xuống gom lính tản lạc lại để giữ địa bàn.

Năm E vẫn lau mồ hôi:

– Hồi trước, ở trên bảo “yếu tố bất ngờ” rất quan trọng. Bây giờ đâu còn yếu tố đó nữa anh Hai!

Năm E không có học võ bị võ ban gì như tôi, nhưng qua những năm lặn lội ở Củ Chi anh cũng sáng dạ về quân sự. Nghề dạy nghề mà ! Nên khi nghe anh nói câu đó, tôi mới sực nhớ ra. Ờ, “cái yếu tố bất ngờ” rất quan trọng này nay không còn nữa. Địch chẳng những đã phòng thủ mà còn phản kích. Củ Chi sẽ trở thành tiền tuyến chớ không phải là trung tuyến nữa. Bây giờ đem cả D7 xuống Sài Gòn, thì địch vào Củ Chi như vào chỗ không người.

Tôi ngập ngừng một giây rồi đáp:

– Chắc ở trên đã có chủ trương rồi, mình cứ thi hành lệnh thôi.

Năm E không phang ngang mà chỉ nhỏ nhẹ:

– Thương binh họ khóc lóc quá tay. Họ nói chờ tiếp viện.

Tôi tạt ngang:

– Coi chừng bao nhiêu nữa?

– Không biết bao nhiêu anh ạ. Tụi tôi đến bờ rạch cây Da, rước được bao nhiêu thì rước chớ đâu biết còn hết bao nhiêu? May quá! Bữa nay tôi định tấp vô ở với Ba Cà để nhờ ảnh tiếp tay đi rước thương binh, những nhảy mũi mấy cái, tôi nghĩ bụng chắc ở nhà có ai tìm nếu vội về đây. Thì ra là anh. Anh có ý kiến gì giúp tôi không ?.

Tôi ngồi lặng thinh. Ý kiến gì bây giờ. Chỉ cần di chuyển năm thương binh là tôi phải dùng cả một B trinh sát chiến đấu của tôi rồi. Khiêng đường bộ phải mất bốn người một võng.

Năm E tiếp :

– Còn số thương binh nặng như bị thương sọ não, gãy chân, vết thương đã có dòi, tôi cho nằm ngoài hầm kia. Nếu có xe tăng hoặc biệt kích thì làm sao mà cất giấu, anh Hai? Đây không phải nhiệm vụ của tôi, nhưng tôi ngó lơ không đành. Anh em toàn là người Bắc họ vô đây chiến đấu cho mình, hổng lẽ mình bỏ họ thì coi sao được? Họ đau có lẽ còn ít hơn tôi. Tôi không bị thương nhưng tôi đau vì những lời chửi bới của họ còn ác hơn bom đạn nữa đó anh Hai. Anh có gặp Tư Bính không?

– Có.

– Tụi tôi vừa rước một tốp của ảnh qua Vàm Rạch Cây Da đó . Ảnh vừa bị thương chân vừa bị thương đầu. Ảnh nói ông Tám Hà nào đó…

– Chánh ủy Bộ tư lệnh tiền phương đó anh Năm.

– Ổng bảo đứa nào tự lực được thì cứ đi về, chớ ở đây chờ không biết chừng nào mới có người rước Lệnh trên đã ban xuống như vậy nên họ cứ đi.

Trong đầu tôi là một mớ xà bần. Chiến đấu, phòng ngự, rút lui, gom tàn quân, đặt kế hoạch?… Nó sôi sùng sục không biết nên làm cái nào trước cái nào sau. Gặp đâu xâu đó.

Bờ sông Sài Gòn phải chăng là bến Ô Giang của tôi? Nhưng Hạng Võ còn có người đẹp bên mình để từ biệt trước khi tử chiến với kẻ thù, còn tôi thì toàn tiếng kêu la của thương binh. Sài Gòn ơi! Sài Gòn. Ngày xưa là cả một trời hoa mộng.

Sông Sài Gòn nước chảy chia đôi
Nửa về Cát Lái nửa xuôi Nhà Bè
Sông Nhà Bè nước chảy chia đôi
Nửa xuôi Xoài Rạp nửa xuôi Lòng Tào

Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ
Em có thương anh thì tỏ nỗi niềm
Hay là qua bến Thủ Thiêm
Trước là thăm mẹ, sau tìm thăm em.

Xa Sài Gòn hai mươi năm, kẻ giang hồ này trở lại Sài Gòn bằng con đường huyết lệ. Hồi 1949 Trung đoàn 300 của Dương Văn Dương (Bình Xuyên) treo một trái thủy lôi to bằng cái mái đầm, neo giữa sông Lòng Tào cách sông Nhà Bè chừng 10 km. Chính nó đã nổ trong chiếc tàu Saint Loubert Bié trọng tải 10 ngàn tấn đang trên đường chở vũ khí ra miền Bấc.

Kế hoạch tác chiến là do Năm Lê (hiện là Tham Mưu Trưởng Quân Khu) soạn thảo và chỉ huy. Thật là một chiến công hiển hách đã làm cho quân Pháp kinh hồn. Một ông già câu tôm vớt được một xác Tây còn đeo cây Colt. Ông đem nạp khẩu súng cho bộ đội và nhận được tờ khen thưởng. Bây giờ những lão ngư ông trên sông Sài Gòn cũng vớt được “xác và súng”! Giang thuyền chạy trên sông như mắc cửi mà không có chiếc nào bị đánh chìm.

Thấy tôi ngồi lặng thinh hút thuốc, Năm E chuyển sang đề tài khác:

– Anh Hai định xuống Trung An?

– Xuống sâu nữa chớ ở Trung An mình đâu có với tới Sài Gòn!

Sáu Hùm chui vô ngách một lát trở ra với mấy hộp nho nhỏ :

– Anh Hai đã dùng thứ này chưa?

– Thịt hộp Mỹ hả ?

– Thịt hộp nhưng của Trung Quốc. Còn đây là bột trứng gà ăn cũng được lắm!

Nói xong Sáu Hùm khui một hộp trút ra chén. Rồi nhúm một nhúm bỏ vào miệng rồi nốc trà chép chép, nói:

– Ngặt thiếu đường nên khó ăn! Mà làm đồ nhậu thì dính trong đốc họng nuốt không trôi.

Tôi không muốn hai người nói đến vụ xuống đường lên đường nên quay lại vụ cô y tá chết trôi. Năm E nói:

– Mình phải làm cách nào chớ để những bầy thằng chổng nước lớn trôi lên, nước ròng trôi xuống đồng bào nhìn thấy thất chánh trị lắm anh Hai à. Rồi sau này mình làm sao tuyên truyền chiến thắng được nữa.

Sáu Hùm chép chép miệng, hớp thêm ngụm trà để đưa mớ bột trứng gà xuống bao tử, rồi nói:

– Anh Năm đang chờ quyết định mới để thuyên chuyển công tác đó anh Hai.

Cả tôi lẫn Năm E đều chưng hửng, nhưng không hỏi.

– Quyết định gì?

– Anh sẽ về làm E trưởng “Cu 17” hay “Cu 18” gì đó .

Năm E gạt ngang:

– Thằng nói bậy không mày. Tao mà làm E trưởng thì nướng lính hết sạch.

– Vậy còn tôi làm D trưởng đó sao?

– Mày làm D trưởng thì thui còn mau hơn tao nữa.

Sáu Hùm cười nhăn bộ răng như bừa đen thui, xếu xáo:

– Vậy anh không nhớ ông Chín gì phong cho anh làm E trưởng còn tôi làm D trưởng à?

Năm E mới ngã ngửa ra:

– Cái thằng khéo nhắc chuyện đời xưa mậy!

Quả thật ông Chín có hứa với Sáu Hùm và Năm E như vậy lúc hai anh cõng ông ta “xuống Sài Gòn” chớ bộ tụi tôi ham làm “dê trưởng” sao!

Năm E hỏi tôi:

– Bây giờ ông Chín ở đâu rồi anh Hai?

– Ổng về đâu trên E tôi đâu có biết.

– Ổng làm gì, bộ lớn lắm hả?

– Phó tư lệnh quân giải phóng, chỉ huy hết ráo đám chúng mình đó.

Sáu Hùm bỗng cười ré lên rồi bụm miệng quay ra ngoài.

– Em nhớ chuyện cõng ổng qua Rạch Cây Da mà tức cười. Ổng giò dài, tay cũng dài nghều lại còn xách thêm cây cù ngoéo bằng mây. Anh Năm cõng ổng trên lưng mà giò ổng thì muốn đụng đất. Nếu ban ngày em có máy chụp hình em xin một “pô Tội nghiệp anh Năm thì nhỏ con lại chân ngắn. Giống như con nhái bén cõng con ếch bà. Em nghe ông nói rù rì với anh Năm: “Đồng chí rán lên rồi tôi phong cho đồng chí làm cán bộ trung đoàn, còn chú kia (tức Sáu Hùm) thì làm cán bộ tiểu đoàn.” Anh Năm cõng ông lên cầu khỉ bị cái cù ngoéo vướng vô tay vịn nên cả hai té lộn nhào xuống mé rạch. Cũng may là không xốc cừ chớ nếu xốc thì đổ ruột cả hai người. Coi vậy ổng cũng tốt ống nói với anh Năm đừng phiền. Lỗi tại ổng chở không phải tại anh Năm! Qua khỏi cầu tới phiên em cõng. Ổng ngồi trên lưng em, ổng nhắc lại câu tấn phong đó. Rủi quá ông vừa nói xong thì pháo bắn một loạt rồi liên tu bất tận, nhưng em chưa chịu nằm xuống.

Sáu Hùm ngừng lại cười ngả nghiêng. Hồi lâu, lại tiếp:

– Đến chừng về nhà vợ em giặt áo cho em và hỏi: “cái mùi gì khai khai ngứ ngứ vậy?” em nói “mùi gì đâu?…À… mà em nhớ ra rồi…. Lúc pháo bắn loạt đầu hơi gần, lửa chớp, em nghe nóng nóng cái lưng, nhưng em không muốn vợ em đừng có bắt mò tới nữa nên nạt: Mùi gì đâu ! Tại áo ướt không phơi cho nên nó khai vậy đó.” Vợ em bị em nạt không dám hỏi tới nữa.

Cô Bảy nãy giờ đang nằm tránh trong ngách mới ló đầu ra nói:

– Ờ, vậy thì được chớ mùi đó của cô nào thì em truy kích tới cùng.

– Cô nào mà có mùi đặc biệt đó thấm vô lưng áo anh

– Bây giờ em mới hết thắc mắc. Nếu bữa nay anh không khui ra em còn nghi hoài.

– Lúc nghe nóng lưng em tưởng là bị thương chớ ! Sau trận pháo, em mới biết là không phải!

Không muốn Sáu Hùm nói thêm làm mất uy thế ông Chín giò dài nên lảng sang chuyện khác, tôi hỏi Sáu Hùm:

– Chừng nào có xã đội con đây, hổng lo để ở đó nói chuyện bao đồng!

– Tới đâu hay tới đó anh Hai ơi. Em hỏi thăm con Tám Mang ở đâu để em dặn trước. – Cô ấy thường đi với bà Hai Xót, Năm Đang. Các bà cũng tạt ra vùng meo rồi. Đôi khi cổ đến Vườn Trầu. Em phải đưa vợ em ra ở gần đó chớ để chuyển bụng rồi đi sao kịp? Thời buổi này khó tìm ra người cõng. Còn cõng cóc chửa thì cõng làm sao?

Năm E vọt miệng:

– Chừng đó xã đội cõng “trái bầu”chạy ngang đuôi thôi. Hí hí hí. Cha chả, bị pháo bắn thì cái lưng cũng nóng hổi như qua Rạch Cây Da cho coi.

Cô Bảy vẫn còn ló đầu ra khỏi ngách, xía vô.

– Xí, em không có nhát vậy dâu anh Năm. Pháo, em đội mấy chục trận rồi mà.

Năm E lại tiếp:

– Ờ …ờ ờ, cô cứ nắm thắt lưng Sáu Hùm mà oánh! Hí hí hí…

Chương 100

Sửa soạn đại náo Củ Chi lần thứ hai

Không phải hai vợ chồng Sáu Hùm và Năm E chơi cắc cớ. Nhưng chỉ còn có một cái hầm cũ nên hai cậu trinh sát thì ngủ ngoài miệng hầm, còn tôi và Nê thì ở trong. Võng trên võng dưới, cô bé mến tôi như “anh ruột” và tôi cũng đối xử cô như “em gái”. Trời đất, thiên hạ đều biết mà.

Vừa vô hầm là pháo bắn. Tôi nhường cho cô nằm võng trên, nên cô lăn xuống. Không xuống đất mà lại lăn xuống võng tôi. Pháo nổ dứt loạt, cô bé không chịu trở lại vị trí cũ. Tôi phải giục mãi cô mới nghe lời. Không phải tôi là con người làm bằng sắt, nhưng tôi mệt quá không còn sức chiến đấu. Nếu tổng công kích trận này thì chắc phải bỏ mặt trận Sài Gòn. Sáng mai đâu có hành quân nổi. (Tinh thần trách nhiệm cao!) Cô em không chịu ngủ cứ trở mình. Tiếng chân chòi ny-lông khua như lửa cháy da, tôi bèn giả bộ ngáy. Tôi sắp thành thánh… chết rồi!

– Anh Hai ngủ hả?

Tôi càng ngáy to như xe nổ máy.

– Anh coi tim em nhảy phình phịch nè!.

Cái kiểu bị các em kêu “con tim” này, tôi bị nhiều lần rồi nên nằm im, không dám thở mạnh. Tôi cảm thấy người “gian” sắp mắc nạn. Ai có lâm vào cái cảnh này thì hiểu khó khăn của tôi. Phen này ông thầy pháo đành hạ mã.

Nhưng bỗng có tiếng kêu:

– Anh Hai ! Anh Hai. Có thơ hỏa tốc.

– Đứa nào đó.

– Em, thằng Gàu và thằng Nùng.

Tôi biết đó là trinh sát, liên lạc của ông Tham mưu phó Năm Tiều nên lật đật ngồi dậy, đụng đầu vào lưng em mềm mềm. Tôi quơ tay tìm cây đèn pin. Một cậu chui tọt vào hầm móc túi đưa tôi miếng giấy bằng hai ngón tay tréo. Mắt nhắm mắt mở, tôi đọc:

“Lôi. Được lệnh này về ngay. Tiều “.

Tôi bảo hai cậu bé:

– Tụi bây ra cụm rừng thưa kêu đám trinh sát của anh dậy.

– Dạ em kêu rồi.

– Lệnh gì thế, Gàu?

– Dạ tụi em nghe chú Năm dặn miệng, biểu anh về ngay gặp chú.

– Để làm gì?

– Dạ em không biết!

Chúng nó chạy tuốt, không nói gì thêm.

… Chỉ 15 phút sau trinh sát dẫn đầu, liên lạc tập hậu, cả đoàn phóng như bay trên vết chân cũ trở về Sa Nhỏ. Chuyện gì? Tôi nghi là ở trên đưa quân báo mật cho hay Mỹ sẽ càn vùng Phú Hòa Đông, nên kêu tôi tránh mũi nhọn của nó. Năm E và Sáu Hùm cũng di quân. Sáu Hùm dìu bà vợ chửa. Tôi thấy thảm quá bèn dừng lại móc một cái đồng hồ và một sợi dây chuyền của Tư Bính chia, đưa cho Sáu Hùm:

– Mày cất lấy nuôi vợ đẻ.

Rồi vọt nhanh tới trước bỏ hai vợ chồng hắn tụt hậu.

(Từ đó tôi không gặp lại vợ chồng nó nữa. Ít lâu sau nghe tin cả Năm E lẫn Sáu Hùm đều bị xe tăng càn bắn chết. Không rõ cô Bảy sanh trai hay gái và trôi dạt nơi nào).

Về đến Sa Nhỏ mới 5 giờ sáng. Sương còn mù mịt trên ngọn tre đầu xóm thì nhưng mấy ngôi nhà hầm đã có ánh đèn nhấp nhoáng. Bên ngoài thì lính tráng nấu cơm bên mép chiến hào, võng, tăng giăng đầy đường đầy vườn. Tôi không biết là lính Q16 hay E268, lính R thì chỉ hai tụi đó thôi.

Tôi bước vào một cái chòi gần đó, thấy ba, bốn ông đầu bạc đang cắm xuống mặt bàn, nhưng có Năm Tiều nên quày trở ra. Có lẽ ông Năm phải nhường chỗ cho họ ở.

Ngoài đường, chỗ nào cũng có lính nhà ta, toàn mặc đồ cứt ngựa, bên cạnh họ dựng lển nghển B40, AK, RPD, toàn đồ mới. Nhiều ông mang “cun”, sắc cốt đi đi lại lại, coi trời bằng vung. Thằng Tiễn càu nhàu:

– Mấy ông nội này chắc chưa bị chụp lần nào nên coi thường Mỹ quá! Họ phá nát cơ sở của mình cho coi, anh Hai !

Tôi cũng lo nhưng không nói ra. Đóng quân gom kiểu này nó cho nửa giờ pháo là tiêu hết, cần gì phải chụp?

Cuối cùng tôi gặp Năm Tiều. Ở trong nhà, ông già lúc nào cũng ăn mặc như chánh quy nai nịt sẵn sàng, súng K54 dây choàng tréo qua ngực chớ không đeo bằng thắt lưng. Bên cạnh đó bốn, năm ông chắc là chỉ huy của đơn vị kia.

Năm Tiều thấy tôi liền chạy tới nắm vai lắc lia:

– Tao tưởng tới xế mày mới về -rồi quay lại đám người kia- Đây là tướng tài của quân khu đây. Còn đây là Hai Trí.

Tôi chợt kêu lên:

– Anh Hai ! Anh xuống hồi nào?

– Nghe cậu làm ăn đậu giàn xuống thăm.

Anh Trí -tục gọi là Trí O- thời trước là chính trị viên Đại đội 932 của D307 danh tiếng nhất Nam Bộ. Khi về Nam anh mang cấp bậc E phó nay nghe nói là F phó của công trường 5. Năm Truyện hy sinh rồi chắc ảnh đang làm F trưởng.

Một ông to béo đầu trọc bước lại gần chìa tay tôi:

– Hôm trước cậu sắp đánh Thái Mỹ tôi có coi buổi lập sa bàn. Tôi có hỏi cậu cầm cối có nặng không? Cậu lắc đầu nhớ không?

Năm Tiều tiếp:

– Đó là anh Năm Sĩ E trưởng E268 của F5, còn kia là Ba Lành chánh ủy E.

Tôi bước lại chào và bắt tay. Năm Sĩ khen tôi:

– Địa phương quân mà đánh cường tập rồi đánh tiếp viện hốt gọn chớp nhoáng trong vùng tiếp cận địch như vậy là giỏi lắm.

– Nguyễn Văn Tiên D trường 307 hồi đó đánh trận Phong Phú diệt một đại đội Lê Dương Pháp cũng nhanh như vậy thôi!

Hai Trí bổ túc lời khen của Năm Sĩ. Ba Lành lại tiếp:

– Cậu ta có cả một trung đội dũng sĩ anh hùng chớ không phải toàn miền Bắc chỉ có một cô Nguyễn Thị Chiêu.

Năm Tiều bảo tôi:

– Mày về bên má con Tiễn nghỉ đi, tao làm việc với mấy ảnh rồi sẽ truyền đạt lệnh mới cho mày.

– Chạy muốn bể bánh chè đó anh Năm!

– Thì có nữ cận vệ cận vẹo nên bể… ể chớ sao?

Hai Trí bước lại thân mật vỗ vai tôi:

– Cậu so với tôi hồi trước, trẻ hơi nhiều.

– Cũng cứng cạy rồi anh Hai ơi.

– Băm mấy?

– Băm “nhăm”. -Tôi nói theo tiếng Bắc.

– Có chỗ nào chưa?

Năm Tiều tiếp:

– Có nhiều chỗ muốn nó mà nó không chịu nên cứ xách cặp dừa đi xuống đi lên hoài.

Tôi chào chung và bước ra. Nằm chưa nóng võng thì Năm Tiều sang. Anh bảo tôi mệt cứ nằm. Anh đứng nói chuyện với tôi:

– Ở trên lệnh cho D7 mày phải đánh quận Củ Chi trong vòng ba ngày.

Tôi đang nằm bỗng bật dậy kêu lên:

– Đánh Củ Chi?

Năm Tiều đè tôi nằm xuống và nói tiếp:

– Đánh xong trụ lại trong đó chớ không được rút như kỳ trước, nghe chưa em?

Nghe lệnh trên cái “sọ dừa” của tôi muốn bưng nắp.

Đánh Củ Chi và trụ lại trong đó. Một chuyện trời sập không bằng. Phen này thì lên bàn thờ!

Tôi nói ngay:

– Yếu tố bất ngờ đâu còn mà mình chơi bạo vậy anh?

Năm Tiều gãi đầu nhăn mặt:

– Lệnh là lệnh. Tao hổng biết -Rồi anh móc túi lấy giấy mở banh ra đọc- “Đánh trong vòng ba ngày B7 phải hạ cho được chi khu Củ Chi và trụ lại đó. Ba Xu “.

Tôi đang mệt nhừ và buồn ngủ nhưng nghe cái lệnh tôi tỉnh ngủ ngay và tường mình bỗng chốc biến thành miếng bông gòn trong gió, tưởng mình chiêm bao chiêm bị. Đánh sao được mà đánh? Cũng như lệnh đánh Sài Gòn vậy thôi.

Vua có quyền ban chiếu chỉ, thần dân có quyền chết vì vua.

Năm Tiều đưa tay rề chiếc ghế đẩu bên mép võng, ngồi xuống rủ rỉ với tôi:

– E268 kéo xuống Sài Gòn tới Xuân Thới Sơn bị pháo dập tiêu một D kéo về đó mày ạ.

– Sao ở trên không bảo họ đánh Củ Chi?

– Ai biết được!

– Anh làm ơn bảo mấy ông cho lính ăn ở vén khéo lại chút. Đầm già liếc thấy nó kêu pháo là đi một D nữa đó.

– Bây giờ chỉ còn hơn một D chớ đâu đủ hai D. Lính của Hai Trí sẽ bổ sung.

– Mình đang như gà ở trong cái thúng úp. Nó muốn bật ra vặt lông lúc nào cũng được.

Năm Tiều xua tay:

– Tao biết rồi, nhưng tác phong của họ còn chánh quy chưa thích hợp với Củ Chi mình đâu. Chiến trường sẽ dạy cho họ cách sống bằng cái chết! -Năm Tiều trở lại cái lệnh- chiến dịch này còn tiếp diễn toàn miền Nam. Trong nội đô vẫn còn lực lượng của ta. Ở ngoài này mình phải tấn công kềm chân không cho nó đem quân đến tiếp viện .

– Tụi lính Dù, Thủy Quân Lục Chiến mà cần bọn lính lãi Trung Hòa tiếp viện sao chú Năm?

– Một con đỡ một con chớ mậy.!

– Tôi đánh Củ Chi, ai kềm chế pháo Đồng Dù và Trung Hòa cho tôi?

– Cũng mày chớ ai.

– Còn E268 này

– Nó không trực thuộc tao.

Thằng Gàu chạy vô :

– Tiết canh xong rồi chú Năm!

Năm Tiều bảo tôi:

– Thôi tụi mình qua bến cưa với mấy chả vài khúc.

– Hai Trí không uống rượu đâu chú Năm. Tôi biết ảnh lâu rồi.

– Không nhậu thì đè đổ. Vô bàn nhậu thì bình đẳng sư trưởng sư phó gì cũng coi như lính thôi. Năm Sài Gòn (Năm Truyện) rửa chân lên bàn thờ sớm quá, mất bạn nhậu.

Tôi và Năm Tiều kéo qua. Hai Trí, Năm Sĩ và Ba Lành đang ngồi chờ.

Năm Sĩ vừa rót rượu vừa kêu: “Tuyệt! Tuyệt!”

Ba Lành nói theo tiếng Nam Kỳ:

– Xuống Hóc Môn tưởng đã hốt trọn ổ tụi nó về ăn Tết chớ! Ai ngờ bị tụi nó hốt. Thôi, không hốt kỳ này thì kỳ sau xuống hốt.

Hai ông Bấc Kỳ chịu chơi, cứ úp cạn gàu và rót liền liền. Năm Tiều có tánh thương đám cháu của anh (vốn là con của người anh ruột mới chết vì pháo) nên bảo tôi:

– Mày cho mấy dứa gác-đờ-co của mày ăn uống no không?

– Dạ có chú Năm.

Năm Sĩ hỏi:

– Gác-đờ-co là cái gì?

Hai Trí cười:

– Gác-đờ-co là cận vệ đó anh Năm.

Hai Trí ăn nói nhỏ nhẹ. Anh là người có văn hóa, từng học trường Tây Le Myre de Vilers ở Mỹ Tho, đi kháng chiến từ 45. Cán bộ Nam lẫn Bắc đều nể anh có trình độ văn hóa, chớ không i tờ mà lãnh đạo.

Tôi rót nước mời anh:

– Anh không uống thì cũng thấm môi một chút cho đời lên hương ba ngày tết anh Hai.

– Uống vô chóng mặt lắm chú em.

Tôi nhìn anh, mái tóc hoa râm, gương mặt phong trần mà hiểu lấy cái thân phận nhà binh của mình. Hồi đó mình là B phó, ảnh là chính trị viên C, bây giờ ảnh là F phó mình là E trưởng. Thời gian đi nhanh như viên đạn lửa. Mới đây mà đã hai mươi năm, thanh niên trở thành ông già, trẻ con trở thành trung niên.

Năm Tiều trút cạn ly rồi nói:

– Củ Chi này đàn bà giá nhiều quá anh Hai. Nội mấy cái chòi chung quanh đây cũng có hơn chục nường rồi Còn tính cả Củ Chi có cả trăm.

Tôi nói:

– Trăm sao được chú Năm! Nội cái đợt anh Năm Sài Gòn về đây hồi 66 cũng đã để lại cả trăm trái bầu giống rồi. Người đi đâu có trở lại, mặc cho trẻ thơ khóc oe oe và thiếu phụ hóa đá vọng phu.

– Ba Lành, Năm Sĩ có muốn hát khúc “Chinh phu về” không?

Năm Tiều nói:

– Hồi đó đêm nào cũng thắp đèn măng sông hai ba cái đám cưới tập thể. Đây, kìa con Tư Thêm, chồng của nó là lính của anh Năm Sài Gòn đó, anh Hai! Đây là nhà của ba má nó.

Hai Trí nói với giọng buồn buồn. Mái tóc xám tro của anh có vẻ phụ họa theo:

– Xưa nay chinh chiến mấy ai về, anh Năm!

Năm Tiều cười khùng khục:

– Bởi vậy nên thầy Lôi bị đàn bà giá lẫn con gái cắt chỉ hè nhau tấn công mà nó cứ sụt cà lui hoài. Đánh giặc thì hùm hổ còn ái tình thì nhát như thỏ đế.

Hai Trí nói:

– Biết đâu nó cánh du kích anh không hay!

Năm Tiều quay sang Năm Sĩ và Ba Lành:

– Tụi tôi ra ngoài thì các anh tìm chỗ cho cấy rau muống. Bây giờ mấy anh vô đây tụi tôi tìm nơi cho mấy anh trồng dừa khô.

Năm Sĩ nói:

– Trồng dừa mắc gốc mắc rễ khó lắm anh Năm ơi ! Bây giờ hạnh phúc nhất là nhậu tiết canh thôi.

Bỗng Hai Trí hỏi:

– Nhà Năm No ở gần đây không Lôi?

– Dạ, em nghe nói ảnh ở đâu bên xã Lộc Hưng quận Trảng Bàng. Anh ruột của ảnh là xã đội Ba Bụng, em có liên hệ công tác một lần. Em có hỏi thăm anh Năm No, nhưng anh Ba Bụng bảo: “Thằng No bây giờ đi cày ruộng, bồi vườn. Trời kéo nó cũng không trở lại”.

Năm No là E phó công trường 9 của Sáu Khâm. Kỳ học lớp trung sơ cấp do Bùi Thanh Khiết giảng, tôi có gặp anh và nói về kỹ thuật bắn pháo cách nào để khỏi đấm lưng bộ binh ta. Sau đó Năm No bỏ về nhà luôn. Do tác dụng của pháo nhà đấm lưng quân ta chăng?

Hai Trí nói:

– Nó bị “bể” sau trận Phước Long. B52 đội điên đầu. Nó thoát chết và thề không đánh giặc nữa.

Năm Sĩ nói:

– Nếu cứ thất trận mà bỏ về nhà thì còn cán bộ đâu mà chỉ huy? Trận nào thất bại cũng không bằng trận đánh sân bay Cù Hanh của Ba Kiên hết. Ông ấy nướng trọn một D, chỉ còn sót một mình ông xách điếu về. Còn gần đây Hai Đồng Q16 nướng gọn một D ở Bàu Trân.

Để cho ba ông già cù cưa, tôi và Năm Tiều xin rút lui bàn kế hoạch đánh Củ Chi. Năm Tiều đang đi bỗng quay trở lại:

– Mày chờ tao chút để tao bảo thằng Gàu tìm cho mấy ổng cây cà nông.

– Cà nông gì mà thằng Gàu tìm chú Năm?

– Cái thằng không biết gì hết. Ra Bắc cả chục năm mà không biết các chả hút thuốc “nào” hay sao? Thuốc cây mấy chả chê, rít không ‘”nịm” cu xanh!

Củ Chi!

Củ Chi ơi !

Em là niềm hạnh phúc và nỗi khổ tâm của anh. Tên em là Đồng Lớn, Sa Nhỏ, Gót Chàng, Bến Mương, Gò Nổi. Em khoác áo nâu non thêu hoa lửa sẩm. Em đội sao trời chân mang hài ngàn dậm. Tay em lấp lánh uốn khúc như sông Sài Gòn và tóc em trải ra thành cuồng phong bão tố.

Anh yêu em mà em chẳng yêu anh. Em hay bắn pháo bầy quá hè. Làm đầu anh trọc lóc như gáo dừa. Em hay thả đầm già cá rô theo dõi bước chân anh, để chơi anh nhiều cú sanh tử. Anh cũng đáp lại lời tình của em bằng họng cối và B40. Em đứng thù lù một cục đó, hơi ngoài tầm cối 81 mà anh với mãi không tới để ru em trong vòng tay “yêm ấu” của anh.

Anh đã từng vào tận ruột em, đốt tóc, chặt tay em nhưng rồi em không sao cả, thói nào tật ấy vẫn còn nguyên. Em lại gầm gừ, em lại hò hét. Em làm anh mất ăn mất ngủ còn hơn trước. Em đẹp ra mơn mởn trong khi anh sụm dần dần.

Bây giờ anh phải đánh em. Đây là lần thứ hai, tình yêu thắm thiết nhé ! Anh sẽ dâng trái tim lửa của anh cho em đun bếp thay củi già. Anh sẽ vào hôn em bằng cặp môi thép. Anh sẽ cười khoái trá bên xác em. Củ Chi ơi ! Chúng ta như cặp tình nhân và đôi tình địch, yêu nhau mà không bao giờ hòa thuận với nhau. Em lấy cái chết của anh là hạnh phúc. Và ngược lại. Nếu nước còn chảy trên sông Sàigòn thì mối tình của chúng ta vẫn còn gay cấn hay ho hục hặc hoài hoài.

Tôi đang dẫm chân trên gốc rạ và suy nghĩ miên man theo kiểu ông bạn văn sĩ đã từng xuống đây viết về Củ Chi. Thì Năm Tiều cười hắc hắc.

Tôi quay lại hỏi:

– Gì vậy chú Năm?

– Tao thấy cặp “ống điếu của mày mà nghĩ đến cái thân già của tao. Nếu nó bằng gỗ lim thì chắc đã mòn tới đầu gối rồi. May là nó bằng xương bọc da. Mày nghĩ coi, mình đi từ Bắc vô Nam rồi từ R xuống đây mấy năm nay quần quật khắp vùng này chân cẳng nào chịu nổi.

Tôi nói:

– Mình về được quê nhà là may rồi chú Năm. Tôi chỉ tội nghiệp các cậu bé mười sáu, mười bảy tuổi, không biết con cái của ai nổi trôi lều bều trên sông Sài Gòn, rồi nay mai chìm xuống đáy nước, ai biết đâu mà tìm mà vớt. Xương cốt nó nằm chật lòng sông.

– Thì đi mần cách mạng phải vậy chớ sao mậy. Muốn sướng thì về nhà với vợ như Năm No kia cà.

Kế hoạch nào của D7 tôi cũng phải thông qua quận ủy và báo cáo với bà khu ủy Năm Đang. Đến nổi xuất quân tổng công kích mà sau khi đặc huấn lệnh của trung ương tôi cũng phải “Kính thưa khu ủy” trước quân hàng. Bây giờ tôi và Năm Tiều phải đến trình diện với bà Năm của tôi và chị Năm của Năm Tiều.

Đến địa điểm thấy cả một nhà chật nứt những tai tí mặt chuột địa phương. Một ông phỗng thịt cởi trần phơi tấm thân to béo đầu trọc như gáo dừa nổi bật lên giữa mấy người khác. Tôi nhận ra ngay đó là Sáu Huỳnh, phó ban quân báo khu và là đồng hương của tôi. Sáu Huỳnh cười cười:

– Tao tưởng mày dzô Sài Gòn luôn rồi chớ!

– Dzô rồi ra mấy hồi chú Sáu!

Sáu Huỳnh đưa bàn tay úc núc vò đầu tôi:

– Lúc này sao mày có vẻ “xuống” quá mậy? Bộ bị pháo Đồng Dù gọt há ? Mày ra đây làm gì, có biết tao tới không?

– Tôi ra anh Ba Xuyên để nắm tình hình, chớ đâu có biết bệ hạ giá lâm.

– Tao biết mày sắp làm gì nên tới cho mày biết để liệu cơm gấp mắm nghe mày tụi!

– Mình đâu có “liệu’ được chú ? Mắm và cơm ở trên đã đưa ra rồi, mình phải xực thôi.

Cả bảy người ngồi vào bàn. Sáu Huỳnh nói ngay:

– Tình hình ta địch mày biết rồi. Nhưng tao cụ thể hóa thêm. Hiện tụi nó đang mở chiến dịch phản kích lấy tên là “Quyết Thắng Operation” mục đích của nó là đuổi mình ra khỏi vùng tiền tuyến tức các xã chung quanh Sài Gòn, rồi truy kích tận trung tuyến như Củ Chi Trảng Bàng. Trung tuyến sẽ trớ thành vùng sôi động hơn tiền tuyến. Mày phải chuẩn bị đi ! -Sáu Huỳnh tiếp- Để thực hành chiến dịch này hai bên Mỹ Việt tụi nó huy động những đại đơn vị sau đây: Bên phía Mỹ: Sư5, Sư9, Sư25. Bên Sài Gờn: Sư Dù, Sư Thủy Quân Lục Chiến, Sư 5. Cộng tất cả hai bên là 21 D Mỹ và 15 D Việt. Ở đây không có ai lạ, tao phải nói sự thực – E Quyết Thắng mũi nhọn, các D3, D4, ở Bình Tân, Nhà Bè, D Phú Lợi của Thủ Dầu Một đã mất danh hiệu hết rồi. Các ban chỉ huy không còn một ai. Hai Nan, Tám Hà bỏ về Sài Gòn. Tụi địch rải truyền đơn là đúng đó. Còn Ba Sinh tức Ba Ngọt mà mày kể cho tao biết là đã từng sang Lào đánh Nậm Thà đó, thì đã bị bắt ở Gò Vấp. Năm Sài Gòn, Tư Nhựt, Tư Chi, Tám Lệ tử trận ngay trong phút đầu tiên của đợt một. Mấy nguồn tin Sài Gòn, BBC, VOA đưa là đúng hết đó. Nhưng đài Giải Phóng của mình bác bỏ và nói lửa đang nổi dậy trong nội thành Sài Gòn. Mấy ông lớn bảo mày xuống đó gom đám tàn dư lại để giữ mặt trận Gò Môn. Nhưng không nên chủ quan nghe mày tụi.

Cả bàn hội im phăng phắc. Sáu Huỳnh nói tiếp:

– Tin giờ chót cho biết, D1, D2 đã rút qua bên này Rạch Tra, D4 đặc công còn lại bao nhiêu cũng đã rút. Củ Chi bây giờ củ chì thung đó nghe mày! Lần này nó dám chơi bom hơi ngạt lắm đó. Mà mình không có mặt nạ . Lúc trước nó còn kẻ ô phân biệt vùng oanh kích tự do, nhưng bây giờ nó cứ chơi xả láng. Dân chúng bỏ nhà chạy sẽ thán oán mình chớ không thán oán Mỹ.

Tôi ngắt ngang:

– Sao ông Bảy Dũng phó phòng chính trị xuống phổ biến cho D7 nói là đợt một mình đã đạt yêu cầu nên tiếp tục mở đợt hai?

Sáu Huỳnh tiếp:

– Ba thằng cha chánh trị thì lúc nào cũng thắng lợi cả. Miền Đông ta còn có thêm lữ đoàn 503 Mỹ, lữ đoàn 173. E4 kỵ binh thiết giáp, E11 , E2 ngoài ra còn có sư đoàn 4 bộ binh. Còn gì nữa tao không thể biết hết được.

Sáu Huỳnh hớp trà rồi chấp môi tiếp:

– Mày ra Bắc mười năm, tao cuốc than Hòn Gai tám năm bây giờ tao biết ruột gan mấy cha “Phòng chánh trị” rồi! Nó hót mình nghe êm tai lắm, êm như B52 và pháo bầy vậy! -Sá u Huỳnh hạ giọng- Thôi có lệnh trên, mày cố liệu cơm gắp mắm.

Đến đây thì Ba Xuyên gọi cán bộ ra báo cáo tình hình. Cô gái tên Liên, chừng mười tám, mười chín tuổi. Cô được Ba Xuyên cho đi do thám dinh quận để phục vụ tin tức cho trận đánh của chúng tôi sắp tới mà Ba Xuyên tưởng cụm quân báo quốc lộ 1 phải cung cấp đầy đủ cho chúng tôi

Liên ra ngồi cùng bàn đối diện với tôi và tường thuật lại việc làm của cô:

– Em ở trên xe bước xuống và đi bộ lại trước cổng gác đường vào dinh quận. Một tên lính đang hút thuốc giụt cái tàn qua đầu em. Em la: làm gì vậy, bộ không thấy người ta hả? Tên lính cười trừ. Một tên khác buông lời chọc ghẹo “Em về nấu cơm kho thịt, chút nữa anh về ăn nghe em yêu rấu?” Em cười tình đưa đẩy rồi đi qua. Nó còn hỏi: “Em đi đâu đó?” “Người ta đến xin giấy tờ đi buôn chớ gì nữa. Xí, việc nhà mà cũng không biết”. Rồi em đi thẳng.

Tôi hỏi:

– Em đã quan sát mặt đường số 1 và đường số 8 chưa

Liên đáp:

– Em vào xem dinh quận trước, rồi chuyến trở ra em sẽ xem mấy chỗ đó và tua mũi Chùa.

– Còn bót cảnh sát?

– Tụi nó ở đằng đầu kia. Dễ xem thôi. Để em sẽ báo cáo sau. Thế là em lọt vào khu dinh quận. Em thấy nó xây cất lại và thay đổi nhiều khu mới. Sau khi anh Hai đánh lần thứ nhất. Vô đây lại gặp lính gác. Em không biết làm sao đi vào đường hẻm để xem phía sau dinh quận. Đang đi bỗng em ngừng lại, dựa vào tường bên cạnh chiếc lô cốt có lính gác. Mặt em nhăn nhó, em ôm bụng rên rỉ. Tên lính bước ra hỏi: Cô làm gì vậy ? Em đáp: “Em đau bụng quá trời. Ở đây có chỗ nào không? Anh cho em đi nhờ chút.” Tên lính ờ ờ rồi bảo: “Lại đây tôi dẫn cho vô cầu chớ đi ngoài trống người ta thấy mông hết sao?” Anh ta đưa em vào phía sau dinh quận. Ở đây là dãy trại lính bên ngoài có bao dây thép và bùi nhùi. Tên lính chỉ: “Cầu đó cô nương. Đi mau mau nghe. Người lạ không được vào ! Đặc biệt cho cô em đó!” Em vô cầu đóng cửa lại, bên trong sạch sẽ có nước dội nên em ngồi lâu để nghĩ cách xem tiếp. Một tên lính đi ngang. Không hiểu sao hắn dừng lại và bảo: “Lấy tờ giấy nè để chùi”. Em bảo ném vô. Hắn vò lọn ném qua đầu cửa. Em ngồi một lát rồi trở ra. Thấy ở cửa nhà bên cạnh có bà già đang nhổ lông gà. Em bèn sà lại ngồi bên và nói : “Cháu hết đau bụng rồi” . Bà già vui tính hỏi: “Cô đi đâu vậy?” “Dạ cháu đi qua chợ Bắc Hà nửa đường bị đau bụng may nhờ anh lính cho đi đây”. Bà già nói tiếng Bấc, khoe con bà làm lái xe cho ông quận trưởng. Và bữa nay là đám giỗ bố nó tôi giết gà cúng mâm cơm. Thấy đứa bé ba, bốn tuổi đi lẫm đẫm em móc kẹo cho nó rồi đi ra phía chợ Bắc Hà.

– Trong dinh quận có gì khác? -Ba Xuyên hỏi.

– Vách tường nó xây mới tinh và bên trong có một hàng thùng phuy sơn trắng đổ đầy đất. Bên ngoài tường có dây chì gai hai ba lớp.

– Mấy lớp? -Ba Xuyên gặng hỏi.

– Dạ hai ba lớp không nhớ rõ là mấy. Đặc biệt có rất nhiều chó.

Tôi nói:

– Mấy lớp cũng được. Thùng phuy nó đổ đất đầy là để chống B40 còn sơn trắng là để mình chạy qua là lộ hình lên nó dễ thấy mà bắn.

Liên báo cáo mọi chi tiết thu nhận được rồi rút lui.

Tôi nói:

– Bố trí của tụi nó đại khái cũng thế, nhưng “yếu tố bất ngờ” không còn nữa, mình rất khó tấn công. Bây giờ nó phòng ngự cẩn thận hơn và sẵn sàng nghênh chiến. Yếu tố chó là rất quan trọng nghẹn chú Sáu!

Vừa đến đây thì có liên lạc của Sáu Huỳnh tới đưa thư . Sáu Huỳnh mở ra xem và nói với tôi:

– Thơ cấp trên mời cả mày nữa đó Lôi.

Năm Tiều hỏi:

– Có mời tôi không?

– Ông được miễn. Để tôi với thằng Lôi di dự về báo lại.

Năm Tiều mừng húm lật đật rút lui. Còn tôi và Sáu Huỳnh, Ba Xuyên vác ba toong đi họp. Tôi hỏi cấp trên nào? Sáu Huỳnh không nói chỉ giục đi nhanh lại nhà Tám Khen. lỏi nghĩ thầm: Tưởng tới nhà ai chớ nhà Tám Khen là trúng tủ ông Thiên Lôi rồi.

Khi bước tới sân nhà, tôi thấy bên trong đèn đuốc sáng choang và có tiếng người đàn bà cười nói. Vô tới cửa, nhìn vào trong tôi thấy hai ba người mặc đồ láng mướt quay lưng ra. Tôi chắc không phải vợ Sáu Huỳnh vì bà Sáu đầu quăn, còn mấy bà này thì bới tóc bí bo.

Sáu Huỳnh lên tiếng:

– Cấp trên nào đâu, ra cho thằng Lôi chào kính chút coi.

Sau một tràng cười khúc khích, ba bà đùn nhau ra khỏi bếp; Hai Xót, Năm Đang và Tám Phụng.

– Cấp trên đây chớ đâu. -Một bà nói.

– Mấy bà đời nào làm cấp trên… bọn tôi được. Chỉ kỳ nào tụi tôi mệt quá thì nhường cho mấy bà lên… trên thôi

– Quỷ nè, già rồi mà ăn nói không nề nếp gì hết!

– “Nếp, tẻ” gì chị Hai. Tui hỏi thật chị còn sầu riêng không?

– Nói xàm nữa đi.

– Có mấy “múi” chị cho thằng mắt toét cạp hết rồi còn đâu nữa.

– Thì cạp cái hột đỡ vậy!

Hai bà cấp trên đã sồn sồn nên ăn nói mặn miệng, còn nàng trẻ thì đứng úp mặt vô gốc cột để che bộ mặt chắc đỏ rần. Sáu Huỳnh chĩa mũi vào bếp hít hít và hỏi:

– Bữa nay làm gì mà thơm quá vậy hai chị?

Năm Đang nói:

– Tụi tôi ăn mừng chiến thắng trước cho Hai Lôi.

– Chớ không phải mừng cho nó khỏi xuống đường à?

– Tầm bậy, đi giải phóng Sài Gòn là vinh quang mà mừng vì trở về hay sao?

– Vinh quang sao mấy bà không đi?

Hai Xót gạt ngang:

– Thôi chị Năm! Nói không có lợi cái miệng ông Gáo Dừa đó đâu. Dọn cháo ra đi Tám.

Thế là tôi được đãi đằng bất ngờ. Năm Đang gắp cái đầu vịt bỏ cho Sáu huynh. Sáu Huỳnh biết bà Khu ủy chơi xỏ mình nên ông gấp cái phao câu bỏ vô chén tôi và nói:

– Tao biết mày thích phao câu. ăn một cái bằng mười chai Đại bổ thập toàn, chạy đua với “cá lô” dư sức.

Năm Đang hỏi tôi:

– Lâu nay có gặp con Lành vợ Tư Nhựt không anh Hai?

– Dạ không có gặp chị Năm à !- Tôi sợ bà Khu ủy bắt bẻ chuyện gì, nên tôi chối phéng đi.

Năm Đang tiếp:

– Nó đang tìm anh!

– Tìm tôi làm gì?

– Tôi không biết! Nó có đi mấy công tác tôi giao cho nó . Nhưng bây giờ nó không đi nữa. Hôm nọ tôi gặp nó bế con đi dưới nắng chang chang. Tôi hỏi nó đi đâu, nó bảo là đi tìm Hai Lôi. Tôi hỏi tìm làm gì. Nó bảo để nhờ Hai Lôi giúp một chuyện gì đó của Tư Nhựt trối trăn. Tôi cạch hỏi mấy lần nó cũng không nói.

Tôi hỏi:

– Nghe đồn chỉ điên có không chị Năm?

– Điên gì. Nó khôn tổ bà. Chỉ giả điên từng chập thôi. Gặp anh hổng chừng nó hết điên đó. Anh có biết vụ ông Bảy Ưng bị bò cạp chích không?

– À chuyện đó hả…? Tui không có nghe đâu!

Hai Xót vọt miệng:

– Bò cạp cái!

– Thôi thì nói phứt ra cho anh Hai với bà con mình biết để ông Bảy có đi rêu rao gieo tiếng xấu cho nó thì không ai tin. Số là như vầy. Lúc đó nó về tá túc với văn phòng E Quyết Thắng là đơn vị có nhiều cán bộ của Tư Nhựt chồng nó, trong đó có cả thắng em của Tư Nhựt là Năm Tân. Nhà chỉ có một cái hầm chủ nhà bỏ đi. Ban đêm bốn người ngủ trong đó. Vợ Tư Nhựt sợ con mình ngủ võng rồi đái trên mình mấy chú mấy bác nên hai mẹ con trải chiếu nằm dưới đất. Nửa đêm nó nghe tay ai bỏ xuống ngực nó. Nó giận quá bèn mò rút cây móc tai đâm cho một phát. Sáng ra không ai nói gì, nó cũng lặng thinh. Đêm sau một cái giò bỏ xuống đùi nó. Nó lại đâm cho một phát nữa. Cái gì kia cũng rút êm. Sáng ra ông Bảy Ưng nói bô bô cái miệng “Đêm qua tao bị bò cạp kẹp chân. Tụi bây có đứa nào bị không?” Vừa nói vừa xăn tay áo, và đưa chân ra khoe. Vợ Tư Nhựt làm bộ hỏi: “Sao nó không kẹp ai bết mà chỉ kẹp chú thôi chú Bảy?” Ai cũng biết tại sao nhưng vì ổng là thủ trưởng nên không ai dám nói ra.

Sáu Huỳnh cười hô hố:

– Thằng cha FM đầu bạc dở quá. Một là không biết o gái. Không nói gì hết mà bốc hết nên bốc nhằm bò cạp cái là phải. Hai là có lỡ bị chích rồi thì im luôn đi còn thanh minh làm gì. Càng thanh minh là càng thú nhận.

Hai Xót trừng mắt:

– Già rồi kinh nghiệm dữ a !

– Thì cũng như kẻ cạp sầu riêng, ai lại chẳng biết nó cạp, nhưng nó có thanh minh với ai đâu, phải không chị Hai bà chẻ?

Hai Xót yểu xiều quay sang rót rượu cho Sáu Huỳnh để đánh trống lảng. Sáu Huỳnh đưa cho Năm Đang bảo:

– Bà Năm hớp một miếng cho nóng máy nói chuyện với em út.

Năm Đang cười:

– Tôi uống có chuyện gì…

– … Thì thằng Lôi nó nâng… đỡ chị về nhà.

– Thiệt hôn anh Hai? -Năm Đang vừa nâng ly lên môi vừa nhìn tôi.

– Gật đi mày Lôi.

Tôi gật. Bỗng tôi nghe có bàn chân nào gác lên bàn chân tôi. Chả là bà khu ủy ngồi bên trái. Còn Tám Phụng ngồi bên phải tôi. Tôi ngồi tỉnh bơ. Sáu Huỳnh giục:

– Mày không giúp thì tao giúp bả đa nghen!

Năm Đang dẫy nẩy:

– Anh vợ con đùm đề còn đèo bòng! Hỏng sợ bò cạp chích sao?

Cái bàn chân nhỏ xíu mát rượi càng miết xuống bàn chân tôi. Tôi thấy hai gò má bà khu ủy ửng hồng không biết có phải vì hớp rượu kia không. Biết Sáu Huỳnh là tay bán trời không mời thiên lôi nên tôi muốn đánh lạc mục tiêu. Tôi nhắc lại vụ thằng chổng trôi trên sông và cô cứu thương chúng tôi vớt xác chôn bên ven rừng cao su.

Nghe tôi kể, Năm Đang hỏi:

– Anh còn giữ giấy tờ đó không?

Tôi móc túi đưa ra. Năm Đang xám mặt và gục đầu xuống bàn khóc hu hu.

– Trời ơi? Nó là cháu kêu tôi bằng cô ruột!

– Chập sau tỉnh lại bà Năm nghiến răng như cóc gặp hạn- – Họp khu ủy kỳ này tôi sẽ tố cáo thằng quận đội Châu Thái Hùng và thằng cha Bảy Ưng đã mò vợ đồng chí, tố cáo Bảy Tùng không cho cháu tôi đi học nên nó phải chết thảm thiết như vậy. Nó không chấp thuận vì con Xuân “thành phần không cơ bản”. Tôi cũng là thành phần không cơ bản sao tôi đi theo cách mạng mút mùa . Gia đình tôi có nhà máy xay. Ông già tôi vừa gởi cho tôi một trăm ngàn đây nè. Tiền đó tôi có xài cho tôi đâu. Tôi nuôi mấy thằng cha khu ủy đó .

Bà Khu ủy càng nổi trận lôi đình thì cái bàn chân kia càng miết xuống chân tôi. Tôi không dám nhúc nhích. Sợ bả nổi lập trường phang tới tôi. Thấy bà khu ủy nguôi cơn giận, Sáu Huỳnh lại chuốc rượu:

– Chi Năm uống miếng nữa đi. Dụng tửu quân giải phá thành sầu. Hổng tin chị uống hết ly này chị sẽ quên hết u sầu rồi chị sẽ thấy cuộc đời nó tươi như hoa mua, hoa lục bình vậy, uống đi chị Năm!

Hai Xót cũng mời tiếp. Năm Đang quệt nước mắt trông rất thảm thương rồi ngửa cái cổ trắng mịn ngon như cổ vịt luộc ực hết nửa ly rượu. Đáng lẽ tôi phải về vẽ bổ túc bản đồ quận Củ Chi nhưng tôi bận việc khác.

—->Chương 101-102-103-104-105-106-107-108

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: