2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QVI (101-108)

2000ngaydem_bia6

Chương 101
Những kẻ bắt hôi đìa may mắn hơn chủ đìa

Tôi xé thư của quận ủy Củ Chi xem:

Kính gởi đồng chí Hai Lôi,

“Kỳ này quận ủy và quận nội phải cho lực lượng các xã đội đi theo D9 để làm nhiệm vụ kinh tài của quận, mong đồng chí yểm trợ họ để hoàn thành nhiệm vụ. Ký tên: Hai Mỏ “.

Tôi đọc xong, sẵn Hai Khởi đứng bên cạnh, tôi đưa cho y xem. Y liếc nhanh rồi la om:

– Tưởng nhiệm vụ gì ai dè đi hôi đồ, tôi biết dư mà . Kỳ rồi nói đi thu thuế, nhưng có thu gì đâu. Chỉ đập cửa tiệm hốt đồ. Mình đổ máu cho mấy chả hưởng. Ai rảnh đâu mà yểm trợ bọn hôi đô. Họ hốt về quơ trọn chớ có phải quấy với mình đâu.

Tôi bảo:

– Thì mình cứ làm nhiệm vụ của mình. Họ làm việc của họ. Ai có trách nhiệm nấy.

Tôi nhìn ra vườn, thấy lố nhố du kích Đồng Lớn, Ràng, Đồng Hòa. Phước Thành, Phước Hiệp cũng có mặt. Hổng biết sao họ hay tin này? Như vậy thì đám vợ con lính cũng hay rồi. Làm sao mà đánh được. Miệng dân chúng truyền còn nhanh hơn tin điện.

Hai Khởi càu nhàu:

– Tại kỳ trước thằng Tư Quân và thằng y sĩ Ba Tua vô hốt thuốc tây của người ta cho nên bây giờ mới có cái lệ hôi đồ không cản được. Rồi tụi du kích Phước Thành chặn xe đò lột đồ của hành khách, lấy hàng hóa trên xe. Bây giờ ông nội ai mà giảng chánh sách cho họ nghe dzô? Anh coi kìa, đám du kích có nhiệm vụ khiêng thương binh, họ đem theo võng đòn. Nhưng trên mỗi cây đòn có buộc thêm một cái bao. Như vậy vô đó họ lo hốt đồ chớ thèm tải thương à? Cái bao khi trở về thì no phè còn cái võng vứt ở bụi nào ai biết.

Bảy Đạo tham mưu trưởng quận đội, mắt hí, đầu bạc trắng bước vào dáo dác nhìn quanh:

– Có chú Năm ở đây không thầy Hai?

– Ổng về trỏng rồi.

– Thầy có được thư của quận ủy chưa?

Hai Khởi đáp cộc lốc:

– Có, chúng tôi đã “nghiên cứu” kỹ rồi.

– Các đồng chí thấy thế nào?

– Chúng tôi làm nhiệm vụ của chúng tôi, ngoài ra không biết gì khác.

Bảy Đạo nói:

– Đây là công tác, đồng chí bí thư quận ủy giao cho chúng tôi chớ không phải chúng tôi tự đặt ra. Nhưng các đồng chí cũng nên biết là tụi tư sản trong thị trấn này có thèm đóng thuế cho mình đâu. Có tên còn chế giễu: “Các ông vô ban đêm khó làm sổ sách xin tới ban ngày, muốn bao nhiêu chúng tôi đóng bấy nhiêu “. Nó bảo mình vô thị trấn ban ngày? Đụ mẹ nó kỳ này tôi cho du kích “dzô” tụi nó biết.

Tôi để cho hai Khởi đối đáp với ông ta, tôi lỏn đi lo công việc khác. Tôi còn nghe Bảy Đạo năn nỉ:

– Nếu các đồng chí không yểm trợ được thì xin cho tôi biết kế hoạch chiến đấu để chúng tôi đặt kế hoạch công tác phối hợp giữa hai bên.

Nghe y nói thế, tôi chưa bước ra khỏi cửa vội. Y định kèo nài, nhưng Hai Khởi bảo:

– Kế hoạch chiến đấu. Tôi là Tham mưu trưởng D, đồng chí là Tham mưu quận. Là cán bộ quân sự mà đồng chí đòi chuyện kỳ lạ. Dù cha con vợ chồng cũng không cho biết dược. Hơn nữa kế hoạch chiến đấu chỉ có Hai Lôi giữ thôi, bất cứ ai cũng không được biết trước một giờ nổ súng.

Bảy Đạo còn năn nỉ:

– Vậy xin cho tôi coi sơ đồ chút.

– Sơ đồ quận thì đồng chí cũng có chớ riêng gì tôi. Còn bản đồ chiến đấu thì tôi không có !

Đích thân tôi xuống từng C nói rõ mục tiêu và giờ nổ súng, sự liên quan giữa các C, những hỏa điểm của địch cần phải diệt trước. Cách vượt qua chướng ngại. Sự kềm chế Đồng Dù khi súng nổ. Đường tải thường đến trạm giải phẫu tạm thời trước khi đưa về trạm hậu phương. Khi chiếm được toàn bộ cứ điểm, phải bố trí phòng ngự chờ địch đến, không đơn vị nào được tự ý rút lui. Cố gắng giải quyết chiến trường trong một tiếng đồng hồ. Riêng đơn vị phòng không của Sáu Lức không được nổ sớm. Chờ cho Dakota lọt vào hậu địa mới bắn. Nếu bắn sớm nó bay mất, không hạ được. Nó trở lại chơi mình.

Tôi phổ biến mệnh lệnh mà trong đầu tôi bị cái nghĩa địa ám ảnh. Lúc chiều đi qua tôi thấy một hàng lỗ đã đào xong, đất đỏ ối mới tinh như nhuộm máu. Chốc nữa đây sẽ có đứa -biết đâu tôi- nằm xuống đây. Giết nhau để ăn cái gì? Cuộc đời nào rồi cũng kết thúc ở đây thôi. Giấy vàng và nhang tôi mua để thăm mồ bạn dọc đường xuống SàiGòn xài hãy còn một mớ trong ba-lô tôi kia.

Khi tôi được lệnh đi Sài Gòn tiếp viện cho Tư Nhựt, dọc đường đi có nhiều người đưa tiễn, không hiểu sao họ hay được – với cặp mắt u buồn. Như tiễn Kinh Kha qua sông Dịch Thủy. Nỗi buồn biệt ly không nói ra- “Anh Hai chừng nào về nhớ ghé nhà em!”

Rồi lúc chiều khi vào Củ Chi tôi cũng được nhiều bà mẹ, nhiều em gái tiễn chân với cặp mắt u buồn ấy. Lần đánh trước tôi chắc thắng hơn lần này. Vì tôi chủ động đánh bất ngờ. Còn lần này tôi bị động vì yếu tố bất ngờ không còn nữa. Kẻ địch đã biết trước, còn đánh làm sao.

Nhưng phải đánh. Cũng như Tư Nhựt, Hai Phái phải đánh Sài Gòn hồi Tết. Thăng Bòn B trưởng trinh sát đến báo cáo với tôi mặt trận đã sẵn sàng, và yêu cầu tôi trở về chỉ huy sở để chỉ huy mặt trận bằng điện thoại.

Không khí im phắc. May không có một tiếng chó sủa. Tôi sực nhớ mấy cô du kích lúc ban chiều đeo theo tôi xin súng ngắn súng dài. Tôi hứa khi lấy được sẽ cho. Các cô mừng rỡ vô cùng. Tôi thầm nghĩ :”Trời ơi! ham chi ba cái thứ đồ chơi oan nghiệt đó. Giết người thì sớm muộn gì cũng sẽ bị người giết. Tôi đã ôm súng hai mươi năm rồi, thấy có lúc nào được thảnh thơi đâu? Đời này chừng nào không còn cái đồ chơi gọi là “súng” thì chừng đó dân tộc này và nhân loại mới sống yên ổn được. Ngày xưa đánh nhau không có súng, chỉ bằng gươm dáo nên lính tráng thì đông mà chết ít còn bây giờ lính ít mà lại chết nhiều.

Tôi ngồi trong hầm với thằng Đá, thằng Tiễn và cô Nê, bỗng sực nhớ, tôi bảo Tiễn:

– Em chạy xuống Cl coi súng phun lửa đã bố trí xong chưa? Bảo Sáu Hoàng phối hợp chặt chẽ với B phun lửa. Hễ Sáu Hoàng mở đột phá khẩu xong thì trung liên bắn yểm trợ cho súng phun lửa nhào tới. Phải chiếm cho được lô cốt đầu cầu thì mới triển khai lực lượng vào trung tâm được Nhớ chưa? Nói lại xem.

Thằng Tiễn đáp:

– Dạ

Sắp chạy đi thằng Đá báo cáo với tôi:

– Anh Hai! Điện thoại đã mắc xong! -rồi đưa ống máy cho tôi.

Tôi lặp lại mệnh lệnh và dặn thêm Sáu Lức D phó Phòng Không:

– Em nhớ, khi cối mở xong đột phá khẩu thì đem 13.2 ra khạc mạnh cho tụi phun lửa xông vô. Nghe rõ chưa? Coi chừng tụi bây đâm hông nhau. Rõ chưa?

– Dạ rõ.

Tôi coi đồng hồ. Còn 15 phút nữa. Tôi lo mấy chiếc xe bò của Bảy Đạo cót két làm chó sủa thì lộ hết, hỏng bét. Mấy ông nội bà nội không biết gì về quân sự nhưng luôn luôn muốn làm tổng tư lệnh mặt trận. Thằng cha Tư Trường mặt gà mái biết chiến thuật chiến lược chó gì mà là chánh ủy Khu, chỉ huy cả Tư lệnh Ba Xu?

Bỗng chuông reo. Thằng Tiễn bốc máy đưa cho tôi.

– Đứa nào đấy?

– Dạ em B trưởng Thơm, phun lửa.

– Em đã nhận rõ mệnh lệnh chưa Thơm?

– Dạ nhận rồi, những xin anh nhắc lại vì em có tới hai A. Anh bảo lên hết, hay chỉ một A?

– Chờ cối nổ thằng lính canh sẽ hụp xuống tránh. Em cho B40 và AK xông lên rồi hai D tiếp theo phun ngay. Phải chiếm được lô cốt này trong vòng hai phút. Không được chậm trễ.

– Dạ, em nghe rõ rồi.

– Bảo Sáu Hoàng lại máy… Alô Đại Bàng… Khi chiếm được lô cốt đầu cầu thì em cho đại liên bắn vào cửa chính dinh quận để C3 xông vào nghe không?

– Dạ, em rõ.

– Thằng Lúc, thằng Thành có ở đó không ? Từ phút này các C trưởng, B trưởng phải cầm máy đợi lệnh tôi để thi hành ăn khớp nghe không?

– Dạ , em rõ .

– Tất cả đã sẵn chưa?

– Dạ , xong hết.

– Khi chạy lạc vào nhà đồng bào thì bảo họ xuống hầm hoặc nằm dưới sàn ván. Không được cướp giật nghe không? Tụi Bảy Dạo làm gì làm, mình không cho lính ăn ké vô đó nghe không? Thằng nào cướp giật, bắn bỏ tại trận cho tao.

Bỗng một tiếng ầm từ phía bót cảnh sát. Rồi một tràng trung liên.

Tôi quát hỏi:

– Gì đó Thơm?

– Lộ… lộ rồi!

– Giã ngay! -Tôi quát trong máy.

Cộc cộc cộc Xì đùng! Đùng, đùng! Đại liên, B40 cối trên toàn mặt trận nở rộ xen kẽ.

Tôi gọi: Sài Gòn, Hà Nội, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cần Thơ, nghe rõ trả lời.

– Phun lửa chưa? – Tôi quát.

– Phun rồi. Chiếm được lô cốt đầu cầu rồi.

– Chiếm được bót cảnh sát rồi.

Xẹt!

Thằng Tiễn từ ngoài nhào vô hầm:

– Nó bắn cấp cứu rồi anh sai!

Pháo sáng chiếu rọi vào hầm.

– Cho DK2 bắn vào cửa chính. Út Thành!

– Lửa gì vậy? -Tôi hỏi.

Thằng Tiễn đáp:

– Bảy Đạo đốt chợ rồi. Có loa phát bài “Giải Phóng Miền Nam” nữa.

– Bậy thật! (Đốt chợ rồi thu thuế, ai đóng cho?)

Ầm! tiếng nổ rung vách hầm. Tôi hỏi:

– Cái vì vậy?

Ầm! Ầm!

– Tụi nó phản cối.

– Lức, mày ở đâu?

– Đang lên bót cảnh sát. Em phun nóc chòi nó cháy rồi.

– Mau chiếm lĩnh.

Thằng Tiễn vọt ra vọt vào:

– Còi hụ ở Đồng Dù anh Hai. Nó báo động. Coi chừng xe tăng bọc hậu.

Tôi đâm lo. Mẹ nó, chừng mười chiếc bọc hậu sau chợ Củ Chi thì mình bị khóa đít chặt cứng không có đường về. Không thể ngồi ở hầm chỉ huy được, tôi vọt ra. Mấy đứa trinh sát liên lạc lôi tay tôi lại. Tôi bung ra.

– Để tao ra tại trận mới được!

Chúng nó phải vác máy chạy theo tôi.

Tôi đến ngay công sự Sáu Lức.

Lức chào:

– Bót cảnh sát cháy tiêu rồi anh Hai.

– Mày đừng dộng 13.2 nữa. Để tao qua đường.

– Để em bịt họng tụi nó cho anh qua. -Sáu Lức quơ tay.

Rục, rục, rục.

Thằng Đá, thằng Tiễn vọt qua. Tôi theo sau. Nê bọc hậu.

Dân công đang đổ vào kiếm súng.

– Năm Lé, mày ở đâu?

– Em đây. Tư ếch đã dẫn một A vào trong dinh rồi.

– Mã Tử, mày đâu?

– Em chiếm được lô cốt 2 rồi.

– Coi chừng bắt tín hiệu bên trong để bắn bồ nhà đó! – Tôi la.

Thằng Á bắt đài địch chạy tới báo với tôi:

– Anh Hai, tụi Mỹ ở Đồng Dù kêu Sài Gòn nói mình tràn ngập Củ Chi rồi. Tụi Sài Gòn đáp: Nó sẽ tới. Ở Đồng Dù kêu nó cũng bị ăn pháo mình.

– Vậy là yên trí DKB mình đã bịt họng nó.

Sáu Lức trỏ chiếc Dakota đang phún hỏa châu:

– Nó tới kìa anh Hai. Xuống hầm đi.

Tôi quát:

– Mày lo mày đi. Kệ tao! Để cho nó vào trận địa, đừng bắn nó chạy mất!

Không biết tụi nào quảy bòng, xách bị no phình chạy qua trước mặt tôi.

– Ai vậy?

– Gánh ông Bảy Đạo chắc.

– Đứa nào bị thương đó?

– Con Nền bị chân.

– Còn ai kia?’

– Thằng Tư ếch C phó. Nó bị nặng quá anh Hai. Chắc chịu không nổi !

– Các cánh đã vào trung tâm hết – Không rõ ai nói với ai? Tôi nghe vậy thôi.

Dakota đâm vô. Sáu Lức quát:

– Nổ!

Que sắt đã phọt ra từ nòng đại liên chĩa ngay chiếc Dakota. Nó quay đầu trở ra, đít xịt lửa trả đũa.

– Có trúng trận địa mình không?

– Xa lắc, anh Hai. Khỏe đi!

Thằng Đá lại báo cáo:

– Tụi nó chơi trái cay anh Hai. Mình không vô được.

– Đưa máy tao. Alô. Cần Thơ báo cáo coi!

Mã Tử báo cáo:

– Tụi tôi đã chiếm được mấy gian trong quận. Không có lính. Dân công đang khiêng đạn ra. Dãy nhà sau, nó bắn M79 hóa học, khói mịt không vô được.

C trưởng Năm Lễ báo cáo:

– Đã bắn sập lô cốt số 3. Hỏa lực nó đã tắt. Tư Ếch vào bị thương đã ra. Còn lại không ai ra. Không biết kẹt chỗ nào?

– Cho vô tìm!

– Khói mịt, không thấy đường.

Tôi lạnh mình. Anh em còn bỏ xác trong đó. Tôi bảo Bảy Ga chính trị viên D:

– Anh và anh Hai Khởi ở đây. Tôi phải lên đó mới được.

Hai đứa liên lạc xách máy chạy theo tôi. Thằng Tư Ếch C phó và thằng Trừu B phó trinh sát còn kẹt ở trong đó. Bảy Ga run run:

– Anh đi, ai chỉ huy toàn bộ?

– Ông cầm máy liên lạc với tôi! -Rồi tôi chạy đi.

Bảy Ga đưa máy cho Hai Khởi.

– Anh ở đây liên lạc với anh Hai. Tôi phải đi tới cánh B.

Tôi đưa K54 cho Tiễn chụp lấy cây AK chạy vút đi.

Thằng Á lại tới báo cáo:

– Tụi nó nói “on the way” (trên đường tới đây).

– Thằng nào?

– Dạ Sài Gòn.

– Chết mẹ rồi. Sài Gòn tới là nguy. -Tôi nghĩ thầm.

– Tiếng xe tăng Đồng Dù tới gần anh Hai!

– Chạy theo tao qua cửa bên hông. Bòn đâu?

– Dạ.

– Tiễn. Đá. Á. (Á là liên lạc mới vô, tôi cho ở B thông tin).

– Dạ .

Đùng! Một quả cối rơi nổ ngay trước mặt.

– Hụp xuống anh Hai.

– Nổ rồi hụp mẹ gì?

Tiễn báo cáo:

– Năm Đầu Ban đã vô lô cốt số 4.

– Sáu Mã Tử đâu?

– Dạ không liên lạc được.

– Bòn qua đường kêu Năm Thơm lại đây. Còn thằng Á dẫn một tổ qua dãy phố kia tìm thằng Phương và Năm Lé kêu về đây gặp tao. Mau lên.

Tạch tạch. Lửa lóe ở mặt đường. Rật tật!

– Nó thấy bắn kìa. Năm xuống anh Hai. -Tiễn đè lên lưng tôi.

Ầm ! Mã Tử báo cáo. Ở sau dãy nhà lính nề.

– Phát triển lên.

– Khói cay không thấy đường!

– Nã mạnh vào. Cho dân công vô tìm thương binh đem ra.

– Anh Hai ngồi im. -Một cái khăn ướt bịt qua mũi tôi- Đề phòng thuốc hóa học, anh Hai.

– Thằng nào bị thương kia?

– Không biết!

– Năm, sáu đứa bị thương Đem ra sau cho núp vào dãy thùng phuy.

– Tụi nó đeo đồng hồ.

Tạch, tạch, tạch.

– Nó chơi hóa học. Anh Hai cay không?

Vọt ra đường số 8. Thằng Tiễn hỏi.

– Lệnh sao anh Hai?

– Bảo cánh nào đem thương binh ra ngoài, xong rút! – Tôi quát.

Hai đứa Tiễn, Đá vọt đi. Điện thoại đã đứt ở đâu. Còn Nê. Tôi hỏi:

– Đây là đâu Nê?

– Đây là ngã tư đường số 8 và quốc lộ.

Tôi qua cơn mê đã nhận lại vị trí mình đang đứng.

– Còn giăng đồng đó?

– Là xã Mỹ Hạnh.

– Ờ biết rồi ? -Nói vậy cho lính đừng hoang mang chớ tôi chưa biết xã đó.

Những đám dân công lĩnh kình kéo qua, khiêng vác. Một chiếc xe bò. Đét đét. Đụi !

Roi quất, bánh xe càng cót két lăn nhanh.

– Tụi bây lấy được mấy cái’?

– Lính chết ghê quá.

– Mấy con đĩ ở truồng trong phòng cố vấn Mỹ.

– Mẹ, tưởng xi-rô ai dè uýchki, hục hục. Phèo, phèo.

– Xe tăng tới! -Một đứa báo cáo.

– Cho rút nhanh. Mỗi C một hướng.

– Còn mình?

Tôi lặng thinh. Hỏi:

– Tư Ếch và thằng Trừu ra được chưa?

– Dạ được.

– Thương binh còn kẹt bao nhiêu?

– Dạ không rõ.

Hai Khởi từ đâu xộc tới:

– Tụi Bảy Đạo quơ no anh Hai.

– Dẹp tụi đó đi.

– Báo cáo xe tăng tới gần. Anh phải rút nhanh.

– Ông đi trước đi! Thương binh còn kẹt ở trỏng.

– Thì cho người vào tìm. Còn mình phải rút.

– Ông là tham mưu trưởng hay là đồ chó chết? Tôi cách chức ông bây giờ.

Hai Khởi còn rán:

– Nó tới, đèn ló rồi kìa. Anh chạy đi. -Hai Khởi xô tôi.

– Ông rút đi. Dễ tôi lo. (Bây giờ nghĩ lại thương Hai Khởi Lúc đó tôi cáu bậy).

Hai Khởi chạy vút đi. Còn Bảy Ga ở lại. Bảy Ga bảo:

– Anh đi trước, để tôi ở lại cho.

– Anh đi trước, để tôi ở lại !

Rầm rầm rầm.

Pháo Đồng Dù ở bên hông, rung đất.

Ầm ầm ầm.

Pháo Trung Hòa hợp tấu phía sau lưng.

Rù rù…

Xe tăng bọc hậu. Hù hù. Mẹ cũng lìa.

Nê bảo:

– Chạy đi anh Hai.

– Để anh trở lại xem thương binh ra hết chưa?

Dù trận toàn thắng mà bỏ lại một thương binh cũng coi là bại trận. Cuối cùng, tôi phải trở lại trận địa, gặp đám dân công khiêng lùm đùm hai ba võng. Quốc lộ một rung rung dưới xích xe tăng. Tụi nó ở Đồng Dù bọc sau ruộng bò lên mé lộ như một bầy bò hung mình đen, mắt lửa.

Đèn sáng loáng xuyên qua kẽ lá bụi rậm bên đường.

Nê xô tôi:

– Chạy anh Hai, thương binh ra hết rồi.

B thông tin đang quấn dây điện chạy qua trước mặt tôi.

– Tư Kim đó hả ?

– Dạ . Sao anh còn ở đó? Tăng tới rồi kìa ! Chạy anh Hai !

Máy đã dẹp. Tôi chỉ còn la họng không. Nhưng đã khan tiếng. Ai nghe? Tôi chỉ chỏ quơ tay.

Tiếng vịt xiêm nhưng cũng rán khào khào bảo Bảy Ga:

– Cho về Bàu Tre, không nổ súng nữa.

Tôi không cho trụ. Trụ là chết hết. Sáu Huỳnh cho biết là tụi nó sẽ đóng lại Thái Mỹ và không khi nào cho mất Củ Chi, Trung Hòa. Mất hai điểm tựa đó Đồng Dù không thể sống với tôi. Nếu trụ ở lại thì B52 sẽ hủy diệt cả ta lẫn địch bằng B52 và pháo. Đó là nước cờ bí cuối củng phải chơi. Mỹ sẽ chơi kiểu đó, không ai khác.

Đèn pha xe tăng đã tỏa đầy đường. Dây xích khua rầm rầm, xổn xoảng, tóe lửa mặt đường, và họng súng phụt lửa. Nê xô tôi xuống ruộng.

Đạn bay phía sau lưng tôi.

Không biết đứa nào đưa cho tôi cái máy bộ đàm.

– Anh Hai liên lạc với các C.

Tôi cầm lấy kê lên miệng.

– Alô !

Ầm. Không nghe gì trong máy. Ầm ầm ầm.

Bản đại hợp xướng Đồng Dù nổi lên, tiếng nhạc nghe vi vút muôn điệu réo rất ỳ xèo đồm dộp, tục lẫn thanh. Cái máy trên tay tôi bay đâu mất.

– Đứa nào bị thương đó?

– Em. Ai khiêng em chút.

– Đứa nào vậy?

– Dân quân Phước Thành.

– Có người khiêng rồi. Lấy năm súng.

– Còn mấy người kia đang bắt tù binh!

– Ai khiêng thương binh khiêng lẹ ra bờ tre.

– Ba Thắng hả?

– Dạ. Em giải quyết xong phần em rồi.

– Cho rút đi.

Thằng Bòn chạy tới:

– Anh Hai cho thương binh qua cõng dân công, ủa dân công cõng thương binh.

Tiếng cười rộ lên.

– Ông nội con nít quýnh đít la bậy.

Đẹt! Tiếng cười tắt ngấm.

– Sá u Lức đó hả ?

– Dạ em bị thương nhẹ còn vác 13.2 được. Cho em quay lại bắn xe tăng.

– Mày gãi ngứa nó hả ?

– Em cho B40 đi theo.

– Thôi, rút. Nó tám chiếc. Mình hết đạn rồi. Không đánh nữa.

(Tôi biết B40 bắn nãy giờ không còn đạn, mỗi khẩu có ba viên. Khá hơn con cặc bòi chỉ có hai viên!)

– Trụ không anh Hai?

Tôi giơ đồng hồ lên. Gần bốn giờ sáng.

– Rút nhanh.

– Đường nào.

– Đi về phía Mỹ Hạnh -Nê vẫy tay qua mặt tôi như chỉ huy.

– Coi chừng lọt vào tụi F25.

– Kỳ này mập rồi anh Hai -Sáu Lức lội song song với tôi, vai vác nòng 13.2- Tụi nó quơ Xây-cô bộn. Ba thùng lựu đạn. Một bó M16 dân công rỉa hết rồi.

Pháo hiệu từ bót thám báo thằng Giắc xẹt lên liên tục.

Rùng rùng rùng. Loạt đạn dài nín thở. Xe tăng thấy mình nên khai hỏa vét đuôi. Có xóm nhà lưa thưa gần bờ ruộng. Tôi quát:

– Tạt vô đó núp. Đừng sợ.

– Thằng Tư Ếch bị nặng quá anh Hai!

– Có sao không?

– Nó hết rên rồi.

Tôi quát:

– Cl rút nhanh qua để xe tăng chẻ đội hình. Ai biết đường qua Mỹ Hạnh?

Thằng Tiễn đáp:

– Em biết!

Đạn xe tăng lùa theo đỏ đầu rạ. Mùa khô mà ruộng vẫn lầy Trời không giúp.

– Đứa nào biết Mỹ Hạnh nữa?

– Em !

– Một tốp theo thằng Tiễn, một tốp theo cô kia. Chạy tản ra .

Đạn xe tăng bắn đuổi theo. Tù binh bao nhiêu cho theo Cl, Sáu Hoàng lo. Dakota bay trên đầu. Không có phòng không bắn, nó xòe hai cánh sắt phủ lên rà sát thiếu chút nữa đụng đầu. Pháo sáng rực cánh đồng. Những cọc sắt đỏ từ bụng nó phụt xuống đội hình chúng tôi.

– Tản ra -Tôi quát.

– Tới bờ đìa cho em chơi nó, anh Hai. -Sáu Lức hậm hực.

– Không được! Nó kêu pháo bắn bỏ mẹ. Băng hết qua lộ 8 chưa?

– Hết rồi ! Thương binh, tù binh xong. Súng đạn lấy hết.

Bây giờ tôi mới yên tâm và bảo Nê:

– Chạy nhanh em!

Nhưng hỏa lực xe tăng cắt chận đầu, không còn băng qua đường số 8 để về vị trí đã định được nữa. Tôi bảo:

– Em nhắm hướng Mỹ Hạnh mà chạy.

Tuy chạy nhưng bụng vẫn lo. Tôi cứ dừng lại từng chập nhìn phía sau lưng.

– Còn tụi mình đó không?

– Hết rồi anh Hai.

– Mày trở lại coi còn thương binh kẹt không?

– Dạ em ra sau chót mà.

– Còn sót tao cách chức mày.

– Dạ Tư Lé và thằng Trứu đã đem ra rồi thì không còn ai.

Nê khóc hu hu.

– Anh không lo cho anh mà cứ lo cho người khác.

– Tôi là chỉ huy chớ không phải là cứt, cô đừng nói bậy.

Tiếng đại bác bắn thẳng cà ùm cà ùm về phía quận lỵ. Lửa còn cháy đó đây. M16 nổ rẹt rẹt. Tụi nó còn bộn chớ chết hết đâu.

– Anh Hai có sao không?

– Đứa nào đó.

– Ba Tua quân y.

– Băng bó thương binh hết chưa?

– Dạ năm nhẹ, hai nặng xong cả rồi.

– Mau lên vôvườn trước sáng kẻo lòi lưng cá rô rỉa.

– Dạ. – Ba Tua vụt qua mặt tôi.

Kỳ này hắn không quơ được thuốc nên cái bị lép kẹp không thấy đeo trên lưng.

Không biết từ đâu một thanh niên tới trước mặt tôi thở như trâu cắt cổ:

– Tía em nè anh Hai. Để cho ổng dẫn đường.

– Tôi ở Mỹ Hạnh chòi tôi kìa Mấy ông theo tôi.

Trong lúc nguy nan tôi nghe theo, không hỏi thêm. Năm cái võng nặng nề lội ruộng. Nước văng trắng đêm, tiếng la í ớ tiếng cười xen kẽ.

– Ông nội này nặng hơn tạ.

– Con nhỏ này nội cái bề hê của nó cũng hơn 15 kí lô rồi.

– Ngày thường đụng tới nó la oai oải, bây giờ cho không hổng thèm.

Trời sáng dần. Tiếng cười nói làm cánh đồng sống dậy sau đêm kinh hoàng.

Dakota rút lui. Cá rô chưa tới. Chỉ có pháo giã liên hồi nhưng ở hướng khác. Chúng nó không ngờ mình rút qua hướng này. Xe tăng cũng không bắn đuổi. Có lẽ nó án ngữ chỗ ngã tư đường 8 và quốc lộ ngang đường vào dinh quận.

Chúng tôi lội chậm lại để thở.

– Hai tháng bé đâu? Tôi hỏi Nê.

– Dạ anh bảo tụi nó đi đâu lúc nãy.

– Nó biết đường tới đây không?

– Dạ biết.

Vào đến mí vườn, tôi ngồi xuống tựa lưng vào gốc cây. Ne mở nút bi đông kê vào miệng tôi.

– Anh thấm giọng chút.

– Vạy là C1 C2, C3 đã về dược bên nhà?

– Dạ! Tại mình rút trễ nên bị xe tăng đẩy xuống phía này.

– Thôi được rồi.

– Anh Hai khỏe? -Tiếng Sáu Lức.

– Em cho đào công sự phòng không ngay. Nó tới ngay đó.

– Dạ, em đang cho đào!

– Tụi nó cho đầm già dò theo dấu chân của mình, sẽ tìm ra đường rút mình. Bom tới bây giờ đó.

– Anh Hai đừng lo. Em phải hạ một con chim sắt như hồi đánh ở Đồng Chà Dơ.

– Trận này mình làm không gọn. Vì phòng ngự nó thay đổi

– Dạ súng phun lửa hay lắm. Nó phun mình cũng phun.

– Chừng bao nhiêu tù binh?

– Chục tên là cùng.

Một võng thương binh từ ngoài ruộng đi vào. Bốn dân công nam lẫn nữ ì ạch mãi mới bước lên được mí vườn.

Sáu Lức tới đưa tay:

– Tôi lãnh cho một đầu.

Chập sau trở lại, cười khè khè:

– Tưởng thương binh nào ai dè con Nền anh Hai ạ !

– Thì sao?

– Vợ thằng Xướng B trưởng trinh sát của mình hồi trước.

– Thằng! Tưởng tao không biết sao mậy?

Lức lỏn lẻn. Trông gương mặt chất phác cục mịch của nó mà thương. Hăm bảy, hăm tám gì rồi! Đánh giặc chì lắm, nhưng không biết o gái. Có tiền bao nhiêu đều nhậu hết. Dân Vàm Cỏ Đông. Chính tôi thấy khả năng tiềm ẩn của nó nên đề nghị cho nó từ A trưởng lên B trưởng. Bây giờ là D phó phòng không. Lúc làm C trưởng, chính nó hạ chiếc B2 ờ Đồng Chà Dơ, khi tôi pháo kích sập chuồng cu bót Trung Hòa năm trước.

Tôi hỏi:

– Người ta bị thương mày không khiêng bây giờ mới hụ hợ có một khúc.

– Dạ em mắc kêu 13.2 mà anh Hai!

– Rồi bây giờ tính sao?

– Dạ thằng Xướng hy sinh lâu rồi. Cô ta buồn nên đi dân công, lại bị thương.

– Bị thương ở đâu?

– Dạ đạn xuyên đùi.

– Mổ lấy ra chưa?

– Dạ đạn qua tuốt.

– Mày có định khiêng về Đồng Lớn không?

– Dạ có ai thay em lo cho ba khẩu 13.2 thì em xin xung phong.

Tôi đoán chắc cậu này có ý gì rồi. Cô Nền coi cũng xứng đôi. Mới có chồng được hai tháng thì Xướng hy sinh. Coi như con gái chớ gì.

Tôi đứng dậy vỗ vai Sáu Lức:

– Mày lo phòng ngự cho ngon đi. Còn vụ kia để tao tính.

– Vụ gì anh Hai?

– Thì vụ ấy chớ vụ gì.

Các đơn vị lạc bầy chạy lục tục tới nơi. Đâu non một C bộ binh, vô vườn trú ẩn an toàn. Tôi gọi các A trưởng, B trưởng và Sáu Lức lại bảo:

-Tất cả các đơn vị hoặc chiến sĩ có mặt ở đây đều phải sẵn sàng chiến đấu. Địch có thể đổ quân không biết lúc nào. Tôi giao quyền chỉ huy cho Sáu Lức D phó phòng không. Tất cả đều đặt dưới quyền đồng chí Lực bất kể đơn vị nào kể cả dân công các xã lạc bầy ở đây.

Tôi vừa nói xong ngoảnh lại thì thấy một anh nông dân đen đúa lực lưỡng. Nếu đứng chung với Sáu Lức thì xứng anh em. Người nông dân nói:

Tôi là Năm Hội. Nhà tôi ở trong kia. Xin mời ông chỉ huy vào nghỉ.

Ủa sao ông biết mình là chỉ huy? Tôi nghĩ thầm. Thì một cô gái trạc mười bảy, mười tám bước tới nói:

– Dạ anh của cháu dắt đường cho bộ đội về đây, còn đây là bác của em.

– Vậy hả ? Tôi chưa kịp cám ơn lại phải mang ơn thêm. – Tôi nói.

Năm Hội đáp:

– Thấy mấy ông lâm nạn tôi giúp vậy mà, có ơn nghĩa chi đâu.

Thằng Tiễn, thằng Đá cũng về tới. Cả bốn thầy trò đi theo Năm Hội.

Tôi hơi ngại vì đây là vùng đất tôi chưa hề đặt chân tới, lại rất sát với Hóc Môn, đặc biệt cách Tân Phú Trung không xa. Nó nhử mình vô ao rồi phóng một mẻ chài bắt gọn cả trứng mén. Vừa thắng lại thua!

Ý nghĩ này làm tôi chùn bước. Tôi liếc sang Nê xem cô ta có nói gì không. Nê gật gật tỏ ý đồng tình. Tôi cố ý đi tụt lại sau và nắm tay lôi cô bé.

– Anh đừng lo. Đây là vùng lạ nhưng em xem tướng ông chủ nhà không phải là người xấu.

– Sao em biết chắc?

– Em linh tính như thế. Hơn nữa chú Tám Thiện- Thị đội trưởng- nhà ở vùng này, chú có đem dân công giúp mình hồi hôm ở Củ Chi.

– Em bảo đứa nào tìm chú Tám mời lại đây anh nói chuyện. .

Nhà Năm Hội ba gian rộng, sạch sẽ. Bên chái nhà có cây rơm cao nghệu và chuồng trâu. Ở ngoài Bắc dư sức bị đấu tố.

Vừa vào nhà xong, Nê mở bọc thuốc ra lấy đưa cho tôi một viên thuốc:

– Lúc nãy uống nước phèn đau bụng, anh uống ngay đi.

Năm Hội cũng vừa đem bình trà lên để ở giữa bàn.

– Ông chỉ huy uống trà sẽ hết đau bụng.

Trông ông ta chừng hơn bốn mươi nên tôi kêu bằng anh và xưng tên, thứ để ông gọi lại cho đúng.

– Cảm ơn anh Năm. Kêu tôi bằng chú em được rồi. Lúc nãy chạy ngoài ruộng khát quá mà cái bi đông mấy đứa nhỏ mang chạy lạc nên tôi vốc hết mấy ngụm nước đìa.

Năm Hội nói:

– Ở đây mấy năm nay không có một viên đạn lạc. Xóm này đều làm nghề đương đệm bàng để sống (cũng như ở Ràng có xóm đương nia, thúng, rổ).

Tôi uống vài tách trà với Năm Hội rồi kêu mấy đứa nhỏ đi theo, ra ngoài công sự của D phòng không. Có đủ cả ba khẩu đại liên của Sáu Lức. Địa hình rất phải thế để ký đại liên phòng không. Đứng trong vườn nhìn ra, đồng trống mênh mông, cỏ lác đỏ đầu lưa thưa. hai ba bóng người lom khom hình như cắt cây bàng. Mương vũng ao đìa có phần giống ở Tháp Mười hồi 1949. Chó sủa âm vang trong những vòm cây trong xóm. Chắc quân ta đến đây, chúng chưa quen hơi nên lên tiếng chào chăng?

Bất ngờ tôi gặp ông tham mưu trưởng của tôi. Hai Khởi đến bên cạnh tôi, thủ thỉ:

– Hồi hôm tôi quýnh quá thầy Hai.

– Tôi thông cảm rồi. Thôi bỏ qua đi, kỳ sau rút kinh nghiệm!

Hai Khởi đi theo tôi và hai đứa bé quan sát trận địa phòng ngự. Tôi vào một vài nhà thấy trai gái giã bàng cùm cum trên ván. Cái nghề thiệt đơn sơ quá chừng. Không ai tưởng những tấm đệm khéo léo như thế lại ra đời từ đây. Xưa kia khi chống Pháp lính ta đâu có võng mà ngủ như bây giờ. Toàn lật nóp chống muỗi.

Nóp với dáo mang ngang tai…

Thời đó tôi từ miền Đông xuống miền Tây để học trường Lục Quân. Ghé qua Đồng Tháp Mười bị một trận ruồng do trung tướng Bondis Pháp chỉ huy. Giết cả trăm thường dân ở Cái Bèo. Rồi ở Tháp Mười tôi làm quen với cô Th.. là con gái của ông bà Lê Đình Chi. Năm sau bà Chi xuống miền Tây. Tôi và nàng trở thành “bạn kháng chiến” kể từ đó. Bỗng có một bức điện từ miền Đông đánh xuống. Chuyện này tôi đã kể trong một đoạn nào đó ở mấy cuốn trước.

Trước khi trở lại nhà Năm Hội, tôi và Hai Khởi ghé qua công sự của Sáu Lức. Hắn đào công sự thì không chê được. Không khi nào cạn và không khi nào thất thế. Hắn đã quen tay bắn đại liên từ mấy năm nay. Giao cho hắn phòng không thì tôi không phải lo gì. Trước khi vô bộ đội Lức không biết súng ống gì ráo trơn mà chỉ năm năm đã chỉ huy cao xạ đại liên.

Tôi và Hai Khởi đáp vào công sự của Sáu Lức ở giữa hai gốc dừa. Tôi nói:

– Mày đào giữa rễ dừa như vầy gãy xương sống lính hết sao, Lức!

Lức đang ở dưới hầm trồi đầu lên, cười khoe bộ răng vàng nghĩnh khói thuốc và cốt trà, đầu dính đầy đất:

– Em đào đây chớ lính đâu anh Hai. Tụi nó ngủ để cho nó ngủ.

– Mày định đào tới âm phủ hay sao? -Hai Khởi bảo.

– Đào sâu chắc ăn ông tham mưu ơi!

– Thôi nghỉ đi uống trà -Tôi bảo.

Sáu Lức trỏ cái bếp.

– Em đang sửa soạn pha cà phê kia.

Sáu Lực chống tay trên miệng hầm vọt lên phủi tay và đi lại bếp mời anh Hai và ông tham mưu ở lại uống cà phê .

– Ở đâu mà có mau vậy?

– Hổng biết ở đâu lính nó đưa ra đây. Cà phê thì thường thôi, mà cái vợt rất đặc biệt.

– Sao lại đặc biệt?

– Cái ống quần của con Nền cắt ra may đó!

Hai Khởi kêu lên:

– Cà phê lược bằng cái vợt đó uống chắc câm quá Lức.

– Sao câm? Bổ chớ ông tham… mưu. Khà khà ! Dễ gì có được cái vợt cà phê này anh Hai ơi!

Sáu Lức tiếp:

– Hổng nói giấu gì hai anh. Thằng Tua nó mổ vết thương cho con Nền. Cái ống quần vướng nó không làm việc được nên nó cắt bỏ luôn. Em đang đứng ở đó coi, bèn lượm đem về hề hề… Trời, vải ni lông dầu láng nước bỏ uổng quá. Em định đem về may cái túi con đựng thuốc rê, nhưng tụi nó bảo đang thiếu cái vợt cà phê nên lấy may luôn. Em thấy lược cà phê cũng tốt. Ống quần ở dưới ống giò. Mà có trên đầu gối cũng tốt chớ có sao! Anh Hai!

Hai Khởi nói:

– Nó bị thương ở đùi chớ phải ở ống quyển sao.

– Ờ ờ, khúc trên cũng vậy thôi. Xài vài lần rồi quen… mùi, ghiền luôn.

Vừa đối đáp với Hai Khởi, Sáu Lức đã lọc cà phê xong trong cái đít bình toong Mỹ đưa mời tôi:

– Anh Hai uống trước tới ông tham mưu rồi em bao chót. Mình uống chung chớ không có chén tách gì hết.

Tôi móc bao thuốc, đưa cho mỗi người một điếu rồi bưng ca uống.

– Cha! Cà phê này thiệt đặc biệt, ngàn năm có một!

Sáu Lức cười hô hố, cái cười trẻ con hồn nhiên:

– Ngạo tụi em chi anh Hai! Ông tham mưu làm một mách đi.

– Cà phê này đúng cà phê đen vì ống quần ni lông đen.

Tôi ngồi thòng chân xuống hầm và nhắc lại chuyện đánh đồn Thái Mỹ.

– Lức à ! Lính mê mày bắn vô Thái Mỹ kỳ đó lắm. Đột phá khẩu mày mở trong vòng có ba phút. Hì hì, sau đó rút qua Trảng Bàng đóng ở nhà ông Tám Râu mày nhớ không?

– Dạ nhớ chớ!

– Tao có kể chuyện về tài thiện xạ của mày, ổng phục lắm. Ổng có nói với tao ông muốn gả con gái cho mày. Ổng muốn xem mặt mày nên bày bữa tiệc hôm đó.

Sáu Lức rít một hơi thuốc, hớp ngụm cà phê và nói:

– Thôi anh Hai phá em hoài.

– Thiệt mà ! Tám Râu mời tất cả các ban chỉ huy là cốt ý xem mặt mày, nhưng mày không đi nên không ai đến hết. Kỳ đó tao không nói ra !

– Trời ! Anh Hai muốn em độn thổ hay sao chớ ! Em thấy cái nhà lót gạch bông, bàn ghế láng bóng ngó thấy mặt, em thấy mà hết hồn làm sao dám ngồi bàn tiệc với họ. Em nghe Hai Nương nói trong nhà ăn cơm thường ngày cũng bằng muỗng nĩa không hà. Em làm sao mà cầm ăn cho được. Thôi, thôi anh Hai cho em xin đi.

– Kỳ này trở về bên phát nữa, ông Tám Râu lại làm tiệc mời nữa đó.

– Thôi anh Hai ơi! Có mời cả D thì em tới ăn, nhưng ăn ngoài sân chớ không có vô nhà. Em không đáng vô cái bếp của họ mà ngồi chung cái gì! Rồi kêu bằng ba má à?

– Phải duyên thì kêu chớ sao, em?

Hai Khởi nói:

– Cà phê mày uống không ghé Lúc à. Nấu nước đi, thầy Hai có trà trong xắc-cốt kìa. Tụi mình “úp” một mách cho đã khát. Thằng Tua ở gần đây không? Kêu nó tới uống luôn thể báo cáo tình hình thương binh cho anh Hai rõ luôn.

Sáu Lức chạy đi một chốc rồi quay lại với một rổ nào bình tách đủ bộ trà.

– Mấy bình anh Hai?

– Ổng thì một gói hai bình thôi. Mày không biết tánh ông sao? Nước dảo của ông còn hơn cốt của thiên hạ . Uống riết ông quéo lại như con khô lóc mày không thấy sao?

– Kêu tụi nó dậy uống với ! -Tôi bảo.

Sáu Lức nói:

– Anh Hai à , D em có ba khẩu đội, hồi đánh ở Đồng Chà Dơ…

– Mày gặp xã đội phó út Là. Mày mết phải không?

– Em đâu có anh Hai.

– Sao không nói với tao? Phải nói thì xong rồi!

– Hồi đó em chẳng ra nước gì. Người ta đâu thèm ngó.

– Bây giờ mày “vô đợt” được rồi đó.

– Em là cố nông mà bị ẹp quá, mấy đứa trung nông qua mặt em vù vù.

– Bần cố của mày là bần cố nội. -Hai Khởi tiếp.

Tôi nói:

– Không phải ở trên không để ý mày nhưng tại vì mày hay cự nự với cấp trên. Khi đổ quạu thì xài nho chùm. Ngoài mấy điểm đó ra mày nhiều ưu điểm hơn những đứa khác. Nhất là Sáu Uya nó ghim mày. Nay mày cũng cứ quen cái miệng xài nho.

– Em đâu có dám với anh. Em coi anh như ông thầy, ở đây em không phục ai bằng anh. Hì hì, em có ý kiến nhờ anh giúp em cú này.

Đang nói chuyện vui tươi với nhau bỗng có cậu lính chạy tới báo cáo với Sáu Lức:

– Anh Sáu, có lính tới.

– Lính nào?

– Chắc tụi nó theo dấu chân mình.

– Ở đâu? Hai Khởi bật dậy nạt.

– Ngoài ruộng kìa.

Sáu Lức liền nhảy xuống hầm, quay họng đại liên, làu bàu:

– Để tao quạt cho nó vài loạt.

Tôi bảo:

– Khoan đã Lức! Để tao coi lính nào?

Sáu Lức đưa ống dòm cho tôi. Tôi khoát tay bảo mấy người kia xuống hầm và bắc ống dòm lên nhìn. Ngoài ruộng một đám người lố nhố lội trong đống lác ngập đầu, không nhận ra là ai.

– Tụi nào vậy anh Hai? -Sáu Lức nhóng lên hỏi.

– Chưa biết là tụi nào

– Hổng lẽ tụi nó đổ bộ mà êm ru vậy? -Hai Khởi nói- Nhưng cứ chuẩn bị đi.

Tôi bảo:

– Ông vô cho các nơi khác hay… Tụi này coi có vẻ bệ rạc. Thằng quảy súng, thằng tay không. Lại có thằng treo tay trên cổ. Một thằng quấn băng đầu… Không lẽ tụi Sư 25 truy kích mình mà lính tráng lại như vậy thì đánh ai? Ông coi hai bên mé vườn còn tốp nào nữa không?

– Chỉ có đưng lác. -Hai Khởi đáp.

Sáu Lức nóng nảy:

– Để em quạt trả thù cho thằng Tư Ếch.

– Coi chừng bắn lầm dân thất chánh trị, mày!

Tôi quay ống dòm nhìn xa rồi nhìn gần. Không thấy gì hết. Tốp người đâu chừng chục rưỡi mạng. Sáu Lức vẫn kê vai vô bá 13.2. Mắt miết vào kính ngắm.

– Lọt vô hết rồi. Em buông nửa loạt là tiêu ráo!

Tôi nghĩ:

– Nếu nó truy kích mình thì khi gần đến mí vườn, bom phải dội xuống mình, cá lẹp tưới hột sen còn bộ binh thì giăng hàng ngang ra chớ đâu có đùn cục như vậy.

Đám người lội qua khỏi cụm lác cao. Tôi bỏ ống dòm xuống ngực quả quyết:

– Không phải tụi Sư 25 !

– Dám biệt kích lắm à anh!

– Không có gì hết. -Tôi ngồi xuống vỗ bả vai ướt mồ hôi của ông D phó- Lính mình ông ơi !

Sáu Lức ngó tôi với cặp mắt trắng dã:

– Lính mình đi đâu đây?

– Tụi đánh Sài Gòn về -Tôi quả quyết.

Sáu Lức lặng thinh, ngạc nhiên mà không cãi.

Toán người đã tiếp cận mí vườn. Tôi đưa ống dòm cho Sáu Lức. Hắn nhảy lên, đi lại núp bên gốc dừa nhìn ra. Rồi quay lại.

Tôi kể qua mấy lần gặp quân ta xuống đường dội về ở bên sông Sài Gòn. Sáu Lức kêu trời:

– Nếu em đi thì cũng như tụi này.

Toán người vô tới mí vườn. Một tiếng reo mừng rỡ, gọi đàn:

– Sống rồi chúng mày! Nhanh lên!

Một cậu tới ngay trước họng 13.2 mà chẳng thấy gì hết.

Cậu ta ném AK cái rật xuống đất rồi cầu nhàu:

– Địt mẹ chúng nó. Giặc mí chả giã!

Sáu Lức lên tiếng?!Cả bọn lục tục đến mừng rỡ như tái sanh. Tôi bảo Sáu Lức kêu gom cả lại. Tôi hỏi:

– Các cậu thuộc đơn vị nào.

– Dạ E268.

– Ai chỉ huy?

– Dạ ông Ba Nanh chính ủy, ông Năm Sĩ E trưởng ạ !

Tôi biết chúng nói đúng.

– Cậu cấp bậc gì?

– Dạ em B trưởng còn mấy đứa kia, A trưởng và hạ sĩ.

– Còn cậu nào cao cấp hơn không?

– Dạ có một anh xưng là tham mưu phó trung đoàn, nhưng tụi em không tin.

– Cậu ấy đâu rồi?

– Kìa anh ta đang đi tới.

– Mục tiêu chiến đấu của các cậu là gì?

– Dạ E chúng em được lịnh đánh Hóc Môn, chiếm xong trụ lại đó ba tiếng đồng hồ sẽ có tiếp viện.

– Rồi có tiếp viện không?

– Dạ chưa đánh mà đã nộ bí mật nên pháo binh và phản nực dập nu bù. Ba ngày sau mới gom nại được. Ông Năm Sĩ và ông Ba Nanh rút về còn tụi em kiệt sức và bị thương nên tụt hậu.

Cậu tham mưu phó trung đoàn đã vô tới vườn. Tôi bảo gọi cậu lại, tôi chưa kịp hỏi gì thì cậu ta reo lên và chạy ào tới, la mừng rối rít:

– Thủ trưởng còn nhớ em không? Em là thằng Na này!

– Na nào?

Cậu xưng là Na vỗ ngực:

– Na hôm ăn Quốc Khánh gặp thủ trưởng ở nhà xã đội phó Nà cho dừa khô về nàm thịt chó. Thủ trưởng còn cho thêm cái đùi bò nữa đấy. Em đi với thằng Diệu.

Tôi sờ soạng trong trí nhớ và gật đầu. Tên Diệu tôi nghe quen quen ở đâu đây. Na nói tiếp:

– Em được giao cho nàm tham mưu phó trung đoàn, nhưng không có quyết định chính thức. Mà do anh em cử nên thôi.

Tôi giật mình. Mới có hai năm mà một hạ sĩ lên cấp E?

– Chết nhiều quá không còn ai nên mới thế thủ trưởng à!

Tôi nhìn cả toán: hơn một A. Thương hại quá ! Đánh đấm gì thế này. Chết hết anh em. Cái ông Chín Vinh đâu có ở đây mà nhìn giùm một chút.

– Cậu tập họp tất cả anh em lại đây.

Trong khi chờ đợi anh em đến đủ mặt, tôi hỏi Na:

– Như vậy ở ngoài Bắc các cậu thuộc Sư 308 phải không?

– Vâng, đúng thế ạ !

– Anh hùng Nguyễn Quốc Trị là sư trưởng, chiến sĩ thi đua Giáp Văn Khuông là tham mưu trưởng E phải không?

– Sao thủ trưởng rõ cả thế?

– Tôi có vài lần liên hệ công tác với F 308.

Anh em đã tới đủ mặt. Tôi bảo:

– Các cậu về đây là tốt rồi. Không nên chửi bới lung tung đồng bào nghe được, chúng mình mất uy tín. Trong lúc chờ đợi tìm E268 tôi tạm thời nhận các cậu vào E của tôi. Hai cậu bé thì về làm trinh sát với tổ trinh sát của tôi, trong đó có cậu Đá quê ở Sơn Tây.

Một cậu mặt xanh lướt mừng rỡ:

– Em ở Đan Phượng Hà Đông cách Sơn Tây không xa.

Tôi tiếp:

– Cậu B trưởng tạm thời về giữ chức C phó thay cho cậu C phó của tôi mới hy sinh.

Cả bọn ồ lên. Một cậu nói:

– Lên chức sướng nhé.

– Còn cậu tham mưu E thì tôi cho vào đội nữ dũng sĩ phụ khiêng tiếp thương binh với các cô. Về đến căn cứ tôi sẽ cho người đưa về E268. Chứ cấp E tôi không có quyền điều động!

– Thôi, xin thủ trướng cho em ở đây luôn với chức A trưởng, B trưởng gì cũng được ạ !

– Chúng ta phải theo nguyên tắc quân đội. Cấp E phải do F điều động. Còn các cậu khác thì ở lại đơn vị phòng không. Đây là D phó của các cậu. -Tôi chỉ Sáu Lức.

Các cậu kéo đi tìm chỗ, tản mác khắp trong vườn. Tôi bảo cấp dưỡng đem cơm nước ra phục vụ. Các cậu mừng mà tôi cũng vui. Bỗng nhiên được trời cho một A lính.

Tôi quay lại chuyện Sáu Lức.

– Mày thấy con Nền được hả?

Sáu Lức bẽn lẽn:

– Anh Hai thấy sao?

– Hễ mày được thì tao giúp. Cưới cho mày chớ bộ cho tao sao?

– Em… em thấy cô ấy rất tốt. Có tinh thần công tác. Ra trận xung phong. Chồng là đồng chí của mình.

– Mày không sợ tụi nhỏ nó cười con trai đi lấy đàn bà sao?

Ngựa kim không cỡi để cỡi kỳ đà
Gái đồng trinh không chịu chịu đàn bà có con.

– Cổ đâu đã có con anh Hai.

– Thì câu hát người ta đặt ra như vậy chớ phải nói mày sao?

Sáu Lức mím môi một chút rồi nói:

– Đàn bà thì đàn miễn thương em thì được.

– Mày thương nó rồi hả? Thương hồi nào?

– Dạ… dạ mới kỳ đánh trận này thôi!

– Mày bị nhiễm cà phê lược bằng cái vợt đặc biệt rồi hả?

Sáu Lức bẽn lẽn:

– Anh coi được thì bảo thằng em anh một tiếng.

– Nói với ai tao cũng nói được hết, chỉ yêu cầu mày sửa đổi tác phong lại. Ăn nói phải chững chạc, đúng tư thế D phó. Mày vác đạn phụ với lính là tốt. Nhưng khi hô xung phong đừng có la “Đụ mẹ xung phong! ” Thuở đời nay có ai dám đụ mẹ xung phong như mày? Mỗi lần xét đề bạt, tao đều nhắc tới mày nhưng người ta gạt mày ra vì điểm tư cách.

– Em có làm gì mất tư cách?

– Sự đời nó như vậy đó! Thằng lớn đầu ba vợ, mỗi vợ một villa thì hổng sao, chớ lính o đàn bà giá thì bị ghép đạo đức, kiểm thảo, khai trừ đủ thứ . -Tôi lột đồng hồ đang đeo- Nè, mày đeo để coi giờ phân công gác và đi họp cho đúng giờ.

– Thiệt sao anh Hai?

– Thiệt chớ gian sao mày?

– Trời, “Xây Cô” có Cửa Sổ, “ô-tô-tích ” hả anh Hai?

– Coi đó thì biết. Sợi dây tao đeo hơi rộng. Chắc cườm tay mày vừa!

Ba Tua y sĩ nói:

– Báo cáo anh Hai, trong các vết thương chỉ có Tư Ếch là nặng. Động mạch bị đứt máu ra nhiều quá chắc không chịu nổi. Em đã cho đưa về C5. Còn thằng Trứu bị thương ở đầu nhưng không ảnh hưởng sọ não. Thằng Mầm cũng không sao. Còn cô Nền thì em nhét “gạt” chỉ ba ngày là cho về nhà dưỡng sức được.

– Liệu có ảnh hưởng gì không đồng chí? -Sáu Lức hỏi.

– Không sao. Những ngón chân đều ngo ngoe được.

Sáu Lức dẫn tôi và Hai Khởi đi xem qua các khẩu đội khác. Vừa đi hắn vừa giơ tay lên xem giờ.

Trở lại nhà, tôi bàn với Hai Khởi:

– Cậu có thấy mấy đứa con gái của Năm Hội không?

– Có mấy đứa trong nhà nhưng không biết đứa nào là con ổng, đứa nào ở đằng xóm.

– Đứa lớn tên là Mè. Con của ông đặt có vần Mè, Rô, Lóc… toàn là cá. Tôi thấy cô Mè xứng với thằng Lức. Gia đình này cũng cỡ với gia đình nó. Tôi coi Năm Hội có cảm tình với mình. Tôi nói chắc được.

– Thầy định tốc quyết tốc thắng thiệt sao?

– Được mà! Cậu thấy sao? Đâu tham mưu một cú cho đẹp coi !

– Đằng trai thì chắc đồng ý rồi. Khè khè, chưa biết đằng gái thế nào!

– Con nhỏ coi bộ mặn mà chắc làm lụng giỏi dắn.

– Thầy có uy tín, thầy mở lời đi. Mình có thêm cơ sở đóng quân và vận động quần chúng.

Thằng Tiễn chạy ra báo:

– Có ông Tám Thiện tìm anh Hai !

– Chắc Tám Thiện thị đội trưởng, nghe đâu ổng là em vợ của Năm Hội.

Bỗng thằng Tiễn vừa quay ra lại trở vào báo có khách.

– Khách nào nữa.

– Đàn ông hay đàn bà? -Tôi gắt.

– Dạ đàn bà… ủa con gái!

Tôi giật mình. Linh tính báo cho tôi biết là ai. Có lẽ thấy nét mặt của tôi thay đồi ít nhiều, Hai Khởi rẽ ngã khác và nói là đi kiểm tra công sự và đi qua chỗ Ba Tua thăm thương binh. Hắn để cho tôi được tự do.

Tôi vào nhà. Từ xa tôi thấy một cô gái đầu quăn mang kiếng mát đen ngòm như mắt thòi lòi. Nàng ta giơ tay lên vẫy vẫy. Đích thị là người tình có trái tim rực cháy xuất hiện và biến đi như kiếm hiệp: nàng Ua, cán bộ quân báo của Sáu Huỳnh. Lâu nay tôi cũng không có thời giờ để nhớ những kỷ niệm với nàng. Đúng ra là trái tim của tôi đã quá chật chội không còn dành chỗ cho nàng.

Nàng chạy tới, nói ríu rít và nắm tay tôi:

– Anh còn sống hả? Vậy mà trong quận, cái loa mắc dịch nó nói tên Hai Lôi tiểu đoàn 7 bỏ xác trong dinh quận. Tụi nó kêu mình vô đó cho khiêng đem về chôn.

Tôi cười hề hề:

– Bỏ xác nhưng còn hồn!

Nàng lột kiếng ra ngó sát tôi như muốn nuốt sống. Rồi hạ giọng:

– Sao trận này làm không gọn tía non?

– Mất đi yếu tố bất ngờ.

– Trận này anh thất bại ê chề rồi !

Tôi trừng mắt:

– Ai bảo?

– Rồi chú Sáu Huỳnh và anh Ba Xuyên sẽ báo cáo về Khu cho anh coi.

– Báo cáo cái gì?

– Anh cho lính cướp tiệm và đốt chợ. Bây giờ trong chợ người ta réo đích danh Hai Lôi chửi. Anh vô đó mà nghe!

– Ai bảo vậy?

– Thì em mới ở trỏng lấy tin ra mà . Dân chúng thán oán. Người ta chửi Mặt Trận ăn cướp.

– Suỵt!

Tôi đưa tay bịt miệng Ua. Ua vùng ra quốc mắt la to:

– Sạp vải của dì Ba (Má con Chia) cháy tiêu. Má suýt chết: Người ta tản cư về Sài Gòn hết rồi. Một tiểu đoàn của trung đoàn 49 Sư 25 vừa tới tăng viện.

– Thôi bỏ qua đi, em đến có đem lệnh mới cho anh không?

– Không có lệnh lọt gì hết.

– Sao em biết anh ở đây?

– Anh lên tới trời em cũng theo… Chị Bảy Mô rước bà già vô làm gì hả?

– Đâu có ai vô? -Tôi chối phắt. (Chớ dám nhận à?)

– Chưa vô nhưng sẽ vô. Chị Ba khoe với em. Bộ anh muốn chia đôi trái da láng với em hả? (Chị Ba cùng với Năm Mai hùn bán nước đá ở gần xóm Nhà Thờ. Cả hai đều là chị của Bảy Mô. Lần nghiên cứu đánh Suối Cụt, Ua có chở tôi đến đây uống nước đá).

– Thì bà già vô thăm con bả, anh đâu có biết.

Ua vùng vằng:

– Anh ghê lắm nghe! Tại sao bây giờ đoàn bộ của anh toàn là nữ dũng sĩ. Bảy Nê, Tư Bé, và các bà Hai Nương, con Ẻng sẩm lai ở đâu tấp về nấu bếp?

– Đó là do ông Hai Khởi bố trí. Ổng là tham mưu trường mà.

– Bố trí ! Bố trí! ảnh có bố trí anh ngủ chung hầm với họ không?

Tôi ngắc ngứ không trả lời. Bụng bảo dạ: đường dây nào mách cho cô nàng những chuyện đó? Ua kéo tay tôi ra chỗ vắng rồi gầm gừ:

– Anh đã hứa trước mặt má rằng anh sẽ cưới em hu hu… má cũng đồng ý.

– Ừ thì anh hứa! Má cũng đồng ý, anh có nói gì đâu.

– Hứa mà vậy đó hả? Đời em đã phó thác cho anh rồi.!

– Thôi đừng khóc lính thấy nó đồn rùm ra, khó công tác.

– Đồn gì Em là vợ chưa cưới của anh! Em không sợ.

Ua dậm chân bèm bẹp như đất lở trời long. Tôi ngó xuống, đánh trống lảng:

– Giày cao gót mới mua ở Sài Gòn hả em? Coi em cao bộn đó !

Ua bật cười. Tôi tiếp:

– Còn ba cái tóc giả này coi chừng chạy Honda bay mất.

– Anh liệu đó. Một trái “da láng” chia hai nghen ! -Nàng nhìn tôi với cặp mắt ướt rồi lần mở nút áo giữa ngực thọc tay vào lôi ra một vật đen đen. Tôi liếc thấy khẩu 6.35, nàng bấm lấy băng đạn và lẫy hai viên để trên bàn tay quắc mắt- anh muốn viên nào?

– Viên nào cũng được. Nhưng loại kẹo bắn ruồi này không ngọt -Tôi vừa nói vừa móc Colt cây Colt tôi đổi của Bảy Tùng đi Cao Miên hôm ở hầm Bảy Ưng) lấy băng đạn lẫy hai viên đưa cho nàng- Thứ này mới ngọt. Hai đứa chỉ cần một viên thôi.

Nàng nhìn tôi trân trân hồi lâu rồi bảo:

– Anh không còn yêu em nữa?

– Em cứ làm tình làm tội anh hoài. Em đã không giúp mà cứ phá anh.

– Hôm nào đi Sài Gòn em qua Nhà Bè mét má cho anh coi!

– Mét gì?

– Anh định quơ con gái địa chủ !

– Ở đâu?

– Bên Trảng Bàng. Nhà Tám Râu. Chị là Hằng, em là Nga. Có không?

Tôi chết điếng cả người. Tại sao nàng lại biết cả chuyện đó? Tôi định chối phứt thì nàng tiếp:

– Chị Sáu Khiêm là bạn em đấy.

– Sáu Khiêm nào?

– Út Sữa, còn chối nữa hết. Rồi chị Mười Lý nữa!

– – Mười Lý nào?

– Chỉ kể cho em nghe hết. Chỉ rất đau khổ vì phải xa anh! Anh ác lắm!

Thôi bỏ mẹ rồi. Té ra các nàng đều có đường dây bí mật cả. Tôi cười:

– Đó chỉ là công tác. Cô ấy “đau khổ” chớ anh đâu có biết gì !

Đàn bà tuy dữ mà hiền. Khi đã mang vết thương lòng thì thuốc chữa trị chỉ là đàn ông thôi. Dù thù ghét, họ không thể thiếu đàn ông được.

– Thôi đi vô em. Nhà mới đóng quân, người ta thấy anh em mình tu ti lâu vầy, họ nghi. Kìa, cặp mắt em đỏ hoe. Chùi đi!

Ua tỏ ra là tay có võ nghệ khá trong làng quân báo. Nàng càng khóc to lên và đi vào nhà. Nàng mếu máo:

– Em thấy các anh gian khổ em thương quá hà… hức hức.

Mấy cậu lính, các cô dân công và cả đám con gái chủ nhà đứng trước thềm ba nhìn chúng tôi. Tôi thản nhiên, đóng một vai kịch cương khá tự nhiên:

– Đó là nhiệm vụ của chúng tôi. Cô về cho tôi nhắn gởi lời cảm ơn bà con trong thị trấn.

– Còn mấy cái xác trong đó… (Ua bịa chớ đâu có xác nào).

– Cô về nhờ đồng bào cất giấu giùm. Tôi sẽ cho cơ sở bí mật giải quyết.

– Em sẽ tẩm liệm rồi đưa ra xe đò chở vô được không?

Chắc mọi người tưởng Ua là công tác nội thành nên nhìn chúng tôi với vẻ mặt xót thương và cảm phục. Màn bịp khá thành công.

– Em ở ăn cơm được không?

– Em phải về báo cáo ngay. Ở đây lâu, lộ hết!

Rồi Ua tra cặp mắt thòi lòi vén tóc, đội nón lên ra sân rồ máy Honda dẫn ra đường. Tôi đi theo nàng. Trong tiếng máy êm ru, chúng tôi tiếp tục nói chuyện công tác.

– Anh nhớ đây! Lần này là lần chót em cảnh cáo anh gắt gao.

– Mấy đứa đó coi anh như anh ruột mà !

– Xời! Con Ẻng là ghê lẩm. Nó ở bên K20 làm cho mấy lão FM đầu bạc sụp hầm chông mất lon mất gáo rồi qua đây! Tới phiên anh đó. Liệu cái thần hồn.

– Em khỏi lo.

– Ừ nó cho anh hết chớ gì. Con nhỏ đó gác máy bay ghê lắm đó nghe.

– Con nào lại không gác?

– Em nói chơi chơi mà làm thiệt đó. Em đi xuống Nhà Bè rước má lên nội trong ba ngày nữa cho anh coi.

– Ừ em rước má em, tụi mình làm đám “tiên bố”, để lâu nguội hết!

Nàng rồ máy một cách mừng rỡ. Nàng cười với tôi và gác chân qua yên xe.

– Làm sao hôn anh bây giờ?

– Hổng được đâu. Người ta ngó thấy, mất uy tín em hết.

Nàng đưa tay hôn gió rồi rồ máy phóng tuốt. Tôi như vừa tỉnh giấc mê.

Xế chiều. Sửa soạn hành quân đáo lai Đồng Lớn. Năm Hội và cả xóm làm tiệc tiễn đưa, làm thịt năm con chó.

Tại nhà Năm Hội làm gà vịt và mua thịt quay làm cỗ cúng ông bà hẳn hoi. Anh Năm chị Năm mặc áo dài đốt nhang trên bàn thờ. Cậu Lức và cô Mè đứng hai bên bàn thờ. Trong không khí trang nghiêm, với sự có mặt của. gia đình và một tiểu đội phòng không, mọi việc tôi đã bàn trước với Năm Hội. Sẵn tiệc tôi nói luôn để mọi người ngạc nhiên chơi.

– Hôm nay tôi xin thay mặt gia đình em Lức và ban chỉ huy đơn vị xin chánh thức hỏi cô Mè cho em Lức, tiểu đoàn phó tiểu đoàn phòng không của tôi. Gia đình em Lức ở bên Vàm Cỏ Đông gần cầu Bến Lức nên anh em gọi là Sáu Lức.

Tôi vừa dứt lời thì cậu A trưởng hô “nghiêm”. Toàn thể đứng thẳng người, rồi cô Nê bưng mâm trên đó có hai chiếc hộp phủ vải đò. Nê đặt mâm lên bàn và mở hộp đưa cho Lức. Lức lấy sợi dây chuyền vàng khoác vào cổ Mè. Nê mở hộp thứ hai. Lức lấy chiếc đồng hồ đeo vào tay nàng. Xong Nê cầm gói giấy đưa anh Năm.

Tôi nói:

– Đó là sính lễ của chàng rể, còn đây là số tiền 15 ngàn của đơn vị tặng cho cặp tân hôn dùng làm vốn sống với nhu. Kể từ giờ này em Lức là chồng chưa cưới của em Mè.

Năm Hội khoát tay :

– Thời buổi chiến tranh này, cưới hỏi làm luôn một lần cho tiện. Vợ chồng tôi coi như đây là đám cưới con Mè. Chú Lức là chồng của nó và là rể của nhà này. Thôi, hai con làm lễ ông bà và… động phòng hoa chúc… tối nay.

Trước sự bất ngờ, tôi nói luôn:

– Tôi thay mặt ban chỉ huy cho phép tiểu đoàn phó D phòng không Sáu Lức nghỉ phép một tháng ở lại với gia đình bên vợ. Sau đó sẽ trở lại đơn vị tiếp tục chiến đấu.

– Phòng không lần này bắn trúng máy bay rồi.

Không có ai ngờ đám hỏi vợ cho Sáu Lức lại nhanh như một cuộc tao ngộ chiến. Lại càng không ngờ đám hỏi trở thành đám cưới một cách vui vẻ như thế.

Trời vừa mát, bộ đội hành quân. Đôi tân hôn đưa đơn vị ra mé đồng. Sáu Lức chạy nhào tới ôm tôi úp mặt vào vai khóc như mưa, nghẹn ngào, sụt sùi:

– Anh thương em như cha mẹ ruột.

Cả nhà cũng khóc theo. Tay đưa lên vẫy nhau.

Hai Khởi đi bên tôi thầm thì:

– Tôi không thấy ai như thầy, ra trận thương lính như ruột thịt.

Khởi có biết đâu lòng tôi ngổn ngang đau khổ vì cái chết của C phó Tư Ếch trong trận vừa qua. Tư Ếch là dân Phú Mỹ Hưng, ấp Bò Cạp, nhưng địa danh Bò Cạp không được nổi tiếng bằng Hố Bò. Hố Bò có một thời được Pháp gọi là mật khu của Việt Minh. (Thời đó Tô Ký chỉ huy vừng này cùng với Hai Búa, Ba Ngọt, nay cũng còn sống và đang ở trên R. Ba Ngọt tức thượng tá Nguyễn Chí Sinh vừa bị bắt sống ở Gò Vấp). Tư Ếch nhà rất nghèo. Đi du kích, tính nhát súng chớ không bạo dạn như Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử.

Khi cô bé Là làm xã đội phó thì Tư Ếch chưa vô du kích. Là có la hét lắm Ếch mới chịu đi họp. Nhưng về nhà rồi lặn luôn chớ không tích cực như Mã Tử và Đầu Ban. Mãi đến sau cuộc càn Cesar Fall, du kích không còn đất sống, Sáu Mã Tử và Năm Đầu Ban gia nhập bộ đội. Rồi Tư Ếch cũng lót tót đầu quân. Khi tôi về D Quyết Thắng thì Mã Tử và Đầu Ban đã được phong kên B trưởng, còn Tư Ếch còn là lính trơn.

Đơn vị qua nhiều phen biên chế bổ sung, Tư Ếch mới được lên A trưởng chỉ huy một tiểu đội du kích. Đánh Củ Chi lần trước về, tôi phong cho B phó. Thấy anh ta chậm chạp nhưng chắc chắn, trong tình thế gay go, lệnh đưa xuống, Tư Ếch đều thi hành đúng, tôi phong luôn C phó. Cán bộ thiếu quá, lấy ai chỉ huy? Thôi thì cũng có người cho mình sai khiến. Tư Ếch thích đi gần tôi để nghe tôi nói chuyện về thao tác pháo và đại liên. Ngoài ra y còn thỏ thẻ về việc muốn cưới con Út. Trước khi ra trận, y nói với tôi:

– Về chuyến này em tiến hành đó anh Hai !

– Ừ tiến thì tiến đi, tao làm chủ hôn cho.

– Cha mẹ em không còn.

– Tao làm đàng trai luôn.

Thằng nhỏ mừng rỡ cám ơn tôi rối rít. Bây giờ thì nó chết rồi. Thằng thanh niên xóm Bò Cạp, con Út đang chờ nó về. Nhưng nó không về được nữa.

Tôi đã làm đàng trai đứng ra cưới vợ cho mấy đứa rồi. Từ H5 đến D7. Cô Thu, cô Út, cô Lan… thằng Xướng chết sau khi cưới con Nền có hai tháng. Con Nền, con Chạch bị thương đang nằm trong võng dân công khiêng kia. Con Thu bị pháo bắn chết rồi. Đời sống trong chiến tranh mong manh quá, nên hễ thấy chỗ nào ướm là tôi đốc vô và giúp cho tiến hành. Để rồi như thằng Tư Ếch. Vì thế khi nghe thằng Lức tò vè con Nền thì tôi cũng cố ý cáp đôi. Nhưng con Nền góa chồng còn Lức là trai. Tội nghiệp nó, cho nên thấy con Mè được gái tôi mạnh dạn hỏi. Lương duyên trời định, Năm Hội đồng ý ngay. Còn có vẻ mừng. Tiền bạc, nữ trang có sẵn trong mình tôi đưa ra cho nó cưới vợ. Chỉ một tháng phù du rồi trở lại đơn vị, biết ra sao ngày sau? Que sera sera. Cuộc đời ở cái xứ Củ này!

Trời chiều mát mẻ. Chân lội xuống bùn nghe êm êm, tôi miên man nghĩ ngợi về cuộc chiến tranh tàn bạo này.

Đánh nhau đổ máu chỉ vì miếng ăn. Cái miền Nam trù phú này là mồi thu hút đám cá mập cá xà trong nước lẫn ngoài nước chớ là cái quái gì!

Bỗng Bảy Nê rủ rỉ bên tai tôi:

– Ai hồi trưa vậy anh Hai?

– Ai đâu?

– Cô đầu quăn mắt thòi lòi.

– Ờ, cộng tác viên của… cơ quan.

– Người ta xầm xì là vợ anh. Có phải thì khai ra đi cho các cô buồn!

– Em coi xứng với anh sao?

– Cổ chừng mười bảy, mười tám chớ gì?

– Em mấy?

– Hai mươi. Người Sài Gòn hả anh?… Bởi vậy anh đâu có ngó dân phèn này!

– Không phải vậy đâu em.

– Chớ gì nữa?

– Công tác lu bù thời giờ đâu mà lo cho vợ.

– Chớ mấy ông Năm Tiều, Tư Quân thì sao? Bất quá cho bả ra ấp chiến lược. Năm Tân còn cho vợ đi làm Đồng Dù.

Tôi chạnh nghĩ tới Hai Phái, Tư Nhựt. Hai Phái chưa vợ, chân trơn nằm xuống không để khổ cho ai. Còn Tư Nhựt vợ trẻ, con đỏ lói không biết mặt cha. Vợ y đau đớn đến phát điên. Những hình ảnh mẹ góa con côi: Cô Mười và bé Hoàn, Ba Lụa và bé Rớt, Năm Mai và bé Liên, Tư Thêm và bé Tiền v.v… tôi gặp trên đường gió bụi, đã làm tôi ngẩn ngơ. Chiến tranh đẻ ra đàn bà góa. Củ Chi này có lẽ đông đàn bà góa hơn bất cứ quận nào trên thế giới. Công Trường 5, E268, Q16, D7, E Thép… cứ một đợt lê dương đầu đỏ đi qua là có hàng trăm con gái xuất giá và rồi sau đó có hằng trăm mái tóc xanh chít khăn tang đau sầu, khóc hận.

Chiếc khăn rùng rợn lâm ly nhất đang phất phơ trên đầu vợ Tư Nhựt như tiếng gọi “hãy ngừng chém giết nhau” nhưng bọn nó đang vục mỏ vào máng đâu có nghe.

Bảy Nê lại hỏi:

– Sao anh không lo cho anh mà cứ lo cho người ta vậy anh Hai?

– Em kiếm giùm cho anh đi!

– Có nơi người ta thương anh lắm mà anh có thèm để ý đâu -Nê đấm vai tôi, mặt đỏ rần.

– Đâu nói tên coi !

– Dạ, để nghỉ quân kỳ này em sẽ nói, mà em nói anh đừng có… rầy em nghe.

– Rầy gì mà rầy?

Một loạt pháo nổ xa xa. Rồi một bầy cá nhái lao về phía này!

Chương 102

Buổi lễ cúng cô hồn

Phừng phừng phừng
Tỉ tì ti tỉ tỉ ti ti…
Eo ò eo… éo éo éo.

Ngôi quán của má Bảy chật ních những người. Đã lâu lắm người dân mới nghe tiếng đờn của văn công quận do Năm Phạm Sang chỉ huy.

Mấy năm nay toàn nghe sáo B52, “ắc-coọc” của Đồng Dù và “đờn cò Tây” Trung Hòa hợp xướng. Cho nên bất chấp nguy hiểm người dân kéo đến coi. Phạm Sang vì mê đờn, vợ bỏ vô Sài Gòn. Đúng ra y mê mấy cây “ghita” không dây, không phải mê đờn. Cho nên cuộc đời y đứt dây không nối được. Nhà văn công họ Phạm đã lập thành tích tặng cho cô em ca sĩ Tuyết Minh gì đó một bản kim tiền hay bình vắn bán dài cụp liệt. Vì nở bề ngang, cô em không lọt miệng địa đạo nên ở nhà rồi dông ra Sài Gòn tổng công kích luôn chớ không dám khai cho ông Phạm văn công.

– Xin giới thiệu với bà con anh Hoàng Mộng Thắm hiến một bản kim tiền mô tả trận đánh hạ tám xe tăng dưới sự chỉ huy của tiểu đoàn trưởng Hai Lôi.

Ca sĩ Thắm bước ra sân đất cúi đầu chào rất văn công nghiệp dư và cất giọng:

Mỹ vô đây Mỹ đành bỏ thây
Đem máu tươi toan nhuộm đất này
Một buổi sáng có đoàn xe tăng kẻo ra trùm Trí
Bỗng bất ngờ
Súng ta nở rộ
Chiếc đi đầu trúng đạn nổ tung
Mấy chiếc đi sau sợ hãi né ngang
B40 ào lên bắn phá nát tan…

Từng tưng tưng tưng…

Tiếng đàn tiếng ca họa nhau rất ăn nhịp làm người xem mê tít.

Dứt bản kim tiền, nghe tiếng chắc lưỡi hít hà lẫn trong tiếng vỗ tay hạn chế vì sợ đạn pháo đi không nghe.

– Ai đặt bài hát thiệt hay.

– Ờ, bản này của ông Năm Sang làm đó.

– Để chút nữa mình xin ông chép lời ca học chơi.

Một bác nông dân lên tiếng:

– Còn bài nào khác làm luôn đi chú Năm, kẻo chút nữa pháo bắn không làm được.

Má Bảy bước ra xua tay:

– Tui xin bớt bớt ba cái văn nghệ đi!

– Vậy bà mời Năm Sang đến đây làm gì?

– Chờ khuya khuya coi tình hình có êm hay không đã. Nếu êm tôi cho văn nghệ tới sáng.

Một người hỏi:

– Bữa nay bà làm gì mà rình rang vậy bà Bảy?

– Tui làm gì kệ tui, ai dự thì ở dự, ai không dự cứ đi về. Đừng có hỏi, tôi mệt lắm rồi, -bà quay lại Năm Sang- chú Năm cho hát thêm vài bài nữa đi rồi chú Năm ngưng nghe!

– Dạ bài hát còn nhiều nhưng chỉ sợ pháo bắn và trực thăng soi.

– Nó có soi thì soi ngoài sông Sài Gòn chớ trong này có ếch nhái gì mà soi. Bà con có nghe hát hay cũng đừng vỗ tay lớn, để lắng tai nghe pháo đề-pa.

Rồi bà quay vô nhà bảo hai đứa con gái của bà là Ba Cương và Tư Cưỡng khiêng con heo quay ra để trên mâm đem đặt trên bàn ở giữa sân lộ thiên. Con heo vàng rực, mắt nhắm hít, miệng há ra cười đời. Lại thêm cái đuôi nhỏ xíu cong lên như một chiếc cà rá to tướng.

Bà Năm Đang, bà Hai Xót, cô Tám Phụng đều có mặt trong nhà. Bà Năm là người cao cấp nhất trong vùng Củ Chi này mà cũng không ngăn cản được ý định cúng cô hồn bữa nay của má Bảy. Năm Đang thấy người đến càng đông không thể nào giữ trật tự được. Một viễn ảnh ăn pháo sẽ không tránh khỏi. Năm Đang bèn hỏi má Bảy:

– Sao không làm trong nhà cho kín đáo, má?

– Cúng âm hồn là phải ở ngoài sân.

– Sao vậy má?

– Là vì họ” không có ở trong nhà. Hồn oan vất vưởng bên ngoài, đậu trên chòm cây ngọn cỏ, nếu mình cúng ở trong nhà, “họ” đâu có thấy mà hướng được.

Năm Đang đã nói hết lời rằng đây là dị đoan mê tín không được cách mạng chấp nhận . Nhưng má không nghe.

Má nói:

– Đây là tục lệ ông bà để lại, cách mạng không chấp nhận thì cách mạng đừng dự, còn tôi, tôi phải làm để “họ” phò hộ cho trong nhà trong cửa tôi.

Hai Xót chức nhỏ nhưng lớn tuổi hơn Năm Đang. Thay vì đi theo đường lối của Năm Đang, Hai Xót lại chơi ngược lại, do đó má Bảy có chỗ dựa mà làm tới. Còn Tám Phụng thì thủ khẩu như bình, lại có lánh ham vui, thấy văn công tới khua đờn đánh trống thì dường như trái tim trẻ cũng rung rung, nên “ai sao em vậy!”

Má Bảy cưỡng lời Năm Đang nhưng cũng nể oai bà khu ủy nên tìm cách giải thích:

– Cô Năm à ! Mấy đêm trước tôi nằm chiêm bao thấy ba nó đi Sài Gòn “về” mình mẩy máu me, quần áo ướt dầm dề. Tôi hỏi sao mình về vậy? Ba nó nói ai cũng về hết thì tui ở làm gì? Đơn vị của tui có còn ai đâu mà ở. Ba nó biểu tôi phải làm việc vớt cho ba nó.

Năm Đang đã hạ lệnh bắt dân công từ 18 đơn 55 đi xuống đường, mụ thừa biết cái chết của ông già Bảy điếc lác nên làm bộ hỏi han:

– Vậy ra ảnh chết dưới nước sao?

– Ba nó nói vậy thì tôi nghe vậy chớ có ai biết chết ở đâu? Ba nó còn dặn dò là tôi không được gả con Cương cho ai. Ổng đã hứa với người ta rồi. Nói vậy rồi mở cửa sau đi mất chớ không có nói là hứa gả cho ai.

Má Bảy ngưng lại hồi lâu rồi tiếp:

– Ổng linh thiệt cô Năm à ! Ổng vừa nói ban tối thì chiều hôm sau người ta về tới cũng nói y như ổng.

– Ai vậy má? -Tám Phụng hỏi.

– Thằng Tư Bính với thằng Vàng. Tư Bính là tiểu đoàn phó còn ổng là dân công bị bắt làm quản lý tiểu đoàn. Tôi đoán chắc trong lúc đi xuống Sài Gòn hai bên đã hứa với nhau nên khi chết ổng về nói cho tôi rõ kẻo ổng thất hứa với người ta.

– Còn thằng Vàng?

– Ổng không có hứa với thằng Vàng. Nhưng thằng Vàng về chung một chuyến với Tư Bính, chuyện nó xảy ra như vậy chớ khi không mà bày đặt ra làm chi cho hao công tốn của. Cô Năm, cô Hai với cô Tám có biết đâu tôi phải bỏ hai ngày ra ấp chiến lược Cây Trâm để tìm rước cho được một ông đồng và một ông thầy pháp. Tiền bạc xong xuôi rồi, nhưng nghe tôi rước về trong này, hai ông không chịu đi. Tôi năn nỉ và xin đặt tiền tổ gấp ba nhưng cuối cùng chỉ có ông đồng chịu đi thôi. Cô Năm, cô Hai nghĩ thử coi họ làm ngặt mình vậy đó. Không có thầy quất khăn ấn thì làm sao đồng lên được? Nhưng ông thầy bảo ổng đưa cho ông đồng một lá bùa, vô trong đó chừng nào muốn “sai đồng đi” , thì uống lá bùa là ông “lên”. Ai muốn hỏi gì ổng cũng trả lời trúng hết. Thôi cũng được! Sau khi điều đình xong với ông đồng thì chợ quận bị tấn công, ổng lại cũng thụt luôn, không dám vô cái vùng đất thép này! Tôi phải trả thêm gấp hai rưỡi ổng mới chịu đi, nhưng ổng đòi nếu có chuyện gì xảy ra cho ông tôi phải chịu tiền thang thuốc.

Tôi đành nghe theo ổng cho được việc. Nhưng rồi phút chót ổng cũng không đi, chỉ bán rẻ cho tôi cái lá bùa.

Hai Xót nói:

– Cái thứ nghề không có pa-tăng đó đáng lẽ má phải đá cho nó một đá, chớ sao lại trọng vọng chiều chuộng vậy?

– Lúc cần thì phải chịu ẹp chớ sao, cô Hai!

Năm Đang hỏi tới:

– Như vậy là chỉ có “đồng” chớ không có thầy bà gì hết. Vậy ai đọc thần chú quất khăn ấn cho nó lên?

Má Bảy nói:

– Tôi đã đưa lá bùa cho một người. Chút nữa họ sẽ uống và lên như “đồng”.

Năm Đang hỏi:

– Ông đó ở đâu rồi cho tôi gặp chút được không?

– Dạ, ổng đang “tịnh” ở dưới hầm. Dạ, chi vậy cô Năm?

– Để tôi phổ biến chủ trương chánh sách về mê tín dị đoan.

– Thôi thôi cô ơi ! Chuyện đó để khi khác! Còn bữa nay xin tha cho để tôi cúng ba cái vong hồn cho xong đặng gả con tôi. Nhà hai ba đứa tồng ngồng mà chưa có chồng mấy ổng tới tới lui lui có ngày tụi nó thành cá nóc mít hết!

Hai Xót biết điều hơn, can gián:

– Thôi chị Năm để khi khác, chánh sách còn đó chớ có thiu thúi gì mà lo. Để sau bữa cúng rồi chị phổ cũng được.

Năm Đang thấy cũng có lý nhưng còn kêu lập trường:

– Đây là lần cuối cùng, khu giải phóng không chấp nhận lần thứ hai.

– Dạ ngàn năm ngàn “thở” ủa ngàn năm “một thở” đó cô Năm !

Ở ngoài sân tiếng đờn kìm reo lẳng tẳng, tiếng ắc-coọc nổi lên phừng phực. Giọng lại cái của ông trưởng đoàn văn công eo éo như giọng bà bóng.

– Chúng tôi xin hiến cho quý đồng bào một bài gọi là “Bài ca may áo “ của nhạc sĩ trên Rờ.

– Hoan hô. Bép, bép… bép!

Nữ diễn viên Út Huệ bước ra chào và hát theo tiếng phụ họa của cây ắc-coóc.

Chiến sĩ ta dầm mưa giãi nắng
Rét run người nắng cháy mồ hôi.

– Xin mời bà con vỗ tay cho ăn nhịp.

– Tui lạy các ông con nít, pháo nổ đề-pa không có chui hầm kịp đó !

Nhưng bài này không được khán giả chú ý bằng bài kim tiền hồi nãy. Không phải vì bài hát dở và người hát không hay mà vì trên bộ ván ở giữa sân, ông đồng đã xuất hiện và bất đầu “hự hự”. Cái đầu trùm khăn đỏ lắc lia như tàu hủ dừa quay trong cơn gió lớn. Con heo quay vểnh tay và nhe răng trắng hớn cười.

Há há… há, ông đồng phá lệ cười nghe rởn tóc gáy. Ông ta xếp bằng tréo hai chân vào nhau mà nhảy cà tưng đít bật lên khỏi mặt ván cả tấc tây, rồi rơi xuống làm bộ ván kêu rầm rầm.

– Ta là Vương Thuyền lão tổ giáng thế. Ai muốn ta mách bảo điều gì thì hỏi mau lên để ta thăng.

Tâm lý người chủ nhà nào rước thầy pháp tới nhà cũng muốn cho đồng linh, thầy già tay ấn. Má Bảy bước ra đứng bên mép ván, với tay lấy bình trà rót một tách mặt trước mặt ông đồng và nói:

– Xin mời lão tổ uống miếng nước rồi đệ tử xin hỏi.

Một người đưa tách nước lên trút vào miệng lão tổ qua lớp vải đỏ trùm mặt.

Má Bảy hỏi:

– Tôi muốn biết ba sắp nhỏ nằm ở đâu?

Bỗng nhiên ông đồng đổi giọng khàn khàn:

– Má con Cương hả? Tui nè bà ! Tui đang lội trên sông Sài Gòn, mặt úp xuống, ngộp quá muốn ngóc lên mà không được. Lạnh quá, muốn lên bờ mà leo không nổi vì chân trái gãy rồi. -Nói một dây, rồi ông đồng giơ tay ra- Bà cầm tay tôi coi: Tay mặt văng mất rồi!

Má Bảy òa lên khóc. Hồi lâu đồng nói:

– Bà vớt tôi lên mau mau kẻo lạnh quá ! -Đồng khua hai hàm răng lọc cọc và tiếp – Bà ra ấp chiến lược mà ở. Bán trâu và bỏ ruộng đi. Đừng gieo mạ nữa.

Thấy ngộ nghĩnh Hai Xót liền hỏi:

Thấy ngộ nghĩnh Hai Xót liền hỏi:

– Ba con Cương. ông có gặp anh Hai Phái với Tư Nhựt không?

– Có có gặp hết! Đông lắm. Dân Củ Chi, dân tứ xứ đều nằm dày đặc mương Cau. -Đồng ngưng một giây. Bỗng giơ tay lên- Chào đại tướng, tôi là E trưởng mũi nhọn báo cáo chờ lệnh đại tướng. Các đồng chí chuẩn bị hành quân.

Rồi đồng đứng phắt dậy chân đi hai hàng loanh quanh trên vai và hét: Mục tiêu A, toàn đơn vị tấn công. Ha ha ha. “Đảng viên cộng sản tiến lên”. Rồi ngã quật xuống tay ôm ngực, thở hồng hộc như trâu cắt cổ.

Một người nói:

– Ông Hai Phái về đó.

– Sao biết?

– Lính chạy về nói lại ổng chạy qua đường xe lửa hô như vậy đó. Rồi ngã gục, rên rỉ.

– Hai Phái chớ ai ? Hai Phái là chánh ủy E mũi nhọn mà !

Hai Xót lại hỏi:

– Còn Tư Nhựt đâu?

Ông đồng đang rên bỗng bật dậy, quẫy quẫy cái đầu rồi nói giọng hụt hơi đứt quãng.

– Má con Thơ ơi! Anh không còn gặp em trên cõi đời nữa. Em đi tìm anh Hai Lôi nhờ ảnh giúp cho.

– Hiện anh nằm ở đâu, nói cho em biết để em đem anh về.

– Trong hầm chỉ huy, chung với Tám Lệ. Hai hàm răng anh bay hết, nói không ra tiếng.

Bỗng từ đám đông một cái bóng nhô lên rồi một giọng đàn bà ré to:

– Anh Tư! Anh Tư, em là vợ anh đây nè.

Mọi người quay lại nhìn. Thì ra là vợ Tư Nhựt. Nàng lẫn vào đám khán giả xem văn công lúc nào không ai hay. Nàng bế con đến bên mép ván, chìa ra:

– Con anh đây. Con anh đây! Thơ, cho ba bồng đi con. – Con bé sợ hãi khóc thét lên.

Đồng giơ tay ra đỡ lấy. Nhưng rút lại rên rỉ:

– Đạn bắn bể ngực anh. Coi chừng dính máu. Mặt anh đã lõm nề không thấy sao?

– Em tìm gặp được Hai Lôi có một lần.

– Hai Lôi là người bạn tốt. Ảnh dồn công ảnh cho anh nên anh mới được danh hiệu anh hùng. Rụ rụ rụ, thôi để tôi cho xe chạy kẻo trễ. Bí bo bí bo…

Một tiếng xầm xì:

– Rõ ràng là Tư Nhựt về. Ông ta lái xe đò đường Hốc Môn Tây Ninh, ảnh bóp kèn đó chớ ai!

– Nhưng Hai Lôi đã hy sinh rồi. -ông đồng nói.

Mọi người ngơ ngác nhìn nhau.

Năm Đang hỏi:

– Trận nào?

– Trận đánh vô quận kỳ rồi. Hy sinh trên đường rút lui.

– Chắc không? -Năm Đang rót rượu và hỏi tiếp.

– Cho ta “hồ” ba cống liền rồi ta nói cho nghe.

Năm Đang run tay nhưng cố cho đồng “hồ” ba ly đã. Đồng quệt môi và cười hắc hắc.

– Rượu này mua của Chín Khuôn có bỏ vôi uống nhức đầu quá ! Cho ta điếu Cá Tanh ta hút cho thơm râu ta mới nói. Cá Tanh chớ thuốc ta không hút!

Năm Đang quay ra:

– Ai có thuốc Cáp-tăng cho xin một điếu mời Hai Lôi, coi bà con !

– Đúng là Hai Lôi rồi đó. Đánh Củ Chi xong các đơn vị đều rút về đây đầy đủ. Riêng ông bảy ngày rồi chưa về.

– Ông nằm ở đâu? -Năm Đang lấy điếu thuốc đốt sẵn của ai cho, cắm vào mồm đồng.

Đồng rít mấy hơi rồi đáp:

– Trên bờ không phải trên bờ, dưới sông không phải dưới sông.

– Gần đây hay xa?

– Ba ngày! -Đồng xòe tay, nói.- Thôi ta thăng! ta thăng!

Đồng bật ngửa ra, thở phì một hơi dài. Không ai kịp hỏi thêm Hai Lôi nằm ở đâu.

Con Thanh và thằng Gàu đem công văn hỏa tốc cho quận đội, trên đường về gặp văn công tấp vào xem. Nghe nói Hai Lôi hy sinh chạy bay về đập cửa:

– Chú Năm ơi ? Chú Năm !

– Cái gì mà làm như giặc tới vậy?

– Hai Lôi hy sinh rồi.

– Ở đâu?

– Không biết ở đâu?

– Ai nói?

– Cô hồn về nói.

Thằng Gàu thuật tỉ mỉ lại câu chuyện lên đồng ở sân nhà má Bảy cho Năm Tiều nghe. Năm Tiều bảo:

– Có chánh quyền ở đó không?

– Có cả khu ủy, quận ủy đủ hết.

– Không ai nói gì sao?

– Mấy bả rót rượu, rót trà mời ông đồng uống, còn bảo nói gì?

Năm Tiều lầu bầu:

– Mấy ông an ninh xã ở đâu mà để cho đồng bóng làm rình rang vậy?

Con Thanh nói:

– Có cả thím Tư Nhựt nữa chú à !

– Con điên đi đâu đó?

– Hổng biết thím tới hồi nào mà ngồi lẫn trong đám đông. Đến chừng chú Tư Nhựt về, thím mới bồng con ra đưa cho chú. Chú nói chú bị thương bể ngực bể hàm sợ làm máu dính con nhỏ nên chú rút tay lại. Còn ông Hai Phái nói giọng khao khao giống y lúc ở nhà, không khác một chút!

– Thằng “đồng” ở đâu bây biết không?

– Dạ nó bịt mặt bằng vải đỏ, mặc áo chim cò lòi lưng quần đai đen. Nhưng lúc nó ra gần mép ván có người nghi là vì thấy cặp chưn cong cong vòng kiềng quen quen.

– Tụi bây không nhận ra ai sao?

– Dạ không vì nó không nói giọng thiệt mà lúc thì nói giống Hai Phái, lúc nói giống như Tư Nhựt. Đặc biệt anh Hai về, đòi cáp-tăng và uống rượu biết là của chú Chín Khuôn có bỏ vôi uống nhức đầu. Thì đúng ảnh rồi chớ còn ai nữa?

Năm Tiều ngẩn người ra một lúc, rồi chép miệng mà không nói gì. Hồi lâu mới vỗ đùi kêu:

– Mà cũng lạ, sao năm, bảy ngày rồi nó đi biệt không về? Có nghiên cứu mặt trận mới thì cũng phải báo cáo cho tao biết chớ, tại sao lại lạc một cánh quân với nó? Đụ bà ! Ba thằng đồng bóng nhảy cóc nhảy nhái gặp tao, tao thộp đầu nhốt chớ rót rượu mời.

Rồi đứng dậy khoác súng nai nịt, nói cứng:

– Nó đang ngủ bên nhà con Thêm kia chớ đâu!

Năm Tiều bước ra. Thằng Gàu chạy theo. Con Thanh càng sốt ruột cũng không ở nhà được. Qua nhà Tư Thêm, Năm Tiều ngó vào thấy có bộ ba bà táo đang lụm cụm làm gì trong bếp! À họ đang làm gà làm vịt. Chi vậy? Năm Tiêu đập cửa.

– Chị Hai, cô Năm, cô Tám.

– Ai đó.

– Tui.

Năm Tiều vừa ló đầu vô, Năm Đang đã bước tới rỉ tai. Năm Tiều gạt phắt:

– Khu ủy mà đi tin ba thằng thầy pháp. Bộ tính bán lúa giống không làm ruộng nữa hả chị?

– Nó nói y như thiệt anh Năm ơi ! Cho nên tụi tui mần vịt cúng ảnh nè!

– Mấy tháng nói láo đều phải giữ vẻ nghiêm trang thì người ta mới tin chớ.

Tư Thêm ló đầu xuống bếp, mặt mày xanh dờn:

– Anh Hai cháu đâu rồi chú Năm?

– Mày giữ nó mà đi hỏi tao.

– Sao các C về đủ hết, ảnh không về?

– Nó ở trong hầm mày á !

– Không có đâu chú Năm. Cháu đang mong ảnh đây nè.

Năm Đang nói:

– Tụi tôi nấu cháo cúng ảnh đây.

– Mai thì mở cửa mả. Nhưng ngặt không biết nó nằm ở đâu!

Năm Tiều ngớ ra.

– Cái thằng này! Lạ quá?

Năm Đang nói:

– Ảnh “về” đòi thuốc cáp tăng rõ ràng anh Năm ơi ? Tụi tôi bán tín bán nghi! Có cả ban văn nghệ của thằng Năm Sang ở đó thấy nữa chớ phải mình tôi sao. Trời, phải anh thấy cái cảnh “vợ chồng” Tư Nhựt gặp lại nhau coi, thiệt là cầm nước mắt không được. Con bé nó biết ba nó nên nó không khóc tiếng nào hết! -Bà khu ủy biết đẩy cây thoa mỡ bò.

Năm Tiều hơi run trong bụng nhưng vẫn nói cứng:

– Tôi bảo đảm là thằng Lôi về tới đây nội ngày mai. Đừng có cúng quải gì xui cho nó. Khu này còn một mình nó như con heo nái đó nó ngủm thì không có ai thay.

Bỗng có tiếng chân xen lẫn tiếng bi đông khua bên ngoài. Năm Tiêu vừa nói vừa bước nhanh mở cửa rồi đi luôn.

Một chút trở vô ngồi bình tĩnh. Rồi bảo:

– Cúng thằng Lôi thì cúng đi! Nó chết hai ba ngày rồi, chắc ở dưới nó đang đói lắm.

Ba bà cán gáo, với cô chủ nhà hối hả kẻ đem nguyên con vịt để lên bàn thờ, người đốt nhang đỏ rực khói tỏa mịt mù thiên địa. Bà Năm Đang thì rửa ba cái ly đóng bụi rồi rót rượu.

Năm Tiều nghiêm nghị:

– Cô Năm mua rượu nào, coi chừng rượu Chín Khuôn nó chê đó!

– Anh lại đây coi, tôi không rành!

– Thôi được, rượu nào cũng rượu, ăn thua ở tấm lòng thành. Chị vái mau mau đi để nó chớ lâu nó giận, nó bỏ đi không trở lại đó.

Nghe Năm Tiều nói, người này đùn người kia, không ai chịu đứng lên bàn thờ. Năm Tiều bèn đưa ra nguyên tắc: ai có quan hệ mật thiết với nó thì vái trước. Người này lại ngó người kia. Năm Đang đổ cho Tám Phụng:

– Em thân với ảnh nhiều nhất vậy em vái trước đi!

– Em chỉ liên hệ công tác, mà lần nào cũng có cô Hai, cô Năm đi kèm. Có cô Năm mới chỉ đạo công tác cho ảnh nhiều.

Hai Xót tự nhiên đứng ngoài vòng lên tiếng cứu bồ :

– Ở đây không ai quan hệ mật thiết với anh Hai bằng ông tham mưu cả . Ngày đêm không rời, đánh trận nào cũng có nhau. Vậy ông tham mưu thay mặt cả quân dân chánh là toàn vẹn cả.

Ba bà cán thấy có lý bèn tổng tấn công Năm Tiều. Ngài tham mưu bị ba bà cán cả vú lấp miệng em, không chối cãi được bèn bước lại bàn thờ đốt nhang xá xá, cái miệng méo xẹo, cặp mắt liếc con vịt ngoẹo cổ le lưỡi như đáp lời.

– Lôi ơi là Lôi ! Mày đi đâu bỏ vợ bé con thơ, bỏ anh em đồng đội như rắn trun hai đầu, biết xài đầu nào bây giờ… Hi hi… nửa khóc nửa cười.

Tư Thêm ở trong hầm bước ra, mắt đỏ chạch mếu máo:

– Để em vái cho chú Năm.

– Ờ phải, má con Tiền vái thằng Lôi mới chứng.

– Anh Hai ơi ? -Tiếng kêu của người thiếu phụ nức nở tự tâm can.- Anh bỏ Củ Chi mà đi đâu? Mẹ con em từ nay hết ngóng chờ mong đợi. Anh đi sao không kịp nói với mẹ con em lời nào! -Rồi òa lên khóc.

Cả ba bà cán mắt đỏ hoe, hít mũi sụt sịt. Chỉ mình Năm Tiều che miệng cười ruồi. Bỗng nghe tiếng vỗ vách nhè nhẹ.

Năm Tiều bảo:

– Thằng Lôi về đó. Má con Tiền vái linh thật. Coi kìa, cọng nhang rung rung, khói nhanh xoáy cuộn thấy chưa?

Năm Tiều dứt tiếng thì có tiếng eo éo lọt qua kẽ ván:

– Các đồng… đồng… chí ơi! Hai Lôi bị pháo bắn hụt nằm phơi bụng giữa đồng.

Năm Tiều lên giọng làm oai:

– Đồng nào mày phải nói cho rõ nghe Lôi!

– Đồng Dù chớ đồng nào mà hỏi. Hé hé hé .

Tiếng cười dội vào nghe rởn ốc.

– Sao mày đánh Củ Chi mà lọt vô Đồng Dù?

– Rót rượu đi, làm sơ sơ ba hột rồi em sẽ tường thuật cho anh Năm nghe.

Năm Tiều bảo:

– Các bà rót đi? Tôi rót nó không uống đâu.

Ba bà cán đứng im như đá . Bà nào bà nấy mặt xanh như chàm. Năm Tiều quay ra ngoài quát:

– Mày có linh như Tư Nhựt, Hai Phái thì vô đây coi ! – Nói rồi bước lại mở cửa hé hé.

Rồi quay lại các bà:

– Má con Tiền vái, nó về đó.

Vừa dứt tiếng, cánh cửa rung rung rồi mở bét ra. Một cái áo blouson vụt hiện trong khung cửa.

Ba bà cán kêu rú lên rồi lủi dưới đít bàn thờ. Chỉ một mình má con Tiền đứng nhìn trân trân rồi kêu lên:

– Anh Hai? Anh Hai. -Và ngất xỉu, tay ôm gốc cột, gục đầu.

Năm Tiều cười ha hả, trong lúc con Tiền kêu to:

– Anh Tiễn, anh Đá, cậu Hai về kìa má ơi!

Tiếng của đứa bé làm mọi người thức tỉnh, Năm Tiều tiếp:

– Nói gạt các bà chơi chớ nó chẳng có sứt miếng da nào.

– Chú Năm làm cháu sợ muốn rụng tim.

– Rụng thì lượm lên gắn lại đi. Mỗi người hun nó một cái coi nà ! Ở trên R, bà Phùng Văn Cung ôm nó hun chùn chụt đó !

Tôi và thằng Đá, thằng Tiễn đứng tần ngần giữa nhà. Năm Tiều hất hàm:

– Ê Lôi! Mày ở dưới Diêm Vương mới về hả? Có gặp bồ nhà nhiều không?

– Cái gì kỳ vậy chú Năm? -Tôi làm bộ ngơ ngác hỏi.

Năm Tiều trỏ nồi cháo bốc hơi ngùn ngút trên bàn:

– Người ta mần vịt cúng mày đó ! Định ngày mai mở cửa mả cho mày. Nhưng ngặt không biết cái mả ở đâu .

Tám Phụng không nén được niềm vui:

– Tránh khỏi đám ma thì mai đi đám cưới anh Hai à !

– Đám cưới anh Hai với ai? -Tôi hỏi.

– Không, em nói mời anh Hai đi đám cưới người ta.

– Người nào?

– Ông Tư Bính với thằng Vàng. Hai người cưới một lượt hai chị em.

– Ba Cương, Tư Cưỡng chớ gì !

– Sao anh biết giỏi vậy?

– Mà có đúng không chớ?

– Đúng. ông Tư Bính đi Sài Gòn về với thằng Vàng ghé nhà má Bảy mấy bữa này. Rồi hồi tối này đồng lên, ông già về nói đã hứa gả hai cô ấy cho hai người đó rồi!

Năm Tiều hất hàm với tôi:

– Còn mày cũng nên tính đi chớ, có để cám treo heo nhịn đói hoài sao?

Ba người Năm Đang, Tám Phụng, Tư Thêm đều nhìn tôi mỗi người một cách.

Hai Xót biết mình “ho-giơ” nên buông một câu lơ lửng, nhưng có ý ngầm:

– Con vịt chặt ra, mỗi người một miếng cũng ngon rồi !

– Còn cặp chân có một cái, tôi một cái gặm, chị một cái cạp, hổng bổ ruột gan thì cũng bổ chưn cảng. Ngày mai nó có chụp, mình chạy đua với trực thăng dư sức đó chị Hai.

Năm Đang chêm vô:

– Răng anh Năm hơi yếu gặm dò không nổi đâu, ảnh thích cạp sầu riêng của chị hè.

– Sầu riêng của chị Hai bị ông Mắt Toét cạp hết rồi, còn xơ cứng thôi! -Năm Tiều trả đũa.

Hai Xót trừng mắt:

– Anh lúc nào cũng thò cái cù nèo ra làm cho người ta “hốt hền”.

– Cái cù nèo của tôi nó hiền lấm chị Hai à . Nó không có đụ. ung ai đâu!

Ngồi vào bàn, Hai Xót và Năm Đang cứ cằn nhằn. Năm Đang nói:

– Anh Năm chơi ác thật. Làm chị em tôi tốn nước mắt vô lý vậy đó!

Năm Tiều cười hà hà:

– Lúc nãy tôi ra cửa, gặp ba thầy trò nó vừa tới. Không hiểu sao tôi nảy ra ý định gạt cho mấy bà rơi “nệ” cho vui. Hề hề ! Tết này anh em mình “hui” nhiều quá nên tôi buồn, tôi hay sanh “chiện”.

Hai Xót nguýt:

– “Chiện” gì không sanh lại sanh ra “chiện” đó. Rủi mai mốt có thiệt thì tại cái miệng ăn “ba cái đồ”…

Năm Tiều trợn mắt:

– Đồ gì?.

– Đồ hộp Mỹ chớ đồ gì?

Năm Tiều vừa nhai xương rau ráu vừa nổ như pháo tre.

– Các bà trách thăng Lôi không trách, lại trách cái ông Năm Tiều. Lôi! Tại sao mày oánh Củ Chi xong, người ta về hết, còn mày chui cái lỗ mô? Mày phải bá cáo cho rõ ràng để mấy bả kiểm thảo cái cù nèo tao đa!

Tôi cười:

– Tôi rút sau cùng! Chờ đem thương binh ra hết thì xe tăng tới cắt đường không rút theo kế hoạch được. Túng thế quá tôi phải liều băng đồng chạy về phía Mỹ Hạnh.

Năm Tiều nói:

– Mày dám đâm đầu vô ổ kiến lửa hay sao?

– Đồng bào ở đó tốt lắm chú. -Tôi kể lại việc cưới vợ cho Sáu Lực và tiếp- Trong hoàn cảnh nguy nan phải biến thế. Chớ nếu mở đường máu thì bị xe tăng nó quét sạch hết rồi chú à. Tám chiếc nó đan lưới lửa, một con kiến cũng không lọt.

– Thôi, lết được về đây, cái cù nèo không sứt mỏ là được rồi. Cụng cái cho ngọt coi! -Năm Tiều tiếp- Tao cho thằng Gàu đi hỏi Bảy Ga và Tư Quân. Tụi nó cũng lấy làm lạ không biết mày chui hang nào! Tụi nó cho trinh sát đi tìm khắp cũng không thấy dấu.

Năm Đang thuật lại vụ lên đồng và phàn nàn về ba ông lính đi Sài Gòn về:

– Ông nào cũng đeo đồng hồ cà cáo đỏ tay. Vô quán ăn xong ký tên kêu quân nhu thanh toán. Nhưng cũng có nhiều tốp mua đứt cả các quán, nhậu xong ném sợi dây chuyền vàng thay tiền .

– Cá biệt thôi chị Năm ơi!

– Còn cái vụ này mới lạ chớ! ông nào cũng cưới vợ.

Rồi Năm Đang kể luôn vụ thằng Bính, thằng Vàng cưới hai chị em, vụ Tư Nhựt, Hai Phái về . Vợ Tư Nhựt đem con cho chồng bồng. Không biết má Bảy đi rước ở đâu được một ông đồng về ngồi ngất ngưỡng giữa quần chúng nói chuyện Sài Gòn đúng y trân. Lối xóm bu đen, dỏng tai nghe còn hơn bài của bà Nhã Nam trên đài Giải Phóng. Mình tuyên truyền một năm, nó nói lại một câu là bể hết. (Thì tại cái đài của mình là đài “giải phét!” Tôi nghĩ thầm. Nói phét một lần người ta còn tin. Chớ nói mãi người ta biết, ai tin nữa!)

Năm Tiều ngồi gục gặc đầu bỗng ngóc lên phản đối:

– Quân đội chỉ đánh giặc còn ba cái vụ đồng bóng ném về dân vận do mấy bà lo. Tụi nó phản tuyên truyền thì mấy bà phải phản lại, chớ nói với tôi làm gì. Nếu muốn thộp cổ chúng nó thì kêu công an xã tới là xong. Tui cho mượn “cun” nè.

Năm Đang tỉnh ngộ bảo đám liên lạc:

– Tụi bây lại đẳng coi đám cúng còn đông không? Về đây báo cáo.

Con Thanh nói:

– Mấy ông văn công còn đó chớ đâu. Ông đồng cũng còn uống rượu cà gục cà gục cái đầu.

– Hồi nãy thằng Gàu nói thấy cặp giò cong cong phải không Gàu?

– Dạ phải cô Năm!

Tôi không im lặng được nữa, nói với Năm Đang:

– Đồng chân lư chớ đồng nào! Chị cho tụi con nít tới lột khăn đỏ ra. Nếu không phải thằng Bính về đây tôi xin dâng đầu.

Năm Tiều cười khè khè:

– Đầu mà đầu… nào mậy?

Chương 103

Bức thư viết từ Củ Chi chưa tắt lửa

Anh thương mến, Em nhớ anh quá mà không gặp được nên đành phải viết thư. Mà viết rồi làm sao gởi? Nhưng kệ, em cứ viết ra cho đỡ buồn, chớ để trong bụng hoài không chịu nổi. Chắc nhớ anh mà chết quá anh ơi, cầm viết rồi không biết viết cái gì. Thôi để em nói chuyện xuống thăm ba má dưới Nhà Bè cho anh nghe. Anh đừng rầy nghen. Em đi không có hỏi anh. Xuống dưới đó em tìm được nhà liền. Vì lần má tới anh có nói rõ. Bây giờ trông thấy là biết liền. Ngôi nhà ngói xưa ba căn hai chái ở trước sân có trồng kiểng hai bên là bờ cau và dừa.

Em cỡi xe Honda vô tới sân dừng lại thấy má đang lui cui trong nhà. Em chạy ào vô kêu “Má! má! con nè!” Có lẽ nhìn cái đầu quăn dớn của em má không biết ai nên má chứ nhìn. Em chạy tới ôm má và nói: Con là vợ anh… Hai nè má. Má vẫn còn ngạc nhiên nhìn em. Em nhắc lại hồi trước má vô với gia đình, má mới nhớ ra.

Em không biết nói gì. Má có vẻ sợ sệt nên em cũng không biết nói gì. Chỉ hỏi ba con đâu má ? Má nói. Ba mày đi Sàigòn thăm bà con. Chỉ hai tiếng “Ba mày” thốt ra từ miệng má cũng đủ làm cho em sung sướng vô cùng. Như vậy coi như má đã nhận em vào gia đình rồi. Em ngồi không yên mà đứng coi bộ cũng không yên. Ngó lên bàn thờ em thấy mấy tấm hình, em hỏi hình ai vậy má. Má nói hình ông nội bà nội của con đó. Nghe má nói “của con ” đó, em muôn ôm hun má quá chừng. Em biết má sợ nên không ở lâu. Em ra sân đẩy xe đi, quay lại nhìn thấy má đứng ở bệ cửa ngó theo, chắc má muốn nói gì với em hoặc nhắn gì với anh nhưng vì sợ sệt hay vì em đi quá đột ngột mà má không kịp nói.

Bây giờ ngồi viết thư cho anh, em vẫn còn trông thấy má đứng nhìn theo.

Mẹ già tựa cửa trông con
đôi mắt mỏi mòn.

Không biết ai làm bài hát, em còn nhớ hai câu đó. Chắc má nhớ anh lắm phải không anh. Anh xa nhà từ hồi còn nhỏ tới nay vẫn chưa về được, nên quên hết.

Anh à, anh có biết Bốn M thợ may bị bắt rồi không? Tiệm may của ảnh nay tan tành. Trước đây thỉnh thoảng chú Sáu có sai em xuống đó nên em quen với chị. Nay đi ngang thấy bảng hiệu không còn, em chỉ phóng xe ngang liếc nhanh chớ không dám ngó kỹ nữa. lớ quớ bị bắt là hết gặp anh. Sàigòn lúc này xét người ngặt lắm.

Về đến Củ Chi em vẫn còn thấy má đứng ở bệ cửa mắt ngó theo em. Đôi mắt mỏi mòn đó sẽ không bao giờ rời khỏi em. Không hiểu sao em ném chiếc xe. vào buồng nằm vật xuống giường khóc như thuở nọ bị má đánh đòn.

Khi tỉnh dậy em mới tiếc. Sao không ở lại chơi lâu chút nữa? Mà lại đi sớm vậy. Thật ra em cũng ngượng. Chưa đám cưới mà đòi làm dâu. Em cười một mình. Con nhỏ này liều mạng thật. Không liều mạng mà dám chở anh qua bót kỳ đó.

Bây giờ để em nói chuyện đánh quận cho anh nghe. Kỳ này thiệt buồn cười, không ngờ mấy ổng lại phá cửa nhà em. Bộ không biết nhà con nhỏ Bàu Chứa này sao? . . . Em ngủ một giấc thì nghe súng nổ ì ầm bên dinh quận rồi lửa cháy sáng trước cửa nhà em. Nghe tiếng chân chạy thình thịch rồi tiếng toa phóng thanh. Em nghĩ thầm trong bụng chắc anh lại về. Em với má vội vàng xuống hầm dưới bộ ván ở sau bếp. Lửa cháy lan dãy phố lá bên kia chợ. May quá, nếu họ đốt dãy bên này thì nhà em đâu còn. Có lẽ em cũng thành heo quay rồi.

Em yên chí là lửa không cháy nhà em, nhưng họ lại đập cửa vào. Má em run quá. Em nghĩ bụng không lẽ quân ta lại đánh quân mình? Em bèn vọt lên đê ra nói chuyện với họ. Nhưng má níu chân em lại. Má vọt lên. Có tiếng quát nạt: “Nhà này chưa đóng thuế cho mặt trận. Bây giờ phải đóng luôn mấy năm!” Má em nói: nhà tôi bán vải kiếm sống đâu có tiền đóng cho Quốc Gia và cho mặt trận nữa. – Một triệu! Nè, biên lai cầm lấy. Má em đang năn nỉ thì mấy người trai lẫn gái ùa vô ôm mấy cây vải, lụa của má em để trên bàn nhà trước. Em đã bò lên đứng ở cửa bếp là nhờ ánh đèn pin của mấy ổng nên thấy hết. Họ lấy vải thật chớ hổng phải họ nói chơi anh à. Má em khóc – Khóc cái gì? Một người quay lại nạt rồi vẫy tay cho mấy người kia vác hết mấy chục khúc vải.

Nhưng hình như họ không nghe tiếng khóc của bà già. Họ lấy hết vải vóc rồi đi… Em bước ra cửa nhìn theo, nghe họ la hét chạy tới chạy lui nhộn nhạo ở dãy phố bên kia. Con bò đâu? – Lạc đạn chết rồi. – Tụi bây kéo xe lại tiệm thuốc tây, tiệm thợ bạc, mau đi! Em nghe tiếng họ ngoài đường. Em mong gặp người quen để đòi vải lại, nhưng không gặp ai hết. Hai ba chiếc xe bò và người kéo chất đồ vun cơi, đi qua trước nhà em.

Thôi, kể nhiều càng làm cho anh đau lòng. Mấy bữa rày dân buôn xôn xao lắm. Có người lần trước mất của, lần này cháy nhà, nên đã dọn đi lên Trảng Bàng hoặc xuống Sàigòn. Họ bảo nhau đất Củ Chi này mần ăn không khá, năm nào cũng có tai nạn. Má em rầu lắm! Má bàn với dì Tư em (má con Chia) đi chỗ khác mần ăn, nhưng con Chia không chịu đi, không biết vì bên chồng nó ở đây hay gì gì khác. Em ít gặp nó lắm.

Bây giờ để em nói chuyện vòng vo cho anh nghe.

Anh không ngờ là chị… là người quen của em. Chỉ… chớ ai! Anh không biết mấy vụ F… đánh X… rồi không đem xác ra được, người sống phải chui vào hầm để qua trạm gác Hóc Môn. Bữa nào em sẽ kể cho anh nghe rành. Chị M bịnh về nằm sau vựa lúa ông già Râu bên An Phú! Chú Sáu bảo em đem thuốc cho chỉ chớ đâu. Chỉ khóc với em hết. Anh biết chỉ khóc gì không ? Em cũng không ngờ em quen với ba cô tiểu thư Hằng, Nga và Trúc Mai nữa. Các cô ấy muốn đi giải phóng vì có “người yêu” làm lớn trong khu. Anh biết ai không? Đố anh đấy.

Còn một người nữa, chị Sáu. Cũng mới quen nhưng chỉ hứa sẽ liên lạc với ai đó thường xuyên. Chỉ mồ côi, ở với người dì mắt yếu, nên chỉ buồn xách xe đi chơi cùng khắp. Anh giấu em nhưng em biết hết.

Anh yêu,

Hiện nay chắc em đã bị lộ. Kỳ này lên Sàigòn qua bót Hóc Môn, có tên lính chọc ghẹo, nó vuốt tóc em làm rơi cái bộ tóc giả. Em phải lẻo mép cãi lý này, viện lẽ nọ mới thoát được. Bây giờ chú Sáu không giao công tác cho em nữa. Em phải ở nhà bán vải với má em. Được, tốt thôi. Em cũng đang muốn có thì giờ để xuống thăm má.

Em của anh, mãi mãi yêu anh.

Sau trận đánh dinh quận mấy hôm, Sáu Huỳnh cho mời tôi đến văn phòng Năm Tiều và đưa cho tôi bức thư này trước khi Năm Tiều truyền lệnh mới. Đọc xong lá thư dài lốm đốm những giọt nước mất, tôi buồn vô tận, lên võng nằm hút thuốc liên miên nhìn khói tản mác buồn tênh như cuộc đời mình.

Tôi không ngờ con bé lại táo bạo, xông xáo và biết nhiều chuyện mà tôi cho là không ai biết ngoài kẻ trong cuộc. Ba năm trước, lúc gặp tôi ở cơ quan Tám Quang, cô ta như con chích chòe ngây thơ. Rồi khi chở tôi về văn phòng Chín Lộc, gặp Sáu Huỳnh người Tân Sở, tôi cũng chỉ thấy con bé hay hay thì chọc ghẹo vài câu thôi. Hồi đó cô nàng mới mười sáu. Không hiểu tại sao đi giải phóng? Đi chơi vui. Cô đáp. Rồi vân vân. Đến khi bà ngoại bị biệt kích bắn cùng với Tư Minh trong cơ quan, Ua mới trở thành người của cụm quân báo quốc lộ 1. Lúc tôi rước má tôi vô Ràng, Ua đến và nói toạc ra trước má tôi và bà con có mặt luôn đó: “Tôi là vợ anh Lôi”. Không chút sượng sùng.

Với Ua, tôi còn mắc cái nợ tang bồng. Yêu nhau thì đã nặng, “mà lấy nhau thành vợ chồng thì không đặng”. Ra ở ngoài thành thiếu chi lính tráng sĩ quan. Tôi ngỡ nàng coi tôi như một lon bia, uống xong thấy nóng nóng người rồi…hết. Chẳng ngờ nàng yêu tôi đến thế. Ôi, đúng là người yêu có trái tim rực lửa của tôi.

Sau trận đánh Củ Chi nàng vào Ràng hỏi thăm những cán bộ quen tin tức về tôi. Không ai biết. Có biết cũng không dám chỉ. Nàng hỏi Sáu Huỳnh. Ông già này cũng chỉ làm thầy bói thôi chớ làm sao biết được đường đi bạt mạng của tên Thiên Lôi. Thế mà nàng đã tìm đến Mỹ Hạnh và gặp tôi, lấy hai viên đạn G35 làm quà tái ngộ.

Cô bé này dám chơi lắm. Nhưng tôi không sợ tính liều lĩnh táo gan của cô mà chỉ sợ cô quá yêu tôi, tôi không thể gỡ tay cô ra được thôi.

Tôi không có ý định cưới vợ, bởi vì Củ Chi càng ngày càng giống như Tây Lương Nữ Quốc trong truyện Tây Du – một xứ không có đàn ông, toàn dân đều để tóc dài. Nhưng Tây Lương Nữ Quốc là do trời sanh, còn Củ Chi này là do chiến tranh. Vợ góa con côi tràn lan nhà nào cũng có. Tôi muốn tránh cho một cô gái nào đó cái cảnh của má con Hoàn, má con Rớt, má con Tiền, má con Liên. Tôi không muốn làm kẻ chinh phu trong lòng người chinh phụ hóa đá .

Bài Hòn Vọng Phu của Lê Thương mà tôi đàn hát từ bé đến nay vẫn chưa quên, không bao giờ quên, hôm nay lại chỗi dậy trong lòng tôi mãnh liệt:

Lệnh vua hành quân trống kêu dồn
Quan với quân lên đường
Hàng cờ treo trống dồn
Ngoài sơn non cuối thôn
Phất phơ ngậm ngùi bay
Qua Thiên Sơn kìa ai tiễn rượu vừa tàn
Người đi ngoài vạn lý quan san
Người trông chồng trong bóng cô đơn
Có ai xuôi vạn lý
Nhắn đôi câu giúp nàng
Lấy cây hương thật quý
Thắp lên thương tiếc chàng

….

Một ngàn năm khác đã qua
Đến khi núi lở sông mòn
Mới mong tới hòn Vọng Phu.

Một lần, trước khi đánh Suối Cụt, Năm Mai đem tin tức cho tôi. Khi tiễn nàng về, tôi nhìn theo bóng nàng ẵm con bé Liên mờ dần sau các cụm tre ấp Mây Đắng mà rưng rưng nước mất tưởng đó là vợ con tôi. Lần vừa rồi, nàng lại vào. Tôi tỏ ý yêu nàng. Nàng bảo: Anh muốn gì em cũng xin chìu, nhưng miễn một điều là xin đừng làm vợ anh.

Tôi buồn lắm. Không hiểu nàng nói vậy là vì nàng sợ sống kiếp Vọng Phu lần thứ hai hay vì lẽ gì khác? Lẽ gì thì cũng buồn. Cái buồn này đâu chỉ đến với tôi một lần

Đến hôm nay, cái “ách” mà nàng muốn tránh thì cô bé Ua lại muốn tròng vào cổ. Tôi là cái “ách” đó chớ nào phải hào quang mà vơ vào.

Sáu Huỳnh ngồi hút thuốc còn Năm Tiều thì sốt ruột chờ tôi lai tỉnh để giao công tác. Năm Tiều bởi Sáu Huỳnh:

– Thư gì mà nó đọc rồi chết giả vậy anh Sáu?

– Báo cáo về trận đánh vừa qua chớ đâu có thơ thẩn gì?

– Trận đánh thắng sao nó buồn?

– Cơ sở báo cáo nhân dân thị trấn oán mình vô khiêng đồ của họ.

– Đó không phải là trách nhiệm của thằng Lôi !

– Nó là chỉ huy trưởng toàn mặt trận mà nó để mấy chả làm ẩu, thì ai vô chịu trách nhiệm?

– Mấy ông Bảy Đạo và xã đội trưởng dẫn bắt hôi. Chớ D7 có được sơ múi gì. Nếu có kiểm thảo tôi sẽ đỡ cho nó. -Năm Tiều quả quyết.

Sáu Huỳnh nói trớ cho qua truông chớ ông ta biết căn bịnh của tôi. ông ta bảo:

– Thôi, chuyện đâu còn đó, lên đây thảo luận công tác mới mày ơi!

Tôi lên ngồi bàn. Năm Tiều nói:

– Ở trên giao cho mày gỡ hết dãy đồn bót trên quốc lộ 1 và hủy diệt pháo Đồng Dù.

Tôi giật mình. Năm Tiều trải bản đồ ra. Tôi cũng nhìn vào nhưng không thấy gì ngoài hình ảnh má tôi đứng ở bệ cửa nhìn ra làn khói mù sau chiếc Honda của Ua. Năm Tiều nói rõ mục tiêu. Sáu Huỳnh bổ túc theo tin tình báo, nêu rõ chỗ mạnh chỗ yếu của địch, ta.

Nghe xong, Năm Tiều hỏi tôi:

– Mày thấy sao?

Tôi lơ đãng đáp:

– Ở trên ra lệnh thì tôi gở chớ có trăng sao gì chú Năm.

– Mày xin thêm những gì?

– Có gì đánh nấy chú Năm ơi! Chớ xin cũng không có đâu mà xin xỏ.

Tôi đáp lơ là như thế chớ biết dãy lô cốt và đồn bót đó gồm những cái nào. Bàu Tre, Cây Trâm, Suối Cụt… nếu đánh một lúc thì phải có một trung đoàn mạnh, nghĩa là đủ ]oại vũ khí và phải hy sinh ít nhất một C và năm, bảy chục du kích. Sau tết tất cả đồn bót toàn miền Nam đã củng cố và sẵn sàng nghinh chiến. Yếu tố bất ngờ không còn nữa.

Hiện nay B40 đang yếu đạn. Súng phun lửa không có hơn ba khẩu. Du kích mới gom vào đơn vị tập trung, chỉ đánh bộ khá chớ công đồn thì họ không kham đâu.

Tôi biết rõ chỗ yếu chỗ mạnh của D do tôi rèn luyện, nhưng ở trên không mấy khi chịu nghe cấp dưới trình bày khó khăn. Các ông ấy luôn luôn khen để bắt mình phải “khắc phục”, “tự lực” v.v… nghĩa là cứ phải dùng răng mà cắn giặc thì cũng phải thi hành lệnh cho R báo cáo về trung ương để bác sống lâu!

Thấy tôi buồn buồn, Năm Tiều bảo:

– Chiều nay mình đi đám cưới chớ Lôi .

– Đám cưới ai?

– Thằng Bính, thằng Vàng và vài đứa nữa. Tụi nó đi Sàigòn về xin cưới tập thể. Khách, chỉ thiếu mày. Tao nghe mày đã hứa với cô… Hai bên đã nhang đèn thề thốt rồi mà? Khai thiệt đi rồi đăng ký làm luôn đêm nay cho tiện. Nghe nói văn công thằng Phạm Sang tới giúp vui. Có không?

– Dạ có !

Năm Tiều cười hô hố:

– Bữa nay tao cạy răng mày mới nói. Thằng, kín miệng thiệt ta.

Sáu Huỳnh cười:

– Nó thanh đông kích tây đó ông tham mưu ơi!

Năm Tiều nhìn tôi:

– Có thiệt không mậy?

Tôi ngồi làm thinh. Năm Tiều đáp:

– Bữa đó mày nói đi điều nghiên đánh Củ Chi, rồi lén đi An Nhơn mày gặp “nàng” phải không?

– Đâu có chú Năm.

– Coi kìa, tao có dường dây riêng, mày chối sao khỏi mậy!

Tôi nghĩ thầm chắc lão già kinh nghiệm này chận đầu mình đây. Hay là mấy thằng nhỏ báo cáo? Đọc biết ý nghĩ của tôi Năm Tiều nói ngay:

– Không phải đám trinh sát của mày phản thùng đâu mà là chính nàng ta đến tìm tao để báo cáo.

– Nàng nào chú Năm?

– Mày với nàng vô một nhà hoang còn đủ mùng mền chiếu gối và bàn thờ phải không? Rồi mày còn đòng đòng nàng lên vai để hái đu đủ chín đem vô chưng trên bàn thờ. Sau khi cơm nước hay trà lá gì đó nàng bèn nói với mày: “Mình đã là vợ chồng rồi, sẵn dịp tết, mình đất nhang thề nguyền đi anh Hai yêu dấu của em”. Thế là mày nghe lời. Rồi hai đứa đốt nhang đứng trước bàn thờ. Mày xưng tên họ. Nó cũng xưng danh tánh tuổi tác rõ ràng. Hai đứa hứa sẽ nên câu giai ngẫu và xin thánh thần chứng tri. Có không ? Mấy không biết nàng đó là nàng nào thiệt sao mậy?

Tôi lắc đầu:

– Dạ đâu có nàng nào như vậy chú Năm.

– Mày nhớ lúc hành quân đánh Paris Tân Qui mày say rượu rồi cũng có một nàng đem mày về nhà “cạo… gió” suốt đêm không? Nó “cạo” mày rêm mình mẩy mấy ngày liền phải không?

– Dạ cô Kim Anh, chú biết rành mà ?

– Kỳ này cô nàng ấy tao cũng rành sáu câu. Mày hổng tin bữa nào xem có báo cáo với tao không Nhưng mà tao biết mày không phải chỉ có một nàng nên tao đáp lơ lửng cho mày mở đường máu rút lui theo kiểu Hoàng Thọ. Tao nói “chiện đó tùy hai bên khi nào cô cậu đồng ý tôi chỉ có việc chứng nhận thôi” chớ tôi không xúi biểu được ai hết.

Sáu Huỳnh cười lắc lư cái đầu hói:

– Thằng cha già kinh nghiệm thiệt. Hèn chi cỡ đó rồi mà còn câu được cô hăm mấy.

– Vậy chớ bả trẻ hơn ông hai mươi tuổi đó sao? -Năm Tiều quặp lại – Tôi hơn cổ tới chẵn con giáp thôi mà.

Thấy hai tiên ông đang kéo màn đấu phép, tôi bèn mở ngãng:

– Không biết Tư Bính có ngón gì mà bà má gả con Ba Cương cho nó?

Sáu Huỳnh hất hàm sang Năm Tiều.

– Mày cần học thì hỏi thầy Năm Hố Bò đây nè.

Năm Tiều nói:

– Ngón gì? Thằng nào đi Sàigòn còn sống thì cũng cưới vợ dễ như chơi…

Tôi hỏi:

– Chiều nay chú Năm, chú Sáu đi đám cưới thằng Tư Bính không?

– Đi chớ! Ra đó tao nhờ bà má tìm rước cho tao một thằng “đồng” để tao sai nó lên nói chuyện dưới Sàigòn nghe chơi. Bữa đó nghe sắp nhỏ báo, hồn vía tao lên mây. Tao tưởng mày rửa chân lên bàn thờ rồi chớ. Đây rồi không biết để mấy nàng đó lại cho ai.

Sáu Huỳnh gật gù:

– Thằng Bính giỏi thiệt chớ phải chơi đâu. Quá cứng cạy rồi mà còn chen vô được buồng dừa nạo ngon ơ.

– Chịp, kệ nó. Cho nó ăn rồi ít bữa lên bàn thờ khỏi phải thèm. Đố khỏi đây rồi có thêm vài ba hòn đá vọng phu ở xóm này. Mẹ, có đứa hai ba lần hóa đá trong một đời con gái như Tám Khỏe ở trong Phú Mỹ Hưng, như con vợ thằng Quyết ở ngoài Ràng. Thằng nào chun vô đó cũng cum hết. Còn như thằng Lôi đây, có bề gì thì có tới nửa lô con gái hóa đá chớ hổng phải một người.

– Cái miệng ăn đồ… mắm muối đừng có nói chuyện gở !

– Gở gì bác Sáu nó ơi ! Xưa nay chinh chiến kỷ nhân hồi. Sợ hổng chừng tôi lên bàn thờ sớm hơn nó đó chớ!

(Thật vậy cuối năm 68, D7 tan tành. Năm Tiều đi R xin thêm lính. Trên đường về dẫm trúng trái DH10 của Trung Quốc nổ tung không lượm được miếng thịt).

Kỷ nhân hồi. Đúng thay lời người xưa nói.

Chuyện cà kê một lát, con vịt luộc trong nồi cháo há mỏ kêu vang. Bà Hai Xót vội vã vớt ra tấm thớt me để dưới đất.

Sáu Huỳnh xua tay:

– Để đó khoan chặt đã ! Trong lúc chờ cho nó nguội, tôi đề nghị tuyển chọn người chặt mới được.

Năm Đang trề môi:

– Ai chặt không được mà bày đặt ăn nhậu chớ phải bầu anh hùng dũng sĩ sao mà chọn?

Sáu Huỳnh vẫn thản nhiên:

– Phải dùng bàn tay có tín nhiệm chớ!

– Nội đây đều thành phần cơ bản, thâm niên chiến đấu cao cả, có ai là không có tín nhiệm?

– Tôi không nói cá nhân nào, mà tôi chỉ đề cập bàn tay của cá nhân nào thôi chị Năm ạ. Thí dụ như tay chị, tay chị Hai tôi không tín nhiệm. Tay Năm Tiều tôi cũng không dám xài.

– Anh Năm kháng chiến hai mùa mà anh hổng dám xài thì xài tay ai?

– Tay tôi được không chú Sáu? -tôi biết ông Nhị Thiên Đường nói vấn đề gì rồi nhưng vẫn hỏi.

Sáu Huỳnh lắc đầu:

– Tay mày tao càng mất tín nhiệm hung nữa.

– Sao vậy chú Sáu?

Tám Phụng muốn bào chữa cho tôi, nhưng chưa kịp nói , Sáu Huỳnh đã bảo:

– Nó là anh hùng “xít nớp” (6-9) ( 1 ) chớ sao !

Năm Tiều “bần cố nội” trừng mắt:

– Anh hùng “Xách nóp” là anh hùng gì?

– “Xít nớp” là 6-9. Nó là đại diện đoàn 69 công binh lãnh huân chương trong đại hội mừng công trên R không nhớ sao?Hì hì, do đó tao không tín nhiệm tay mày rớ vô con vịt đó Lôi ơi!

Tôi nghĩ thầm: lão nhị thiên dường này cắc cớ thiệt. Chuyện đánh sân bay Tân Sơn Nhất của người ta mà ông dám gọi là “69” nhưng cũng may không ai hiểu “xách nóp” là nghĩa gì. Năm Tiều hỏi:

– Nội đây, không ai “xách nóp” thì chặt được thịt vịt đi. Còn ai có “xách nóp” thì đâm gừng làm nước mắm. Cứ ăn vô câm thì chịu, đừng có than trời.

Tám Phụng được coi là người không biết “xách nóp” nên chặt thịt còn mấy bà kia thì rành “xách nóp” nên không được rớ vào.

Cán bộ kháng chiến gian lao chết chóc sống nhờ mấy chuyện tiếu lâm bá xàm như vậy. Rất tiếc là không có nhà văn nào sưu tầm ghi lại xem chơi. Ông đầu hói Sáu Huỳnh thiệt là tay Charlot “giải phóng”.

Do sự sắp xếp của bà khu ủy mọi người ngồi vào bàn. Hai Xót và Tám Phụng làm tả hữu thừa tướng của tôi còn Sáu Huỳnh và Năm Tiều hầu cận hai bên bà khu ủy. Để cho buổi tiệc vui vẻ tôi cố tình không nhắc lại những vụ thu lượm tàn quân và chuyện vớt “bò” lội dưới sông, nhưng trong mình tôi thấy ngứa ngáy, cái túi áo tôi nghe cồm cộm như có vật gì cử động bên trong. Như máy, tôi buông đũa và móc ra đưa cho Tám Phụng, cố tình chạm ngón tay nàng tí ti.

– Cô Tám, coi giùm đây có phải là cán bộ của cô không?

Tám Phụng xem nhanh rồi kêu lên:

– Chị Năm ơi!

Năm Đang sửng sốt:

– Bộ mày bị ai “xách nóp” sao làm như mắc kinh phong vậy Phụng !

Tám Phụng run run chuyền mấy tờ giấy cho Năm Đang trong lúc Sáu Huỳnh cười:

– Cô Tám chưa biết “xách nóp” đâu. Muốn biết phải nhờ ông thầy pháo “quến liệng” cho một lớp.

– Bộ “xách nóp” trong kỹ thuật pháo bình sao anh Hai?

Sáu Huỳnh nhanh miệng đáp thay:

– Cũng gần với pháo cối. Nhưng muốn “xách” có kết quả thì cái “nóp” phải tốt.

Sáu Huỳnh cười văng miếng thịt nạc xuống bàn. Năm Tiều đưa ly rượu vô trám miệng Sáu Huỳnh.

– Gì chớ bắn pháo thì hỏi thầy Hai là ăn chắc. Bắn vòng cầu, bắn thẳng, bắn giao đầu, bắn góc độ nào thẩy cũng bắn trúng phóc. Hổng thấy thẩy bắn bay cái lồng cu Trung Hòa sao?

Sáu Huỳnh lại cười ngặt nghẹo:

– Cái lồ… ông cu của Chín Hòa, ủa của Trung Hòa sẽ còn bị nó pháo thêm nữa đó.

Năm Đang đọc xong hai cái quyết định, buông giấy gục đầu kêu:

– Trời! Tôi không có con, bắt cháu làm con nuôi, nay nó chết. Tôi như cây không trái.

-Ủa, giấy gì vậy Lôi?

– Tôi không ngờ bé Xuân là cháu của chị!

– Nó kêu tôi bằng cô ruột! Hức hức! Chính tôi dắt nó đi theo cách mạng.

Mặt Năm Đang trắng nhợt trông rất thảm thương.

Không ở đâu như Củ Chi. Vui đó buồn đó. Khóc cười liền mí. Sống đó chết ngay đó ! Dễ như trở tay. Nhưng sống rất khó. Chết rất dễ.

Sáu Huỳnh bảo:

– Lôi ! Mày bồng bả lại cái võng rách “mậu thân” để bả nghỉ.

Năm Đang sợ chạm tới ngọc thể nên khoát tay. Bà gượng gạo hỏi:

– Anh có thấy xác nó thiệt sao anh Hai?

Tôi ngẩn người ra một lúc, không biết có nên nói hết sự thật hay chỉ nói qua loa để bà ta nửa tin nửa ngờ, còn nuôi tía hy vọng là đứa cháu gái bà không phải là cái “thằng” chổng đó. Nhưng hai tờ giấy kia là bằng chứng cụ thể, tôi làm sao che giấu được?

Tôi đành phải nói tất cả:

– Hai cái quyết định đó chính thằng Đá và thằng Tiễn móc trong túi áo bà ba của con Xuân đó chị Năm à. Con nhỏ mang theo trong mình. Và cẩn thận hơn, nó nhét túi áo trong lưng quần để chạy khỏi rớt.

Năm Đang càu nhàu:

– Nhưng nó là cứu thương ở quân y của Tư Giám mà đi đâu để chết trôi chết nổi vậy chớ?

– Có lẽ Tư Giám phân công cho nó đưa thương binh về trên này. -Tôi tiếp- Tôi nghe mấy cậu miền Bắc nói lúc qua Rạch Tra, cả đoàn thương binh đùn lại có trên bảy, tám chục. Qua xong thấy mất tích hai mươi mấy đứa.

Năm Đang quệt nước mắt càu nhàu:

– Thằng Tư Giám á c thật , thiếu gì đứa trai lạ i phân cho con gái đi như vậy!

– Có lẽ đám y tá trai bị đưa xuống Sàigòn hết rồi.

Sáu Huỳnh và Năm Tiều cũng lơ đũa không nhậu được. Năm Tiều nói:

– Nhiệm vụ cách mạng mà chị Năm. Rủi hy sinh thì thôi chớ phiền trách gì! Nhưng so với mấy đứa khác nó còn may mắn. Nó được chôn trên bờ, có cắm mộ bia. Sau này còn biết nơi mà cải táng hoặc đấp mộ mới cho nó. Còn những đứa khác trôi bập bềnh dưới sông, không ai vớt hoặc không biết nằm xuống ở nơi nào, cha mẹ cũng không hay thì sao?

Tôi bỗng thấy Năm Tiều có lý . Nhiều trận lính người Nam bị bom napalm cháy ra tro không tìm ra dấu vết nào là người Bắc. Hiện giờ vô số xác nằm dọc theo đường Hóc Môn, Gò Vấp, địch đem xe tăng ủi xuống ruộng rồi lấp đất lên. Ai biết đó là ai? Có biết cũng không ai mất thì giờ đi tìm, người ta bận buôn bán trên biên giới, để xây dựng xã hội chủ nghĩa này kia lăng xăng lắm.

Tôi nói:

– Chức của nó là cứu thương B phó, nhưng tôi đã truy tặng nó B trưởng và có khắc trên mộ bia đó chị Năm à. Sau này chị được hưởng quyền lợi tử sĩ và sĩ quan.

Nói qua nói lại một lúc bà khu ủy coi bộ cũng nguôi nguôi, Sáu Huỳnh bèn bắt qua vụ cúng âm hồn. Chú nói:

– Đó chị thấy không? Tư Nhựt, Hai Phái, Tư Chi, Tám Lệ đều là cấp E, Năm Truyện là cấp F nhưng chết rồi ai có biết mồ mả của các chả ở đâu? Thời buổi này đứa nào chết trước được mồ được mả khỏe hơn những đứa chết sau đó chị Năm à ! Như tui, Năm Tiều, chị và chị Hai chưa biết có ai bó võng đem chôn và cắm mộ bia được như con Xuân hay không? Bởi vậy nên tụi thằng Bính, thằng Vàng nó lộn về được là mau mau cưới vợ. Chị thấy không? Để chi vậy? Đời bây giờ hưởng lạc được bao nhiêu? Có đứa mới cưới vợ xong không chịu ở với vợ mà leo lên bàn thờ ngồi chong ngóc kia cà ! Nhưng mà nó mát cái thân. Vì có kẻ lập bàn thờ, cúng kiến. Nhang đèn, cơm nước chị thấy không? Con người ta sống nhờ phần xác, chết nhờ phần hồn. Chị không thấy tụi thằng Bính nó cúng âm hồn Tư Nhựt, Hai Phái để họ siêu thăng và đừng có ngăn cản việc cưới vợ của tụi nó hay sao?

Nghe Sáu Huỳnh tụng một chầu kinh mặn lạt pha chè, Năm Đang bớt quệt nước mắt. Năm Tiều lia luôn một raphan nữa :

– Còn cái thân chị, chị cũng nên lo đi. Ông “thần thù” của chị vừa cưới chị xong là vội quất ngựa chuối chạy tuốt về R xin trở ra Bắc dưỡng bịnh, bỏ chị ở đây với cái “cà-ràng” tro lạnh không một ngọn lửa sớm chiều. Rủi có bề gì lấy ai mà giỗ quảy?

Năm Đang vừa buồn vừa quạu:

– Không ai giỗ tôi thì tôi đi nhà nào có giỗ tôi ăn chực.

– Ăn chực một hai bữa thôi chớ ăn chực được hoài sao?

Đột nhiên Năm Đang ôm mặt khóc hu hu rồi kể lể:

– Tại mấy lão khu ủy dỗ dành ép buộc tôi nào là tình đồng chí, nào là tình giai cấp. Nói hoài rát cái lỗ tai chớ tôi thấy bộ vó của thằng chả tôi biết thằng chả hết xí quách… Đàn ông gì tay lạnh ngắt như đồng. Chân cẳng như con bún thiu. Chui xuống hầm thở hồng hộc như trâu cắt cổ. Nhưng vì vâng lệnh đảng mà tôi phải ưng thằng chả.

Năm Tiểu cười:

– Ai biểu gác máy bay chi! Tưởg gác trúng phản lực, ai dè gặp “đầm già mang guốc”.

Sáu Huỳnh tiếp:

– Chị cáp độ gà mà chị không coi chân cẳng chị Năm ơi. Cho nên con gà chị dư chạng lại dư cựa cho nên chị phủ sổ chớ gì. Mà bên kia là gà rót.

Năm Tiều cười sùng sục:

– Gà chị Năm đâu có cựa mà anh nói vậy. Gà của chỉ có mồng thôi.

Năm Đang háy ngang:

– Mấy anh nói xây không hè ! Cựa ngỏ gì! Tại mấy ông nội cứ ép tôi hoài. Hết ông này tới ông kia, tụng xong bài giai cấp lại giảng bài tình đồng chí.!

– Nước “mẹn” đồng chua phải không? Hì, hì, đúng là bây giờ chị nếm phải cái tô canh rau muống vừa mặn vừa chua. Từ rày có muốn đá , nhờ tôi cố vấn cho.

– Thôi đi các cha! Tui hổng có muốn nghe nữa! Ổng ở ngoài Bắc với vợ lớn bây giờ nè.

– Ủa, ổng ca bài “tẩu mã” rồi sao?

Năm Đang buồn hiu:

– R kêu về trển rồi cho ổng đi dưỡng bệnh luôn, không cho tôi hay. Về tới ngoải mới viết thư vô.

– Rồi chú tính sao ! Tui nghe ổng đã có một bà răng đen cầm cán rồi đó. Chị bây giờ thuộc về thành phần hụ hợ thôi.

Không biết nghĩ sao, Sáu Huỳnh bỗng cười ré lên:

– Chị dễ bị người khác gạt quá chị Năm à?

– Ai gạt tôi?

– Tôi gạt chị chớ ai !

– Anh gạt tôi hồi nào. Gạt chuyện gì?

– Tôi nói thật nhé. Con Xuân nó gởi quyết định cũ cho tôi mang về văn phòng quận để trên này làm quyết định mới đề bạt nó đấy. Từ A trưởng lên B trưởng. Tôi đưa cho thằng Lôi bỏ túi và bảo nó đóng kịch với chị chơi cho vui. Chớ con Xuân có chết chóc gì.

Năm Đang sửng sốt hồi lâu rồi hỏi tôi:

– Thiệt hả anh Hai?

Sáu Huỳnh nâng ly rượu giả bộ uống rồi nháy mắt với tôi. Tôi nói:

– Ai biết đâu chú Sáu! Muốn biết hỏi chú !

Năm Tiều lên tiếng:

– Thằng Lôi mày muốn cấy rau muống giùm thiên hạ hả? Cái thằng lạ thiệt.

Xuân này hơn hẳn mây xuân qua
Nhà mình không ở ở nhà người ta
Ao mình không tắm tắm ao người ta

Tôi chợt nghe có bàn tay ấm hỏi đặt trên đùi tôi. Tôi nhẹ nhàng bỏ đũa lòn tay xuống mép bàn nắm và bóp bóp. Tôi biết đó là bàn tay “Phàn Phụng” đã sẵn sàng từ lâu mở cửa Hàng Giang quan cho Tiết Dinh San kéo quân vào ngay. Năm Tiều đã từng tuyên bố xanh dờn với tôi: Con Thanh nó cũng lớn xộn rồi. Đất Củ Chi này nó cũng không thua đứa nào. Nó cũng rạo rực với mày lắm. Mày làm sao thì làm nhưng hễ nó mang bị thì mày phải nhận chớ đừng có chém chạy nghe!

Bao giờ tôi cũng chỉ cười. Đố ai hiểu nổi bụng Thiên Lôi.

Bất ngờ Sáu Huỳnh hỏi Năm Đang:

– Nếu con Xuân còn sống thì chị gả cho ai?

– Nó ưng ai tôi gả nấy. Nhưng nó còn nhỏ quá anh Sáu .

Năm Tiều cười:

– Con gái coi nhỏ nhưng mà không nhỏ đâu chị Năm. Tết này con gái ưng bộ đội rầm rầm. Thằng nào “đi xuống Sàigòn” về cũng hậm hực cưới vợ. Mắm ruốc đang lên giá . Chị nên tính đi !

Tan buổi nhậu ra về, Sáu Huỳnh lôi tay tôi đi lùi ra sau và rỉ tai tôi:

– Đàn bà ai nói gì cũng tin. Ai biểu gì cũng làm. Bà khu ủy giống in con nít. Bả ngó mày lom lom thấy chưa?

Ông quân báo khu không biết lúc đó có hai bàn tay đang siết nhau trong bóng tối. Trên mặt bàn, câu chuyện rời rạc lãng nhách, trong lúc sự đậm đà mật thiết lại xảy ra ở đâu đâu. Ngoại giao cũng thế, khác gì.

Chương 104

Ba nàng nữ sinh áo trắng và gã Thiên Lôi

Sư đoàn 25 Sàigòn tỏa ra đánh khắp các căn cứ từ Long Nguyên chạy dài tới ngoại ô Sàigòn. Không một phút im tiếng súng. Trung tuyến Củ Chi trở lại thành tiền tuyến. Trước Tết chúng tôi còn nhậu nhẹt đánh tú lơ khơ dưới hầm được hoặc còn vài cái quán bán rượu, trà, thuốc lá. Nhưng sau Tết, tướng không cởi giáp, ngựa chẳng rời yên. Chỉ còn phía bên Trảng Bàng thì có thể làm nơi tránh né. Tôi bèn tìm Năm Tiều:

– Các chả dông lên Cao Miên hết rồi, mình làm sao chú Năm?

Năm Tiều đang hút nửa điếu thuốc, ném bẹt, phẹt luôn một bãi nước miếng:

– Đánh giặc cái củ… cặc họ chớ đánh gì vậy?

– Chú cho lịnh tôi đi !

– Lịnh lọt gì. Mày có chỗ nào yên yên cho ém quân ít ngày để tụi nó dưỡng cặp giò, chớ ở đây bị rượt riết thế nào cũng có ngày lòi lưng, nó kêu B52 tới là xong.

– Tôi qua An Phú được không?

– Mày đi đâu thì đi. Nhưng đừng để nó nghe hơi nồi chõ, nó truy kích là bể ngay. Thời gian này đừng nên nổ súng. Chờ coi ở trên lên dọn chỗ nào rồi tao mò tới thỉnh thị cái đã. Hiện đồn Trung Hòa tăng cường một D mạnh. Củ Chi khỏi nói, lính đen nghẹt.

Tôi kẻo quân sang An Phú, đến ngay nhà Tám Râu. Chỉ có mấy đứa ở ngơ ngác:

– Chú Tám đi Sàigòn.

– Chừng nào chú về?

– Dạ không rõ.

Vậy là hỏng bét cáỉ kế hoạch dưỡng quân của ông Thiên Lôi rồi. Nhưng cũng may, hôm sau Tám Râu về. Thấy lính tráng căng võng đào hầm ngoài vườn còn tôi thì ở ngoài hàng ba, Tám Râu kêu lên:

– Nhà cửa thênh thang sao không vào ở?

– Biết người ta có đồng ý không? – Tôi nói mát.

Lần trước khi đánh hạ Thái Mỹ xong, tôi rút đơn vị về đây, Tám Râu coi tôi như tiểu Napoléon.

– Từ bé đến lớn, “moa ” chưa thấy ai đánh giặc như “toa” . Xưa trong Tam Quốc, Quan Công chém tướng địch xách thủ cấp về, ly rượu hâm hãy còn nóng, nay “toa” hạ đồn dọn tiệc không kịp để khao quân.

Lần này sang đây, tôi không mong được tiếp đón với thái độ niềm nở ấy vì cái đợt một vô Sàigòn. Từ Sàigòn về, chắc Tám Râu đã trông thấy nhiều việc. Y không thể nào còn phục tôi là Napoléon nữa. Tôi chuẩn bị chờ đón sự lạnh lùng của y. Tôi sang đây là để tìm một ốc đảo yên lành cho đơn vị xả hơi sau những ngày sằt máu, chớ không mong gì Tám Râu thần thánh hóa tôi như trước. Tôi sẽ không thất vọng vì quá hy vọng.

Nhưng tôi lầm. Tám Râu bắt tay tôi, siết đến đau:

– Toa ờ dưới mới về hả? Retour tnomphal! Toa thắng lớn quá. Sứ quán Mỹ bị đánh sập, đài phát thanh bị chiếm ba ngày. Bộ tổng tham mưu ra tro! Tài thiệt. Quân… đánh giỏi thiệt. Toa đi cánh nào? Moa có ý tìm gặp toa ở Sàigòn trong đoàn quân chiến thắng. Ô ! thật là một cú ngoạn mục. C’est pittoresque! -Tám Râu nói một hơi, tiếng Tây pha tiếng Việt làm tôi như con chim bị vướng trong lưới dày đặc không có kẽ hở để chui ra.

Tám Râu lôi tôi luôn vào nhà kêu đứa ở làm cơm linh đình và mời cả văn phòng tiểu đoàn tôi vào dùng cơm chung với ông ta trên chiếc bàn mà trước kia Sáu Lức không dám ngồi vào vì sự choáng lộn của nó.

Cơm xong, Tám Râu mở cửa tủ rượu lấy ra những chai còn nguyên nhãn hiệu ngoại quốc, và bảo cán bộ của tôi:

– Các em đem ra hầm nhậu chơi cho ấm. Hà hà… Tết này Nguyễn Huệ vào Thăng Long đây… Rượu này là rượu chiến thắng, rượu truyền thống anh hùng.

Tám Râu nói năng hoạt bát, thân mật hơn hẳn lần trước. Tôi lấy làm yên lòng vì có lẽ Tám Râu không thấy những điều cả thiên hạ đều thấy. Vì thế y đã không nói những lời người khác nói mà tôi nghe đã đầy tai từ mấy tháng nay.

Quý hóa thay tấm lòng một người dân yêu nước dành cho những người mà y tưởng là cũng yêu nước theo cái kiểu của y. Phải chăng y là Tào Tháo đối với Quan Công khi ông về trú ngụ cùng Tào.

Tuy Tám Râu coi tôi như bạn, nhưng lại cho phép hai đứa con gái Hằng và Nga nữ sinh Sàigòn tự do tiếp xúc với tôi . Rồi sau đó tôi làm quen với Trúc Mai cũng nữ sinh Sàigòn, gọi Tám Râu bằng cậu ruột.

Nhà trúc Mai cũng ở gần đó. Nàng còn mẹ già. Trúc Mai tính tình điềm đạm không liến thoáng như Hằng, Nga.

Khi đóng trong nhà Tám Râu, một bữa thấy cây đàn măng-đô treo ở vách, tôi bèn hỏi mượn đem ra ngoài bờ dừa dạo chơi mấy bản nhạc thời học trò bỗng cô Hằng nghe được. Rồi từ đó làm quen. Hằng đòi tôi chép cho nhạc giải phóng. Đàn và hát cho nàng nghe. Một hôm tôi đàn và hát một câu Tango Chinois:

Em xinh đẹp ơi, anh yêu em lắm
Khi em cười duyên dáng với anh.

Bỗng Hằng nghe được. Một hôm nàng hỏi tôi.

– Anh có chép cho em bài ấy được không?

Cố nhiên là tôi chép được. Nhưng tôi sửa vài chữ:

Anh trở về tìm nàng Phi Yến
Khi sóng xanh không còn in bóng em
Anh ngước nhìn lên nàng Hằng Nga
Không ngờ rằng em còn ngó xuống anh
Anh xiết bao khổ tâm nàng ơi!

Lời hát phịa lời, ấy vậy mà có tác dụng bất ngờ. Cô chị hát nhẩm hay để ở đâu mà cô em bắt được. Rồi Nga lại phân bì đối xử không công bằng: “Chép bài hát cho chị Hằng mà không chép cho em?” Thế là tôi phải chép một bài khác và cũng phịa lời theo bài “Ở trong vườn Capri”

Trời xui gặp gỡ em Tuyết Nga
một ngày xuân kia
Tình yêu tăng lên hai quả tim nhịp cùng nhau
Giữa muôn hoa vườn Capri.

Nga mừng lắm và hát luôn miệng. Rồi hai nàng đi khoe với Trúc Mai. Nhà Trúc Mai ở cuối đội hình đóng quân của tôi, nên tôi cũng thường đi xuống đó kiểm tra các tổ, đội. Một hôm lại gặp Trúc Mai. Nàng cũng đòi bài hát. Và tôi lại chép. Chỉ đổi hai chữ cuối ở câu đầu: Tuyết Nga ra Trúc Mai thật hoàn toàn ăn nhạc.

Ở trong đơn vị tôi không có thành phần học sinh. Các cậu học sinh thành ra đây thì được đưa về các văn phòng để làm thư ký lo sổ sách chớ có cậu nào ra đơn vị chiến đấu đâu thành ra tuy tôi đã là bạn của “ba cháu”mà các cháu vẫn cứ bỏ vòi tíu tít với chú Hai.

Chàng cán bộ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc đao binh

Lại có “cun” đeo bên hông nữa. Bây giờ chú hai đã trở thành anh Hai thân mến của Hằng, Nga và của cả Trúc Mai. Số trời định vậy, cho nên tôi phải đa đoan việc nước lẫn việc tình. Tôi bị đặt vào một trận địa ba mặt thọ địch. Nhưng cái khó của kẻ bị vây là làm thế nào dùng được chiến thuật cổ điển “thanh đông kích tây” hoặc kích phía này mà hai phía kia không nghe gươm khua súng nổ.

Cái cuộc đời lê dương của tôi là như thế. “Chiếm thành rồi lại bỏ thành” để rồi chỉ mang thêm những vết thương bất tử mà thôi.

Cũng như ở quán ba con Thỏ Bạch bên Bến Chùa, lần này lại ba con Bạch Thố.

Lần này tôi trở lại không gặp Hằng, Nga chỉ tái ngộ Trúc Mai. Nhưng từ Sàigòn về vì lo cho mẹ già . Trúc Mai định rước mẹ lên Sàigòn ở cho yên thân, mặc dầu trên đó không có bà con. Nhưng mẹ nàng không chịu rời quê . Trúc Mai không thể bỏ mẹ mà đi trở lại trường. Vừa lúc đó thì tôi lại đến. Nàng vẫn chưa dứt dường tơ với tôi, nhưng trong lòng nàng chắc có những điều thay đổi. Nhìn nét mặt dàu dàu của nàng, tôi đoán như thế.

Bữa cơm chiều tiểu đội dọn lên bàn có đủ ghế. Trúc Mai cũng có mặt nhưng nàng không ngồi, chỉ làm đầu bếp múc rội thức ăn cho anh em. Cậu A trưởng bỏ vào chén tôi một con chuột ướp muối sả nướng và rót một ly rượu:

– Nhậu đi anh Hai. Chuột đồng An Phú này lông còn mướt vì chưa bị hóa học không như chuột bên Củ Chi.

Mấy cậu khác cũng tiếp đưa đà. Một cậu nói:

– Em nghe nói anh “ngầu” lắm. Đâu bữa nay anh “ngầu” với tụi em một bữa coi.

Tôi sợ Trúc Mai chê giải phóng mình là dã man: ăn thịt chuột nên làm không mạnh miệng, chỉ bẻ cái đùi nhấm nháp chậm chạp. Thằng Bọ Ngựa khi Trung Hòa lần thứ nhất chỉ là liên lạc nay là A trưởng xạ thủ súng máy thấy vậy liền lấy bánh tráng cuốn với rau sống đưa cho tôi. Tôi cực chẳng đã phải dzô ngầu. Có lẽ Trúc Mai biết ý, nên nói:

– Ăn đi anh, ở Sàigòn người ta vẫn có quán nhậu thịt chuột đó mà !

Tôi nói:

– Thịt chuột còn ngon hơn thịt gà . Nhưng anh chỉ sợ chuột bị hóa học như bên Phú Mỹ Hưng thôi, chớ bên này chưa bị thì không sao.

Tôi biết ở nhà Tám Râu đang đợi tôi cơm chiều. Quả thật ăn chưa xong, chuông đã reo. Cậu A trưởng bắt điện thoại và báo cáo:

– Ở văn phòng đang tìm anh Hai.

Tôi vội vã quảy xắc-cốt đi. Nhưng ra đến ngõ, bị Trúc Mai chận lại:

– Em muốn nói chuyện này một chút!

– Chuyện gì vậy, để bữa khác được không em??

– Sợ không còn dịp.

Tôi hơi bối rối, thầm vái: chuyện gì thì chuyện xin nàng đừng quên rằng:

“…Giữa lúc non sông đầy khói lửa
Phải đâu là hội kết uyên ương.!”

Riêng tôi thì coi câu đó là lời khuyên chí lý. Còn một lẽ khác nữa là tôi không muốn ai đó phải hóa đá vọng phu vì tôi. Biết bao nhiêu trẻ con gọi tôi bằng ba. Mới đây lại thêm một đứa bé còn đỏ lói mà mẹ nó cũng bảo nó tôi là ba của nó.

Trúc Mai nói:

– Lâu nay em nói dối anh.

– Việc gì?

– Em nói rằng em là con một, nhưng không phải!

– Chuyện đó không quan hệ gì.

– Đối với em thì rất quan hệ chớ anh!

Trúc Mai vừa nói vừa móc trong túi ra một gói nhỏ, rồi từ từ mở những sợi dây ràng buộc ra, chứng tỏ rằng nàng rất trân trọng vật được bọc bên trong. Đó chỉ là một cái hộp thuốc aspirine tròn bằng ngón tay, loại mà tôi thường dùng, đựng 20 viên của hãng bào chế bên Pháp. Trúc Mai mở nắp rồi dùng hai ngón tay có móng dài nhéo lôi ra một cuộn giấy. Nàng bỏ chiếc ống vào túi rồi từ từ mở banh tờ giấy ra. Nó đã cũ, có nhiều đốm vàng sậm. Như đây là nước mắt của người viết hay người đọc. Nàng đưa tôi và bảo:

– Anh đọc đi !

Tôi cầm lấy. Dưới ánh nắng chiều, những dòng chữ in vào mắt tôi:

“Em Trúc Mai

” Chị nhớ nhà, nhớ má, nhớ em lắm, nhưng không có cách nào về được Em nay đã học hết phần I Tú Tài rồi phải không ? Chị nằm đêm tính nhẩm thì thấy thế. Riêng chị thì sụt xuống còn lớp 6. Vì ở đây không dùng chữ nên trí óc của chị nó cũng mòn theo sương gió, tháng ngày.

Em Trúc Mai, ngày xưa khi học bài ngụ ngôn “Cô bé quàng khăn đỏ” chị giảng cho em nghe cốt chuyện. Đến chỗ con chó sói ăn thịt bà ngoại rồi trùm khăn lên giường nằm chờ đứa cháu tới, em hỏi chị sao con sói có thể ăn thịt người dễ dàng thế! Không biết chị đã giảng cho em thế nào, nhưng nay thì chị giảng như thế này: con sói đó nó chỉ gạt được những đứa bé ngây thơ và ham vui như chị thôi… Chắc em muôn biết chị muôn nói gì với em khi chị nhắc lại kỷ niệm âu thơ phải không ? Tại con bé trốn học, bỏ trường nên con sói mới có cơ hội ăn thịt bà ngoại rồi ăn thịt luôn con bé. Phải chi nó đừng bỏ trường thì con sói đâu có cơ hội gạt nó… Chị chính là đứa con gái ấy đây em ạ. Chị muốn bảo em đừng làm đứa học trò bỏ trường mà đi ta bà, mà ăn năn không kịp.

Trúc Mai à.

Biết bao nỗi dằn vặt trong lòng chị. Nhớ bạn, nhớ thầy nhớ từng cái rễ cây, từng cánh hoa phượng khô trên sân cát bỏng. Những hạnh phúc mình đang nắm trong tay lại không chịu giữ mà chạy đi tìm những gì xa xôi không có thật, để rồi khi giật mình tỉnh giấc thì không còn gì. Cả trong thơ lẫn trên thực.

Vài hàng gởi en. Chị của em.

Tôi không hiểu gì cả vì không biết được tác giả, vì dưới cùng bức thư không có ký tên. Tôi đánh bạo hỏi:

– Chị của em ở đâu bây giờ? Tại sao viết thư với giọng oán than như vậy?

– Biết đâu anh có gặp mà anh không biết? Chỉ ở trên R!

– Hay là… -Tôi thầm nghĩ. Huỳnh Mai?

Trúc Mai chỉ mỉm cười chua chát. Còn tôi đứng im lìm, lặng câm. Huỳnh Mai! Hai năm trước, khi hội nghị “xách nóp” bế mạc, một phái đoàn do Bùi Thanh Khiết Cục phó Cục chính trị hướng dẫn xuống học ở trường Trung Sơ. Huỳnh Mai đi theo làm thơ ký đánh máy. Đang nửa chừng nàng bỗng được gọi về R. Hai hôm sau B52 rắc bom. Tôi nhìn thấy những cột khói lên mà biết nàng thọ nạn. Sau đó có tin đồn, nhưng không chắc.

Tôi đọc lại ngày tháng trên đầu lá thư rồi hỏi Trúc Mai:

– Sau bức thư này còn bức thư nào khác không em?

– Đó là bức cuối cùng? -Trúc Mai lạnh lùng đáp.

Nhìn vẻ mặt bơ phờ bất chợt của tôi, Trúc Mai hỏi:

– Bộ anh có gặp hay quen biết gì với chị em sao? Chị em cũng tên Mai như em. Huỳnh Mai!

Tôi giật mình đánh thót, miệng thốt như máy:

– Chắc là không có đâu em à ? -Tôi thầm nghĩ chắc tên trùng tên. Mai là tên hoa đẹp nên ai cũng thích lấy làm tên.

Nắng nhạt dần rồi tắt hẳn. Một buổi chiều ảm đạm trong đời thằng Lê Dương. Trúc Mai bảo:

– Anh vô nhà, em cho xem tiếp cái này.

Tôi còn đủ tỉnh táo, bảo cậu A trưởng báo văn phòng tôi sẽ về sau. Trúc Mai đưa tôi vào phòng khách rồi kéo ngăn tủ lấy ra một bao thư lớn để trên bàn, lục đưa cho tôi một bức ảnh cỡ gắn thẻ học sinh.

Tôi nghe tê điếng cả tâm can. Đúng rồi, chính là Huỳnh Mai lội qua trảng lầy, tôi bắt đỉa cắn chân nàng khi sắp tới trạm ông Thanh Vân.

– Anh có quen chị không?

– Ảnh này chụp hồi nào vậy

– Lâu rồi. Nhưng không lâu lắm.

Tôi không biết phải đáp thế nào? Nếu nói có “quen” thì phải nhắc lại cả một quãng đường tình, còn chối phăng thì tủi hồn người chết. Trúc Mai bảo:

– Anh lên đây!

Trúc Mai đưa tôi lên lầu. Bàn thờ. Trên đó có tấm ảnh rọi lớn. Rõ ràng là đóa mai vàng năm nào. Bất giác tôi rút nhang đốt cắm vào lư hương thầm van vái rồi quay lại Trúc Mai, nước mắt nàng chảy ròng ròng. Không biết nàng có hiểu câu chuyện không nói ra qua những cử chỉ vừa rồi của tôi không? Nàng cầm tấm ảnh lên lau bụi trên kiếng rồi hai đứa lẳng lặng trở xuống nhà vừa lúc chuông điện reo. Không biết là ai gọi nhưng tôi cứ bảo là gấp tôi để có cớ thoát khỏi bầu không khí bi đát. Lại một cuộc tình tan vỡ!.

Sáng sớm hôm sau, Tám Râu từ giã tôi. Anh ta buồn rầu nắm tay tôi:

– Toa ở lại nhé ! Không biết bao giờ mình gặp lại nhau. Nhà của moa đó, toa cần gì muốn làm gì cứ tự tiện. Còn con Trúc Mai là con một, nếu toa có bề gì thì cứ về đó nó nuôi. Moa nói vậy, toa hiểu rồi. Thôi, toa ở lại bình an.

Những tiếng cuối cùng Tám Râu nói trong nước mắt.

Tôi cũng cầm lòng không đậu. Khi Tám Râu đi rồi, các cán bộ đề nghị tôi dời quân ngay với lý do đóng ở đây đã ba ngày. Nhất quá tam. Thời cuộc này không thể đóng ở một chỗ quá thời gian đó. Tôi biết trong bụng anh em nghi có chuyện “bất trắc” sẽ xảy ra.

Riêng tôi thì tôi không nghĩ là có chuyện gì. Một người như Tám Râu không làm chuyện mờ ám. Tám Râu là một con người phi thường, như Tống Giang trong Thủy Hử.

Từ đó tôi không gặp lại Tám Râu nữa. Có đôi lần tôi qua đây liên hệ công tác tình cờ gặp Năm No- E phó công trường 5 của Sáu Khâm. Năm No là em ruột của Ba Bụng, xã đội trưởng xã Lộc Hưng… bỏ đơn vị về nhà làm ăn sau mấy trận đánh Phước Lộc, Đồng Xoài. Ở trên cho người đến mời trở lại nhiệm vụ nhưng Năm No xin được làm dân. Tôi có hỏi về Tám Râu, Năm No nói:

– Thằng cha đó, trên đời này không có hai người. Lúa nông nghiệp thu 10.000 giạ , thằng chả đóng 5.000 giạ . Quận tỉnh lạc quyên hỏi một tiếng thằng chả cho 100 giạ. Tụi quận Trảng Bàng này lẫn tiểu đoàn 4 của Hai Nhị, Chín Hung, sống là nhờ gạo Tám Râu. Ê, tao nghe nói ngoài Bắc đấu địa chủ, bắt họ phải ăn cứt có không mậy?

Tôi ấp úng. Năm No nói:

– Chính Sáu Khâm đã tâm sự với tao như vậy.

Tôi không thể chối nên cười trừ:

– Biết rồi còn hỏi làm chi cha nội?

– Địa chủ như Tám Râu thì sao? Có đấu không? -Năm No cười hề hề- Con gái địa chủ Tám Râu coi được đến chớ mậy? Mày không tính làm phò mã hay sao? Tao cũng muốn được như mày lắm, ngặt vì tao biết thân, không thể làm đỉa đeo chân hạc. Mày coi cặp hạc đó, ưng con nào thì leo lên lưng đi, để nó bay đi Sàigòn uổng lấm!

Anh Tám Râu ơi, bây giờ anh có còn trên cõi đời? Dù sao Lôi này vẫn nhớ anh luôn. Và merci Tám Râu.

Chương 105

Thua me, gỡ bài cào, cháy túi.

Gà mái mọc mồng đỏ chét, gáy te te.

Gà cồ kêu tọt tọt.

Bà Năm Đang lại đóng vai trò quan trọng hơn đám quân sự chúng tôi. Bà ta là Khu ủy viên mà ! Đảng trùm lên tất cả, cả những điều đảng không biết gì cả đảng cũng trùm luôn. Nhưng dù bà trên ai thì trên chớ vẫn “dưới” chàng Thiên Lôi này. Kể từ đêm ấy tới nay bà khu ủy gọi tôi như những nhân viên và cán bộ cấp dưới gọi: “Anh Hai!”

Trong cái tình thế “mỗi ngày một trận bom ,mỗi người một quả pháo” của Củ Chi thì ông phó tư lệnh quân khu lại ở đâu lò dò tới. Đó là ông Hai Phón, tên thật của ông là Trần Hải Phụng. Ông lãnh chức phó tư lệnh hồi thời Trần Bạch Đằng làm xếp cả khu này. Ông ta làm tư lệnh kiêm luôn cả chánh ủy hầm bà lằng không có thứ gì là ông không mó bàn tay cóc vô. Qua cái thời kỳ hỗn canh hỗn cư đó mới phân ra ngành này ban nọ. Rồi ông Phụng được coi như phó cối của ông Đằng. Hai Phụng không biết một tí gì về quân sự, bắn súng trường cũng không rành. Đó là sự thật. Trong thời hậu Mậu Thân mà có một ông phó tư lệnh quân khu ở đây thì lính ta càng hoang mang hơn. Trông ông bèo nhèo như con mèo té giếng mới bò lên. Ông không có tướng làm lớn mà không hiểu sao ông lại làm tướng. Có người bảo: chính vì nhầm như thế nên Hạng Võ mới không dùng Hàn Tín, để Hàn Tín chạy theo Lưu Bang quay trở lại đánh binh Sở tan tành.

Nhưng Hàn Tín vô tướng mà hữu tài. Còn ông phó tư lệnh Hai Phụng này thì bất tướng lẫn vô tài. Ông chỉ có tuổi đảng cao thôi. Cái đức tính thứ hai mà ông có là nhát gan. Nghe một phát súng gần gần là ông dáo dác, nếu đang hội nghị thì ông bảo dẹp ngay. Còn nếu đang ăn cơm thì ông buông đũa chạy. Do đó lính đặt cho ông cái tên là Hai Phón, Phón, tức là “Sợ”, sợ run chớ không phải sợ thường.

Gặp ông tôi hỏi ngay:

– Bây giờ làm sao anh Hai?

Ông phó tư lệnh thừa hiểu “bây giờ” tức là lúc này. Lúc này là cuối năm 68 đầu 69, thế là đợt hai tổng phản công còn đang lẹt đét nổ ở các vùng còn quanh Sàigòn thì “Pháo mừng xuân đón bác vào thì tắt hẳn”. Mà nếu còn nổ và thắng lợi thì cũng không đón bác vào được vì cán bộ chết rụi, dân chúng chạy hết có còn ai làm hàng rào thịt mà đón?

Tuy vậy Hai Phón cũng cứng cỏi bảo:

– Thì nắm thắt “nưng” kẻ địch mà đánh “ló”?

Câu nói đó đã trở thành câu kinh trong đám cán bộ quân sự cao cấp nên nó bật ra trên môi ông phó tư lệnh là phải. Còn thi hành được hay không thì họ không cần biết.

Ông Phó tư lệnh tỏ lời khen tôi:

– Cậu còn trẻ mà khá “nắm”! Củ Chi sở dĩ được danh hiệu đất thép thành đồng nà nhờ cậu đấy chứ!

Cái Củ…Chì họ! Thằng Thiên Lôi cũng như bao nhiêu thằng Nam Kỳ thời kỳ đó bùi tai vì những lời khen tặng xúi dại của Trung ương nên vừa rồi bỏ thây vô số ở Sàigòn! Sau những cái chết của Năm Truyện, Tư Nhựt, Hai Phái, Tám Lệ, Thiên Lôi này phón lắm, các bố không còn tính “rô-ti” tên Thiên Lôi này nữa ư?

Tôi hỏi:

– Anh Chín về tới R chưa anh Hai?

– Ờ ảnh về tới lâu rồi, nhưng đi chỉ đạo các khu khác!

Tôi biết tỏng các cha trên R. Sau khi Sáu Di chết, đám Chín Vinh, Tư Chi, (Trần Văn Trà) và cánh ngoài Bắc vô đều lên ruột co vòi trước khi mở màn, Chín Vinh (Trần Độ) làm gan xuống Sàigòn, nửa đường bắt Năm E cõng lội về bị pháo bầy bắn, sợ té đái trên lưng Năm E rồi dọt về kiếm chỗ ăn hút. Chúng chạy tuốt qua Cao Mên “uống thuốc rượu” không đau lưng chớ có tên nào xuống chiến trường đâu.

Có lẽ mắc cỡ lây với ông Chín Vinh nên Hai Phón nói đỡ:

– Anh Chín đang lập phương án mới cho đợt ba.

Sau đợt hai thì còn lính đâu nữa mà hòng đợt ba??

Thấy trong văn phòng của tôi, nhân viên cán bộ ra vào nườm nượp, làm việc không hở tay, các tiểu đoàn lớp báo cáo bằng điện thoại, lớp cán bộ chỉ huy tới bàn kế hoạch, không lúc nào ngưng, Hai Phón lấy làm lạ, hỏi:

– Bộ ở đây ngày nào cũng như thế “lày” hay sao?

– Dạ thì ở Củ Chi từ ba năm nay như thế đó chớ không phải chỉ hôm nay.

(tôi nói thầm: chỉ khác cái là từ sau Tết tới nay, ngày nào cũng có lính đào ngũ từ mặt trận Sàigòn về!). Vừa nghĩ như vậy thì thằng Bòn chạy vào báo cáo:

– Anh Hai ơi !

Tôi có linh tính, biết đó là chuyện gì rồi nên nháy mắt. Thằng Bòn hiểu ngay chạy ngược ra la: “Dắt tụi nó đi chỗ khác ! Bữa nay anh Hai bận họp ?” Hai Phón ngóng cổ cò ra dòm ngoài đồng rồi hỏi tôi:

– Cái gì thế? Tình hình động hả?

Tôi bẩm :

– Đó là lính đi bắt cá cải thiện !

Sự thực là lính của E268 đi đánh Sàigòn trốn về. Tôi phải giấu chớ kẻo mất mặt bầu cua ông phó!

Tôi đãi ông phó tư lệnh bữa cơm chiều một con gà quay chảo nước dừa. Tôi thấy ông ăn ngon lắm, như chưa bao giờ ăn món gì ngon đến thế. Tôi bèn nói:

– Anh Hai để dành bụng tối ăn gà luộc!

– Thế à ?

Trong bếp của tôi có tới bốn em: Hai Nương, con Ẻng, Tư Bé , con Thanh. Tư Bé là cán bộ C phó nhưng luôn luôn xông vào bếp chớ không kiểu cách. Còn con Thanh là cháu Năm Tiều kêu bằng chú ruột. Thỉnh thoảng đóng quân gần nhau, nó vẫn sang bếp nấu đồ ăn ké hoặc xin đem về cho chú Năm nó, hoặc Năm Tiều sang đây nhậu với tôi, nó khỏi nấu.

Đó là bốn em bếp chính, ngoài ra thì đơn vị nữ dũng sĩ của Bảy Mô cũng thường làm tiệc mời tôi xuống luôn, nên cái bếp của trung đoàn tôi thiệt là nhộn và bổ gân lắm. Mà các em ở đây rất đỏ da thắm thịt, mởn tươi chớ không có vàng bủng beo sốt rét rừng như trên R mà tôi đã từng biết quá cỡ.

Tôi thấy cặp mắt của ông phó tư lệnh nhấp nháy như đầm già nghiêng cánh sắp bắn điểm. Tôi thông cảm với các ông già dềnh này lầm. Xa nhà thiếu thốn tình cảm mà ! Cái đầu bạc phếu của các ông đến đâu con gái đàn bà vẹt ra hết chớ có ai dám lại gần. Cho nên các ông thường rên rỉ “hôm nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm”. Mặt trời có đi ngủ thì mặc kệ mặt trời chớ các cháu không có màng. Lê Đức Anh đã từng mò một cháu gái làm vở lở cả R, Trần Văn Trà bỏ ngón cô bé thơ ký đánh máy bị nó la. Chú Vinh thông cảm hữu nghị với bà phó tư lệnh đội quân tóc dài… Tất cả những giai thoại đó đều truyền đi nhanh hơn radio giải phóng nhưng đạo đức cách mạng vẫn không sứt mẻ tí nào.

Tôi cũng muốn bắc nhịp cầu ô thước cho ông phó của tôi lắm. Nếu ông mà dính được với đất Củ Chi này thì ông có thể ưu tiên cho Củ Chi về vũ khí và bổ nhậm nhiều cán bộ cho E tôi. Đời nào tình cảm cá nhân cũng đóng một vai trò quan trọng trong triều đình cả.

Tôi biết Hai Phón không có vợ, bị vợ bỏ hoặc không có người đàn bà nào xáp lại gần ông cả . Vì ông ham mê cách mạng hơn đàn bà. Quả thật vậy, có lẽ Hai Phón không có tai tiếng gì về đàn bà, hoặc có mà tôi không biết vì người ta che giấu quá kỹ chăng? Ông ta sợ… cả đàn bà hay đàn bà sợ ông, không rõ lý do nào. Có lẽ cả hai bên đều sợ nhau, vì ông là tướng mà không bao giờ “đánh trận” nào cả.

Tôi hỏi ý :

– Anh Hai xuống đây có định bắt rễ ở đây không?

Hai Phón hiểu ý tôi, đáp:

– Đất lành chim đậu “em” à !

Chỉ Năm Lê gọi tôi thân mật như thế, không ai khác. Nay có thêm Hai Phón nữa quả tình tôi thấy thương ông thật. Mặt trời sấp lặn rồi mà đêm vẫn chưa ấm. Tôi nằm võng đối mặt với ông, suy nghĩ tìm cho ông một bà đỡ tráp nâng khăn. Mà ai bây giờ? Tôi bắt đầu soát lại danh sách các “nữ tặc” mà tôi biết và khả dĩ xứng độ với ông.

Trước nhất là nữ tặc Mai Khanh.

Nhưng Mai Khanh sau khi tôi rời Bộ Tư Lệnh Pháo Binh thì nàng đã trở thành áp trại phu nhân của ông chánh ủy pháo rồi.

Nàng gặp tôi một lần ở H6 và cho biết như thế, không giấu giếm chi cả.

Tôi bỗng hỏi:

– Anh Hai có biết chị út Tuất (hay Tức) không?

– Bả thôi làm bí thư quận Tân Biên rồi.

Tôi hy vọng làm mai ông phó cho bà này, nhưng tôi giật mình nhớ lại trong một buổi tâm tình bà đã chửi lén: “Mấy thằng già đó, thằng nào cũng mò em!”

Không biết trong mấy thằng già đó có “thằng già Hai Phón” này không? Nghĩ vậy tôi không dám hỏi tới nữa, nhưng Hai Phón thở dài:

– Bà đó khó tính lắm. Bả không muốn hoạt động nữa và hình như có yêu ai rồi.

– Ai vậy anh Hai?

– Một thằng trẻ lắm. (Tôi giật mình) -Hai Phón tiếp- Con gái không chịu ông già, còn bà già thì lại muốn thanh niên. Đó là lẽ thường.

Tôi nói:

– Vậy ông Vũ Ba cụp với bà Năm Đang thì sao?

Hai Phón gạt:

– Sai lập trường!

Tôi ngạc nhiên kêu lên:

– Bà Năm là khu ủy viên mà anh! Lập trường bả “cao” chớ đâu có thấp ! -Tôi định nói cứng chớ đâu có mềm, nhưng sợ làm phật ý ông phó tư lệnh không thân.

– Mấy chả nâng đỡ chớ bả con nhà tư sản. Ông già bả có nhà máy xay lúa! – Có lẽ muốn vớt vát Hai Phón tiếp- Tại hồi đó trong khu không có cán bộ nữ, nên đưa mấy bả vô cho đủ thành phần.

– Vậy cũng đúng thôi anh Hai. Hồi đó nhờ có bả với mấy bà khác mà thằng cha Burchett tới đây mới bày ra vụ quay phim, bộ phim đầu tóc đó chớ. Nếu không có bả cầm cán thì lấy ai vận động. Trời! thằng cha Burchett phục mình sát đất và nó tin rằng mình đã giải phóng vô tới cửa ngõ Sàigòn rồi đó anh Hai!

Hai Phón làm thinh. Tôi cũng làm thinh nhưng trong đầu soạn tiếp bảng kê các nữ tặc. Còn một vài bà sồn sồn như chị Tám Khỏe ở Phú Mỹ Hưng người đàn bà có hai đời chồng, người chồng trước đi dân công chết mất dạng ở Bình Long, người sau là D phó Ba Tố. Chị Tám đang ở không. Nhưng, mặc dù trống chân, Tám Khỏe chưa chắc đã chịu ưng ông phó tư lệnh. Thây kệ, tôi cũng ướm thử cái vung vào chiếc nồi này xem.

Gần đây có mấy bà nông dân góa chồng, mấy bà má chiến sĩ. Má Hai, má Tư ở Gót Chàng, Sa Nhỏ, nhưng chắc ông phó tư lệnh chê già trầu. Những tên già dơ đời nào lại chịu lấy già trầu.

Trong bếp có Hai Nương, người đàn bà góa quá nghèo không nuôi nổi hai đứa con và bà già chồng nên phải theo làm “hỏa đầu quân” cho bộ đội để lâu lâu xin một ít gạo đem về nhà. Nhưng Hai Nương còn quá trẻ, mới ba mươi, băm hai, đâu chịu quơ lão già dềnh này.

Trong đám cán bộ FM đầu bạc, chỉ có Năm Tiều là hên, chộp được Sáu Nguyện, tuổi đáng cháu. Cái đó cũng không hại gì “chú” cũng chỉ khác “chó” có một chữ “u”. Sau này còn Bảy Đạo, xúc được cô bé mười tám rồi dàn cảnh chiêu hồi về Sàigòn lót ổ uyên ương. Lại còn dắt lính về khui bầm bất bộn cán lớn cán nhỏ. Tôi gọi Hai Nương lên bảo:

– Em để việc nấu nướng cho tụi nó, anh nhờ chuyện này chút!

– Chuyện gì anh Hai? (Hai Lôi, không phải Hai Phón).

Hai Nương vừa nói vừa chùi tay vào hai bên mông, má đỏ rực vì vừa trong bếp ra.

Tôi bảo:

– Anh Hai đang bịnh, nhờ em ở đây săn sóc giùm. (Hai đây là Hai Phón chớ không phải Hai Lôi).

Hai Nương dư biết tôi có ý định gì, bèn gật đầu vui vẻ “nhận lệnh”. Tôi liếc thấy Hai Phón lim dim làm bộ ngủ bèn đứng dậy bảo Nương:

– Em nằm ở võng anh, có chuyện gì thì giúp anh hai xuống hầm giùm. Anh đi có việc!

– Dạ .

Bố trí “hỏa lực” xong tôi nói:

– Nếu có chuyện gấp anh cho cô này chạy kêu tôi nghe anh Hai. Cô ấy từ giờ phút này sẽ là cần vụ của anh đấy.- Nghe tôi dặn, Hai Phón thừa hiểu ý đồ của ông dê trưởng.

Tôi đi ngay.

Rời khỏi chỗ này tôi cảm thấy mình vừa làm một việc, không biết là đại phúc hay đại ác. Cháo không ra cháo cơm chẳng ra cơm. Nhưng tôi, mặc kệ, ở cái đất Củ…này thì rủi may, hên xui, họa phúc cũng chỉ là một cái trở tay. Không chịu làm “bà phó” thì nấu bếp suốt đời.

Mấy hôm liền bận, chạy không bén đất, nay mới gặp lại cô em. Hai Nương đi mua muối ở quán Chín Khuôn về. Thấy tôi từ xa, cô nàng vừa ngoắc, vừa chạy lại. Gặp mặt tôi cô bé kêu lên:

– Sao anh ốm nhách, ốm nhom, mặt trỏm lơ vậy?

– Thì bị lo công việc chớ sao?

– Anh đi mất biệt hà !

– Anh em ở nhà có bảo vệ “anh Hai” kỹ không?

Mặt Hai Nương bùng thụng:

– Anh kỳ thấy mồ.

– Gì kỳ ?

Tôi biết là có chuyện, nhưng không biết dữ hay lành nên bảo thằng Đá và thằng Tiễn về văn phòng trước, gọi các ban chỉ huy D lên họp.

Còn lại một mình tôi, nàng mới “làm dữ”:

– Ai biểu anh làm kỳ vậy?

– Anh làm gì mà kỳ?

– Anh bắt em phục vụ ông già đó.

– Thì sao, ổng ghiền trà, nửa đêm ổng lên cơn em nấu nước cho ông, có thế mà không làm được hay sao ? -Tôi làm mặt giận để trấn áp cô bé, nhưng nàng không chịu im.

– Pháo bắn… ổng bò càng.

– Rồi sao?

– Em đưa ông xuống hầm.

– Thì tốt chớ sao.

– Ổng đái ướt nhẹp hầm. -Cô bé nói, tôi không bụm miệng kịp.

Tôi cố làm nghiêm:

– Nước mưa dột đó chớ nước gì!

– Em quen với mùi nước đái của con em rồi, em không biết sao?

(Tôi nghĩ thầm: quả thật danh bất hư truyền: hai Phón. Lính cận vệ ông ta đã cho đám cận vệ của các ông lớn khác biết. Mỗi khi các ông họp thì đám này kiếm chỗ ăn hút, đánh cờ hoặc nói tiếu lâm. Rồi chuyện Hai Phón đái ướt cả hầm mỗi khi bị xe tăng đuổi hoặc chụp dù, phải độn thổ, cũng trở thành tiếu lâm luôn. Bây giờ đến cô cấp dưỡng này lại chứng minh thêm lần nữa cái điều đó).

Hai Nương có vẻ bất mãn, mặt bự ra như trái bí rợ có nhiều múi:

– Em ghét anh lắm.

Tôi cười xòa:

– Không chị… ịu thì thôi chớ ghét anh làm gì!

Hai Nương tiếp:

– Nửa đêm ông gác cái công qua võng em.

(Thì đúng như cái sách của Bảy Ưng trổ mòi với vợ Tư Nhựt).

– Sao?

– Còn sao nữa.

– Rồi em êm luôn hả?

– Êm gì? Em xách lên ném xuống đất. Rồi em bỏ võng đó vô bếp.

Tôi chắc lưỡi bâng quơ:

– Tội nghiệp người ta chưa! Lần sau chắc gác võng không!

Hai Nương lườm tôi. Tôi rỉ tai nàng:

– Bộ không chịu làm bà phó tư lệnh sao?

– Phó… Táo thì có !

Thế là ông mai hụt ăn đầu heo. Tôi gặp Hai Phón. Mặt ông tỉnh bơ:

– Đêm qua kéo một giấc quá đã !

– Có thấy “bắn máy bay”… chụp dù gì không anh Hai?

Hai Phón có lạ gì mà không hiểu cái tiếng của nhà lính, nhưng cố trả lời ăn trét.

– Ban đêm nó cũng chụp nữa sao?

– Dạ chụp chớ, nhưng thường là chụp hụt.

Hai Phón hiểu ý định tốt của tôi muốn giúp đỡ ông ta nên cứ khen tôi liền miệng.

Chiều hôm đó bá quan tới dự mặt, toàn ông kẹ mặt rằn.

Tám Dọn phó chính ủy quân khu, Hai Trí sư phó F5, Năm Sĩ E trưởng E268, Ba Lanh chính trị viên E268, ban chỉ huy huyện đội có Năm E, Bảy Đạo, cao cấp nhất là bà khu ủy Năm Đang. Cuộc họp sẽ bàn việc đánh Trung Hòa, đặc biệt có một nhân vật mới:

Tám Dọn tức Tám Lê Thanh, từ R xuống là phó chánh ủy khu. Sở dĩ ông có cái tên Tám “Dọn” là vì trên đó ông làm trướng ban an ninh kiểm soát toàn khu, có đủ quyền hạn làm mọi việc kể cả việc dời nhà (lều) người ta. Chỗ nào không ở được thì y chỉ định cho ở, chỗ nào ở được thì y bắt phải dời đi. Ai cũng phải sợ y như hung thần. May phước, Sáu Di vô R, ra lệnh cho lính kiểng của y (ngót 1000 tên) ra trận, vác súng nắm thắt lưng Mỹ mà đánh, nên Tám Dọn cũng cuốn nóp bỏ chức hung thần lại R, đi oánh Mỹ, xuống đây với chức chánh ủy bậc phó . Gốc đánh xe ngựa ở Hóc Môn. Sau Tết, anh Tám tự võ trang một chiếc xe ngựa đi xuống Thầy Gòn do thám. Không cần phải thay hình đổi dạng, không cần học cử chỉ dân xe ngựa gì hết, anh Tám cứ lên xe, quất ngựa thế là đạt kế hoạch 100% Lính gác Sàigòn có tài nào nhận ra anh Tám là phó chánh ủy?

Kỳ này anh Tám cùng với anh Hai thay mặt Khu ủy và Bộ tư lệnh Khu phổ biến kế hoạch đợt hai. Gặp anh Tám vốn quen thời tôi làm anh hùng đặc… công đoàn “xách nóp” của Huỳnh Thành Đồng đánh sân bay Biên Hòa được bà già háp Phùng Văn Cung ôm hun dính cổ trầu đầy mặt), tôi hỏi anh Tám tình hình ven đô:

– Lính mình vô tới đâu anh Tám.

Tám Dọn vốn mặt dài như mặt ngựa, càng dài ra thêm, cố cười để cho nó thun ngẩn lại nhưng khổ thay nó lại càng dài ra trông đến thảm hại.

– Mới vô múm ngoài ven. Đợt hai này mới phập vô sâu.

Rồi anh Tám đánh trống lảng. Tôi biết thừa. Nhưng ai dám vuốt râu hùm. Láng cháng anh Tám phát quạu, anh Tám kêu dắt trung đoàn của tôi đi nướng tiếp thì bỏ mạng. Mà đã đưa đi nướng rồi, may sao được kêu trở lại đây.

Anh Tám biết nghề võ hơn anh Hai nên đứng ra phổ biến kế hoạch tấn công. Chiếc bàn độc nhất trong nhà dùng làm chỗ “dựng sa bàn”.

Tấm bản đồ được trải ra, chiếm bít nửa mặt bàn.

Những người lạ như Năm Sĩ, Hai Trí… thì nom vào xem nó là cái bản đồ đồn nào. Nhưng tôi biết ngay. Tôi ngó Năm E. Năm E quận đội trưởng thì còn lạ gì. Năm E rỉ tai tôi nói nhại bằng tiếng Chệt: “Há, cái “lồn” chủng cùa” . Hắn liếc tôi xem mặt tôi có biến đổi không. Thời buổi bộ đội te tua như cái áo rách, trên răng dưới dế này mà đánh đi Trung Hòa, họa có là thằng điên mới chủ trương. Mà thằng điên chủ trương thật. Chúng chủ trương như vậy bởi vì chúng ở nhà, chúng không có ra trận. Chúng muốn nướng những thanh niên không phải là con cháu chúng.

Tám Dọn khá thuộc địa hình Củ Chi, trình bày khá rành.

Tám Dọn nói:

– Mục đích yêu cầu của ở trên là tiêu diệt cứ điểm này để mở rộng vùng giải phóng, đặc biệt là quận Củ Chi. Khi hạ được nó, tất cả những đồn bót khác sẽ lung lay, mất tinh thần, hoặc sẽ rút. Ở trên tăng cường cho các đồng chí E268 của F5. Trước đây chỉ có E Thép mà các đồng chí đã tiêu hao nặng quận lỵ Củ Chi, nay với lực lượng gấp đôi, ở trên tin tưởng các đồng chí sẽ hoàn thành nhiệm vụ một cách vượt mức. Đây là trọng điểm của quân khu trong đợt ba.

Cử tọa đều lặng thinh. Tôi ngó theo Hai Trí. Hai Trí không nói gì hết. Thì bà Năm Đang vọt miệng:

– Tôi xin thay mặt quận đội, E Thép và E268 nhận nhiệm vụ trước cấp trên.

Mọi người sửng sốt, nhưng không bụm miệng bà khu ủy được. Con gà mái mồng đỏ chót này cũng đã từng thay cho bầy gà cồ gáy lệnh cho chúng tôi nổ súng xuất quân hôm Tết.

Thì bây giờ cũng bả chớ ai trồng khoai đất này? Củ Chi nhiều dũng sĩ và nhiều nữ anh kiệt nhất miền Nam mà ! Ai muốn thành anh hùng dũng sĩ hãy về đây!

Tám Dọn tiếp:

– Ở trên sẽ tăng cường vũ khí và phương tiện khác yểm trợ cho các đồng chí hoàn thành nhiệm vụ.

Tám Dọn tiếp:

– Đợt hai chúng ta dừng một bước, tiến hai bước. Địch tưởng ta yếu và sắp sửa rút lui. Đợt ba chúng ta dứt điểm Sàigòn một cách bất ngờ. Các địa phương đều phải chọn trọng điểm và dứt điểm. Mỗi quận phải hạ cho được quận lỵ, hoặc cứ điểm quan trọng nhất của quận. Với Củ Chi, ở trên chỉ định cứ điểm Trung Hòa.

Nghe nói cái danh từ “Trung Hòa” tôi lại ngó Hai Trí. Hai Trí cũng vừa ở ven đô chạy vắt giò lên cổ về đây. Nhưng Hai Trí không có ý kiến gì hết. Ở vị trí của anh, anh không dám nhận nhiệm vụ nhưng từ chối thì từ chối cách nào? Quân xử thần tử thần bất tử bất trung.

Bên cạnh Trung Hòa còn có Đồng Dù và quận lỵ Củ Chi và một hệ thống đồn bót dày như bàn tay. Hơn nữa chỉ cách Sàigòn 15 phút trực thăng, 30 phút đường bộ. Còn pháo thì có đến hằng trăm cụm chĩa họng vào. Đụng tới Trung Hòa là bứt dây động rừng. Rừng này là rừng pháo, rừng trực thăng sẽ không có bóng mát cho anh đội núp.

Tụi Bê Ka R phong cho Năm Truyện chức sư trưởng, Hai Trí chức sư phó F5 không phải vì lẽ công bình trong sự đề bạt mà là dùng họ làm những tấm gạch lót đường cho bọn Bê Ka đi theo sau ngồi xổm trên những chiếc ghế trống người. Người Nam biết chăng?

Năm Sĩ lặng thinh. Con Hùm Xám Điện Biên này đã bị chụp nhiều trận kinh hoàng ở đất Củ Chi, Trảng Bàng. Bây giờ đã trở thành con hùm sút móng hay con gì khác khoác bộ da hùm. Mới vào đây lúc nào cũng bô bô trận đánh quân đoàn Charton Lepage biên giới. Chuyện đó có thật. Nhưng đánh với Pháp thời 1950 anh chàng thanh niên miền núi này dùng tinh thần dũng cảm, sử dụng chưa rành khẩu súng trường, còn bây giờ lòng dũng cảm không thể thiếu sự yểm trợ của vũ khí. Đồn bót Mỹ có lỗ châu mai lỏng lẻo cho mọi đảng viên Phan Đình Giọt (1), còn xích xe tăng Mỹ không phải là nệm bông cho Tô Vĩnh Điện (2).

Ban đầu tôi cũng không ưa cái anh Bắc Kỳ mắt toét này. Nhưng đánh chung mấy trận đơn vị của hắn bị sát thương quá đông vì đất mới chưa quen địa hình địa vật. Đi một D bỏ lại chiến trường cả một đại đội? Đơn vị nhếch nhác kéo về. Bom gì nó dội hàng chục hiệp, pháo gì nó bắn hàng giờ không ngớt. Lính đâu mà bổ sung? Tôi đâm ra thương xót anh bạn Bắc Kỳ. E268 của y còn có hơn trăm ngoài tay súng. Bây giờ bổ sung cho F5 của Hai Trí. Tất cả chỉ còn non 300. Vậy mà cũng gọi là một E? Thế giới này chưa có !

Tám Dọn phổ biến kế hoạch trao nhiệm vụ xong cho bọn này rồi đi. Hai Phón ở lại kiểm tra lực lượng E Thép của tôi. Đúng ra tôi đưa ông ta đi coi súng.

Gặp súng nào ông cũng hỏi, địa lôi DH10 của Trung Quốc, súng RPD của Liên Xô ông cũng không biết. Ông không biết một thứ súng nào. Thấy cây bộc phá sào ông hỏi:

– Sao có thứ súng gì kỳ cục vậy?

Rồi gặp cây DKB (đạn khoan bê tông) ông cười như đứa con nít: “Súng gì giống cái máng heo ăn!” (Mà nó giống thật).

Tôi dắt ông đi xem một công sự đại liên của Sáu Lức (đi nghỉ phép mới về). Tôi bảo thao tác như có địch cho ông xem. Ông lấy làm lạ. Không hiểu tại sao đạn lại ra có dây như vậy. Nay thì hiểu rồi.

Còn tôi nay thì mới hiểu tại sao một ông đại dốt về quân sự như vậy và gan ruột như con tép, mà lâu nay lại làm tới phó tư lệnh một quân khu đánh với Mỹ: Trên đầu bất cứ thằng Nam Bộ có chức nào cũng ngồi xổm một tên Bắc Kỳ dốt hơn.

R là một chứng cớ.

Rồi Hai Phón đi.

Chúng tôi lại họp để bàn kế hoạch cụ thể. Hai Trí hỏi tôi:

– Mày thấy tương quan lực lượng thế nào?

– Vậy anh thấy ta nhào vô Sàigòn với tương quan lực lượng nào?

– Cho nên kết quả thế đó !

– Mình đánh không cần thắng mà anh Hai!

Hai Trí là một cán bộ trình độ học vấn cao nhất trong hàng cán bộ thời kháng chiến chống Pháp nói chi bây giờ. Thời Pháp anh học trường Le Myre de Vilers sau Trần Văn Trạch hai năm. Khi tôi lên năm thứ hai thì anh đã lên năm thứ tư.

Anh rất gan dạ . Lính gọi anh là ông chính trị viên gương mẫu. Bây giờ là F phó. Ở Bình Long, Phước Long, đơn vị anh đụng Mỹ chơi bom chết độ một nửa. Anh là kẻ may mắn sống sót. Thằng Nam Bộ chịu chơi. Gương mặt trẻ măng năm 48, nay má chảy xệ, trán nhăn như vồng khoai, tóc lưa thưa bạc trắng một bên. Anh cười với tôi:

– Bên kia nhờ B52 nó gọt giùm!

Cuộc thảo luận kế hoạch đánh Trung Hòa có mặt Năm E quận đội trường và Bảy Đạo tham mưu trưởng Củ Chi.

– Làm sao mậy? -Hai Trí vẫn gọi tôi như thời xưa.

– Anh để đó, tôi tính.

– Để tao hỏi Năm Sĩ coi ! Nhưng anh ta không quen đánh công kiên ở xứ này đâu. Trước nhất là tao thấy trở ngại cho lính y là hai con suối này.

Đó là suối Trung Hưng (cũng còn gọi là suối Gia Bẹ) và con suối Bà Cả Bảy. Hai con suối này cách xa nhau chừng ba cây số và chảy song song với nhau. Một con lộ cắt ngang hai con suối này. Đó là Hương lộ 7A. Bảy Đạo mở cái bản đồ của ông ta ra cho cả bọn nghiên cứu. Y cười rung rung cái đầu bạc phếu:

– Chắc bọn già mình bị “thượng mã phong” cú này quá .

Năm Sĩ la lên:

– Ông tham mưu trưởng nói gì gở vậy?

Năm E bảo:

– Không nói nó cũng gở mà ? Hôm cõng ông Chín (Vinh) qua Rạch Cây Da, ông đã “tưới nước cam lồ” trên lưng tôi, nay còn ấm hổi, thì đó không phải là điềm gở hay sao?

Bảy Đạo trỏ vào bản đồ:

– Mấy ông coi đây có giống là con đàn bà nằm chàng hảng cặp giò ra đấy hay không?

Hai con suối là hai cái chân. Hương lộ 7A là sợi dây lưng quần của Hai Lôi mượn cô du kích trong trận hạ bót Thầy Mười năm kia.

Tôi la lên:

– Ê, đừng nói bậy xui ta, ông tham mưu!

Bảy Đạo cười trừ và tiếp:

– Trên sợi dây lưng quần là cái rốn… hì hì… Trung Hòa! Nhìn kỹ mà coi. Hí hí, chính mình phải ngoáy vô đó rồi phá bể ra.

Thằng cha này mất nết thật , nhưng mất nết có duyên và có lý . Lâu nay tôi vẫn nghiên cứu cái Trung Hòa này nhưng tôi chưa hề có ý nghĩ kỳ lạ như vậy. Tuy kỳ lạ nhưng không sai sự thực bao nhiêu. Thằng cha mới vừa cưới vợ nên thấy cái gì cũng đàn bà. Chỉ hơi sai cơ thể học một chút là hai cái Gò Nổi trên và Gò Nổi giữa lại nằm không đúng vị trí.

Năm E cười khặc khặc. Bảy Đạo móc viết chì bốn màu, bấm đầu đỏ ló ra và chấm vào cái rốn rồi khoanh một vòng chung quanh trùm lên những nét đan thanh mà y đã kẻ, làm cho Trung Hòa trở thành điểm đậm nổi bật nhất. Tôi hỏi:

– Ông tham mưu sẽ tấn công như thế nào?

Bảy Đạo chỉ bằng mũi bút chì:

– Theo tôi thì phải từ dưới Đồng Lớn đánh phốc lên. Từ Trung Lập Hạ đâm qua, từ Hố Bò chĩa xuống. Ba mũi giáp công đúng y bài bản trăm phần trăm là lượm bạc.

Tôi pha trò:

– Nhưng nó chủ… động chớ có thụ… động để mình tấn công đâu ông tham hắc xì mư…u!

– Hì, hì. Phần kế hoạch cụ thể là do các ông chủ… động ! Còn lực lượng của tôi chỉ là du kích đánh hôi, cáng thương binh, dắt tù binh thôi.

Hai Trí là viên chỉ huy theo tôi biết, chỉ giỏi trong các trận phục kích như trận Phong Phú ở Vĩnh Long năm 49 tiêu diệt gọn một D Âu Phi trong nháy mắt trong đó C của Hai Trí là hỏa lực chính. Còn đánh đồn Mỹ thì chưa từng. Tôi mô tả chi tiết cho anh nghe về đồn Trung Hòa. Nó là điểm cơ động yểm trợ các cứ điểm của vùng cửa ngõ Sàigòn, binh lực của nó gồm một tiểu đoàn thiện chiến đóng ở giữa, ba đại đội nghĩa quân đóng vòng ngoại.

Pháo binh một tiểu đoàn gồm ba khẩu 105… bắn một trăm phát trong 10 phút. Tám hỏa điểm gồm toàn đại liên và trọng liên. Có sân bay, có kho đạn, có đội vận tải, đội tiếp tế trại lính. Còn những gì khác thì không biết. Ước tính: muốn hạ cứ điểm này phải có một E mạnh và một E dự bị. Phải có vũ khí phá tường, xung kích phá rào. Thang để leo qua rào. Từ thời Pháp tới nay cứ điểm này chưa từng bị tiêu diệt lần nào.

Nghe xong Hai Trí làm thinh. Hồi lâu mới hỏi:

– So với Củ Chi nó thế nào??

– Củ Chi là một quận lỵ có dân chúng lộn lạo ra vào buôn bán, có phố xá, giúp cho mình nghiên cứu và trú quân dễ hơn. Trung Hòa là căn cứ quân sự đặc biệt, thuần túy quân sự. Khó nghiên cứu, khó thâm nhập, khó rút lui.

– Dân chúng quanh bót thế nào?

– 90% Quốc Gia. Dân trong này chạy ra đó đang lãnh tôn, lãnh thuốc, gạo rồi ở luôn không về. Không biết họ ngả theo bên nào!

Năm Sĩ có vẻ chán nản, lúc nào cũng lui cui dưới bếp, nấu nướng và trò chuyện với mấy em cấp dưỡng. Tôi cũng biết y xa nhà thiếu thốn tình cảm nên cứ để y tự do và còn đốc xúi nữa. Y uống rượu suốt ngày. Lạ thay, không say. Hai Trí biết y buồn vì đã nướng nhiều quân nhất trong các đơn vị miền Bắc vào đây, nên không phê phán gì cả và cũng không tỏ ra là cấp trên của y. Lúc nào Hai Trí cũng gọi là “anh Năm” ngọt. Riêng tôi, tôi thấy tội nghiệp y quá Có thể nói kiến thức quân sự của y gồm một ít kinh nghiệm lỗi thời. Y chẳng hiểu kẻ địch đủ để đánh địch. Chỉ có lòng dũng cảm và sự kiên trì theo đúng mà thôi.

– Anh Năm ơi ! Chiều nay tụi mình nhậu gì nào? Gà xé phay nhé !

– Gì cũng được miễn cay thì thôi.

Hai Trí vui vẻ:

– Từ về Nam tới giờ, xuống Củ Chi mới được ăn cơm trắng lần thứ nhứt!

Năm Sĩ không mắc cỡ, không giữ kẽ gì cả. Y vừa cầm đùi gà cạp, tay bưng rượu nốc, nói oang oang:

– Trong này dân sướng bỏ mẹ, mà ở ngoài đó toàn tuyên truyền bố náo.

Năm E nói:

– Chừng nào hết chiến tranh đồng chí về đưa má nó vô đây tui cấp cho vài mẫu đất.

– Mẫu là bao nhiêu?

– Chừng hai chục sào ngoài ta -Tôi nói- vô đây cùng với mẹ đĩ làm hợp tác xã !

– Con lậy ông. Hợp tác xã đói rã thây!

Các ông quận rút lui hết. Tôi nói:

– Nhậu xong tôi với anh đi trinh sát nghe anh Năm.

– Cậu cũng đi à?

(Năm Sĩ lớn hơn tôi chừng sáu, bảy tuổi nên gọi tôi thế). Tôi đáp:

– Phải đi chứ.

– Cậu không có trinh sát à?

– Có chứ, nhưng phải đi kiểm tra thực địa, để nắm chắc địa hình bố trí quân lực.

– Ờ…ờ ờ ….

Tôi dắt Hai Trí, Năm Sĩ và Chín Hiếu (Hiếu là C trưởng pháo binh của Năm Sĩ) đi trinh sát. Tháp tùng có một tổ trinh sát của tôi gồm ba cậu và hai cô. Năm Sĩ lấy làm ngạc nhiên thấy hai cô gái đi theo. Tôi bảo:

– Khi cần thì đắc dụng lắm đó anh Năm! Con gái mới vô gần được, rồi từ đó ngó qua đồn, làm quen với lính đồn. Dần dần tìm hiểu!

– Ừ, đó là quan điểm nhân dân áp dụng trong du kích chiến tranh.

Tôi kể lại cho y nghe lần tôi chạy Honda nói chuyện với lính ngoài phố, giả dạng nông dân dắt trẻ con qua cửa bót để đo mặt đường bằng bước chân. Năm Sĩ kêu lên từng chập. Y không ngờ tôi “nại niều nĩnh đến thế! Lần đầu tiên, cuộc trinh sát đến Trung Hòa không gặp khó khăn nên kết thúc nhanh.

Năm Sĩ nói:

– Ở ngoài tôi nhiều chuyện bố “náo” bỏ bà. Trước đây tôi tưởng anh hùng Giáp Văn Khương ở Sư 308 là có thiệt. Sau nghe lại là chuyện bịa ! Giáp Văn Khuông đâu có nhảy từ đỉnh Non Nước xuống sông Đáy… Ờ, đó là chỗ thằng Béc-na con thằng Đờ-lát tử ẹo.

– Anh có gặp Giáp Văn Khương không?

– Không.

– Không gặp sao dám chắc là láo?

– Nghe cũng biết chứ đợi gì gặp mới biết láo?

Tôi nói:

– Tôi không bao giờ tin trinh sát 100%. Nghe nó báo cáo xong tôi phải trực tiếp tới tận nơi. Anh Năm à ! Đất này là đất sình nghe anh. Rủi nghiên cứu không chính xác, anh mang súng cối nặng đến đó không có chỗ đặt rồi làm sao? Bộ anh tưởng dễ gì có một Bế Văn Đàn (3) hay Tô Vĩnh Điện hay sao?

– Náo tuốt. Nàm gì có chuyện đó đâu!

– Sao chuyện nào cũng láo hết vậy?

– Thì náo nói náo chớ nói thật sao được. Thằng nào nà thằng Đàn? Tìm đi!

Mà thật vậy, chính tôi cũng có biết một anh hùng quân đội được tấn phong trong đại lễ nhưng hiểu ra, không phải là anh hùng. Mà chính anh ta cũng không hiểu tại sao anh ta được nhận danh hiệu anh hùng. Danh hiệu anh hùng là do ở trên đâu đó chỉ định chớ nào phải tự bản thân của người anh hùng!

Chúng tôi chia làm ba cánh đi nghiên cứu suốt năm ngày và quyết định kế hoạch cụ thể không có sự tham gia của quận đội. Mấy ông này chỉ hụ hợ kiếm chác, lại còn gây tiếng xấu cho quận đội như trận đánh vào thị trấn Củ Chi, du kích vơ vét (cũng loại ba có truyền thống) đem về mấy xe bò. Tới nay đầm già còn loa gọi chúng tôi là giải phóng củ cặc (Nếu ăn… cặc có nghĩa là ăn cướp thì còn khá hơn là ăn cặc và ăn cặc.)

Chủ công là đơn vị E Thép và E268 của Năm Sĩ. Bộ chỉ huy chiến dịch gồm có Hai Trí và tôi, trụ sở đặt ở khoảng giữa suối Trung Hưng và Hương Lộ số 2. Đơn vị tấn công chính gồm có E268 của Năm Sĩ và hai D, E Thép của tôi. Cả hai từ phía Tầm Lanh đánh xuống. E268 đóng ở Tầm Lanh. Đợt một, hai D của tôi nổ súng mở đột phá khẩu. Và pháo binh của E268 bắn cấp tập rót qua đầu chúng tôi. Ba D, E268 của Năm Sĩ xung phong đợt hai từ trên xuống.

Trong lúc đó một D của E Thép từ phía cầu Công Sở đánh phốc lên, ba mũi với chiến thuật cổ điển tiền pháo hậu xung. Một đơn vị du kích sẽ kềm chế bót mới ở ngoại vi Trung Hòa bên mé suối Bà Cả Bảy.

Dự tính thời giờ: 3 giờ khuya nổ súng. 4 giờ rưỡi sáng kết thúc trận đánh. Rút lui về đến căn cứ thì vừa hừng sáng, đào công sự phòng ngự chờ địch. Các đơn vị dự bị, cứu thương tiền phương đâu đó rất chu đáo không chê được chỗ nào.

Nhiệm vụ trước ngày nổ súng là giữ bí mật. Lính tráng tuyệt đối không được nhởn nhơ ngoài đường. Không được tự động nấu ăn, không được về phép.

Năm Sĩ bỗng nhiên hỏi tôi:

– Ở đây có nơi nào bán hương “chầm” không?

– Hương chầm là cái đếch gì? -Tôi hỏi.

Hai Trí đáp thay:

– Là nhang đó! Cái thằng ở ngoài Bắc mười năm mà không biết hương là gì à?

Tôi lại hỏi Năm Sĩ:

– Anh cần nhang để làm gì hả anh Năm?

– Cậu kiếm lo cho tớ một ít đi!

Hai Trí chép miệng:

– Mày đi mua cho ảnh một ốp đi. Ảnh cúng vái đấy.

– Cúng vái ai anh Năm?

– Bố tôi ! Tôi vái bố tôi phù hộ cho tôi.

Tôi cho thằng Đá chạy đi mua ốp nhang. Sẵn có bàn thờ trong nhà, Năm Sĩ đốt nhang nâng ngang mày và lâm râm khấn vái với tất cả sự thành kính. Tôi nghe rõ từng câu:

– Hôm nay đời con sắp đến giai đoạn gay go nhất. Xin hương hồn thầy mẹ phù hộ cho con tai qua nạn khỏi -Rồi cúi rạp mình xuống giây lâu. Xong, anh xá ba xá .

Mấy đứa nhỏ bấm nhau chỉ trỏ phía sau lưng.

Tôi thực sự cảm động. Thấy tôi nghiêm nghị chúng không dám cười. Tôi thật không ngờ một thằng dạn dày bom đạn hai mươi năm lại có cử chỉ đó. Chúng tôi chia tay, ai làm nhiệm vụ nấy. Tôi cho hai C phó đi với Năm Sĩ để làm tham mưu cho y. Hai Trí ở lại với tôi. Trời chạng vạng chúng tôi đến chỉ huy sở. Hầm hố, dây điện thông tin, chỉ huy đều đã bố trí xong. Nằm trong hầm gối đầu trên chiếc nón sất Mỹ, Hai Trí cứ thở dài sườn sượt. Rồi bỗng nhiên anh hỏi tôi:

– Lôi à, mày gặp Năm Sàigòn lần cuối cùng ở đâu?

– Cũng trên đất Củ Chi này ở ven rừng Đồng Lớn kia kìa. -Tôi đáp- Trước khi đi ảnh có than một câu.

– Câu gì “anh Hai”? -Hai Trí chọc tôi.

Tôi đáp:

– Một ra đi là không trở về! Thì đúng y!

Hai Trí tiếp:

– Con người trước khi chết rất linh mày ạ. ảnh nói kỳ này đơn vị mình bị thiệt hại nặng chưa từng. Quả y như rằng tao kéo xuống Mỹ Phụng bị pháo bắn…

– Thôi, nhắc chi anh Hai.

– Tôi không muốn nhắc nhưng thấy Năm Sĩ cúng vái tao phát ngậm ngùi. Tao nghĩ kỳ này y sẽ không khỏi.

– Bộ lần nào trước khi ra trận ảnh cũng đều làm vậy sao?

– Thỉnh thoảng. Nhưng tao nghe cận vệ của ảnh nói trong ba-lô của ảnh lúc nào cũng có nhang thơm.

– Ở ngoài Bắc đâu còn cho bán nhang nữa anh Hai?

– ấy là tao nói lúc y xuống đồng bằng kìa. Cái ba-lô của ảnh bị pháo bắn văng mất. Ảnh càng tin dị đoan. Cái ba-lô thay mạng ảnh. Ảnh càng vái nhiều hơn. Năm Sàigòn cũng vậy. Trước khi chia tay ảnh bảo: “mày nhớ ngày này và mỗi lần ăn cơm nhớ cúng tao!” Tao gạt ngang: “Thằng Mác Xít không nên tin dị đoan”. Nhưng nào dè đâu lại thật !

Tôi nhắc lại lần gặp gỡ Năm Sàigòn ở ven rừng, với Tư Chi, Tư Nhựt. Năm Sàigòn đưa cho tôi xem quân hàm trung tá. Tôi đòi đổi ba cái ba-lô Mỹ cho anh mang cho gọn. Tôi vỗ vỗ cái bao tử trâu mắc trên vách, nói:

– Cái ba-lô của ảnh còn đây nè, anh Hai.

– Mày nhớ ngày nổ súng không?

– Mồng một tết.

– Ừ được ngày đó, ai chết đều được ăn no vì người ta cúng nhiều. Đi nhà nào cũng gặp đồ ăn trên bàn thờ.

Tôi não lòng lắm. Nghe câu chuyện của Hai Trí, nhớ cái đầu bổ bổ của Năm Sĩ trong làn khói hương mà càng rầu.

Đêm đến, các cánh báo cáo về khả quan. Đơn vị nào cũng ém quân xong. Đơn vị gần Trung Hòa nhất là đơn vị của tôi. Chỉ cách có hơn cây số đường chim bay. Lúc đi trinh sát, tôi đã dắt Hai Trí đến đây, hai anh em nằm, nghe rõ tiếng cười của vợ con lính trong đồn.

Cô Ẻng đem cà phê sữa lên cho tôi và Hai Trí. Hai anh em nằm ôn lại những tên tuổi quen, đứa nào đi đâu, đứa nào thành phần địa chủ bị Cải Cách Ruộng Đất loại ra khỏi quân đội đi cuốc đất…

– Mày vẫn chưa vợ con gì à Lôi?

– Anh coi tình thế này làm sao mà cưới hỏi ai, anh Hai!

– Ờ, cũng phải. Nhưng mà tùy hoàn cảnh chớ! Tao thấy trong đơn vị dũng sĩ và ở văn phòng của mày có nhiều cô coi được quá !

– Dạ, có nhiều thiệt anh Hai. Nếu tôi đút “đờ-măng” sẽ không bị bác nhưng chết sống như trở tay, ớn quá anh Hai.

Hai Trí làm thinh.

Cô bé y tá lên hỏi tôi:

– Thủ trưởng thấy vết thương có đỡ không?

– Hết nhức rồi. -Tôi pha trò- nếu bữa đó tôi bước lệch sang một chút thì sẽ không đạp trúng cái miểng cà-nông này.

– Thủ trưởng để em thay băng. Hồi chiều hành quân chắc băng đã dơ rồi.

– Ờ được nhưng để chút nữa hãy thay!

Cô bé lui ra. Hai Trí nháy mắt:

– Con bé xinh ra phết. Nhưng hơi mập, ít eo hơn gái Bắc. Ở ngoải nhờ ăn rau mà con gái thon eo hơn con gái trong này vì thịt cá nhiều.

Qua hết nửa đêm, mọi diễn biến chung quanh đều bình thường, chứng tỏ địch không đánh hơi được việc làm của ta.

Vài chục trái pháo nện miệt Cây Điệp An Nhơn Tây, vài chục trái bay lên Phú Mỹ lưng, vài chục trái viếng vùng Đồng Lớn, Sa Nhỏ. Đó là đêm êm ái nhất của Củ Chi, không tính các vụ bắn tỉa của trực thăng và các vụ soi đèn trên sông Sàigòn. Hễ có soi là nước sông có máu loang.

– Mẹ nó ! -Hai Trí nói- Từ ngày về Nam tao mới ăn được mấy bữa cơm trắng và ngủ an toàn đêm qua với mày!

Vừa dứt chuyện, cô Ẻng đem cơm lên với thịt kho tàu và dưa cải. Bên cạnh còn mấy trái khổ qua hầm, cô bé này quen đi phục vụ chiến trường nên nấu cơm sớm.

– Còn dư âm Tết hả? -Hai Trí cười vui.

Nụ cười vừa thoáng hiện thì bỗng bốp bốp bốp. Thằng Bòn chạy vào báo cáo:

– Nó bắn pháo sáng, anh Hai.

– Thây kệ cha nó.

– Không phải đâu anh ạ. Cả loạt… mà nó soi sáng cả bầu trời Tầm Lanh.

– Mẹ kiếp, nó định làm trò gì đây. Tôi nhìn đồng hồ. Mới 3 giờ sáng.

– Để tôi ra xem chút anh Hai !

Tôi vọt ra rồi trở vào, chưa kịp nói gì thì thằng Bòn lại la:

– Nó chụp anh Hai à !

– Chụp gì giác này? Mẹ nó chụp đêm!

Một bầy cá nhái bay về Tầm Lanh. Pháo sáng như ban ngày.

Tụi này chơi lúc mình đang ngủ. Mà thiệt rồi. Nó chụp.

Tôi quát:

– Mày coi nó đổ ở đâu? -rồi nói với Hai Trí- Anh ra lệnh cho Năm Sĩ khoan nổ súng đã ! Chưa biết nó làm trò gì.

Hai Trí cầm máy làm theo yêu cầu tôi:

– Alô, Năm Sĩ, tuyệt đối không nổ súng!

Bỗng súng nổ từ trực thăng. Chết cha ! Hai Trí giao ống cho tôi, không còn nghe tiếng trong máy nữa. Tôi nói.

– “Đứt gân” rồi anh Hai!

– Cho cậu nào chạy bộ được không Lôi? -Hai anh em chui tọt ra ngoài.

Tôi quát:

– Thằng Đá đâu?

– Dạ, có em!

– Chạy qua Tầm Lanh bảo Năm Sĩ đừng bắn.

– Nó đổ rồi anh Hai.

– Như vậy không còn đường đến Năm Sĩ, anh Hai à !- Tôi nói với anh Hai Trí.

– Không còn đường nào khác hay sao? -Hai Trí gắt.

– Nó cắt ngang giữa trận địa cối và E268.

Hai Trí từng biết chiến thuật của Mỹ: chọc ta nổ súng rồi rút quân cho pháo dập, nên cứ bồn chồn. Tôi biết anh lo cho Năm Sĩ nóng mũi bắn là bể hết. Pháo sáng bắn liên tục soi sáng cả một vùng trời, chẳng khác ban ngày.

Vái trời cho Năm Sĩ khôn vong đừng nổ súng. Nó đổ kệ cha nó. Mình cứ nằm im. Nổ là nó dập rục tùng.

Tôi vừa nghĩ thầm. Thì… có tiếng đại liên và AK rộ lên.

– Thôi chết rồi. -Hai Trí kêu.

Quả thật, súng nổ như trận đánh bộ binh thực sự. Tôi ra khỏi hầm quan sát bằng mắt thường. Bầy trực thăng vừa cất lên bay thẳng về phía Đồng Dù thì quay đầu lại. Đúng rồi, chúng xúc quân, và kêu pháo. Bầy trực thăng đang quay đi bỗng trở đầu lại, từ từ đáp xuống, chúng vừa cất cánh lên là quả pháo bắt đầu nổ trong vườn. Chúng bắn ngay chóc như để. Ban đêm mà như ban ngày. Khói bốc lên từng cụm, trong giây phút khu vườn Tầm Lanh trở thành một vùng khói đen mù.

Chụp chụp chụp… Bùng bùng bùng. Bốp bốp bốp. Các thứ súng đối đáp nhau loạn xị như bắp rang. Hỏa châu như cây rừng mọc giữa trời.

Hai Trí méo mặt. Chết cha thằng nhỏ rồi!

Hai Trí càu nhàu:

– Mẹ nó bắn gì dai thế.

Nhiều trái bay sang hướng này. Rung đất dưới chân hai đứa. Nóc nhà xước lên. Lá nát bay văng xuống đất. Làn pháo lan dần sang phía bên này càng lúc càng nhiều.

– Vô hầm anh Hai! -Tôi lôi tay Hai Trí.

Ành ànb ành. Bụp bụp… bụp. Oàng oàng, oàng!

Chẳng khác nào pháo tép ngày xuân của trẻ con. Chẳng khác cả chục nồi cơm sôi một lúc. Không có cách nào chạy ra khỏi vòng nó được.

Pháo từ Đồng Dù đề-pa nghe rõ như ai gõ vào thùng phuy: boong bong…

Pháo Trung Hòa nghe cụp cụp. Pháo Bình Dương Chà Rầy, Rạch Kiến không nghe đề-pa.

– Pháo nào nghe ấm vậy Lôi? Trung Hòa trả?

– Dạ phải, tụi này đặt pháo dưới hầm xi măng anh à.

Chúng nó đã bắt được mục tiêu rồi. Các cụm pháo chụm mỏ vào mà phun lửa. Cụm pháo Chà Rầy từ Trảng Bàng bắn sang. Cụm Rạch Kiến câu tới. Cụm Bình Dương phóng qua, cụm Rạch Bắp hưởng ứng. Rồi Đồng Dù, Trung Hòa, Củ Chi phụ họa. Tất cả gồm 50 khẩu tập trung khạc vào một điểm: Tầm Lanh.

Hai Trí xem mặt đồng hồ và chép miệng:

– Hơn hai mươi lăm phút rồi mậy

– Còn 35 phút nữa anh à !

– Sao mày biết chắc vậy?

– Thường thường là thế. Đúng một tiếng nó mới ngưng. Rồi đầm già tới quan sát. Có thể ngưng. Có thể nó bắn tiếp Nếu nó thấy mình nhúc nhích thì nó lại giã vài hồi nữa !

– Cậu có bị lần nào ghê gớm vầy chưa?

– Bị luôn chớ anh. Hễ đánh nó là phải sẵn sàng đội pháo.

– Rồi làm sao?

– Thì phải liều mạng chạy ra khỏi vòng. Nếu có công sự chắc thì nằm mím lại.

– Tôi bị một lần, nhớ muôn năm Quới Xuân.

– Bị pháo bắn thì khó tránh lắm anh ạ . Nó là thằng đui, nhưng là thằng đui thấy đường hơn thằng có đủ mắt. Chạy ra khỏi vòng hay nằm lại cũng đều nguy hiểm như nhau hết. Chỉ có lần chuỗi niệm kinh chờ Trời Phật cứu thôi.

Hai Trí không nghe tôi nói mà chỉ ngóng tai rồi la lên:

– Đụ mẹ vẫn chưa chịu thôi à?

Tôi bấm đèn pin soi vào mặt đồng hồ:

– Còn mười phút nữa anh à !

– Sao cậu nói như ở trong bụng thằng Westmoreland vậy?

– Tôi biết lánh nó. Trận lớn bắn đúng một tiếng đồng hồ mới ngưng! Trận nhỏ 30, 45 phút.

Hai Trí nằm úp mặt vô gốc cột thở phì phì. Hai tay đưa lên ôm đầu như sợ nó nứt ra.

Bùng, bùng, bùng. Đất trên nóc hầm đổ xuống nghe lộp độp xuống ba-lô và giấy lót. Đúng như tôi đoán, mười phút sau, pháo ngưng. Tiếng e e e còn rền vang. Hỏa châu lụi dần rồi tắt hẳn. Trời đã sáng thiệt mặt.

– Anh nằm đó để tôi ra ruộng xem tình thế.

Thằng Bòn B trưởng trinh sát, phóng vào.

– Báo cáo anh, tụi nó nện ngay chóc E268.

Tôi xua tay:

– Có đổ quân không?

– Dạ chỉ pháo. Nó xúc quân rồi kêu pháo nện!

– Thôi được!

Tôi lặng lẽ quay vào bỏ thằng Bòn đứng trơ ra đó, không hạ một mệnh lệnh nào. Tôi vô hầm nói với Hai Trí:

– Nó chỉ dập pháo, không có đổ quân thêm anh ạ ! Nó chỉ đổ rồi rút ngay.

– Mày nhận định thế nào?

– Như vậy cũng tốt vì mình còn điều động các cánh khác rời khỏi trận địa hoặc nằm im.

– Điện đứt rồi. -Một đứa đưa máy cho tôi và báo cáo.

Tôi nhấc ống lên định kêu các cánh, trước nhất cánh cầu Công Sở, D1 rồi đội dự bị hạ lệnh… rút lui có trật tự tránh lộ bí mật, bị pháo. Nhưng không kêu được ai cả.

– Kiểu này nếu sáng nó không đổ thì trưa cũng đổ. Mình trụ lại đây chống chụp chớ không có thì giờ chạy đi xa. Nếu nó thấy mình di quân thì nó dập tiếp.

– Ừ tùy cậu định liệu.

Trực thăng cá lẹp tám chiếc quay quanh Tầm Lanh phóng rốc kết không ngớt. Mặc kệ tôi dời chỉ huy sở mặt trận về Sa Nhỏ. Các cánh đã rút xong và cho liên lạc chạy về báo cáo. Chờ đất Tầm Lanh nguội lại tôi gọi thằng Bòn bảo:

– Em dắt đội trinh sát qua Tầm Lanh thị sát chiến trường rồi chạy về ngay báo cáo. (Chạy sao nổi bốn cây số dưới cánh trực thăng?)

Thằng Bòn vừa quay lưng đi tôi gọi giật lại:

– Khoan đi! Bù-nốc tới hửi hầm hai ba chiếc kìa!

– Anh Hai để em chạy lòn dưới cánh nó! -Thằng Bòn vừa nói vừa biến đi.

– Còn thương binh thế nào anh Hai? -Một tiếng hỏi.

Tôi lưỡng lự một giây rồi bảo:

– Tao sẽ tính sau. Bây giờ…

Tôi lẫn Hai Trí không biết phải hạ lệnh gì nữa. Chỉ chờ.

Thằng Bòn chạy đi. Đến chiều trở về. Với một người. Mãi tôi mới nhận ra Năm Sĩ. Năm Sĩ nhào tới ôm tôi khóc như vũ bão:

– Chết hết rồi, Lôi ơi!

– Anh trốn ở đâu?

– Nhờ hai cậu C phó lôi tuột đút tôi vô hang suối.

– Hai cậu ấy đâu rồi?

– Lạc đâu hay chết tôi không biết.

– Chín Hiếu, Ba Lanh đâu?

– Đi cả rồi. Đi hết không còn ai. Hu hu hu…

Tôi đứng chết trân, Hai Trí cũng bất động như trời trồng.

Mấy hôm sau chờ cho con hùm xám Điện Biên dứt khóc, tôi mới hỏi lại tình hình. Thì ra tướng quân nhà ta bị lầm mưu đế quốc. Chúng nghi có Vi xi trong cụm vườn Tầm Lanh bèn cho đổ một C ngoài đồng. Năm Sĩ căm thù đế quốc dã man bóc lột đồng bào miền “Lam” đến tận xương tủy, và để trơ lại các ván thua vừa rồi ở Trảng Bàng và nướng hai C ở ven đô nên thấy quân chụp chỉ đổ có một C thì tính sẽ làm tái nạm một phát ngon lành. Bèn cho nổ súng xung phong. Đế quốc Mỹ nhát như cáy. Bị quạt vài loạt AK chúng chạy tản giữa đồng trống như vịt tan đàn. Nhưng ông tướng cũng không dám xung phong mà cho lính nằm trong công sự chờ địch vô. Không dè chúng nó chẳng chịu vô mà cho trực thăng tới xúc đi hết rồi bắt đầu chào mừng con hùm xám bằng pháo bầy. Mới ban đầu còn được một chục, hai chục, nhưng rồi lu bù hết số.

Ông Năm hét:

– Các đồng chí chuẩn bị xung phong!

Nhưng xung phong tới đâu cũng không thấy một thằng lính Mỹ nào hết. Mà pháo rơi càng lúc càng đậm đặc như sung rụng, từng chùm, như lưới sắt chụp xuống đầu.

Ông Năm vuốt mặt không kịp. Mắt cay vì khói. Mẹ kiếp chúng bắn đạn lửa. Nhà cháy, cây rơm cháy, tre trúc cháy rồi đến người cũng cháy luôn.

Ông Năm không hét nữa mà thụt xuống hầm. Loại hầm tạm, vừa nông vừa bé như lỗ mèo quào. Ông Năm thấy không bảo đảm, nhưng không dám vọt lên.

Pháo vẫn nổ rát như mưa. Mẹ nó tiền của nhân dân nhồi vào thuốc nổ bắn đi. Phí quá. Nhưng mà chúng nó có xài phí không tiếc mồ hôi nước mắt của dân. Ông Năm úp mặt vào vách hầm. Hầm rung rồi sụp. ông Năm nhảy lên. Lính đâu? Các đồng chí ta đã nằm im ngay cho hoặc chạy loạn. Ông Năm cũng chạy. Binh thư có dạy “vĩ đảo vi thượng”. Ai bảo chạy là hèn? Tào Tháo đã chẳng chạy ở trận Xích Bích là gì. Chạy đến đỗi vứt mão cắt râu trá hình mà rồi sau vẫn làm vua. Vậy ta cứ theo gương Tào Tháo.

Vậy còn hùm xám Điện Biên có chạy cũng vẫn là con hùm chớ là con gì khác? Không biết ai đã lôi con hùm xám ra suối Bà Cả Bảy, nhét con hùm vào một hốc đá : Hùm vô hang. Cái hang ếch hùm chui vào cũng gọi là hang hùm. Cái hang đó đã cứu con hùm Điện Biên.

Ba ngày liền Năm Sĩ chửi đổng luôn mồm và khóc không dứt nước mắt. Ông kể lể, chửi bới văng tục như một anh bần cố:

– Địt mẹ thằng Mỹ đểu. Nó lừa ông ! Nó rử ông vào bẫy. Nó nện gẫy xương sống lột da đầu ông. Ông sẽ tìm cơ hội băm xác chúng mày để trả thù cho các đồng chí ông.

Rồi ông thắp nhang tru tréo:

– Ối thầy mẹ ơi! Con sống sót chuyến này là nhờ ơn cao đức dày của thầy mẹ. Con nguyện bỏ nghiệp binh đao qui về ruộng rẫy. Hu hu!

Người ta tưởng Năm Sĩ nói chơi. Không, Năm Sĩ nói và làm.

Bây giờ người dân Củ Chi chắc hãy còn nhớ 30 năm trước có một ông cán bộ nhớn bắp tay xăm dòng chữ chàm xanh là: sanh Bấc Tử Nam” đầu cạo trọc như gáo dừa, quần áo xốc xếch, chân mang dép cao su đứt quai, tay cắp bi-đông rượu. Lưng đeo một bi-đông… cũng rượu. Anh ta đi lang bang hết cơ quan này đến văn phòng nọ nói chuyện đánh binh đoàn Charton Lepage hăng say đến trào nước bọt hai bên mép không cần lau chùi.

Cứ dăm câu lại ngưng trút rượu vào mồm ực ực rồi lại nói, lại lè nhè kể tiếp. Đó là ông trung đoàn trưởng Năm Sĩ con hùm xám Điện Biên nay đã sút móng ở Củ Chi.

Trước mặt Hai Trí, Năm Sĩ gập mình.

– Em xin giao đơn vị lại cho thủ trưởng và xin chịu kỷ “nuật”.

– Anh Năm đừng làm thế!

– Em nhìn nhận khuyết điểm của em đã ngu dại tấn công. Tưởng chiến thắng vẻ vang chớp nhoáng. Nào ngờ nát cả đơn vị.

Đó là quân số nạo vét gom góp từ những tốp cánh Sàigòn thụt về bị ông Năm Đăng giam rồi thả ra, những tốp rã ngũ lẻ tẻ lang thang nhập vào du kích xã, những tốp còn sống tại đơn vì sau những trận chết hụt. Tất cả những người lính này lơ lơ láo láo như ốc mượn hồn, bị lùa về tổ chức thành một đơn vị có tên là E268 (gốc 308 Bắc Việt) giao cho Năm Sĩ chỉ huy đã cùng nhau phủi chân leo lên bàn thờ trong trận đánh Trung Hòa hụt để mở màn cho đợt ba Mậu Thân vô thần thất thần, để trở thành ma quỉ cụt tay cụt chân không đầu tản mác khắp Củ Chi Đất Thép Thành Đồng.

Thượng Mã Phong! cái miệng thằng cha Bảy Đạo nói gở thiệt. Người đẹp Trung Hòa, chàng hảng cặp đùi kẹp nát 300 mạng, ôi Bác Hồ, ôi Tầm Lanh!

Đời lính chết sống là như một cái… đếch vô nghĩa lý !

Nếu tôi chỉ huy đơn vị đặt ở Tầm Lanh thì tôi cũng nằm trải mật phơi gan cùng tuế nguyệt. Không nhiều, một mảnh đạn bằng mút đũa thôi, đã có đủ sức tống mình ra khỏi trái đất Tôi đã huy động các xã đội, đoàn thể chôn mấy ngày liền chưa hết xác. Đất Tầm Lanh thối ra, quến quạ diều và chó. Đâu có ván ghép thành cái hộp vuông vuông để đựng xác co quắp hay cụt tay cụt chân. Nhà của mấy ai còn nguyên để cạy ván? Chỉ toàn chiếu mới chiếu cũ, với ni-lông mua chui qua ấp chiến lược chở xe bò đem về. Mỗi chiến sĩ tốt số được hai mét ni-lông để gói. Con cái nhà ai Bắc hay Nam. Không bia mộ. Nấm đất nào cũng giống nấm đất nào!

Hết ni-lông, quấn chiếu rách cũng ấm lòng hơn chiến sĩ Trường Sơn.

Đang nằm rũ rượi thì có bóng hồng vào. Đời đánh đấm của tôi không gì bằng an ủi bằng chất tươi. Có chất tươi, cái gì sắp chết cũng sống lại.

Năm Đang đã đạp chân tôi dưới gầm bàn hôm hội nghị đêm nọ và đã ngọt ngào gọi tôi bằng “anh”. Một lần khác bị pháo bắn gần, Năm Đang lẫn Tám Phụng bò càn. Tôi đi tới, Đang đứng dậy, không biết bà có nhớ rằng Tám Phụng là tử thù số một của bà đang ở bên cạnh không mà bà hồn nhiên nói với tôi: “Em sợ quá !” rồi cầm tay tôi hồn nhiên bảo: “Anh coi trái tim em nó nhảy ghê hôn?” và đặt, ấn trên ngực mình. êm ái như vậy ai mà rút đi!

Bà Khu ủy không ngại ngùng chê thằng chồng Bắc Kỳ tham mưu phó của bà do khu ủy ghép cho bà, nay đã tếch về Bắc với vợ cả mà hắn ta bảo đã chết để chiếm cái khu . ủy của bà .

– Ổng như bà bóng!

Nay bà xuất hiện ở đây âu cũng là số đỏ. Tôi bật dậy hỏi:

– Số chiếu đã quyên thêm được bao nhiêu rồi chị Năm?

-Xí! Lớn hơn người ta ba tuổi mà kêu người ta bằng chị? Anh không biết em sanh năm 37 hay sao?

– Ờ.. ờ a… anh quên.

Bà khu ủy liếc tôi một cái sắc như dao cạo, ném cái giỏ trầu xuống đất rồi vừa ngó chung quanh vừa ngồi lên đùi tôi. Cái võng đôi, dây dù đôi chỉ dãn ra thòng xuống gần đụng đất và hai cột nhà rung nghe rắc rắc thôi chớ không thể đứt. Nàng vòng tay qua sau lưng tôi vừa thầm thì:

– Em đến từ giã anh!

– Em đi nhận công tác mới à?

– Phải, công tác mới về nhà nuôi heo gà.

– Khu ủy phân cho em phụ trách sản xuất à?

– Ra rìa rồi, ông kẹ ơi !

– Hả ?

– Họ tống em ra khỏi khu ủy rồi.

Tôi lùng bùng hai lỗ tai, nhưng tôi hiểu ra. Tám Dọn đã nói mé hôm trước. Tôi ngồi thừ ra, không biết nói gì. Còn nói gì được. Tôi cũng vừa mới nghe Trần Bạch Đằng mất chức bí thư khu Sàigòn Chợ Lớn cho Mười Cúc. Sau Tết, thành ủy kiểm thảo bảo me xừ Đằng lãnh đạo vô nguyên tắc làm lộ cơ sở bị giặc tàn sát chết. Thằng nào giỏi hơn ông Đằng sao không lãnh đạo coi nà !

Thói đời là vậy. Tụi Ba Ke kết bè chắc lắm. Kéo vô Nam, cái bè đó kết thêm nhiều rong rêu, khó bể. Nó nâng ai thì nấy lên, đè ai thì nấy chìm. Cái bè này đang đắm. Năm Đang nhìn tôi:

– Bộ anh không tin hả?

Nàng với tay lấy cái giỏ xách phạch ra đưa tận mắt cho tôi xem. Quả thật dưới đáy giỏ trước đây là cây K54 được ngụy trang sơ sịa bằng mấy lá trầu xanh. Nay chỉ còn mấy lá trầu và năm miếng cau đã bửa nhỏ, không thấy cây súng bắn ruồi.

Tôi hỏi:

– Tại sao vậy?

Năm Đang trề môi không nói gì hơn một câu gồm mấy tiếng cộc lốc.

– Trả thù hèn hạ !

– Ai vậy ?

– Rồi anh sẽ biết. Nó mò em. Em đá vô mặt nó.

(Mãi về sau khi Đang về ẩn sĩ qui điền ở Suối Máu, có tên cũ là Suối Sâu, trong một đêm tâm sự Đang mới kể cho tôi một bản tình ca làm tôi té ngửa.)

– Thằng chó nào cũng vậy. Tụi chó cò (chỉ bọn già đầu bạc) thì càng hay thù vặt. (Tôí hỏi là con chó tên gì. Nàng không nói). Nó ăn không được nó khuấy cho hôi. Nó tìm ở đâu ra gốc gác của em. Nó bảo thành phần bóc lột không được ở trong cấp ủy. Biểu quyết chín thăm thì bốn chống bốn vì thành tích công tác của em đã chứng minh và điều lệ đảng có nói ba năm vô đảng không phạm khuyết điểm, dù thành phần gì cũng đổi ra là công nhân. Em theo cách mạng gần mười năm rồi. Còn một thăm quyết định. Cái thằng cha đã giới thiệu em vô khu ủy nay lại ngã về phía chống. Thành ra năm chống bốn! Em phải ra. Anh biết thằng nào không?… cái thằng bị em đá tét mặt đó.

Tôi làm bộ không biết, chớ tôi mà không biết thì còn ai biết?

Cái kiểu ăn xong quẹt mỏ như gà. Nó lấy lập trường ra xài lúc nào cũng đúng lập trường cả.Trong bọn chúng, thằng nào kêu lập trường mạnh nhất đó chính là những thằng bậy bạ nhất. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi!

Năm Đang ngó mong, than thở:

– Con ai vô đây bỏ xác mấy trăm tên vậy! Tội nghiệp . Tôi muốn nghỉ quách không làm thêm một ngày nào nữa nhưng nghĩ thương cha mẹ chúng nó ở ngoài Bắc không biết con mình vô đây chết sống ra sao, tưởng chúng vô trong này làm vương làm tướng gì, không ngờ chết không có hòm chôn, đào lỗ dập như lũ chó hoang.

Tôi sực nhớ tới Năm Sĩ, gợi ý ngay:

– Bà thương tụi lính vịt xiêm lắm hả? Để anh giới thiệu cho! -Tôi nói luôn- ông này khỏe như “Hùm” chớ không phải như ông tham mưu nhà bà đâu.

Năm Đang xua tay:

– Tôi biết rồi ! Tôi không có ăn mắm cáy nữa đâu.

– Ổng cũng “vinh qui bái tổ” ra khỏi bộ đội rồi. Hai ông bà hùn vốn về nhà nuôi he… eo! Rảnh rỗi thì giờ đá gà với nhau.

– Thôi, thôi! Anh tưởng em ham cấp bậc lắm hả. Em không có thèm đâu. Càng cao cấp cái bụng càng nhiều cứt. Đời em chỉ yêu có một người thôi.

– Ai?

– Không biết. Nhưng nay đã muộn rồi. -Nàng nhìn trong mắt tôi- Nay em đã ăn trầu còn người ta thì con gái con gủm mười lăm, mười bảy đeo rần rần, đâu thèm ngó tới em.

– Con gái chỉ làm bạn thôi, chớ làm vợ không có bền đâu Đang à !

– Anh nói thiệt chơi?

– Anh nói thiệt chớ chơi với ai ?

– Sao anh không lấy vợ đi? Còn đợi chừng nào?

– Bộ em muốn phụ nữ Củ Chi thêm một người đàn bà giá hả?

– Không, em chỉ muốn Củ Chi bớt đi một người đàn bà bất hạnh thôi.

Nàng òa lên khóc ướt vai áo tôi. Đông xông tây đục rốt cuộc chỉ một manh chiếu rách ! Thằng nào hăng chém giết cách mấy cũng có lúc mềm lòng. Tôi cũng muốn neo thuyền lại bến cho xong. Nhưng mà con Tạo cứ xoay vần. Đợt này hết đợt khác. Ý định này tan, lại đến dự định khác mọc lên nhưng rồi cuộc đời cứ trôi. Tôi cứ để mặc cho nó trôi. Tôi biết là những cơ hội tốt đã lần lượt qua đi. Nhưng tôi sẽ không hối tiếc. Tôi sẽ sống hết tuổi trẻ của tôi như trời đất đã sấp đặt với sự ưng chịu tuyệt đối của tim tôi.

– Anh Lôi à ! Anh có về ngang xã An Phú nhớ ghé thăm em.

– Anh không bao giờ quên em.

Một đóa hoa nở muộn có mùi hương làm say đắm lòng người hơn những đóa hoa trổ đúng thời tiết. Một nhà văn nào đã viết câu đó, hôm nay nó bừng lên trong tim tôi và tôi có cảm tưởng là câu đó viết cho tôi.

(l, 2) Hai tên lính Cộng Sản lao mình lập lỗ châu mai và chêm pháo trong thời chống Pháp được tuyên dương anh hùng.

(3) Chuyện bịa một chiến sĩ lấy thân làm giá súng.

Chương 106

Thằng “Biu”,
vị “thượng khách ” độc nhất của quân khu

Sau “trận” Trung Hòa, Mỹ đổ quân củng cố tinh thần cho các cứ điểm mà chúng tôi chạy loanh quanh nghiên cứu nhưng không nổ súng được.

Đánh không được thì bày đặt ra những hội nghị để cấp trên nói trăng nói cuội trấn an đám cá kèo. Chiến trường thật êm ắng. Có tiếng nổ chăng thì đó là bom pháo Mỹ chớ không gì khác. Chúng tôi E trưởng, F phó đều đặt đơn vị kiếm chỗ chui.

Một hôm trời mưa như trút, tôi ngồi giở binh thư đồ trận ra xem sẽ “gầy sòng” ở chỗ nào thì bỗng có ba người xuất hiện ngoài sân. Ở giữa mả cao hai bên mả thấp!

Tôi lấy làm lạ, người gì có thứ người kỳ quái như thế. Nó làm cho hai người kia như hai đứa con nít đi bên cạnh người lớn. Cả ba đều đội nón lá hoặc trùm ni lông, tôi không nhận ra ai. Họ tấp vô thềm nhà.

Một người lột nón ra ném xuống đất, tiếng nói ồm ồm.

– Mưa gì mưa thúi đất thúi đai!

Tôi bảo thằng Đá đang đánh bài với thăng Tiễn, chạy ra coi ai tới kìa. Thằng Đá chạy vọt ra rồi trở vào:

– Mỹ ! Mỹ anh Hai ơi ?

Tôi hốt hoảng. Biệt kích thừa cơ trời mưa đột nhập vào căn cứ. Thằng Lịnh thám báo bị tôi bắn què giò ở Ràng năm trước chưa tởn sao còn ló đầu vô đây kiếm kẹo.

Tôi quơ cây AK mắc trên cột sau lưng tôi. (Bao giờ cũng thủ sẵn AK) lên đạn cái rốp thì thằng Đá nhào tới chụp tay tôi la bài hải:

– Không phải! Không phải.! Ông Hai Khứ với ông Năm Rỗ .

– Sao mày bảo Mỹ?

– Hai ổng bắt được Mỹ dẫn tới nạp cho anh chắc.

Vừa tới đó thì Hai Khứ đi vô với sợi dây đâm trâu nắm trên tay, lằng nhằng. Theo sau là một thằng người to lớn đến nỗi cái trán suýt chạm ngưỡng cửa. Hai Khứ giật cái nón trên đầu nó ném “pạch” xuống đất. Mớ tóc vàng hoe của nó như một bó rơm lố xố niềng ngang bằng một chiếc khăn rằn bịt ngang mặt buộc thắt gút sau gáy.

Hai tay nó bị trói ngoặt lại sau bằng sợi dàm trâu, một đầu do Hai Khứ nắm, đầu kia do Năm Rỗ giữ. Thằng Mỹ không thấy đường, cứ khựng khựng. Năm Rỗ tống vô mông nó một đạp, quát:

– Đi dzô mày!

Hai Khứ lôi sợi dàm và bảo:

– Coi chừng nghe cha. Ông nội giả ngu giả chết, chớ thả ông ra thì tay thụt tay ria, mình chạy lòi con mắt đó!

Hai Khứ là bí thư, còn Năm Rỗ là xã đội trưởng xã Phước Hiệp. Tôi quen biết hai người đã lâu. Năm Rỗ cởi áo tơi bằng lá còn Hai Khứ trút tấm ni lông ném xuống

đất

– Tui giao cho ông đó ông trời. -Hai Khứ nói với tôi- Con quỉ này làm tụi tui mệt thấy bà !

– Sao không giao cho quận đội?

– Quận đội ở xa, tắp vô đây cho tiện. Dắt nó đi tồng ngồng ngoài đường rủi cá nhái nó chụp bắt trở lại uổng công!

Tôi không ham chút nào. Thời buổi này mà giữ một thằng Mỹ trong cơ quan chẳng khác nào kêu chụp dù và xe tăng tới, như cục đường mía nhử ruồi bu.

Tôi gạn hỏi:

– Các cha có cho ai biết không?

– Ai cũng biết chớ sao không? Anh Hai cho điếu thuốc mấp cho ấm.

– Bỏ mẹ rồi!… mấy bà đi chợ tót tét cái miệng ra tới Đồng Dù, Củ Chi, Trung Hòa, tụi nó đuổi theo moi hầm tìm, mình mang khốn. -Tôi vừa móc thuốc vừa nói.

Hai Khứ làm thinh. Năm Rỗ quay lại càu nhàu với Hai Khứ:

– Hồi nãy tôi bảo “bụp” nó phứt cho rồi, anh bảo sợ phạm chánh sách!

Hai Khứ vừa run lẩy bẩy vừa nói:

– Phạm thiệt chớ chơi sao cha !… Anh Hai có đế cho làm bậy vài hớp cho đỡ lạnh.

Tôi lấy bi-đông rút nút đưa cho Hai Khứ. Bên ngoài, nhà quân sự tỉnh bơ mà trong bụng rối tợ tơ vò. Mẹ kiếp, cái ngữ này gặp lính nhà mình thì nó không để lằng nhằng như thế này lâu lắc. Nhưng bây giờ đã đem nó về nhà, nó là tù binh rồi, mình không thể cho nó theo ông vải được. Phải nuôi báo cô… không biết bao lâu. Cơm bưng nước rót, chỗ ăn chỗ ngủ, hầm hố, có bố ráp phải dắt nó chạy. Cái thằng bịt mắt làm sao chạy? Ai cõng cho nổi? Còn khiêng? Khiêng bằng đòn gì? Sao các cha không khìa nó cho rồi.

Tôi ngó sơ qua thằng ôn vật. Nó cao ít nhất hai thước mốt. Mẹ nó ăn gì mà to béo thế, bằng thằng cha bí và xã đội gộp lại. Trời đất! Bỗng nhiên nó trở thành thượng khách của mình.

Tôi hỏi Hai Khứ:

– Có giấy tờ gì trong mình nó không các cha?

– Có miếng giấy kiếng có chữ, nhưng quẳng mẹ nó rồi! Hay rớt ở đâu tôi cũng không biết.

– Trời đất, các cha làm vậy tôi sẽ báo cáo thế nào?

Ngó qua ngó lại đã thấy người ta đến chật nhà. Đàn bà, con nít ông già bà cả ùn ùn kéo đến như xem văn công. Ai báo mà họ hay nhanh thế. Không chặn được. Trời mưa càng lúc càng to, sấm sét nổ rầm rầm trên đầu như Tề Thiên Đại Thánh đang loạn thiên cung. Mỗi người một tiếng, chỉ chỏ và la ó rùm nhà.

– Thằng Mỹ! Thằng Mỹ’

Tôi bảo mấy cậu trinh sát mời họ về, kẻo ở đây máy bay phát hiện được thì nguy to. Nhưng không ai muốn nghe lời. Vẫn cứ la om và trỏ mặt con ngợm:

– Thằng Mỹ! Thằng Mỹ!

Ờ, thì nó là thằng Mỹ chớ có ai nói nó là thằng Tây hay là thằng Marốc cóc ken gì đâu mà họ phải khẳng định để người khác khỏi nhầm nó là thằng Mỹ.

Thằng Mỹ đứng sù sù giữa nhà, đầu gục xuống, đôi giày da treo lòng thòng trước ngực. Bỗng một ông già và đám đông sấn vô :

– Thằng Mỹ đâu ?

Thấy vật gì sáng loáng trên tay ông vung lên, tôi hét:

– Bác Bảy! Đừng có chém nó.

Ông già khựng lại. Run run hạ xuống, lưỡi mác sáng choang, hình như ông vừa mài. Giọng ông đứt quãng:

– Con tôi chết. Trâu tôi chết…

Tôi biết sức căm thù của đồng bào. Đất Củ Chi này trở thành bãi tha ma là vì bom đạn Mỹ. Đàn bà con gái Củ Chi này mắc bịnh tiêm la hột xoài cũng vì Mỹ ở cái Đồng Dù ôn dịch kia. Mỹ là giống người gì, từ đâu tới. Người ta không cần biết, chỉ biết giết được Mỹ là họ hả lòng lắm.

Bất cứ ở trận nào chúng tôi đánh giết được Mỹ, người ta đều kéo nhau tới, ngay lúc trận mạc còn chưa kết thúc, để hôi đồ. Họ lột sạch sẽ: đồ lính Mỹ chắc lắm, mặc đi làm không rách. Để cho những cái xác to như bò chương phơi ra đó. Tốp khác đến mổ bụng chặt đầu, cột dây lôi đi rồi bỏ đi. Tốp khác tới: bốn chân mõm dài, răng sắc, tranh nhau cắn xé thịt xương.

– Các em mở khăn bịt mắt nó ra! -Tôi bảo

Hai Khứ lẫn Năm Rỗ đều phản đối. Hai Khứ nói:

– Không được đâu ông quận (y kêu tôi theo lối hồi tôi làm quận đội trưởng). Nó mà biết chỗ này là nó kêu pháo dộng nát hết.

Tôi giật mình bảo:

– Các em mò coi trong túi nó có máy móc gì không?

Năm Rỗ nói:

– Tụi tui lục kỹ rồi, không có gì hết. Thằng này là lính, chỉ có con cặc không thôi.

– Vậy chỉ mở khăn cho nó khỏe chút rồi tôi giải nó đi.

– Ờ, tùy ông quận. Tôi không có trách nhiệm nữa! Tôi giao nó cho anh đó.

Không có ai biết tiếng Mỹ . Chỉ có Tư Linh phó ban địch vận khu vài câu họa chăng nói được bập bõm, nhưng không biết hắn ở đâu mà tìm.

– Không sao đâu anh Hai, anh Năm. Tụi nó hùm hổ lúc chưa bị bắt kìa chớ bị bắt rồi, nó cũng biết thân, không dám chạy đâu. Chạy là chết với tôi ngay .

(Thực ra trên đường Trường Sơn tôi có thấy một thằng Mỹ bị nhốt trong cũi như cũi heo. Viên cai ngục kể rằng hắn đã giật AK của hai người lính áp giải hắn, đập một người suýt vỡ sọ. Tuy trông bề ngoài có vẻ xụi lơ vậy chớ một khi hắn đã cầm súng thì phải biết hắn. Hắn quạt cho mà mát bụng.)

Thằng Bòn trinh sát cởi khăn bịt mắt. Các cha buộc quá chặt, hồi lâu mới mở được cái gút sau ót. Mắt hắn được “giải phóng”, hấp háy nhìn mọi người rồi ụp xuống. Năm Rỗ đạp vô lưng hắn:

– Ngồi xuống đi! Con đĩ mẹ mày!

Thằng Mỹ không hiểu gì nên không ngồi, trong khi thằng Bòn mở sợi dây dàm trâu trong tay nó. Nhưng Năm Rỗ cương quyết:

– Mở khăn bịt mắt thôi anh Hai. Còn tay nó thì cứ để trói như vậy.

Tôi bảo Bòn:

– Thôi em, đừng mở.

Tôi là chỉ huy tối cao ở đây có K54 trong lưng nhưng trong trường hợp này tôi phải sợ cái mác vót của ông già.

Có lẽ thằng Mỹ nhìn thấy tôi mang súng ngắn, biết tôi là người chỉ huy ở đây nên nó quì sụp xuống gục đầu nói lù xù cái gì tôi chỉ nghe được có tiếng “cô-nô” mà tôi phỏng đoán và hiểu theo tiếng Pháp là “colonel” tức là “quan năm”. Ra trận thì sát phạt nó tôi không có ngán tay. Như trong trận đánh tám xe tăng ở ngay trước cổng Đồng Dù tôi thấy mấy thằng chạy lủi trong bụi, một thằng bị thương bò lê, tôi kêu đại liên quét rúm hết, không cảm xúc thương hạí con mẹ gì hết. Mình không giết nó, nó giết mình. Nhưng giờ đây thấy thằng này co rúm mất hết chí khí, tôi cũng học tánh Quan Công: Hạ mã bất sách!

Tôi bảo Bòn lấy thuốc đốt cho nó hút. Nó há miệng ngậm mím điếu thuốc và cảm ơn liên miên: “Thanh kiêu cô nô “ chỉ tiếng Thank you thì tôi nghe ra.

Chập sau tôi bảo cởi trói rồi cho ăn cơm. Nhưng ăn xong trói lại.

Bác Bảy hất hàm:

– Ông chỉ huy coi kìa. Nó tỉnh lại rồi. Coi chừng nó chạy.

– Không sao đâu bác. -San đó tôi nói luôn- Bà con coi mãn nhãn rồi rút về nhà kẻo máy bay phát hiện được thì mình ăn bom pháo mệt lắm!

Năm Rỗ nói thêm:

– Coi chừng nó chưa chết mà mình đã phèo ruột đó nghe !

Nhưng không người nào chịu rút lui. Năm Rỗ bỏ ra ngoài rồi hớt hãi chạy vô:

– Cá nhái tới! Cá nhái tới!

Thế là người ta chạy tủa ra lủi mất hết. Thiệt tài!

Đó là một tâm lý buồn cười. Giải thích năn nỉ không nghe. Dọa một phát nghe tuốt. Tôi bắt đầu hỏi chuyện hai ông xã để làm báo cáo.

– Kêu thằng Minh lại đây.

Minh là học sinh Sàigòn. Nãy giờ tôi quên khuấy nó đi. Chắc nó biết tiếng Mỹ. Hai Khứ kể. Năm Rỗ bổ túc. Tôi đọc thành câu cho Minh đánh máy.

“… Hồi sáng này có ba đứa bé ở Truông Viết coi bò. Hai gái một trai cỡ mười bốn, mười lăm tuổi. Tới trưa chúng mở cơm gói trong mo cau ra ăn dưới bóng tre. Truông Viết là vùng đất ở bên cửa ngõ Đồng Dù ít ăn bom đạn vì không có cơ quan bộ đội nào dám về đó.

Chúng đang ăn thì thấy cái tên Mỹ này từ phía Ba Xa đi lên. Đây là xóm Bầu Điều ngó ra ấp chiến lược Cây Trâm cũng nằm trong ấp Truông Viết. Tụi con nít này thường trông thấy lính và xe tăng Mỹ từ Đồng Dù xuất phát qua cổng này. Nhưng hôm nay sao chỉ có một ngoe? Thằng con trai dạn hơn không chạy còn hai đứa con gái lẩn tránh sau bờ tre. Thằng Mỹ tự nhiên đi tới chỗ đám chăn bò. Thằng con trai ngó trước ngó sau không thấy thằng nào đi theo nó. Thăng Mỹ đi tới hỏi thằng nhỏ: “Vixi? Vixi”. Thằng nhỏ lắc đầu. Thằng Mỹ khen “Tốt lắm”. Thằng chăn bò xin thuốc hút, xin kẹo ăn. Thằng Mỹ móc trong túi cho. Thấy chung quanh không có ai, thằng Mỹ bèn móc trong túi ra một bộ bài. Thằng chăn bò ngoắc kêu hai đứa con gái ra và bốn đứa gầy sòng đánh bài. Dưới bóng tre mát rượi lại có con gái kèm hai bên, thằng Mỹ mê say chơi bài ăn kẹo thay tiền. Thấy hai dứa con gái vui cười với nó thì nó không nghi ngờ gì hết, lại còn muốn trổ mòi với đứa lớn. Thằng con trai ranh mãnh chụp ngay cơ hội ra dấu, bảo: “Con gái này nhỏ lắm. Để tôi đi kêu con gái lớn hơn !”. Thằng Mỹ nghe vậy thì thích lấm nên ngồi lại chơi bài với hai đứa con gái trong lúc thằng con trai chạy vô xóm “tìm con gái lớn hơn”.

Chập sau có một đứa con gái đi ra thật. Con gái ngoắc nó đi theo. Vô sâu trong xóm chừng hai trăm thước là đụng chúng tôi. Con gái lớn là một mụ đàn bà có con, chồng đi dân công biệt tích. Còn một trong hai đứa con gái chăn bò kia tên là con Nhiều. Nó là chị của thằng Lắm lính của D Quyết Thắng chết trận ở quốc lộ 6. Từ trong bụi hai đứa du kích nhảy ra chĩa súng bắt nó nằm xuống bịt mắt, trói tay dẫn đi êm ru. Nó không có chống cự gì hết mà cũng không hỏi những kẻ bắt trói nó là ai?”

Nghe xong câu chuyện – tôi tin là có thật vì tụi Mỹ có tiếng dại gái. Đám Mỹ trong Đồng Dù bị chị em ta ở Sàigòn (đi lén trong thùng xe chở rác) lột hết tiền bạc, lấy quân phục, đèn pin, bi-đông, xanh-tuya-rông đem ra chợ Bắc Hà bán đổ bán tháo là sự thường. Không ai thèm bịa đặt làm gì. Thằng lính này đuổi theo mùi tanh tanh mà bị mấy đứa chăn bò gạt tuốt. Súng Mỹ thì khôn, nhưng lính Mỹ thì ngu lắm.

Kể xong Hai Khứ nói:

– Ông quận làm ơn cho xã Phước Hiệp tôi cái biên nhận ngày này tháng này có giao cho ông quận một thằng Mỹ đủ tay đủ chân, mắt mũi con nguyên, nhưng không biết tên gì.

Tôi cười:

– Ai cướp công của mấy anh mà anh sợ?

– Không phải sợ cướp công mà chung tôi muốn khi hòa bình, ở trên phải phát cho xã chúng tôi một cái máy cày. Tôi nghe ở trên phổ biến ở bên Cu-Ba đổi Mỹ kiểu đó.

Tôi cười ngất:

– Thiệt vậy sao? (Chính tôi cũng nghe đồn nhưng không chắc).

– Tôi nghe mấy cậu lính vịt xiêm nói ở ngoài Bắc hợp tác xã toàn xài cày chìa vôi (là cày gì? – Tôi giải thích). Thứ đó vô trong này làm sao cày cho sạch đất? Hôm trước trên khu có nói xã nào bắt được Mỹ sẽ được lãnh máy cày. Bắt được mấy thằng thì lãnh mấy cái. -Hai Khứ kể lể với lòng tin tưởng ngời lên trong mắt.

Tôi không biết ở đâu có cái chuyện kỳ lạ vậy, cũng như hồi ở ngoài Bắc, tụi tôi có nghe con gái trong Nam trừ mười tuổi cho anh đội miền Nam tập kết trở về. Mừng húm, ngày đêm vượt núi. Về tới nơi không có gì hết. Không biết ai phịa câu chuyện “trừ mười” đó và chuyện cái máy cày này nữa!

Tôi bảo thằng Minh:

– Cậu đánh cho tôi một công văn chứng chắc tôi có nhận của xã Phước Hiệp một thằng Mỹ sống đủ tai đủ mắt và …. hì hì cái gì của nó cũng còn nguyên.

Minh vừa cười vừa mổ. Xong đưa tôi ký tên đóng dấu. Hai Khứ và Năm Rỗ cầm lấy cười ngỏn ngoẻn như con nít được kẹo.

– Chừng đó Phước Hiệp sẽ được lãnh máy cày.

(Tội nghiệp người dân miền Nam quê mùa chất phác, ở trên phán cái gì cũng tin bằng thánh! Khi biết rõ ra không có gì hết, thì đã muộn! Và tiếc cho Hai Khứ và Năm Rỗ, mấy tháng sau cả hai bị xe tăng càn, lính moi hầm bắn chết, chưa kịp biết cái máy cày ra làm sao!)

Đêm hôm đó tôi bảo thằng Bòn chuẩn bị bốn ngày ăn, đem một tổ trinh sát hộ tống ông “thượng khách” của tôi qua sông nộp lên quân khu cho rảnh nợ. Thì sáng sớm lại bị đổ dù ngay trước mũi. Thằng Mỹ này có máy kêu về Đồng Dù chắc!

Bòn hỏi tôi:

– Bây giờ làm sao anh Hai?

– Đem nhận nó xuống hầm.

– Hầm đâu có anh Hai.

– Hầm cũ cũng được. Để nó ở trên, nó xổng mất, mình đứt đầu.

– Nếu tình thế khẩn cấp thì sao anh Hai?

– Tùy cậu giải quyết. Đi mau đi !

Pháo dọn bãi bắn như mưa thằng Bòn cũng phải lôi ông “khách quí” chạy ra khỏi vòng chụp. Một đứa nắm dây lôi, hai đứa chĩa súng đủn tới. Hôm sau Bòn nhắn về báo cáo với tôi rằng nó đưa luôn thằng quỉ qua sông. Trời ! Tôi thở phào như rứt được cục bướu sau lưng.

Để nó ở văn phòng nhủng nhẳng giết không được mà tha càng không. Nó sẽ vướng vô cùng cho sự điều binh của tôi

Một tuần lễ sau thằng Bòn trở về báo cáo tỉ mỉ.

– Em dẫn nó lên tới Hố Bò đợi qua sông thì lại bị chụp mà lại chụp rát sườn chớ. Mấy đứa nó giục: “Cụp phứt cho rồi!” Em bảo chờ đã! Chừng nào đối cùng sẽ giải quyết cách đó. Cũng may nhờ gặp chị Là. Chỉ cho cái hầm cũ.

– Chỗ nào?

– Em cũng không nhớ chỗ nào những cái nắp hầm mục rệu rồi. Trông cái miệng hầm móm sọm như miệng không răng.

– Rồi mày làm sao?

– Em rán nhét nó xuống đó. Cái thằng quỉ! thân mình nó to không lọt xuống được. Em cho hai chân nó thọc xuống trước đến ngang ngực thì mắc kẹt không xuống được nữa, hai thằng đạp trên vai nó, cố nhận xuống, như nhét nút ve chai. Cái nút lớn không lọt được. Nó kêu eng éc quắc mắt như muốn ăn thịt tụi em. Em phải chĩa AK vào đầu hắn, hắn mới để cho chúng em ấn lọt xuống hầm và đậy nắp lại còn chúng em thì co giò phóng. Em nghe nó rên la. Sợ tụi kia nghe tiếng tới cứu. Em trở lại giở nắp lôi đầu nó lên nhét khăn vô miệng hắn rồi chạy luôn.

– Trời đất! -Tôi kêu lên!

Bòn tiếp:

– Vậy mà khi tàn trận chụp chúng em trở lại, mở nắp hầm lôi nó lên. Nó vẫn còn sống. Em đá cho mấy đá và bắt chạy…

– Lỡ có chết thì cũng thôi chớ làm gì bây giờ… Rồi tụi bây giao nó cho ai?

– Cho ông Tám Nghĩa ? -Bòn chìa ra tấm giấy- Biên nhận đây anh!

– Sao lại cho Tám Nghĩa? Ổng là trưởng trạm giao bưu khu có biết tù binh là gì?

– Chớ bên đó đâu còn ai ? Ổng nói ông sẽ giao nó về cho trại tù binh trên R.

Tôi tỏ vẻ hài lòng:

– Thôi được, giao nó cho ai cũng được! Miễn có giao thì thôi. Mà nó không có chết thiệt chớ? Hay tụi bây bắn nó rồi về bịa chuyện?

– Em tưởng bị nhét dưới hầm cũ bí hơi nó chết ngộp, nhưng nó mạnh như trâu anh à ! Em cho nó mang lại đôi giày thế là nó đi như gió, tụi em phải chạy lúp xúp mới kịp. Bao nhiêu gạo, bi-đông và ba cái ba lô em cho nó quảy giùm hết trông nó như con lạc đà có hai chân.

Tôi bật cười. Tôi chợt nhớ tới cô em Nhã Nam. Nếu có nàng nữ phóng viên đó ở đây chắc đài Giải Phóng sẽ được một bài “tường thuật” về một tiểu đoàn Mỹ bị du kích bắt sống…

Báo cáo xong, Bòn kề tai tôi:

– Ông Ba Kiên và Năm Dũng chết hết rồi anh ạ.

Tôi vờ giật nảy người. Đó là trung đoàn trưởng và chánh ủy Q16 của Trung ương gởi vào. Hai ông này cũng là hùm xám Điện Biên, vô đây là em nối ruột của bà phó tư lệnh R. Tôi làm bộ ngơ ngác hỏi:

– Hồi nào? Ai đồn vậy?

– Năm Dũng… hồi nào không rõ, nhưng Ba Kiên thì mới đây. Ổng đi ngang qua Đường Long, chỗ trảng trống bị cá lẹp rỉa cả hai thầy trò. -Thằng Bòn nhỏ giọng lại còn che miệng- khi mở ba lô lấy võng bó xác ông, người ta thấy trong ba lô có cả bọc vàng lá và một xâu cà rá vàng cả chục cái. -Bòn tiếp- Em nghĩ ông ta đâu có xuống Sàigòn mà thắng lợi to vậy?

Tôi gạt phắt cố ý dập tắt cái dư luận đó.

– Chiến sĩ cách mạng như ổng làm gì giữ vàng nhiều như thế trong mình. Nói bậy !

– Ai biết đâu, em chỉ nghe đồn thôi mà à hà… anh Hai !

– Bậy nào, làm cách mạng đâu có cần vàng. Cậu đừng tin chuyện đó!

Thằng Bòn lặng thinh rồi rút lui êm. Không biết nó nghe hay không nghe tôi. Sự thực tôi đã biết chuyện đó lâu rồi.

Thằng Bòn lấy làm lạ nhưng tôi thì không. Nó còn trẻ, mới tham gia cách mạng từ Đồng Khởi tới bây giờ là bốn, năm năm. Nó còn ôm một lý tường cao siêu xa vời, như tôi hồi 1947. Khi nó bằng tuổi tôi bây giờ, nó sẽ hiểu các nhà cách mạng… hơn nhiều. Rất là nhiều, Bòn ơi!

Việc E bị pháo dập chết hết ờ Tầm Lanh đã xảy ra đúng 30 năm 1968-1998 nhưng tới nay vẫn còn ám ảnh tôi. Mỗi khi nhớ lại tôi hãy còn rùng mình rởn ốc. Tiếng pháo nổ gần như đại liên bắn, nổ xa như tiểu liên rẹc. Năm cụm pháo dụm mỏ chĩa vào Tầm Lanh. 50 ngàn trái cà nông, nhiều hay ít.

Tầm Lanh là một mảnh đất nhỏ bé nằm cách Trung Hòa chừng ba cây số đường chim bay là một ấp trù phú của xã An Phú nổi tiếng là nơi chứa cán bộ thời Pháp và là căn cứ của bộ đội cơ quan Khu. Gái Tấm Lanh xinh đẹp nhờ tắm ở hai dòng suối róc rách chảy qua thôn xóm..

Vậy mà sau trận pháo lịch sử đó, không còn gì cả. Chưa kể E268 bị vùi mà dân chúng cũng “hy sinh” ngót trăm. Trông thấy bộ đội vịt xiêm đến, họ đã lôi thôi lệch thếch đùm túm của cải và con cái chạy đi lánh nạn. Họ thính lắm thấy bộ đội đến đóng là họ đoán sẽ có chuyện. Do đó kế hoạch đánh Trung Hòa bị bể chăng Ngoài ra còn có một lý do khác. Cán bộ trong E tôi không ít người có gia đình ở ngoài Củ Chi, Trung Hòa hoặc có người đi làm cho Đồng Dù. Tình hình nhân dân phức tạp như thế đó. Các cán bộ này lén cho gia đình hay để tản cư lánh nạn. Ở ngoài này chạy vô, ở trong đó chạy đi chỗ khác. Sự lộn xộn lọt vào mắt địch, mắt thịt lẫn một thần. Sau khi thất bại rồi mới hiểu ra nguyên nhân. Nhưng dù có hiểu trước cũng không làm sao ngăn chặn được. Đó là tình thế bắt buộc phải chấp nhận, nếu muốn đánh giặc.

Cả tháng sau tôi mới có dịp đi qua mảnh đất này. Hố pháo toang hoác như huyệt phủ cỏ xanh. Hố nào cũng đầy ứ nước mưa, trẻ nít bắt ếch nhái dưới đó.

Cây gãy cúp đã lên tược. Những gốc vú sữa, xoài, mãng cầu bị chém ngã nằm vắt lên nhau. Nhiều hố pháo liền mép hình số 8. Một quả bắn từ Bình Dương sang một quả từ Chà Rầy tới nổ cặp như hai tên lính liên quân trên trời dưới đất.

Không còn cái nhà nào. Không khí hôi thối sặc sụa. Xương cốt, tóc tai còn dính trên cây. Rải rác đó đây tôi thấy những tấm da trâu xương trâu. Người ta đã nhanh nhẩu tới xẻ những con vật bị thương, quảy thịt đi. Bò xe chết cũng nhiều. Bò xe là nguồn sống của dân Củ Chi cũng là phương tiện vận tải chính của quân giải phóng. Bò xe chở gạo ban đêm, chở cả vũ khí cho đợt một Tết Mậu Thân.

Để giết sạch sẽ một trung đoàn Mỹ đã bắn chừng 50 ngàn quả pháo vào đây. Miểng pháo đầy đất. Miểng pháo đan thành một tấm lưới dày như bàn tay xoè. Có thể nói không một ngọn cây lá cỏ nào đứng ngoài vòng sát thương của pháo. Năm Sĩ sống sót nhờ chui vào một cái hang bên mép suối Bà Cả Bảy.

Tôi dã từng bị pháo lẫn B52. Không có cách gì chống lại hai thứ này. Nếu rủi lâm vào vòng chụp của nó thì chỉ có hai cách: một là niệm Phật, cầu Chúa chờ trái bom hoặc trái pháo đến rước về thiên đàng hai là chạy liều. Nhưng không phải muốn chạy là chạy được đâu. Tôi đã từng kéo lê lết ông chánh ủy Hai Phái ở trận Bàu Trâu. Ông không bị thương mà chạy không chạy được. Thần kinh của ông không chỉ huy được cặp giò của ông. Ngoài ra mặt đất đong đưa như sàng gạo. Chạy ra khỏi trận địa ông ta chỉ còn cái quần tiều. Súng ống dây nịt, xắc-cốt, áo, quần đều tuột văng mất hết.

Ban đầu tôi không ưa Năm Sĩ, bởi vì ông có tánh tự đề cao, cái gì cũng cho là made in Bắc Kỳ là số 1. Trong câu chuyện ông thường khoe được Võ đại tướng khen, được Võ đại tướng bắt tay… Mãi khi Năm Sĩ cạo đầu nghỉ chơi trò binh lửa tôi mới nghĩ thương y và cho rằng y khoe khoang thì ít mà vì lý do khác thì nhiều. Trong cơn túng thiếu người ta thường mơ tưởng một lần trúng số độc đắc. Trong thất bại ê chề người ta thường nhớ lại quá khứ thành công. Sỡ dĩ Năm Sĩ nhắc lại những chuyện đó là để tự an ủi mình: Tôi cũng từng chiến thắng liệt oanh chớ đâu phải hễ cầm quân là nướng sạch đến lính cuối cùng! Tội nghiệp cho Năm Sĩ, Ba Kiên, Năm Dũng, những con hùm xám Điện Biên !

Nhưng than ôi! Đánh với Mỹ không dễ như đánh với Pháp. Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vô đến tận Long Nguyên để chỉ huy cuộc Tổng tấn công vừa qua nhưng ông đại tướng đã thăng thiên trước khi vào đợt một. Nếu đại tướng Võ Nguyên Giáp vào đây, tại nơi Củ Chi này thì ông cũng không xoay chuyển được tình hình Củ Chi được mà, đừng nói tình hình Sàigòn. Bây giờ Năm Sĩ trở thành một con người không ra người, điên không phải điên mà khôn thì không thể gọi là khôn được. Ông ta có bao nhiêu tiền mua rượu đầy bình toong vừa tu vừa “địt mẹ chúng nó?” .

Chúng nó là ai? Không ai biết. Có lẽ ông cũng không biết chúng nó là ai mà ông ta đã luôn mồm như vậy.

Bỗng một hôm con nhà lính chúng tôi được biết cái ông thích địt mồm này được bổ nhiệm làm tham mưu phó quân khu. Cả đám chúng tôi tròn mắt nhìn. Tài nướng quân của ông E trưởng cao đến mức được thăng chức. Lên làm tham mưu ông ta càng trổ tài.

Nhưng ông Năm Sĩ không thích cái chức đó. Vì Ba Kiên và Năm Dũng nướng quân chẳng kém Năm Sĩ một tẹo nào, nhưng sau khi nướng một E, cả hai đều được chị nuôi Ba Định phong cho hai thằng em ngồi làm phó tư lệnh Quân khu.

Năm Sĩ lấy làm bất mãn. Càng bất mãn càng địt mạnh. Năm Sĩ không qua sông xách cặp cho tham mưu trưởng Năm Lê. Vì như vậy là dưới cấp Năm Dũng và Ba Kiên đồng nghiệp nướng quân của mình.

Một hôm tôi gặp Năm Sĩ ngất ngưởng đi giữa nắng chang chang không có cần vụ cần vẹo gì cả. Tôỉ rập chân và giơ tay:

– Chào đồng chí tham mưu phó.

Năm Sĩ nhìn tôi hồi lâu rồi phá lên cười. Rồi bước tới nắm hai vai tôi lắc như gió.

– Chào ông bạn Tầm Nanh.

– Anh đi đâu đây.

– Tớ đi tìm cậu nhậu chơi! -Năm Sĩ đưa tay cào cào mớ tóc bù xù.- Cậu có biết chỗ nào cắt tóc không? Nắng ngứa kinh hồn.

– Vô văn phòng tôi có thợ nhà.

Tôi dẫn Năm Sĩ vô văn phòng, kêu Năm Thơi cậu thằng Thượng, vừa mang cục vinh quang xuống đường to tổ bố thụt về được tôi cho làm quản lý C, mừng húm cảm ơn rối rít. Tôi bảo:

– Mày “cúp đầu” giùm cho ông tham mưu phó chút.

Ông tham mưu phó cười ré lên:

– Tham gì tôi. Cậu cắt luôn cái đầu giùm tôi đi. Và đừng có gán cho tôi cái danh hiệu đó, tôi chui xuống đất bây giờ. Tẩy sạch đi để pháo khỏi gọt.

Với cái đầu mới trọc lóc như gáo dừa, Năm Sĩ ngồi bệt xuống đất. Mỗi đứa một bi-đông tu liền.

Tôi thấy thế bèn kêu các hỏa đầu quân làm một mâm đem ra.

Năm Sĩ nhậu mạnh lắm. Bi-đông mà hai đứa cũng cụng lộp bộp như chạm ly.

Tôi nói:

– Anh xứng đáng làm hội viên của tôi.

– Hội gì thế?

– Hội ve chai chống Mỹ !

Năm Sĩ gục gặc cái đầu bóng lưỡng mồ hôi tươm ướt da như thoa dầu dừa, nhìn tôi như ông bạn từ cung trăng rớt xuống phàm trần rồi cười như điên.

– Vậy cậu có kết nạp tớ dzô không nào?

– Kết nạp và tuyên bố chánh thức luôn khỏi qua thời kỳ dự bị.

– Tớ đủ tiêu chuẩn à?

– Thừa ba bi-đông! Tiêu chuẩn hội viên chỉ một bình toong là dzô hội được rồi. Còn anh làm tại bốn bi.

– Ai là chủ tịch của chủ hội.

– Tôi ! Hội của tôi thành lập ba năm trước. Anh em dzô đông lấm. Họ bầu tôi làm chủ hội và bắt uống thử thách. Tôi làm một hơi cạn một bì. Anh em công kênh tôi lên hoan hô nhiệt liệt.

– Dân chủ nhỉ.

– Nhưng nay hội viên lẩn cả rồi. Toàn cấp C, D không hè. Chỉ còn ông chủ hội cu ki đây thôi.

– Bộ họ không hoạt động bị khai trừ cả à?

– Không, họ đi tìm hội viên mới dưới âm phủ. Tôi muốn nhường chức chủ hội cho anh đây!

– Bậy nào, tớ lấy làm vinh dự được cậu kết nạp đâu dám “chèo neo”.

Rồi ông tham mưu phó ôm lấy tôi hôn tràn nước mắt . Rồi khóc hu hu như trẻ con:

– Thầy mẹ ơi con còn sống sót là nhờ công đức của thầy me…

– Anh đừng khóc buồn lắm anh Năm à !…

Trong đời giang hồ của tôi đây là người Bắc thứ hai mà tôi cảm mến. Người thứ nhất là Trần Bá Xài (không phải Xoài) người Ninh Bình gả em vợ cho tôi. Người thứ hai là Năm Sĩ. Hai người sống bộc lộ không giấu giếm, như những hiệp sĩ của thời chống Pháp chống Mỹ. Ít lâu sau tôi nghe tin có một người tự vận trong hầm bằng một trái lựu đạn Mỹ. Khám xác thấy có một bức thư gởi cho đại tướng Võ Nguyên Giáp. Có tiếng xì xầm cho rằng đó là Năm Sĩ. Nhưng tôi không tin. Sĩ quan Việt Nam không mang dòng máu võ sĩ đạo Nhật. Từ đó tôi không gặp lại anh nữa. Biết đâu cái không thể xảy ra lại xảy ra, vẫn cứ xảy ra.

Một hôm tôi có một người khách lạ của đô thành. Đó là nàng Mai Khanh. Các bạn hẳn còn nhớ lúc tôi làm thầy giáo ở trường Pháo Binh. Một đêm nọ Mai Khanh, có người chồng là D phó chết ở trận Bổ Túc năm 65, đã nấu nước xông “cảm mạo” cho tôi.

Một lần nàng xuống tận Bến Mương khi tôi phụ trách H6 thăm tôi. Lần đó nàng cho biết ông chánh ủy U10 (tức là pháo binh R) dùng nàng làm liên lạc ra vào Sàigòn. Rồi có tiếng đồn nàng trở thành bà chánh ủy U10.

Chuyện đó không lạ gì. Không có tên già dềnh nào ở trong rừng mà không có bồ tèo. Ông chánh ủy lúc nào cũng có rượu sâm ngâm bao tử nhím, sừng sơn dương và lộc nai. Lần này Mai Khanh xuống đây gặp tôi để hỏi về tác dụng của súng DKB. Tôi đã từng sử dụng DKB (đạn khoan bê tông) loại “súng máng heo” do Bắc Kỳ chế tạo đơn giản đến độ buồn cười. Bắn không tới đâu cả. Vậy mà cũng đưa hai cậu nhóc theo làm chuyên gia !… Sáu Phấn đi cất giấu loại đạn này, bị xe tăng phun lửa chết rụi cả hầm mười mấy mạng. Kỳ này tôi cũng có bố trí, trận địa DKB hẳn hoi để cho tận mắt Năm Sĩ nhìn thấy tác dụng của loại súng kỳ (cục) diệu này. Đạn lép mà cũng có tiếng… vang, nên trên U10 Bộ Tư Lệnh Pháo R gởi người xuống hỏi kết quả.

Tôi bèn báo cáo màu hồng… cho bà ta về vuốt chòm râu bạc le the của ông chánh ủy.

Tình hình ngày càng bi đát. Tin buồn tới tấp.

Đài Giải Phóng báo tin thành lập Chánh phủ cách mạng lâm thời miền Nam do Huỳnh Tân Phát làm chủ tịch. Huỳnh Tấn Phát trong kháng chiến là giám đốc Đài Tiếng Nói Nam Bộ (phân sở B), Huỳnh Văn Tiếng giám đốc phân sở A. Ông Tiếng có vợ là ca sĩ Xuân Mai.

Một buổi tối tôi đang ngồi vặn đài Sàigòn để bắt cải lương Sàigòn “đãi” cô bạn khách đô thành thì bật ra mấy câu vét đuôi:

– Luật sư Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch chủ tịch đoàn ban cố vấn tối cao.

Chập sau bản tin được phát lại từ đầu, thì nghe trong đó có Trần Đình Xu làm thứ trưởng Bộ Quốc Phòng. Trần Đình Xu tức là anh Ba Xu nhà mình. Như vậy là quân khu mình lên chưn rồi.

Tôi cho gọi Bảy Ga, Tư Quân và toàn bộ ban chỉ huy E, đoàn bộ E lại để tôi báo tin cho mọi người biết cái tin này. Trong đó có hai vị giáo sư thầy cũ của tôi là:

Giáo sư Nguyễn Văn Chì – Chủ tịch ủy Ban Hành Chánh Thành phô/Sàigòn.
Giáo sư Nguyễn Văn Chí – Bộ trưởng Bộ Thanh Niên.

Bọn lính ngó chúng tôi không biết đây là cái gì. Tin vui hay hổng vui, chỉ biết là những ông bà trong chánh phủ toàn là những trự từ Mặt Trận Giải Phóng đưa sang. Người Bắc có câu rất hay: “đánh bùn sang ao” loại bùn cháo này còn xài tạm được! Dù sao cũng có chuyện mới đến, lý do để tổ chức nhậu. Nhân đó đãi bà bạn khách đô thành.

Hôm sau tôi được lệnh qua sông gặp Năm Lê nhận kế hoạch mới. Tôi sợ ông cạo cho sát da về việc đánh hụt Trung Hòa, nhưng anh không nói gì. Tôi làm quà cho anh một cây Capstan, một chai Anis và một kí tôm khô.

Anh cười, mặt méo xẹo:

– Ở bển còn chất tươi hả may?

– Dạ cũng còn lai rai hoài anh Năm ! Hổng có ba cái thứ này lấy gì chống Mỹ !

– Tao nghe nói hội ve chai do mày kềm hoạt động mạnh lắm hả ?

– Dạ đâu có anh Năm ! Vài ba ngày mới làm vài cốc chớ đâu có làm thường xuyên. Tụi nó chụp liên miên chạy không kịp khóc.

Anh dọn rượu và mồi nhậu đãi tôi. Cái hầm này không đủ tiện nghi bằng cái hầm bên nhà xã đội trưởng Ba Xây ở An Nhơn Tây. Nó có vẻ tạm bợ nhà đá nhà đạp ở không lâu rồi lại đi. Thật vậy, chỉ có bọn lính chiến chúng tôi là phải cõng hầm trên lưng mà chạy (đến đâu đào đến đó) chớ không có hầm cố định do lính xây cất như loại tổng hành dinh của các ông lớn.

– Uống đi mậy. Hay sợ vết thương làm độc.

Tôi nói:

– Dạ đâu có anh Năm.

– Mày bị thương hết chưa?

– Dạ, chỉ đạp miểng pháo sơ sơ thôi, mà lành rồi.

– Cái “vụ đó” làm vết thương lâu lành mày biết không?

Tôi làm thinh. Anh xé cho tôi nửa con khô mực rồi nói:

– Mày có muốn đi miền Tây với tao không?

– Anh xuống đó à?

– Anh Ba nói ở trên mấy chả đã chấm tao. Mày biết Nguyễn Hoài Phi không?

– Dạ biết. Hồi tôi mới ra trường đi thực tập ở huyện Ô Môn, ông đang làm huyện đội trưởng ở đó. Sau lên làm tỉnh đội phó Cần Thơ.

– Chết rồi!

– Ủa, hồi nào, anh Năm?

– Nó về một lượt với Lê Quốc Sản. Sản về làm tư lệnh khu 8 nó về tư lệnh khu 9. Thằng Sản chết vì phi thuyền ở Đồng Tháp còn nó bị ho-bo lúc qua sông Cửu Long hay bị xe tăng càn ở Bà Đầm gì đó.

– Bà Đầm Thát Lát là đất dụng võ của ổng ngày xưa.

– Của thổ hoàn lại thổ!

Một chốc Năm Lê trở lại chuyện đi miền Tây và rủ tôi.

Tôi ngồi ngẫm nghĩ. Miền Tây nơi tôi có biết bao kỷ niệm. Trần Bá Xài không biết bây giờ ở đâu? Nếu về gặp lại ảnh thì vui lắm. Trong đời tôi chưa gặp ông Bê Ka nào lạ lùng như anh. Trước khi tôi xuống tàu tập kết, ông kêu tôi về nhà gả em vợ cho và cản: “Mày đừng có đi. Ở ngoài xứ tao tao biết. Toàn ăn củ chuối. Đói bỏ mẹ!” Năm Lê thấy tôi không trả lời thì không hỏi nữa.

Tôi lấy chai rượu của tôi mở nút bằng con dao sáu lưỡi rót cho anh một ly:

– Làm thứ này cho ngọt miệng anh Năm !

– Ừ! -Anh uống cạn. Tôi rót thêm.

Tôi thấy trên nét mặt anh phảng phất nét buồn. Có lẽ anh không muốn đi miền Tây chăng?

Tôi hỏi:

– Anh định đem ai đi với anh.

– Còn ai đâu mà đem? Nếu thằng Nghi (Thượng úy xạ thủ Tám Nghi) không bị bắt thì chắc tao đem nó theo.

– Anh thấy công trường 5 thế nào anh Năm?

Ảnh cười phá lên. Tiếng cười vang to trong hầm nhưng không xóa được nỗi buồn trên gương mặt. Anh nâng ly rượu uống từ từ như để tìm câu trả lời:

– Thì nó như mày thấy đó.

– Anh Năm (Sàigòn) hy sinh sớm quá ! tôi nói.

– Sớm hay muộn thì nó cũng thế. Hai Trí có kém gì… ai. Nhưng mà thời thế này không tạo nên anh hùng được, chỉ tạo nên tử sĩ mà thôi. Mày ham văn thơ từ thuở nhỏ, chắc mày biết nhiều thơ. Có thuộc bài đêm liên hoan của Hoàng Cầm không?

– Tôi thuộc cả bài hồi nó mới về tới Đồng Tháp Mười !

Năm Lê bất ngờ ngâm nga. Cái đầu bạc gật gù. Đôi mắt lim dim:

Đêm liên hoan trời ơi đêm liên hoan
Đầu nhấp nhô như sóng biển ngang tàng
Ta muốn thét cho vỡ tung lồng ngực
Vì say sưa tình thân thiết vệ quốc đoàn.

Anh ngưng rồi tiếp:

Ở đơn vị anh, ai còn ai mất ?
Không ai còn ai mất!
Ai cũng chết mà thôi
Người sau kẻ trước lao vào giặc,
Giữ vững nghìn thu một giống nòi. (l)

Mắt anh đỏ hoe, giọng anh xúc động:

– Ai cũng chết mà thôi! Cái thằng này đoán tài thật.

Dường như để khỏa lấp sự yếu đuối không nên có của một nhà quân sự trước một thuộc cấp, anh quệt mắt, bảo: “rượu cay quá !” rồi lấy lại giọng bình thường hỏi tôi.

– Ba trăm tử sĩ… mày giải quyết cách nào?

Tôi trả lời cho qua truông:

– Khó khăn nào cũng vượt qua thôi anh Năm à !

– Cũng xong nghĩa là thế nào?

– Dạ bó chiếu đại đa số.

Anh kêu lên một tiếng cơ hồ không nghe được:

– Trời đất.

Để chữa tội cho mình và cho bạn tôi nói:

– Dạ đâu còn nhà cửa gì. Anh nghĩ coi. Nếu đóng hòm như hồi 1965 thì phải mất gần 1800 tấm ván. Nhà đồng bào bây giờ không còn mấy cái còn dược bộ ván ba nguyên. Tất cả đều dùng vào việc làm hầm. Cửa ván vách ván thì bay hết từ lâu.

Năm Lê thở dài :

– Rồi thằng Năm Sĩ làm sao?

Tôi thấy không thể giấu được. Chỉ việc tôi bị thương tí ở chân mà ảnh còn biết, nên đành thưa thiệt.

– Ảnh điên anh Năm à !

– Thiệt sao?

– Dạ không đến đỗi ỉa rồi ăn hoặc bôi lên đầu nhưng ảnh khóc khóc cười cười như người mất trí.

– Vậy còn quá cha điên ! -Nói xong anh đi qua ngách rồi trở lại với một tờ giấy trên tay, anh đưa cho tôi.

Tôi nghiêng vào ánh đèn cầy hắt hiu, đọc. Đó là quyết định của R bổ nhiệm anh đi làm tư lệnh I3 tức khu 9 cũ.

Tôi đưa tờ giấy cho anh, không nói gì. Anh lại nâng ly uống rồi nói như nói với không khí:

– Một trận. Ba trăm con người ta. rồi nhìn tôi- Nhưng không phải mình chỉ mất 300 cây súng mà còn mất thêm cái gì khác nữa! Đó là tinh thần anh em còn sống chiến đấu. Cái đó có thể lấy lại được, nhưng phải rất lâu. Cũng có thể không lấy lại được. -Anh tiếp- Địch nó đặt chúng ta vào tình thế bất đắc dĩ. Không đánh không được. Đánh, bị thiệt hại, không đánh cũng bị thiệt hại. Không đánh Trung Hòa ta mất một E, nếu đánh mất bao nhiêu? Cũng gần như nhau. Đợt ba sắp sửa khai diễn. Củ Chi mở màn trước đó… À..mà mày có hay tin có chánh phủ miền Nam chưa?

Tôi nói láo:

– Dạ chưa.

– Cái thằng! Tin quan trọng thế mà mày chưa hay à? Cuộc tổng tấn công hồi Tết như cục đá thọ khí âm dương nứt ra Tôn Hành Giả.

Tôi biết chuyện đó trong truyện Tây Du nhưng không hiểu hôm nay anh dùng nó có ngụ ý gì. Tôi hỏi:

– Nghĩa là sao anh Năm?

– Thì như vậy đó chớ còn sao nữa ?

Anh không nói gì thêm, còn tôi cũng không đoán được anh định nói gì. Một lát sau anh mới trở lại vấn đề:

– Anh Ba mình có chân trong chánh phủ đó.

– Chân gì anh Năm?

– Thứ trưởng Quốc Phòng.

– Chức to vậy à anh?

– Ờ, to lắm.

Anh bảo tôi ở lại ăn cơm chiều. ăn xong trời tối, anh lại bảo ở lại đêm với anh. Đường bây giờ đứt hết. Biệt kích như rươi. Tám Nghi bí thư của anh bị xe tăng khui hầm nay có thằng bí thư mới, tôi không quen. Anh chàng này lấy làm lạ bảo đám cận vệ: lâu nay ông Năm giữ bí mật địa điểm lắm, cán bộ đến làm việc, không có ai được ông tiếp làm vậy, nhất là mời uống rượu và ngủ lại với ông.

Năm Lê có nhiều tâm sự. Anh không nói hết với tôi.

Nhưng có tôi bên cạnh, anh có cảm giác là anh không nói tôi cũng hiểu. Do đó anh giữ tôi lại.

– Ở đây có chỗ chui không anh?

– Có mẹ gì. Thằng Burchett nói láo rằng địa xuyên qua cả đít Đồng Dù. Sao nó không nói chui luôn qua sông Sàigòn cho nhân dân thế giới phục luôn… tài nói láo của nó. Ở đây chạy là thượng sách, không có chui.

Trưa trưa coi bộ tình hình yên tĩnh anh lại gọi tôi, hỏi:

– Bây giờ ở bển cần gì?

– Gì cũng cần hết anh à !

– Nhưng cái nào nhất cái nào nhì.

– Người và súng ngang nhau anh Năm à.

– Cái thằng! Mày đùa hả?

– Tôi nói thiệt mà anh Năm! Anh coi cái 268 của Năm Sĩ đó thì biết.

Năm Lê làm thinh. Chiều hôm đó tôi theo anh đi hội nghị. Một cái hội nghị không vui vẻ chút nào. Nội dung là hội nghị “Phân tán mỏng” nghĩa là các đơn vị tập trung bây giờ phải tìm chỗ ẩn trú để bảo toàn lực lượng trường kỳ mai phục chờ thời cơ. Trở lại thời kỳ man khai du kích.

Địa điểm đặt tại vùng trên cách đây hai ngày đường. Con hùm xám Củ Chi ra khỏi hang. Một trung đội cận vệ. Nhưng con hùm này khác với con hùm Điện Biên và khác với cọp R Chín Vinh đi Sàigòn qua Rạch Cây Da.

Con đường vô tận vạch qua những bãi B52 đất nám đen, chui qua những thân cây ngã và leo qua những thân cây tróc gốc không biết đến đâu là mút.

Nhưng có con đường nào là đường đi không đến? Cuối cùng đoàn dừng lại. Năm Lê hỏi tôi:

– Mày biết đây là đâu không?

Tôi ngơ ngác. Rừng nào cũng giống rừng nào. Chỉ khác là cái kỷ niệm của mình với nó.

Anh rỉ tai tôi :

– Long Nguyên.

Tôi trố mắt nhìn. Long Nguyên đây sao? Cái vùng đất mà hai mươi măm trước mình dẫm chân lên đây đi kháng chiến chống Pháp lúc mười ba tuổi.

Long Nguyên yêu dấu.

Đi một buổi nữa mới đến điểm họp. Lẩn khuất trong cây rừng tôi thấy một cái núi đất nho nhỏ. Tôi hỏi:

– Mả ai giữa rừng mà to vậy anh Năm?

– Tối nay anh em mình ngủ hầm Đờ Cát, bảo đảm 75%.

Quả thật tối lại tôi ngủ trong cái hầm có điện. Có nhiều đại lộ như một khu phố nho nhỏ ở Hà Nội, đi không phải khom. Nóc hầm hình chóp, đà ngang ba tấc bề kính. Có một đồi nóc ở chính giữa.

– Mày biết ai làm cái hầm này không?

Tôi biết mà đáp không.

– Một trung đoàn công binh của Tư Cường kiến trúc và xây cất đêm ngày trong vòng sáu tháng đấy em!

Tôi nghĩ bụng. Hầm của Đờ Cát Sáu Di chớ ai.

Ở đây tôi gặp lại thằng bạn nối khố của tôi: Tư Linh. Cái bản mặt của nó vàng ngo ách như mặt dọc, thỏn cóp như mặt khỉ. Ngoài giờ hội nghị, nó dắt tôi đi trong các ngách hầm. Mẹ thằng Bọ Chét không được đến đây để về nói phét cho thế giới ngây thơ nghe mà phục lăn. Để cho lão Russel và mụ A. Strong tếu lên ca ngợi quân giải phóng. Để thiên hạ tin rằng địa đạo Củ Chi dài 700 miles có chợ búa, có câu lạc bộ và có nhà thương giải phẫu óc và đẻ con dưới đó. Vâng, cái hầm này có đủ phương tiện để chứa mười tên đầu bò chui xuống ăn bơ sữa Mỹ trong vòng ba tháng với một trăm cung nữ và thái giám chực hầu. Đó là triều đình của ông vua đỏ Nguyễn Chí Thanh, đông cung thái tử của nhà Hồ chưa kịp lên ngôi đã ngủm.

Tư Linh dắt tôi đến nhà bếp. Mẹ kiếp cơm cá nấu bằng rề-sô. Thịt hộp vun như núi, gạo dư cho chuột ăn và làm ổ. Cái giếng đào ngay giữa lòng hầm chẳng khác địa huyệt thời Chung Vô Diệm đi thám thính.

Cái villa ngầm này xây lên nhằm mục đích chống B52. Bọn lãnh đạo chiến tranh miền Nam ở đường Quan Thánh không hiểu B52 và bom đìa là gì. Bề sâu nó khoan thủng từ 10 đến 12 mét. Bề kính từ 200 đến 300 mét. Nó rộng và sâu như một cái đìa nên gọi là bom đìa. Chịu còn không nổi bom phản lực thường nữa là B52.

Những hắn chết đâu phải là do Mỹ đánh mà là trời đánh. Trời đánh chết tên tội đồ dân tộc để cứu lương dân.

Một buổi chiều tư lệnh dắt tôi ra miệng hầm. Trời! Nội cái miệng hầm thôi vừa nom thấy cũng hết hồn. Miệng túm hùm người phải len xuống nhưng nó được chắn ba phía bằng ba quả đồi con có nóc. Bom bí rắc cũng không lọt. Đường xuống đếm đủ chín bậc “cửu trùng”. Đi giữa lòng hầm mát mẻ như có máy lạnh.

Tư Linh trỏ tay:

– “Ổng” sụm ở chỗ này.

– Sao mày biết?

– Thì mấy chả nói đi nói lại mình đoán ra. Chớ hồi đó tới giờ ai có đến đây mậy.

– Cái hầm có cô hồn, tao ghê quá !

– Nhờ người ta bỏ nên mình mới được ở chớ nếu không, bọn cá kèo mình đến đây sao được!

– Ở đây ăn mâm (pháo) nào?

– Mâm nào nó cũng “xẹc vía” cũng được cả . Bình Dương, Rạch Kiến, Chà Rầy.

– Chà Rầy vói cũng tới nữa à?

– 175 ở đâu nó vói không tới.

Hút tàn điếu thuốc, Tư Linh than dài:

– Ở đây hơi khỏe, nhưng khô quá. Thà ở Củ Chi có chết có sống mà vui. Sao? Mày độ rày em Ba em Bảy nào rồi?

– Mệt ứ hò he mày ơi !

– Có để bầu để bí cho em nào chưa?

– Tao tu lâu rồi. Lố chứng minh thư của mày cho hồi nẳm xài chưa hết.

Tư Linh phá lên cười:

– Thôi đi ông nội ơi ! Ông đánh Củ Chi lấy cả thùng, chớ xài chưa hết gì. Nghe nói con “lủng sĩ” của mày có về R và được tấn phong anh hùng hả?

– Ối ba cái chuyện đó tao không có rành.

– Rờ tới rờ lui rờ lên rờ xuống chắc có ngày mày nuôi đẻ chớ không khỏi đâu. Rồi ra dũng sĩ con cả bầy. Mỗi đứa mỗi cha.

Tôi phát cáu gạt ngang:

– Mày có nhận được thằng Mỹ nào chưa?

– Được rồi. Thằng cha Tám Nghĩa sợ ăn khoai lang (bom bi) nên nó đùn cục nợ cho tao. Mẹ kiếp, nó cao hai thước ngoài, hầm thường nhét nó không xuống phải đào riêng cho nó một cái với nắp hầm ngoại cỡ .

– Ở đây mà cũng đào BM nữa sao?

– Trời. Nó thả biệt kích nhẩm dấu mày ơi. Tao đâu có dám để ở trên. Ngày đêm gì cũng nhốt dưới hầm, chỉ cho nó ló cái mũi nhọn ra lỗ hơi thôi. Tay trói chân xiềng. Vài ngày dở nắp cho ăn cho thở một lần. Trông cho nó chết mà nó cứ sống nhăn hoài. Phải nó chết mẹ nó đi thì tiện cho tao quá. Gạo mình không có ăn mà phải chia cho nó. Cơm bưng nước rót, có thua gì thượng khách của quân khu. -Tư Linh tiếp- Chết đến nơi mà cũng còn o gái đó nghe mậy!

– O khỉ cái ở đây à?

– Nó quèo được mấy con nhỏ nấu cơm.

– Của mày hả?

– Của trời ! Hí hí. Nó làm thế nào mà có lần tao bắt được một con nhỏ giở nắp hầm cho nó ăn rồi ngồi nói chuyện với nó lâu lắc.

– Thì cô ta làm “địt” vận nó cũng như mày địt… mấy cô ấy chớ gì!

– Trời, nó kêu cô ta bằng “chị Hai” rõ ràng nghe mậy.

– Lớ quớ nó “địt”… được nhân viên của mày trốn đó.

– Bây giờ nó bò chừng 100 mét là tao tóm lại được ngay. Mày gặp lại nó mày không có nhìn ra đâu. Sốt rét da bủn xì râu bít mặt, ghẻ xốn khắp mình như thằng cùi. Mày cứ tưởng tượng con vịt đắp đất sét khắp mình đốt rơm nướng. Thằng này cũng vậy. Nó nằm giữa hầm đất sét sáu tháng rồi. Mày cứ tưởng tượng thì biết chớ gì. Mày xuống đó chừng vài giờ là trồi lên ngay. Nó chịu liên miên như vậy. Mà nó sống dai như khỉ già Trường Sơn. Phải chi nó là Ngụy thì tao bắt nó bổ củi đào đất, còn mặt mũi nó như qủi sứ thế này, lỡ có ai thấy là lộ bí mật hết. Rồi sớm muộn gì cũng có chuyện. -Tư Linh tiếp- Bởi vậy nên mấy đứa cảnh vệ gác mệt quá, nên bàn kế hoạch “dăng-xương nhị tì” (2) nó cho rồi. Có gì khó, tụi nó chỉ hô hoán lên rằng thằng quỉ vượt ngục rồi rẹt cho nửa băng là xong chớ gì, nhưng tao biết tao chận ngay. Tao nghe mấy thằng cai ngục trên R ngầm phổ biến cái “chánh sách tù binh” đặc biệt với đó với nhau. Bây giờ lính cũng biết nữa. Từ rày mày có thộp được cái thứ quỉ đó, đừng có đem về nhà nữa, mệt tao lắm!

– Nhờ nó mà mày biết mặt thằng Mỹ, nếu không có tao mày có biết giống nó mồm ngang mũi dọc ra sao ? “Công tác địt” của mày chỉ ăn hút thôi chớ làm gì.

– Tao vái cả mũ trả lại mày đem nó về mà thờ!

– Nó tên gì, cho tao biết để lập bài vị ?

– Tên nó hả? Thằng Biu!

– “Biu” là cái giống đéo gì?

– Mỹ là “Willliams” như họ Nguyễn, họ Trần, họ Dương-dâm-hoác của mày vậy.

– Đừng có cụp nó đó. Tao nhắc cho!

– Tao không bảo đảm. Bà thủy không bắt thường gà !

– Một cái máy cày cho xã Phước Hiệp đó nghe mậy! Không khá hơn cày chìa vôi à?

– Cái củ … chì họ có máy cày cho!

(1) Đêm Liên Hoan, thơ của Hoàng Cầm

(2) Tiếng nhại theo tên “Junction City” của Mỹ

Chương 107

Ông tư lệnh Ba Xu
và ông trưởng ban “đánh rắm”

Tôi ở chơi với Tư Linh vài hôm. Bây giờ nó là chủ của cái công sự “Đờ Cát” bằng đất này. Mặc dù tôi cũng có nghe đồn về cái kỳ công do trung đoàn công binh của Tư Cường dựng nên, nhưng tôi không khỏi ngạc nhiên khi bước vào đó, công sức đâu mà làm đến vậy. Tưởng như khoét một quả núi không bằng.

Tư Linh bảo:

– Mày ở đây cứ phình bụng ngủ. Ngoại trừ một trái 175 rót ngay nóc thì không biết có thể chọc thủng rún mình hay không chớ còn bom bỏ mé mé thì chỉ gãi ngứa.

– Phèo ruột chớ gãi ngứa cho mày!

– Bến Cát nó có “thử cựa” với tao rồi mà !

Tư Linh hỏi:

– Mày muốn ăn gì uống gì?

– Mày có mấy chai muối tiêu với muối ớt? Có mấy be sườn khỉ khô mà làm sang?

– Ý đừng giỡn may -Tư Linh dắt tôi vô bếp trỏ cái đống đồ hộp- Móc ra ăn mau tụi nó kiểm kê rồi đó nghe mậy. Người ta đi không mang hết, nhưng đã vô sổ bàn giao cho tao từng thứ hết. Đây kìa có cả rượu Tàu rượu Tây chớ không phải chỉ nước giếng đâu.

– Người ta vô sổ hết rồi mày làm sao ăn?

– Sổ cái củ… chi tao nè. Thằng lớn có họng thằng nhỏ không có họng hả? Ông lớn biết ăn, thằng nhỏ không biết ăn hả?

– Ở đây mày còn được mấy em ?

Tư Linh lõ mắt dòm tôi rồi cười ré lên, cái đầu lắc lư mái tóc rung rinh như một bụi chùm gởi trên nhánh cây to và nói:

– Đi nạo hết ráo rồi, chỉ còn một em…

– Dành cho ông Phó ban địt…

– Bậy nào! Nó đang sốt rét liên miên kiêng cữ không kỹ. Mày có ‘kinimắc” lụi giùm nó một ống.

Hai đứa nhìn nhau cười. Tư Linh chép miệng:

– Ở trên rừng khỉ cái còn đẹp nghen mày.

Rồi hắn đem bày ra trên bàn lủ khủ những hộp thiếc trắng, dẹp, hột xoài, tròn, vuông đủ hình thức, nhưng lại không có nhãn hiệu gì hết.

– Mày biết “mách inh” gì không? (made in)

– “Mách” gì cũng được, nhưng đừng có đựng bột hột gà khó ăn lắm. Nuốt vô nó mắc nghẹn ngang cổ. Tao ghé hang của thằng Hùm nó cho tao ăn một bữa muối trộn trợn trắng con mắt. Tối lại vô hầm bỏ “bom nguyên” muốn bể hết cơ sở.

Tư Linh nói:

– Tiếu lâm hột gà?

– Tao đặt cho mày cái tên “Trưởng ban đậu phộng” nghe ?

– Bộ tao đại lý đậu phộng hay sao?

Tôi cười:

– Mày không nhớ chuyện ở ngoài Thanh Hóa à?

– Tao mà quên thì ai nhớ?

Chuyện rằng trong một nhà tập thể có nhiều cặp vợ chồng ở chung. Một tấm vách cót chắn ngang chia hai một gian phòng cho hai cặp vợ chồng, một cặp vợ chồng Nam vợ Nam, một cặp vợ chồng Bắc vợ Bắc. Trong đêm khuya thanh vắng, các thứ tiếng động đều lặng im. Hai cặp chiến đấu viên mới bắt đầu sửa soạn chiến trường.

Bỗng cặp Bắc nghe từ bên kia tấm vách cót vọng sang:

– Địt gì mà địt hoài địt hủy không để yên cho người ta ngủ hè !

Im lặng một chút thì lại:

– Đọ mới một cái, bây giờ lại một cái nữa. Ai chịu nổi .

Tiếng ngáp dài:

– Tại nó vậy chớ ai muốn làm chi?

– Đọ đọ thấy chưa ! Cái này vừa xong lại đến cái khác!

– Hì hì tại nó mạnh trong mình mà. Em rán chịu cái này nữa thôi.

– Mạnh gì mà mạnh dữ vậy, để cho người ta ngủ đã sáng mai còn đi công tác chớ!

– Thì muốn tôi ngưng địt đừng cho tôi tẩm bổ với đi !

Bà vợ Bắc nhéo ông chồng Bắc và rỉ tai:

– Thấy chưa? người ta vậy đó còn anh chẳng gì cả?

– Thì nhờ đàn bà người ta khôn ngoan biết tẩm bổ cho chồng.

Sáng hôm sau cặp vợ chồng Nam dắt nhau đi gặp viên y tá người Bắc vừa đào tạo cấp tốc sáu tuần để phục vụ nhân dân. Người vợ mau mắn báo cáo:

– Thưa bác sĩ, không hiểu tại sao chồng tôi mắc chứng địt liên miên, hết cái này lại đến cái khác, tôi không ngủ nghê được. Sáng nào tôi cũng dậy trễ, công tác rất mệt nhọc.

Viên bác sĩ hớn hở bảo:

– Đó là điều mà các cặp uyên ương khác mong mỏi mà không được đó chớ!

Người vợ nói:

– Dạ, xin bác sĩ bớt bớt giùm cho.

– Chắc đồng chí tẩm bổ ông ấy nhiều quá. Bây giờ cắt bớt khẩu phần là kết quả !

– Dạ tôi chỉ cho nhà tôi ăn đậu phộng rang muối thôi chớ có gì đâu?

Viên bác sĩ kêu lên như Kha Luân Bố tìm thấy đất liền. Ông ta định sẽ viết một bài “Vai trò hạt đậu rang trong nền y tế nhân dân xây dựng xã hội chủ nghĩa”.

Ông bác sĩ bảo:

– Chúc hai đồng chí hạnh phúc! Xin giữ bí mật và tiết kiệm món thuốc quý báu đó.

Hai vợ chồng ngơ ngác nhìn theo rồi lui ra.

Đến phiên hai vợ chồng Bắc vào thăm bác sĩ và trình bày tình trạng yếu sinh lý. Ông bác sĩ bảo:

– Các đồng chí cứ tẩm bổ bằng lạc rang. Thế là giải quyết vấn đề.

Tư Linh nghe tới đó, tiếp ngay:

– Thằng chồng Bắc kỳ được vợ tẩm bổ bằng lạc rang, báo hại tấm cót tre bị thủng mất.

Tôi bảo:

– Gọi mày là trưởng ban địt… vặt thì nghe tục tĩu quá, vậy gọi mày là “trưởng ban đánh rắm” cho bớt tục nghe. (Tư Linh ậm ờ tôi tiếp). Cái ban của mày về tích sự năm năm trời mới nhờ mấy đứa chăn trâu bắt dược một thằng Mỹ, vậy cuối năm báo công làm sao với Trung ương?

– Khè khè… nhờ bà nhà báo Nhã Nam của mày nói tiếng lên, bắt một thằng Mỹ thành đít vận được một tiểu đoàn Mỹ và làm cho sư đoàn Anh Cả Đỏ của Mỹ sắp tan rã, vậy đó. Thôi, uống Mao đài với thịt đùi bác Mao gái đi.

Hai tên tri kỷ cuồng làm vua trong cung điện ngài thái tử vừa đột ngột băng hà. Rượu ngọt quá. Nó đục như sữa mà uống say hồi nào không hay. Được nửa tiệc, Tư Linh ghé tai tôi rù rì một lúc rồi bảo:

– Mày lại làm phò mã hụt nữa rồi!

Đến chừng nó dứt tiếng, tôi kêu lên:

– Có thiệt không mậy?

– Ai dám phịa một cái chuyện như vậy.

– Mày nghe ai đồn?

– Ai đồn? Ông Tham Mưu trưởng cho tao hay vì tao là cấp trưởng ban. Tin đó tạm thời chỉ được phổ biến đến cấp trưởng ban thôi. Phó ban cũng không được biết.

– Như vậy nghĩa là sao?

– Thì như vậy đó chớ còn nghĩa là “sau”‘ trước cái gì nữa. Chiến tranh mà mậy. Tử thần gõ cửa nhà có cho ai hay trước?

– Mà sao lại đi vào bãi mìn?

Tư Linh ực một tách Mao đài tửu và lắc lư cái đầu bù:

– Thằng quận đội trưởng Trảng Bàng dắt đường trên vùng đất của nó mà không hiểu tại sao nó lại đui mù như vậy. Trời, đụ bà, kỳ này còn độc địa hơn vụ ông Sáu Di. – Tư Linh quay ra la hoảng- Ê có đứa nào đó không? Tụi bây đi nấu nước pha trà coi !

Thấy không có đứa nào ở gần nghe lén Tư Linh tiếp:

– Phái đoàn đông lắm gồm có hai mươi mấy người lận. Anh Ba mình về R lãnh chức thứ trưởng Quốc Phòng của Chánh Phủ Lâm Thời, ông Tư Trường….

– Tư Trường nào?

– Tư Trường chánh ủy khu! không biết về trển làm gì. Tát cả đều vô trụm trong bãi mìn. Không tìm được một dấu vết gì cả!

– Sao kỳ vậy he! -Tôi mơ màng. Bộ Tư Lệnh quân khu đi hành quân mà lại dẫn lên bãi mìn là sao?- Không có trinh sát xích hầu gì hết à?

– Ai biết được mày ơi ! Mày lên trên R mà thắc mắc cho người ta còng đầu mày. Kế hoạch của người ta tụi ếch nhái mình hiểu được sao?

– Mày nói thế nghĩa là gì?

– Nghĩa là vậy đó, thôi cha nuốt cho hết ba cái Mao đì này rồi ngủ hay mày thảo kế hoạch phân tán mỏng đơn vị đi! Tình hình này nó hửi được mùi “thép” nó phạt cho 50 ngàn dưa là tiêu dên hết đó ông E ép (E phó) à. Để tao bảo nó múc nước giếng nấu trà Chính Xuân uống chơi như ngồi phố Huế Hà Nội nghe? Kìa, cái giếng đó sâu mười mét. Nước ngọt lắm nhưng múc được một gàu phải đổ mồ hôi trán rán mồ hôi lồn chớ không khỏe như múc nước sông Sàigòn đâu.

Tôi xua tay:

– Nước sông Sàigòn bây giờ không dám nấu trà uống đâu mày. Thấy bò vàng bò đen trôi lên trôi xuống chớ sao.

– Bò ở đâu mà lội trên sông Sàigòn?

– Bò Sanh Bắc Tử Nam chớ đâu ? Sáu Hùm ngưng đóng đáy cũng vì ba con bò đó ! Tôm càng xanh mà ăn không mạnh miệng. Sáng mai tao về sớm mày ạ !

– Mày hỏi biệt kích chớ hỏi tao chi. Tao sẽ cho hai thằng nhóc gác-đơ-co cho mày về tới Củ Chi… Một công ba chuyện. Tụi nó xuống đó gửi cho tao vài bòng trà thuốc về tẩm gân chớ để con chim khô queo mục mất. Hai là ghé ông thầy Nạo dắt mấy cô bé về. Ba là kiếm vài đứa tân binh gửi lên đây cho tao, giống cái càng tốt.

– Trà thuốc tao lo được còn vụ tân binh tao không hứa. Ở dưới đó đâu còn đâu mà rủ mà nhử. Giống cái đâu có thừa mà cống hồ cho mày.

– Thịt hộp đó lấy được bao nhiêu thì lấy đi. Thịt tanh rình mắc ói ăn thua thịt khỉ già. Tao coi còn thua mắm kho của em Là !

Nói loanh quanh một hồi Tư Linh lại dặn:

– Mày đừng có nói tùm lum cái thứ đó nghen hôn thằng Thiên Lôi.

– Đầu cặc, ở trên này mà hay thì ở dưới ễnh ương nhái bầu đều biết hết rồi, còn lo nỗi gì?

Đưa tôi ra miệng hang, Tư Linh bảo:

– Thằng cha Năm Sĩ điên hả mày?

– Chắc bị pháo giã nó đứt “thần thông” rồi.

– Không phải đâu. Nó hốt hụt đại đội Mỹ nó tức, nó điên đó mày ạ !

– Tôi nghiệp! Tao kết nạp nó vô hội ve chai cho vui.

– Hai Trí còn ở dưới đó không?

– Còn! Nhưng không biết ở lùm nào.

– Đụ bà F trưởng chết, coi chừng F phó đó nghe! Mày nên cặp bồ giúp ông. Sao tao nghe đồn mày đi miền Tây với ông Năm Lê?

– Ổng có biểu nhưng tao không muốn đi.

– Ở đây làm cái củ cặc gì? Nghe nói ở dưới đó đất U Minh rộng hơn.

– Rộng nhưng sình lầy.

– Đụ bà, thằng Bọ Chét (Burchett) đâu rồi sao không thấy tới Củ Chi lần nữa. Bị nó lấy mật, con Hương xấu hổ trốn ra thành mất biệt rồi. Tội nghiệp cái thằng nào hứa hôn với nó. Mẹ kiếp mọi việc đều do Tám Quang mà ra cả. Lần này nó tới tao kiếm một con điếm Sàigòn cho nó thọt ống điếu vô bị cua đinh thiên pháo chết cha thằng nói láo để trả thù dân tộc.

– Thôi mày ơi ! Trước khi nó dzô đây, nó đã gặp Bác Hồ với đồng chí Tố Hữu đó nghe mày ! Tất cả mọi việc đều do ở ngoải cân đo sắp xếp chớ không phải Tám Quang dám chuyên quyền đâu Mấy ông trong này chỉ là cái tay chân và con bỏi của ngoài đó thôi.

– Mày nói tầm bậy khỉ nó nghe nó báo cáo là mày rụng đầu.

– Đầu nào? Đầu trên hay đầu dưới?

(Đấy là tôi viết theo cảm nghĩ bây giờ (1997) chớ hồi đó có nghĩ nhưng không dám phạm thượng thế đâu quý độc giả ạ).

Trong chiến cuộc Củ Chi, tôi có mấy người bạn cố tri uống rượu và dám nói chuyện bất mãn với nhau. Trong đó có Tự Linh. Lâu lâu lại gặp. Tôi cho nó tiền, đãi rượu, nó hữu nghị cho tôi “chứng minh thư nhân dân” xài cho khỏi làm phiền ông thầy nạo Tám Lê.

Bữa nay chia tay hai đứa bịn rịn như trẻ con.

– Chừng nào tao gặp lại mày, Lôi?

– Ai biết. Mà gặp ở đâu, gặp làm gì?

Tư Linh dậm dậm chân:

– Chắc dưới đó, có bọn thằng Sáu Dùng, Hai Giả.

Bỗng nghe tiếng xè xè trên đầu. Rồi tiếng loa điện ồm ồm chụp xuống đầu.

“Tôi là Bảy Đạo tham mưu trướng quận đội Củ Chi thượng úy Bắc Việt hồi kết đã bỏ hàng ngũ Cộng Sản về với chánh phủ Quốc Gia. Tôi đã thấy dã tâm của họ là xâm chiếm miền Nam bằng súng Nga Tâu và xương máu bộ đội Bắc Nam. Tôi đã thấy bọn giải phóng vô thị trấn Củ Chi ăn cướp vải và vàng bạc của đồng bào chở bằng xe bò.

Trong trận đánh Trung Hòa thất bại họ bị pháo Mỹ dập chết nguyên trung đoàn E268 gốc sư đoàn 308 Bắc Việt từng đánh Điện Biên… Lính Sanh Bắc Tử Nam chết chừng 300 tên ở Tầm Lanh và Ràng.

… Tôi kêu gọi anh em cán binh Việt Cộng hãy bỏ hàng ngũ Cộng Sản để tránh khỏi cái chết thảm khốc vô lối…

Bảy Đạo Tham Mưu trưởng Quân Đội Củ Chi.”

Tư Linh nghếch mặt lên chửi:

– Địt mẹ, tháng già hãm con nít còn nho nhoe cái mả mẹ mày hả?

– Con nít đưa lọp cho nó đổ chớ nó hãm ai? Có mấy thằng lãnh tụ hãm các cháu nuôi con thì có.

– Nó cưới được con nhỏ mười sáu tuổi… đã quá rồi dông luôn hả mậy?

– Mày “địt Mỹ ” không xong, Mỹ nó địt lại mày mất một tên tham mưu trưởng!

(Vụ này bề ngoài là một vụ lính xe tăng khui hầm bắt sống Bảy Đạo, nhưng ai cũng biết là vợ hắn ra Sàigòn liên lạc rồi giàn cảnh. Lính đổ dù ngay chóc, đi vào khui hầm bắt Bảy Dạo bỏ lên trực thăng chở di, quần áo không lấm chút bụi).

Tư Linh bảo tôi:

– Mày về ngay tản khai đơn vị không thôi lại bị một vụ Tầm Lanh thì…

Tư Linh chưa dứt lời thì một lá truyền đơn rơi ngay miệng. Hắn nhặt lấy đọc. Rõ ràng là hình Bảy Đạo đứng bên cạnh cô vợ trẻ in trên góc truyền đơn với chữ ký Bảy Đạo.

Tôi chỉ liếc qua. Tư Linh đọc chưa hết tôi giật, vò lẹ ném đi:

– Đọc cái củ . chi họ. Tao biết rồi.

Tôi nóng lòng vọt về đơn vị thu xếp công việc. Nhưng Tư Linh can:

– Tình hình này tụi giang thuyền bế ngang mày không chui lọt đâu. Để chờ ít năm nữa thằng nhà báo chó chết đào địa đạo xuyên đám sông Sàigòn cho mày đi an toàn hơn.

Rồi Tư Linh kéo tay tôi trở vô hầm.

Long Nguyên. Ôi Long Nguyên đất cuốc. Nơi khởi binh của Huỳnh Văn Nghệ danh tướng của thời kháng chiến chống Pháp với những trận Bàu Cá, La Ngà… Câu thơ bất hủ của Huỳnh thi sĩ còn mãi mãi vang âm trong lòng những nữ sinh áo trắng “Couvent des Oiseaux” và của toàn thể lứa tuổi học trò thế hệ 1947-50.

Em trở lại trong vùng tạm chiếm
Biết bao giờ nguôi hận chiến khu xanh (1)

Bây giờ Long Nguyên là nơi tuyệt địa của Nguyễn ChíThanh. Đó là sự báo oán của anh linh Huỳnh Văn Nghệ, một nhân tài bị nhà Hồ ngược đãi tận cùng chỉ vì ông ta căm ghét chánh sách bạc đãi dân Nam Kỳ . Người dân Nam Kỳ biết hay không biết điểm này?

Dù bị cầm chân, tôi vẫn dùng dằng. Bụng như lửa đốt quyết đi về Củ Chi ngay.

Tư Linh bảo:

– Củ Chi này còn đỡ gạt với anh Cả Đỏ, Tia Chớp Nhiệt Đới là nhờ cái E Thép của mày đó nghe mậy. Mày mà đi đái nữa là coi như tụi nó ỉa trên đầu cha tụi quận đội, quận ủy Củ Chi. Ông Năm Tiều già rồi. Bánh chè của ông khô nước nhờn không chạy đua được với trực thăng đâu!

Nhưng tôi không ở được. Hình ảnh Tầm Lanh với 50 ngàn trái pháo ám ảnh tôi nặng nề rùng rợn. Nhậu sơ ba hột với thằng bạn rồi tôi đứng dậy, cương quyết:

– Mày để tao đi, đừng có níu kéo nữa Linh à !

Không giữ được, nó đành đưa tôi ra đường mòn quốc tế.

Tôi buột miệng nói:

– Cái hầm này có cô hồn, mày không nên ở lâu.

Tư Linh đưa tôi ra đường mòn lớn. Nó đột nhiên hỏi:

– Mày không chịu “yên nơi chỗ” cho rồi, thiệt sao Lôi?

– Thôi mày ơi! Đừng nói tới chuyện “Chuyến xe đêm” đó. (2)

– Còn cái chuyện thằng em Thủy Quân Lục Chiến của mày tới đâu rồi?

Laisse le tranquille. -Tôi bật tiếng Pháp- Hãy để cho nó yên. Tao không biết nữa.

Tư Linh cứ lẽo đẽo theo tôi hoài. Hai đứa cần vụ vác AK đi phía trước cứ dừng lại ngó chừng, chờ tôi tới.

Tư Linh bỗng nhiên mếu máo:

– Thằng Cu tao lên tám rồi đó mày!

– Thằng Cu nào?

Tôi chợt nhớ ra nó cấy rau muống ở Thanh Hóa. Nó có khoe tôi lúc gặp ỡ Hà Nội. Thằng bé trông kháu lẩm. Chốc đây mà đã năm năm.

Tư Linh móc bóp ra lấy hình, tấm hình thằng bé hồi đó.

– Không biết nó với mẹ nó ở đâu bây giờ. Tao đã gởi hàng chục bức thư mà không có hồi âm một chữ. Mày tính đi mày! Gần bốn mươi rồi đó. Cha già con muộn, hít hít…

Mắt nó đỏ hoe. Giọng nó rưng rưng.

Lần đầu tiên tôi cũng xúc động vì một câu chuyện bất ngờ như vậy. Tôi vung tay ra:

– Củ cặc! Để tao đi! -rồi vụt theo hai đứa cận vệ.

– Cẩn thận giang thuyền nghe Lôi!

Tôi nghe tiếng thằng bạn vuốt lạnh sau gáy như một làn gió heo may giữa trời nắng gắt. (Ít lâu sau nó cũng bị khui hầm bất sống với chức vụ Trưởng ban địch vận Quân Khu với thành tích độc nhất là giam giữ thằng tù binh Mỹ tên “Biu” – không biết chết sống).

Đường đi bít hết. Tôi độ chừng đến ngay căn cứ cũ của Sáu Phấn (lúc tôi về giúp y xây dựng lại G7 (pháo binh biến thể H6 cũ ở Bến Mương của tôi) tôi cũng không còn nhớ. Rừng xóa vết rất mau. Một vài trận mưa là mồ mả san bằng, chòi trại nước cuốn trôi mất hết. Tôi nhớ lần cuối cùng uống rượu với tôm khô Sáu Phấn để dành cho “thầy Hai” một năm trời mới mở ra.

Rồi Sáu Phấn được lịnh qua Củ Chi cất giấu súng máng heo DKB (súng khoan bê tông) để bắn vô Sàigòn (đếch có bắn phát nào). Rồi chết chung một hầm với ban tham mưu quận đội của Đào Hải (lúc đó tôi chỉ huy D Thép kiêm luôn quận đội trưởng) bỏ lại vợ đẹp con thơ. (Không biết bây giờ chị và cháu ở đâu. Và dì Mười nó nữa!)

Tòi đành ngoảnh mặt đi ngang vùng đất này xem như không quen biết. Còn nấm mồ tập thể của tụi Sáu Dùng…cũng ở đây, tôi có tới đất nhang một lần, nhưng bây giờ còn biết ở đâu mà tìm. Thôi cứ coi như không có. Lội băng hai ngày liền dưới cánh trực thăng mới ra đến sông Sàigòn. Trời chiều bảng lảng buồn tênh. Nhưng than ôi!

Không phải cái buồn của Bà Huyện Thanh Quan thuở đi học trường làng trả bài cho thầy:

Trời chiều bảng lảng hóng hoàng hôn
Tiếng ốc xa đưa lẫn trông dồn
Gác mái ngư ông về viễn phố
Gõ sừng mục tử lại cô thôn
Ngàn dâu gió cuốn chim bay mỏi
Dậm liễu sương sa khách bước dồn
Kẻ chốn chương đài người lữ thứ
Biết ai mà kể nỗi hàn ôn.

Dương Đình Lôi vô phép xin họa vận với người tiền bối cho đỡ buồn.

Trời chiều khói súng phủ hoàng hôn
Tiếng pháo tiếng bom nổ dập dồn
Lóm thóm giao liên chui gốc cỏ
Tang thương lều nát ngập cô hồn
Rừng đen từng lõm chim không ổ
Đường đá lơ thơ
c.. kiếm l…!
Sông nước Sàigòn nay cũng khác
Đò bỏ trôi trên sóng phập phòm.

Một cận vệ đi “bám” bờ sông trở lại báo cáo:

– Giang thuyền Bình Dương giăng ngang anh Hai ạ.

Tôi đoán trước tình thế bất lợi ấy, cho nên bảo ngay:

– Đi trở lại xóm Thuốc!

Xóm Thuốc là đại bản doanh của ông Tư Lệnh, tức là cái nhà của dì Ba, em má Hai, má của Lụa Là. Ông Tư Lệnh quân khu IV ăn dầm nằm đề ở đây. Có một đại đội cận vệ do Chín Nửa chỉ huy.

Độc giả hẳn còn nhớ chính bữa tiệc máu tôi viết ở quyển trước xảy ra ở đây. Cuộc họp đầy đủ bọn mặt rằn râu quắn của bọn khu ủy khu IV gồm cả Mai Chí Thọ và cả Võ Văn Kiệt cũng ở tại cái chuồng heo sau nhà này. Mụ vợ Nguyễn Hộ (Sáu Thiệt) cũng tới liếm láp ở đây. Con đĩ lủng nữ dân biểu cạp đít chảo cũng mon men kiếm chác đồ thừa Cộng Sản vứt cho. Tôi đã bắn một phát M79 giết mấy con gà của dì Ba làm tiệc đãi chúng nó. Tên chánh ủy Tư Trình ăn phải miểng đạn. Xui thiệt! Ba Xu và Tư Trình đạp mìn chết tan xác ở Mỏ Vẹt biên giới Miên Việt. Rồi đến Lê Quốc Đăng tên hung thần đỏ bắt nhốt lính đi Sàigòn dội về đợt một. Đến phiên hắn xuống Sàigòn thì bị Nhân Dân Tự Vệ bắn chết trong chuồng gà.

Xin nhắc sơ để độc giả nhớ lại vài nét mới vừa xảy ra ở đoạn trước.

Trời tối không còn nhận được đường đi bị bom pháo bắn sụp hết. Cảnh vật này cũng khác đi, mắt cứ phóng chừng chân cứ bước. Thời may hai đứa cần vụ nhớ nơi kỳ ngộ. Chúng bảo:

– Quán bà Lụa ở đây nè anh Hai.

Tôi như sực tỉnh. Nói là đây, nhưng đâu thấy gì là quán. Một đèo, một đèo lại một đèo. Một đống đen lại một đống đen thù lù. Đó là hai cái quán cặp kè bán bún thịt nướng trước kia. Lại một đống đen bên kia đường. Đó là ngôi nhà ngói xưa của dì Ba “tổng hành chòi” của Tư Lệnh Ba Xu.

Tôi còn biết làm gì trước cảnh hoang tàn này! Một cận vệ xẹt đèn pin lên soi vào quán và nói:

– May ra còn món gì ăn anh Hai!

Tôi gật gù đi trong vệt ánh sáng xanh lét như đi trong ác mộng. Trong góc nhà mấy cái bàn dùng cho khách ngồi. Ghế chồng lên bàn lổng chổng, chân giơ lên nóc nhà.

Chiếc bàn thờ đơn sơ dựa vào tấm vách thủng đổ nghiêng. Bất giác tôi cũng móc đèn pin rọi lên bàn thờ.

Rồi tắt ngay. Má Hai đã chết. Tấm ảnh của má tôi vẫn quen nhìn treo trên vách nhà ở bên Củ Chi. Bây giờ đã đặt trên bàn thờ. Má đã chết hồi nào, vì lẽ gì?

Lụa và con bé Rớt. Hai mẹ con đâu rồi? Cả xóm tản đi mất hết không còn ai để mà hỏi thăm Một cậu cận vệ hỏi :

– Bây giờ tính sao anh Hai?

– Giang thuyền có thể giăng tới đây không em? -Tôi hỏi , Mặc dù tôi thừa biết chuyện đó.

– Thường thì nó giăng từ bến Thuốc đến Dòng Sỏi để cắt đường dây mình qua Củ Chi đó anh Hai.

– Kiếm chỗ treo võng tạm đêm nay, mai xem tình hình sẽ liệu -Tôi bảo.

Tôi ngủ một đêm trong nhà người yêu không có người yêu mà cũng không biết người yêu đi đâu. Lụa coi tôi như chồng. Bé Rớt khoe với sắp nhỏ tôi là ba của nó. Và tôi vẫn để cho tình cảm phát triển như thế mấy năm qua. Không khí gia đình êm ấm mỗi khi tôi bước chân vào đây.

Hôm nay bỗng nhiên biến mất cả.

Trời sáng lúc nào cũng không hay. Một giấc ngủ kinh hoàng tưởng ở dưới âm ty mà thực ra ở trên trần thế.

– Mình đi chớ anh? -Một cậu cận vệ hỏi.

– Ừ, cho bám trước xem tình hình bờ sông cho kỹ đã. Coi chừng nó thả biệt kích lên bờ.

Tôi ngồi bên quán ngó ra đường. Không một bóng người.

Sau Tết vùng này trở thành khu oanh tạc tự do. Máy bay đi qua bắn chơi vài quả rốc kết. Đi lại rẹt vài loạt đại liên, muốn làm gì làm, mẹ nó, dân Việt Nam từ mấy chục năm qua được lũ chó quốc tế mù dùng làm bia thử súng ai làm gì chúng? Tội nghiệp cho dân Củ Chi, củ chì, củ cặc. Ai ăn nhậu bang giao hữu nghị múa may bán đất giờ ở đâu không biết, dân Củ Chi phèo ruột nằm đầy đường như những con chó chết chẳng ai ngó chẳng ai chôn.

Tôi ngồi trong quán ngó qua nhà dì Ba nhớ những kỷ niệm xưa. Mai, Khánh, Ngọc ba con thỏ bạch ngây thơ hồn nhiên. Những ngón tay học sinh chúm nước đá cho tôi húp, những cái hôn chớp nhoáng mà say đắm bên bụi bông trang. Bụi bông trang nay còn đó mà bóng hồng không còn thấp thoáng ở đây.

Hôm qua anh đến nhà em
Ra về mới nhớ bỏ quên cây đàn
Hôm nay trở lại nhà em
Cây đàn còn đó nhưng em đâu rồi (3)

Tôi muốn đi qua thăm cảnh cũ, nhưng thôi không đi nữa.

Cảnh cũ vắng người xưa thì khác chi bức tranh không hồn. Thà đừng nhìn còn hơn.

Xế chiều tôi mới men được đến bờ sông.

Thằng thiếu úy chăn bò (Tư Thêm) của nông trường Lam Sơn, Thanh Hóa (F330 của Đồng Văn Cống) về Nam với chức thiếu úy chèo đò ở bến này.

Nay cũng đâu mất dạng, chỉ thấy cái thuyền nát nằm ở mé sông. Đó là thân phi cơ B27 bị pháo tôi bắn rơi ở Đồng Chà Dơ năm trước, nó nhặt lấy gò thành xuồng đưa khách cách mạng.

– Làm sao đi? -Tôi hỏi các cận vệ.

– Đi được anh ạ.

– Cách nào?

Thằng bé đưa hai bàn tay xòe:

– Xuồng ba khách, sáu dầm. Rột rột qua sông. Giang thuyền không tới kịp.

Tôi bảo:

– Xuồng bể. Bốn dầm thôi. Còn hai tay tát nước.

– Dạ, anh tát nước, chúng em bơi.

Tôi từng phen qua ông bạc đầu Cửu Long, sông bé sông lớn, từ Bắc về Nam. từ miền Đông xuống miền Tây, sá gì con sông Sàigòn này? Bất quá thành bò vàng trôi lên trôi xuống. Chúng tôi đi ẩu cũng như cách mạng tháng Tám ăn may nhờ làm ẩu. Giải phóng ăn gọn nhờ quốc tế ngu.

Qua tới bên kia bờ, thở phào, nhảy lên bờ thì rù rù nghe tiếng giang thuyền tới từ Dầu Tiếng. Đêm qua chúng ngủ ở đâu đây, rình mình.

Ba thầy trò chạy đứt hơi một mách. Dừng lại, một cậu hỏi tôi:

– Đi đâu giờ anh Hai?

Tôi không lưỡng lự đáp:

– Vô Hố Bò.

Tôi định vô đó móc với xã đội trướng Là và bí thư xã ủy Tư Thiên. Ở đó còn hai người khác đáng tin cậy là chị Tám Khỏe Phụ Nữ Giải Phóng (vợ Ba Tố – cưới bằng một chai rượu và mấy con chuột quay) và chú Tám Xe người đánh xe bò chở gạo cho Bảy Hốt quân nhu khu. Ở đó tôi có thề nhờ cô Là cho người về đơn vị cho phân tán mỏng càng sớm càng tốt. Đóng quân theo kiểu xưa, thế nào cũng bị pháo. Bảy Đạo ra ngoài đó, chúng nó biết hết mọi điều bí mật trong này: địa điểm, cách bố phòng, hành quân, vũ khí, lực lượng… Cả tánh nết người chỉ huy. Chiến trường Củ Chi bây giờ tôi càng gỡ thế bị động thì lại càng bị động. Càng xông vào đánh để giành chủ động thì lại càng bị động hơn. Cụ thể nhất là trận tấn công hụt Trung Hòa. Bộ tư lệnh hạ lệnh đánh Trung Hoà là để rửa cái mặt lem luốc Mậu Thân ở quân khu IV. Đúng ra cũng không nhằm gì so với thất bại ê chề tấn công Sàigòn. Nhưng thế cùng, có còn hơn không! R định chơi xả láng mà các con tốt Nam Kỳ sẽ phải hy sinh trên một bàn cờ không có nước thắng.

(1) Thơ Huỳnh Văn Nghệ Đồng Nai 1947 – Báo Tiền Đạo in lần đầu 1950.

(2) Truyện ngắn của Pautowski: nữ về một anh chàng được nhiều thiêu nữ xinh đẹp yêu nhưng bỏ qua hết mọi cơ hội xây dưng hạnh phúc.

(3) Phạm Duy (1944).

Chương 108

Em xã đội vùi chôn tuổi xuân
Bà khu ủy hết xôi rồi việc

Đường về nhà cô Là không xa. Từ mé sông Sàigòn vô Bò Cạp! Trời, cái xóm nhà lưa thưa điêu tàn. Đó là nơi sinh sống của ba người anh hùng áo vải: Năm Đầu Ban, Sáu Mã Tử và Tư Ếch, của đất Củ Chi.

Sáu Mã Tử và Năm Đầu Ban vô du kích từ khi Là làm xã đội phó. Hai cậu thanh niên này chuyên môn lượm đạn cà nông lép về cạy ra làm đạp lôi gài Mỹ, nên nổi danh là Năm Đầu Ban và Sáu Mã Tử. Tôi cứ thế mà gọi chớ cũng không hỏi lý lịch ba đời cụ kỵ làm gì. Đến khi vào đơn vị của tôi, hai chàng cũng mang cái tên thân mến đó. Tôi dạy dỗ từ những anh dân quê ngờ nghệch lên làm A phó, A trưởng rồi nâng dần lên tới C phó, C trưởng, chỉ huy đơn vị.

Riêng Tư Ếch nhát bom pháo. Một hôm bị cô xã đội phó xạc cà rây: “Người ta đi hết, chỉ một mình anh ờ nhà bắt ếch bắt lươn, không mắc cỡ hay sao?” Thế là Tư Ếch xin vô tiểu đoàn Thép. Và hy sinh với chức vụ C phó. Đi ngang xóm nhà của Tư Ếch, tôi không khỏi ngậm ngùi. Một anh chàng chuyên nghề đặt trúm lươn, bắt ếch lấy tiền nuôi cha già, đã hy sinh với chức C phó quân giải phóng. Sắp cưới vợ mà chết kể cũng buồn! Sắp lấy chồng mà chồng chết thì cũng chẳng vui gì hơn, nhưng việc đó xảy ra ở Củ Chi này như cơm bữa .

Nhà Là vắng hoe. Nó sụm xuống như một thân người không còn chân. Bốn năm trước, tôi về Củ Chi bước chân đầu tiên vào nơi này. Thằng Lạn chở tôi bằng xe đạp bỏ tôi ở đây. Kia là cái lò đường, tôi uống ngụm nước giải khát có vắt chanh. Nọ là ngôi nhà ngói xưa của má Hai, nơi tôi nằm ngủ trên ván gõ với chiếc gối tai bèo, giống y như nhà tôi vậy

Trời ơi ! Bây giờ không còn gì. Nhà má Hai, cây vú sữa, lò đường… tất cả đều biến mất khỏi mặt đất.

– Là ơi! -tôi cất tiếng gọi.

Không có ai trả lời. Tôi ngó vào trong rồi đi đại vào.

Không có gì hết. Nhà hoang.
Tôi luồn ra phía sau kêu to:

– Chị Tám ơi! chị Tám… Lôi nè.

Nhà chị Tám ở ngay sau nhà Là. Chú Tư Thiên ở cạnh đó. Chú Tám Cạ cũng sát vách. Cuộc sống ác nghiệt làm cho họ tựa lưng nhau khi tối lửa tắt đèn, và họp thành một “tổ chức cách mạng” làm mọi cho dân Bê Ka vào xực ngon lành. Thấy không có hy vọng gặp người, tôi bước qua sân. Tụi nhỏ con trai con gái chị Tám đã gởi sang cho Lụa nuôi ở đâu?

– Trong đó đó. Gần C5 của Tư Chuyền.

Trời ơi, cái khu rừng C5 của Tư Chuyền đã hôi ổ từ lâu, sao còn vô đó xây hầm? Tôi trách thầm cô bé. Là yêu tôi và ghen công khai. Có lần suýt chia hai lựu đạn với hai cô Ua và Chia ở Bàu Chứa, ghen luôn với Bảy Mô. Với tất cả các nàng dũng sĩ. Tôi cũng đã tặng cho nàng chiếc nhẫn có chạm chữ “L”. Bây giờ chiếc nhẫn nằm dưới đất sâu từng Hố Bò. Một mảnh tim Lôi chôn theo đó.

Không biết bao lâu, chị Tám mới nói:

– Cậu ác lắm!

– ?!

– Biểu cưới đi cho nó có chồng mà cứ dùng dằng. Bây giờ còn đâu nữa!

Biết làm sao. Biết làm gì. Tôi đành nhận tiếng “ác” cho Thiên Lôi.

Về tới đơn vị hôm sau. Bảy Ga, Tư Quân ùa ra tiếp đóng lăng xăng như vắng tôi một ngàn ngày không bằng.

Tôi ném ba lô lên bàn, bảo hai cậu vần vụ.

– Hai em đi lại quán Chín Khuôn kia kìa (Dạ biết) mua hết trà thuốc, rượu, tóp mỡ, đường đậu, khô nhận đầy ba-lô, để tiền tôi trả.

– Dạ.

Một cậu nhắn:

– Anh Hai nhớ tìm giùm cho anh Tư vài tân binh.

– Ờ …ờ ờ đi lấy hàng đi rồi về sẽ giải quyết. -Rồi quay sang Bảy Ga- Có lệnh gì mới không đồng chí?

– Ở trên kêu tôi đi R học.

– Gì nữa?

– Anh Năm Tiều sắp đi R xin quân cho đợt hai.

– Đơn vị mình, sao?

– Cũng như hồi thầy ở nhà.

– Cậu đi tìm vị trí cho phân tán ngay. Phân tán thật mỏng.

Bảy Ga lẫn Tư Quân ngơ ngác không hiểu việc gì, cứ ngồi im. Tôi bảo thêm:

– Mỗi tổ cách nhau một, hai trăm mét. Không được ở chung hầm. Rút kinh nghiệm Tầm Lanh! Lệnh Năm Lê. Thi hành ngay bây giờ không được để tới ngày mai.

Bảy Ga còn do dự:

– Vậy làm sao vô đợt anh Hai?

– Đã bảo ở trên có kế hoạch rồi. Mình không phải lo vô ra gì hết.

– Ngoài Bắc đưa quân vô hả anh?

– Ờ, quân Tàu lẫn quân Nga, quân Hung, quân Tiệp!

– Năm Sĩ ôm lựu đạn rút chốt rồi anh ạ !

– Ở đâu?

– Lính 268 tán rùm.

– Không có đâu! Thằng chả chỉ buồn thôi.

– Thật mà . Có bức thư gởi cho Võ đại tướng nói về sự vô dụng của các chiến thuật “dao mổ bò giết ruồi ” “vải chài nhanh, thu chài nhanh ” “trì cửu chiến “ v.v. . . gì đó tôi không có hiểu.

Tôi nghĩ bụng: đó là các chiến thuật của Mao Trạch Đông thường dùng trong kháng chiến chống Pháp, tôi có học nhưng làm sao xài được với chiến thuật trực thăng của Mỹ ?

Tôi bán tín bán nghi về tin Năm Sĩ rút chốt lựu đạn nên gạt ngang:

– Tôi mới gặp chả ở Phú Mỹ Hưng làm hết một bình toong đây mà ! Đừng đồn bậy lính mất tinh thần.

Ba Xu đạp mìn thì lính mất tinh thần cỡ nào? – Thiên Lôi tự hỏi và im luôn.

– Đi đâu vậy bà khu ủy?

– Thôi anh ơi, đừng có ngạo em.

– Sắp vô đợt rồi, có huấn thị gì mới trước toàn quân không?

Năm Đang đỏ rần mặt, đáp:

– Anh ở lại mà “dzô”, em ra.

– Ra Sàigòn hả?

– Ra rìa. Em đã bảo em bị tống ra khu ủy rồi, anh chưa tin sao?

– Ủa sao vậy?

– Thì vậy chớ sao. Hết xôi rồi việc mà . Bây giờ em mới biết.

Nói trả treo một chập với tôi, rồi bà khu ủy bảo:

– Anh rỗi không? Cho em nói chuyện chút.

– Chuyện gì, quan trọng không? Tôi bận lắm.

– Bận gì cũng phải nhơn ra. Đây là lần cuối cùng anh gặp em.

Mụ này mắc chứng gì mà giở cái giọng tiểu thuyết ra với Thiên Lôi đây?

– Ờ được, gặp thì gặp chớ bà !

Năm Đang, một người đàn bà băm ba tuổi có chồng bị đày Côn Đảo. Con chủ nhà máy xay lúa ở Phú Hòa Đông. Được bốc bỏ vô khu ủy năm năm trước. Là người vận động tổ chức các cuộc biểu tình đấu tranh chánh trị bằng xe lam để tên Burchett quay phim đưa ra trình cho quốc tế thấy rằng “Mặt Trận Giải Phóng đã kiểm soát ba phần tư đất đai và bốn phần năm dân chúng, tận cửa ngõ Sàigòn!” . Cũng là người bỏ tiền ra nuôi bọn mặt đỏ gọi là khu ủy và lại cũng là người đàn bà bị khu ủy mò khắp lượt, nhưng vì đảng tính của bà rắn quá, chúng gặp nhoáng lửa nên bây giờ chúng tống bà ta ra để tìm cái mềm mềm hơn.

Tiểu sử của khu ủy Năm Đang tạm ghi tóm tắt như thế, có thể thiếu nhưng không sai.

Tôi cũng giở giọng tiểu thuyết:

– Nếu không gặp… bữa nay thì bao giờ… -Tôi nhát kêu nàng bằng “em” vì cái mặc cảm bà ta là cấp nằm trên… tôi từ trước tới nay.

– Không hôm nay thì chẳng bao giờ.

– Tầm Lanh chỉ ăn pháo một trận là tan hết.

Tôi phóng bậy một quả pháo mồ côi. Chẳng ngờ bà khu ủy hứng ngay, nói tỉnh bơ:

– Chúng nó bắn mù, chớ anh là thầy pháo phải nhắm kỹ trước khi bắn chớ.

– Nhắm kỹ mấy rồi cũng có trái hụt.

– Mười trái hụt một là tài rồi.

Bà khu ủy dắt tôi vào một ngôi nhà hoang, có lẽ là cơ sở cũ của bà, cho nên bà thuộc hết cả hầm hố bếp núc từ hũ muối đến sóng chén.

Bà ném ba lô, giỏ xách vô hầm rồi trồi ra trừng mắt với tôi:

– Sợ kiểm thảo hả ông E phó?

– Ai kiểm tôi?

– Tôi… em… chớ ai. -Vừa nói Đang vừa ôm siết tôi hôn cái gò má nóng rực của tôi và lảm nhảm- Ghét cái mặt, làm bộ đạo đức hoài!

– Ai biết bụng ai ra sao.

– Người ta đạp chân mà cứ ngồi yên!

– Đạp thì đạp, ai biết nghĩa gì!

– Lại còn bỏ tay qua đùi con Phụng, tưởng người ta không biết.

– Thấy à ?

– Có một chục con mắt chớ không phải hai con đâu ông thầy pháo. – Đang tát yêu tôi- Em biết anh không yêu em. Chung quanh anh đầy đàn đầy đống các cô lủng sĩ chúng nó đeo anh như đỉa. Em không đeo,em chỉ xin anh một đứa con đem về nhà sống cô đơn tới chết.

Nữa rồi. Tiểu thuyết phọt ra đằng mồm thì chắc trái tim của nàng cũng đang rườm máu.

– Nếu con Xuân còn, em sẽ gả nó cho anh.

– Đặng lấy giống Thiên Lôi hả?

– Em có kinh cách đây mười ngày. Hôm nay trứng rụng.

Giữa ban ngày chúng tôi yêu nhau. Một thứ tình yêu muộn màng và bất ngờ nhưng vô cùng say đắm bởi sự mài miệt và buông thả hoàn toàn của người đàn bà.

Nàng tâm sự:

– Em đâu có thương yêu gì thằng Bắc Kỳ Vũ Ba… Mà em phải lấy nó. Em biết gặp nó là đời em tàn. Trước nhất nó là người khác loại. Nó có vợ ngoài Bấc nhưng vô đây nó khai man. (Tụi Bắc Kỳ là vậy. Vô đây thằng nào cũng khai là bận công tác cách mạng, không có thì giờ lập gia đình. Nghe vậy, chị em Nam Kỳ chất phác tin bằng thật nên ôm cọng rau muống héo. Đến chừng vỡ nhẽ ra, đụng đầu mụ trùm khăn mỏ quạ răng đen thì hết đường rút lui) . Đàn ông gì tay chân mặt mũi xanh lét yếu ợt như bún thiu. Lấy nó, thà lấy bà bóng còn sướng hơn. Nó lên R đi ra Bắc dưỡng bịnh mà không cho em hay, ra tới Bắc mới gởi thơ vào xin lỗi.

– Thôi đi bà nội! Bà cũng lên chưn lắm nên mới mắc lỡm . Còn trách ai!

– Em lên chưn việc gì khác, chớ không vì lấy thằng Bắc Kỳ liệt dương đó.

– Thằng chả giỏi bốn mươi là cùng.

– Em đâu có ưng. Nhưng lão Tư Trường cố nài ép. Anh biết tại sao không?

– Ai mà biết chuyện mấy ông lớn ỉa cứt giấu đầu nằm.

– Lão mò em.

– Hà hà hà… hồi nào ở đâu, có ai làm chứng không?

– Có thần lằn rắn mối làm chứng. Thằng chả biểu cho thằng chả ngủ một đêm rồi thằng chả sẽ đưa vô thường vụ khu ủy. Từ đó em tởn chúng nó. Ra là thế. Kết bè với nhau, nâng đỡ nhau, hè nhau dìm kẻ khác. Thằng chả gán Vũ Ba cho em để ém miệng em.

– Bộ bà la om lên à?

– Em không có la. Em chỉ tống cho lão một đạp vô mặt. Đồ mất dạy thế mà cũng bí thư khu ủy. Không biết tụi kia có vậy không?

– Không đâu! Mấy đồng chí kia đều đạo đức cao cả. Nhất là trung ương toàn những nhà đạo đức gương mẫu hết á, bà nội ơi!… Rồi tại sao Vũ Ba?

– Thì lão gán em cho Vũ Ba cho êm chuyện.

– Êm thế nào?

– Êm là em có nơi chỗ không phát ngôn tự do nữa!

– Sao bây giờ lại xì ra cho Thiên Lôi biết.

– Chớ để bụng chết đem theo à? -Nàng chấm câu bằng một cái hôn.

– Rồi bây giờ bà tính sao?

– Còn tính sao nữa. Về nhà nuôi heo nuôi chó. Ai muốn đi thì đi với em nè.

– Thôi bà nội ơi ! -Tôi nghĩ thầm- Tôi còn cái tội có thằng em Thủy Quân Lục Chiến đây, chưa biết làm cách nào để mấy chả không nghi ngờ. Đụ mẹ, nếu biết vậy ông Thiên Lôi đã không đi kháng chiến, không về Nam. Ở nhà chơi với Tây mút mùa.

Hai đứa nằm hôn nhau. Nàng cứ rủ rỉ chuyện trời ơi đất hỡi mà tôi không ngờ. Thật không ngờ.

– Thằng cha Tư Trường hãm con nhỏ nấu cơm chảy máu. . .nó la rùm trời, phải gởi đi qua Bưng Còng cho Tám Lê xức thuốc rồi tống con người ta đi biệt không về cơ quan. Thằng cha Sáu Dân mò đàn bà giá bị la, không cho ở nữa. Thằng cha Ba Xu cũng bỏ ngón con gái nuôi bị bà Trắng bắt gặp làm bể trời suýt cuốn gói đi. Không có thằng nào đàng hoàng hết.

– Thôi bà nội ơi ! Bà cũng đá bóng với mấy chả dữ lắm, cho nên mấy chả mới bắt mò làm tới đó chớ.

Đang nhảy dựng lên:

– Em đá bóng hồi nào? Với ai mà anh biết?

– Còn bà Út Tuất thì sao?

– Con nhỏ đó cũng ra rìa về nuôi cá tra rồi.

– Sao vậy?

– Tại nó không cho mấy lão tòm tem chớ sao.

– Bộ bả có mối nào hả?

Đang tát khẽ vào vai tôi.

– Anh tường em không biết à. Nó khai với em ráo trơn. Nó bảo của nó, đừng có giật ngang của quí của nó.

– Ai vậy?

– Thiệt hổng biết không?

Tôi ém miệng nàng bằng một cái hôn dài.

– Sao mình không là vợ chồng được hả anh?

Tôi tự giải thích bằng đề tài khác:

– Bí thư khu ủy và Tư lệnh khu đạp mìn.

– Đừng có lo cho mệt. Lo cái thân anh kia.

– Lo gì được mà lo!

– Mấy thằng Bắc Kỳ vô càng ngày càng đông, bố chúng nó phải kiếm chỗ cho chúng nó ngồi chớ?

Câu nói của bà cựu khu ủy làm tôi giật mình. Hăm hai mạng tan xác Một ông tư lệnh, một ông bí thư khu ủy.

Trần Văn Trà cho một đại đội trinh sát của công trường 9 đi tìm dấu vết khắp khu Mỏ Vẹt, Rừng Nhum một tháng không kết luận được bãi mìn là của ai gài.

Mười Trường quận đội trưởng Trảng Bàng dẫn đường mà lại đưa phái đoàn lọt trọn vào ổ mìn cả trăm trái. Em ruột của Mười Trường xã đội trướng xã Phương Chỉ bị bắt sau vụ nổ đó, dẫn đi đâu mất tích. Ai mà biết được ngòi nổ của những quả mìn đó làm bằng gì!

Không có một sợi tóc, một mảnh da nào được tìm thấy.

Chúng tôi từ giã nhau, đường ai nấy đi.

Tôi đưa nàng một quãng “để dài thêm hạn cuộc tình duyên”.

– Em sống ở đâu?

– Chưa biết được anh ạ ! -Nàng bịn rịn không muốn rời tôi. Em không ân hận một chút gì hết. Em không có lỗi gì với ai. Em không lừa gạt ai hết. Chỉ có người ta lừa gạt em thôi. Đời chó má. Khốn nạn. Em tiếc em chưa ỉa được vào mặt chúng nó.

Năm Đang đã học một bài học bất hủ và dạy cho tôi một bài học cũng khá hay ho về cái gọi là “Đạo đức cách mạng trong cuộc cách mạng do đảng lãnh đạo”.

Tôi trở về chỉ huy sở, rã rời tứ chi không còn muốn làm gì nữa. Người đàn bà bất hạnh đã cướp mất linh hồn của một người bất hạnh hơn bà ta.

Bao nhiêu công việc của đơn vị ùn ùn thành đống trước mặt. Phân tán đơn vị, vũ khí nặng, quân số thiếu hụt, ban chỉ huy các đại đội, cán bộ có khả năng đã hy sinh hầu hết. Phải đưa cấp B lên thay cấp C, cấp A lên thay cấp B.

Cùng một lúc tin quân Mỹ tăng cường một lữ đoàn đóng dã ngoại. Đồng Dù, trong đầu tôi vang vang cái giọng trêu chọc của Tư Linh: “Mày lại làm phò mã hụt nữa rồi!”

Và cái tin tỉnh trưởng Hậu Nghĩa treo giá cái đầu của Dương Đình Lôi hai mươi ngàn đồng. Người đàn bà đến muộn đã tặng cho tôi một vết thương.

Dở dang rồi ai ơi! Một tiếng nói từ cõi tâm linh vang vọng lại báo trước một điều gì nào ai biết lành hay dữ. Cho hay bi kịch trong lòng người còn độc địa hơn bi kịch do bom đạn gây nên.

Hoa Kỳ 10-6-97

Lôi Vũ

HẾT QUYỂN VI

(Mời xem tiếp quyển VII)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: