2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QVII (109-112)

2000ngaydem_bia7

Chương 109
Thần kiến lửa và thần “capstan”

“Mười phần chết bảy còn ba
Chết hai còn một
Chẳng ra cái giống gì!”

Đi ngang qua nhà Út Chạy, bí thư xã Trung Lập, thấy anh ta đang lom khom ngoài vườn, tôi lên tiếng. Anh ta mừng rỡ như chết đi sống lại, khoát tay một vòng rộng:

– Anh coi đó, Sa Nhỏ của tui bây giờ trống hốc như cái quần tiều không đáy. Đứng đầu dưới ngó thấy đầu trên. Nhà bỏ đi hết. Tôi cho bà con mình tha hồ giỡ lấy cây lá đem về xài. Anh có muốn, về đây tôi cho đất cho nhà, tha hồ mà sản xuất nhi đồng.

Tôi bảo:

– Anh làm vậy người ta bất mãn rồi ra luôn ấp chiến lược không trở về trong này đó nghen.

– Không làm vậy họ cũng đi luôn chớ có trở về đâu anh. Họ ra ngoài tụi nó cho “tôn”, gạo, dầu mỡ, thuốc nhức đầu nóng lạnh, đủ hết còn về mần chi nữa. Ở trong này nhà cửa, ruộng vườn tược tanh banh ráo! Phía trại Giàn Bầu ít thiệt hại hơn. Khúc trên này, còn một cái quán của bà má ở ngoài An Phú mới vô đó. Bả ở được ba ngày, ăn một trái bom ngay lệnh, bay hết trơn không còn một hột muối. Cũng may, bả quảy gánh đi bổ hàng không có ở nhà, nên thoát chết. Bây giờ bả thất kinh, hết có khen trong này “êm” hơn ngoài An Phú. Không biết bả còn trụ ở đó hay cuốn gói đi rồi ! Dân bây giờ không có nghe chánh quyền nữa. Chỗ nào sống thì họ đến, chỗ nào chết họ đi! – Út Chạy tố khổ một hơi rồi hỏi: – Anh lên nhà bà Út Siêng hả? Bả vừa cự với tôi, mới xách đít về đó !

– Cự việc gì?

– Ông Hai Mỏ kêu bả đặt kế hoạch rước dân mình ngoài ấp chiến lược về. Bả bắt tôi đem du kích võ trang đi ủng hộ bả. Tôi nói du kích đâu còn thằng nào mà ủng hộ. Bả dọa báo cáo lên Hai Mỏ. Tôi không nói ra chớ trong bụng nghĩ: Bây giờ có đem long xa phụng tán rước họ cũng không về. Hai Mỏ chớ Ba Bốn Mỏ cũng không làm gì được nữa là Hai Mỏ.

– Tại ông bí thư tên Chạy nên dân chạy hết chớ sao.

– Ở trển chỉ còn tụi thằng Nhanh với cái chòi của con Bảnh chồng đi bộ đội mới chết thôi. Bà Ba Bánh Dừa chạy cong đuôi rồi. Nhà bả cũng ăn một trái bom ngay chóc, không đi thì ở đâu?

Nói thêm vài ba câu, tôi từ giã. Đường sá không còn. Bom pháo xới tung lên, cây cối ngả bít hết. Vừa đi vừa dãn tai trợn mắt canh chừng máy bay. Chúng nó biết Sa Nhỏ là mảnh đất bộ đội còn có thể cắm dùi được, nên bắn phá hằng ngày. Đêm cũng không tha. Bỗng thằng Đá la lên:

– Đầm già tới kìa anh Hai !

Tôi ngước lên thấy chiếc L19 mốc cời từ ngoài sông xăm xăm chĩa mũi vào. Hai thầy trò lủi vô một cái chòi mới cất bên đường, ở phía.trước treo mấy nải chuối xiêm hườm hườm, bên cạnh lủng lẳng một xâu bánh ú, bánh dừa.

Ngôi chòi trống lỏng chỉ có tấm phên ngăn đôi. Thấy khách không mời mà đến, một người đàn bà ló đầu ra, định la lối (vì sợ đầm già trông thấy bắn rốc kết) nhưng nhận ra người quen bên đổi giận làm vui:

– Anh Hai đi đâu lạc tới đây?

– À, em… – Tôi lựng khựng chưa nhận ra chủ nhà là ai mà gọi tôi ngọt vậy.

Thằng Đá cũng không quen. Cô nàng mặc áo tê-tô-rông màu hột gà mỏng dính, đầu tóc bao lưới coi có vẻ gái ấp chiến lược chớ không phải dân giải phóng.

Tôi hỏi:

– Sao em biết tôi?

– Anh là chỉ huy D Quyết Thắng chớ ai. Con nhỏ kia là út Láng em của Sáu Hoàng đại đội trưởng của anh. Tụi em di dân công cho mấy anh vô quận hai lần sao không biết?

Cô bé có tên Út Láng bước ra, đon đả:

– Bữa nay anh Hai tới chắc quán tụi em gặp hên! Anh Hai mở hàng giùm tụi em đi. tụi em mới hùn vốn gây dựng cái quán này kiếm cơm chớ ra ấp chiến lược không tiện. Tụi em mặt mày “lem luốc” khó sống công khai ngoàu đó. Đám Phượng Hoàng nhìn mặt rồi tra hạch phăng ra gốc gác, mệt lắm!

– Ờ được, ráng ở trong này với mấy anh cho vui. Các em đi hết rồi tụi anh sống với mấy gốc cau kia chớ còn ai ! ào, muốn anh mở hàng gì? Cho anh trước tiên một cây Cáp-Tăng. Còn hàng gì nữa đem ra.

– Có trà, đường, sữa, bánh kẹo như quán con Khuân vậy Nhưng cất giấu dưới hầm tránh đầm già “cảo. .. đùng ” (1) tiêu hết. Con Khuân cũng sắp dông rồi. Nó mới lấy thằng Minh sợ bộ đội tới lui ì xèo máy bay bắn, nên không dám ở trong này.

– Hai em ở vầy sao tiện?

– Chớ không tiện thì làm sao anh Hai? Út Láng nói với giọng tủi hờn – Mấy ông du kích ban đêm hay mò… tới rứt bánh ú, bẻ chuối của tụi em. Chồng của chị Bảnh đi công trường 9 hi sinh rồi. Chỉ buồn nên tắp với em cho có bạn. Thời buổi này… khó sống quá hà anh Hai! Cô bé nghẹn ngang – sụt sịt- Ở trong này thì bom pháo còn ra ngoải thì bị xã ủy quy là phản động.

Tôi giục:

– Đi lấy hàng cho anh. Có nhắn gì với Sáu Hoàng không?

Cô bé xuống hầm lấy trà sữa bánh kẹo ôm lên để trên nắp hầm. Tôi bảo:

– Lấy thêm mỗi thứ hai gói. Có cá khô lấy luôn vài ký.

– Dạ. Anh Hai có gặp anh Sáu em nhắn giùm bà già đau nặng.

– Ở, để anh bảo nó về thăm bà già.

– Em quên, anh mua khô phải có mỡ để chiên mới ngon. Em có cả thùng. Mỡ Mỹ thiệt béo. Anh muốn mua dầu cũng có. Tèng ơi! Mấy bà vợ sĩ quan ngoài quận bán rẻ rề hà. Gạo Mỹ dẻo thơm lắm. Ai ra ấp chiến lược họ phát cho, không nói nặng nhẹ gì hết. Dân giải phóng mình khôn quỉ. Lãnh chỗ này xong, còn đi chỗ khác xin thêm, thành ra ăn rồi còn dư đem bán cho tụi em đó chớ.

Tôi cười:

– Nhờ ăn đồ Mỹ mà mấy anh đánh Mỹ mới mạnh vậy đó Có “đế ” không Láng?

– Dạ em mới lấy về có một lít. Mấy ông du kích đòi mua chịu, em không bán nên mới còn đây. Anh nhớ trả chai. Quán mới, em không có chai đong rượu.

Tôi móc tiền đưa ra, bảo:

– Tiền của Sáu Hoàng đưa cho bà già uống thuốc, em đem về giùm Anh Sáu em đi R học 6 tháng mới về đơn vị .

– Anh Hai nhơn đức quá hà. Cô bé rưng rưng nhận tiền.

Tôi quay đi để khỏi phái nhìn cảnh hai người con gái bất hạnh chung sống trong một túp lều, nhưng vừa bước ra thì nghe bàn máy chạy lạch cạch trong buồng, nên hỏi:

– Mấy em may đồ cho ai vậy?

– Dạ cho Rờ.

– R nào ở đây? Phải Bảy Hốt ngoài Bến Dược không?

– Dạ ổng đi đâu mất rồi. Cái này là của cô Hà.

– Hà nào? Vùng này đâu có ai làm hậu cần tên Hà.

– Dạ em không biết. Nhưng cổ đặt may, trả giá mỗi bộ 50 đồng cao hơn ông Bảy. Nhưng cổ hối may nhanh để cổ phát cho lính Hai Lôi.

– Sao cô ta biết anh?

– Ở ngoài đồn còn biết anh nữa là người trong này!

Tôi và thẳng Đá rời quán, nghe sau lưng hai nàng nói với nhau:

– Ảnh lên nhà má con Tiền chớ đâu.

Quả thật, tôi lên đó. Lâu nay ông Đốc chiến Năm Tiều về bám trụ ở Sa Nhỏ đào hang ở nhà má Hai kế bên. Láng chỉ tay bảo tôi:

– Anh lên đó thấy cái chòi cất ngoài bờ tre không có vách phên gì ráo là nhà má Hai. Còn nhà má con Tiền thì anh rành quá rồi.

Ngày xưa, khởi sự đánh Tây: dân giàu, nhà phông tô nền đúc, điền chủ khai lúa vựa nuôi quân. Đánh Tây xong nhà ngói hóa nhà tranh, lúa không còn một hột. Tới đánh Mỹ, cái chòi cũng không còn, bộ đội không có gạo ăn và đóng quân ngoài rừng. Kháng chiến muôn năm! Dân muôn năm chết đói còn lãnh tụ nhớn lãnh tụ con béo núc, túi đầy xu. Vợ bé lãnh tụ đeo vàng từ lỗ tai tới mắt cá.

Má Hai đang ngồi bó gối trên chiếc sạp nhỏ ngó ra đồng. Trong xóm chỉ còn bờ tre này. Hôm sắp chơi Trung Hòa, tôi cho mua tre ở đây ở làm thang đánh công kiêng chiến. Trận đó không thực hiện được, E88 của Năm Sĩ vùi xác ở Tầm Lanh. Bây giờ thấy bờ tre mà nhớ ông bạn hội viên hội “Ve chai chống Mỹ” của Thiên Lôi. Ổng được phong tham mưu phó Quân Khu, nhưng không nhận, nhất định vác ống điếu về R xin dưỡng lão. Không biết con hùm xám Điện Biên không còn móng sẽ moi hang ở đâu?

Vừa trông thấy tôi, má Hai khóc òa, nức nở:

– Má nghe nói con đi Sài Gòn… hu hu với thằng Tư Nhựt Con Thêm rầu rĩ mấy bữa rày mất ăn mất ngủ. Sao con về được đây?

Tôi nói:

– Hôm trước con có ghé nhà má ăn đám cúng Tư Nhựt mà, má quên sao? (Đúng ra là đang lúc mấy bà “cúng tôi” thì tôi về tới)

Má Hai quệt nước mắt, cố nén khóc:

– Tao nghe nói mình xuống Sài Gòn rồi không có đứa nào về hết!

– Dạ đâu có má. Mình ở lại dưới đó là vì mình chiếm mấy nơi quan trọng, nếu bỏ về thì chúng nó lấy lại làm sao!

Từ sau Mậu Thân, gặp bà con nào bi quan, tôi cũng lặp lại cái “thiệu” dóc đó.

Tôi bảo thằng Đá nấu nước châm trà, dọn kẹo bánh ra mời má. Má vẫn tiếp:

– Chết bỏ vợ bỏ con lại đó. Trời ơi! Tao thấy vợ thằng Tư Nhựt ẳm con đi ngoài nắng chang chang mà đứt ruột đứt gan. Hồi nó còn sống thì vợ nó được chào đón, đứa này gọi chị Tư, đứa khác gọi thím Tư. Bây giờ chồng chết rồi, không ai thèm ngó !

Nàng Thêm nghe tiếng tôi liền sang. Nhưng thấy có thằng Đá, nàng chỉ nhìn tôi rồi lẫn tránh. Con Tiền chạy lại mét với tôi bằng giọng thân mật cố hữu:

– Ba ơi ba, má muốn gởi con ra ấp chiến lược để đi học. Con không muốn đi, má bắt con phải đi. Ba biểu má đừng bắt con ra ngoải buồn lắm nghe Ba?

Con Thanh thằng Nừng thằng Gàu cũng ùa sang. Con Thanh nói:

– Chú Năm ở ngoài bờ tre kia kìa. Hôm rày chú ngóng anh như trời hạn trông mưa.

Nói xong con bé dẫn tôi ra bờ tre. Vừa đi, nó đay nghiến:

– Sao dám đi ban ngày hả ông Thần? Bộ chê con đầm già đui hả?

– Nhớ người ta nên đi liều!

– Xí ! Có người đi tìm kia cà . ở đó mà nhớ “người ta” !

– Ai tìm?

– Bà lớn nào trên R lục lạo tìm ông Hai Lôi mà tôi không có dám mách.

Nghe nói tôi không đoán là ai. Bà nào mà chẳng lớn…? Có bà nào chịu nhỏ… đâu.

Ra tới bờ tre Thanh trỏ tay:

– Ổng ở chỗ kia kìa!

Tôi đi trờ tới ít bước thì thấy ở trong bụi tre nhô một cái đầu trọc lóc làm cho tôi giựt mình tưởng đó là con hùm xám Điện Biên. Rồi một người chui ra như con cóc chậm chạp bò khỏi hang: Đúng là ông tham mưu phó Quân khu. Ông ta có thói quen lúc nào cũng mặc uniforrm, mang súng ngắn dây quàng trước ngực theo kiểu Trung Quốc, dáng bộ bệ vệ như ngồi ở văn phòng hoặc đứng trước đơn vị chánh qui huấn từ. Nhưng nay thì ở trần trùi trụi, quần tiều, ghẻ xốn tím ngắt lập thành “vành đai thép” khắp trên bộ da vàng lườm. Ông tham mưu phó vừa cào ghẻ vừa nhăn mặt bảo:

– Nếu bữa nay mày không vô tao sẽ cho trẻ nhỏ đi kêu mày tới!

Có chuyện gì vậy chú Năm? (Khi tôi kêu anh, khi gọi chú, tùy thời cơ).

– Chuyện gì, mày dư biết còn phải hỏi!

– Bộ ông Thần Núi có chỉ thị cái gì hay sao chú?

– Để chút rồi bàn!

Tôi quay lại bảo con Thanh:

– Em đi vô bưng nước ra đây. Bảo thằng Đá canh máy bay để anh và chú bàn công chuyện.

Con bé đi vừa khuất, Năm Tiều bảo:

– Mày tính sao, tao coi bộ ráp nhiu rồi đa!

– Mình sắp vô đợt 4 rồi mà chú Năm! Khè khè.

Năm Tiều nói qua chuyện khác:

– Mày có tính thì tính sớm đi. Tao còn đây, thì tao chủ hôn cho hai đứa. Để tao chết không ai lo. Tao coi nó như con. Cha nó hi sinh cho cách mạng. Nội cái Củ Chi này, coi đi coi lại nó có thua đứa nào. Bộ mày chê nó hay sao?

Tôi thật xúc động với lời lẽ của ông bạn già. Lâu nay ông cứ mớm bóng hoài mà cầu thủ chưa chịu làm bàn. Tình hình này đâu phải là hội kết uyên ương?

Tôi nói:

– Tôi cảm ơn chú rất nhiều, nhưng tôi coi nó như em gái chớ đâu có gì.

– Mày hơn nó có 21 tuổi. Vua ngũ tuần lấy vợ 16 cũng xứng mà! Anh Ba Duẩn đó có ai cười chê gì đâu! Cái thằng, con gái hơ hớ không chịu lại cứ lăm le đi hốt ổ. Mày không sợ người ta cười con trai lại cỡi kỳ đà hay sao?

– Tôi đâu có định cỡi kỳ đà, chú Năm!

– Má con Liên, má con Hoàn, má con Tiền, má con Rớt. Bốn cái ổ đó, thế nào mày cũng hốt một cái.

– Tại tui thương con nít mồ côi! Chớ không…

– Ờ ờ thương con thời phải quí mẹ chớ sao!

Tôi quay lại thấy con Thanh đứng im sau bụi tre, tay bưng mâm trà. Năm Tiều bảo tôi:

– Mày phải ra áo giống y thằng lái heo như tao nè. Xuống hầm không ăn mặc như vậy được.

– Ngồi trên này uống trà cho mát chú à !

– Không được. Bây giờ là sau Mậu Thân không phải trước Mậu Thân.

Con Thanh đem mâm trà xuống hầm, đốt đèn cầy rồi trở lên, nhường chỗ cho tên lái lợn uống trà với gã lái trâu. Năm Tiều khoát tay bảo:

– Tao kêu thằng Nừng với thằng Gàu móc thêm cái bùng binh cho rộng ra, đủ lót 2 tấm ván nằm ngủ. Rồi trổ cái cửa sau để đề phòng nó quăng bom xăng đặc lên bụi tre thì mình chui ra, nếu không sẽ thành chuột quay sao! Tao định dời qua Cỏ Ống nhưng bên đó chưa có cơ sở gì. Rủi xe tăng càn rồi lủi đi đâu? Mẹ nó rượt nột tới nơi rồi.

Vừa uống trà, Năm Tiều vừa trải tấm bản đồ ra dưới ánh sáng leo lét của cây đèn cầy. Năm Tiều nhìn tôi có vẻ trách cứ:

– Ổng hỏi tao sao không thấy Củ Chi đấm đá gì?

– Lấy gì mà đấm? Có môn cắn nó thôi. Hoặc kêu đám dũng sĩ dùng móng tay quào mặt tụi Mỹ.

– Ổng bảo không làm nổi Trung Hòa thì làm mấy cái nho nhỏ cho gọn.

– Sao ổng không bảo mấy thằng Kl, K2, Q16 mà cứ xúi tôi?

Năm Tiều quệt mồ hôi trán, lấy bút chì vòng tròn lô cốt Suối Cụt rồi hỏi:

– Mày liệu kham nổi không?

– Nổi thì cũng nổi nhưng phải hi sinh vài cán bộ b, c như ở bót Thầy Mười. Lúc này mà mất cán bộ c thì đau quá ông à. Tốn công đào tạo rồi quăng vô lửa như chơi hay sao?

Năm Tiều buông bút thở dài:

– Thằng Hai Hằng dt K2 đang đeo con nhỏ thợ may ngoài Cây Dương, nên nó để cho bộ đội ăn no nằm dài, còn Kl (tức D14 cũ) thì Ba Nhị bị rút về văn phòng, Năm Sơn không biết đi đâu, chỉ còn thẳng Chín Hung ban đêm mò ra Trảng Cỏ, ban ngày trồi về Sóc Lào ngồi thum, chờ xe tăng càn rồi rút chạy. Tiếng là quân khu có 2, 3 E nhưng nhập lại không bằng quân số D Quyết Thắng của mày hồi trước. Cán bộ có kinh nghiệm đánh đồn, ngoài mày ra không còn ai. Cái Suối Cụt mày rành như lòng bàn tay. Mày cho nghiên cứu sơ sơ rồi đánh liền kẻo chiến trường nguội quá, mấy ổng la tụi mình.

– Tôi biết Suối Cụt không có gì đáng sợ, nhưng địa thế rất khó dàn quân. Đánh cường tập mà không có địa hình để triển khai lực lượng thì chằng khác chiến đấu trong thành phố. Đội hình hàng dọc nó lia một loạt thẳng là rụi hết. Cán bộ giỏi của tôi, mấy ổng đưa đi nơi khác hết rồi! Bây giờ tôi như con cua gãy càng, đâu có được như hồi đánh Thái Mỹ.

Trà cạn tới rượu. Năm Tiều hút thuốc khói bay mịt trong hầm và than thở:

– Việc lấy cán bộ của mày bổ sung nơi khác là cực chẳng đã thôi. Thằng Năm Ngó biết cái giống máu đẻ gì mà làm quận đội trưởng Nam Chi, cho nên phải đưa thằng Tám Thế và Hai Thành của mày xuống giúp nó. Nam Chi là đất anh hùng tận. Đưa thằng nào xuống rụi thằng nấy. Từ ngày Tám Giò chết tới nay là 5 mạng cum rồi. Con Bảy Phán, con Tư Bé biết đầu L. trở xuống cuống L. trở lên chớ biết đánh đấm gì mà làm quận đội phó. Hai đứa chết hết. Rồi bây giờ đưa con Bảy Nê, chỉ tội nghiệp con nhỏ thôi. Đám con gái bị thằng Tám Quang thọt đít nhảy tưng lên rồi chết sạch.

Thấy Năm Tiều chui dưới gốc tre, tôi nhớ Tám Giò. Hắn cũng đào hang dưới lùm tre, nhưng bên ngoài rào nắp kỹ lưỡng, bên trong nhiều ngách và rộng rãi hơn. Có cả nhà bếp. Lần đầu tiên Hai Khởi dắt tôi đến “bái yết hoàng thượng” được chị nuôi Bảy Phán đãi cho bữa mắm chua… lét.

Tôi nói với Năm Tiều.

– Mấy ổng vừa bảo phân tán mỏng để tránh bị tiêu diệt như E88, bây giờ lại muốn hạ đồn để hâm nóng chiến trường, ông nội ai cũng không biết đường thi hành.

– Mày nói vậy chớ chừng “có chức” lớn, mày cũng ra lệnh cho tao kiểu đó. Mấy ông kêu tao đi R xin thêm quân và báo cáo thực trạng dưới này kẻo R tưởng mình có 2, 3 E mà không làm gì.

– Chừng nào anh đi?

– Bàn xong kế hoạch giao cho mày ở nhà thi hành là tao lên đường. Kệ, xin được ngoe nào hay ngoe nấy. Tụi lính vịt xiêm thì mình cứ đưa xuống Sài Gòn cho nó sáng mắt.

Tư Thêm nấu cơm dọn săn kêu con Thanh ra mời tôi và Năm Tiều. Vừa đi anh nói:

– Con nhỏ này bắt xác mày đó nghen. Coi chừng, gái một con có nhiều bài bản lâm ly bi đát lắm. Nó chài là mày khó thoát. Nó tâm sự với tao là sở dĩ nó còn nấn ná trong này là vì mày còn ở Củ Chi, chớ nếu mày thuyên chuyển đi vùng khác thì nó bán nhà đem má Hai ra ấp chiến lược may mướn sống. Mày nên quyết định đi, không còn thời giờ lắc lư tìm điểm nữa đâu.

– Vợ con gì trong lúc này, Chú Năm?

Năm Tiều có vẻ xúc động:

– Tao đi R chắc lâu lấm mới về. Tao muốn kêu chị Năm mày vô, nhưng kỳ rồi vô gặp tao ở Cỏ Ống chưa gì hết đã bị xe tăng càn, hai má con lủi dưới lúa, chắc bữa nay kêu bả không dám vô nữa đâu.

– Thôi đừng kêu anh Năm à ! Tôi cũng muốn rước ông già vô chơi mà dợm hoài không dám. Rủi có gì thì ân hận suốt đời.

Nàng Thêm đứng chờ ở cửa sau, mắt đỏ hoe, tôi vừa dứt tiếng, nàng bụm mặt khóc như mưa bấc

– Em tưởng anh không trở về nữa.

Năm Tiều nạt:

– Con điên, mày nói bậy một năm được mấy lần hả?

– Chú Năm ơi! Cháu sợ quá hà!

– Sợ, sợ cái gì! Càng sợ càng gặp hiểu chưa?

Con Tiền chạy lại ôm chân tôi:

– Ba ơi, ba nhớ con không? Con nhớ ba quá, mỗi lần nghe tiếng ai ngoài sân con ra coi phải ba về không?

Tôi móc tiền đưa cho nó đi mua kẹo. Năm Tiền cười, vò đầu con bé:

– Cháu lấy cái dĩa nhôm mua cho ba cháu một dĩa nước mắm nghe! Đi chầm chậm. Tới chiều về cũng được.

Con bé nhìn tôi, không hiểu. Tư Thêm nguýt:

– Chú Năm nghi oan cho cháu không hè.

– Ừ nghi oan lắm. Xuống hầm kìa cho hết oan!

Tư Thêm lẽo đẽo theo bên tôi:

– Để em bắt con vịt nấu cháo!

Nói vậy nhưng nàng lại xuống hầm. Năm Tiều cười nháy mắt với tôi.

– Vịt nuôi dưới hầm kìa ! Chút nữa hai đứa bắt với nhau. Muốn bắt mấy con thì bắt… Nè Lôi, tao có kế hoạch chống đói hữu hiệu hơn là mày xách thúng đi vay gạo từng nhà cho lính ăn.

– Kế gì chú Năm? Tôi định vay lúa của má Bảy Mô. Nhiều không có chớ chừng 100 giạ thi dư xăng.

– Mày có đọc Vạn lý trường chinh không?

– Có, nhưng lâu quá quên hết rồi.

– Tao cũng quên chỉ còn nhớ có một đoạn là đồng chí Bành Đức Hoài bắt lính thắt dây nịt thêm hai ba khoản rồi uống nước. Thế là no.

Tôi cười:

– Đoạn đó không hay bằng đoạn luộc cả thắt lưng da mà làm gỏi với cỏ dại.

Hai anh em cười rũ rượi.

Tư Thêm bắt con vịt ngoài bờ ao xách vô. Con vật dãy dụa kêu cạp cạp vang rân như 1000 dân dưới sự lãnh đạo của bà Hai Xót biểu tình đấu tranh hô khẩu hiệu chống Mỹ cứu nước.

Không hiểu sao bữa nay Năm Tiều cười nói, trêu ghẹo luôn mồm:

– Còn sống hổng cho ăn để chết cúng ruồi.

Thấy Tư Thêm đứng giữa khung cửa trống hoác, tôi hỏi:

– Hai cánh cửa bị cà nông thổi bay rồi hả em?

Tư Thêm đáp:

– Em hiến cho xã đội rồi!

– Để làm gì?

– Làm hòm chôn tụi E88 chớ làm gì? Năm Tiều đáp thay – Hết ván tới chiếu mà cũng không đủ. Tao chưa từng thấy trận nào lính chết cỡ đó. Cái bàn này không xài được nên còn nguyên.

Tôi cười:

– Bàn tròn thì khoanh xác lại như chó nằm con cúi vậy.

– Mày nói tệ quân mình mậy!

Tư Thêm cắt cổ vịt. Tôi và ông tham mưu phó bàn kế hoạch vô đợt 3.

Tôi hỏi:

– Nghe nói con hùm Điện Biên tự rút chốt lựu đạn hả chú Năm?

Năm Tiều nhảy dựng lên:

– Ai bảo?

– Tôi nghe Bảy Ga nói lính đồn rùm mà !

– Hổng có đâu, thằng đó… hừ hừ… chắc tin ẩu. Nó còn hi vọng về xứ kia mà !

– Nghe ổng có để lại bức thư gởi đại tướng Võ Nguyên Giáp đề nghị bỏ các sách “Luận về trì cửu chiến”, các chiến thuật mổ bò, mổ heo, chài lưới gì nữa mà !

– Heo bò đâu mà mổ. Cá ở đâu đây mà chài lưới? Thôi bỏ đi, tao với mày bàn kế hoạch. Tao thay mặt Quân khu quyết định, không phải thỉnh thị trên.

Tôi nghĩ bụng: Ở trên có còn ai mà thỉnh thị?

Năm Tiều ra vẻ trịnh trọng:

– Trước nhất tao sẽ đi R xin thêm viện binh như tao nói hồi nãy.

– Bây giờ đi R, qua sông Bà Hảo phải “bàn thờ trên đầu” , mà đi nghe chú Năm!

– Tao biết rồi, nhưng con không khóc, mẹ không cho bú. Phải nằm vạ may ra mấy ổng mới cho.

– Nhưng E của tôi còn ngo ngoe, vả lại phải phân tán mỏng để tránh pháo, thì xin thêm quân số làm chi. Năm ngoái ở trên chỉ bổ sung có 90 tân binh miền bắc. Loại đó đút vô lò Củ Chi này chỉ như rơm thôi.

Năm Tiều cương quyết:

– Tao đi xin luôn tiện báo cáo về E 88 của Năm Sĩ kẻo ở trên tưởng mình đánh trận nào cũng thắng như ăn gỏi mày hiểu chưa. Do đó khu R cứ đưa kế hoạch mới cho mình hoài. Nay mai lại bắt mình nhổ cái Trảng Bàng hoặc cái Đồng Dù cho mà xem. Rồi mày lấy lực lượng đâu mà đánh? Nhe răng ra dọa tụi nó à?

Nghe ông tham mưu phó giải lý, tôi không cản nữa.

– Chú định chừng nào đi?

– Chờ rước thầy bói coi ngày lành tháng tốt thì xuất hành.

Năm Tiều đã chuẩn bị trong lúc tôi đi Long Nguyên, nay sẵn sàng. Tôi lấy một tiểu đội mạnh gồm cả B41, trung liên RPD đưa anh đi. Còn đám cận vệ của anh con Thanh, thằng Gàu, thằng Nùng, thì để ở nhà. Mấy đứa này chỉ hữu dụng trong việc đào hầm lo cơm nước cho chú Năm thôi.

Tôi hỏi:

– Chú không từ giã thím Năm à?

– “Từ giã”?! Để giành cặp giò mà lội mày ơi !

– Đi đường nào?

– Thì có một đường đó chớ đường nào khác?

(Tức là Phước Chỉ giáp ranh Miên, nơi Ba Xu vừa tử nạn) Tôi ơn ớn nhưng không dám nói ra.

Phái đoàn lên đường, tôi tiễn chân một quãng. Buổi trưa nắng chang chang là thời khắc Hòa bình an lạc nhất trong ngày. Giờ này Mỹ ăn cơm uống bia. Pháo ít bắn, thằng đầm già có thể trông thấy từ xa, biệt kích cũng dễ đề phòng. Còn những gì khác nữa thì làm sao mà dự đoán trước được. Tôi và Năm Tiểu đi song song vừa nói chuyện vừa cảnh giác trên trời dưới đất.

Một bán đội đi hẳn lên phía trước, một bán đội bọc hậu. Như vậy là rất an toàn cho ông tướng con.

Nhưng chiều hôm sau tôi trở lại Sa Nhỏ, đập cửa nhà Tư Thêm kêu:

– Gàu ơi! Nùng ơi! Thanh ơi! Chú Năm hi sinh rồi.

Đám trẻ ngơ ngác, không hiểu gì cả. Tư Thêm đang chắt nước cơm, buông xụi chiếc soong, gạo đổ tứ tung dưới đất, đứng như trời trồng.

….

Sự thực đó chỉ là sự tưởng tượng của tôi. Tôi thấy mọi người còn nguyên tại chỗ để khóc cái chết của Năm Tiều, nhưng trước mặt tôi không có ai cả. Ngôi nhà của Tư Thêm, cái chòi của má Hai, bờ tre sau nhà, tất cả đều không còn trên mặt đất.

Nhà của Tư Thêm bi một trái bom. Trước sân, ngoài đường hai trái khít nhau. Bên kia đường một trái. Loại bom dây ác hơn pháo bầy. Cứ ba trái miểng, lại một trái xăng đặc. Bom miểng phá nát, bom xăng thiêu rụi. Một trận bom đi qua để lại chỉ tro than, không gì khác. Một khi đã vì quyền lợi của mình thì ai cũng nhẫn tâm tàn bạo như ai.

Tôi đứng lơ láo giữa những hố bom và dấu xích xe tăng, không biết kêu réo ai mà cũng không khóc được. Mình nhào vô Sài Gòn chết rụi. Tụi nó vọt ra thụi sau lưng chém trên đầu mình. Bờ tre dài xanh um đặc nghẹt những thân tre cao vút bị ủi tróc gốc lật ngang chắn bít cả đường đi ngọn nằm chia ra ruộng đè rạp một vạt lúa.

Xe ủi đất đã đến đây. Chỗ nào nó nghi có địa hoặc hầm là nó ủi sạch sẽ. Các lô cao su không còn một gốc nào. Hễ thấy một khóm cây là nó ủi láng, bứng tận rễ cái.

Hầm cá trê của Năm Tiều ở chỗ nào, tôi không còn nhận ra.

Quay vào nhà, tôi lại gọi, vẫn không nghe tiếng đáp lại, tôi rảo quanh tìm kiếm. Có khi người bị sức ép chết dưới hầm, hoặc bị bom tung văng ra đâu đó. Nhưng tìm mãi không thấy dấu vết gì.

Tôi thất thểu trở lại quán Ba Bảnh, thấy người lố nhố trong đó. Thì ra là thằng Gàu, tháng Nùng thằng Tiền thằng Đá và con Thanh. Trước khi lên đường với Năm Tiều, tôi đưa cho thằng Gàu 500 bảo lại quán mua thức ăn, đám con nít kéo nhau đi quán. Chúng cà kê ở đó trong lúc khu trục ném bom bờ tre. Rồi trực thăng trái chuối thả xe tăng và xe ủi xuống làm cỏ Sa Nhỏ.

Tư Thêm và bé Tiền bị thương. Má Hai còn sống. Má mướn xe bò chở hai mẹ con bé Tiền ra Củ Chi. Con Thanh kể cho tôi nghe mọi việc rồi cười như ăn thua một cuộc chơi nhảy nhà :

– Nếu anh không cho tiền đi quán thì xí-lấc-léo cả đám rồi.

Tôi không muốn kể cho chúng nghe về cái chết của Năm Tiều, nhưng không thể giấu được nên đành phải nói sự thực cho chúng nghe.

Hôm qua, khi ra đường số 7 thì gặp một chiếc xe bò đi cùng một hướng. Tôi và Năm Tiều bám sau xe cố đi theo cho kịp. Chả là xe bò chở gạo của Quân Nhu nhà mình. Bỗng tôi đạp miểng bom dừng lại băng rồi phát thèm điếu thuốc Tôi móc túi lấy gói Capstan ra đốt. Trời gió hơi mạnh, cho nên hộp quẹt Zippo có cái chắn gió (cache flamme) ngọn lửa không tắt nhưng mồi mãi điếu thuốc chưa cháy. Tôi phải quay sang bề khác để lấy lưng che gió. Trong lúc mấp điếu thuốc thì một tiếng “đùng” rung đất làm tôi chới với.

Tôi quay ra phía trước nhìn. Một bựng khói bốc lên che kín cả xe lẫn người. Tôi phun điếu thuốc và chạy tới. Khói và bụi khét đặc làm tôi dội lại hồi lâu. Chờ cho đám khói tan tôi mới xông vào thực địa.

Không còn gì ở đó nữa hết. Người đánh xe, chiếc xe, con bò và ông tham mưu phó Quân khu đều biến mất, không để lại mặt dấu vết gì.

Tôi rống thinh không:

– Chú Năm ơi ! Chú Năm !

Chỉ có ánh nắng trưa đáp lại bằng một tiếng vang hờ hững.

Vì định bụng đi một quãng ngắn với Chú Năm, bàn nốt mấy việc vặt phải giải quyết, nên tôi đi một mình, không cho hai đứa nhỏ đi theo.

Tôi ngó quanh một chập thì thấy mấy vật gì xa xa hai bên ven đồng. Tôi chạy tới thì nhận ra là cái bọng con bò và chiếc gọng xe. Tít đằng kia là cái bánh xe chỉ còn một khúc vành gãy. Thịt bò và thịt người lẫn lộn trộn trong đất. Cạnh đó là một chiếc đầu lâu. Tôi nhận ra ngay là thủ cấp của Năm Tiều với bộ tóc cháy queo. Hai hàm răng nhô ra trọn vẹn, tròng mắt đã cháy khô, hố mắt tun hút. Ở trận Cây Trắc nhiều lính của tôi bị bom napalm cháy thui, nhưng hai con mắt còn nháy, môi còn mấp máy: “Thủ trưởng, xin cho em một phát?”

Bán đội xích hầu quay lại. Tôi bảo:

– Lấy ni lông túm đem về.

Đêm đó chúng tôi chôn túm ni lông ở nghĩa trang Ba Sòng. Không có hòm rương gì cả. Bữa sau tôi sai người báo tin cho Thím Năm hay. Thím ẳm thằng bé con 3 tuổi đốt nhang trước mộ chồng, khóc không ra tiếng.

Không ai ngờ được một cái chết lạ lùng như vậy. Mà lại là sự thực. Trái DH10 của Trung Quốc, không biết ai chôn ở giữa đường (du kích bỏ quên!?) Sao đám xích hầu đi trước đạp lên lại không nổ mà đợi tới chiếc xe bò đi tới mới gầm?

Tôi mất người bạn già trong nháy mắt. Như chiêm bao. Trên 30 năm rồi, bây giờ ngồi viết, cứ tưởng vẫn chiêm bao. Năm Tiều còn đứng đó giễu cợt cười đùa trước mặt tôi. Năm trước, ở Bàu Trâu, trong lúc rút lui, bị pháo dập, tôi và Sáu Khoắn Xã đội trưởng nhảy xuống một cái hầm, rủi nhằm ổ kiến lửa, hai đứa tông lên chạy liều mạng. Hôm sau trở lại thấy cái hầm tan hoác. Một trái pháo dã rơi ngay đó. Nếu không có ổ kiến lửa thì sao?

Và hôm nay nếu tôi không dừng lại hút thuốc thì chuyện gì đã xảy ra cho tôi?

Phải chăng thần Kiến Lửa và thần Capstan đã phù hộ gã Thiên Lôi? Chiến tranh ở Củ Chi này là thế. Mấy thằng cầm bút lưu manh biết chó gì mà đứng ngoài vòng vỗ tay khen “thằng bé ăn ớt giỏi”. Chúng coi hát không tốn tiền mua vé, chỉ mất công vỗ tay và cười chế nhạo. Còn bọn lãnh tụ khoái nghe vỗ tay nên không tiếc gì sinh mạng dân đen con đỏ.

Cả đám con Thanh thằng Nùng thăng Gàu lặng ngắt. Chúng biết tôi không nói chơi. Cô chủ quán Ba Bảnh gượng gạo:

– Anh có xem trên ngọn cây chung quanh đó không? Biết đâu ổng văng nằm trển.

Út Láng gạt ngang:

– Xí . Ông địa gầm xe tăng cũng bay còn mong gì hốt được nắm thịt. Anh Hai lượm được cái đầu ông là may rồi !

Tôi kêu con Thanh, thằng Nừng, thằng Gàu đi theo tôi về đơn vị. Cha chết theo chú. Chú chết. Ba đứa nhỏ lại mồ côi lần thứ hai.

Trên đường về, tôi lại gặp Ba Tiến, tên thượng úy mùa thu, bí thư của ông tư lệnh Ba Xu… kẻ đã từng gói miếng sườn chó dúi cho tôi sau bữa tiệc của khu ủy ở Bến Dược cách đây 2 năm. Tôi tưởng hắn từ âm phủ trở về. Tôi reo lên rất đỗi kinh ngạc:

– Ủa, sao mày còn ở đây Tiến?

– Hổng ở đây thì ở đâu cha nội.

– Sao nghe nói mày đi theo “ổng” lên R?

– Đi mà rồi hổng đi !

– Vô đây làm một xị rồi kể đầu đuôi tao nghe coi.

Tôi lôi tay Ba Tiến vô quán Chín Khuân. Con nhỏ có da có thịt mới lấy chồng, nở bề ngang lẫn bề dọc, nút áo gài siết có nận như bánh tét. Tôi bảo:

– Cho đồ nhâm nhi coi, em Chín.

Cô bé đem ra mấy trứng vịt lộn, một chai đế trong như mắt mèo, rồi rội tiếp một dĩa tôm khô. Tôi hỏi:

– Ở đâu còn thứ này, em cưng?

– Ở Hóc môn lên chứ đâu anh.

– Nghe Hóc Môn bị giải phóng mình chi… iếm rồi mà !

– Anh chiêm bao chắc. Xe lam đi về mỗi ngày cả chục chuyến. Giống gì mà hổng có.

Tôi rót rượu và bảo Ba Tiến:

– Tao tế sống mày đó Ba Tiến!

– Chú Năm Tiều sao vậy hả bồ?

– Thì vậy đó. Tao cũng không hiểu sao. Nếu không đứng lại hút điếu thuốc Capstan thì tao cũng rụi tèng hen.

– Tớ cũng thế. Đang đi với anh Ba. Bỗng bị kiết, không đi nổi. Có lẽ do uống nước giếng chôn dân Cao Đài hồi nẳm. Anh Ba cho tao ở lại rồi đi sau. Phái đoàn đi tới Phước Chỉ giáp ranh Miên… Bây giờ tao ngủ còn giựt mình.

– Thằng Mười Trường dắt đường, bộ đui hay sao?

Ba Tiến tợp liền hai ba ngụm, quẹt mép:

– Lâu ngã mặn quá, Lôi à. Đi theo xách cặp cho các chả, mình không tu cũng phải ăn chay cái kiểu Lỗ Trí Thâm. Bữa nay gặp cậu, rượu ngọt như nước mía.

Hắn vừa ăn vừa uống như chưa bao giờ được ăn được uống, nói như vừa được khai khẩu.

– Tử sánh hữu mạng ông thầy Pháo ơi. Đây không phải là lần đầu đối với tớ. Lần vừa rồi ở trên “hầm Đờ Cát” ông biết không? (2)

– Ủa mày cũng có ở đó nữa à?

– Có chớ. “Ổng” đứng giữa, thăng Thuần bí thư của ổng đứng một bên. Anh Ba mình đứng một bên. Ổng đang chống nạnh chỉ chỏ nói… toàn dấu nặng. Bỗng ngã lăn ra. Tao nghe cái cộp, ngó ngoáy lại thì thấy ổng ngã lăn. Không nói một tiếng. Chết liền. Anh Ba mình bế xốc ổng lên, ổng trợn trừng đi xuôi.

– Không trối trăn gì hết?

– Không !

– Mày đứng ở đâu?

– Ngay sau lưng anh Ba chớ đâu! Nhưng còn xa hơn thằng Thuần. Nó đứng ngay bên cạnh ổng cách không đầy một thước Tây! Anh Ba kêu tụi công binh gói trong tấm ni lông và cho thẳng Hai Ninh điện gấp về R.

– Chịp!

Ba Tiến tiếp:

– Tao không hiểu gì cả. Trời đánh như có lựa người. Bom đạn như có mắt.

– Tội nghiệp, hầm hố như vậy mà chừng tới số cũng chạy không khỏi.

– Rồi cái gói ni lông đi đâu?

– Tao không biết. Nghe nói là 2 chiếc xe thồ cấp tốc chở đi Mi-mốt. Nếu may mắn, không bị đổ chụp, không bị biệt kích, thì đạp cũng mất 4 ngày mới tới ranh Cao Mên. Chớ mày tưởng gần à?

– Tao đâu có nói gần! Mày về nhà nên múc chai nước giếng mà thờ. Còn tao thì tao lập miếu thờ ổ kiến lừa và gói thuốc Capstan.

– Mày phải thờ cái hộp quẹt Zippo nữa cho đủ bộ!

– Ừ cúng luôn, cái gì cũng cúng. Thờ luôn cả cái mảnh đạn 175 ly.

Tôi thở dài. Hồi kháng chiến chống Pháp, Bộ Tư lệnh ba khu 7, 8, 9 còn nguyên. Bây giờ chống Mỹ chưa chi ba Bộ tư lệnh đã chết hết. Xui xẻo quá trời! Tại mình xuất quân nhằm ngày sát chủ.

Tôi cười:

– Mày là “người háng rộng nho thâm” mà không nhớ năm 1788 là năm Mậu Thân, vua Quang Trung đại thắng quân Thanh vào ngày mồng năm Tết hay sao?

Ba Tiến ậm ờ một chút rồi nói lảng sang chuyện khác:

– Bây giờ căn cứ còn đâu nữa! Tao cứ lêu bêu như chuột mất hang không biết về đâu.

Tôi cười:

– Nó phá nát trên mặt đất chớ hệ thống địa mình còn nguyên, mày khỏi có lo. Ở đây với tao khỏe ru thôi!

– Địa nào? “Địa lu” ấy hả ?

– Mày chưa xuống nên không biết. Hiện giờ các Xã đội An Phú và Phú Hòa Đông cho Địa chui qua cả sông. Có vài chỗ khoét lỗ cho nước chảy vô mình hứng xài như nước phông tên Xà goòng!

– Phả… ải, tao biết chớ! Anh Ba có xuống một lần, ảnh khen quá xá. Ảnh nói không ngờ ở dưới địa lại có Bệnh viện, có câu lạc bộ, đủ thứ tiện nghi. Lòng hầm mát như có quạt máy.

Tôi biết Ba Tiến thấu cáy tôi về vụ năm kia ông Tư Lệnh chạy B52 qua Phú Mỹ Hưng, chui xuống địa bị Mỹ chốt bên trên, ổng bị ngộp suýt chết, tôi phải đem quân đánh giải vây cấp tốc, chừng cứu lên được ổng ngất ngư.

Nghe Ba Tiến nói, tôi đẩy cây luôn:

– Địa bây giờ khác xưa rồi. Mày lạc hậu không biết ngoài Bắc đưa chuyên gia vô xây hầm theo kiểu Thượng Cam Lĩnh bên Triều Tiên à? Để bữa nào xuống dưới đó an dưỡng dài hạn, tao kêu ông thầy Nạo tẩm bổ cho mày rượu sâm ngâm chất liệu “đẹc” biệt.

Ba Tiến chắp tay xá xá:

– Con lạy ông nội, con không cần thứ đó. Có đế đem thêm ra đây, uống xong mình du địa… phủ luôn. Mẹ, thằng Tư Cường bắt 400 công binh đào hầm cho ông Sáu ở, tưởng chống được cả B52 ai dè B52 chưa bỏ mà ổng đi trước cụ Hồ. Mày phải biết, hồi xưa xuất quân mà đại kỳ bị ngã, chủ soái chết là điềm bất tường. Hạng Võ trong trận cuối cùng đánh Lưu Bang, chưa ra quân thì soái kỳ bị gió quật gãy, Ngu Cơ khuyên ngừng chiến trận, ổng không nghe cứ đánh tới. Trận đó ổng đại bại và tự sát ở bến Ô giang. Bây giờ, mình cũng vậy. Trước khi mở màn chiến dịch, ông Sáu Di chết bất đắc kỳ tử. Rồi năm nay cụ Hồ theo Mác Lê. Con đầm già có dịp kéo đờn ò e tối ngày trên đầu mình.

Tôi gạt ngang:

– Thôi đừng có tin dị đoan! Nè, uống di rồi đi tắm sông Sài Gòn coi bò vàng!

– Bò gì lội ở dưới sông?

…..

(1) Bắt chước tiếng đạn đi.
(2) Có 2 hỗn danh đặt lén cho:
– Hầm “Đờ Cát Di” là hầm của Sáu Di ở Long Nguyên.
– Hầm “Đờ Cát Tiêu” là hầm của Sơn Tiêu tức Năm Lê ở Củ Chi.

Chương 110

Những tên nhà báo soạn giả bất lương

Viết về chiến tranh dài, khô khan, sợ e bà con đọc chán, nên tôi “đổi mới” sang lãnh vực văn nghệ cho ướt át. Tôi xin đề cặp tới 3 tên, một mũi lõ mắt đục, 2 mũi tẹt da vàng. Sở dĩ tôi biết chúng nó là những tên cầm bút bất lương hoặc những tên bất lương cầm bút- là vì tôi đang đứng trên đất Tự Do nhìn lại Củ Chi với cặp mắt khách quan, không thiên vị.

Tôi đã viết đâu đó câu sau đây:

“Ôi cây bút vinh quang, cây bút vạn năng. Ôi cây bút nhỏ bé nhưng nếu không có nó thì loài người chỉ là một lũ súc vật bò lê trong vũng bùn ngàn năm “.

Trước nhất tôi nói về gã nhà báo Úc tên là Bọ Chét.(Burchett). Tôi không biết hắn nếu không có báo Nhân Dân giới thiệu. Lúc đó đâu khoảng năm 1962-63 thì phải. Hắn đến Hà Nội, xin “yết kiến” lão Hồ. Cùng tiếp hẳn có tên thi sĩ mặt chuột Tố Hữu. Nhà báo lô-can thì bị đối xử như chó, còn tụi ngoại quốc đến thì chúng nó lạy như ông vải.

burchett_hcmTrong buổi tiếp này, Bọ xin đi vô Nam. Lúc đó chiến tranh miền Nam đã bộc phát với sự có mặt của cái gọi là Mặt trận giải phóng của Nguyễn Hữu Thọ. Lão Hồ thấy có tên đồng chí mũi lõ tới đòi xem Miền Nam thì mừng rơn nhưng ngoài mặt làm bộ “em chả, em chả”, bảo tên Bọ:

– Bom đạn bời bời, đồng chí không kham đâu!

Bọ lên gân hỏi lại:

– Lúc đồng chí bằng tuổi tôi đồng chí làm gì ở đâu?

Tố Hữu ăn cơm hớt:

– Chủ tịch Hồ Chí Minh đang ở Hang Bắt Bò Lạc lãnh đạo kháng chiến chống Pháp.

Bọ bắt lấy, tiếp ngay:

– Đồng chí chịu đựng gian khổ lúc 58 tuổi, sao tôi không chịu được ở tuổi 52.

Mướp đắng mạc cưa đấu mép qua lại vài ván rồi Hồ chủ tiệm OK cho Bọ đi vô Nam cỡi ngựa xem hoa. Mọi việc đi đứng do Tổng Giáp lo còn hộ lý săn sóc thì vô Nam sẽ có .

Mấy tháng sau, tôi thấy hắn nói chuyện ở Câu lạc bộ Đoàn Kết ngay cạnh nhà tôi. Tình cờ tôi tạt sang nghe thử hắn nói láo cái gì. Hắn hết lời ca ngợi quân “giải phóng” và các nường “dũng sĩ” Củ Chi.

Năm sau tôi lại tập mang gạch 3 tháng và đạp Trường Sơn về Nam. Khi tôi đến Củ Chi tôi mới biết hắn không hiểu gì hết. Hắn tưởng tượng và nhắm mất viết ẩu. Ngòi bút của hắn bị mua đứt với giá một chai bia Hồng Hà rót từ tay lão Hồ vào cái ly do Tố Hữu dâng cho hắn. Những điều hắn viết ra, không mảy may có trên đất này. “Địa đạo chiến !” Trời ! Đó là chiến thuật mới của nhà báo “quế tấc” mới sáng tạo phi thường mà chỉ ở Củ Chi miền Nam Việt Nam này mới có chăng?

Tôi đã viết về hắn trong mấy chương đầu của bộ Hồi Ký này. Nay xin bổ sung đôi nét. Nghĩ cũng không thừa đối với độc giả chưa đọc quyển 1 (chương 7).

Wilfred Burchette (1911-1983)

Wilfred Burchette (1911-1983)

 

Nhưng tôi lấy làm nhục nhã cho cây bút già đầu trong làng báo lại nhẫn tâm nói láo nhằm mục đích lừa thế giới bằng chữ nghĩa. Và càng nhục nhã hơn cho bọn lãnh tụ Hà Nội đã hạ mình dâng một cô gái nhà lành cho hắn thỏa mãn sinh lý không hơn một gái điếm, để mưu cầu những bài báo bịp phục vụ cho mưu đồ dã man: xâm chiếm miền Nam!

Hắn vào Củ Chi như một ông hoàng. Có cả một ban phục vụ hắn. Họ hầu hạ hắn bên ngoài với vẻ kính trọng nhưng bên trong thì với tất cả sự khinh bỉ lẫn phẫn nộ. Thằng nhà báo “quế tấc” này đến Củ Chi để chơi gái địa phương chớ có lý tưởng cao cả đếch gì. Sáu Huỳnh – Phó ban Quân báo khu đã tìm cho nó một con bé (con Bốn). Nó không hài lòng. Nó đòi một đứa khá hơn: “Tôi muốn nếm mùi cây nhà lá vườn”. Phòng Chánh trị khu và Xã ủy Phú Mỹ Hưng phải họp lại để bàn luận tìm người. Phú Mỹ Hưng không có đứa nào. Khu ủy bèn nghĩ tới đám dũng sĩ của Bảy Mô. Nhưng danh dự của tụi nó đâu phải là nùi giẻ rách mà muốn chùi cẳng ghế chân bàn gì thì chùi. Chúng bèn ngó qua các xã bên cạnh. An Phú, An Nhơn. Tư Thiên có quen với Út Cường cán bộ Tuyên Huấn xã An Phú. Út Cường có người cháu họ cỡ 25 tuổi may mướn cho Quân Nhu với tiền lương 200 đồng một tháng. Số tiền đó không đủ nuôi bà già và đứa con nhỏ. Chồng nàng đi công trường 9 mấy năm nay không có tin tức về, nhưng không có thư báo tử, nên coi như đã “hi sinh.”

Tuy thấy đối tượng có thể dùng được trong mục tiêu bỉ ổi đó, nhưng không tên nào dám mở miệng nói với nàng. Miệng mồm đâu mà nói một cái chuyện “vinh quang” như vậy. Mình là con người chớ có phải con vật đâu, mình nói tiếng người chớ đâu có sủa gâu gâu như chó, kêu eng éc như heo.

Ông này cứ đùn cho ông kia, cuối cùng Út Cường là bà con, nên nhận lời mở đầu, còn khúc sau thì mỗi người tiếp một câu.

Buổi trưa hôm đó 3 ông đại cán: Tư Linh, Út Cường và Tư Thiên kẻo tới nhà con bé . Út Cường mở đầu câu chuyện bằng mấy lời hỏi thăm qua loa rồi cười nham nhở:

– Cháu có rảnh không… a a… cháu?

– Cháu mắc may đồ gấp cho Quân Nhu. Còn cả trăm bộ Giải Phóng mấy ổng bắt phải may nhanh để mấy ổng phát cho bộ đội.

– Cháu ngồi đó, chú nói chuyện này chút.

Ai nấy nghe như có tro rắc trong cổ họng Út Cường. Thằng chú chó đẻ mở ngảng:

– Cháu may như vậy làm sao đủ sống?

– Ờ thì cũng đắp đổi qua ngày thôi chú ạ !

– Để chú… giúp cho!

Con bé ngẩng đầu lên nhìn thằng chú cán bộ Tuyên Huấn xã hi vọng được giúp đỡ. Út Cường lý luận vòng vo chứng minh “chế độ ta hơn hẳn Mỹ Ngụy” và tiếp:

– Hiện nay ở ngoài Sài Gòn cuộc sống cũng nghèo nàn lắm. Vợ lính đi làm đủ thứ việc để nuôi chồng thiếu gì. Đó là điều không ai muốn làm, nhưng xét cho kỹ thì cũng không phải xấu xa. Hi sinh thân mình để nuôi chồng con… ơ ..ơ chú thấy hoàn cảnh cháu túng thiếu. Thông chồng cháu chưa biết ngày nào về. Hiện nay trên Quân Khu cần một nhân công.

Con bé vui vẻ:

– Chú xin cho cháu được không?

– E hèm! Chú xin thì được rồi, nhưng chỉ sợ cháu không nhận thôi.

– Tại sao vậy, bộ công việc khó khăn lấm à chú?

– Không khó mà cũng không dễ cháu à ! – Út Cường liếc Tư Linh ý bảo nói vô vài câu. Nhưng Tư Linh và Tư Thiên ngồi câm như đá, nghe rợn lạnh như sắp làm cử rét. Nếu đi “địch vận gia đình binh sĩ Ngụy” thì Tư Linh có thừa lưỡi, nào lý tưởng, nào dân tộc, phun ra có lọn, còn ở đây đi dụ vợ đồng chí mũi tẹt cho đồng chí “quế tấc” chơi, nghĩ cũng xấu mặt cho thằng trưởng ban địch vận chớ! Nó có phải là địch đâu mà vận?

Tư Thiên chẩm rải vấn thuốc hút. Út Cường không hi vọng có viện trợ, bèn tiếp:

– Cháu cứ tin tưởng, chú sẽ giúp cháu.

– Lúc nào cháu cũng tin chú ! – Con bé đáp.

Út Cường ngập ngừng một lúc rồi nói thật hết mọi việc là đi ngủ với một đồng chí của bác Hồ đáng tuổi bố cô ta. Thằng chú nói loanh quanh vòng vèo một lúc rồi móc 2000 đông đặt trên bàn máy may, tay quẹt mồ hôi trán tay che miệng rặn từng tiếng:

– Chú thay mặt xã ủy, ông này thay mặt xã Phú Mỹ Hưng, còn ông này thay mặt Quân Khu hứa với cháu là “công tác”… công tác chỉ có bấy nhiêu thôi. Sau khi xong rồi, Quân Khu sẽ nhận cháu làm nhân viên chính thức. Chú sẽ giới thiệu cháu vô đảng, ơ.. ơ… công của cháu còn hơn diệt một tiểu đoàn địch.

Con bé ngồi chết trân (công tác gì lạ vậy?) rồi bất thần đùa mớ bạc xuống đất. Bỗng ở đàng sau nhà bà má bước vọt ra, trỏ mặt Út Cường bằng chiếc đũa bếp:

– Mày xin công tác cho cháu mày vậy đó hả Cường? Mày đừng có vác mặt mày tới đây mà huấn luyện nó nữa nghe không? Đồ khốn nạn! – Bà phang vút chiếc đũa bếp.

Tư Linh hụp xuống. Tư Thiên né qua. Hai người tháo chạy ra sân còn nghe tiếng bà già mắng xối xả như mưa. Tấm kiếng bị chiếc đũa bếp phang trúng và rơi loảng xoảng. Hai ông cán vọt thẳng. Chập sau Út Cường theo kịp, vừa đi vừa khạc vang đường:

– Kệ mẹ! ở trên muốn thì mình phải làm! không làm không được!

– Đừng đi trên lộ nữa, xuống mương đội lục bình mà đi ông Tuyên Huấn ạ ! – Tư Thiên làu bàu.

Rồi con bé cũng được đưa đến cống hồ, với xiêm y rỡ ràng, dầu thơm dầu chanh sực nức. Thằng Bọ Chét không dùng “chứng minh thư nhân dân” để biết mùi thực hoa Củ Chi. Sau bữa đó, con nhỏ bỏ nhà đi biệt.

Không biết thằng giải phóng quân chồng cô ta có sống sót trở về chăng? Nếu có thì công lao của đảng trám lỗ mô cho hết? Còn nếu nó chết nơi chiến trường mà tái sinh thì vợ chồng sẽ ăn ở với nhau chắc là… tự do hạnh phúc lắm.

Khi đến trấn nhậm Củ Chi, gặp Sáu Huỳnh, tôi có hỏi về việc này. Sáu Huỳnh nói thiệt hết. ông cũng hận cái vụ này làm, nhưng lệnh vua phải thi hành. Ông ta tâm sự:

– Tao bảo công tác thành rước chị em ta ở Sài Gòn vô cho nó, nhưng có điều bất tiện là Tám Lê không bảo đảm khám khiết mày hiểu chưa? Nếu nó mang cái ma-trắc ngậm sữa ông Thọ (hay sữa Nguyễn Hữu Thọ cũng thế) về xứ, nó phát cáu nó nói ngược lại, nghĩa là nó nói xấu Giải Phóng Quân, thì bỏ mẹ mình cả đám.

– Còn con Bốn ở đâu vậy?

– Tao gạt con nhỏ, nói là lính Đồng Dù mình mới địch vận được cần phải công tác chánh trị. Nhưng con nhỏ cũng đạp nó rơi xuống sàn, chê không phải Mỹ. Mỹ thơm chớ đâu có hôi heo như vậy.

Lão Hồ hạ mình xin nó viết cho một bài báo để che mắt ngư ngơ toàn thế giới. Trong các tên lãnh tụ đỏ có tên nào đê tiện làm sỉ nhục dân tộc mình đến thế không?

Tên lưu manh cầm bút đó đến Củ Chi để nói láo những gì? Theo hắn thì Cử Chi chẳng những có một hệ thống địa đạo bất khả tấn công mà còn sáng tạo ra một chiến thuật gọi là “địa đạo chiến “. Ở nhiều xã, địa đạo có 3 tầng mới ghê chớ !

Mẹ mày chớ địa đạo chiến! Những thằng đại ngu mới tin bài báo của mày. Tư Linh cho đám “dũng sĩ” đào một số hang chuột ngụy trang sơ sài rồi bố trí mặt trận đánh xe tăng (không có xe tăng) bắn súng (không có đạn), rồi chui xuống hầm và biến mất trong lúc “quân Mỹ không biết đâu mà truy đuổi” – đó gọi là địa đạo chiến.

Thằng nhà báo mê man “quan sát” trận địa và đòi xuống địa đạo theo chân đoàn dũng sĩ. Nhưng hiềm vì cái miệng hầm bé quá, không đủ cho tấm thân bồ tượng của hắn lọt xuống được. Tư Linh hứa:

– Chúng tôi sẽ cho quay lòng địa đạo có bệnh viện, câu lạc bộ, kho tàng v.v… gởi cho đồng chí sau để bổ túc cuộn phim “địa đạo chiến”.

Hắn mừng húm hoan nghênh rối rít. Hắn lại đề nghị cho cao xạ bắn máy bay để hắn quay phim. Tư Linh cũng hứa cuội: “sẽ bố trí trận địa pháo phòng không”

Hắn có biết đâu hễ nghe súng nổ là pháo Đồng Dù bắn cho thối đất, tha hồ vác cái bụng phệ chạy làm trò cười cho trẻ con.

Đúng là một tên bịp “quế tấc” mặt đỏ. Quay phim “địa đạo chiến” xong, đến quay phim “đấu tranh chánh trị”.

Mụ Năm Đang phải đi bắt mấy bà già trầu và đàn bà đang cấy dưới ruộng gom lại cho đeo đít mấy chiếc xe lam có cắm loe hoe chục rưỡi lá cờ xanh đỏ rồi kéo nhau đi trên lộ đất, hò hét khẩu hiệu. Đó gọi lả đạo quân đầu tóc Củ Chi biểu tình chống Mỹ Ngụy.

Chủ xe lam ở ngoài ấp chiến lược, tụi du kích chĩa súng sung công làm công cụ cho “đấu tranh”. Đánh trâu xong rồi, chủ xe mặt xanh lét vọt về ấp, chạy tuốt xuống Sài Gòn, không ngó mặt lại Củ Chi.

Cái phim này lừa cả thế giới: Mặt trận của tên luật sư từng vác chiếu ra tòa, đã kiểm soát 3/4 đất đai và 4/5 dân chúng đến tận cửa ngỏ Sài Gòn…. Tôi biết chắc chắn bằng mắt thấy chân đi, rằng Vùng Giải Phóng bất cứ nơi nào lúc nào cũng không có một cái chợ làng giải phóng. Thế mà thế giới tin bằng thật. Nhân loại quả là đứa con nít dễ gạt. Ném cho một cái kẹo, bảo gì cũng làm, nói gì cũng gật. Kẹo đất thó cũng gật gù khen ngọt. Bây giờ rõ chưa nhân loại?

Lão già Bertrand Russell bác học bác hiếc gì còn bày đặt gởi băng ghi âm tiếng nói hoan nghinh Mặt Trận Giải Phóng ở đại hội các công đoàn thế giới họp ở Hà Nội, có mụ Anna Louistrong của nước Mỹ tới phát biểu cảm tưởng chống bồ nhà nữa chứ!

Đâu cũng vào thời điểm này Nguyễn văn Trỗi bị xử tử vì tội ăn trộm gà ở chân cầu Công Lý. Du kích Caracát ở Vénézuéla bắt được một trung tá Mỹ. Định đem đổi chác. Nhưng quân chánh phủ Vénézuéla đã tìm được viên trung tá nên Trỗi đành ngậm kẹo đồng làm ngọt mà giã từ cô vợ trẻ, để lại cho tên tướng đầu đỏ Sáu Di huấn liệng. Kết quả 100%.

Nhiều chuyện lâm ly rùng rợn quá độc giả ơi! Nhắc tới đâu hận nhân loại ngây thơ tới đó. Chính vì sự ngây thơ đó mà những tên cầm bút bất lương mới có đất hoạt động. Trong số này còn phải kể một con mụ gái già đầm lầy Ma-đan-len Rip-phờ-nờ chính mụ này cũng mò vô R (không biết mụ có bị R hay không?) để viết về quân “Phỏng…” . Mụ đã đến U 80 của Tư Khanh và được lão chánh ủy này tặng cho một cái vỏ đạn cà nông Mỹ. Thế mà mụ mừng rơn, hứa sẽ đem về Tây trưng bày trong phòng khách nhà. Mụ đòi đi Củ Chi, nhưng mấy tên đầu bò R sợ mụ xuống đó bị pháo bên mụ té… ướt đất Củ C. nên chỉ cho mụ ra Mã Đà coi lính giải phóng trồng khoai lang to củ.

Tất cả những tên bất lương này đều đem ngòi bút ra phụng sự mưu đồ của một bọn cướp mà không hay. Tội nghiệp thay bọn này tới chết vẫn chưa biết mình nhầm, cái nhầm trẻ con cũng không thể phạm huống hồ là kẻ cầm bút tiêu biểu cho dư luận chính đáng trong mọi lãnh vực của nhân loại. Bọ Chét quả là tên bịp bị bọn Hà Nội bịp. Lỡ bị bịp rồi không dám nói ra sự thực, lại đi bịp người khác để đi chung xuồng bịp cho đông vui.

Mỗi lần tôi nhớ lại chuyện cô nàng quân nhu bị bọn khu ủy dùng làm quà sống tặng cho tên Bọ Chét, tôi thấy nhục cho bọn GP, nhục cho nhân loại quá. Trong những ngày hắn ở đây, quân giải phóng còn phải chở cầu tiêu “máy” cho hán ỉa, các dũng sĩ diệt Mỹ dội nước rửa cứt cho hắn, chưa đủ, bắt cả vợ giải phóng quân cho hắn giải trí.

Ở đâu trên thế giới này? Chỉ ở Việt Nam mà dưới thời nhà Hồ “chống Mỹ” thôi! Bọn nhà báo ngoại quốc vì muốn tỏ ra “hơn người” nên bịp người đã đành, bọn cầm bút lô-can trong nước cũng hùa theo bịp giống nòi của họ. Đã 30 năm qua, đến nay nhớ lại, tôi vẫn còn thấy hổ thẹn với cái kịch “Mượn Mỹ” của tên bồi Nguyễn Vũ. Tôi biết hắn từ thời kháng chiến chống Pháp. Hắn tên thật là Ngô Y Linh, mặt thỏn mỏ dơi, tóc quăn lòa xòa trước trán với một cái răng cửa khểnh. Hắn xuất thân làm ca sĩ và đặt bài hát, 8 năm trời, không khá, nhờ tập kết ra Hà Nội được cho đi học đạo diễn loại C môn kịch nói bên Tàu. Ở Hà Nội hắn viết mấy vở kịch ngắn “Vượt mức kế hoạch nhà nước”. Về Nam, hắn được dịp múa gậy vườn hoang. Vở làm cho hắn nổi tiếng như “cồn… là” vở “Mượn Mỹ”. Nội dung là đề cao láo mấy đứa dũng sĩ. Kịch rằng trong tổ có 3 nữ dũng sĩ. Danh hiệu dũng sĩ diệt Mỹ do đâu trên Rờ đặt ra để gán cho những du kích đã “giết” được 5 lính Mỹ. Tổ A có cô Xuân diệt được 5 Mỹ, cô Thu diệt được 6 Mỹ, còn cô Mai chỉ diệt được 4. Như vậy cô Mai thiếu 1, còn cô Thu lại thừa 1. Do đó cô Mai bèn “mượn” của cô Thu 1 cho đủ tiêu chuẩn 5 Mỹ. Thế là cả 3 đều đạt tiêu chuẩn và trở thành “tổ dũng sĩ”, một tập thể dũng sĩ chớ không phải một cá nhân. Đây là chuyện láo đến mức độ nghe phải mắc cỡ.

Tôi đã xem vở kịch này ở đại hội Mừng công R có Nguyễn chí Thanh đến huấn từ. Vì mới chân ướt chân ráo về Nam, chưa biết đầu cua tai nheo ra sao, nên tôi phục lăn dũng sĩ Đất Thép Thành Đồng.

Dưới thời Tám Quang, con nhà địa chủ Bình Định làm trưởng Phòng Chánh trị Quân Khu, đội dũng sĩ của Bảy Mô còn cái dáng mướt lắm! Bằng chứng là nó được trưng ra cho Bọ Chét quay phinh. Cô nào cô nấy đầu đội nón tai bèo loe chóp đỏ, vai đeo bị đạn rủ thau xanh, lưng eo ngực phồng óc nóc, làm cho tên nhà báo trợn mắt nhìn sáng hơn đèn.

Tôi cũng thầm phục các em. Nhưng khi tôi bắt đầu chỉ huy đơn vị, tôi tìm hiểu xã đội và du kích thì tôi hiểu cả. Cứ theo vở “Mượn Mỹ” thì dũng sĩ đi lùng diệt Mỹ như nông dân đi soi ếch. Mày dư tao thiếu, cho tao giật tạm 1 con nhậu chơi mai tao trả lại. Ếch mắc cặp thiếu gì ngoài đồng, chỉ việc rọi đèn chụp thôi.

Năm năm tôi trấn thủ Củ Chi, đương đầu với Mỹ trầy vi tróc vảy, cái sống treo chỉ mành, tôi không thấy một cô nào bắn được một lính Mỹ. Dù các cô có bắn được thì làm sao nhìn thấy chứ? Hàng rào của Đồng Dù không dễ tới gần. Mon men còn xa 300 m. là nó đã bắn chết không kịp ngáp rồi. Thế mà báo chí và đài GP dám bịa ra cái gọi là “vành đai thép” bao vây Đồng Dù – tác phẩm của ông địa chủ Tám Quang lẻo mép.

Tệ hại hơn nữa, một hôm tôi tập trung du kích để dạy động tác cơ bản. Bất ngờ từ cái radio bật ra vở kịch “Mượn Mỹ”. Các cô các cậu nghe lời giới thiệu Củ Chi thì lắng tai.

Chỉ một lớp ngắn, các cô bụm mặt. Một cô hỏi tôi:

– Ai “sạn dả” vậy anh Hai?

– Anh không biết!

Tôi biết chớ sao không biết tên nói phét đó ? Nhưng cảm thấy như mình có góp phần cho cái kịch, nên chối quách đi cho đỡ đen mặt.

Ba mươi năm đã qua, tôi vẫn còn ám ảnh bởi ý nghĩ: “Tội nghiệp những người lính Mỹ không thua trên trận địa mà lại thua trên mây khói, không thua kẻ địch hung ác mà lại “thua ” lũ bịp “

Mong sao nước Mỹ sẽ rửa hết cái này trong một ngày không xa. Họ sẽ lấy lại Miền Nam trả cho người quốc gia Việt Nam chân chính. Chế độ tàn bạo sẽ sụp đổ trong một tương lai gần rất gần.

Các bạn độc giả thử tưởng tượng những tên ngoại quốc ba xạo láu táu, không biết đầu cua tai nheo ra sao sau mấy ngày đi mây về gió mà đã cả gan dám hạ bút viết về cuộc chiến tranh Việt Nam. Tên nhà báo “quế tấc” không dám ở lâu trên đất Củ Chi, viện cớ còn đi thăm nhiều nơi khác. Đồng bào Phú Mỹ Hưng bịt mũi cười một trận bò càn. Họ bảo người nước nào mà lạ vậy? Mỹ không phải Mỹ, Tây không phải Tây, cái cổ có ngấn như nọng heo, bề ngang bằng bề cao, lại mặc áo bà ba lông ngực lòi ra trông gớm chết.

Còn con Bốn thì càu nhàu với Sáu Huỳnh: “Chú biểu cháu vô phục vụ sĩ quan Mỹ mình mới địch vận được. Nhưng khi gặp mặt lão già này thì cháu biết không phải Mỹ. Lão ta hôi heo, không giống mùi Mỹ. Lại… quỵt không trả tiền. Mỹ, dù là lính trơn cũng đâu có vậy! ” Sáu Huỳnh đành phải khai thiệt và an ủi suông. Con Bốn rất ấm ức nhưng không dám phàn nàn, sợ bị Sáu Huỳnh bắt phục vụ tên giáo sư Liên Xô thì mất tiền nữa.

Đó là bức hí họa về tên nhà báo Bọ Chét. Bây giờ đến gã giáo sư Liên Xô, tôi nghĩ cũng nên nhắc lại mấy nét. Vụ này cũng do Tư Linh mần thầy tuồng.

Kinh nghiệm chuyến trước quá phong phú, hắn cứ đem áp dụng cho việc đón tiếp gã giáo sư râu xồm này. Không rõ hắn có bằng cấp gì, nhưng còn trẻ hơn tên Bọ Chét. Khi hắn tới R thi R điện xuống cho Quân Khu để chuẩn bị. Không phải chuẩn bị cửa tam quan mà chuẩn bị bịp đồng chí. Ai bảo đồng chí không bịp nhau?

Lệnh của Quân Khu là dẹp hết tất cả dụng cụ y tế, quân nhu, vũ khí có nhãn hiệu Liên Xô, chi bày ra các loại hàng Trung Cộng, để vòi vĩnh ông anh cả.

Tụi Hà Nội là chúa lém, những tên Cộng Sản gà mờ Liên Xô và Đông âu đều bị chúng qua mặt cái vù. Kẻ có thể “trị” chúng là Trung Cộng không ai khác. Chúng không sợ ai bằng Trung Cộng.

Chiếc xe đạp Bờ- Rô mới toanh của ông địa chủ Trưởng Phòng Chính Trị Tám Quang được sử dụng như phương tiện chuyên chở nhà giáo sư du hành khắp Củ Chi, sang cả một phần Trảng Bàng. Một kiện tướng được chọn để làm “tài xế”, một anh khác chở một xe nước đá, cơm thịt theo sau. Tư Linh ết-coọc kiêm thông dịch trong các buổi tiếp xúc với dân chúng và bộ đội. Dân chúng đã được chỉ định trước và nhét vào mồm những câu trả lời đúng lập trường 100% dầu nhớt.

Bộ đội, cán bộ cũng được chuẩn bị trước khi gặp đồng chí Liên Xô. Anh nào nói sai một tiếng là bị kỷ luật. Nói xong phải hô khẩu hiệu:

Liên Xô thành trì cách mạng thế giới (đần độn) muôn năm!

Liên Xô lãnh đạo thế giới () muôn năm!

Công cuộc cỡi ngựa sắt xem hoa khởi đầu từ Hố Bò đi An Nhơn Tây, trở về nghỉ đêm cũng ở nhà của Bọ Chét ở trước đây. Có hầm hố, có nữ dũng sĩ đấm bóp lau chùi không sót chỗ nào. Đi ỉa có dũng sĩ dội nước, tắm có dũng sĩ pha nước ấm, đưa khăn bàng lông và xà bông thơm. Xài xong ném cho dũng sĩ. Xin hỏi nhỏ: hai em H và T đã rõ mặt Liên Xô chưa nào?

Tên giáo sư này có tư cách hơn thằng đồng chí Bọ Chét của nó. Nó không đòi nếm mùi hoa Củ Chi nhưng nó nuốt nước miếng ừng ực trước sự xuất hiện của các em lũng sĩ. Bữa ăn tối, ban tổ chức cho dọn những món ăn do Phó Ban Quân Báo Sáu Huỳnh sai nhân viên mua từ Sài Gòn đem về. Tư Linh vừa chén vừa xã giao với bộ mặt quạu đeo. Tuy quạu nhưng không dám làm gì, sợ cấp trên biết.

– Đồng chí cái Củ… gì! Mình nghèo thấy mẹ mà dám kên đánh Mỹ, nó tới là do tình đồng chí hay vì cái giống gì khác, mà mình phải phục vụ nó như cha vậy?

Hôm sau đưa hắn sang Bưng Còng xem cái quân y xá của Tám Lê – tên thật là Võ Hoàng Lê, mà mấy tên nhà báo đui gọi là nhà giải phẫu óc dưới địa đạo còn lính GP thì kêu là ông thầy Nạo. Làm sao đem được thương binh xuống đó mà giải phẫu? Người mạnh ở dưới địa 5 phút đã phát ốm, bị thương óc thì sống làm sao? Máy phát điện đem xuống địa hồi nào?

Được vinh hạnh đồng chí Liên Xô đến thăm, Tám Lê bèn cho xem tủ thuốc gồm toàn của Pháp lẫn Tàu, USA (mua trộm ở Sài Gòn) không có y cụ lẫn thuốc của Liên Xô. Dưới sự chỉ đạo láu cá của cấp trên, Tám Lê cho biểu diễn một màn cưa chân của thương binh không có thuốc tê mê, bằng cưa thợ mộc như thời kháng chiến chống Pháp, đã từng xảy ra ở một vài quân y viện và đã được báo chí ngoại quốc ca ngợi như là một việc phi thường! ? Thăng ngốc ca ngợi thăng ngu.

Tên giáo sư tỏ vẻ cảm động và hứa về trình bày tình trạng thiếu thốn trong lãnh vực quân y cho dân Liên Xô nghe. Đám lãnh tụ mừng lắm, nhưng sau đó chỉ nhận được bông băng và thuốc đỏ made in Liên Xô.

Xem xong quân y, đến lượt thăm bộ đội. Đồng chí ta trương ra những súng trường Nga đã sản xuất từ thời Nga Hoàng mà Krutchev viện trợ cho VN chống Mỹ trong lần Lê Duẩn dắt phái đoàn liếm sang Mút Cu Va hội nghị với Souslov: ăn mày được 4000 Lebell, mà lính giải phóng gọi là củi tràm lục. Súng cao hơn lính, nếu gắn ống phóng lựu vô đầu súng thì chẳng khác cây sào móc dừa, nên còn có cái tên là “oảnh tầm sào “. Coi vậy ở đất Củ Chi này cũng oai lắm! Nó có thể bắn trầy đít Mỹ từ xa 100m chớ chẳng chơi.

Để chấm dứt tấn tuồng Giải Phóng tự vạch áo cho người xem lưng, gã giáo sư kia yêu cầu thu hình một đám biểu tình. Tám Quang bèn thay đổi mở-nuy. Thay vì đến chợ An Nhơn Tây thu mấy tên Chệt già lỳ lợm còn nấn ná bán mấy tô hủ tiếu với thịt heo thịt bò bị máy bay, pháo bắn chết, ở trên cho quay phim “Chuyến tàu Giải phóng”. Thực ra là chuyến tàu đò đi từ Dầu Tiếng đến chợ An Nhơn hằng ngày. Lệnh cho du kích xuống bến Dược, chĩa “oảnh tầm sào” bắt ép chủ tàu trương cờ Xanh Đỏ lên, rồi nhà giáo sư trên bờ quay lia. Thế là lại một đoạn phim được ra đời ở Hà Nội và sau đó khắp thế giới được nếm mùi giải phóng với “3/4 – 4/5 đất đai và dân chúng đến tận cửa ngỏ Sài Gòn”. Đoạn phim của Bọ Chét trước kia trên bờ, có xe lam. Đoạn của tên giáo sư Liên Xô dưới sông: có tàu không phỏng… thì là gì?

Bọn bịp thành công về nhà sẽ phình bụng ra cười khè khè ! Nhân loại vĩ đại vô sản lẫn tư bản đều ngây thơ, dễ lừa thế?

Đau đớn cho xương máu lính Mỹ bị diễu cợt và bán rẻ vô tội vạ, cho đến nay vẫn chưa có ai ca ngợi sự hí sinh cao cả của họ. Trang sử đã dở qua còn lật lại được sao?

Bọn khỉ biết tập họp thành bầy để khuấy phá thế gian. Chuyện đó đã đành, nhưng tại sao có những thằng người lại cam tâm đi liếm… khỉ?

Bọn lãnh đạo Quân Khu coi như việc nịnh hót tên giáo sư Liên Xô để nhờ hắn xin đồ viện trợ là một chiến công to tát hơn cả việc Trần Ích Tắc và Lê chiêu Thống sang Tàu bái yết xưng thần ngày xưa.

Dĩ nhiên chúng làm lễ tiễn đưa đồng chí thật long trọng. Lại mở-nuy “o-đờ” từ nhà hàng Sài Gòn: cơm Tàu, rượu Tây, la de nước đá không thiếu một thứ nào. Bọn bầu cua cấp Quân Khu có đủ mặt. Tám Quang thay mặt Bộ Tư lệnh ca ngợi tình hữu nghị Việt Xô bằng một bài diễn văn soạn sẵn dài 8 trang peluya đánh máy nhắc đến công ơn nước Mẹ từ thời Nguyễn Ái Quốc sang Mạc Tư Khoa thụ giáo Mác Lê tới nay. Bài diễn văn được Tư Linh xem trước, nên dịch trước mặt quan khách khá trôi chảy. Mỗi quan khách được quyền vỗ tay 3 cái nhẹ, sợ pháo Đồng Dù đề-pa không nghe. Tiếp theo sau, 2 nữ dũng sĩ dâng hoa, ông đồng chí Liên Xô đưa tay nhận, mắt long lên sòng sọc nhìn vào đôi vú sữa căng phồng của các em.

Năm Cai, trưởng phòng dân quân, (chức của Lê Duẩn hồi 9 năm kháng chiến) một anh đại úy miền Bắc không biết đánh giặc, nhưng có bộ vó hùm, râu quai nón cao 1,75 mét được Tám Quang đem ra làm cây kiểng trong buổi tiệc, phá cái thể thằng lùn Việt Nam ăn mày gã khổng lồ. Hắn bước ra bắt tay anh chàng Liên Xô.

Sau đó gà quay, bồ câu hầm được đem ra xé xác và tiêu diệt một cách say mê đắm đuối. Những lời cảm ơn, cảm iếc trao qua đổi lại sủi bọt như bia 33 Ngụy, thơm như ngũ vị hương tẩm trong thịt xá xíu và da heo quay nhai dòn tan như tình vô sản toàn thế giới.

Để cho thực khách ngon miệng, đã có sẵn Văn Công khu do Năm Sang mà bọn nhà báo bất lương gọi là nhạc sĩ của giải phóng quân dưới địa đạo. Năm Sang tự tay chơi cây đờn xếp kẻo ra kéo vô nghe phòm phom như tiếng bò già rống: “Chiến sĩ ta dầm mưa dãi nắng. Rét run người nắng rướm mồ hôi “ trong lúc bọn trẻ nít con cháu liệt sĩ hát nhại theo:

“Chiến sĩ ta ngồi đâu ỉa đó,
Ỉa thối rùm, không hốt rồi la! “

Xong nhạc Tây lại đến nhạc ta: Kim Tiền, Bình Bán, Xang xừ líu.

Tên đồng chí Liên Xô nghe đờn cò đờn kìm chửi nhau, chắc sẽ bảo thầm đây là bản hòa tấu giữa Giáo điều và Xét lại do thằng em Việt Nam cải biên nghe khá bộn.

Ăn uống no say và được tung lên tận mây xanh, tên giáo sư phồng mồm đứng dậy đáp lễ: (Tư Linh dịch ra tiếng Việt xuôi rót)

“… Nước các đồng chí, mỗi bước một hạt vàng. Rất tiếc nó bi chìm ngập trong chiến tranh. Những vườn cao su non bị tàn phá vô cùng thảm khốc. Ở nước chúng tôi không có giống cây quí này, phải dùng một thứ cỏ hôi nấu lấy nước thay mủ cao su. Những lò đường các đồng chí cần phải được cải tiến. Những nữ dũng sĩ thay vì nai nịt theo lôi quân sự, AK bị đạn, thì phải cần được gởi đến trường để được đào tạo trí thức. Người ta không thể xây dụng đất nước thiếu nền tảng trí thức. Nói rõ ra là không có trí thức, không thể xây dựng được bất cứ cái gì….

Chúng tôi thay mặt nhân dân Liên Xô mong các đồng chí kết thúc chiến tranh càng sớm càng tốt. Dù là chiến tranh gì nó cũng chỉ là một kẻ phá hoại. Nhân dân Liên Xô đã biết sự tàn phá của chiến tranh trong khi chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Tiếc thay cuộc chiến tranh mà các đồng chí đang theo đuổi bằng xương rơi máu đổ ngập đất mà Củ Chi là tượng trưng, lại là một cuộc chiến tranh giữa hai miền của một dân tộc. Sau này các đồng chí sẽ ân hận vì sự phá hoại dân tộc của chính mình…”

Mặt mũi Tám Quang xám ngoẹt, nhưng Tư Linh cứ dịch thẳng ra không tránh né, mặc dù ở đây không có ai hiểu tiếng Anh một tí nào.

Còn các ông thần thừ, các chàng kiện tướng, các cô lũng sĩ thi nghe tiếng Anh hay tiếng gì thì cũng như không có nghe gì hết.

Tôi đã từng xem những bài diễn văn đăng bít 4 trang báo Nhân dân ở Hà Nội của “đồng chí” Nikita Khơ-sút-dép đọc trước nhân dân Liên Xô, hoặc trước đại hội đồng Liên Hiệp Quốc mà Trung Ương nhận định đó là tư tưởng xét lại.

Hôm nay nghe gã giáo sư này thở ra cái mùi tương tự như vậy ngay trên đất Củ Chi không biết rồi ngày mai bom đạn Mỹ sẽ gia tăng hay giảm bớt? Không biết rồi Chánh Phủ Kossygin sẽ gởi cho súng đạn tối tân hay chỉ những cây “oảnh tầm sào”?

Nên nhớ rằng cái gì xin của người ta cũng khó. Mà Hà Nội từ trước tới nay chỉ có một sản phẩm. Đó là bị gậy ăn mày. Và những lá bài bịp.

Làm trai cho đáng thân trai
Đi đâu cũng giắt bộ bài trong lưng (1)

Đó là bộ bài Bịp. Nói rõ hơn, bất cứ ngồi vào sòng nào- bạn hay thù- Hà Nội cũng chơi bài cào 4 lá. Bà con nên nhớ: đó là nghề của chúng.

Hỡi vong hồn Năm Cội, Tư Gừng, Tư Bé, Bảy Nề và những người khác của đất Củ Chi. Các em tưởng đã hi sinh tuổi thanh xuân cho “Tổ Quốc”, nào hay thể xác các em chỉ là những cọng rơm cái rác dùng lót hang sói hang chồn.

(1) Ca dao thành Hồ

Chương 111

Nói thêm về “E Mũi Nhọn” Quyết Thắng
và ông tham mưu phó mò vợ đồng chí tử sĩ

Mấy chương trước, tôi có nói về cái Trung Đoàn chủ lực của R gốc Củ Chi do Tư Nhựt chỉ huy mở màn đợt I Tổng công kích Mậu Thân. Đơn vị này, từ Bộ Chỉ Huy cho đến lính là một sự hỗn tạp, được đem ra làm vật hi sinh. Dã tâm của bọn Bắc Kỳ vô cùng nham hiểm: diệt sạch quân giải phóng gốc Dưa Leo để đưa Rau Heo vào thay thế. Sau đây tôi liệt kê toàn bộ các cán bộ “E Mũi Nhọn” làm mồi cho lửa đạn Sàigòn đợt I.

– Đứng đầu sổ là Lê Minh Nhựt, tên thật là Tư Luông- Trung đoàn trưởng. Hiện nay có tên đường Tư Luông đâu đớ ở Sàigòng. Tư Nhựt chết bỏ lại vợ và đứa con gái đỏ hói tên Thơ.

– Kế đó là Hoàng Phái, tức Hai Phái, Chánh ủy Trung Đoàn, đã gần 40 tuổi chưa vợ chỉ có toàn em nuôi. Vào Sàigòn trước tình thế nguy ngập, Phái đã đứng dậy hô to: “Đảng viên Cộng Sản tiến lên”. Và bị một phát đạn, không rõ xuất xứ, bắn gục trên đường rầy xe lửa gần Gò Vấp? (Có tin đồn lính nhà ta mất tinh thần, bắn chỉ huy).

– Tám Lệ, Phó Chánh ủy mới cưới vợ người Bình Dương chưa có con, bạn của Thiên Lôi.

– Phan Văn Xướng, Trung đoàn phó. Hồi chánh ở Hàng Xanh dắt theo cả 100 quân giải phóng, trong đó có một nhóm nhạc sĩ, ca sĩ nổi danh Hà Nội.

– Tư Chi Tham mưu trưởng E dân Bến Tre.

– Hai Tiến phụ trách hậu cần E.

– Ba Đức Dt

– Út Sương Dv.

– Năm Tân (tên cúng cơm là Năm Nín – em của Tư Nhựt – Sau khi bị thương sọ não chết hụt trở về có gặp tôi và vợ Tư Nhựt ở hầm của Bảy Ưng ăn thịt vịt cúng Tư Nhựt, được đi Cao Miên an dưỡng.)

– Hai Linh Dv.

– Mười Long – Tham mưu trưởng D

– Bảy Thành, quân y sĩ.

– Út Quang, Ct thông tin.

– Tám Tôn, Dv đặc công.

– Năm Thêm, Dv.

– Tám Bầy, Ct trinh sát.

– Chín Tống, Ct cối 81. Chắc bạn đọc còn nhớ: ông này ném súng xuống sông chạy về tới Bến Chùa bị Chín Nữa bắt trói, suýt bắn nhau, nếu không có tôi và Năm Tiều thì đã xảy ra một trận lưu huyết giữa quân ta và quân mình ngay trước cửa tổng hành dinh của ông Tư lệnh Ba Xu.

Đó là chưa tổng kết đầy đủ. Thường thường người ta giấu kín những thảm bại. Nhưng nói chung ai cũng biết Trung Đoàn Mũi Nhọn của Tư Nhựt không còn trên thế gian nữa. Những người lính dự trận này cho biết Năm Sàigòn (tức Năm Truyện) sư trưởng công trường 9, chỉ huy cánh quân chủ công cũng chết cùng hầm với Tư Nhựt ngay từ phút đầu nổ súng. Xác của Ban Chỉ huy E và Năm Truyện không tìm thấy.

Tư Nhựt chết đi thì cũng là một sự không lạ lùng gì. Đánh người ta thì người ta đánh lại chớ người ta tay cùi sao? Bởi vì:

“Cao nhân tắc hữu cao nhân trị”

Nhưng cái chết của Nhựt còn kéo dài lê thê trên chiếc áo tả tơi của vợ y và lan sang mái tóc ngây thơ của đứa con đỏ lây lất trên khắp đất Củ Chi như một vệt mây đen không tan, làm khổ không biết bao nhiêu cán bộ và lính sống sót. Rồi bây giờ đến cái chết của Năm Tiều làm cho đám cán bộ thối chí vô cùng. Trong công tác, anh nghe tôi nhiều hơn tôi nghe anh. Trong tình cảm, đối với tôi anh là một người thân, có thể gởi gấm cả tâm sự sâu kín cho nhau.

Nay anh không còn nữa. Tôi nói gì với ai? Thằng Gàu, thằng Nừng và con Thanh bây giờ bám vào đâu?

Con Thanh khóc sưng mắt. Nó tiếp tục công tác hay trở về nhà? Làm gì? Công tác với ai? Năm Tiều còn sống thì chúng đi theo nấu cơm nhởn nhơ như cán bộ, lính tráng nể ông chú không dám rấm rớ. Nay mất đi cặp mất chăm sóc của ông chú, con bé sẽ ra sao? Tôi không muốn cái chết chớp nhoáng của Năm Tiều là sự thực, nhưng mấy đứa nhỏ cứ thấp thoáng trước mặt nhắc nhớ người bạn già xấu số đã biến mất mấy hôm nay.

Ở văn phòng chuông điện cứ reo liền liền. Bảy Mô báo cáo các đội viên của cô xin về phép. Các cô tích cực nhất cũng xin đi… Đội nữ tản hàng lần thứ hai. Thần kinh các cô vốn đã nhão từ lâu với cái “vành đai thép”, thực tế là những cái hang ếch vô tích sự – do Tám Quang bịa đặt và tung lên đài Giải Phóng, họ bị ép trở lại thành lập đội nữ ghép vào đơn vị của tôi. Nay sau trận mưa pháo Tầm Lanh, thần kinh của họ lại bị tổn thương không có cách nào chữa.

Họ xin về phép, không phải là về phép mà để “thi hành” lệnh phân tán mỏng chăng?

Tôi gọi Bảy Mô lên văn phòng. Nàng chào tôi theo lối chánh qui miền Bắc.

– Em ngồi đó, chúng ta bàn công việc. – Dù trong quân ngũ có cấp bậc hẳn hơi, tôi vẫn gọi nàng bằng “em”.

Bảy Mô ngồi xếp ve như con gà té giếng mới vớt lên, tôi hỏi:

– Lâu nay em có tin gì của chị Năm không?

– Thì chỉ vẫn bán nước giải khát ngoài đó.

– Sao không thấy chỉ vô thăm em?

– Chỉ nghỉ công tác rồi anh ạ.

– Tại sao vậy?

– Em không biết!

Câu chuyện lảng xẹc, tôi muốn làm cho đầm ấm thấm thiết nhưng không thể được. Keo hồ hầu như tan rã từ bên trong. Đột nhiên tôi hỏi:

– Em tính sao?

– Tính sao gì anh?

– Cái đội nữ của em!

– Anh tính chớ em tính gì được mà tính.

– Nhưng ý kiến của em thế nào?

– Em không có ý kiến gì hết

– Chờ cái xe bò rã và đôi bò chết lăn ra hả?

Mô ngồi im thin thít. Đột nhiên nàng ôm mặt gục xuống góc bàn khóc rưng rức.

Tôi cũng thẫn thờ nghe tiếng khóc ri rỉ mà cũng không hỏi nguyên nhân.

Những kỷ niệm của tôi và nàng mấy năm qua dồn lại hẳn đầy cả lòng AK, có thể đủ cho hai đứa bắn suốt tim nhau.

Bao nhiêu lần “má vào” nhưng rồi không có gì xảy ra như dư luận bàn tán và mong ước.

Nàng vẫn khóc. Tôi vẫn ngồi. Chuông lại reo. Reo rồi dứt, rồi lại reo. Đến lần thứ mấy tôi mới bật lên:

– Bảy Ga đây!

– Ờ, có việc gì anh Bảy?

– Hai cậu c2 xin về cưới vợ.

– Quê ở đâu?

– Đồng Lớn, Sa Nhỏ.

– Vợ đâu mà cưới liền xì vậy. Mới hai cậu ở c4 bây giờ lại 2 cậu ở c2.

– Bây giờ đã thành cái dịch lây rồi ông thầy ơi!

Tôi biết nhưng không ngăn được. Tâm linh con người bị lây bịnh nhanh cũng như thể chất. Kể từ hôm Tư Bính và thằng Vàng cưới hai đứa con gái của má Bảy đến nay, đêm nào cũng có đồng bóng lên nói về tin “chiến thắng Sàigòn”. Hết Tư Nhựt, đến Hai Phái “về”. Mấy ông lớn “về” khắp lượt đến lính sanh Bắc tử Nam. Chúng xưng tên xưng họ, quê quán lạ hoắc Bắc Ninh, Hà Giang, Lạng Sơn… .ai biết đâu mà lần. Đứa thì cho biết mình đang lội dưới sông Sàigòn, đứa bảo mình mắc kẹt trong đám lá. Nói ngọng nói nghịu, đứa bị bắn bể hàm, đứa nói một lúc rồi hộc máu ra, bị đạn trúng ngực, đứa lại đứng lên cào cấu đánh nhau với chó bẹc giê sủa gâu gâu. Công an thay vì dẹp những đám này lại ngồi nghe thích thú như coi hát.

Vài nơi lại rước đoàn Văn Công của Phạm Sang tới giúp vui với cây đờn xếp kêu phù phịt phòm phom nghe chẳng khác ống bễ lò rèn.

Tôi bảo Bảy Ga:

– Ông cho mỗi đứa một tuần phép.

Bảy Ga đáp:

– Tôi cho 2 tuần, nhưng tụi nó phân bì lần trước thầy cho Sáu Lức một tháng, lại còn cho tiền, cho quà cưới. Còn tụi nó chẳng có gì cả.

Tôi đành im. Vàng bạc đồng hồ lính cướp giật ở Sàigòn bị tước tôi đã cho bạt mạng hết rồi nay còn đâu mà cho nữa. Tôi nổi nóng quát:

– Chờ đợt mới xuống Sàigòn mà lấy thêm! Chớ cách mạng đâu có sẵn của kho!

Rồi cúp máy. Thằng chỉ huy không nên giải quyết vấn đề nội bộ bằng một câu nói vô lý như vậy, nhưng còn cách nào khác?

Năm 1952-53, cuộc kháng chiến chống Pháp cũng rơi vào thoái trào như cuộc “chống Mỹ” 68-69 hôm nay, nhưng hồi đó còn dễ chịu hơn. Cán bộ và lính về nhà có gia đình yên ổn, đất đai rộng rãi, họ cầm cuốc cầm cày như nông dân, bây giờ Củ Chi hẹp té như cái lỗ mũi, bom đạn tua tủa. Về nhà cưới vợ có nghĩa là cho chỉ huy biết rằng họ sấp dắt nhau ra ấp chiến lược Lào Táo, Cây Bài, Suối Cụt chớ gì nữa !

Tôi hỏi Bảy Mô:

– Vườn Sầu Riêng “của mình” trong này ra sao?

– 6 trái pháo và một trái bom đìa chém gốc hết rồi!

Tôi thở dài. Nhớ lúc mới tới Củ Chi, tôi đến nhà nàng. Ngôi nhà ngói xưa còn nguyên. Vườn Sầu Riêng trái thơm bát ngát. Trên một chiếc cầu đá bắt ngang qua lạch nước chảy róc rách, tôi ngồi đàn măng đô cho nàng hát. Rồi chị Năm Mai đi tàu từ Dầu Tiếng xuống đổ bến An Nhơn, Bảy Mô ra đón, ẳm bé Liên về. Cả nhà ăn xôi sầu riêng và nói chuyện thân mật. Có thằng bạn địch vận của tôi nữa.

Bây giờ mỗi lần đi ngang qua đó, tôi ngó vào. Ngôi nhà đâu? Vườn sầu riêng đâu? Tôi biết mà vẫn hỏi cho có chớ chẳng lẽ ngồi im?

Tôi bảo Bảy Mô:

– Em về coi đứa nào xin đi phép thì cho. Tối đa 2 tuần.

Mô không nói gì, lạnh lùng đứng dậy bước ra không tỏ vẻ gì hết. Tôi cũng không đi theo tiễn chân mà cũng không nói thêm câu nào.

Thằng Đá rỉ tai tôi:

– Anh Hai nằm nghỉ một chút đi. Tối có họp. Em mắc võng rồi.

Tôi quay lại nhìn nó trân trân. Mặt choắt lại, tóc bù xù chằng khác ông cụ non.

– Ờ, để đó em!

Chị nó tên Mây. Hồi công tác ở Bắc giang tôi làm quen với gia đình. Tôi tưởng đã trở thành anh rể nó nhưng sau đó phải về Nam. Năm sau nó đang học nhưng cũng sung vào bộ đội đi “Giải Phóng Miền Nam”. Ông bố bị qui địa chủ với 2 sào rưỡi đất, cải tạo 3 năm được tha về với câu ghi phiếu xuất trại: “có tiến bộ, cần sự theo dõi giúp đỡ của địa phương “. Ông bảo con: vào đó tìm anh mày, nói chị mày vẫn đợi”.

Thăng Đá vào Miền Nam 2 năm mới gặp tôi trong đám âm binh do Hai Khởi nhận ở làng 13 đem về. Tôi cho nó làm trinh sát với thằng Tiến tới hôm nay.

– Em có nhận được thư nhà không Đá? – Lần đầu tiên tôi hỏi về gia đình nó.

– Em gởi ra hoài mà không có thư vào.

Tôi nhớ Mây. Thỉnh thoảng tôi đọc mấy câu thơ của Nguyễn Bính tôi thuộc hồi ở Tháp Mười:

Sông sâu nước chảy đục lờ
Nắng chiều đã xê qua bờ bên kia
Ngang trời
mây trắng bay đi
Chiều nay
mây có bay về xứ tôi.

Thăng Đá biết tình cảm tôi trong mấy câu thơ này. Nhưng nó không nói gì hết. Nó cũng không nhắc chuyện xưa. Nhưng tôi biết nó thương tôi bằng một tình thương cố níu giữ đừng cho đứt đường tơ. Tôi nằm chưa ấm lưng thì nó chạy vào:

– Có ai tìm anh!

– Ai? Em coi ai quan trọng thì hãy cho vào, không thì thôi. Anh mệt lắm.

Tôi ngỡ là đám cháu Năm Tiều. Từ hôm Năm Tiều tử nạn, chúng nó liu chiu lít chít như gà mất mẹ, không biết ăn ở đâu. Tôoi chưa quyết định. Nhận chúng vào văn phòng đơn vị, chỉ thêm cồng kềnh, thêm nhân sự chẳng biết cầm súng. Bụng nghĩ vậy nhưng lại ra cửa xem có phải chúng đến tìm tôi hay không?

Một người đàn bà bế con đi ngất nghểu giữa nắng chang chang. Tôi giật mình lùi vào trong định lánh mặt, nhưng không kịp. Người đàn bà chạy vụt vào và kêu ré lên:

– Ba con kìa Thơ? – và chìa con bé ra cho tôi.

Thôi chết rồi. Tai nạn ập đến tôi. Tôi cố né qua.

– Chị Tư đi đâu vậy?

Tôi vừa hỏi vừa nhìn mấy cây nhang cắm trên đầu tóc chị.

– Đi tìm anh chớ đi đâu!

– Chị đến chỗ đóng quân coi chừng chia dưa hấu với tụi tôi đó !

– Lâu nay anh đi đâu mất biệt?

– Tôi vẫn ở đơn vị chớ có đi đâu.

– Có anh Tư trong này không anh Hai?

Chị lại giở cái giọng khùng điên hôm nào nữa rồi. Nhưng lần này trông chị có vẻ quái dị, bộ mặt như không có hồn. Cặp mắt lơ lơ láo láo lại thêm mấy cây nhang cắm trên đầu tóc đang cháy nghi ngút, tàn nhang rơi bạc phếu nửa mái đầu. Tôi quát to:

– Anh Tư không có ở đây. Chị làm cái gì kỳ vậy?

– Tôi cúng vái anh Tư!

– Trời đất ơi! Cúng vái thì lập bàn thờ chớ sao chị lại cắm nhang trên đầu?

– Đất này còn chỗ đâu mà lập bàn thờ được! Tôi thờ chồng tôi trên đầu không tiện hơn sao?

Tôi nghe câu nói nửa đùa nửa thật mà rủn chí tơ lòng.

Nỗi đau mất chồng của người đàn bà đang độ xuân xanh khó bề dìm lấp. Cũng như cô Quyên mất chàng Trỗi. Nhưng Quyên được bác Sáu Di “chăm sóc” còn vợ Tư Nhựt thì bị bỏ bê. Chị Tư cười hềnh hệch ghê rợn:

– Anh không nhận con anh hả?

– Con Thơ là con nuôi tôi.

– Không. Nó là con anh đó. Anh Tư trối lại trước khi đi Sàigòn như vậy.

– Ờ, thì con ruột!

Chị Tư có vẻ hài lòng. Tôi bảo thăng Đá múc nước mưa cho chị uống rồi nói:

– Chị nhổ mấy cây nhang xuống cắm lên bàn thờ kia đi.

– Bàn thờ của ai vậy?

– Bàn thờ của Tư Nhựt chớ còn của ai!

– Không phải đâu. Bàn thờ Tư Nhất ở Rạch Bà Nga. Tôi cắm ké đây rồi chút nữa cắm lên mỏ ác con Thơ. – Ngưng một chút chị lại hỏi: – Anh Hai có quen với Ba Hùng không?

– Tôi có quen với rất nhiều Hùng. Hùng Cối, Hùng Mập, Hùng đen, Hùng nào?

– Thằng Châu mèo đái, quận đội trưởng Gò môn… là Ba Hùng: Châu thái Hùng

– Ờ, có quen.

– Tôi đi công tác cho bà Năm Đang, lỡ đường ghé văn phòng nó nghỉ tạm. Tôi bị nó mò.

– Vậy tôi không quen với nó.

– Anh có quen! Hồi anh với anh Tư đi xuống Trung An nó không giúp một hột gạo, đến chừng anh với anh Tư hạ bót Cây Keo, nó cho xe bò tới hôi đồ nhiều hơn ai hết. Nó đó, thằng thiếu tá ở miền Bắc về mặt chuột. Tôi tống cho nó mà đạp và báo cáo với bà Năm Đang. Bà hứa sẽ lột chức nó.

(Ăn thua chi chị Tư ơi ! Hiện giờ nó đang làm tham mưu phó Quân khu chớ có ai đám động tới nó. Huyện binh huyện, Phủ binh phủ, thời nào cũng vậy, chị không biết sao? Bà Năm Đang tố cáo nó, rốt cuộc bả bị lột chức chớ không phải nó !)

Tôi bảo chị Tư:

– Bây giờ con Thơ còn nhỏ quá. Chị nên về nhà ở với má nuôi cho nó lớn rồi sẽ tính chuyện công tác chị Tư à !

– Anh khuyên đúng lắm. Nhưng về nhà chịu không nổi anh Hai ơi ! Đi ra đi vô thấy cái bàn thờ, tôi muốn tự vận luôn cho xong. Ngặt vì không biết giao con Thơ cho ai!

Nghe câu nói tôi tưởng trái tim tôi nứt làm đôi. Chị khôn được một lúc rồi điên trở lại. Chị xỉ xỏ chửi bới: “Bây giết chồng tao rồi ăn luôn xác chồng tao”.

Chiều hay sáng hôm sau, tôi không còn nhớ rõ, tôi kêu thăng Đá và thằng Tiền đi mua nhang và giấy tiền vàng bạc. Rồi gọi Tư Quân lên cố thủ Bộ Chỉ Huy, tôi đi ra nghĩa trang viếng mả Năm Tiều.

Mới hơn mười ngày không có anh trong cuộc đời dằng dặc của Lôi mà Lôi cảm thấy vắng ngắt, buồn tênh, không biết nói chuyện gì với ai.

Nghĩa trang Ba Sòng chỉ là một bãi đất hoang nửa cao nửa thấp giáp mé ruộng lúa. Chiến sĩ chết đem về đây chôn dập, rồi thành danh nghĩa trang chớ đâu có cổng rào gì. Trâu bò vô ra tự do còn hơn người ta đi coi hát sẩm thả dàn.

“Sầu lớp lớp trên mái nhà dợn sóng!’

Câu thơ Huy Cận thuở nào dội lên đầu tôi mô tả cái bề mặt của nghĩa trang thật đúng. Những người nằm đó, lưng khom khom, cỏ mọc xanh xanh hay phơi đất màu nâu mới đắp đều mang một cái tên chung là “giải phóng quân” – mặc dù quê hương là Nam hay Bắc.

Một điều đặc biệt là không có mộ chí. Không ai biết kẻ nằm dưới kia tên gì. Ba trăm thanh niên bị pháo vùi ở Tầm Lanh chỉ đem về đây được chục rưỡi xác, còn bao nhiêu không nhặt nhạnh được hoặc được đem dập ở đâu đấy cho gần. Đâu còn dân công làm việc âm táng chu đáo như thời “Đồng khởi!”

Người dân không còn kính trọng những chiến sĩ chết trận nữa mà người ta sợ mất công, sợ bom pháo hoặc ghê tởm xác thối, khó lại gần. Bởi chết nhiều quá. Cứ đánh trận là dân công phải lôi xác về đây, kia, đó. Bầm dập, sứt tay, thiếu chân, cụt đầu. Sau trận Tân Qui do Ba Châm chỉ huy, ông già của Ba Quyết thấy thằng con bị chôn bầm dập đã vác cuốc tới bốc xác võng về chôn trong vườn nhà. Trời ơi! cái võng bọc xác con, nước chảy ròng ròng từ nghĩa địa tới Ràng, dài mấy cây số? Ai trông thấy cũng phải lắc đầu ngoảnh mặt nhưng không dám than.

Ở Củ Chi này chết dễ, sống khó, Chết coi như không.

Trời mây u ám, gió cuốn tả tơi hoa lá
Người xưa lưu dấu âm vang nỉ non trong gió
Người xưa đâu tá, có khóc những đêm lạnh lẽo
Người xưa đâu tá, có khóc những khi trời chiều.
hay là:
Đêm hôm nay người chiến sĩ thở hơi tàn
Trời u ám trăng mơ màng
Ngoài đồng vắng, dế thở than
Chiến sĩ ơi, người có biết
Người gợi lòng ta mến tiếc!

Thời kháng chiến chống Pháp, lòng yêu nước được ca ngợi. Chiến sĩ hí sinh được tôn vinh thương tiếc bằng tiếng khóc nỉ non của mẹ già em dại. Thời “chống Mỹ cứu nước”, giải phóng đi đến đâu dân sợ chạy tuột quần. Mẹ già em dại còn nước mắt nữa đâu mà khóc với than! Mà giải phóng ai mới được chứ?

Tôi đi trong kẽ giữa những nấm đất lớp mới lớp cũ của nghĩa trang không biết ông Tham mưu Phó Quân Khu nằm gần ai. Bỗng thằng Đá trỏ tay:

– Con Thanh và thằng Gàu đi lượm gạch xếp chung quanh mộ ổng kia cà !

Tôi bảo thằng Đá rút nhang và giấy vàng ra đốt.

Khói bay trộn lẫn với tro hòa vào mùi đất cay xé làm xốn mắt. Bất giác tôi quệt ngang nói, như với mình:

– Đất này cũng ấm. Thôi nằm đó nghỉ nghen chú Năm. Đời chú hết lo bom pháo, khỏe rồi đó !

Tôi nhìn quanh tìm mộ thằng Chi, chồng chưa cưới của con Chanh chết trong lần pháo kích Trung Hòa năm trước. Nhưng không tìm ra. Cỏ phủ mịt mù những nấm đất giống nhau hàng hàng, biết cái nào?

Tôi sực nhớ mộ của Chín Việt, Tiểu đoàn phó tập kết về, đánh đồn Bổ Túc trên R, chết, vợ ở ngoài thành vô trồng một cây mía lau trước mộ. Ít lâu sau mía mọc thành bụi lớn. Heo rừng tới ăn rồi ủi luôn cả mả. Bùi Khanh xách dao ra đốn về nấu với rễ tranh. Anh em lớp múc vô bi đông lớp uống cả ngày mới hết.

Tôi bảo thằng Tiền và thằng Đá:

– Mấy đứa bây mai mốt đi kiếm mía về trồng để làm dấu mộ chú Năm. Trong nghĩa trang này ổng cao cấp hơn hết!

– Còn mấy cây nhang và mấy tờ giấy, đốt luôn rồi về. Gần tới giờ pháo giã gạo chày ba rồi đó anh Hai!

– Ừ đốt mau đi rồi về. Không khéo lại nằm luôn ở đây.

Ôi Chín Việt, Tư Nhựt, Năm Tiều… bỏ vợ con ra nằm làm chi đây cho lạnh lẽo?

Đi năm sông bảy núi rốt cuộc rồi cũng vô nằm sắp lớp ở đây trẻ già trai gái, mùa thu mùa đông, cán dài cán ngắn, cán gãy cán nguyên đầu trọc đầu xồm. Buồn cười thay, ở ngoài đời thì ó rẻ, chen lấn giành giật thành tích, cấp bậc, vô đây im re có vẻ đâu lưng đấu cật đoàn kết một lòng chung quanh ông Diêm Vương.

– Không biết tới phiên mình còn chỗ hay không?

Tôi vừa quay ra thì có tiếng gọi:

– “Anh Hai” lảnh lót như tiếng quốc kêu buổi sáng có tí máu trong cổ họng đêm qua vừa khô. Tôi giật mình quay lại tưởng mình đi lạc vào thế giới Liêu Trai giữa nắng trưa.

Một con yêu nữ mặc áo trắng sẽ đem tôi về làm chồng ở một túp lều tranh gần ven suối, nuôi cho tôi ăn học đỗ tú tài rồi một hôm bỏ tôi đi tìm chồng khác.

Nhưng ở đây không có con yêu áo trắng nào cả. Một gã thanh niên chống tò, chiếc tó gọt đẽo bằng cây trâm bầu vặn vẹo. Gương mặt anh ta kỳ quái, râu ria tóc tai chơm bơm.

– Anh không nhớ em hay sao?

Tôi cứ đứng ngớ ra bất động, cặp mắt dán vào gã.

– Em là tháng Độ này.

– Độ nào?

– Trần Độ ! Hì hì! vì sợ trùng tên ông lớn, cậu em đổi ra thằng Đỏ đấy mà !

Trong một thoáng ngược về ký vãng xa xôi, tôi nhớ ra thằng Đỏ “tiểu yêu “của tôi ở H6. Nó bị pháo bắn cụt chân, đi R an dưỡng trở về Củ Chi, tôi gặp ở bến đò của tên thiếu úy chăn bò Tư Thêu năm nào, không phải lâu quá không còn nhớ, mà vì nhiều chuyện nên lẫn lộn.

– Sao em ở đây Đỏ?

– Không ở đâu được thì ở đây chớ sao anh? Mỹ nó không bắn nghĩa trang chỉ bắn chung quanh thôi. (Một cái chân lý tầm thường mà lâu nay tôi không nhận ra)”Lính” nghĩa trang không bắn nó, nên nó không bắn lại..

Thằng Đỏ nay đã 18, 19 rồi nhỏ nhê gì nữa. Hồi tôi về H6 nó mới 14, 15. Tôi chợt nhớ ra kỷ niệm xưa hỏi:

– Em không về chăn bò cho ông Ngoại sao?

– Ông Ngoại chết rồi, trâu bò không còn. Quê em bộ đội đóng bị pháo bắn không ở được nên em vô đây.

– Rồi sống bằng gì?

– Lây lất thôi anh à ! ông Tám Đột cho em 6 lít gạo tiêu chuẩn thương binh mỗi tháng để canh trâu bò đừng phá nghĩa trang. Nhưng mấy tháng nay ổng đâu mất biệt. Hôm bữa chôn chú Năm Tiều, em có gặp con Thanh, thằng Gàu. Tụi nó không có cuốc nên dập cạn xợt hè. Chó moi suýt gặm được. Em phải sửa lại.

Tôi muốn đem nó về đơn vị săn sóc, nhưng một thương binh như vậy làm sao di động với đơn vị?

– Rồi em sống làm sao, Đỏ?

Đỏ trỏ tay xuống đồng: – cá tép thiếu gì đó nhưng chân cẳng em như vầy (một bên cụt tới đầu gối, một bên mất bàn chân) lội xuống bùn lún sâu rút không lên.

Tôi nhìn thằng bé mồ côi, theo giải phóng, bây giờ lại mồ côi giải phóng không còn biết nói sao, cảm thấy nhục nhã như phản bội nó. Tôi phản bội nó, ai phản bội tôi?

– Anh có gặp chị Thu và anh Ba làm Quản lý không?

– Chết cả hai vợ chồng và đứa con trong bụng. – Ngẫm nghĩ một lúc tôi hỏi – Bây giờ mày tính sao chớ ở “canh” nghĩa trang hoài sao Đỏ?

– Em chỉ mong hòa bình để em về làm mộ cho ông ngoại em và sống ở gần quê ngoại.

Tôi móc túi đưa thằng bé 4 tờ 500.

– Cầm đi em! Tác chiến phí và tiền thương tật người ta không phát, anh cho em đó. Khi nào rỗi em mua nhang đốt cắm lên mộ Chú Năm giùm anh. Mai mốt anh bảo quản lý đem cho em một ít gạo (mục) của ông Năm Râu.

Thằng Đỏ nói:

– Trông anh già hơn hồi ở H6 cả chục tuổi.

– Ừ, hồi đó có đông anh em vui quá trời.

– Chị Thiên Lý không biết bây giờ ở đâu?

– Anh không có gặp lại.

– Còn chị gì nhà báo tập lội ở Rạch Bến Mương đâu?

Thêm vài ba câu rời rạc rồi tôi đi. Ngoảnh lại thấy cậu bé chỏi nạng khập khiểng giữa hai hàng mộ đất lúp xúp.

Cái hình ảnh đó không bao giờ phai lạt trong đầu tôi. Và câu nói đùa mà in như thật của Năm Tiêu khi chúng tôi chôn thằng Chi năm trước:

– Khóc mẹ gì! Nay mai rồi tới phiên mình.

Quả y như rằng: hôm nay tới phiên anh. Rồi… sẽ…

Chương 112

Yêu nước… hồn nhiên mà được ư?
Nhớ những ngày kháng chiến chống Pháp

Đâu khoảng 1950, tôi ra trường Lục Quân với cấp bực Trung đội phó về Cần Thơ thực tập gặp một vụ địch vận kết quá 75% phần dầu. Số là ở vùng Long Tuyền cây xanh nước ngọt, có một cái bót (tên gì quên mất) do một anh thiếu úy trẻ làm trưởng đồn. Ban địch vận tỉnh, không rõ bằng cách nào móc ngoéo được với anh chàng thiếu úy này và cho cô Lâm thị Ph. vô địch vận. Hứa rằng nếu anh chàng dâng bót cho cách mạng sẽ được vầy duyên can lệ với nàng.

Ph. là con gái của ông giáo P ở Cầu Đôi Cái Khế Cần Thơ, đẹp có học. Không rõ anh chàng yêu nàng hay “giác ngộ cách mạng” mà dâng cái bót cho Việt Minh và được sánh đôi cùng nàng Tây Thi nước Việt. Đám cưới rình rang, chúc tụng linh đình. Nhưng người buồn nhất là ông giáo E ông lo cho con gái tan nát một đời hoa.

Một chuyện: Nhân đây xin nhắc lại ba điều bốn chuyện không còn mới nhưng cũng chưa cũ: Người ta có nói về tướng Lâm văn PH. của Việt Nam Cộng Hòa. Ông PH. là anh cô Ph. Hai vợ chồng cô Ph. đi tập kết. Không còn nhớ năm nào sau khi MTGP thành lập, Hà Nội tổ chức đưa cô Ph. về Nam liên lạc với tướng PH. để làm gì đó. Trời bất dung gian đảng, cô vừa về tới Sài Gòn thì được mời… lên xe cây thay vì gặp anh ruột để “phối hợp hành động”!

Tội nghiệp hồng nhan bạc phận, ngày xưa cô đã địch vận được viên đồn trưởng, một chiến công vang lừng Miền Tây một thời. Nhưng tập kết ra bắc vợ chồng cô được đối xử như chó. Khi cần moi móc ra xài. Kết quả hay không thì cũng hết xôi rồi việc. Nay không biết cặp “oan ương” này sống chết, ở đâu?

Một chuyện: – Dương văn Nhựt và Big Minh

Nhựt em Minh. Người đen đúa, môi thâm, bộ tướng giống như Thổ lai. Nhựt không được tín nhiệm, chỉ gắn lon đại úy rồi cho ra làm công tác xây cất trại Nông Trường Lam sơn (Thanh Hóa) của F 330 Đồng văn Cống. Nghe nói Việt Cộng cũng cho Dương văn Nhựt về móc ngoéo với Big Minh hồi… nào đó.

Lại một chuyện: – Trần Thiện Liêm và Trần Thiện Kh.

Liêm gốc địa chủ gộc ở Mỹ Tho đi kháng chiến ở Đồng Tháp Mười với người anh ruột là Trần Thiện Thanh. Vì thành phần địa chủ nên không ngóc đầu lên nổi. Liêm có bằng cấp tú tài nhưng chỉ được chầu rìa tiểu văn nghệ khu. Còn Thanh trầy trật mãi không được gì hết.

Thanh, Liêm là em chú bác với thủ tướng họ Trần, nghe nói Việt Cộng có gởi Liêm về Sài Gòn gặp anh nhưng… anh đi đường anh, em đường em.

Còn một chuyện khác: Phạm Ngọc Thuần và Phạm Ngọc Thảo. Tôi không phải nói nhiều. Thảo Lé gốc gián điệp đã từng làm trưởng Ban Đặc Vụ của UBKCHC Nam Bộ hồi kháng chiến chống Pháp (1949). Sau đó làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 410 Trung đoàn Tây Đô . Thảo không đi tập kết, ở lại, Việt Cộng giàn cảnh cứu Giám mục Ngô Đình Thục. Ông lầm to nên nhận làm con nuôi. Tên gián điệp Lé được trọng dụng, có lúc làm tỉnh trưởng Kiến Hòa. Thời kỳ này Thảo thả hết tù Việt Cộng và để bãi trống cho Việt Cộng từ Bắc đổ vũ khí vào Nam bằng bãi biển Cồn Chim (Bến Tre). Sau đó tên gián điệp Thảo Lé quay lại đảo chánh ông Diệm, bất thành và bị giết.

Sau vụ cô Ph. lấy đồn, tỉnh Cần thơ “thừa thông xông lên” cũng bằng địch vận đánh bót Phán Đặng năm 1952, ở gần thị xã Cần Thơ. Móc ngoéo đâu đấy chắc chắn đàng hoàng, huyện đội Ô môn cho một trung đội võ trang đồ bén và tiểu liên MAS của Pháp. Đến giờ hẹn nội ứng bên trong xẹt đèn pin ra hiệu. Bộ đội lẻn vào cửa rào đã mở. Nhưng khi cả trung đội lọt vào thì cửa rào đóng và khóa ngay. Kết quả bị phản phê, quân ta bỏ 6 xác trong đồn, còn bao nhiêu xé rào chạy lấy người. Tôi bị 4 vít. Viên đạn xuyên cả 2 đùi. Nếu trịt qua 1 phân thì gãy xương đùi, nhích lên 5, 6 phân sẽ bể bọng đái. May nhờ một chiến sĩ cõng chạy việt dã rồi bỏ xuống ghe chèo về căn cứ, không đến đỗi cưa chân chống tó như thằng Đỏ hôm nay.

Nằm trong chiến dịch này, bộ đội bao vây mấy cái lô cốt lẻ ở Trường Thành Ba Xe, Bông Giếng trong quận Ô Môn, bắn chỉ thiên mấy phát rồi phát loa kêu gọi: – Anh em nãy buông súng quay về với Tổ Quốc.

Ở trong đồn chửi vọng ra:

Đụ mẹ Việt Minh! Chúng bay coi Tổ quốc chẳng khác Tổ Cò, chúng mày cứ theo cái Tổ chúng này đừng có kêu réo tụi tao một công!

Hôm nay nhớ câu trả lời hóm hỉnh đó, tôi bật cười. Đó chẳng qua là sự khác biệt lập trường. Những kẻ thường đem Tổ Quốc ra làm một thứ vật thiêng liêng để lòe người khác thì đó chính là những kẻ nhục mạ, bôi bác, bán rẻ Tổ Quốc. Cái mà họ gọi là Tổ Quốc thì họ xem như rác giá trị không bằng một cái tổ chim, tổ cò. Và câu trả lời của những người lính trong đồn chúng khác nào một nắm bùn ném vào mặt những tên ngoác mồm kêu gọi kẻ khác hãy quay về với Tổ Quốc. Chính chúng là những kẻ phải mở mắt ra để “thấy đường quay về với Tổ Quốc”.

Phải chăng Tổ Quốc thiêng liêng nằm trọn vẹn trong những câu hát bất hũ này: không một người Việt Nam nào không mang nặng Tổ Quốc trong lòng, khi hát:

Mùa thu rồi ngày hăm ba
Ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến
Rền khắp trời lời hoan hô
Quân Dân Nam nhịp chân tiến đến trận tiền
Thuốc súng kém chân đi không
Mà lòng người giàu lòng vì nước
Nóp với giáo mang ngang vai
Nhưng thân ta nào kém oai hùng
Cờ thắm phất phơ ngang trời sao vàng xao xuyến
Khắp nơi bưng biền.
Muôn lòng nguyện với tồ tiên
Thề giết hết quân xâm lăng
Ta đem thân ta liều cho nước
Ta đem thân ta đền ơn trước
Muôn thu sau lưu tiếng anh hào
Ngời dân Việt lắm chí cao.

Đây là bài hát Nam Bộ Kháng Chiến của nhạc sĩ Tạ Thanh Sơn sáng tác năm 1946. Người con gái của ông hiện giờ đang ở Hoa Kỳ. ông chỉ sáng tác có một bài nhưng dân tộc cảm ơn ông vô vàn về nhạc phẩm vĩ đại này. Thời kỳ ấy toàn dân trẻ già trai gái từ bưng biền đến thành thị “thét” to bài này đến vỡ lồng ngực khiến cho xe tăng tàu chiến Pháp phải lui bước xâm lăng. Người ta lầm: bên trong sao vàng có cái cán búa và cái lưỡi liềm.

Dân tộc Việt Nam cần những nhạc sĩ như Tạ Thanh Sơn, chứ đâu cần những tên nhạc sĩ vàng ôm cây đàn đỏ, làm cho âm nhạc từ đó trở thành màu cam.

Thời đó tôi là thiếu nhi cứu quốc. Nhờ có học được chút ít chữ ở trường Tây nên đâm ra say mê gương yêu nước của Jeanne D’Arc Le Petit Barbara dans les vallées de Ronceveaux. Jeanne D’Arc là một cô bé chăn cừu được một tiếng nói thiêng liêng nhắn nhủ đã đứng lên lãnh đạo khởi nghĩa đánh quân Anglosaxons giải phóng nước Pháp vào thế kỷ thứ 14. Còn cậu bé Barbara thì ra trận thổi kèn cho quân sĩ xông lên tiêu diệt quân Prussiens (tức quân Đức) vào thế kỷ thứ 18. Bị thương, cậu vẫn thổi vang những nốt nhạc cuối cùng rồi gục ngã với chiếc kèn dính máu tim cậu.

Lôi này muốn làm ]eanne D’Arc lẫn Barbara. Được lắm chứ. Ai cấm yêu nước? Tôi đã theo kháng chiến ngay từ đầu năm 1945, gia nhập ban Tuyên Truyền E 300 Dương Văn Dương của ông Mười Thìn. Năm 1946 toàn ban kéo về kinh Xáng Lý Văn Mạnh để dự lễ thành lập Trung đoàn 308 Nguyễn An Ninh do ông Huỳnh Văn Một chỉ huy. Kinh Xáng Lý Văn Mạnh đen nghẹt bộ đội: E 300 của Bảy Đậu, E 304 của Mười Trí, E 308 của ông Một, nam thanh nữ tú từ Sài Thành và các cơ quan của tỉnh Chợ Lớn v.v… đến dự. Đèn điện sáng choang, cách sân bay Tân Sơn Nhất và trường đua Phú thọ không hơn 10 cây số.

Ban Tuyên Truyền của E 300 đã nổi danh khắp vùng từ lâu vì trong đó có những nhân tài văn nghệ như anh Ú-Đa tức Năm Dân chủ gánh hát Tô Huệ từng diễn ở Sàigòn. Bảy Thiều (anh của Tám Củi và Mười Vân), Nguyễn Minh, Nguyễn Giáp kéo violon, anh Ba Từ thổi saxo, Nguyễn Hóa chơi ghi-ta Hawaienne, anh Mạnh Thường giỏi hóa trang, chuyên đóng vai cụ Hồ lên sân khấu diễn tấu bài “Bé yêu Bác Hồ “ Nguyễn Minh làm hề… Ngoài ra còn các em gái Ngọc Khánh Mỹ Linh rất xinh, hát hay và một đám trai lấy theo họ Dương (Văn Dương): Dương Văn Phùng, Dương Hoàng Mai, Dương Đình Lôi. Thằng Phạm Văn Nam, em Phạm Văn Hoàng (sau này là Phó ban Quân báo R. Thằng Nam là quân báo khu lấy tên Sáu Thanh, tôi gặp ở trạm thường trực I/4 với cháu nó là con Lan, đã kể ở một chương trước).

Ngoài ra anh Hoàng Nhụy Bích sáng tác bài “Trên sông Lòng Tào” ca ngợi chiến công đánh chìm tàu Saint Loubert Bié của Sơn Tiêu (sau này là Năm Lê Tham mưu phó QK).

Mặt tiền sân khấu căng một tấm bảng lớn: “LỄ THÀNH LẬP TRUNG ĐOÀN 308 NGUYỄN AN NINH”. Trước mặt sân khấu là kỳ đài đắp bằng đất, trên đó dựng một cột cờ bằng 2 thân cau róc vỏ sạch phết vôi chắp lại.

Người được giao cho chỉ huy lễ chào cờ là anh Năm Triệu dân Bình Xuyên, có đi lính Nhựt Bổn. Khi đi kháng chiến anh mang đôi giày bốt đen và cây gươm Nhật dài mang ở thắt lưng mũi gươm đụng cổ giày Anh cao lớn, với chiếc cổ bẹ ra như cổ bò mộng, hét một tiếng như trời gầm, cả ngàn con người ta từ đầu sân đến cuối sân đều nghe. Anh tập kết ra Bắc làm ở hãng rượu Quốc Doanh gần chợ Đuổi. Buồn tình không có đất dụng võ, chủ nhật nào anh cũng ra Bờ Hồ gây chuyện với tụi Canada và Ấn Độ để đánh lộn chơi giải sầu xa xứ. Đám bộ đội bu lại ăn có xôm lắm. Dân dạo bờ hồ tha hồ xem những pha cụp lạc còn hơn đấu kiếm cải lương.

Năm Triệu có võ Judo. Một lần anh túm nguyên con thằng Chà chóp giở hổng chân phóng xuống hồ. Tên da đen mặt trời đánh lóp ngóp bò lên văng mão sút hia, mọp lạy lia. Có lần gặp xếp Công an Bờ Hồ là đại úy Bảy Ngàn, người Bến Tre. Bảy Ngàn không bắt bớ làm khó dễ chi, lại “bủa sua” (bắt tay) và mời Năm Triệu uống bia. Và rỉ tai: “Oánh cho thấy mẹ bọn Chà chóp này giùm tôi!”

Năm Triệu nạt chào cờ. Hai Ty giơ FM Bren bằng một tay bắn pạc cú đúng 27 phát. Đạn vạch đường lửa bay về phía trường bay Phú Thọ .

Phần lễ chính thức xong, đến phần diễn kịch, đám thiếu nhi chúng tôi trổ tài trong một vở kịch cương (Hồi đó đâu có ai viết nổi kịch bản. Mặc dù vậy vẫn không nói láo theo kiểu “Mượn Mỹ” trên đài Giải Phóng để nịnh bọn lãnh tụ như Nguyễn Vũ bây giờ).

Anh Bảy Thiểu đóng vai nông dân. Anh Minh, Mạnh, Giáp, Bính làm Tây đi ruồng, mũi nhọn, tóc hung, đi đứng, la ó không khác Tây một nét nào.

Khán giả ở dưới chửi bới, ném đá lên sân khấu như căm thù Tây thiệt. Đến lớp Tây đốt nhà, khói lửa bốc lên. Súng nổ bốp bốp. (Đạn làm bằng diêm quẹt) ông chủ nhà (Bảy Thiểu) mặt mày bôi mẹc-cuya rô cờ rôm đỏ lòm từ trong buồng chạy ra ngả vật trên sân khấu. Chú Thiên Lôi con và cô bé Mỹ Linh từ hai bên cánh gà chạy ra ôm xác cha kêu khóc thảm thiết: “Ba ơi, Ba bị Tây bắn chết rồi! “

Khán giả ùn ùn đứng cả lên la hét: “Đả đảo thực dân Pháp” rầm trời. Anh Bảy bảo nhỏ: “hai đứa đừng có ủi vô ba sườn tao, nhột, tao cười bây giờ”.

Màn buông xuống. Ba cha con đứng dậy, không có ai chết cả. Còn mấy ông Tây thì chùi râu, gỡ mũi, lột tóc giả, ôm nhau cười đại thành công. Kịch chỉ có vậy mà Lôi và Mỹ Linh mấy hôm sau đi đến đâu cũng được bà con cho bánh kẹo nhét đầy túi. Hai đứa nổi tiếng là kịch sĩ khắp vùng Xóm Tiều, Thái Thiện, Bà Trau, núi Nứa, Lý Nhơn… Tiếng khen đến tai cả Trung tướng Nguyễn Bình. Ông tặng cho đội thiếu nhi mỗi đứa một bộ đồ ka ki quần vàng áo blouson nỉ xanh do thợ Sàigòn may rất đẹp.

Hồi này ông quận trưởng Việt Minh Sáu Trầm đã cưới cô Tịnh là bạn học của tôi. Sau này anh đổi tên là Sáu Huỳnh làm Phó ban quân báo khu, có tánh hài hước độc giả thường gặp ở các chương trước.

Tụi tôi có thấy Trung tướng khi ông ngồi xem kịch ở Kinh Xáng Cần Giờ. Thời kỳ này Nguyễn Văn Hoàng đưa ông từ Vườn Thơm vào Sàigòn Chợ Lớn như cơm bữa.

Cũng ở trong ban Tuyên Truyền này, chú Thiên Lôi con mọc nanh phá phách. Phá gì không phá lại phá địa lôi. Một buổi trưa, thừa lúc mấy anh lớn trong ban chỉ huy (Năm Lê) hội nghị đặt kế hoạch đánh tàu Saint Loubert Bié từ Đức Hòa lên Trảng Bàng. Hồi đó, đám con nít tụi tôi thích làm chuyện mạo hiểm nên thấy các anh lớn làm gì chúng lôi cũng rình mò lén coi, nên biết cách gài địa lôi.

Hai ông địa đã gầm lên bay hai chiếc xe nồi đồng chớ đâu có đùa. Từ đó Lôi cảm thấy mình chẳng thua gì Jeanne d’Arc và Barbara bên Pháp. Anh Sơn Tiêu không rầy rà chi hết mà lại vỗ đầu Lôi, khen: “thằng nhỏ này có khiếu quân sự! “

Ít năm sau Lôi được gởi đi học trường Lục quân Trần Quốc Tuấn ở miền Tây Nam Bộ.

…. Tôi nằm trên võng lắc lư. Nhịp võng đưa hồn về dĩ vãng. Cả một thời hồn nhiên của tuổi trẻ yêu nước mơ thành anh hùng của lịch sử.

Cái chết của Ba Xu, Năm Tiều làm tôi ngán ngẩm, lựng khựng không còn say mê công tác nữa. Tôi đang trở thành người khách lữ hành trong “chuyên xe đêm ” của Pautowski, trên đó khách đã gặp ba nàng xinh đẹp thật lòng đưa khách lên thiên đàng cùng sống cảnh đời trần tục nhưng khách đã từ chối để khi xuống xe, đi xa rồi mới tự hỏi: “không hiểu sao ta lại từ chối một viễn ảnh huy hoàng như vậy?” Và để bây giờ, khi tóc nhuộm sương thì hối tiếc!

Có lẽ tôi không nên hối tiếc như người khách kia. Vì tôi đã không từ chối một tâm tình của ai. Nhưng hoàn cảnh của tôi là nước chảy bèo trôi, đá lăn không đóng rong được. Pierre qui roule n ‘ammasse pas mousse. Và ngọn gió đa tình dù có làm rung động lòng thi sĩ cũng chỉ lướt qua chớ không đổ ở ngọn cây nào. Tôi chỉ là con ngựa chiến yên cương hàm thiếc luôn luôn mắc sẵn, chỉ cần chủ vọt lên lưng là phóng thẳng ra chiến trường. Có lúc nào được yên thân đứng trong chuồng gặm cỏ đâu! Nói chi rảnh rang mà cặp bè cặp bạn nô đùa trên đồng xanh.

Bây giờ trở thành con ngựa gì, không phải ngựa đua, không phải ngựa kéo xe mà cũng không phải con ngựa hồng thiến để dành triển lãm cho các cô xem vui mắt nữa.

Bất thần, tôi lấy bóp, móc thư gia đình ra đọc. Lá thư của ông già viết cho tôi khi tôi mới từ Bắc về Nam. Thư viết trên pơ-luya, trải bao nắng mưa bom đạn vẫn nằm trong ngăn cuối của chiếc bóp phong trần. Tôi phải nhẹ tay mới móc được lá thư và càng nhẹ tay hơn để mở ra cho khỏi rách.

Một dòng chữ viết xéo trên góc trái: “Thơ này của Ba viết cho con “.

Tôi thuộc tuồng chữ của ông già. Chữ nghiêng, thưa thưa, những chữ “g” bụng tròn, những chữ “d” chữ “h” cao thẳng chân phương theo kiểu thầy giáo, không bay bướm hoa hòe nhưng nay thấy hơi run không còn cứng cáp như xưa nữa.

Con Hai,

… tháng 7 năm 54 ba đã già yếu nên về Nhà Bè với má con lo việc gia đình. Các ông Hoàng Xuân Nhị, Ca Văn Thỉnh, Phạm Ngọc Thuần có đến yêu cầu ba đi ra Bắc, nhưng ba nói tuổi già không kham sương gió. Mấy năm trước ba có ghé Tân Châu trước khi về Sài Gòn, thăm chú Mười Hai Thiện để nói địa chỉ của Ba thì may lại bắt được thư con. Con đã về tới quê hương, Ba Má mừng như tái kiếp hồi sinh. Bà ngoại con chờ con không được nên đã qui tiên hồi 9 năm. Cậu Tám cậu Hai cũng đã mãn phần. Chỉ còn cậu Tư nay đầu đã bạc phơ. Thằng Bảy em con má sanh hồi tản cư ở nhà Bà Cả Dần chỉ còn năm chót là thi Tú tài phần II. Lệ, Tuyết em gái con đã có gia đình . Khi nào thuận tiện con cho người về rước để ba má lên gặp con. Ba má đã yếu rồi. Con có gởi thơ, nhớ cám ơn Bà Cả và chú Mười Hai Thiện..”

Dòng lệ tuôn tràn, tôi không đọc được nữa. Nước chảy mây trôi. Mới đây mà đã 20 năm. Ngẫm lại tấm thân Lê Dương đỏ cơm thùng nước chậu mà vẫn chưa thôi cái kiếp đâm thuê chém mướn cho Tổ Cuốc, Tổ Cò mà chán chê tê tái. Thắng em thứ Năm là đại úy TQLC. Anh em ra trận biết đâu tôi chẳng ngoéo cò “giết giặc lập công mừng tuổi Bác !” “Cuộc chiến tranh của các đồng chí không phải là cuộc chiến tranh chống xâm lăng như nhân dân Liên Xô chống phát xít Hít Le mà là một cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn”. Tên giáo sư Liên Xô mà nó còn biết vậy, tại sao Hà Nội không sáng mắt sáng lòng?

Thằng Đá vào đập võng:

– Anh Hai à, có người tìm.

Tôi ngồi bật dậy: Ai? Tôi đang lim dim thấy cái đầu Năm Tiều về nháy nháy một bên mắt.

Thằng Đá nói:

– Lính nào không biết.

– Bảo: tao không có nhà !

Nhưng hai cậu thanh niên đã bước qua ngạch cửa. Thằng Lẹ cận vệ của Tư Linh và một cậu nữa. (Bây giờ tôi mới nhớ ra thằng Lẹ). Tôi hỏi:

– Trà thuốc đã gùi đầy chưa? Chừng nào trở về trển?

– Dạ đầy rồi! – Thằng Lẹ đáp – Dạ dạ…

– Ở chờ đó, Tao viết cho Tư Linh một cái thơ rồi hãy đi!

Hai đứa ngồi im. Tôi lấy giấy bút ra kê trên bàn định viết nhưng thằng Lẹ đã lên tiếng:

– Anh Hai à !

Tôi nghe giọng nó hơi lạc nên nhìn nó như hỏi: “Gì nữa đây?” nhưng nó lại hỏi tôi:

– Ở dưới này còn chỗ nào không anh Hai?

– Hầm hố không còn xài được nữa. Địa cũng banh trê, từ lâu, bộ tụi bây không biết hay sao mà hỏi chỗ?

– Dạ em biết địa đâu có ! Em muốn xin anh Hai ở lại đơn vị tác chiến.

– À… à ! tôi bị bất cập không biết đáp cách nào.

Thằng Lẹ tiếp:

– Đêm hôm qua em nghe B52 lại nện đường 30 nữa anh à ! Chắc khúc Phú Bình.

– Hồi nào, sao tao không nghe?

– Dạ hồi 2, 3 giờ sáng.

– Chắc Tư Linh đã được báo trước, nó dông xa rồi !

– Nhưng tụi em không muốn về trên đó nữa.

– Bây nói gì vô kỷ luật vậy?

– Dạ cái hầm đó có ma. Đêm nào em cũng thấy ổng hiện về nhát tụi em. Ổng hét: “Nhà của tao sao bây dám chiếm”? Em có báo cáo với anh Tư nhưng ảnh bảo đó là dị đoan. Mác Xít không tin những chuyện như vậy. Rồi ảnh bỏ qua không dời điểm mà cứ ở hoài trong hầm đó.

– Còn thằng Mỹ ở đâu? – Tôi hỏi bất ngờ.

– Em không biết, nhưng từ lâu em không thấy mấy cô chia khẩu phần cho nó nữa.

Tôi hứa cho qua truông:

– Thôi, ở đó tao tính cho !

– Dạ, anh Hai tính giùm tụi em, chẳng khác cha sanh mẹ đẻ một lần nữa.

Đây cũng là một trường hợp đào ngũ chỉ khác là 2 đứa không đi Sàigòn và không đập tủ kiếng tiệm vàng hốt đồ người ta. Tôi hỏi:

– Tụi bây đi trinh sát được không?

– Dạ gì cũng được, miễn đừng về trển thì thôi.

Tôi trở lại võng nằm và bảo thằng Tiền mời Bảy Ga lên hội ý. Bảy Ga nhận cho hai đứa vô đội trinh sát. Như vậy khỏi mất lính.

Tôi định ngủ một giấc để quên sự đời, nhưng lại có người đến. Tư Bính. Tôi nói ngay:

– Nghe nói ông lên đồng linh lắm. Có “ngồi” cho tôi được một chầu không?

– Anh Hai phá tui hoài.

– Thiệt mà . Người ta hứa gả cho tôi con cháu gái. Không dè cô này đã hi sinh rồi mà người ta không hay.

– Tui biết rồi. Bà Năm Đang hứa gả cô Xuân cho anh chớ gì !

– Đâu ông “ngồi” thử xem cái số của tôi hen xui thế nào?

– Tui đâu biết “ngồi đứng” gì.

– Sao tôi nghe tin đồn rằng ông cho Tư Nhựt Hai Phái nhập xác nói linh lắm. À mà có cả Hai Lôi “về” nữa, phải không?

Tư Bính cười trông có duyên tệ không giấu được vẻ ngượng ngùng. Hắn gãi đầu gãi tai:

– Tui tương kế tựu kế với bà má để có lý do cưới con bả chớ đồng mả gì! Hì hì. Tôi cố tình che giấu, nhưng mấy đứa nhỏ cũng nhìn ra bộ chưn của tôi:

– Tôi nghe bà Năm đang phản đối má Bảy dữ lắm, rồi sao ông cũng tiến hành êm xuôi vậy?

– Áo mặc không qua khỏi đầu anh Hai ơi t Thời buổi này bả cũng sợ mấy ông mảnh ăn đêm. Lớ huớ lại cho con bả trái bầu non thì khốn. Với lại tôi đi Sàigòn về cũng có tí xủng xẻng cho cô nàng làm vốn. Tiền là tiếng nói của mọi giống người mà anh Hai! Trước kia có mấy đứa “cộp” (l) hơn tui đến rấm rớ cũng đâu có rờ được cái lông của các cổ. Tôi có nhằm gì.

Tôi cười đẩy đưa :

– Dù sao cưới được “em gái hậu phương” 18 tuổi cũng tươi đời rồi! Tôi còn thua ông xa lắm.

– Tươi gì mà tươi anh Hai ơi!

Sao vậy?

Cái miệng thăng Df bỗng nhiên méo xẹo một cách thảm hại trông vừa buồn cười vừa thương tâm.

Bính móc túi ra để trên bàn: nào giấy má nào thuốc men, giọng rưng rưng:

– Anh cất giùm em!

– Ông đi đâu mà làm vậy?

-“Em” đi Rạch Kiến. (Hình như lần đầu tiên tôi thấy hắn khóc và xưng “em” với tôi một cách nghiêm trang)

Tôi biết Rạch kiến là đâu rồi. Bên kia sông. Mỹ vừa đóng chốt. Bộ ở trên sai nó đi nhổ cái chốt này chớ gì? Đường 30 bị một trận B52 cuối năm 67. Nhánh cây gãy chọc vỡ sọ tên tướng đầu đỏ ở Long Nguyên. Sau trận bom này, từ đấy đến nay, đường 30 bị bằm ra như thịt chuột. Rồi Mỹ chốt, chúng biết con đường huyết mạch của Bộ Tư Lệnh quân khu.

Tôi hỏi:

– Ở trên cho đơn vị nào đi đánh?

– Tom góp ba thằng đi Sàigòn dội về, chớ đâu có đơn vị nào. Anh giúp em được không?

– Ông muốn gì, nếu có, tôi giúp. Nhưng súng thôi chớ không có lính.

– Trời! ông thầy nói vậy em chết còn sướng hơn!

– Lính có ở đâu cho ông! Ông giỏi thì kêu Chín Tống đi với. Tôi cho mượn đó.

– Nó ném đại liên xuống sông về tay không. Nhờ thầy cứu mạng; nếu không nó tiêu dênh rồi. Nó như gà rót còn đánh ai được nữa!

– Cầm quân ai cũng có lúc… vầy lúc khác ông Bính à. Có ông tướng nào không chiến bại?

Tôi ngồi im. Bính nhìn như muốn đoán ý nghĩ của tôi. Nghĩ quái gì. Bính là Df đi Sài gòn lại lộn về -sau Chín Vinh hai tháng – nên ở trên muốn phạt nó hay muốn cho nó lập chiến công? Trời! Chiến công gì mà đem lính cò mửa chống với quân thiện chiến? Nướng hết người Nam, giờ họ ngứa ngáy chụm luôn người Bắc chẳng gớm tay.

Bính sướt mướt nói đứt quãng:

– Em mồ côi, không biết cha mẹ, nên đi theo đảng coi như cha mẹ… Vợ em chưa có bầu… Em cố gắng kiếm một đứa con mà gấp quá, em làm sao kịp? Thôi đành cây không trái. Hai Phái kêu: “đảng viên Cộng Sản tiến lên” trước khi ngã gục. Ừ tiến thì tiến! Em tiến đây thầy Hai à!

Bính ôm tôi nức nở. Quả thật, Bính dắt 1 đại đội qua sông rồi không về Đồng Lớn, bỏ lại cô vợ mới cưới 2 tháng. Rạch Kiến ghi thêm một “chiến công”. Bác Hồ sẽ sống lâu thêm 5 năm, 10 năm, 20 năm” (2) hay lâu hơn nữa !

(l) Cộp: lấy từ tiếng giày cộp là giày da, loại giày phát cho cán từ trung cấp trở lên. Còn từ đại đội trưởng trở xuống thì mang giày bố.

(2) Lời HCM khuyến cáo “chống Mỹ cứu nước”!

—>Chương 113-114-115-116-117

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: