TỰ-VỊ THẾ-KỶ: Tình Đồng-chí

TVTK_coverTÌNH ĐỒNG-CHÍ

Câu chuyện này tôi biết hồi năm 1950
khi tôi làm phóng-viên cho báo
Tiếng Súng Kháng Địch ở khu IX,
đã ngót nửa thế-kỷ bây giờ mới có cơ-hội để viết ra.

Đứa con gái nằm trên võng đưa em miệng hát hơ hát hà không rõ câu gì, một nửa mái tóc mềm xoả xuống đất phất-phơ theo nhịp võng. Đứa nhỏ hơn thì giúp mẹ nhặt rau ngồi quay lưng lại đuôi tóc buông dài đến nửa lưng, tấm lưng tròn mũm mĩm trông dễ thương hết sức.

Trong lúc đó bà mẹ đứng bên khuôn bếp đưa tay gạt bọt trên miệng nồi cơm sôi trắng xoá như một hàm răng cười tình. Người đàn bà tóc đen nhánh, thân hình đầy-đặn, dáng-dấp trẻ-trung. Nhìn bà không ai nghĩ đứa con gái đã lớn bằng ấy tuổi là con của bà.

Nhà dưới không có vách ngăn, người đứng ngoài có thể nhìn thấy suốt tận phía sau. Đứa bé trên võng bỗng trở mình oe oe khóc. Người mẹ rời bếp bước lại. Đứa con gái đứng dậy nhường chỗ cho mẹ dỗ em. Người mẹ bảo:

– Thuần, ra coi mái giọt đầy thì đâm máng qua mái vú đi con.

Con bé bước ra hàng ba. Nó giật mình thối lui vào trong kêu oải-oải:

– Cái gì vậy? – Bà mẹ gắt.

– Có có ..a a ..người!

– Có a a người nào?

Bé Thuần trỏ tay lia lịa ra hàng ba:

– Người lạ…ạ!

Người đàn bà bế xốc đứa bé đứng lên dòm ra ngoài. Bà giật mình khi trông thấy một người đàn ông ốm o đứng co-ro dưới những hàng mưa tạt rào-rào. Người đàn ông trố mắt nhìn. Bà mẹ đang cho con bú khi vội-vàng đứng dậy không kịp cài cúc áo lại, để một mảng trắng nõn lọt vào mắt người đàn ông.

Bà vừa nâng đứa bé lên để che lại thì người đàn ông cất tiếng hỏi:

– Đây có phải là nhà ông Khương, ủa bà Khương hay không ạ?

Người đàn bà trố mắt, một tay ôm con, một tay xua lia:

– Không, không đây không có ông Khương nào hết cả.

Người đàn ông đứng ngây ra, cặp mắt chăm-chăm vào đứa bé đã thôi bú quay mặt ra nhìn ông lạ. Thằng con trai đẹp quá, chắc đã thôi nôi. Nó giống bố như đúc. Người đàn ông quay mặt nhưng vẫn đứng im.

– Gài cửa lại! Tiếng người đàn bà quát con.

Cánh cửa lá nặng-nề khép.

Một chú gà trống đứng bên góc hè, lông lá ướt mem hình thù tóp lại, cái mòng tái ngắt mất hết dáng điệu xun-xoe hăng đá nhũng lúc trời khô nắng ấm. Nó nhắm tít đôi mắt như không muốn nhìn thấy trời mưa và cái kẻ lạ mặt cũng ủ rũ như mình. Trông thật thương hại. Người đàn ông liếc nhìn con vật như một người bạn tương-tri.

Trời mưa to, gió mạnh ngọn, hạt mưa phủ giăng trắng cả mặt sông trước nhà. Những hạt mưa tạt vào vách rào-rào vô vị nghe nhức-nhối tận xương tủy.

Chú gà trống đã bỏ đi tìm chỗ trú tốt hơn để người đàn ông đứng đó một mình với mưa. Bỗng có tiếng eo-éo vọng ra:

– Ông đi đi! – Một tiếng thoát ra từ một chiếc cổ non – Má tôi bảo ông đi chỗ khác. Tôi không có cơm thừa cho ông đâu!

Người đàn ông đành bước ra mưa, cắm cúi đi.

Người mẹ không nằm võng cho con bú nữa còn hai đứa con gái thì rúc vô buồng bàn tán với nhau. Chúng vừa sợ lại vừa vui. Con Thuần chạy ra hé mắt dòm rồi chạy vô nói với em nó:

– Thằng chả đi mất rồi.

– Để em ra coi.- Con em liếng-thoắng chạy ra rồi trở vào – Ờ, ổng đi mất rồi.

Hai đứa chạy ra cùng reo lên:

– Ông gì ổng đi mất rồi má ơi!

Nhưng chúng chợt nhận thấy nước mắt chảy ròng-ròng trên mặt má chúng:

– Gì má khóc vậy má?

– Ờ..ờ… – Người đàn bà vội quệt ngang- Khói bếp cay chớ đâu có gì.

Con Thuần ẵm em cho mẹ coi cơm. Nó đem thằng bé ra ngồi ở thềm nhìn những bong bóng nổi lên mặt sân ngập nước. Thằng bé oằn người đòi xuống vọc nước bị chị kềm cứng và nhát bâng-quơ:

– Ý ông kẹ, ông kẹ kia kìa, đừng có xuống, ổng ăn thịt.

Thằng bé khóc ré lên và lại đòi xuống. Con Thuần ẵm em chạy thoắt vô nhà. Bỗng nó nghe tiếng chân lội lỏm-bỏm trên sân. Nó quay lại:

– Thằng cha hồi nãy trở lại má ơi!

Người đàn bà đứng tần-ngần mắt ngó đăm-đăm ra sân. Trời lạnh. Tiếng trời gầm đã dứt nhưng trong tai vẫn còn nghe rền-rền. Chẳng lẽ người lạ biết đây là nhà bà nên nói trúng tên bà? Chồng bà bị bắt vì có dính dáng tới vụ treo cờ treo quạt gì ở chợ hồi năm trước. Đó chỉ là một sự hồ-nghi tầm bậy, một vụ bắt lầm thôi chứ chồng bà là người làm ăn đâu có biết cờ đỏ, cờ xanh gì. Con Thuần chạy vô quên đóng cửa nên bà nhìn thấy người lạ đứng trên thềm nhà, mình mẩy ướt đẫm đang run.

– Coi chừng lính kín giả dạng – Bà nghĩ thầm – Nhưng chắc không phải đâu, người này ốm-o rách-rưới lại có vẻ bịnh-hoạn nữa.

-Thằng cha ăn mày má ơi! Má cho nó chén cơm nó đi luôn! – Con Thuần giục.

Bỗng con em reo lên:

– Cái gì nè má ơi! – rồi chạy lại đưa cho má nó! – Chắc thằng chả quăng vô đây!

Người đàn bà cầm lấy. Đó là chiếc nhẫn bằng xương. Người đàn bà rụng-rời hết cả tay chân. Nước mắt bà lại chảy. Hai đứa con gái đừng tần-ngần không hiểu chuyện gì. Người đàn bà bồng lấy đứa bé và bảo con gái:

– Kêu ổng vô đây! Ý mà hổng được! Nè Thuần, nãy giờ ổng đứng ngoài thềm có ai đi qua ngó thấy không?

– Chắc trời mưa không có ai đi ngang qua đây đâu má!

– Con ra dắt ổng đi vòng bên hiên rồi đưa ổng ra sau chòi để củi của mình.

Người đàn ông nghe lỏm-bỏm tiếng bàn tán trong nhà. Bỗng đứa con gái bước ra. Nó bảo đi theo nó ra vườn.

Con Thuần đưa người lạ mặt ra sau vườn, sắp trở vô thì anh ta bảo:

– Cháu vô nói với má cháu đi ra đây bác nói chuyện.

– Má tôi đâu có quen với ông.

– Má cháu không quen nhưng ba cháu quen!

Phải, người đàn ông là bạn tù, là đồng-chí của ba bé Thuần. Anh ta tên Hoàng Điếc. Hoàng Điếc trốn chui trốn nhủi cực như con chó mới mò vể đến đây. Hoàng Điếc phải cải-trang bằng đủ cách để lọt qua những bến bắc là nơi có lính áo vàng lởn-vởn và xét giấy rất ngặt. Trải qua mấy tuần-lễ ròng-rã, Hoàng Điếc mới về tới quê của đồng-chí là Nguyễn-tấn-Khương.

Hoàng Điếc vượt được khám là nhờ Khương – Khương to con, cao giò – cũng còn gọi là Khương Giò, nên đủ sức công-kênh hai người trên vai để trèo tường. Trong một chớp nhoáng, Hoàng Điếc, chỉ bằng một tấm bố tời, đã vọt qua đầu tường đầy mảnh chai và hai lớp giây chì gai . Anh em đồng-chí trong tù tổ chức cho Hoàng Điếc vượt ngục để thông-báo cho bên ngoài những tin-tức quan-trọng. Nhân đó, Khương Giò nhờ Hoàng tìm về quê thăm giùm bà vợ , lúc Khương bị bắt thì mới mang bầu. Khương đã có hai đứa con gái cho nên kỳ này hi-vọng được đứa con trai để nối chí cha.

Khương là ân-nhân của Hoàng. Đảng giảng chủ-nghĩa nhiều hơn dạy điều nhân-nghĩa trong tù. Tuy vậy Khương đã hai lần tự động đỡ đòn cho Hoàng. Một lần Khương nằm phủ người Hoàng để nhận những cú ma-trắc như mưa nhưng còn hở cái đầu nên Hoàng bị một phát vào thái-dương làm hỏng một bên tai. Lần sau đó, Hoàng lén kẻ khẩu-hiệu dưới sàn khám bằng hòn gạch nhỏ giấu trong lưng quần khi đi làm khổ-sai bên ngoài về. Tên chúa ngục gom tất cả tù, gạn hỏi và doạ nếu không đưa tội-phạm ra, hắn sẽ phơi nắng tất cả một ngày. Khương bước khỏi hàng nhận tội thay cho Hoàng.

Bởi thế lần này Hoàng về thăm gia-đình giùm Khưong là một cách trả ơn đồng-chí. Lọt về nông-thôn thì dễ thở hơn, nhưng ngặt một điều là tiếng nói trọ-trẹ của Hoàng muốn giấu cũng không được. Cho nên Hoàng cố giữa cho mình ít nói. Đã điếc bây giờ lại câm.

Hoàng đứng rất lâu, co-ro, run run, bụng đói, lòng buồn, hết dòm chú gà trống hay hay lại ngó mưa, rồi lại nhìn lên vào trong nhà với sự thèm khát một khung cảnh ấm êm. Bị xua đuổi tưởng đã hết phương, nào ngờ sau rủi đến may, mưa xong lại nắng.

Chú gà trống đã tươi tỉnh trở lại với cái mòng đỏ chói. Chú ta nhảy lên đống củi cất tiếng gáy vang. Một thím mái tơ ở đâu dắt một bầy con chạy tới. Bầy con liu-chiu lít-chít vây quanh để ăn trùn dế của mẹ đang bươi.

Chú gà trống nhảy xuống đất tìm mồi, được một con trùn, chú ta mổ nhưng không ăn, để cho thím gà mái và lũ con đến chia nhau.

Hoàng đứng nhìn cái cảnh-tượng hạnh-phúc mà ngẩn-ngơ lòng. Cái cảnh trần-tục hèn-mọn này sao mà thần tiên thế? Nó như trêu nhà cách-mạng đang đi tìm thiên-đàng. Chợt thấy chiếc võng lác cũ thủng đít và bằng giây chuối khô mắc ở rìa chòi để củi Hoàng ngồi lên cho đỡ mệt. Chiếc võng đong đưa, cái chòi cũng rung theo võng như cuộc đời cách-mạng bấp-bênh của anh ta vậy. Nhưng ít nhất đêm nay ta được nương thân nơi cái tổ ấm này. Hoàng Điếc định ngả lưng thì thấy người đàn bà đội chiếc lá, tay xách con dao phay xăm-xăm đi ra. Bà ta có vẻ như đi vườn đốn cây:

– Nhà tôi còn sống hả ông?

– Ừ..ừ…

Hai bên ngỡ-ngàng nhìn nhau giây phút rồi Hoàng Điếc kể vắn tắt chuyện trong tù và tình-nghĩa riêng, tình đồng-chí chung lý-tưởng giữa Khương và Hoàng. Hoàng nói tiếp:

– Anh ấy đưa cho tôi chiếc cà-rá bằng xương để làm tin nếu chị không nhận tôi là bạn tù của anh ấy.

– Ừ, chiếc cà-rá của nhà tôi – Bà Khương rưng rưng nước mắt và nghẹn-ngào.

– Người sống đống vàng chị à. Ảnh còn sống là còn có ngày vê.

Hai bờ sông cách trở bỗng nhiên trở thành gần gũi bằng cái gạch nối vô hình. Có tật điếc, nên Hoàng nói hơi to, vì tưởng ai cũng điếc như mình, làm bà Khưong sợ hãi. Bà ngó quanh ngó quất . Bà có cảm-giác là mấy người tuần-phu trong làng rình-rập nãy giờ ở đâu đây, nên bà vội-vã đi vào nhưng Hoàng gọi giật lại:

– Anh ấy dặn tôi về nếu gặp chị thì bảo chị đặt tên cho con là Chung nếu trai, còn con gái thì Thủy.

– Tôi đặt tên cho nó rồi! – Vừa quay chạy đi, bà vừa nói.

Hoàng Điếc ngẩn-ngơ, Hoàng nằm trên võng. Cái võng không lắc-lư nhưng sao Hoàng nghe như mình bị một bàn tay nào đưa qua đưa lại làm choáng-váng cả mặt mày.

Hoàng suy nghĩ dữ lắm, nhưng không biết suy nghĩ chuyện gì. Hoàng không cắm được chiếc thuyền bồng-bềnh chao đảo của lòng mình vào một bến bờ nào. Hoàng để cho nó lướt đi bay như chiếc lá con trôi theo biển gió vô biên.

Vừa lúc Hoàng sắp lịm trong cơn đói mệt thì đứa bé gái lúc nãy trở ra với tộ cơm trên tay và manh chiếu cặp nách.

– Má tôi biểu ông ăn đi rồi leo vô đống củi nằm đừng có ở ngoài người ta ngó thấy – Nói vậy rồi nó vứt manh chiếu xuống đất, đưa tộ cơm cho người lạ.

Hoàng nhìn đứa bé. Nó giống mẹ hơn cha. Gái giống cha giàu ba họ, trai giống mẹ khó ba đời. Lớn lên chắc nó sẽ đẹp lắm đây!

Vừa mới nghĩ tới đó thì một đứa bé khác đi ra, tay bưng tộ canh tay cầm đũa muỗng.

– “Canh-dzì-thế-chấu?” – Lối phát âm của Hoàng làm hai đứa bé cười khúc-khích. – Cháu có nhớ bố không?

– Bố gì mà nhớ!

– À, bố là ba ấy mà! Cháu có nhớ ba cháu không?

– Nhớ! Ba cháu đi mần ăn xa lâu về quá! – Con Thuần nói – Đi hồi em bé cháu chưa sanh bây giờ em cháu hơn tuổi mà chưa về.

– Ừ nay mai ba cháu sẽ “uề”.- Cách phát âm của Hoàng lại làm hai đứa bé che miệng cười.

Chúng vừa đi vừa quay lại ngó người lạ mặt mà cười với nhau, bỏ người đàn ông ở lại một mình rơi tỏm trong không-khí cô-đơn dày đặc. Nhai nuốt ngấu-nghiến xong chỗ thức ăn, Hoàng đút hai cái tô và đũa muỗng vào đống củi rồi dọn dẹp những mớ củi dừa, tàu cau khô lấy một khoảng trống. Hoàng trải manh chiếu vào giữa bốn bức tường củi và nằm lên như một chiếc giường thần tiên với cảm tưởng sẽ được che chở khỏi mắt bọn tuần-phu.

Hoàng muốn ngủ một giấc ngon lành mặc kệ tất cả sự đời, sau một thời-gian len-lỏi nhọc-nhằn – nhưng Hoàng không ngủ được. Hoàng nghe tiếng buông rơi từ mái chòi dột nát những giọt nước còn đọng lại sau trận mưa. Những giọt mưa hiếm-hoi sao mà tràn cả lòng người tù xa xứ. Tiếng reo cười của mấy cô bé con làm Hoàng nhớ một thời không xa lắm. Hoàng cũng có con, có vợ, có một mái nhà gianh, có ổ rơm, có một cái kiềng ba chân trên đó một nồi cơm sôi bọt trắng hay một trách cá mặn nồng.

Bây giờ tất cả đều xa, đều không với tới nữa. Đường đi thông thương, nhà thì chắc còn đó nhưng người thì không về được. Hoàng bị nhà nước tầm-nã có hình treo ở các trạm canh.

Nếu không có Khương công-kênh cho Hoàng leo qua đầu tường thì Hoàng sẽ bị đưa đi Côn-Đảo, sẽ hết đường về, cánh-mạng sẽ … mất đi một chiến-sĩ.

… Hoàng thức dậy lúc trời hừng đông. Hoàng muốn cất bước ra đi nhưng cái hơi chiếu ấm níu Hoàng lại. Chiếc chiếu rách và có mùi nước đái khai ngon lành của trẻ con. Thằng bé Chung đã tè trên manh chiếu.

Hoàng thấy khỏe hơn hôm qua nhiều. Chưa bao giờ Hoàng được ngủ một giấc đã đời đến thế.

Còn tộ canh nữa. Canh mướp hương nấu với tép rong giã nhỏ. Mùi tép và mùi mướp quyện lấy nhau. Ăn với cơm trắng thật ngon. Phải có được vài quả cà muối thêm vào thì tuyệt.

Hoàng tự cho mình còn yếu nên cứ nằm lại. Cách-mạng đường dài, không vội chi. Vả lại lúc này bọn lính và hội-tề canh xét gắt lắm, không khéo vừa được tự-do lại trở vào khám. Hấp-tấp chỉ hại cho cách-mạng thôi.

Trưa hôm đó Hoàng lại được ăn bữa cơm thứ hai. Rồi chiều đến bà Khương vẫn tiếp-tế cho Hoàng nhưng với một đoàn công-voa đặc-biệt vui mắt làm Hoàng hết sức cảm-động. Thằng bé con ngồi trên chiếc mo cau, hai tay kèm chặt cái cổ mo để khỏi té, con Thuần tay bưng tộ cơm tay nắm cái cọng tàu cau lôi xềnh-xệch. Thằng bé con cười thích-thú vì được chị cho đi “xe hơi”, trong lúc cô chị kia đi sát phía sau tay bưng đĩa cá kho, tay thì phòng hờ hễ vị hành-khách hơi nghiêng ngã thì đỡ lấy. Hoàng ngắm chúng từ xa đi tới với một ý-nghĩ lạ-lùng: “giá chúng là con mình!”. Khi “chiếc xe” gần đến nơi thì bỗng tiếng khóc ré lên. Chiếc xe lướt qua một cái rễ cây gồ-ghề làm chú bé lật ngang. Cả chị lớn lẫn chị bé hoảng-hồn buông cả thức ăn chặy lại đỡ em lên. Hoàng thấy đó như là cái tội của mình, nên vội-vã bước ra khỏi bức thành củi bế lấy đứa bé, trong lúc hai chị em ngồi xuống hốt cơm cá vào tộ đĩa. Bà Khương ở trong nhà có lẽ nghe tiếng trẻ khóc nên bươn-bả chạy ra.

Thằng bé bị té đau hết hồn lại bị ông nào lạ hoắc bế nên trông thấy mẹ nó càng tủi thân khóc ré lên. Hoàng chẳng biết dỗ con nít xứ này bằng cách nào, vả lại Hoàng sợ nó nghe giọng người lạ lại càng thét to hơn thì mang hoạ.

Bà Khương đưa tay ra nhận con từ Hoàng. Hoàng đụng vào ngực người đàn bà bằng một cử-chỉ vô tình như chồng trao con cho vợ. Bà Khương bảo hai đứa bé:

– Đi vô nhà xúc cơm khác, con! – rồi bế thằng bé thẳng vào nhà.

Hoàng đứng nhìn theo mút mắt. Một cuộn tơ rối tung xoay tít trong đầu nhưng Hoàng đã chặn lại ngay.

Sáng hôm sau, người tù ăn bữa cơm con Thuần đem ra trong cái thúng rách, theo lời bà Khương bảo, giả đò như đi quơ củi để người ta không biết. Ăn xong Hoàng bảo:

– Bác sắp đi, cháu bảo má cháu ra cho bác nói chuyện chút.

Bà Khương bồng thằng bé đi ra chòi, đứng bên ngoài. Hoàng ở trong bốn bức tường củi mà Hoàng đã tự xây cho mình để tránh mọi sự xoi bói từ bên ngoài, và đó cũng còn có nghĩa là những bức tường để nhốt chặt những ý-nghĩ vẩn-vơ. Hoàng vẫn đứng trong đó nhưng cho tiếng nói vượt qua những kẽ hở. Trên đời này không có thứ thành quách nào không có kẽ hở huống chi bức thành tình-cảm mà mình tự xây cho mình và cũng chính mình biết những kẽ hở của nó để chui ra, để lủi vào.

Hoàng nói với giọng run run:

– Tôi với anh Khương là đồng-chí, sinh tử có nhau. Ảnh đã đỡ đòn cho tôi nhiều lần, nếu không tôi đã chết. Mấy lúc sau này bị tra-tấn nên ảnh yếu lắm chị ạ. Ảnh bảo tôi về tìm cho được chị để nói cho chị hay nhưng tôi ngại quá, tôi sợ nói ra làm chị buồn – Hoàng ngưng và nhìn qua kẽ hở, thấy mặt bà Khương nước mắt đầm-đìa thì tiếp – Bọn cai ngục tra-tấn ác lắm. Ngoài những cực-hình thường xuyên như “máy bay tàu lặn” chúng còn buộc điện vào đầu ngón tay ngón chân rồi quay cho ảnh chết dở sống dở , nhưng đã thôi đâu, chúng còn buộc vào đầu cái duy-vật mà quay nữa. Bây giờ cái của ảnh hỏng mất rồi. Mỗi lần ảnh đi tiểu ảnh rên la quá tay!

– Cái duy-vật là cái gì vậy ông?

– Là cái nhờ đó mà đàn bà mới có con – Hoàng nói tiếp ngay – Nói trắng ra thì nghe kỳ quá nên chúng tôi nói trại ra như thế cho thanh-tao hơn. Ảnh dặn tôi thuật rõ cho chị nghe việc này và bảo chị đi lấy chồng làm ăn để nuôi mấy đứa nhỏ lớn lên nối chí ảnh. Thôi, chào chị, tôi đã làm xong lời dặn của ảnh, tôi đi đây. Cách-mạng nặng-nề, khó nhọc không biết tôi có còn trở lại thăm chị và các cháu được không, không biết tôi có còn gặp lại ảnh nữa trên đời hay chỉ ở dưới suối vàng – Hoàng nghẹn ngang – Thôi chào chị, tôi đi đây!

Bà Khương nghe như cả lời nói lẫn hơi thở chạm vành tai mình.

Tuy nói vậy mà Hoàng chưa đi, Hoàng ngó ra phía cuối vườn, thấy đồng trống mênh-mông mà ngao-ngán.

… Một hôm bé Thuần ra lấy củi vào nhà cho má nấu cơm thì gặp một người đàn ông nằm ngáy pho-pho trong cái ổ cũ trên chiếc chiếu vẫn còn bỏ đó đến nay chưa lấy vô. Thuần chạy vào kêu má. Bà Khương ra vườn và nhận người đó là Hoàng. Sau một hồi nói về công-tác, Hoàng kể lể câu chuyện trong tù bằng một giọng thật lâm-ly:

– Anh Khương đã bị đày ra Côn-Đảo rồi chị ạ. Sau khi tôi trốn thoát, ảnh lại công-kênh cho mấy anh em vượt tường nữa. Bọn cai ngục tìm ra ảnh là người chủ mưu, chúng bèn đánh ảnh kịch-liệt và cho ảnh đi Côn-Đảo với án chung-thân. Như vậy là ảnh sống cũng chẳng có ngày về. Nhờ anh em khôn ngoan nên ảnh viết cho chị mấy chữ này và nhờ một bàn tay bí-mật chuyển ra ngoài tới tay tôi.

Bà Khương nhe lời ông bạn của chồng kể, tưởng trời sập trên đầu, đất sụp dưới chân cùng một lúc. Bà đứng lặng ngắt lặng thinh hồi lâu rồi gục vào cọc chòi mà nức-nở.

Hoàng hiểu nỗi đau của người đàn bà xa chồng – xa trong trường-hợp này cũng còn có nghĩa là mất. Hoàng đứng im nhìn đôi vai tròn trặn và mảng gáy trắng núp dưới mớ tóc đen run run. Tội nghiệp quá, bà ta đi mới có non nửa đường đời. Còn một nửa ai dắt ai nâng?

Hoàng vụt bước ra khỏi bốn bức tường, nói như ru vào tai người vợ đồng-chí mình:

– Tôi đi nhé. Không biết có còn trở lại thăm chị và các cháu lần nào nữa không? Cách-mạng nặng-nề và khó nhọc, sống chết không biết ngày nào. Vậy chị nên nhớ lời ảnh nuôi các cháu lớn lên nối chí cha. Tôi dù có xuống suối vàng gặp ảnh cũng mát dạ. Bởi vì tôi đã đem được lời ảnh dặn về đến tay chị.

Nói đến đây Hoàng móc trong lưng ra một lọn giấy từ từ mở ra và đưa tận mắt bà Khương bảo:

– Chị đọc đi cho rõ bụng ảnh. Ảnh thật là một con người cách-mạng. Bài học Duy-vật biện-chứng trong tù chúng tôi học, được ảnh làm theo ngay.

Bà Khương mở mắt liếc nhìn những chữ lằng-ngoằng trên mảnh giấy nát nhàu. Bà quệt nước mắt và cố đọc. Nhưng bỗng bà la lên và phủi mẩu giấy văng xuống đất, giận dữ:

– Đâu phải tuồng chữ của chồng tôi. Ủa, mà chồng tôi đâu có….

Hoàng bình-tĩnh nói như đã chuẩn-bị tinh-thần từ hồi nào:

– Chị có tin tôi là đồng-chí đồng sanh đồng tử của ảnh không? Chẳng lẽ tôi trốn tránh tụi tuần-phu lính cò để mang về đây cho chị tấm giấy không phải của ảnh? Chị nghe này, chị không ở tù nên không biết. Ở trong đó viết một chữ cũng khó nữa là cả một cái thư. Tôi giảng bài cho anh em toàn bằng tuồng bụng, không có mẩu giấy một mẩu bút chì trong tay. Lúc sắp bị đưa ra Côn-Đảo thì tù đều bị chúng nó nhốt hầm tối không ai dám bén mảng lại gần. Mảnh giấy này mà ra được tới đây có mấy chữ cho chị đọc là quí lắm. Biết chữ hay không biết chữ cũng bị cùm tay, không ai viết được. Ảnh nói chuyền miệng cho anh em ở ngoài ghi lại, chứ ở trong hầm tối làm sao mà viết thư được. Rồi anh em phải ngậm trong miệng hoặc nhét trong đít thì mới đem ra khỏi khám được chớ không phải dễ-dàng đâu. Nếu chị không tin thì tùy chị. Nhiệm-vụ của tôi đối với ảnh tới đây coi như đã hết. Chào chị, tôi đi đây!

Nói xong Hoàng quay đi.

Khi bà Khương ngẩng lên nhìn thì thấy Hoàng đã đi xa. Bà tất-tả chạy theo kêu réo om sòm, nhưng Hoàng Điếc cứ lầm lủi đi . Hoàng đi về phía cuối vườn và ra đồng. Hoàng giận vì bị nghi ngờ tình đồng-chí thiêng-liêng. Mặc cho người vợ đồng-chí lạch-bạch chạy theo sau, Hoàng bỏ đi thẳng không ngó lại.

Bà Khương đành trở vào nhặt mẩu giấy con lên nhưng bà đâu có đọc được. Bà gọi con Thuần ra bảo nó đọc. Nó vừa đọc vừa đánh vần từng chữ:

Má con Thuần. Tôi không sống được. Bà lấy chồng làm ăn nuôi con. Lựa người trong đồng-chí của tôi để con nối chí cha. N.T.Kh”

Bà Khương vò mẩu giấy trong tay mà tưởng đã bóp nát cả tim mình. Thôi thế là hết. Mẹ goá con côi. Đoạn-trường nào hơn.

Nhưng ông Trời có mắt. Ổng không để cho ai phải khổ đến chết. Ổng ra tay cứu độ những người ngất-ngư.

Hoàng Điếc giận dỗi bỏ đi được ít lâu thì bỗng một hôm vào lúc nửa đêm bà Khương đang ngủ nghe tiếng đập cửa rầm-rầm.

– Chị làm ơn cứu tôi! Hoàng, Hoàng đây!

Bà Khương hồn vía lên mây chạy ra mở cửa. Hoàng phóng càn vào và tuôn vô buồng nằm lăn lên giường lấy mền trùm lại.

– Ông làm gì kỳ vậy? – Bà Hoàng thét lên và đứng tần-ngần giữa đêm tối không biết chuyện kỳ-cục gì đang xảy ra cho bà.

– Lính cò rượt tôi. Chị mau vô đây…!!

– Ông chạy ra chòi củi, chớ sao vô buồng tôi? – Bà Khương run lẩy-bẩy, la.

– Chòi củi tụi nó biết rồi. Chị vô đây cứu tôi. Mau… !! Tôi chết mất!

Một cánh tay níu lôi bà Khương vô buồng quật lên giường rồi một giọng thều-thào:

– Mình làm vợ chồng giả để qua mặt tụi nó!

– Không đâu! – Bà Khương chòi đạp vùng dậy – Ông đi ra ngay!

Nhưng Hoàng lại ôm bà đè xuống và nói tiếp:

– Tôi bơi xuồng, tụi nó đuổi theo cũng bằng xuồng. Thế nào lát nữa nó cũng tìm thấy xuồng tôi đậu dưới gốc cây gừa, nó sẽ theo dấu chân tôi lên đây.

– Tôi hổng biết. Ông đi ra… – Bà Khương vừa kêu vừa gỡ tay người đàn ông.

– Tình đồng-chí thiêng-liêng mà. Ảnh dám liều chết hai ba lần cứu tôi mà chị. Nếu chị không chịu thế nào tôi cũng bị bắt, ảnh sẽ buồn giận chị lắm. Đó, hình như có tiếng dầm khua nước. Tụi nó tới rôi. Mau đi chị!!

– Mau cái gì! – Bà Khương vùng-vẫy la hét.

– Mình làm vợ chồng mà, vợ chồng giả thôi.. Đâu phải thiệt mà chị ngại – Hoàng vừa nói vừa đưa tay hoạt-động hơi mạnh bạo- nhưng mà dù có thiệt cũng không sao, ảnh đã hi-sinh rồi. Các đồng-chí ở ngoài Côn-Đảo thả bè về kể lại cho tôi hay nhưng tôi không dám báo tin cho chị, tôi sợ chị đa…đau khổ…ổ ổ ổ!

Bà Khương nghe nói rụng rời tay chân. Người đồng-chí của chồng bà vốn đã từng giảng duy-vật biện-chứng nên áp-dụng nó ngay trên thân thể một người đàn bà trẻ tuổi sung sức và xa chồng lâu ngày.

– Đây nè.. Hồi tôi bị đòn.. trong khám ảnh cũng hi-sinh ôm trùm lấy tôi đè lên tôi… như vầy để đỡ đòn cho tôi. Nay ảnh chết rồi tôi vẫn còn mang ơn.

Người đàn bà nghiến răng cố chống trả nhưng hình như bà ta thấy bà không có lý lẽ gì để cưỡng lại với tình đồng-chí thiêng-liêng quá nặng đang ập lên bà. Và thế là vợ chồng giả trở thành vợ chồng thiệt trước khi lính tới, lính không thấy tới hoặc không bao giờ tới.

o O o

Bông điệp nở đỏ hai bờ sông. Trường thiếu-sinh-quân đầu tiên của chiến-khu nằm ở ven rừng U-Minh. Cổng chính của dãy trường ngó ra bờ sông chỗ mấy cội điệp đang nghiêng mình trên mặt nước.

Bữa nay trường làm lễ khai-mạc khoá đầu tiên. Xuồng ghe tấp-nập lớp đang chèo tới, lớp đã đậu san-sát trên bến.

Cách-mạng đã thành-công. Trên bầu trời độc-lập tự-do, én nhạn bay lượn thảnh thơi. Biết bao nhiêu liệt-sĩ anh-hùng đã mạng vong vì nước. Để tưởng-lệ công-lao của họ, cách-mạng đã dựng nên dãy trường này để dành cho con cháu của họ một cơ-hội tốt đi theo con đường của cha chú.

Những đội thiếu-sinh ăn mặc đồng phục quần xanh áo trắng, đầu đội ca-lô đính sao vàng, đứng thành từng ô thẳng tắp vuông-vắn như những đội lính sắp ra trận. Lễ chào cờ được cử-hành nghiêm-trang. Lá cờ đỏ từ từ thượng lên đỉnh cột thả mình theo gió sớm mai lồng-lộng bay trong mây trắng.

Ông Giám-đốc trường đứng trên bục đất đọc diễn-văn chào mừng đại-diện Bộ Tư-lệnh và hằng trăm phụ-huynh thiếu-sinh-quân cùng các vị quan-khách gồm chỉ-huy-trưởng các đơn-vị võ-trang cùng đại-biểu các đoàn-thể dân-chánh-đảng.

Kế đó là vị đại-diện Bộ Tư-lệnh huấn-từ các thiếu-sinh-quân. Ông đại-diện gắn máy trợ thính trong lỗ tai. Đó là chuyện lạ nên ai cũng nhìn ông hơn là nghe ông nói.

Buổi lễ kết-thúc khi nắng lên vừa rát mặt người .

Trong số các chỉ-huy-trưởng có một ông cao lêu-khêu như tre miễu. Trong khi mọi người hối-hả lui xuồng khỏi bến tủa ra giữa dòng thì ông ta lại bảo người cần-vụ đi lên bờ mua cho ông một nải chuối rồi ông rề xuồng lại gần một chiếc ghe mui ống đậu ở cuối hàng điệp. Ông cởi dây thắt lưng ném khẩu Colt 12 lên sạp xuồng như giận ai.

Thấy cử-chỉ hơi lạ-lùng của ông ta, người cần-vụ ngồi sau lái ghe mui ống cảnh-giác nên bảo nhẹ:

– Ông chịu khó dời xuống nới nới đàng kia một chút.

– Tại sao? – Ông quắc mắt như sẵn-sàng đổ quạu.

– Dạ, đây là ghe của ông chủ-nhiệm chánh-trị khu ạ!

– Tôi là trung-đoàn-trưởng trung-đoàn 120 Long-Châu-Sa cần gặp ông ta chút!

– Vậy à?

– Anh đi lên trên bờ chơi để tôi bàn công-tác với ông ấy.

– Kìa, kìa, ổng vô trường thăm con gái ổng rồi ổng xuống kìa.

Anh cần-vụ nói vậy rồi nhảy lên mui phóng luôn lên bờ.

Ông Chủ-nhiệm chánh-trị mặc quần áo xanh, áo có con đĩa, đầu đội nón cối, vai mang xắc-cốt toòng teng. Đi đến gốc điệp, ông ta khom xuống mở dây mũi xuồng, bỗng Bốp! Bốp! Bốp!

Ba phát Colt nổ liên tiếp làm đất sát chân ông chủ-nhiệm bay tung lên. Ông chủ nhiệm ngã lăn rồi lồm cồm ngồi dậy ngơ-ngác không biết ai bắn ông.

– Ê, Hoàng Điếc, mày còn nhớ tao không?

Ông chủ-nhiệm chính-trị càng ngơ-ngác.

Cái người kia ném súng xuống sạp xuồng rồi bước sải mấy bước chao đảo trên chiếc xuồng và nhảy phốc lên bờ trỏ vào ngực mình, cười nhạt:

– Khương Giò đây, còn nhớ không? Không nghe rõ à? Ba phát Colt chưa đủ ngoáy lỗ tai cho mày à? Để tao ngoáy cho vài phát nữa.

Hoàng Điếc đã nhận ra cố-nhân, lặp bặp:

– Đồng…đồng-chí Khư…ơng!

– Phải, tao là Khương Giò công-kênh cho mày leo tường đây!

Hoàng Điếc đứng lặng câm, mặt xanh như chàm đổ. Nhưng vốn là tay lém, Hoàng trở cờ lật lọng ngay:

– Lỗi đó chỉ do tôi một phần. Còn phần lớn là tại chị ấy níu kéo tôi!

Khương Giò trỏ khẩu súng trên sạp xuồng:

– Nếu tao bắn mày lúc nãy thì không oan. Tao ném khẩu súng ở đó vì sợ cầm trong tay tao nổi điên tao bắn mày. Mày đừng tưởng dễ lấp liếm tội lỗi của mày – Khương Giò cố nén giọng – Tao không ngờ tình đồng-chí của mày cao-thượng đến thế. Mày hãy mở banh cái tai trâu của mày ra nghe đây – Sau khi mày trốn một năm, thì tao được thả ra vì chúng nó không tìm ra bằng-cớ để buộc tôi tao. Tao về thẳng nhà thì hỡi ôi, gia-đình tao tan nát…Mày bị lùng bắt gắt-gao nên không dám ở nhà thường xuyên. Mày cất một cái chòi nuôi vịt giữa đồng rồi trụ hình luôn không hoạt-động nữa. Bữa tao về mày đi chăn vịt nên vợ tao đã kể cho tao nghe tất cả thủ-đoạn của mày. Ghê gớm thật! Mày đã áp-dụng dương-vật biện-chứng-pháp của mày vào gia-đình đồng-chí mày một cách tài-tình. Mày bày đặt chuyện tao bị hỏng cái duy-vật rồi tao bị nhốt khám tối, rồi giả-mạo thư tao, cuối cùng là mày bày ra màn kịch vợ chồng giả để cướp lòng trinh bạch của người đàn bà bị lừa mà không ngờ vì tin ở tình đồng-chí thiêng-liêng của mày…

– Tôi có lỗi thật nhưng tôi cũng có công lo-lắng cho gia-đình đồng chí. Tôi cho hai chị em con Thuần vô trường Thiếu-sinh-quân. Ngoài ra…

– Câm mồm! Tao không tha những thằng ăn trộm đào hầm khoét vách nhà đồng-chí bằng cái lưỡi duy-vật như mày. Tao hận nên tao bỏ đi luôn không trở về nhà nữa. Vì nếu tao gặp mày tao sẽ giết mày. Cách-mạng thành-công nhưng tao thất-bại. Nè hãy nghe tao bảo – Tao không muốn thấy cái bản mặt thú vật của mày, hãy trốn cho kỹ, hễ tao gặp lại mày lần nữa bất cứ nơi nào tao sẽ váy tai mày bằng nguyên một băng Côn đui nghe chưa? Nè, nhận tượng-trưng một viên trước rồi về dọn nhà đi ngay.

Khương Giò móc một viên đạn rời trong túi quần ném bẹt xuống đất rồi nhảy xuống xuồng, nhưng vẫn còn ức, quay lại quát:

– Chiếc cà-rá bằng xương mày đang đeo trong tay đó, tao cho mày luôn, cứ việc đeo để nhắc nhở mày …

XV

Đánh máy: Lê Thy

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: