2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QVII (113-117)

2000ngaydem_bia7

Chương 113

Tôi không dám cưỡi lưng bà thủy về Nam
và thằng bạn thợ săn tốt bụng.

Một hôm trên R bổ sung cho tôi một cán bộ. Do sự động lòng của cái chết Năm Tiều đi viện quân chăng ? Hắn gặp tôi kêu đúng tên nhưng tôi không biết hắn là ai. Hắn cười khà khà:

– Ông anh hùng 69 (“xách nóp”, danh từ của Sáu Huỳnh) quên thằng thợ rừng này rồi sao?

Đầy hắn tóc tai rậm ri như rừng Tà Bon, mắt sâu như hang sói, còn tay chân thì dài ngoằng như tay khỉ ốm, lại thêm cái bản mặt vàng ệnh như chuối xiêm hườm. Hắn móc thuốc rời để lên bàn, chẩm rãi quấn nhật trình đốt khói um nhà:

Thằng Cử ở Kà Tum nè! Thầy nhớ chưa ?

– Trời! Mày Cử đây hả ? Tao ngờ ngợ mà không nhớ ra. Đầu óc tao bây giờ bị B52 chiếm hết rồi. Đi đâu lạc xuống đây?

– Đi xuống bổ sung cho ông chớ đi đâu. Đóng quân gì mà bí mật quá vậy cha non.

– Ở đây thì vậy đó. Lòi lưng thì bỏ mạng ngay!

– Còn chỗ nào trống cho thằng này xin một chưn!

Cử là trung úy phóng lựu, loại pháo chống xe tăng, pháo do xe 10 bánh Molotova kéo. Vô đây mấy năm ở R (tôi gặp trên đường lên R dự đại hội mừng công 1962) không có việc gì làm, bị đưa về U80 cho ông Tư Khanh rồi tống cho ông Hùynh Văn Một. Cử xung vào độ săn thú phục vụ cho các hoàng đế từ đó tới nay.

Tôi hỏi:

– “Cặp lựu” của mày có “tăng” để phóng chưa ?

– Phóng vô gốc cây rừng thì có. Trên đó khỉ còn phải chạy mặt tôi nghe thầy.

– Còn thằng Hùng Mập đâu ?

– Sau khi đem được “cối” từ đồng bằng lên, nó giã liền mấy tháng, cối nhở phè ra, nó cho về đẻ, ở trên này nó rửa chân leo lên bàn thờ rồi.

– Sao kỳ vậy ?

– Cây ngả đè chết! Mẹ, thằng chết rồi cái thây mập còn làm khổ anh em. Cây đè như chuột sập bẫy nhẹp, phải đi mượn cưa công binh cắt 3 ngày mới lấy xác ra được, xương ngực, sọ đầu nát nghiến. Cái thằng cưới vợ không coi ngày.

Cử ngó quanh:

– Bếp núc có lửa khói gì không bác nó ?

– Để làm gì ?

– Nướng bậy mấy thỏi khô nai nhậu sương sương rồi “ba tui” kể chuyện R cho nghe. Sắp tới mức “ghi vôi” rồi đó. Oánh nốt một phát nữa là tới chỗ dui thôi.

Tôi kêu thằng Đá nhóm bếp. Cử móc trong ba-lô ra mấy gói bọc ni-lông rất kỹ. Như Hai Giả để dành tôm khô cho tôi năm trước. Cử mở ra, mùi sả ớt thơm nồng.

– Đây là khô thịt nạc heo rừng nghe cha! Con heo này có hơn hai tạ. Nanh độc chiếc dữ vô biên. Có lẽ no đã từng chọi nhau với gấu hay chó sói nên bị thương, chỉ còn một nanh và một mắt. Thứ độc nhản long này ác lắm . Bắn nó sụm rồi mà không “hộc” một tiếng! Nói chui vô bụi nằm im. Thằng bạn tui nhào vô cầm dao xẻ thịt, nó chồm dậy hất mõm suýt lọt dái đấy.

Đây, tôi lấy thịt thăn muối để dành dâng cho bệ hạ nhẩm xà. Nè, nên nhớ là heo rừng thứ thiệt chứ không phải heo nhà như tụi Hà Nội mạo danh đâu nghe. Da nó nhai không dai mà dẻo như sáp, mỡ của nó thì dòn ăn không ngán như mỡ heo nhà…. Còn đây là khô nai. Con nai chà này lông lưng màu đỏ. Không biết mẹ nó có bị cọp “nhảy” hay không mà bụng nó có rằn. Sừng nó ngâm một tỉn rượu còn để ở nhà ông Sáu Ngọc cho ông Tư Khanh tẩm gân phục vụ bà vợ Chín Việt. Tên gì quên rồi?

– Mai Khanh.

– Ờ … ờ… Con ngựa bà này rượng lắm. Ông đi rồi con mẽ nguậy ngay với ông Chánh Ủy ! .. Ê còn đây nữa. Cái gói này dành riêng cho ông thầy pháo.

– Cái gì đen đen như táo tàu vậy ?

– Cặp ngọc hành của con sơn dương . Tui bắn được mổ lấy bỏ vô rượu ngay và đem dái nai thay thế . Mấy cha già giơ khôn lắm, hễ bắn được sơn dương đem về là mấy chả hỏi hai hòn ngọc chớ không màng đến thịt thà.

Còn cái này. – Cử lấy một bình trong móp méo giơ lên lắc óc ách.- Uống một chung chạy ngoài rừng sáng đêm không ngủ nghe ông!

– Cái thằng nói bá xàm. Con nít nghe cười chết.

Thằng Đá thằng Tiền nướng xong khô nai khô heo để trong dĩa đem lên. Tôi tặng mỗi đứa một thỏi rồi bảo ra sân canh máy bay lẫn pháo đề-pa.

Hai đứa uống rượu ngâm bao tử nhím rễ tranh rễ nhàu , các thứ rễ thập cẩm và nanh thú rừng khác chẳng kém bài thuốc rượu của vua Minh Mạng, bác Hồ copy gởi cho lũ về Nam mang tặng bà con mỗi người một toa gọi là chiếu cố Thành Đồng Thành Đất. Cưa qua cưa lại một hồi, Cử mới hỏi:

– Ông không hay gì à?

Cử kề tai tôi rỉ nhỏ:

– Người ta đi qua Miên hết rồi.

– Hả?

– Vậy đó.

– Sắp vào đợt 3…?

– Vô luôn đợt 4 đợt 5 tới đợt 10, nhưng các ông ở dưới này mầu sao thì mần.

– Quân khu mới cho người lên xin viện binh.

– Binh ở đâu mà viện? ông Chín Vinh về trển tới nay còn đái ra cây, hỏi ổng tên gì ổng cũng quên nữa là viện. Ổng luôn mồm chửi: “Đ.m. pháo Mỹ ác quá!”

– Ổng bị sơ sơ có mấy trái pháo nổ cách xa 200, 300 mét mà đái gì dai vậy?

– Ờ thì tại bong bóng ổng to. Thầy không thấy cặp giò trường bão của ổng sao?

– Còn mấy ông kia?

– Đã bảo là sang chơi với thằng vua Thổ rồi.

– Còn mày xuống đây làm gì? Sao không qua đó kiếm một con “chăn cà mum” ngâm thuốc rượu?

– Thằng nào sốt rét mà xin đi đồng bằng thì ở trên cho liền.

– Thôi được, ở đây với tao, chạy đua với trực thăng và đội 175 ly chơi cho biết mùi trần thế.

– Bắc Kỳ xâm lược vô đông lắm. Trọ trẹ nghe nực cái lỗ nhĩ quá trời. Tui nhớ ông, bèn xin hạ san quách cho xong. À, có thằng cha Đỗ Phiệt, Đỗ Phét gì đó hỏi thăm ông.

Tôi lục lại trong trí nhớ, nhưng không thấy ai có cái tên như thế!

– Tao không biết. Chắc là tên mới. Vô đây ông Mặt Sắt kia còn thay tên đổi họ mày không biết à?

– Thầy biết ông kẹ nào tên Mười Khang không?

– Ai mà biết nổi tên tuổi mấy con rắn hổ mây đó?

– Nghe nói ông Mười vô thay ông Sáu đó.

– Rừng Tà Bon còn nhiều khỉ, dọc không mậy?

– Khỉ thì nhiều. Lọ nồi cũng có, nhưng voi và chó sói không thấy nữa. Chắc chúng nó kéo qua Thái Lan để tìm đất sống. Có lần tôi gặp voi thầy ạ ! Một bầy. Con chúa đàn ắt phải cao hơn 2 thước.

– Sao thầy biết?

– Dấu bùn trên thân cây cao tới đâu là voi cao tới đó! Có một món thịt mới cũng ngon lấm. Đó là gà lôi rừng. Quay thì tuyệt.

Cử nói chuyện săn thú say sưa như một tay thiện nghệ . Rồi nói sang gỗ quí, Cử cũng rành như thợ rừng thượng đẳng:

– Mẹ, con mụ Trần Lệ Xuân nó chiếm cả khu rừng nên có cái lộ ủi Trần Lệ Xuân mà ông đi qua để vô R đóng vai anh hùng (giả) đó ! Bà Phùng Văn Cung hun một phát còn đã tới nay hả? Một cây gõ đốn xuống giá cả triệu bạc, đem về Sàigòn bán 5, 7 triệu. Yêu nước con mẹ gì.

Tôi cười:

– Ai thấy của cũng ham hết mày ơn Nếu mày làm tổng thống mày cũng thế chớ hơn gì.

Cử phá lên cười rồi ực hết chỗ thuốc rượu còn lại trong đáy ca, bốc khô nai nhai ngấu nghiến và gật gù cái đầu tóc um tùm:

– Thằng chó nào lên ngôi cũng vỗ ngực xưng mình là nhà cách mạng nhà ái quốc yêu cái quần, quần dài quần ngắn cũng yêu nốt.

– Tụi mình cũng yêu nước đây. Nước nếp!

– Ê thầy nhớ thằng cha Thu Mai không?

– Sao không? – Tôi nhắc- Kỳ đi R mừng công, thằng chả làm Phó, Ba Hải làm trưởng đoàn. Anh em trong đoàn bảo thằng chả nên ghé trạm mua đường nấu chè thay tên khác Tên gì lại tên “Thu Mai – Thai mu” à ? Thằng chả nói vợ thằng chả tên Mai. Ba tháng sau tao gặp thằng chả ở trường pháo binh ở gần Suối Nàng Rà, hỏi thay tên chưa? Rồi. Tên gì? – Thu Mâu ! là Thâu mu ! Lẩn quẩn cũng không khỏi cái mu rùa.

Cử tiếp:

– Số thằng chả chết vì cái đó. Vợ xuống thăm. Thằng chả đang sốt. Sáng hôm sau ngay chừ. Vợ đổ thừa y tá cho uống kí ninh quá liều. Nhưng y tá nói đâu có cho viên nào. Bác sĩ Hoàng Anh biết rõ mà không nói ra, không kết tội y tá, mà cho “chôn liền” ở gò “môn lù”.

Tôi bỗng kêu lên:

– Tao nhớ thằng Phiệt rồi. Nó là em ông đại tá cục trưởng phụ trách các chuyến du hành Bà Thủy vô Nam. Nó dọa gả cháu gái cho tao ở Hà Nam. Nó cho tao xem hình, “ẻng” là cán bộ 3 đảm đang gì đó.

– Rồi sao không cấy?

– Cấy mồm rồi phải đi, làm sao cấy thiệt được! Kỳ đó tao suýt đi tàu lặn đó nghe mày.

Ông Cục trưởng bảo ở trong này cần gấp sĩ quan pháo binh huấn luyện viên. Ở trên chấm tao và cho tao đi về Thanh Hóa để xuống tàu ở Sầm Sơn. Bùi Thanh Khiết, Dương Cự Tẩm và nhiều ông tá đi chuyến đó. Không hiểu sao tao ớn quá.

– Sao ớn? Chẳng bằng lội Trường Sơn à?

– Nghe đồn ở giữa tàu có đặt một tấn thuốc TNT. Hễ đụng địch là châm ngòi phi tang. Cá mập ăn hết thịt xương cha sanh mẹ đẻ. Cho nên tao bịa ra lý do với ông đại tá: “Tôi có tật say sóng. Hồi tập kết, tôi nằm vùi 7 ngày đêm trên tàu Arkhangels, đến Sầm Sơn 3 ngày sau còn ói mửa. Rủi gặp địch tôi đâu có chiến đấu được. Xin đại tá cho tôi đi bộ!” Nghe thế ông mừng, gạt tên tao trong đám đi tàu.

– Sao ông không đi máy bay?

– Tao đâu có tiêu chuẩn đeo đuôi máy bay tàu lặn. Thà xin lui lại trước cho được việc để khỏi bị gạch tên đỡ mục có hơn.

– Anh vợ Lê Đức Thọ làm đếch gì mà đeo được?

– Đụ bà con ông cháu cha không làm đếch gì cách mạng cũng ưu đãi, còn bần cố hỉ nai lưng voi ra vác đạn hộc máu, chỉ được bằng khen to bằng cái thẹp em Nguyễn Thị Chiên (l). Rủi chết được bảng vàng danh dự.

– Chịp, thôi mày ơi ! Đừng có nhắc mấy chuyện đó thêm đau lòng con quốc nhẹp, để cho tao toàn thân toàn ý phục rụ nhăn răng (phục vụ nhân dân)

– Ê, còn có chuyện này nữa. Ông có biết lúc đi săn tôi gặp Đảng Rồng Xanh không?

– Đảng Rồng Xanh là đảng gì, ở đâu?

– Xời! Vậy ông lạc hậu rồi ông ơi! Trên biên giới Việt – Thổ và rải rác ở Lò Gò, Tà Băng, Sóc Ky, Tà Nốt, Xa Mách, có đám lính đào ngũ chuyên đi ăn cướp kho các cơ quan để sống. Ông Tám Dọn cho truy tầm mà đâu có bắt được. Hễ nghe động là tụi nó vọt qua Miên sống phây phây. Có thằng lấy vợ Thổ. Tên đầu đảng là đại úy nghe! Coi chừng tụi nó rải phóng Sài Gòn trước mình. Tụi nó có lời thề ghê gớm lắm: ” bất phục Cộng, bất tùng Ngụy, chết đứng như cây tùng ” thằng nào muốn vô đảng phải thề và xâm đầu rồng trên ngực hoặc trên bắp tay.

– Tao nghe nói ông Huỳnh Văn Một bắt được hết mà !

– Tụi Rồng Xanh là đám bất trị. Nghe nói có lần Tổng hành Chòi của ông ở Kà Tum bị tụi Rồng Xanh tấn công. Ổng suýt bỏ mạng. Sau vụ đó, ổng được ông Sáu Di phong cho hàm Đại tá , và phát cho 40 trường bá đỏ để trấn nhậm Kà Tum.

– Vậy tao nghe thiếu tá Bùi Khanh về làm xã đội trưởng ở đó mà ?

– Đó là chuyện đời xưa . Bây giờ không có ông Một mà cũng không có ông Bùi Khanh. Không biết họ đi đâu mất hết rồi. Có lẽ lại qua nhậu thuốc rượu không đau lưng với vua Thổ.

Hai đứa nói chuyện mênh mông trời đất nào ngán trên đầu có ai. Bỗng Cử giật mình:

– Thôi, tốp ngay! Những gì tôi nói, ông bỏ qua nghe, ông thuật lại cho ai tôi chối đấy!

– Cái thằng, ai mà thuật lại cho ai? Mày tưởng tao không biết gì về R sao? Tao rành còn hơn mày nói nãy giờ.

– Thí dụ chuyện gì?

– Bà mặt sắt vô đây đánh ghen một cú nổ trời. Ổng hận tình ca nên bỏ đi xuống đây rồi văng dênh đó.

– Ghen với ai trong rừng?

– Để hôm nào tao đào hầm, hai đứa xuống đó đậy nấp lại tao kể cho mà nghe- Thôi đi tắm một phát “tẩy R ” rồi sẽ nếm mùi Củ… Chi ông bạn phóng “nựu” Niên Xô !

Nhìn cái lưng còm thằng bạn lủi thủi đi ra giếng, tôi bất giác nghe vang lên trong tâm khảm những câu hát vùi sâu trong ký vãng xa xôi:

Lá vàng bay theo gió, hoa tàn rụng bên sông
Ôi một chiều u buồn, ôi một chiều nhớ nhung
Nước dâng tên, sóng in bầu trời hồng tươi
Cây xanh khe núi tim tím,
Cánh buồm rảo dải uốn cong (2)

Đoàn quân đi thấp thoáng trong đêm không một vì sao
Uốn khúc đường đào mưa trơn bùn sâu
Hẹn một ngày mai tình yêu rắc reo
Phá tan biên cương loại người sống thân yêu!
Ngày mai đây lớp dân không còn buồn đau
Đập tan gông cùm đẫm máu
Đời vang lên đại đồng khúc ca
Hẹn ngày mai úy tá thì nên trở về làng xưa
Binh nhất binh nhì, thứ đó ai đâu thèm mơ! (3)

Tôi như một tên hát dạo lan man tay rà chiếc hộp lon bên mép xe đò chờ những đồng xu rơi vào không biết xe đỗ bến nào. Long Biên, Sàigòn, Nhà Bè, Bến Lức hay MiNốt Nam Vang.

Tôi đang lẩm nhẩm thì thằng Đá cười vang:

– Anh Hai, anh hát gì kỳ cục “uậy”?

– Hát gì mà kỳ?

“Thề ngày mai chiến thắng chớ quên đường về làng xưa” mới đúng chớ!

– Bài hát đó có hồi mày chưa ra đời sao mày biết đúng sai?

– Sau ngày hòa bình, bố em có hát cho em và chị Mây em nghe.

– Ổng đi cải tạo mà hát hò cái nỗi gì!

Thằng Đá tịt luôn. Nó chợt hiểu những điều mà từ trước nay nó chỉ hiểu lờ mờ. Tôi muốn bảo nó: “ông đại tướng nằm võng cho quân giải phóng khiêng. Bà đại tướng cũng thế. Mày tìm cách bò lên đại tướng, chớ trở về Bắc với “lon sao chẽ ” (binh nhất, binh nhì) ai mà thèm mơ mày hả Đá?”

Ông bạn vàng tắm xong vô nhà đứng rũ tóc như chim rỉa lông:

– Năm năm ở rừng, bữa nay hạ san hôm nay mới tắm được nước cam lồ khỏe như lột xác.

– Ít bữa đây rồi banh xác.

Tôi kêu sắp nhỏ pha trà đãi bạn cố tri. Nát giỏ cũng còn bờ tre chớ đâu có tệ. Kẹo đậu phộng, kẹo mè, bánh bao đầy dĩa, tôi bảo:

– Mày thiếu chất ngọt mấy năm trời, nay tẫm gân cho dẻo đặng chạy nghe không bồ !

Cử ngồi ăn cứ lắc đầu lia:

– Trên đó bây giờ buồn lắm. Không còn ai cả, lớp chết lớp đi. Trường Pháo của ông ở Nàng Rà 365A bây giờ để làm chuồng khỉ, Trường Trung Sơ chẳng còn ai học. Lê Xuân Chuyên em nuôi Chín Vinh dông ra Sài Gòn rồi. Đài Sài Gòn la om sòm nghe cha nội!

– Sao vậy?

– Anh ta chế diễu vụ ông anh nuôi ra trận bắt lính cõng. Có người báo cáo. Ổng bị kỷ luật nên bất mãn dọt luôn. Có rải truyền đơn và đầm già kêu loa om trời.

– Mày có lên vùng trên không?

– Lò Gò nơi ông Thọ và bà Quỳnh Hoa vui vẻ nay cũng bỏ hoang. Chỗ Đài Giải Phóng nay chỉ còn ếch nhái kêu dưới hào. Tui đi săn có vô tận căn cứ BCH/R ở Tà Bon cũng nhà không vườn trống. B52 tiêu thổ kháng chiến giùm mình hết cả rồi. Chỉ còn một căn cứ là còn hoạt động mạnh. Đo là trại giam lính ta đào ngũ ở Suối Sâu. Nhiều đứa còn băng đầu băng tay, chõi nạng. Tụi thằng Tư Tăng đặc công FIDO hổng hiểu sao cũng bị giam ở đó. Nghe đồn tụi nó vượt ngục kéo ra Sàigòn nhưng bị bắt lại tái giam. Tui có thằng quen. Ông biết không? Thằng Chín Tống – Pháo phòng tăng ở ngoải về một chuyến với tui!

Tôi ngồi lặng thinh. Tôi biết đó là trại ông Năm Đăng để dành nhốt quân ta. Nhưng tôi không muốn nhắc thêm về vụ Chín Tống. Mẹ nó, thằng bỏ đảng, phản đảng thì vô Bộ Chính Trị ngon ơ, thằng chạy rót trước khi đụng trận thì lại là chỉ huy tối cao Rờ Rẫm còn anh lính quèn chiến đấu không có chỉ huy không biết mục tiêu, lội qua sông tìm cái sống thì lại bị nhốt tù mất chức. Ở đâu có những chuyện như vậy nếu không ở Việt Nam?

Một cậu lính chạy vào hớt hải.

– Anh Hai anh Hai, xe tăng càn Bàu Lách.

– Nó càn thây kệ mẹ nó chớ la cái gì.

– Nó cán nhẹp hầm ông Chín Nửa, trưởng ban bảo vệ khu .

Tôi bật dậy kêu lên:

– Dượng Chín của tao.

Thoáng hiện lên trong trí tôi bà cô tôi với hai đứa con nhỏ. Mới năm ngoái cô xuống thăm đem cho quần áo, đồng hồ, rượu, trước khi về, cô dặn:

– Ba xắp nhỏ đừng có ăn no ngủ kỹ. Lỡ có việc gì tôi không biết làm sao!

Đánh Mỹ đâu có phải là chuyện chơi. Nhứt chín nhì bù. Chín ít thấy, luôn luôn bù.

Cậu bé nói tiếp:

– Ổng với một tổ vệ binh trốn chung một hầm.

– Đi đâu vầy nè trời!

Ông Tư Lịnh mới chết, rồi ông trưởng ban bảo vệ buồn tình đi theo xuống dưới kia tiếp tục bảo vệ ông Tư Lịnh tới gáo.

Củ Chi sau Mậu Thân: ông lớn bà bé dông tuốt qua đất Miên ăn hút lãnh đạo ngược về Việt Nam.

Cán bộ chỉ huy bị bỏ lại: chửi thề, chạy, trốn, lủi và lên bàn thờ, rán chịu!

Lính và cán bộ quèn: nghỉ phép, tự nghỉ phép chống Mỹ. AK, súng nhỏ không có lính cầm. Súng lớn: chôn.

(1) Anh hùng quân đội Bắc Việt.

(2) Bài trào lộng của Thẩm Oánh (1942)

(3) Đoàn quân đi của Việt Lang (1946)

Chương 114

Thêm vài nét về Đồng Dù và Tết Mậu Thân

Khi tôi viết đến đây thì có thư độc giả hỏi thêm về Đồng Dù. Rải rác trong 5 quyển trước tôi có đề cập đến, nay xin ghi ra tất cả những gì tôi biết về căn cứ này.

Đây là căn cứ của Sư Đoàn 25 của quân đội Hoa Kỳ, cũng còn gọi là Sư Đoàn Tia Chớp – Tropical Light- từ 1965 đến 1973. Quân thường trực có chừng 4200, những lúc chiến dịch như Mahattan, Cedar Fall thì không rõ bao nhiêu. Đồng Dù tọa lạc trên một mảnh đất trống xa đô thành Sàigòn 30 km đường chim bay về hướng tây bắc bên phải quốc lộ 1 cách thị trấn Củ Chi chừng 4km và thị xã Bình Dương (Thủ Dầu Một cũ) chừng 15 km. Nó còn được che chở bởi 2 gọng kềm là đường 1 Làng và đường 8A. Ấp chiến lược Cây Bài nằm trên đường này. Từ ấp này bọn khu ủy có thể ra vô Sàigòn hoặc lên Gò Dầu Hạ để vọt sang Cao Miên liên lạc với R.

Phía trên đường 2 Làng từ ấp Phú Mỹ vô chợ Phú Hoà Đông cách Đồng Dù khoảng 4km đường chim bay là căn cứ của Trung Đoàn Quyết Thắng. Phía Tây Đồng Dù là hương lộ 237 (cũng còn gọi là đường số 2) từ Tân Phú Trung chạy đến ấp Bố Heo thuộc xã Lộc Hưng quận Trảng Bàng. Nằm trên đường này, cách ngã tư Trùm Tri vô 200m là cửa chính (Main gate) của Đồng Dù. Phía Đông, tiếp giáp với Rạch Láng The. Đồng ruộng phía này nơi cạn thì cấy lúa, chỗ sâu thì thành bưng trấp, lội lút đầu không thể hành quân qua được. Phía bắc là con đường đá đỏ từ Quốc Lộ 1 chạy tới ngã Ba ông Trừ gần chợ Phú Hòa Đông. Đồng Dù được bọc quanh ở phía Đông bằng con Suối Bà Cả Bảy. Con suối này cũng chảy qua gần đồn Trung Hòa – Nó vừa là trở ngại cho quân Mỹ tấn công các căn cứ Việt Cộng bằng xe tăng vừa là thuận tiện cho Việt Cộng trong việc phòng ngự.

Dọc đường trước kia là hai ấp Phú Mỹ. Sau năm 1967 ấp này đã trở thành ranh giới chia Củ Chi ra Nam Chi và Bắc Chi, còn Phú Mỹ thì trở thành xã Phú Hòa Tây. Năm Ngó bí thư quận ủy kiêm luôn quận đội xây căn cứ ở đây và cho người ra vào Phú Hòa Đông để mua gạo hoặc liên lạc với D đặc công rải quân từ Trung An đến Bình Mỹ – Hóc môn trong khi D1 của E Quyết thắng thì đóng khắp từ Gò Đình đến tận Trung Hòa và Bàu Tròn.

Mặt Bắc của Đồng Dù trước kia là vườn cao su Bàu Tre kéo dài đến đồng ruộng Trảng Lắm có ấp Truông Viết thuộc xã Phước Hiệp; phía Đông là vườn cao su Bàu Chứa, Bàu Tròn. Nơi đây có nhà mủ Bà Hộ là nhà mủ lớn nhất vùng này.

Từ đó các lực lượng Việt Cộng có thể tỏa lên Bàu Trăn, Bàu Lách thuộc xã Nhuận Đức.

Như vậy Đồng Dù nằm gọn giữa các trục lộ 237, 8A, đường 2 Làng, quốc lộ 1 và Suối Bà Cả Bảy, lại được án ngữ bằng thị trấn Củ Chi nằm ngay trên Quốc lộ 1 . Đồng Dù nằm giữa rốn khu giải phóng rất thuận tiện cho sự chuyển quân chiến đấu tiếp vận tấn công khu giải phóng bằng xe tăng, bộ binh biệt kích v. v… chưa kể pháo binh, trực thăng và các loại binh chủng khác.

Từ năm 65, khi Đồng Dù trở thành căn cứ chính thức của Sư Đoàn 25 Hoa Kỳ ở Việt Nam thì các vùng lân cận thuộc các xã Nhuận Đức, Phước Vĩnh Ninh, Tân Thông Hội, Phước Hiệp đều bị tàn phá nặng nề hoặc san bằng. Sau Mậu Thân, các xã này trở thành vùng oanh kích tự do. Quân đội Mỹ đem trực thăng Chinook chở dân và heo gà ra ấp chiến lược, phát tôn, gạo, thuốc men để định cư. Hưởng được cuộc sống yên ổn no đủ không bom đạn, họ không trở về quê nữa.

Khi căn cứ Đồng Dù hoàn chỉnh thì cũng là lúc Củ Chi đất thép thành đồng bắt đầu trở thành Củ Chi đất sét thành bùn.

Sau đây là một số việc mà tôi còn nhớ trong lúc tôi hoạt động ở Củ Chi hoặc ghi lại từ các sách báo .

Đêm 30-10-64 Cộng Sản cho đoàn 69 (do Huỳnh Thành Đồng chỉ huy) pháo kích phi trường Biên Hòa. (Sau trận này, Nguyễn Chí Thanh vô Nam “ăn mừng” chiến thắng và phát huy chương cho đoàn 69 của Huỳnh Thành Đồng – đã nói ở các quyển trước).

Một số đài ngoại quốc đưa tin: có sáu B57 loại ném bom mới đưa từ căn cứ Clark sang bị phá hủy và hơn 20 chiếc bị hư hủy. 5 cố vấn Mỹ, 2 sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa hi sinh, hơn 100 binh sĩ và thường dân quanh vùng bị thương.

Ngày 19-12-64 Hà Nội mở chiến dịch Bình Giả (Phước Tuy)

Ngày 28-12-64 chiếm làng Bình Giả suốt 8 tiếng đồng hồ. (Bình Giả là làng Công Giáo di cư lập nghiệp ở Miền Nam). Sàigòn đưa 2 đại đội Biệt Kích đến thăm dò, đụng độ tại vườn cao su kế cận. Sàigòn tung luôn 7 tiểu đoàn thiện chiến đến giải vây. Việt Cộng bị tràn ngập rút lui, bỏ lại 200 xác chết và hơn 100 bị bắt sống.

Trước tình hình này, tổng thống Mỹ đưa tướng 5 sao Westmoreland sang Việt Nam. Đại sứ Cabot Lodge thay cho Taylor, chuẩn bị Mỹ hóa chiến tranh Việt Nam.

Ngày 8-3-65 hai tiểu đoàn TQLC Hoa Kỳ đổ bộ lên Đà Nẵng. Hà Nội có cớ “chống Mỹ cứu nước” liên tiếp mở các chiến dịch Đồng Xoài, Phước Long,.Pleiku, Quảng Ngải để gây thanh thế nhưng phải chịu tổn thất nặng nề trong những trận thử sức với quân Mỹ.

Mỹ đổ thêm quân vào Việt Nam đồng thời dội bom miền Bắc.

Bên Liên Xô Alexis Kossygin lên thay Krutchev vào cuối năm 64- ủng hộ đường lối chiến tranh của Hà Nội.

Cán binh tập kết và quân đội Bắc Việt ùn ùn đổ vào Nam gần như công khai trước sự phản đối cầm chừng của thế giới. Mỹ gia tăng dội bom miền Bắc.

Cùng lúc mở các chiến dịch Hà Nội cho đặc công đánh bom vào khách sạn nơi cố vấn Mỹ trú ngụ đêm Noël 1964 tại Sàigòn.

Những đơn vị chính quy Bắc Việt xâm nhập ồ ạt hơn .

Căn cứ Đồng Dù được xây dựng càng ngày càng vững chắc bất khả tấn công.

Sau Sư Đoàn 25, đến Sư Đoàn “Anh Cả Đỏ ” lại đổ vào Việt Nam đến trấn thủ vùng Bến Cát, Lai Khê, Dầu Tiếng để ngăn giữ cửa ngỏ Sàigòn lúc nào cũng bị áp lực nặng nề của các sư đoàn chính quy BV từ căn cứ R (Tây Ninh) đổ xuống.

Hỗn danh “Tam Giác Sắt” gồm Củ Chi, Bến Cát, Phú Hòa là do Hoa Kỳ đặt cho mà thành nổi tiếng từ 1964-65 chứ sự thực Cộng Sản không thể tung hoành như người ta tưởng. Chúng bị đánh tơi bời bị động thì có.

Cùng lúc này quân đội Mỹ tới Khe Sanh Pleiku.

Độc giả thân mến. Nói tới Đồng Dù, tôi còn nhớ y nguyên trong đầu một căn cứ vô cùng cơ động với đầy đủ cơ giới trên không lẫn dưới đất. Ngoài bộ binh, còn có tất cả các loại binh chủng đặc biệt, thiết kỵ, hóa học, công binh, quân khuyển… không thiếu một loại nào.

Nó như một cái máy phát điện cao thế, đụng tới nó là hằng trăm luồng điện chết người phát ra ngay. Chỉ trong vòng 25 phút trực thăng có thể đổ chụp bất cứ nơi nào ở Củ Chi. Và trong vòng 5 phút pháo có thể giã bất cứ nơi nào trong tam giác sắt . Trận E 88 bị dập ở Tầm Lanh không phải là trận pháo lớn nhất, nhưng trước kia sở dĩ Việt Cộng ít bị thiệt hại hơn là vì chúng liều chết chạy ra khỏi trận địa chớ không nằm chờ Mỹ tới để tiêu diệt như Năm Sĩ ở Tầm Lanh lần này (1969).

Thử tưởng tượng 50.000 trái pháo rơi vào một ấp nhỏ ! Không một ngọn cỏ còn nguyên. Từ 200 đến 500 trái là thường. 1000 trái mới thấy ớn. Da thịt phải bọc thép mới sống được 5 năm ở Củ Chi. Đây không phải là một sự nói thánh nói tướng để tự đề cao mình mà là một sự thực. Tôi chỉ là một kẻ sống sót trên đất Củ Chi.

Tôi đến Củ Chi năm 1965, mãi tới năm 1966 mới hoạt động được, nhưng cũng không thể đụng độ với Đồng Dù. Đây là căn cứ mạnh nhất của Mỹ ở Đông Nam Á chớ không riêng toàn Miền Nam Việt Nam càng không phải của Mỹ ở Sàigòn Chợ Lớn.

Thời Pháp thuộc quân đội Pháp cũng đã từng dùng mảnh đất ruộng rẫy này làm nơi tập lính nhảy dù, nhưng sơ sài không có tiện nghi. Lính dù từ Sàigòn được chở tới nhảy cóc nhảy nhái, sáng đi chiều về, như những buổi cắm trại chỉ tốn vài giọt mồ hôi.

Nhiều tên lính bay rơi mắc trên ngọn tre làm trò cười cho đồng bào và Việt Minh thời đó. Đồng Dù thời Tây và Đồng Dù thời Mỹ là biểu hiện cho lực lượng Tây và Mỹ trong hai cuộc chiến tranh. Đồng Dù Tây là trò chơi của trẻ con, còn Đồng Dù Mỹ là con mãnh hổ nanh vuốt đầy trời ngập đất. Những ai từng kháng chiến 2 mùa đều phải công nhận điều này.

Tôi xin lần lượt nói thêm về lực lượng của Đồng Dù theo hiểu biết chiến trường của tôi và theo tin tức tình báo Việt Cộng mà tôi cho là không sai bao nhiêu. Đây là một số trang bị, vũ khí của Đồng Dù:

Sư Đoàn 25 Mỹ là sư đoàn bộ binh, nên tại căn cứ Đồng Dù không có riêng máy bay Skyraiders hay phản lực chiến đấu Fantôme hoặc Thunder Chief. Các loại này thuộc không đoàn 3 nằm ở Biên Hòa. Khi cần, chúng tới yểm trợ rồi rút về.

Thường xuyên Đồng Dù chỉ có các loại trực thăng chiến đấu trinh sát như HU-IA, HU-IB, CHINOOK (loại vận tải người và vũ khí nặng). Các thứ này không lúc nào vắng bóng trên bầu trời Củ Chi mà chúng tôi thường gọi là “cá nhái, cá rô, trái chuối”, vì hình dáng của chúng.

Đặc biệt trực thăng “trái chuối” vận tải cả xe tăng, pháo, lô-cốt, lương thực, kẽm gai và nước rưới như mưa cho lính Mỹ tắm, công sự bê-tông cho sĩ quan ẩn trú qua đêm. Loại này có 2 cánh quạt, bay rất nhanh còn đổ vào khu để di tản người và súc vật ra ấp chiến lược.

Bên cạnh đó còn loại “cá lẹp” mình dẹp như con cá lẹp không rõ phiên hiệu là gì, trang bị đại liên, cà-nông 37 bắn một phút 6000 viên, phóng một phát 4 rốc kết, thường dùng để dọn bãi đổ quân. Loại HU-6A dùng để trinh sát, có thể bay đứng một chỗ rất lâu rồi bất thần đáp xuống bắt người như diều xớt gà con. Ngoài ra còn L19, có loại 2 đuôi không biết tên gì.

Các loại máy bay này thường trực ứng chiến có chừng hai ba chục chiếc tại bãi bay, bên trong Đồng Dù.

Các loại cơ giới, xe tăng thì gồm có: M113, M41, M48 có gắn pháo 75-80 ly. Thường xuyên có chừng 3, 4 chục chiếc để đi càn. Ngoài ra còn các thứ máy ủi đất, để phá rừng và lấp địa đạo, phá chướng ngại vật, bứng gốc cây to, xúc cả hầm, phá miệng địa đạo.

Xe tăng từ Đồng Dù theo cổng chính ở đường 237 hoặc cổng hậu đường 1Làng để lên Nhuận Đức, Bàu Lách. Hàng ngày vào buổi sáng có một chi đội rà đường từ Củ Chi tới Hóc Môn và một chi đội chạy ngược lên Trảng Bàng, Gò Dầu để canh quốc lộ 1.

Chúng còn rải từng cụm từ Hóc Môn lên Gò Dầu. Ban đêm M41 bắn cà nông 40 ly lên Truông Viết, Ba Sa, Gia Bẹ , Bàu Tròn, Bàu Chứa gây khó khăn trong việc hành quân và vân tải của đối phương. Đặc biệt đạn của nó rất nguy hiểm. Trong đầu đạn có đinh, Bác sĩ rất ngán giải phẫu loại này. Hễ đinh ghim vào sọ thì chịu chết chớ không mổ lấy ra được.

Sơ sơ bảy món ăn chơi, chưa kể các loại biệt kích đánh phá ngày đêm với nhiều bài bản nhớ không hết. Còn đây là các giàn giã gạo Củ Chi:

– Pháo 105 ly bắn xa 1 km, có chừng 10 khẩu.

– Pháo 155 ly bắn xa 15km, có chừng 8 khẩu.

– Pháo 175 ly bắn xa 32 km, có chừng 4 khẩu.

Ngoài ra còn cối 81 ly và 106,7 ly. Loại này lòng súng có khương tuyến, bắn xa 6 km thường đem theo M113 bắn để yểm trợ hành quân. Có thể ước đoán giàn pháo này có từ 24 đến 36 khẩu.

Địa bàn hoạt động của Sư Đoàn 25 từ Củ Chi đến Gò Dầu. Những nơi nào pháo Đồng Dù bắn không tới thì có các cụm pháo dã chiến khác tiếp thêm. Có thể kể:

– Cụm pháo Đồng Chùa ven đường số 1 khoảng giữa Suối Sâu và Suối Cụt

– Cụm pháo Chà Rày (ở Trảng Bàng) bắn lên đường số 6 Bùng Binh, Cầu Xe, Hố Bò, Đồng Lớn, Sa Nhỏ v. v…

– Cụm pháo Khiêm Hanh bắn dọc đường 30, Bến Cát.

– Giàn pháo Trung Hòa có 4 khẩu 105 ly và các loại nhỏ hơn.

– Giàn pháo Trảng Bàng, có 4 khẩu 105 ly.

– Giàn pháo Bến Cát 105-155 ly.

– Giàn pháo Lai Khê 105-155 ly.

– Giàn pháo Dầu Tiếng, 105-155 ly, chuyên khống chế Bời Lời, Sóc Lào, Bà Nhã, Bến Củi cắt đứt đường đây lên xuống R.

– Sau khi Anh Cả Đỏ vào Bến Cát thì có thêm các cụm pháo Bưng Còng. Rạch Bắp gồm một giàn 105 không rõ mấy khẩu.

– Giàn pháo Bình Dương cũng có cả chục khẩu, khi cần thì bắn ké chơi vài trăm trái sang Củ Chi. Ngoài ra còn các trận địa pháo di động bất thường không thể nhớ hết.

Nói tóm lại cái “tam giác sắt” do Mỹ la hoảng chính là cái tam giác nằm trong tấm lưới sắt của pháo Mỹ. Mỗi bước đi là một mảnh sắt lót đường. Không nơi nào pháo không bắn tới và bắn rất chính xác.

Vì thế anh tướng thầy ba Chín Vinh mới đái trên lưng ông quận đội trưởng Năm E khi vừa bị loạt pháo lót lòng của Bình Dương và quay trở về R “chỉ huy” cuộc tổng tấn công như đã viết ở quyển 5. Các bạn đã từng cầm súng đánh Tây có nhớ trận Tầm Vu Sóc Xoài không? Thời đó cả khu 9, Tây chỉ có loe hoe vài khẩu cà nông. Ra trận bấn dăm quả. Chúng mình vừa hút thuốc vừa cười đôi khi còn dư thời giờ ngó mấy con đầm tốc váy khiêu dâm lính ta nữa.

Nhưng đánh với Mỹ trong vùng đất nhỏ hẹp như “tam giác sắt” mà đã có có trăm khẩu pháo từ 105 đến 175. Chúng bắn như trung liên nổ chứ không “cà lăm” như các ông ầm thời Pháp. Đừng có tưởng bở. Đó là chưa kể B52. Ai có xem TV trận chiến vùng vịnh thì rõ B52 là cái gì!

Rất tiếc Võ Nguyên Giáp không vô chỉ huy cuộc Tổng công kích Mậu Thân ở Sàigòn. Thử xem chiếc áo “giáp” của ông ta có còn “nguyên” hay không. “Kêu gọi” đánh Mỹ thì dễ, còn “đánh Mỹ” thì không dễ như ông tưởng, ông đại tướng Quảng Lạc à !

Sơ sơ vài nét để giúp độc giả tìm hiểu thêm về Đồng Dù. Có thể nói một cách ví von: Nó khác nào cái bướu ung thư mọc ngay giữa ngực thằng Việt Cộng, muốn mổ cắt nó đi nhưng chẳng được nào. Đến đây tôi xin kể thêm vài chi tiết tấn công Đồng Dù.

Từ khi quân Mỹ tới, Đồng Dù bị tấn công trên thực địa 3 lần, – không kể vài vụ trộm pháo kích chính tôi chỉ huy. Bắn xong, vác súng chạy lấy người, hoặc chết bỏ xác.

Lần thứ nhất do Út Bá đại đội trưởng từ Bắc về chỉ huy một toán cảm tử Đặc Công của Tư Cường từ R đưa xuống. Tư Cường là E trưởng E Công binh kiến thiết cái hầm “Đờ Cát Di” cho Nguyễn Chí Thanh vùi thây trước Tết Mậu Thân.

Út Bá là đồng hương Bến Tre với mụ Ba Định. Không biết Bá nắm tình hình quân Mỹ thế nào mà dám cả gan dắt một đội cảm tử đột nhập vào Đồng Dù. Mới qua khỏi cổng thì bị bắn gục một nửa. Bị tăng bao vây vòng ngoài khóa đít, cả đám rút chạy bỏ lại 16 xác. Út Bá mất tinh thần chạy về dắt vợ đi hồi chánh luôn.

Lần thứ hai, cô Út Lan, 16 tuổi nhân viên mật của quân báo Củ Chi gài chất nổ trong lon coca cola làm bị thương 4 lính Mỹ. Út Lan có cô chị tên Thanh nấu cơm cho văn phòng Ban Quân Báo Củ Chi. Cô này định làm một cú nữa nhưng bị bắt ở khu vực chợ Bắc Hà. (ở một quyển trước tôi đã nhớ lầm là cô Úa.)

Lần thứ ba do Thiên Lôi phục kích ở gần cổng chính Đồng Dù. 11 chiếc xe tăng và thiết giáp đi tuần đường từ Hóc Môn về ban đêm bị chúng tôi bắn cháy 8 chiếc M113 và M48 vào tháng 12/1966. Thiên Lôi suýt bị đạn 37 ly đưa xuống âm ty.

Đồng Dù là một căn cứ khó tấn công bằng bất cứ chiến thuật nào mà tôi đã học được.

Vì 2 lý do:

– Việt Cộng không có đủ lực lượng để chơi. Ví như một ông lão 70 trước một mụ me Tây 40 quá sung sức. Nếu cố lấy le thì bị ngã ngựa ngay.

– Về địa hình. Từ xa Việt Cộng không thể bôn tập viễn tập ban đêm mà không bị lộ bí mật.

Còn hành quân ban ngày thì càng không thể. E88 của Năm Sì chỉ mới rục rịch đánh Trung Hòa, cứ điểm bằng 1/20 Đồng Dù, bị pháo dập tiêu diệt cả trung đoàn, nữa là đụng Đồng Dù.

Về bố phòng. Đồng Dù võ trang tận răng. Chung quanh Đồng Dù còn có cả một hệ thống phòng ngự khít khao, bãi mìn, hào hố, dây kẽm gai, chó… Bên ngoài bên trong có cả chục chòi canh, có hầm xi măng ẩn trú, công sự chiến đấu bằng bao cát, thùng phuy đất. Đột nhập vào được bên trong không có nghĩa là chiếm được Đồng Dù.

Ngoài ra còn có các hàng rào sống là các ấp chiến lược. Việt Cộng vô tới rào ấp là đã có mõ báo động rền vang nghe rợn cả người. Nhiều lần dự định pháo kích nhưng hỏng vì tiếng mõ của Nhân Dân Tự Vệ , Việt Cộng bỏ xác cũng vì tiếng mõ này.

Trong vùng tiếp cận Củ Chi suốt năm năm từ 1965 đến 70, chỉ có 2 bót thầy Mười (Cây Keo) ở Trung An, và bót Thái Mỹ bỉ san bằng (Thái Mỹ tái chiếm năm 67) Còn Đồng Dù, Trung Hòa không hề hấn gì. Riêng thị trấn Củ Chi bị D Thép đột nhập 2 lần như đá ném ao bèo. Theo như Năm Lê tham mưu trưởng quân khu thì:

Muốn đánh hạ Đồng Dù, phải có 5 Trung đoàn bộ binh mạnh, 1 trung đoàn pháo đủ loại, 4 tiểu đoàn đặc công, 4 tiểu đoàn hóa học, 1000 dân công. 20 trạm giải phẫu, 50 bác sĩ, 200 y tá, 15 ngàn chai Pénicilline, một tấn bông băng. San bằng được Đồng Dù thì Củ Chi sẽ trở thành một cái ao vĩ đại đành cho lão Hồ nuôi cá rô phi. Có nghĩa là nếu quân Mỹ thấy không chống đỡ nổi thì B52 sẽ hủy diệt toàn bộ chiến trường. Điều này đã xảy ra năm 1966. Bót An Hoà bị tấn cống và tràn ngập. Pháo Mỹ đã chi viện vô cùng hữu hiệu. Rốt cuộc ngôi đồn là mồ chôn Việt Cộng. Ngán Mỹ chưa? Me xừ Bọ Chét đừng có ấm ớ hội tề viết ẩu.

Đứng trước một cái Đồng Dù như vậy, ở trên giao cho chúng tôi phải cầm chân để các đơn vị khác “rảnh tay” đánh chiếm Sàigòn. Nhưng khi chiến trận nổ ra các điểm của Việt Nam Cộng Hòa bị tấn công đều tự phản ứng chứ đâu cần sự tiếp viện của Đồng Dù. Sư Đoàn 25 Mỹ chỉ làm nhiệm vụ khóa đít và tiêu diệt lực lượng Việt Cộng chạy tán loạn về Củ Chi.

Tôi xin nói rõ thêm về dự kiến của R trong Tết Mậu Thân 68: Vì không có phương tiện thông tin Quân khu IV chia ra làm 5 phân khu:

* Phân khu I gồm các quận trong đô thành và Gò Vấp, Hóc Môn, Trảng Bàng, Củ Chi, Bến Cát, Dầu Tiếng do Năm Truyện làm tư lệnh, Tám Hà Chánh ủy, – với Trung Đoàn Mũi Nhọn của Tư Nhựt.

* Phân khu II, III gồm phía Tây Nam Sàigòn – Hai Nan phó Tư lệnh (hồi chánh), không ai ngờ ông trung tá này dông lẹ vậy.

* Phân khu IV gồm Nhà Bè do Tám Quang, Hai Lơn, Năm Nam chỉ huy trưởng (không gọi là Tư Lệnh)

* Phân khu V gồm Thủ Đức, Dĩ An Lái Thiêu do Ba Sinh làm Tư Lệnh (bị bắt ngay tại ngã Ba Chú Ía!) Không biết “chị em ta” có giúp đỡ cho anh Ba trốn nhờ trong phòng không ?

Quan trọng nhất là Phân khu I. Mục tiêu gồm có Bộ Tổng Tham Mưu và sân bay Biên Hòa. Trung đoàn Quyết Thắng Mũi Nhọn là lực lượng mạnh nhất trong các phân khu kể trên, gồm các đơn vị sau đây:

– Tiểu đoàn 1 Quyết Thắng cũ của Củ Chi đánh Bộ Tổng Tham Mưu.

– Tiểu đoàn 2 Gò Vấp Hóc Môn đánh sân bay Tân Sơn Nhút (hay Biên Hòa)

– Tiểu đoàn 3 Phú Lợi của Bình Dương hỗ trợ.

– Tiểu đoàn đặc công Gia Định hỗ trợ.

– Và tiểu đoàn 89 và Hỏa tiễn H12 và ĐK 8 hỗ trợ.

Đây là một trung đoàn vá víu năm cha ba mẹ chưa từng tác chiến chung và cũng không có phương tiện chỉ huy liên lạc trên một chiến trường rộng lớn phức tạp mà nó chưa quen như Sàigòn. Khi Năm Ttruyện, Tư Nhựt chết và Tám Hà hồi chánh, R bổ sung Ba Kiên và Năm Dũng gốc sư đoàn 325 Bắc Việt. Hai tên này cũng thuộc loại “hùm xám Điện Biên” như Năm Sĩ, – không biết tí gì về địa hình của chiến trường cho nên cuối cùng cũng hát bản “nướng quân ca”.

Tôi được trên chấm cho làm Ef Tham mưu trưởng E Mũo Mũi Nhọn. Không biết tại sao lại gạch tên, thay vào Phan Văn Xướng (hồi chánh ở Hàng Xanh- đã kể).

Mới dàn quân trên bản đồ đã thấy thua rồi, nhưng Hà Nội cứ đánh bừa. Ra sao thì ra nhân dịp này nướng sạch cán binh Nam Kỳ một mẻ để trống chỗ cho quân Bắc Kỳ xâm lược tràn vô thay thế, loại trừ trước hậu hoạn “Nam Kỳ tự trị” trở cờ chống lại Trung Ương. Ý định này rõ dần, nay dân Nam Kỳ sáng mắt ra thì đã muộn. Nam Kỳ không mất cho Tây cho Mỹ mà trở thành thuộc địa của Bắc Kỳ. (Nguyễn Văn Trấn đã chẳng đưa nguyện vọng thành lập liên bang Việt Nam làm bọn Hà Nội nhảy cà tưng là gì?)

Sự mê tín Trung Ương trong vòng 20 năm – từ 9 năm chống Pháp đến 1975 đã mang lại hậu quả đời đời, dân Nam Kỳ phải gánh chịu.

Đừng có than van ân hận gì hết ráo nghe các ông Giàu, Trấn, Đằng… chính các ông là những kẻ tiếp tay cho bọn Bắc Kỳ xâm lược Nam Kỳ quê hương các ông có hiệu quả nhất đấy !

Xin trở lại Mậu Thân con khỉ già:

Bọn Hà Nội dự định: Khi Trung Đoàn Mũi Nhọn chiếm được Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam Cộng Hòa và phi trường Tân Sơn Nhút thì 2 E của công trường 9 và công trường 5 sẽ đánh dọc quốc lộ 1 để chiếm phía Bắc Sàigòn. Nhưng mũi nhọn bị tà. 2 E này không đến được. Một E của công trường 9 bị kẹt ở Cầu Bông phải kéo vòng qua Đức Hòa phối hợp với Phân khu II, III nhưng cũng chỉ đốt bậy vài chiếc đò nát chớ không làm nên cơm cháo gì cả.

Trong lúc đó một E của công trường 5 (gốc F308 Bắc Việt) chạy vòng qua đồng Mỹ Hạnh tọt về Trảng Bàng bị bom pháo tiêu diệt gần hết. Ba Kiên chạy về gặp tôi ở Bàu Me ôm tôi khóc muồi như trẻ con. E này chỉ còn lại một đại đội lính lơ láo như ốc mượn hồn, năm 69 rút về trấn giữ quốc lộ 13 đóng vai trò giao liên không thuộc đường, cả ngày cứ chửi đổng, hút thuốc, uống rượu, sau này giải tán, sát nhập, mất luôn danh hiệu F308.

Trong lúc Trung đoàn Thép Củ Chi gồm cả du kích và đội nữ của Bảy Mô họp lại cộng với 1 C của E3/ công trường 9 bị đánh tan tác ở Sa Nhỏ và đám lính rã ngũ từ Sàigòn về, tất cả được 700 tên. Tôi phải chỉ huy một cái E như vậy để choảng nhau với Đồng Dù, Trung Hoà Củ Chi và các lực lượng Mỹ Việt thiện chiến, trang bị vô cùng tối tân có thể nói trong hai cuộc chiến tranh, chưa có trận nào quân Bắc Việt thua trận thảm thê bằng trận Mậu Thân 68.

Chương 115

“Tổng công kích đợt 3”: bà bóng làm tình

Xin mời độc giả trở lại thực địa Củ Chi. Cái chết tập thể của Bộ Tư Lệnh quân khu, của Năm Tiều làm tôi rủn chí tơ lòng.

Ngó quanh những bạn bè từ Bắc về Nam đều lần lượt chết hết: Ba Tố, Sáu Ly, Sáu Đồng Đen, Hai Giả, Sáu Phấn. . . Sáu Thanh cấp bậc E sau khi Út Lịa chết, đã bỏ về R không chịu lãnh chức ET. E 268 (tiền thân của nó là D14 Tây Ninh cộng với K2 gốc Bắc Việt).

Một bữa tôi kêu thằng Đá, thằng Tiển, thăng Thượng đến (tôi có 5 cậu trinh sát liên lạc, tục gọi là “ngũ quỉ”. Thằng Đỏ bị gãy giò, thằng Quyết em cô Ba Lợi bị xe tăng bắn chết ở Mội Nước Nhỉ, thằng Bò lên làm Bt trinh sát thay thằng Xướng).

Nay còn ba tên tiểu yêu là Thượng, Tiển và Đá. Tôi bảo:

– Bắt đầu từ hôm nay tụi em kêu anh là “Hai Hà” nghe không!

– Sao anh bỏ tên “Hai Lôi” vậy? Cái tên đó nghe khoái lỗ tai hơn là Hai Hà.

– Tên đó làm ăn không khá.

– Anh đánh như vậy còn đòi gì nữa. Hay là anh thấy truyền đơn Tỉnh trưởng Hậu Nghĩa treo giá cái đầu anh 20 ngàn đồng mà đổi tên?

Tôi lặng thinh. Một chốc:

– Tình hình thay đổi, mình cũng phải đổi tên cho hợp. Tụi em cũng nên thay tên đi.

Mấy dứa cười bò ra. Thăng Tiễn nói:

– “Đá, đổi ra “Đạp” hoặc “Thoi”, “Thượng” đổi ra là “Hạ”, còn “Tiển” đổi ra “Tiền” được không anh Hai? Dương Đình Thoi, Dương Đình Hạ, Dương Đình Tiền, 3 thằng tiểu quỉ của anh đó.

– Tên gì cũng được nhưng đừng lấy họ Dương, vì Dương không phải họ của tao mà là họ của một người tao kính trọng từ thuở bé. Đó là người anh hùng Bình Xuyên Dương Văn Dương còn gọi là Ba Dương. Ông ấy ra trận không bao giờ nằm và luôn luôn xung phong trước lính. Do đó tao lấy bí danh họ “Dương” và cố noi gương anh Ba Dương.

Thằng Đá có vẻ thông thạo văn hóa:

– Anh làm cái gì cũng có ý nghĩa sâu sắc hết. Vậy anh có thể cho chúng em biết tại sao lại lấy tên Hai Hà?

– Để hôm nào anh sẽ nói cho nghe, bây giờ có khách.

Bảy Ga, Hai Khởi, Tư Quân tới. Đây là những người bạn kế cận chiến đấu của tôi từ 3 năm nay ngoài ra còn là trí âm và tâm sự thập kỷ nình còn sống sót với tôi.

Vừa ngồi vào bàn, tôi hỏi ngay Hai Khởi:

– Ông định chặt cái nào ông tha…am mưu?

Hai Khởi rỉ tai tôi. Tôi xoè tay bắt:

– Rua ông cái đi! Chính hợp ý tôi.

Hai Khởi móc thuốc bỏ lên bàn, tiếp:

– Ba đứa tôi bàn với nhau rồi, chờ thầy quyết định.

– Cái đó tốt hơn hết!- Tôi nói- Lúc này mình chỉ có thể chơi cò con thôi.

Thật vậy, không còn cái nào tốt hơn đồn Phước Hưng. Nó đóng phía sau ấp chiến lược Suối Cụt thuộc ấp Bàu Diều cách bót Suối Cụt không đầy một cây số.

Bót Thái Mỹ vừa bị hạ . Binh sĩ còn đang mất tinh thần. Chỉ ngại một điều là xe tăng Đồng Dù và thị trấn Củ Chi tiếp viện trong nháy mát. Nhưng trong vùng không còn cái nào ngon xơi hơn. Phải hi sinh ít nhất 1 a như ở bót thầy Mười. Để rửa bộ mặt lem luốc cho con hùm xám Điện Biên, thì phải cố. Chứ tinh thần cán binh đang lung lay như cái xe bò của má Chín Khuân vậy, hai bánh xệu xạo, hai gọng lỏng le nhưng phải lôi nó chạy, nếu dừng lại nó sẽ rã banh từng miếng không thể ráp lại được.

Tôi đưa tay cho Hai Khởi:

– Tôi giao quyền định đoạt cho đồng chí tham mưu trưởng!

– Xin nhận trách nhiệm. Hai Khởi nói và bắt tay tôi.

Hai Khởi rất mến tôi. Nhiều lúc ở chiến trường tôi la lối quát tháo nhưng y không giận. Đi nhậu ở đâu y cũng lôi thầy Hai theo thì “uống mới ngon”. Y cấy rau muống ở Chợ Neo Thanh Hóa, về trong này lại quơ thêm một nường 20 tuổi. Do đó bị rơi một sao. Lúc mới về, tôi thông cảm thằng đàn ông xa vợ, nên tìm cách cứu bồ. Rồi y được vô đảng ủy tiểu đoàn. Một lần khác, y đi liên hệ với Xã ủy Trung Lập. Bà Út Siêng cãi vã lằng nhằng rồi khui vụ cấy Rau Muống của Hai Khởi ở giữa hội nghị có đông phụ nữ. Khởi nổi xung, chờ tan hội nghị, bất ngờ đá đít bà xã ủy. Bà này đi bẩm lên bà khu ủy Năm Đang. Năm Đang khiển trách bắt xin lỗi. Y cười: “tôi chưa đá chỗ khác của bả là may chớ xin lỗi gì! Giỏi kêu thằng Tâm về đây tôi xin..”. (Đoàn Tâm Dv là chồng sau của Út Siêng). Tôi phải viết thơ cho Út Siêng hòa hợp hòa giải.

Vì thế trong công tác còn có cái tình riêng. Ngoài ra Khởi là cán bộ già dặn hơn Tư Quân và Bảy Ga, chỉ tại cái tánh ngang nên không lên được. Từ khi y có con, thỉnh thoảng tôi lại cho về thăm nhà ở tận làng 13 Dầu Tiếng. Y thường giục: “Thầy Hai coi chỗ nào làm đi, kẻo cha già con muộn hơn tôi nữa đó. rô; thấy thầy có tóc ngứa rồi kìa”.

Mấy lần nghiên cứu bót Phước Hưng ghé nhà Năm Minh xã đội, gặp cô Tám Lệ coi phải gái, Khởi cứ đốc vô. Nhưng Lệ đã có chồng. Khởi cười “chồng chết thì như chưa có!’; Tôi bảo: “Cô ấy có con rồi!l, Khởi vẫn không buông: “Gái một con mòn… tim Thầy Phá… áo”! Ở đời muôn sự của chung. Con người ta như con mình!”

Tôi lại dãy ra:

– Còn em Bảy… của tôi kia kìa.

– Em Bảy để đó tôi cầm chưn cho thầy mở đột phá khẩu em Tâm.

Nói đòng đưa vậy cho vui rồi cũng thôi, đâu vào đó, công việc quân binh cuốn hút, có thì giờ đâu mà gây hấn với em nào!

Bót Phước Hưng dễ nghiên cứu. Tôi chỉ xem qua một lần rồi hạ lệnh đánh với lực lượng 1 D. Trời sẫm tối, toàn D tập hợp tại ấp Mít Nài xã Phước Thạnh. Được tăng cường 2 khẩu trọng liên 12.8 và 2 khẩu DKZ 75 ly. Sáu Lức hăng lắm! Cưới được vợ ở Mỹ Hạnh nay tôi phong cho quyền Dt toàn quyền chỉ huy pháo phòng không, điều khiển 3 khẩu cối 81 bắn cấp tập và 3 khẩu DKZ mở đợt phá khẩu.

Được giao cho trọng trách, Lức thích thú múa tay:

– Kỳ này anh sẽ coi em bấm ! Em hạ lòng 12/8 rạch rạch quay một vòng tròn trên tường rồi cho DKZ đi 3 quả vào trung tâm thế là mở một miệng to, bộ binh tha hồ phóng vô như cá lóc nhảy hầm.

Tuy giao toàn quyền cho Hai Khởi, nhưng tôi vẫn đến chỉ huy sở để tiếp sức. Vừa chui vô hầm bỗng nhiên tôi xây xẩm mặt mày, té úp mặt vào vách, miệng buồn nôn, chân tay run rẩy, tê tái, mất cả cử động.

Chết mẹ rồi! Ai lại chỉ huy mà bịnh trước giờ nổ súng. Mấy đứa nhỏ đỡ tôi lên giương. Hầm ngột ngạt leo lét ánh đèn dầu như âm ty. Tôi ú ớ kêu đem tôi ra khỏi hầm, nếu không sẽ ngạt thở chết.

Mấy đứa bé lôi tôi ra mắc võng cho nằm bên miệng hầm. Tôi lơ mơ thấy một người đàn bà ẳm con tới kêu khe khẻ

“Anh Hai, trời ơi, sao vậy?”

Tiếng Hai Khởi nạt om:

– Y tá đâu? Kêu quân y mau!

Tôi nghe mơ hồ có một bàn tay sờ vào trán tôi và một giọng the thé:

– Chắc anh Hai trúng gió chớ không có gì đâu’ Để em bắt gió cho ảnh.

Tôi nghe cái nắp cù là hay đồng xu cào trên ngực trên bụng tôi. Rồi những ngón tay rút da trán và hai bên thái dương. Tôi cảm thấy tê mê êm ái.

– Đau không anh?… xong rồi, đắp chăn cho kín, đổ mồ hôi sẽ khỏi.

Tiếng Hai Khởi hay Tư Quân chế giễu:

– Xỉu mà như ông thì cũng xỉu vài keo nữa đi ông nội!

Không biết bao lâu, tôi mở mắt. Tôi có cảm tưởng chỉ còn sống cái đầu còn các bộ phận khác đều tê liệt hết. Thấy Bảy Ga đứng bên võng, tôi hỏi:

– Xong cả chưa?

Bảy Ga đáp:

– Các đại đội đang triển khai. Thông tin bắt đầu ra dây.

Y tá vào tiêm cho tôi mũi thuốc. Thở thơm thơm thì biết là dầu nhãn, loại thuốc khỏe cô Thu cho tôi lúc xuống địa ở Bến Mương. Hai Khởi đưa cho ly cà phê, pha trò:

– Không có Capstan… Hi hì “ăng câm liệt chưa?” (ăn cơm được chưa)

Tôi gượng cười nhưng không ra tiếng. Khởi pha trò tiếp:

– Sắp oắng cái “lồng” mà ông thầy “pịn” há cái lì làm sao “oắng liệt?

Tôi tung chăn ra, thọc chân xuống đất, hai tay nắm mép võng, nói với Bảy Ga:

– Anh theo sát dân công, đem chiến thương ra, không để như kỳ vô Củ Chi thằng Tư Ếch kẹt trong đồn.

Nói xong tôi đứng phắt dậy, đi luôn. Thằng Đá mang súng, thằng Tiểnn quảy xắc-cốt chạy theo. Ra tới cửa, đụng 2 ông xã đội Năm Minh và Hai Đen. Năm Minh nói:

– Kỳ này anh Hai cho tụi em xin vài cây.

– Hỏi ông tham mưu kia cà !

Hai đen nói:

– Tụi tôi cho bà con nấu cháo giải lao chớ làm heo chắc không kịp.

– Tụi này đánh trong vòng 45 phút. Đừng làm gì hết, lộ ra, ăn pháo mệt lắm!

Hai Khởi ém tôi vô hầm đưa cho tôi một máy bộ đàm với 2 cậu thông ti, dặn thăng Đá thằng Tiển không cho tôi ra khỏi hầm.

Trận đánh tuyệt đẹp diễn tiến gần theo kế hoạch. Chỉ trong 3 phút đã chiếm được mục tiêu chính. Tôi nói trong máy:

– Bảo DKZ và trọng liên ngưng bắn, kẻo lạc đạn trúng mình.

– Cái gì nổ ầm ầm vậy?

– Bộc phá đánh bên trong!

– Đánh mau mau lên. “Cá lẹp” sắp đến đó ! Dakota thả pháo sáng ở ấp Bầu Điều rồi kia.

– Bắt được thằng trưởng đồn rồi.

– Đem về, đừng bắn!

– Đem thương binh ra mau!

– Lấy được 3 trung liên, một đại liên 30, một colt 12.

Tiếng Sáu Đức Ct C1:

– Tôi đang tưới xăng đốt.

Pháo Đồng Dù bất đầu nện Lào Táo, Bầu Điều ngay sau lưng chỉ huy sở của tôi. Còn bót Suối Cụt kế bên im lìm, không tiếp hỏa.

– Thu dây, cúp máy, rút!

Cánh đồng Bầu Điều sáng rực. Uộc uộc… uộc ! Dakota bắn. Những que lửa dài ngoằng cắm xuống mặt đất đen ngòm. Pháo Đồng Dù rót vào Bàu Trâu và dọc bờ ruộng xóm Mít Nài chặn đường rút lui. Cả đơn vị len lỏi chạy hụt hơi về đến nhà Hai Hùng cán bộ Tu Hú xã Phước Thành chui vào cái hầm chật như nêm cối, còn một đám đứng ngồi bên ngoài nghe chừng hướng đi của cà-nông để né hoặc nằm nhoài tránh. Thời may nó quay họng sang hướng khác. Mấy bà già trầu Năm Đang Hai Xót và cô Tám Phụng mừng reo như chích chòe. Tám Phụng nói:

– Mấy anh làm lẹ quá hà ! Mới tấn công đã xong. Tụi em không kịp nấu nướng gì hết.

Hai Khởi buột miệng:

– Đánh đồn, phải làm mau như gà đạp mái vậy cô em à! Ở đó mà cù cưa, nó pháo rụm hết cả bầy sao?

Tám Phụng mắc cỡ đỏ mặt:

– Anh nói chuyện gì đâu không hè!

Tư Quân ỷ có vợ là bà Năm Re, nói không ngại miệng:

– Ông Tha Mu nói đúng chớ cô Tám! Xẹc xẹc cái là xong, xách càng cua chạy thụt sịnh. Khi nào cô có chồng lính, cô sẽ thấy ông cũng là… gà… cồ thôi.

Thằng Tiển cắm điếu thuốc Ruby trên môi tôi, cười toe toét:

– Anh Hai làm vài hơi cho thơm râu.

– Anh Hai uống nước mía lau của chị Tám Lệ nè – thằng Đá tiếp.

Tôi chưa bao giờ nghe hương vị nào ngọt ngào hơn ngụm nước mía lau như hôm nay. Tôi thấy khỏe lại ngay.

Tôi bảo Hai Khởi:

– Ông lo tiếp trận ngày mai. Trung Hòa thế nào cũng kéo vào lấy xác.

– Ông thầy để đó cho tôi chơi tụi nó cú song phi.

Tôi bảo Hai Đen:

– Anh cho du kích bắn sẻ khi chúng nó tới lựng khựng ở cầu Đại Hàn để bộ đội khai hỏa nghe!

– Dạ . Để tui cho du kích khía tụi nó kiếm bậy cây “cun”.

Trời sáng lúc nào không hay. Mọi người tản ra hết. Hai Khởi ở lại. Thắng trận, y lên gà, gáy ran:

– Tôi bàn với thầy kế hoạch phục kích như vầy. Ngày mai trở lại ém quân bất ngờ. Tôi cho C trợ chiến tấp qua Vườn Trầu nghỉ ngơi. Còn 3C kìa kẻo về Ràng để nghỉ binh, đợi hừng sáng băng đồng qua phục kích. Trong đơn vị có thằng Bảy Cf rành địa hình Phước Hiệp sẽ phục ở bìa ruộng Bàu Điều với 4 cối 60 và 2DKZ 57, 1 đại liên 30. Chờ tụi nó vô bót lấy xác sẽ cho cối 81 dậy, cối 60 tiếp. Nếu có xe tăng tới mới nổ toàn mặt trận, còn không thì đại liên và B40 nằm ụ. 2 C1 và 2 phục kích lộ số 7 thả cho bọn Trung Hòa ra rồi khóa đít hốt ổ. Cl chận trong vườn, C2 mở cánh cung ở đầu trong quét sạch, C3 xung phong ra mặt đường bắt tù binh và thu vũ khí. Đài quan sát đặt trên ngọn cây Mít Nài um tùm trông thấy cả cánh đồng dọc lộ số 7 ra tới Suối Cụt sẽ giao cho thằng Đá báo bằng điện thoại cho tôi.

– Đánh bộ binh coi đơn giản mà phức tạp vì đội hình ta và địch thay đổi luôn. Người chỉ huy phải khôn lanh sáng suốt. Tùy ông định liệu. Trận này đừng cho nó gỡ hòa.

Hai Khởi nói:

– Thầy coi bộ xuống sức bộn rồi. Ra trận chạy không nổi đâu!

Tôi ngồi im. Hai Khởi nghiêng đầu cười hề hề:

– Hôm qua xỉu thiệt hay xỉu giả đó ông tướng?

– Giỡn hoài cha! Chắc tôi đau tim nên mới xỉu kiểu đó !

– Ờ, đau tim là phải rồi! Tôi biết nàng hồi còn làm cô giáo nhưng tôi không xáp vô nổi.

Thầy còn đợi gì? Hốt ổ thì cái nào cũng vậy thôi, nhưng cái ổ này không hơn má con Tiền, má con Liên, má con Rớt, má con Hoàn hay sao? Ổ này, con gái son không bằng đó nghe cha nội. Lừng chừng người ta quơ mất rồi tiếc nghe ! Ông “bứng gót” ngay bây giờ là vừa đó.

Nghe Hai Khởi dùng tiếng mới “bứng gót” dí dỏm trữ tình, lạ tai tôi cười rồi ngồi lặng thinh. Hắn tiếp:

– Hay là còn sợ “người tình có trái tim rực lửa?”

– Tôi không sợ ai hết. Vì tôi không có thề thốt gì với ai. Tôi chỉ sợ tôi.

– Sợ cái giống gì?

– Ông không thấy Năm Tiều, Ba Tố, Hai Giả, Sáu Phấn đó sao? Bây giờ vợ góa con côi, ai lo cho? Các chả nằm dưới ba tấc đất có nghe vợ than con khóc đâu.

– Xì, ông phải sống theo thuyết hiện sinh Sàigòn kìa mới được. Cứ tu hoài, chừng nào thành?

– Tôi không có tu nhưng tôi ngán quá ông à !

– Bậy nào! Để tôi ăn cái đầu heo của cô Tám nghe! Các nàng dũng sĩ và cô bé cỡi Honda có bén mảng tới, tôi sẽ “phơ” cho mà chạy ra khói: “Á, xê mi ra! Các ngươi dám bẻ nạng chống giời hử?” Hai Khởi phùng mang huênh tay làm tôi cười ngất. Y tiếp:

– Ông nhớ lúc mình về Nam không? Khối bà răng đen đeo chân khóc lóc, nhưng ta quyết đi là đi. Ông có trái tim thép khi đánh giặc, nhưng lại trái tim bột nếp lúc gặp em. Ông có thấy thằng Bính Chưn Lư, thằng Vàng và những thằng đi Sàigòn về, chưa? Thoát chết là cưới vợ ngay. Tụi đó khôn. Gặp em là “lượm gót” liền!

– Rồi như thằng Bính đi Rạch Kiến không về đó, vợ nó sẽ bị người ta “lượm gót” lại!

– Nhưng nó không chết thèm và có người cúng cơm cho nó. Cuộc đời là may rủi mà thầy Hai ơi!

Thua ở Sàigòn chết hàng ngàn lính, gỡ lại bằng một cú Phước Hưng bắt có 8 tù binh mà gọi là thắng hay sao hả ông Võ Văng Giáp và ông Văng Xuống Vũng? Các ông ở Hà Nội nhàn cư vi bất thiện, có ngứa tay ngứa chân thì đi vô chủ tịch phủ sờ râu Bác chơi hay lên Hồ Tây học đờn dương… cầm chớ bày ra cái màn tổng công kích Sàigòn, chớ cho sánh linh đồ thán?

– Thôi nằm đây cho khỏe gà nghe. Tôi đi lo công việc! – Hai Khởi cáo lui.

– Ở đây là ở đâu?

– Trời, thầy mê ngủ hay sao? Thầy cứ ngủ một giấc đi rồi mở mắt ra sẽ biết ở đâu.

Miệng hầm kia cà ! Hễ nghe pháo đề-pa thì lăn vô đó !- Nói xong Hai Khởi biến mất. Tôi mở mắt ra. Không thấy ai hết. Té ra chiêm bao.

Tôi nằm bơ vơ một mình, suy nghĩ chuyện này sang chuyện khác, người này tới người kia. Cái sợi dây lưng của cô du kích trận đồn thầy Mười, Bảy Nê, Tư Bé, cô Ẻng. Con Bảy Bánh ú nuôi thằng Hùm trong hang. Sáu Hùm, Năm E…

Sông Sàigòn bập bềnh xác bò đen bò vàng. Tư Nhựt, Năm Truyện bây giờ nằm ở đâu? Vợ Tư Nhựt với mấy cây nhang cặm trên đầu. Tôi úp mặt vào mép võng định ngủ để quên. Nhưng không tài nào dỗ được giấc ngủ.

Bây giờ là giờ nào mà sao ngôi nhà lạnh lẽo quá chừng. Lòng lơ mơ buồn, miệng nghêu ngao hát. Tiếng hát như kẻ độc hành lang thang trên một con đường chiều không quán trọ. Nó cứ bay trên chòm cây ngọn cỏ và tan đi trong khói sương.

Một âm điệu nào đến đậm đà trên môi tôi, một lời ca xưa lắm bật ra bất ngờ

“Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều
Bên đồi tiếng suối reo ngàn thông reo
Còn đâu trong chiến khu trong rừng chiều
Bên đèo ngàn thông reo đạn bay vèo.
Hôm nay đây vai vác súng
đi đi lên chớ dừng chân đứng
Sương dần xóa núi rừng
Tiến! Quân hò quân hò vang trên rừng hoang
Tiến! Quân hò quân hò vang
khắp muôn trùng ầm chiêng trống.
Chiều nay xa chiến khu trên đường về
Riêng mình đứng gác trong chòm cây lá
Rừng sâu xa núi cao cao mù
Tiếng quân hò lời chưa dứt dưới bóng cờ
(l)

Tôi lẩm nhẩm không có thứ tự gì hết, câu nọ xọ câu kia tùy theo trí nhớ. Bài hát xưa quá. Tôi thuộc từ ngày đầu kháng chiến. Lời ca trầm hùng thu hút tâm hồn niên thiếu của tôi lạ thường. Thuở ấy hai tiếng “chiến khư” mới xuất hiện như một danh từ thiêng liêng mang hồn sông núi. Nào ai hiểu chiến khu là cái gì. Nào đã có nơi nào được gọi là chiến khu đâu!

Đó chỉ là một danh từ trừu tượng nhưng bài hát mô tả thành nét cụ thể có núi, có rừng, có suối reo, và có đạn bay vèo. Thật đẹp. Nó làm cho tôi quên những bài toán, những câu luận văn, và lòng rạo rực muốn trở thành cô Jeanne d’Arc hay cậu bé Barbara anh hùng. Bất giác tôi huýt sáo vang nhà

…Thôi chia ly vai vác súng
trông mây trắng gió buồn đứng
Chiều vàng, nhớ núi rừng.

– Anh Hai hát bài gì nghe buồn quá vậy? – Một giọng thỏ thẻ bên tai tôi.

Tôi mở choàng mắt ra: một người đàn bà. Một gương mặt đàn bà. Một mùi hương tóc đang quyện lấy tôi.

Tôi ngồi bật dậy, lúng túng:

– Tám! Em đến đây hồi nào?

– Nhà em ở đây, anh quên rồi sao?

– Ừa sao tôi nhớ tôi đã theo đơn vị lúc nãy rồi mà !

– Anh còn cảm, mấy ảnh gởi anh lại cho em săn sóc chớ anh có đi đâu!

Tôi tưởng Tám Phụng. Ai dè không phải. Mắt tôi bị lóa: Tám Lệ. Tôi nói:

– Bữa nay cô Tám ở nhà à?

– Dạ bữa nay em không có công tác đâu hết.

Tôi tưởng đã trải qua một giấc mơ. Mà mơ thật. Tôi nghĩ thầm: cái cảnh này là do Hai Khởi bày đặt ra. Ác thật! Tám Lệ lại thỏ thẻ:

– Anh hát lại bài lúc nãy cho em nghe được không?

– Tôi hát bắt quàng chơi vậy chớ đâu có thuộc bài nào.

– Anh làm hiểm chớ sao không biết. Em nghe hết từ đầu chí đuôi mà.

Vừa nói Lệ ngồi sà bên đầu võng của tôi. Tôi không dám nhìn nghiêng mà cứ ngó thẳng lên nóc nhà. Nàng tiếp:

– Nếu em thuộc bài đó, em sẽ hát đưa cho con ngủ.

Tôi gạt ngang:

– Ai lại ru con bằng bài hát đó? Bài của Vệ Quốc đoàn mà hát đưa em sao được?

– Sao không? Tại anh không muốn hát cho em nghe nên anh nói khéo.

– Tôi nói thiệt mà ! Đó là bài hát kháng chiến.

– Bài kháng chiến sao em không nghe hát?

– Kháng chiến thời trước. Hồi đó chắc em mới biết đi thì làm sao em hát được.

– Hổng chừng má em có hát cho em nghe chớ không khỏi đâu.

– Chẳng ai ru con bằng bài hát khang chiến hết Lệ à! Người ta ru bằng ca dao như:

Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi
Khó đi anh dắt em đi…

– Khó đi anh dắt em đi. Rồi sao nữa? – Lệ ngả đầu vào mép võng và hỏi.

Tôi nói:

– Anh chỉ biết tới đó thôi!

– Chắc anh ru con cũng giỏi lắm. Nói xong Lệ chạy vào buồng bế con ra đặt trên bụng tôi- Anh hát cho con ngủ đi! Để em đi nấu cháo cho anh ăn. Anh còn yếu lắm. Anh không nên đi theo đơn vị. Anh không thích con nít hả ? Anh sợ con nít hả ?

– Anh thích chớ, anh đâu có sợ.

Tôi tránh nói tiếng “anh” để khỏi đi quá mức thân mật bình thường, nhưng tự nhiên nó lại đến không ngăn được. Rồi thôi, tôi cứ để nó đến tự nhiên cho dịu dàng đầu lưỡi.

Lệ cười:

– Ban đầu đàn ông nào cũng sợ con nít hết. Nhưng dần dần rồi ham. Anh hát con ngủ đi.

Đứa bé xinh xắn thơm sữa mẹ nằm gọn trên ngực tôi, chòi chòi hai chân rồi ư e. Bất giác tôi cầm lấy bàn tay mũm mĩm của nó đưa lên mũi.

Lệ lại hỏi:

– Anh có sợ nó làm xấu không?

– Con nít làm xấu trên mình là hên đấy Lệ à ! – Tôi giật mình định rút câu nói lại nhưng Lệ tiếp ngay:

– Sao anh không kiếm một đứa để lấy hên. Tuổi này rồi cứ đi bồng con người ta hoài sao? Anh có muốn không? Con anh đấy’ Đi đâu bỏ nó trong ba lô mang theo.

– Con anh thật không?

Nàng ngồi xuống đất rướn người vào võng hôn con. Cái hôn thiệt dài thấm sâu, xuyên cả gỗ đá. Chiếc võng lắc lư khe khẽ.

Buồn cười cho cái thằng Lê Dương đầu đỏ: hết bị người ta “xin con” bây giờ được người ta cho con.

(1) Bài “Nhớ Chiến Khu” của Đỗ Nhuận (1946)

Chương 116

Tên già dềnh bí thư khu ủy nào đây?

Tiểu đoàn 1 và 2 đặc công Gia Định đánh đài phát thanh và toà đại sứ Mỹ, cố nhiên là không xong , rút về Bưng Còng để bổ sung quân số và chấn chỉnh tổ chức, chuẩn bị “trở lại” Sài Gòn hát tiếp khúc tình ca “Kinh Kha sang Tần” nhưng chưa chấn chỉnh được gì thì bị Anh Cả Đỏ quần cho nát tan ở suối Xuy-Nô và Rạch Kiến. Bình Chưn Lư chết bỏ vợ mới cưới khi đánh chốt ở Rạch Kiến.

Lính Hai Lôi bây giờ như chuột mất hang hay chuột đang đào hang cũng thế. AK bắn hạn chế. B40 chỉ còn một trái đạn gắn đầu súng để triển lãm cho con nít coi.

Một buổi trưa tôi đang nằm mơ màng thì có người đến.

Năm Ngó- quận đội trưởng Năm Chi. Trời ơi! hắn như con thòi lòi từ bãi bùn lóc lên cạn. Nam Chi mảnh đất chết, khác nào miền Nam của nước ta. Cán bộ tới đó có nghĩa là sắp đi đầu thai dưới lằn xích xe tăng hay trong họng súng biệt kích. Những nấm mồ tập thể mọc kín đất Nam Chi. Nam Chi đi dễ khó về. Nam Chi dương cước anh hùng tận. Tôi nhìn Năm Ngó. Hắn không chiếm được một chút cảm tình nào của tôi, nhưng từ ngày hắn được bổ nhiệm làm quận đội trưởng thì tôi đâm ra thương hắn. Hắn rồi sẽ lên bàn thờ sớm thôi.

– Khách nào đây cha? Tôi hỏi và ném một cái nhìn sang một lão già lạ hoặc đứng sau hắn.

Năm Ngó nháy nháy tôi. Nhưng tôi không hiểu gì hết. Vào thời buổi này mà đem khách tới nhà thì chẳng có bổ tỳ bổ thận chút nào. Chạy thì vướng mà bỏ thì tội. Giấu xuống hầm thì hầm chật. hầm quốc tế thì không bảo đảm. Còn riêng tôi thì đã thề không bao giờ xuống hầm gì hết. Tại sao hắn không chứa mà gán cho tôi cái lão già này?

Với tất cả sự nghiêm trọng hơn lên nét mặt, ngài quận đội trưởng lôi tôi ra góc sân xầm xì xám xịt. Tôi bảo:

– Không được đâu cha! Người quan trọng vậy tôi không dám nhận. Đơn vị tôi đấm đá liền liền, tụi Mỹ chụp chiếc liên miên chớ phải nằm yên ăn hút đâu.

Năm Ngó năn nỉ:

– Ở trên tôi không còn chỗ ! Một cái hang còng nó cũng moi làm sao giấu ổng?

Tôi đổ quạu:

– Bộ ở đây yên ổn lắm sao! Nó chụp cả ban đêm. Già khọm như thế làm sao tôi dắt chạy được .

– Ông không nhận nếu có việc gì, ông chịu trách nhiệm. Ông Hai Mỏ bảo tôi đưa đến đây.

– Sao ổng không lo mà đùn cho tôi?

– Ông có bộ đội, còn mấy ổng có mấy du kích quèn.

– Sao không đưa ổng xuống địa của các cha!

– Thôi, đừng có đùa. Nhận đi để tôi dìa kẻo pháo thụt.

Không thể từ chối được, tôi đành phải nhận. Năm Ngó mừng như đại thắng mùa Xuân. Y quay lại nói với lão già :

– Anh Tư ở đây với anh Hai Hà bảo đảm hơn! – Nói xong y quay đi như trút nợ.

Tôi phải đeo một cái gông bằng xương bằng thịt. Ông ta là Tư Kẹt. Số là sau khi Tư Trường chết, trên R đưa Ba Th. về làm tư lệnh kiêm chánh ủy, nhưng ông lại vướng cái ô thứ nhất (Việt Cộng có 2 cái ô, không tên nào không vướng, có tên vướng cả 2 ô một lúc. Đó là dâm ôtham ô) nhưng đồng bọn thường che chở cho nhau nên ít khi lộ chân tướng. Ba Th. là anh nuôi của Lôi từng làm tiểu đoàn trưởng và là phó ban Tác Huấn phòng Tham mưu Nam Bộ của Lê Đức Anh thời 9 năm, oai hùng một cõi. Ra Bắc, nhờ thành phần công nhân, được phong thượng tá, về R làm cục phó chính trị, chỉ dưới tướng Trần Độ thôi. Nhưng khổ thay trong văn phòng ông Cục phó có cô cháu gái đồng hương. Ông Chú nhìn hằng ngày ngứa mắt nên ông “Cụt”, trở thành ông “dài”.

Tội nghiệp cô bé mới ban đầu còn nịt bụng, nhưng cái mầm non lớn dần, phải đưa đi nạo (không biết có nạo được không?) trong lúc ông được quyết định đi làm Tư Lệnh khu IV. Chuyện đổ bể quá to không bịt được, nên Chín Vinh ách lại, không cho đi nhận chức. Xét ra thì tội Ba Th. cũng xêm xêm tội của Lê Đức Anh. Có vợ rồi còn tòm tem thì sao? Chín Vinh hủ hóa với mụ phó thì sao ? Sáu Di quơ vợ ông anh hùng đặc công bị bà già quấn rế đánh ghen nổ trời ở R thì sao? Thế nhưng bọn này ăn vụng liếm mép sạch lại được đồng bọn che giấu, còn Ba Th. là dân Nam Cờ cô thân độc mã. Hơn nữa với thành phần công nhân, tương lai Ba Th. có thể trèo cao hơn chúng. Cơ hội ngàn năm có một, không hạ hắn đo ván thì đợi chừng nào?

Do đó Tư Kẹt được đưa xuống làm Bí Thư khu ủy thay cho Tư Trường, Bí Thư khu ủy kiêm chánh ủy chết trên cùng một bãi mìn với Ba Xu.

Tôi miễn cưỡng bắt tay ông Bí Thư mới. Chuyện đầu tiên là ông ta dặn tôi đừng có cho ai biết tên tuổi và chức vụ của ông ta. Thứ hai là đừng nói về cái chết của Bộ Tư Lệnh và Năm Tiều.

– Nó sẽ làm mất tinh thần chiến sĩ ta!

Khổ quá, chiến sĩ biết cả rồi ông nội ơi. Họ mất tinh thần không phải chỉ vì mấy cái chết đó mà còn vì cú đánh rừng Mậu Thân thiêu gần trụm lực lượng võ trang GP.

Tôi nhớ tôi có gặp lão ta trong bữa tiệc máu. Lúc đó Tư Trường và Ba Xu nổi bật còn hắn ngồi xếp ve chỉ ăn chớ không huấn thị câu gì cho thông lỗ tai.

Việc thứ ba là:

– Ở đây có hầm không đồng chí?

– Dạ, chúng tôi là bộ đội tập trung, không có giặc thì ở trên mặt đất, còn có giặc thì đánh chứ không chui hầm! -Tôi lễ phép thưa- Hơn nữa có chỉ thị của Bộ Tư Lệnh không cho bộ đội xuống hầm hoặc địa, từ năm 1966.

Tôi thấy nét mặt ông Bí Thư co lại, những đường nhăn trên trán nổi cộm lên. Cái mồm hô, cặp môi dày, ngó không ra trí thức mà cũng không phải cu-lỉ, không ra chủ điền mà cũng không phải tá điền. Có lẽ cặp kiếng gọng đen vớt vát cho ông ta được một phần nào sự ngu độn, tôi có thể nói chắc không có một sự thông minh tối thiểu nào tìm thấy, dù bằng kính hiển vi, trên mặt lão già này.

Lão ta nói:

– Tình hình này ta phải phân tán bộ đội, trở lại thời kỳ du kích.

– Dạ tôi đã thi hành chỉ thị đó rồi ạ !

– Phải kiểm soát cho được con sông Sài Gòn. Đưa đốc công vào đánh Đồng Dù. Phải đánh sập cầu Bà Bếp, cầu Bình Dương và đốt kho đạn Gò Vấp.

Nghe chỉ thị mồm của ông, tôi biết ông không hiểu tí gì về quân sự, kém cả Tư Trường, nhưng bí thư khu ủy đã phán, ai dám cãi lời? Nên tôi vâng dạ cho qua.

Tôi thấy khó xực với ông Bí mới nên cho thằng Đá đi gọi Vũ Mạnh Liên đến tiếp xúc. Chính trị nói mép với chính trị, múa mồm hợp giơ hơn. Vũ Mạnh Liên là tên Bắc Kỳ xâm lược mới vô, như Thiếu Tá Mười Thư xuống làm quận trưởng Củ Chi năm trước được một tháng rồi xéo mất. Thứ chê dân Nam Kỳ vô kỷ… “loạc”. Vũ Mạnh Liên mềm dẻo và cố xáp với dân Nam hơn với chức Chánh ủy Trung Đoàn. Nhưng Bảy Ga lẫn Tư Quân đều dạt ra không đoàn kết được.

Vũ Mạnh Liên gặp Tư Kẹt, một Bắc một Nam, một già một trẻ đấu võ chính trị om sòm. Tôi cáo lui xuống bếp nấu nước, nhưng không quên lắng tai nghe họ nói gì.

Tư Kẹt hỏi:

– Đồng chí về đây được bao lâu rồi?

– Mới 2 tuần thôi ạ, nhưng tôi nhìn tình hình vững lắm.

– Quân sĩ thế nào?

– Toàn Trung Đoàn có 9 đại đội, gồm có trợ chiến, pháo binh đủ cả. Riêng bộ binh có 6 đại đội ứng chiến.

– Hầm hố thế nào?

– Báo cáo đồng chí bí thư, hầm loại nào ạ?

– Tất cả các loại.

Liên ậm ừ.

– Dạ . . . dạ thì xã nào cũng có.

– Tôi được báo cáo xã này thông xã kia khắp Củ Chì!

– Dạ cũng có vài quãng lở sụp ạ còn ngoài ra tốt cả.

– Đồng chí có kiểm tra chưa?

– Kỷ luật địa đạo nghiêm lắm. Không có động, cửa địa không mở ạ.

– Tôi được báo cáo có đồng chí Nguyễn Thành Linh ở ngoài Bắc mới vô, kiến trúc địa đạo bằng bê tông cải tiến hơn trước nhiều, có cả lò Hoàng Cầm ở dưới đó nữa. Có không?

– Dạ vâng ạ !

– Vâng là sao?

– Dạ là địa đạo xóm liền xóm thôn liền thôn ạ.

– Có nơi nào ba tầng không?

Vũ Mạnh Liên gọi xuống bếp:

– Đồng chí Hai Hà ơi, lên đây có việc…

Tôi nhanh nhẹn chạy lên, bẩm ngay:

– Dạ địa đạo 3 tầng các xã đội mới tính làm chớ chưa làm nổi. Mới có địa hai tầng thôi ạ !

– Thế cũng tốt.

Chỉ được ít hôm, Liên bị xe tăng Mỹ càn bắt sống. Liên không biết “lội” qua suối, như phần đông lính Bắc chết trôi trên sông Sài Gòn. Liên cỡi trực thăng kêu la ỏm tỏi: “Bác Hồ đem con bỏ chợ. Anh em hãy mau về với chánh nghĩa Quốc Gia.”

Sau này tôi mới biết Tư Kẹt xuống đây bằng đường liên lạc công khai, người đưa đường là Tám Lệ.

Tám Lệ có chồng làm quân báo trong cụm quốc lộ 1 của Bảy Sơn và Ba Xuyên tất cả dưới quyền Sáu Huỳnh. Sư đoàn 5 Sài Gòn chụp, đào hầm bắt được anh chàng cùng 2 người nữa đem bắn ngay trước sân. Tám Lệ góa chồng, được “huấn luyện” cách mạng và giao công tác liên lạc đưa thơ rước khách Sài Gòn hoặc các thị trấn thị xã vùng quanh Củ Chi, trong đó có bác Tư Kẹt.

Tám Lệ kể cho tôi nghe hết mọi chuyện. Nếu không, tôi làm sao mà biết được những chuyện của đồng chí bí thư khu ủy vô đảng hồi 1902! Trước cả Lê-nin và Mác này. Đây là nguyên văn của cô gái góa, tôi ghi lại gần giống y, đứa nào thêm bớt cho pháo Đồng Dù ăn nó. Tám Lệ nói:

– Ông già gì kỳ cục quá trời. Em đóng vai. con gái ổng đi trên xe đò, ngồi chung một băng. Ổng ỷ ông là “Tía” nên cứ gục đầu vào vai “con” mà ngủ, rồi làm bộ ngáy và chúi mũi vào cổ em. Em ghét cái mặt dài như mặt ngựa hết sức nhưng không biết làm sao rứt ra.

Một hôm nàng hỏi tôi:

– Bộ ông lớn nào cũng như ổng hết sao anh?

– Tại ổng coi em như con nên ổng mới thân mật vậy!

– Tư cách đó, nói ai thèm nghe?

– Nghe chớ sao không nghe! Hổng nghe không được!

– Anh ở ngoải có biết ông nào tên Ba Xủng, Ba Dũng gì không?

– Không!

– Ổng làm bí thơ bí gì đó lớn làm sao anh không biết!

– À, biết rồi, Tổng bí thư Lê Duẩn! Mà em hỏi chi vậy?

Lệ làm thinh hồi lâu rồi tiếp, giọng bơ phờ vô định:

– Hỏi chơi vậy không được sao?

– Bộ em có quen với ổng à?

Lệ chuyển qua chuyện ở hầm:

– Ông Năm Ngó thật là kỳ ! Ổng bắt em chui hầm khó chịu quá. Giao liên công khai mà ở hầm cái nỗi gì. Nhưng ổng biểu, em đâu dám cãi. Cái hầm chiếc mà ở hai người.

– Hai người nào?

– Em với ông già Tư chớ còn ai nữa! Ban đầu em đâu có chịu, nhưng ổng dọa nếu cãi ổng sẽ báo cáo với ông Ba Xuyên thi hành kỷ luật. Ơi cái thằng cha Năm Ngố, sao bây giờ đổi tên là Năm Ngó. Ngó với Ngố thì cũng vậy thôi, cũng cái thằng cha xách dép cho Năm Cai với Sáu Nâu mấy năm trước đi dạy du kích gài lựu đạn, còn thằng chả thì không dám gài trái nào hết, chớ ai. Đi tới đâu bỏ con rơi ở đó. Ở Ràng, Đồng Lớn, Phú Hòa Đông chỗ nào cũng có con của ổng. Ổng lấy rồi ổng bỏ. Quận đội Tám Giò, Một Sơn, Ba Luân, Ba Cà… chết hết nên mới tới ổng chớ cái mặt đó mà làm quận, quận gì? Ổng bắt em phục vụ nước nôi, còn bắt ở chui hầm với ông già Tư. Ông già ló đuôi dài nhưng hầm chật, ổng cứ nằm trên đùi em rồi hít hít hoài. Em đòi lên, ổng níu tay chụp cẳng em lại. Em mét Năm Ngố. Năm Ngố bảo: tuổi ổng đáng bậc cha chú, nên thông cảm chút! Thông cảm là em hầu hạ cơm nước dắt đường cho ổng chớ thông cảm tới vụ đó sao? Em cự nự không chịu xuống hầm chung nữa, ông Ngố dọa: “nếu ở trên lính ruồng, bị bắt, mày khai báo thì chết cả họ, tao nói cho biết!”

Một lần lên nhà, ổng khịt khịt mũi kêu bị cảm, biểu em bắt gió cạo lưng rồi đấm bóp. Em nói em không phải là y tá, ổng bảo không cần y tá, có bàn tay cô bóp là tôi mạnh liền. Trời, da thằng cha già mốc thích, như da heo, cứng như da trâu bóp đau tay thấy mồ. Rồi còn biểu bắt gió trên trán nữa. Ổng nom sát mặt em, nhắm mắt, lim dim, gật gà gật gù miệng kêu ư ư rồi bất ngờ gục vào mặt em hun ẩu. Em xô ổng ra rồi bỏ đi. Vậy mà không biết xấu, mặt trơ ra bảo: “nhờ cô mà tui hết bịnh, mai mốt tôi có bịnh tui khỏi uống thuốc.”

Một bữa ổng nói: “Anh Ba Lê Duẩn vô Nam công tác cưới một cô học sinh trẻ hơn băm mấy tuổi. Đến chừng ra Bắc có xe hơi nhà lầu, có cần vụ giặt quần áo, rồi được gặp Bác Hồ, lại còn được đi Liên Xô học. Nếu em ưng anh sau này cũng được như cô kia. Chịu đi mà, cưng còn đẹp hơn bà tổng bí! ” Ổng kêu em bằng “cưng” và xưng “anh” nghe mới chướng chớ!

Tôi bật cười:

– Rồi sao em không ưng?

– Xời! Thằng cha mặt nhăn như khỉ già, khó coi bỏ mẹ, kê vô nghe mùi mắc ói ai thích cho nổi. Em đi chuyến này xong xin nghỉ. Công tác gì kỳ cục quá. Ở trên có thi hành kỷ luật thì em chịu, chớ công tác vầy mà gọi là mần cách mạng hay sao?

Tôi cũng xấu hổ lây nhưng còn vớt vát:

– Vậy chị Tư Nhựt cũng đi công tác như em đó, có sao !

– Xí, chỉ cũng bị người ta mò, anh tưởng em không biết hay sao? Toàn mấy ông lớn không hà. Mà không phải một ông thôi! Ông nào cũng vậy hết.

Tôi không hỏi tới nữa, sợ nàng tuôn ra một mớ mắm cáy hỏng cả cái… “khu quỉ” khu 4.

Sau buổi nói chuyện này, ít lâu, tôi lại gặp Lệ. Nàng đưa cho tôi 2 triệu bạc, bảo:

– Ở trên gởi cho anh số tiền này nuôi quân đỡ trong một tháng.

– Sau đó lấy gì ăn?

– Ở trên bảo anh tự lực đi vô ấp chiến lược thu thuế lấy mà ăn. Rồi nàng rủ rỉ:

– Anh biết đường ra suối không, dắt em đi ?

– Ra chi ngoài đó. Kiếm “cá nhái” hả’?

– Tắm một cái. Mới chui hầm mình mẩy hôi như cú.

Hai đứa ngồi trên một hòn đá chung quanh có nước chảy trong veo. Nàng nói không ngần ngại:

– Em biết đời em rồi chẳng ra sao. Anh yêu em nhưng anh ngại tiếng gái có con. Đúng không?

Tôi ấm ớ. Không ngờ nàng chọc ngay tim gã si tình nhút nhát.

Nàng tiếp:

– Em biết có nhiều cô đeo anh. Em làm sao sánh được họ. Em cũng yêu anh nhưng em đâu còn gì để cho anh.

– Đừng nói nữa em!

Lệ móc một vật ném nhanh xuống nước. Tôi nhìn trên dòng nước, thấy vật bập bều như chiếc khăn tay. Lệ biết ý tôi, nói ngay:

– Đó là giấy pơ-luya em xin của văn phòng ông Ngố.

– Chi vậy? Em biết đánh máy à?

– Không. Em dùng giấy đó làm “chướng ngại vật cản quân xâm lược”! Nàng cười ngặt nghẹo.

Tôi ngớ ra, nhìn nàng. Nàng nhìn tôi và rủ rỉ trong tóc tôi:- Nói vậy mà không hiểu à? Ông ta đã tự bôi mặt. Em phải đề phòng chớ! Hiểu chưa nà… ào?

– Trời! Đến thế sao? (Tôi kêu lên trong thâm tâm).

Lệ tiếp:

– Em báo cáo với ông Ngố. Ổng bảo: Bảy mươi “có chức” cũng vừa 15! Xí, đàn bà có con chớ phải con gái hay sao mà đèo bồng! Chê rồi nữa tiếc! Em bảo ổng làm kỳ quá chú Năm à! Em biết ông Ngố đứng thấp dưới ổng xa, nên bọc xuôi -: “Bây cứ để cho ổng làm gì làm cho đến đi ! Chỉ có tao biết chớ ai biết? mà có ai biết cũng chẳng sao!”

Chương 117

Không đề

Năm Lê chưa đi Miền Tây vì Bộ Tư Lệnh cũ lẫn mới đều “vắng mặt”. Anh ở lại làm Phó Tư Lệnh kiêm Tham Mưu Trưởng. Một hôm tôi nhận được giấy mời. Lại qua bến đò Bùng Binh quen thuộc.

Chiếc đò làm bằng thân B57 đâu mất dạng. Một cái bánh xe đạp nằm vắt trên bụi cây.

– Xe thằng Lạn chăng?

Hơn một năm hay chục năm rồi, tôi không gặp hắn, sống chết, có còn đạp xe đi công văn? Đường sá này xe cỡi chớ không thể cỡi xe. Mỗi lần gặp tôi đều tặng cậu bé một câu hài hước. Nó cũng pha trò trở lại:

– Em đi Liên Xô mới về !

– Ở bển vui không mầy nhỏ?

– Buồn hơn bên mình, vì không có pháo và B52.

– Chừng nào trở qua?

– Chiếm Sài Gòn xong qua học nốt lấy bằng tiến sĩ chạy xe lôi cao cấp.

Chia tay lần nào tôi cũng tặng hắn ít tiền. Tội nghiệp thằng học sinh được người ta hứa ra khu để đi Liên Xô.Con đường hắn “lạn” có lẽ còn dài hơn từ Hà Nội sang Mốt-cu-ba.

Cái bánh xe trên bụi cây kia của khách nào hay của thằng Lạn?

Nước sông chảy lờ đờ. Không có “con bò vàng” nào trôi trên sông. Nhìn giề rác trôi không hiểu sao tôi nghĩ trong đó có xác Tư Nhựt. Hắn cũng khôn như cô Xuân y tá tìm về quê ở Phú Hòa Đông. Tư Nhựt về quê tìm vợ con ở Xóm Bà Nga Trung An. Hắn có biết đâu giờ đây vợ hắn điên khùng và bị người ta bạc đãi (Tên hắn bêu trên cột đường hiện giờ ở Sài Gòn như tấm mộ bia không có mộ cũng không có xác dưới mộ)

– Tư Nhựt ơi, hiện giờ ông nằm ở đâu, sao không ứng mộng về cho vợ ông biết. Nếu ở dưới sông thì chị sẽ rước thầy làm việc vớt, chớ ông nằm dưới sông suốt đời không sợ lạnh hay sao?

Tôi qua sông, đến gặp Năm Lê . Anh mừng rỡ hơn những lần trước. Anh ôm choàng lấy tôi:

– Tao tưởng mày chưa qua được.

Anh vào ngách trong vừa rót rượu vừa nói ngay:

– Vấn đề của mày sáng tỏ rồi.

– Vấn đề gì anh Năm?

– Cái thằng! Lâu nay mày bị mắc ngẳn là vì thằng em mày. Người ta nghi mày bị nó địch thay vì mày vận nó.

Tôi cười lễ độ:

– Cảm ơn anh!

– Không phải tao mà là tổ chức. Họ vừa bắt được con nữ gián điệp ở Củ Chi.

Tôi không tỏ ra vui buồn gì hết. Năm Lê nói tiếp:

– Thằng Vũ Mạnh Liên tệ quá ! – Anh đốt thuốc rít ba bốn hơi, phun khói như Tôn Hành Giã bay trong mây, nói – Ngó đi ngó lại không còn ai. Bảy Tùng đau tim chết trên Miên, Tám Lê Thanh ung thư cổ họng, lỗ tai có mủ đang ngất ngư. Trần Hải Phụng (tức Hai Phóm) đau huyết áp cao đang sửa soạn ra Bắc. Hai Minh thay thế Tám Quang trưởng phòng chánh trị đang đau phổi nằm ở R chờ đi thăm Diêm Vương. Mày bỏ tao thì tao làm sao?

– Tôi đâu có bỏ anh, anh Năm. Bỏ anh thì tôi còn ai?

Năm Lê hút chưa hết nửa điếu thuốc ném đi, đốt điếu khác:

– Mày mới làm được cái Phước Hưng hơi mát ruột một chút thì lại bị trả đũa. Thằng Tư Quân nó dẫn đơn vị đi đâu ra ngoài Ràng cho bị chụp chết 20 đứa vậy mậy?

– Dạ thì ảnh cũng đi ém quân, tính làm thêm một cú nữa cho ngoạn mục nhưng chẳng may.

– Chiến trường là phải luôn luôn đề phòng những cái chẳng may! Mày đã gặp ông chánh ủy mới chưa?

– Dạ, ông nào anh?

– Cái ông móc hang còng bị nó kẹp chớ ông nào.

Tôi nghĩ bụng: sao chuyện gì ông cũng biết hết ráo vậy Nên không dám chối. Tôi bèn đáp :

– Vụ thằng Năm Ngó làm sao đó chớ tôi không rõ.

– Lão già dềnh không biết người biết ta. Lão phải nhắm mấy mụ già trầu thì mới đánh nhanh thắng gọn chớ lao vô đám đó sao được. Tao nghe nói lão ta định xung phong, con nhỏ sợ quá phải xin giấy bịt cái hang còng, có không?

– Dạ, tôi không rành.

– Mày còn làm bộ thiệt thà nữa. Nó đeo mày, gỡ không ra đó .

Tôi đánh trống lảng:

– Dạ, cô ta gặp tôi có một lần đưa cho 2 triệu bạc, chỉ đủ nhét kẽ răng cọp đói thôi anh Năm!

– Mua gạo ăn đỡ đi rồi tính sau. Để lính đói nó trốn hết. Còn vụ Năm Thơi sao không thấy mày báo cáo?

– Dạ nhiều vụ quá, tôi không dám báo cáo.

Năm Thơi Dt đi họp xong, tạt về thăm vợ ở Cỏ Ống bị biệt kích bắn chết cả hai thầy trò.

Năm Lê lại hỏi:

– Nó đi Sài Gòn về đem cho vợ được mấy chục lượng vàng? Mẹ, giải phóng không mang tên ăn cướp cũng uổng!

Tôi cũng giật nẩy người, nhưng ông không truy kích, lại hỏi tiếp:

– Còn thằng Út Xiềng chui ở đâu mà bị moi?

– Dạ nó mới cưới vợ.

– Hừm, chỉ vậy thôi.

– Nó chui chung với 3 ông khác không rõ ở cơ quan nào bị xe tăng nó bắn chết cả hầm. Rồi sáng hôm sau nó chụp ngay chóc văn phòng tôi. Tôi đã thề không chui nhưng nói quá, chạy nó bắn chết nên phải chui. Nằm ở dưới nghe nó ăn cam ném vỏ trên nắp, thơm bát ngát.

– Kiểu như anh Ba kỳ đó.

– Nhưng may là không phải địa mà hầm khô có lỗ thông hơi.

Bàn xong kế hoạch tôi băng sông về Củ Chi. Mới tới nhà, thằng Tiển đã la bài hải:

– Anh Ba Nhẫn và anh Bảy Việt đói, dắt trinh sát ra Láng Cát đào đồ hộp của Mỹ mới rút, bị mìn nổ chết.

Thằng Tiển ngưng một chút rồi tiếp:

– Mà mìn lây mo của du kích !

– Mìn lây mo sao của du kích được?

– Dạ, em nghe nói du kích An Nhơn gài sao đó, em không rõ .

– Trời! Ba Nhẫn là Dvf. Bảy Việt là Df. Hai cán bộ D chết lãng nhách.

Tôi cho dời ngay văn phòng E xuống ấp Phú Mỹ sát bờ rạch Láng Thé cách hàng rào Đồng Dù có 3km đường chim bay. Ở đây tôi có thể yên giấc trong tiếng động cơ trực thăng và ánh đèn điện mờ nhạt của Tia Chớp Nhiệt Đới. Chơi với Mỹ thiệt hại đã đành. Không chơi cũng thiệt hại mà to hơn chơi.

—->Chương 118-119-120-121-122

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: