TỰ VỊ THẾ KỶ: Thành-phần cơ-bản

TVTK_coverTHÀNH-PHẦN CƠ-BẢN

Năm 1952 ở miền Tây Nam-bộ có một cuộc chỉnh-huấn tư-tưởng toàn quân. Ở trong quân-đội tôi không mang cấp bậc gì ráo, nhưng được cho chỉnh-huấn chung với hàng trung-đội-trưởng.

Trong cuộc chỉnh-huấn kéo đài ba mươi ngày này, giảng-viên chính là Chủ-nhiệm Phòng Chính-trị, đôi khi được Chính-ủy Quân-khu đến giảng bài. Mục-đích của khoá học là làm cho học-viên hiểu rằng giai-cấp công-nhân lãnh-đạo cách-mạng trong nước và cách-mạng toàn thế-giới. Ở Việt-Nam là một nước nông-nghiệp lạc-hậu nên giai-cấp công-nhân rất nhỏ bé nhưng giai-cấp bần-cố-nông lại rất lớn. Giai-cấp này được đánh giá ngang với giai-cấp công-nhân về mặt tinh-thần cách-mạng triệt-để.

Xuất phát từ bài học, những vị trung-đội-trưởng thành-phần bần-cố-nông rất được trọng vọng. Trong số này có một anh tên là Nguyễn-Thanh-Liêm.

Khi mới vào học thì tôi làm tổ-trưởng, nhưng vài hôm sau thì ở trên Ban Giám-hiệu đưa anh Liêm lên thay tôi mà không có lý-do gì cả, nhưng tôi hiểu ngầm đó là vấn-đề thành-phần.

Chương-trình học gồm có ba phần chính.

Phần một là Tình-hình thế giới và trong nước. Bài này yêu cầu học-viên xác-định lập-trường Ta, Bạn, Thù . Phe đế-quốc do Mỹ cầm đầu, phe dân-chủ do Liên Xô (và Trung-Quốc) lãnh-đạo. Phải dùng cho đúng tiếng: Mỹ cầm đầu, Liên-Xô lãnh-đạo, không được sai.

Phần hai là Nhiệm-vụ của cuộc cách-mạng Việt-Nam trong cách-mạng toàn thế-giới: giải-phóng Việt-Nam, Đông-Dương, Á-Châu góp phần vào cách-mạng vô-sản toàn thế-giới.

Phần ba là tự kiểm-thảo sai trái. Đây là phần quan-trọng nhất nhằm củng-cố lập-trường giai-cấp, dứt-khoát từ bỏ giai-cấp bóc lột (cho những ai có thành-phần không cơ-bản hoặc thành-phần bóc lột). Ở phần này sẽ có bầu điển-hình học tập từng tổ, từng tiểu-đội, từng trung-đội rồi bầu điển-hình toàn trường.

“Điển-hình” là cá-nhân nào thấm bài, tố khổ lâm-ly và ít sai lầm nhất trong công-tác.

Trong phần này, để hiểu rõ thêm vai trò lãnh-đạo của giai-cấp công-nhân tức là gần như bần-cố-nông Việt-Nam, giảng-viên nêu lên những ví-dụ về giai-cấp công-nhân như đồng-chí Tôn-Đức-Thắng là thợ xưởng Ba Son v.v…

Do cái ví-dụ này mà có một học-viên dám giơ tay hỏi “Hồ Chủ-tịch thành-phần gì?” Ông giảng-viên rất rành tiểu-sử vị lãnh-tụ của mình nên đáp rất trôi chảy. Rằng Hồ Chủ-tịch xuất thân là thành-phần phong-kiến nhưng bản-thân là công-nhân, vì từ thuở nhỏ Hồ Chủ-tịch đã làm bồi bàn, khi sang Pháp Hồ Chủ-tịch là thợ chụp hình. Trước sau Hồ Chủ-tịch đều là công-nhân.

Do tiếng “thợ” nên lại có một ý-kiến khác: Thợ mộc, thợ hồ, thợ rèn, thợ cối có phải là công-nhân không? Giảng-viên mau mắn gật . – “Vậy thợ bạc, thợ sửa đồng-hồ có phải là công-nhân không?” Đến đây thì giảng-viên ngắc-ngứ. Ông hứa sẽ thỉnh thị cấp trên rồi giải đáp sau. Nhưng hết bài này sang bài khác, ông không giải đáp cho học-sinh. Mặc dù ông lờ đi, anh học-viên đã hỏi ông cũng không dám nhắc lại vì sợ ông nổi cáu.

Khi học đến phần ba thì mỗi học-viên đều kể tiểu-sử của mình và tự phê-phán về động-cơ đi kháng-chiến, có phải vì lập-trường cách-mạng hay vì xu-hướng (bố thằng nào dám tự xưng vì lập-trường cách-mạng) – phê-phán về những sai lầm khuyết-điểm của mình trong lúc đi theo cách-mạng.

Sau phần này thì bắt đầu bầu điển-hình của tổ. Các điển-hình của tổ bầu điển-hình tiểu-đội, điển-hình của các tiểu-đội họp lại, bầu ra điển-hình toàn trường. Đó là Nguyễn-Thanh-Liêm. Liêm đứng lên tố khổ trước toàn thể học-sinh:

– “Gia-đình tôi có một cuộc đời đau thương dưới sự bóc lột của địa-chủ. Nếu không có cách-mạng cuộc đời của tôi không biết ra sao. Ông nội tôi ở đợ cho một tên Hội-đồng để trừ lúa ruộng. Ở tới chết không trả hết nợ. Chỉ thiếu mười mấy giạ lúa thôi mà phải ở đợ suốt đời. Khi chết không có hòm chôn, phải bó chiếu và không có đất chôn, phải đem ra đất hoang vùi dập. Cha tôi lớn lên phải tiếp tục ở đợ cho con của tên Hội-đồng lúc bấy giờ đã lên làm Cai-tổng. Hắn bắt cha tôi làm đủ chuyện từ chăn trâu, cho lợn ăn, giặt quần áo và giữ con cho hắn. Con hắn bắt cha tôi bò dưới đất làm ngựa cho nó cỡi và dùng roi quất lên lưng cha tôi. Một lần cha tôi bị quất đau nên hất nó ngã xuống gạch lỗ đầu. Con vợ tên Cai-tổng đã dùng đũa bếp đập mấy chục cái trên lưng cha tôi, đến khi tôi lớn cha tôi chỉ cho tôi xem thẹo. Khi cha tôi cưới vợ thì tên Cai-tổng tỏ vẻ vui mừng và giúp đỡ cha tôi tiền bạc. Khi đám cưới xong, hắn gọi cha tôi lên nhà trên bảo: “Tao cho mày cặp gối cưới.” Cha tôi mừng quá cám ơn hai ba lần, nhưng hắn bảo:”Đem cặp gối xuống buồng mày, còn mày thì đi ra chuồng trâu ngủ giữ trâu như mọi đêm, mai mới được lên!”

Khi tôi lớn lên cha tôi mướn ruộng của hắn để làm. Cũng như ông nội tôi, cha tôi lại phải trả lúa ruộng rất nặng. Lúa hột vun đống trước sân, hắn cỡi ngựa tới, bắt cha tôi múc một vịm nước đem ra rồi bảo mấy người tá-điền đi theo hầu hắn hốt lúa bỏ vô vịm . Khi thấy lúa lép nổi trên mặt nước , hắn “bất”. Hắn bắt cha tôi quạt lại hai ba lượt rồi mới cho đong.

Đong hết cả đống lúa mà vẫn còn thiếu. Hắn bảo mấy tên hầu bắt đứa em ba tuổi của tôi bỏ vào giạ và lấy cây gạt gạt ngang như gạt lúa….”

Liêm nghẹn-ngào không kể tiếp được nữa. Anh ngất xỉu. Ban lãnh-đạo cho hai ba người dìu anh về nhà nghỉ. Hội-trường im phăng-phắc. Nhiều người khóc rưng-rức. Tôi cũng rất xúc-động. Trong dòng họ tôi cũng có người giàu mướn năm bảy tôi trai tớ gái, nhưng tôi không thấy ai bị bạc đãi hoặc hành-hạ đến mức đó. Khi cách-mạng nổi lên những người ấy đi đâu hết tôi không rõ. Nhà cửa, ruộng vườn của dòng họ tôi lớp hiến cho cách-mạng, lớp bị phá-hoại., lớp bị cướp ngang. Đày tớ con ở thì cũng chẳng có việc gì làm nên họ tìm chỗ khác nương thân. Tôi không chú-ý. Vì lúc đó tôi cũng rất mê làm cách-mạng. Đặc biệt có một người đầy-tớ trai (tôi gọi bằng chú lớn) đi bộ-đội khi tập-kết ra Bắc làm đến chức “trưởng anh nuôi” của đại-đội nghĩa là nấu cơm cho lính ăn. Chú có gặp tôi sau chỉnh-huấn cải-cách ruộng đất. Tôi hỏi đùa: “Chú có tố tôi dữ không?”

Chú cười: Giỡn hoài cháu! (Chú kêu tôi bằng cháu từ bé).

Hiện bây giờ chú đang ở nhà tôi. Sau khi miền Bắc xâm chiếm được miền Nam chú cũng được phần xương máu. Chú làm chủ cái nhà quá lớn, không phải của chú, nên chắc chú không yên tâm đâu, vì tên địa chủ còn đây, ở bên Mỹ. Và thinh thoảng chú bảo mấy đứa em tôi gởi thư cho tôi “Xin dùm cho chú ít thuốc, tao già rồi không vợ con, bệnh hoạn không ai săn sóc…”

Nhắc lại chuyện thành-phần cơ-bản, tôi không khỏi nực cười. Ai đi kháng chiến trong Nam-bộ cũng đều biết hoặc nghe danh ông già Râu Kẽm tức Tướng Nguyễn-Thanh-S. tức Nguyễn-Văn-Đông. Trước cách mạng tháng Tám hình như ông đã làm chủ bút tờ báo Đông-Phương (hay Phương Đông) thường hay đăng những bài thơ xã-hội của Tố-Hữu mà tôi quen tìm chép, như những bài Em Bé Mồ-Côi, Vú Em, Lão Đầy-Tớ. . . Ông là tay địa-chủ gộc ở Trà Vinh nhưng cũng là cộng-sản thâm căn. Ông ta là anh ruột của một thằng bạn kháng-chiến của tôi nên tôi biết rõ nhiều chuyện về ổng. Nói về công-trạng, ông đáng được đặt vào ghế ủy-viên Trung-ương đảng, Bộ-trưởng v.v… nhưng vì là dân Nam-kỳ-quốc cho nên ông bị bỏ quên khá lâu, sau đó ở trên giật mình mới cho một cái ghế xẹo giò.

Ngoài ra ông lại bị một tai nạn trong cải-cách ruộng đất. Số là ngày xưa khi còn là địa-chủ, ông có rất đông tá-điền, trong đó có một anh tên Sơ. Thấy hắn lanh lẹ nên khi đi kháng-chiến, ông mang theo để đỡ tay đỡ chân. Khoảng năm 1947-48 chi đó ông được ở trên giao cho công-tác Chí-nguyện-quân trên xứ Chùa. Thằng đầy-tớ của ông luôn luôn theo chân chủ. Làm gạc-đờ-co cho ông tướng oai ra phết chứ đâu phải chơi. Khi thầy trò tập-kết ra Bắc ông được phong (mồm) “thiếu-tướng” (nghe người ta đồn chớ tôi chẳng thấy báo đăng). Còn anh gạc-đờ-co nẫng được chức đại-đội-phó. Vậy là quá ư “cân-đối xã-hội” rồi, nhưng khi chỉnh-huấn cải-cách ruộng đất, anh đại-đội-phó này đứng lên tố….

Cái cải-cách ruộng đất bày đặt trò “tố” phá nát cả luân-lý của dân-tộc. Cụ-thể như sau: Buổi tố khổ của Sơ đã làm rúng động ba-quân. Đơn-vị của Sơ được đề-cao như một đơn-vị sản-xuất được một anh-hùng. Rồi Phòng Chính-trị Khu báo cáo ra Tổng Cục Chính-trị. Tổng Cục gởi phái-viên vào nghiên-cứu rất tỉ-mỉ và kết-luận đây là một điển-hình thành-phần cơ-bản bị đế-quốc và phong-kiến bóc lột và chà đạp. Sơ chẳng những tiêu-biểu cho giai-cấp bần-cố-nông Nam-bộ mà còn là tiêu-biểu cho toàn quân toàn quốc. Do đó Sơ được đề-bạt vượt cấp lên Trung-tá!

Thời đó, “tinh-thần bần-cố-nông” bao trùm miền Bắc với những đội cải-cách oai như thần. Những phòng triển-lãm thắng-lợi cải-cách ruộng đất mở ra khắp nơi. Tôi còn nhớ trong đó trưng-bày những chiếc mâm gỗ nát vụn, những cái bát sành sứt miệng, những đôi đũa gãy, những cái mẻ ơ, những bộ quần áo vá chằng vá đụp với những chữ chú-thích: “Đây là tài-sản ba đời của ông X… ở xã …. huyện… tỉnh Nghệ-An”. Đó là hình ảnh của địa-chủ bóc lột, còn về các tội ác, tôi nhớ mãi một “cái” đến chết không quên. Đó là một bó những thanh nứa đã chẻ ra dựng đứng như một cây cột, với dòng chữ chú-thích :”Những nông-dân thiếu tô bị địa-chủ bắt ôm tuột từ ngọn xuống gốc” (Tội ác của tên Y địa-chủ thôn Z… huyện… tỉnh Thái-Bình).

Xem những hiện-vật này, ai thuộc thành-phần không cơ-bản ắt phải đái ướt cả quần, còn những ai thuộc thành-phần cơ-bản, nói chi, phải sục sôi căm-thù. Sơ được đưa về Tổng-cục Chính-trị và tiểu-sử của anh được viết thành văn-bản phổ-biến cho toàn quân học. Về hoàn-cảnh gia-đình, anh Sơ và bố mẹ cùng ở đợ cho địa-chủ như gia-đình anh Liêm ở trên kia, nhưng có thêm phần tội-ác đế-quốc. Theo lời tố khổ của anh thì vào lúc Nam-kỳ khởi-nghĩa, cha anh tham-gia cắm cờ búa liềm trên nóc nhà làng. Bố anh đã vịn thang cho các đồng-chí leo lên nóc nhà. Bọn lính Lê-dương đầu đỏ bắt mấy đứa em của Sơ bỏ vào cối quết như giã gạo, lúc đó Sơ đang chăn trâu nên thoát chết. Cha anh bị bắt tù tới 45 mới được thả về xứ. Gia đình triệt-để tham gia kháng chiến. Thực dân Pháp đến tàn sát gia đình, đốt nhà. Mẹ anh bị bắn chết quăng vào lửa, chị anh bị lính hãm hiếp. Căm thù giặc Pháp và bọn địa-chủ nên anh đi kháng-chiến. Khi vượt qua khỏi con sông, anh nhìn lại quê hương thấy khói lên mịt mù đen kịt. Anh không trở lại chôn mẹ mà cương-quyết đi trả thù.

Tôi đã đọc cái “tiểu sử” của Trung-tá Nguyễn Văn Sơ kèm ảnh bán thân, trên báo Quân-Đội Nhân-Dân, cách đây trên ba mươi năm, giờ vẫn còn nhớ được mấy chi-tiết. Năm 1957-58 chi đó Trung-tá Sơ làm Hiệu-trưởng trường Cải-cách ruộng đất Trung-cao-cấp của quân-đội. Cái thành-phần cơ-bản này nếu có chiến-đấu ở đơn-vị bộ-binh chắc phải được tuyên-dương anh-hùng quân-đội rồi. Tôi cũng có nghe đâu ở trên có chỉ-thị cho xưởng phim truyện làm phim. Nếu làm ra, nó có thua gì Bạch-Mao-Nữ của Trung-quốc ? Nhưng không hiểu sao không thấy phim ra mắt.

Một hôm đang đạp xe nhong nhong ngoài đường, tôi bỗng nghe từ trên cao một tiếng gọi chụp xuống. Tôi thắng xe chậm lại và ngó lên. Tiếng cười như nắc-nẻ dội xuống tiếp:

– Chạy săn đề-tài hả văn-sĩ?

Tôi nhận ra là thằng Trí em ông tướng Râu Kẽm Nguyễn-Văn-Đông.

– Làm gì mà leo tới ngọn cột điện vậy mày thằng quỉ? – Tôi ngước lên hỏi.

– Tao leo lên đổi thành-phần của tao!

– Ai thèm đổi cho cái thứ mắc ôn đó của mày.

– Không ai đổi thì tao cho không mày vậy!

– Ừ, tao cũng cho mày cái của tao cho! – Tôi vừa nói vừa ngạc-nhiên về công-tác của nó.

Trí tuột xuống nhanh như khỉ. Nào dây thắt lưng da, nào búa kềm giắt tua tủa quanh mình, nào nón sắt, găng tay xù-xì trông đến quái gở.

– Mày làm cái giống gì mà leo trèo dữ vậy?

– Thợ điện!

– Trời đất! Sao nghe nói mày làm giáo-sư?

– Thành-phần không “hẩu” bị gạt. Đi làm giai-cấp lãnh-đạo vinh-quang hơn!

– Bao lâu rồi?

– Ba năm! … Đủ lột xác!

– Nhà ở đâu, bữa nào đến nhậu nói chuyện khào.

– Mày tới, chỗ đâu mà ngồi!

– Sao vậy?

– Nó là cái buồng tắm của tư-sản bỏ vô Nam. Đủ kê cái giường thôi. Vợ chồng có muốn hữu-nghị phải chờ con ngủ và trải chiếu xuống đất, còn nếu nổi hứng giữa ban ngày thì cho đứa nhỏ hào bạc đi mua kẹo và bắt đứa lớn đi mua nước mắm bằng cái dĩa.

– Sao không vô ở villa với anh Tướng nhà mày?

– Thằng chả đang bị tai-nạn!

– Xe hơi à?

– Không, cải-cách…

– Ổng vô đảng một lượt với đồng-chí Trường-Chinh mà tai-nạn gì được?

– Thằng Sơ tố!

Tôi đứng im. Vẻ mặt hài-hước lúc đầu đã biến mất. Nó yểu xìu nói tiếp:

– Ổng bị đưa vô trường Trung-Cao làm đối-tượng để nó vừa tố vừa giảng bài cho cán-bộ trung-cao-cấp học.

– Trời đất! Có chuyện đó nữa sao?

– Tao nói láo mày chi mậy? – Trí nghiêm mặt một cách hài-hước – Mày biết không, ổng đang làm Thứ-trưởng Bộ Tài-chánh mà bị bắt chui đầu vô trường cho thằng chăn trâu chửi mắng và không được phép trả lời. Ở villa vậy mà không chắc bằng buồng tắm của tao đâu!

– Mày có đọc bài báo….?

– …trên Quân-đội Nhân-dân chớ gì – Trí cười ré lên – Nó “sáng-tác” giỏi hơn mày đó. Nó đếch có đi ở đợ nhà tao ngày nào. Tía nó nhờ mướn đất của anh tao mà làm ăn khá và nó ăn trộm dừa nhà tao bị bắt nên nó thù vặt thì có! Vùng tao ở cũng chẳng có Nam-kỳ Khởi-nghĩa tí tẹo nào cả, thì bố nó vịn thang cho người ta leo lên đâu? Em nó bị Lê-dương bỏ vô cối quết hồi nào?

– Nhưng nó có phải là bần-cố-nông không ?

– Mày ngây-thơ cụ quá! Thời-đại này anh nào có “nước da lãnh-đạo” là xưng bần-cố-nông để dễ kiếm chác mày hiểu không? Nhưng nước da đen của nó không phải là do dầm mưa dang nắng mà vì nó là thằng Thổ lai. Thổ Trà-Vinh! Mày không nhớ cái tiếng “cáp duồn” hồi đó à? Tên Thổ lai này ma-lanh số dách!

… Nói chuyện về thành-phần cơ-bản có nhiều cái lẩm-cẩm buồn cười lắm, xin thong-thả để rồi tôi kể tiếp. Bây giờ trở lại với anh Nguyễn-Thanh-Liêm ở trên kia để ảnh đứng tố lâu mỏi chân tội nghiệp.

Xong lớp chỉnh-huấn, mọi học-viên đều trở về đơn-vị cũ. Ít lâu sau tôi đi xuống các trung-đội địa-phương-quân Ô-Môn – Phụng-Hiệp để tìm đề-tài. Tôi chọn trung-đội của Liêm. Vì là bồ-bịch đã hiểu nhau trong lớp chỉnh-huấn và vì đơn-vị của hắn nằm ở vùng meo – tức là vùng giáp giới của khu giải-phóng và địch chiếm – có nhiều đề-tài.

Tôi phải bò qua cầu Bình-Thân một cách mạo-hiểm. Hồi đó gan mật còn đầy, yêu nước nồng-nàn và căm-thù địch sôi-sục nên không biết sợ cái giống gì hết ráo. Trung-đội của Liêm đóng ở vùng kinh Xáng Cái Côn, di động lên xuống hai bờ Xáng, có khi ra tới Vàm Rạch Đường Gỗ, Rạch Thông Thuyên.

Liêm biệt đãi tôi. Đi đâu Liêm cũng rủ tôi đi cùng. Tôi muốn tìm hiểu gì Liêm cũng giúp đỡ. Mỗi khi hành-quân, Liêm cho tôi ngồi chung xuồng có chiến-sĩ chèo. Ngoài ra Liêm không cho tôi đi bắt cá hái rau như lính..

Tôi nhận thấy Liêm khác hẳn lúc ở lớp học. Hồi ở lớp học thì Liêm xuề-xòa, đồng-hồ cà-rá, không biết Liêm giấu đi đâu mà không thấy đeo. Còn bây giờ thì quần tây xanh nước biển, áo sơ-mi sọc rằn, cà-rá đồng-hồ bút máy sáng trưng. Đầu lại còn chải rẽ bảy ba, tóc nằm sát mẹp, chừa một đường ngôi rất thẳng.

Tôi thầm nghĩ: Điển-hình bần-cố-nông còn nóng hổi đây, bây giờ lại hoá ra công-tử kháng-chiến thế này à? Cái thằng cha này thấm bài ngược! Nhưng thay đổi gì thì thay đổi, cái “nước da lãnh-đạo” vẫn còn nguyên.

Tôi lại lấy làm lạ hơn nữa là chàng ta hay hỏi tôi cái này cái nọ kêu tiếng Pháp là gì. Hoặc khi gặp người này người kia thì nói tiếng Pháp làm sao để xã-giao. Khi bắt tay nữ phái phải nói câu gì ? v.v…

Để làm cái quái gì vậy nhỉ? Tôi tự hỏi tiếng thực-dân mình bỏ luôn từ 45 tới giờ, còn moi móc lên làm gì, nhất là anh chàng bần-cố-nông thì giao-thiệp với ai bằng những cái tiếng đó? Tuy vậy tôi không dám làm phật ý Liêm. Phải công-nhận là Liêm đánh giặc gan góc và đối xử với anh em rất điệu đàn. Liêm cho tôi rất nhiều tài-liệu để viết. Nếu mất đi cái nguồn đó thì uổng lắm. Cho nên tôi cũng dạy và tập cho anh nói quọt-quẹt chơi. Sau đó tôi nghĩ chắc anh đang có mối địch-vận cho nên cần nói để lấy le với đám pạc-ti-dăng.

Một buổi trưa tôi thấy Liêm xuống rạch tắm. Anh tắm rất lâu. Anh lấy xơ dừa đánh từng cái móng chân, gội đầu bằng xà-bông thơm, rồi vào nhà thay áo quần mới. Cái áo sơ-mi nhuộm pin đèn màu xám tro theo “mốt” thường của cán-bộ. Cái quần tây xanh lá mạ, thắt sợi dây nịt to bản có lỗ lấy được ở một trận phục-kích nào đó,- những món mà lâu nay tôi không thấy anh dùng. Xong Liêm chải đầu. Liêm thủ sẵn đâu hồi nào một lọ bi-dăng-tin.

Một tay thọc đầu lược vào lọ vít chất nhờn ra quệt lên tóc, một tay nâng chiếc gương con, Liêm nghiêng qua nghiêng lại, nhướng mắt méo mồm tùy theo nhát lược đưa.

Lâu lắm mới xong. Tôi đang viết bài, Liêm đến đứng trước mặt tôi, hỏi:

– Coi nới không “toa”?

– Coi “bông” lắm! “Bông” là tốt, nhớ nhé!

– Còn “cô, bà” thì nói sao?

– Cô thì “măm-den”, bà thì “ma-đàm”, còn ông thì “mông-xìa” . Nhớ nhé!

– Ùy-mông-xìa.

Tiếng “oui” và “non” Liêm đã học trước của ai, không phải của tôi.

– Đi công-tác với tôi một bữa được không? – Liêm hỏi.

– Pháo-kích hay bắn chim sẻ?

– Vừa pháo-kích vừa chim sẻ.

– Cái nào một cái thôi chớ!

– Hầm chông và lựu-đạn gài phối-hợp luôn!

Nghe vậy tôi mừng lắm vì sẽ có thêm nhiều tài-liệu. Liêm lấy súng lục đeo vào rồi xuống bến. Tôi đi theo. Ở bến đã có sẵn một tổ tam-tam ngồi dưới xuồng.

Liêm và tôi bước xuống. Xuồng hơi khẳm, nhưng rạch nhỏ, nước lại xuôi, không sợ chìm. Anh chiến sĩ đứng lái chèo quanh-co một hồi thì đổ lại bến có nhà mát ở mé sông.

Tôi nhìn lên bờ. Một ngôi nhà ngói xưa đứng núp dưới những tàng cây lớn. Liêm bảo tôi ngồi chờ với ba anh chiến-sĩ rồi bước lên bờ đi thẳng vào nhà, vừa đi vừa nhìn bên này nhìn bên kia và sửa bộ sửa tịch có vẻ như sắp gặp ai rất quan-trọng.

Lạ nhỉ! – Tôi nghĩ thầm – Sao đi công-tác mà lại diện như đi ăn giỗ vậy? Hay là nhà này có đám giỗ nên mời bộ-đội đến tỏ tình cá-nước chăng? Một chập, Liêm trở xuống bảo hai anh chiến sĩ ngồi trước mũi xuồng:

– Hai cậu vào xẻo, xeo chiếc tam-bản ra đây!

Hai người chiến-sĩ vâng lệnh chỉ-huy đi chống chiếc tam-bản ra rạch.

Từ trong nhà một bà sồn-sồn, quần lãnh, khăn vằn đỏ vắt vai, đi ra gần bến thì quay ngang nhổ cổ trầu.

Liêm nói nhỏ với tôi:

– Mình đi thu lúa ruộng dùm gia-đình bác Tư.

Tôi lặng thinh và nhìn Liêm, khó hiểu. Liêm bèn giải-thích ngay:

– Ở vùng này nông-dân mướn ruộng địa-chủ, ai muốn đóng thì đóng, không thì thôi, ủy-ban không có quyền gì hết. Bác Tư này tốt lắm. Nay mai tôi sẽ dời văn-phòng lại đây.

Tôi bị đặt trước việc đã rồi. Bô-đội đi thu lúa ruộng dùm cho địa-chủ thì trái chánh-sách quá đi mất. Hơn nữa vừa mới chỉnh-huấn lập-trường giai-cấp vừa rồi., Liêm là cán-bộ chỉ-huy lại hành-động như vậy thì còn gì uy-tín của chánh-quyền địa-phương? Tuy nghĩ vậy, nhưng tôi không thể nói ngay, đành thả xuôi theo nước.

Liêm tiếp:

– Bác Tư đâu có bóc lột ai, bác còn đóng góp cho kháng-chiến rất dữ-dằn. Hội Mẹ Chiến-sĩ mời bác vô mấy lần nhưng bác nói bác còn trẻ quá, chiến-sĩ ngại kêu bằng má, nên chưa vô. Mình chỉ giúp bác một lần này thôi, nông-dân đóng một mùa rồi mấy mùa tới họ luôn trớn, không có bộ-đội họ cũng đóng.

Quả thật hôm ấy ghe tam-bản chở lúa bao khẳm mẹp về đậu ở bến cầu mát. Liêm bảo một anh chiến-sĩ về gọi đơn-vị tập-trung đến vác lúa vào bồ chủ nhà luôn cho thắm-thiết tình cá-nước .

Lúa vác xong, tam-bản đưa vào xẻo, đơn-vị kéo về. Liêm bảo tôi:

– Cậu ở lại với tớ rồi về sau” – Liêm dắt tôi vào nhà. Nhìn đồ-đạc bên trong tôi biết ngay nhà này nếu là địa-chủ thì cũng là loại điền manh mà thôi chứ không phải thứ dữ.

Bác Tư cám ơn chúng tôi rồi ngồi nói chuyện. Bác có vẻ hiểu đời và mến bộ-đội. Chập sau một người con gái mặc áo màu xanh da trời đi ra. Tay cô bưng một cái mâm trên đó đặt hai ly nước màu nâu thẫm bốc khói. Cô vui vẻ chào “hai anh”. Liêm đứng dậy như giật mình:

– À, bông-rua mông-xìa, ủa bông-rua ma-đàm Hồng-Hoa.

Tôi cũng giật mình, còn cô gái thì sựng lại, đỏ mặt tía tai. Thời may, tôi nhanh trí đỡ ngay:

– Anh ấy đùa đấy cô ạ!- rồi quay sang Liêm – anh đùa vậy Tây nó nghe nó chạy về nước hết. Đi kháng-chiến có mấy năm mà trả chữ nghĩa hết cho thầy!

Người con gái đặt cái mâm lên ghế rồi quay vào. Đợi cho cô đi khuất vào trong tôi mới nháy Liêm. Liêm vừa khuấy ca-cao vừa chồm qua mặt bàn nói nhỏ với tôi:

– Đối-tượng xây-dựng của mình đấy!

À, ra thế! Đánh móng chân, chải đầu láng, học tiếng Tây tiếng u rồi bắt cả bộ-đội đi thu lúa ruộng cũng chỉ vì nàng áo xanh tên Hồng này. Uống ca-cao xong, chúng tôi kiếu từ. Trên đường về Liêm chèo ghe cho tôi ngồi, Liêm hỏi:

– Ê, coi được không?

– Đẹp đấy chớ!

– Gia-đình cảm-tình với mình hung lắm! Nàng bỏ học tính đi kháng-chiến đó ta!

– Xây-dựng sắp xong chưa?

– Cũng gần! … Nè, hồi nãy mình phát-âm nghe có khá không ?

– Ông phải tập lại. Phải nói “Bông-xoa” vì trời về chiều rồi! Còn với nàng phải gọi là “măm-den” chừ không phải “ma-đam”. Ma-đam là đàn-bà có chồng rồi. Thí dụ nay mai cưới hỏi xong thì tôi phải gọi cô ấy là Ma-đàm Liêm.

– Thế hả?… Ba thằng Tây lộn-xộn quá chừng! Đàn-bà hay con gái thì cũng vậy thôi chớ gì?

Mấy hôm sau, văn-phòng trung-đội dời lại nhà bác Tư. Liêm càng ra vẻ chỉ-huy và càng đánh bóng tợn. Nhưng không nói tiếng Tây mỗi khi phải gặp đối-tượng nữa.

Một hôm hai đứa đang ngồi ở nhà trên, cô Hồng-Hoa lại bưng sữa ra mời. Liêm buột miệng bảo tôi:

– Nè, “toa” chừng nào muốn rước ma-đàm thì cho tôi biết nghe. Tôi nhờ măm-den Hồng đi rước dùm cho. Đem về đây ở vài tuần rất tiện.

Tôi suýt cãi lại Liêm nhưng may sao tôi lại lanh trí lần nữa. Tôi biết “mông-xìa” Liêm mặc-cảm xí trai và ít chữ đối với tôi nên gián-tiếp cho đối-tượng biết rằng tôi đã yên nơi yên chỗ rồi, đừng có ngó ngang liếc dọc.

Tôi vui-vẻ đẩy cây thoa mỡ bò luôn:

– Nếu chỉ có vợ tôi thôi thì không ngại gì ngặt có mấy đứa nhóc.

Liêm lấy làm hài lòng về câu ứng-khẩu rất trúng tim đen Liêm. Liêm chép miệng:

– Không sao đâu! Vợ chồng nào rồi cũng đi đến đó. Có con nít nhà mới vui.

Tôi cảm thấy hơi mất tự-do khi ở chung một nhà với Liêm nên bảo Liêm tìm cho tôi một nơi khác với lý-do được yên tĩnh để sáng-tác. Liêm lấy làm vui mừng. Liêm dời tôi sang một ngôi nhà lá nhỏ gần đó và tôi chỉ sang bên này để ăn cơm thôi.

Một buổi chiều tôi ngồi ở mé rạch ngó lục-bình trôi để nhớ nhà. Tôi xa nhà đã sáu năm rồi không tin-tức gì cả, muốn về thăm cha mẹ mà không về được.

Trời chiều buồn ghê-gớm cho những người ly-hương – bất cứ vì lý-do gì.

Tôi định quay vô nhà thắp đèn lên để viết, thì nghe có tiếng gọi phía sau lưng:

– Chú em ơi! Cho tôi hỏi thăm chút.

Tôi quay lại. Một chiếc xuồng cập mé bờ. Người vừa hỏi là một bà cụ. Bà đang ngồi trước mũi đưa mái dầm ra chỏi vào cái rễ cây cho xuồng dừng lại rồi hỏi tiếp:

– Ở đây có phải là bộ-đội của ông Lem không?

– Dạ không! – Theo thói quen bảo mật , tôi đáp như máy – Ở đây không có bộ-đội.

Bà già tiếp:

– Tôi vừa ở đằng chỗ kia. Chủ nhà nói bộ-đội của nó đã dời lại cái nhà ngói xưa này mà.

– Dạ ở đây không có bộ-đội mà cũng không có ông nào tên là Lem cả.

– Có mà! – Bà cụ tỏ ra quả-quyết rồi tiếp – Tôi ở nhà đi tới đây mất ba ngày trời, khúc đi bộ, khúc quá giang xuồng ghe. Chú em làm ơn vô nói với nó ra đây dùm chút!

– Dạ không có tên Lem đâu bà!

– Chị nó tên Lấm nó tên Lem ma. Tôi là má nó đây. Tôi muốn gặp nó.

Tôi nhìn bà cụ, bán tín bán nghi. Bạ mặc quần áo đen, đầu đội khăn rằn đen buộc gút dưới cằm để lộ mớ tóc bạc loà-xoà trên vầng trán đen sạm và nhăn sâu. Bà nhìn tôi rồi nói tiếp:

– Tôi nghe nó bị thương nên đem đồ cho nó. – Bà quay sang be xuồng nhổ cổ trầu xuống sông kéo chót khăn lên lau miệng rồi tiếp – Tôi đi nãy giờ, thấy bộ-đội đang đóng dọc bờ rạch, chủ nhà đằng kia nói nó ở trong cái nhà ngói đó. Quần áo tôi rách rưới như vầy, đâu dám vô, nên tôi mới trờ tới đây.

– Cụ cứ lui xuồng lại rồi lên đó tìm.

– Hổng được đâu chú em! Tôi có tật hễ thấy nhà ngói với nhà phông tô nền đúc thì tôi sợ, tôi không dám lại gần.

– Sao vậy cụ?

– Tại vì hồi trước, tôi mần ruộng mướn, tôi thiếu lúa ruộng nhà giàu, cho nên hễ thấy nhà giàu thì tôi sợ, không dám bước chân vô.

– Bây giờ nhà giàu không như hồi đó nữa đâu. Cụ cứ đi lên nhà hỏi thăm. Ở trong đó có bộ-đội đóng nhưng không có ai tên Lem cả. – Tôi tội nghiệp bà cụ nên lộ bí-mật một phần.

– Có mà. Người chủ nhà đằng kia nói hình dáng thì đúng là nó. Chỉ khác cái tên. Đi kháng-chiến nó đổi tên Lem ra tên gì đó hổng có biết nhưng tôi cứ kêu là thằng Lem!

Tôi thấy nói dang-ca hoài cũng vô-ích nên chạy tắt qua nhà Liêm. Anh em đang dọn cơm dưới đất. Liêm cùng ngồi trong mâm. Tôi hỏi:

– Có cậu nào hồi ở nhà tên là Lem không?

Liêm ngẩng lên ngay rồi cúi xuống gắp thức ăn. Tôi nói tiếp:

– Có bà má đi tìm thăm đang chờ ngoài mé rạch. Tôi nói không có ai tên Lem nhưng bả không chịu đi.

Liêm không nói không rằng buông đũa chạy ngay. Tôi đủng-đỉnh đi theo sau, bụng nghĩ Liêm cảnh-giác kẻ lạ mặt đi tìm bộ-đội. Ở vùng tiếp-cận địch, cảnh-giác vậy là phải rồi. Tôi muốn vô nhà lấy chén đũa sang ăn cơm nhưng lại nghe ngoài bến có tiếng quát tháo. Tôi tưởng Liêm la ó bà cụ và chủ xuồng lạ mặt vô cớ đến chỗ bộ-đội đóng nên tôi đi lần ra bến. Thì nghe Liêm đay nghiến:

– Má đến đây làm cái gì, chỗ người ta đóng quân!

– Tao nghe nói mày bị thương tao tới thăm chớ đến làm cái gì?

– Ai đồn tầm bậy vậy? Ai bị thương gì đâu?

– Thì hổng có càng may chớ sao mày la tao?

– Thôi má đi về đi, từ rày đứng có tới nữa! Lính tráng súng ống rần-rần, má hỏi thăm lớ-qướ người ta tưởng má là canh-tơ (*) người ta bắt má.

– Canh-tơ là “vải canh tơ chỉ vải” đó hả? Tao đâu có mua nổi thứ vải mắc tiền đó.

– Thôi má đi đi! Tôi mắc công chuyện….

– Tưởng cách-mạng dễ-dàng chẳng ngờ khó quá vậy, thôi nhờ Trời Phật mày còn mạnh giỏi tao hết lo. Nè, nghe nói bộ-đội ăn cực ăn khổ, tao đem cho mày hủ mắm sặc, kho rồi hái rau heo chấm, ăn được cơm lắm!

– Thôi, má đem về đi! – Liêm quay ra bảo chủ xuồng – Lui mau đi, lần sau đừng có chở ai đi tìm bộ-đội nữa nghe! – Nói xong Liêm quay chạy trở vô nhà ngói không thấy cả tôi đang đứng sau bụi cây dâm-bụt tự nãy giờ.

Đợi Liêm đi vô tới nhà, tôi mới bước tới chỗ Liêm vừa đứng còn in dấu chân trên mép bờ đất ướt.

– Nói vậy cụ là má anh Liêm?

– Liêm nào?

– Dạ cái người mới vừa nói chuyện với cụ đó.

– Á à! Thằng Lem chớ Liêm nào!

– Ảnh là chỉ-huy, công việc nhiều lắm, lại sắp đi đánh giặc nên ảnh không nói chuyện lâu được – Tôi nhanh trí đến lần thứ ba trong đời – Thôi cụ về mạnh giỏi. Khi nào ảnh bớt bận, ảnh sẽ xin phép về thăm cụ.

Bà cụ đưa hũ mắm cho tôi và bảo:

– Cậu làm ơn đem vô kho cho anh em ăn!

Tôi ôm hũ mắm. Cái hũ đất nung màu nâu nặng ghê. Từ miệng hũ bốc lên mùi thơm làm đói bụng quá.

Tôi đem qua nhà ngói khui ra bắc mẽ lên kho liền. Mùi mắm bay toả sực nức cả bếp. Bữa cơm ăn nửa chừng hoãn lại chờ mắm. Anh nào anh nấy đi qua đi lại hít hít và kêu “ngon quá ngon quá!”. Chỉ có Liêm là gằm gằm cái mặt không nói gì hết. Bác Tư và cô Hồng-Hoa nghe mùi mắm cũng đi xuống bếp. Bác Tư hỏi:

– Mắm gì mà ngon vậy chú?

Tôi đáp:

– Dạ mắm cá sặc ngắt bỏ đầu.

– Ở đâu chú mua được vậy?

– Dạ, của má tôi cho.

– Ủa, gia-đình chú ở xa lắm mà! Vô hồi nào mà có mắm?

– Dạ, má tôi nghe tôi bị thương nên lặn lội mất ba bốn ngày đến thăm tôi, đem cho tôi hũ mắm!

– Sao chú không mời bà lên nhà chơi.

– Dạ, má tôi quần áo rách rưới lên không tiện với lại má tôi sợ nhà ngói.

– Hừ, nhà ngói thì ngói chớ. Bộ hễ nhà ngói thì ăn thịt ai sao mà sợ!… Rồi chú đưa bả đi đâu rồi?

– Dạ má tôi về rồi, bác! Cảm ơn bác! Má tôi nói mai mốt sẽ trở lại thăm tôi.

Cơm nước xong Liêm đùng đùng dời địa điểm. Chiến-sĩ ngơ-ngác không hiểu lý do gì. Nhưng tôi thì tôi hiểu. Tôi hiểu tại sao Liêm không rước mẹ ruột lên nhà chơi cho anh em bộ-đội mừng như nhiều anh em trong đơn-vị vẫn thường làm. Tôi hiểu tại sao Liêm xua đuổi bà mẹ ruột một cách tàn-nhẫn như thế….

Năm 1955, khi tập-kết ra Bắc, trong lúc chờ đợi sát-nhập bộ-đội Nam-kỳ vào bộ-đội Bắc-kỳ, tôi vẫn còn ôm cái chân phóng-viên của … không tờ báo nào hết, nhưng vẫn tham-gia mọi sinh-hoạt chính-trị tại Phòng Chính-trị miền Tây Nam-bộ còn giữ nguyên hình, chờ ngày tiêu ra nước.

Ở đây có một cơ-quan gọi là Ban Tổ-chức Khu do một anh Bắc-kỳ có đi Côn-Đảo quân-hàm trung-tá làm trưởng ban. Ban này quyết-định vận-mạng của cả chục ngàn dân Nam-kỳ từ lính lãi đến trung-tá (hồi đó chưa có tên Nam-kỳ nào làm tới đại-tá)

Tất cả cán-bộ từ tiểu-đoàn-trưởng trở lên đều phải đi chỉnh-huấn cải-cách ruộng đất ở cái trường Trung-Cao của ông Trung-tá Nguyễn-văn-Sơ mà tiền-thân là anh gạc-đờ-co của ông tướng Râu Kẽm đã kể trên kia.

Sau khi chỉnh-huấn ở trường đó, họ được trả về cái ban quản-lý sinh-mạng dân Nam-kỳ này. Kẻ khóc người cười. Khóc vì chỉnh-huấn xong bị ông bần-cố-nông Sơ phê “chưa tốt”, thế là tuột chức. Cười vì được ổng phê “tốt”, thế là lên chức.

Trong đám trung-cấp ngồi xe cây trở về đây, một hôm tôi gặp Liêm. Tôi lúc đó chuẩn-bị cởi áo lính đi trồng lúa nông-trường quốc-doanh để viết Đất Vỡ Hoang Việt-Nam nên không có hoặc không cần lon gáo nhà binh.

Liêm bắt tay tôi. Liêm cười. Liêm đóng thiếu-tá. Nhưng nhìn tôi hắn hơi ngường-ngượng. Không biết Liêm có phản-tỉnh cái vụ đi thu lúa ruộng dùm địa-chủ và xua đuổi mẹ ruột năm xưa?

Ít lâu sau tôi bỏ nông-trường mò về Hà-nội kiếm chỗ làm. Tôi đến nhà thằng Trí chơi. Hắn hết ở nhà tắm lại ở nhà kho. Tôi hỏi:

– Bây giờ chắc mày khỏi sai con đi mua nước mắm bằng dĩa rồi hả?

– Hết nạn đó nhưng vẫn còn phải chờ chúng ngủ say – Hắn cười và tiếp – Tao tố-cáo thằng điển-hình bần-cố-nông toàn quốc giả lên Ban Tổ-chức Trung-ương rồi.

– Thế à? Mày gan nhỉ.

– Gan gì, suýt chết! Chẳng ai thèm tin mình.

– Sao vậy?

– Ờ thì vậy chớ sao! Ông anh tao văng khỏi chức thứ-trưởng đi nghỉ phép vô thời-hạn rồi!

Sẵn miệng, tôi kể luôn vụ Thiếu-tá Lem cho nó nghe và nói:

– Năm 52 làm trung-đội-trưởng dẫn bộ-đội đi thu lúa ruộng dùm cho địa-chủ và ruồng-rẫy mẹ ruột bần-hàn, năm 55 lên thiếu-tá ngon hơ. Ôm cái thành-phần cơ-bản khoẻ quá!

– Cũng như thằng cầm c… cho ông thiếu-tướng đái bây giờ trở lại đái trên đầu ông thiếu-tướng. Không khéo nó lên thiếu-tướng bây giờ…. Khoẻ ru!

(*) Indicateur (tiếng Pháp): tên chỉ-điểm dọ-thám, lại còn có thứ vải ta dệt theo lối “canh tơ chỉ vải”

Đánh máy: Lê Thy

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: