2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QVII (118-122)

2000ngaydem_bia7

Chương 118

Ông Tư “kẹt” thót dế chạy tuột quần,
kêu “trung ương không sáng suốt”

Một hôm tôi nói với Tư Kẹt:

– Anh có muốn đi thăm một vài cơ sở của mình không? Tôi sẽ dẫn anh đi.

Ngồi hầm mãi, Tư Kẹt cũng bắt đầu có ghẻ xốn như các cô lủng. Nhưng buồn tình ca nhất là cô Tám không chui chung nữa – nên nghe tôi hỏi Tư Kẹt tỏ vẻ đồng ý:

– Cơ sở có bảo đảm không chú em?

– Dạ bảo đảm 100%. Đây là nơi tựa lưng của cách mạng qua 2 mùa kháng chiến đó anh Tư!

– Chú cho bố trí kỹ nghe.

– Dạ

Mấy ông lãnh đạo xưa nay không mấy khi chịu biết thực tế. Cho nên chính sách ban xuống đều chéo ngoe không thi hành được mà nếu có thi hành bừa nó không phù hợp với nguyện vọng quần chúng. Những ví dụ tầy đình là cải cách ruộng đất, hợp tác xã, Giải phóng miền Nam.

Cải cách ruộng đất: giết hại cả đảng viên trung kiên, phá nát luân lý dân tộc mọi việc tác tệ khác xảy ra ngay bên hè nhà lão mà lão vẫn mù tịt, đến khỉ hay ra thì lão khóc khóc mếu mếu qua loa rồi huề cả làng.

– Hợp tác xã: nông dân vừa lãnh đất, thì bị lùa vô hợp tác xã. Họ kêu ca: “thà làm tá điền cho địa chủ thời Pháp mà được tự do hơn!”

– Giải phóng Miền Nam: để ăn cướp, ai cần? Hi sinh hàng triệu người để xây đắp cho cái ngai vàng Triều đình đỏ. Giải phóng xong, dân Nam Kỳ được gì ngoài mấy cái vỏ dưa? Cụ thể ở Củ Chi xương máu cán binh và dân thường lầy đất. Mậu Thân trở thành biển lửa oán hận ngút trời. Để rước Bác vô ! Ai dè oánh không phủng, Bác đi thăm Diêm Vương quách!

Ông bí thư mới muốn đi thì tôi dắt cho đi.

Tôi bố trí canh gác, đường đi nước bước kỹ lắm. Cùng theo ếch-coọc, có Năm Ngó ba tên quận đội và không thiếu bà quận ủy Hai Xót. Tám Phụng đang bận công tác ở xa không về kịp. Liên lạc xích hầu gồm có: Trung đội của Bảy Mô và trinh sát của tôi.

Xế chiều, phái đoàn tập hợp ở ấp Phú Mỹ dọc dường 2 Làng sát rạch Láng The chuẩn bị xuất phát vô ấp Cây Bài.

Tư Kẹt thấy đám “lủng sĩ ” thì hấp háy, trịt cặp mất kính xuống ngó trân trân. Các em mặc đồ gọn gàng, quần ni lông ống túm, lưng nịt bao đạn làm căng tròn hai quả cam mật, cần cổ trần ngon hơn cổ gà luộc, tất cả đi qua đi lại triển lãm trước mặt anh Tư đùi dĩa rất chi hấp dẫn. Anh Tư như lân thấy pháo, nhấp nhỏm, rối rít:

– Các em “dũng xĩ” ‘ đó à?

– Dạ phải.

– Cô nào diệt Mỹ giỏi đâu?

– Dạ cô nào cũng giỏi hết anh Tư à ! Tôi đáp- Bữa nay tôi chọn toàn gạo cội để hộ giá anh Tư.

Già Tư bắt tay Bảy Mô và các cô. Chìa cái bộ râu dế ra, hỏi:

– E…em nào có Mỹ đâu nào?

Tôi đáp:

– Em nào cũng hết anh Tư à !

– Cho oa mượn một tên cho đủ tiêu chuẩn được không? Hé hé. Oa cũng muốn làm dũng sĩ oá!

Vừa sụp tối, tôi cho hành quân. Một tiểu đội mạnh có cả B40 và Trung liên phối hợp với đội nữ đi đầu. Năm Ngó cho du kích cản hậu và 2 cậu Tiển Đá đi với tôi sát gót anh Tư.

Ấp chiến lược Cây Bài nằm cặp theo vòng rào Đồng Dù trên đường tỉnh lộ 8A cắt ngang đường 1 làng và quốc lộ 1 ở thị trấn Củ Chi. Ấp chiến lược này dân cư đông đúc phức tạp gồm dân giải phóng mới chạy ra và dân cố cư từ trước, cũng là ấp có nhiều dân đi làm cho Đồng Dù nhất trong vùng. Nói một cách ví von đó là cây chùm gởi bám vào cổ thụ Đồng Dù nhưng ngược lại nó cũng là nguồn sinh lực bồi bổ và là cái hàng rào thịt bao che cho Đồng Dù.

Đi gần đến, nghe tiếng mõ canh rõ mồn một, già Tư níu tay tôi giọng thì thào run run:

– Mõ gì vậy?

– Mõ canh của nhân dân tự vệ. Tôi đáp to.

Năm Ngó thổ địa tiếp:

– Không sao đâu anh Tư. Mình có cơ sở trong đó !

Vào nhà dân, Tư Kẹt ngó lom lom những cái TV màu, vài nhà có tủ lạnh để ngay trong phòng khách. Chủ nhà lấy la de nước ngọt, cam táo, hoặc pha cà phê, sữa, đãi khách và nói chuyện vui vẻ. Già Tư chỉ hút thuốc thơm, không ăn uống gì hết. Ý chừng sợ hưởng chai nước ngọt thừa của Dương Bạch Mai chăng?

Đi thăm nhà thứ nhất xong, ra đường Già Tư níu tay Năm Ngó:

– Thôi đi chú, đủ rồi! Mình về kẻo khuya.

Năm Ngó nói:

– Đây chưa phải là cơ sở chính. Mời anh Tư đi chút nữa.

– Xa không?

– Dạ nới đàng kia.

Già Tư bỗng giật nảy người:

– Cái gì sáng sáng vậy?

– Dạ đèn pha của Đồng Dù.

– Ủa, gần vậy sao?

– Dạ nó ở ngay kia, chút nữa mình vô giữa ấp sẽ nghe kèn nhảy đầm của lính Mỹ.

– Còn cái gì sáng kia nữa?

– Dạ đó là quận lỵ Củ Chi.

– Còn mờ mờ như trăng lú mọc kia?

– Dạ đó là Sài Gòn.

– Ủa Sài Gòn gần vậy à !

– Dạ chừng 30 cây số thôi!

– Còn vành đai thép diệt Mỹ ở đâu?

– Da để hôm nào anh Tư đi theo du kích bắn tỉa thì thấy .

Già Tư bảo trở về, chúng tôi phải vâng lệnh.

Sáng hôm sau, nhân lúc tình hình đang yên tịnh, tôi, Năm Ngó và Tư Kẹt không xuống hầm, ngồi uống trà bên trên. Già Tư hỏi tôi:

– Mấy cái TV tôi thấy đêm qua là ở đâu vậy chú em?

– Dạ của chủ nhà.

Tư Kẹt tỏ vẻ ngạc nhiên. ý chừng bụng nghĩ: vậy tôi tưởng họ mượn ở đâu về để khoe chớ! Chắc già Tư tưởng dân ấp chiến lược như hợp tác xã ngoài Bắc. Nghe nói có lãnh tụ tới thăm thì chưng dọn nhà cửa khác thường để khoe hợp tác xã của mình lên cấp 1, hơn hẳn các hợp tác xã khác (Phạm Văn Đồng vẫn thường quen miệng khoe “tính hơn hẳn của chế đệ XHCN đối với Tư bản chủ nghĩa “ . Rất tiếc họ Phạm không có ở đây để nhìn cái “tính hơn hẳn “ đó)

Ngồi uống cạn bình trà, Tư Kẹt mới buột miệng: .

“Cây đa bến cũ con đò khác đưa” (1) hỏng bét rồi!

Tôi không hiểu, Năm Ngó càng không hiểu già Tư nói gì. Tôi mạnh dạn hỏi:

– Anh Tư bảo cây đa nào ở đâu? Chớ ở đây chỉ có cây xoài múc tụi con nít leo lên canh gác thôi.

Năm Ngó tiếp:

– Dạ ấp chiến lược nằm trên ấp Vĩnh Cư thuộc xã Phước Vĩnh Ninh rất xa con suối Bà Cả Bảy, nên mình không cần đò ạ !

Già Tư hỏi tôi:

– Chú về Nam năm nào?

– Dạ năm 64.

– Vậy chắc chú đọc báo Nhân Dân thường xuyên chớ?

– Dạ tôi thấy thường thường.

– Chú có đọc bài “cây đa cũ con đò khác đưa không?”

Một năm Xuân Thu nhị kỳ tôi mới đọc hết một bài trên báo này (ngoài mấy bài diễn văn tếu của lão trọc) nhưng cũng đáp ẩu:

– Dạ có !

– Chú thấy thế nào?

– Dạ ý anh Tư muốn sao ạ?

– Hợp tác xã so với ấp chiến lược thế nào?

– Dạ…

Bố tôi cũng không dám nói hợp tác xã là một sự ngu xuẩn của đám lãnh tụ Hà Nội, chúng đạp cứt Kholkhoz Liên Xô và công xã nhân dân Trung Cộng là nỗi oán hận của nông dân miền Bắc, nhưng tôi phải nói ngược lại.

Già Tư chép miệng:

– Hỏng bét rồi!

– Dạ cái gì hỏng ạ? (Cuộc hành quân đêm qua có gì sơ sót không vừa ý bệ hạ chăng?)

Già Tư không nói, chỉ thở dài sườn sượt và lắc lư cái đầu bạc phếu trông rất thảm não.

Tư Kẹt nói với Năm Ngó:

– Sẵn dịp tôi cũng muốn xem luôn cái địa đạo… chiến của các cô em.

– Dạ được anh Tư ạ! Cái chiến thuật này có từ lúc nhà báo Buộc Sết đến đây.

Già Tư ngớ ra:

– “Bụt-xết” nào?

– Dạ, đó là anh nhà báo bên Liên Xô hay bên Tây gì đó sang đây hồi xưa.

– Ừa có vụ đó nữa sao?

– Dạ có chớ. Chính ông ta xem đội dũng sĩ này biểu diễn cho ổng quay phim và đặt cho chiến thuật đánh Mỹ ở Củ Chi là “Địa đạo chiến” đấy ạ.

– Địa đạo của ta thần thánh như thế mà ta chưa tuyên truyền đúng mức nên quốc tế mù tịt, không biết gì cả.

– Dạ sau Buộc Sết, có cả một bà nhà báo đầm Tây và một ông giáo sư đại học Liên Xô tới nữa đó anh Tư!

– À vậy hả? Nhưng coi chừng ông Liên Xô, ổng đang ngoặc với Mỹ !

– Dạ, ổng nói chuyện thuận lợi cho chúng ta không hè. Ổng có coi bác sĩ Tám Lê cưa tay chiến sĩ không có thuốc mê bằng cưa sắt như hồi 48 đó anh Tư. Ổng khen lắm.

– Bậy quá. Cho ổng coi làm chi mấy vụ đó?

– Dạ đó là chỉ thị của khu ủy. Làm như vậy để xin viện trợ ạ .

Già Tư đấm đấm trán:

– Bậy! Bậy quá! Thiếu gì cách xin mà lại đưa vụ đó ra. Tôi e phản tác dụng.

– Dạ không ạ, ông giáo sư hứa về bển sẽ tích cực xin Chánh phủ Liên Xô cho thuốc men bông gòn và thuốc sốt rét.

– Các cậu không biết. Tình hình quốc tế nguy hiểm lắm. Mấy năm trước đồng chí Mi-ăn-cu, ủa, Mi-cu-ăng sang thăm nước ta có nói chuyện với dân Hà Nội, ông ấy bảo chúng ta nên xây dựng đất nước hơn là theo đuổi chiến tranh… – Già Tư hình như sợ trật đường rầy nên ngưng ngang – Còn các e… em dũng sĩ đâu cả rồi?

– Dạ họ về căn cứ của họ.

Tuy cuộc đi thăm dân ấp chiến lược cho biết cái sự…đời diễn biến và kết thúc mỹ mãn nhưng anh Tư coi bộ không vui. Lúc sắp vô hầm (trên mặt đất) ngủ, anh Tư mới thở hắt ra như một tiếng than thầm, không nói thì ấm ức, còn thốt ra thì sợ người khác nghe được bắt tội phạm thượng, cho uống nước ngọt.

– Trung ương không sáng suốt… Cách mạng hỏng mất rồi. Miền Bắc thua xa miền Nam.

Tôi không dám nói gì hết. Chỉ nghĩ thầm: các ông thấy rõ thực tế, nhưng khi báo cáo thì các ông sẽ tô hồng chớ không khi nào dám nói 1/100 sự thật.

Hôm sau Tư Kẹt triệu tập các quận ủy Đông, Tây Môn (Hóc Môn chia thành hai quận đông và tây) Gò vấp, và Nam Chi Bắc Chi đến nghe anh Tư phổ biến chỉ thị Trung ương về tình hình và nhiệm vụ mới, nhưng chờ mãi không có ai tới được. Lại bị chụp vén ót mãi, già Tư teo quá. Tôi phải di tản thương binh của quân y Nam Chi và căn cứ của Bảy Thung ở xã Phước Vĩnh Ninh để có nơi cho già Tư tá túc.

Cuộc họp le hoe mấy cán bộ xã trong cụm cao su Mỹ cày còn sót sát ruộng Láng The dọc đường 2 Làng, tức là xóm Phú Hiệp thuộc xã Phú Hòa Đông với sự canh gác của đơn vị tôi. Cả bọn ngồi lẫn trong những gốc cao su, nói lào khào như vịt xiêm, không dám nói to sợ cóc nhái nghe. Cũng may là ban đêm không có tên nào nhìn mặt tên nào nên đỡ sượng cái bánh bèo của đảng. Họp tới khuya thì ai xuống hầm nấy. Định họp 3 đêm mới xong. Đêm nào tôi cũng phải đưa anh Tư về căn cứ riêng biệt bên kia đường 1 Làng (đi thẳng vô chợ Phú Hòa Đông).

Nằm dưới hầm nghe mấy tên em út “đi” Sài Gòn như Bảy Đạo tham mưu trưởng quận đội và tên Vũ Mạnh Liên chánh ủy E kêu loa từ trên máy bay lồng lộng. Già Tư rêm lắm, y như tên ăn trộm sắp bị tóm, lúc nào cũng hỏi tôi: Căn cứ có bảo đảm không, có bảo đảm không?… Tôi đại diện cho Trung ương đây nghe đồng chí… í. Lỡ có bề gì thì nguy lắm!

Tôi đáp:

– Anh Tư đừng lo. Tôi chết anh Tư mới chết!

– Ý bậy nào! Mình phải sống để hoạt động chớ!- Anh Tư cố nói cứng bằng hai hàm răng đánh bò cạp nghe mà tội nghiệp.

Hội nghị được một đêm, sáng hôm sau Sư đoàn 25 chụp ngay chóc. Quân Mỹ đi vàng đồng, phản lực nhào xoáy tốc nóc nhà, loa kêu, pháo bắn sát bên hè. Cánh trực thăng xòe ra che mát cả một vùng. Già Tư như lên cữ rét. Mặt mày cắt không được hột máu. Già Tư bảo:

– Cho mình xuống địa đạo mau đi!

– Dạ địa đạo do xã quản lý chớ tôi không có xài!

– Thằng Ngó đâu rồi?

Thời may Năm Ngó vừa chạy tới. Già Tư bảo:

– Cho tôi xuống địa đạo mau chú !

Mặt Năm Ngó dớn dác. Tôi biết làm gì có địa cho già Tư xuống nghỉ mát. Các thứ địa đạo 2 tầng 3 tầng chỉ có trong bộ óc giàu tưởng tượng và trong sự lãng mạn của Hà Nội và quốc tế ngố thôi chớ lòng đất Củ C. này không hề biết cái kỳ quan “dài 100 mao” hay “121nches” đó. Năm Ngó bẩm:

– Dạ nó đổ chụp như vầy là thường, không ăn thua gì đâu anh Tư.

– Nhân dịp này, cho tôi xuống địa đạo xem qua để về báo cáo với trung ương.

– Dạ, nó đánh hóa học và súng phun lửa, ở dưới nguy lắm.

– Kệ nó, cứ cho tôi xuống, kẻo rồi không có dịp xem!

– Dạ cái cửa địa đạo cách xa lắm. Sợ anh Tư chạy không nổi!

– Chạy xa nhưng bảo đảm hơn ở trên chú à!

Trực thăng bay xè xè, ngó thấy cả phi công Mỹ. Tôi nháy Năm Ngó:

– Thôi cứ đưa anh Tư xuống tầng 2 cho an toàn.

Năm Ngó lôi già Tư ra vườn. Cả hai xuống hầm. Xuống hầm thì phải có em nuôi, con nuôi chui cùng, chớ chui sô lô thì còn lý thú gì! Nhất là một thằng già song ca với một thằng sồn sồn thì càng ngấy. Tôi đậy nắp hầm nghi trang cho già Tư và Năm Ngó rồi trở lui. Ơ dưới đó tha hồ Năm Ngó đưa anh Tư xuống tầng 2 tầng 3 có bếp Hoàng Cầm… múc nước giếng đào trong lòng địa đạo 16 thước bề sâu, nấu trà tẩm gân khỏe ru. Rồi vặn đài Giải Phóng nghe tin chiến sĩ ta “chiếm Bộ Tổng tham mưu Sài Gòn”

Uống trà xong sẽ có các cô em nữ y tá đến tiêm thuốc khỏe rồi đưa đi xem đội văn nghệ của nhạc sĩ Phạm Sang biểu diễn cây đờn cò Tây. Chiều lại dẫn anh Tư chui vô đít Đồng Dù nghe Bốp Hốp biểu diễn cho lính Mỹ trên mặt đất xem. Xong, sẽ đưa anh Tư đến cửa hàng bách hóa Củ Chi mua gì thì mua, bằng ba thứ tiền của Liên bang Đông Dương Việt Miên Lèo, hàng nào của phe xã hội chủ nghĩa cũng tràn ngập chớ không như bách hóa Hà Nội trống rỗng chỉ có hàng mẫu không bán!

Anh Tư bị trầy xước da chân, bánh chè trẹo sai chỗ. Không sao, Năm Ngó đưa anh Tư tới quân y viện của bác sĩ Võ Hoàng Lê (sau này là đại tá quân y được Hà Nội gán cho danh hiệu anh hùng quân đội) người bác sĩ độc nhất thế giới mổ óc dưới địa đạo Củ Chi! Bà Thắm vợ của bác sĩ Lê, vừa qua cơn ghen vĩ đại, sẽ tự tay băng bó vết thương cho anh Tư và bác sĩ Lê sẽ phục hồi chức năng cái bánh chè cho anh bằng sérum Bogomoletz của Liên Xô mới viện trợ qua đường hầm mặt trăng chở trên tàu vũ trụ của Gagarin….

Châu du địa Củ Chi 3 ngày liền không một tí mặt trời chạm da, anh Tư trồi lên mặt đất Củ Chi với sự thán phục quân dân Củ Chi vô vàn anh dũng. Anh Tư tưởng đã lột xác như Chung Vô Diệm thám địa huyệt cực kỳ lạ lùng. Nhờ phép Mác Lê Mê Lác mà già Tư trở nên một chàng trai tuấn tú khôi ngô. Vừa trông thấy anh Tư, các em dũng sĩ ào tới hôn hít ra rít.

Một cô vuốt mái tóc thề của già Tư, âu yếm hỏi thăm:

– Bác Tư bữa nay trông đẹp trai tệ ! Bác Tư thăm địa đạo có vui không?

Già Tư cười tươi như mếu, vuốt mớ tóc chó Cò lòa xòa trên trán gồ nhăn đẫm mồ hôi.

– Các e e… lủng xỉ đó hả. Ở dưới địa như có máy lạnh khác nào villa của anh Ba anh Hai ở đường Quan Thánh Hà Nội. Anh… anh tưởng trẻ lại vài chục cái xuân xanh.

Một cô liếng thoắng đến vuốt xương sống Già Tư hỏi:

– Cháu thấy Bác Tư trẻ hơn Bác Hồ đó. Bác kể chuyện địa 3 tầng cho chúng cháu nghe với. Thú thiệt với bác chúng cháu chưa có lần nào xuống dưới đó cả.

Út Nhỡ, cô dũng sĩ đã từng quào rách mặt 1 lính Mỹ ở địa gần Cây Điệp trong cuộc càn Mahattan và đã được đài Giải Phóng tuyên dương anh hùng diệt Mỹ 18 lần, đem nước đến dâng Bác Tư:

– Bác uống một hớp rồi kể chuyện địa 3 tầng cho chúng cháu nghe.

Già Tư phóng mắt nhìn tô nước và hỏi:

– Nước gì nâu nâu giống màu cứt trâu khô vậy?

Tụi con gái lý lắc cười om, Út Nhỏ nói:

– Bác Tư bảo vậy tội chết. Chúng cháu đâu dám cho bác Tư uống nước cứt trâu. Đây là nước mắc cỡ đấy! Dạ nước mắc cỡ đấy bác Tư!

– Tao bảo đừng có xưng “bác chú” mà nên xưng “anh em” cho thân mật nghe chưa?

– Dạ vâng. -Út Nhỏ tiếp – Tụi em lo cho “anh Tư” (ừ, kêu vậy nghe phải thầm tình đồng chí vô sản rởm không? Cái con nỡmm này!) xuống dưới địa rồi giống như bác Hai Phón và chú Tư Quợt bên Bến Cát đấy ạ !

– Hai Phón nào? Tư Quợt nào?

Bọn con gái cười, đấm lưng nhau thùm thụp. May sao chúng không nói toạc ra. Hai Phón là phó tư lệnh mỹ danh là Trần Hải Phụng có tật nghe pháo bắn là chui hầm trước nhất và cái vòi rồng bao giờ cũng sẵn sàng rưới nước ướt cả hầm. Còn Tư Quợt mỗi lần Mỹ chụp thì vừa đái vừa ỉa, nên không ai dám trốn chung hầm.

Có lẽ Già Tư rành biện chứng pháp nên đoán được những đức tính của các đồng chí kể trên, Già xua tay:

– Anh Tư không có thế đâu ! Cho anh một tô nước.lạnh để lấy lại trí nhớ kể cho các em nghe chuyện địa 3 tầng!- Già Tư bất mánh xưng “anh em” luôn với các cô- Thiệt là không thể tưởng tượng được. Đi ở dưới thênh thang như dạo Bờ Hồ, không phải bò trườn, khỏi cả khom lưng. Anh ở dưới 6, 7 tháng ủa 6, 7 ngày mà không mất miếng thịt nào. Chợ họp còn đông hơn chợ hắc xì… Đồng Xuân, cửa hàng đầy ấp vải lụa, bánh trái. Anh gặp đồng chí Hoàng Cầm đang lý thuyết về cái “bếp không khói” nữa. Luôn tiện anh thăm luôn bệnh viện và tặng quà cho chiến thương. Trời, ở dưới đó có cả nữ cán bộ đẻ con thiệt an toàn. Đẻ con xong giao con cho nhà trẻ rồi bò lên đi công tác Con nít dưới đó uống toàn sữa Liên Xô.

Một cô đưa đà:

– Anh có xem vườn hoa không?

– Ờ ờ, có chớ. Đi xa mỏi chân, chú Ngó có dẫn anh Tư đền ngồi ở vườn hoa Con Cóc nghỉ mệt. Anh có hái mấy đóa để về gắn lên áo các em dũng sĩ cho tươi đây.

Bọn con gái vỗ tay reo: Hoa của tụi em mới xin giống Mùa Hoa Nở của Liên Xô trồng làm kiểu mẫu đầu tiên đó anh Tư. Sau này sẽ còn nhiều vườn hoa ở dưới đó nữa.

Già Tư khựng lại rồi tịt luôn.

Năm Ngó không muốn thấy ông thượng cấp đi lố cồn xa quá khó rút lui, nên quát:

– Thôi bây đừng có hỏi nữa, để anh Tư nghỉ khỏe, đặng đi thăm “vành đai thép” của tụi bây tối nay.

Út Nhỏ bướng bỉnh:

– Muốn xem cho rõ thép đen hay thép đỏ thỉ phải đi ban ngày chớ ban đêm tối thui làm sao thấy, chú Năm!

Năm Ngó trợn mắt ý chừng muốn bảo:

– Anh Tư đeo kiếng lão, ban đêm cũng như ban ngày không thấy gì hết, nhưng anh Tư còn có cái lỗ mũi và hai bàn tay hiểu chưa?

Già Tư ngồi ngớ ra nhớ lại cuộc “du địa” phủ… vừa qua:

Tay ôm cô địa vào lòng
Địa ta bỗng biến thành ông bịp đời

Ngay đêm đó, dưới làn đạn của mấy chục xe tăng bao vây Bàu Lách, tôi phải hộ tống anh Tư mở đường máu chạy suốt đêm lên sông Bà Hảo để vọt qua đất Miên mở đợt 3 Tổng công kích Nam Vang. Lúc chia tay, anh Tư cảm động nói với tôi:

– Đồng chí ở lại rán giữ vững cơ sở nhé !

Dạ. – Nhìn lại xiêm y của anh Tư, thấy lõa lồ thảm não quá, tôi cởi cái quần kaki dài đưa cho anh Tư, kẻo chạy ngang phum Chà Ruột bọn Cao Miên ra đón tiếp thì bất tiện ghê nơi vậy đó anh Tư bầy trẻ à ! Nghe nói sau đó anh Tư đến Swayriêng (2) an toàn. Cũng may là ở đây không có cây cầu khỉ nào nên Năm Ngó không phải cõng anh Tư như cõng anh Chín qua Rạch Cây Da và khỏi phải ướt ưng áo.

Từ đêm đó không thấy anh Tư trở lại để chúng tôi cho ảnh tham quan cái “vành đai thép” của mấy em. Nhưng cái tô nước “mắc cỡ” chắc anh Tư uống thấm tới ruột cùng.

(1) Bài này của Nguyễn Chi Thanh đăng trên báo Nhân Dân liên tiếp chừng 5 số. Cộng Sản muôn đề cao tên này là cán bộ vạn năng. Quân sự giỏi tột định còn kinh tế cũng trùm phê. Hắn cỡi xe jeep có cần vụ nang cơm gà la-de phục vụm xen hoa hợp tác xã và viết bài đốt đít các hợp tác xã hãy nhảy vọt lên XHCN.

(2) Một tỉnh của Cao Miên giáp ranh Việt Nam ở phần đất Tây Ninh.

Chương 119

Người bạn vàng đời không thấy
Ông địa chui qua sông Sài Gòn

Ban chỉ huy E phải phân tán theo đơn vị. Bảy Ga, Tư Quân và tôi mỗi người phụ trách một mảng, đóng một nơi riêng biệt hoạt động gần như độc lập để tránh bị tiêu diệt. Sau Mậu Thân, bom pháo kết hợp biệt kích hoạt động ác liệt hơn nhiều.

Toàn quận Củ Chi đều trở thành thuộc địa của vương quốc Đồng Dù. Hàng ngày, trực thăng đổ vào giữa rún “Củ Chi Giải Phóng” để xúc dân ra định cư ở các ấp chiến lược Cây Bài, Lào Táo, Trung Lập, Cây Sộp.

Tôi phải đi tìm hang chui. Ở đâu bây giờ?

Tôi chợt nhớ Sáu Hùm, là người bạn có tình xưa nghĩa cũ. Kỳ rồi trên đường đi Sài Gòn tôi đã nghỉ đêm tại hang Hùm. Rồi bị kêu lộn về, nướng hụt. Hang chui thì dễ đào, nhưng nếu có giặc thì địa đạo chiến cách nào? Chiến thuật vảy chài nhanh, thu chài nhanh làm sao thực hiện? Cái chiến thuật này tôi học ở trường lục quân hồi 1950 như một trong những bí quyết du kích chiến. Tóm tắt là khi có địch thì tập trung đơn vị phóng ra mũi tấn công diệt địch nhanh rồi thu quân lại phân tán để tránh bị phản công. Thời đó, với Pháp rùa bò thì khả dĩ thi hành được.

Nhưng bây giờ với chiến thuật trực thăng, pháo, không thể vảy mà cũng không thể thu nhanh được. Muốn đánh Mỹ phải có gan đội bom pháo rốc kết dọn bãi để chờ nó tới. Có khi dọn bãi chỗ này, nó lại đổ chỗ khác. Mình không đánh cũng bị thiệt hại. Không có một chiến thuật nào của trường học đem áp dụng ờ đây được. Mỹ đánh không như Pháp.

Ông Võ Nguyên Giáp và ông Văn Tiến Dũng không hiểu Mỹ chút nào cả. Tôi có thể nói như thế mà không sợ sai lầm. Các ông ấy xem máu chiến sĩ như nước lã. Vì trong lũ hi sinh vật này không có con cháu của Bộ Chính Trị, Trung Ương đảng, Chính Phủ. Đám con ông Phủ cháu ông Nghè bận đi học bên Liên Xô, Trung Quốc, ngay cả Trần Độ (Chín Vinh) có thằng con tên là Trần Quang cũng làm ở công xưởng chớ không ra trận. Chỉ có bần cố nông một lòng tin Cách Mạng nên mới cho con cháu vô bộ đội bị lùa đi “Giải Phóng Miền Nam thôi”. Chết mất xác 300 ngàn (theo thú nhận của Đỗ Mười) đâu có giấy báo tử. Giấy để dành cho Bộ Chính Trị viết chính sách, thảo chỉ thị thừa thắng xông lên.

Tôi và thằng Tiển thằng Đá đến hang của Sáu Hùm lúc trời chạng vạng. Im vắng bốn bề không nghe tiếng Hùm con oe oe. Cô mụ Tám Mang đỡ bên Vườn Trầu, Hùm cha tha hùm con về hang lâu rồi.

Gặp tôi, Hùm hỏi ngay:

– Bộ đi Sài Gòn nữa hả anh Hai?

– Không! Mình đã “làm chủ” Sài Gòn rồi còn đi làm chi nữa !

– Mừng cho anh! – Có lẽ sợ mất lập trường, Hùm né ngang – Anh ở lại trị tụi Đồng Dù mới được. Chớ anh đi, còn ai?

Tôi rỉ tai Sáu Hùm:

– Hai đứa kéo nhau ra xa miệng hầm ngồi tỉ tê.

Hùm nói:

– Bây giờ tôi đưa anh ra xem cái hầm dưới triền dốc đường 15.

– Ở khúc nào?

– Ngay Bến Hõm.

Nghe cái tên hơi lạ, tôi ngồi im, không biết chỗ nào nhưng không muốn lòi đuôi dốt địa hình trước mặt ông thổ địa nên chưa hỏi vội.

– Chời! Anh dẫm nát Củ Chi mà không biết Bến Hõm?

– Tên gì kỳ vậy? Sao không kêu là Bến “Hùm” cho dễ nhớ ?

– Gần mội nước nhỉ, chỗ thằng Lợi bị xe tăng bắn!

– À ! tưởng đâu lạ ! Đó là bến tàu. Từ Dầu Tiếng xuống Bình Dương liền mấy năm trước tàu đò đỗ lại đó cho khách lên xuống. Nó không có cầu tàu nhưng bờ sông có một chỗ lõm vào như cái vịnh con, tàu đâm mũi vô đó rất tiện. Phải không?

– Phải rồi, nhưng là hồi năm kia chớ bây giờ chỗ đó thành hoang địa rồi, tàu bè đâu còn tới nữa. Kể từ ngày thằng cha nhà báo gì cặm cờ quay phim, chủ tàu té đái 3 năm không dám chạy rước khách đường này nữa! Thành ra cái bến hõm cây cối mọc rậm rì như cái bẹng trâu già. Không ai thèm chú ý nữa.

Tôi gạt ra:

– Càng rậm giang thuyền càng để ý cha non ơi!

Sáu Hùm nói:

– Thời buổi này chuột không nhờ bụi rậm thì chằng lẽ lại chạy lan ra đồng trống sao anh Hai!

Hắn nói một câu hết sức chí lý làm cho tôi không còn cãi lại được. Sáu Hùm than thở:

– Thương binh tới nay vẫn còn đùn đống dưới Rạch Tra- Bình Mỹ.

– Gần Rạch Cây Dương không? – Tôi làm bộ hỏi cơ.

– Rạch Cây Da tuốt ở trên này mà. Còn Rạch Tra là gần Sài Gòn rồi. Hồi trước thì còn xuống được. Bây giờ tụi Sài Gòn truy kích rát lắm. Thương binh về được thì về chớ anh Năm E và tôi không xuống được.

Tôi làm thinh. Còn nói gì bây giờ.

– Chật! Sáu Hùm chắt lưỡi.

Tôi đoán sau cái chắt lưỡi đó còn bao nhiêu ý nghĩ khác. Hắn không nói ra. Hắn đứng dậy bảo:

– Thôi đi về anh! Ngồi lâu ngoài này không tiện.

Chúng tôi về hầm. Trời! Một kỳ công kiến trúc của thế giới. Hang cũ đã bỏ, Hùm đào hang mới. Nửa nhà nửa hang khoét trong lòng đất. Bên trong vẫn có bàn ghế, có cả bàn thờ với lư hương, bếp núc, giường ngủ gần đầy đủ như một căn nhà.

– Chú thờ ai vậy Hùm?

– Thờ chung chung. Ai cũng thờ để cho họ phù hộ mình.

– Hùm con được mấy tháng rồi?

– Dạ 3 tháng ngoài!

Tôi giật mình, không ngờ thời gian đi nhanh như thế. Mới Tết đây, mùi bánh tét chưa phai mà bây giờ đã qua năm khác lâu rồi. Trông thằng bé nằm chòi chòi 2 chân trong túp mền đen đủi, tôi gượng làm vui, nắm tay nó nói đùa mấy câu rồi móc tiền trong số 2 triệu của Tám Lệ đưa hôm nọ, bảo Út Bánh Ú – vợ Hùm:

– Thím cầm tiền mua sữa cho cháu.

– Nó uống nước cơm quậy đường không hà anh Hai. Nó tuổi Thân, con gà (!!)chắc sẽ khá.

Ăn ở như vậy, không biết tại sao thằng bé vẫn khỏe mạnh và rất kháu.

Vợ Hùm nói:

– Cũng may là nó ít khóc anh Hai à . Nếu nó khóc như con người ta thì bể hết chớ làm sao mà ở được một chỗ.

Hai Khởi có con nhưng ở trên nhà vùng Ngụy tử tế. Nếu thấy cảnh này chắc không đốc tôi “bứng gót” Tám Lệ nữa.

Đánh nữa đi các cha Hà Nội, thừa thắng xông lên! Lên đường xuống đường kiếm thêm ba mớ dây chuyền cà rá ! Ma Mậu Thân có linh thiêng sao không bẻ họng bọn thằng Hồ thằng Duẩn thăng Chinh lùn? (Mà linh thật, sau này mới hay tên Hồ già ngả bệnh thành bán thân bất toại sau Tết, rồi ngủm luôn. Trèo cao té nặng nghe em! Hồn oan tử sĩ khắp miền Nam vật mày đó !)

Tôi phải nấn ná ở với Sáu Hùm mấy ngày để đợi tình hình thuận tiện mới mò được ra Bến Hõm. Xưa kia con đường từ An Nhơn Tây xuống Phú Hòa Đông dập dìu tài tử giai nhân. Bây giờ mỗi bước đi một mảnh đạn. Tài tử Tám Lệ (Ef không phải Tám Lệ góa chồng) thì đi Sài Gòn không về còn giai nhân Kim Anh, Út Lan thì mỗi người một ngã.

– Con Xuân nằm chỗ nào Đá?

– Ở bờ rừng cao su kìa anh.

Chắc tấm bia gỗ nay đã trôi mất. Tôi chợt nhớ tới bà khu ủy Năm Đang không biết sau khi bị lột… chức, trôi dạt nơi nào. Con cá lẹp này có lúc cũng lên mặt kên lập trường với đám lính tụi tôi lắm. Tội nghiệp, bây giờ cô đơn đêm khuya thân gái dặm trường.

Sáu Hùm đột nhiên kêu lên:

– Phải còn thẳng Cội bây giờ thì đỡ cho anh biết bao nhiêu anh Hai.

– Ờ!

Bây giờ tụi Trung Hòa hay đột ra sở Bà Hộ và gài mìn khúc Cầu Rạch Sơn dữ lấm! Anh đi Bến Mương phải coi chừng thiệt kỹ .

– Coi gì được mà coi em ơi! (Tôi nghĩ bụng). Chừng nào nó gầm thì mới biết. Như Năm Tiều, như Ba Nhẫn đó !

Một vùng trời đất hoang sơ chi địa. Đó là Bến Hõm ở triền dốc con đường 15 dọc theo sông Sài Gòn. Ở đâu rồi cũng thành quê hương của tên Thiên Lôi này cả. Đang ngóng xuống sông thì có 2 người đi tới. Đó là Út Lan du kích An Phú (không phải Lan vợ Bảy Nô Dtt mới chết ở Lòng Tào) và thằng Ứng du kích.

Đám này gan lắm. Thời “dũng sĩ” Năm Cội còn tung hoành, thì Út Lan cũng nổi như cồn. Nàng dám đứng núp gốc cau bắn 18 phát CKC đuổi biệt kích thằng Giắc chạy dài. Thấy nàng đến, tôi nói:

– Anh tưởng em vô ấp chiến lược rồi chớ !

– Em không như con Ba Cấm đâu anh! Em ở lại bám tới cùng. Em vừa bị thương mới mạnh.

– Sao vậy?

– Pháo dập sơ sơ.

Thằng Ứng tay cầm trái lựu đạn nội hóa của công trường quận sản xuất (khá hơn lựu đạn có đuôi VTF -Võ Thành Phát- thời đánh Tây một chút), rặn mãi mới ra một câu:

– Anh… a… anh Hai cái cái mà đi… đi nghi nghi… ên cứu đánh giang thuyền hả?

– Pa… ả… ải “gồi” – Sáu Hùm nhái lại.

Cả bọn cười ran:

– Phục… chỗ này thì ăn gọn… cái… một!

– Ờ ờ đâu mày chỉ chỗ cho anh Hai đi ra bờ sông coi địa thế chút.

Thằng Ứng vạch cỏ đi trước. Lan vác CKC theo sau. Hùm nói với tôi:

– Vùng này đào giếng phải sâu 6 thước mới có nước anh à. Vậy nên đào hầm tốt lắm.

Cả đám đi theo chân thằng Ứng, từ trên mặt đường xuống triền dốc thoai thoải như móng cầu. Sáu Hùm hỏi:

– Tụi bây gài có bỏ sót ở đây trái nào không?

– Không có đâu, anh đừng lo. Bộ anh sợ đi theo bác Năm Tiều hả?

Tôi hỏi Lan:

– Các em có được tiêu chuẩn gạo không?

– Làm gì được anh Hai. Thằng Ứng toàn đi moi gạo hậu cần của ông Ba Râu.

Thằng Ứng tiếp:

– Có lần xui xẻo ghê. Em đang moi được đầy hai ống quần vắt qua cổ sắp rút đi thì ổng tới. Em sợ quá, nhưng ổng bảo: tụi bây đói tao thí cho một lần thôi. Lần sau bắt gặp tao thiến cổ nghe chưa? Dạ, thiến thì thiến, bác Ba đừng có gài lựu đạn chết tụi cháu không còn ai cánh giặc! Ổng đi rồi, tụi em lại xoi tiếp.

– Xuống Bến Cỏ không mua được sao?

– Thằng cha xã trưởng này khôn lắm. Nó không cho ai đem gạo ra khỏi xã. Nó kiểm soát hũ gạo của từng nhà.Tiểu đoàn 2 quận Gò Môn toàn lãnh lúa tự xay giã lấy mà ăn chớ đâu có được lãnh gạo. Tụi em đói quá, lắm lúc phải vô ấp chiến lược ăn chực. Cùng cực nữa thì đi làm mướn: đào đất, đánh xe bò, vác lúa, chèo ghe.

Thằng Ứng nói luôn:

– Ở ấp Cỏ Ống xã Lộc Hưng có anh Tư Cao con bà má Sáu là đại đội phó D14 Tây Ninh bỏ về nhà làm ăn. Ông Ba Lành là anh của ông Tư Cao lâu nay phụ trách chở gạo qua Rạch Kiến, nay nghỉ rồi, nên không còn ai mướn tụi em chèo ghe. Hồi trước gạo chở kình kình trên xe bò tuốt qua bót.

– Lính để cho đi à ?

– Tụi em năn nỉ, nó không bắt bớ gì nữa. Nhưng đó là lính bót chớ gặp lính sư đoàn thì chỉ có môn bỏ xe tẩu như phi. Nó bắt được thì chầu Hà Bá! – Thằng Ứng chỉ tay về phía trước- Chỗ đó tiêu 2 mạng. Hề hề, vợ con được lãnh tiền tử, đủ mua mấy ốp nhang… – Ứng tiếp- Nhưng dầu sao ở đây cũng khỏe hơn ở Gò Đình. Ở đó gần bót Trung Hòa không chơi địa được, chỉ đào hang ếch ở tạm thôi. Cứ bị moi bắt hoài. Hồi đó anh Năm Cội thường mò qua Ba Sa tìm chị Lan.

Lan với tay đấm lưng thằng Ứng:

– Đừng có nhắc nữa. Đi mau lên.

Thằng Ứng cười trừ:

– Không phải sao. Ảnh cảm chị vì mấy phát trường bá đỏ Nếu ảnh không đạp mìn thì nay đã có Cội con oe oe rồi. Anh Sáu Hùm là chú ruột của con Út Bánh Tráng hứa làm mai anh Cội cho chị mà tại ảnh vắn số quá. Mấy ảnh cứ đi hết bỏ mấy chị ở lại buồn ghê !

Nghe tiếng Lan sịt mũi, tôi gạt ngang:

– Công tác cách mạng thì phải hi sinh chớ buồn gì mà buồn. Cụ Hồ có vợ con gì đâu. – Bỗng nghe mũi cay cay, tôi hắt hơi mấy cái liền.

Thằng Ứng nói:

– Gần tới mé sông rồi. Hóa học nó rải hồi năm ngoái đó ở đây có mấy nóc nhà lưa thưa, có quán bán bánh cho khách lên xuống tàu đi Bình Dương Dầu Tiếng có cả tiệm chụp hình nữa nhưng từ khi ăn hóa học họ đi hết rồi. Nhà đứng đó nhưng không có người !

Đoàn đi xuống mút cái dốc, Sáu Hùm bảo Lan và Ứng trở lên cảnh giới trên mặt lộ còn Tiển và Đá thì canh ngoài sông. Thời buổi này phải kỹ lưỡng từng chút một kẻo mà chết không kịp trối.

Thằng Tiền rùng mình:

– Em sợ “bò” quá anh Hai.

– Bậy mày! “Bò” chìm xuống đáy sông hết chớ đâu còn trên mặt nước?

Còn lại tôi và Sáu Hùm. Anh ta mới ngó dáo dác một lúc rồi bảo:

– Miệng địa chắc đâu ở đằng gốc cây kia!

– Cái gì?

– Miệng hầm.

– Chú không nhớ chắc hay sao?

– Đào hồi Đồng Khởi tới bây giờ có rớ tới đâu anh Hai !

Cái gì không dùng thì tốt, nhưng địa mà bỏ lâu chừng ấy thì hết xài rồi. Tôi buồn rầu nghĩ bụng như thế nhưng không dám nói ra. Mình bây giờ đâu còn oai phong nữa. Bộ đội chánh qui lại cởi áo làm du kích còn dám “loe lói” gì với xã đội. Nhưng Sáu Hùm là người biết điều không lên mặt với kẻ thất thế.

Hắn bảo:

– Anh đi theo tôi! – rồi rẽ cỏ vừa lom khom đi tới vừa nói: – Hồi đó các xã thi đua đào địa, nhưng các xã An Nhơn Phú Mỹ Hưng thì tập họp dân ba ngày đào được vài ba chục thước còn ở đây gần địch đâu dám đào công khai, phải mò rờ ban đêm. Vài ba ngoe moi được một thước là cùng. Rồi hai ba đêm, có khi cả tháng mới đào tiếp.

Tôi hỏi:

– Sao lại mở miệng ở cái dốc sỏi đá này vậy?

– Ở giữa dốc xe tăng nó không chạy nhẹp. Hình như B52 nó chê, ở đây an toàn hơn chỗ khác, không dè nó lại bứng cả khúc ở Nhà Mủ Hố Bò làm rung rinh tận dưới này. Hố Bò bây giờ như Vàm Sông Soài Rạp chớ khác gì. May nó chỉ rắc tới chợ An Nhơn còn chừa khúc này cho mình sống.

Đến một bụi cây không rõ cây gì, Sáu Hùm dừng lại trỏ tay dưới một gốc cây:

– Chắc là đây. Rồi nhìn quanh như để xác nhận địa điểm một lần nữa: – Cái cây này chớ gi! Hồi mở miệng thí (1) nó có bằng cườm tay, nay thành cổ thụ.

Sáu Hùm ngồi xuống vạch cỏ. Hắn rút trong lưng ra cái cuốc chim cào cào đất. Tôi chăm chú nhìn tìm cái khoen sắt dùng để kéo nắp hầm lên. Trò chơi này tôi cũng rành không kém ai.

Hồi lâu Sáu Hùm mới tìm được cái mép khuôn gỗ.

– Miệng địa đây rồi. – Anh ta cào mạnh làm lòi ra cái khuôn gỗ hình chữ nhật.

Tôi mừng rỡ reo lên:

– Đúng rồi, khai khẩu ông địa ra coi!

Sáu Hùm moi đất ở giữa cái khuôn để tìm khoen dây thép Nhưng nó đã bị sét không còn dùng được để kéo nắp lên nữa. Cái nắp nặng 20-30 kilô chớ đâu phải nhẹ. Sáu Hùm rất kiên nhẫn. Y moi hết đất trong khung gỗ ra rồi thọc tay xuống hầm lôi bật nấp lên. Cái khung gỗ mục nát để lòi ra một khoảng trống, rễ cây trắng hếu đan qua chéo lại như mặt võng.

Hai đứa ngồi bệt xuống đất nhìn nhau, không giấu được sự thất vọng.

Sáu Hùm động viên tôi:

– Coi vậy chớ tốt lắm đó anh Hai!

Tôi làm thinh. Sáu Hùm tiếp:

– 6 năm rồi mà cái miệng chưa bít. Miệng chưa bít thì ruột còn. Mình sửa lại mấy hồi anh Hai. Anh cứ tin tôi đi. Đây là địa tốt nhất. Tụi giang thuyền có “tróc” M79 cũng không vô tới. Ở đây “ngồi thum” gió mát như quạt hầu khỏe lắm!

– Vậy hả? – tôi gượng hỏi.

– Lúc này thì chỉ còn ngồi thum chờ Hòa Bình chớ làm gì nữa anh!

Bỗng thằng Đá chạy vọt lên mặt mày ngơ ngáo, miệng há hốc:

– Anh Hai ơi! anh Hai!

ôi và Sáu Hùm bật dậy như lò-xo:

– Gì đó. Giang thuyền tới hả?

– Ơ ơ….

– Chạy mau anh Hai. Nó bắn đại liên dữ lắm!

Tôi trườn lên mặt đường. Sáu Hùm vọt theo. Thằng Đá đuổi kịp la lên:

– Không phải giang thuyền, anh Hai, anh Sáu!

– Thằng quỉ làm tao hết hồn!

Thằng Đá vừa thở vừa nói:

– Người không phải người, quỉ không phải quỉ!

– Vậy chớ cái gì? Nó ra làm sao? – Hùm hét.

– Hay là ma “bò”. Ma gì hiện giữa ban ngày? – Tôi quát theo.

Thằng Đá vừa quệt mồ hôi vừa nói:

– Em với thằng Tiễn đang canh mặt sông thì nghe trên cây dừa có tiếng cười hí hí. Em bỏ ống dòm thì thấy một con khỉ, nhưng khỉ gì to thế? Em kêu thằng Tiển chỉ cho nó xem. Bỗng thằng người tuột tột tột xuống đất. Tụi em chạy. Thằng Tiển lủi đâu mất, em vọt lên đây.

Sáu Hùm hỏi:

– Nó ở đâu rồi?

– Không biết. Em chỉ thấy mặt mũi nó gớm quá. Tóc tai xõa tới lưng quần như rạ khô thấy ghê! Quần áo te tua như tổ đỉa. Em chạy suýt té đái.

– Mày học sách ông Chín tưới ướt lưng ông Năm E hả?

Sáu Hùm nói:

– Tôi biết rồi anh Hai! Đó là thằng người B52 .

– Là người gì?

– Để tôi nói anh nghe. Hồi 1963, B52 rắc Láng Cát. Trời, tới bây giờ nhớ lại hãy còn rủng mình rởn óc. Đang ngủ nửa đêm bỗng nghe đùng đùng như pháo tre nổ loạt này hết loạt khác, mặt đất lắc như đưa võng. Đang nằm muốn ngồi dậy mà không ngồi được. Kỳ đó chết một ông lớn mình giấu dữ lắm, ngoài ra còn mấy chục cán bộ không biết cỡ nào. Còn súng to cũng hư hết. Chỉ còn vài ba người sống sót. Nghe người ta đồn thôi chứ ít ai thấy. Mấy ông bị vùi dưới đất rồi ngoi lên đi lang thang trong xóm. Dây “thần thông” đứt hết nên điên điên khùng khùng, ẩn ẩn hiện hiện như ma. Chắc cái thằng người này đi trong chuyến đó, không biết gốc Nam hay Bắc. Ở vùng này bà con gọi là “ông B52” chính là mấy ông nội này.

có khi du kích Bàu Tre, Bàu Tròn gặp. Hỏi tên tuổi, gốc gác, anh ta không trả lời. Đang nói chuyện phát chạy. Đang đi bỗng vọt lên ngọn cây. Giang thuyền bắt được trói bỏ xuống tàu anh ta phóng xuống sông. Lính xe tăng cho sữa, bánh, y đeo cùng mình, gặp con nít ném cho.

Tôi nói:

– Hồi lội Trường Sơn tôi cũng có gặp một người bị B52 hóa điên như vậy. Đơn vị bỏ thì không được mà đem theo thì rất khổ. Anh em phải buộc tay dắt theo. Nếu lơ đễnh anh ta chạy vuột vô rừng rậm. Cả tiểu đội đuổi theo bắt như săn nai, làm náo động các đơn vị khác.

Sáu Hùm nói:

– Lâu lâu người ta lại gặp ông ấy như ma quỉ. Du kích thương hại bắt đem về trói vô cột nhưng rồi cũng sút ra đi lang. Có người đề nghị bắn phức cho y mát thân chớ sống làm gì mà người không ra người như thế. Nhưng ông Năm E bảo chờ Hoà Bình xem có phải người Bắc thì trả về cho gia đình. Dù sao cũng còn cái xác hơn là mất tích.

Tôi ê ẩm hết cả tâm can, không biết nói sao.

Đi tìm hầm lại đụng ma quỉ. Lúc chia tay, Lan hỏi tôi:

– Anh chấm chỗ đặt DKZ chưa anh Hai?

– Được rồi!! Ký súng ngay khúc quẹo này thì bắn ngay chóc vô hông giang thuyền.

Trở về nhà trời tối mịt. Sáu Hùm vỗ vai tôi nói:

– Cái khúc địa này chui qua sông (Sài Gòn) đó nghe anh Hai.

– Vậy hả?

Sáu Hùm cười cười:

– Vậy lúc trước anh làm quận đội không có đến kiểm tra sao?

– Củ Chi có tới “cả trăm cây số địa” tôi không nhớ hết!

– Sau này ông Nguyễn Thành Lính thành Lém gì đó ở ngoài Bắc vô củng cố thêm bằng bê tông, địa qua lại sông Sài Gòn đã lắm! Bộ ông ta không có liên hệ với anh sao?

– Không! Sao bây giờ cái miệng địa bít lại vậy?

Sáu Hùm lựng khựng một chút rồi đáp:

– Đây là miệng cũ, còn miệng mới ở chỗ khác!

Tôi đẩy luôn ngọt ngào:

– Như vậy để hôm nào cho tôi chui qua đáy sông đi họp quân khu, khỏi đi trên bến Dược nguy hiểm quá.

– Cái đó dư xăng. Địa qua sông không phải mọp, cứ đi thẳng lưng như đi trên lộ đá vậy anh Hai.

Tôi gật gù:

– Thì cũng như ông Năm Ngó đưa ông già Tư đi một tua vừa rồi, có ghé dưới đít Đồng Dù nghe Phạm Sang kéo cây đờn xếp nữa. Ổng khen Củ Chi nức nở.

Sáu Hùm nói:

– Chui qua địa này chừng 15 phút thôi anh à! Tôi dắt dân công vác gạo qua bên Thanh An rồi lộn về chỉ trong một ngày. Có lần giang thuyền nó chạy ngang đầu nghe nước khua lách tách.

Tôi bảo:

– Sao không thò tay ra nắm bánh lái nó rị xuống?

Hai đứa “thông cổm” nhìn nhau cười rũ rượi. Bọn ăn mày cũng có khi mơ thành triệu phú, đẩy cây thoa mà bò với nhau.

Tôi kêu thằng Đá và thằng Tiển lấy gạo ra nấu cơm. Sáu Hùm bảo:

– Anh Năm E xả đáy rồi, lúc này cực ăn lấm, không còn tôm cá như lúc trước nữa anh Hai à !

– Vẫn còn thẳng chổng hay sao?

– Chổng thưa hơn trước, nhưng vẫn còn lai rai. Tôm càng xanh mà ăn cũng không mạnh miệng nữa anh Hai .

Một lát cơm dọn. Tôi lấy bình toong rượu rót vô mấy cái chung mắt trâu ngã lăn trong vách đất, lâm râm cúng

– Tư Nhựt, Năm Tiều có linh thiêng…

– Có linh thiêng xin đừng cho cò ỉa miệng chai rúm tụi này hết. – Sáu Hùm tiếp lời tôi.

Vừa ngồi vào mâm thì thằng Tiển báo có khách. Sáu Hùm dớn dác ngó ra cửa hầm. Nghe khách tới, ai cũng sợ. Bất cứ khách gì. Bất cứ lúc nào huống chi đêm.

Một người khách lạ kỳ nhưng Sáu Hùm không có vẻ gì ngạc nhiên hoặc lo sợ. Khách ta có cái đầu trọc như gáo dừa gọt dối, mặt lạnh như tiền, tay xách cái hũ sành bằng một chiếc gióng toòng teng, tay kia cầm một gói khô và rau sống thơm phức.

Ông khách không đợi mời thỉnh gì hết, cứ ngồi vào bày các thứ lên mâm. Tôi đoán chắc là bạn của Sáu Hùm nên không hỏi- như người khách ở nhà Hai Giả cách đây 4 năm gặp trên bàn bữa tiệc hội ngộ khi tôi về H6: chú Tám Cần người kháng chiến chống Pháp! Nhưng ông bạn này có và quái dị không giống người địa phương làm tôi nghĩ là người của đảng Rồng Xanh thằng Cử nói hôm nọ.

Giọng y cứng đơ nhưng không phải giọng cắc-chú cố sửa cho giống giọng địa phương. Rồi bất ngờ anh chàng rút ra mấy cái ống trúc kiểng cắm vào miệng hũ:

– Mời thầy Hai làm vài ngụm rượu cần.

Hai tiếng “rượu cần” làm tôi rất đỗi ngạc nhiên, thứ rượu không có ở đất Nam Kỳ mà chỉ ở thượng du Bắc Việt. Người khách cười vui vẻ:

– Tôi nghe tiếng thầy Hai lâu rồi, nay mới có dịp gặp.

Bây giờ Sáu Hùm mới lên tiếng:

– Đây là anh ruột của em.

Tôi ngạc nhiên:

– Tôi biết chỉ có Năm Cọp là anh ruột của chú thôi mà !

– Dạ đây là anh Tư Cheo, anh của Năm Cọp và Sáu Hùm này đó anh Hai. Anh Tư cũng là dân mùa Thu như anh đó.

Tôi đưa tay ra bắt như quen từ lâu:

– Anh về năm mấy, anh Tư?

– Năm mấy tôi cũng quên rồi!

Tôi hỏi tiếp:

– Hiện nay anh Tư công tác ở đơn vị nào?

– Tôi công tác độc lập .

Sự nghi ngờ anh là đảng viên đảng Rồng Xanh càngchắc chắn hơn trong tôi. Nếu không thì anh cũng ở ban công tác thành F100 nên mặt mũi có vẻ lạ lùng. Có lẽ tụi thằng Tư Tăng vượt ngục của ông Năm Đăng, bị bắt trở lại anh ta thoát về đây tá túc với người em chăng? Nghĩ vậy tôi tò mò hỏi tiếp:

– Anh về nghỉ phép được bao lâu anh Tư ?

– Vô thời hạn.

– Xin lỗi anh có quen ai ờ Củ Chi này không?

– Đây là xứ tôi! Mời anh hút một ngụm đi!

Tôi cầm ống trúc bông nhưng chưa đút vào miệng thì Tư Cheo cũng cầm lấy một ống hút trước để chứng tỏ rượu ngon không có gì đáng ngại rồi mời tôi:

– Tôi kháp không giống lắm. Nhưng uống được. Tuy lạt hơn đế nhưng cũng say. Ông anh thử một ngụm sẽ nghe nóng lỗ tai ngay.

Tôi định hỏi thêm vài câu, nhưng Sáu Hùm tiếp:

– Ảnh có ở trên Lào Kay Lào Kiếc gì nữa đó anh ! Đâu gần chỗ cụ Hồ ở hồi kháng chiến. Ảnh không quên thứ rượu này nên lâu lâu ảnh làm một hũ đỡ ghiền.

Tư Cheo cười, gật gù xác nhận.

Tư Cheo là dân tập kết, thuộc sư đoàn 330 của Đồng Văn Cống, đóng ở Thọ Xuân Thanh Hóa. Cheo mang cấp bậc trung úy. Bất mãn, bỏ đơn vị cùng với mấy anh em lên tận Lào Kay Bắc giang và sống bằng nghề đốn nứa xuôi Sông Hồng về bán ở bến Phà Đen. Nhiều người có vợ có con. Để trốn những tên ở đơn vị lên đây truy tầm, họ đồng hóa với địa phương nghĩa là cạo trọc sơn đầu làm người Mán (gọi là Mán sơn đầu). Một hôm nghe đài BBC rao về đường mòn Trường Sơn, Tư Cheo cùng anh em hạ san rồi giả mạo giấy tờ, tìm xin quân phục cũ, chui vô khu tập kết ở Hà Đông – đầu cầu đưa bộ đội về Nam, len lỏi về được Tây Ninh. Đến đây khác nào hổ đã về rừng, Tư Cheo trốn theo các chuyến giao liên, về đến quê tìm được Sáu Hùm. Hùm đang làm xã đội trưởng nên có phương tiện và quyền thế nên che dấu ông anh ruột đến hôm nay. Quận đội trưởng Năm E cũng biết nhưng bỏ lơ, không bắt bí. Trong tình thế “ngồi thum” của toàn quận, ai hơi đâu bới móc những chuyện như vậy. Người ta lo cho sinh mạng mình hơn chớ!

Tư Cheo tỏ vẻ có trình độ và nể nang tôi, nói năng xưng hô không phang ngang bửa củi.

– Ông anh ở Lữ Đoàn Ba Tô Ký à?

– Dạ, Xuân Mai Lương Sơn Bạt!

– Lương sơn Bạt! Há há! Tôi có bạn quen phục viên ra nông trường Xuân Mai móc rễ lim. Con gái vùng Hòa Bình đi chợ Sơn Tây thiếu gì. Họ đi ngựa và rất thích làm quen với anh đội. Ông anh có tới F330 không?

– Có chớ. Chỗ cái cống Bàn Thạch nước trong, tắm đã lắm!

– Năm 59 tôi có đi săn heo rừng một chuyến trên Hồi Xuân, La Hán. Từ Ngọc Lặc đi ngược lên 40 ki lô mét thì tới biên giới Lèo.

– Tôi không có đi tới trển.

Tư Cheo cười:

– Không phải săn heo săn nai gì mà chính là do đường về Nam. Miền Bắc khó sống quá ông anh à ! Ở không khoái thì tìm đường về. Người ta không cho thì mình tự lực đi. Anh hùng Nguyễn Văn Song cũng trốn mà !

– Anh ấy mắc bệnh thần kinh. Tôi nói lấp, không để Tư Cheo bới to ra một vấn đề chính trị.

– Thần kinh thần keo gì! Người ta phao lên như vậy thôi Chớ ông bất mãn chúa.

– Bất mãn cái gì? Hồi chống Pháp ổng đào hằng trăm thước địa đạo bằng một cái lưỡi hái cùn. Cái lưỡi hái này chắc ngày nay Sáu Hùm dùng đào tiếp “cả trăm cây số địa đạo” ở Củ Chi chớ gì, phải không Hùm? Như vậy ổng được tuyên dương anh hùng cũng xứng đáng còn bất mãn gì nữa?

Tư Cheo nói tiếp:

– Tôi không biết nhưng ổng trốn là có thiệt và không phải vì bịnh điên.

Rồi cả sư đoàn tủa ra đi tìm bắt lại mà có được đâu! (Dầu có bắt lại được thì họ cũng thủ tiêu anh ta để bịt tiếng xấu)

Tư Cheo tiếp:

– Nhưng tôi trốn qua Lào cũng không đi lọt được! Lúc đó quân Ít-sa-rắc đóng lềnh khênh ở biên giới. Ông Ba Ngọt đem quân sang đánh cánh đồng Chum giao cho họ trấn giữ. Đụng đầu họ, tôi bèn quay trở lại Thọ Xuân, lội qua đập nước Bãi Thượng thuê hai tên người Mường buôn thuốc phiện lậu dắt đường qua Lèo. Đi liều mạng như vậy, năm ăn năm thua. Thà chết dọc đường dọc xá còn hơn ở ngoải cũng cốt rụi xương tàn. Chúng tôi cho tụi Mường 2 khẩu súng trường và vàng bạc đồng hồ cùng một số tiền mặt. Đêm đi ngày nghỉ. Có lần gặp một ổ heo rừng to bằng cái nhà. Từ xa gió phất đã nghe tanh mùi heo. Hai thằng Mường kinh nghiệm chạy tránh. Nếu gặp bầy heo này thì không thoát chết. Heo rừng là giống khó trị hơn cả cọp beo.

Nhưng rồi chuyến đi cũng thất bại. Cuối củng chúng tôi phải phân tán, đứa đi Lào Kay đứa lên Hoàa Bình đồng hóa với địa phương mất mấy năm sống trên núi.

Tôi hỏi:

– Rồi làm sao anh về được?

– Ơi trời! Nhiều mánh khoé và nhiều pha liều mạng lắm. Ông anh ơi! Vô khu tập kết đầu cầu gặp lại bạn cũ thiếu gì. Tôi thú thật. Tụi nó cũng im luôn: Chệt xa xứ, muốn về xứ“. Chúng nó cho tôi đeo vè xe Mô lô tô va. Rồi tôi trở thành phụ lái, hách một cây. Chạy mấy tuần vô tới cầu Cần Đăng. Cheo về rừng khoác da cọp, ai dám bắt?

Tư Cheo bẻ miếng khô đưa cho tôi, rồi thở dài:

– Tôi không nghĩ là tôi về xứ được. Mà về được. Do sự ẩu tả. Chớ nếu theo nguyên tắc thì chưa chắc hiện giờ tôi ngồi được ở đây! Nhiều thằng làm quân Lèo sang đánh ở bên xứ Xu-pha-nô-vông rồi nằm lại bên đó. Muôn năm hết về! Tội nghiệp đám Nam Bộ mình đi phiêu lưu quá, xương máu rải khắp nơi như phân cứt trâu bón cây cỏ đồng đất nước người, ai biết !

Tư Cheo lại hút rượu cần, đốt thuốc bập bập rồi tiếp:

– Tôi về có nghe thầy đánh giặc. Tôi cũng dân nhà pháo đây. Nhưng là pháo yểm trợ chớ không phải pháo chuyên nghiệp như thầy. Đôi khi cũng muốn gặp thầy để nhắc chuyện xưa ngoài đó chơi, nhưng thằng Hùm nói thầy bận lắm nên tôi gác qua. Kỳ rồi thầy tới, tôi định gặp nhưng rồi thầy đi gấp quá!

Sáu Hùm dọn cơm ra:

– Thầy Hai và anh Tư ăn cơm kẻo đói bụng.

Tư Cheo bới cơm đưa cho tôi:

– Ăn đi thầy Hai. Bữa cơm đạm bạc này không có lần thứ hai.

Rượu cần từ Lào Kay được chế tạo bởi tay một thằng Nam Kỳ lãng tử và được rốc cạn cũng bằng mồm thằng Nam Kỳ lê dương. Say thì cũng chưa say, nhưng tỉnh cũng không còn tỉnh. Khi hũ rượu ngả nghiêng thì hai thằng cũng đã trở thành hai con trâu già bị xấp trụi lông nheo. Mắt coi trời bằng hột tiêu. Sá chi biệt kích và pháo nòng ngắn nòng dài.

(1) Miệng thí là miệng hầm tạm; khởi đầu từ đó đào địa đạo, xong rồi lấp lại làm miệng khác cho địa .

Chương 120

Tiệc tiễn biệt ai?

Sáu Lức đi thăm vợ về quảy theo một cái bao bố. Hỏi gì, bảo là “cây còn”. Gặp tôi, Lức móc ra một gói mo cau vuông vắn và rút từ ba-lô ra một chai:

– Ông nhạc em gởi tặng anh một chục rê thuốc Gò Vấp nguyên chất và một chai đế uống cháy cổ. Ông nói hồi nào tới giờ không có gặp ông chỉ huy nào điệu như anh.

Tôi kêu dân ghiền phân phát thuốc. Phút chốc khói lên mịt trời. Sáu Lức ra sau bếp hạ lệnh bắc nước sôi trảm thủ con chó. Cô Ẻng kêu oải oải bụm mặt chạy ra sân:

– Để em đi cho khuất đã!

Sáu Lức ném con chó xuống ao rồi lấy cây sào dìm lút. Chiếc bao sôi tim ục ục rồi im. Chập sau, Lức kéo chiếc bao lên, mở miệng, lôi con chó ra ngay chừ.

Mấy đứa nhỏ tiếp tay. Đứa xối nước sôi, đứa phụ cạo lông. Xong Lức đem đặt lên giá tréo rắc rơm thui, đứng canh lửa cho đều. Nếu để lửa già sẽ nứt da.

Mấy đứa nhỏ phụ sự chạy lăng xăng dưới quyền điều khiển của đại tướng kỳ lô Sáu Lức trong lúc cô Ẻng, cô Nê và mấy đứa dũng sĩ đứng thập thò ở cửa sau, vừa nhìn vừa cười, còn nàng Hai Nương thì nạt từng chập:

– Mấy con quỉ khéo làm bộ, chút nữa dọn lên vuốt đũa bây không kịp.

Tôi đang não lòng vì những chuyện phải giải quyết, thấy vui nên cũng ra góp phần:

– Mày làm rành không thua gì bắn đại liên đó Lức.

Sáu Lức đang lật ngửa con cầy để thui bề bụng, cười nói:

– Em thọ giáo ông già vợ em đó anh Hai. Anh có thêm ý kiến gì không ?

– Mày không được bỏ món nào hết nghe!

– Dạ, không có bỏ đâu anh Hai. Không có thịt gì ngon bằng thịt chó!

– Lần sau tao nấu theo kiểu Bắc cho tụi bây thưởng thức.

– Kiểu Bắc là sao anh Hai?

– Là nấu theo khẩu vị miền Bắc.

– Ồ, có vụ đó nữa sao anh Hai?

– Có chớ! Kiểu Bắc cũng ngon như kiểu Nam.

Thằng Đá đang ôm rơm tới, xen vào:

– Anh “Nức” thui nhiều “nửa” hỏng cả đấy.

– Chó không thui thì làm sao mậy nhỏ?

– Ở ngoài em cạo “nông” xong rồi cho cả con vào “lồi nuộc nuôn”.

Bọn con gái và đám trinh sát cười ran, thằng Tiển nói:

– Chó chớ bộ heo sao luộc?

Thằng Đá vênh mặt:

– Chó luộc chấm mắm tôm tuyệt lắm chứ!

Bọn trai gái lại cười rần, có đứa bịt mũi:

– Thịt chó mà chấm mắm tôm à ? Ứ hự!

– Chấm mắm ruốc được không?

Thằng Đá bị áp đảo trước sự chế diễu của đám Nam Kỳ, nhưng cũng không chịu thua:

– Mấy anh nấu thịt chó như nấu chè ấy, ăn không có mùi chó. Vậy ăn thịt gà, thịt heo chớ ăn thịt chó làm gì? Ăn thịt chó cốt phải có mùi chó!

Cả bọn cười bò ra. Thằng Đá lại to tiếng:

– Hôm nào anh Hai mời ông Năm Sĩ về nấu cho mà ăn, xem có mê “ny” không!

Thấy trận đấu mép khó phân thắng bại, tôi lên tiếng:

– Nấu theo kiểu Bắc cũng ngon lắm tụi bây à. Tao đã từng nếm. Người ta nói ăn Bắc mặc Nam. Ăn Bắc có món thịt chó trong đó. Ở ngoài Bắc người ta gọi thịt chó chớ không gọi là “cầy” kiếc gì cả. Chó là chó!

Cô Ẻng hỏi:

– Thịt chó chấm mắm tôm nuốt sao vô anh Hai!

– Ngon lắm chớ em! Món này nhậu còn “cụp” hơn quay chảo của ta đấy.

Thằng Đá được thủ trưởng viện trợ hữu hiệu vênh cái mặt:

– Dề! không biết người ta bảo cho lại bướng.

Tôi an ủi nó:

– Để hôm nào anh rước ông Năm Sĩ về nấu kiểu Bắc cho anh em mình ăn để nhớ Bắc Giang nghe Đá. Nhưng em phải kiếm xin củ riềng và mẻ. Nấu theo kiểu Bắc mà không có 2 thứ này là không thể ra món Bắc.

– Còn ngò ba lá nữa chứ anh!

Tôi giải thích cho đám Nam Kỳ:

– Ngò ba lá là rau om đấy các em!- rồi quay sang Sáu Lức – Em định làm mấy món?

– Dạ đủ các món như ông nhạc em làm hôm đám cưới em!

Tôi lắc:

– Đơn đơn gọn gọn thôi em. Tình hình này không cho phép cù cưa như trước .

Sáu Lức nói:

– Món hon căn bản ăn với cơm nếp là không thể thiếu được! Kế đó là món quay chảo nước dừa để đưa cay coi như là món chủ lực bữa tiệc. Gồm cái ức và hai bên sườn non ăn với rau sống, mỗi miếng một ly bầu. Rượu cay thịt ngọt nuốt vô cuống họng nghe on ót như cá lóc vô hang nghen anh Hai. Rồi kế đó là sườn khìa là món cơ sở ăn cơm cũng được mà nhậu cũng không thua món nào!

Thằng Tiển hỏi:

– Kế chủ lực tới địa phương quân phải không anh Sáu?

– Thịt chó không có món nào kém món nào – Sáu Lức cười chất phác – Nó chỉ dọn ra trước hay sau thôi, còn vai tuồng vẫn ngang nhau.

– Sau sườn khìa tới món gì, anh Hai?

Thằng Đá hỏi, Sáu Lức đáp liền:

– Để anh Sáu giải thích theo sách mà ông nhạc anh dạy cho em nghe. Sau khi đã no nửa bụng thì người đầu bếp cho khách đưa cay bằng món dồi.

– Không có chả chìa à?

– Ấy . khoan đã nhóc. Dồi là món qúi nhất!

– Sống không ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ còn thèm! – Thằng Đá vuốt đuôi.

Sáu Lức được hậu thuẩn hứng thú tiếp:

– Dồi có 2 thứ: Dồi trường to bằng đầu đạn đại liên, dồi non to cỡ viên đạn trung liên, vừa miệng lủm. Ăn thịt chó cũng như đánh trận. Quạt xong honquay chảo thì cũng như nổ loạt đầu, kế đó tỉa dần những ổ đề kháng là dồi đó chú Bắc Kỳ con!

Cô Ẻng chắt lưỡi:

– Anh Sáu từ ngày cưới vợ không còn chửi thề nữa và học được nghề nấu thịt chó. Tiến bộ ghê!

– Ừ, các cô cũng nên có chồng đi để tiến bộ như tôi. Chừng đó chạy kiếm chó tôi làm đầu bếp cho!

Mấy cô gái bị Sáu Lức ghẹo, đấm lưng nhau cười khúc khích.

– Còn cái xương mông Đắt Kỷ em dâng cho Trụ Vương lúc nào?- Tôi hỏi bất ngờ, Sáu Lức ngớ ra:

Xương mông Đắt Kỷ là cái gì anh Hai?

– Hì hì..như vậy chú mày học chưa hết binh thơ của ông nhạc – Tôi trỏ con chó đang nằm ngửa trên giá tréo, 4 cẳng cong queo rất đẹp. Răng nó nhe ra như cười đời – Con chó có 2 món ngon. Nhất là cái ức, từ chót sườn tới đuôi. Người Bắc sành ăn gọi là cái “lằm”. Nhì là cái xương mông từ nửa mông đến chót đuôi. Người Nam điệu nghệ gọi là cái “đòn dông”. Bợm nhậu gọi là cái xương mông Đắt Kỷ hoặc cái cù lẳng bà Võ Hậu. Để chốc nữa anh chỉ cho cách nấu cái lằm và cái xương mông.

– Anh nói nghe thèm chảy nước miếng! Thôi nói luôn đi anh Hai!

Tôi tiếp:

Cái lằm có 2 cách nấu. Một là ướp ngũ vị hưong quay chảo nước dừa rồi xắc ra nhu thịt heo ba rọi. Hai là cuốn nó lại bó cho chặt bằng lá sả, bỏ vô nồi hon luộc chín vớt ra khìa cho vàng, rồi cũng thái mỏng dọn kèm với rau sống chuối khế.

– Còn cái xương mông Đắc Kỷ?

– Thôi để chốc nữa anh làm cho các em coi, rồi lần sau tự nấu lấy!

– Trời, sao chuyện gì anh cũng biết hết vậy anh Hai?

– Anh là dân bảy phủ sống đủ mọi nơi mà. Đứa nào chạy đi mua tương hột về nghiền ra làm nước mắm thấm cho điệu nghe. Nước mắm thấm là món quan trọng chiếm phân nửa bữa tiệc chó đấy. Thịt ngon mà nước mắm dở cũng mất giá trị. Để anh phụ trách món này cho. Nhớ phải cung cấp cho đủ các thứ: sả, ớt, tỏi, nước cốt dừa, đậu nành và cái óc chó.

Thằng Tiển kêu lên:

– Óc chó làm chi anh Hai?

– Ấy để chút nữa anh chỉ cho. Bí quyết nhà nghề! Nước mắm anh sáng chế hơn người là nhờ cái óc chó đó em! … Thôi tản ra đi. Ai về vị trí nấy. Để thằng Tiển , thằng Đá và mấy cô giúp cho chú Sáu cũng đủ rồi. Chùm nhum ở đây, nó thấy cho một quả dưa là hết ăn!

Sáu Lức đã thui xong con chó. Bề lưng bề bụng đều vàng tươi rịn mỡ. Cái đuôi cong lên như cù ngoéo.

– Được chưa anh Hai?

– Chú cho nắm rơm thui cho vàng kẹt đùi. Mà thôi, vậy cũng được rồi.

Sáu Lức xách cẳng đem con chó lại bờ mương đặt trên mấy tàu lá chuối thằng Tiển đã lót sẵn. Sáu Lức pha trò:

– Để ông Tám Lê “giải phẩu” nghe mầy! Xin lỗi, tao bắt chước ông Tám Lê không thuốc tê thuốc mê nghen!

Con chó nhe răng như cười. Cái cười hiền hậu, vô tư vừa mọi rợ vừa thách thức.

Bảy Ga và Tư Quân, Hai Khởi ở đâu xộc tới. Tư Quân đưa tôi tờ công văn và nói:

– Chơi vầy, cầy chơi!

– Cái gì vậy? – Tôi cầm tờ pơ-luya, lật qua trở lại không đọc.

Bảy Ga bảo:

– Quân không cho bộ đội đóng trong xóm nữa. Bảo tự lực ra rừng.

Tôi thấy chuyện quan trọng nên lôi cả bọn vào nhà.

Đọc xong tờ giấy, tôi gắt thinh không:

– Như vầy nghĩa là sao?

Hai Khởi nói:

– Các chả bị dân phản đối nên mới ra cái công văn này.

– Ai phản đối?

– Sau khi tụi Năm Sĩ bị pháo dập ở Tầm Lanh, dân không cho bộ đội đóng trong nhà.

– Đó không phải là trận đầu tiên bị dập.

Tư Quân, Bảy Ga lặng thinh, chỉ Hai Khởi gầm thét:

– Để giặc cho mấy chả đánh! Mình ra rừng ở rồi thành khỉ luôn.

Tôi biết tánh Hai Khởi nóng như lửa, nhưng là con người đáng ey6u. Nếu tôi chêm thêm một câu, y dám xách súng rượt mấy lão già quận như Hoàng Thọ rượt mấy ông chủ tịch hồi trước lắm đó. Tôi giằn y lại:

– Để hỏi cho rõ. Quận là quận ủy hay quận đội mới được!

Hai Khởi gầm lên:

– Không quận nào có quyền ra cái công văn này!

Hai Khởi cởi súng. Tôi chặn tay y lại. Nếu không y sẽ ném trả và về nhà. Một khi đã về, khó mà trục lại như Tư Cao, Sáu Thanh, Năm No.

– Ông nghe tôi. Đừng nóng mới giải quyết được.

Thằng Đá lại bảo:

– Có điện thoại cho anh Hai.

Tôi bảo Bảy Ga trả lời. Và quay sang Hai Khởi:

– Không có chữ ký. Chỉ có cái mộc trơn, không biết quận ủy hay quận đội.

– Vậy lệnh của ai?

Bảy Ga trở lại, ngồi cú sụ thở hắt ra.

– Ai vậy? – Tôi hỏi.

Bảy Ga làm thinh. Tôi gắt:

– Chuyện gì?

– Mấy chả không cho đào công sự trước văn phòng.

– Văn phòng nào?

– Quận đôi.

– Ơi ! Mấy thằng gà rót. – Hai Khởi cười – Giặc thì không dám đánh, đợi người ta đánh xong, đi hôi cả xe bò đem về giấu chia chác.

Tôi gọi Sáu Lức vào:

– Em cho đào công sự phòng không ở đâu?

– Dạ ngay trước bụi tre.

– Rồi sao?

– Mấy chả bảo dời trịt qua một bên gần bìa ruộng. Em nói chỗ đó không có lợi thế. Em cự: Lính chỉ có một chỉ huy . Tôi chỉ biết nghe lệnh Hai Hà. Ông ta bảo ổng chỉ huy Hai Hà! Em bảo lại đẳng mà chỉ huy, ổng bảo: Hai Hà lại đây nhận lịnh tao!

– Rồi em nói sao?

– Em trật quần đưa cho thằng chả! – Sáu Lức giận tím môi- Anh để em đẩy cho thằng chả vài loạt.

– Bậy nào. Mũi dại lái chịu đòn! Mày để tao đi lạy người ta mà xin lỗi.

– Lỗi phải gì anh! Để em bắt mấy chả xiềng vô gốc cây chờ Mỹ đổ dù cho thằng chả đánh.

Tôi quảy xắc-cốt đi gặp ông đầu trọc Hai Mỏ.

Hai Mỏ oán mấy ông cán quân sự “bị khui hần” chỉ điểm, rải truyền đơn nên ghét lây E của tôi. Gặp y tôi nói ngay:

– Tôi không muốn chống lệnh, nên thi hành ngay bây giờ. Tôi sẽ di quân gấp ngay qua Trảng Bàng. Nhưng xin báo cho đồng chí bí thư hay: chúng nó sẽ chụp cấp sư đoàn vùng này ngày mai. Vì thế tôi cho bố trí mặt trận vậy đó. Nếu đồng chí không cho , tôi rút đi ngay.

Hai Mỏ đứng chết trân như trời trồng, mắt chớp chớp, môi run run. Tôi nói:

– Đồng chí ở lại tránh đạn nghe! – Tôi vội vàng quay lưng đi.

Hai Mỏ nắm quai xắc-cốt của tôi ghịch lại, giọng run bắn lên:

– Bây giờ làm sao đồng chí?

– Dạ, chúng tôi là lính, có giặc thì đánh, không có giặc thì nằm chờ giặc tới. Bây giờ các đồng chí không cho chúng tôi đóng trong xóm ở toàn quận Củ Chi thì chúng tôi sang đóng trong xóm quận Trảng Bàng. Ở bên đó người ta không đuổi bộ đội ra rừng như ở bên này.

Hai Mỏ phân trần:

– Sau vụ Tầm Lanh dân chúng mất tinh thần nên mới vậy đó. Chớ trước kia đâu có. Thôi, coi như cái lệnh kia vô giá trị!

… Tôi quảy xắc-cốt về. Đám Bảy Ga ra cửa nhao nhao:

– Thế nào?

– Dọn ra nhậu!

– Ổng còn đuổi mình nữa hết?

– Tui cho gánh át Bầu Rệp của ổng cuốn màn mà chạy vắt giò lên cổ một phen cho biết mặt.

Thịt chó dọn ra, đủ các món cơ bản, chủ lực, cơ sở khói bốc mịt mù bát ngát.

Nhìn qua, tôi nói:

– Cái xương mông Đắt Kỷ đẹp quá!

Sáu Lức hớn hở:

– Anh Hai thâu em làm đệ tử được chưa?

– Mày là thầy của ổng chớ đệ tử gì! – Hai Khởi nạt ngang.

– Em đâu dám, anh Hai!

– Mày vô nhà người ta có một ngày mà cuỗm được con gái người ta, còn ổng xách ống điếu không, chạy mấy năm nay chẳng được lọn thuốc nào hết, không thấy sao?

– Nhờ ổng mà em mới được chớ em tài gì!

– Còn món gì nữa đem luôn lên để ta tổng công kích một lúc!

– Còn sạc-rơ mà anh Hai! – Thằng Tiển bưng lên một chậu to.

– Ờ sườn ló coi giống băng AK.

– Xương mông Đắc Kỷ nghe ghê quá, em muốn đổi tên lại là Bộc phá lồi được không anh Hai?

– Món đó không có mà cạp! Đứa nào ghê đưa cho tao!

– Còn 4 cái “vựng” và cái thủ cấp đâu Lức? – Tôi hỏi.

– Dạ, em còn để kia, chờ lệnh anh mới tính tới.

– Đứa nào bắc trả lên nấu cháo đậu xanh. Nhậu xong khuya húp, giải nghể là khoẻ ru.

Lời qua tiếng lại buổi tiệc vui nổ trời. Bảy Ga hỏi tôi:

– Anh giải quyết vụ đào công sự thế nào anh Hai?

Tôi gắp miếng dồi đưa cho y và bảo:

– Cứ yên tâm. Ai dời thì dời, mình không có đi đâu hết. Ít bữa mình qua Trảng Bàng ở, để Củ Chi B52 ỉa vài bãi cho mấy chả đội, hết ngông nghênh cái mỏ.

Hai Khời cười:

– Đầu trọc như cái gáo, đội được mấy trái?

Ăn nhậu vui là nhờ nói trật đường rầy với nhau mà không có ai đi báo cáo cấp trên. Hội ve chai chống Mỹ thành lập ngày tôi mới về Củ Chi năm 65, bốn năm hoạt động không kết nạp được một hội viên nào, ngoài Năm Sĩ, còn hội viên trung kiên đều lên bàn thờ nằm sắp lớp. Ba Tố, Sáu Đùng, Sáu Đồng Đen, Sáu Uya, Tư Nhựt, Sáu Phấn, một dọc dài từ Bắc vô Nam, từ R xuống Củ Chi, nay ngó lại chỉ còn mình tôi. Chẳng lẽ lại bãi chức như Tổng bí đao, Thiên Lôi này đâu có phạm khuyết điểm gì nghiêm trọng để bị kỷ luật dối, ngụy trang dưới hình thức từ chức.

Hai Khởi gắp một miếng quay chảo bỏ vô chén tôi, Bảy Ga ém thêm mấy miếng khế rau sống. Sáu Lức rót rượu đầy ly và nói:

– Em kính anh một ly đền ơn đáp ngãi đó anh Hai. Ông già vợ em gởi lời thăm anh mạnh giỏi.

Bảy Ga nói:

– Đạn vô lòng rồi, thầy đưa ngay bon bãi trực thăng Đồng Dù đi.

Tôi vừa hoàn thành nhiệm vụ đợt 1 thì Hai Khởi gắp tiếp cho tôi miếng dồi non:

– Đây là viên AK. Anh tỉa thêm cái chân kia của thằng Lịnh đi!

Tôi thừa thắng xông lên bắn một phát “dồi non” dễ như…. ăn.

Thì thằng Đá bẻ miếng xương mông Đặt Kỷ đưa cho tôi:

– Anh xơi mẩu này hết nhớ… Mây Bắc Giang.

– Cái thằng cu con này cũng đa tình dữ he!- Tôi lại úp cạn ly và hỏi Sáu Lức – Vợ em có “bầu non” chưa Lức?

– Dạ, nhờ Trời, em bắn cấp tập trong một tháng anh cho nghỉ phép nên vợ em đã có “cứt chuột”. Em đưa về Bến Lức giao cho ông bà già em rồi. Em dặn hễ vợ em sanh con trai thì đặt tên là Đại, còn gái đặt tên Liên. Đó là kỷ niệm em bắn đại liên trong E mình.

Thằng Tiển ém miệng tôi bằng một miếng sườn ló chấm mắm thấm.

Nước mắm quậy với óc vừa béo vừa ngọt, mặn mà. Tiện tay tôi bẻ luôn cái đuôi cong queo nhai dòn rụm.

Hai Khởi nói:

– Thầy Hai xơi cái đuôi coi chừng đơn vị mình cầm đèn đỏ đấy.

Tôi cười:

– Ở ngoài rừng khỉ đâu còn biết đèn gì là đèn gì mà lo, ông tha..mu!

Đời lính Lê Dương của Thiên Lôi, uống cạn cả 3 đại dương đế, nhưng chưa bao giờ nghe giọt rượu cay đắng như hôm nay. Uống với bộ mặt vui mừng trong lòng héo hắt lời chia ly không thể nói : Sau bữa tiệc, đơn vị sẽ phân tán. Con bò sả ra làm 3 mảnh còn kéo xe được nữa không? Tôi bảo phát cho mấy cô cấp dưỡng quân trang, tiền sinh hoạt 3 tháng rồi cho về nhà. Họ hỏi lý do? Tôi bảo Hai Khởi sẽ trả lời sau. Không ai biết gì về lệnh phân tán mỏng tức là chánh qui trở thành chánh rùa.

Thằng Đá mắc võng cho tôi:

– Anh có say không anh Hai?

– Say lắm. Em gác điện thoại. Có ai kêu chuyểnsang cho anh Bảy trả lời.

– Em chưa thấy anh say bao giờ!

Sự thực tôi đâu có say. Rượu vào tôi chỉ thấy nóng , nhưng trí óc vẫn sáng suốt. Nhiều khi vừa chỉ huy, vừa nốc ba-xi-đế kia mà. Hôm nay cũng thế. Tên Thiên Lôi trùm tấm vải dù rút đầu vào mép võng. Đầu óc hiệnlên quãng đời xa thẳm trong dĩ vãng và chuỗi ngày gần trấn thủ Củ Chi. 22 năm đánh Tây rồi đánh Mỹ, không một ngày rời súng.

Tôi muốn ngủ một giấc dài như vừa ăn một nồi cháo lú dưới Diêm đình để quên hết mọi việc trước giờ đi đầy thai. Nhưng không sao ngủ được!

Tôi chợt nhớ chuyện Thống chế Vatutin, trong chiến tranh chống Hitle đã tạo ra những chiến thắng trên đường Vo-lô-lam-skơ, những chiến sĩ Triều Tiên dưới chiến hào Thượng Cam Lĩnh, chàng thanh niên Pét-sô-rin bất hạnh trong mối tình thật đẹp với tiểu thư Mary

Tôi là ai trong những nhân vật này?

Không ai cả. Tôi là tôi. Tên Thiên Lôi vác búa đi đánh khắp thiên hạ nhưng không chết ai, nhìn lại búa gãy cán và thân mình đầy thương tích.

Bỗng nhiên câu chuyện “địa chui qua sông ” trở lại trong đầu tôi. Tiếng của Sáu Hùm đẩy cây: “Địa này xây bằng bê-tông chui qua sông Sài Gòn đó nghe anh. Em đai qua Thạnh Anh trở về chỉ trong một ngày. Nhiều lần chui, nghe giang thuyền lưót qua, sóng vỗ lách tách trên đầu.”

Ờ… ờ sóng vỗ lách tách. Sao chú không thò tay níu bánh lái nó lại?

Năm Sĩ giơ bình toong trút vào mồm ực ực. Thằng người B52 giằng lại đút vào mồm Năm Sĩ một hộp thịt Mỹ chưa khui trong lúc Tư Cheo đưa ống trúc cho hắn.

– Rượu cần này tôi làm không giống trên Lào Kay.

Con hùm nhe răng ngoạm luôn cái đầu thằng bí thư trọc lẫn miếng thịt chó khìa …

Chương 121

Cùng xây nhà bên suối!?

Suối mơ bên rừng thu vắng
Dòng nước trôi lững lờ ngoài nắng …

Tôi gặp Nàng không biết ở đâu nữa. Có lẽ ở một nơi nào ngoài Củ Chi chăng? Tôi ngó quanh xóm làng. Sao nay xơ xác. Đánh nữa đi các ông! Từ thắng đến huề, từ huề đến thua, từ thua nhỏ đến thua to, từ thua to đến thua hết, thua không còn gì anh Hai ơi! Cho em đi phức. Em thấy ghét đất này. Đổ máu bao nhiêu rồi cũng bạc tình, vô nghĩa.

Bàu Trâu mênh mông xanh, nay ruộng bỏ hoang cấy từng lỏm chó ngồi. Kìa Bàu Tròn, Bàu Chứa, vết xe tăng bừa ngang bừa dọc. Nọ nhà mủ Hố Bò bom đánh tan không còn một hòn gạch. Đây Rạch Sơn bộ đội hành quân lội ngang sông. Nọ Cây Điệp bom đào huyệt mộ, trông buồn hơn nghĩa địa.

Nhà em ở đây, tên gọi Gót Chàng, một cái tên như trong truyện thần thoại. Chàng đã “bứng gót” Nàng. Nàng chính là tiên nữ của đời tôi.

Sau 4 năm, chúng tôi lại ngồi với nhau trên chiếc cầu đá. Hương sầu riêng chín làm thành làn không khí gây gây thoang thoảng nhớ nhung kỷ niệm.

Dưới cầu nước chảy róc rách. Đàn cá vàng nhởn nhơ bơi lội đuổi nhau trong những cụm rong mượt nhu tóc xanh uốn dợn theo dòng nước.

– Anh đàn đi, em hát!

– Bài gì?

– Bài gì cũng được miễn có tiếng đàn của anh.

Thiên thai chúng em xin dâng chàng trái đào thơm
Ái ân thần tiên em ngờ phút giây chỉ có một lần
Đèn soi trăng lên nhạc lắng tiếng quyên
Đây đó nỗi lòng thương nhớ
Này phút Bồng Lai là cả một thiên thu
trong tiếng đàn chơi vơi….

– Bài gì vậy anh?

Tiếng oanh thỏ thẻ bên tai tôi với hơi thở nồng nàn. Tên Lê Dương sực nhớ ra rằng đã từ lâu lắm, không biết bao nhiêu năm tháng hắn không có đọc sách, không có nghe nhạc gì khác ngoài đài giải phóng với cái giọng thô tục của các bản lên đường xuống đường của Lưu Hữu Phước nhạc sĩ yêu nước bị bắt làm công tác tình báo cho Sáu Hoàng bằng những bức thư trí vận nằm vùng. Bị đá đít, đau thần kinh chết!

Trí óc của tôi đã mòn và hết bén nhạy với nghệ thuật chữ nghĩa. Ngoài những công văn thừa thắng xông lên, nỗ lực, quyết tâm… của đám quận ủy, khu ủy, không gì khác. Tay Thiên Lôi cầm búa, ngoéo cò đã chai cứng, nay bấm phím đàn tưởng cầm nắm K54, AK. Tôi nhìn nàng không nói:

– Anh đàn bản nhạc anh thích nhất để tặng em. Đã 20 năm anh quên mất, nay cầm đàn, tự nhiên tay dạo nên bài hát cũ như bàn chân qua đường mòn chứ anh không có ý định đàn bản nào cả.

Này phút Bồng Lai là cả một thiên thu
Trong tiếng đàn chơi vơi
Đàn xuôi ai quên đời dương thế
Đàn non tiếng đàn khao khát cuộc tình duyên.

Giọng oanh thỏ thẻ:

– Tiếng đàn của anh thật lạ lùng. Nhạc vui mà anh đàn nghe nức nở lâm ly.

Thiên thai chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian.
Có một mùa đào…
— Thôi nhắc chi ngày xưa đó se buồn lòng ta
Đào Nguyên trước, Lưu Nguyễn quên trần hoàn
Cùng bầy tiên đàn ca bao năm

Thôi đi anh, đừng đàn nữa, em buồn không chịu nổi.

Nàng giật đàn trên tay tôi, trỏ dưới dòng nước. Những con cá vàng thính nhạc lội quanh núp dưới dạ cầu không đi xa âm thanh. Lạch nước con con đã thành dòng suối tiên với mái chèo khua nước.

Âm ba thoáng trong cánh đào rơi
Bâng khuâng chèo khuấy nước Ngọc Tuyền
Ai hát bên bờ Đào Nguyên.

Rợp nở những bông hoa dại tím tím rơi xoáy trên nước dừng lại không trôi.

– Để anh đàn cho em nghe bài khác.

– Bài gì? Nói trước em có cho, anh mới được đàn!

Nhạc Rừng.

Em không biết bài đó. Nhưng cần nhất là bản nhạc không gây không khí chiến tranh.

– Ờ, bản này không có gì cả, chỉ nhạc, không lời.

– Anh đặt lời cho nó.

– Chúng ta làm lời chung nhé!

– Ở, anh đàn em nghe thử.

Cúc cu! Cúc cu!
Ve rừng ca trong nắng
Im nghe, im nghe chim rừng ca miên man
Có anh chiến sĩ đi qua khu rừng vắng…

– Thôi đi! – Nàng đưa tay bịt phím đàn – Lại “chiến sĩ” nữa rồi !

Tôi vuốt tóc nàng:

– Em là chiến sĩ trong bản nhạc này đó.

Nàng lặng thinh, đưa mắt nhìn tôi van vỉ:

– Em không muốn nghe tiếng chiến sĩ. … Này anh! Em muốn hỏi anh một chuyện.

– Ờ, em hỏi đi kẻo rồi không kịp.

– Một câu thôi.

– Sao mấy năm nay không hỏi?

– Vì em chưa muốn hỏi.

– Em hỏi đi.

– Em muốn anh trả lời thật.

– Ờ hỏi đi.

– Chị Năm em đối với anh như thế nào?

Từ trong không khí Đào Nguyên mơ huyền, câu hỏi lôi tuột tôi ra thực tại.

Tôi đáp lấy lệ:

– Chị… Nă… ăm cho anh rất nhiều tin tức rất chính xác để đánh.

– Đành rồi, nhưng em muốn hỏi chuyện khác.

– Không có chuyện gì khác hết.

Nàng thẫn thờ nhìn bầy cá, hồi lâu, nhặt một hòn sỏi con ném xuống nước.

Lại một lúc lâu.

– Em rước má vô, anh nghĩ thế nào?

– Em rước má vô thăm em, thăm nhà, thăm vườn.

– … Nàng nhìn tôi như bảo: Nếu chỉ có thế thì má vô làm gì!

Tôi nhìn nàng, nói:

– Má đã vô bao nhiêu lần và anh cũng đã gặp má!

Nàng thở dài :

– Nhưng lần này, thì khác…

– Em nhớ trận Tân Qui không? – Tôi rẽ ngang – Lần đó…

-… anh bị thương, em kè anh về tới nhà mủ Hố Bò.

– Rồi vô C5 Tư Chuyền gặp Sáu Nga. Cô ấy đi R học y sĩ rồi em à.

– Trở về rồi.

– Phá thai! Ông anh ruột không cho lấy anh chàng mùa Thu mới vô, có vợ.

Tôi tưởng đã dụ địch ra khỏi mục tiêu, không dè địch quay lại. Nàng nói một hơi. Toàn những câu hỏi:

– Hoà bình rồi, anh thích ở đâu? Về quê anh hay ở đây? Ở ven sông Sài Gòn nhé. Hay anh thích ở Mũi Tiểu, Cồn Nhỏ? Ở đâu cũng có ruộng vườn của Ba. Em muốn ở đâu, Ba cho ở đấy. Nếu không thuộc đất nhà, em sẽ đổi với người khác để được về nơi vừa ý anh.

Tôi không biết phải trả lời ra sao, nên hỏi lại:

– Em thích ở đâu?

– Dữ ác không? Bữa nay ai cạy răng anh vậy? Anh thích ở đâu?

-Em thích ở đâu, anh ở đó. Em thích gì anh thích nấy.

Nàng cười sung sướng:

– Em thích ở Bến Dược. Mình sẽ cất một ngôi nhà trên bờ sông Sài Gòn. Em ở nhà không làm gì hết, chỉ nuôi năm ba con gà, một bầy vịt. Đằng sau có vườn, trước mặt có sân ngó ra sông. Chiều chiều ăn cơm xong anh và em bắc ghế ra sân ngồi coi xuồng qua lại. Ở Bến Dược có tàu. Muốn đi Bình Dương, Dầu Tiếng đều tiện. Kìa sao anh ngớ ngẩn vậy?

– Anh đang mơ theo bức tranh em vẽ ra trước mặt.

– Thực chớ sao lại vẽ?… Anh đi làm về mỗi chiều, cỡi xe mô tô , ủa đi xe jeep chớ, anh có tiêu chuẩn rồi mà ! Ef chỉ huy E, em ra đón. Đôi khi em muốn đi Sài Gòn chơi, anh chở em đi, sáng đi chiều về. Mình mua sắm bao nhiêu thứ!

– Ờ ờ trên đường về mình ghé quán chị Năm uống nước đá rồi mới về nhà.

– Bé Liên đã lớn đi học, quàng khăn đỏ, nó là con tử sĩ, anh sẽ xin cho nó đi học Liên Xô.

– Anh muốn em rước má về ở với mình luôn. Em thương má lắm!

Nàng mơ màng đọc:

Mẹ già quơ củi sau vườn,
Hoa cau rụng trắng bờ mương nước đầy.

Không biết ai viết câu ca dao đó. Lần anh đọc cho em nghe em cảm nó! Em tưởng bà mẹ trong thơ là má của anh.

Nàng đi vào nhà tìm cái soong nấu cơm.

Ngôi nhà xưa ba gian hai chái, ghế trường kỷ, bàn thờ cẩn xa cừ, nền gạch sạch sẽ bóng không một hạt bụi. Vườn sầu riêng mấy chục gốc, mùa trái chín hương thơm cả vùng.

Nàng trở ra với chiếc soong thủng. Một cái nồi đồng nhỏ móp méo. Đạn bắn xuyên cột nhà, vô bếp, thủng cả soong nồi, bể luôn ông táo. Chiến tranh.

Giấc mơ tan. Không còn gì hết.

Gia đình tản lạc. Con gái làm “dũng sĩ” 4 năm nhưng giờ đây không muốn nghe lại bản nhạc rừng trong đó có hai tiếng “chiến sĩ”

– Mô à! Ba em còn lúa để trong này không?

– Lúa gì?

– Lúa ruộng ấy mà !

– Ba em có thâu đâu mà còn. Mỗi năm mặt trận lấy hết !

– Cuộc đất ở Cồn Tiểu nghe đâu mấy chục mẫu hả em?

– Chắc ba cho người ta làm chia hai.

– – Em nhắn má vô được không?

Không muốn để nàng hiểu lầm “má vô” với nghĩa khác, tôi nói ngay:

– Anh muốn mượn ba má một số lúa để tạm nuôi quân.

Nàng đáp ngay:

– Để em nhắn! Chắc được chừng 100 giạ chớ không hơn. (Trăm giạ chỉ đủ nấu cháo cho lính toàn E húp trong 3 ngày, nhưng miếng khi đói gói khi no)

Tôi nói:

– Để anh bảo người sang Tám Râu xem sao!

– Mình ở Củ Chi mà sang vay lúa ở Trảng Bàng còn gì mặt mũi Củ Chi, anh!

– Còn không còn cũng được. Chớ để lính đói cái mũi cái mặt đen như thổ táo thì sao?

– Anh không biết làm sao, thì em làm sao biết?

– Trước nhất 100 giạ lúa, xay ra 50 giạ gạo lức cái dã. Rồi giã thành gạo trắng sau.

– Ông Trung đoàn phó đi xay lúa coi thiệt đẹp!

– Vậy cô dũng sĩ nấu cơm bằng cái soong thủng mới xứng chớ !

Hai đứa cười, không biết tươi hay mếu.

– Anh định mượn bao nhiêu?

– Nhớ không ăn lời nhé.

– Mẹ cho con vay mà lời gì.

– Lời chớ. Tiền là tiền. Mẹ không bằng tiền trong lúc này.

– Anh điên rồi sao?

– Đây là sự thực. Mẹ có cứu được con đâu. Tiền mới là cứu tinh.

– Hết vay ông Tám Râu anh còn nhờ ai nữa?

Tôi không trả lời vì không biết vay ai? Ai ngu mà cho giải phóng vay để nó vổ tuột? Bao nhiêu công khố phiếu của ông già tôi mua hồi chống Tây đến bây giờ cớ đổi ra được cắc nào? Tiền mà đút vào họng chúng nó là thành rơm xảm lỗ mội còn lấy lại được ư?

Cây đàn mới vừa là một phép thần đưa hai đứa vào Thiên Thai bây giờ nằm tô hô trên chiếc cầu xi măng nứt nẻ dấu đạn. Những con cá vàng lội biến đi đâu mất dạng. Dòng nước đục lờ. Rong xanh trở thành những nùi tóc rối. Tôi và Nàng đã trở về trần tục quần nâu áo vải như những thường dân quên khuấy đi giấc mơ tiên vừa qua.

– Anh định làm gì cho đợt hai?

– Đợt gì?

– Tổng công kích. Anh quên rồi sao?

– Quên sao được. Đợt hai là đánh hụt Trung Hòa. Kết quả là Tầm Lanh đó !

– Đợt ba chừng nào bắt đầu?

– Chừng nào ở trên nói bắt đầu thì mình bắt đầu.

– Hôn em đi để không còn dịp.

Tôi có hôn nàng hay không trong giây phút ấy? Một ngàn chuyện Củ Chi tôi không quên chuyện nào duy cái hôn này tôi không nhớ. Tôi có đáp lại lời Nàng chăng?Tôi cảm thấy có tội với Nàng.

Má vô với Năm Mai, ông Trung đoàn phó mượn gạo. Bước đường cũng phải nói láo:

– Giang thuyền giăng bít sông, Mỹ chốt Bưng Còng, Rạch Kiến tụi con không qua sông lãnh lương được.

Má đỡ trước cho con khỏi nhục:

– Má có nghe nó nói.

Má xưng má với ý nghĩa má chiến sĩ nhưng có lẽ cũng hàm ý “má của con”. Bữa nay Nàng trang sức coi giống gái ấp chiến lược. Bông ta cẩm thạch, áo sơ mi trắng ngắn tay. Tóc mới gội xà bông mùi thơm quen thuộc Baby soap của Mỹ, bỏ xõa sau lưng. Nàng ở dưới bếp đi lên bằng một mâm thịt heo quay đã chặt miếng nhỏ, bánh mì.

Nàng hứa theo Lôi, nói láo với bà già:

– Hằng tháng ở bển đêe tiền qua phát. Nhưng tháng này đường kẹt má à !

– Ờ tao nghe nói Mỹ vô thêm Đồng Dù 2, 3 ngàn. Nhà còn 2 bồ lúa. Ba mày định bán một bồ để cất thêm một căn nhà cho chị Năm mày, nhưng “bây” mượn thì hoãn lại việc cất nhà.

Năm Mai ủng hộ.

– Căn nhà đó ba cất cho con với bé Liên. Bây giờ ở chật cũng được. Hòa Bình rồi sẽ tính má à !

– Cám ơn “Chị Năm” ! (Lần chia tay ở ấp Mây Đắng, tôi bế bé Liên, đi theo Năm Mai. Bé Liên gọi tôi băng “Ba” ngọt. Bây giờ phải quên chuyên cũ và đổi cách xưng hô).

– Chừng Hòa Bình rồi tụi “em” cất nhà bên bờ sông Sài Gòn, có cầu mát, tụi em” mời chị ra hứng gió.

Bánh thịt dọn xong, Năm Mai bảo:

– Liên mời ngoại đi con!

– Mời ngoại! – Con bé ngoan ngoãn vâng lời mẹ. Lần này đứng xa tôi chứ không thân mật như lần trước.

– Còn ai kia? – Năm Mai trỏ tôi, hỏi bé.

Tôi giật mình đánh thót như sợ quả pháo rơi vào đầu. Nhưng, không hiểu Mai đã dạy con trước hay nó biết khôn mà tránh giùm cho “Ba” nó. Nó buột miệng nói:

– Con mời dượng Bảy!

Nàng trừng mắt, mặt đỏ ra.

– Con nhỏ này. Ai biểu mày kêu vậy hả?

Nàng nói một câu đáng lẽ không nên nói, nhưng có lẽ vì lúng túng nên không điều khiển được cái miệng. Nàng quay sang má:

– Cách mạng mượn rồi sẽ trả, má đừng lo.

– Tao biết. Cách mạng sẽ trả, tao đâu có lo. Các ông Năm Tiều, Sáu Thiệt, Bảy Cấm, Bảy Nô mượn rồi, trả… rồi. Tao bi… iết Cách mạng mà !

Má nói tiếp:

– Má cho mượn nhưng không chở vô được. Lúc này ở ngoải người ta bắt gắt, khó vô ra lắm! Con cho ai ra lấy lúa chở lại nhà máy chà gạo rồi đưa vô trong này bằng xe bò chớ má không đem được.

– Cách mạng ghi công cho Ba Má ! – Tôi nói.

Má khoát tay:

– Thôi, công cán gì. Má về kẻo tối.

Tội nghiệp má. “Má vô” rồi má lại về, mất phéng 100 giạ lúa cho quân giải phóng. Má nghe con gái nhắn thì xách giỏ trầu vô. Chẳng ngờ không phải vô để tiến hành “vụ ấy” , má vô để bị moi ruột. Má và chị Năm về hồi lâu, Nàng mới thỏ thẻ:

– Sao anh không nói gì hết?

– Em không nói, còn bảo anh !

– Anh phải đi bước trước chớ không lẽ để em đi.

– Sao em không nhắc anh để bây giờ trách?

– Em nháy anh hai ba lần.

– Hồi nào, anh đâu có thấy!

– Anh thiệt à ! Máy bay trên trời anh quan sát không lõi chiếc nào, còn chuyện ở dưới đất ngay trước mặt lại không thấy.

– Phải chi em ngắt anh một cái.

– Thôi để lần sau.

Lần sau: chẳng bao giờ ! Thiên Thai không trở lại lần nào nữa.

Chương 122

Người con gái về từ Tam Biên

– Bắn tụi Mỹ cụm dã ngoại này khoẻ lắm thầy Hai! Tư Thới – Ct C4 nói với tôi.

– Ờ khoẻ, nhưng phải rút thiệt nhanh! Nếu chậm, xe tăng bắt sống.

Đây là đợt 3 đó nghen bà con. Lấy gì đánh? Phải dùng pháo. Pháo lớn không còn đạn, có còn cũng không dám moi lên xài. Nổ một phát nó rượt tận ổ. Thành ra phải dùng cối 81. Thứ này bắn được bao xa? Nhưng phải bắn để lên tiếng: “Ta còn vài ngoe chớ chưa chết hết”!

Trước khi nổ súng Mậu Thân, tôi có gặp Năm Lê, báo cáo về tình trạng ĐKB (Đạn Khoan Bêtông) với anh. An không muốn xài, nhưng ông Tư Lệnh Ba Xu lại bảo “không cần bắn trúng mục tiêu, miễn có tiếng nổ trong lòng địch tà được rồi! ” Bây giờ tôi ân hận đã không cương quyết để đạt ý kiến không dùng ĐKB. Sáu Phấn đi cất giấu loại này mà bị chết thui cùng một hầm 12 người với ông Tham mưu trưởng Đào Hải.

Nếu ĐKB tốt thì dùng có ngại gì! Nhưng nó đơn sơ đến phát sợ. Không có tối thiểu những gì cần thiết cho một hỏa tiễn loại nặng như vậy. Lính đặt tên là súng “máng heo”. Bắn 4 quả vô Trung Hòa không trúng gì hết, cũng không lọt vào vòng rào, chỉ rơi ngoài ruộng, nông dân không dám lại gần, ruộng phải bỏ hoang. Đâu còn ai cả gan đào lên lấy thuốc nổ ngoài Năm Cội ngày xưa?

Tư Thới nói:

– Trận này không quan trọng, thầy ở nhà dưỡng sức.

– Tôi đến chấm tọa độ cho ông bắn.

Trực thăng Trái chuối đến, hạ thấp rồi “neo” một chỗ. Lính Mỹ tuột hết quần áo chạy tới. Từ bụng trực thăng nước túa ra như hoa sen. Nước này chở từ Hawail sang chớ nước Sài Gòn không xài. Chúng tắm xong vô tăng có sẵn các em ở Hóc Môn lên nằm chờ. Tư Thới ra lệnh bắn 8 quả, pháo Đồng Dù trả hỏa vài trăm phát như muối bỏ biển nhạt phèo. Đợt 3 mở ra và khép lại như thế đó! Tôi không màng cho người đi điều tra kết quả làm chi.

Về nhà leo lên võng nằm lắc lư, chiều sẫm tối, nghe đài BBC Luân Đôn. Đài này có đoạn nhạc mở đầu rất hấp dẫn nhưng lính không bao giờ nghe. Chúng chỉ mê Vọng Cổ và nghe tin đài Sài Gòn. Loạ thế?

Hôm nay BBC phát tin toàn Miền Nam.

Đợt 3 Cộng quân im lìm, có vẻ như kiệt sức. Sợi dây cung đã dương hết mức, không còn cũng được nữa đến lúc phải chùng. Cô đô không còn tiếng súng. Quân Sài Gòn đã kiểm soát các phố xá và thành nội. Cộng quân bỏ xác đầy trên đường rút lui. Tin chưa rõ tướng Trần Văn Quang Tư lệnh và Tướng Lê Chưởng nào đó đã bỏ mạng.

Ở các tỉnh miền Trung, Cộng quân không chiếm được thành phố nào trừ một vài khu trong thị xã Quảng Ngãi nhưng bị quân Sài Gòn đánh tan ngay. Những đơn vị đánh hăng nhất là TQLC, Sư đoàn 1 BB Sài Gòn.

Ơ các tỉnh châu thổ Cửu Long, Cộng quân cũng đang bỏ chạy thê thảm sau khi áp dụng chiến thuật “A thần Phù” không kết quả mà thiệt hại to. Cộng quân vô thị xã Mỹ Tho từ 3 cánh: Chùa Vĩnh Tràng, cầu quay và Giếng nước.

Vào trong thành phố không biết đường, họ loay hoay bị nhân dân tự vệ tiêu hao nặng. Một đoàn độ 20 người trốn trong chùa Vĩnh Tràng bị bắt sống.

Ở Bến Tre quê hương của Bà Định nữ Phó Tư lệnh quân giải phóng, Cộng quân cướp thuyền vượt sông Cái Cối bị địa phương quân chận đánh, lớp chết trên bờ, lớp chết chìm. Cộng quân đốt nhà ở xóm lá tiệm rượu và cầu nhà thương để tự cứu nguy nhưng không kết quả.

Nhìn chung toàn Miền Nam, tiếng súng thưa dần, dân chúng trở lại gần như sinh hoạt bình thường nhưng Cộng quân còn một chiến thuật mới: chận đường xe đò và cướp giật hành lý.

Tin giờ chót: Đồng Dù cái căn cứ Sư Đoàn 25 Bộ binh Mỹ bị bắn 2 trái đạn hỏa tiễn nội hóa Hà Nội, không nổ. Bộ Tư lệnh Hoa Kỳ ở Sài Gòn đã cho đào lên nhưng không rõ xuất xứ của loại đạn này: Liên Xô hay Trung Cộng.tướng Giáp vô nằm ở Bắc vĩ tuyến 17 đã rút về Hà Nội.

(Tôi định tắt đài. Nhưng còn tiếc nên chưa vặn qua.)

Ông ta không làm gì được hơn ngoài sự chỉ huy không hiệu quả ở chiến trường Miền Nam Việt Nam. Ông đã thất bại trong ý định làm một Điện Biên Phủ thứ hai. Nếu ông đặt Bộ chỉ huy của ông ở Miền Nam thì rất có thể ông sẽ trở thành Đờ Cát Việt Nam với danh tiếng của ông và tan như bọt nước.” Cụp. Tôi vặn sang làn sóng khác.

– Anh Hai có khách! – Thằng Đá bảo.

– Ai vậy?

– Khách cỡi Hon da. Em không biết là ai.

Tôi sợ người tình “có trái tim rục lửa”. Nàng hay xuất hiện bất ngờ và cho nhiều tin giật gân chết người.

Một người đàn bà vận đồ đen, nách kẹp tép da, tóc cắt ngắn, bước vào. Thằng Đá đốt đèn để trên bàn.

Tôi nghe nghèn nghẹn trong cổ. Chưa kịp nói gì thì Bảy Ga, Hai Khởi bước vô. Hai người sững sốt trước người khách lạ. Hai Khởi nói:

– Cô có phải là người hỏi thăm Hai Hà hôm qua không?

– Dạ phải, và anh trả lời là ở Củ Chi không có Hai Hà.

– Bây giờ có rồi đó. Hai Hà đó !

Tôi bị bất cập, lúng túng, nói luôn y như thật.

– Đây là em Thu Hà, con dì Bảy tôi, công tác ngoài Tam Biên vô tìm tôi.

– Ừa, vậy mà tôi không biết nên hôm qua chối ngang. Bậy quá, xin lỗi cô em nhé ! Hé hé !

Hai Khởi nói và nháy tôi. Hắn quỉ lắm. Vả lại đôi lúc tôi cũng có tâm sự riêng với hơn về Thu Hà. Hắn đâu có quên. Hắn quác ra: “Kẻ Củ Chi người Trường Sơn biết chừng nào gặp nhau được. Chiến tranh này kéo dài 20 năm nữa, ông ở đó mà chờ!”

Nay nghe tôi giới thiện Thu Hà là con gái Dì Bảy của tôi, chắc y cười thầm: em bạn dì ở đâu như trên trời rớt xuống vậy? Chỉ có em “ruột dư” mới dám men tới hang này để “bắt cọp” thôi.

Hai Khởi hỏi tôi:

– Sao, ông tướng… Gạo chừng nào xuất hiện để tôi cho ra quân đây ông lớn?

– Có rồi, nhưng còn phải chở xay giã.

– Cứ đưa cho tôi, tôi bắt lính ăn lúa cho đỡ đói.

– Bậy hoài cha.

– Chớ thằng Tư Linh cho tù ăn bắp sống thì sao? Đói cái gì mà chẳng nuốt?

Thu Hà nói:

– Cháu thay mặt Hậu Cần R xuống đây lo việc cung cấp cho các cánh đi Sài Gòn đây. Các chú cần bao nhiêu?

Hai Khởi dội ngược khi nghe tiếng “chú” , nhưng vẫn xôm tới:

– Còn tụi ở Củ Chi như bác” và “chú” Thiên Lôi này thì bỏ đói hả chá… áu?

– Cháu chịu trách nhiệm cả quân khu, kể cả du kích.

Hai Khởi xá xá:

– Chắc kiếp trước khéo tu nên nay tôi mới có quới nhơn phò trợ. Mà cháu cho tiền mặt hay rải lúa cho gà ăn?

– 200 ngàn tiền mặt. Sau đó sẽ tính tới võng, áo quần, bi đông và các thứ khác!

Bảy Ga chậm rãi với giọng móc họng:

– Thầy Hai có cô em gái làm lớn mà lâu nay mình không biết. Có em rể chưa vậy thầy?

– Cô ấy xa tôi đã 4 năm. – Tôi đáp ngay – Hồi gặp trên Trường Sơn thì chưa, bây giờ ơ… ơ… chắc có… ó rồi!

Thu Hà mở tép da lấy ra mấy xấp bạc buộc ràng rất kỹ, đưa cho tôi:

– Đây là của E Quyết Thắng.

Hai Khởi nói:

– Phần E Mũi Nhọn của Tư Nhựt tôi lãnh giùm luôn!

– Tiền đó gai góc, khó nuốt nghe cha.- Bảy Ga chọt.

Hai .Khởi bảo:

– Để tôi về đưa tiền cho quản lý để mua đồ quán về cho lính ì xèo tối nay. Mấy nữa rày tẩm bổ bằng nước mưa, ruột cứ kêu eng éc như heo con.

Rồi với tay kéo tôi:

– Thầy Hai ra đây cho tôi báo cáo mấy công tác bí mật.

Tôi đi theo Hai Khởi ra góc sân:

– Gì đây cha? – Tôi gắt nhẹ.

– Ông nhận làm chỉ mấy chục lính “Sài Gòn quay”, tôi biết đưa về đơn vị nào? (như lính B quay Trường Sơn)

– Đứa nào lanh lợi cho vô ở trinh sát thằng Bòn, đứa nào còn khỏe cho vô C4, C2 đứa nào lù khù cho thay Hai Nương và con Ẻng nấu bếp.

– Cái đám này coi bộ bất mãn tợn. Thứ cá lia thia sọc dưa, bỏ bao nhiêu muối cũng không mun lại.

– Thằng nào đi Sài Gòn về mà chẳng sọc dưa?

Hai Khởi rỉ tai tôi:

– Ông cần kềm chân người tình có trái tim rực lửa và nường “rủng xỉ” của ông không?

– Thôi cha non. Bịt giùm cho tôi cái tin này.

– Ông đã giới thiệu là em bạn dì rồi, tôi cần gì phải bịt?

– Em bạn dì thiệt đó cha!

– Bạn dì, ban ngày đâu lưng, ban đêm lại “đâu rốn” hà?

Quay vô nhà Hai Khởi nói oang oang với tôi, cốt ý cho mọi người nghe:

– Thầy Hai lâu ngày gặp lại em bạn dì, nên tìm nhà riêng tâm tình sâu. Văn phòng giao cho Bảy Ga. Có chuyện gì thằng Đá chạy kêu – rồi lại nói thinh không:

Mạ non mà cấy đất gò
Hai bụng nhập lại hai giò chòi lia.

Lại còn la to lên lần nữa:

– Mấy đứa coi chừng, tối nay phá… áo bắn mạnh nghe bây! Nóc nhà này bay mất đó. Rán mà chui cho lẹ !

Bỗng thằng Thượng chạy vào báo:

– Anh Tư Quân chết rồi !

– Mày nói cái gì lạ vây mậy? – Tôi quát như máy.

– Chị Tư về nhà mới có mấy bữa. Anh về thăm bị biết kích thằng Giắc phục kích bắn chết cả tổ trinh sát!

– Trời đất!

– Đi đâu cho nó bắn?

– Dạ ảnh tìm chỗ phân tán D1, tiện đường về thăm chị Tư ở Bàu Tre.

Tư Re vợ Tư Quân theo đơn vị làm y tá 3 năm qua, coi như quân số của E. Chị rất tích cực, nấu cơm, tải thương, việc gì cũng làm để được đi theo chồng “lấy xác về chôn “. Tội nghiệp chị tâm sự với tôi ít ai biết.

– Ba sắp nhỏ tôi là dân ruộng rẫy không biết dàn binh bố trận như anh. Ảnh đâu có học hành gì mà chỉ huy mặt trận này, chiến dịch nọ. Nhưng ở trên phong chức, ảnh không thể từ chối. Em biết chắc ảnh không thọ lâu đâu anh Hai à ! Ảnh thường than thở với em: “Nếu anh có bề gì em gắng nuôi con và lấy chồng khác làm ăn, đừng ở vậy.

Chị Tư không dấu diếm tôi chuyện riêng của hai vợ chồng. Đóng quân lúc nào tôi cũng bảo trinh sát dành cho anh chị một nhà riêng. Gặp những khi công việc nhiều, ban chỉ huy làm choàng qua để anh có thì giờ sống với vợ.

Tư Quân cũng như Tư Nhựt. Hôm nay bỏ vợ mồ côi.

Nhưng anh may mắn hơn Tư Nhựt là được vợ lấy xác về chôn. Chỗ anh bị phục kích chỉ cách hè nhà 300 thước.

Con chim bay về tổ tông nên bắn. Nhưng Giải Phóng đã từng nổ pháo vào khu nhà vợ con lính biết bao nhiêu lần ở Trung Hòa, Củ Chi, Đồng Dù.

Nay quả báo, Tư Quân phải nhận lại. Đời đã vay mấy ai khỏi trả ? Đã bảo ở đất Củ Chi này đánh giặc bị tiêu hao đã đành, không đánh cũng tiêu, mà tiêu lảng nhách. Tư Quân bị biệt kích bắn, còn có thể hiểu được. Chứ Ba Nhẫn Dv đi moi đồ hộp Mỹ bị mìn nổ chết đau biết mấy ? Người ta nghĩ là du kích hận thù Ba Nhẫn. Có thể vì Ba Nhẫn phết cho cô Trang một quả dưa chuột trong mấy lúc “ngồi thum”. Trang 18 tuổi con chị Hai Tràng ở quân nhu. Chị Hai chết chồng chỉ một mẹ một con. Cho con bé theo các chú khác chi giao trứng cho ác, chị sợ lắm, cứ nhắc nhở chằn chằn. Nhưng rồi chuyện sợ xảy ra vẫn xảy ra.

Người ta nghi du kích thù bộ đội phỗng tay trên quơ mất cây nhà lá vườn của anh chàng nào đó nên anh ta gài bậy trái mìn tặng bộ đội chơi gọi là tình quân dân cá nước mặn mà. Tưởng chơi tụi lính lãi ai dè dính một chính trị viên “dê” (d=tiểu đoàn).

Hổng biết rồi vợ anh ta có được lãnh bảng vàng danh dự và anh có được lên đài tử sĩ không? Nhờ sự mớm bóng trắng trợn mà hợp lý của Hai Khởi, tôi được giải phóng.

Thu Hà chở tôi đi thoát tục bằng chiếc xe Honda bay.

Gái Trường Sơn sốt rét nước da vàng ẻo mà phóng Honda trông cũng hách. Ở khu giải phóng thời buổi này ai có Honda mà cỡi? Lấy cớ là đi tìm hiểu tình hình hậu cần của đơn vị, nhưng hậu quái gì. Nàng tha tôi đi ta bà thế giái.

– Sáu Phương hiện giờ công tác ở đâu? – Tôi hỏi ngay về cái trạm giao liên ở Tam Biên.

– Ảnh sốt ác tính chết cách đây 3 năm. Anh đi được 8 tháng thì anh sốt. Chỉ 3 ngày là ói ra máu rồi chết.

– Trạm cứu thương mà để ông trưởng trạm chết như vậy sao?

– Ác tính trời cũng không cứu được anh à. Có sống cũng tàn tật như thương binh bị B52 không làm sao trở lại bình thường được.

– Còn các anh khác đâu?

– Trạm giải tán, mỗi người đi một nơi.

– Không ai chết?

– Ngoài Sáu Phương.

– Sao em về được trong này?

– Em có ông ba nuôi.

– Ai?

– Ông Năm Đăng đó !

– Đã đăng lại còn đó!

Năm Đăng tên thật là Năm Thược, có chức Phó tư lệnh Quân khu IV là kẻ đã mở đường suốt Trường Sơn, xây dựng khu Mã Đà (Mã Đà sơn cước anh hùng tận) là nơi hàng ngàn cán bộ chiến sĩ tập kết kiệt sức và vùi chôn nắm xương tàn ở đây. Năm Thược có vô Sài Gòn, đáng lẽ được coi là công thần, nhưng không hiểu tại sao bị tụi Bắc Kỳ đá văng khỏi mâm cỗ Giải Phóng. Hiện nay sống vất vưởng ở thành Hồ. Không biết ông ta có hận Mã Đà chăng ?

– Nếu không có ổng làm sao em thoát khỏi Mã Đà mà về đây?

Tôi ôm eo ếch cô bé chắc cứng. Cái bụng lép kẹp. Tiếng nói tràn vui:

– Em không ngờ còn gặp lại anh.

– Anh cũng không ngờ.

– Đồn bót giăng giăng như vầy mà anh ở được sao

– Năm năm rồi- Tôi bỏ ngón trên làn da bụng nàng 65, 66, 67, 68, 69 nàng kêu nhột và ẹo người rúc rích.

– Gần 2000 ngày đêm.

– Sao em tính kỹ vậy?

– Em đếm từng ngày mà.Ở đây anh có biết ông Bảy Hốt với anh Tư Thêu không?

– Có.

– Nhân viên của em đấy!

– Oai nhỉ. – Hai Tốt bợ nguyên một bao bạc dông ra Sài Gòn làm lính đói nhăn răng cũng là nhân viên của em nốt?

– Chung một hệ thống nhưng ổng đi hồi em chưa phụ trách. Anh biết bà Sáu Tỉnh không?

Tôi lắc lư. Nàng cười:

– Anh quen nhiều ít ?

– Anh chỉ đến mua bình toong và thắt lưng Mỹ thôi.

– Cô Bảy Dũng sĩ đánh Mỹ rầm trời vậy mà không lấy được của Mỹ kỷ niệm cho anh sao?

Tồi hơi mệt nên nói đỡ:

– Cô ấy được đài Giải phóng đánh giùm chớ các cô chỉ để dành quảng cáo thôi!

– Anh thấy em chạy Honda có bằng “người ta” không?

Tôi biết cô nàng muốn gay cấn nhưng tôi cố nói lướt:

– Ờ em chạy khá lắm. Anh còn chưa biết chạy đây!

– Em bọc cỡi Honda té trầy mặt mấy lần. Có lần trẹo chân, suýt lãnh sổ thương binh.

– Em chở anh đi đâu bây giờ?

– Anh muốn đi đâu?

– Em muốn đi đâu anh đi đấy?

Khi nàng đỗ lại, tôi nhìn cảnh vật lạ hoắc.

– Đây là đâu vậy Thu Hà?

– Lâm Vồ ! Trên đó là Tịnh Phong. Phía sau là Tầm Đinh.

– Mình làm đám cưới…

Tôi chưa dứt lời. Bỗng rùng rùng… ầm ầm ầm. Xe đang phóng bỗng ngã lăn.

– B52, nằm xuống!

Nàng lồm cồm ngồi dậy, nói:

– Mình ở ngoài rìa.

Rùng rùng…

– Nó rắc tới đấy.

Tôi ôm nàng lăn xuống hẻm sâu bên mép đường.

– Còn loạt nữa.

Trời! tụi này chơi vào lúc chạng vạng. Khói bay khét nghẹt. Hai tai nghe e e, mũi như nghẹt.

– Gần lắm em à !

Tôi lôi nàng chạy nhưng sụp xuống hố. Nàng la lên:

– Anh làm sao vậy?

– Mình ở trong vòng. Mau lên! Coi chừng nó rải trùng.

Tôi trở lại dựng chiếc xe dậy.

Nàng ngồi lên đạp máy. Xẹc Xẹc Xẹc. Đèn pha chói xanh lè. Rụ… rụ.. xe vọt. Hai đứa lại nhào lăn xuống hố!

– Mình bị… em à !

Xe tắt máy. Đèn hết cháy. Tôi lại đỡ xe lên. Hố bom sâu quắm. Đìa? không đo nổi. Hai bánh trước quẹo qua một bên như con vịt gãy cổ.

– Cái tép của em đâu rồi ?

– Ừa… coi có văng đâu đó không? Tôi quờ quạng lia lịa.

Hai đứa ngó quanh. Trực thăng soi ngoài bờ sông. Tôi lôi nàng vọt lên lủi vào bụi.

– Coi chừng nó vô đây. – Nàng bình tĩnh trở lại.

– Ở ngoài Mã Đà chỉ có B52 chớ không có soi.

– Sau Mậu Thân nó chơi nhiều bài bản mình không thuộc được. Vùng nào nó cũng oanh kích tự do.

Tôi nhìn bốn phía tối om. Khói đạn không dày lắm. Chắc mình ở ngoài rìa thảm. Tôi kinh nghiệm nên biết vậy Nếu ở giữa thảm thì không thấy gì hết.

Vệt sáng to là Dòng Dù. Gần bên nó là Củ Chi. Xa xa kia, Trung Hòa. Chờ cho đèn soi của trực thăng biến mất hai đứa chui ra, lê chân trên mặt đất nhấp nhô.

Nàng tựa hẳn vào người tôi. Khạc hai ba tiếng.

– Bây giờ em mới thấy mệt.

– May mình không ở giữa vòng. Em có sao không? Tôi xoè tay trước miệng nàng.

– Nhổ ra coi có máu không? Em có thấy nhột nhột trong cổ không? Nàng lắc. Không sao.

– Mẹ nó! B52 mà chơi giác mình sắp đi ngủ.

Bỏ chiếc xe dưới hố, chúng tôi đi mình không.

– Anh biết hướng không? Em không còn nhận ra nữa.

– Em cứ theo anh.

Lại sụp hố bom. Nàng ngồi phệt xuống ho rỉ rả. Đất nhuyễn như bột, ấm hổi. Bụng tôi lo pháo giã tiếp. Không biết nó thấy cái gì mà rắc bom? Xem kỹ lại sát nách Đồng Dù. Đi đâu cũng không khỏi tháng này. Hay là… nó bồi cho Tầm Lanh?

Năm năm vèo qua như làn đạn bay. Đợi chờ nhau và hi vọng. Nàng ngồi trong tay tôi, nói như mê như tỉnh.

– Nếu cái hố bom này thành mồ chúng ta em cũng thỏa nguyện.

Tôi hôn nàng trên môi, nghe mặn chát. Cái thằng lê dương phiêu lưu từ nhỏ, nay tóc rựng bạc, lêu bêu cùng trời cuối đất, thương tích khấp người, bỗng nghe rưng rức nhớ quê hương. Trong sự bình tĩnh bất ngờ, tôi nói với nàng:

– Mình làm đám cưới đi em.

—->Chương 123-124-125-126-127-128

One Response to “2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QVII (118-122)”

  1. ton Says:

    Lam on post tiep cac tap 128 129 130 va cac tap tiep theo
    Xin cam on ba chi TTV rat nhieu


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: