2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QVII (123-128)

2000ngaydem_bia7
Chương 123

Đám cưới gã Thiên Lôi

Chúng tôi quyết định như một tia chớp. Hai Khởi luôn luôn trêu:

– Bạn dì nữa thôi? Tôi bắt nhãn thấy rõ là gà cáp độ đã lâu nhưng chưa ra trường đá. Bên cao vai, bên dư cựa, đầm lút hang cua, huyết lưu mãn địa coi mê tơi nghe bà con !

Hai Khởi nói toang ra cho cả cán binh nghe rõ:

– Hổng có phải bạn dì thường mà là “bạn dì xéo, chú bác lật” đó tụi bây ơi! Hèn chi lâu nay ổng cứ úp úp mở mở. Bây giờ thả giàn, ổng ra mặt “oẳng cái lồng” công khai dồi!

Địa điểm đám cưới: một ngôi nhà ngói sụp một chái, bỏ hoang có một hầm lớn giữa nhà, tấn bằng ván gõ, chứa được 10 người. Như vậy đủ cho đại diện các C do ban tổ chức qui định với con số tối thiểu. Nhưng liếc sơ qua thấy ít nhất cũng gần 100 đầu. Thủ trưởng cưới vợ tại đơn vị làm sao cản lính tới được. Hầm chứa bao nhiêu còn bao nhiêu “tự túc”. Đó là chưa kể các má địa phương, nghe thăng Hai “tiên bố” phải tới coi con dâu ra sao.

Chú rể cô dâu mặc giáp trụ giải phóng” coi oai ghê, nhưng trong bụng sợ B52. Ông Trưởng ban tổ chức Hai Khởi cho treo một tấm băng đờ rôn ngay giữa nhà: “Lễ thành hôn 2-9-69” (không nói rõ lễ thành hôn của ai)

Một chiếc bàn cắm vài cành hoa bông bụp hoa ngãi. Một lá cờ . Vài chục chiếc ghế sứt tay xẹo chân giành cho quan khách. Một chú lợn vinh dự hi sinh mạng sống. Thịt xương sẽ được chia cho các đơn vị theo chính sách phân tán, không nấu nướng ăn uống tập trung. Xưa kia Tô Ký cưới bà Cầm Phụ nữ Cứu quốc Thủ Dầu Một, lính tráng ăn nhậu 3 ngày, đèn măng-sông thắp sáng rừng Hố Bò 3 đêm. Thịt quay ăn không hết dùng để ném chơi, rượu thừa đổ lên đầu nhau.

Bây giờ Thiên Lôi cưới vợ, Ngọc Hoàng chỉ cho phép vài tiếng đồng hồ tiến hành lễ nghi đơn giản tối đa. Có lẽ thấy buổi lễ kém phần long trọng nên Hai Khởi cho trang hoàng thêm địa điểm bằng mấy cái khẩu hiệu vẽ nguệch ngoạc: “Lập thành tích mừng quốc khánh, Quyết tâm đánh thắng gốc Mỹ cứu nước… “

Nhưng vì nhà không có vách phên nên khẩu hiệu phải dán dọc trên thân cột. Ai muốn đọc phải chịu khó mặc quần tiều nằm ngửa dưới đất. Khi lễ sắp cử hành thì “đờn cò” , ò e trên trời. Đó là con đầm già mang guốc xách đuốc đến thăm Củ Chi hơi sớm hơn thường lệ.

Máy bay trinh sát L19 có 2 bánh xe thòng xuống giống như đôi guốc nên lính hình tượng hóa nó là “đầm già mang guốc”.

Bỗng nghe xè xè như có một chục con trâu đái cùng một lúc. Xè xè xe trên mây. Rồi bật ra một giọng ồm ồm: “Hồ Chí Minh đã chết. Hồ Chí Minh đã chết!”

– Hả, cái gì? – mọi người nhảy chồm lên sửng sốt nhìn nhau.

Thế là quan khách phải tản hàng và cuộc lễ đình lại.

Hai Khởi hỏi:

– Thầy có nghe gì không?

– Tai tôi bị B52 bữa hôm nên nghễnh ngẩng, ông nghe gì?

Hai Khởi đáp:

– Tôi cũng không nghe gì hết!

Tôi bảo:

– Con đầm này ở Dầu Tiếng xuống hay Sài Gòn lên?

– Tôi không chú ý, đến chừng ò e mới thấy. Nhưng chắc từ Sài Gòn lên vì cái đuôi nó ngoảnh về phía Sài Gòn.

– Nếu từ Sài Gòn lên thì có chuyện.

Hai Khởi ra ngoài hàng ba, đứng núp gốc cột theo dõi một lúc rồi trở vào:

– Nó đi thẳng ra sông, chắc không có gì đâu!

– Ông gọi cho các đơn vị ra công sự mau! Thằng Lức đâu?

– Nó vẫn ở vị trí cũ. Hai Khởi tiếp tục dựng sa bàn:- Thầy muốn ai làm chủ hôn bên trai, bên gái. Ai chủ tọa buổi lễ?

Tôi ngập ngừng không biết trả lời ra sao. Tôi từng làm chủ hôn nhiều đám, nay không chuẩn bị nhờ ai làm lại cho mình. Hai Khởi nói:

– Hai Mỏ mới vừa khua răng với mình, chắc y sượng, không tới. Thăng chả không tới thì cả bè Hai Xót, Tám Phụng cũng lờ đí! Vậy nhờ ai chủ hôn?

– Để thong thả xem. Ối! mà không có cũng được. – Tôi hơi cáu, đáp xẳng.

– Ai chủ tọa?

– Ông chớ còn ai!

– Phải có người cao cấp hơn thầy đứng ra chủ tọa thì buổi lễ mới long trọng.

– Chằng lẽ thỉnh Năm Tiều “về” được sao?

– Thôi ông lãnh luôn 3 chức một lượt đi. Để đức lại cho con.

– Làm thì làm, nhưng sợ không đúng nghi thức, cô dâu buồn!

– Tình hình này đòi hỏi như thời bình không thể được. Lễ xong dắt nhau chạy chớ không có động phòng hoa chúc hoa chót gì đâu!

– Thầy cũng phải nghỉ phép như thằng Lức chớ!

– Nghỉ rồi đi đâu? Chúng mình là cá lia thia không bọt mà !

– Thầy liệu có trở ngại gì không?

– Tôi đâu có báo cáo láo với tổ chức điều gì mà phải ngại!

– Tôi biết thầy còn “nguyên” chưa sứt mẻ, nhưng… Hai Khởi nheo nheo mắt, nói. – Tôi chỉ ngại các em bất mãn khuấy rối. Nhưng mấy vụ đó để tôi cho trinh sát lo. Tôi sợ nhất là “người tình có trái tim rực lửa” của ông thôi. Nàng bay Honda tới quăng hồ lô lên sợ e chú rể không có phép gì hô thâu được. Còn nàng dũng sĩ thì phản ứng tiêu cực bằng cách xin nghỉ phép. Tôi cho luôn 2 tuần. Vậy là thầy hổng có lõ cái “mũi nhọn” đáng gờm hơn này. Cuộc tuyên bố coi như an toàn 95%.

– Tôi đâu có hứa với ai điều gì mà họ phá tôi?

– Bà già vô kỳ đó. Nghe đâu đã chấm con chích chòe. Rồi “bà má vô” cho mượn lúa kỳ rồi nữa! Tôi còn nghe chú Sáu Huỳnh nói thầy đã nhang đèn thề thốt với ai? Vậy là thầy có tới 3 địch thủ nghe !

Tôi lắc:

– Tôi không có thề gì với ai cả. Người ta bày đặt đó thôi!

Mặt trời lặn quan khách lai rai tới. Quả thật Hai Mỏ, Hai Xót và gánh hát dân chánh không đến, trừ Hai Văn là nhân viên cũ lúc tôi làm quận đội trưởng và cô Bảy Nề mới được đề bạt làm quận đội phó Nam Chi. Nàng là người đi sát anh Hai và “học được ở anh Hai rất nhiều kinh nghiệm chiến đấu của anh Hai nhất! !”

Vào phút chót Sáu Hùm tình cũ nghĩa xưa đem đến một túi tôm khô và một chai rượu. Lính nhà thì lao xao đông đủ. Hai Khởi cạo râu nhãn nhụi với cái lưỡi bào liếc mài mất nửa giờ trong lòng ly bầu. Quần áo thẳng thớm đứng ra tằng hắng đúng ba cái, lấy vẻ trịnh trọng sắp cất giọng. Thì trên bầu trời lại nghe tiếng trâu đái xè xè. “Hồ chí Minh đã chết! Hồ chí Minh đã chết!”

Cả đám người rụt cổ cò , ngước mắt nhìn trời. Con đầm già liệng vòng tròn xa từ Đồng Lớn ra bờ sông rồi quay trở lại vẫn cái giọng ồm ồm: “Hồ chí Minh đã chết! Hồ chí Minh đã chết!” Âm vang lồng lộng dội lên trong không khí, chụp xuống ruộng đồng.

Cả đám nhìn nhau ngẩn ngơ. Có nên tiếp tục buổi lễ ?

Tôi bảo Hai Khởi:

– Tùy ý ông!

– Hỏi cô dâu xem sao!

– Cổ không có ý kiến gì đâu.

– Cưới chạy tang?

– Chạy gì được. Tang đã đến rồi chứ phải người ốm còn đang hấp hối hay sao mà chạy?

– Vậy thầy quyết định cách nào?

Con đầm già quay lại, lắc lư đôi cánh, xàng qua xàng lại rồi ỉa ra một vệt dài trắng xóa. Cái vệt trắng vỡ ra thành những mảnh li ti rồi rơi xuống đất. Phủ trên ngọn cây, đáp trên nóc nhà, trên ruộng.

Vài tấm rơi ngay trước sân. Thằng Đá chạy ra lượm mấy tờ trở vào đưa cho tôi. Tờ truyền đơn nhỏ bằng bàn tay. Một tờ in hình 7 lá cờ đồng minh với dòng chữ: “Hãy hồi chánh để tránh cái chết bi thảm”. Mặt kia hình một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa trỏ đường cho một đoàn người đi với dòng chữ: “Hãy trở về với quốc gia dân tộc “.

Tờ kia mang hình một lão già với hai gạch tréo bít mặt: Hồ tặc đã đền tội ngày 2-9-69. Mặt sau ghi chữ to: “Đồng bào nên ghi nhớ Hồ Chí Minh là kẻ chủ trương xâm lược Miền Nam với con đường mòn mang lên hắn. Họ Hồ đã bị đồng bọn Duẩn, Chinh, Đồng bức tử để chiêm quyền. Họ Hồ chết đúng ngày Quốc Khánh miền Bắc cộng sản 2 tháng 9. “

Hai Khởi nói to:

– Đây là trò bịp. Bà con đừng tin. Cụ Hồ đang khỏe mạnh. Hồi Tết có gởi thơ chúc Tết đồng bào. Nếu cụ bị bịnh thì có bác sĩ Trung Quốc Liên Xô chăm sóc làm sao chết được?

Tôi không nói gì lẳng lặng cuốn băng, dẹp bàn, gỡ khẩu hiệu. Buổi lễ sẽ tiến hành một dịp khác thuận tiện hơn.

Đồng Dù dường như biết rõ tin vui nên nã mấy phát chia buồn. Tôi và Thu Hà về nhà riêng. Buổi chiều hai đứa cùng nghe đài Bbxeo. Tin quan trọng đầu tiên:

– Hồ Chí Minh chủ tịch Cộng đảng Bắc Việt và là linh hồn của đảng này đã trút linh hồn vào đúng ngày 2.9 là ngày cách đây 24 năm ông ta đã đọc bản tuyên ngôn khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mà ông ta là chủ tịch. Tin ông Hồ chết đã được bịt kín nhưng vẫn xì ra bên ngoài. Người ta không muốn cho dân chúng biết vì sợ cộng quân miền Nam mất tinh thần và miền Bắc nổi loạn.

– Trong lúc đó Cộng quân khắp miền Nam đã rút ra khỏi các thành phố mà họ không chiếm được bao nhiêu. Việt Nam Cộng Hòa phải tốn công chôn xác Cộng quân bỏ lại khắp các phố phường.

Tin giờ chót. Bộ chính trị Cộng đảng Bắc Việt đã quyết định ướp xác ông Hồ để chờ các nước Cộng Sản gởi đại biểu tới phúng điếu rồi mới chôn vào mả ở Ba Đình.

Chương 124

Nàng dũng sĩ và vết thương.

Một buổi trưa tôi và Thu Hà đang “nghỉ phép” ở nhà riêng, thì thằng Tiển chạy vô hớt hãi:

– Anh Hai, chị Bảy bị thương trong bót.

– Chị Bảy nào?

– Đội trưởng đội nữ.

Có lẽ nhìn thấy Thu Hà nên Tiễn không nói tên nàng đội trưởng. Tôi nói ngay:

– Em về lấy đội trinh sát đi với anh! – Rồi tôi khoác súng ngắn, vác AK theo thằng Tiển. Thu Hà hỏi gì tôi cũng không nói.

Tôi vừa chạy vừa hỏi thằng Tiển.

– Bị thương ở bót nào?

– Thái Mỹ!

– Ai cho lệnh đánh?

– Dạ, em không biết!

– Đánh hồi nào?

– Tối hôm qua. Tới sáng không hạ được.

– Trời. Đội nữ hạ sao nổi. Bị thương bao nhiêu? Có đứa nào hi sinh không?

– Chừng 10 đứa. Con Phương, con Lan bị nặng. Không có ứa nào chết.

Tôi chạy băng đồng với 6 trinh sát, không nhớ trên đầu lúc nào cũng có cá rô, cá lẹp, cá nhái xuất hiện bất ngờ. Và đã có không biết bao nhiêu dân, cán, bộ đội bỏ mạng vì “cá”!

Đồn Thái Mỹ đứng sừng sững. Năm ngoái sau khi bi D Thép san bằng, chúng tái đóng kiên cố hơn.

Mấy cô dũng sĩ đứng trong mé vườn láo nháo chỉ trỏ. Thấy tôi đến, chạy ùa lại.

– Con Mô nằm ở đâu? – Tôi quát hỏi.

– Vắt trên hàng rào ngoài, tụi em không lôi ra được!

Tôi bảo thằng Đức vừa lên thay thằng Bòn:

– Em đem trung liên bịt lỗ châu mai chính, một tổ bắn lồng cu, một tổ thu hút hỏa lực sang bên kia. Anh vào.

– Để tụi em đi cho anh Hai.

– Anh đi mới được.

Thằng Đức xả trung liên. Lính bót im lìm. Dưới làn đạn của thằng Đức tôi bò vào hàng rào thứ nhất. Mô nằm trên mớ dây kẽm gai. Tôi đưa tay lôi chân nàng nhưng bị vướng nhùng nhằng kéo mãi không được.

Đùng đùng đùng. Chúng bắn. Đạn ghim văng đất trước mặt tôi. Trung liên thằng Đức quạt mạnh. Tôi trườn tới níu chân nàng và trườn tháo ra chưa dứt loạt đạn. Chúng nã M79 theo. Mặc. Tôi vác nàng chạy vào một ngôi nhà không biết của ai, không có hầm hố gì hết ráo. Tôi đặt nàng lên ván. Máu me đầm đìa. Ngực còn thở mạnh. Một cô chạy tới băng bó. Vết thương trên ngực phía trái không biết có chạm phổi hay không. Chỉ một mảng đỏ lòm lênh láng: Máu ra nhiều quá.

– Chị Bảy xung phong trước tụi em!- Một cô báo cáo.

Tôi quát:

– Ai ra lệnh cho tụi bây đánh đồn?

– Chị Bảy nói anh giao cho đội nữ tụi em gỡ bót này trong đợt 3.

– Súng trường với AK mà đánh được hả? Tài khôn.

– Dạ chỉ ra lệnh thì tụi em phải thi hành.

– Hi sinh hết mấy đứa?

– Dạ… chị Bảy bị thương, chúng em rút, định về nhà lấy bộc phá ra đánh tiếp.

Mô mở mắt. Tôi hỏi biết ai đây không? Nàng khẽ lắc đầu rồi nhắm nghiền đôi mắt.

Ban chỉ huy E phàn nàn tại sao tôi hạ một cái lệnh kỳ cục như vậy. Tôi không trả lời, chỉ im lặng nhận sự trách móc. Anh em biết tánh tôi đánh giặc cẩn thận thế nào. Khi bố trí hỏa lực xong tôi đều kiểm tra lại rất kỹ trước khi nổ súng. Đôi khi có mạo hiểm, nhưng là mạo hiểm để thắng, chớ không đến nỗi giao cho đội nữ hạ đồn bằng AK.

Tôi biết tại sao Mô lại đem trung đội nữ tấn công bót không có lệnh của ai hết. Mô muốn bắn nát tan cả trái đất chứ không chỉ bót Thái Mỹ . Người ta dư luận không được làm quận đội phó nên nàng bất mãn đánh liều. Họ không hiểu nên nói vậy. Vết thương của em là do… gây nên chớ nào phải do bom đạn địch.

Hôm nay qua trùng dương, anh gởi một nhạn thư về xỉn lỗi em về một chuyện cách đây đúng 30 năm!

Tôi Hai Khởi và Bảy Ga đi thăm Tư Quân ở nghĩa trang. Tư Quân nằm cách Năm Tiều năm bảy nấm đất còn mới không biết là của ai. Thằng Đỏ không xuất hiện như kỳ rồi với 2 cái chân cụt và cây tó của nó, nên màu trời hoàng hôn bớt ảm đạm.

– Bộ chỗ này vui lắm sao nhiều người thích vô chơi rồi ở hoài không ra? – Hai Khởi cố pha trò nhưng không phá nổi cái không khí u tịch của bãi tha ma.

Cỏ lên mịt mủ. Mấy nấm đất lòi lưng không còn biết sợ đầm già, bù nóc.

Một ông Trung đoàn phó lại một ông Trung đoàn phó. Lính nằm đây đã đủ một trung đoàn. Nếu hai ông không vào thì ai chỉ huy?

Trở ra đường mòn xe dứa thì đụng đầu một ông cán có cần vụ đi theo.

Năm Sĩ! Anh bắt tay tôi mừng mấy câu và xin lỗi không đến dự đám cưới của tôi được.

– Làm gì ở đây anh Năm? – Tôi hỏi.

– Tôi sắp về R.

Tiếng R bây giờ nghe nó thăm thẳm và hoang tàn làm sao!

– Về làm gì ở trển? Anh không nhận nhiệm vụ (Tham mưu Phó) ở đây sao?

– Ông thèm vào!Thằng Kiên thằng Dũng làm Phó Tư lệnh (chết cả rồi) tao ngồi dưới đít tụi nó à?

Tôi lôi con hùm xám Điện Biên vào cái quán xiêu vẹo bên rìa nghĩa trang sống nhờ sự che chở của tử sĩ.

Năm Sĩ vẫy cậu cần vụ:

– Lô à ! Đem bình toong lại đây! Năm Sĩ nói với giọng rưng rưng – có lẽ không còn dịp trở lại nữa ông à. Cho nên tôi tới đây thăm mộ ông Ba Lanh và Chín Hiền!

Trông anh già sọm, thê thảm. Té ra ai rút chốt lựu đạn và viết thư cho Võ đại tướng chớ không phải anh. Lần này đầu anh không cạo trọc, tóc dựng đứng lên trông đến buồn cười: cái mặt thì già ngắt với bộ râu không tỉa tót còn tóc thì lung tung như tóc trê con.

Bảy Ga đánh trống lảng:

– Nghe nói anh Năm hạ “cờ tây” tuyệt lắm hả? Bữa nào tôi rước tới làm một bữa cho lính tôi biết tài.

– Tớ ở nhà hay đụng thịt chó trong xóm chớ không phải thợ.

– Cũng được! Miễn nấu món Bắc cho tụi này thưởng thức thì thôi.

Như được khơi bầu tâm sự, Năm Sĩ nổi hứng nói sôi bọt mép:

– Các cậu có từng xơi món dựa mận chưa?

Nhựa mận là món gì ?

– Là món dựa luận chớ là món gì. Phải có chó thì mới nấu được, chứ nấu mồm thì làm sao mà hiểu. Đó chẳng qua là một món xào có nghệ thuật. Nhưng tuyệt nhất là tiết canh chó, ngon hơn tiết canh vịt, tiết canh heo.

Cả đám cười rẻ lên nghiêng ngả:

– Chó mà làm tiết canh! Bảy Ga cười.

– Tụi Nam Kỳ tụi bây dốt bỏ xừ! Làm chó mà không đánh tiết canh thì làm chó gì?

Mọi người vẫn cười chế diễu, thằng Tiền hỏi:

– Tiết canh chó và luộc chấm mắm tôm, cái nào hơn bác Năm?

– Tuyệt rời cả. Không có thịt nào bằng thịt chó chấm mắm tôm. Mắm tôm là để đi với thịt chó. Ăn thịt chó phải có mắm tôm! Thiếu mắm tôm, mất ngon 50%. Cũng như DKZ phải có đại liên yễm trợ – Năm Sĩ tu rượu và nói tiếp: Các cậu dốt bỏ bà đi đấy ! Trong con chó biết món gì ngon nhất không?

– Món gì cũng ngon, nhưng ngon nhất là…

Nhất dồi nhì chả. Dồi chó làm với tiết, thịt nạc trộn mỡ băm nhuyễn với rau răm dồi vào ruột luộc chín xong đem ra hơ trên lửa than, mỡ tươm vàng ngậy thơm điếc cả mũi. Ối giào, mỗi một khúc dồi đưa cạn một be sành nhé. Nào ta nhậu dồi đi Lôi. Dồi tưởng tượng cũng ngon không thua dồi thiệt. Nào thêm cút nữa! Rồi ta hãy bắt sang chả . Chả làm với thịt lằm giá trị cao hơn cả thịt thăn cơ đấy. Nó gồm da, nạc, mỡ và sụn, ăn vô nó vừa béo vừa bùi lại vừa ròn. Không nơi nào trong con cầy có đủ các yếu tố đồ ăn một miếng lằm với ngọn ngò ba lá đưa một ngụm, còn riềng và bánh đa nữa anh ơi, xong rít một phát ba-zooka rồi hát trống quân cò lả thì tuyệt vời:

Mình về mình nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
Tình tính tang là tang tính tình
Duyên tình rằng là duyên tình ơi
Rằng có nhớ nhớ ta chăng… ử ử ư ư…

Năm Sĩ cất giọng lâm ly pha chút ai oán, khiến tôi cũng nhớ lại vùng đất đầy kỷ niệm xưa. Hai Khởi cất giọng hài hước:

Ngọc Hoàng ngồi ngai vàng
Thấy con uống rượu hai hàng lệ rơi
Tưởng rằng con uống con chơi
Nào ngờ con uống con rơi xuống sình.

Năm Sĩ múa tay xoắn ngoáy trên đầu:

Thình thùng thình thùng thình.

Trẻ con và khách mua hàng đứng chật quán xem ông Bắc Kỳ hát. Một cậu nghịch ngợm hỏi:

– Ở ngoài bắc có “dộng cổ” không bác?

– Có chứ. Nhưng mà chèo thì phổ biến hơn. Này nhé nghe bác hát chèo:

Ới a… anh Dương Lễ Lưu Bình
Xưa kia kết bạn tâm tình ối a ối a

Bác ca “dộng cổ” được không?

– Được chứ, “dặn cổ bù loong”, này nhé.

Đêm khuya “oằn oặc” ánh trăng… ngà… oàng

Trẻ con cười ầm lên:

– Trăng “dàng” chớ trăng “oàng” là trăng gì?

Năm Sĩ chụp tay một cậu lôi lại gần:

– Cu mày học “nớp” mấy?

– Trường đâu có mà học, bác học lớp mấy?

– Bác học “nớp” hai. Nhà nghèo bỏ học đi chăn “nợn” cho người ta. 8 tuổi đã cưới vợ, còn học với chả hành!

Bọn trẻ lại cười ầm.

– Đó là nạn tảo hôn, trong Nam không có, nên các cháu không biết. – Năm Sĩ kêu cậu cần vụ đem bình toong thứ hai đến, đưa cho tôi, rồi giải thích- tảo hôn là con trai 8 tuổi cưới vợ 18 tuổi. Khi chồng 18 thì vợ đã già. Người ta cưới vợ cho con là để lấy người làm công việc nhà chớ đâu phải để hai đứa yêu nhau.

Rồi cất tiếng hát, tay ra bộ

Bà dằn bà dí, tí tẻo tí teo
Cái chân còng queo, t
ướng đi cà kheo

Trẻ con cười rầm. Tôi thấy Năm Sĩ cũng cười, nhưng sao mắt anh ươn ướt. Uống rượu thiệt với thịt chó tưởng tượng thế mà ba thằng lê dương nốc cạn 2 bi đông, còn mua thêm.

– Các cậu có đủ cả ở đấy, còn Tư Quân đâu – Bất ngờ Năm Sĩ hỏi.

– Ở trong kia- Bảy Ga trỏ tay.

– Trong nào?

– Nằm chung với Ba Lanh, Chín Hiển chớ trong nào!

– Hồi nào?

– Cũng mới đây thôi!

Như ai khơi trúng mạch lòng Năm Sĩ khóc ồ lên như trẻ con.

– Thằng con cả tao mới chết trên Trường Sơn. Hu hu. Nó ra đời khi bố nó đánh Hòa Bình, nên đặt nó là thằng Bình. Còn thằng này tên Lô vì bố nó đánh sông Lô. Nay thằng Bình chết rồi!

Thời buổi này là thế đó. Ở đâu mà không chết. Một trái pháo nổ giữa tiệc rượu là chúng mình bay. Đợi cho Năm Sĩ bớt xúc động, tôi hỏi:

– Ở ngoài ấy thơ vô à anh Năm?

Năm Sĩ trỏ cậu cần vụ:

– Thằng Lô này cùng đơn vị với nó ! Hai đứa đang học và cùng bị cưỡng bách tòng quân. (Tôi hiểu đám học sinh lớp 9-10 bị lùa đi Nam, dọc đường mới tập động tác quân sự). Nó đi được chục trạm rồi B quay, bị bắt làm khổ sai. Nó bắn vô chân để nằm lại luôn. Người ta đã làm gì nó, hở Lô?

– Lúc đó em đang đi vác gạo. Gặp nó mặt xanh lướt, người gầy rạc còn bằng cái tăm. Người ta bỏ đói nó. Em lén cho gạo. Nó nấu cháo húp. Xong nó mượn súng em, nói là đi bắn khỉ để cải thiện, không dè ra bờ suối, một chốc nghe súng nổ. Em ra thì thấy nó gục trong hốc đá. Người ta định thi hành kỷ luật bằng cách không chôn nó. Nhưng em xin phép đơn vị táng nó trong hốc đá ngay chỗ nó tự vận. Em cũng đã kiệt sức rồi, đào hố sao nổi. Không gì thì hai đứa cũng học chung mấy năm ở nhà. Em biết bác Năm vô trong này. May quá, đi Sài Gòn về, em còn sống gặp lại bác. Em muốn giấu chuyện kia, nhưng em không giấu được. Em kể hết. Kể xong, em ân hận. Tốt hơn đừng kể, thì bác làm sao biết được mà rầu?

Năm Sĩ rống lên, nước mặt nước mũi tràn mặt:

– Tớ chỉ có thằng ấy! Hỏng rồi. Đời tớ hỏng bét rồi. Ơi con ơi là con ơi !

Năm Sĩ càng uống càng nói văng tê. Tôi muốn khuyên giải nhưng không biết cách nào. Một thằng tướng cầm quân, mất hết quân. Một thằng bố có độc một ngoe con, lại mất nốt. Còn lại cái gì?

– Thôi uống đi anh Năm ! Dụng tửu quân giải phá thành sầu.

Năm Sĩ càng uống càng “địt” tợn. Địt mẹ, địt bố, địt luôn tiên sư nó, chúng nó bố láo. Bố láo thì biết. Nhung “Nó, chúng nó” là ai. Ai biết.

Tội nghiệp anh quá chừng. Sau lần đó tôi không còn gặp lại anh nữa.

Chương 125

Nàng Kiều giải phóng
và câu chuyện “bỉ” treo trên cành “ổi”

Thu Hà nói với tôi:

– Chỗ nào ở cũng không yên được một ngày. Chỗ nó vừa đánh mình đến ở, nó lại đánh ngoéo lại.

– Đất Củ Chi bây giờ thành bùn hết rồi em ạ.

– Vậy mình qua Trảng Bàng tạm trú một thời gian đi anh.

Rồi nàng quyết định không chờ ý kiến của tôi. Chúng tôi trở lại Lâm Vồ. Đây là một vùng đất giáp ranh Trảng Bàng-Củ Chi chưa bao giờ là bãi chiến trường. Trước đây tôi cũng đã từng để ý nhưng nó quá hẹp cho sự xoay sở một E. Vã lại, tôi biết Mỹ cũng “ghim” nó. Chúng để đó như một “đống chà” dưới sông chờ cá vào thị bao đăng xúc cả bầy. Thành thử chúng tôi không đến mà Mỹ thì làm ngơ như không biết, không bắn pháo!

Thu Hà đã chọn nơi này để đóng một cơ quan nhỏ không gây nhiều tai tiếng. Nàng trỏ một ngôi nhà lá ba căn núp gọn dưới tàng cây.

– Nhà má nuôi em!- Rồi đi qua mảnh sân nhỏ, bước lên thềm gõ cửa, kêu: – Má ơi! má, con về nè!

Còn tôi ngồi bệt dưới gốc cây cho cặp dò nghỉ ngơi sau một cuộc chạy việt dã vô tổ chức, bây giờ mới tỉnh hồn. Chúng tôi đội dưa hấu bầy trong lúc chiếc Honda đang phơi phới bay tưởng như sắp vào cảnh tiên. Bây giờ chắc chiếc xe còn nằm trong hố bom không biết đã bị du kích mần thịt chưa. Làm sao dám trở lại mà lấy xác. Mà có dám cũng không còn gì để đem về. Thôi, coi nó như là chiến sĩ trận vong.

Cánh cửa mở.
Tôi nghe tiếng nói chậm chạp:

– Con Hà đó hả ?

– Dạ !

Thu Hà vào trước. Tôi theo sau. Thu Hà nói với má:

– Đây là chồng của con. (Tôi hơi bỡ ngỡ khi nghe cái tiếng lạ lùng lần đầu tiên).

– Chị con đâu má? Thu Hà lại hỏi tiếp.

– Nó ở trong buồng.

Giọng má run run:

– Má có nghe con Hà nói.

– Dạ chúng con hứa với nhau đã 5 năm rồi nay mới gặp đó má – Thu IIà đáp.

Tôi thêm:

– Dạ, con gặp Thu Hà ở ngoài Tam Biên ở trên Trường Sơn.

– Dạ, Tam Biên ở tuốt ngoài đó lận má à. Thu Hà tiếp

Má đứng sững sờ:

– Thời buổi này có vợ có chồng cực quá ! Cứ chạy hoài chớ không ở được một chỗ.

Rồi má thở dài: – hai đứa nó có con 4, 5 tuổi mà có ở chung được mấy ngày đầu Để má bảo nó nhường buồng cho hai vợ chồng con.

Thu Hà nói:

– Hổng sao đâu má. Chúng con ăn bờ ở bụi quen rồi, chỗ nào mà không xong.

– Vợ chồng thì phải có buồng kín đáo chớ, con nói vậy sao được!

Rồi má đi vào, một lúc trở ra, nói:

– Tao kêu nó ra cho vợ chồng bây biết mặt, nó nói bây giờ khuya rồi, thôi để mai.

Thu Hà nói:

– Má để chúng con ra ngoài chòi có hầm. Vừa ở vừa làm việc luôn. Trong nhà người ta tới lui chộn rộn.

Nghe nói vậy, má không cản nữa. Và tôi cũng lấy làm mừng vì thò cái mặt ra lúc này cũng chẳng vinh quang gì. Tôi muốn được yên ổn, Thế là tôi và Thu Hà ra sau vườn xây tổ uyên ương. Kể ra thì đây cũng ấm áp lắm. Thời buổi này một người như tôi có yêu cầu gì hơn một cái hầm để chui, hai cây cột để mắc võng và mỗi ngày hai bữa ăn. Cơm thì trong nhà nấu sẵn, cứ tới bữa Thu Hà vào bưng ra. Cuộc sống chui rúc của chúng tôi khá hơn cảnh “ngồi thum” một chút và gần giống như đám đặc công F100 sống vất vưởng trong vựa lúa của Tám Râu, chỉ khác là chúng nó bị thương. Nhờ có tiền của cô hậu cần, chúng tôi sống vững hơn đám F100 của nàng Kiều.

Một hôm nhà có giỗ Thu Hà nói với tôi:

– Má bảo anh vào nhà ăn cơm. Má không có mời khách.

Tôi vẫn giữ thói quen bí mật. Nàng chìu ý tôi nhưng cố ép nào:

– Vậy anh vào phụ với em bưng đồ ăn ra.

– Em lấy cái mâm mà bưng. Một lần không hết thì hai ba lần.

Nàng không thể kỳ kèo với tôi được nữa, đành phải làm theo ý tôi. Thức ăn quả là nhiều. Chúng tôi phải trải cả tấm ni lông để dọn ra vừa làm mâm vừa có chỗ ngồi.

Lúc ở nhà Tám Râu tiệc tùng, dao nĩa rượu trà sang trọng bàn ghế bóng loáng chả bù bây giờ ngồi dưới đất. Khi ăn còn ngó dáo dác sợ có người bắt gặp.

Hai đứa vừa ăn thi bỗng có tiếng kêu:

– Hà ơi Hà vô đây bưng nước mắm.

– Ây chết! Em quên nước mắm!

Rồi Hà đứng dậy mau mắn chạy vô. Tôi nhìn theo, thấy xa xa dạng một người đàn bà quen. Vừa thấy tôi nàng liền quày quả trở vô. Trong lúc ăn, tôi hỏi Hà:

– Em quen với gia đình này hồi nào vậy?

– Đây là do cơ sở giới thiệu. Ban đầu bác Mười Bị ở, nhưng bác thấy chị… con của má may máy nên muốn nhường cho em để em vận đông chị ấy may cho Hậu Cần.

– Chị ấy tên gì, em biết không.

– Em có hỏi má và chỉ, nhưng cả hai không nói, bảo cứ kêu chị là được rồi. Em nhận chỉ làm chị và nhờ chỉ may quân phục cho mình. Thấy chỉ may rành rẽ và khéo tay, em hỏi, bộ trước kia chị có may loại quần áo này hay sao? Chỉ nói là quần áo thì cũng giống giống nhau nên chỉ may dễ dàng chớ không từng may loại quân phục này cho ai hết. Chỉ còn đoan chắc chỉ không biết quân nhu là gì.

Nghe Thu Hà thuật lại tôi sinh nghi. Một hôm tôi kiếm cớ vào nhà thì gặp nàng đang nấu cơm sau bếp. Nàng nhìn thấy tôi thì trố mắt suýt kêu lên. Tôi cũng vậy. Tôi khựng lại rồi quay trở ra. Từ đó tôi không vô nhà nữa.

Tôi và Thu Hà xa nhau ngót 5 năm, nhưng gặp lại nàng cũng không kể cho tôi nghe nhiều về những gì đã xảy ra ở Mã Đà Sơn Cước. Tôi cũng thế. Khi nào hòa bình thì người ta mới nhắc lại chuyện chiến tranh để mà tự hào, chớ chiến tranh còn đang rừng rực thì có vui thú gì mà nhắc chuyện chiến tranh. Nó ở ngay bên mình đó, chớ có xa xôi gì mà nhắc. Thu Hà chỉ nhắc có một chuyện, đó là chuyện của nàng (Hằng) Nga vốn là y tá của Tư Chuyền lên R học y sĩ. Hà từ Tam Biên về học lớp này và có chân trong đảng ủy nhà trường. Một chàng y sĩ ngoài Bắc vào quơ được nàng Nga. Chưa cưới hỏi mà đã mang bầu tâm sự, nhưng khi điều tra để xử lý thì biết ra chàng kia đã có vợ có con. Người anh của nàng phản đối kịch liệt khiến cho chàng nọ phải bị khai trừ đảng còn nàng phá thai.

Sỡ dĩ nàng kể chuyện cho tôi nghe vì hồi đó, Nga có tâm sự với nàng: Phải lúc ở Củ Chi anh Lôi chịu cưới em thì em đâu có ra nông nỗi này ! Thu Hà kể lại cho tôi nghe là để “cảnh cáo” tôi ràng những chuyện bí ẩn khác của ông Thiên Lôi nàng cũng nắm được ít nhiều. Và tôi cũng tỏ ra phục thiện:

– Đó là chuyện quá khứ, kể từ nay anh chỉ có có em!- Tôi nói.

Chúng tôi muốn sống một cuộc đời ngoại càn khôn, lánh xa trần tục.

Một đêm không ngủ được, tôi ra ngồi ngoài góc hầm tựa lưng vào vách hầm hút thuốc và nhìn bốn phía. Đồng Dù, Trung Hòa… ban đêm thì cứ bổn cũ soạn lại y nguyên. Sống ở Củ Chi thì hãi hùng thế mà sau khi xa nó thì lại nhớ. Có phải chăng là nhớ anh em? Nhớ cái bếp, nhớ 2 thằng cu con thân thiết không lúc nào rời tôi? Không có 2 đứa nó, tôi thấy lạnh lẽo thế nào!

Bỗng tôi nghe tiếng người ri rỉ giữa vườn. Tôi lắng tai nghe hồi lâu rồi dụi điếu thuốc, rón rén đi về phía có tiếng khóc. Càng lúc càng gần. Ban đêm không trông rõ gì hết chỉ thấy những bụi cây đen lù.

Tiếng khóc to lên, nức nở, rồi tiếng than lạnh lùng:- Ba con Lệ à ! Sớm muộn gì anh cũng biết chuyện này… Em xấu hổ quá. Em không muốn sống làm gì. Nếu anh về thì em giao con Lệ lại cho anh. Còn anh chết rồi thì em xin theo anh. Hu hu! Hức hức.

Tôi quay trở vào chòi lấy cây đèn pin. Thu Hà quờ không đụng tôi, nàng chạy đi tìm. Nàng quất đèn pin khắp nơi. Tôi giật chiếc đèn trên tay nàng chạy một mạch về phía có tiếng khóc. Một người đàn bà treo cổ trên một cành cây, tay chân còn quơ lia.

Thu Hà chạy đến, miệng kêu bài hãi thất thanh.

– Chị ! Chị !

Tôi ôm hai chân nạn nhân nâng lên. Thu Hà với tay mở mối dây ở cổ nàng. Chúng tôi đem được nàng xuống đất. Thu Hà chạy vào nhà vừa kêu to vừa đập cửa. Theo phong tục cũ, chúng tôi không dám khiêng chị vào nhà. Tất cả chỉ xảy ra trong chớp nhoáng.

Thu Hà chạy ra chòi lấy túi y tế trở vào xoa bóp, tiêm chích với bàn tay chuyên môn của một y sĩ cấp cứu. Hồi lâu, người đàn bà tỉnh dậy. Nước mắt trào ra hai bên khóe. Tôi đã từng thấy đồng đội hi sinh ngay trước mắt, lúc xung phong, từng thấy hàng trăm xác đồng đội xếp hàng bên nghĩa trang chờ mai táng. Cả những trường hợp thảm khốc như Năm Tiểu vừa rồi. Có lẽ tôi đã lỳ. Thần kinh không cỏn cảm xúc nữa, không biết sợ. Nhung lần này tôi sợ, không có máu lửa mà tôi run. Một người đàn bà tự tử. Mà thắt cổ.

Từ khi tôi chạm mặt nàng , và nhận ra nàng là ai, thì tôi lẩn tránh luôn vì cảm thấy mình có tội. Tôi không muốn cho nàng biết có người rõ chuyện xưa của nàng. .

Trời ơi! Chuyện đã qua và tưởng đâu đã vùi lấp trong cái dĩ vãng đa đoan của tôi Nào ngờ hôm nay nó sống lại trong tai nạn của người đàn bà.

Bạn đọc hãy còn nhớ tên nhà báo quốc tế tên Bọ Chét được “Hồ chủ tịch” tiếp ở Phủ Toàn Quyền Hà Nội rồi đưa vào Nam coi giải phóng quân đánh Mỹ”? Hắn đã đến đây: Củ Chi đất thép… thành bùn. Và chính người đàn bà này đã phải đem thân phục vụ hắn theo lệnh của Quân khu và sáng kiến của xã ủy An Phú.

Sau khi “hoàn thành công tác”, nàng trốn biệt. Người ta đồn nàng ra Sài Gòn, kẻ nói nàng đi tu, nhưng sự thực thì nàng lánh mặt bằng cách đổi tên và lẩn đi một nơi không ai biết nàng: Lâm Vồ . Vẫn may mướn như xưa nhưng nàng sống dật dờ như một cái bóng. Nàng chui rúc trong buồng không dám gặp ai. Khách đến đặt đồ thì bà má nhận hàng rồi giao lại cho con với lý do “nó đi vắng!”

Cho đến một hôm nàng ngồi trong buồng nghe một người khách hàng kể lể với bà má:

– Người ta đồn ai đi Bình Long Phước Long đều chết hết. Đâu mà chết hết! Đặt chuyện? Như ở Lâm Vồ này đi 10 người. Người ta đồn chết hết, chết có 9 người thôi, còn một người về kia cà. Nhưng mà tội nghiệp. Về tới nhà thì vợ đã lấy chồng. Không phải nó phụ bạc gì, mà nghe tin chồng chết. Nó chờ 2 năm rồi làm tang, xin cha mẹ chồng cho phép tái giá. Đàn bà mới hăm ngoài ở vậy sao được…

Nhưng vừa rồi thằng nọ lại về. Có ai tin được. Vậy mà thiệt. Về làm chi khi vợ đã lấy chồng.

– Rồi làm sao?

– Nghe nói thằng kia phẫn chí đi ra Sài Gòn.

– Cách mạng phá nát gia cùng người ta. – Má buột miệng nói.

Người con gái của má nghe rõ câu chuyện. Câu chuyện làm cho nàng càng âu sầu ủ rũ. Một hôm nàng nói với má: “chắc con không sống nổi má à”.

Má gạt ngang:

– Mày ráng nấn ná vài năm nữa coi nó có sống sót mà về không?

– Ba con Lệ không về, con cũng chết, mà về thì con càng chết lẹ má à!

Quả thật, hôm nay nàng thất cổ. Nhưng may (hay rủi) có người cứu sống, nhưng nàng lơ láo như kẻ mất hồn.

Bà Má đi tìm thầy pháp truy hồn truy vía, nhưng trong vùng giải phóng không có thầy pháp. (Tôi nhớ vụ lên đồng của Tư Bính, nhưng Tư Bính đã chết, không ai biết thầy nào.)

Bà Má bắt con gà đút vào cái vòng toòng teng trên nhánh ổi thắt lại cho chết, ý là để thay thế mạng người được còn sống. Nếu không làm vậy, ông Thần Vòng sẽ đòi mạng và có thể một người nào đó trong nhà sẽ đút cổ vào vòng để thế mạng.

Người đàn bà bất hạnh phát lên đau. Thu Hà săn sóc tận tình nhưng không khỏi. Rồi nàng qua đời. Thu Hà nói với tôi:

– Em sẽ trả tiền Tuất cho má . Coi như chị đã anh dũng hi sinh ở chiến trường.

– Ờ sáng kiến đấy! – Tôi đáp lấy lệ.

Chương 126

Những chuyện đời chưa thấy

Đồng Dù như cái quạt xòe ra, mỗi đạn đạo là cái nan vô hình chĩa vào các cứ điểm của Việt Cộng không sót một nơi nào. Tính từ đường 1 Làng trở lên Trung Hòa từ Phước Hiệp ra tận mé sông Sài Gòn thì có: Bàu Tre, Ba Xa, Truông Viết, Trảng Cấm, Bàu Chứa, Bàu Tròn, Bàu Lách, Bàu Trăn, Ba Gia, Bến Đình, Bến Cỏ, Ngã Ba Cây Trắc, Bến Nẫy v.v…

Từ đường 1 Làng trở xuống, trước kia có một số vùng tranh chấp nên Mỹ không bắn, nay trở thành khu oanh kích tự do. Đồng Dù hủy diệt cả Rạch Cây Da là điểm pháo của Bình Dương, nơi ông Phó Tư lệnh R Chín Vinh mới bị một loạt 175 đã són trong quần. Mỹ nó biết đánh giặc chớ ông Phó?

Tôi và Thu Hà sáng nào cũng ngồi chờ chụp. Nếu nó chụp chỗ khác rồi chúng tôi mới yên tâm sống vài tiếng đồng hồ trong Hòa Bình. Nhung lắm khi chúng chụp một lúc hai ba điểm, hoặc nhảy cóc liên miên. Mới thấy nó đổ xuống Bàu Lách mình ở Bàu Cạp, tưởng đã yên thân, thì chúng lại xúc quân ở Bàu Lách đổ xuống Ba Xa. Rồi từ Ba Xa vọt lên Gót Chàng. Đó là chưa kể xe tăng và pháo yểm trợ. Ngày xưa các chiến tướng không rời giáp, ngựa chằng rời yên, ngày nay lính GP ăn cơm cũng đeo súng. Hở là máu đổ, hở là đem chôn.

Cuộc sống xoay như chong chóng.

Thu Hà mệt lả. Nàng tưởng về Củ Chi có thể dưỡng sức nào ngờ ở đây còn mệt hơn. Ở Tam Biên tuy uống nước suối, bị muỗi đòn xóc chích (3 phát là run eng), nhưng nằm trùm chăn rên mà không sợ gì khác, ngoài B52. Còn ở đây chỉ kém sốt rét còn các khoản đưa đến cái chết thì không đâu bằng. Bom pháo, biệt kích, mìn bẫy, xe tăng, đổ chụp lớn nhỏ… .không kể đêm ngày. Những kẻ sống sót thất thểu ở khoảng trống giữa hai làn đạn.

Một hôm chạy mệt lả, kiệt sức, Thu Hà bảo tôi:

– Sao anh không qua đóng ở Tầm Lanh thử ít ngày xem?

– Em cũng biết Tầm Lanh nữa sao?

– Biết chớ. Em xem bản đồ thấy nó ở gần suối Bà Cả Bảy, cây cối xanh tươi mát mê lắm!

– Nhưng em chưa biết lịch sử của nó đâu. Từ Lâm Vồ qua đó chừng 3 tiếng đồng hồ cuốc bộ. Nếu mỏi chân thì ghé Ràng uống nước đá rồi qua Tầm Lanh.

– Bữa nào tình hình êm, em với anh đi uống nước đá một bữa!

– Vậy từ về Củ Chi tới nay em chưa “hủ hóa tiểu tư sản” à?

– Em có uống một ly xi-rô nhưng em thích uống nửa ly, anh uống nửa ly. Em thích anh ăn nửa tô bún còn nửa tô đưa cho em. Vậy đó anh hiểu chưa?

Tôi hiểu rồi. Tôi cũng muốn như vậy. Nhưng làm sao tôi nói với nàng rằng hiện nay Tầm Lanh là bãi tha ma. Ai cũng sợ ma Tầm Lanh nhát. Ai qua đây, phải chạy chớ không dám đi, vì con ma đầu trọc. Đó là Ba Lanh Ev E88 của Năm Sĩ. Ban Chỉ huy E chỉ sống sót có một mình Năm Sĩ.

Tôi hỏi nàng:

– Em sợ ma không?

– Em không tin dị đoan.

Nhiều lần bị chụp rát, nàng cứ đòi xuống địa. Nàng thiết tha:

– Ở trên Trường Sơn em nghe đài giải phóng nói Củ Chi có hằng trăm cây số địa đạo, có phòng đọc sách, có bệnh viện giải phẫu óc, có nhà thương sản phụ, có câu lạc bộ cho bộ đội xem văn công… em mê quá. Em định bụng về đến nơi thế nào em cũng xin đi nằm bệnh viện vài ngày để dưỡng sức.

Tôi tiếp:

– Địa đạo Củ Chi hiện nay đang phát triển mạnh. Nó luồn qua cả sông Sài Gòn đến Bến Cát đó em. Để hôm nào anh sẽ đưa em qua sông chơi.

Thu Hà phấn khởi tiếp:

– Đài giải phóng còn nhắc lai lịch địa đạo Củ Chi hồi kháng chiến chống Pháp.. Hồi đó làng nào cũng có địa đạo. Mỗi lần Tây vô ruồng là đồng bào xếp hàng đi xuống địa đạo, nhiều gia đình đem theo cả heo gà để khỏi bị Tây bắt.

Tôi gạt ngang:

– Heo gà mà nói làm chi. Cả trâu bò nữa cơ đấy.

– Thế à. Trâu bò cũng xuống được à?

– Từ cơ sở cũ, bây giờ địa đạo mới bung ra thênh thang, nhiều chỗ có kho lúa nông nghiệp. Nay mai sẽ có chợ chồm hổm, sân banh, trường học nhà giữ trẻ, mà hổng biết chừng có cả xe bò vận tải gạo ở dưới đó nữa.

Thu Hà vỗ tay reo:

– Vày nay mai, em sẽ xin ở trên cấp cho em một phòng để may quân trang cho bộ đội.

– Rồi đây ban địch vận hoạt động mạnh, lính Mỹ sẽ đào ngũ đem quần áo về cho mình xài đâu có hết! Mới vừa rồi anh tặng cho nông hội mấy xe bò đồ “trây di.”

Thu Hà chắt lưỡi:

– Em nghe anh nói em mê quá. Chừng nào anh cho em tham quan địa được?

– Anh sẽ đưa em qua sông Sài Gòn bằng đường hầm dưới đất cái. Bên đó em sẽ gặp ông Hai Quợt bí thư quận Bến Cát. Ông ta sống liền tù tì dưới địa 6 tháng trong lúc trên mặt đất bom đạn và lính Mỹ tàn phá không còn một ngọn cỏ. Cả mấy làng đều trở thành bãi tro than. Thế mà ổng vẫn sống nhăn.

Thu Hà hỏi:

– Mỹ nó không dùng B52 sao anh?

– Có chớ sao không ! Nhưng bom rơi trên lưng địa chẳng khác nào banh vồng trên sân cỏ. Trái nào nổ cũng chỉ sâu vài thước, còn mình ở tuốt dưới… , ăn thua gì!

– Em nghe nói bom khoan sâu từ 6 đến 12 thước mà sao không ăn thua.

– Tầng 3 địa đạo sâu 16 thước. Nếu có rắc ngay thì mình chỉ hơi nhức đầu, uống 2 viên aspirine là khỏi thôi.

– Ủa có tầng 3 nữa sao anh?

– Có chớ. Tầng 1 , tầng 2 và tầng 3. Khi tầng 1 bị tấn công bằng hơi độc hoặc súng phun lửa thì mình rút xuống tầng 2 đậy nắp lại. Nếu tầng 2 bị tấn công mình sẽ rút xuống tầng 3 nghỉ ngơi lấy sức rồi luồn lên tổng phản công lại.

Thu Hà hỏi:

– Nếu nó tấn công luôn 3 tầng thì mình làm sao anh?

– Thì mình bố trí hỏa lực chống lại. Trời! Đánh địa đao chiến khỏe lắm. Lính Mỹ là một tụi gà tồ không biết gì cả. Hễ chúng nó mò xuống thì các cô dũng sĩ lụi hết chớ đâu có tới bộ đội . Cả xe tăng cũng thế mà ! Bắn hạ chúng xong, du kích chui xuống địa đạo, tụi sống sót biết nơi nào mà tìm. Thế là nó bỏ xác xe tăng cho mình cạy gỡ đem về nấu thép chảy bằng nồi om đúc ra lựu đạn. Tụi thằng Năm Cội, con Tư Gừng chế tạo mìn nội hóa là nhờ xác xe tăng đó chớ.

Thu Hà nghe tôi “kể” chuyện về sự kiến trúc địa đạo mà mê tơi. Nhưng khổ cho tôi là nàng cứ nằg nặc đòi xuống tham gia địa như nhà báo ngoại quốc nọ. Tôi cũng khất lần cho qua truông cho đến mấy tháng sau xẩy ra trận Vườn Trầu.

Bỗng một hôm nàng bảo nhỏ tôi:

– Em tắt kinh rồi anh ạ !

Tôi chờ đợi câu nói này từ lâu. Nhưng khi nghe nàng bảo, tôi vẫn ngạc nhiên:

– Em… em… lâu chưa?

– Tháng rồi.

Tôi mừng vô cùng. Sắp được làm cha. Mình sẽ hôn con mình, không phải hôn khín con ai. Với cái bụng bầu nàng không thể qua lọt miệng hầm. Đó là lý do duy nhất để tôi từ chối không đưa nàng xem địa. Nhưng nàng lại bắt tôi phải xin cho nàng một nơi để gởi con sau khi sanh. Ối! chuyện đó còn lâu, để đó anh lo. Thế lại qua truông.

Rõ các bà hậu cần ngây thơ thật! Cũng như lão Tư Kẹt ngố! Nhưng nhân loại cũng ngây ngô có kém gì. Là do ngòi bút của bọn báo biếc bất lương lô-can lẩn quốc tế.

Trong tiếng pháo Đồng Dù , Trung Hòa, trong tiếng bom nổ rung đất, dưới ánh sáng hỏa châu, đèn trực thăng soi, chúng tôi tìm một nơi an toàn trên mặt đất có thể dùng làm chiếc nôi cho đứa bé sắp ra đời. Tôi chợt nghĩ tới Sáu Hùm và cô dũng sĩ Bảy Bánh Ú nay đã buông súng để nâng bầu sữa nuôi con. Thằng bé sống trong cái hang đất. Tôi nhớ đến cô mụ giải phóng Tám Mang không biết giờ này ở đâu? Vườn Trầu hay Ba Xa. Suốt đời đi đẻ cho người khác rồi đến phiên cô ai đẻ cho. Đời bất công lắm vậy!

Tôi nhớ những đứa bé gọi tôi bằng “ba” ngọt. Bé Rớt, Bé Liên, Bé Hoàn, Bé Tiền.

Tôi hiểu nỗi đau khổ của nhũng người đàn bà mất chồng một lần rồi hai ba lần trong đời.

Thu Hà rất thích thú khi cầm tay tôi đặt lên hông no tròn của nàng và hỏi:

– Anh có nghe gì không? Con máy mạnh lắm. Chắc trai!

Và tôi thấm thía câu văn của Ilya Erhenbourg văn hào Nga: “Trong chiến tranh những cặp vợ chồng không dán đẻ con, không dám làm nhà “. Thế mà tôi rất sung sướng vì sắp có con ở đây: Củ Chi lửa đạn bời bời. Tôi và Thu Hà bàn luận đặt tên con, một cái tên mặn như muối Trường Sơn, nâu như đất Củ Chi và mát như con sông quê hương Tân Bửu của hai đứa tôi. Tôi khác hơn với Sáu Lức. Từ khi có tin mừng, tôi thấy nhát bom đạn, không xông xáo nữa.

Chơi với lửa đã nhiều, bây giờ sợ lửa.

Cuộc đời cứ mãi mãi là chuyến xe đêm. Bao nhiêu cơ hội tốt lành đã qua. Năm 1954, Trần Bá Xài đem tôi về nhà nhạc phụ ở Cạnh Đền, định gả cô em vợ cho nhưng lại phải đi tập kết. Ở bến tập kết gặp lại người bạn thời thiếu sinh quân, có gương mặt giống Đức Mẹ, hai đứa chỉ chào nhau rồi đi. Ra Hà Nội gặp Ánh Tuyết, ngồi với nhau cả đêm ở vườn hoa Canh Nông, rồi anh về Nam, em đi Trung Quốc. Rồi làm bạn với cô bé sinh viên dược con ông tướng Râu Kẽm v.v…

Trước khi vô Trường Sơn, tôi được biệt phái qua dạy động tác quân sự cho một đoàn dân chánh. Ở đây tôi lại quen với một diễn viên đoàn ca múa Hà Nội. Hai bên cùng thề nguyền sẽ làm lễ thành hôn khi về đến quê nhà .

Chuyến này đôi uyên ương cùng hội cùng thuyền, không có lý gì chia cắt nữa. Nhưng rồi khi đến ngã rẽ xuống Bác Kế – đường xuống khu 5- thì nàng được lệnh về phục vụ Quảng Nam. Thế là chúng tôi phải gạt nước mắt chia tay. Trên đường xuống Quảng Nam, đoàn bị phục kích ở Eo Máu. Nàng bị một mảnh đạn nhỏ, đáng lẽ không chết mà chết.

Chúng tôi mơ một viễn ảnh huy hoàng. Nàng sẽ biểu diễn trên sân khấu Sài Còn giữa ánh sáng chiến thắng. Tôi mặc quân phục giải phóng quân đón nàng. Hai bên cha mẹ sẽ ôm con mừng rỡ xiết bao và sẽ tác thành cho đôi trẻ.

Lúc chia tay nàng trao tất cả hình ảnh của nàng đi biểu diễn nhiều nước trên thế giới, cái thì múa quạt, cái thì múa xòe, cái thì chèo thuyền trên sông Danube, cái thì tắm biển ở Krimee. Nàng còn đưa cho tôi một kỷ vật và dặn không được đánh mất. Đó là đôi giày trẻ thơ nhỏ xíu nàng mua ở Trung Quốc: “Chúng ta sẽ có con…”

Rồi nàng cắt cho tôi một mép tóc.

Nhưng rồi giấc mộng đã vỡ tan. Kẻ đi Quảng Nam không bao giờ còn đặt chân về quê chồng nữa. Còn chàng về quê chỉ với mép tóc Vũ Phương Thảo – người con gái có đôi chân tuyệt đẹp với phép thần đạp lùi cả ngàn dặm núi rừng.

Tất cả những gì nằm trong tay đều đã tuột đi hết. Con người của tôi có duyên mà không có nợ. Bắt đầu thì tươi sáng, nhưng kết cuộc thì tối om.

Tôi ngỡ là không bao giờ chuyến xe đêm còn trở lại rước ông khách lạc lõng này ở giữa chốn bụi đời. Từ sau hôm đó, tôi chỉ còn một giấc mơ: đặt chân lên quê nhà, gặp lại cha mẹ và các em. Nhưng đến Mã Đà, thì làm quen với Thu Hà.

Ở đây nằm lểnh nghểnh những bệnh nhân đủ loại. Tôi có cảm tưởng tất cả bệnh tật của thế gian đều gom lại vùng rừng núi này: sốt rét, đau bao tử, đau gan, phù thũng, tê bại, mù lòa, ghẻ lở, không thể kể hết những chứng bệnh do đói rét gây ra. Một thằng bạn đoàn viên trong đoàn của tôi, Trần Chánh Lý, phó phòng tăng đang đi bỗng xin ngồi nghỉ “một chút”. Tôi chờ nó đúng “một chút” đến kêu nó đứng dậy đi. Thì nó đã chết. Một chút đã trở thành thiên thu. Cả đoàn phải dừng lại để chôn nó bên đường. Chưa đến Mã Đà mà anh hùng đã tận.

Nhiều ông già bướng bỉnh xin về Nam cho được. Đi chưa đến 10 trạm đã nằm và không bao giờ đứng dậy. Nhiều ông già không đi được nữa, cố lết gần đến ranh Bà Rịa bảo anh em “khiêng cho tao qua đất Bà Rịa rồi tao chết: Tao đã đến đất mình!”

Trái tim đau cần thuốc trị. Dòng sông cần đò ngang. Thuốc trị và đò ngang của tôi: Thu Hà.

Tôi gặp Thu Hà như một định mệnh. Một người con gái cùng quê. Chính bàn tay của nàng đã là phép lạ nâng gót tôi đi qua khỏi Mã Đà Sơn cước anh hùng vận. Hôm nay, tôi đang sống với Nàng trên đất Củ Chi mà cứ ngỡ là mộng.

… Suối tuôn bọt trắng xoá dưới chân. Nàng đã đi xuống giữa lòng suối, quay lại ngoắc tôi. Tôi ngập ngừng mãi mới bước theo. Nàng chụp lấy tay tôi, kéo ập vào nàng, rồi hai đứa trửng giỡn với nhau như trẻ con. Khi yêu nhau người ta trở thành trẻ con- dù ở tuổi nào. Cát hai bên bờ nâu non mịn màng. Chim hót véo von bên bờ cây xanh rợp bóng.

– Anh sợ nước à!

– Không sợ gì hết.

– Sao không dám lặn. Nào có lặn đua không?

Rồi một tay nàng bịt mũi tôi, một tay nàng tự bịt mũi nàng – Hai đứa cùng lặn. Đứa nào trồi lên trước phải thua. Tôi thua nàng.

Nàng bảo:

– Tắm cho đã đi ! Về trên An Điền không có suối đâu mà lặn. Chỉ có nước giếng và măng le thôi.

Rồi nàng đưa tay ôm choàng lấy tôi để hai đứa cùng hụp xuống. Tôi bị nước vô lỗ tai và không tắm tiếp nữa, leo lên bờ. Nàng chạy theo dỗ dành. Tôi mặc quần tiều còn nàng thì mặc đồ tắm biển. Nữ sinh đi kháng chiến còn vương bụi đô thành. Chúng tôi bẻ lá làm ụ như ổ heo rừng nằm với nhau dưới nắng và nhắc các bạn cũ ở trường. Nàng bảo: mình giống như đôi tân hôn đi hưởng tuần trăng mật ấy nhỉ? Tôi hỏi trăng mật là gì? Nàng nói riêng Pháp tôi mới hiểu, à ra thế. Con trai bao giờ cũng chậm tiến hơn con gái về điểm này.

Chúng tôi đã công tác chung với nhau hơn một năm. Nay cơ quan chia đôi và dời địa điểm, phải xa nhau. Nàng đứng dậy chào tôi, vụt di, không bắt tay cũng không từ giã. Tôi nhìn theo dáng nàng đi xa dần lẫn trong lá xanh rồi khuất. Làn da ngà còn lưu lại chút dư hương. Tôi nghẹn ngào kêu lên:” Cúc! Cúc!” và chạy đuổi theo.

– Anh kêu ai vậy? Tiếng Thu Hà bên tai.

Thì ra là một giấc chiêm bao. Thu Hà hỏi:

– Anh gọi Cúc nào?

– Anh có gọi Cúc nào đâu?

– Anh mới vừa gọi. Nãy giờ em đâu có ngủ. Anh nói gì em đều nghe cả mà!

Tôi ậm ờ một chốc rồi nói:

– Ờ ờ, anh nhớ ra rồi. Sáu Cúc, Phó ban Quân Báo khu ấy mà.

– Anh nằm chiêm bao gặp ổng à?

– Hồi trước anh liên hệ công tác luôn. Ảnh chết rồi. Anh thấy ảnh đầu cổ máu me đầm đìa nên anh la hoảng.

Thu Hà bảo:

– Em tưởng cô Cúc nào chớ !

– Anh không có Cúc, Hồng, Lan, Huệ nào hết, chỉ có Thu Hà thôi.

Thế là qua truông – Tôi vội vã bắt sang chuyện khác:

– Mấy ông lên Cao Miên hết cả rồi. Hay là em về nhà ở với má được không?

– Cái bản mặt em đã vắng ở làng 4-5 năm rồi. Bà con đều biết em đi đâu?!Làm sao mà về được? Lỡ có bề gì liên lụy với gia đình hai bên.

Tôi nói:

– Nếu ở đây thì ở đâu?

Tôi có nghĩ đến nhà Tám Râu. Nhưng về tá túc ở đó thì lại đụng đầu nàng Trúc Mai. Rồi không sớm thì muộn sẽ đổ bể.

Thu Hà nói:

– Ông Hai Tốt đã ôm một bao bạc ra Sài Gòn. Ông ấy thuộc hệ thống hậu cần. Em không biết ổng nhưng biết đâu ổng biết em. Về ngoại rủi đụng đầu ổng làm sao? Thôi thà ở đây sống chết có nhau. Em đã vượt qua bao nhiêu sông suối, bom đạn để về tìm anh. Bây giờ đang sống với nhau lại xa nhau rồi chừng nào gặp lại?

Ông Tham mưu trưởng Trung Đoàn đã từng bày binh bố trận, từng chuyển bại thành thắng, từng bao phen mạo hiểm đánh Mỹ, nay trước một bài toán nhỏ gia đình mà đành vô kế khả thi.

– Em muốn sao anh nghe vậy!

Thu Hà cầm tay tôi đặt lên hông nàng:

– Chúng mình sắp thêm một nhiệm vụ mới.

Chương 127

Đài giải phóng tiếp tục rao:
ai muốn bán lúa giống …?

Cô bé phát ngôn viên đọc như nước mưa tuôn xuống cống:

Tin miền Nam chiến thắng:

Thính giả thân mến:

Cuộc tổng tấn công của Quân Giải Phóng đang bước sang giai đoạn 3 ở Miền Nam với những chiến thắng vô cùng rực rỡ. Trước khi đi vào bản tin sốt dẻo, chúng tôi xin nhắc lạ những chiến thắng hồi đầu Xuân 1968 đợt 1 của cuộc tấn công:

– Quân Giải Phóng đã chiếm Bộ Tổng Tham Mưu Ngụy Sàigòn và làm chủ tình hình nơi này trong 12 ngày liền khiến cho quân Ngụy như rắn mất đầu. Nhiều đơn vị đã làm binh biến và kéo ra hàng quân Giải Phóng. Hiện nay quân Ngụy đã tê liệt chiến đấu hoàn toàn và tan rã từng mảng lớn.

– Quân Giải Phóng đã chiếm đài phát thanh Sài Gòn ngưng mọi chương trình của đài nầyvà thay thế vào đó tiếng nói của đài Giải Phóng.

– Quân Giải Phóng đã đánh sập tòa đại sứ và các cơ quan viện trợ Mỹ. Tên đại sứ Mỹ đã phải lủi trốn hoặc đã chui sang sống nhờ ở các tòa đại sứ đế quôc. Tất cả những cư xá của lính Mỹ đều bị san bằng hoặc tấn công nặng nề. Lính Mỹ càng có dịp phản đối chiến tranh. Một lính Mỹ đòi hồi hương bị treo trên trực thăng bay đến chết.

Sân bay Biên Hòa bị hư hại nặng nề không còn hoạt động được. Một phần lớn sân bay đã bị quân Giải Phóng chiếm đóng. Đến nay các loại phi cơ đều nằm ụ, không thể cất cánh.

Thính giả thân mến:

Quân Giải Phóng dưới sự lãnh đạo của mặt trận Giải Phóng đứng đầu là Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ đang phát huy chiến thắng Mậu Thân, thừa thắng xông lên lập thành tích biến đau thương thành sức mạnh trước cái chết của chủ tịch Hồ Chí Minh vô vàn kính yêu.

Bỗng con chuột lông vàng khè chạy vọt qua chiếc ra-dio làm đứt làn sóng điện. Giọng nói tắt ngấm. Thu Hà mò bắt trở lại: khè khè xè xè…

Sau đây là tin chiến thắng mới:

Quân Giải Phóng vừa đột nhập căn cứ Đồng Dù của Sư đoàn 25 Mỹ ở Củ Chi. Đây tà những tên lính hung ác nhất trên chiến trường Miền Nam. Quân GP đánh hỏng giàn pháo, phá sân bay và một số kho tàng đạn dược làm cho bọn xâm lược vô cùng điêu đứng. Chúng tôỉ xin nhắc lại năm 1965 anh hùng du kích Nguyễn Văn Cội đã từ địa đạo trổ ngách lên căn cứ này đánh tan xác 13 xe tăng và bắt sống một tiểu đội lính Mỹ, bắt chúng lái xe ra khu Giải Phóng. Chiến công này làm cho quân Mỹ co cụm không dám càn ra các xã lân cận như trước nữa. Cho đến nay căn cứ Đồng Dù như một cái xác không hồn nằm giữa khu GP. Năm 1966 một đội cảm tử đã chận đánh và tiêu hủy 8 xe M113 ngay trước cửa căn cứ này. Kể từ lúc đóng tại đây bọn lính Tia Chớp Nhiệt Đới đã bị quân GP tấn công gây cho vô số thiệt hại, đặc biệt du kích đã làm cho chúng mất ăn mất ngủ bằng vành đai thép.

Và vừa mới đây ngày 20-9-69 biểu hiện ý chí biến đau thương thành sức mạnh, một nữ dũng sĩ đã dùng mưu kế đánh vào trung tâm căn cứ này diệt 48 lính Mỹ ngay trong câu lạc bộ giữa bữa ăn trưa. Một đội nữ dũng sĩ bên ngoài hiệp sức tấn công đốt phá sân bay trực thăng đốt cháy 6 chiếc UHA-1 và 16 chiếc OH6…

Nghe đến đó tôi bật dậy cười ha hả và gọi Thu Hà:

– Chắc thằng Bảy Ga chơi tụi nó rồi em ạ!

– Cái gì hả anh?

– Đơn vị mình làm ăn to rồi.

Nói xong tôi vọt ra cửa che tay nhìn về phía Đồng Dù. (Tôi đóng kịch cũng khá!)

Dưới nắng trưa chớp sao, không thấy gì hết. Cái căn cứ này đã tan hoang rồi còn đâu nữa mà nhìn thấy.? Một chiếc trực thăng trái chuối vừa cất cánh lên. Có lẽ chúng đang bốc xác lính Mỹ đem về Sài Gòn. Lại một, hai chiếc tiếp theo lên lên xuống xuống dưới bụng có đeo lòng thòng một cục to. Đó là pháo. Giàn pháo bị phá hủy nên chúng cho đem pháo mới thay thế.

Cơ hội này không thừa thắng xông lên lập thành tích mới dâng Bác, Đảng còn đợi chừng nào? (Tôi quên lửng Bác đã ngủm từ lâu rồi!)

Tôi bảo Thu Hà:

– Em ở nhà một mình nhé !

– Anh đi đâu?

– Anh về đơn vị có việc gấp chút rồi trở lại ngay!

– Em ở nhà một mình thì được. Có gì em chui hầm. Nếu lính chụp em sẽ trang sức như gái ấp chiến lược, ngoài ra em có thẻ bọc nhựa Sài Gòn phòng thân, nếu pháo nện thì em chui hầm. Còn anh không có cậu nào theo anh hết?

– Được mà.

Thu Hà ôm chặt lấy tôi không cho đi. Tôi vụt nhớ cái máy bộ đàm tôi đem theo lâu nay không dùng tới. Lưu Bị bận phục vụ Ngô Quận Chúa ở miết trong cung, quên cả cầm thương lên ngựa, có nhớ chi cái máy bộ đàm cỏn con vô dụng này. Tôi mở máy gọi Bảy Ga.

– Đồng Dù bị các cha đánh tiêu rồi hả?

– Thầy nghe tin ở đâu đã quá vậy?

– Ông cho người đi thám thính coi.

– Để tôi đến gặp thầy.

Tôi bảo: Tôi suy nghĩ hoài không biết tên ma bùn nào dám cả gan vượt qua mũi gã Thiên Lôi này làm ăn to vậy? Chẳng lẽ Năm Sĩ phục rượu cho chúng nó? E88 đâu còn tên quân nào mà chơi bạo thế?

Chiều hôm đó có người đến gặp tôi. Không phải Bảy Ga mà Năm Tân. Từ ngày tôi gặp hắn chuẩn bị đi dưỡng lão ở Cao Miên tới nay hơn 1 năm. Tôi quên hẳn hắn.

– Anh Hai! Mạnh giỏi?

– Mạnh chớ chết chóc gì mậy? Sao trôi về đây?

– Mệt quá anh à!

– Cái thằng! Sao được đi an dưỡng lại kêu mệt?

– Anh muốn đi thử một chuyến không? Thay vì lên cânlại mất ký

.

– Sao các ông lớn bà bé kéo nhau qua biên giới rần rần vậy?

– Mắm bò hóc khó nuốt lắm anh à ! Thà ở đây ăn muối quẹt mà ngon hơn.

Năm Tân cởi súng và ba lô hỏi sang chuyện khác:

– Anh có gặp chị Tư em ở đâu không?

– Từ mày đi tới bây giờ tao chỉ gặp bả một lần thôi.

– Chỉ bớt bịnh không anh?

– Tao nghe nói bả khi tỉnh khi điên, không hết hẳn. Mặt bả lơ lơ láo láo không được bình thường.

– Còn con Thơ?

– Nó sống nhờ sửa xe tăng đồ hộp Mỹ và lòng nhân từ của bà Năm Đang.

– Trời, Chị Tư và con Mạnh (em vợ Tư Nhựt) hè nhau chết chồng vào mồng hai Tết. Còn Sài Gòn mình vô đợt mấy rồi anh?

– Mầy ở trển không nghe gì à?… Đâu cũng nửa đợt 3, gần vô đợt 4 rồi đó ! Phải mầy lại sớm một chút nghe tin chiến thắng, đã lắm! – Tôi tóm tất bản tin vừa rồi cho hắn nghe và bảo- Tao kêu Bảy Ga cho trinh sát đi nghiên cứu xem có đúng không?

Năm Tân nói ngay:

– Anh không phải cho trinh sát mò vô Đồng Dù, e nguy hiểm. Anh chỉ cần kêu Bảy Ga cho một cô em cải trang đi vô ấp chiến lược gặp vợ em thì biết hết. (Vợ Năm Tân làm công trong Đồng Dù lấy lương nuôi y chiến đấu từ Đồng Khởi tới nay).

Tôi khen ý kiến hay, nhanh nhiều tốt rẻ. Bèn gọi Bảy Ga bảo làm y như vậy rồi quay sang Năm Tân giới thiệu Thu Hà. Năm Tân ngạc nhiên nói:

– Em mừng cho anh, từ nay thuyền cặp bến.

Tôi bảo:

– Tình hình an dưỡng thế nào? Hổng biết chừng tao cũng phải đi một cú. Kể nghe coi, chắc ăn toàn ăn đặc táo hả?

Năm Tân cười:

– Ăn đặc cáo thì có.

Tô bảo Thu Hà nấu cơm cho Năm Tân ăn với cá mòi “đứng” (1). Vừa ăn Tân vừa kể chuyện đi an dưỡng.

… Qua đất Miên. Trời ơi! Mới biết nước nào cũng khó sống hơn nước mình. Tụi Thổ nó thù mình thâm xương anh à ! Mình tưởng nó kính phục mình và thân thích mình lắm. Ai dè tưởng vậy mà không phải vậy đâu anh ơi!

Tôi nói:

– Tại mày đi không trúng lạch chớ tụi Miên đỏ là đồng chí của mình lâu rồi mà !

– Em đi giấy của Khiêu Sam Phan là chúa tể Khờ Me đỏ rồi còn ai hơn nữa anh ! Nhưng dân đàng Thổ, nó ghét minh đâu hồi xưa tới bây giờ. Thằng nào cũng nhìn mình bằng cặp mắt trắng dã thấy mà lạnh xương sống. Nó không làm gì mình cũng sợ. Nếu xảy ra chuyện gì mình kêu ai, chạy đi đâu? Lên đến phum Tà Nốt em đã muốn trở về rồi. Nhưng lỡ đi, thôi đi đại. Chờ mất một tháng mới có giấy phép lưu hành trên đất Miên. Mình còn cái bộ xương. Em tưởng em như con cá lóc rộng lâu ngày trong khạp, thịt thà mất hết chỉ còn cái đầu chờ vờ. Mấy đêm đầu ngủ trên xứ Thổ, em nhớ nhà quá. Mình đang chiến đấu mà bị đưa đi lưu đày. Nó cho em ngủ trong chuồng trâu thúi rùm, lại sợ nó cáp duồn. Thằng liên lạc là người của Khờ Me đỏ. Nó nói tiếng mình lơ lớ, tỏ vẻ thân ái, nhưng nó liếc cây K54 và cái đồng hồ. Coi bộ nó muốn “đeo giùm” mình. Em lột phức cái đồng hồ cho nó .

– Có qua đồn bót gì không? Tôi hỏi.

– Nhiều chớ. Nó bắt mình đóng tiền mãi lộ. Mẹ, lính tráng gì bận xà rông, ở trần, chơi bài và hút á phiện ngay trong bót. Cờ bạc thua, đem cả xe mô-tô ra chung. Không đủ bắt cả vợ con thay vào. Tụi này đụng trận, cho em một D, em lùa một hơi thấu Nam Vang. Chuyện dài lắm anh ạ ! Ở trên đó một năm, em phải kể cho anh nghe một tháng mới hết.

– Chuyện gì rắc máu kể vài cái nghe thử?

– Chuyện này em không bị nhưng dân cán mình lên đó ai cũng nghe.

– Đông không?

– Lềnh khênh, không thiếu mặt nào. Lớn nhỏ đủ hết. Dân chánh phải cấp khu trở lên. Còn quân đội thì bét nhất phải tiểu đoàn phó. Đại đội trưởng hụt tiêu chuẩn. Em gặp ông Tám Xe Ngựa, Hai Phón, chồng bà Út Siêng trên đó. Em biết họ mà do không biết em nên họ hỏi thăm bên nhà tự nhiên lắm, không mắc cỡ chút nào.

– Rồi chuyện gì?

– Có một đoàn đâu 5, 6 nhơn gì đó vô trong một Sóc ghé lại ngủ nhờ. Chủ nhà cho lên nhà sàn nằm tử tế. Nửa đêm nó bó cửa phóng hỏa.

– Chết ai không?

– Chui ra được vài mạng nhưng bị chà gạc lụi.

– Tụi nó thù mình dữ vậy sao?

– Thù chớ. Nó nói với nhau, kêu mình là thằng duồn mà!

– Hồi 45 tụi nó nổi lên đòi đất. Tiếng cáp duồn có từ đó. Đất Hà Tiên Rạch Giá là của nó mà. Mình lùa nó chạy rồi chiếm luôn. Mối thù của nó đối với mình là thù truyền kiếp chớ không phải thù mất con gà con vịt gì đâu nghe!

Năm Tân tiếp:

– Em trôi lần lên tới Sông Bé.

– Sông Bé nào? Sông Bé Phước Long à?

– Em không biết. Anh dở bản đồ ra xem. Ở đây người ta đi đuôi tôm ra vô Hồng Ngự hằng ngày, buôn hàng, buôn bạc Sài Gòn đổi Rịa.

Rịa là giống gì?

– Là tiền con Mên. Lên đó tiền Sài Gòn phải đổi ra Rịa mới xài được. Trời, Sông Bé cứ vài trăm thước có một miệng đáy. Cá nhiều không thể tả. Cá mè, cá rô cỡ bắp tay, bàn tay không thèm ăn, đổ cả đống phơi khô làm phân trồng dưa hấu. Còn ruộng hai bên bờ kinh cứ chiều đem lưới bén ra giăng, sáng lôi lên cá dính gỡ không hết.. Nấu canh chua chỉ húp nước và ăn rau chớ không ăn cá.

Tôi bảo:

– Vậy là cửa tiên, còn la cái gì, em bậu!

– Nhưng mà chán lắm anh ơi ! Đi đâu cũng một thứ đó. Mấy ông lớn chiếm nhà to có các em phục vụ như vua, tối ngày nghe Cải Lương Nhạc Nhọt Sài Gòn, rồi nằm sấp nằm ngửa cho các em đấm bóp.

– Em đui cà then à ?

– Không, nữ sinh ở thành ra trắng phau, mướt rượt chớ Miên đâu! Rồi cũng kiểm thảo, dâm ô, tham ô, cũng thầy chích, thầy nạo y như ở Bưng Còng.

– Hai cái ô đó ở đâu mà không có. Mày lo dữ hôn?

– Chống Mỹ như mấy chả, em xin giơ hai tay hai cẳng, chống muôn năm!

– Mày không có kiếm được “hũ rượu uống không đau lưng” nào à ?

Năm Tân nhăn mặt:

– Thôi, thôi anh ơi! Cái thứ đó khó hốt lắm! Anh em mình quơ hụt bộn bàng. Bi khai trừ đảng kia đó. Lý do: làm mất tình hữu nghị quốc tế Việt Miên.

– Còn tụi nó lụi mình bằng chà gạc thì không mất gì sao?

– Tại nước của nó mình qua ở đậu mà còn quơ hốt nọ kia. Nó không tức sao được!

Chiều hôm sau Bảy Ga gọi tôi:

– Báo cáo thầy Hai tôi cho con Phương gặp vợ Năm Tân rồi.

– Thế nào?

– Không có gì cả. Đồng Dù còn nguyên không sứt cái lông nào! Bảy Ga nói oang oang trong máy- Nó mướn thêm dân công cất nhà cho lính Mỹ mới tới ở đó cha nội.

– Còn mấy cục đen thui si-nóc đeo hôm qua là cái gì?

– Nó đem thêm pháo.

– Mấy vụ đài nói không có vụ nào xảy ra à?

– Đó là vụ con Lan gài chất nổ trong hộp cô-ca, vụ Út Bá dẫn đội cảm tử vô và vụ thằng Cội đột nhập thất bại hồi nó mới đóng Đồng Dù, toàn là “bánh ú o” của má con Chín Khuân chớ mấy năm nay, ngoài trận thầy đánh xe tăng ở gần Ngã Ba Trùm Tri đâu có trận nào. Nếu có, thì mình phải biết chớ!

Năm Tân nhìn tôi . Tôi nhìn lại.

Hồi lâu tôi hỏi:

– Bây giờ mày tính sao?

– Anh coi công tác nào giao cho em một cái.

Tôi cười:

– Mày muốn “cái vắn” hay cái dài?

– Anh phá em hoài !

– Mình sắp vô đợt mới, thiếu gì công tác. Thằng Cử mới ở R về, tao giao cho nó phụ trách D3 còn mày D1 được không?

– Em xin Df như cũ thôi.

– Sợ làm “Dê trưởng” mệt hay sao? Hề hề !

– Vết thương sọ não của em bị ở trận Đồng Lớn chưa lành anh ạ! Trời nắng nhức lắm.

– Thôi được, để tao sắp xếp cho mày “dê phó”.

Một chập, Năm Tân lại hỏi:

– Sao anh ở đây kỳ vậy?

– Tạisao kỳ?

– Đây là Xóm Thuốc, căn cứ của khu bị hôi ổ rồi, anh không biết sao?

Tôi cười:

– Tao không biết thì còn ai biết mậy ? Sau khi mình pháo kích văng cái chuồng cu Trung Hòa bắn rơi B27 ở Đồng Chà Dơ tao đem chiến lợi phẩm về trình mấy ông ở đây. Cây Colt bằng thép trắng nhãn hiệu Ngựa Bay của thằng phi công, ông Mười Niên chộp đeo liền. Mấy ổng nhậu thịt chó, có bà Út Tức nữa… Hiện giờ tụi mình đang bị Mỹ “dậm cù” xây cụm hết rồi. Nó chỉ cần đặt vài cái lọp lùa một phát là vô hết.

– Anh biết vậy sao còn ở đây?

– Trong binh thư yếu tố mạo hiểmbất ngờ rất quan trọng. Đôi khi phải dùng.

– Tôi ớn anh quá !

– Bây giờ mày coi thử, khắp Củ Chi này còn đóng ở đâu được? Chúng nó san bằng Củ Chi bằng mọi giá để giữ an ninh cửa ngỏ Sài Gòn đang bị đe dọa. Chúng nó đâu có ngu mà nhắm mắt để mình tung hoành.

Năm Tân ngồi im ra chiều tư lự. Một hồi lâu lai hỏi:

– Hồi còn ở trên Miên, em có nghe đài nói: “Chánh phủ Cách Mạng” gì đó ra đời. Anh biết chánh phủ gì không?

– Tao không rành, chỉ nghe ông Năm Lê gọi là “hòn đá thọ khí âm dương của loài khỉ bị búa tầm sét đả nứt sinh ra nó”.

– Em nghe có tên anh Ba mình trong đó, phải không anh?

– Tên gì?

– Trần Đình Xu, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng!

Tôi giật mình, gạt phắc:

– Anh Ba mình tên Ba Đình. Xu là ông nào không phải ổng đâu!

Thu Hà đem ra một bình trà và một đĩa kẹo đậu phộng. Hai đứa uống trà ăn kẹo. Trời, nhai rôm rốp nghe dòn đến nỗi sợ trực thăng đầm già phát hiện phóng rốc-kết. Bỗng Năm Tân buột miệng:

– Anh giấu em hoài anh Hai !

– Tao giấu mày cái gì?

– Ổng đạp mìn ở biên giới. Mới đầu nghe ở Mỏ Vẹt, sau rõ lại là ở Phước Chỉ bên Hiếu Thiện.

– Tầm bậy!

Năm Tân làm thiinh. Hắn ngửa cổ hớp chút trà còn lại trong đáy tách và nói thinh không:

– Bãi mìn của ai gài ác quá! Rộng mấy trăm thước!

Thấy không chối lấp được tôi hỏi:

– Ai nói với mầy?

– Tụi giao liên biết hết. Khách cũng rành. Nhưng làm bộ bí mật.- Năm Tân chép miệng- Thằng Mười Trường bộ đui sao chớ, xã Phước Chỉ là đất của nó mà người ta gài mìn nó không biết thì làm quận đội cái gì?

– Nó cũng chết chớ bộ chỉ phái đoàn thôi sao!

– Bàn cờ có 2 con xe, thí hết còn đánh chác gì! (ý Năm Tân nói Sáu Di và Ba Xu)

Hai đứa lại lặng im. Hồi lâu tôi nói sang chuyện khác:

– Còn đánh chớ sao không. Mày về củng cố D1 rồi đánh Đồng Dù.

Năm Tân lõ mắt nhìn tôi. Tôi thản nhiên:

– Mày tưởng tao đùa à?… Mày đi một năm ở nhà thay đổi nhiều lắm. E mình đã phân tán mỏng chỉ chiến đấu bằng tổ tam tam thôi chớ không tập trung D, C nữa.

– Anh nói chơi hoài! Tam tam chế mà đánh ai?

– Với tổ tam tam ta có thể chơi bay cái Đồng… Dù… Ủa thiệt mậy! Mày không nghe đài nói hồi chiều sao?

Năm Tân gạt:

– Bảy Ga cho đi thám thính về, bảo nó còn nguyên mà ! Hổng lẽ đài GP nói thi…iệt?

Tôi cười:

– Bữa nay nó còn nguyên nhưng ngày mai nó tiêu tùng. Mày quên duy vật biện chứng pháp rồi sao. Tất cả đều đổi thay theo ý muốn của Mác.

Năm Tân ngồi ngớ ra. Rồi nói:

– Ờ, phải. Hồi em đi thì anh còn cu ki. Khi em về anh đã có “chị Hai”. Đổi thay theo Mác là vậy đó.

– Tao quyết định cưới vợ sau một trận đội dưa hấu chùm ở Ràng.

Tôi gọi:

– Thu Hà ! em lấy cái xắc-cốt ra cho anh.

Thu Hà đem xắc-cốt ra. Tôi lấy bản đồ Đồng Dù trải trên đất rồi hai đứa bò nhoài lên quan sát như “Hồ chủ tịch và Đại tướng Võ Nguyên Giáp nghiên cứu Sa Bàn Điện Biên Phủ.”

Tôi lấy đèn pin quáu của nàng Ua mua cho tôi ở chợ Bắc Hà soi lên bản đồ và giải thích.

– Đây là tỉnh lộ 8A chạy lên Bình Dương gặp nhau ở ngã tư Trùm Tri với hương lộ 237 có cổng chính Đồng Dù . Còn đây là Đường 2 Làng với các bãi mìn cố định. Cắt ngang là suối Bà Cả Bảy, chảy bọc sau lưng Đồng Dù. Trước đây xe tăng chưa lọt được, nhưng từ năm 1966 trở đi, nó lội qua luôn bằng những tấm vĩ sắt, rượt mình chạy tóe phở.

– Em biết rồi anh Hai. Anh khỏi phải nhắc em cũng nhớ. Trời! Làm sao em quên được những trận bị xe tăng càn đuổi ở Phú Hiệp, Bàu Lách, Bàu Trăn, đến chừng đứng lại chỉ còn cái quần tiều.

Tôi tiếp:

– Bề dài của nó là 3 km. Bề ngang 2 km. Như vậy châu vi của nó là 10km , đều bao bọc bằng dây kẽm gai 3, 4 lớp, bãi mìn, hào hố và hàng trăm thứ chướng ngại vật. Ngoài ra còn những hàng rào sống, là ấp chiến lược Cây Bài, xóm Cây Sộp. Thứ này nhạy hơn cả hàng rào điện tử Mắc Ra Ma.

– Biết rồi anh Hai. Nhà vợ em ở ấp Cây Bài chớ đâu!

Tôi lại tiếp:

– Bây giờ đi vào ruột Đồng Dù. Ngoài rìa phía suối Bà Cả Bảy có một khoảng trống lớn hình chữ thập, đó là bãi trực thăng, lúc nào cũng thường trục từ 30 đến 40 chiếc đủ loại. Phía sát hàng rào bên cạnh bót canh là hầm xăng. Gối đầu lên sân bay có nhiều ô. Em xem cho kỹ nhé. Kể từ phía Đường 2 Làng, ô thứ nhất rộng lớn là bãi đậu xe tăng lúc nào cũng thường trực từ 20 đến 30 chiếc. Ô kế là trận địa pháo đủ loại. Ô kế là tháp nước và nhà lính. Ô kế cũng là nhà lính. Ô rìa bên phía tỉnh lộ 8A là kho đạn. Em thấy kiến trúc của nó rất khoa học. Hầm xăng và kho đạn ở ngoài rìa, nếu bị pháo kích bên trong không bị hại lây.

Năm Tân mọp sát xem và hỏi:

– Giáp với bãi xe tăng là cái gì đây anh?

– Đó là pháo. Bãi pháo rất rộng. Gồm có 15 -20 khẩu. 4 ô liền đó là nhà lính. Chính giữa là Bộ chỉ huy và câu lạc bộ. Cạnh câu lạc bộ là nhà thương. Bên rìa trái là kho quân cụ, còn các ô trống kia là linh tinh. Chung quanh có 8 chuồng cu ngó ra 4 phía. Muốn đánh hạ căn cứ này mình phải có 4 sư đoàn bộ binh,2 trung đoàn pháo, 25 tổ đặc công, đó là chưa kể các thứ râu ria khác như B40, súng phun lửa, bộc phá. Phải sử dụng ít nhất 15 ngàn trái pháo, 1500 bộc phá v.v… thì mới đánh hỏng cái căn cứ này, có nghĩa là làm cho nó mất khả năng chiến đấu. Phải hi sinh ít nhất 1 trung đoàn. Hậu cần phải có 2 ngàn dân công. 20 địa điểm cứu thương và giải phẫu.

Năm Tân ngồi chăm chú nghe. Khi tôi dứt lời, y hỏi:

– Quân đâu mà đánh lớn vậy anh? Đi Sài Gòn về mình như con cua rụng hết ngoe càng, chỉ còn có cái mu.

– Ồ! tao có kế hoạch rồi. chỉ cần 2C là đủ tấn công và tiêu diệt nó trong chớp nhoáng.

– Thiệt sao anh Hai?

– Tao đùa một chuyện quan trọng như vậy à?

Một chốc, Năm Tân mới hỏi:

– Anh cho em đi mũi nhọn nào?

– Mày đi mũi chính như Tư Nhựt vô Sài Gòn, dám không?

– Anh biết em mà anh Hai. Bây giờ em muốn chết hơn lúc nào hết. Chết là khỏe nhất.

– Bậy nà? Nếu mày muốn chết thì tao để mày ở nhà . Thằng nào sợ chết mới được danh dự tham chiến.

Rồi tôi “trình bày” kế hoạch tỉ mỉ cho hắn nghe:

– Mình đánh bằng địa đạo chiến, Năm Tân ạ !

– Nghĩa là sao?- Năm Tân nhìn tôi, không hiểu gì hết.

Tôi trỏ trên bản đồ, giảithích tiếp:

– Mình chia quân làm 3 mũi. Mỗi mũi có 2 đường tiến quân song song, một ở trên mặt đất, một luồn dưới địa. Mũi trên D1 do mày chỉ huy từ xã Phước Hiệp đánh thẳng qua cổng chính tiêu diệt chỉ huy Sở của Bộ Tư lệnh Sư Đoàn 25, phá hủy các phương tiện liên lạc với các nơi.

– Em làm sao hoàn thành nhiệm vụ nổi anh?

– Để tao bảo. Tao đã cho đào địa đạo thông vô dưới đít chỉ huy Sở, đặt sẵn 1 tấn TNTrồi. Đến giờ G tao cho châm ngòi. Bay tung tất cả. Mày chỉ cần vào đó lượm xác Mỹ như nhái chết trong giỏ thôi.

– Trời, kế hoạch ghê vậy sao anh Hai ?

– Ghê chớ sao không ghê mậy. Mũi thứ hai, luồn dưới địa từ Nhuận Đức đánh vào phía Đường 1 Làng, chia làm 3 ngánh, một ngánh đánh đám xe tăng bằng 1 tấn TNT, một ngánh đánh giàn pháo cũng bằng thuốc nổ, một ngánh đánh bãi đậu máy bay bằng chất hóa học. Máy bay còn nguyên nhưng không cất cánh được. Ngánh này đốt hầm xăng. Trên mặt đất cũng có 3 mũi. Hễ nghe tiếng nổ là xông vô tiếp cận và giải quyết chiến trường, thu chiến lợi phẩm.

Năm Tân khoái chí kêu lên:

– Trời! đã quá anh Hai. Anh cho em đi cánh đánh trực thăng đi! Em thù tụi này lắm.

– Không được! Cánh này chơi bằng vũ khí đặc biệt mày đi an dưỡng lạc hậu rồi, không biết xài đâu.

– Còn cánh thứ ba, anh Hai?

Tôi tiếp:

– Cánh này từ Phước Vĩnh Ninh luồn vô. Mục tiêu của nó là kho đạn và kho quân cụ. Đốt cháy hoặc lấy đem về, tùy tình hình lúc bấy giờ tao sẽ có lệnh sau. Như vậy là toàn bộ Đồng Dù tê liệt hoàn toàn. Pháo quẹo nòng, xe tăng hỏng xích, trực thăng xụi cánh, bồn xăng cháy. Bộ Tư lệnh hoặc tan xác hoặc bị bắt sống. Chúng ta sẽ xóa sổ Sư Đoàn Tia Chớp Nhiệt Đới Mỹ ngay trên đất Củ Chi.

Năm Tân mơ màng:

– Em đề nghị anh cho dân công chiếm lĩnh nhà thương lấy thuốc men. Vừa rồi tụi Bảy Đạo vô Củ Chi làm ẩu, mình mang tiếng là ăn cướp, nhưng sự thực lấy có mấy xe bò vải, không có thuốc.

– Mày khỏi lo, kế hoạch tao đã vạch chi tiết hết cả rồi. Vấn đề quan trọng nhất là địa. Nhưng cũng đã hoàn thành. Chỉ còn chờ giờ G nữa là tao hạ lệnh tấn công.

– Vậy hả anh Hai? Anh có thể cho em biết làm sao địa đào nhanh vậy?

– Thằng Liên Xô mới viện trợ máy đào đất đã lắm! Cái nào cái nấy giống như bàn nạo dừa vậy. Đào êm ru không nghe tiếng động. Cứ kê vô là nó hít miết, mỗi phút đào được 4-5 chục thước ở tầng 1, còn tầng 2, tầng 3…

– Chắc đất cứng đào chậm hơn hả anh?

– Không! Xuống tầng 2 tầng 3 có loại máy mạnh cũng đào nhanh như vậy.

– Rồi đất đổ đi đâu cho hết?

– Ồ mày sao khéo lo! Liên Xô mà? Mày phải biết! Đào được thì đổ được, chớ khó gì. Nè, – tôi nói nhỏ lại – Có chuyên gia đào hầm bên các nước anh em gởi sang nghe cậu. Mấy ông này từng tham gia đánh Mỹ ở Triều Tiên cũng bằng loại địa đạo ăn luồn vô căn cứ địch kiểu này. Mỹ sang Việt Nam lại bị phép cũ. Có một đại úy tên NguyễnThành Linh là người mình, còn bao nhiêu đều là mấy ổng hết ráo.

– Mặt mũi râu ria họ như vậy, ăn ở đâu cho khỏi lộ bí mật, anh?

– Cái thằng ngây thơ quá mậy. Mày quên ở dưới địa đạo có nơi ăn chốn ở cho bộ đội à?

– Hồi nào, sao em không biết!

– Àạ ạ…. hồi đó mày đã đi an dưỡng bên Miên rồi, mà dầu mày có ở nhà, ai cho mày biết?

Năm Tân nói:

– Để em chạy kiếm một bình toong đế nhâm nhi rồi anh hãy kể tiếp nghe cho đã.

Tôi bảo Thu Hà đem bình toong rượu ra, hai anh em đưa cay với khô cá kèo.

Năm Tân hồ hởi tiếp:

– Anh có kế hoạch rút lui không?

– Tao biết, đường rút gay go hơn cả trận đánh nên tao đã tính cả rồi.

– Rút về Phú Hòa Đông là an toàn nhất anh ạ !

– Không! Bây giờ với chiến thuật địa đạo, rút lui là thụt xuống địa đạo chớ không đi đâu hết. Nếu cần tao cho qua bên sông nhấp nháy.

– Nhỡ tụi giang thuyền nó giăng ngang rồi làm sao?

– Mày đi có một năm mà lạc hậu quá ! Địa bây giờ có 2 ngánhchui qua sông. Một ở ngay Bến Dược, một ở Bến Hõm, cả hai đều luồn tới Long Nguyên. Thôi, tao chỉ có thể lộ bí mật cho mày đến mức đó thôi. Đừng hỏi nữa !

Năm Tân nốc liên miên và kêu: “đã quá ! đã quá !” Tôi móc thuốc hút:

– Bây giờ chuyện tao lo độc nhất là gì mày biết không?

– Là điều động các đơn vị sao cho khỏi lộ bí mật!

– Phải rồi, nhưng tao sợ nhất là các ngánh địa đã đào vô đít Đồng Dù. Mặt đất mỏng quá, Mỹ lớn con nặng ký, đất phát sụp thì bể hết.

– Đại úy Nguyễn Thành Linh làm xong nhiệm vụ rồi rút về ngoải hay ở đây luôn anh?

– Tao không rõ.

– Sao anh không xin ổng ở lại huấn luyện cho mình?

Tôi không nhịn cười được nữa. Tôi bảo.

– Tao sắp thay công tác!

– Anh đi rồi ai chỉ huy thực hiện kế hoạch đánh Đồng Dù?

– Đài Giai Phóng! Nó đã tiêu diệt Đồng Dù hôm qua rồi, còn đâu tới tao với mày ! Há há hố hố hố!

Năm Tân nhìn tôi tẽng tò:

– Anh thiệt à !

– Mày thông minh không kém ông già Kẹt là mấy!

– Ông già Kẹt nào?

– Ổng vừa vọt lên Miên tìm thuốc rượu đau lưng, bộ mày không gặp ổng sao?

Năm Tân chợt hiểu, trả ngón lại tôi:

– Chắc ổng chờ anh hạ xong cái Đồng Dù rồi sẽ về đem “hũ thuốc rượu” thưởng cho anh đó !

Hai đứa nốc cạn bình toong đế. Rượu vào lời ra. Rượu cạn lời cũng hết. Chuyện cũ đất thép thành đồng tóm lại trong hai chữ “ngồi thum” như ếch già ngồi miệng hang. Hễ nghe động là chui. Xe tăng chạy ngoài đồng như bọ hung, trực thăng bay trên trời như ruồi. Pháo bắn vài chục trái, đồ bỏ. B52 cũng lờn. Thân này ví phỏng làm ma được ? ?

Lấy gì để chống những thứ đó? Rượu và em! Có rượu bớt sợ chết. Có em ngồi thum đỡ buồn. Xe tăng đẫy hầm, cán nhẹp hầm là chuyện xảy ra hằng ngày. Nghe mãi nhàm tai.

Một hôm Bảy Ga kêu tôi qua máy:

– Năm E và Sáu Hùm bị moi hầm bắn chết!

Tôi rụng rời tay chân. Hai ông bạn tình nghĩa mất rồi. Có bề gì tôi cậy nhờ ai? Tội nghiệp cô Bảy Bánh Ú hết dạ thờ chồng. Tội nghiệp mụn hùm con. Oe oe chưa lớn được mấy tí đã mồ côi. Cái chức Trung đoàn và Tiểu đoàn ông tướng Trần Độ phong láo cho 2 người một đêm rụng rún ở Rạch Cây Da, lon gáo chưa mang đã mất mạng.

Hôm sau tôi lại nghe tin: Hai Khứ và Bảy Điếc bị biệt kích moi hầm móc lên bắn chết tại miệng hầm. Năm Rỗ bị pháo. Họ bắt được lính Mỹ ở Truông Viết đem nạp cho tôi và mong sẽ đổi được cái máy cày cho xã Phước Hiệp. Nhưng máy cày chưa đến – Có lẽ không bao giờ đến – mà bộ ba đã đi, chưa biết cái máy ra sao.

Chiều trên chiến địa hoang tàn buồn tênh. Tôi ngồi trong nhà nhìn ra. Đất bốc hơi mù mịt từng cụm. Đó là linh hồn không tan của những người nằm yên trong lòng đất Củ Chi.

Một chòm cây lúa thưa còi cọc. Nhà mủ Hố Bò giờ còn có thế. Khu rừng bi xe tăng bào láng. Cô em xã đội trưởng và chú Tư Thiên bi xe tăng cán nhẹp không ai biết ở nơi nào. Tôi muốn đốt một cây nhang tưởng niệm.

Lụa, Là, Má Hai, bé Rớt. Bộ ván gõ với chiếc gối tai bèo, cây vú sữa ở góc sân, ngày tôi mới về… tất cả đều đã biến đi. Một mảnh trời đất nào thay vào đó.

(1) Loại cá mòi đựng trong hộp tròn cao chớ không phai hộp dẹp hình hột xoài. Cá mòi đứng rẻ hơn cá mòi nằm hộp dẹp.

Chương 128

Thằng trưởng ban địch vận bị địch…bắt

Tôi đang sống với Thu Hà mà cảm thấy cô đơn. Ở đơn vị có đâu lặng lẽ tầm thường thế này. Tối ngày la hét, chạy không bén đất chớ đâu được nằm yên. Gân cốt không xài hình như đã nhão ra. Tấm thân bảy thước cũng sinh lười.

Bỗng Tư Linh tới. Nó tới, tôi như tái ngộ một con ma. Nó bắt tay tôi giật giật, không buông, nói tiếng Anh:

– Finally. Cuối cùng rồi cũng đến đó thấy chưa?

Nó mừng tôi “có vợ” mà chỉ nói có thế.

Tôi hỏi:

– Mày xuống đây làm gì?

– Chào bà thầy pháo! – rồi nói với tôi – ở trển đội bí đao hoài mệt quá mày ơi!

– Nó rắc đến đâu rồi?

– Đường 30 trở thành sông Sàigòn hết ráo.

Tôi trông mặt mày thằng bạn mốc xì như một cục đất có hai chấm sáng là đôi mắt.

– Mẹ nó, lia vô gần tới hầm “Đờ Cát” rồi nên tao phải tẩu như phi.

– Dưới này có hơn gì!

– Nhưng còn kẽ hở để lách. Ở trển nó bừa ngang rồi cày dọc không có lõi nghe mậy!

– Cái E tao phân tán mỏng từ hội nghị đó mày không nhớ hay sao?

– Cơ quan tao “tán” còn nhuyễn hơn! Chỉ có mình tao đây với “cặp lựu đạn” và cây B bố… mươi.

Tôi nhìn nó, nó hỏi:

– Hai thằng của tao đâu?

– Tao cho đơn vị tao rồi. Tụi nó không chịu về trển.

Tư Linh lặng thinh. Tôi bảo:

– Thằng Năm Tân vừa đi an dưỡng bên Miên về.

– Rồi sao?

– Cái sọ não nó vẫn còn nhức.

– Về làm gì?

– Ở bển nó bị tụi Miên rượt cáp duồn hoài, có an được đâu mà dưỡng.

– Mày tính sao?

– Mày không nghe tin đài GP đánh Đồng Dù à?

– Phì…ì…!

Tôi kêu Thu Hà nấu cơm mời bạn. Rượu đãi Năm Tần hết rồi:

Chẳng bác lâu nay mới tới nhà
Trẻ thời không có quán thời xa
Ao “đìa” thả cá chưa ăn được
Vườn rộng mìn giăng vướng cẳng gà.

Tư Linh bảo:

– Tao phải đi moi cái hang mới được.

Đó là lần ăn cơm độc nhất với thằng bạn nối khố mà không có rượu. Ở Củ Chi này, không có rượu lấy gì chống Mỹ? Hầu hết hội viên Ve Chai chống Mỹ đều rủ nhau lên bàn thò, nhưng ông “chủ tịt” hội còn thì hội vẫn còn hoạt động!

Thời may Thu Hà nhắc:

– Còn bình rượu thuốc của anh Cử cho hôm nọ!

À! may quá! Buồn ngủ lại gặp chiếu manh.

Thu Hà đem chai rượu ra. Không cần biết rượu gì. Miễn cay cay là được. Tôi rót vô chén. Tư Linh nâng ly kê lên mũi rồi cười:

– Chém chết cũng có dê núi.- Rồi Tư Linh moi trong xắc-cốt ra một cái gói con con.

– Thịt rừng à?- Tôi hỏi.

– Thịt rừng nhưng tao đố mày biết là thịt gì? – Tư Linh vừa hỏi vừa mở gói ra.

– Thì cũng lẩn quẩn ba cái thứ nai, mển, gà lôi chớ có thịt gì khác.

Tôi nhìn mẩu thịt trên miếng ni-lông xanh nâu đen như con cá trên đẻn phơi khô, nhưng da bông, giống hình con sấu.

Tôi kêu lên:

– Ở đâu mày bắt được con cắc kè bông này vậy?

– Nó bị B52 ép,tao lượm cho mày ngâm rượu tẩm bổ!

– Xui lắm nghe cha.

– Sao xui?

– Cắc kè là mẹ kỳ đà, kỳ đà là cha cắc ké. Mày không biết sao?

– Ối! Người ta nói xàm! Mày uống thử xem linh lắm! “Ba ván niền không bỏ ván lào!”. Tư Linh cố nói giọng Bắc để Thu Hà không hiểu. Nàng không hiểu thật, lại khen Tư Linh nói tiếng Bắc giỏi.

Tôi bảo:

– Mày tưởng tao xuống dốc rồi sao?

– Tao lấy tao mà đo thì hiểu mày. Mày nhớ hồi ở ngoải mình đánh cá trộm ở Sông Bùi không? Tao bơi qua bơi lại hai ba lần như không. Vừa rồi bị giặc đuổi tao bơi qua con rạch nhỏ mà đã bở hơi tai.

– Tao còn chạy khá lắm. Hổng tin mày đưa với tao chơi!

– Thôi đi ông Hai, đừng có chủ quan. Rượu tắc kè này ở hiệu Dược Phẩm Quốc Doanh Tràng Tiền cũng không tìm ra nghe! Một con tắc kè bào chế 8 thùng phuy. Ở đây mình chỉ ngâm 1 lít thôi. Uống rượu tắc kè ô-ri-gin chi có Bộ Chính Trị thôi nghe mậy!

Sau những đợt dưa hấu rụng, nếu tao có gan ở lại lượm, cắc kè, kỳ đà, rắn mối chết thiếu gì. Nai mễn cũng có. Nhưng “tổ tiên” mình là nhiều nhứt. Mấy ảnh ở trên ngọn cây nhảy xuống đất không kịp. Thuốc rượu của thầy Cử có khá không?

– Tao uống và thấy cũng như không…. uống!

– Vậy là mày “suy cái tỳ” rồi nghe mậy. Không uống “cao hổ cốt” thì không có pháo nổi cái Đồng Dù nghe em! – Rồi Tư Linh bỏ nhỏ – Ở đây bây giờ “ngồi thum” ở đâu tốt nhất?

Tôi ngẫm nghĩ rồi đáp:

– Chỗ nào cũng tốt mà chỗ nào cũng không tốt cả!

Tư Linh “úp gàu” rồi lõ mắt nhìn tôi:

– Mày là thổ địa Củ Chi mà nói cái gì kỳ vậy?

Tôi cười:

– Sự thực là thế. Chỗ nào cũng tốt là vì không chỗ nào còn dân. Mày đào hang khỏi sợ dân thấy. Còn không tốt là chỗ nào Mỹ nó cũng đào. Mày qua Sa Nhỏ thì biết bà má Hai còn có mấy bụi tre Năm Tiều moi hang ở đó mà xe ủi nó cũng bứng hết. Bây giờ mày ngó Củ Chi có thấy là hơn trước Mậu Thân không? Láng te như ruộng cấy.

Tư Linh ngồi trầm ngâm, đốt thuốc liên miên. Bỗng nhiên nói như mơ:

– Thằng Cu lớn tao đã lên 8. Còn mày chưa gì cả. Chừng nào mới được nhờ?

– Tao sắp có oe oe rồi.

– Trời! Bây giờ mà mới “sấp” thì chừng nào mới “ngửa”?

– Chuyện đời nói thế thì mày phải thế mày ơi!

Một chốc. Một hồi lâu. Vẫn lặng thinh. Hai đứa ngồi như gỗ.

Tư Linh:

– Rồi mày tính sao?

– Tính cái gì?

– Oe oe.

– Tao chưa tính tới đó.

– Còn mấy tháng?

– Tao cũng không biết.

– Sao cái đéo gì mày cũng không biết hết vậy mà làm tham mưu?

– Tính bây giờ chốc nữa thay đổi. Để chốc tính sát hơn.

– Mày nên học sách thầy Hai Khởi. Cho bả đập bầu ở nhà. Hai Khởi nó giao cho ổng bả bên Dầu Tiếng là khoẻ re. Lâu lâu mò về nựng con.

Tôi lắc:

– Tao khác. Thu Hà thoát ly gia đình 5,6 năm, cả vùng ai cũng biết. Làm sao vác mặt về. Về đó 2, 3 ngày là tụi Phượng Hoàng nó xơi tái ngay. Chỉ có cách là đào hang theo kiểu Sáu Hùm. Phải nó còn thì tao dựa nó.

– Cô mụ ở đâu?

– Tám Mang ở Vườn Trầu.

– Phải dè vậy lấy quách bà mụ cho xong.

– Mụ đẻ cho người ta chớ đẻ cho mình được sao?

Tư Linh cười. Một chốc:

– Hồi ở vườn sầu riêng tao bảo xáp vô con lủng sĩ đi. Thiên thời, địa lợi, nhân hoà có cả 3 yếu tố chiến thắng mà cứ ở đó so cựa. Hổng chịu đá cho rồi.

– Tao có so gì đâu. Nhưng cái gì chưa đến thì chưa đến.

– Bây giờ đến rồi lại cũng không quyết đoán. Nó sắp đóng Rạch Bắp rồi đó tao cho mày biết!

Bỗng Sáu Huỳnh tới. Ông trưởng ban Quân Báo (anh lên thay Chín Lộc mắt toét), ông trưởng ban địch vận khu và ông tham mưu trưỏng E Quyết Thắng khu. Ba ông dụm mỏ lại thành 3 ông táo đại hội mừng công.

Sáu Huỳnh đội cái mê nón tả tơi, áo bà ba cụt tay và mặc quần tiều bước vô như tên lái… bò tôi không ngờ. Anh lột cái nón ném xuống đất, để lòi cái đầu sói láng bóng lưỡng mồ hôi, nói ngay:

– Cái tên mày xui bỏ mẹ đi Lôi. Còn cái thằng trưởng ban “địt vặt” này nữa. 5 năm trời địt được có một thằng (xin lỗi độc giả). Tôi và Tư Linh chưa kịp nói thì anh đã tiếp:- Màu thay mặt đoàn xít nớp(69) cho nên từ đại hội mừng công tới bây giờ cứ “xách nóp” chạy lòi con trê. Có nước lạnh cho tao một tô coi. Đang khát cháy cổ đây nè.

– Tên ai đặt chớ phải tui sao anh rầy tui?

Anh móc trong áo ra chiếc bình toong Mỹ.

– Thời buổi này phải giấu. Con nít thấy là đầm già hay.

– Tụi nó sắp đóng Rạch Bắp hả anh Sáu?- Tư Linh hỏi.

– Chừng nào tụi bây làm xong cái Rạch Khoai rồi nó mới đóng Rạch Bắp! Tao cho tụi bây hay, tao chuyển qua lo cơm áo gạo tiền rồi chớ không còn “báo” hại nữa nghe.

– Ủa, sao vậy anh Sáu? – Tôi hỏi.

– Thì cũng như người ta đi lên đàng xuống đường rần rần chiến thắng no phè, sao mày còn trụ đây?

Sáu Huỳnh ngó quanh, hỏi:

– Con nhỏ nhân viên của tao đâu rồi?

Tôi quay vào trong:

– Thu Hà ơi! Ra chào bác Sáu!

Sáu Hùynh cười ngất:

– Mày tội lớn lắm. Quơ nhân viên của tao rồi loại nó ra ngoài vòng chiến thấy không?

Tư Linh nói:

– Nó là dân chuyên nghề “xách nóp” mà anh không biết sao? Anh để nóp ngoài hè là xách tuốt.

Thu Hà từ bếp bước ra:

– Chào bác Sáu!

– Ừ, vợ kêu bác thì chồng cũng phải kêu bác nghe không Lôi!

– Dạ thưa Bác … Sáu.

– Tụi bây xui quá. Đám cưới gì chưa tuyên bố đã bị con đầm già ò e. Mà cũng may hụt ăn dưa hấu. Rồi chiếc “Lá Đa” của cơ quan bỏ đâu?

– Bay luôn rồi bác ơi! – Thu Hà đáp – Ở đây dưa hấu hay rơi thình lình quá hà.

Tôi bảo:

– Vô coi món gì đãi bác Sáu một bữa đi em. Nay mai bác gái lên đây đón em về Tân Bửu thăm bà con vài bữa.

– Mày thấy không? Tao tiên đoán tình hình bá niên tiền bá niên hậu nên tao cưới vợ hồi 45 bây giờ sắp có cháu rồi. Còn mày tới chừng chống gậy mới bằng tao bây giờ.

Tư Linh hỏi:

– “Vụ đó” thiệt rồi hả anh Sáu?

– Thiệt. Mày không nghe đài Hà Nội khóc như mưa à?

– Còn vụ kia?

– Mày ở ngay đó còn hỏi tao!

– Còn vụ mới đây?

– Mày hỏi thằng phò mã hụt này thì rõ. Một ông tối cao, một ông đại cồ rồi một ông trung trung nối đuôi nhau đi. Thôi.. mấy vụ đó xếp qua một bên đi để còn lo đại sự. Tao bây giờ mà phải đi chắp lại mấy cái đường dây xe bò để chở gạo qua sông.

– Xe bò chở gạo qua sông hả anh Sáu?

– Ông nội Năm Tiều làm tụi xe bò sợ có huông bây giờ lên giá, tao trả mỗi đêm 1000 tụi nó cũng thụt cà lui. Không nhận. Bà tổ trưởng, má Chín Khuân dông mất rồi.. Mày biết ngoài gạo ra hậu cần còn mua gì thêm không?

– Muối chớ gì?

Anh nói qua chuyện Năm Sĩ:

– Thời kỳ này quân ta phân tán mỏng. Ăn xong ngồi thum. Phải công tác chánh trị chúng nó bằng tu-lơ-khơ, dà dách, cách tê. Nếu không, tay chân nó táy máy như thằng Nhẫn. Rồi con gái người ta phì ruột. Dân quân hết cá nước. Du kích gài lựu đạn chết mất ông tiểu đoàn phó thấy chưa? Đồng chí Trường Chinh có dạy: “Trời không mưa cũng mang ô theo”, mày không nhớ à? Thầy nạo bây giờ lủi mất tăm mày dễ gì mà kiếm? Vợ mới bầu lo ổ đẻ là vừa.

Sáu Hùynh dứt lời, đứng dậy sắp đi. Tôi hỏi:

– Anh đi một mình sao anh Sáu?- Có hai thằng ông nộti đi theo giữ ma, sợ chúng nó biết ổ của mày tao bỏ tụi nó ngoài kia. Lúc này mấy ổng hay buồn tình dông ra Sàigòn ăn cà-lem uống nước đá “nạnh” như mấy ông Bảy Tạo, Tám Bụng lắm. Cho nó biết chỗ ở của Thiên Lôi đâu có tiện.

Tư Linh hỏi:

– Theo tình hình này anh nhận định thế nào anh Sáu?

– Thì cái ban “địt vặt” của mày cứ tiếp tục làm tới là tụi Mỹ nó tản hàng ngay chớ gì mà lo!

Nói xong Sáu Huỳnh nhặt chiếc nón úp lên đầu đi ra cửa.

– Ổng bỏ quên bình rượu- Tư Linh la.

Tôi cầm lấy chạy theo. Sáu Hùynh quay lại khoát tay:

– Quà cưới cho mày đó. Ráng mà làm thằng say rượu hiểu chưa?

– Ờ, vậy thì cho con cắc kè vô đó, ạc-mô-ni lắm.

Rồi Tư Linh xé con cắc kè bỏ vô bình rượu sục sục:

– Ổng dặn mày làm thằng say để làm gì mày biết không? Mày biết ai sợ thằng say không?

– Thôi mày ơi! Vợ bầu rồi say rượu làm chi?

Đùa chơi mấy câu cho tan cái không khí bi quan. Rồi cũng trở lại thực tế. Quanh đi quẩn lại cũng vấn đề hang. Đào ở đâu bây giờ. Sa Nhỏ, Bàu Lách, Bàu Trâu hay ra Phú Hoà?

Chỗ nào cũng không ổn cả. Trên đất Củ Chi này còn nơi nào là không có dấu xích xe tăng.

– Sáu chín khác xa sáu lăm hả mậy? – Đột nhiên Tư Linh nói – Bây giờ còn tàu đi Dầu Tiếng Bình Dương thì vui quá hả mậy. Hồi đó vườn sầu riêng còn y nguyên mày ngồi trên cầu đá khảy đờn lẳng tẳng.

– Rồi còn xe nước mía, còn tiệm hủ tiếu nữa chớ.

– Ờ, con xẩm lai đâu rồi mậy?

– Tao đâu có theo dõi.

– Không biết có thằng nào đến mượn cuốn “Buồn Nôn” (1) của nó không?

– Nó không ưng bọn mình đâu. Chắc nó về Bình Dương hoặc Sàigòn rồi.

– Còn má con Liên?

– Tao … không gặp!

– Chợ An Nhơn bây giờ?

– Hết là chợ rồi. Nó là đống củi!

– Bây giờ mày định cho tao chui đâu?

– Chỗ nào cũng được nhưng chỗ nào cũng không được. Phải mầy thấy cái bụi tre của Năm Tiều bị ủi thì mày mới có ý định được!

– Tao thấy chục lần rồi chứ phải chưa hay sao. Này, lâu rồi mày có nhắc thằng Vĩnh lục quân phải không?

– Ờ, kỳ đó tao với Tư Nhựt đi Trung An gặp nó. Nó mới cho tao biết cái chết lảng xẹt của Hùynh Thành Đồng. Tụi lính bắn chêt ông tham mưu phó khu mà không biết… Tao có mua con gà luộc ra cúng mả nó.

– Đi năm sông bảy núi không sao về đây úp mặt dưới lỗ chân trâu mà chết. Nhớ hồi học lục quân vậy mà vui. Ăn cơm bằng muỗng vùa đũa tre. Tới giờ, mạnh đứa nào đứa ấy gõ lóc cóc vang đường. Nhờ mấy lão huấn luyện viên khó tánh mà bây giờ mình bò thắng cả xe tăng. Mày biết Trần Bá Xài bây giờ ở đâu không?

– Tao đâu có gặp ảnh lần nào nữa. Tao thích thằng cha Bắc Kỳ đó lắm! Thằng chả dám nói “quê Ninh Bình của tao nghèo bỏ mẹ, tụi bây đừng có đi (tập kết) . Ra đó ăn củ chuối cho mà rách mép”.

Gợi lại kỷ niệm xưa tôi vẫn còn nhớ mấy câu ca dao:

Xuân hạ thu đông đủ bốn mùa
Thuốc thì hay hút chẳng hay mua.

Đó là đặc tính của mấy tay ghiền trong đó có Tư Linh. Nói cho ngay, tiền đâu mà mau. Mỗi khi thấy ai banh gói thuốc ra là Tư Linh xà tới. Trước nhứt cuộn một điếu đốt phì phà cái đã rồi kế đó rứt một mớ giắt mép tai “để về ung muỗi”. Đứa nào cười Tư Linh trả lời tỉnh bơ: Tháng nào có lúi tao bao cả trung đội. Anh nào có chai dẩu Nhị Thiên Đường lấy ra xức, rủi gặp Tư Linh đưa tay mượn thì phải méo mặt. Anh Tư xức mũi ướt rượt cả nhân trung. Xong rồi thong thả trét lên hai bên thái dương đẫm cả tóc mai. Nhưng chưa chịu trả chai cho chủ nhân. Anh Tư chẫm rãi vén áo lên bắt đầu xức rún. Cái rún của anh Tư không phải loại rún lồi mà là rún lõm có thể chứa ba tô nếp lức. Anh Tư than: hôm qua uống nước lá tràm của nhà bếp nấu không sôi nên đau bụng suốt đêm. Với cái lý do chánh đáng đó, anh tha hồ tẩm rún cho đến lúc chủ nhân nhăn mặt mới bỏ áo xuống. Nhưng nào đã chịu trao chai dầu cho bạn. Anh Tư đưa ngón trỏ lên bịt miệng chai dầu, chổng đít nó rồi lắc lắc mấy cái cho dầu thấm kỹ vô đầu ngón tay xong rồi thè lưỡi liếm, thi hành cách trong uống ngoài thoa cho mau hết đau bụng. Có lần anh Tư xoe miếng giấy quyến rồi thấm tí dầu, cho vào miệng chép chép.

Đến khi anh Tư trao trả cho chủ nhân thì chai dầu mới toanh đã lưng gần nửa.

Thế nhưng anh em không mất cảm tình với anh Tư. Anh Tư được bầu vào ban Vui Sống nhà trường. Lúc nào Tư Linh cũng có thể lên sân khấu đóng kịch cương làm cả đám học sinh cười bể bụng.

Tư Linh từ giã tôi và Thu Hà. Tôi đưa bạn ra tận thềm.

– Mày ở lại đây, để tao cho người dọ chỗ đã! Củ Chi sau Mậu Thân không phải là Củ Chi trước Mậu Thân đâu nghe mậy!

– Chớ mày biểu tao về trển chơi “coup de tête” (cú đội đầu) với B52 hả?

– Dục tốc bất đạ.

– Nếu vài bữa, không tìm được, tao sẽ quay lại tìm mày.

– Nên nhó phải tự đào lấy nghe, đừng có chui hầm quốc tế như Hai Giả!

Hắn lựng khựng một chút rồi chép miệng:

– Thằng Cu lớn của tao đã 8 tuổi rồi. Còn thằng bé cũng lên 5. Hai thằng cũng đỡ hả mậy? Mày ráng bắn cập tập đi. Vái bả sanh cho mày một cặp đực rựa.

Bắt tay tôi hắn không muốn buông ra:

– Coi vậy chớ mày khoẻ hơn tao. Dầu chiến tranh có kéo dài 5, 10 năm mày cũng không bị cái cầu “Bất Lương” ngăn cách.

Rồi hắn buông tay tôi quay lưng đi, tôi ngó theo rưng rưng nước mắt. Tôi kêu lớn:

– Tư Linh! (hắn ngó lại) khoan đi, trở lại tao bảo cái này.

Nhưng hắn xua tay, rồi đi thẳng. Cái bóng hắn ngả dài trên mặt đất cát pha màu nâu. Đến một hố bom hắn đi vòng qua rồi quay lại vẫy tay lần nữa. Tôi mong hắn trở lại nhưng hắn cứ lầm lũi đi thẳng. Tôi đứng nhìn theo cho đến khuất mới trở vào. Thu Hà trách tôi:

– Sao anh không cầm ảnh ở lại ăn cơm, mai rồi sẽ đi?

– Anh cản nó hai ba lần… vài hôm rồi nó sẽ trở lại.

– Biết mình còn ở đây không?

Thật vậy, Củ Chi mỗi phút mỗi khác huống là mấy ngày.

Mấy hôm sau tôi nghe tin ông Trưởng ban Địch Vận bị địch bắt.

(1) Quyển “Buồn Nôn” (La Nausée) của J.P. Sartre

—->Chương 129-Hết

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: