2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QVII (129 – Kết)

2000ngaydem_bia7

Chương 129

Những món quà bất ngờ.

– Anh đưa em một quãng đường để em hỏi thêm một ít kinh nghiệm…chiến đấu.

Nê rưng rưng nước mắt nói với tôi.

Hai Khởi bảo:

– Lên chức Quận Đội Phó rồi còn nhõng nhẽo .

– Nó chỉ nhõng nhẽo với anh thôi .- Út đầu đỏ tiếp.

Mỗi người một câu chêm vô, nhưng Bảy Nê không ngán. Nàng trả mánh.

– Em xin về đây cốt là để gần gũi và học tập anh Hai, nay em phải đi xuống đó xa ảnh. Anh Hai à, anh không cho em đi được không ?

Tôi bảo:

– Lệnh của Quân Khu đâu phải lệnh của anh.

Hai Khởi nói:

– Hổng đi thì cứ ở lại chớ lo gì. Nhưng rồi mai mốt ông Năm Đăng ổng cho người đem kiệu xuống rước lên Gò Gâu làm cai phó tụi Sàigòn-quay có chịu không ?

Nê phụng phịu:

– Em thật tình không muốn đi chút nào!

Hai Khởi cười:

– Trời, em là rũng sĩ mà không xuống Nam Chi thì đi đâu! Ở dưới xe tăng như bọ hung, cá nhái bù nốc cá lẹp như ruồi, muốn lập công chừng nào cũng sẵn mục tiêu cho phát hoả.

– Thôi anh ơi! Đi xuống đó là hết có về.

Út đầu đỏ nói:

– Con nhỏ dại mồm dại miệng dữ hôn! Củ Chi này có mấy đứa được ở trên đề bạt như vậy. Người đáng buồn là tao nè. Canh sôi cơm cạn mà không có tay bây giúp thì làm sao có cho lính ăn? Tao nhớ lần đóng ở Trảng Cỏ, trực thăng dọn bãi bắn bể cái chảo cơm mà bây cứu được . Đến chừng đánh trận xong, cơm không sống chỉ hơi khê chút đỉnh thôi. Bởi vậy kỳ này mày đi, tụi lính nó buồn lắm, còn tao cũng muốn khóc, nhưng tao già rồi khóc mếu ai coi cho!

Cô nàng đã xốc ba-lô lên lưng, bao đạn AK quàng trước ngực, súng khoác lên vai, nhưng Hai Khởi còn ghẹo:

– Coi phải thế cháu bà Phó Tư Lệnh quá chời!

Út đầu đỏ còn nói ráng:

– Xuống đó tao chỉ ngại cho mày một điều đó Nê.

– Điều gì chú Út nói cho biết để cháu đề phòng?

– Thằng Năm Ngó có tật ngó. Nó “ngó” chỗ nào thì hại chỗ đó. Mày thấy không? Hồi Đồng Khởi nó xách cù nèo chạy long tong chớ đâu phải cán kiếc gì thế mà bà Sáu Bầu ngoài Bến Mương bị nó “ngó” hai phát lọt ra 2 cục.

Bảy Nê nguýt:

– Chú Út nói chuyện gì đâu không hè!

Tôi lấy cây K54 của tôi quàng cho Nê, bảo:

– Đây là anh kỷ niệm cho em trong mấy năm chiến đấu chung với anh. Anh chúc em lập công nhiều hơn nữa.

Cả đoàn nhân viên cán bộ văn phòng đưa Nê lên đường.

Hai Khởi bảo:

– Khi đến Ngã Ba thì cô quận đội phó và mấy cậu trinh sát đi Nam Chi, rẽ phải, còn Thầy về mau, kẻo quả bầu ở nhà bể bất tử không có ai giúp đỡ!

Đến Ngã Ba, chỉ còn tôi và Nê. Nàng bảo:

– Anh Hai đến nhà ông Hai Bụng khuất chòm tre kia cho em hỏi chuyện này một chút.

Nhà Hai Bụng xã đội trưởng lợp ngói, ba căn hai chái. Nhưng bây giờ chỉ còn cái nền và nhà bếp. Trong nhà bếp có cái hầm thật lớn để dành cho lũ trẻ con. Tôi đã từng ngủ ké ở đây những lúc lỡ đường . Nghe Bảy Nê nói, tôi đi theo nàng . Chốc nữa trở lại Ngã Ba chỉ mất 15 phút .

Trời ngả sang hoàng hôn. Mây đỏ bầm phủ kín một góc trời. Ở Củ Chi buổi chiều không phải là thời khắc nghỉ ngơi mà là thời khắc nhận tin buồn. Cả ngày bom pháo xe tăng hoạt động, chiều lại khắp nơi hay tin. Dưới làn đạn xe tăng có gì khác hơn tin đổ máu.

Nê bảo:

– Chắc bây giờ ổng cho trẻ con xuống hầm hết rồi ! Để em kêu.

Tôi ngăn:

– Em có hỏi gì thì hỏi mau đi chớ kêu réo người ta làm gì!

Nhưng nàng đã vọt vô nhà rồi trở ra không giấu được nỗi vui mừng trong giọng nói:

– Chắc ổng đi ngủ chung với du kích. Còn bả và sắp nhỏ tản ra Trung Hoà hết rồi. Trời còn sớm, anh vô đây em hỏi chút.

Rồi nàng bảo hai cậu trinh sát:

– Hai em vô nhà kia nghỉ, chừng nào làm việc xong với anh Hai, chị kêu.

Tôi sốt ruột trở về, nhưng trước sự quyết định của cô quận đội tôi bất cập và không chống đối gì hết. Cứ ngoan ngoãn vâng theo.

– Hầm tốt quá anh ạ.- Nê quét đèn pin vào lòng hầm và nói – Anh vô để đồ nghỉ đi rồi em hỏi anh về “trận đánh đồn Thái Mỹ”.

Tôi rất khó chịu về trận Thái Mỹ vừa rồi. Bảy Mô bảo là tôi ra lệnh. Mô đang nằm y xá, nay nghe Nê nói thì tôi muốn biết thêm nguyên do.

Nàng đẩy tôi vào hầm và lấy chiếc đèn nhỏ làm bằng chai alcool de menthe thắp lên. Đóm sang bằng hạt đậu xanh toả mờ trong hầm. Nàng nhanh nhẹn móc bản đồ trải ra.

– Đây là Thái Mỹ. Đội nữ tấn công từ điểm này.

Tôi nói, không ngó vào bản đồ:

– Các em đánh như vậy cầm chắc thất bại trong tay. Thái Mỹ tái đóng nguy hiểm và mạnh hơn Thái Mỹ trước kia. Vậy mà các em chỉ có AK thì làm sao hạ được?

Nê nói:

– Con Mô đã từng chiến đấu, lẽ gì nó đi đánh một trận như vậy, anh biết tại sao không?

Tôi ngồi im, Nê tiếp:

– Nó đánh Thái Mỹ không phải để hạ đồn mà để đồn hạ.

– Em nói gì kỳ vậy?

Nàng ủi mặt vào vai tôi:

– Thiệt vậy mà.

– Nghĩa là sao?

– Anh sáng suốt lắm mà không hiểu à?

Tôi lắc. Nê hỏi:

– Anh có đi thăm nó chưa?

– Rồi.

– Vết thương nó lành chưa?

– Còn băng.

– Không bao giờ lành! Không bao giờ!

– Sao vậy?

– Ngay tim làm sao trị được?

Tôi lặng thinh. Nê lắc vai tôi:

– Bây giờ anh hiểu chưa?

– Chưa hiểu. Không hiểu gì hết.

Tôi kệu thầm trong tâm linh. Tôi muốn cho đơn vị hiểu đó chỉ là một sự bốc tếu của nàng dũng sĩ thôi, không gì khác.

– Thôi để anh về.

Nê cười:

– Em chưa hỏi hết!

– Đó chỉ là một trận đánh trung bình, không có kinh nghiệm gì đáng học.

– Theo em đó là một trận kiểu mẫu.

Tôi định chui ra. Còn nàng thì xếp tấm bản đồ lại. Ngọn đèn vụt tắt.

Tôi nghe hơi ấm phả vào mặt tôi. Tôi quờ tìm chiếc đèn pin, nhưng nàng chặn lại.

– Trực thăng soi tới kia cà.- Giọng nàng run run – Anh đừng để em phải đánh một trận như Thái Mỹ nghe.

– Về Nam Chi làm sao có Thái Mỹ?

– Ở dưới Nam Chi không có thì em lên Bắc Chi!

– Không nên đánh một cái bót hai lần. Đó là kinh nghiệm của anh.

– Tại sao vậy anh?

Tôi thành thật:

– Đứng về tâm lý, lính mình chủ quan. Đã hạ được một lần bây giờ xem thường. Còn bên địch, đã bị hạ một lần, kẻ địch quyết cố thủ không để bị hạ lần nữa. Ngoài ra về mặt bố phòng, chúng thay đổi, về mặt vũ khí thì tăng cường. Tên xếp đồn thứ hai đổi lại bao giờ cũng cao cấp hơn hoặc kinh nghiệm hơn tên trước. Em coi Thái Mỹ bây giờ thì biết. Có phải vậy không?

Nê thích thú cười rúc rích. Tôi muốn lấy sự thực ra mà giảng giải nhưng Nê bắt quẹo lại lý do đánh Thái Mỹ của Bảy Mô.

-Anh ác thật!

– Anh đâu có ra cái lệnh gì kỳ như vậy!

Nê cứ để cho cuộc đối thoại chìm trong bóng tối. Nàng gắt yêu:

– Anh thiệt à!

– Thôi để anh đi về!

Bất ngờ hai tay nàng ôm quàng lấy tôi và tôi nghe tiếng thầm thì:

– Anh không để ý gì hết á!

– Chịp, tình hình căng thẳng quá em à.

– Căng thẳng sao còn đám cưới? Anh không biết con Mô đối với anh ra sao à?

– Thôi buông anh ra!

– Nó yêu anh cho nên nó rước má nó vô.

– Chịp… là để anh mượn lúa cho bộ đội ăn, chớ đâu có việc gì.

– Rồi sao nó vác AK đi đánh đồn. Nó liều mạng đó…

Nê ôm miết lấy tôi, thì thào:

– Anh cho em.

– Không được đâu em!

– Sao anh hà tiện với em vậy. Anh có biết em xin về văn phòng nấu cơm là để gần anh không? Em tha thiết mà anh cứ lơ là. Đêm ngủ hầm Sáu Hùm, pháo bắn em lăn xuống võng anh. Em…Em…- Nàng lắp bắp – Mấy đứa nó đẹp hơn em nhưng không thương anh bằng em. Anh đè trên mình em, em nghĩ anh sẽ ..sẽ…

– Bây giờ anh có vợ rồi em à!

– Em chưa biết yêu ai, chỉ anh thôi.

– Một tiếng nổ cũng là một trận đánh. Rồi em sẽ có chồng có con vớí người ta.

– Người chồng lý tưởng của em là anh đây.

– Em đừng nói vậy.

– Em nói thật. Em không lấy chồng! Xuống Nam Chi còn sống sao được mà hòng chồng con!… Anh nghe tim em đập đây này – Nàng cầm tay tôi luồn vào áo, giọng càng đứt quãng. – Em không sống đâu anh, em không còn gặp lại anh đâu anh Hai. Của anh đấy, em cho anh đấy! Tất cả, tất cả không tiếc với anh một thứ gì.

Rồi nàng úp mặt vào vai tôi .

(Ngờ đâu đó là lời trăn trối của người con gái Củ Chi. Vào lúc cuối năm, sau một thời gian ngắn làm việc ở phòng Tham Mưu, tôi được đưa trở lại E Quyết Thắng thì Nê đã hi sinh. Nàng bị thương trong trận đánh ác liệt đột nhập vào ấp chiến lược Cây Bài. Đơn vị do nàng chỉ huy bị phục kích. Người trinh nữ nằm bên vệ đường số 8. Má nàng đến xin xác con chở bằng xe bò về ấp Phú Mỹ, chôn cạnh thằng em trai là thằng Lợi, liên lạc của C3 D Quyết Thắng cũ trên đường hành quân đánh Pari-Tân Qui bị xe tăng bắn chết ở Mội Nước Nhỉ gần Bến Hõm. Mộ hai chị em nằm gần nhau trong vườn nhà, bên cạnh thánh thất Cao Đài. Một lần đi ngang đây, tôi ghé vào đốt nhang cặm trên bàn thờ nàng . Cậu bé Lợi mới 14 tuổi nên chưa có bàn thờ.

– Mong em không còn giận hờn anh và phù hộ cho anh!.

Mỗi lần đi qua cầu Láng Tre, ngó thấy tàng cây đa bên nóc thánh thất, tôi lại nhớ câu nói của nàng.

Nguyễn Thị Nê, quận đối phó Củ Chi chết cuối năm 1969)

…Tôi vừa đi vừa chạy trong đêm đen mịt không nhìn trái ngó phải gì hết mà tôi vẫn tới nhà. Như một kẻ sống sót. Như vừa qua một ác mộng kinh hoàng.

Tôi đập cửa rầm rầm:

– Thu Hà! Thu Hà!

Hà sờ soạng mở cửa, tưởng tôi bị giặc đuổi.

– Anh sao vậy?

– Không sao cả!

– Sao anh về khuya vậy? Không ở sáng về!

– Không… ở… ở…được em ạ.

Tôi vào nhà đi thẳng vô hầm, vừa ngả vật ra vừa hỏi “Ở nhà con có máy không em?”

Có lẽ Thu Hà tưởng tôi vừa giải quyết xong việc gì ở đơn vị hệ trọng lắm (Mà hệ trọng thật!) nên không hỏi gì cả. Nàng chỉ đáp:

– Con máy tới 3 lần.- Rồi cầm tay tôi đặt trên hông nàng – Nó máy mạnh, em hơi đau.

Tôi cứ để bàn tay như thế mà ngủ luôn với cảm giác đang ôm con mình. Đến chừng nghe bàn chân bị giật giật mới thức.

Tiếng Thu Hà:

– Anh ơi dậy, dậy, có em gái anh đến.

– Em gái anh? – Tôi vọt ra không kịp rửa mặt.

– Ở dưới Tân Bửu lên đó .- Thu Hà trỏ tay.

Tôi bàng hoàng bước ra và nhìn một con “thòi lòi” mắt thồ lộ đen ngời đang ngồi đối diện với Thu Hà. Hai người nắm tay nhau có vẻ thân mật như quen hồi đời nào. Tôi như cái máy lùi nhanh trở lại, chạm trán vào góc cột, nhoáng lửa.

Em gái anh? Hai đứa em gái tôi đã có chồng có con chớ đâu còn son trẻ như cô nàng. Cách ăn mặc trang điểm lại càng làm cho tôi sợ hãi. Tóc quăn dợn. Kính dâm bí ẩn. Cuộc tao ngộ chiến này, rút lui thì bể mặt còn choảng thi sẽ không còn “nguyên Giáp”.

– Anh ơi! ra đây cho cô Út gặp mau đi! Làm gì ở trỏng lâu vậy? – Thu Hà giục.

Tôi cầm chiếc khăn vừa lau mặt vừa bước ra, miệng cáo lỗi:

– Đêm qua thức khuya giải quyết công việc nên ngủ trưa.

Người con gái đứng dậy chạy tới ôm chầm lấy tôi, reo lên và nói không hở miệng:

– Anh Hai, anh khoẻ không ? Ba má nhớ anh nên bảo em xuống thăm.

Tôi đang chuẩn bị đối phó: nếu xe tăng càn thì phải dùng B40 hay đại liên, nếu pháo giã thì chui ở đâu, còn nếu tình hình xấu nhất: B52 thì phải gồng mình chịu v.v…Nhưng trái ngược với sự dự định của ông Tham Mưu, nàng có vẻ hoà hợp hoà giải hiền khô. Tôi kịp thời chuyển cung để hoà tấu. Tôi cũng vuốt tóc vuốt lưng nàng…em gái.

– Anh cũng nhớ nhà lắm nhưng bận việc nên ơ ơ…mà anh đâu có về nhà được.

Nàng em gái vẫn tỉnh bơ:

– Ba má nghe anh “tiên bố” nên bảo em đem đồ lên cho anh, nhưng tình hình động nên không đi kịp ngày.

Tôi lấy làm lạ “đám cưới chạy tang” sao gia đình tôi ở tận Sàigòn lại hay? Nàng tiếp:

– Ba má hay tin sắp có cháu bồng nên bảo em may đồ cho cháu .- Nàng lấy bọc lôi ra quần áo trẻ con, nói tía lia. – Gái thì mặc bộ đồ đầm, còn trai thì diện đồ lính thủy. Có cả mũ len cho ấm mỏ ác. Này, đôi giày nhỏ xíu, xinh ghê. Chị Hai thèm chua hay thèm ngọt?

Thu Hà nói:

– Thèm ngọt nhưng không mua được đường.

– Vậy thì con trai rồi. Để kỳ sau em sẽ mang thêm đồ con trai. Anh chị có định đặt tên gì chưa? Có lẽ anh chị sẽ lấy tên xã ấp anh chị chung sống mà đặt để giữ kỷ niệm như Bàu Trăn, Bàu Chứa, Cây Điệp,Trại Bà Huệ, Củ Chi.

– Ừa, sao cô Út rành địa danh ở đây hết vậy?.- Thu Hà hỏi.

– Em đã từng đến Ràng ở mấy ngày mà…Lần đó má cũng có vô. Cả nhà làm tiệc vui lắm há anh Hai? hé hé…coi kìa sao anh làm thinh vậy?

– Ở ờ… thiệt vui!

Cô “em gái” đứng dậy cáo từ:

– Em phải về ngay kẻo không kịp.

Thu Hà nói:

– Đây ra quốc lộ vọt 2 tiếng là về tới Tân Bửu chớ gì cô Út.

– Em không đi đường đó chị à.. Em ra Thái M…ỹ rồi quẹo lên ra quốc lộ.

– Ủa sao cô đi vòng vo kỳ vậy?

– Em thích đi con đường Thái Mỹ. Chỉ có con đường đó em mới đến Sàigòng thôi.

Rồi không để ai nói gì thêm, nàng đứng dậy đi ra thềm nổ máy xe, vút đi như bão tố không quay lại.

Hú viá! Cho tới nay, hơn 30 năm qua – Tôi không hiểu hôm đó Thu Hà có biết tôi đóng kịch với “người tình có trái tim rực lửa” hay không? Thôi, coi như nàng không biết để được sống yên ổn.

Chương 130

Bảng “Phong-thần” Củ-Chi

Đúng ba hôm sau tôi được tin hắn bị xe tăng moi hầm bắt cùng với Ba Thụy Dt đặc công Gia Định. Ba Thụy chỉ huy đám đặc công đánh Đài phát thanh, không xong dội ngược về, sợ Năm Đăng bắt nhốt nên lách qua đây ẩn náu cho qua truông. Gặp Tư Linh, hai thằng đều chưa có nơi chỗ nên chui hầm “quế-tấc” và bị khui.

Ba Thụy là đặc công thứ mặt rằn chớ không phải “đặc công con” thế mà còn bị bắt thì ai khỏi?

Không biết có bị bắn tại miệng hầm hay không ? Cái tin sét đánh mà nghe như đùa. Vậy mà là sự thật.

Giữa hai lần hai đứa gặp nhau ở chiến trường Củ Chi năm 1965 và lần này 1969, có bao nhiêu bạn bè gục ngã. Rải rác trong các quyển trước tôi có ghi tên tuổi họ nhưng không đầy đủ, nay ngồi nhớ lại và xin ghi ra. Thời nhà Châu phạt Trụ có một Bảng Phong Thần, nay cũng có một bảng Phong Thần Đỏ, xin tạm ghi ra với cấp bực, nơi và năm chết. Đứng đầu sổ là tên tướng đầu đỏ Nguyễn Chí Thanh, tục gọi Sáu Di chết ở Long Nguyên trước ngày Tổng công kích Mậu Thân 68.

1 Trần Đình Xu, đại tá Tư Lệnh quân khu IV chết ở Phước Chỉ Trảng Bàng năm 1969.

2. Nguyễn Xuân Trường công nhân, chánh ủy quân khu chết cùng nơi cùng năm với ông Tư Lệnh

3. Ba Kiên (tên thật Nguyễn Văn Lực) thượng tá Phó Tư Lệnh khu F. 308, 1969

4. Năm Dũng thượng tá phó chánh ủy khu F.308, 1968

5. Bảy Tùng thượng tá phó chánh ủy khu , 1967

6. Ba Ân thượng tá phó chánh ủy khu , 1967

7. Nguyễn Văn Bảo đại tá chánh ủy E330 từ Bắc về làm chánh ủy quân khu, năm 1965.

8. Út Lịa thiếu tá Et E268 bị biệt kích bắn chết ở Ba Cụm 1967

9. Sáu Nam thiếu tá Et E268 bị pháo bắn chết ở Đồng Lớn 1969

10 Tư Nhựt thiếu tá Et E Mũi Nhọn chết ở Sài Gòn, Mậu Thân 1968

11 Tám Lệ thiếu tá Evf E Mũi Nhọn chết ở Sài Gòn Mậu Thân 1968

12. Hai Phái Ev E Mũi Nhọn chết ở Sài Gòn Mậu Thân
1 968
13. Năm Thêm Evf E Mũi Nhọn chết ở Sài Gòn Mậu Thân 1968

I4. Năm Truyện thượng tá, Ft công trường 9 tư lệnh tiền phương chết ở Sài Gòn Mậu Thân năm 1968

15. Tư Chi trung tá, Tham mưu trưởng tiền phương chết ở Sài Gòn Mậu Thân năm 1968.

16. Út Sương Dv D1 E Mũi Nhọn chết ở Sài Gòn Mậu Thân 1968

17. Ba Đức Dt D1 E Mũi Nhọn chết ở Sài Gòn Mậu Thân 1968

18. Năm Thới Dt D2 E Quyết Thắng chết ở Bàu Lách 1969

19. Ba Nhẫn Dv D1 An Nhơn 1969

20. Tám Bá Dt D8 sau lên Ef Q16 chết ở Cầu Xe 1967

21. Tám Thôn Dvf D4 đốc công Ef Q16 chết ở Gò Đình 1969

22. Hai Giả đại úy Trưởng ban H6 (pháo binh) Thủ Đức 1965

23. Sáu Phấn đại úy Ctv H6 (pháo binh) Gót Chàng 1967

24. Năm Vị thượng úy trợ lý H6 (pháo binh) Bến Mương 1966

25. Cao Hoàng Thủ Dt D8 (pháo binh) An Phú 1967

26. Sáu Uýa Dt D8 (pháo binh) An Phú 1967

27. Tám Mao Dt D8 (pháo binh) An Phú 1967

28. Ba Tố Df D8 (pháo binh) An Phú 1967

29. Năm Đùng D8 (pháo binh) An Phú 1967

30. Ba Tân TMT D8 (pháo binh) An Phú 1967

31. Sáu Đưc quản lý D8 (pháo binh) An Phú 1967

32. Hai Tiến quản lý E Mũi Nhọn Sài Gòn 1968

33. Ba Châu thiếu tá TMP quân khu Bến Súc 1966

34. Sáu Gấm phó phòng chánh trị khu Dầu Tiếng 1966

35. Hai Bi trưởng ban tổ chức khu (không nhớ)

36. Tư Thuật đại úy trưởng ban công binh H5 1966

37. Hai Ninh trưởng ban thông tin H7 1966

38. Tám Nguyên thượng úy phó ban thông tin H7

39. Ba Giỏi đại úy trưởng ban Quân lực

40. Hai Nhơn thiếu tá quyền trưởng phòng hu cần khu

41. Sáu Lễ phó ban Quân Báo H2 1967

42. Hai Tôn đại úy chánh văn phòng Tham mưu khu

43. Sáu Thưa trợ lý dân vận K20

44. Sáu Công trợ lý Ban Tổ Chức K20

45. Bảy Nô Dt D7 chết ở sông Lòng Tào trên đường lên Rừng Sát 1967

46. Sáu Thiệt Dv D7 chết ở Dầu Tiếng hay Rạch Kiến (không nhớ) 1968

47. Tư Trường Dv D2 E Mũi Nhọn chết ở Sài Gòn 1968

48. Tư Bính Df D Quyết thắng chết ở Rạch Kiến 1968

49. Tư Quân Ef E Thép chết ở Bàu Tre 1969

50. Tám Càng Df D4 đặc công chết ở Bàu Lách 1968

51. Năm Tiều trung tá TMP quân khu, chết ởPhú Hòa 1969

52. Huỳnh Thành Đồng trung tá TMP quân khu, chết ở Trung An I966

53. Chín Hiến thượng úy trợ lý tác chiến K10

54. Vũ Xuân Liên trung tá Ev E Quyết Thắng (gốc F308) hồi chánh 1968

55. Hai Phán trung tá TMP quân khu hồi chánh 1968

56. Út Tòng trợ lý Ban Cán bộ Phòng chánh trị hồi chánh 1968

57. Trần Văn Đắc (Tâm Hà) chánh ủy tiền phương hồi chánh 1968

58. Hai Tốt trưởng ban tài vụ khu hồi chánh 1968

59. Ba Râu thiếu tá phó phòng hậu cần chết ở Bưng Còng 1966

60. Chín Nửa Ct trưởng ban bảo vệ khu chết ở Bàu Lách 1969

61. Mười Việt Df E Quyết Thắng chết ở Bàu Lách 1969

62. Bảy Đạo đại úy TMT quân đội hồi chánh 1968

63. Tám Hưu Ef E88 công trường 5 chết ở Tầm Lanh 1969

64. Hai Sơn D5 E88 chết ở Tầm Lanh 1969

65. Mười Nỉ TMT E88 chết ở Dầu Tiếng 1968

66. Tư Linh đại úy trưởng ban Binh Vận bị bắt ở Gò Nổi 1969

67. Ba Thụy đại úy trưởng ban đặc công bị bắt ở Gò Nổi 1969

68. Bảy Huyền đại úy trưởng ban Tuyên huấn K20 bị bắt

69. Ba Kính thiếu tá TMT khu đầu tiên 1963

70. Hai Đồng thiếu tá TMT E 268 bị bắt

71 Hai Khởi Dt D3 E 268 bị bắt 1969

72. Tư Hải thượng úy TMT Củ Chi chết 1967

73. Tư Lan Trợ lý Tham mưu Củ Chi chết không nhớ

74. Ba Trạch trợ lý TM Củ Chi bị pháo bắn chết ở Ràng 1967

75. Út Đức trợ lý TM Củ Chi chết 1966

76. Sáu Hùm trợ lý TM Củ Chi chết 1969

77. Tám Châu quận đội trưởng Củ Chi bị pháo bắn chết ở Bỗ Heo 1969

78. Một Sơn bí thư quận ủy Củ Chi bị pháo bắn chết ở Xóm Bưng 1966

79. Tư Bé (Nữ) quận đội phó Củ Chi bị pháo bắn chết ở Đồng Lớn 1968

80. Năm E (Et do Trần Độ phong do chiến công cõng ông ta qua Rạch Cây Da) chết ở Phú Hòa Đông 1968

81. Tám Thế quận đội phó Nam Chi chết ở Phú Hoà Đông 1968

82. Bảy Nê quận đội phó Nam Chi chết ở ấp chiến lược Cây Bài 1969

83. Út Thành quận đội phó Nam Chi chết ở ấp chiến lược Phú Hòa Đông 1969

84. Hai Thêm trưởng văn phòng Củ Chi và hơn 10 nhân viên bị xe tăng cán sập hầm 1967

85. Toàn bộ điện đài cơ quan quân báo khu bị bắt sống 1967

86. Tư Kỷ trưởng ban trắc địa Pháo binh H6 chết 1967

87. Tám Nghi thượng úy trưởng văn phòng TM khu bị bắt ở xóm Bà Huệ 1967

88. Ba Tâm và vợ là cô Thu bị pháo bắn chết ở Bến Mương 1967

89. Năm Dày Ct C4 Pháo chết ở rừng cao su Phú Hoà 1966

90. Ba Trác Cf C4 Pháo D1 Quyết Thắng chết ở rừng cao su Phú Hòa 1966

91. Ba Quyết Cf C3 D1 Quyết Thắng chết ở rừng cao su Phú Hòa 1966

92. Tư Công Ct Cl D1 Quyết Thắng chết trận Tân Qui 1966

93. Út Xướng Bt trinh sát D1 Quyết Thắng chết Rừng Làng 1967

94. Ba Trung Cv C2 D1 Quyết Thắng chết ở Cỏ Ống 1966

95. Bảy Xiềng trợ lý bảo vệ E Quyết Thắng chết ở SàiGòn 1968

96. Bảy Diễm trợ lý dân vận E Quyết Thắng chết ở Sài Gòn 1968

97. Sáu Cương trung úy trợ lý tác huấn phòng TM K10 chết ở Bàu Trâu 1966

98. Bảy Chín Ct C3 D1 Quyết Thắng chết ở Gò Nổi 1966

99. Ba Sinh Ct D2 Gò Môn chết ở Gò Môn 1966

100. ?? chết ở Đồng Lớn 1966

101. Sáu Ly trưởng ban Thanh niên và thi đua phòng chính trị chết ở Lào Táo 1968

102. Tám Bầy Bt trinh sát D2 Gò Môn chết ở Lào Táo 1968

103. Sáu Hoa (Nữ) quận đội phó Bến Cát chết ở Bến Chùa 1968

104. Chín Khánh trưởng ban quân báo Củ Chi chết ở An Hội Đông 1969

105. Mười Tùng phó quân báo quận hồi chánh 1969

106. Năm Trầu quận đội phó Củ Chi chết ở Đồng Lớn 1966

!07. Sáu Mã Tử nguyên xã đội trưởng (xdt) An Phú chết trận Rừng Tre 1968

108. Hai Nhiên Dv chết trận Rừng Tre 1968

109. Năm Đầu Ban Cf (du kích Hố Bò) chết trận Rừng Tre 1968

110. Bảy Mẫm Ct chết trận Vườn Trầu 1968

111. Bảy Sơn Ct (xđt Phước Hiệp) chết ở Suối Cụt 1968

112. Tư Ếch Ct (du kích Phú Mỹ Hưng) chết ở Củ Chi 1968

113. Thằng Tư Bt trinh sát chết trận Rừng Tre 1968

114. Thằng Bòn Bt trinh sát chết trận Rừng Tre 1969

115. Năm Lé Ct chết ở Đồng Lớn 1969

116. Ba Thắng Evf chết ở Vườn Trầu 1968

117. Út đầu đỏ (tức Út Thệ) quản lý E bị bắt ở xóm trại Giàn Bầu 1968

118 . Tư Thới Ct chết trận Rừng Tre 1968

119. Ba Bình Cf chết trận Rừng Tre 1968

120. Hai Chòi Dt chỉ huy trưởng trường Huấn luyện tân binh Lộc Thuận 1966

121. Lê Văn Hai Dt trưởng biệt động đội đô thành SàiGòn 1968

122. Mười Long thượng úy TMT D1 E Quyết Thắng 1968

123. Bảy Phúc quân y sĩ chết ở Rừng Làng 1966

124. Năm Đông trưởng ban quân trang quận chết Sa Nhỏ 1966

125. Năm Minh Dvf cxdt Phước Thành hồi chánh 1970

126. Ba Tô Dê trung tá TMP công binh đoàn 69 Lâm Đồng 1966

127. Tư Quảnh thiếu tá Dt tiểu đoàn phòng không 245 chết ở Bình Long 1966

128. Tư Thịnh thiếu tá chỉ huy trường Pháo binh chết ở Lò Gò Xóm Giữa 1967

129. Ba Ân chết ở Lò Gò Xóm Giữa 1967

130. Cao Hoài No phó chủ nhiệm chính trị E

132. Út Thành phó ban quản trị phòng tham mưu khu

132. Anh Hùng Ct đặc công D4

133. Bảy Mô nữ dũng sĩ R, toàn Miền Nam, hồi chánh 1970

134. Nguyễn Văn Ba Ct, D1 , E Quyết Thắng hồi chánh 1970

Hai cậu bé liên lạc Thuận và Thông đi Sài Gòn chết.

Hai cậu bé Tiển và Đá về Sài Gòn gia nhập Lôi Hổ của Mỹ.

Và nhiều cậu bé khác như Lợi (em Bảy Nê) không nhớ hết.

Sau đây là những người không có cấp bậc trong quân đội, gọi là xã đội trưởng, ấp đội trưởng các xã:

Xã Phú Mỹ Hưng.

– Chú Tư Thiên bí thư xã bị xe tăng cán nhẹp hầm 1969

– Chú Hai Bơi an ninh xã bị xe tăng cán nhẹp hầm 1967

– Năm Thuận anh chàng câu tôm bỏ ghe chạy trốn 1966

– Cô Là lên thay, bị xe tăng cán nhẹp cùng với Tư Thiên 1969

– Ba Cứng xđ phó bỏ ngũ với Năm Thuận

Xã An Phú:

– Năm Lầu, bí thư bỏ ngũ.

– Út Cương tuyên huấn xã (trong số người phục vụ Bọ Chét) hồi chánh 1967

– Hai Tới cán bộ an ninh xã (nhà cho Bọ Chét ở) hồi chánh 1967

– Hai Hiến ấp đội hồi chánh 1967

Xã An Nhơn:

– Ba Xây (nhà cho Năm Lê xây hầm)

Xã Nhuận Đức:

– Ba Có, bí thư chết 1967

– Ba Lá, an ninh chết 1967

– Ba Coi, xã đội trưởng chết 1967

– Năm Cội “anh hùng” đánh xe tăng chết 1967

Xã Phú Hòa Đông.

– Ba Trắng, xđt chết 1967

– Năm Hổ (anh Sáu Hùm cũng còn gọi là ông Cọp) chết 1966

Xã Phước Thành:

– Hai Đen, xđt hồi chánh

– Năm Định, ấp đội trưởng Vườn Trầu chết 1969

Xã Phước Hiệp:

– Năm Rỗ, xđt chết 1969

– Hai Khứ , an ninh chết 1969

– Bảy Điếc, bí thư chết 1969

Xả Tân An Hội:

– Tám Thiện, bí thư chết 1969

Xã Lợi Hòa Đông (Trảng Bàng)

– Sáu Dừng, bí thư chết Ba Tùng lên thay kiêm luôn xđt, hồi chánh 1970

– Năm Ú, giao liên hợp pháp hồi chánh 1970

– Năm Đức, cán bộ Binh vận hồi chánh 1970

Xã Tân Phú Trung:

– Mười Thưng bị ông bí thư Hai Lùn gài lựu đạn chết để giành chức 1968

v. v… và v. v…

Tôi ngồi một lúc ghi ra những tên trong bảng Phong Thần đỏ của đất Củ Chi. Trên đây toàn là cán bộ đại đội, tiểu đoàn mùa Đông, mùa Thu mang cấp bậc úy tá trở lên. Riêng ông Tư Lệnh sắp lên tướng thì đạp mìn chết.

Còn ở xã, tôi chỉ nhớ những ông xđt và bí thư. Cán bộ mà chết đến thế thì lính (giải phóng) và du kích, nhân dân, dân công chiến trường chết bao nhiêu?

Trước khi chết họ hăm hở chiến đấu cho lý tưởng Cộng Sản mà họ tưởng là tốt đẹp nhất thế gian. Hai Phái Chánh ủy Trung đoàn Mũi Nhọn đánh vào Sài Gòn năm 1968, trong lúc đơn vị tan rã, đã đứng lên gào: “đảng viên Cộng Sản tiến lên” chẳng có ma nào tiến cả. Chỉ có ông Chánh ủy bị bắn ngã gục mà thôi.

Rất tiếc ông ta và những vị trong bảng Phong Thần không ai còn sống để nhìn thấy đất nước Liên Bang Xô Viết rã bèng trong năm 1989. Hằng chục triệu đảng viên Cộng Sản Liên Xô như một đàn kiến tản hàng ùn ùn chạy theo cục đường tư bản và ngày nay Trung ương Cộng Sản Hà Nội đã trở thành tư bản trong lúc dân Việt Nam vẫn là vô sản muôn năm.

Phiên hiệu viết tắt của quân đội Việt Cộng:

F: sư đoàn
Ft: sư trưởng
Ff’: sư phó
Fv: chính ủy sưđoàn

E: trung đoàn
Et: trung đoàn trưởng
Ef: trung đoàn phó
Ev: chính ủy trung đoàn
Evf: phó chính ủy trung đoàn

D: tiểu đoàn
Dt: tiểu đoàn trưởng
Df: tiểu đoàn phó
Dv: chính trị viên

C: đại đội
Ct: đại đội trưởng
Cf: đại đội phó
Cv: chính trị viên

B; trung đội
Bt: trung đội trưởng
Bf: trung đội phó

A: tiểu đội
At: tiểu đội trưởng
Af: tiểu đội phó

Chương 131

Một màn kịch ly kỳ

Tôi gặp Ba Tới – tỉnh đội trưởng Tây Ninh – ở ven ấp Bàu Me. Trông anh không còn linh động hoạt bát như ở R trước đây, mà là một ông già hết xí quách. Anh từng làm tiểu đoàn trưởng trong thời kháng chiến chống Pháp, lúc tôi hãy còn là thiếu nhi. Bây giờ anh vẫn kêu tôi bằng mày như Năm Lê, Năm Tiều, chớ không kêu bằng “chú em” như Tám Hà. Anh móc thuốc đưa tôi, nhưng hỏi:

– Mày hút thuốc gì đưa trao đổi văn hoá chút coi.

Tôi lấy gói Capstan mời anh:

– Mày toàn chơi ngon không thôi. Lúc này nghe nói mày làm ăn đậu giàn lắm hả?

– Lỗ vốn thấy bà chớ đậu gì anh ơi!

Hai anh em kiếm chỗ mát mẻ ngồi. Tôi hỏi:

– Ở ấp này không bị pháo hả anh Ba?

– Chỗ có chỗ không! Ngày ít ngày nhiều.

– Có ngày nào không ngơ không?

– Cũng có nơi ăn hút được lắm. Nhậu nửa chừng không phải buông ly lủi xuống hầm.

– Bên xứ Củ tôi không chỗ nào ngồi yên được. Ăn cơm cũng phải ngó dáo dác. Mút cái đầu cá, nhai miếng cơm cháy cũng sợ pháo đề-pa không nghe.

Ba Tới nói:

– Hỏi thiệt mày nghe. Chuyến này mày mò qua đây làm gì?

– Kiếm chỗ cất nhà bảo sanh.

– Lúc này sản xuất nhi đồng có pa-tăng rồi hả mậy?

– Mệt quá anh Ba ơi !

– Thì mệt chớ sao em! Mệt mà ham. Ham cho đã rồi mới biết mệt. Rồi cho nổ “bom nguyên tử” ở đâu đây?

– Có lẽ ở nhờ đất của anh đó anh Ba. Anh cho em út qua đây không?

– Tao bao hết cơm gạo dầu lửa nước mắm. Nhưng có một cái không bao nổi.

– Cái gì anh Ba? Tôi tu rồi anh Ba à !

– Tao biết mày tu hú chớ sao !

– Không có đâu anh Ba. Em né hết mà.

– Mày né nhưng người ta tìm bắt đền mày.

– Em đâu có làm gì ai!

– Mày tin tao đi. Sáu Huỳnh lấy tin bí mật còn thua tao nghen mày nhỏ ! Tao hỏi thiệt mày nghen. Mấy con nhỏ đó còn “xin con” của mày nữa hết?

– Em đứt đường tơ lâu rồi anh Ba à .

– Còn mấy con mụ đàn bà vá vẫn đeo theo “xin” cho bằnng được giống tốt của mày phải không?

– Em cũng rút lui rồi anh à !

Bất ngờ Ba Tới cười banh rộng cái miệng ra và nhìn tôi chòng chọc:

– Mày biết Tám Râu không?

Tôi giật mình đánh thót, bụng nghĩ: lão già này lợi hại thiệt ta! Nhưng cũng không lạ gì. Trảng Bàng là rừng của cọp Ba Tới ngự trị mà. Tám Râu đã từng nhắc Ba Tới luôn. Tôi bình tĩnh đáp:

– Em có đóng quân ở nhà ổng vài lần!

– Tìính cá muối mặn mà lắm chớ?

– Dạ cũng bình thường thôi.

– Rồi sao mày lui quân mà không trả vốn trả lời gì cho ổng hết?

– Dạ em đâu có nợ nần gì ổng!

– Giỡn hoài mày nhỏ. Ổng có hỏi ý mày định gọi ổng bằng “tía” hay bằng “cậu” rồi mày đi mày không trả lời. Sau đó ổng gặp tao ổng nhắc sao không thấy “Hai Lôi tới uống rượu chơi!” Tao nói hổng biết mày còn ở bên “củ khoai” sùng đó không. Nhưng bây giờ mày kẹt cò, pháo hết bắn vô Đồng Dù được rồi. Sau Tết năm ngoái ổng dông xuống Sài Gòn, ông có gởi thơ cho tao ký thác nhà cửa lúa thóc. Ngoài tao thì mày có thể sử dụng toàn bộ.

Tôi làm thinh. Trong đầu nổi lên các em Hàng, Nga, Trúc Mai, Huỳnh Mai… và Mười Kiều. Đất Tây Ninh rộn ràng bom pháo nhưng cũng còn một ốc đảo hòa bình là một mảnh đất xéo Bàu Me ở sát cụm pháo Chà Rầy, cách chỗ chúng tôi ngồi chừng 4km.

Chà Rầy! Thằng này có chừng 10 khẩu pháo đủ loại có thể bắn chi viện chính xác cho bất cứ đồn bót nào bên Củ Chi. Pháo 175 lòng dài bắn xa 35-40 km, còn bề ngang của Củ Chi đâu đến cỡ đó.

Ba Tới hỏi:

– Mày định chơi thằng Chà Rầy thì nói thiệt cho tao lo tiếp với !

– Anh cho xin 500 dân công được không anh Ba?

– Cha chả, thà mày xin đất đào hầm xin gạo nấu cháo thì tao cho ngay chớ đòi dân công, tao móc đâu ra mậy nhỏ. Mà xin tới 500? 5 tên còn khó.

– Vác đạn cối 81 và tải thương mà anh.

– Tao biết rồi! Mày định pháo mấy quả?

– 100.

– Ước chừng bao nhiêu thương binh?

– 10.

Ba Tới lắc đầu:

– Không có 10 thương binh đâu mày nhỏ!

– Em pháo rồi ém luôn, không chạy.

– Nó chụp mày liền, mày ém đi đâu cho khỏi? Ở đây không có “địa lu thôn liền” như bên Củ Môn… làng bển đâu nghen mậy. Mày thấy rặng cây xanh lố nhố nóc nhà đó không. Ấp chiến lược, ổ Phượng Hoàng đó nghen em! Láng cháng chết không kịp ngáp như thằng Hai Giả ở dưới Thủ Đức. Nó bỏ hai con vợ, còn mày?

– Em chưa có ai hết.

Đột nhiên Ba Tới vỗ gốc cây:

– Cái thằng Mười Trưởng. Tao hổng hiểu nó nổi! Nó dắt anh Ba và phái đoàn đi về R đã đến Phước Chỉ rồi. Còn vài bước nữa là qua tỉnh Soài Riêng đất con Mên không còn bom pháo gì nữa. Cứ cặp theo ranh giới mà về thẳng trên đó ăn hút. Không hiểu tại sao lại lọt vô bãi mìn ?

– Ai gài vậy anh Ba?

– Ông nội tao cũng không hiểu được. Làm sao mà điều tra cho ra? Lúc chưa nổ súng thì đã chết ông đại nguyên soái. Bây giờ một ông tiên phuông đi theo. Lại có thêm ông quân sư, xui xẻo quá. Rồi bây giờ hoàng thượng băng hà. Ổng không ăn bom pháo nhưng tức mình mà… đứng tim !… Mấy con đầm già ò e tối ngày sáng đêm nghe nhức xương. Cán bộ gặp tao cứ hạch hỏi. Tao bảo: “không có ai làm sao hết. Im đi. Giặc nó chơi đòn tâm lý đấy”.

Ba Tới ngó dáo dác rồi hạ giọng:

– Hai Dương (chánh trị viên tỉnh đội) mới đi R về nói có gặp ông Sáu Di.

Tôi cười:

– Ảnh gặp ở đâu? “dưới” Trạm 66 bộ Tổng hả? hay ở vãn phòng đặc biệt?

Ba Tới cười và lắc đầu:

– Đưa tao điếu Sa tăng rồi tao kể cho nghe vụ ông Sáu!- Rít vài hơi thuốc, Ba Tới tiếp: – Số là như vầy. Lên trên R để họp. Một bữa, Hai Dương được rỉ tai: anh Sáu sẽ tới huấn từ.

Tôi nhảy nhỏm:

– Có thiệt vậy sao? Chẳng lẽ thằng cha Hai Ninh phịa cái tin đó?

– Ấy! Ngồi im để tao kể cho nghe. Đại biểu các tỉnh đến gần đủ mặt. Đặc biệt có cả Tám Hà và Tư Nhựt đi Mũi Nhọn từ Sài Gòn về nữa ! Họ sẽ báo cáo tình hình cho ông Sáu nắm.

Tôi kêu lên:

– Ừa vậy tin anh Tám cỡi xe đạp qua cầu Lái Thiêu là tin vịt?

– Tin vịt cồ hết. Tụi Sài Gòn tâm lý chiến tài lắm.

– Tư Nhựt còn sống à anh? Để tôi cho thẳng Đá về Trung An cho chị Tư hay. Tội nghiệp bả điên cả năm nay, bả vác con bé Thơ đi lang thang khấp Củ Chí. Hổng biết bây giờ đang tá túc ở đâu?

Tôi nói một hơi. Ba Tới chặn lại:

– Trung đoàn Mũi Nhọn còn nguyên chớ đâu có như người ta “đồn láo”. – Ba Tới cười khẹc khẹc trong cổ họng.- Nó sắp về để dưỡng quân, nhưng ở trên đang chọn E nào xuống thay thế.

– Xuống Tân Sơn Nhứt hả anh Ba ?

– Tầm bậy nào! Ba Tới quăng cái đuôi thuốc ướt mem tắt ngấm – Xuống dưới này nè.

Ba Tới dậm dậm mặt đất với chiếc dép đứt quai hậu.- Dưới này nè, mày hiểu chưa?

Tôi ngơ ngác:

– Vậy là ông Sáu Di không có tới!

– Có chớ sao không. Tư Nhựt, Tư Chi, Năm Truyện đều báo cáo đầy đủ cho ổng nghe đợt 1. Nghe xong ổng bảo để ông thỉnh thị Hà Nội rồi sẽ hạ lệnh tấn công đợt 2.

– Mình đã sang đợt 3 đợt 4 rồi mà anh Ba.

– Ờ tại ở dưới kia âm lịch đi chậm hơn trên này 1 năm.

Ông già Tới này học kiểu “móc lò” của anh Tám Hà hồi nào vậy? Xưa nay tánh ông nghiêm chỉnh rét-glô lắm mà.

Ba Tới cười ngất:

– Cuộc họp đó cũng giống như cái vụ mày cho anh Tư Kiệt xuống địa đạo thôn liền bên Củ Chi rồi dắt ảnh qua sông Sài Gòn cũng bằng cái bụng địa vậy. Hiểu chưa?

Thằng cha già ó đâm ông ta xỏ mình. Nhưng tôi làm như không hiểu gì cả.

– Bộ anh Tư có ghé đây hả anh Ba?

– Hôm tụi bây đưa ảnh về bên Cao Mên, bị kẹt đường. Đi công khai cũng không lọt, nên ảnh ghé đây tạm trú. Ảnh có vẻ lạc quan ghê gớm lắm. Ảnh bảo Củ Chi có địa đạo ăn thông các xã. Tụi thằng Ngó với mày hợp tác cho ảnh leo cây, ủa hợp tác đưa ảnh xuống địa, đi đứng thênh thang mua hàng trong các tiệm bách hóa và vô câu lạc bộ uống nước đá nước đạp xi-rô xi-réc đã đời.

Tôi biết lão già này chơi tôi, nhưng tôi vẫn làm thinh để lão làm tới.

– Anh Tư ảnh bảo cái Củ Chi của mày thật chì, tụi F25 Mỹ sẽ rút hết nay mai.

Tôi tiếp ngay:

– Chúng nó sẽ bỏ xác hết ở đây chớ không có về được mống nào đâu.

– Mày cho “đặc công” oánh nó như thằng Huỳnh Thành Đồng hả?

– Anh nhớ hồi nãy tôi yêu cầu anh cho 500 dân công không?

– Để vác đạn pháo chơi cụm Chà Rầy chớ gì.

– Không, để đẩy xe bò lấy chiến lợi phẩm Đồng Dù.

Ba Tới cười:

– Chiến lợi phẩm Đồng Dù. 50 xe bò chở đâu có hết mậy!

– Không, chở TNT xuống địa.

– Thiệt hả mậy?

– Tôi đã đặt 3 tấn ngay dưới đít Đồng Dù rồi mà. Vào đúng giờ G sẽ châm ngòi, anh chỉ có việc cho xe bò vô hốt chiến lợi phẩm thôi.

Hai anh em chơi qua chơi lại như đánh bóng bàn, bất phân thắng bại. Rồi nhìn nhau cười ngất. Tôi nói:

– Bên Củ Chi tụi tôi hết đất sống rồi nên qua ở đậu bên anh đó anh Ba.

– Vậy từ trước tới giờ thì sao?

– Hồi trước dân khoái, bây giờ dân đuổi. Tụi tôi toàn ở ngoài rừng. Đúng ra dân họ sợ bom đạn họ chạy ra ấp chiến lược. Nhưng ông Hai Mõ đánh công văn hẳn hoi không cho bộ đội đóng trong nhà dân. Nghe tin chụp, tôi bố trí công sự đại liên trước vận phòng ổng, ông bảo dời đi. Chuyện thiệt chớ tôi không có đặt láo đâu anh Ba!

– Rồi mày làm sao?

– Tôi rút chớ làm sao!

– Cái thằng, quân sự mà làm vậy sao mậy?

– Ổng là bí thư huyện ủy mà anh !

– Bí thi bí chớ! Ừ phải, mày cứ qua đây với tao để đám đó ở với Mỹ. Chỉ vài phát chụp thì sẽ lạy rước tụi bây về. À mà sao mày không báo cáo với bà Năm Đang khu ủy để bả nhổ cổ trầu vô lỗ mũi thằng trọc đó.

– Bả đâu còn trên ngọn cây nữa! Bả xuống thấp hơn ngọn cỏ rồi!

– Mà cũng phải thôi. Cái thứ đái không cao hơn ngọn cỏ thì làm được cái gì mà ngồi trên ngọn cây cho thiên hạ “chiêm ngưỡng” tức là “ngửi chim”.

– Bả rơi xuống thì bà Hai Xót trám vô chớ đâu có bỏ trống!

– Mấy ông nội khôn lắm. Lúc nào cũng có đồ chơi công cộng tha hồ em nuôi, cháu nuôi, con nuôi còn đám lính lãi mò đàn bà vá sơ sơ thì ăn kỷ luật sất. Như thằng Năm Ngó rắc con khắp Củ Chi, nhưng nó là bí thư Nam Chi, ai dám làm gì nó. Chuyện đời là thằng nào ăn vụng chùi mép giỏi chớ không phải có ăn vụng hay không có ăn vụng.

Ba Tới ngoặc ngang:

– Nói chơi chơi mày qua đây định “giở trò” gì. Nói cho anh Ba mày biết được không? Pháo kích Chà Rầy hay oánh cái Suối Cụt?

– Thiệt tình hổng có làm cái gì hết anh Ba à!

Trời trưa nắng hai anh em ngồi núp dưới bóng tre nói chuyện cù nhầy rồi đứng lên đi chỗ khác. Bỗng có tiếng cãi lẫy xen lẫn tiếng cơ bẩm lên đạn răng rắc có vẻ quyết liệt Tôi bảo thằng Đá chạy lại coi chuyện gì. Một lát nó đem cả bọn đến trước mặt tôi. Tôi hốt hoảng la lên khi thấy hai cậu du kích nắm tay một cô gái bị trói thúc ké.

– Trời đất! Em làm sao thế?

– Báo cáo thủ trưởng nó vác AK đi vào Bàu Me chiêu hồi! – Một đứa du kích nói.

Đứa kia kể công:

– Tụi em đón ở đây lâu rồi. Bữa nay bắt dính!

Tôi nhìn nàng. Nàng cố tránh ánh mắt tôi. Đứa du kích kia tiếp:

– Thiệt may ! Nếu tụi em không chặn lại mà chậm chừng một cái “lích lắc” đồng hồ thì nó tọt vô trỏng. Tụi em định “bụp” nó cho rảnh!

– Bậy nhé! Tụi bây muốn tử hình hả?? – Tôi quát.

Tôi bước lại cởi trói cho nàng, bụng tính toán nhanh hơn chấm tọa độ cho pháo. Rồi lại quát hai đứa du kích:

– Tụi bây làm hỏng kế hoạch của khu rồi, bây biết không?

Hai đứa du kích nhìn nhau, không hiểu. Tôi thừa thắng xông lên:

– Đố khỏi đứt đầu! Bây biết ông nào đây không? – tôi trỏ Ba Tới- ổng bắn bỏ tụi bây đó.

Mặt hai đứa từ đỏ rần chuyển sang xám ngoẹt. Tôi nhỏ giọng:

– Sao tụi bây dám bắt dũng sĩ diệt Mỹ của R?

– Nó đi hồi chánh mà thủ trưởng!

– Hồi gì mà hồi? Tụi bây làm đợt 3 tấn công tịt ngòi, bây biết chưa?

Hai đứa bỗng nhiên “hiểư”. Một đứa sụp lạy:

– Thủ trưởng… cứu… tụi em với ! Chúng em không biết.

Đứa kìa tiếp tục van vỉ:

– Tụi em đâu biết gì. Ông xã đội thấy tụi em bắt được con hồi chánh này chắc mừng lắm. Ổng bảo chụp được một tên chiêu hồi còn giá trị hơn cái thằng Mỹ bị bắt ở Truông Viết hôm trước. Ổng dặn hễ nó cự nự là cứ bắn. Tụi em chắc kỳ này được thưởng huy chương.

– Ờ, để đó rồi tao thưởng cho mày một băng AK!

– Thủ trưởng thương tụi em với. Hu hu…

Tôi bảo:

– Thôi về bảo Ba Tùng – xã đội – là tao đã nhận lại được cô dũng sĩ rồi nghe không?

– Dạ.

– Bậy quá. Nếu không có tao, kế hoạch hỏng hết rồi.

– Dạ thủ trưởng tha cho em !

Rồi hai đứa giao cây AK cho tôi, vọt nhanh. Tôi tháo băng đạn, giao cây súng cho thằng Đá và quay sang nàng dũng sĩ:

– Em đi đâu vậy?

Nàng không đáp. tôi lại kiếm chuyện hỏi:

– Em muốn độc lập tác chiến hả? Sao không cho anh hay?

Nàng vẫn không đáp. Tôi tiếp:

– Lần trước em đánh Thái Mỹ cũng không cho anh hay, nên hỏng trận đánh em bị thương, lần này cũng vậy.

Nàng vẫn làm thinh Tôi bảo thằng Đá và thằng Tiển đi trước. Còn tôi ở lại.

Ba Tới hỏi:

– Con nhỏ nào vậy mậy?

– Con Bả… ảy dũng sĩ diệt Mỹ R.

– Trời đất, con Bảy Mô mà chiêu hồi sao?

(Chuyện xảy ra gần 30 năm, nay ngồi ghi lại. Và xin trả lời ông Ba Tới: Tới chừng mắc chiêu hồi thì cỡ nào lại không đi. Ông Chánh ủy mặt trận tiền phương Tám Hà, ông tham mưu trưởng E Phan Văn Xướng không chiêu hồi là gì? ông Yeltsin ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Liên Xô không chiêu hồi là gì? Sá chi cô du kích gốc địa chủ này!)

Tôi lặng thinh không biết trả lời làm sao. Ba Tới nói:

– Nếu không có mày ở đây tụi nó cạch con nhỏ rồi. Mày đi riết theo cứu nó mau!

Cái đầu tôi hóa thành hòn than đỏ rực, không còn biết tính toán gì. Bất giác tôi nói:

– Đem về bển người ta giết nó… Hay là tôi để đây anh lo giùm.

(Ông già con Ba Cấm bị nghi làm gián điệp bị đem ra giữa đồng giết chết bỏ xác kia. Con nhỏ đang ở trong đội nữ bỏ về nhà rồi trốn ra ấp chiến lược luôn. Huống chi con bé này đi chiêu hồi bị bắt quả tang?)

Ba Tới lắc đầu:

– Tao không… dám lãnh đâu!

Ba Tới chưa dứt lời tôi đã vọt theo tụi thằng Đá. Chúng nó dắt con nhỏ đi xa xa trước mặt, dưới nắng trưa chói chang. Tôi đưa tay lên miệng”hú”‘ một tiếng thật to. Tụi thằng Đá quay nhìn thấy tôi thì dừng lại dưới bóng cây. Tôi đi tới, hỏi:

– Sao em đi đâu vậy Mô?

Mô làm thinh mím môi chặt, rồi quay lưng. Tôi nắm vai nàng quay lại, nhưng nàng vùng ra rồi ngoảnh mặt.chỗ khác.

Thằng Đá nói:

– Nãy giờ em hỏi, chỉ cũng không trả lời.

Tôi nhìn phía xa xa bên trái rặng cây xanh đen giữa ấp Lâm Vồ, nơi có nhà má Hai, Thu Hà đang ở đó. Nàng đang đan áo và mũ cho con. Còn kia, xa mù kia là Gót Chàng, nơi có vườn sầu riêng và chiếc cầu đá nơi tôi ngồi đàn bản Thiên Thai cho đàn cá dưới cầu nghe. Mùi sầu riêng chín như còn phảng phất đâu đây. Tôi bảo:

– Thôi đi về văn phòng, Tiển, Đá !

Mô vọt lên đi trước, kế đó là hai thằng bé. Cả đoàn đi dưới nắng gắt bụi mờ không ai nói một tiếng. Nhiều lần tôi từ cuối hàng chen lên trước, định nói chuyện với nàng, nhưng mỗi lần nghe tiếng chân tôi, nàng tụt lại đi sau cùng. Thành ra tôi không nói được gì với nàng. Hai thằng bé hiểu tôi lẫn nàng, cứ chốc chốc lại nhìn tôi như hỏi: “Làm sao bây giờ anh?”

Tôi thấy khó xử. Giao cho huyện ủy thì nàng mất hết. Còn đem về đơn vị thi sớm muộn gì chuyện đi Bàu Me của nàng cũng lộ ra. Tôi bảo hai thằng nhỏ:

– Đây là công tác đặc biệt của ông Ba Tới tỉnh đội trưởng Tây Ninh và anh giao Chị Bảy thi hành. Các em về đơn vị không được nói cho ai, nghe chưa?

– Dạ .

– Nhớ đấy. Hai đứa du kích Bàu Me làm hỏng hết. Anh sẽ có kế hoạch khác.

Hai đứa nhỏ tuyệt đối tin tôi nên không có chuyện gì bể bạc. Nàng trở về đội nữ bình yên vô sự. Hú vía.

Chương 132

Ba ngày bốn trận:
* Suối Cụt: trận đánh nhỏ, bi kịch lớn.
* Rừng Tre: chết 3 ban chỉ huy đại đội, 60 lính
* Vườn Trầu: Vĩnh biệt tình yêu
* Trận kết 25 năm cầm súng

Tình hình yên lặng quá ! Ở trên cứ giục đánh. Nhưng các ông lớn ở trong hầm rất kỹ, họ quên rằng chính họ đã ra lệnh phân tán mỏng để khỏi bị tiêu diệt. Tán mỏng thì chỉ đánh du kích thôi chớ gầy trận sao được với những cuộc hành quân Việt Mỹ nhỏ nhất là cấp Trung đoàn, lớn nhất là 2, 3 sư đoàn.

Tôi đã yên thân với cái chánh sách đó bên cạnh Thu Hà, chờ đứa con ra đời rồi sẽ tính tới. Nhưng nào có được yên thân. Lệnh phân tán mỏng vừa xong thì lại lệnh phải tập trung đơn vị lại để đánh. Đơn vị như cái xe bò nát, kéo đi cũng rã mà bỏ nó nằm ỳ không xài cũng rã. Vậy tốt nhất đem dùng nó được việc gì hay việc nấy. Súng ống chôn giấu, móc lên. Lính tráng cho nghỉ phép gọi trở lại. Còn cán bộ thì chân tới chân lui, không được mấy người còn nhiệt huyết như gà rót, đá độ nỗi gì!

Trong tình thế đó, ban chỉ huy họp bàn và quyết định đánh bót Suối Cụt. Đó là một cái bót nhỏ thuộc xã Phước Hiệp đâu chừng một trung đôi địa phương quân trấn giữ, nằm trên tỉnh lộ A nối liền với bót Trung Hoa, cách bót Thái Mỹ chừng 4km, cách quận lỵ Củ Chi chừng 6 km. Nếu Suối Cụt bị tấn công sẽ có 3 mũi tiếp viện chớp nhoáng: Trung Hòa, Củ Chi và Đồng Dù.

Mục tiêu rất nhỏ, nhưng rất khó đánh vì không có địa hình thuận tiện cho việc chuyển quân và bày binh bố trận. Ba bên là nhà cửa dân chúng, ấp chiến lược, chợ búa, thất Cao Đài còn một bề thì dây chì gai và bãi mìn chết.

Kế hoạch 11 giờ đêm nổ súng, nhưng chưa tới giờ đã bị lộ. Lính trong đồn bắn pháo sáng kêu cứu. Đại liên trong đồn vét trên mặt đường chặn lối tiến quân của địch. Tôi kêu Tư Thới dập cối mở đường cho xung kích vào.

Cây xăng tư nhân bốc cháy sáng lòa.

Trinh sát báo cáo: – Tụi thằng Sáu Đông bị mìn văng mất cây 12/8 rồi.

Toán xung kích bậc thang leo lên nóc bót bị dội xuống báo cáo: nóc bót đầy bùi nhùi gai, leo lên không được. Tụi lính chống cự ác lắm. Mình lên nhiêu rớt nhiêu.

Tôi kêu đem súng phun lửa tới. Nhưng trinh sát báo cáo: không có! (Tôi quên mất súng phun lửa trên R đòi, đem trả hồi sau đợt 1, còn đâu!) Tôi lại kêu đem bộc phá sào đánh tường. Nhưng đạn bên trong tủa ra, không vô gần tường được. Tình thế thật rối ren. Chiến trận xảy ra chưa đầy 15 phút thì pháo Trưng Hòa bắt đầu đề-pa có trái rơi trúng đội hình của Cl. Một trái rơi sau lưng tôi nghe tiếng miểng phang. Đồn này có công sự bê-tông. Hễ bị tấn công là lính chui hết xuống hầm để cho pháo hủy diệt trận địa. Chơi kiểu này chỉ có thời chống Mỹ chớ thời đánh Pháp không có. Dakota thả pháo sáng rực trời chẳng khác ban ngày.

Thằng Tiển đẩy tôi vô một ngôi nhà:

– Anh vô đó có hầm.

Vô hầm không có máy làm sao mà chỉ huy? Tôi chần chờ. Bỗng được báo cáo: Bảy Sơn Ct C3 bị thương.

Bảy Sơn là xã đội trưởng Phước Hiệp tôi bắt lên phong chức Ct giao cho chỉ huy một C. Sơn đang nghỉ phép nhưng nghe đánh Suối Cụt thì trở về tham dự. Sơn thuộc đường vùng này nên hướng dẫn đơn vị rất nhanh. Bây giờ nó bị thương rồi tôi biết cậy nhờ ai làm hướng đạo?

Tôi có linh tính trận này không ăn gọn như Phước Hưng và Thái Mỹ nhưng không nói ra. Bây giờ quả y như rằng. Cho nên tôi hét: “Xung phong! Xung phong!” Đơn vị nghe lịnh “xung phong” thì hộc tốc rút lui hết. (lệnh xung phong là rút lui) Một ông già ở đâu không biết, chạy đến trước mặt tôi chắp tay xá xá:

– Tôi xin ông chỉ huy đánh tới đó thôi, cho nó sợ đủ rồi. Chớ giết hết thì tội nghiệp cho vợ con họ mà rồi tốp khác kéo đến cũng như không, mà rồi mấy ông cũng không khỏi tổn hao xương máu. Đám lính này hiền khô chớ đâu có khuấy phá gì đồng bào.

Tôi bảo Hai Khởi điều động thương binh ra, Bảy Ga coi việc rút lui còn tôi ở lại giải quyết những vấn đề lòng thòng.

Mẹ kiếp, cái đồn có bằng hai ngón tay tréo, đánh chả được, mất hết uy tín lâu nay. Nhưng nếu chần chờ tới sáng thì xe tăng Đồng Dù sẽ ra chận bít mấy ngách hết đường rút. Người chỉ huy phải biết nhẫn nhục không nên nóng nảy mà giết hết lính.

Ông già lôi tay tôi vào nhà tránh đạn. Tôi đi theo như máy. Thằng Tiển chạy theo.

Một người đàn bà đứng bên ngọn đèn. Nhác trông thấy, tôi suýt kêu lên. Quen quá mà không biết là ai. Người đàn bà cũng nhìn tôi sửng sốt, có lẽ cũng thấy tôi quen.

Ông già lấy cái vỏ bình làm bằng trái dừa để trên bàn, vừa giở nắp chậm chạp vừa ngó tôi, tay lôi chiếc binh, rót nước tràn cả ra ngoài:

– Mời ông chỉ huy !

– Dạ !

– Chú em uống trà được không? – ông chủ nhà hỏi thằng Tiển.

– Dạ bác để đó cháu.

Tôi nâng tách nước. Cổ cháy như than, ực liền mấy hớp. Trà ấm chạy khắp châu thân. Tôi đặt chiếc tách lên bàn. Mắt người đàn bà tự nãy giờ không rời tôi. Chị ngập ngừng rồi hỏi:

– Xin lỗi anh có phải người Tân Bửu không?

– Sao chị biết gốc tôi?

– Biết chớ sao không biết… rồi chị ồ lên khóc.

– Chị là ai?

– Em là con Nguyệt nè !

– Nguyệt. nào? – Tôi như mơ.

– Nguyệt con của ông chủ tịch làng Bình Khánh.

Tôi kêu lên một tiếng rồi quay lại ông già. Người đàn bà bảo:

– Ba em chết rồi. Đây là cha chồng!

– Nguyệt chị của Ánh phải không?

– Phải. Em có chồng về đây lâu rồi!

Trời ! Cuộc đời gì kỳ lạ vậy. Hai đứa thuở nhỏ học chung lớp lớn lên bà con cáp đôi, tưởng thành ai dè quác lơ. Lúc gặp Ánh trên R tôi tưởng là Nguyệt. Nhưng chỉ là cô em. Nguyệt đã già đi một thế hệ . Cũng như tôi, mà không hay! Ôi cái tuổi già!

– Chồng em bị tù ngoài Côn Đảo mấy năm rồi, không có tin. – Nguyệt quay vào trong – Diễm a ! ra chào cậu Hai nè con.

– Cậu Hai nào má?

– Cậu Hai bên bà ngoại.

Thằng Tiển giục:

– Xe tăng tới rồi anh Haỉ!

– Thôi tôi đi nghe!

Tôi chào chung chung không nói với ai !

Nguyệt lôi tay con nhỏ đến trước mặt tôi:

– Em cho anh con Diễm nè!

Thằng Tiển giục:

– Xe tăng tới! Mau anh! – Nó đẩy tôi ra cửa.

Tôi chạy, tai nghe tiếng khóc sau lưng rồi giọng Nguyệt:

– Anh có cần gì nhắn cho em nghe!

Trời rựng sáng. Thăng Tiền dắt tôi chạy. Tôi cũng không hỏi chạy đi đâu. Bỗng thấy lúm xúm trước mặt. Tôi chạy riết tới Bảy Sơn nằm trên võng phết đất dân công khiêng mệt đuối, để xuống nghỉ. Một người đàn bà vật vã la khóc bên cạnh .

– Ai vậy?

– Dạ Chị Bảy!

– Ai cho chỉ hay?

– Dạ ông Hai Khứ!

Chị Bảy than khóc thảm thiết. Năm Hồng y sĩ báo cáo:

– Dạ, em cho ga-rô rồi anh Hai. Nhưng gãy xương cả hai chân, ở đây không giải quyết nổi. Phải đem về nhà. Chắc phải đi qua Bưng Còng mới cứu được.

Chị Bảy càng gào to:

– Gãy hết hai chân làm sao sống? Tôi đã bảo đừng có đi, đừng có đi mà không nghe tôi. Tôi không nuôi nổi mấy đứa con. Bây giờ đó! Rồi quay sang tôi:

– Anh Hai đừng cho chồng em đi lên R. Em biết mồ mả đâu mà tìm. Em lạy anh Hai, em lạy anh Hai! Để cho em chở ảnh đi nhà thương Cộng Hòa ở Sài Gòn người ta cứu giùm. (Chị Tư Re, vợ Tư Quân cũng như vợ Bảy Sơn. Chị Tư theo chồng làm cứu thương để lấy xác chồng về chôn. Chị Bảy Sơn thì không cho chồng đi. Bây giờ cả hai đều góa bụa.)

Còn thảm não nào hơn? Thằng Tư Ếch, ngày mai làm đám cưới, tối nay lên bàn thờ. Cái đời chỉ huy của tôi chỉ gặp toàn những cảnh như vậy. Đành gục mặt.

Tôi bảo chị Bảy:

– Chị để cho anh em đưa anh Bảy đi mới cứu được chị Bảy à !

Chị lắc đầu:

– Bị thương như vầy, khiêng đi cũng đủ chết rồi. Từ đây lên R đâu phải gần. Đi chưa tới đã chết. Em biết ở đâu mà tìm. Thôi, anh Hai để ở nhà cho em chôn.

Dân công tiếp tục khiêng. Chị Bảy đi theo. Tiếng khóc át cả tiếng máy xe tăng.

Vô tới mí vườn, thoát một đám ma lại gặp một đám ma khác.

Thằng Hùng- em cô Quắn. Độc giả hẳn còn nhớ cô gái ở Ràng. Em của Ba Quyết chết trận Pari Tân Qui, ông già đến bốc xác đem về chôn trong vườn nhà. Thằng Hùng em Ba Quyết và Sáu Quắn. Còn thằng con trai độc nhất, ông sợ cụt dòng nên không cho đi theo giải phóng, bảo ở nhà. Thằng nhỏ vô nhân dân tự vệ . Cô Quắn đi cứu thương Giải phóng gặp thằng em bị thương.

Thằng Hùng còn nói được rõ ràng và còn nhận ra chị:

– Chị đừng băng cho em ! Em không cần ! – Thằng Hùng bứt băng ném tung và quát: Anh Ba muốn em đi theo ảnh, nhưng em không muốn. Còn ba sợ em như anh Ba. Em tiếc là em không báo được cho xếp đồn. Chị nói với ba đừng chôn em gần anh Ba.

– Anh Hai nè Hùng. – Tôi chen vô đám đông và cúi sát mặt nó.

Thằng Hùng quay mặt cười nhợt nhạt. Tôi không biết nói sao. Người dân ở giữa bom đạn, đi bên nào cũng chết. Tôi bảo Quắn:

– Em đem thằng Hùng về nhà đi. Rồi anh sẽ đến chia buồn với bác sau.

Ông già chết cả hai đứa con trai rồi sống làm sao? Còn Nguyệt – người bạn gái thời thơ ấu – góa chồng mấy mươi năm, còn sống bao nhiêu năm lạnh lùng nữa?

o O o

Đơn vị chạy về Rừng Tre bên Trảng Bàng mục đích là để đánh lạc hướng địch. Rừng Tre là tiếng gọi của địa phương chớ không có tên trên bản đồ. Nó nằm trong xã Lộc Thuận quận Trảng Bàng, có nhiều tre trúc dọc ven rừng Cả Chúc và đường số 6 từ Trảng Bàng đi vào bến Bùng Binh sông Sài Gòn. Phía bắc giáp với con đường đá đỏ dọc theo sông. Ngược lên thì đụng sóc Lào, còn trở xuống thì đụng đường 15 đi về Hố Bò, An Nhơn và Phú Hoà Đông. Ở đây pháo Chà Rầy xơi ngon như phở tái, pháo Trung Hòa cũng ăn gỏi, còn Đồng Dù thì chơi pháo nòng dài dư xăng. Ở gần Rừng Tre có suối Lộc Thuận. Nơi đây năm 1960 là trường tân binh của Quân khu, khai giảng được một khóa rồi dẹp tiệm vi lính của ông Hiệu trưởng (tên Hai Chòi- tục gọi Q Hai Chòi = Cu Hai Chòi) đưa ra đơn vị yếu nhớt không vác nổi thùng đạn. Ở vùng Rừng Tre này cũng bắt chước Củ Chi đào địa đạo chừng vài trăm thước rồi bỏ luôn không ai dám chui làm trò cười cho thiên hạ.

Trước đây vùng Sóc Lào và dọc lộ số 6 nhà cửa khá sầm uất, nhưng từ sau ngày có MTGP chiến tranh tràn lan, người dân tản ra ấp chiến lược hoặc đi Sài Gòn. Nhiều nhà ngói rộng lớn và vườn cây trái bỏ hoang, thấy rất đau lòng.

Đầu năm 1966 quân đội HK mở cuộc càn Operation Crimp, dân trong vùng từ Lộc Thuận xuống tận Phú Hoà Đông đi sạch. Lộc Thuận chỉ còn căn cứ của hậu cần ở Rừng Tre, quân y Trảng Bàng ở rừng Cả Chúc. D14 Tây Ninh thì xịt lên xịt xuống vùng Cả Chúc, Trảng Cỏ suốt năm cứ vác súng chạy rong, đến đỗii Sáu Di phát quạu phải lên tiếng rủa: “Mong cho quân Mỹ nó đốt sạch rừng Bời Lời Trảng Cỏ để tỉnh đội Tây Ninh ra một đánh đấm với người ta!” Năm 66, 67 Củ Chi không còn đất sống, chúng tôi phải qua Trảng Bàng ở đậu, chính là nhờ khu Rừng Tre này. Ba Tới tỉnh đội trưởng Tây Ninh cũng đang chạy lang thang như chuột cháy hang gặp tôi, bảo: “tao cho ở tạm nhưng không cấp gạo!” Chúng tôi phải tự tìm mua từng bao gạo đem ra rừng nấu lấy mà ăn. Cá không còn nước, phải lóc trên bờ tìm cách mà sống lấy chớ sao.

Trong lúc ở đậu, chúng tôi kết nghĩa với D14 để giúp đỡ nhau. Một lần hai bên bàn kế hoạch đánh xe tăng, sắp giàn trận thi BCH D14 cáo lui không có lý do. Chúng tôi liều mình đánh luôn. Bị xe tăng đuổi chạy tuốt tới xóm Ba Cụm. Kịp lúc đó trên R tăng viện cho một E gốc Thanh Nghệ Tỉnht thuộc F324 mà đài Giải Phóng tung hô là đơn vị “Trung Dũng Kiên Cường“, được bà phó Tư Lệnh nhận làm “chị nuôi!” nhưng vừa đến Sóc Lào (trên Rừng Tre chừng 5 km) thì bị một trận B52 đứt gần một D (D8). Để vớt vát tinh thần, trung đoàn này phối hợp với chúng tôi đánh quân Mỹ cụm ở Bàu Trâu do Hai Đồng chỉ huy, bị Mỹ xơi luôn. Hai Đồng mất tinh thần bỏ đơn vị đi lang bạt kỳ hồ, xin cơm ăn như một tên hành khất (sau bị Mỹ bất). Qua những trận E “Trung dũng kiên cường” đụng với Mỹ ở Bàu Trâu, Bùng Binh, Trảng Dầu Bà, Rừng Cả Chúc, quân Mỹ tìm thấy xác linh Bắc việt nên bắt đầu xài hóa học rắc dài từ Bời Lời, Sóc Lào, Bà Nhã , Nam lộ 6, Rừng Cả Chúc, Rừng Tre, đến tận Hố Bò, (năm 65 thằng Lạn chở xe đạp tôi qua vùng rừng này để xuống Củ Chi). Đêm đêm máy bay Mâu-hốc chụp hình tìm dấu vết hành quân, hầm trú ẩn, vết xe bò chở gạo. Pháo bắn canh chừng suốt đêm. Ngoài ra còn thả biệt kích vào bìa rừng.

Một lần Mỹ bắt được một cậu liên lạc tên là Nguyễn Văn Binh. Có lẽ cậu này khai báo cho nên cách đó ít lâu Út Lịa Ef bị bắn chết ở vùng này cùng với nguyên ban bộ văn phòng của E 268. Hoàng Chí Thanh xuống thay thế, đem binh đi đánh bót Tân Thông không xong, đánh luôn bớt Cầu Ván bị xén mất trọn một D. Thanh bỏ luôn đơn vị trốn về R chạy tội. – Chẳng khác nào ông đầu trọc Năm Sĩ sau trận pháo Tầm Lanh. Cái E này còn có tật là đánh cuội tức là nổ súng vào khoảng không- để báo cáo láo. Thực tế vào năm 1969, một C chỉ còn chừng 18-20 lính, súng nặng, cối, đều bỏ hầm, chỉ còn AK nhưng không đủ lính cầm. Đây là thời kỳ Ba Tam làm Et. Vì không có đủ quân số, nên cán bộ lấy tiền xài tha hồ. Trong lúc đó lính giải phóng của Ba Tam giả biệt kích Sài Gòn, chặn đánh các đoàn tiếp tế của Giải Phóng. Làm ăn được vài cú thì ló đuôi, Quân khu phải trả cả đơn vị về cho bà Chị Nuôi nuôi nấng. Tất cả mọi việc kể trên đều xảy ra ở chung quanh khu vực Sóc Lào, Bà Nhã, Trảng Cỏ, Rừng Tre. Trong 3 năm, lính sanh Bắc tử Nam bỏ xác ở đây cả ngàn tên.

Vùng này có vẻ như bị Mỹ bỏ quên từ Mậu Thân tới nay. Cho nên sau khi không ngon xơi cái Suối Cụt thì tôi cho đơn vị chạy thẳng một lèo không quay đầu ngó lại, tới Rừng Tre để nghỉ quân và đánh lạc mục tiêu quân Mỹ.

Tôi đã cho đào công sự trước ở đây từ lâu. Bây giờ kéo lên sẵn ổ đẻ, chớ đâu có mất công gì. Lính mắc súng lên cây chổng cẳng ngủ.

Tôi nằm lên võng đầu óc còn mơ màng vụ Bảy Sơn, thằng Hùng và Nguyệt.

(Bảy Sơn được đưa qua Bưng Còng cho Tám Lê . Chuyển đi đường xa, thịt thối phải cưa cả hai chân. Rồi đưa đi R đến suối Bà Chiêm thì chết, chôn dọc đường không biết ở đâu. Còn thẳng Hùng được chị nó đưa xác về nhà.) Chết mà khỏe thân hơn sống.

Nguyệt! Ánh! hai chị em giống nhau như đúc. Hồi đó Ánh mới biết đi lẩm đẩm. Khi gặp trên R ở nhà ông Ba Thắng đêm đó, tôi tưởng Ánh ]à Nguyệt. Nếu Nguyệt biết chuyện của Ánh chắc nàng buồn lắm.

Tôi đi vào giấc ngủ và những giấc mơ và ác mộng cùng một lúc.

Bỗng có tiếng đập võng kêu:

– Anh Hai , xe tăng!

Nghe hai tiếng “xe tăng” thì mê cũng phải tỉnh. Tỉnh ngay. Chết cũng phải sống dậy, chạy.

– Ở đâu?

– Nó tới rồi kìa . – Thằng Tiển đứng trước mặt tôi trỏ tay ra bìa rừng.

Ngó quanh chưa thấy ai nhúc nhích, tôi nhảy xuống đất quát:

– Sao còn nằm đó?

Thằng Tiển nói tiếp:

– Du kích Ba Cụm nó bắn báo động rồi kìa.

– Ối! Ba thằng du kích cơm! – Hai Khởi nhựa nhựa. Xe tăng ở dưới Đồng Dù lên đây nhanh vậy sao?

– Nó bay ông nội ơi! (Trực thăng trái chuối móc nó) – Tôi gắt- ông biết bây giờ là mấy giờ không? Mười một giờ trưa đó.

Hai Khởi bật dậy hét:

– Đứa nào báo vậy?

– Liên lạc dưới C3 lên báo cho ban chỉ huy. Xe tăng chia làm hai cánh, một cánh bọc ngoài ruộng một cánh ghim thẳng vào rừng.

– Liên lạc C3 đâu? – Hal Khởi gắt.

– Nó trở về dưới rồi !

Thằng Tiền vừa dứt lời thì thấy hai chiếc cá nhái lướt qua ngọn cây. Tất cả hụp, né, trốn.

Tôi nghĩ: Tăng tới thiệt rồi. Cá nhái dẫn đường đây!

Bảy Ga bảo:

– Đứa nào leo lên cây dòm coi!

Thăng Tiển leo vọt lên cây bắc ống dòm nói xuống:

– Đông lắm.

– Đông là bao nhiêu?

– …20. Hai mươi mấy.

Tôi đoán chắc C3 của Hai Nhiên bị tăng áp sát nên không chạy về đây được.

– Báo cáo anh Hai có xe tăng!

– Biết rồi. Cho các đại đội bố trí đi. Nằm tại chỗ ! Không được bỏ công sự! Đây là cái lệnh bất đắc dĩ . Lính nào lại bỏ công sự mà phải bảo?

Trực thăng quần trên đầu, lá cây cuộn lật ngửa lên như bão tới. Tôi lấy thuốc ra hút. Tôi thấy tay tôi hơi run khi kê bật lửa lên mồi thuốc. Tụi nó đuổi theo mình chớ không phải tao ngộ chiến.

Bảy Ga la:

– Ông hút thuốc khói lên nó thấy!

Hai Khởi quát:

– Xuống hầm đi. Thằng Tiển hụp xuống.

– Trồi lên để quan sát chớ.

Bỗng tiếng đại liên, rồi B40 tiếp theo.

Nghe đất lắc lư, tôi nói thầm: tăng M48, nên đất run run kiểu này. Tiếng nổ loạn xạ DKZ, B40 lẫn cà-nông 20 ly, 40 ly của xe tăng. Rồi rầm rầm. Tiếng đề-pa của pháo. Đạn bay vút qua đầu. Xê xè… nổ sau lưng.

Thằng Tiển la:

– Anh Hai xuống hầm mau. Pháo Chà Rầy câu tới đó!

Ùng ùng liên tiếp.

– Gì vậy Tiển?

Cá lẹp phóng rốc-kết.

Tiếng xích sắt nghe rõ cò két cò két như tiếng nghiến răng. Đất run chuyển mạnh. Thằng Tiển nắm chân tôi lôi xuống. Thằng Đá ở đâu chạy về, hổn hển:

– Nó ngừng lại ngoài bìa rừng rồi anh Hai.

– Tụi bây đem B40 ra phía trước chặn.

Thằng Đá và hai cậu trinh sát vừa vọt đi thì hai chiếc Thần Sấm tới, vút sát ngọn cây thấy rõ cái bụng đen ngòm đeo mấy trái bom.

Nó vòng lại thì đầm già vừa bắn điểm. Khói lên mù mịt bên cạnh.

– Chạy! Thăng Tiển la.

Tất cả vọt lên khỏi hầm thì hai trái bom rơi ngay bên cạnh. Đất đá bay rèn rẹc, cây đổ ào ào. Cả đám lòi lưng, cố trườn dậy chạy xa điểm.

Rầm!

Cá lẹp rớt rồi. Chắc ông Lức bắn!

Sau 3 đợt bom, xe tăng lại tiến vào rừng. Khói bốc mù mịt không còn thấy đường.

Bảy Ga bảo:

– Chạy qua C4 đi anh Hai.

– Ờ, mỗi người xuống một C.

Bom dội, pháo bắn liên tục. Tôi nghe nóng ran như đang ở trong chảo bắc trên bếp. Nó chơi tới súng phun lửa rồi. Rừng bắt đầu cháy. Cây nổ, gió quay cuồn cuộn ù ù, khỉ chuột cũng cháy thiêu.

Tôi móc K54 ra khỏi bao, quát:

– Không ai được rời khỏi trận địa.

Đất run bần bật. Xe tăng tiến tới rồi dừng lại chờ bom bỏ dứt loạt và cá lẹp phóng rốc-kết một chập rồi lại lủi vào. Chúng hạ thấp lòng súng bắn xéo, đạn đan thành đường chéo với nhau trên đầu nắp hầm. Ló lên là rụm, ngay: bể sọ! Nếu trông thấy một bóng người là nó càng tăng cường hỏa lực để tiêu diệt.

Sau lệnh của tôi tất cả đều ngồi im dưới hầm. Bỗng nghe “rầm” một tiếng. Thằng Tiển la lên:

Cá lẹp rớt rồi. Đại liên của Sáu Lức nổ. (Nó chỉ tin tưởng một mình Sáu Lức)

Tôi nhìn qua lỗ trống thấy xe tăng tới, thằng lính đội mũ sắt đang ghìm đại liên về phía này. Thằng Đá hỏi:

– Bắn chưa anh Hai?

– Chưa !

Hai Khởi gắt:

– Chờ lệnh ổng. Đừng có bắn ẩu nghe thằng Bắc Kỳ con!

– Nó bò tới gần quá anh Hai.

Khối thép đen ngòm lù lù lăn vô, xích khua cò két cò két như con quái vật nghiến răng nghe rợn xương sống.

– Còn chừng 20 thước, bắn chưa anh Hai?

– Chưa !

– Còn 15 thước !

– Nó thấy mày không?

– Nó hướng qua Tư Thới C4.

– Sát quá rồi.

– Chừng nào nó thấy mày thi mày nổ trước nó. Tôi bảo.

Tiển năn nỉ:

– Đá ơi! Mày đừng bắn nghe Đá’ (Nếu nó thấy mục tiêu thì nó phun lửa rụm hết rồi.)

Chiếc xe tăng tắt máy lớn, chạy máy nhỏ êm ru rồi dừng tại chỗ. Tôi bảo: thằng này có vẻ làm nhiệm vụ cảnh giới thôi. Một giờ, một giờ ruỡi. Chúng không tiến tới. Pháo Chà Rầy vẫn giã không ngớt. Tiếng ầm ì vẫn vang vang bên ngoài. Bỗng nghe đánh “xẹt” gần bên. Tôi hỏi. Thông Tiển đáp.

– Nó bắn pháo lệnh gì đó chắc!

– Ừa, đám cá lẹp, cá nhái đâu mất hết rồi???

– Nó thụt lùi rồi anh ạ !

Như vậy chúng tôi đã “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh và đội bạt bom Mỹ” trong 6 tiếng đồng hồ rồi đó chớ ông đại tướng mặt vuông! Các ông hô hào đánh Mỹ nhưng các ông có biết Mỹ ra sao. Hầm các ông sâu còn hơn âm phủ nữa mà ! Ở dưới đó tha hồ hò hét xung phong.

Tôi bảo trinh sát chạy xuống các C cho rút về Cỏ Ống, bộ phận nào còn khỏe cho đi thẳng xuống luôn Vườn Trầu. Kêu Bảy Ga và Hai Khởi điều động toàn bộ, tôi ở lại sau.

Thằng Tiển và thằng Đá vác AK và B40 ở lại với tôi đi khảo sát trận địa. Chúng nó rút thật. Lửa cháy rừng đỏ một góc trời. Khói cuộn ù ù. Tôi vừa che mắt vừa đi vừa chạy. Trời sẫm tối. Dakota bắn pháo sáng yểm trợ chúng rút đi. Thẳng Đá xẹt đèn pin rồi thụt lùi lại. Tôi hỏi. Nó kêu lên:

– Ghê quá anh Hai ơi! Ba đứa cháy đen thụi miệng há hốc. AK cháy quẹo. B40 cong.

– Thôi bỏ đi! Miệng nói vậy nhưng tôi cố nhìn. Hàm răng nhô ra, có cái sáng chói. Tôi biết là Hai Nhiên- anh Bắc Kỳ già. Anh em gọi là Sáu Già có đứa gọi là bố. Tôi đã từng cảm xúc đậm đà khi gặp anh ở Bàu Lách lúc đó chưa dưới quyền tôi. Hỏi: sao bịt răng vàng làm gì, le với ai? – Le gì đâu anh Hai ! Bịt vô răng mình không bán, không cho ai được. Chừng xong chiến tranh về cho mẹ đĩ làm vốn buôn bán nuôi mình. Chớ chừng đó mình già rồi, làm ăn gì được nữa? Nghe anh nói tôi rơi nước mắt, thương quá.

Trời! một con người chân thật như thế, nay đã chết. Chúng nó chơi súng phun lửa. Đại đội trưởng Hai Nhiên đã chết. Hai cậu kia chắc là trinh sát của đại đội, mặt mũi cháy thành than không nhìn ra. Đất miệng hầm đỏ chạch như nung. Súng phun lửa 2000 độ, sắt thép còn không chịu nổi nữa là da thịt người.

Cách đó ít bước, dưới một cái hầm không nắp, hai người khác ngồi quay mặt về một hướng, cháy queo, tay chân co quắp. Thằng Sáu Mã Tử!

– Còn đứa nào kia?

– Để em coi. – Thằng Tiển rọi đèn pin sát- không biết anh Hai à ! Chắc là thằng Bọ Ngựa.

Tôi đã từng thấy cảnh lính chết cháy này ở trận Suối Sâu, nên áo não trong lòng không muốn nhìn lâu. Làm gì bây giờ? Cứ nhắm mắt cho qua . Đành làm tên chỉ huy dã man, không tim.

Bỗng từ một gốc cây nhô ra một cái bóng. Thằng Tiển kêu:

– Mẫm ! Mày còn sống à ?

– Nó không phun tới tao. Hì hì!

– Còn thằng Bọ Ngựa đâu?

– Không biết. Tao chỉ thấy thằng Xinh cứu thương chạy qua lúc nãy.

Đi một đỗi nghe tiếng rên hù hù, tôi dừng lại, hét lớn:

– Cậu nào còn sống ở đó?

Tiếng hừ hừ càng nổi lên to. Tôi bảo Tiển Đá lại xem. Dưới một thân cây, lòi ra cặp giò mang dép cao su. Thằng Tiển la:

– Bọ Ngựa đây!

– Sao mày biết?

– Cặp giò chàng hiu của nó đây chớ ai! Bọ Ngựa! Bọ Ngựa !

– Mày hả Tiển. – Tiếng trả lời.

– Ừ, tao với anh Hai. Sao không chui ra?

– Tao gãy xương sống rồi.

Gốc cây ác quá ngả đè lên thằng nhỏ. Nếu xe tăng cán qua thì nó nhẹp rồi. Cũng may! Ba anh em hè hụi khiêng cái cây qua một bên, nhưng cây to không nhúc nhích. Tôi bảo lấy xẻng đào đất chung quanh thằng Bọ Ngựa rồi lôi tuột nó ra.

– Ơi trời ơi ! Cha mẹ ơi !

Bọ Ngựa kêu rống lên.

Thằng nhỏ đã thoát nạn. Thằng Tiển vén áo soi đèn vào lưng nó. Xoa xoa ít cái.

– Hết đau chưa?

– Chắc tao chết quá !

– Chết chóc gì. Đứng dậy! Xe tăng tới kìa!

Thăng Bọ Ngựa đứng phắc dậy mắt láo liên:

– Xe tăng đâu? Xe tăng đâu?

Thằng Tiển rút nút bí đông kê vô miệng nó, quát:

– Uống đi rồi chạy ông nội ơi, ở đó nó tới cán mày nhẹp phát nữa!

Thằng Bọ Ngựa ực mấy hớp. Thằng Tiển và thằng Đá kè đi. Được ít bước Bọ Ngựa chạy như bay. Tôi hỏi:

– Mày đỡ chưa?

– Dạ còn hơi ê ê chút. Anh có thuốc cho em xin điếu.

Tôi đưa thuốc đốt sẵn cho nó và giục:

– Đi về nhanh để kêu xã đội tới chôn cất anh em. Mới lướt qua sơ sịa mà thấy bộn!

Được một quãng, thằng Đá kêu:

– No đủ rồi anh Hai ơi!

– Đồ hộp! Chắc Mỹ đóng quân ở đây. Nó bỏ cả đống nè!

– Coi chừng mìn!

– Mìn thì mìn! Đói quá để em lượm ăn cái đã.

Thằng Bọ Ngựa thấy đồ hộp thì cũng ngồi xuống quơ lia. Thằng Tiển bảo:

– Mỹ nó cán mày, bây giờ nó cho mày thịt hộp bồi dưỡng đó. Đắp một miếng vô xương sống là hết đau ngay.

Ba đứa quơ hốt nào là hộp thiếc, hộp giấy cà phê, sữa, khăn bàng lông, cả sách nữa. Thông Tiền rọi đèn lên sách, la lớn:

– Á ngộ, coi nè anh Hai!

– Cái gì vậy?

– Đầm ở truồng.

Thằng Bọ Ngựa ngóng cổ:

– Đâu đâu, đưa coi!

– Mới rên hừ hừ đó mà nghe hơi đã hỏi !

Tôi quát:

– Vứt đi! Đem về đơn vị tao phạt nghe!

Bỗng eo éo tiếng con gái:

– Anh Hai ơi, phải anh đó hôn?

Thằng Tiển đáp ngay:

– Anh Hai hi sinh rồi. tụi bây kiếm ni-lông lại gói khiêng về.

– Thiệt hả? Hu hu.

– Tao láo cho pháo ăn tụi bây đi!

Tiếng con Phương và con Hướng xen kẽ :

– Tôi đi ngang qua hầm ảnh thấy còn nguyên mà !

Tôi lên tiếng, chấm dứt cuộc đối thoại.

– Mấy em có sao không?

– Hai đứa bị thương. Vì tụi Mỹ không đánh chính diện.

Hường chạy đến ôm tôi hôn lia lịa. Vừa hôn vừa nói:

– Anh còn đây! Anh còn đây!

Thăng Tiển thăng Đá cười hả hả:

– Sao không hôn tụi tui nè!

– Tụi bây về nhà có má mấy con Mí con Xuân hôn.

– Hôn đỡ đỡ ít cái bây giờ đi mà ! Hổng hôn tui, tui hôn đại!

Thụp thụp Con Hường đấm lưng thằng Đá . Thằng Tiển đưa đồ hộp cho mấy đứa con gái rồi bảo:

– Vừa đi vừa ăn vừa coi cái này đã quá !

– Cái này là cái gì?

– Coi thì biết. – Nó chìa sách ra và rọi đèn lên.

Đám con gái nhìn một hồi, không biết là cái gì. Bỗng con Hường la lên và vứt quyển sách:

– Thằng mắc dịch!

– Người ta cho coi sách cò chửi!

– Ai coi ba thứ đồ ôn binh đó?

– Đẹp ghê mà la ôn binh.

– Đưa đây cho tôi đốt đi !

Nửa đêm về tới Cỏ Ống, tôi kiểm điểm sơ qua thấy mất 60 chiến sĩ, còn các ban chỉ huy thì:

– Cl: Hai Nhiên, Mã Tử chết, Bảy Mẫm bị thương.
– C2: Năm Thơm, Hai Toại chết, Năm Đầu Ban bị thương.
– C3: toàn BCHC chết hết.

Tôi đề bạt ngay Bọ Ngựa lên làm Cf Cl (khi tôi pháo kích Trung Hòa và Đồng Dù lần đầu tiên, nó chỉ là liên lạc viên) và một số Bt, Bf lên Ct, Cf. Rồi tìm xã đội Lộc Hưng yêu cầu cho du kích dọn dẹp chiến trường giùm. Để đền ơn họ tôi tặng 10 AK (giữ lại cũng không có ai cầm. Cho du kích có lợi nhiều mặt). Bây giờ tôi mới thấm mệt, đau nhức toàn thân. Chân dẫm lửa, phỏng da, mặt mũi xước rát. Chưa trận nào như trận này. Thôi, còn sống, đống . . . cứt !

Bộ binh, xe tăng, cá lẹp, cá nhái đầm già, thần sấm, pháo lớn pháo nhỏ, không còn món phép nào Mỹ không chơi ở đây. Rừng Tre muôn kjếp không quên. Tôi không dám ở Cỏ Ống mà rán lê luôn ra Vườn Trầu.

Trên bản đồ tên chính là “Dương Trâu” nhưng dân địa phương kêu trại ra là “Vườn trầu”. Đây là một nơi vô danh nằm tận quốc lộ 1 giữa Lào Táo và ấp Trảng Dầu, phía dưới Lâm Vồ và Tịnh Phong, cách bót Trung Hòa không xa. Đóng ở đây sẽ tránh được nạn B52. Hơn nữa, ở gần hai ấp Mít Nài và ấp Mây Đắng tôi có quen nhiều, dễ bề liên lạc nhờ mua các thứ cần thiết và lấy tin của Quân Báo Ba Xuyên.

Quân báo cho biết sốt dẻo Mỹ bị cháy 8 xe tăng, rơi 2 trực thăng ở Rừng Tre. Còn tôi mất 9 cán bộ đại đội, 60 lính! Ai thua?

Tôi cấm toàn đơn vị không được nói về “kết quả” trận đánh này. Nhưng chỉ ngày hôm sau thì mọi sự đều bật mí. Dân chúng nhìn thấy đơn vị thưa lính. Còn cán bộ đeo “colt” toàn người mới, từ B lên C. Mấy ông C đâu mất hết.

Đến Vườn Trầu, Hai Khởi cho móc dây điện. Quân binh là phải biết đề phòng chuyện bất ngờ. Tôi cho bố trí mặt trận ngay.

Mỹ dư biết Củ Chi giờ không còn E nào thực chất cả. Q16 đi đã bị tống ra Chân Thành làm liên lạc. E 88 của Năm Sĩ thì tiêu tan ở Tầm Lanh. E268 chỉ còn cái tên. E Mũi Nhọn đã nướng ở Sài Gòn. Chỉ còn có E Quyết Thắng của Hai Lôi là cầm cự thôi. Chúng quyết lùng, diệt xong là tịt cái mồm 3/4, 4/5 láo toét.

Mấy bữa rày đi không về, bỏ Thu Hà ở nhà một mình. Tôi rất lo. Bụng mang. dạ chửa như vậy làm sao chui hầm? Nhưng việc nước trước tình nhà, ngàn xưa vẫn thế. Đầu óc đặc nghẹt súng đạn.

Đóng quân ở Vườn Trầu, tôi cho chú ý mặt Trảng Dầu còn mặt ruộng nước Lào Táo thì không lo lắm. Giữa Bàu Trâu và Mây Đắng thì chú ý Mây Đắng hơn. Đã nửa đêm nhưng vẫn chưa ngủ được.

Tôi cho người sang ông Mười Bị- Cục phó hậu cần – thủ trưởng của Thu Hà xem ông có cất giấu súng đạn gì trong vùng này không? Sau đợt 1 đã xài sạch rồi còn gì? Độ 10 giờ sáng có người đàn bà đi chợ về báo:

– Xe tăng ngoài Đồng Dù vô đông quá, tôi phải lội xuống Mây Đắng tắt về đây.

Chập sau pháo Đồng Dù nện rung đất. Trinh sát báo cáo:

– Xe tăng giàn hàng ngang xắn vô ngay chóc chỉ huy sở !

Ba Tùng xã đội trưởng Lợi Hòa Đông dắt một toán du kích mặt xanh mày xám chạy vô:

– Tụi nó đổ từ trên Lâm Vồ kéo xuống vàng cả đồng. (Đi kèm với Ba Tùng là Mười Bị)

Tôi dắt qua giao cho ông một ông bự để ông lo giùm, ở bên tôi không có “đồ phép”, kế đó tôi nghe tiếng Thu Hà:

– Anh Hai ơi! Em với chú Mười nè!

Tôi rối ren trong bụng: Trời ơi! Qua bên đây làm gì lúc này? Nhưng ngoài mặt làm tỉnh:- Ờ, dắt chú Mười vô hầm đây!

Xe tăng chạy rung đất, máy hù hù nghe càng rối rắm thêm lên. Hầm khá rộng nhưng người dồn xuống đã chật như nêm cối rồi. Tôi bảo mọi người ép vào nhau nhường chỗ cho đàn bà chửa và ông già.

Ông Mười run như sốt rét:

– Pháo bắn dữ quá Hai Lôi!

– Nó thì vậy chú à !

Vừa dứt lời, có tiếng kêu:

– Có Hai Lôi đó không?

– Ai đó ?

– Văn Công quận. Bầu Phạm Sang nè!

Trời ơi! Ba cái ông đờn cò Tây này cũng bám lấy mình, đố khỏi chết chùm. Nhưng làm sao, chằng lẽ chối từ? Thôi xuống đây các cha !

Trinh sát báo:

– Trực thăng đổ quân từ Tịch Phong giăng hàng ngang dài xuống Lợi Hòa Đông đen đồng.

Rồi:

– Trực thăng đổ quân phía sau Vườn Trầu trước đội hình đám nữ.

Rồi lại:

– Xe tăng bao bít mặt Mây Đắng!

Tôi nghĩ bụng: còn đường đâu mà rút? Chỉ có cách lủi xuống suối đi rong theo nước xuôi qua Suối Sâu, An Phú thôi Nhưng đường hẹp súng nặng làm sao di chuyển. Nếu nó trông thấy nó tung lựu đạn chết hết. Tôi cho Tiển, Đá chạy đi tìm Ba Xuyên để biết thêm tình hình. Nhưng không gặp. Chỉ đụng xe tăng.

Lại có tiếng con gái:

– Anh Hai ơi, em bị thương rồi!

Con bé Ngọc Văn Công mếu máo kêu… cứu.

– Em bị ở đâu?

– Trước ngực.

Tôi kêu Thu Hà xé áo băng cho nó và quát:

– Đừng có khóc rối trí anh.

– Dạ, em không có khóc đâu. Ngọc quệt nước mắt đáp.

Pháo nổ lụp bụp như pháo chuột, pháo nện như giã gạo trên đầu. Tôi ngồi cắn răng chịu, quên cả Thu Hà bên cạnh. Làm sao? Nó bao chữ O rồi. Chỉ còn một cách: mở đường máu. Trong chớp nhoáng tôi quyết định. Phải tìm cái sống qua đầu cái chết. May ra. Còn nếu ở đây thì chắc trụm nguyên cả đám.

Tôi kêu trinh sát tới hạ lệnh:

– Các cậu cho C2 rút theo đường vô Bàu Trâu. Cl, C2 tự chọn đường, C3, C4 và đoàn bộ theo tôi. Kế hoạch: tất cả bắn thẳng vào tụi bộ binh ngồi ngoài đồng càn trên đầu chúng nó mà vọt. 9 giờ tối bắt đầu xung phong đồng loạt rõ chưa?

Ông Mười giọng run run;

– Liệu có thoát không em?

– Mình phải cương quyết chú à !

Dắt một đoàn Nam phụ lão ấu đàn bà chửa, ông già, thương binh, gần 20 người như thế này càn qua đầu bộ binh đang vây mình, xưa nay không biết có ai chơi chưa kiểu này? Chín nút khó. Bù là cái chắc.

Còn nửa giờ. Tôi ra lệnh:

– Tất cả theo tôi. Sẵn sàng xung phong. Nổ súng thẳng vào quân Mỹ mà chạy.

Tôi đi đầu dắt cả đoàn ra tuyến C3, cho kiểm tra lại cả C3 lẫn C4 xem đã thấu triệt mệnh lệnh của tôi chưa?

Đúng 9 giờ. Tôi bắn một phát lệnh và xung phong. Tất cả tung vọt lên khỏi chiến hào và chạy ra đồng, vừa chạy vừa bắn xả vào đám lính Mỹ đang ngồi hàng ngang giăng trước mặt. Pháo sáng rực trên trời dưới đất. Tôi thấy rõ chúng đang ngồi hút thuốc uống nước ngọt. Bị tấn công bất ngờ, bò càn không chống cự được. Nhờ vậy tôi đưa được cả đoàn ra khỏi vòng vây. Nhưng chúng nó lấy lại bình tĩnh và quay họng súng bắn theo ngay.

Tôi nghe tiếng kêu của Thu Hà:

– Anh Hai ơi, em làm sao chạy nổi?

Tôi nắm tay Thu Hà chạy chậm sau đoàn, nhưng nàng cũng không theo kịp. Thằng Đực cõng con Ngọc chạy trước mặt, dừng lại bảo:

– Anh Hai cõng em Ngọc, để em cõng chị Thu Hà cho !

Đực rất khỏe. Chuyên vác đạn cối và đại liên. Nó cõng con Ngọc như cõng trẻ con. Tôi bảo:

– Em chạy nhanh đi.

Thằng Tiển lôi tay ông Mười. Còn thẳng Đá không chịu chạy nhanh, cứ quay lại kêu:

– Anh Hai ơi! mau lên! Chị Thu Hà ơi!

Tôi nghe phía trước có tiếng đùa:

– Mày tha cục mỡ sướng rồi, nghe con mèo Đực.

– Thằng nào muốn, lại đây thay tao nè!

Tôi nghe các cánh Cl, C2 cũng nổ súng và tiếng xung phong dậy trời. Cứ cho là thoát 50% cũng tốt hơn là bị diệt toàn bộ. Tụi Mỹ chỉ bất cập loay hoay một lúc rồi đuổi nột. Pháo từ Đồng Dù và Trung Hòa gởi theo. Xe tăng cũng quay súng tiễn đưa chứng tôi bằng những loạt nín thở hai lần chưa dứt.

Tôi dìu Thu Hà vừa quát đoàn vừa bắn lệnh.

– Chạy mau lên, đừng dừng lại!

Ông Mười phang cặp giò cheo khá nhanh nhưng không đeo kịp thằng Đực. Chỉ mình tôi và Thu Hà tụt hậu xa lắc.

Đang chạy bỗng như có bàn tay vô hình xô sau lưng tôi ngã chúi xuống trước. Thu Hà cũng ngã quỵ.

– Chết em anh ơi! – Tiếng kêu lạc giọng.

Tôi vùng dậy bò lại gần nàng.

– Có sao không em?

Thu Hà chỉ quơ quơ hai tay, không đáp.

Tôi hét. Tiển, Đá quay lại.

Tôi quát:

– Vứt hết đồ đạc!

Tôi lột xắc-cốt, ném K54, mang đồ của Thu Hà! Hai đứa vác chạy. Tôi cõng Thu Hà. Nhưng tay nàng xụi lơ không bám vào cổ tôi được tôi phải xốc nàng theo kiểu vác thương binh, thân mình gập đôi trên vai tôi.

Súng vẫn bắn đuổi theo như tàn lửa dưới chân. Tôi cứ chạy vô tới bờ tre đặt nàng xuống đất. Úp mặt tôi vào mặt nàng. Hơi thở nàng đứt đoạn. Tôi nghe tim. Không nghe đập, chỉ nghe tiếng súng nổ đùng đùng. Tiếng quân Mỹ la hét đuổi theo.

Tôi sờ tìm vết thương, không thấy máu. Thằng Tiển rọi đèn. Một vệt loang ở cổ. Tôi đỡ nghiêng đầu nàng qua. Một vết nhỏ ngay gáy phía trên đầu. Chỗ ác nghiệt.

Miệng nàng há ra. Tôi biết nàng gọi “anh ơi” nhưng không rõ tiếng. Vạt áo nàng động đậy. Tôi chợt nhớ- giở lên. Bên hông nhúc nhích mãnh liệt. Trời ơi đứa bé trong bụng mẹ. Con tôi! Nó mới 4 tháng.

– Thu Hà ! Thu Hà ! – Tôi thét.

Mi mắt nặng nề mở ra. Bàn tay xanh lè chậm chạp giơ lên rồi rụng xuống bụng. Môi há ra mấp máy. Cái chân đạp căng da bụng mãnh liệt hơn mọi ngày, rồi im. Tôi biết nàng nói câu thường ngày.

– Nó khỏe lắm. Chắc con trai!

Mắt nàng khép lại.

Thằng Đá hét:

– Chạy! Anh Hai !

Tôi xốc nàng lên vai. Thân thể nàng còn ấm nhưng dịu oặt, tóc xõa dọc chân tôi. Vào đến xóm. Người chủ nhà đẩy tôi vào hầm. Tôi gục trên xác nàng. Xe tăng tới. Bộ binh rầm rập theo sau. Tiếng đạn lấp tiếng la hét tiếng giày .

Thằng Tiển thằng Đá rứt tôi ra, lôi chạy. Nàng ở lại với con. Hai mẹ con.

…. Sáng hôm sau tôi không dậy nổi. Thức nằm trên võng, đầu óc tỉnh khô, nhớ hết mọi việc đêm qua. Bàn chân chòi đạp trong bụng mẹ, tìm sự sống. Ngột ngạt rồi im. Cứ nhoi nhói trong đầu tôi. Mặt trời mọc trên đầu bụi tre đỏ hoét như đám cháy. Suốt ngày im như chết. Đến chiều Bảy Ga đến cho người trở lại chôn cất Thu Hà . Thấy tôi kiệt sức, tắt tiếng không thể di chuyển được, hắn cho thằng Đá thằng Tiển ở lại với tôi.

Tôi hỏi:

– Anh em hi sinh bao nhiêu?

Bảy Ga không đáp, chỉ bảo tôi ở lại dưỡng sức. Hai Khởi vẫn đùa bất cứ trong trường hợp nào:

– Có cần em Tám Lệ nắn bóp không? Hì hì…

Tôi không cười nổi. Hai Khởi còn tiếp:

– Để tôi cho nàng hay chắc nàng đem cù là tới cạo …!

Rồi hai người kéo đi. Tôi thèm đi theo. Nhưng cố lê ra hàng ba thìôm gốc cột gục đầu. Ngoài đường đơn vị kéo qua. Tôi biết mặt từng người Cl, C3, C4, đội nữ.

Trời! Chỉ còn bấy nhiêu thôi sao? Tôi nhớ lần hành quân đánh quận lỵ Củ Chi, tôi mua cả một đám mía Tây chia ra cả đơn vị xước, rột rẹt vui quá. Đoàn quân dài hơn cây số. Thằng Đá dìu tôi vào võng. Tôi nằm vật ra. Chóng mặt, tưởng địa cầu run như sắp đổ. RừngTre nuốt mất 60 lính 9 cán bộ đại đội, rồi mở đường máu Vườn Trầu mất bao nhiêu?

Trời tối dần. Buổi chiều ảm đạm nhất đời tôi. Đời tư và binh nghiệp. Đám cưới chạy tang xui thật. Bươm bướm rơi trắng đồng.

Tôi nằm úp mặt vào mép võng như con đà điểu chui trốn sự thật. Nhưng những cảnh tượng Rừng Tre, Vườn Trầu vẫn còn nóng rực. Cái chân nhỏ xíu chòi đạp trong bụng mẹ cứ nhoi nhói trong đầu tôi. Nó khỏe lắm. Chắc trai. Thu Hà ơi!

Bỗng nghe tiếng pháo Đồng Dù đề-pa nổ dây như pháo Tết. Tôi ngóc dậy:

– Nổ đâu vậy Tiển?

– Nghe hướng trại Giàn Bầu.

– Chắc không?

Thằng Tiển chờ dứt hai ba loạt mới đáp:

– Đụng rồi anh Hai. – Nó chạy ra sân rồi trở vào – khói lên chỗ cụm cây cao.

Tôi biết đó là xóm nhà nào. Rồi trực thăng đổ quân ào ào. Bầy cá nhái vòng qua tận đây. Đơn vị vừa tới, chưa kịp bố phòng, là bị nó nhảy ngay trên đầu. Không trở tay kịp. Tôi tiên đoán. Quả thật.

Đơn vị bị xúc gần hết. Hai Khởi bị bắt sống. Chỉ Bảy Ga chạy thoát. Ai còn sống sót bị đưa về bên kia sông sát nhập vào đơn vị khác. Riêng dũng sĩ Bảy Mô thì được bà Phó Tư lệnh vớt về R ban chức “chị nuôi” (không rõ vụ nàng bị du kích Bàu Me bắt, tôi cố giấu nhẹm, có bị lộ ra không?) Như vậy Trung đoàn Mũi Nhọn, tức Quyết Thắng I đã đem đi nướng rụm ở tuyến lửa Sài Gòn hồi đợt I. Trung đoàn Quyết Thông II ở lại trấn thủ Củ Chí làm nhiệm vụ cầm chân địch và bảo vệ căn cứ ở trung tuyến, bị đánh tan trong 3 ngày 4 trận. Cả hai đều có sự đóng góp xương máu của tôi trong 5 năm trờii. Và cả hai đều đã vong thân trong chiến dịch Mậu Thân. Củ Chi đã được quét sạch.

Chuyện xảy ra đã 30 làm chẵn. Mỗi lần hồi niệm Củ Chi tôi lại nhớ Vườn Trầu.

Cái bàn chân cứ chòi đạp nhoi nhói trong đầu tôi. Giọng nói đứt quãng của Thu Hà. Những tiếng nàng mang theo xuống mồ như cũng vọng về tìm lại người xưa.

Đám cưới chạy tang xui thật. Nhưng tôi cũng còn một chút hên.

Nhờ ốm mà tôi không có mặt ở trại Giàn Bầu, trận kết thúc cuộc đời của tên Lê Dương Đỏ sau 25 năm lang bạt khắp đó đây Cũng là trận chấm dứt cái huyền thoại “giải phóng tới cửa ngõ Sài Gòn – 4/5 dân chúng, 3/4 đất đai và đón Bác vô Sài Gòn“, một giấc mộng hoang đường của một kẻ ngây thơ chết xuống mồ còn ôm mối hận Ô Giang.

7 – 95
Lôi – Vũ

Chương Kết

Bài nói chuyện của Dương Đình Lôi
trước tiền đình
Tòa Hành Chánh tỉnh Bình Dương
với 2000 đồng bào Bình Dương- Hậu Nghĩa
ngày 10 tháng 9 năm 1970

Tôi là Dương Đình Lôi, Trung đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng Trung Đoàn Quyết Thắng, nguyên quận đội trưởng Quận Củ Chi, xin có đôi lời bày tỏ cùng đồng bào.

Thưa đồng bào, thưa các mẹ, các anh chị Bình Dương Hậu Nghĩa, đặc biệt đồng bào Củ Chi. Có lẽ đồng bào không lạ gì đối với tôi, một người đã từng tiếp xúc và sống với đồng bào 2000 ngày đêm trên mảnh đất đầy mưa bom, bão đạn này từ năm 1965 đến nay.

Hôm nay tôi xin thưa cùng đồng bào lý do tại sao tôi có mặt ở đây, – nơi mà cách đây 2 năm ngay trong đợt 2 của cuộc tổng công kích Mậu Thân, Thượng tá Trần Văn Đắc chánh ủy mặt trận tiền phương đã rời bỏ hàng ngũ Cộng Sản trở về với chánh nghĩa Quốc Gia. Trước ông đã có nhiều người và sau ông sẽ còn nhiều người hơn nữa đi theo bước chân ông. Tôi là người thứ 300.677 đã trở về với chánh nghĩa Quốc Gia từ khi có chánh sách Chiêu Hồi.

Tại sao tôi theo Cộng Sản 20 năm rồi lại bỏ Cộng Sản?

Đối với tôi đây là một vấn đề rất lớn phải được trình bày tỉ mỉ, nhưng hôm nay tôi chỉ xin tóm tắt như sau:

Năm 1945-46, xã tôi có một người tù tên Bình không biết rõ gốc gác ở đâu, từ Côn Đảo về. Vì tình hình lộn xộn cha tôi không cho đi học nữa chứ không phải tôi tự ý về nhà. Thời kỳ đó những hoạt động của Việt Minh đều mang danh nghĩa yêu nước, không phân biệt đảng phái. Tôi có chút ít chữ nghĩa nên thích những bài hát cải cách gọi là bài hát Thanh Niên như những bài: Thượng lộ tiểu khùc, Lên Đàng, Tiếng gọi sinh viên, Bạch Đằng Giang, Chi Lăng, Đồng Đa, Hội nghị Diên Hồng, v.v… Tôi còn thích đi chợ để nghe diễn thuyết, tuyên truyền về lòng yêu nước. Trưởng ban Tuyên Truyền tỉnh là thầy cũ của tôi hồi tôi học lớp nhất. Ngoài ra còn những vị thầy khác cũng đi kháng chiến. Hơn nữa có cả ông Đốc trường quận và ông Đốc các trường liên tỉnh cũng đi kháng chiến. Những vị này đến nhà tôi, được ba tôi tiếp đãi rất trọng hậu.

Một đứa học trò thấy thầy mình đi theo Việt Minh thì ắt phải nghĩ rằng đó là một việc làm đúng đắn, một hành động ái quốc.

Ông Bình thường tuyên truyền chủ nghĩa Cộng Sản bên Liên Xô: “Các thặng sở năng, các thụ sở nhu”.

Không ai hiểu gì cả. Cũng không ai biết Liên Xô Liên Xiết ở đâu? ông bèn giải thích “Các thặng sở năng” là làm tùy sức hưởng tùy tài. Tức là làm được bao nhiêu thì được trả công bấy nhiêu- không ai bóc lột ai. Lập tức có người chất vấn: ở đâu mà không thế đợi gì phải bên Liên Xô ?

…Khi lên Cộng Sản chủ nghĩa rồi thì “các thụ sở nhu” “làm tùy sức hưởng tùy nhu cầu”. Nghĩa là người dân chỉ làm hết sức mình nhưng được lãnh theo nhu cầu cần thiết. Thí dụ: một ngày công của tôi chỉ đáng giá 5 cắc nhưng tôi cần: vải, nước mắm, dầu lửa, cá thịt giá 5 đồng thì tôi vẫn được phát cho đủ các món đó. Trên khắp thế giới hiện nay chỉ có Liên Xô đang tiến lên Cộng Sản chủ nghĩa thôi. Dân Liên Xô là dân tộc sống sung sướng nhất hoàn cầu. Bởi vậy nước nào cũng muốn trở thành Cộng Sản như Liên Xô. Chủ nghĩa Cộng Sản làm chơi ăn thiệt ai mà không mê? Có người hỏi sao ông không sang Liên Xô ở, sung sướng mãn đời (có tiếng cười ầm) thì ông ta đổ quạu không trả lời. Người ta lại hỏi: ông có thấy thật hay chỉ nghe ai đồn? ông Bình càng nổi cáu.

Tôi ham thích đọc báo và chép thơ. Thời đó có một bài thơ rất hay, nó ăn sâu vào từ nhớ của tôi đến nay. Tôi xin đọc mấy đoạn trong bài AN PHÚ ĐÔNG:

An Phú Đông, đây An Phú Đông
Một tàng nho nhỏ ở ven sông
Một năm chinh chiêu ôi chinh chiến
Sóng nước Sài Côn nhuộm máu hồng

Láng ấy như bao làng nước Việt
Cày sâu cuộc bẫm gái trai lành
Chiều chiều tiếng hát vương theo gió
Quyến tóc dừa cau vạn thuở xanh

…Làng mạc tan tành thành chiến địa
Hàng dừa rũ tóc khóc bên mồ
U hoài gió vỡ trên sông rộng
Thông tạt về đây sóng nhấp nhô

An Phú Đông! đây An Phú Đông
Trả lời tiếng gọi của non sông
Trẻ già đều biết hi sinh hết
Biết trả thù chung đổ máu hồng.!

Thật là một bài thơ tuyệt tác ca ngợi tinh thần chống xâm lăng, yêu nước của người vệt Nam. Bất cứ nơi nào cũng có bức tranh hùng vĩ đó. Nơi nào có quân Pháp đến đóng đồn thì nơi đó đều trở thành An Phú Đông.

Năm 1946, quân Pháp đến đóng bót ở chợ làng tôi- do một tên Pháp chỉ huy. Được sự chỉ dẫn của người địa phương, hắn đem lính vào xóm vây nhà bắt ba tôi để ép ông ra làm việc. Nhưng ông vốn đã cẩn thận trốn tránh hằng ngày nên chúng không bắt được. Chúng bèn quay ra bắt má tôi. Tôi bảo: má tôi già yếu, mấy ông bắt tôi đây? Thế là chúng bắt tôi đem về đồn mong ba tôi nóng lòng sẽ ra hợp tác với chúng. Nhưng ba tôi không ra. Còn tôi, tôi cũng không sợ chúng chút nào.

Sáng hôm sau, tôi đang nhởn nhơ trước bót (tôi không bị giam) thì có một chiếc xe nhà binh từ trên quận chạy xuống. Tôi đoán là tên quan hai chỉ huy phân khu. Có lẽ trông thấy mặt mũi tôi sáng sủa, một tên vẫy tay tôi đến, hỏi giọng hách dịch:

– Mày làm gì ở đây?

– Dạ, tôi bị bắt ạ ?

– Tại sao?

– Tôi cũng không biết tại sao!

Vừa lúc đó tên xếp đồn xuất hiện. Tên này báo cáo về trường hợp của tôi. Tên quan hai hất hàm:

– Tại sao chúng mày không hợp tác với quân Pháp?

-Tại vì tôi không thích sự có mặt của các ông ở đây.

– Tại sao?

– Cũng như chính dân tộc Pháp không thích quân Phổ (Les Prussiens- quân Đức) sang chiếm đất Pháp hồi trước.

– Chúng tao đem văn minh tới cho nước mày mà tại sao mày lại có vẻ căm thù chúng tao?

– Vâng, tôi yêu Balzac, Maupassant nhưng không yêu các ông.

– Ai dạy mày thế!

– Thầy tôi, giáo sư De la Goutte. Ông dạy tôi những bài thơ của Victor Hugo, tiểu sử của Jeanne d’Arc và những gương yêu nước của người Pháp.

– Ông ta ở đâu bây giờ?

– Ông ta còn dạy ở trường trên tỉnh lỵ.

– Tại sao mày không trở lại trường mà trốn học ở nhà?

– Tôi ở nhà vì tôi không muốn đi học nữa chớ không phải trốn học.

– Đi theo Việt Minh phá làng phá xóm mà không phải trốn học? Được rồi tao sẽ cho mời ông thầy mày đến dạy dỗ thằng học trò cứng đầu này.

Tôi tưởng tên sĩ quan nói chơi, chẳng ngờ độ một tiếng đồng hồ sau, một chiếc xe ca chạy tới đỗ ngay trước cửa bót. Cửa xe mở. ông thầy tôi bước xuống. Tôi tưởng mơ nhưng mà thật. Trông thấy tôi ông reo lên:

– Con… đó hả? Sao ở đây! Người ta bảo con là tên ma cà rồng.

– Thưa thầy, không ạ! Con vẫn là học trò của thầy, con vẫn là thằng bé học tiểu sử của Jeanne d’Arc và nghe tiếng kèn trận của cậu bé Barbara trong thung lũng Ronceveaux vang lên thúc giục lòng quân sĩ đến điệp khúc sau cùng, con vẫn là đứa học trò được thầy cho 18 điểm khi giải thích bài thơ của Victor Hugo: vinh quang thay những đứa con chết cho Tổ Quốc!…

Tôi nói một hơi như một dòng suối tuôn tràn trước mặt vị giáo sư Pháp văn. Và ông cũng lấy làm vui sướng với nét mặt rạng rỡ khi nghe đứa học trò bỏ lớp mà vẫn không quên những bài học của ông dạy cho.

Vị giáo sư đưa tay cho tôi. Tôi khúm núm, vì chưa bao giờ dám bắt tay thầy. Ông bảo:

– Bây giờ con là công dân một nước rồi! Thầy lấy làm hãnh diện bắt tay con.

– Con xin cám ơn thầy. – Tôi bắt tay thầy và cúi mọp.

Các sĩ quan Pháp và pạc-tí-dăng ngơ ngác trước câu chuyện của hai thầy trò. Viên xếp đồn hơi bực mình kể lại câu chuyện về tôi cho vị giáo sư nghe rồi kết luận:

– Thằng nhỏ này ngang bướng lắm. Nó chịu bắt thay cho mẹ nó !

– Đó là một tấm gương tốt chớ sao ông bảo nó ngang bướng. Người Á Đông vẫn thường có những cử chỉ như thế. Chúng ta phải hoan nghênh.

– Nhưng bố nó có tinh thần bất hợp tác với chúng ta. Không thể nào tha thứ được.

– Thì cũng như chúng ta bất hợp tác với quân Phổ trước đây vậy. Thằng bé này đã chịu ảnh hướng tinh thần của chúng ta ngày xưa.

– Thưa giáo sư, viên quan hai nói – Chúng ta chỉ giúp họ tiến tới văn hóa, văn minh tiến bộ.

– Nhưng họ lại không chấp nhận sự có mặt của chúng ta ở đây. Tinh thần Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái là những điểm chính của nền văn minh đó. Ngay như tôi, tôi cũng khâm phục công cuộc giành độc lập cho đất nước họ. Tôi sẽ rời xứ này trở về nước nay mai vì họ không cần sự có mặt của ta nữa. – nghỉ một chút, quay sang tôi, ông tiếp- Tôi nghĩ là quí ông không có lý do gì bắt bớ một cậu bé như thế này. Nó đã nghe dư âm tiếng gọi Jeanne d’Arc thiêng liêng vọng lại từ lịch sử ta, các ngài không lấy đó làm hãnh diện hay sao Nếu tôi là các ngài thì tôi sẽ viết một bài báo gởi về Pháp.

…. Thế là tôi được thả ra.

Thưa đồng bào, tôi đã kể hầu đồng bào những câu chuyện về chủ nghĩa Cộng Sản của ông Bình và về lòng yêu nước vừa chớm nở của tôi. Lúc đó tôi kính phục ông Bình cũng như kính phục vị giáo sư của tôi. Và tôi lầm tưởng rằng cô Jeanne d’Arc và cậu Barbara đã nhờ chủ nghĩa Cộng Sản mà có được lòng yêu nước như vậy. Và lầm tưởng chủ nghĩa Cộng Sản và lòng yêu nước chỉ là một. (Có tiếng cười ồ và thính giả xôn xao). Bởi xưa nay có ai biết Cộng Sản là cái gì? Đảng Cộng Sản Đông Dương giải tán hay không giải tán thì có ý nghĩa gì? Một trò bịp, làm sao một bộ óc non nớt như tôi xét đoán nổi. Chỉ biết nước mình bị nô lệ thực dân Pháp thì phải nổi lên đánh đuổi nó để giành độc lập thôi. Khi đi học thì chào cờ Pháp hát “Maréchal nous voilà!”

Bây giờ hát “Này thanh niên ơi niên ơi đứng lên đáp lời sông núi” – nó sướng cái miệng làm sao.!

Lúc chưa thành nhân tôi đã quảy ba lô làm cán bộ, đi tổ chức các đoàn thể thanh niên cứu quốc, nông dân cứu nước, cả thiếu nhi cứu quốc và giúp đỡ các bà tổ chức Phụ nữ Cứu Quốc nữa.

Cùng đi có các bạn học cũ của tôi, toàn là con Cai Tổng, Hương Cả và con thầy học của tôi. Chúng tôi quảy đờn đi đến đâu tổ chức lửa trại và đóng kịch cương, lấy làm thú vị và tự hào cho tuổi trẻ của mình lắm.

Với núi sông vừa khi tươi sáng lên đường ta quyết chiến
Đoàn quân ta cùng bước đều ca rền khắp ngàn nơi xa
Cứu nước non vượt khi nguy biến
lên đường ta quyết tiến
Dù muôn khó nguyền lướt qua
Núi sông muôn thu chờ ta.
( 1 )

Hai tiếng “núi sông” thiêng liêng thúc giục lòng trai vô cùng. Chúng tôi say mê “cứu nước”. Thỉnh thoảng các anh lớn thấy cậu bé thông minh, đưa mấy cuốn sách vỡ lòng của Các Mác do Như Quỳnh Hải Triều và Đặng Thái Mai dịch. Đọc nhưng chẳng hiểu gì, chỉ nhớ có một câu: “chủ nghĩa tư bản là con ngựa bất kham ném chủ nó xuống hố.”

Năm 1952 tôi vớ được một quyển Études Soviétiques trong đó có bài “Bắt kịp và Qua mặt” trong đó tác giả phân tách 2 nên kinh tế Hoa Kỳ và Liên Xô và kết luận trong 5 năm kế hoạch lần thứ… Liên Xô sẽ qua mặt Hoa Kỳ tính về bơ, sữa, thịt cá, điện, trên mỗi đầu người. Tôi không hiểu gì cả, nhưng cũng không gạt bỏ.

Năm 1954 tôi tập kết ra miền Bắc, thình lình tôi thấy cái khẩu hiệu chữ to bằng người YÊU NƯỚC LÀ YÊU CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, cái chủ nghĩa xã hội không giai cấp làm 5 cắc lãnh 5 đồng của ông Bình ấy mà ! (tiếng cuời vang)

Một hôm tôi đi mậu dịch mua đường cát. Xếp hàng rồng rắn dài ngoằn ngoèo, chờ cả buổi mới tới phiên. Nhưng cô mậu dịch lắng lặng treo tấm bảng “HẾT HÀNG”. Ông già đứng cách tôi chừng 3 người nổi cáu, quay ra chìa cái phiếu cho người đứng phía sau với vẻ mặt giận dữ: “tôi bán cho anh nè !” Tôi nhận ra ngay là ông Bình. Ông cũng nhận ra tôi. Ông có vẻ xẽn lẽn. Có lẽ ông nhớ những bài giảng của ông trước kia. Tôi hỏi lấp ngang:

– Bây giờ bác Ba công tác ở đâu bác Ba?

– Ờ, ờ goa công tác ở trường lý luận trung cao.

Gặp lại thằng học trò cũ, nhưng ông thầy không vui. Tôi chào tạm biệt. Xã hội miền Bắc năm đó, 1961- còn ăn độn, nhiều nơi ăn củ chuối nhưng chế độ phân chia làm 16 giai cấp, biểu hiện trong các tấm phiếu. Phiếu A có 4 giai cấp: Al, A2, A3, A4 – B có B1, B2, B3, B4 v.v… Đó là giai cấp mua hàng. Còn ăn cơm có 4 giai cấp: đặc tiểu táo, tiểu táo, trung táo, đại táo.

Đặc tiểu táo thì 10 người nấu cho 1 người ăn.
Tiểu táo thì 5 người nấu cho 3 người ăn.
Trung táo thì 1 người nấu cho 10 người ăn.
Đại táo thì 1 người nấu cho 100 người ăn.

Đó là xã hội chủ nghĩa “không giai cấp” của miền Bắc !

Chẳng những nó được thi hành ở miền Bắc mà trong hoàn cảnh rừng rú của R và ngay cả trên Trường Sơn cũng có phiếu A, B, C. Loại A ăn muối sả. Loại B ăn muối sống (cười).

Các bạn có biết ai đã xóa cái nạn giai cấp xã hội chủ nghĩa ở khu giải phóng không? Đó chính là Mỹ. Tại sao? Bom bỏ rầm rầm, pháo bắn phát điên, thằng nào cũng chạy bộ và ăn bốc chớ tiểu táo, đặc táo, phiếu Al, A2 sao được? (tiếng cười rần rần)

Thưa đồng bào, tiện đây tôi cũng muốn nêu lên một vấn đề mà chắc chắn từ thành thị đến thôn quê, bà con có nghe Đài Giải Phóng, đài Hà Nội ít hay nhiều đều biết. Đó là Địa đạo Củ Chi “dài 100 dặm” bao quanh và luồn qua cả dưới đít Đồng Dù. Nó còn chui qua cả sông Sài Gòn và nối thôn liền thôn xã liền xã. Hơn nữa ở dưới địa đạo còn có bệnh viện, câu lạc bộ, tiệm quán, kho thuế nông nghiệp, giếng sâu 16 thước. (tiếng cười rào rào). Mỗi lần Mỹ chụp đồng bào chui xuống địa, an toàn 100% và giúp đỡ bộ đội dùng “địa đạo chiến” đánh quân Mỹ tơi bời. (tiếng cười)

Ở đây chắc có bà con Củ Chi. Chắc bà con không khỏi ngạc nhiên về cái địa đạo đó. Tôi đã từng đưa ông Kiệt xuống tham quan cái địa thôn liền… thôn đó “mất 7 ngày”. Khi trở lên mặt đất các nàng “dũng sĩ” đã tặng cho ông một tô nước “mắc cở”. Uống xong ông phấn khởi quá mức kế hoạch nhà nước ông vọt thắng lên Cao Miên “nắm thắt lưng Mỹ mà đánh “túi bụi” rồi không trở lại Củ Chi để xuống đường Sài Gòn. (Tiếng cười rần rần kéo dài).

Thưa đồng bào,

Tôi đi theo Việt Minh từ 1945 tới nay. Trong bụng tôi lúc nào cũng có câu hỏi: Tại sao nó như thế này? Tại sao nó như thế kia? Có lần ở Đồng Tháp Mười (1948)tôi đã cãi nhau với Hà Huy Giáp về chủ nghĩa Mác (Các thặng sở năng… Các thụ sở nhu.)

Tại sao một người chỉ có 2 sào đất (bằng 1 công đất trong Nam) lại bị quy là địa chủ. Tại sao địa chủ ủng hộ kháng chiến nhiệt tình như vậy mà bị cho là phản động?… Tại sao một anh cán bộ gởi thơ về nhà (ở Sài Gòn) không xin gì, chỉ xin cái sườn xe đạp? Tại sao miền Bắc nghèo đói mà đòi giải phóng Miền Nam giàu có?

Một ngàn câu hỏi mọc lên trong đầu tôi. Không ai giải đáp cho tôi thông suốt, ngoài cái thực tế trước mắt.

Chủ nghĩa Cộng Sản chỉ mang lại nghèo đói, dốt nát, tù tội, tem phiếu, dép râu (Tiếng cười rần).

Tôi đã bị mê hoặc vì những sách vở nói láo và những bài học của lão Ba Bình. Tôi muốn mở mắt cho những người mê muội theo Cộng Sản như tôi nhưng thời giờ quá ít. Trời đã trưa, nóng bức, xin hẹn đồng bào một dịp khác.

Tóm tắt buổi hầu chuyện cùng bà con hôm nay tôi muốn nói rằng: Chủ nghĩa Cộng Sản không phải một lý tưởng mà là một trò đại bịp. Còn người Cộng Sản không có tài gì ngoài lừa bịp. Họ là những người không có tư cách, không có gì đáng kính mà cũng không có gì đáng yêu.

Xin kính chào.
Dương Đình Lôi

(1) Bài An Phú Đông của Xuân Miễn

CÂU CHUYỆN HẠNH NGỘ

Đã lâu lắm, tôi có đọc một cái truyện ở đâu đó. Truyện rằng một gia đình nọ có 2 người con trai: thằng lớn theo Việt Minh, đứa nhỏ theo Quốc Gia, cả hai đều cầm súng. Một lần người anh đánh trận về khoe rân chiến thắng. Bữa đó bà mẹ giặt áo quần cho con, bất ngờ tìm thấy một tấm hình. Bà hỏi hình này ở đâu? Người con nói lấy trên xác giặc. Bà mẹ ngất xỉu. Dè đâu anh giết em mà không biết. Tấm hình đó chính là hình của đứa em.

Tôi đọc qua rồi quên đi. Cho rằng đó là sự bịa tạc của các ông văn sĩ chứ đời đâu có bi kịch lạ lùng vậy.

Nào ngờ đó chính là bi kịch của tôi.

*

Một hôm tôi đang sơn cái nhà tôi (đời tên Lê Dươong đỏ kháng Pháp, “chống Mỹ mút mùa” mà nay lưu vong trên xứ Mỹ – mới có cái nhà) – bỗng có tiếng gọi chào:

– Ê ! Good moming Mít-tơ Thép ?

Tôi quay mặt nhìn ra đường. Một người đàn ông mắt kính gọng đen to, tương phản với mái tóc bạc như bông của ông ta. Chiếc xe của ông máy êm quá nên đỗ lại sát lề mà tôi không hay. Tôi nhận ra… chỉ là một người lạ, nghĩa là tôi chưa từng thấy cái gương mặt này trong số bạn bè quanh trong vùng vẫn thường tới lui nhà tôi lâu nay.

Dù không quen cũng chào hỏi đáp lễ. Rồi ngưng công việc, chùi tay vào áo và bước qua bãi cỏ đến trước mặt ông khách. Vẫn với cặp’ mất ngơ ngác như hỏi: “ông là ai?”

Thì ông khách giơ tay cho tôi. Tôi bắt lấy và nói:

– Tôi không phải tên Thép.

– Thế thì Bonjour monsieur Lửa. Hà hà !

– Thưa ông, ông lầm nhà rồi. Tôi cũng không phải tên Lửa Củi gì hết!

– Thế thì chào ông Quyết Thắng!

Tôi giật mình. Cái tên “Quyết Thắng” đã vùi sâu trong đống tro tàn dĩ vãng tưởng chừng đã ngàn năm nay bị móc lên bất ngờ. Tôi nhìn ông khách với cặp mất có lẽ ngạc nhiên hơn lúc nãy. Ông khách cười cởi mở, hồn nhiên:

– Xin lỗi ông! Tôi đến hơi đường đột. Có chút chuyện muốn thưa qua, chớ để trong bụng nó cứ áy náy hoài. Ngoài ra cũng muốn thăm ông một chút.

– Dạ xin cám ơn!

– Câu chuyện hơi dài. Nếu ông cho phép thì tôi xin thưa.

– Xin mời ông vào nhà uống tách trà ấm bụng cái đã.

Câu chuyện của người khách lạ, tôi xin ghi như sau:

Khoảng năm 65-66 tôi có cho phép một đại úy dưới quyền của tôi đi vào Củ Chi thăm một người anh ruột ở ngoài Bắc mới về. Viên đại úy rất trẻ nhưng rất giỏi trong binh nghiệp. Có thể nói là một tay chịu chơi trong đơn vị của tôi. Khi đụng trận có cậu ta là tôi vững lòng lắm. Ra trận luôn đi đầu, hết đạn thì lắp lưỡi lê và quay báng súng đập. Lính mến phục tặng cậu ta hỗn danh: “con chim cực đen”.

Anh ta lên trực tiếp xin gặp tôi và trình bày hoàn cảnh gia đình. Cuối cùng xin phép vô Củ Chi. Tôi không suy nghĩ lâu lắc. Tôi OK ngay. Nhưng sau đó tôi phải báo cho cục An Ninh Quân Đội. Họ có gọi viên đại úy của tôi lên gặp và cuối cùng cậu ta được như ý- hơn cả như ý nữa. Nghĩa là cậu ta, ngoài bản thân, còn được đưa cả gia đình vào thăm người anh. Cậu ta tỏ ra áy náy khi lên chào tôi trước lúc đi, với giọng xúc động:

– Anh Cả có tin em không?

– Cậu cứ đi. Tôi cho phép và tôi chịu trách nhiệm về cậu.

Anh ta rưng rưng, muốn nói câu gì nhưng không nói được Tôi giục:

– Thôi đi đi. Phép có 3 ngày. Một ngày đi một ngày ở và một ngày về. Nhanh lên kẻo không kịp. Không khéo cậu về tới thì đơn vị đã ở ngoài Huế hay ở dưới Cà Mau, phải bay theo mệt lắm!

Rồi cậu ta đi. Đúng 3 ngày, cậu ta trở về, lên văn phòng trình diện tôi:

– Báo cáo Anh cả, em có mặt, xin chờ lệnh.

– Cậu có gặp người anh chứ?

– Dạ có gặp ạ !

– Anh em lâu ngày mới gặp nhau, mừng dữ hả?

– Dạ, mừng lắm! Nhưng anh em xa nhau từ nhỏ, bây giờ không nhớ mặt. Ngồi bên nhau, hút hết một bao thuốc mà không nói gì. Tối ngủ chung hầm nằm bên nhau mà cũng không nói gì. Rồi chia tay.

Cậu ta kể lại có bấy nhiêu. Tôi cũng không hỏi gì thêm mà cũng không nhớ rằng trong đơn vị mình có một viên đại úy có hoàn cảnh éo le như vậy nữa. Thời buổi chiến tranh con nhà lính, đến trong giấc ngủ cũng nghĩ tới chuyện “đấm”, đầu óc ở đâu mà lo những chuyện bao la.

Mãi cho đến Mậu Thân, Hà Nội lén chở súng bằng đường biển vô Năm Căn. Đơn vị tôi được lịnh lùng vùng U Minh. Đang hành quân thì có tin mặt trận bùng nổ khắp nơi. Tôi lại được lệnh về ngay Sài Gòn bảo vệ sân bay Tân Sơn Nhút. Viên đại úy trẻ tuổi tin cậy của tôi đã hi sinh trong trận này.

Người khách ngưng lại, chừng như xúc động, hớp miếng trà rồi tiếp:

– Một ngàn chín trăm sáu mươi tám. Một ngàn chín tìm chín mươi tám. Thoáng chốc mà đã 30 năm. Thuở đó tôi mới bốn mươi ngoài. Cậu ta mới ba mươi. Thời gian đi mau quá .

Người khách lặng im. Mắt chớp chớp, đỏ hoe. Rồi lại tiếp:

– Tôi đã đọc sách Củ Chi của ông.

– Xin cảm ơn.

– Một phần là để thưởng thức văn chương.

– Dạ, nó có văn chương gì đâu. Đó chẳng qua là những cục đất Củ Chi còn đẫm máu lệ nóng hổi mà tôi hốt bỏ lên giấy đấy thôi ạ.

Người khách tiếp:

– Tôi đọc để tìm thấy lại tôi trên đất Củ Chi và nếm lại cái búp măng tre luộc của Sa Nhỏ, nghe lại ngọn gió Đồng Lớn, Cây Trác… Và hôm nay tôi rất hân hạnh gặp lại Mít tơ Thép trong nhà.

– Thế ra ông đây là…

– Vâng, tôi là…

Tôi vạch áo cho ông xem vết sẹo to ở bụng. Còn ông kéo tay áo cho tôi xem vết sẹo ở vai. Như nói với nhau: Củ Chi đây!

Rồi hai người ôm nhau. Như cùng chung một kỷ niệm Củ Chi.

o O o

ĐÔI LỜI TẠM BIỆT TRƯỚC KHI XẾP SÁCH

Năm 1789, đứng trước kỳ quan Kim Tự Tháp Nã Phá Luân vị đại tướng vừa chinh phục xong xứ Ai Cập đã trỏ tay vào các ngôi tháp mà bảo các tướng sĩ của ông rằng: “Từ trên đỉnh của các ngôi Tháp kia, hàng chục thế kỷ chiêm ngưỡng các ngươi” (Du haut de ces pyramỉdes, des siècles vous contemplent.)

Ngày nay trong chiến tranh Việt Nam, vùng đất Củ Chi được Việt Cộng thần thánh hóa thành “Kỳ Quan Thắng Mỹ” – hơn nữa, một huyền thoại của thế kỷ XX: “Đất Thép thành đồng” ! mà lịch sử chiến tranh các dân tộc tự cổ chí kim, từ Đông sang đây chưa từng có. Một kỳ… cục thì đúng hơn.

Viết bộ hồi ký này, chúng tôi mong đánh tan lớp sương mù hoang đường mà người ta gán cho Củ Chi lâu nay để độc giả nhìn rõ mặt Củ Chi thực sự, trần trụi ngập máu lệ vì cuồng vọng “giải phóng Miền Nam” của bọn xâm lăng chính đất nước mình, phá hoại hạnh phúc của chính gia đình và dân tộc mình.

Hoa Kỳ 9-97

Lôi-Vũ

Qúy vị vừa đọc xong thiên Hồi Ký 2000 NGÀY ĐÊM TRẤN THỦ CỦ CHI của 2 nhà văn hồi chánh Xuân Vũ và Dương Đình Lôi đồng soạn gồm 7 quyển – 133 chương do Lê Thy đánh máy lại từ các sách của Xuân Thu xuất bản (q.1-2-3-4) và Đại Nam xuất bản (q. 5-6-7).

Khởi sự đánh máy ngày 1- tháng 3- 2010
Đánh máy xong ngày 19 – tháng 4- 2011

duongdinhloi2

bandocuchi1
bandocuchi2

5 Responses to “2000 Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi: QVII (129 – Kết)”

  1. ton Says:

    Very good !
    Thank you much

  2. hung thien diep Says:

    Cam on anh LE THI , nho anh ma toi tiem duoc truyen cua anh DUONG DINH LOI vi cho toi o khong co nguoi viet va rat buon

    • Lê Thy Says:

      Dạ không có chi..Nhưng tui là “cụ bà Lê Thy” vì tui đã 7 bó rồi chứ không phải “anh Lê Thi”…hi hi …

      • hung thien diep Says:

        Thanh that xin loi chiLE THI vi toi goi chi la anh Neu chi da 70 thi toi cung da co 3 chau noi roi vai nam nua toi cung 70 nhu chi kinh chau chi

  3. TRUONG TRUONG Says:

    Xin bày tỏ lòng rất kính trọng các tác giả Xuân Vũ và Dương Đình Lôi đã ghi lại một chặng đường khốn khó của dân tộc đồng thời trân trọng công sức của chị Lê Thi đã giúp chúng tôi có được mảng tư liệu quí. Chắc chắn nước ta sẽ vượt qua khổ đau để trở thành một đất nước phồn vinh, hạnh phúc thực sự vì còn có biết bao nhiêu trái tim, tấm lòng còn thổn thức với hai chữ Việt Nam. Kính chào chị.


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: