Các Ẩn Số Chánh Trị…: Chương II-Mục 2

ansochinhtriCHƯƠNG II
MỤC II

CÁC THÔNG ĐIỆP CHÁNH TRỊ VÀ DIỄN TRÌNH BIẾN CHUYỂN
CỦA TƯ TƯỞNG KIM DUNG
XÉT QUA SỰ TÍCH CÁC NHƠN VẬT CHÁNH YẾU
VÀ CÁC CỐT CHUYỆN TRONG CÁC BỘ TRUYỆN VÕ HIỆP NỔI TIẾNG NHỨT CỦA ÔNG

I. THÔNG ĐIỆP MÀ KIM DUNG NHẮN GỞI
CHO NHỮNG NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CHÁNH TRỊ
QUA SỰ TÍCH CÁC NHƠN VẬT CHÁNH YẾU
TRONG CÁC BỘ TRUYỆN VÕ HIỆP NỔI TIẾNG NHỨT CỦA ÔNG.


So sánh các, nhơn vật chánh yếu trong bộ truyện võ hiệp nổi tiếng nhứt của Kim Dung, chúng ta thấy rằng mỗi người đều có nét độc đáo của mình, nhưng cũng có vài điểm giống nhau và chính phần giống nhau này là thông điệp mà Kim Dung nhắn gởi cho những người hoạt động chính trị

A. CÁC ĐIỂM ĐỘC ĐÁO CỦA CÁC NHƠN VẬT CHÁNH YẾU.

Kim Dung là một nhà văn đại tài nên các nhơn vật của ông người nào cũng có nét độc đáo không ai giống ai.

1. So sánh thân thế các nhơn vật chánh yếu.

Về mặt thân thế, các nhơn vật trên đây đều có nguồn gốc và nếp sống khác nhau.

Đoàn Dự là người trong hoàng tộc một nước và về sau đã làm vua nước ấy. Mộ Dung Phục là người dòng dõi một hoàng tộc đã mất nước từ lâu, nhưng vẫn còn tiền của để nuôi dưỡng ông trong cảnh phú quí từ nhỏ đến lớn.

2. So sánh tư chất các nhơn vật chánh yếu.

Về mặt tư chất thì Tiêu Phong, Mộ Dung Phục, Dương Khang, Vi Tiểu Bảo, DươngQuá, Lịnh Hồ Xung, Trương Vô K.ỵ và Đoàn Dự đều là những người thông minh lanh lợi. Nhưng ngoài ra, Tiêu Phong, Mộ Dung Phục và Dương Khang là những người có nhận xét tinh tế và có tài ứng phó với tình thế một cách nhanh chóng, lại có khả năng quyết đoán. Bởi đó, họ có thể dễ dàng một mình cáng đáng một công việc quan trọng hay lãnh đạo một đoàn thể lớn. Vi Tiểu Bảo không bằng họ về mặt này, nhưng không thua họ bao nhêu. Dương Quá và Lịnh Hồ Xung còn kém hơn Vi Tiêu Bảo một phần, vì Dương Quá có khi thiếu sự quyết đoán còn Lịnh Hồ Xung thì có khi thiếu sự linh mẫn, thành ra dễ bị gạt gẫm. Trương Vô Kỵ còn thiếu linh mẫn và còn dễ bị gạt hơn Lịnh Hồ Xung. Đến như Đoàn Dự thi quá si tình và hóa ra vô tâm đối việc quanh mình. Riêng hai ông Quách Tĩnh và HưTrúc thì chất phác và rất chậm chạp trong việc suy luận tính toán. Họ chỉ đuợc cái trì chí và có quyết tâm

3. So sánh cách xử thế của các nhơn vật chánh yếu

Về mặt xử thế thì Đoàn Dự, Hư Trúc, Quách Tĩnh và Trương Vô Kỵ là những người hoàn toàn trọng nghĩa khí, không tham lam và không dùng thủ đoạn đối với người khác. Tiêu Phong, Dương Quá và Lịnh Hồ Xung thì có dùng thủ đoạn, nhưng họ chỉ dùng thủ đoạn để đối phó vớj những kẻ mà họ xem là địch thủ những khi cần thiết, và trước sau vẫn là người tốt. Vi Tiểu Bảo còn kém hơn những người này vì có tánh gian xảo. ông sẵn sàng gian lận khi cờ bạc và đòi tiền hối lộ lúc có quyền thế trong tay. Tuy vậy, ông vẫn còn hơn Mộ Dung Phục và Dương Khang là những người sẵn sàng dùng thủ đoạn đối với tất cả mọi người để mưu lợi riêng cho mình.

4. So sánh thái độ của các nhơn vật chánh yếu về mặt tình ái.

Về mặt tình ái, các nhơn vật trên đây đều cũng có những thái độ khác nhau.

Tiêu Phong là người không mê nữ sắc. Ông yêu A Châu vì nghĩa, và khi đã yêu A Châu rồi thì giữ mối tình này đến chết, không còn nghĩ đến người đàn bà nào khác.

Hư Trúc vổn là một nhà sư và cứ theo giới luật của môn phái ông thì đáng lẽ ông không có liên hệ tình cảm đối với phụ nữ. Nhưng vì Thiên Sơn Đồng Mỗ cố ý dàn xếp, ông ngẫu nhiên ân ái với công chúa nước Tây Hạ và hưởng được hạnh phúc nam nữ. Sau đó, ông đã giữ vẹn mối tình với người vợ này, mặc dầu đã trở thành Chủ Nhân cung Linh Thứu là một tổ chức có nhiều phụ nữ xinh đẹp.

Dương Quá thì trước sau vẫn tỏ ra chung tình với Tiểu Long Nữ mặc dầu trên đường lưu lạc, ông cũng có để ý đến một vài thiếu nữ khác và được họ yêu.

Phần Quách Tĩnh thì ban đầu đã có vị hôn thê là Công Chúa Hoa Tranh, về sau ông mới thấy rằng người ông yêu thật sự là Hoàng Dung, ông rất khó xử giữa nghĩa với tình. Chì vì Công Chúa Hoa Tranh lầm lạc làm hại mẫu thân ông, ông mới giải quyết được vấn đề và giữ trọn chữ tình với Hoàng Dung được.

Trái lại, Lịnh Hồ Xung từ tuổi thiếu niên đã yêu con của thầy là Nhạc Linh San một cách say đắm. Nhưng vì Nhạc Linh San không yêu ông mà yêu Lâm Bình Chi, còn ông thì lại bị thầy đuổi ra khỏi môn phái nên ông không kết hôn với Nhạc Linh San được. Đối với Nhậm Doanh Doanh, Lịnh Hồ Xung cảm vì nghĩa trước khi yêu vì tình. Nhưng khi đã yêu, ông hoàn toàn chung thủy với Nhậm Doanh Doanh.

Đoàn Dự thì từ lúc trốn nhà ra đi đã gặp nhiều cô thiếu nữ và có lúc cũng cảm các cô ấy. Nhưng cuối cùng, ỏng chỉ mê Vương Ngọc Yến vì sắc đẹp cô này. Nhưng tuy hiếu sắc, ông không phải là người ích kỷ. Bởi đó, ông đã chí tình theo đuổi Vương Ngọc Yến, nhưng đã tỏ ra không ganh tỵ với người được Vương Ngọc Yến yêu là Mộ Dung Phục. Tình yêu cao thượng và bất vụ lại này cuối cùng đã làm cho Vương Ngọc Yến cảm phục và yêu lại ông.

Trương Vô Kỵ khác Đoàn Dự ở chỗ đồng thời yêu nhiều thiếu nữ và được họ yêu lại. Ông đã ở vào thế phân vân bất quyết rất lâu, chỉ đến lúc cuối cùng, ông mới thấy mình yêu Triệu Minh hơn cả và quyết tâm xây dựng hạnh phúc với cô này.

Vi Tiểu Bảo là người hiếu sắc và không chung tình riêng với người nào. Đã vậy, ông đã không ngần ngại dùng đến sự lừa dối hay ép buộc để bắt những người ông yêu phải nhận ông làm chồng.

Trong các nhơn vật chánh yếu kể trên đây, ông là nguời có nhiều vợ nhứt.

Về phần Dương Khang và Mộ Dung Phục, họ cũng có người yêu, nhưng họ không chung tình và sẵn sàng ruồng bỏ người yêu vì mục đích họ đeo đuổi.

B. PHẰN GIỐNG NHAU GIỮA CÁC NHƠN VẶT TRÈN ĐÂY DÙNG LÀM THÔNG ĐIỆP CHÁNH TRỊ CỦA KIM DUNG

Các nhơn vật trên đây có thể chia làm hai nhóm phân biệt nhau. Mộ Dung Phục và Dương Khang là những người mà ai cũng cho là xấu, đáng bị phỉ nhổ hay chê cười. Các nhơn vật còn lại thì ít nhiều thâu phục được cảm tình của độc giả và có thể xem là những người đáng trọng và đáng khen. Tuy nhiên, giá trị của các nhơn vật được xem là tốt không phải như nhau.

Giữa họ với nhau, người trội hơn hết là Tiêu Phong, ông này không phải là một nhơn vật hoàn mỹ đến mức con người thật sự ngoài đời không sao đạt đến được. Nhưng nói chung, ông có rất nhiều đức tánh, ông có sự thông minh và trì chí để luyện tập thành một bực võ nghệ cao siêu, lại dũng cảm và bình tĩnh, đồng thời lúc nào cũng phụng thờ chánh nghĩa, ăn nói rất lễ độ và không bao giờ làm hại người để mưu llợi cho mình. Thái độ của ông đối với các bằng hữu và nhứt là đối với A Châu cho thấy rằng ông có tình cảm dồi dào, lại có lòng chung thủy và đã cư xử như một kẻ chí tình. Nhưng con người chí tình này lại đã luôn luôn hành động theo lý trí và theo lẽ phải. Do đó, ông đã trở thành một nhơn vật hiếm có, vượt lên trên những người khác một cách rõ rệt.

Người kém nhứt trong các nhơn vật được liệt vào hạng tốt kể trên đây là Vi Tiểu Bảo. Ông này không có sự kiên tâm trì chí để luyện tập các môn võ nghệ cho tinh thông ngoài môn Thần Hành Bách Biến là môn chạy trốn địch thủ. Ông lại ăn nói thô tục và thường tỏ ra gian xảo. Ông không ngần ngại lợi dụng thế lực để làm lợi cho mình, không những trong việc thâu thập tiền bạc và vật quí, mà còn trong việc thỏa mãn tánh hiếu sắc của mình. Tuy nhiên, Vi Tiểu Bảo cũng có một vài đức tánh tốt giống các nhơn vật đáng tôn trọng và đáng khen ngợi. Chinh nhờ các đức tánh tốt này mà ông không bị liệt vào hạng người đáng bị phỉ nhổ hay chê cười như Mộ Dung Phục và Dương Khang.

Ta có thể bảo rằng với các nhơn vật chánh yếu của mình, Kim Dung đã gởi một thông điệp kín đáo cho những người hoạt động chánh trị. Thông điệp đó là người lăn lộn trong chánh trường nếu không tốt được như Tiêu Phong thì ít nhứt cũng phải có các đức tánh tối thiểu của Vi Tiểu Bảo mới mong được dư luận dành cho chút ít cảm tình và liệt vào hạng người đáng khen. Các đức tánh tối thiểu này gồm có những gì?

1. Tinh thần xung phong.

Tnrớc hết là tinh thần xung phong khiến người dám lộng hiểm đi làm việc phải. Các nhơn vật như Đoàn Dự, Quách Tĩnh, Dương Quá, Trương Vô Kỵ đã tỏ ra bướng bình từ lúc còn nhỏ. Hư Trúc cũng cho thấy là ông rất dững cảm ngay trong lúc võ nghệ hãy còn yếu kém. Tiêu Phong và Lịnh Hồ Xung thì chỉ xuất hiện lúc đã có tài nghệ cao rồi. Nhưng tất cả các nhơn vật trên đây đều sẵn sàng vì việc phải mà hy sinh chiến đấu. Xét thân thế họ, ta có thể nhận thấy rằng phần lớn đã được đào luyện từ nhỏ theo tinh thần phụng thờ chánh nghĩa. Riêng Dương Quá đã không được dạy dỗ một cách bình thường như các nhơn vật kia. Nhưng ông cũng đã sống từ nhỏ trong giới võ lâm và ít nhiều chịu ảnh hưởng của giới này.

Phần Vi Tiêu Bảo thì từ nhỏ đã sống trong một xã hội ăn chơi đàng điếm. Ông chỉ được biết các hành động anh hùng nghĩa hiệp qua những câu chuyện mà người ta kể lại. Tuy nhiên, từ bé, ông đã có lòng khâm phục các bực anh hùng nghĩa hiệp và cố gắng bắt chước họ. Bởi đó, mặc dầu bản tánh không dũng cảm, võ nghệ lại tầm thường, ông cũng đã dám liều mạng làm những việc mà ông cho là hợp với đạo lý giang hồ.

Cậu bé Vi Tiều Bảo đã dám giúp Mao Thập Bát đương đầu lại những cao thủ vây đánh ông ta, rồi về sau lại phụ lực với Vua Khương Hy đi đương đầu lại Ngao Bái. Lúc Tiền Lão Bản tự tiện đem Quận Chúa Mộc Kiếm Bình vào hoàng cung để nhờ giấu giùm cô này, Vi Tiểu Bảo rất lo sợ, nhưng vẫn chấp nhận vì cho đó là nhiệm vụ của mình. Đặc biệt, khi Ni SưCửu Nạn dùng kiếm đâm Vua Khương Hy, Vi Tiểu Bảo đã dám nhảy ra đứng trước nhà vua để che chở cho nhà vua và phải nhận đón lát kiếm đó. Lần này, ông đã không có thì giờ suy tính và cân nhắc đắn đo trước khi hành động. Vậy, Vi Tiểu Bảo không phải có bản chất.anh hùng nghĩa hiệp, nhưng đã học đòi làm anh hùng nghĩa hiệp và đã phần nào thành công, làm cho người ta phải liêt ông vào hạng người đáng khen ngợi.

2. Tinh thần phóng khoáng.

Việc dám lộng hiểm những khi cần cho thấy rằng Vi Tiểu Bảo không phải quá tham sống sợ chết. Điều này làm cho ông có tinh thần phóng khoáng, không quá bận tâm về một vấn đềchưa giải quyết được, mặc dầu đó là vấn đề quan trọng, và ngay cả đến vấn đề liên hệ đến sự sống chết của mình. Ta đã thấy tinh thần này xuất hiện nơi Vi Tiểu Bảo khi ông biết là mình đã bị Hải Đại Phú hạ độc, khi ông bị Mao Đông Châu giả làm hoàng thái hậu đánh cho một Hóa Cốt Miên Chưởng và khi bị Hồng Giáo Chủ bắt uống Độc Long Dịch Cân Hoàn. Với những chất độc hoặc các vết thương có trong mình, Vi Tiểu Bảo có thể chết thảm. Nhưng ông đã không quá lo sợ đến mức bị mất sức để kháng hay bị sự khống chế của đối thủ.

Đó cũng là đức tánh của các nhơn vật khác được liệt vào hạng người tốt đã kể trên đây. Nói chung thì các nhơn vật này đều là những người có tinh thần phóng khoáng. Riêng Hư Trúc và Quách Tĩnh vì bản chất thiếu thông minh và chậm chạp nên thường phải bám vào các nguyên tắc đạo lý mình đã học. Tuy nhiên, họ cũng không đến nỗi quá cổ chấp câu nệ và cũng không quá bận tâm khi chưa giải quyết được một vấn đề thiết yếu đối với mình.

3. Tinh thần khoan dung

Các nhơn vật chánh yếu của Kim Dung được liệt vào hạng người tốt thường tỏ ra có thái độ khoan dung, không cư xử một cách quá khắc nghiệt với người khác và làm cho họ bị nhục nhã ê chề, dẫu cho họ là kẻ đương đầu lại mình. Tiêu Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc, Quách Tĩnh, Dương Quá, Trương Vô Kỵ và Lịnh Hồ Xung cuối cùng đều là những người võ nghệ cao siêu, có khi còn là người có địa vị lãnh đạo rất cao của một quốc gia hay một đoàn thể. Do đó, họ dễ có sự khoan dung như vậy.

Phần Vi Tiểu Bảo thì võ nghệ tầm thường. Khi ông có một quyền thế lớn lao đối với kẻ khác thì quyền thế này thường do sự ủy nhiệm của một nhơn vật khác như của Vua Khương Hy hay của Hồng Giáo Chủ, thành ra đó chỉ là một thế lực ngoại lai mà ông mượn tạm chớ không phải do nơi bản thân ông mà có. Tuy nhiên, trong sự cư xử với kẻ khác, Vi Tiểu Bảo vẫn phần nào có tinh thần khoan dung, ông vốn thù ghét Ngô Tam Quế vì ông này là đối thủ của Vua Khương Hy lẫn Thiên Địa Hội. Nhưng ông đã tỏ ra biết đối xử đứng đắn với các võ sĩ được Ngô Tam Quế cho theo hộ vệ Ngô Ứng Hùng trong dịp Ngô Ứng Hùng về Bắc Kinh. Vì có nghiêm lịnh của Ngô Tam Quế, họ không dám tỷ đấu với các võ sĩ của Khương Thân Vương. Lúc các võ sĩ của Khương Thân Vương cố tình làm nhục họ bằng cách làm cho họ rớt mũ, họ vẫn không phản ứng, nhưng rất phẫn nộ. Mặc dầu đương ở địa vị một người khách quí trong bữa tiệc, Vi Tiểu Bảo đã đích thân lượm các mũ bị đánh rớt để trao lại cho các võ sĩ của Ngô Tam Quế làm cho họ rất cảm kích.

Đây là một nguyên tắc áp đụng trong giới đàng điếm lưu manh trong đó Vi Tiểu Bảo đã sống khi còn nhỏ. Dầu có dùng sự lừa bịp mà bóc lột kẻ khác, giới này vẫn không vơ vét hết tiền bạc của người bị bóc lột, mà còn để lại cho người đó một phần để ít nhứt nạn nhơn của họ còn có đủ lộ phí mà về đến nhà. Cậu bé Vi Tiểu Bảo đã theo nguyên tấc này trong khi cờ gian bạc lận lúc còn ở kỹ viện: lúc nào cậu cũng để lại một số tiền cho người bị cậu lừa bịp. Đó là vì cậu nghĩ rằng như vậy thì việc làm ăn của cậu mới bền bĩ và không gây sự nghi ngờ của nạn nhơn, đồng thời không làm cho nạn nhơn tức quá mà hành hung với cậu. Để lại cho những kẻ thua mình một số tiền nhỏ để họ còn có đủ lộ phí mà về đến nhà, nói cách khác, nếu không cần thiết thì không dồn người khác vào con đường cùng để đến nỗi họ phải liều mạng triệt hạ mình cho bằng được: đó là một bài học khôn ngoan được áp dụng trong giới đàng điếm lưu manh. Nhưng bài học này có thể áp dụng trong sự hoạt động chánh trị. Vi Tiểu Bảo đã áp dụng nó khi ngẫu nhiên mà dính dáng đến chánh sự. Nhờ đó, ông đã thành công và có phong thái của người hào hiệp, ít nhứt là ở bề ngoài.

4. Tinh thần hào phóng dám xài tiền những khi cần.

Nói cho thật đúng thì Vi Tiểu Bảo không phải là hoàn toàn không có cốt cách hào hiệp. Tuy có lợi dụng mọi cơ hội để làm giàu hằng mọi cách, ông không phải chỉ nghĩ đến tiền bạc của cải. Mặc dầu biết địa điểm mà người Mãn Châu chôn giấu một kho tàng khổng lồ, ông đã không tìm cách đào lấy kho tàng đó, chỉ vì sợ làm đứt long mạch nhà Thanh, khiến cho Vua Khương Hy bị hại. Mặt khác, Vi Tiểu Bảo lúc nào cũng tỏ ra hào phóng. Ông đã bỏ ra những số tiền lớn để cho các bạn quen và các cộng sự viên của mình. Lúc có tin Đài Loan bi nạn bão lụt và thấy Vua Khương Hy quá lo nghĩ về vấn đềnày ông đã khẳng khái bỏ ra 250 vạn lạng bạc — một số tiền khổng lồ — để đóng góp vào việc giúp đỡ dân chúng đảo này, việc dám xài tiền như vậy làm cho Vi Tiểu Bảo giống các nhơn vật chánh yếu được xem là tốt, mặc dầu ông không bằng họ vì đã làm tiền bằng những phương pháp bất chánh, kể cả việc đục khoét nhơn dân.

5. Quyết tâm không lừa thầy phản bạn.

Tuy nhiên, trong tất cả các đức tánh của Vi Tiểu Bảo, không đức tánh nào đẹp và đáng quí bằng quyết tâm không lừa thầy phản bạn.

Sau khi theo Mao Thập Bát đến Bắc Kinh, Vi Tiểu Bảo đã gặp rất nhiều người trong nhiều giới và đã chấp nhận một sổ người làm thầy, đồng thời cũng đã kết bạn với nhiều người. Nhưng đối với một số người như Hồng Giáo Chủ và các bộ hạ của ông này trong Thần Long Giáo, Vi Tiểu Bảo chì bắt buộc nhận họ làm thầy hay làm bạn. Các quan lại của triều Thanh cũng được Vi Tiêu Bảo tỏ vẻ thân cận, và ông còn làm lễ kết nghĩa anh em với Sách Ngạch Đồ. Tuy nhiên, Vi Tiểu Bảo không phải thành tâm làm bạn với họ. Khi cần, ông ta có thể hạ độc thủ với họ: ông đã từng dùng dao chủy thủ đâm vào lưng Đa Long để hạ sát vị tổng quản này. Vi Tiểu Bảo rất kính phục Ni Sư Cửu Nạn và đã theo bà một thời gian. Nhưng dụng ý của ông lúc đó là được thân cận với Cô A Kha.

Thật ra thì vị sư phụ duy nhứt mà Vi Tiểu Bảo vừa kính phục, vừa thương mến, vừa sợ hãi là Trần Cận Nam và ngoài, Mao Thập Bát là người đã đưa ông vào giới giang hồ, Vi Tiểu Bảo thật sự chỉ xem là bạn các đồng chí của ông trong Thièn Địa Hội. Đối với Vua Khương Hy, tình cảm của Vi Tiểu Bảo rất phức tạp. Từ khi biết được cậu bé Tiểu Huyền Tử đã tỷ võ với minh chinh là nhà vua, Vi Tiểu Bảo đã lần lần kính phục và thương mến Vua Khương Hy. Dĩ nhiên là ông không dám xem nhà vua là bạn của mình như một thân hữu thông thường. Và việc ông gọi Vua Khương Hy là sư phụ chẳng qua chỉ là một phương thức để hai người còn có thể nói chuyện thân mật với nhau mà khỏi phải giữ lễ chúa tôi. Vi Tiểu Bảo đã cố sức phục vụ Vua Khương Hy, nhưng không phải theo nhà vua này một cách hoàn toàn, tuyệt đối. Vậy, đổi với Vi Tiểu Bảo, Vua Khương Hy một phần là chúa, một phần là người thân thiết. Nhưng mặc dầu có lúc ông không nói hết sự thật hoặc làm hết những việc mà Vua Khương Hy muổn bắt ông làm, Vi Tiểu Bảo vẫn có lòng thương nhà vua này một cách thành thật.

Đối với Vua Khương Hy một bên, Trần Cận Nam và Thiên Địa Hội một bên, Vị Tiểu Bảo đều có lòng kính trọng và thương mến. Ông đã không chấp nhận bội phản bên nào mặc dầu điều này có thể làm thiệt hại không những đến tài sản hay địa vị, mà cả đến sanh mạng của ông. Vua Khương Hy có thể ra lịnh xử tử ông vì ông không chịu chống lại Trần Cận Nam và Thiên Địa Hội. Người của Thièn Địa Hội cũng có thể ám sát ông vì ông không chịu phản Vua Khương Hy để lo việc khôi phục nhà Minh. Nhưng ViTiểu Bảo đã cương quyết giữ vững lập trường mình. Với hành động này, ông đã hoàn toàn tỏ ra mình là người có bản chất anh hùng nghĩa hiệp và không thua kém các nhân vật chánh yếu khác của Kim Dung được liệt vào hạng tốt như Tiêu Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc, Quách Tĩnh, Dương Quá, Trương Vô Kỵ và Lịnh Hồ Xung.

II. CÁC THÔNG ĐIỆP CHÁNH TRỊ MÀ KIM DUNG ĐƯA RA
TRONG MỘT SỐ ĐỀ TÀI QUAN TRỌNG ĐƯỢC ÔNG TRÌNH BÀY VÀ MỔ XÈ.

Ngoài thông điệp mà Kim Dung nhắn gởi cho những ngưởi hoạt động chánh trị qua sự tích các nhơn vật chánh yếu trong các bộ truyện võ hiệp nổi tiếng của ông, lại còn một sổ thông điệp chánh trị khác mà ta có thể nhận thấy qua các vấn đềquan trọng được ông trình bày và mổ xẻ một cách sâu sắc và hấp dẫn.

A. VẤN ĐỀ CHÁNH NGHĨA CỦA CON NGƯỜI TRANH ĐẤU CHẢNH TRỊ.

Người tranh đấu chánh trị có thể phân ra làm hai hạng: một hạng chỉ biết có quyền lợi của mình và trắng trợn nhìn nhận điều này, và một hạng công khai dựa vào một chánh nghĩa. Trong hạng sau này, lại có người thật sự tin tưởng nơi chánh nghĩa mình nêu ra, và người chỉ lợi dụng nó chớ không thành tâm phục vụ nó. Vậy, chánh nghĩa được nêu ra trước hết là để thâu hút sự tán thành và ủng hộ của quần chúng. Nhưng đối với một số người, nó cũng là một lý tưởng biểu tượng cho một lẽ phải cao qui thúc đẩy họ tranh đấu một cách dũng mãnh và liên tục. Dầu thế nào thì vấn đề chánh nghĩa cũng là một vấn đề quan trọng vào bực nhứt trong công cuộc tranh đấu chánh trị. Nó là một trong những yếu tố mang sự thành công đến cho người tranh đấu, vì kẻ tranh đấu cho quyền lợi mình và trắng trợn nhìn nhận điều này thường bị nhiều người chống đối và khó có thể triệt hạ hay chế ngự hết mọi người để đem phần thắng lợi cuối cùng về cho mình.

Trong các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung, ta có thể nhận thắy hai loại chánh nghĩa: một loại dựa vào dân tộc và một loại dựa vào một đạo lý có tánh cách tổng quát hơn.

I. Chánh nghía dựa vào dân tộc.

a. Bản chất của chánh nghĩa dựa vào dân tộc.

Từ khi đã được văn minh, loài người đã thành lập những cộng đồng có tổ chức, nếu nhỏ và thuần túy về huyết thống thì gọi là bộ tộc, còn lớn và có huyết thống phần nào bị pha trộn thì gọi là dân tộc. Ai cũng sanh ra bên trong một cộng đồng như vậy và được nhàu nắn từ nhỏ theo nếp sống vật chất và tinh thần của bộ tộc hay dân tộc của mình nên tự nhiên có những mối liên hệ tình cảm rất sâu đậm với nó. Nói chung thì phần lớn con người đều xem bộ tộc hay dân tộc của mình cao quí hơn bộ tộc hay dân tộc khác. Họ cũng muốn cho bộ tộc hay dân tộc minh vượt lên trên và chế ngự các bộ tộc và dân tộc khác, hay it nhứt cũng không bị bộ tôc hay dân tộc khác chế ngự. Bởi đó, việc phục vụ bộ tộc hay dân tộc tự nhiên trở thành một chánh nghĩa làm động lực cho cuộc tranh đấu chánh trị. Chánh nghĩa này lại càng trở thành cấp thiết để huy động người theo phục vụ nó khi bộ tộc hay dân tộc bị sự uy hiếp hay bị sự chế ngự của bộ tộc hay dân tộc khác.

Giai đoạn làm khung cảnh cho các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung là một giai đoạn trong đó người Hán tộc đã bị sự uy hiếp hay sự chế ngự của những người thuộc bộ tộc khác. Người Khiết Đơn lập nước Đại Liêu đã gây áp lực nặng nề ở phía đông bắc Trung Quốc. Họ Thát Bạt thuộc tộc Tiên Ti lập nước Tây Hạ cũng đã nhiều lần lấn vào biên cảnh của Trung Quốc ỏ phía tây bắc để cướp bóc. Sau đó, người Nữ Chân lập nước Đại Kim đã chiếm đoạt Hoa Bắc trong tay người Hán. Người Mông Cổ đi xa hơn, đã chinh phục cả Trung Quốc để lập nên nhà Nguyên. Sau nữa, người Mãn Châu, một giống dân thuộc tộc Nữ Chân, cũng đã chinh phục Trung Quốc và lập nhà Thanh. Bởi đó, trong các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung, chánh nghĩa dân tộc đã đóng một vai tuồng rất quan trọng đổi với những người Trung Hoa thuộc Hán tộc.

Nói chung thì việc đề cao bộ tộc hay dân tộc mình dễ đưa đến việc xem các bộ tộc hay dân tộc khác là thù địch. Bởi đó, chánh nghĩa dân tộc thường xây dựng trên lòng căm hận bộ tộc hay dân tộc thù địch với mình và điều này làm cho người xem bộ tộc hay dân tộc thù địch đó là tàn bạo hung ác và còn ở trong tình trạng mọi rợ dã man.

Kim Dung dĩ nhiên là đã mô tả điều này trong các bộ truyện võ hiệp nổi tiếng của ông. Nhưng ông cũng đồng thời nêu ra nhiều khía cạnh khác rất đặc biệt để cho chúng ta thấy rằng vấn đề thật sự rất phức tạp chớ không phải là đơn giản như người ta có thể lầm tưởng.

b. Chánh nghĩa dân tộc và các nhân vật chánh yếu trong các truyện võ hiệp Kim Dung.

Nếu chì lấy sự tích các nhân vật chánh yếu đã được nêu ra trên đây để nghiên cứu về vấn đề này, chúng ta có thể nhận thấy rằng chỉ có Lịnh Hồ Xung là hoàn toàn không có liên hệ gì đến sự giiao tiếp giữa Hán tộc với các bộ tộc khác. Phần Hư Trúc thì chỉ có liên hệ đến sự giao tiếp đó ở chỗ ông đã cưới một công chúa Tây Hạ làm vợ. Nhưng điều này không gây trở ngại gì cho công việc của ông hav của các bạn ông.

Mộ Dung Phục và Đoàn Dự thì ở trong những hoàn cảnh rất đặc biệt. Mộ Dung Phục vốn là người thuộc tộc Tiên Ti và mưu đồ chiếm một phần lãnh thổ người Hán để lập nước Đại Yên. Đoàn Dự là người của nước Đại Lý, nhưng tổ tiên ông lại là người Hán tộc và nói chung thì nước Đại Lý của ông trước sau vẫn có sự giao hảo với ngưởi Hán tộc chớ không có sự thù hiềm.

Riêng Dương Khang là người Hán tộc nhưng lại vì ham mê phú quí mà nhận làm con của Hoàng Nhan Liệt, thân vương nước Đại Kim. Ông đã tận lực giúp đỡ nước Đại Kim trong mưu đồ chinh phục đất của Đại Tống. Vậy, ông đã hoàn toàn đi ngược lại chánh nghĩa dân tộc. Do đó, ông đã bị sỉ vả là người nhận giặc làm cha và phản dân hại nước. Trong số những nhơn vật có vấn đề cần phải giải quyết khi muổn phục vụ chánh nghĩa dân tộc thì người ít bị rắc rối nhứt là Trương Vô Kỵ. Ông là người cầm đầu cuộc tranh đấu của người Hán để tự giải phóng khỏi ách thống trị của người Mông Cổ đã thành lập nhà Nguyên. Nhưng người yêu ông là Triệu Minh lại là con gái của một thân vương Mông Cổ đương cầm binh đánh lại các tổ chức người Hán chống đối triều đình. Tuy nhiên, Triệu Minh đã yêu Trương Vô Kỵ đến mức từ bỏ gia tộc và địa vị của mình để theo ông. Lúc đã theo Trương Vô Kỵ rồi, Triệu Minh mặc dầu không trực tiếp giúp đỡ ông chọi lại quân Mông Cổ, cũng đã không chút nào ngăn trở ông trong việc thi hành nhiệm vụ của ông đối với Hán tộc, nên Trương Vô Kỵ đã không phải lọt vào một hoàn cảnh khó xử.

So với Trương Vô Ky, Quách Tĩnh ở vào một tình trạng rắc rối hơn. Lúc nhỏ, ông đã ở đất Mông Cổ và đã được người Mông Cổ tiếp nhận và dưỡng dục. Ổng đã từng hợp tác với các nhà lãnh đạo Mông Cổ đi tranh đấu cho quyền lợi dân Mông Cổ. Do đó, ông đã được Thành Cát Tư Hán yêu mến và hứa gả con gái là Công Chúa Hoa Tranh. Riêng Đà Lôi là con trai của Thành Cát Tư Hãn đã kết nghĩa anh em với ông. Vậy, có thể nói rằng Quách Tĩnh đã có những liên hệ tình cảm và quyền lợi sâu đậm với người Mông Cổ. Nhưng sau đó, các nhà lãnh đạo Mông Cổ lại có ý định xâm chiếm lãnh thổ nhà Đại Tổng của người Hán Tộc. Họ đã tỏ ý sẵn sàng trọng dụng Quách Tĩnh và cho ông một địa vị cao và một thế lực lớn nếu ông chịu hợp tác với họ. Do đó, Quách Tĩnh đã phải chọn lựa giữa chánh nghĩa dân tộc với quyền lợi cùng tình cảm cá nhơn của ông. Tuy bản tánh chậm chạp, ông đã quyết định về vấn đề này một cách nhanh chóng và đã cương quyết đứng về phia chánh nghĩa dân tộc. Ổng đã sẵn sàng lén vào đại bản dinh Mông Cổ để hành thích vị chủ tướng của địch quân mặc dầu vị chủ tướng đó chính là Đà Lôi, người đã từng kết nghĩa anh em với ông.

Có lẽ Quách Tĩnh phần nào dễ quyết định vì thân mẫu ông đã dạy ông bài học yêu nước từ lúc bé. Bà lại đã tự tử sau khi bị Thành Cát Tư Hãn ra lịnh bắt đi để Quách Tĩnh khỏi bị uy hiếp và bắt buộc phải phục vụ người Mông Cổ. Vậy, bà đã vì Thành Cát Tư Hãn mà chết. Mặt khác, Quách Tĩnh thật sự không yêu Công Chúa Hoa Tranh mà lại yêu Hoàng Dung. Điều này thêm vào việc mẹ mất vì Thành Cát Tư Hãn làm cho ông dễ dàng đứng về phía dân tộc minh để chống lại Mông Cổ.

So với Quách Tĩnh, hoàn cảnh Dương Quá lại càng éo le hơn. Dương Quá vổn đã thấy cảnh người Mông Cổ sát hại ngưởi Hán tộc và rất căm phẫn. Nhưng sau khi được biét rằng Quách Tĩnh và Hoàng Dung có dính dáng đến cái chết của thân phụ mình là Dương Khang mà không biết rõ thật sự Dương Khang đã làm những gì, ông đã nảy sanh ý định dựa vào người Mông Cổ để sát hại Quách Tĩnh và Hoàng Dung để báo thù cho thân phụ. Đó là vì ông nhận chân rằng võ công mình còn kém Quách Tĩnh, mà Hoàng Dung lại là người rất có mưu cơ, nên ông không thể thành công nếu không được sự yểm trợ của một thế lực mạnh. Tuy nhiên, khi thấy Quách Tĩnh và Hoàng Dung tận lực bảo vệ thành Tương Dương trước cuộc tấn công của người Mông Cổ, ông lại cảm thấy cố chỗ không ổn nên hóa ra ngần ngại trong việc hãm hại họ. Cuổi cùng, ông đã tránh được việc sa vào lầm lỗi trước đây của thân phụ ông khi đã biết được sự thật về ông này. Chẳng những không sát hại Quách Tĩnh và Hoàng Dung, ông còn giúp họ trong việc chặn đứng một cuộc tấn công của người Mông Cổ trong dịp chúc thọ cho Quách Tường.

c. Hai khía cạnh đặc biệt của vấn đề chánh nghĩa dân tộc, biểu lộ qua trường hợp của Tiêu Phong và Vi Tiều Bảo.

Nhưng về vấn đề chánh nghĩa dân tộc, hai nhơn vật có sự tích đáng lưu ý hơn hết là Tiêu Phong và Vi Tiểu Bảo. Với trường hợp hai nhơn vật này, Kim Dung đã nêu ra hai khía cạnh đặc biệt của vấn đềchánh nghĩa dân tộc.

1) Tiêu Phong vốn là người thuộc bộ tộc Khiết Đơn. Nhưng từ bé, ông đã được giao cho một gia đình người Hán nuôi dưỡng, rồi lại theo người Hán đi học tập văn võ. Cho đến khoảng 30 tuổi, ông đã mang tên là Kiều Phong và chỉ sổng với người Hán. ông đã được nuôi dưỡng và giáo dục trong tinh thần căm thù và khinh thị người Khiết Đơn. Khi hoạt động cho Cái Bang, ông đã lấy việc phá vở các mưu đồ của người Khiết Đơn và giết hại người Khiết Đơn làm những công trạng đáng được khen ngợi.

Đến khoảng 30 tuổi, trong lúc giữ chức vụ Bang Chủ Cái Bang, Kiều Phong mới bị những người thù nghịch vạch rõ chơn tướng ông là người Khiết Đơn. Ông xem việc làm người Khiét Đơn là một sỉ nhục nên rất xấu hổ và bực tức. Trong khi đi điều tra thêm về thân thế mình, có lẽ ông vẫn ngầm hy vọng rằng ông thật sự là người Hán. Nhưng đến lúc đã có bằng chứng không thể chổi cãi được rằng ông là người Khiết Đơn, Tiêu Phong đã chứng kiến được việc quân Đại Tống thuộc giống Hán cư xử một cách tàn bạo dã man đổi với những người dân Khiét Đơn yếu đuối và vô tội. Nhờ đó, ông ý thức rằng sự tàn bạo dã man không phải là bản chất riêng của người Khiết Đơn. Mặc dầu có một nền văn hóa mà họ tự hào là cao hơn văn hóa Khiết Đơn, người Hán cũng có những hành động tàn bạo dã man. Mặt khác, tình yêu của A Châu là một cô gái Hán tộc lúc đã biết chắc ông là người Khiết Đơn còn làm cho Tiêu Phong thấy rằng sự phân biệt giữa các dân tộc không ngăn chận được các cá nhơn dị chủng thông cảm nhau và thương yêu kính mến lẫn nhau.

Những điều trên đây làm cho Tiêu Phong xét lại vấn đề chánh nghĩa dân tộc. Ông đã nhận chân rằng nó không phải có tánh cách khách quan và biểu lộ một chơn lý tuyệt đối, mà là một quan niệm chủ quan và do đó mà có thể đưa đến những cái nhìn và những hành động thiên vị. Người phụng thờ chánh nghĩa dân tộc một cách tuyệt đối lúc nào cũng xem dân tộc minh là giỏi nhứt và luôn luôn có lý. Họ luôn luôn binh vực dân tộc mình và chỉ biết có quyền lợi của dân tộc mình. Do đó, họ có thể tỏ ra bất công và tàn nhẫn đối với dàn tộc khác.

Sau khi đã thấy rõ sự thật về chánh nghĩa dân tộc, Tiêu Phong đã điều chỉnh lại thái độ của mình. Ông vẫn theo chủ trương phục vụ quyền lợi dân tộc mình: đó là dân tộc Khiết Đơn từ khi ông biết chắc là ông thuộc nòi giổng Khiết Đơn. Chắc hẳn là ông không ngần ngại hy sinh quyền lợi và cả tánh mạng mình để bảo vệ nước Đại Liêu nếu nước này bị dị tộc xâm lấn. Nhưng Tiêu Phong đã không tán thành việc nhà vua Đại Liêu mở cuộc xâm lăng Đại Tổng để mở rộng bờ cõi Đại Liêu và làm cho dân Khiết Đơn chế ngự được dân Hán. Ổng đã treo ấn từ quan để khỏi phải tham dự chiến dịch xâm lăng đó. Và ông thà chịu ngồi tù chớ không đổi ý mặc dầu nhà vua Đại Liêu đã tìm mọi cách thuyết phục ông. Cuổi cùng, khi đã được các bạn giải thoát khỏi ngục thất Đại Liêu, ông đã uy hiếp cả vua Đại Lièu để ép ông này chấp nhận xem nước Đại Tống là nước anh em và bỏ ý định xâm lăng của minh. Nhưng ông ý thức rằng đó là một hành động trái với quyền lợi dân tộc mình và đụng chạm đến uy quyền của nhà lãnh đạo nước mình và đã vung gươm tự sát.

2) . Vi Tiểu Bảo không phải bị dồn vào thế phải hủy mình như Tiêu Phong, nhưng cũng đã phải rời bỏ chánh trường. Nỗi khổ tâm của ông có khác nỗi khổ tâm của Tièu Phong, nhưng cũng phát xuất từ một khía cạnh đặc biệt của vấn đề chánh nghĩa dân tộc.

Nhà Thanh vốn do người Mãn Châu xây dựng và khi xâm lăng Trung Quốc, người Mãn Châu đã sát hại rất nhiều người Hán tộc. Thièn Địa Hội là một đoàn thể chủ trương chống lại nhà Thanh để khôi phục nhà Minh: đó là một tổ chức của người Hán ái quốc nhằm mục đích giải phóng dân Hán khỏi ách thống trị của người Mãn Châu. Khi theo Thiên Địa Hội, Vi Tiểu Bảo không phải đã gượng gạo chấp nhận gia nhập vì tình thế bắt buộc mà đã thật sự ngưỡng mộ đoàn thể này, vì từ lúc nhỏ, ông đã bị ảnh hưởng của những người trong giới giang hồ khích động tinh thần dân tộc. Người bạn đầu tiên của Vi Tiểu Bảo trong giới này lại là Mao Thập Bát, một người có nhiệt tâm trong việc giải phóng Hán tộc khỏi sự cai trị của nhà Thanh.

Đối với Vua Khương Hy, Vi Tiểu Bảo chỉ ngẫu nhiên mà được gần gũi. Nhưng về sau, Vi Tiểu Bảo đã có sự thương mến và kính trọng Vua Khương Hy, mà điều này không phải chì vì Khương Hy là một nhà vua và có ban nhiều ơn huệ cho ông. Một trong những lý do làm cho Vi Tiểu Bảo trung thành với Khương Hy là vì qua nhiều cuộc nói chuyện với nhà vua này, ông đã nhận thấy rằng đó là một người thật sự thương nhơn dân và hết lòng lo cho nhơn dân. Vua Khương Hy đã khẳng định rằng dưới quyền mình, bá tánh còn được dễ chịu hơn dưới quyền các nhà vua triều Minh. Điều này đã được chính các học giả Cố Viêm Võ, Tra Kế Tá, Hoàng Lê Châu và Lữ Lưu Lương công nhận với Vi Tiểu Bảo. Tuy vẫn chống vua Khương Hy vì ông này là người Mãn Châu, các học giả người Hán trên đây cũng nhận thấy rằng các vua nhà Minh từ vua khai quốc là Thái Tổ (t.v. 1368-1398) cho đến vua chót là Sùng Trinh (t.v. 1628-1644), người thì tàn nhẫn bạo ngược, người thì mê muội hồ đồ, chẳng ai sáng suốt và tốt bằng Vua Khương Hy.

Vi Tiểu Bảo đã rút lui khỏi chánh trường vì không muốn bị kẹt giữa hai yêu cầu: một bên của những người nhứt định chống Vua Khương Hy vì đó là một nhà vua dị tộc, một bên của Vua Khương Hy bắt buộc ông phải tuyệt đối trung thành với mình và triệt hạ những người chống mình. Tuy không nói một cách rõ ràng, Kim Dung đã cho chúng ta thoáng thấy rằng một trong những lý do làm cho Vi Tiểu Bảo không chịu đứng hẳn về phía chánh nghĩa dân tộc và phản bội Vua Khương Hy là vì ông đã phần nào có cảm giác là nhà vua di tộc đó đã sáng suốt và thương dân Hán hơn là các nhà vua Hán tộc của triều đại trước.

d. Những khổ tâm nan giải mà người theo chánh nghĩa dân tộc có thể gặp.

Với cái chết của Tiêu Phong và sự rút lui khỏi chánh trường của Vi Tiểu Bảo, Kim Dung đã nêu ra những khổ tâm nan giải mà người theo chánh nghĩa dân tộc có thể gặp. Nói chung thì việc phục vụ dân tộc là một việc hợp chánh nghĩa và không ai phủ nhận được điều này. Nhưng liệu con ngưởi có thể chấp nhận làm bất cứ việc gì để phục vụ dân tộc minh hay không?

1). Vấn để này được đặt ra khi các nhà lãnh đạo dân tộc có chủ trương thống trị tất cả các dân tôc khác và áp dụng một chánh sách bạo tàn đổi với tất cả mọi người để đạt mục đích của mình. Việc nhà vua Đại Liêu muốn xâm lăng nước Đại Tống cố thể so sánh với việc Hitler muốn chinh phục các nước Âu Châu khác để tiến đến việc chinh phục hoàn cầu. Và nỗi khổ tâm cùa Tiêu Phong thật cũng chẳng khác nỗi khổ tâm của những người Đức ái quốc, nhưng theo lý tưởng tự do và nhơn bản trong thời Đảng Quốc Xã cầm quyền. Những người này đã bị giằn vặt giữa hai yêu cầu trái ngược nhau. Với tư cách là người Đức, họ thấy phải phục vụ dân tộc Đức. Nhưng với tư cách là người theo lý tưởng tự do và nhơn bản, họ thấy phải chống chọi lại Hitler và do đó mà phải chống chọi lại chánh quyền Đức đương hữu. Họ không phải đã tự tử như Tiêu Phong. Nhưng dầu cuối cùng đã chọn con đường nào, chắc hẳn là họ cũng hết sức khổ tâm.

Một trường hợp khổ tâm tương tự là trường hợp nhà bác học Nga lừng danh Sakharov. Ồng chắc chắn là một người thương nước. Trong lúc còn tin tưởng rằng Liên Sô bị Mỹ uy hiếp và cần tăng cường lực lượng để tự vệ, ông đã tận lực phục vụ chánh quyền cộng sản Nga. Chính ông là người đã chế tạo quả bom khinh khí đầu tiên cho nước mình. Nhưng với việc chánh quyền cộng sản Nga dùng võ lực thanh toán phong trào đòi tự do hóa ở Tiệp Khắc năm 1968, Sakharov đã nhận chân rẳng chính quyền cộng sản Nga có một chánh sách tàn bạo phi nhân và có chủ trương chế ngự cả hoàn cầu để xây dựng một chế độ độc tài toàn diện trên toàn thế giới. Do đó, ông đã chống lại chánh quyền này. Tuy chưa đi đến mức chót như Tiêu Phong là ép được các nhà lãnh đạo nước mình từ bỏ chánh sách của họ rồi tự tử, Sakharov đã thực hiện bước đầu của Tiêu Phong là treo ấn từ quan rồi đi ngồi tù: Ông Sakharov đã bỏ hết các quyền lợi mà ông đã hưởng được trong chế độ cộng sản Liên Sô với tư cách là một nhà bác học xuất sắc lại có công lớn, và hiện đang sổng trong cảnh “nội lưu”, tức là bị bắt buộc phải đến ở một vùng xa thủ đô Moscow do chánh quyền cộng sản Liên Sô chì định.

2. Chánh nghĩa dựa vào một đạo lý có tánh cách tổng quát hơn.

a.Vấn đề chánh nghĩa dựa vào một đạo lý có tánh cách tổng quát.

Câu chuyện của Tiêu Phong và Vi Tiểu Bảo đã cho thấy rằng ngoài chánh nghĩa dân tộc, con người còn có thể phụng thờ một loại chánh nghĩa khác đặt nền tảng trên một đạo lý có tánh cách tổng quát hơn. Loài người vốn có nhiều ý kiến khác nhau. Do đó, về mặt chánh trị, đã có nhiều lý tưởng khác nhau xuất hiện. Mặt khác, người muốn tranh đấu cho lý tưởng của mình thường phải kết hợp nhau lại. Vì thế, trong xã hội nào cũng có nhiều đoàn thể khác nhau, mỗi đoàn thể thờ một lý tưởng và xem việc phục vụ lý tưởng đó là một việc làm hợp với chánh nghĩa. Do chỗ có lý tưởng khác nhau, các đoàn thể đã xung đột nhau nhiều khi rất mãnh liệt.

Tuy nhiên, vì nhu cầu, một vài đoàn thể có thế giúp đỡ nhau hoặc kết hợp với nhau một cách chặt chẽ trong một liên minh.

Nhưng trong khi liên minh với nhau, các đoàn thể lại có thể ngầm chống chọi hay phá hại nhau. Mặt khác, bên trong một đoàn thể, có thể có sự bất đồng ý kiến về cách giải thích một nguyên lý chung, hoặc về phương pháp phải áp dụng để đạt mục đích chung. Sự bất đồng ý kiến này có thể đưa đến sự xung đột làm cho đoàn thể phân hóa thành nhiều phe chống chọi nhau. Khi có sự phân hóa như vậy, người của các phe chống chọi nhau có thể áp dụng nguyên tắc “phải diệt kẻ nội thù trước khi chống nhau với ngoại hoạn” và đối phó với nhau một cách quyết liệt. Bởi đó, sự xung đột giữa các phe chống chọi nhau bên trong một đoàn thể lắm lúc còn dữ dội hơn sự xung đột giữa các đoàn thể khác nhau. Các phe chống chọi nhau bên trong một đoàn thể có thể đi đến chỗ hợp tác với đoàn thể khác để triệt hạ phe đối địch với mình.

b. Sự hợp tác và xung đột giữa các phe phái trong hai bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ và CÔ GÁI ĐỒ LONG.

Việc thành lập phe phái phụng thờ lý tưởng khác nhau và hợp tác với nhau hoặc xung đột với nhau là một hiện tượng tự nhiên và thường trực của mọi xã hội và trong mọi thời kỳ lịch sử. Bởi đó, nó dĩ nhiên phải được Kim Dung mô tả trong các bộ truyện võ hiệp của ông. Có thể nói rằng tác phẩm nào của Kim Dung cũng có những phe nhóm môn phái hợp tác với nhau hoặc xung đột tranh đấu với nhau. Nhung về mặt hợp tác, xung đột và tranh đấu giữa các môn nhái, các tác phẩm có ý kiến đặc biệt đáng lưu ý hơn hết là hai bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ và CÔ GÁI ĐỒ LONG.

1) Đề tài của bộ TIẾU NGẠO GIANG HỔ là cuộc xung đột và tranh đấu giữa các môn phái bên trong một xã hội không có ngoại hoạn. Trong bộ truyện võ hiệp này, Kim Dung đã mô tả hoạt động của một số phe phái trong đó có vai tuồng cốt yếu là Triêu Dương Thần Giáo, chùa Thiếu Lâm, phái Võ Đương, năm kiếm phái của năm hòn núi lớn là Tung Sơn, Thái Sơn, Hành Sơn, Hoa Sơn và Hằng Sơn, và phái Thanh Thành.

Triêu Dương Thần Giáo có những nhà lãnh đạo võ nghệ cao cường và có một kỹ thuật tổ chức và tranh đấu rất tàn độc nhưng rất hữu hiệu. Đoàn thể này chủ trương làm yếu các môn phái khác để bắt các môn phái ấy tùng phục mình, môn phái nào không chấp nhận thì bị tiêu diệt.

Các đoàn thể khác đã được tổ chức theo lề lối cổ truyền khác với lề lối hữu hiệu nhưng tàn độc của Triêu Dương Thần Giáo. Trong sự đối phó với họ, Triêu Dương Thần Giáo lại tỏ ra hết sức hung bạo. Bởi đó, họ tự cho rằng họ thuộc bạch đạo tức là chánh phái trong khi Triêu Dương Thần Giáo bi họ gọi là Ma Giáo tức là tầ đạo. Họ rất thù hằn Ma Giáo và nhứt quyết phải trừ diệt đoàn thể này.

Để đối phó Với Triêu Dương Thần Giáo, các đoàn thể thuộc bạch đạo đáng lẽ phải đoàn kết với nhau một cách thành thật. Hai phái Thiếu Lâm và Võ Đương đã có một thái độ rất đứng đắn. Nhưng các vị cầm đầu hai phái này là những nhà tu hành nê chỉ chấp nhận tham dự việc chống chọi lại Triêu Dương Thần Giáo mà không chịu đứng ra lãnh đạo công cuộc tranh đấu. Nuôi mộng lãnh đạo phe bạch đạo là các cao thủ võ lâm điều khiển các kiếm phái của năm hòn núi lớn. Bề ngoài, các kiếm phái này có vẻ đã hợp tác với nhau một cách chặt chẽ. Nhưng nhà lãnh đạo hai phái Tung Sơn và Hoa Sơn là Tả Lãnh Thiền và Nhạc Bất Quần đã có tham vọng chế ngự hết các phái khác và đã dùng những thủ đoạn thâm hiểm tàn độc để đạt mục đích nên cuối cùng chính họ đã chết mà các kiếm phái trên đây cũng bị suy yếu và tan rã, chỉ còn lại phái Hằng Sơn.

Riêng phái Thanh Thành là một phái nhỏ, ít thế lực, uy tín kém các phái khác. Để tự tăng cường, Chưởng Môn Nhơn phái này là Dư Thanh Hải đã tìm cách lấy TỊCH TÀ KIẾM PHỔ của nhà họ Lâm làm chủ Phước Oai Tiêu Cục. Ông đã xử sự một cách rất ác độc đối với Phước Oai Tiêu Cục và nhà họ Lâm. Phái ông đã sát hại nhiều người của tiêu cục này với những đòn hung bạo, và tra khảo vợ chồng Lâm Chấn Nam một cách tàn nhẫn. Tuy thế, ông vẫn không tim được bộ kiếm phổ để rèn luyện cho võ công tăng tiến hơn. Về sau, ông và đệ tử ông đã bị con Lâm Chấn Nam là Lâm Bình Chi dùng Tịch Tà Kiếm Pháp vũ nhục và sát hại để báo thù cho cha mẹ mình.

Lịnh Hồ Xung chính là nhơn vật đóng vai tuồng chủ yếu trong các cuộc xung đột môn phái này. Trong khi còn là đệ tử phái Hoa Sơn, ông đã có dịp nhận thấy rằng trong các đoàn thể tự xưng là chánh phái, đã có những người tham lam gian xảo. Tệ hơn nữa, một số người tự xưng là thuộc chánh phái, ngay cả trong giới lãnh đạo, lại cũng có những hành động tàn ác bất nhân không khác hành động của Ma Giáo mà họ thù hằn và sỉ vả. Trái lại, trong Ma Giáo lại có những nhơn vật ngay thẳng và hào hiệp.

Các nhận xét trên đây đã làm cho Lịnh Hồ Xung lần lần tách rời quan điểm của các môn phái tự cho mình là chánh và nhứt định triệt để chống lại tất cả những nguời thuộc Triêu Dương Thần Giáo. Ổng đã rất bất bình khi chứng kiến việc Tả Lãnh Thiền lấy danh nghĩa Minh Chủ của Ngũ Nhạc Kiếm Phái để ngăn trở Lưu Chánh Phong trong dự định rửa tay treo kiếm, và tàn sát cả nhà Lưu Chánh Phong vì ông này không chịu trở mặt giết người bạn của mình là Khúc Dương vốn là một Trưởng Lão của Triêu Dương Thần Giáo. Vậy, Lịnh Hồ Xung đã không tán thành thái độ quá khich cuả các đoàn thể tự xưng là chánh phái thuộc phe bạch đạo. Điều này không có nghĩa là ông chấp nhận lập trường của Triêu Dương Thần Giáo. Tuy đã kết bạn với Huớng Vấn Thiên là một nhơn vật quan trọng của đoàn thể này, lại có công giúp Nhậm Ngã Hành thoát khỏi sự giam cầm và đoạt lại ngôi Giáo Chủ, rồi được Nhậm Ngã Hành chịu gả con gái là Nhậm Doanh Doanh cho mình, Lịnh Hồ Xung trước sau vẫn từ khước không chịu gia nhập Triêu Dương Thần Giáo. Ngay cả khi Nhậm Ngã Hành bảo ông rằng sau này, ông có thể lên làm Giáo Chủ và sửa đổi lại lề lối tổ chức và tranh đấu của đoàn thể này theo ý muốn, Lịnh Hồ Xung vẫn không thay đổi lập trường.

Đối với Lịnh Hồ Xung, vấn đề chỉ được giải quyết khi Nhậm Ngã Hành chết một cách thình lình và Nhậm Doanh Doanh được đưa lên làm Giáo Chủ rồi thay đổi hẳn chánh sách của Triêu Dương Thần Giáo làm cho đoàn thể này hết còn là thù địch của các môn phái khác. Lúc làm lễ thành hôn với Nhậm Doanh Doanh, Lịnh Hồ Xung đã từ chức Chưởng Môn Nhơn phái Hằng Sơn, Nhậm Doanh Doanh cũng đã từ chức Giáo Chủ Triêu Dương Thần Giáo. Tuy nhiên, trước sau, họ vẫn có liên hệ mật thiết đến các đoàn thể này. Và trong tiệc cưới, hai vợ chồng đã hòa tấu bản nhạc Tiếu Ngạo Giang Hồ do Khúc Dương và Lưu Chánh Phong sáng tác xưa kia, lúc hai người kết bạn với nhau nhưng bị các chánh phái không chấp nhận sự kết bạn này và sát hại cả hai.

2). Đề tài được Kim Dung nêu ra trong bộ cô GÁI ĐỒ LONG khác đề tài của bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ ở chỗ cuộc xung đột giữa các môn phái đã xảy ra trong lúc các môn phái này còn phải chống lại người Mông cổ đương thống trị đất nước mình. Trong bộ cô GÁI ĐỒ LONG, các môn phái đã đóng một vai tuồng quan trọng là Minh Giáo, chùa Thiếu Lâm, phái Võ Đương, phái Nga Mi và Cái Bang.

Minh Giáo là một đoàn thể tôn giáo đã có ở Trung Quốc từ đời nhà Đường. Nó dạy người theo nó tận lực giúp đỡ lẫn nhau. Người theo Minh Giáo thường chống đối sự bóc lột của tham quan ô lại. Do đó, Minh Giáo thường bị triều đình gọi là Ma Giáo. Đã vậy, từ khi Giáo Chủ Dương Phá Thiên chết một cách bất ngờ, đoàn thể này không chỉ định được người kế vị thành ra hàng ngũ phân hóa, một trong các hộ pháp là Hân Thiên Chánh đã tách ra lập Bạch Mi Giáo. Mặt khác, kỷ luật đã không được áp dụng đứng đắn nên có nhiều người làm việc sai quấy. Vì thế, cả Minh Giáo lẫn Bạch Mi Giáo đều bị xem là những đoàn thể tà khúc và bị các đoàn thể tự cho mình là chánh phái chống lại. Sự chống báng này càng có tính cách mãnh liệt hơn vì âm mưu của một người thù Minh Giáo là Thành Khôn đã đưa đến việc gây thêm hiềm khích giữa hai bên.

Trong các chánh phái chống lại Minh Giáo thì quyết liệt nhứt là phái Nga Mi. Chưởng Môn Nhơn phái này là Diệt Tuyệt Sư Thái. Bà có tánh dũng cảm cương nghị và không để cho tình cảm chi phối. Do đó, bà chủ trương sát hại không chút xót thương tất cả những người có liên hệ với tổ chức mà trước sau bà vẫn gọi là Ma Giáo. Mặt khác, bà biết được sự bí mật liên hệ đến kiếm Ỷ Thiên và đao Đồ Long và nuôi giấc mộng tìm đủ hai võ khí này để lấy các bí kíp cần thiết giúp Chưởng Môn Nhơn của phái Nga Mi trở thành Minh Chủ Võ Lâm. Lúc chết, bà đã truyền chức vụ Chưởng Môn Nhơn lại cho đệ tử là Châu Chỉ Nhược và dặn cô này phải thực hiện giấc mộng của bà bằng mọi giá.

Vì cha là người của phái Võ Đương còn mẹ là người của Bạch Mi Giáo, Trương Vô Kỵ đã cố gắng vận động cho các chánh phái hòa giải với Minh Giáo, nhứt là từ khi được biết rằng Minh Giáo vốn là một đoàn thể tốt. Ông đã thực hiện được nguyện vong này nhờ nhiều lý do. Trước hết, ông đã may mắn luyện được một võ công siêu tuyệt lại đã giúp cho Minh Giáo khỏi bị các chánh phái tiêu diệt nên được tất cả những người trong Minh Giáo đồng ý tôn lên làm Giáo Chủ của họ. Vì thế, ông đã có thể tổ chức lại Minh Giáo để cho đoàn thể này trở lại có tư cách của một chánh phái. Mặt khác, ông đã xử sự một cách khéo léo đối với các môn phái chống lại Minh Giáo làm cho họ không mất thể diện và sau đó, Minh Giáo duới quyền ông lại còn giúp đỡ họ một cách tận tình. Nhưng quan trọng nhứt là việc Minh Giáo và các môn phái khác cùng có một kẻ thù chung là người Mông Cổ, một dị tộc đương thống trị người Hán. Chỉ có phái Nga Mi không chấp nhận hợp tác với Minh Giáo vì Châu Chỉ Nhược lúc đầu đã tuân theo lời trối của Diệt Tuyệt Sư Thái. Nhưng sau cùng, Châu Chỉ Nhược lại đã trao chức vụ Chưởng Môn Nhơn của phái này cho Trương Vô Kỵ.

c. Các khía cạnh đáng lưu ý liên hệ đến chánh nghĩa đặt nền tảng trên một đạo lý có tánh cách tổng quát.

Với các câu chuyện trong hai bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ và CÔ GÁI ĐỒ LONG, Kim Dung đã nêu ra một số khía cạnh đáng lưu ý liên hệ đến cái chánh nghĩa đặt nền tảng trên một đạo lý có tánh cách tổng quát.

1) Ông đã cho chúng ta thấy rằng cũng như chánh nghĩa dân tộc, chánh nghĩa dựa trên đạo lý không phải có tính cách tuyệt đối và khách quan mà chỉ là một nhận thức chủ quan dễ dàng đưa đến sự thiên vị.

Nói chung thì đoàn thể nào cũng xem đạo lý mình tôn thờ là đúng, còn đạo lý của đoàn thể khác là sai. Bởi đó, mỗi đoàn thễ đều tự cho mình là chánh và xem đoàn thể chống đối mình hay khác hơn mình là tà.

Mặt khác, dầu cho người ta có lấy nền đạo lý cố hữu của xã hội làm tiêu chuẩn cho sự chơn chánh và xem các nền đạo lý mới lạ là tà, sự phân biệt chánh tà cũng không phải là đơn giản. Trước hết, trong các đoàn thể được xem là chánh phái theo quan điểm trên đây, có cái thật sự theo đúng đạo lý mà nó chánh thức tôn thờ, nhưng cũng có cái đã phản bội lại đạo lý đó và có những chủ trương hành động y hệt phái tà mà nó sỉ vả. Trong hai bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ và CÔ GÁI ĐỒ LONG, chùa Thiếu Lâm và phái Võ Đương đã cư xử thật sự như là chánh phái. Trong khi đó, các nhà lãnh đạo của các phái Tung Sơn, Hoa Sơn và Thanh Thành trong bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ và nhà lãnh đạo của phái Nga Mi trong bộ CÔ GÁI ĐỒ LONG lại có những chủ trương và hành động không khác với Triêu Dương Thần Giáo và Minh Giáo mà họ gọi là Ma Giáo. Ngoài ra, trong mọi đoàn thể, dầu là chánh phái thật sự, chánh phái giả hiệu hay là tà phái, đều có người tốt và người xấu, chớ không phải người của chánh phái là nhứt định tốt còn người của tà phái là nhứt định xấu. Qua sự mô tả của Kim Dung, ta có thể thấy rõ rằng có khi những người tự xưng là thuộc chánh phái còn gian trá và tàn độc hơn là người của Ma Giáo.

2) Một ý tưởng khác của Kim Dung mà chúng ta có thể nhận thấy về vấn đề này là hai phe chánh và tà khó có thể tiêu diệt nhau được. Bởi đó, theo ý ông, hay nhứt là hai bên nên hòa giải với nhau. Nhưng sự hoà giải thật ra không phải dễ đạt. Trương Vô Kỵ đã thành công được nhờ một số điều kiện thuận tiện trong đó quan trọng nhứt là nhu cầu đoàn kết để đổi phó với kẻ thù chung của dân tộc. Nhưng phần Lịnh Hồ Xung thì sự thành công chỉ là kết quả của sự ngẫu nhiên. Ta có thể bảo rằng kết cuộc của bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ không phải là một cáo chung tự nhiên, hợp lý, phát xuất từ sự diễn tiến của tình thế đương có. Nó chỉ biểu lộ một mơ ước của tác giả mà thôi.

d. Sự xuất hiện trong thực tế của các điều mà Kim Dung mô tả trong hai bộ TIẾU NGẠO GIANG HỜ và CÔ GÁI ĐỒ LONG.

Những điều mà Kim Dung mô tả trong hai bộ TIẾU NGẠO GIANG HỔ và CÔ GÁI ĐỒ LONG không phải là không có xuất hiện trong thực tế. Cuộc tranh đấu giữa Ma Giáo và các chánh phái trong các tác phẩm này chỉ là phản ảnh của cuộc tranh đấu ò Trung Quốc giữa Trung Cộng và các đoàn thể gọi chung là Quốc Gia.

Với một chủ nghĩa hoàn toàn xa lạ đối với nền văn hóa Trung Hoa, với một kỹ thuật tổ chức và hoạt động hữu hiệu nhưng trái với đạo nghĩa Trung Hoa cổ truyền, Trung Cộng thật không khác các Ma Giáo trong các tác phẩm của Kim Dung. Chống đối lại Trung Cộng là các đoàn thể dựa vào đạo lý cổ truyền, hoặc nếu có phần nào theo các tư tưởng và lề lối làm việc của Tây Phương thì cũng không hoàn toàn chọi lại nền đạo lý cổ truyền. Trong các đoàn thể này, có những cái làm đúng theo chủ trương thật sự của mình, nhưng cũng có đoàn thể sỉ vả Trung Cộng mà lại áp dụng đúng các lề lối làm việc của Trung Cộng mà nó chánh thức kết án. Đó là trường hợp của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, bề ngoài thì chủ trương dân chủ và đề cao đạo lý cổ truyền, nhưng thật sự, lại cũng áp dụng chế độ độc đảng, và cũng dùng bạo lực cũng như mọi thủ đoạn hiểm độc tàn ác để đối phó với đối lập y như Trung Cộng. Vậy, các đoàn thể chống Trung Cộng ở Trung Quốc có thể đồng hóa với các tổ chức gọi là chánh phái trong hai bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ và CÔ GÁI ĐỒ LONG.

Giữa Trung Cộng và các đoàn thể quốc gia Trung Hoa, đặc biệt là Trung Hoa Quốc Dân Đảng, đã có sự hợp tác để chống lại cuộc xâm lăng của người Nhựt, giổng như sự hợp tác giữa Minh Giáo và các chánh phái trong CÔ GÁI ĐỒ LONG để chống lại người Mông Cổ. Nhưng khi Nhựt đã thua trận, sự xung đột giữa hai bên Trung Cộng và Trung Hoa Quốc Dân Đảng đã bộc phát trở lại.

Mặc dầu Trung Cộng đã thắng thế và chiếm cả lục địa Trung Hoa, Trung Hoa Quốc Dân Đảng vẫn còn giữ được Đài Loan và cuộc tranh đấu giữa hai bên vẫn tiếp tục. Có lẽ với lối kết thúc bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ, Kim Dung đã nêu ra một hy vọng là sau một thời kỳ chống chọi nhau, hai bên sẽ lại hòa giải nhau được vì hạnh phúc của nhơn dân Trung Hoa. Nhưng liệu hy vọng này có thành sự thật được hay không? Đó là một vấn đề hiện còn đương được đặt ra. Dầu sao thì ý kiến Kim Dung cũng rất rõ rệt: sự hòa giải chỉ có thể thực hiện được khi Triêu Dương Thần Giáo (tức là Trung Cộng) đã thật sự thay đổi chánh sách của mình.

B. VẤN ĐỀ TRANH THỦ MỘT MỤC TIỀU TRỌNG ĐẠI.

Vấn đề tranh thủ một mục tiêu trọng đại cũng đã được Kim Dung dùng để trình bày một số ý kiến chánh trị.

1. Mục tiêu và phương pháp đạt mục tiêu của một số cao thủ võ lâm.

a. Mục tiêu của một số cao thủ võ lâm.

Trong các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung, có nhiều cao thủ võ lâm hướng đến việc đạt một mục tiêu trọng đại riêng cho cá nhơn mình hay cho gia tộc hoặc cho môn phái của mình. Có người muốn được công nhận là người có võ công cao nhứt hoặc muốn thấy môn phái mình được xem là môn phái giỏi nhứt. Trong những người có tham dự các cuộc luận võ ở Hoa Sơn, Tây Độc Âu Dương Phong là người lúc nào cũng cố tiến lên để giành lấy danh hiệu “đệ nhứt bá võ lâm”. Phần Diệt Tuyệt Sư Thái thì nuôi hy vọng thấy phái Nga Mi của mình được xem là môn phái có địa vị cao nhứt. Dư Thương Hải của phái Thanh Thành cũng nuôi một ý đồ tương tự. Tiến xa hơn một bước, một số cao thủ muốn được công nhận làm Minh Chủ Võ Lâm. Đó là trường hợp của Kim Luân Pháp Vương, Tả Lãnh Thiền và Nhạc Bất Quần. Nuôi mộng lớn hơn thì có các Giáo Chủ của Triêu Dương Thần Giáo là Nhậm Ngã Hành và Đông Phương Bất Bại nghĩ đến việc thống nhứt cả võ lâm dưới quyền điều khiển của mình. Sau hết, cũng có những người như Hồng An Thông, Giáo Chủ Thần Long Giáo muốn chiếm được một lãnh thổ để làm chúa một nước nhỏ, hay như cha con Mộ Dung Bác và Mộ Dung Phục nhắm mục tiêu khôi phục nước Đại Yên.

Trong số các cao thủ võ lâm nhắm các mục tiêu đã kể, có người không ngần ngại công bố chủ trương của mình như các Giáo Chủ của Triêu Dương Thần Giáo và Giáo Chủù của Thần Long Giáo, một bên bắt giáo chúng tung hô mình với khẩu hiệu “thiên thu trường trị, nhứt thống giang hồ”, một bên tập cho giáo chúng chúc mình “hưởng phúc trọn đời, thọ ngang Thượng Đế”. Tả Lãnh Thiền và Nhạc Bất Quần thì kín đáo hơn, nhưng hoạt động của họ, nhứt là của Tả Lãnh Thiền, cũng đã bộc lộ cho người khác thấy. Riêng Diệt Tuyệt Sư Thái đã hoàn toàn giấu kín ý đồ của mình, chỉ đến lúc sắp chết mới dặn đồ đệ mình là Châu Chỉ Nhược tìm mọi cách để nối chí mình.

Để đạt mục tiêu chánh yếu của mỉnh, các cao thủ vỗ lâm nhiều khi đã phải nhắm một mục tiêu phụ thuộc, nhưng cần thiết, như tìm những bí kíp về võ thuật loại CỬU ÂM CHƠN KINH, TỊCH TÀ KIẾM PHỔ, hoặc những bảo vật loại kiếm Ỷ Thiên và đao Đồ Long, mặc dầu có người không biết tác dụng thật sự của hai võ khí này. Trường hợp của tám bộ TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG KINH của nhà Thanh cũng là một trường hợp đáng lưu ý: nó chứa đựng một bản đồ chỉ chỗ chốn giấu một kho tàng đồng thời với long mạch nhà Thanh và đã được nhiều người tìm kiếm mặc dầu có người không biết rõ tác dụng của nó.

b.Phương pháp đạt mục tiêu của một số cao thủ võ lâm.

Trong việc thực hiện chủ trương của mình, một số cao thủ võ lâm đã khơng lui bước trước biện pháp nào. Họ có thể có những thủ đoạn lưu manh đê tiện, hay những hành động tàn ác đối với người khác, hoặc ngay cả đối với những người thuộc một phe với họ. Một số đã đi đến chỗ tự hủy hoại một phần thân thể của mình để đạt mục đích. Nói chung thì nguyên tắc được các cao thủ võ lâm này áp dụng là “cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Đối với họ, chỉ có việc đạt được mục tiêu mà họ nhắm là đáng kể và mọi hành động lợi cho việc đạt mục tiêu như vậy đều là tốt cả, dầu cho hành động này không phù hợp với đạo lý chánh thức họ phụng thờ.

Vì theo nguyên tắc “cứu cánh biện minh cho phương tiện”, Dương Khang đã giết Âu Dương Công Tử để có thể làm đệ tử Âu Dương Phong; Mộ Dung Phục đã nhận làm con nuôi Đoàn Diên Khánh và để cho ông này tin cậy, đã hạ sát một bộ hạ trung thành với mình là Bao Bất Đồng; Diệt Tuyệt Sư Thái đã dạy Châu Chỉ Nhược dùng sắc đẹp mê hoặc Trương Vô Kỵ để đoạt đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên; Nhạc Bất Quần đã đánh cắp TỊCH TÀ KIÉM PHỔ của học trò là Lâm Binh Chi, ông đã cũng như Đông Phương Bất Bại chịu tự thiến để có thể học kiếm pháp vô địch này; các nhà lãnh đạo Triêu Dương Thần Giáo và Thần Long Giáo thì dùng chắt độc để kềm chế bộ hạ làm cho họ phải trung thành với mình.

2. Các thông điệp chánh trị của Kim Dung liên hệ đến vấn đề tranh thủ mục tiêu.

Theo dõi kết quả mà các cao thủ võ lâm đã đạt được trong việc tranh thủ mục tiêu, chúng ta cỏ thể nhận thấy một số thông điệp chánh trị của Kim Dung.

a. Việc phải biết hạn chế mục tiêu của mình.

Qua sự tích các nhơn vật trong các bộ truyện võ hiệp của ông, Kim Dung đã nhấn mạnh trên chỗ con người khó có thể làm hết các việc mình mong muốn nên phải biết hạn chế mục tiêu của mình.

1) Trong việc học hỏi và luyện tập về bất cứ bộ môn nào, người cũng đều gặp một vấn đề nan giải là khả năng thể chất và tinh thần của mình bị giới hạn trong khi những điều cần biết lại vô cùng. Biển học vốn mênh mông không bờ bến, không ai đi đến tận cùng được. Vả lại, nếu mình đi được rất xa trên một con đường thì người khác có thể đi được rất xa trên con đường khác. Bởi vậy, không người nào có thể thông suốt được hết mọi việc trong một môn học để chắc chắn là không ai có thể thắng được mình và nắm giữ địa vị người số một trong môn học của mình một cách chắc chắn và lâu dài. Người phải hao phí không biết bao nhiêu thời gian và công lực mới có thể được xem là đệ nhứt bá võ lâm. Nhưng sau đó, người có thể bị người khác, có khi là người trẻ hơn, đánh bại. Hiện tượng này đã được diễn tả một cách sống động trong hai câu thơ:

“Trường Giang hậu lãng thôi tiền lãng;
Thế thượng tân nhơn tán cựu nhơn”

(Trên Sông Cái, sóng sau xô sóng trước;
Giữa cõi đời, người mới chận người xưa)

Trong các nhơn vật chánh yếu của Kim Dung, chỉ có Trương Vô Kỵ là người được học nhiều hơn hết. Chẳng những tinh thông y lý, thạo về độc dược, ông còn luyện được cả ba môn võ Thái Cực Quyền Kiếm của người Trung Hoa, cửu Dương Thần Công của Đạt Ma Tổ Sư vốn là người Thiên Trúc (An Độ), và Càn Khôn Đại Nã Di Tâm Pháp của người Ba Tư. Ông là Giáo Chủ Minh Giáo, lại được tôn là Minh Chủ Võ Lâm và được xem là người có võ công cao nhứt thời ông. Nhung khi phản lại ông, Châu Nguyên Chương chỉ cần bỏ thuốc mê vào rượu cho ông uống là đã bắt được ông một cách rất dễ dàng. Người được xem là “đệ nhứt bá võ lâm” và được tôn trọng suốt đời là Vương Trùng Dương. Nhưng ông này đã chết sớm hơn những người đồng tài với ông và những người này về sau võ công rất tăng tiến nên chưa hẳn là ông có thể giữ được địa vị “đệ nhứt bá” này một cách chắc chắn. Như thế, địa vị “đệ nhứt bá võ lâm” không phải là dễ đạt và dễ duy trì.

Mặt khác, việc tham lam luyện tập các thứ võ công trác tuyệt không phải là không có mối hại. Một số võ công thượng thặng đòi hỏi người phải chịu thương tổn rồi mới học theo nó được. Muốn luyện Thất Thương Quyền thì phải làm cho nội tạng mình bị thương và quyền công càng cao siêu bao nhiêu thì nội tạng càng bị thương nặng bấy nhiêu, về võ công đirợc dạy trong QUÌ HOA BẢO ĐIỂN hay TỊCH TÀ KIẾM PHỔ có thể làm cho người thành vô địch thì trước khi luyện tập người phải tự thiến.

Các thứ võ công thượng thặng tự nó không làm cho người bị tổn thương như vậy, nhưng nếu tham lam luyện tập quá nhiều, người cũng có thể bị hại, nhứt là khi cố luyện tập nhiều môn võ khác nhau. Võ học của phái Thiếu Lâm có thể nói là tuyệt cao, nhưng các môn võ của phái này phải được học tập với tinh thần từ bi. Nếu không có tinh thần từ bi mà học võ công thượng thặng của phái Thiếu Lâm thì bị bại hoại thân thể hay bị nội thương. Người có võ công cao nhứt của phái này là Huyền Trừng Đại Sư đã tự nhiên bi đứt cân mạch và thành phế nhơn. Cưu Ma Trí, Mộ Dung Bác và Tiêu Viên Sơn đều đã bi nội thương trầm trọng khi lén vào chùa Thiếu Lâm lấy sách về võ học để luyện tập. Đặc biệt đáng lưu ý là trường hợp của võ học trong bộ DỊCH CÂN KINH. Chính nhờ nó mà Lịnh Hồ Xung đã chữa được nội thương của mình phát xuất từ việc trong người có nhiều luồng chơn khí mạnh khác nhau. Nhưng khi luyện theo nó, Cưu Ma Trí đã bị nội thương trầm trọng. Rốt cuộc, Mộ Dung Bác và Tiêu Viễn Sơn chỉ thoát hiễm được nhờ vị sư già mặc áo xám trong chùa Thiếu Lâm đánh chết rồi cứu sổng lại, còn Cưu Ma Trí thì cũng chỉ nhờ bị Đoàn Dự thâu hút hết công lực mới khỏi bị nạn phát điên mà chết.

Các câu chuyện trên đây cho thấy rằng dầu người có thông minh, dũng cảm và có nghị lực bao nhiêu, người cũng khó luyện tập hết các môn võ công thượng thặng để chắc chắn trở thành một nhơn vật vô địch trong võ lâm. Áp dụng ra lãnh vực chánh tri điều này có nghĩa là dầu người có thiên tư tốt và cố gắng đến đâu, người cũng không thể nắm vững hết các vấn đề và vượt lên trên cả thiên hạ được. Bởi đó, người phải có ý thức rõ rệt về sự hạn chế của tri thức mình và có thái độ thích ứng.

2) Nếu không thể luyện tập hết các môn võ công thượng thặng để chắc chắn trở thành một nhơn vật vô địch trong võ lâm người cũng không thể thống nhứt hết thiên hạ dưới quyền điều khiến của mình. Giới võ lâm vốn có nhiều nhơn vật và nhiều môn phái khác nhau. Tuy khả năng có thể hơn kém khác nhau, mỗi nhơn vật, mỗi môn phái đều có bản sắc của mình và đều phần nào tự hào về bản sắc đó nên muốn duy trì nó. Dầu có theo phương pháp nào, người cũng khó chế ngự được hết mọi nhơn vật và mọi môn phái để đi đến sự thống nhứt hoàn toàn mọi lực lượng đương có.

Xét tất cả các đoàn thể được Kim Dung mô tả trong các bộ truyện võ hiệp của ông, ta có thể nói rằng đoàn thể có tổ chức hoàn bị hơn hết để đạt mục tiêu nhứt thống giang hồ là Triêu Dương Thần Giáo. Kỹ thuật làm việc của đoàn thể này khai thác đúng mức tâm lý con người. Nó dùng những biện pháp tàn độc nhưng hữu hiệu để kềm chế người của mình, làm cho họ phải hết sức trung thành và tận lực thi hành thượng lịnh. Tuy nhiên, đoàn thể này rốt cuộc vẫn không đạt được mục tiêu thống nhứt giang hồ dưới quyền thống trị muôn năm của mình. Sự tích của Triêu Dương Thần Giáo theo Kim Dung mô tả có mấy điểm đáng lưu ý.

Trước hết là cuộc tranh giành ngôi Giáo Chủ giữa Nhậm Ngâ Hành và Đông Phương Bất Bại. Tổ chức chặt chẽ của Triêu Dương Thần Giáo đã không ngăn chận được việc người phụ tá của Giảo Chủ Nhậm Ngã Hành là Đông Phương Bất Bại âm mưu triệt hạ ông để lên giữ ngôi vị tối cao. Nó cũng không ngăn chận được việc Nhậm Ngã Hành được người bộ hạ trung thành giúp và thoát khỏi ngục thất rồi đoạt lại ngôi Giáo Chủ đã mất. Chung qui, các biện pháp mà người lãnh đạo đương nhiệm dùng để chế ngự thuộc hạ làm cho các thuộc hạ này tuyệt đối phục tùng mình cũng đã làm cho họ tuyệt đối phục tùng kẻ đối thủ của mình để chống lại mình khi kẻ đối thủ đó nắm được cái thế chế ngự họ.

Cái chết của Nhậm Ngã Hành cững có một ý nghĩa đặc biệt. Cứ theo Kim Dung mô tả thì ông đã có kế hoạch rất hoàn bị để triệt hạ cả phái Hằng Sơn lẫn hai phái Thiếu Lâm và Võ Đương. Nhưng kế hoạch này thật sự không phải thích ứng như Nhậm Ngã Hành tưởng. Nó vốn dựa trên giả thuyết là khi về núi Hằng Sơn, Lịnh Hồ Xung cho người thông báo với hai phái Thiếu Lâm và Võ Đương để cầu viện và hai phái này sẽ đem hết lực lượng đến núi Hằng Sơn để viện trợ. Tuy nhiên, Lịnh Hồ Xung đã không cầu viện nơi hai phái Thiếu Lâm và Võ Đương như Nhậm Ngã Hành dự liệu. Dầu vậy, một số cao thủ lãnh đạo hai phái này cũng đã đến Hằng Sơn gặp Lịnh Hồ Xung. Người của họ cũng được đưa đến Hằng Sơn nhưng đã hóa trang đi tránh con mắt dò xét của địch. Và thay vì đem lực lượng đối chọi với lực lượng Triêu Dương Thần Giáo, họ đã lập kế để hại Nhậm Ngã Hành và giáo chúng Triêu Dương Thần Giáo đến tấn công Hằng Sơn. Vậy, nếu Nhậm Ngã Hành thi hành kế hoạch ông nghĩ ra thì cuộc diện không biết đã xảy ra như thế nào. Nhưng thật sự Nhậm Ngã Hành đã chết trước khi thi hành kế hoạch.

Sở dĩ Nhậm Ngã Hành chết thình lình như vậy là vì với môn Hấp Tinh Đại Pháp, ông đã thâu hút vào người nhiều luồng chơn khí và các luồng chơn khí này thỉnh thoảng xung đột nhau làm cho ông đau đớn. Để trừ khử các luồng chơn khí mình đã thâu hút vào cơ thể mà không hóa tán và dung hợp được, Nhậm Ngã Hành đã phải dùng một thứ nội công cực kỳ bá đạo và do đó mà hao tổn rất nhiều chơn nguyên thành ra bị tổn thọ. Tuy tình trạng này liên hệ đến cá nhơn của Nhậm Ngã Hành, nó cũng phản ảnh tình trạng đoàn thể do ông lãnh đạo. Nó có thể biểu hiện sự kiện Triêu Dương Thần Giáo gồm nhiều lực lượng khác nhau được kết hợp nhau dưới quyền thống suất của môt nhà lãnh đạo chuyên chế, nhưng vẫn có sự xung khắc nhau. Việc kềm giữ cho sự xung khắc này không bùng nổ lớn làm tiêu hao nhiều thì giờ và nghị lực của đoàn thể. Với cái chết của Nhậm Ngã Hành, Kim Dung cho chúng ta thấy rằng nó làm cho đoàn thể không thực hiện được mục tiêu căn bản của mình.

Về mặt chánh trị thì như chúng tôi đã trình bày trước đây, Triêu Dương Thần Giáo đã được Kim Dung dùng để tượng trưng cho Đảng Trung Cộng. Sự thất bại của Triêu Dương Thần Giáo có thể được xem như là để ám chỉ việc Đảng này không đạt được mục tiêu nó đưa ra làm lý tưởng tối hậu. Đảng Trung Cộng vốn theo chủ nghĩa Marx-Lenin là một chủ nghĩa hướng đến việc thực hiện một thế giới đại đồng dưới quyền lãnh đạo chuyên chế của người vô sản. Nhưng mặc dầu được tổ chức theo lề lối của Lenin, một lề lối phi nhân nhưng hữu hiệu, Đảng Trung Cộng đã không thực hiện được mục tiêu mà Marx nêu ra.

Thế giới hiên tại không phải đã bị Cộng sản chế ngự, mà Trung Cộng lại cũng không giành được quyền lãnh đạo phong trào tranh đấu cho vô sản thế giới. Riêng Cộng sản Việt Nam cũng theo chủ nghĩa Marx-Lenin và trước đây đã được Trung Cộng tận lực ủng hộ trong cuộc chiến đấu với người Pháp rồi người Mỹ, ngày nay cũng đã thành thù địch với Trung Cộng. Ngay ở Trung Hoa, Trung Cộng cũng chưa phải đã thành công. Đảo Đài Loan hiện vẫn còn nằm trong tay Trung Hoa Quốc Dân Đảng và một số Hoa kiều khá đông ở các nước vẫn còn theo Trung Hoa Quốc Dân Đảng để chống lại Trung Cộng một cách mãnh liệt. Trong việc điều khiển khối người sổng ở Hoa lục, Trung Cộng đã gặp nhiều khó khăn và không thực hiện được các kế hoạch phát triển kinh tế của mình như dự liệu. Mặt khác, chính nội bộ Trung Cộng đã trải qua những cuộc khủng hoảng trầm trọng làm cho xã hội Trung Hoa dưới quyền lãnh đạo của họ nhiều lần bị xáo trộn và người Trung Hoa phải chịu nhiều đau khổ.

Với câu chuyện Triêu Dương Thần Giáo, Kim Dung đã có ý cho thấy rằng việc thống nhứt thiên hạ chỉ là một giấc mộng, và ngay cả việc bắt tất cả mọi người trong một nước hoàn toàn tùng phục mình cũng là một mục tiêu khó đạt, dầu cho người cầm quyền có áp dụng những biện pháp phi nhân tàn độc để khủng bố và kềm chế người dân.

b. Thông điệp chánh trị của Kim Dung được gói ghém trong thuật Song Thủ Hỗ Bác hay Phân Thân Song Kích.

Trong hai bộ ANH HÙỪNG XẠ ĐIÊU và THẦN ĐIÊU ĐẠI HIỆP, Kim Dung có mô tả một tuyệt kỹ của Châu Bá Thông là Song Thủ Hỗ Bác cũng gọi là Phân Thân Song Kích. Người luyện được thuật này có thể một mình đóng hai vai tuồng đối nghịch nhau y như là hai người phân biệt nhau và tranh đấu với nhau. Do đó, khi phải chiến đấu với kẻ khác, người ấy có thể đồng thời sử dụng hai môn võ hoàn toàn dị biệt và người đối địch với họ cũng gặp khó khăn y như là phải đương đầu với hai cao thủ. Muốn học được thuật Song Thủ Hỗ Bác, việc mà người ta phải tập trước hết là đồng thời dùng tay trái vẽ một hình vuông và tay mặt vẽ một hình tròn. Đó không phải là một việc dễ làm nên không phải ai cũng học được thuật trên đây của Châu Bá Thông. Người sáng tác nó vốn có biệt hiệu là Lão Ngoan Đồng, vì tuy đã lớn tuổi, ông có tánh tình bình dị chất phác và ham vui chơi như trẻ con, và luôn luôn cư xử một cách hồn nhiên, không suy nghĩ tính toán. Cứ theo Kim Dung thì những người lanh lợi thông minh, hay suy nghĩ tính toán không thể học được thuật Song Thủ Hỗ Bác. Trong các tác phẩm của ông, hai người thành công trong việc luyện thuật nay là Quách Tĩnh và Tiểu Long Nữ. Cả hai đều chất phác và chậm chạp không biết suy nghĩ tính toán khi đứng trước một vấn đề.

1) Việc tự phân thân thành hai người làm hai việc khác nhau và đối chọi nhau hoặc hoàn toàn khác nhau, như một tay vẽ hình tròn, một tay vẽ hình vuông, có thể được Kim Dung dùng để ám chỉ một diễn trình tâm lý làm cho người có thể vừa là mình, vừa tự đặt mình trong địa vị một người khác để biết người đó suy nghĩ và phản ứng như thế nào. Diễn trình tâm lý này rất cần thiết cho việc cư xử theo đạo Nhân là đức tánh căn bản của Nho Giáo. Chữ Nhânchunhan vốn gồm có hai chữ: nhị chunhilà hai và nhơnchunhon là người. Căn bản của nó là làm cho con người lúc nào cũng nhớ rằng trên đời không phải chỉ có một mình mình, và ngoài mình ra, còn có người khác. Người khác này cũng có tâm lý y như mình, điều mình ghét thì họ cững ghét và điều mình ưa thì họ cũng ưa. Người học theo đạo Nhân có hai nguyên tắc phải áp dụng, về mặt tiêu cực hay thụ động, là nguyên tắc “hễ cái gì mình không muốn cho kẻ khác làm đối với mình thì mình không làm đối với kẻ khác” (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân: LUẬN NGỮ, Vệ Linh Công), về mặt tích cực hay chủ động là nguyên tắc “hễ mình muốn hưởng được cái gì thì mình cũng làm cho người khác cùng hưởng được cái đó như mình” (Kỷ dục lập nhi lập nhơn, kỷ dục đạt nhi đạt nhơn: LUẬN NGỮ, Ung Dã).

Trên lý thuyết thì vấn đề rất giản dị. Nhưng trên thực tế đạo Nhân không phải dễ đạt vì người thường có tánh chủ quan, chỉ biết phần mình mà không thèm biết đến phần người khác. Bởi đó, người ít khi tự đặt mình vào địa vị kẻ khác để xét xem họ thấy việc mình làm như thế nào và phản ứng ra sao. Lúc tự đặt mình ở địa vị kẻ khác thì người lại có thể không xét ra được phản ứng của họ một cách đúng đắn. Sau hết, cũng có thể người ta đã biết đúng phản ứng của người khác, nhưng lại vẫn không cư xử đúng cách đi tránh những phản ứng không tốt.

Để có một thí dụ cụ thể về vấn đề, ta có thể lấy trường hợp của những người lái xe đi trên đường phố. Khi đến một ngã tư có đèn đỏ và phải ngừng lại, người lái xe có thể lơ đãng và không rồ máy chạy ngay lúc đèn xanh đã bật cháy. Nếu người lái xe ở phía sau bóp còi để thúc giục, người lái xe này có thể bực tức và chửi thề. Nhưng khi xe mình ngừng ở phía sau xe khác mà thấy xe trước mình chưa chạy lúc đã có đèn xanh, chính người lái xe đã bực tức và chửi thề nói trên đây lại bóp còi thúc giục xe trước. Có người lái xe không hề nghĩ đến thái độ hoàn toàn chủ quan và thiếu hợp lý của mình trong hai trường hợp trên đây. Cũng có người đã nghĩ đến nó rồi, nhưng không thay đổi lề lối cư xử của mình trong hai trường hợp đã kể trên. Điều này cho thấy rằng việc tự phân thân thành hai người đi học theo đạo nhân không phải là ai cũng thực hiện được với kết quả mỹ mãn.

2) Thuật Song Thủ Hỗ Bác được Kim Dung mô tả có thể xem như là một giải pháp lý tưởng cho võ lâm cũng như cho trường chánh trị. Cộng đồng nào cũng có nhiều nhơn vật, nhiều đoàn thể đồng thời hiện diện. Nhưng ta đã thấy trên đây, một nhơn vật hay một đoàn thể khó có thể vượt lên trên tất cả các nhơn vật hay đoàn thể khác để chế ngự tất cả và bắt tất cả phải hoàn toàn tùng phục mình. Như vậy, nếu không muốn có sự xung đột hỗn loạn với nhau một cách quyết liệt làm hại cho tất cả, người ta chỉ còn một phương pháp là chấp nhận sự tồn tại của tất cả, nhưng điều chỉnh sự hoạt động giữa các nhơn vật và đoàn thể hiện diện sao cho tất cả có thể hòa hợp với nhau những khi cần và khi tranh đua với nhau thì cũng không phải với tinh thần thù nghịch quá độ.

Cũng như thuật Song Thủ Hỗ Bác mà bước đầu là đồng thời dùng tay trái để vẽ hình vuông và tay mặt để vẽ hình tròn, việc điều chỉnh nói trên đây không phải là dễ dàng. Nếu sự thành công trong việc luyện thuật Song Thủ Hỗ Bác đòi hỏi người phải hồn nhiên chất phác, không suy nghĩ tính toán thì việc làm cho các nhơn vật và đoàn thể trong giới võ lâm hay trong chánh trường chung sống và hòa hợp nhau mặc dầu có thể cạnh tranh nhau, cũng đòi hỏi nơi mọi người một tinh thần cởi mở và tôn trọng sự công bằng.

Đứng riêng về mặt định chế chánh trị mà nói thì thuật Song Thủ Hỗ Bác đã được các nước theo chủ trương dân chủ tự do áp dụng với chế độ đối lập chánh trị. Ở các nước này, có nhiều chánh đảng khác nhau, mọi chánh đảng đều có đường hướng và chủ trương của mình. Đại khái các chánh đảng nói trên đây được phân ra làm hai cánh tả và hữu, có lập trường khác nhau, như hình ảnh một bên vẽ hình vuông, một bên vẽ hình tròn. Các chánh đảng chia ra làm hai cánh tả và hữu như vậy đã phân công phân nhiệm với nhau, hễ một bên nắm chính quyền thì một bên đối lập. Bình thường thì hai bên cạnh tranh nhau ráo riết. Tuy nhiên, khi quyền lợi chung của quốc gia đòi hỏi, như trong trường hợp phải đối phó với một cường địch hay phải giải quyết một vấn đề quan trọng can hệ đến sự tồn vong của dân tộc, họ vẫn có thể hợp tác với nhau.

Chế độ đối lập chánh trị này chỉ có thể duy trì và vận dụng khi các chánh đảng đều chấp nhận tôn trọng một Hiến Pháp chung, cũng như hai tay tuy chia nhau, một bên vẽ hình vuông, một bên vẽ hình tròn, nhưng vẫn còn thuộc chung một cơ thể có một ý chí chung. Gặp trường hợp có một chánh đảng mưu toan phục vụ đường lối riêng của mình, bất chấp các chánh đảng khác thì chế độ đối lập bị gãy đổ. Đó là việc xảy ra ở nước Ý và nước Đức trong thời kỳ giữa hai trận Thế Chiến. Hai Đảng Phát Xít và Quốc Xã sau khi nắm được chánh quyền bằng lề lối hợp hiến đã đàn áp các chánh đảng khác để xây dựng chế độ độc tài toàn diện của mình.

Đứng về mặt chánh sách mà nói thì thuật Song Thủ Hỗ Bác có thể dùng để so sánh với chủ trương dung hòa những biện pháp thuộc hai hệ thống suy luận và tổ chức khác nhau. Trong thuật Song Thủ Hỗ Bác, hai tay chia nhau một bên vẽ hình vuông, một bên vẽ hình tròn nhưng đều thuộc một người và người này không thiên về bên nào nếu thiên về một bên thì không áp dụng được thuật ấy. Vậy, sự thành công trong việc áp dụng thuật Song Thủ Hỗ Bác hàm ý không thiên vị, tức là không có sự cố chấp một lập trường nhứt định. Sự thành công trong việc dung hòa những biện pháp thuộc hai hệ thống suy luận và tổ chức khác nhau cũng đòi hỏi sự không thiên vị và không cố chấp. Bởi đó, các nước dân chủ tự do dễ thực hiện sự dung hòa nói trên đây hơn là các nước theo chế độ độc tài.

3) Chánh trường thế giới đã cống hiến cho chúng ta những thí dụ cụ thể về vấn đề này.

Chế độ dân chủ tự do được áp dụng ở một số nuớc Tây Phương vốn có tinh thần khoan dung. Nó chấp nhận sự tự do hoạt động của nhiều chánh đảng khác nhau về mặt chánh trị, đồng thời với quyền tư hữu và quyền tự do kinh doanh của các tư nhơn. Lúc khởi thủy, các nước theo chế độ dân chủ tự do không chủ trương kế hoạch hoá kinh tế vì sự kế hoạch hóa hàm ý dùng chánh quyền điều khiển sự hoạt động kinh tế là điều trái với nguyên tắc dân chủ tự do. Nhưng về sau, vì sự tự do kinh doanh hoàn toàn đã đưa đến nhiều mối hại cho xã hội, nhứt là nạn khủng hoảng kinh tế, các nước theo chế độ dân chủ tự do đã ít nhiều áp dụng một số biện pháp liên hệ đến chánh sách kế hoạch hóa kinh tế để tránh nạn này. Tuy nhiên, loại kế hoạch kinh tế được các nước dân chủ tự do áp dụng là loại kế hoạch nhu tánh và các biện pháp được đem ra thi hành đã dung hợp được với chế độ kinh tế tự do. Do đó, các nước dân chủ tự do đã cải thiện được tình thế về vấn đề này.

Phần các nước cộng sản thì áp dụng chế độ độc tài toàn diện. Trong chế độ này, chỉ có một chánh đảng duy nhứt quyết định hết mọi việc và tài sản dùng vào việc sản xuất đều thuộc quyền sở hữu của Nhà Nước. Do đó, Đảng Cộng Sản cầm quyền cũng là đoàn thể quản trị luôn cả nền kinh tế của quốc gia theo những kế hoạch được soạn trước và được áp dụng một cách cứng rắn. Sau này, các nhà lãnh đạo cộng sản ở nhiều nước đã nhận chân rằng chế độ kinh tế tập sản hóa của họ không khích lệ người dân trong sự sản xuất và làm cho nền kinh tế của quốc gia không phát triển mạnh mẽ được.

Để cải thiện tình thế, một số nước bị Cộng sản cai trị như Nam Tư, Hung Gia Lợi, Lỗ Ma Ni, Trung Hoa và..Việt Nam đã áp dụng một số biện pháp của nền kinh tế tự do. Các biện pháp này đặt căn bản trên việc cho người hoạt động sản xuất được hướng nhiều quyền lợi hơn. Nó có làm cho sự sản xuất chung được tăng gia, nhưng cũng đồng thời đưa đến một vài chứng bịnh của chế độ kinh tế tự do như lạm phát, tham nhũng, chênh lệch tài sản v.v.. và gây sự chống đối của các nhà lãnh đạo cộng sản tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Marx-Lenin. Chủ nghĩa này vốn không dung nạp cho con người được có tư lợi, và phe trung thành với nó đã nhiệt liệt chỉ trích những người chấp nhận mượn một số biện pháp của chế độ dân chủ tự do để khích lệ người dân sản xuất. Kết quả là bên trong Đảng Cộng sản cầm quyền đã có những cuộc tranh luận sôi nổi. Sự giằng co giữa hai phe chống đối nhau đã làm cho các nước cộng sản áp dụng các biện pháp mượn của chế độ dân chủ tự do phải nhiều lần điều chỉnh chánh sách mà không đi hẳn được theo chiều hướng nào thành ra không thể thâu hoạch được những kết quả tốt. Với sự lóng ngóng của chúng, bọn Cộng sản Việt Nam hiện nay thật chẳng khác nào một người không có khả năng luyện theo thuật Song Thủ Hỗ Bác mà đương cố gắng một tay vẽ hình vuông một tay vẽ hình tròn.

Trung Cộng mặc dầu bên trong cũng có những nhà lãnh đạo trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Marx-Lenin, đã tiến mạnh hơn trong việc áp dụng một số biện pháp của chế độ dân chủ tự do để tăng gia sản xuất. Họ đã thâu hoạch được nhiều kết quả khả quan, nhưng cũng bị một số những chứng bịnh của chế độ kinh tế tự do mà các biện pháp này mang đến. Do đó, họ cũng phải ít nhiều điều chỉnh chánh sách của họ.

Nhưng trắc nghiệm để xem Trung Cộng có thể thực hiện được sự dung hòa giữa chủ nghĩa Marx-Lenin và các nguyên tắc kinh tế tự do cằn thiết cho sự phát triển kinh tế hay không hãy còn ở trong tương lai. Năm 1997, Hongkong sẽ được trả về cho Trung Hoa Nhơn Dân Cộng Hoà Quốc. Cứ theo bản hiệp ước đã ký giữa Trung Cộng với nước Anh về vấn đề này, Hongkong sẽ trở thành một Đặc Khu Tự Trị với một quyền tự trị khá rộng: nó sẽ do người địa phương quản trị theo một đạo luật căn bản giống như một Tiểu Hiến Pháp và sẽ có thể tiếp tục duy trì nếp sống theo chế độ tư bản và tự do hiện tại trong 50 năm sau 1997. Vậy, khi Hongkong đã sáp nhập vào lãnh thổ Trung Hoa, người dân Hongkong sẽ tiếp tục được hưởng một số quyền mà dân Trung Hoa ở lục địa không được hưởng. Ngoài sự cam kết của các nhà lãnh đạo Trung Cộng khi ký hiệp ước về Hongkong với người Anh, việc duy trì phần nào chế độ được áp dụng ở Hongkong hiện nay cũng phù hợp với quyền lợi Trung Cộng vì nó giúp vào việc giữ cho Hongkong được yên ổn và phồn thạnh. Nhưng với việc sáp nhập Hongkong vào lãnh thổ mình trong những điều kiện như vậy, Trung Hoa Nhơn Dân Cộng Hoà Quốc sẽ có hai chế độ khác nhau dưới quyền một chánh phủ duy nhứt. Điều này không khỏi gây ra những sự xung khắc và xu hướng đòi hủy diệt qui chế đặc biệt của Hongkong sẽ xuất hiện, lại có thể tăng cường lần lần. Chỉ khi nào các nhà lãnh đạo Trung Cộng trong tương lai vẫn duy trì chế độ của Hongkong đúng như lời cam kết với người Anh, họ mới chứng minh được rằng họ có đủ tinh thần cởi mở để dung hòa hai hệ thống kinh tế khác nhau và đáng được xem như là những cao thủ võ lâm luyện được thuật Song Thủ Hỗ Bác.

c. Thông điệp chánh trị của Kim Dung xét qua kết quả cuộc tranh thủ mục tiêu của các cao thủ võ lâm.

1) Trong các cốt chuyện của Kim Dung, các nhơn vật đã nhứt quyết đạt cho bằng được một mục tiêu quan trọng đã không thành công trong các mưu đồ của họ. Sự cố gắng kiên trì của họ nhiều khi đã đưa đến những họa hại, và họ càng có nhiều mưu cơ hiểm độc thì mối họa hại lại càng lớn. Trái lại, những người đã thành công phần lớn là những người không cố tâm tranh đoạt một mục tiêu. Họ là những người tốt và hành động theo lẽ phải, theo lương tâm, chỉ lo hành hiệp giang hồ, nhưng cuối cùng lại được hưởng những kết quả mà những kẻ cố tâm tranh đoạt đã đeo đuổi một cách vô ích.

Hai cha con Mộ Dung Bác và Mộ Dung Phục suốt đời đeo đuổi giấc mộng khôi phục nước Đại Yên, nhưng không thực hiện được giấc mộng này mặc dầu đã đưa ra trăm phương ngàn kế. Riêng Mộ Dung Phục đã nhẫn tâm sát hại một bộ hạ trung thành nên cuối cùng bị mất hết thế lực và thành điên rồ, đi làm vua với đám trẻ con.

Tây Độc Âu Dương Phong trước sau vẫn không tìm ra được bộ CỬU ÂM CHƠN KINH thật để luyện tập theo đó cho đúng cách, và bị Hoàng Dung gạt, ông đã luyện tập theo một chiều hướng ngược lại chiều hướng được dạy trong bộ Kinh thật. Tuy nhờ đó mà có một võ công đặc biệt, ông đã mất trí và chỉ còn di động bằng cách dộng đầu xuống đất, trổ cẳng lên trời.

Đông Tà Hoàng Dược Sư cũng là một nhơn vật cố sức tìm CỬU ÂM CHƠN KINH. Nhưng mặc dầu đã tốn nhiều tâm cơ, ông chỉ lấy được có phân nửa bộ Kinh ấy, mà công việc này lại còn làm cho người vợ mà ông hết mực mến yêu bị chết non, để lại cho ông một vết thương lòng không lúc nào hàn gắn được..

Phần Quách Tĩnh thì không hề tìm học CỬU ÂM CHƠN KINH, nhưng lại vô tình mà học được cả bộ Kinh này.

Dương Khang thì vì quyết tâm muốn làm đệ tử của Âu Dương Phong mà hạ sát Âu Dương Công Tử. Nhưng chính vì hành động này mà ông khổng được Âu Dương Phong cho thuốc giải khi ông bị nọc rắn độc vào mình và đã phải chết một cách thê thảm.

Kim Luân Pháp Vương đã không làm được Minh Chủ Võ Lâm như ông ước muốn mà lại còn bị chết trong biển lửa. Trong khi đó, Châu Bá Thông, Quách Tĩnh và Dương Quá không nghĩ đến việc giành một địa vị cao trong võ lâm lại được liệt vào hàng bá chủ với các ngoại hiệu Trung Ngoan Đồng, Bắc Hiệp và Tây Cuồng.

Trong tất cả các nhơn vật và đoàn thể tìm cách chiếm đoạt đao Đồ Long, chỉ có Tạ Tốn là đạt mục đích. Nhưng ông đã không tìm ra được công dụng của đao này. Diệt Tuyệt Sư Thái biết các bí mật của kiếm Ỷ Thiên và đao Đồ Long thì lại không lúc nào cùng có hai võ khí này trong tay. Châu Chỉ Nhược với sự chỉ dẫn của bà đã chiếm được cả kiếm Ỷ Thiên và đao Đồ Long và lấy các bí kíp trong đó. Nhưng cô đã không thành công trong việc thực hiện giấc mộng của Diệt Tuyệt Sư Thái. Cuối cùng, chính Trương Vô Kỵ, một người không hề nuôi ý muốn tranh đoạt địa vị hay bảo vật lại trở thành Minh Chủ Võ Lâm và có được các bí kíp chứa trong kiếm Ỷ Thiên và đao Đồ Long.

Trọng việc tìm TỊCH TÀ KIẾM PHỔ, Chưởng Môn Nhơn phái Thanh Thành đã tỏ ra hết sức tàn độc, nhưng đã không lấy được kiếm phổ này mà về sau còn bị vũ nhục và chết thảm vì kiếm pháp mà ông nhứt định tìm học. Phần Nhạc Bất Quần thì đã đánh cắp được bản kiếm phổ lừng danh này. Nhưng chính vì nó mà ông bị thân bại danh liệt và cuối cùng chết trong tay một hậu bối võ công tầm thường là Nghi Lâm.

Các Giáo Chủ của Triêu Dương Thần Giáo cũng đã thất bại trong việc mưu đồ nhứt thống giang hồ để trường trị muôn năm. Nhậm Ngã Hành đã chết vì môn võ công tàn độc của mình là Hấp Tinh Đại Pháp. Phần Đông Phương Bất Bại thì đã luyện được công phu ghi trong QUÌ HOA BẢO ĐIỂN và thành vô địch về võ công. Nhưng chính công phu này đã làm cho ông thành ái nam ái nữ và luyến ái Dương Liên Đình, thành ra ông đã bị chết dưới tay những người võ công thấp kém hơn mình.

2) Về phía những người đã ít nhiều thành công trong việc xây dựng một sự nghiệp trong võ lâm hay trong chánh trưởng, ta có thể nhận thấy rằng phần lớn đều đã gặp rất nhiều may mắn.

Hu Trúc đã tình cờ mà được các cao thủ thượng thặng của phái Tiêu Dao dồn hết công lực của họ vào mình và dạy cho các tuyệt nghệ của họ. Phần Đoàn Dự thì nhờ nuốt con Mãnh Hổ Châu Cáp để tự tử mà lại có khả năng thâu hút công lực người khác và đã ngẫu nhiên thâu hút được công lực của một số cao thủ, đặc biệt là Cưu Ma Trí, thành ra có một nội công thâm hậu. Ông đã vô tình lạc vào cái động kín mà Kiếm Phái Vô Lượng đã cố công tìm kiếm năm này sang năm khác nhưng không ra. Nhờ đó, ông đã học được phép Lăng Ba Vi Bộ. Mặt khác, mặc dầu không muốn học võ, ông đã vô tình học đuợc môn Lục Mạch Thần Kiếm. Vậy, Hư Trúc và Đoàn Dự đã nhờ sự may mắn mà trở thành những cao thủ võ lâm thượng thặng.

Vương Trùng Dương sở dĩ có một công lực siêu phàm giúp ông đoạt được danh hiệu “đệ nhứt bá võ lâm” là nhờ lúc bé ông đã ăn được cái nấm mọc trên bã nhơn sâm. Đoàn Nam Đế và Âu Dương Phong được liệt vào hàng Võ Lâm Ngũ Bá vì đã ngẫu nhiên hút được huyết con lươn thần Kim Thiện Vương hay con rắn quí Bạch Long Xà. Quách Tĩnh cũng đã tăng thêm công lực sau khi tình cờ hút được huyết con rắn của Lương Tử Ông. Dương Quá trở thành một cao thủ vượt lên trên những người khác nhờ gặp được con thần điêu đưa ông đến chỗ ẩn cư trước đây của Độc Cô Cầu Bại rồi giúp ông luyện tập theo phương pháp của vị kiếm khách này, lại cho ông ăn một loại trái cây trân quí làm ông tăng thêm công lực.

Trương Vô Kỵ cũng như Lịnh Hồ Xung đều toàn nhờ duyên may mà chữa đuợc nội thương và học được các môn võ siêu tuyệt. Về phần Vi Tiểu Bảo, ông đã lấy được hết tám bộ TỨ THẬP NHỊ CHƯƠNG KINH mà nhiều nhơn vật và đoàn thể thèm muốn, phần lớn nhờ những gặp gỡ tình cờ hơn là vì sự cố công tìm kiếm.

Phần lớn các nhơn vật trên đây đã có một bản lãnh trước rồi mới lợi dụng được sự may mắn tình cờ đến với mình. Một số đã nhờ có tâm tánh tốt và đã giúp đỡ người hoặc đã gây được cảm tình với người, hay một con vật — như trường hợp của Dương Quá và Trương Vô Kỵ — rồi mới hưởng được những kết quả tốt đẹp của một cuộc gặp gỡ phi thường. Nhưng nói chung thì đối với tất cả các nhơn vật, sự thành công đã nhờ cơ vận tốt nhiều hơn nhờ tài năng.

Sự lấn thế của cơ vận đối với tài năng biểu lộ rõ rệt nếu chúng ta đem đối chiếu sự tích của Vi Tiểu Bảo và của Tiêu Phong, về các mặt thân thế, khả năng, tâm địa và tác phong, Tiêu Phong đều vượt xa Vi Tiếu Bảo. Con người Tiêu Phong là một con người đáng được mọi người kính trọng và mến phục. Nhưng đời ông toàn gặp những gian truân. Lúc thoát khỏi ngục thất của nhà vua Đại Liêu, Tiêu Phong đã có một ý nguyện rất đơn giản là tiễn các bạn Đại Lý và Đại Tống của mình về nước họ, rồi phần mình thì cùng A Tử sang ở với người Nữ Chân. Nhưng cái nguyện vọng rất nhỏ đó cũng không thực hiện được và cuối cùng ông đã phải tự sát. Trái với Tiêu Phong, Vi Tiễu Bảo tài đức kém, nhưng lại đã gặp rất nhiều cơ hội may mắn và làm được nhiều việc trên tài sức mình. Ngay đến lúc rời khỏi chánh trường, ông cũng đã cùng với cả gia đình thoát thân được một cách êm thắm.

3. Tánh chất các thông điệp chánh trị của Kim Dung liên hệ đến vấn đề tranh thủ mục tiêu.

Trong các thông điệp chánh trị liên hệ đến vấn đề tranh thủ mục tiêu mà Kim Dung đã đưa ra trong các tác phẩm của ông, ta có thể thấy thoáng qua ý vị của đạo Nhân theo Nho Giáo, qua thuật Song Thủ Hỗ Bác của Châu Bá Thông. Nhưng nói chung lại thì các thông điệp này chịu ảnh hưởng nhiều hơn của nền triết lý Đạo Giáo được nêu ra trong bộ ĐẠO ĐỨC KINH. Hai nguyên tắc của ĐẠO ĐỨC KINH được Kim Dung áp dụng trong việc mô tả các nhơn vật của mình là “tri túc tri chỉ” và “bất tranh”.

“Tri túc tri chỉ” có nghĩa là biết như thế nào là vừa đủ cho mình và dừng lại ở đó chớ không mong muốn đòi hỏi thêm nữa thành ra đi quá mức. Cứ theo ĐẠO ĐỨC KINH thì “tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi” (Chương 44), nghĩa là “biết đủ thì không bị nhục, biết dừng lại đúng lúc thì không bị nguy”. Bộ Kinh này cũng bảo rằng: “Họa mạc đại ư bắt tri túc; cữu mạc đại ư dục đắc” (Chương 46), nghĩa là “không họa nào lớn bằng việc không biết là mình đã đủ rồi; không mối hại nào to bằng việc cứ muốn thèm mãi”.

“Bất tranh” có nghĩa là “không tranh giành”. Nguyên tắc này cũng được gọi là “bất vi thiên hạ tiên” (ĐẠO ĐỨC KINH, Chương 67) nghĩa là “không dám đứng trước thiên hạ”. Người không tranh giành, không dám đứng trước thiên hạ thì không bị ai thù ghét chống chọi. Bởi đó, khi tình thế đòi hỏi một kẻ có khả năng như người ấy đứng ra điều khiển thì người ấy được tất cả chấp nhận làm kẻ lãnh đạo.

Trong các tác phẩm của Kim Dung, các nhơn vật muốn chắc chắn trở thành một cao thủ vô địch hoặc muốn làm vua chúa, làm Minh Chủ Võ Lâm, hoặc muốn thống nhứt giang hồ dưới quyền điều khiển của mình là những người không biết “tri túc tri chỉ” và cứ muốn tranh giành với mọi người khác để chen lên đứng trước cả thiên hạ. Bởi đó, họ đã bị sự chống báng mãnh liệt và chẳng những không đạt được mục tiêu mà có khi còn bị mang họa. Trái lại, những người không có tham vọng quá đáng, không cố tâm tranh đoạt một chức vị cao quí hay một bảo vật là những người đã theo nguyên tắc “tri túc tri chỉ” và “bất tranh”, “bất vi thiên hạ tiên” và cuối cùng, họ đã được đưa lên một chức vị cao quí hay được hưởng bảo vật mà nhiều kẻ thèm muốn nhưng không được.

III. DIỄN TRÌNH BIẾN CHUYỂN TRONG QUAN ĐIỂM CỦA KIM DUNG VỀ CÁC VẤN ĐỀ CHÁNH TRỊ XÉT QUA SỰ TÍCH CÁC NHƠN VẬT CHÁNH YẾU VÀ CÁC CỐT CHUYỆN TRONG CÁC BỘ TRUYỆN VÕ HIỆP NỔI TIẾNG NHỨT CỦA ÔNG.

Khi xem qua sự tích các nhơn vật tượng trưng một số quốc gia trên thế giới hay một số chánh khách Trung Quốc cận đại, chúng ta đã thấy rằng Kim Dung đã có sự thay đổi trong quan điểm của mình. Xét lại hết sự tích các nhơn vật chánh yếu và các cốt chuyện trong các bộ truyện võ hiệp nổi tiếng nhứt của ông, ta có thể nhận định sự thay đổi này một cách rõ rệt hơn.

A. ẢNH HƯỞNG CỦA KHUNG CẢNH TRONG ĐÓ KIM DUNG SANH TRƯỞNG ĐỐI VỚI QUAN ĐIỂM SƠ KHỞI CỦA ÔNG VỀ CÁC VẤN ĐỀ CHÁNH TRỊ.

1. Khung cảnh trong đó Kim Dung sanh trưởng.

Kim Dung vốn là người sanh trưởng trong thời kỳ Trung Quốc vừa thoát khỏi sự thống trị của triều đình nhà Thanh do người Mãn Châu xây dựng. Lúc ấy, Trung Hoa Dân Quốc đã thành lập, nhưng chưa được ổn định và chưa được trọng nể trên chánh trường quốc tế.

Nhà cách mạng Tôn Văn là người tốt, được phần lớn người Trung Hoa xem là người đã phát khởi cuộc cách mạng lật đổ nhà Thanh để giải phóng Hán tộc khỏi ách cai trị của nguời Mãn Châu và đưa dân tộc Trung Hoa vào con đường hiện đại hóa. Tuy nhiên, ông không phải làm chủ được tình thế và được trọn quyền xây dựng đất nước theo chủ trương của mình. Trong nước, hãy còn nhiều nhơn vật và phe nhóm chống đối lại ông. Trong thời đó, đã có hai chánh phủ, một ở Hoa Bắc và một ở Hoa Nam. Cả hai chánh phủ này đều không thật sự vững chắc, nhưng lại chống chọi nhau mãnh liệt. Chỉ đến năm 1928, mới có một chánh quyền Trung Hoa Dân Quốc thống nhứt. Tuy nhiên, sự thống nhứt này chưa phải thực hiện hoàn toàn vì ở một số tỉnh, các đốc quân vẫn còn trọn quyền điều khiển và không thật sự tùng phục chánh phủ trung ương. Mặt khác, Trung Hoa Quốc Dân Đảng và Đảng Trung Cộng đã hợp tác với nhau thời ông Tôn Văn còn sống, lại chống chọi nhau mãnh liệt từ năm 1927. Sự hợp tác với nhau trở lại chỉ thực hiện khi người Nhựt xâm lấn Trung Quốc.

Về mặt quốc tế, phần lớn các cường quốc thời đó đã không có thái độ hoàn toàn thân hữu đối với Trung Hoa Dân Quốc.

Nước Nhựt lúc ấy đã cường thạnh và tìm cách bành trướng thế lực. Ngừơi Nhựt rất sợ Trung quốc trở thành một nước mạnh có đủ sức đương đầu lại họ. Bởi đó, họ cố đặt Trung Quốc trong vị thế phải tùy thuộc họ. Họ đã nhiều lần lấn hiếp chánh quyền Trung Hoa và từ năm 1937 đã công khai kéo quân vào chiếm đóng lãnh thổ Trung Quốc. Đến năm 1938, người Nhựt xây dựng một chánh quyền Trung Hoa lệ thuộc mình đặt dưới sự điều khiển của Ông Uông Tinh Vệ là một lãnh tụ Trung Hoa Quốc Dân Đảng ly khai.

Các nước Tây Phương thì không còn thái độ lăng nhục người Trung Hoa một cách quá đáng như trước. Đặc biệt, Hoa Kỳ đã đưa ra chủ trương tôn trọng chủ quyền, nền độc lập và sự toàn vẹn của lãnh thổ Trung Quốc với điều kiện là Trung Quốc mở cửa giao thương với tất cả các nước. Tuy nhiên, các nước Tây Phương, kể cả Hoa Kỳ, đều không có thiện cảm với chánh quyền cách mạng của ông Tôn Văn và của những người kế vị ông. Họ đã giao thiệp với Chánh Phủ Hoa Bắc vì chánh phủ này có một chánh sách thích hợp hơn với quyền lợi họ. Chỉ đến khi Trung Quốc được thống nhứt, các nước Tây Phương mới giao thiệp với chánh quyền do những người kế vị Ông Tôn Văn lãnh đạo. Tuy có ủng hộ Trung Quốc khi Trung Quốc bị người Nhựt xâm lấn, họ chỉ giúp đỡ người Trung Hoa một cách tích cực sau khi người Nhựt khai chiến với họ năm 1941.

Riêng Liên Sô thì khi mới thiết lập chế độ cộng sản năm 1917 đã bị các cường quốc khác tẩy chay và bị cô lập trên trường quốc tế. Do đó, các nhà lãnh đạo cộng sản Nga đã bắt tay với chánh quyền Trung Hoa Dân Quốc ở Hoa Nam và đã giúp chánh quyền này xây dựng một lực lượng quân sự tân tiến. Năm 1927, chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc dưới quyền Ông Tưởng Giới Thạch đã không còn hợp tác với cộng sản và do đó mà chấm dứt chánh sách thân hữu với Liên Sô. Tuy vậy, khi người Nhựt xâm lấn Trung Quốc, Liên Sô đã ủng hộ Trung Quốc và có giúp người Trung Hoa chống lại cuộc xâm lấn này, nhứt là qua ngả Trung Cộng.

2. Quan điểm sơ khởi của Kim Dung về các vấn đề chánh trị.

Tình thế Trung Hoa từ lúc Dân Quốc mới thành lập cho đến khi Thế Chiến II chấm dứt đã có ảnh hướng đến quan điểm sơ khởi của Kim Dung về các vấn đề chánh trị. Lúc bé, hẳn là ông đã biết rằng trước đó, người Trung Hoa đã bị người Mãn Châu cai trị và người thuộc các dân tộc Tây Phương và Nhựt lấn hiếp lăng nhục. Lớn lên, ông đã chứng kiến việc người Nhựt chiếm đóng một phần lãnh thổ Trung Quốc và sát hại người Trung Hoa, cũng như việc người Tây Phương áp dụng một chánh sách ích kỷ có lợi riêng cho họ mà bất lợi cho Trung Quốc. Những điều này chắc chắn đã kích thích tinh thần dân tộc của Kim Dung và làm cho ông thù ghét người ngoại quốc, đặc biệt là người Nhựt và người các nước Tây Phương.

Với tinh thần đó, dĩ nhiên là Kim Dung tôn sùng nhà lãnh đạo cách mạng Tôn Văn. Bởi vậy, ông đã mô tả nhà lãnh đạo này dưới hình ảnh đáng tôn quí của vị đệ nhứt bá võ lâm Trung Thần Thông. Các chánh khách về phía Quốc Gia nhưng chống chọi lại Ông Tôn Văn hẳn là không được Kim Dung ưa thích. Nhưng ngay đến những người kế vị cho Ông Tôn Văn cũng đã làm cho Kim Dung thất vọng vì họ đã tranh giành quyền bính và xung đột với nhau, lại tỏ ra độc tài và có người còn rất tham nhũng. Đã vậy, một số trong những người kế vị ông Tôn Văn về sau còn hợp tác với người Nhựt đương xâm lấn Trung Quốc. Ác cảm đối với các chánh khách Trung Hoa phía Quốc Gia đã làm cho Kim Dung thiên về Trung Cộng lúc ấy không bị hủ hóa vì chánh quyền và có một chánh sách chống Nhựt dứt khoát.

Mặt khác, Kim Dung cũng có cảm tình với Liên sỏ. Trong thời kỳ giữa hai trận Thế Chiến, nước này vẫn còn giữ được hào quang và huyền thoại của một quốc gia chủ trương một cuộc cách mạng giải phóng người vô sản và dân các nước bị đô hộ nên đã lôi cuốn được theo mình nhiều thanh niên trí thức ở các nước. Riêng Kim Dung lại còn dễ thân Liên Sô hơn vì đó là quốc gia duy nhứt đã tận lực giúp ông Tôn Văn xây dựng lực lượng của ông. Về sau, Liên Sô đã chống lại chánh quyền Tưởng Giới Thạch, nhưng rồi lại giúp đỡ Trung Quốc đương đầu lại Nhựt ngay từ lúc Nhựt mới xua quân chiếm đóng lãnh thổ Trung Quốc, mặc dầu sự giúp đỡ này có tánh cách hạn chế và thường qua ngả Trung Cộng.

Cho đến thập niên 1950, Kim Dung vẫn còn giữ quan điểm sơ khởi của mình. Bởi đó, lúc đầu, ông đã mô tả Đông Tà tượng trưng cho nước Nhựt và nhứt là Tây Độc tượng trưng cho các nước Tây Phương, đặc biệt là các nước Tây Âu, dưới những hình ảnh rất tệ hại. Trong khi đó, dưới ngòi bút của ông, Bắc Cái tượng trưng cho Liên Sô và Quách Tĩnh biểu tượng cho ông Mao Trạch Đông đã hiện ra như là những cao thủ võ lâm rất đáng tôn trọng.

B. SỰ THAY ĐỔI TRONG QUAN ĐIỂM CỦA KIM DUNG VỀ CÁC VẤN ĐỀ CHÁNH TRỊ.

1. Lý do của sự thay đổi trong quan điểm của Kim Dung.

Từ khi rời lục địa Trung Hoa ra ở Hongkong, Kim Dung đã sống trong một xã hội đặt dưới sự quản trị của người Anh theo chế độ tự do dân chủ. Tuy người Hongkong chỉ là thuộc dân và không được hưởng tất cả các quyền của người công dân một nước dân chủ tự do, chánh quyền Anh cũng đã công nhận cho họ một số quyền tự do tối thiểu. Với tư cách là người dân Hongkong, Kim Dung đã được hưởng các quyền lợi của một người dân sống trong chế độ tự do. Đồng thời, ông cũng đã có dịp quan sát những việc đã xảy ra trên thế giới. Trong hai thập niên 1950 và 1960, đã có những biến cố quan trọng xảy ra về phía Liên Sô và Trung Cộng.

Liên Sô đã dùng quân lực đàn áp các phong trào nhơn dân ở các nước chư hầu, như phong trào thợ thuyền đòi cải thiện đời sống ở Đông Đức năm 1933, phong trào người Hung đòi tách khỏi khối Minh Ước Warsaw năm 1956, phong trào người Ba Lan đòi cải thiện đời sống rồi chống lại sự có mặt của Nga năm 1956 và năm 1968, phong trào đòi tự do hóa chế độ của người Tiệp Khắc năm 1968.

Phần Trung Cộng thì trong năm 1959, họ đã dùng võ lực đàn áp người Tây Tạng chống lại chế độ cộng sản và giải tán Chánh Phủ Tây Tạng làm cho Đức Đạt Lại Lạt Ma cầm đầu chánh phủ này phải chạy sang Ấn Độ xin tỵ nạn chính tri trong khi đất Tây Tạng không còn được giữ qui chế một thuộc quốc mà bị sáp nhập hẳn vào bản đồ Trung Quốc với tư cách là một Khu Tự Trị. Mặc dầu Chánh Phủ Ấn Độ không nhìn nhận Chánh Phủ Tây Tạng lưu vong do Đức Đạt Lại Lạt Ma cầm đầu, Trung Cộng đã có những cuộc xung đột với Ấn Độ ở biên giới. Đến năm 1962, Trung Cộng lại cho quân vượt sang Ấn Độ chiếm một phần đất của nước này trong hơn một tháng rồi mới rút lui.

Về mặt nội bộ, năm 1957, chánh quyền Trung Cộng đã tung ra phong trào Trăm Hoa Đua Nở cho nhơn dân được phát biểu ý kiến tự do. Nhưng khi thấy phần lớn các ý kiến được phát biểu có tính cách chống lại chủ nghĩa và chế độ cộng sản, họ lại đàn áp những người đã chỉ trích Cộng Sản một cách mạnh mẽ. Để chứng tỏ là họ không hề lầm lạc, họ đã bảo rằng họ đã tung ra phong trào Trăm Hoa Đua Nở để gạt cho những kẻ thù của chế độ lộ diện hầu có thể trừng trị những kẻ thù này.

Trong khi đó, bên trong Đảng Trung Cộng lại có cuộc tranh quyền giữa các nhà lãnh đạo. Năm 1959, ông Lưu Thiếu Kỳ được bầu làm Chủ Tịch Nhà Nước và nắm trọn quyền điều khiển công việc của Chánh Phủ và của Đảng, phần ông Mao Trạch Đông thì chỉ còn giữ chức Chủ Tịch Đảng và thật sự bị dồn vào thế vô quyền. Năm 1965, ông Mao Trạch Đông đã phản công với chiến dịch Cách MạngVăn Hóa và dùng Vệ Binh Đỏ đễ cướp lại chánh quyền, ông Lưu Thiếu Kỳ đã bị bắt giam năm 1968 và chết trong ngục năm sau đó. Vợ Ông Mao Trạch Đông là Bà Giang Thanh đã đóng một vai tuồng tích cực trong việc chống lại Ông Lưu Thiếu Kỳ nên đã có một thế lực mạnh sau khi ông này bị lật đổ.

Giữa Trung Cộng và Liên Sô thì đã bắt đầu có sự bất đồng ý kiến từ năm 1956 với việc hạ bệ Ông Stalin. Sau đó, lại có nhiều điểm bất đồng ý kiến khác. Lúc khởi thủy, cả Liên Sô lẫn Trung Cộng đều còn cố gắng giấu kín sự xung đột giữa hai bên. Nhưng từ năm 1959, với việc Liên Sô đứng về phía Ấn Độ trong vụ xung đột giữa Trung Cộng với Ấn Độ, sự bất hoà đã lần lần được bộc lộ rõ rệt. Sang đến năm 1960 thì Liên Sô với Trung Cộng đã trở thành thật sự thù nghịch nhau sau khi Liên Sô đơn phương rút các chuyên viên Nga mà họ đã gởi sang giúp Trung Cộng xây dựng một nền kỹ nghệ tân tiến.

Các việc trên đây hẳn đã làm cho Kim Dung có một cái nhìn mới về các vấn đề chánh trị căn bản. Ông đã thấy rằng dân tộc Trung Hoa bị các nước vũ nhục và xâm lấn lúc suy nhược đã theo chánh sách lấn hiếp các dân tộc khác khi trở thành hùng cường hơn. Mặt khác, ông đã nhận chân rằng Đảng Cộng Sản Liên Sô cũng như Trung Cộng không phải lo phục vụ đại chúng như ông đã nghĩ. Khi nắm chánh quyền, các đảng ấy đã không ngần ngại dùng võ lực đàn áp nhơn dân nước mình và nước khác.

2. Quan điểm mới của Kim Dung.

Có lẽ nếp sống tự do mà ông được hưởng ở Hongkong và các nhận xét về hành động của Liên Sô và Trung Cộng trong hai thập niên 1950 và 1960 đã làm cho Kim Dung điều chỉnh lại quan điểm của mình. Sự thù ghét các dân tộc Tây Phương mà ông cho là những dân tộc có tinh thần đế quốc và tàn bạo đã dịu lần và ông đã xem các dân tộc đều như nhau. Ổng đã biểu lộ sự thay đổi quan điểm này với việc mô tả Đông Tà và Tây Độc trong bộ THẦN ĐIÊU ĐẠI HIỆP. Trong tác phẩm này, hai nhân vật đó đã già và dưới ngòi bút của Kim Dung, Tây Độc không còn phải là một người tê hại đáng bị khinh ghét, trong khi Đông Tà đã hiện ra như một người khả ái. Riêng Dương Quá tượng trưng cho Hoa Kỳ lại được Kim Dung mô tả như là một nhơn vật tốt và đáng tôn trọng.

Mặt khác, Kim Dung không còn thiên tả như trước. Tuy vẫn không ưa các nhà lãnh tụ hữu phái độc tài và tham nhũng mà ông mô tả qua hình ảnh của Tả Lãnh Thiền và Nhạc Bất Quần, ông cũng đã biểu lộ sự chỉ trích Trung Cộng và các lãnh tụ của Đảng này trong câu chuyện của Triêu Dương Thần Giáo và Thần Long Giáo với các vị Giáo Chủ Nhậm Ngã Hành, Đông Phương Bất Bại và Hồng An Thông.

C. CÁC Ý TƯỞNG MỚI VÀ CÁC MƠ ƯỚC CỦA KIM DUNG VỀ CHÁNH TRỊ.

1. Các ý tưởng mới của Kim Dung về con ngưòi và về đời sống chánh trị.

Cùng với việc thay đổi quan điểm của mình về chủ trương dân tộc và về lý tưởng chánh trị, Kim Dung cũng đã qua sự nghiên cứu các học thuyết và sự quan sát chánh trường thực tế mà có những ý tưởng mới về con người và về đời sống chánh trị.

a. Nhận định về tánh cách không hoàn thiện của con người và của các đoàn thể do con người thành lập.

Theo một số triết gia và người sáng lập các học thuyết chánh trị như Mạnh Tử, Jean Jacques Rousseau và Karl Marx thì con người bẩm sinh tốt, chỉ vì xã hội xấu nên người mới bị ảnh hưởng của xã hội mà trở thành xấu. Các triết gia và người sáng lập học thuyết chánh trị kể trên đây cho rằng nếu xây dựng được một xã hội tốt, ta có thể giáo dục cho mọi người trở thành hoàn thiện được. Kim Dung lúc đầu có thể đã tin theo các thuyết trên đây. Nhưng sau Thế Chiến II, một lãnh tụ cộng sản Nam Tư là Milovan Djiias sau khi đã nhận chân sự thật về xã hội cộng sản ở Liên Sô và ở chính nước ông, đã nêu ra ý kiến là con người vốn không hoàn thiện nên không thể xây dựng một xã hội hoàn thiện được. Có lẽ nhờ đọc các tác phẩm của Milovan Djilas hoặc nhờ nghiên cứu kỹ lưỡng sự tích các nhơn vật chánh trị trong quá khứ và theo dõi hành động của các nhơn vật chánh trị trong hiện tại, Kim Dung đã lần lần nhận chân rằng con người vốn không phải bẩm sinh tốt và chắc chắn có thể nhờ sự giáo dục mà trở thành hoàn thiện.

Theo ý tưởng mới của Kim Dung thì trong thực tế, con người hoàn thiện rất hiếm có, ngay cả đối với những kẻ đã được đặt trong một khung cảnh tốt từ lúc mới sanh ra. Nói chung lại thì tuyệt đại đa số loài người đều có tật xấu chung với đức tốt. Dưới lăng kính của một người quan sát tinh tế, những người được ca ngợi là anh hùng hào kiệt thật ra cũng có những nhược điểm nhiều khi rất lớn. Nhưng mặt khác, con người cũng không phải bẩm sinh xấu như một số triết gia và người sáng lập học thuyết chánh trị lối Tuân Tử và Machiavel đã nghĩ. Bởi đó, những người mà dư luận cho là xấu xa cũng có thể có một vài điểm tốt.

Với các nhận định như trên, Kim Dung đã đưa ra một ý tưởng mới về các vĩ nhơn. Ý tướng đó đã biểu lộ trong cách ông mô tả Vi Tiểu Bảo. Nhơn vật này không phải có những tài đức siêu việt như các vị anh hùng hào kiệt làm nhơn vật chánh yếu cho một tác phẩm võ hiệp. Đó chỉ là một con người xuất thân chốn ti tiện và có một tác phong rất tầm thường, chỉ nhờ có vài điểm tốt mà gây được cảm tình và sự mến phục của nhiều người.

Nếu con người không hoàn thiện mà cũng không phải hoàn toàn xấu thì các đoàn thể do con người thành lập cũng khó có tánh cách hoàn thiện được, nhưng cũng không phải hoàn toàn xấu. Bởi đó, khi đã có ý tưởng mới về con người, Kim Dung đã không còn phân các đoàn thể làm hai loại tốt và xấu một cách tuyệt đối, mà cho rằng trong đoàn thể được gọi là tốt cũng có người xấu, và trong đoàn thể bị cho là xấu cũng có người tốt. Ý kiến này đã được biểu lộ rõ rệt trong cách Kim Dung mô tả các môn phái trong các bộ truyện võ hiệp của ông. Các chánh phái thật sự như phái Toàn Chân và phái Võ Đương đều có những người tệ hại như Triệu Chí Kinh, Doãn Chi Binh, Tống Thanh Thư. Ngay đến như chùa Thiếu Lâm kỷ luật nghiêm minh, thanh danh lừng lẫy cũng có những nhà sư đầy tham sân si, và một cao tăng đã làm đến Phương Trượng chùa Thiếu Lâm là Huyền Tử Đại Sư lại có mối tình vụng trộm với một thiếu nữ và có đứa con tư sinh là Hư Trúc. Trái lại, đoàn thể bị xem là Ma Giáo như Triêu Dương Thần Giáo cũng có những người tốt như Khúc Dương và Hướng Vấn Thiên.

b. Chủ trương cởi mở khoan dung và phản giáo điều.

1) Khi đã nhận chân rằng con người vốn không hoàn thiện còn các đoàn thể đều có người tốt và người xấu thì kết luận dĩ nhiên là người phải có tinh thần cới mở và có sự khoan dung đối với nhau thay vì tự cho là riêng mình hay đoàn thể mình là có lý và phục vụ đúng chánh nghĩa, còn người khác hay đoàn thể khác thì sai quấy và theo tà đạo, rồi nhứt quyết chế ngự hay tàn sát người khác hay đoàn thể khác, không cho họ có thể chung sống ngang hàng với mình.

Cái đẹp của thái độ cởi mở và khoan dụng đã được Kim Dung nêu ra qua nhơn vật Lịnh Hồ Xung, ông này đã được thầy dạy theo tinh thần giáo điều đề cao các chánh phái nói chung, phái Hoa Sơn nói riêng và đặc biệt hơn là phe Khí Tông của phái Hoa Sơn, đồng thời thù ghét và miệt thị các tà phái, đặc biệt là Triêu Dương Thần Giáo bị gọi là Ma Giáo. Nhưng ngay từ lúc còn được thầy thương yêu và tin cậy, Lịnh Hồ Xung đã có những thắc mắc về cái chánh nghĩa tuyệt đối của môn phái mình và sự sai quấy tuyệt đối của giới hắc đạo và Ma Giáo. Vì vậy, ông đã có những hành động không đưọc thầy tán thành. Sau đó, ông càng ngày càng xa lập trường của thầy. Vì kết bạn với những người không thuộc các đoàn thể tự cho mình là chánh phái, ông đã bị các đoàn thể này lên án. Nhưng cuối cùng, thái độ cởi mở khoan dung của ông đã làm cho phần lớn các nhơn vật và đoàn thể thời ông ngưỡng mộ.

2) Sự cởi mở và khoan dung vốn chống lại tinh thần giáo điều, và tinh thần này không phải chỉ được xây dựng trên lập luận và thái độ đối với người và đoàn thể khác. Nó còn thể hiện qua phương pháp làm việc. Dưới quyền lãnh đao của Nhạc Bất Quần, các đệ tử của phái Hoa Sơn đã được dạy để luyện tập kiếm pháp theo những nguyên tắc cứng rắn. Họ phải học đúng theo chiêu thức mà môn phái đã sáng tác. Mỗi cái giơ tay cất chơn mà sai trật pháp độ một chút là đã bị đính chánh tức khắc để cho chiêu thức nào cũng được diễn ra một cách tận thiện tận mỹ, không mảy may sai trật.

Lối luyện tập và tranh đấu như vậy có thể đưa đến một số kết quả tốt khi gặp những kẻ võ công tầm thường. Nhưng gặp kẻ võ công cao siêu thì người sử dụng các chiêu thức một cách cứng ngắc như vậy khó nắm phần thắng lợi vì đối thủ của họ sau khi đã biết đúng chiêu thức của họ có thể nghĩ ra cách phá chiêu thức đó và đánh bại họ. Các nhà lãnh đạo năm kiếm phái của năm hòn núi lớn đã tốn rất nhiều tâm tư đểnghiên cứu các chiêu thức kỳ diệu mà họ cố giấu kín, chỉ truyền dạy cho môn đồ mình. Nhưng khi họ hoặc các đệ tử của họ đem các chiêu thức đó ra sử dụng thi lần lần nó được các cao thủ võ lâm thuộc môn phái khác biết rõ. Bởi vậy, các trưởng lão của Triêu Dương Thần Giáo đã nghiên cứu được các chiêu thức của họ và đã nghĩ ra được cách phá giải tất cả các chiêu thức đó.

Muốn cho đối thủ không thể thắng được mình, một cao thủ võ lâm phải phóng tâm hơn và không tự buộc mình một cách quá chặt chẽ vào chiêu thức đã học. Kim Dung đã nêu rõ nguyên tắc này với khẩu hiệu bóng bẩy “vô chiêu thắng hữu chiêu”. Điều này hàm ý rằng người luyện tập võ nghệ phải biết linh động trong việc ứng phó với địch thủ. Muốn được như vậy, người cao thủ võ lâm phải có can đảm vượt ra ngoài khuôn khổ của môn phái mình nếu môn phái này có tinh thần quá bó buộc hay hẹp hòi. Trong các tác phẩm của Kim Dung, các nhơn vật chánh yếu có võ công siêu tuyệt đều là những người đã học nhiều môn võ của các môn phái khác nhau và đã tổng hợp các tri thức mình đã thâu hoạch được. Khi sự tổng hợp đã đến mức siêu tuyệt rồi thì các thế đánh đều tan biến vào trong một tổng thể duy nhứt chớ không còn là những bộ phận rời rạc. Cao thủ võ lâm đã đi đến mức đó rồi thì chiến đấu một cách tự nhiên, nhưng có thể chế ngự địch thủ của mình dầu địch thủ đó có bao nhiêu ngón đòn cũng vậy.

Nguyên lý trên đây đã được Kim Dung nêu ra khi nói đến việc Trương Tam Phong, Tổ Sư phái Võ Đương, truyền Thái Cực Kiếm Pháp cho Trương Vô Kỵ. Người thụ huấn phải học các thế kiếm trước, nhưng sau đó, phải đạt được kiếm ý, mà muốn đạt được kiếm ý thì phải quên các thế kiếm đã học. Bởi đó, cao thủ võ lâm càng quên các thế kiếm thì càng thâu hoạch được sự thuần túy của pho kiếm mình học.

3) Các nguyên tắc trong việc luyện tập và sử dụng võ nghệ dĩ nhiên là cũng có thể áp dụng trong trường chánh trị. Người hoạt động chánh trị phải dựa vào một số nguyên tắc trong sự làm việc của mình. Bởi đó, họ phải nghiên cứu các chủ nghĩa chánh trị để hiểu biết nó. Họ có thể nghiêng về một chủ nghĩa nào đó. Nhưng nếu họ cuồng tín nơi một chủ nghĩa và chỉ biết có nó, hoặc cho nó là cao siêu hơn hết rồi nhứt định áp dụng nó cho bằng được đến mức sẵn sàng trừ diệt hết những người theo chủ nghĩa khác thì họ mắc phải bịnh giáo điều. Họ sẽ không thể thành công như ý muốn, hoặc có thành công thì cũng chỉ gây khổ sở cho nhơn dân dưới quyền thống trị của họ chớ không phải phục vụ nhơn dân, làm cho nhơn dân hạnh phúc như lý tưởng mà chủ nghĩa của họ đã nêu ra. Muốn thật sự thành công trong việc quản trị và xây dựng quốc gia, người hoạt động chánh trị phải có tinh thần cởi mở và khoan dung, sẵn sàng tiếp nhận các tư tưởng, các phương pháp làm việc khác hơn tư tưởng và phương pháp cố hữu của mình hay của đoàn thể mình.

Trường hợp Cộng sản là một trường hợp điển hình trong thế giới hiện tại. Giáo Tổ của chủ nghĩa cộng sản là Karl Marx thấy người vô sản thời ông bị bóc lột thẳng tay và rất khổ sở nên đưa ra một hệ thống tư tưởng hướng đến việc lật đổ chế độ tư bản và đưa vô sản lên nắm chánh quyền. Cứu cánh của chủ nghĩa cộng sản là một xã hội không giai cấp, không có cảnh người bóc lột người, một thiên đường ở chốn thế gian này. Tư tưởng của Marx tự nó đã có chứa đựng nguyên tắc giáo điều rồi, vì nó hướng đến việc tiêu diệt tất cả những gì trái với chế độ và chủ trương cộng sản. Lenin đã làm cho nguyên tắc giáo điều này càng cứng rắn hơn với các phương pháp ông nêu ra để tổ chức một chánh đảng tranh đấu cho việc thực hiện lý tưởng cộng sản. Lúc chưa nắm đựợc chánh quyền, các Đảng Cộng sản ở các nước được nhiều người trong một quốc gia hoan nghinh, vì tưởng là nó sẽ đem hạnh phúc đến cho mình. Nhưng khi Cộng sản cầm quyền ở một nước, chánh sách giáo điều của họ đã làm cho nền kinh tế không phát triển nổi và nhơn dân hết sức khổ cực. Rốt cuộc, ở các nước bị Cộng sản cai trị, sự phân chia giai cấp và bóc lột chẳng những không chấm dứt mà các đảng viên cộng sản lại còn trở thành một giai cấp mới bóc lột nhơn dân còn tàn nhẫn hơn các chế độ khác mà người cộng sản bài xích.

Ở một số nước cộng sản hiện nay, một số nhà lãnh đạo đã nhận thấy tình trạng đó và có chủ trương cải biến bằng cách thâu nhận một số nguyên tắc và phương pháp làm việc của các nước theo chế độ dân chủ tự do bị cho là tư bản. Những người chủ trương cải biến này nếu nắm được địa vị then chốt thì đã có thâu hoạch được một số kết quả khá tốt. Nhưng họ đã gặp sự chống báng của những người bám vào giáo điều cộng sản nhấn mạnh trên những khuyết điểm hay tai hại không tránh được mà sự cải biến mang đến để đòi hỏi phải duy trì nguyên vẹn chế độ cộng sản đã được xây dựng. Do đó, sự xung đột nội bộ bên trong các Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước trở thành trầm trọng và điều này dĩ nhiên là hạn chế các sự cải biến cần thiết để cho xã hội cộng sản có thể cải thiện được và đời sống nhơn dân được thanh thản hơn.

2. Các mơ ước lớn của Kim Dung về chánh trị: sự hoà giải hòa hợp giữa các phe phái và các dân tộc.

Từ những nhận định đưa đến một quan điểm và một số ý tưởng mới của mình, Kim Dung đã xây dựng những mơ ước lớn về chánh trị cho dân tộc Trung Hoa và cả nhơn loại.

a. Mơ ước của Kim Dung về dân tộc Trung Hoa.

Cũng như mọi người ái quốc, Kim Dung chắc chắn là rất đau lòng trước sự phân hóa của dân tộc Trung Hoa do cuộc xung đột Quốc-Cộng mà ra. Từ khi đã nhận chân rằng Trung Cộng cũng có những khuyết điểm lớn và những nhơn vật không tốt, trong khi phía đoàn thể quốc gia Trung Hoa, nhứt là Trung Hoa Quốc Dân Đảng, cũng có những chỗ hay và những nhơn vật tốt, Kim Dung có ước vọng muốn thấy hai phe Quốc-Cộng hòa giải hòa hợp với nhau để cùng nhau xây dựng quốc gia.

1) Mơ ước hòa giải hòa hợp giữa người quốc gia và người cộng sản Trung Hoa đã được Kim Dung nêu ra trong bộ CÔ GÁI ĐỒ LONG. Nhơn vật chánh yếu của bộ truyện võ hiệp này là Trương Vô Kỵ đã thực hiện sự hòa giải và hòa hợp giữa hai phe đã từng thù nghịch nhau và chống chọi nhau mãnh liệt: một bên là các môn phái tự xưng là chánh phái thể hiện cho phía Quốc Gia Trung Hoa, một bên là Minh Giáo bị phe chánh phái cho là Ma Giáo và tượng trưng cho Trung Cộng. Sự hòa giải hòa hợp này đã thực hiện được một phần nhờ thân thế, tài năng, đức độ và chủ trương của Trương Vô Kỵ. Ông có mối liên hệ thân thuộc với cả hai phe lại là người võ công siêu tuyệt, đồng thời không mảy may nghĩ đến tư lợi và quyết tâm thực hiện sự hòa giải hòa hợp giữa hai bên. Ngoài ra, lại còn một điều kiện khách quan giúp ông thực hiện nguyện vọng của ông: đó là nhu cầu kết hợp mọi người thuộc Hán tộc để tự giải phóng khỏi ách thống trị của người Mông Cổ.

Sự thành công của Trương Vô Kỵ đòi hỏi một số điều kiện khó họp tập được cả. Nhưng trong thực tế, Trung Quốc đã từng họp tập được các điều kiện đó trước năm 1945. Thời Ông Tôn Văn còn sống, uy tín và đức độ của ông đã đủ để làm cho hai Đảng Trung Hoa Quốc Dân và Trung Cộng hợp tác nhau để đối phó với các nước đương uy hiếp Trung Hoa. Sau khi ông chết, hai đảng ấy đã chống chọi nhau, nhưng đến lúc người Nhựt xâm lấn Trung Quốc, họ lại hợp tác với nhau trở lại trong một mặt trận kháng Nhựt. Tuy nhiên, trong bộ CÔ GÁI ĐỒ LONG, Trương Vô Kỵ đã không nắm quyền lãnh đạo Minh Giáo cho đến lúc toàn thắng người Mông Cổ và làm người sáng lập của một triều đại mới. Sự rút lui của ông đã phần nào biểu lộ sự thất vọng của Kim Dung về chỗ sự hòa giải hòa hợp giữa hai phe Quốc-Cộng ở Trung Hoa không kéo dài được sau khi nước Nhựt đã đầu hàng các nước đồng minh.

2) Ngoài bộ CÔ GÁI ĐỒ LONG, bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ cũng biểu lộ mơ ước của Kim Dung thấy hai phe Quốc-Cộng ở Trung Hoa hòa giải hoà hợp với nhau. Trong bộ truyện võ hiệp sau này, các chánh phái thể hiện cho các đoàn thể quốc gia, với phái Hoa Sơn biểu tượng cho Trung Hoa Quốc Dân Đảng, trong khi Triêu Dương Thần Giáo là biểu tượng của Đảng Trung Cộng. Lưu Chánh Phong và Khúc Dương là những nhơn vật rẩt tốt và có tinh thần cởi mở khoan dung. Việc họ do lòng mê say âm nhạc mà kết bạn với nhau và cùng nhau sáng tác bản nhạc Tiếu Ngạo Giang Hồ biểu lộ cho mơ ước của Kim Dung là các nhơn vật tốt của hai phe Quốc và Cộng ở Trung Hoa có sự tôn trọng và thương mến nhau và thực hiện được sự hòa giải hòa hợp giữa hai bên. Nhưng Lưu Chánh Phong và Khúc Dương đã bị tinh thần giáo điều của các phe đối chọi nhau mà bị bức tử. Cái chết của họ biểu tượng cho sự thất bại của thế hệ các ông Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông trong việc thực hiện sự hòa giải hòa hợp giữa hai bên. Việc Nhậm Doanh Doanh vì yêu Lịnh Hồ Xung mà chấm dứt sự tranh chấp giữa Triêu Dương Thần Giáo với các chánh phái có thể xem như là sự thể hiện của giấc mơ mà Kim Dung ôm ấp, là sự hòa giải hòa hợp giữa hai bên Quốc-Cộng Trung Hoa sẽ thực hiện được với các thế hệ lãnh đạo sau này của hai bên. Lập trường của Kim Dung trong việc hòa giải hòa hợp giữa hai phe Quốc-Cộng Trung Hoa có thể nhận thấy một cách rõ ràng trong cốt chuyện của bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ. Trong cái chết của Lưu Chánh Phong và Khúc Dương, trách nhiệm lớn nhứt thuộc về phía các chánh phái. Chính Tả Lãnh Thiền với sự tán thành của phần lớn tác chánh phái đã cố tình sát hại hai nhân vật này. Nhưng trong việc hòa giải hòa hợp mà Kim Dung mong ước sẽ có, trách nhiệm lớn nhứt lại thuộc về phía Trung Cộng. Trong bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ, Nhậm Ngã Hành đã ngỏ ý chịu gả Nhậm Doanh Doanh cho Lịnh Hồ Xung lại mời Lịnh Hồ Xung làm Phó Giáo Chủ Triêu Dương Thần Giáo. Nhưng mặc dầu đã yêu Nhậm Doanh Doanh hết mực, Lịnh Hồ Xung đã cương quyết từ chối. Với sự kiện này, Kim Dung đã cho thấy rằng theo ông, sự hòa giải hòa hợp giữa hai phe Quốc-Cộng Trung Hoa không thể thực hiện được nếu Trung Cộng vẫn còn giữ nguyên tinh thần giáo điều và chế độ độc tài đảng trị.

Trong bộ TIẾU NGẠO GIANG HỒ, sự hòa giải hòa hợp giữa Triêu Dương Thần Giáo và các chánh phái chỉ thực hiện được nhờ Nhậm Ngã Hành đột nhiên chết trong khi mưu đồ tấn công các chánh phái ấy và được Nhậm Doanh Doanh thay thế ở chức vị Giáo Chủ Triêu Dương Thần Giáo. Vì mối tình với Lịnh Hồ Xung, Nhậm Doanh Doanh đã thay đổi hẳn chánh sách của giáo phái này và Hướng Vấn Thiên là người ké vị cho bà đã tiếp tục chánh sách hòa giải hòa hợp với các chánh phái. Kết cuộc như trên đây thật sự không được tự nhiên. Nhưng chúng ta có thể nghĩ rằng với lối kết cuộc đó, Kim Dung đã biểu lộ sự mơ ước của ông là một ngày nào đó, các nhà lãnh đạo Trung Cộng sẽ thay đổi hẳn chánh sách của Đảng mình để cho người Trung Hoa không theo chủ nghĩa cộng sản có thể hợp tác một cách chơn thành với họ mà xây dựng Trung Quốc.

3) Trong thực tế, giắc mơ của Kim Dung về sự thống nhứt người Trung Hoa sẽ có thể trở thành sự thật hay không? Hiện nay, chúng ta chưa có thể trả lời câu hỏi này một cách dứt khoát.

Các nhà lãnh đạo Trung Cộng đã có nhiều thay đổi trong chiều hướng cởi mớ khoan dung hơn. Họ đã chịu để cho người dân Trung Hoa tích cực hoạt động sản xuất được hưởng lợi nhiều hơn. Họ cũng đã khôi phục danh dự và quyền lợi các nhà trí thức đã bị bạc đãi và hiếp bức trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa. Họ lại bỏ chủ trương mạt sát tất cả những người không theo đúng đường lối của họ mà tỏ ra công bằng và khách quan hơn trong sự phê phán các nhơn vật lịch sử.

Một trong những trường hợp đáng lưu ý là trường hợp ông Trần Độc Tú. Ông này là một trong những người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Marx ở Trung Quốc và là một trong các sáng lập viên của Đảng Trung Cộng. Ông đã được bầu làm Tổng Thư Ký Trung Ương Thư Ký Xứ của Đảng này trong Đại Hội đầu tiên triệu tập năm 1921 và đã đóng vai tuồng lãnh đạo cho đến năm 1927 là năm ông bị Mao Trạch Động thay thế. Đến năm 1929, ông bị trục xuất khỏi Đảng Trung Cộng và bị kết án là phản bội. Nhưng hiện nay, các nhà lãnh đạo Trung Cộng đã công khai nhìn nhận rằng mặc dầu đã có những sai lầm, ông Trần Độc Tú đã có công trong việc nêu cao ngọn cờ dân chủ và khoa học ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ thứ 20.

Về phần ông Tưởng Giới Thạch, người đã chống lại Trung Cộng mãnh liệt từ năm 1927, mặc dầu có lúc đã cùng với Trung Cộng đứng chung trong mặt trận kháng Nhựt, thì Trung Cộng đã xem như là một kẻ thù và một người có tội lớn (tội với nhơn dân Trung Hoa. Nhưng hiện nay, các nhà lãnh đạo Trung Cộng cũng đã công khai nhìn nhận rằng ông Tưởng Giới Thạch đã có công trong việc kháng Nhựt để bảo vệ nền độc lập của Trung Quốc.

Tuy nhiên, đồng thời với những sự thay đổi trên đây, các nhà lãnh đạo Trung Cộng xác nhận rằng họ vẫn trung thành với bốn nguyên tắc: noi theo tư tưởng của Marx, Lenin và Mao Trạch Đông, duy trì chế độ xã hội chủ nghĩa, theo chánh sách nhơn dân chuyên chánh, và tôn trọng sự lãnh đạo của Đảng. Một số những nhà lãnh tụ và cán bộ của Đảng Trung Cộng đã dựa vào các nguyên tắc trên đây để chống chọi hay ít nhứt cũng để chỉ trích các sự thay đổi được đem ra áp dụng.

Những người quan sát chánh trường Trung Cộng có thể tự hỏi: trong tương lai, Trung Cộng sẽ trở về với chủ trương giáo điều cứng rắn trước đây và bãi bỏ các thay đổi đương có, hay sẽ duy trì các thay đổi này hoặc sẽ thay đổi nhiều hơn nữa trong chiều hướng cởi mở, khoan dung? Việc người Trung Hoa có thực hiện được sự hòa giải hòa hợp với nhau hay không tùy thuộc cách Trung Cộng trả lời cho câu hỏi trên đây. Sự hòa giải hòa hợp giữa hai phe Quốc-Cộng thể hiện bằng sự sáp nhập Đài Loan vào lãnh thổ Trung Hoa Nhơn Dân Cộng Hòa Quốc chỉ có thể có khi Trung Cộng nếu không thay đổi nhiều hơn nữa trong chiều hướng cởi mở khoan dung thì ít nhứt cũng duy trì các thay đổi đã có hiện nay.

Dầu thế nào thì việc hòa giải hòa hợp giữa hai phe Quốc-Cộng Trung Hoa cũng không thể thực hiện ngay trong lúc này, vì ông Tưởng Kinh Quốc và các nhà lãnh đạo Trung Hoa Quốc Dân Đảng hiện nay còn thuộc về một thế hệ không chấp nhận sự hòa giải hòa hợp với người cộng sản. Nếu ta lấy các nhơn vật trong các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung để thí dụ thì ta có thể nói rằng họ không phải thuộc thế hệ của Lịnh Hồ Xung mà thuộc thế hệ trước đó. Đối với những người sẽ kế vị các nhà lãnh đạo Trung Hoa Quốc Dân Đảng hiện tại để lãnh đạo đảo Đài Loan thì dầu có muốn hòa giải hòa hợp với Trung Cộng, họ cũng còn phải quan sát kỹ diễn tiến của chế độ Trung Cộng trong các thập niên sẽ tới.

Chánh sách của Trung Cộng đối với Hongkong trong tương lai sẽ là một yếu tố có tầm quan trọng quyết định cho người Trung Hoa ở Đài Loan. Như chúng tôi đã trình bày trên đây, theo hiệp ước đã ký giữa nước Anh với Trung Hoa Nhơn Dân Cộng Hòa Quốc thì đến năm 1997, Hongkong sẽ được sáp nhập vào lãnh thổ Trung Hoa, nhưng Chánh Phủ Trung Cộng đã cam kết là người dân Hongkong sẽ tiếp tục được hưởng một số quyền tự do, và chế độ kinh tế theo lối tư bản cũng như nếp sanh hoạt của người Hongkong sẽ được duy trì ít nhứt là 50 năm sau 1997. Việc duy trì chế độ kinh tế và nếp sanh hoạt của người Hongkong là điều cần thiết để cho đất Hongkong vẫn phồn thạnh và làm lợi cho Trung Quốc. Như vậy, Trung Cộng có nhiều lý do để giữ lời cam kết của mình. Nếu các nhà lãnh đạo Trung Cộng trong tương lai chống đỡ được áp lực của các phần tử trung thành với chủ nghĩa giáo điều, và để cho người Hongkong được huởng các quyền tự do căn bản, đồng thời duy trì được lề lối tổ chức kinh tế và nếp sanh hoạt hiện nay của họ, thì người Đài Loan sẽ có thể chấp nhận sự hòa giải hòa hợp với Trung Cộng một cách dễ dàng hơn. Nhưng điều này chỉ sẽ có thể xảy ra trong tương lai, sau năm 1997, nếu nó có xảy ra.

Dân tộc Trung Hoa vốn là một dân tộc đã chứng tỏ được tinh thần khoan dung của mình trong quá khứ với việc tìm cách dung hợp các lý tưởng chánh trị khác nhau. Khi mới thống nhứt Trung Quốc hồi thé kỷ thứ ba tr. C.N., nhà Tần đã áp dụng một chánh sách khắc nghiệt và chỉ tôn thờ học thuyết của Pháp Gia. Nhưng chính vì đó mà chỉ một thời gian ngắn, triều đại này đã sụp đổ. Nhà Hán kế tiếp theo đó đã dung hợp tư tưởng của Pháp Gia với tư tưởng các học phái khác, đặc biệt là tư tưởng Nho Gia vốn chống chọi lại tư tưởng Pháp Gia. Ta có thể so sánh thời kỳ ông Mao Trạch Đông cầm quyền với thời kỳ nhà Tần ngự trị, và xem các cải bién của các nhà lãnh đạo hiện tại như là các cải biến đã thực hiện vào đầu đời nhà Hán. Nếu nó duy trì được thì các nhà lãnh đạo Trung Cộng hiện nay sẽ chứng tỏ được là họ đã rút được những bài học hữu ích trong chính lịch sử dân tộc họ, thay vì nhắm mắt đi theo một chủ nghĩa ngoại lai. Và như vậy thì những người có cảm tình với Kim Dung chỉ còn ước mong rằng ông sẽ còn sống đến sau năm 1997, cho đến ngày ông thấy giấc mơ của ông được thực hiện. Dầu sao thì việc các nhà lãnh đạo của hai phe Quốc-Cộng Trung Hoa hiện nay đều đã cho phép nhơn dân dưới quyền họ được đọc các tác phẩm của ông cũng cho phép ông có nhiều hy vọng về vấn đề này.

b. Mơ ước của Kim Dung về sự hòa bình trong nhơn loại

Ngoài mơ ước thấy người quốc gia và người cộng sản Trung Hoa hòa giải hòa hạp với nhau, Kim Dung còn mong mỏi được thấy sự hòa giải hòa hợp giữa các dân tộc trên thế giới. Có lẽ ông là một trong những người đã đặt rất nhiều kỳ vọng nơi tiến trình giảm bớt căng thẳng giữa các đại cường trong thập niên 1970. Lập trường của ông đã biểu lộ qua việc ông mô tả cái chết của Bắc Cái, biểu tượng cho Liên Sô và Tây Độc, biểu tượng cho các nước Tây Phương trong bộ THẦN ĐIÊU ĐẠI HIỆP. Hai nhơn vật này có lập trường và tâm tánh xung khắc nhau và đã chống chọi nhau từ lúc còn trẻ. Mỗi người đều cố rèn luyện thêm tuyệt nghệ của mình để hơn đối thủ. Nhưng đến lúc đã già, họ lại tỏ ra có sự tôn trọng và phần nào mến phục lẫn nhau, vì nhận chân rằng mình không hơn được đối thủ. Tuy vẫn còn tranh đấu với nhau, họ đã không còn sự thù hằn nhau, và cuối cùng, đã ôm nhau và cười mà cùng chết với nhau. Với hình ảnh này, Kim Dung đã có ý bảo rằng hai Khối Cộng sản và Tây Phương không bên nào có thể thắng được đối phương và hay nhứt là nên chấp nhận sự sống chung hòa bình với nhau.

Về sự hòa giải hòa hợp giữa các dận tộc nói chung thì thông điệp của Kim Dung đã được gói ghém trong hai bộ THIÊN LONG BÁT BỘ và LỤC MẠCH THẦN KIẾM. Chúng ta đã nhận thấy trong đó việc nhóm người Đại Lý do Đoàn Dự lãnh đạo hợp tác với người Hán và người Nữ Chân để ủng hộ Tiêu Phong, một người Khiết Đan có mối thâm tình với người Hán, trong công việc ngăn cản nhà vua nước Đại Liêu thuộc tộc Khiết Đan muốn gây cuộc chiến tranh xâm lược với nước Đại Tống của người Hán. Họ đã thành công. Nhưng muốn đạt mục đích, Tiêu Phong đã phải uy hiếp nhà vua của nước mình và đã phải tự sát để đền tội. Cái chết bi tráng của nhơn vật khả kính và khả ái này cho thấy rằng Kim Dung ý thức là việc xây dựng hòa bình giữa các dân tộc rất khó khăn và sẽ không phải sẽ có thể đạt được gần đây. Nó đòi hỏi một cuộc tranh đấu kiên nhẫn và nhiều sự hy sinh của những người nuôi lý tưởng phục vụ hòa bình.

c. Tinh thần đại hùng, đại lực và đại từ bi của Phật Giáo đối với sự hòa giải hòa hợp hoàn toàn bên trong các dân tộc và sự hòa giải hòa hợp giữa các dân tộc đưa đến một nền hòa bình vững chắc cho loài người.

Ý kiến của Kim Dung xét qua các cốt chuyện của ông là sự hòa giải hòa hợp hoàn toàn bên trong các dân tộc và sự hòa giải hòa hợp giữa các dân tộc đưa đến môt nền hòa bình vững chắc cho loài người, chỉ có thể thực hiện được khi những người hoạt động chánh trị trên thế giới đều thật sự yêu thương người khác, và có đủ sức chế ngự các dục vọng của mình, để không bị lòng tham quyền lực danh vọng lôi cuốn vào con đường độc đoán và tàn ác. Cái đức tánh cần thiết trên đây đã được nhiều triết gia, nhiều học phái đạo đức nêu ra. Nhưng tự cổ chí kim và từ đông sang tây, không trường phái nào có những nhận định và chủ trương thích ứng bằng Phật Giáo về vấn đề này. Đó là vì Phật Giáo có những nguyên tắc căn bản đặc biệt khác với nguyên tắc của các giáo phái khác.

1) Giáo lý nhà Phật không kêu gọi con người phải nhắm mắt tin tưởng theo mình và tuyệt đối tuân hành mạng lịnh các giáo sĩ của môn phái mình để được cứu rổi hay được hưởng phước lành. Trái lại, nó dạy con người phải dựa vào mình trước nhứt và phải cố gắng để tự giải thoát lấy mình. Ngay đến pháp môn Tịnh Độ dạy người tu hành bằng cách niệm Phật cũng không phải là một lối giải thoát hoàn toàn nhờ tha lực, vì việc niệm Phật hàm ý là người tu theo pháp môn Tịnh Độ tự nguyện làm lành lánh dữ và giữ các giới cấm tối thiểu của người Phật tử. Sự tu hành theo Phật Giáo thuộc mọi tông phái đều đòi hỏi con người phải có sự đại hùng đại lực, tức là một sức mạnh tinh thần vững chắc và dồi dào.

Về mặt suy luận, tinh thần đại hùng đại lực mà Phật Giáo đòi hỏi nơi con người đưa đến sự tự do tư tưởng. Người theo Phật Giáo chơn chánh không để cho mình bi cột buộc vào bất cứ tín điều hay định kiến nào mà phải tự mình suy nghĩ để tìm chan lý. Trong bộ kinh Anguttara Nikaya tức là Tăng Nhứt Tập, có chép việc Đức Phật dạy ngưdi Kalama không nên nhắm mắt tin theo dư luận, truyền thống, kinh sách hay một bực đạo hạnh cao siêu mà mình nhận làm thầy, mà chỉ nên tin theo cái phải hay cái quấy mà chính tâm trí mình đã nhận thức được. Trong lịch sử nhơn loại, Đức Phật là vị Giáo Tổ duy nhất nhiều lần căn dặn các đệ tử mình không nên tin ngay tất cả những điều Ngài nói mà phải xét kỹ lại những lời nói của Ngài, chừng nào nhận thấy chắc chắn nó có giá trị thì mới tin theo.

2) Chẳng những tự mình theo đúng nguyên tắc tự do tư tưởng, người theo Phật Giáo chơn chánh còn tôn trọng sự tự do tư tưởng của người khác. Đức Phật đã dạy đệ tử phải đối xử với các giáo lý và giáo phái khác một cách khoan dung. Có lần người cầm đầu một môn phái khác sai đệ tử là Upali đến gặp Đức Phật để đấu lý về thuyết luân hồi. Sau khi thảo luận với Ngài, ông Upali thấy Ngài có lý hơn nên xin làm đệ tử của Ngài. Nhưng Đức Phật đã bảo: “Ông phải suy nghĩ cho thật chính đính về lời nói của tôi chớ không nên vội vã”. Khi thấy ông Upali thiết tha nài nĩ, Đức Phật yêu cầu ông đừng bỏ thầy cũ mà trái lại, phải cung kính phụ giúp người thầy này như trước. Câu chuyện này cho thấy rằng Phật Giáo dạy người phải mở rộng tâm hồn trí não để thông cảm với mọi giáo lý khác, vì chơn lý vốn hiện ra muôn mặt và mỗi học thuyết đều có chỗ sở đắc của nó. Người theo Phật Giáo chơn chánh phải phá trừ kiến chấp, tránh sự cuồng tín hẹp hòi.

3) Nhưng sự khoan dung của Phật Giáo không phải đưa đến sự tiêu cực thụ động trước những hành động tàn bạo của kẻ sai quấy. Tinh thần đại hùng đại lực của Phật Giáo chẳng những được dùng trong việc tự chiến thắng lấy mình để tìm chơn lý và theo chánh đạo, mà còn phải được dùng trong việc chế ngự các lực lượng ác hại. Tuy nhiên, trong sự đối phó với những kẻ sai quấy, tinh thần đại hùng đại lực của người theo Phật Giáo cần phải được hòa hợp với tinh thần đại từ bi. Người theo Phật Giáo chơn chánh dầu phải đứng vào thế đối kháng với một kẻ địch hung bạo, vẫn không nuôi lòng thù hận khinh ghét kẻ địch ấy, mà trái lại, có sự xót thương đối với một con người vì mê muội mà đi vào con đường lầm lạc. Thái độ của người theo Phật Giáo chơn chánh đối với kẻ địch chống lại mình cũng giống như thái độ của xã hội dân chủ tự do hiện nay đối với những kẻ phạm tội ác trong lúc điên cuồng. Tuy xã hội này vẫn phải chế tài hành động tội ác của người điên cuồng, nhưng sự chế tài của nó trong trường hợp này không hàm ý báo oán hay trừng phạt mà hàm ý xót thương và nâng đỡ kẻ phạm tội ác.

Vậy, mục đích chánh yếu của người theo Phật Giáo chơn chánh đối với một kẻ địch hung bạo không phải là quyết tâm trừ diệt kẻ địch ấy mà là cố gắng cảm hóa giác ngộ họ để lôi họ về con đường phải, dầu có phải buộc lòng sát hại họ vì công lợi thì cũng không nuôi lòng thù hận đối với họ. Theo giáo lý Phật Giáo, người phạm tội ác đến ngập đầu mà có lòng ăn năn sám hối một cách chơn thành thì phải được tha thứ, và người theo Phật Giáo cần phải cố gắng đưa những kẻ làm ác đến sự ăn năn sám hối chơn thành đó.

Kim Dung đã nêu rõ vấn đề này khi nói đến việc Pháp Đăng Đại Sư, nguyên là Đoàn Nam Đế , đã kiên nhẫn hết mực để lôi Từ Ân Đại Sư, nguyên là Bang Chủ Thiết Chưởng Bang, về con đường phải. Như chúng tôi đã trình bày trong Mục I, Chuơng I của sách này, Bang Chủ Thiết Chưởng Bang vốn được Kim Dung dùng để tượng trưng cho Quốc Xã Đức. Việc ông thành thật ăn năn và cuối cùng đã được bà Lưu Anh Cô tha thứ về tội đã sát hại đứa con nhỏ của bà biểu lộ quan niệm của Kim Dung về việc cải hóa những người theo chủ trương hung bạo. Ngoài Bang Chủ Thiết Chưởng Bang, trong các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung, còn nhiều cao thủ võ lâm khác đã hối cải và qui y Phật Pháp, từ bỏ giấc mộng tranh bá đồ vương, chấm dứt lòng thù hận đối với kẻ địch đã tàn hại mình hay thân thuộc mình và ăn năn sám hối về những hành động tàn ác của mình như Mộ Dung Bác, Tiêu Viễn Sơn, Tạ Tốn.

4) Trong tinh thần Phật Giáo, lòng đại từ bi hết sức cần thiết để cân lại sự đại hùng đại lực. Có đại hùng đạ lực mà thiếu đại từ bi thì con người dễ đi đến chỗ dùng sức mạnh của mình để hiếp đáp kẻ khác và do đó mà gây ra nhiều nghiệp chướng. Điều này đã được Kim Dung nói rõ qua lời dạy của vị sư già mặc áo xám trong chùa Thiếu Lâm. Theo vị sư này, chỉ có người có một sở học cao siêu về Phật Giáo và có đức từ bi hưng thạnh thì mới có thể luyện được nhiều môn võ công thượng thặng. Nếu Phật học không đủ mà tham lam luyện nhiều võ cộng thượng thặng thì bị bại hoại thân thể hay bị nội thương.

Người cầm quyền lãnh đạo một dân tộc vốn có nhiều sức mạnh trong tay. Nếu họ dùng sức mạnh đó để mưu đồ mỡ rộng thế lực hay lấn át dân tộc khác thì chẳng khác nào cố sự đại hùng đại lực mà thiếu đại từ bi. Hành động xâm lăng của họ chẳng những có hại cho dân tộc khác mà cuối cùng cũng làm cho chính dân tộc họ cũng bị nhiều hậu quả không tốt. Ngay cả trong trường hợp người lãnh đạo một dân tộc có lý tưởng mà họ cho là cao đẹp nhưng lại dùng sức mạnh mình có trong tay để cưỡng bách dân tộc mình hay dân tộc khác làm theo ý mình đạt cái được cho là lý tưởng cao đẹp đó, họ cũng chỉ gây ra sự khổ sở cho nhơn dân.

Những người cầm quyền chánh trị như trên đây, dầu có những động cơ ích kỷ hay muốn thực hiện một lý tưởng cao đẹp, cũng đều khó có thể hòa thuận với nhau. Chỉ có thái độ cởi mở khoan dung và chánh sách đặt nền tảng trên sự xót thương và cải hóa những kẻ làm ác như Phật Giáo chủ trương mới có thể đưa các nhà lãnh đạo các dân tộc đến sự hòa giải hòa hợp với nhau và xây dựng nền hòa binh chung cho nhơn loại. Bởi đó, khi Tiêu Phong cùng quần hào đương đầu với người Đại Liêu đuổi đánh mình bên ngoài cửa ải Nhạn Môn, họ đã bảo với nhau rằng: Bao giờ các vị đế vương khắp thiên hạ đều tin ở Phật pháp, lấy từ bi làm hoài bão thì mới hết thảm họa chiến tranh.

5) Nhưng ước vọng trên đây dĩ nhiên là khó có thể đạt được. Đó không phải là vì Phật Giáo chưa phổ biến ở khắp cả các nước mà cũng sẽ không thể nào phổ biến ở khắp cả các nước trên thế giới. Thật sự thì theo Phật Giáo, cả chúng sanh đều có Phật tánh và một người dầu chưa nghe đến giáo lý của Đức Phật, chưa hề qui y Đức Phật, chưa tự xem mình là Phật tử mà có tâm tánh và hành động như lời Đức Phật đã dạy thì cũng đã là người theo Phật Pháp rồi. Vậy, cái khó trong việc đạt ước vọng hòa bình cho cả thế giới không phải phát xuất từ chỗ Phật Giáo chưa phổ biến khắp nơi. Nó phát xuất từ chỗ chính người đã qui y Đức Phật, đã thông hiểu giáo lý của Ngài mà vẫn chưa có được tâm tánh và hành động như lời Ngài dạy.

Kim Dung đã biểu lộ sự thật trên đây trong các bộ truyện võ hiệp của ông bằng cách mô tả nhiều nhơn vật trong giới tăng ni. Trong số này, có những cao thủ võ lâm đã hành động trái lời Phật dạy. Các vị Đại Luân Minh Vương, Kim Luân Pháp Vương đã là những vị cao tăng miền Tây Vực, nhưng đã mưu đồ bành trướng thế lực của mình hay của dân tộc mình. Các tăng ni Trung Hoa cũng có nhiều người còn nặng nghiệp tham, sân và si. Thành Khôn đã qui y với pháp danh Viên Chân đã lợi dụng thế lực chùa Thiếu Lâm mà đoạt chức Minh Chủ Võ Lâm và phục vụ người Mông Cổ. Đến một vị cao tăng làm đến Phương Trượng chùa Thiếu Lâm và có đức hạnh đến mức được giới võ lâm Trung Hoa tôn làm Thủ Lãnh Đại Ca là Huyền Từ Đại Sư mà cũng đã lén tư tình với một phụ nữ và đã che giấu chuyện này suốt mấy mươi năm. Phần Diệt Tuyệt Sư Thái thì rất ngay thẳng và nhiệt tình yêu nước, lại rất dũng cảm. Nhưng bà thiếu hẳn đức từ bi nên đã tỏ ra thù hằn những người có liên hệ đến Minh Giáo đến mức chủ trương giết họ cho tận tuyệt. Đã vậy, bà lại còn nuôi giấc mộng làm cho phái Nga Mi của bà trở thành môn phái số một ở Trung Hoa. Do đó, bà đã dạy đệ tử là Châu Chỉ Nhược dùng đến những thủ đoạn bất chánh và tàn độc để đạt mục đích. Đến những người đã đạt một địa vị tôn quí trong hàng giáo phẩm Phật Giáo, lại có nhiều đức tốt và đáng được tôn trọng như Huyền Từ Đại Sư hay Diệt Tuyệt Sư Thái mà còn như vậy thì các nhà lãnh đạo chánh trị các dân tộc mà ít học về Phật pháp hay không biết đến Phật pháp làm sao có thể đủ đức tánh để lãnh đạo chánh trị theo đúng Phật pháp và đưa nhơn loại đến một nền hòa bình vĩnh cửu và ổn định được?

Vậy, giấc mơ của Kim Dung sẽ rất khó thực hiện. Nhưng đó là một giấc mơ đẹp và nếu những người hoạt động chánh trị chấp nhận giấc mơ đó, lại nuôi ý chí thực hiện nó với tinh thần đại hùng đại lực thì ít ra họ cũng đã đi được vài bước trên con đường ngàn dặm đưa đến một nhơn loại an lạc hòa bình. Mặt khác, người cầm quyền chánh trị một nước, dầu theo chủ nghĩa nào mà chịu bỏ thái độ giáo điều và áp dụng một chánh sách cởi mở, khoan dung đối với người khác và đoàn thể khác thì cũng đáng được khen là đã có đóng góp vào việc xây dựng hòa bình chẳng những cho dân tộc mình mà còn cho toàn thể nhơn loại.

KẾT LUẬN

Mặc dầu truyện võ hiệp bị một số khá đông học giả cho là loại văn chương bình dân, Kim Dung quả thật là một đại văn hào có một sở học uyên bác và một óc tưởng tượng rất dồi dào. Nếu biết suy nghĩ khi đọc tác phẩm ông, ta có thể học trong đó nhiều điều hữu ích.

Khi cố tìm ra các ẩn sổ chánh trị trong các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung, chúng tôi chỉ muốn nêu ra một khía cạnh đặc biệt của các tác phẩm này. Thật sự thì chúng tôi nghĩ rằng mình chưa tìm ra hết các ẩn số được Kim Dung gói ghém trong đó, vì chúng tôi không được biết trong chi tiết lịch sử cận đại của Trung Quốc và thân thế cùng tiểu sử các nhơn vật chánh trị Trung Quốc quan trọng trong thời kỳ này. Bởi đó, có thể có những nhơn vật được Kim Dung dùng để biểu tượng cho những chánh khách Trung Quốc mà chúng tôi không thấy rõ. Cũng có thể chúng tôi lầm lạc và gán cho Kim Dung một dụng ý mà ông không có về một nhơn vật hay một sự kiện, vì có sự ngẫu nhiên trùng hợp trong cách Kim Dung mô tả nhơn vật hay sự kiện đó với những nhơn vật và sự kiện có thật. Ngoài ra, ta không thể loại bỏ giả thuyét là sự trùng hợp giữa các nhơn vật và sự kiện trong tác phẩm của ông với một số nhơn vật và sự kiện chánh trị có thật phát xuất tứ nơi tiềm thức của tác giả chớ không phải từ sự cố ý. Nhưng ngay trong trường hợp này, Kim Dung cũng không phải là thật sự vô tâm, vì ông có nhiều ưu tư, nhiều chủ kiến ăn sâu trong tiềm thức thì tác phẩm ông viết ra mới biểu lộ các ưu tư và chủ kiến đó cho chúng ta thấy.

Dầu thế nào thì chúng tôi cũng nghĩ rằng các nhận định của chúng tôi về các ẩn số chánh trị trong bộ các bộ truyện võ hiệp của Kim Dung cũng đúng trong nét chánh. Tác phẩm của Kim Dung như con rồng thiêng bay lộn trên không. Nhìn từ dưới đất lên, chúng tôi có thể lầm lộn thấy một đợt mây quanh mình rồng thành cái vảy, cái vi hay trái châu trong miệng rồng, nhưng điều chắc chắn là chúng tôi đã không phải thêm bốn chơn cho con rắn để bảo nó là con rồng. Chúng tôi mong mỏi rằng quí vị độc giả của sách này sẽ góp thêm ý kiến về các vấn đề được nêu ra ở đây để chúng ta có thể có những tri thức sâu rộng và rõ ràng hơn.

giaosunguyenngochuy

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: