Một cái nhìn khác về Trịnh Công Sơn và Ngọc Lan (Thái Thụy Vy)

Tháng tư đầu tiên của thế kỷ 21, tháng tư lưu vong, tháng tư của hoa Phượng tím Jacaranda nở khắp thành phố tôi đang ở, tháng tư của hoa Trúc Đào (Oleander) đủ sắc màu trên các nẻo đường, tháng tư đánh dấu của sự mất mát, tháng tư của hai vì sao vừa tắt, một nghệ sĩ sáng tác và một nghệ sĩ trình diễn.

Đáng lẽ tôi nên im lặng là hơn, bao nhiêu bút mực đã viết về hai người ấy, kể cả tiếng bấc tiếng chì, nhưng tôi thấy nên viết ra để trả lại những bất công mà người đời đã gán cho họ.

TCS1Trước hết tôi muốn nói về Trịnh Công Sơn và những gì tôi biết và tôi nghĩ. Tôi biết Sơn hồi còn ở Huế, thi rớt tú tài hai Pháp ban Philo như tôi nên nhảy qua thi ban C chương trình Việt, còn Phạm Như Đà Lạt thì đậu ban B và thi đậu vào Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt đúng như định mạng mang trong tên anh.

Sơn con của ông Trịnh Xuân Thanh và bà Lê thị Quỳnh, Trịnh Công Sơn có đến chín anh em.

Đầu năm 1960, Sơn viết thử bản Ướt Mi và đã thành công ngay khiến ca sĩ Thanh Thúy đề nghị mua bản quyền và là người đầu tiên hát nhạc Trịnh Công Sơn tại Phú Văn Lâu.

Sau đó, anh có thử thâu băng trên lầu nhà anh tại tiệm bán xe đạp xeo xéo tiệm kem Anh Đào ở ngã giữa (đường Gia Long) và gần tiệm mè xửng Song Hỷ, với cây guitar số một ở Huế lúc bấy giờ là Thanh Hải và Thanh Hùng (tức Lộc Sồi Nguyễn Bá Lộc), người hát là Xuân Mai, nữ sinh Đồng Khánh, sau lấy cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương, sau khi ông nầy tử trận, Xuân Mai đã tái giá với Trung Tá KQ Hà Xuân Vịnh.

Lúc đó, Trịnh Vĩnh Trinh và Trịnh Xuân Hà còn nhỏ.

Thật không ngờ Sơn đã nổi tiếng ngay sau đó nhờ các bản Diễm Xưa, Phôi Pha, Biển Nhớ, Hạ Trắng, Nghe Những Tàn Phai, Còn Tuổi Nào Cho Em, Giọt Nước Mắt Quê Hương, Cỏ Xót Xa Đưa, Lời Buồn Thánh, Chiều Chúa Nhật Buồn, Ca Dao Mẹ, Dấu Chân Địa Đàng, Cho Một Người Nằm Xuống lúc người bạn Lưu Kim Cương tử trận, Tình Ca Người Mất Trí, Ru Ta Ngậm Ngùi, Như ánh Vạc Bay, Tình Nhớ, Tình Sầu, Tưởng Rằng Đã Quên, Gọi Tên Bốn Mùa, Hoa Vàng Mấy Độ, Có Những Con Đường, Xin Trả Nợ Người, Còn Mãi Tìm Nhau, Quỳnh Hương, Còn Ai Có Ai, Tôi Ru Em Ngủ, Một Cõi Đi Về, Xin Mặt Trời Ngủ Yên, Rừng Xưa Đã Khép, Lặng Lẽ Nơi Nầy, Chiều Một Mình Qua Phố, Nhìn Những Mùa Thu Đi, Kinh Việt Nam, Ngụ Ngôn Mùa Đông, Dã Tràng Ca, Xin Cho Tôi, Tôi Sẽ Đi Thăm, Chờ Nhìn Quê Hương Sáng Chói, Ngày Mai Đây Bình Yên, Vết Lăn Trầm, Ta Đã Thấy Gì Trong Đêm Nay, Gia Tài Của Mẹ, Hãy Cứ Vui Như Mọi Ngày, Sao Mắt Mẹ Chưa Vui, Ca Dao Mẹ, Người Già, Em Bé, Du Mục, Cát Bụi, Huế-Sàigòn-Hànội, Tôi Ơi Đừng Tuyệt Vọng, Thiên Sứ Bâng Khuâng… Qua tên gọi các ca khúc trên ta thấy Sơn có chỗ đứng riêng biệt giữa những người viết nhạc.

Dẹp qua các nghi vấn về chính kiến mà thiên hạ ghép tội anh là phản chiến, thân Cộng, tôi thấy ở anh một thiên tài âm nhạc hiếm có.

Mỗi bản nhạc mới ra của Sơn mang một âm giai mới, một âm điệu mới, khác hẳn bài trước và khi nghe câu trước, chúng ta khó đoán câu sau như tác phẩm của nhiều nhạc sĩ khác.

Giống Lam Phương, Sơn chưa bao giờ phổ nhạc từ thơ của ai, mỗi bản nhạc của anh lời như một bài thơ. Anh có thử hát lấy kèm guitar kiểu ballad mà giọng không đạt.

Nếu trách Sơn làm cho chúng ta mất nước thì chúng ta có quá đáng không trong lúc tình báo chiến lược chúng ta để đâu mà để cả Huỳnh Văn Trọng, Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Hạnh nằm vùng và báo cáo chi tiết hành quân của ta cho địch.

Tết Mậu thân, Sơn có mặt tại Huế, làm sao một người mẫn cảm như Sơn lại không xúc động khi bạn bè còn băng bó như Trung Úy Vân xuất viện về phép bị chôn sống tập thể cùng gần 5000 người khác. Làm sao làm lơ được khi thấy Huế thân yêu thành đống gạch vụn, xác người khắp nơi được vùi chôn vội, rỉ thấm lấp dưới đống đổ vở, khiến công binh Mỹ phải xịch dầu tẩy uế, khăn sô khắp nơi hòa với nước mắt thường dân vô tội. Lúc đó, Trung đoàn I đơn vị tôi đang đóng tại La Vang được lệnh về tiếp cứu Huế. Tôi đã lang thang giữa phố xá một Huế điêu tàn. Người con gái tóc thề, nữ sinh áo trắng, bạn của tôi mất tích từ đấy, nhà cô chỉ còn một đống gạch hoang sơ. Không biết cô có bị chôn chung với 5000 người kia không.

Chúng ta khó có thể tưởng tượng nổi cảnh khai quật các mồ chôn tập thể để cải táng, có mặt của cơ quan USAID tại chổ để quay phim, không biết các phim đó bây giờ nằm ở đâu..

Tôi thông cảm những bạn đã mất thân nhân trong cuộc nội chiến không tránh khỏi như chính tôi. Chúng ta đã không tránh được định mệnh nghiệt ngã và sử mệnh đẫm máu và nước mắt của đất nước chúng ta.

Tôi thích nghe nhạc Trịnh Công Sơn mà tôi có đào ngũ đâu. Vả lại Sơn còn có các bạn thân như Đà Lạt, Phán, Thìn và em ruột Trịnh Xuân Hà là sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Sau giải phóng, Huy Cận về làm Bộ Trưởng Văn Hóa, có mời nữ ca sĩ Thái Thanh hát bản “Ngậm Ngùi”, chính Huy Cận đã khóc nhưng sau đó vẫn cấm Thái Thanh hát vì nàng ca nhạc chiêu hồi tha thiết quá, đó là họ đã quen từ trước trong chiến khu Việt Bắc; luôn tiện ông ta cấm nhạc vàng, trong đó nhất là nhạc Trịnh Công Sơn vì nhạc anh ta phản chiến mà phản chiến cả hai bên.

Đó là bằng chứng hùng hồn cái vị thế của một người nghệ sĩ nhậy cảm, yếu kém về thể chất, thiết tha trước thân phận làm người và thân phận người dân nhược tiểu da vàng, trước sự nhân danh của những thế lực ngoại lai, dưới sự nghiền nát của những chủ nghĩa (ism) của cả hai miền.

Tôi chỉ chê là Sơn đã tỏ ra thiếu khí khái không sánh nổi một Nguyễn Thái Học khi anh bị bên kia hăm “trừ khử”, nên đã phản ứng vội vàng lên hát “Nối vòng tay lớn”. Còn việc bắt loa sau 30-4 tôi không thấy ai có bằng chứng, nếu quý vị có cho tôi xin. Có người bảo biết cả Trịnh Công Sơn vô bưng, và biết cả ngày giờ Sơn gia nhập đảng Cộng Sản, chắc là anh đó tay tổ mới biết cặn kẽ như vậy, nhất là gia nhập đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời chiến, thật khôi hài cho những ai đặt hận thù trên hết để vu khống một người vốn dị ứng (allergy) về chính chị chính em.

Ngày tôi thoát thân bằng thuyền đến Chon Sà Mé Sản, Chontabury, Thái Lan năm 1976, nhân viên tòa đại sứ Mỹ tại Bangkok đã hỏi tôi: “Sao đến bây giờ anh mới vượt thoát, chúng tôi rất tiếc cho anh, nhưng chúng tôi đã không làm gì được cho nước anh vì cả từ trên xuống dưới tới ông xả trưởng cũng tham nhũng (corrupt)”. Câu nói đó chúng ta nên suy nghĩ và thôi trách ta làm ta mất nước.

Kết tội một người mà không nắm vững bằng chứng, phải chăng chúng ta dùng một nghệ sĩ yếu đuối để làm dê tế thần (bouc émissaire) để chạy tội cho những kẻ quyền thế có trách nhiệm với lịch sử, đang tiếp tục hưởng giàu sang ở quốc ngoại mà không cần kiếp trâu cày ngày tám tiếng, lại phải mài đủng quần ở nhà trường ở tuổi gần đất xa trời để kiếm lấy mảnh bằng đặng nuôi con.

Ai làm ai mất nước? Tôi đan cử một thí dụ mà người ta cố tình tránh không nhắc tới hay không dám: Đại tướng Tổng Tham Mưu trưởng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tướng Cao Văn Viên, lúc còn là một thiếu tá Nhảy dù, ăn cơm tháng nhà đại tá Trọng, Trưởng phòng nhân viên Cục Quân Y đã không ngần ngại lấy vợ Đại tá Trọng, “chị Tư” sau khi thành bà tướng Cao văn Viên, đã từng khoe với các bà tướng khác trong những buổi biểu diễn đi thăm thương phế binh nằm ở Tổng Y Viện Cộng Hòa có các Bác Sĩ nâng bi đi theo là hôm nay bà thua mất hết mấy thằng quân dịch (có nghĩa là mỗi tên ba tàu trốn quân dịch đóng hụi chết cho bà đánh bạc là 100,000 đồng, đến lượt họ lại phải tìm cách gỡ gạt đầu cơ tích trữ, làm giá sinh hoạt tăng vọt, lủng đoạn kinh tế, rốt cuộc kẻ chịu thiệt vẫn là giới thấp cổ bé miệng), người em ruột của “bà tướng” là Trung tá Trần Đắc Trân tự Sáu Trân từ trung sĩ mỗi năm lên một cấp bậc và có cả hai Bảo quốc quân chương, tuy chỉ ngồi tại Quân Trấn Thủ Đô hút á phiện và chuyên chơi đàn, chơi gái và chơi ca sỉ (chic), trong lúc ông Tướng cầm đầu một quân đội trong thời chiến lại đang ngồi thiền. Các chuyện quốc sự, sĩ quan tùy viên không dám báo cáo sợ phá sự yên tĩnh của ông tướng (???). Chị tư có ông anh cán bộ Việt Cộng bị bắt, chính tướng Cao Văn Viên bảo lãnh ra, sau đó cho tài xế là Trung sĩ Lê Văn Tô đưa ra chợ cá Trần Quốc Toản rồi từ chỗ đó hẹn với cán bộ giao liên dẫn trốn trở vô bưng lại. Quen thói cũ, qua Mỹ hai chị em “bà tướng” thầu thu dọn vệ sinh các cao ốc và trường học, lợi dụng mấy gia đình H.O. mới qua trả rẻ dưới số lương tối thiểu do chính phủ ấn định. Sáu Trân, đêm trước khi bầu chức Hội Trưởng hội Cựu Quân Nhân Virginia, đã đãi tiệc cho nhân viên và hôm sau cho nghỉ để đi bầu, kết quả hắn thắng phiếu đa số, lấy danh nghĩa hội trưởng để giựt vợ người khác mà tôi muốn tránh nói tên tội người chồng, hắn giữ nhiệm kỳ vĩnh viễn không bao giờ bầu lại và không bao giờ tổ chức và hoạt động gì cả cho Hội Cựu Quân Nhân. Còn biết bao nhiêu tệ đoan khác trong chính quyền và tướng tá trong quân đội của ta mà tôi không muốn nhắc ở đây sợ bị hiểu lầm..

Hồi 1971, tôi đang du học Vật Lý Trị Liệu tại Medical College of Georgia, Augusta, tôi có theo dõi báo chí, thì người Mỹ, trong cả quân đội của ta, chỉ khen có bốn tướng sạch (nguyên văn four able generals) là Tướng Nguyễn Viết Thanh đã tử nạn trực thăng ở vùng IV, Tướng Phan Trọng Chinh thì bị đẩy ra chức vụ Hành Chánh (Tổng Cục Quân Huấn), Tướng Dương Văn Đức thì giả điên thời cuộc bị cho về hưu, chỉ còn một mình Tướng Ngô Quang Trưởng là Tướng đánh giặc đã thăng chức không qua một áp lực chính trị nào. Tôi chỉ tội cho số Hạ Sỉ Quan và Binh Sĩ là thành phần đã hy sinh nhiều nhất cho cuộc chiến mà không được đi diện HO.

Tôi không lấy làm lạ, sau này, Tướng Mỹ Norman Schwarzkopf viết bài ca tụng Tướng Trưởng trên báo Washington Post và Tướng độc nhãn của Do Thái Moshé Dayan đều tỏ lòng kính phục Tướng Trưởng.

Sau chiến tranh chủ nghĩa (proxy war), chúng ta đều được biết chúng ta mất nước ngay trong các tòa báo (radical) ở New York, ngay trong Quốc Hội Mỹ ở Washington D.C. Câu nói chúng ta là tiền đồn của Chủ Nghĩa Tự Do chỉ là câu nói chơi mà thôi của các chính trị gia kiếm phiếu. Sơn phải trả giá bằng bốn năm kinh tế mới ở Khê Sanh với bãi mìn, còn chúng ta phải trả giá quá đắt bằng mất tuổi trẻ trong chiến tranh, chịu kiếp tù ngục hết phần ba đời người và cuộc đời còn lại tha phương cầu thực.

Trốn về Sài Gòn, Sơn không có tới chiếc xe đạp để đi, chàng phải đón xe buýt đến nhà Hồ Thành Đức và Bé Ký sát vách nhà tôi ở đường Nguyễn Thành Ý, Đakao nhậu rượu đế cho đỡ sầu đời, Sơn đã nghiện rượu và bị sơ gan từ đấy.

Ở Việt Nam, kiếp sống thật nhỏ nhoi, Việt Nam có lẽ là nước duy nhất có Công An tới cấp Bộ, Hoàng Hải Thủy trong cuốn “Những tên biệt kích cầm bút” tả một đêm đen không mấy đẹp trời nào đó, đen như mõm chó, công an gõ cửa và dắt đi biệt tăm biệt tích.

Sống ở Việt Nam phải biết cuốn theo chiều gió để sinh tồn, hoặc luồn cúi mới giả dại qua ải, mưu sinh thoát hiểm (survival); để hở lập trường không ổn định có thể bị kết tội bất phục tòng, phản cách mạng.

Trịnh Công Sơn đã nương gió để sống, để sáng tác. Giả sử anh đào thoát, tập thể tị nạn với những định kiến sẵn có, đồng hoá anh với phản chiến Mỹ, liệu có chấp nhận được anh không?

Chúng ta trăm tội đổ đầu voi cho một người nghệ sĩ tay trắng, trung sĩ kiểng Không Quân, không lính, không quyền hành, dám nói lên tiếng nói báo động thực chất chiến tranh tương tàn có là bất công lắm không?

Chúng ta có nuôi anh được ngày nào đâu. Bị bỏ đói cùng với mấy chục triệu dân Việt Nam. Đói quá, đầu gối phải bò, Sơn phải nhận đi dạy lại ở Blao nhờ có bằng giáo học bổ túc, họa sĩ Đinh Cường đã đến thăm và dịp đó Sơn đã sáng tác “Đêm thấy ta là thác đổ” để viết cho thân phận của người con gái qua đêm.

Về lại Sàigòn, Sơn được Thủ Tướng Võ Văn Kiệt cứu vớt, anh đã học họa và cùng với Lý Quý Chung vẽ tranh và được khách ngoại quốc chiếu cố. Riêng Lý Quý Chung nhờ con rể có nhà hàng nên bao nhiêu hắn cũng mua mão và chưng bày cho thực khách tới mua.

Dịp này, Chu Nguyệt Nga từ Pháp về định cưới Sơn và đem qua Pháp, nhưng Sơn đã từ chối rời khỏi Việt Nam, nên Nga đã về lại Pháp và làm đám cưới với Trịnh Văn Đăng, sau này nghe tin đồn nói Sơn có liên hệ với ca sĩ Hồng Nhung, nhưng sự chênh lệch tuổi tác như cha con nên không thành. Riêng ca sĩ Hồng Nhung nhờ hát nhạc Trịnh Công Sơn nên cũng nổi tiếng ở quốc nội, như Khánh Ly ở quốc ngoại. Sơn đã ở vậy đến mãn đời.

Sơn có qua Canada dịp họa sĩ Võ Đình triển lãm tranh nhưng đã không trốn ở lại luôn, đó có phải là lập trường yêu quê hương của một nghệ sĩ? Như Sơn đã trả lời cho nhà báo Kate Webb của hãng thông tấn Agence France Presse hỏi tại sao anh không ra nước ngoài, mà ở lại để sống trong kềm kẹp. Sơn trầm ngâm:” Mình có nghĩ tới chuyện đó chứ. Nhưng mình không thể đi. Người nghệ sĩ không thể sống xa quê hương. Xa nó, tôi sẽ cạn nguồn cảm hứng, mà cái đó chẳng khác gì cái chết”.

Năm 1955, ký giả Canada Jon Liden cũng hỏi Sơn được đăng trong báo International Herald Tribunengày 18-10-1995:” Tại sao ông ở lại VN trong lúc bao nhiêu văn nghệ sĩ đã ra đi ngay chính thân nhân trong gia đình ông cũng chạy ra sinh sốngở nước ngoài. Trịnh Công Sơn đã trả lời tương tự: “VN là nơi duy nhất tôi có thể sống và sáng tác. Ở nước ngoài, tôi không nghe tiếng nhạc trong đầu của mình. tôi không thấy được câu thư tôi viết ra. Tôi muốn đi nước ngoài, nhưng nếu ở lâu, tôi sẽ khô khan và chết mất. Hơi ấm của dân tộc VN giống như nước cần thiết cho hoa vậy”.

Giáo sư Frank Gerde, ở Bonn, Đức, đã nhận xét về Trịnh Công Sơn: “Anh là một con người đa diện, là một kẻ hát du ca hát về quê hương, tình yêu và số phận con người, anh là thi sĩ của tình yêu và hòa bình, là một người có lương tâm vô cùng”. Trong những bài với đề tài chiến tranh, anh đã hát về cái bất công, cái đau khổ, về những mặt khốc liệt đến mức kinh khủng ở chiến trường cũng như những đau khổ của những người mật người yêu, người chồng và bạn bè của mình. Như vậy anh lên án những kẻ đã gây ra chiến tranh bất công này cho dân tộc VN.. Anh lên án nhưng không phải trực tiếp, không nêu ra tên ai cả, không bao giờ chỉ thẳng vào mặt ai, mà anh lên án rõ nét bằng những hình ảnh và những đau khổ vì người ta trong đầu óc mình, và những điều này anh viết ra thành lời thành nhạc. Chính vì thế mà Trịnh Công Sơn trở thành biểu tượng của những người yêu nước, yêu hòa bình.

Ông Đặng Nguyên Phả cũng đã nhận xét: “Điều này rất đúng, Trịnh Công Sơn không nói thẳng miền Nam hay miền Bắc mà chỉ tả lại các niềm đau của những người phải tham dự cuộc chiến, những bản nhạc tiêu biểu nhất cho đến gìờ vẫn bị cấm trong nước như bản Gia Tài Của Mẹ”.

Ngày 19-6-2004, đài BBC loan tin: “Trịnh Công Sơn đươc giải Nhạc Hòa Bình, em gái Trịnh Vĩnh Trinh sẽ đại diện lãnh giải tại Saigon cùng với các nhạc sỉ tài danh Peter, Paul & Mary..” Đó lại thêm một niềm hãnh diện lớn cho nước Việt Nam với một giải Quốc Tế hiếm hoi. Nhưng lại cũng nhưng, vào giờ chót, buổi phát giải đã bị nhà nước cộng sản hủy bỏ mà không có một lời giải thích.

Nghĩa tử nghĩa tận, khi những nắm đất cuối cùng đã được ném xuống, và nấm mồ đã khép lại, xin trả lại anh cho lịch sử phán xét công tội; theo phuơng pháp luận (methodology) của sử học thì phải mất 40-50 năm thì lịch sử mới có thể phản ảnh trung thực và đầy đủ (authentique), tôi đã gióng lên một tiếng chuông, tôi có thể sai vì có nhiều điều tôi chưa được biết cặn kẽ, và cần phải có tiếng chuông thứ hai, nhưng tôi đã an tâm khi thốt ra được những cảm nghĩ của tôi về một nghệ sĩ đã nằm xuống. Chỉ tội nhà nước ăn có bằng cách nhảy vô tổ chức đám tang sẵn có cả ngàn người đưa Sơn để tuyên truyền, bọn kên kên dấy máu ăn phần, sống trên xác người là chuyện thuờng, huống gì Sơn nổi tiếng, tuy trước kia chúng đã cấm đoán nhạc họ Trịnh và còn bị theo dõi.

hoangoclanNgười thứ hai mà tôi muốn viết là nữ ca sĩ Ngọc Lan.

NLanThật buồn khi phải viết về một ca sĩ tài hoa yểu mệnh. Trong số các ca sĩ, sau Thái Thanh, Ngọc Lan là người có giọng hát thiên phú, nàng biết lựa chọn và bất cứ bản nào nàng đụng tới cũng thành công kể cả những bản nhạc Pháp.

Giọng Ngọc Lan đã buồn lại càng buồn thêm sau cái chết của người chị là nhà văn Lê Thao Chuyên.

Ngọc Lan biết chọn nhạc thích hợp để hát, những bản tình thiệt tha thiết mà chúng ta dễ thương cảm cho thân phận người tình, khi tiếng nhạc đã dứt chúng ta còn cái gì ray rứt với tâm sự bất hạnh của đời người con gái dẫu trời đã cho nàng đẹp với gương mặt trái soan khả ái.

Tiếng hát nàng buồn hơn như con ve sầu biết mình sắp lìa cõi đời ngắn ngủi nầy, khi nàng được phát giác bị bướu não ngay trung khu thần kinh thị giác, đôi mắt đẹp đó trở nên sầu muộn và xa lìa hơn khi nhìn đời với nỗi nhớ khôn vơi.

Trái với mọi người nghĩ chỉ có Khánh Ly mới hát trọn vẹn nhạc Trịnh Công Sơn, tôi có băng Ngọc Lan hát nhạc họ Trịnh, thật không ngờ giọng hát đó đã chuyên chở ý thơ và tứ thơ của Trịnh Công Sơn như lời thơ có âm điệu bất diệt, có khả năng vượt cả thời gian lẩn không gian.

Nàng chết ở tuổi 44. Nàng mới làm đám cưới với Kelvin Khoa vài năm và không có con.

Ngọc Lan, Trịnh Công Sơn đã rút ruột nhã tơ, hát cho cuộc sống phù du, đầy dâu biển này.

Trong cuộc sống tạm dung, chúng ta đã mất mát quá nhiều. Tháng tư này, tôi lại mất thêm hai trái tim. Những năm tháng còn lại chúng ta còn mất mát nhiều nữa.

Tất cả rồi sẽ qua đi, như tiếng gió đầu hè. Chúng ta đừng làm khổ nhau nữa, đủ rồi. Tôi nhớ tới câu hát:”The answer is blowing with the wind”

Tôi có thói quen nghĩ hiền và tha thứ cho mọi người, nên rất sợ làm quan tòa buộc tội oan cho một người.

thaithuyvy_sceau

_________________________

Sau khi viết xong bài này, tôi nhận được 3 tài liệu có thể hậu thuẫn cho lập luận của tôi:

1- Thiếu tá Liên Thành, cựu Phó ty Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên (hiện còn sống ở San José xác nhận có dùng Trịnh Công Sơn trong các điệp vụ hàng đôi (double agent)

2 Hoàng Hải Thủy khi viết NhữngTên Biệt Kích Cầm Bút có khinh Trịnh Công Sơn là ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, nhưng phải công nhận hắn giữ lập trường của hắn trong ngày Ủy Ban Quân Quản tổ chức cho văn nghệ sĩ hai bên Nam Bắc gặp nhau lần đầu. Hai bên Nam Bắc ngồi đối diện. Chỉ có Trịnh Công Sơn và Phạm Trọng Cầu là chọn ngồi giữa.

3- Ngày Trịnh Công Sơn mất gia đình có xin chôn anh ở nghĩa trang Văn Nghệ Sĩ Cộng Sản ở SàiGòn cũ, nhưng bị từ chối, phải đem chôn tận Bình Dương như đã chôn Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Không phải người của họ sức mấy mà cho nằm chung, dẫu đã ra ma.

2 Responses to “Một cái nhìn khác về Trịnh Công Sơn và Ngọc Lan (Thái Thụy Vy)”

  1. binh do Says:

    Xin đính chánh ,nhạc sĩ Trịnh công Sơn đã phổ thơ của Trịnh Cung bài “cuối cùng cho 1tình yêu ´´

  2. Ly qua tien Says:

    Toi khong ua Trinh Cong Son. Cong nhan Son co tai, nhung neu Son song ngoai Bac thi Son co the sang
    tac nhung ca khuc bat hu do hay khong ?.
    Neu tra loi la “khong” thi ro rang Son
    da nho cai khong khi, cai “moi truong” tu do thoai mai trong mien Nam ma lam nen danh tieng.
    Nhu bai tren da viet, Son thuoc nhung nguoi “cuon theo chieu gio”. doi khi phai lon cui de song, dieu nay lo ro “cai hen” cua son.Tron chui tron nhui nhu vay ma van hanh dien.
    Hen qua doi.


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: